Pham Ton’s Blog

Tháng Một 14, 2022

Phạm Quỳnh Nặng Lòng với Quốc Phục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:24 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 2 năm 2022.

PHẠM QUỲNH

NẶNG LÒNG VỚI QUỐC PHỤC

Dã Thảo

“Sau phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược, những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX bước vào thế kỷ XX, thời kỳ Hoc tro chu Taybình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lòng yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước với các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế…

(…) Khi Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, thì bộ mặt xã hội đã biến đổi (…) Rồi trong thực tế, một lớp người mới đã xuất hiện làm thông ngôn, ký lục, bồi bếp hay lái xe cho quan Tây (…) tiếp thu nhanh chóng văn minh phương Tây: nói tiếng Tây, mặc đồ Tây và hớt tóc ngắn. (…) đã xuất hiện bóng dáng của cậu học trò “học chữ Tây” với chiếc bình mực lủng lẳng nơi ngón tay – thay thế cho cái nghiên ngày trước – và cái ô đen cắp trên nách”. (Trích bài Một vài hình ảnh của Hà Nội buổi giao thời đầu thế kỷ XX của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 22-24, tạp chí Xưa và Nay, số 418 tháng 12 năm 2012).

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, thời đi học trường tiểu học Pháp Việt, khi đi mít tinh đòi cho tiếp tục mở cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục phố Hàng Đào của cụ Cử Can chỉ mới 15 tuổi, nên bị Tây bắt giam một ngày một đêm rồi cũng thả vì còn vị thành niên. Hồi học trường Thông Ngôn ở Bờ Sông, và cả khi vào Trường Bưởi, rồi trở thành thủ khoa đầu tiên của trường Trung học Bảo hộ này, cũng vẫn đánh bộ quốc phục, áo dài khăn đóng. Cả khi là nhân viên trợ lý Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ, đồng sự của Nguyễn Văn Tố, tất nhiên cũng vẫn bộ quốc phục như Nguyễn Văn Tố. Ông chủ bút trẻ tạp chí Nam Phong chẳng những mặc quốc phục mà còn giữ cả búi tó củ hành nhỏ xíu như trong giấy căn cước làm năm 1918, sau khi Nam Phong ra đời một năm. Mãi đến năm 1922, trước khi đi Pháp dự khánh thành Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, “Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ.” (Trang 95 Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004). Và tất nhiên là cũng cắt đi cái búi tó củ hành. Sang Pháp, ông mới thường mặc Tây, chỉ vì: “Mình sang đây là để xem người, khônTruong Buoig phải cho người xem mình” (Sách đã dẫn, trang 95), chứ thực lòng ông vẫn thapham quynh_tre thiết với quốc phục, nặng lòng với quốc phục. Điều này thể hiện rõ nhất trong chuyến đi Pháp của ông năm ấy.

Thứ bảy 13 tháng 5 năm 1922 (ở khách sạn Terminus, Lyon), Phạm Quỳnh ghi: “những đồ quần áo trong hòm cũng không dùng đến, vì phần nhiều là quần áo An Nam cả, khi ở nhà đi, tưởng sang bên này cứ giữ quốc phục, sang đến đây mới biết rằng không tiện. Mình sang đây là để xem người, không phải cho người xem mình; như vậy mà cứ thướt tha như anh lễ sinh, đi nghênh ngang ngoài đường phố, thời khác nào như làm một cái vật “đấu xảo” giong đường cho người quý quốc xem, nghĩ nó cũng dơ dáng dạng hình quá! Bởi thế nênPham Quynh - Nguyen Van To từ ngày tới Pháp đến giờ, phải bận Âu phục luôn, trừ những khi dự các hội tiệc thời mặc quốc phục cho trọng thể. Còn nhớ mấy ngày đầu mới ăn mặc Tây, rõ phiền quá. Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ. Hôm xuống Tân Gia Ba là ngày mặc Âu phục lần thứ nhất: hôm ấy trời lại nóng nực, mình quen mặc rộng rãi thênh thang, bây giờ bó buộc như thằng hình nhân, lấy làm khổ quá; nào là quần trong, quần ngoài, nào là áo “sổ mi”, nào là “bờ-lơ-ten”(dây đeo quần – DT chú) ; khổ nhất là đeo cái “phô-côn” (cổ cồn, cổ giả – DT chú) cho ngay ngắn, thắt cái “cà-vạt” cho dễ coi. “Cà vạt” có thứ đã thắt sẵn, chỉ việc cài vào mà thôi; có thứ mình phải thắt lấy. Trước khi mua đã phải hỏi ý các ông sành mặc Tây, ông nào cũng bảo rằng thứ thắt sẵn chỉ để cho các ông già dùng, còn người trẻ phải thắt lấy mới là lịch sự. Nhưng khốn quá, mình tập thắt mãi mà nó vẫn cứ nghiêng vẹo, lệch lạc, xô xếch, răn reo, không thấy “lịch sự” một chút nào cả! Cực nhất là lúc tàu đã đến bến rồi, anh em đợi để lên ăn cơm ở cao lâu trên phố, mà mình ở trong buồng cứ loay hoay thắt với buộc mãi không xong, bấy giờ đỏ mặt tía tai lên, muốn quăng cả đi, nghĩ bụng rằng: “Thôi, chẳng Tây thì đừng Tây, mỗi lần thế này khổ quá”. Sau cũng phải nhờ có tay giúp mới buộc xong. Nhưng mà cho hay muôn sự tại thói quen cả, hôm đầu khó nhọc như thế, đến ngày thứ nhì thứ ba đã thấy dễ rồi; cách một tuần lễ thời buộc cái “cà-vạt”, thấy dung dị (dễ dàng – DT chú) như thường, và soi gương coi đã ra vẻ lắm rồi! Khi đến Marseille thời ngPham Quynh 1918hiễm nhiên như ông Tây “đặc”, tưởng hình như mình vẫn mặc Tây đã mấy mươi năm rồi; không những cách ăn mặc mà dáng bộ cũng hệt: tay bỏ túi quần, tay cầm gậy “can”, không còn ngượng ngập gì nữa. Nghĩ bụng giá bấy giờ cứ thế mà hiện hình về giữa phố Hàng Đào Hàng Ngang Hà Nội thời chắc ai cũng phải cho là một cậu “công tử bột” chân chủng! Lại nghĩ rằng nếu văn mình mà chỉ có thế thôi, thời cũng dễ quá: chỉ mất sáu trăm quan là được cái lốt văn minh như hệt, và theo “mốt” tối tân, các “công tử” nước nhà không sao theo kịp: áo thắt ngang lưng, quần nếp thẳng băng, cổ là bóng nhoáng, giầy sơn đen nháy, lại phủ một miếng da trắng ở trên cho khỏi bụi (thế mới hợp “mốt” năm nay)… Nhưng mà mình vẫn biết đã lâu rằng văn minh không phải ở cái lốt ngoài đó. Chẳng qua là đến đâu phải theo tục đó mà thôi. Nhưng mà có một điều nên biết, là người mình có tính mềm mại, uyển chuyển, không bắt chước người thì chớ đã bắt chước thì cũng chẳng kém gì ai, nhất là về cách ăn mặc, có khi người mình ăn mặc Tây lại còn óng ả riêm rúa hơn nhiều người quí quốc…

Vậy bao nhiêu hành lý để cả Marseille và chỉ đem hai cái vali đựng quần áo Tây với mấy bộ quần áo An Nam để phòng khi dùng đến; còn thiếu cái gì, lên Paris sẽ mua.” (Sách đã dẫn trang 94-97). Trong chuyến Pháp du ấy của Phạm Quỳnh, sự kiện nổi bật nhất là việc ông đăng đàn diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm Pháp. Một việc hoàn toàn do ông tự lo với sự giúp đỡ nhiệt tình, không vụ lợi của những người bạn Pháp mới quen mà đã quí trọPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhng ông. Một dịp may hiếm có để cho giới tinh hoa của nước Pháp là nước bảo hộ, “nước mẹ” hiểu rõ nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam và lòng dân ta quyết bảo vệ nền văn hóa và Tổ quốc ông cha để lại. Chính trong dịp trọng đại, nghìn năm có một đó, Phạm Quỳnh đã suy nghĩ nhiều về quốc phục để rồi hành động đúng đắn và còn có thể nói là dũng cảm nữa. Ông ghi: “Thứ bảy 22 tháng 7: “Sáng nay không đi chơi đâu, chỉ bữa ăn đi một lát, rồi về nghỉ ngơi để sửa soạn ra Hội Hàn lâm. Phân vân không biết mặc Tây phục hay mặc quốc phục. Đã có bộ jaquette, nếu mặc Tây thì cũng tùng tiệm được. Nhưng nghĩ lại, gặp những cơ hội như lúc này mà nỡ bỏ quốc phục đeo Tây phục, thì cũng tủi cái áo cái khăn anh đồ quá; thôi thì cứ mặc An Nam (DT nhấn mạnh), chỉ dẫu đi ngoài phố thiên hạ chỉ trỏ nữa cũng chẳng hề gì.” (Sách đã dẫn trang 330)

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh cu be ba Ngoanđược mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

“Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại nghe nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó (DT nhấn mạnh). Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng”  (Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004, trang 335).

Sự kiện một người dân thuộc địa lên diễn đàn Viện Hàn lâm mà được vỗ tay khiến các báo đổ xô đến xin bài diễn văn và xin cả ảnh để đăng cho nổi bật. Phạm Quỳnh hồi ấy đã diện đồ Tây xịn đi chơi nhiều nơi với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và chụp khá nhiều ảnh, vậy mà khi ấy, ông lại cho họ cái ảnh mặc áo dài bế con, vợ mới gửi sang: Trong ảnh, ông mặc áo gấm bế bé Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1921, người sau này làm luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và trở thành tiến sĩ của trường Sorbonne danh tiếng ở Paris. Tấm lòng Phạm Quỳnh với quốc phục thật sâu đậm. Pham Quynh 1930 - Truong Thang Long

Ở Hà Nội cũng như sau này về Huế, người ta vẫn thấy mỗi khi ông xuất hiện đều trong bộ quốc phục.

Ngày sinh nhật ngũ tuần của ông bà đồng tuổi nhâm thìn thì ông, bà, con trai, con gái, con dâu, con rể, cho đến các cháu mẹ còn bế trên tay, đều mặc quốc phục. Năm 2006 các bạn ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế) có đăng bài của Phạm Tôn nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà kèm ảnh đại gia đình mừng sinh nhật năm 1942 ấy, thì các bạn ở tạp chí vui mừng báo cho chúng tôi biết là cả toà soạn đều vui, vì năm ấy nước ta đăng cai hội nghị APEC, tất cả các nguyên thủ quốc gia đến dự đều mặc quốc phục Việt Nam, từ Tổng thống Pu-tin đến Bush… Chủ tịch Nguyễn Minh Triết của ta thì mặc quốc phục màu vàng. Thật là một cuộc biểu dương vẻ đẹp quốc phục ta. Sinh nhat 50 tuoi hai cu

Mùa hạ năm 1945 đặc biệt oi bức vậy mà Phạm Quỳnh, vẫn ngồi dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ, viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Tất nhiên là mặc quốc phục trang trọng theo lệ của riêng ông khi đọc sách hay viết lách.

Chúng ta may mắn có được bức ảnh năm cuối đời, khi ông tha thẩn ở khuôn viên biệt thự Hoa Đường những ngày ấy. Biet thu Hoa Duong

Thiếu tướng Phan Hàm sau này (1993) nhớ lại là trưa hôm 23/8/1945 ấy ông cùng một số bạn sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến đến đưa giấy “mời Phạm Quỳnh ra Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa làm việc” thì “ông ta thản nhiên đứng dậy, mặc áo (tất nhiên là quốc phục rồi) ra đi”.

Ngày nay, vẫn thấy còn nhiều bàn luận về việc mặc quốc phục , may quốc phục nam giới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của họa sĩ Thành Chương: “Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói, áo dài của phụ nữ và áo dài khăn đóng của nam giới luôn luôn là lễ phục gợi lên hình ảnh người Việt Nam. Đã gọi là quốc phục thì tinh thần cối lõi vẫn là hồn cốt dân tộc”. (DT nhấn mạnh) (báo Tuổi Trẻ ngày 22/12/2012)

Thành phố Hồ Chí Minh 26/12/2012.

D.T.

Thư COÀN

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:23 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2022.

THƯ COÀN

Phạm Tôn

Thật ra không có ai tên Coàn! Ngoài tôi chắc chẳng ai biết Coàn là ai…Vì Coàn là chữ dì Phạm Thị Hoàn em ruột mẹ tôi thường ký cuối những thư gửi cho tôi: là viết tắt của hai chữ Cô Hoàn.

Gia đình tôi thường gọi các em gái mẹ là cô. Chỉ trừ dì Thức vợ chú Hỷ.Thu Coan

Không hiểu vì sao, Coàn yêu quí tôi từ nhỏ. Hồi hai tuổi, Coàn cho tôi đi thuyền trên Sông Hương cùng cô Tâm bạn thân của cô, cùng là nữ sinh Đồng Khánh. Nhưng lại bảo tôi ngồi lòng cô Tâm, còn cô ngồi trước mặt Ton That Thanh 1943ngắm hai cô cháu, khen: Mắt to đen lay láy, lông mi cong, phải cái đầu to quá! Cô Tâm xoa đầu tôi, rồi hai bàn tay cứ ngón cái và ngón trỏ mân mê hai dái tai tôi, khen tai tròn, dày dễ thương quá.

Hồi xa mẹ, năm tám tuổi sống với bà ngoại đã khánh kiệt, cô xuống nhà bếp ăn cơm cùng chị em tôi và bác bếp Nguyên, u Nấm quản gia. Từ đó, bữa ăn có thêm món trứng chưng tương tôi cho là ngon tuyệt, rưới cơm cũng ngon mà chấm rau muống luộc càng ngon. Năm ấy tôi chẳng may bị trai làng Vạn Lộc đánh nhau với trai làng bên đến cua gái làng, ném trượt một tảng đất cày ải trong đó có mảnh sành to. Tôi giập sọ máu ra rất nhiều. Cả nhà ai cũng bận công này việc nọ hoặc đi học. Chị tôi bận tối ngày xay thóc giã gạo còn phụ bác bếp Nguyên lo bữa ăn nhà đông người. Lúc ấy cô chuẩn bị đi Yên Mô học, hằng ngày cô gọi tôi lên gác, lấy bông nhúng vào nước muối rửa vết thương đã mưng mủ. Rẽ tóc ra để rửa là tóc rụng cả đám, bong từng mảng da đầu. Cho đến một hôm cô bảo sạch rồi, hết mủ rồi và đưa gương cho tôi soi. Tôi bật cười, thấy giữa đỉnh đầu mọc một ong chau ba Hoan luc giacục đỏ như nửa quả mận chín. Rồi cậu Tuyên đi bộ bẩy tám cây số lên Hành Thiện mua cho một viên Đagiênăng là thuốc chữa bách bệnh thuở ấy. Cô cạo thuốc, mới rắc hết nửa viên vết thương đã lành hẳn. Chỉ còn một cái sẹo sờ nhẵn thín trên đỉnh đầu, hình như cao hơn trước. 10 tuổi về Hà Nội với mẹ, cô vẫn sống cùng chúng tôi. Ngoài giờ làm việc, cô còn hát ở Đài phát thanh Hà Nội trong giàn nhạc Thẩm Oánh, có quen nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Hai người đi xem phim thường cho anh tôi và tôi đi cùng . Đặc biệt cô còn xin cho tôi học viôlông tại nhà nhạc sĩ ở phố Đặng Dung. Tôi được mượn một đàn nhỏ cho trẻ em về nhà tập, mỗi tuần ba buổi đi tàu điện lên học. Tôi thích nghe nhạc, nhưng không đủ kiên nhẫn học cây đàn khó này, cũng có lẽ là không có năng khiếu biểu diễn nhạc cụ, bèn tự ý thôi không học nữa. Lấy cớ: họ yêu nhau nên bày ra việc tôi học đàn thôi. Tôi nghỉ mà cả cô tôi lẫn nhạc sĩ chẳng ai nhắc nhở, trách móc gì… Rồi cô được bà chị nhiều uy lắm tiền bảo đi du học Pháp. Từ đấy cô cháu tôi xa nhau.

Sau khi tôi bệnh nặng năm 1991 xin thôi việc cơ quan, cô ở Pháp biết tin lo lắm, nhưng không biết giúp Truong thin va bocách nào. Trong dịp đi học một lớp săn sóc sức khỏe bằng phương pháp Đông Y, gặp một ông thầy người Việt, có bạn bè đồng nghiệp sống ở Việt Nam, bèn nhờ ông giới thiệu cho gặp lương y Lê Hưng ở Bình Dương nhờ chữa trị. Mặc dù hồi ấy tôi vẫn là bệnh nhân đặc biệt diện nghiên cứu của Viện Y Dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, do Bác sĩ Trương Thìn nổi tiếng về Đông y thời ấy trực tiếp điều trị nhiều năm mà vẫn chưa có kết quả, chỉ sống sót thôi. Nắng không ưa, mưa không chịu. Lúc nào cũng mệt. Dù mệt mỏi hay bận rộn việc gì lúc nào tôi cũng suy nghĩ về Ông Ngoại, cố tìm lời giải cho số phận thăng trầm và cái kết cục bi thảm oan khuất của Ông. Cô cháu tôi viết thư cho nhau thường nói chuyện đó ở Pháp và trong nước ta, cố cập nhật mọi chuyện về Ông Ngoại.

Ty mac ao do Ba Hoan cho

Ngày 8/3/1993, gia đình ba người chúng tôi cùng vợ chồng cô Trịnh Thị Ngọ, Lê Văn Rạng, vợ chồng cô Đặng Vũ Hồng Miên, Nguyễn Văn Tý đến ga Sài Gòn đón cô Hoàn từ Pháp về Hà Nội nay ghé Sài Gòn để từ đây về lại Pháp. Cả ba gia đình không ngờ bên nhà ông Lương Hàm Châu (tức nhạc sĩ Lương Ngọc Châu) chồng Coàn có người làm to bên ngành giao thông vận tải đã tổ chức đón cô trong nhà khách lớn ở ga. Rồi cả một đoàn ô tô con đưa cô về thăm gia đình bên chồng, sau đó mới đưa về nhà cô Ngọ, bạn thân thiết nhất của cô để cô sống ở đấy những ngày lưu lại Sài Gòn. Con gái cô Ngọ tên là Thu Hương, nghệ danh của cô Hoàn khi hát tại đài Phát thanh Hà Nội. Tôi và con trai bám sát cô. Rất chân tình,cô cho con tôi một chiếc áo thun đỏ rất đẹp, của Italia mua cho con trai là Quốc Vinh, nhưng em lớn rồi, chỉ cố mặc vài lần. Cô biết con tôi năm ấy 10 tuổi, chắc mặc vừa. Từ đấy, con tôi lúc nào muốn diện đều mặc áo đỏ này. Bố con tôi đưa cô và cô Ngọ đến thăm nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa đúng ngày giỗ thân phụ là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Hồi ấy, Sài Gòn chưa có taxi, tôi nhờ một anh bạn cùng học tiếng Nhật đưa đón hai cô cho thuận lợi. Lần cô đi tàu vào đây còn có nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, gặp từ Pháp hồi ông sang nghiên cứu bên ấy. Nhà thơ Hỷ Khương và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đều là người Huế. Ở nhà bà Hỷ Khương, còn gặp nhà thơ lão thành Mộng Tuyết, vợ thi sĩ Đông Hồ. Sau đó, về nhà cô Ngọ ăn cơm với đậu phụ rán và rau muống luộc chấm tương Bần theo yêu cầu của cô Hoàn. Bỏ mâm cao cỗ đầy toàn món Huế tổ chức linh đình tại đám giỗ. Chiều 20/3 cả nhà đi xe hơi máy lạnh người lái là bà Cam, vợ cư sĩ Phật giáo Võ Đình Cường tổng biên tập tạp chí Văn hóa Phật Giáo cả hai vợ chồng đều người Huế, bạn của các cô Ngoạn, Hoàn. Tất cả tới Tân Sơn Nhất, tiễn cô lên máy bay về Paris.

Năm 1997-1998, tôi bị một tai biến nhỏ mà thành to do hạ đường huyết. Ăn bằng ống bơm thẳng vào dạ Pham Thi Hoan_Hy Khuongdày. Mõi ngày đủ nửa ký thịt bò mà chẳng biết ăn gì. Mất trí nhớ một thời gian ngắn, hôn mê nửa tháng nhưng vẫn nghe được. Nằm bệnh viện Nguyễn Trãi 37 ngày, an dưỡng thêm 27 ngày ở nhà chị vợ có máy lạnh. Ra viện đọc sách báo rất khó vì các dòng chữ cứ nhảy múa, phải lấy tay chặn hai bên mới đọc được những chữ ở giữa. Không giở trang sách được, tay mất cảm giác. Chữ viết cực xấu. Theo lệ mọi năm viết thiếp chúc Tết bà con bạn bè. Chỉ mấy dòng cũng phải viết nháp mấy lần sửa chữa chán chê mới xong. Trí óc gần như nghỉ. Tôi nghĩ: những chuyện tôi biết về Ông nhiều hơn mẹ tôi, các cậu, các cô, vậy mà tôi suýt nữa sống để bụng, chết mang theo, tôi hóa ra một kẻ vô dụng. Vì thế, tuy sức mọn nhất trong đời rồi, mà tài thì còn hèn hơn trước nhiều, tôi cứ bắt tay vào viết về Ông Ngoại kính yêu, mong để lại cho gia đình, bà con và những ai còn thương Ông tôi hiểu hơn về Ông, ít nhất cũng bằng tôi.

Viết xong bài đầu tiên Người nặng lòng với tiếng ta, tôi đưa cho ông em họ cậu Tuyên là nhà thơ Vương Đức Lệ (Lê Đức Vượng) xem. Ông hỏi có muốn in không. Tôi đáp: không! Lại hỏi: cậu sợ gì? Tôi đáp: sợ vì viết về Ông và tiếng ta mà chưa nhắc đến Nguyễn Du! Tôi đánh máy gửi cậu Tuyên một bản, cậu hỏi Phạm Tôn là ai, chưa nghe tên bao giờ mà thấy có thiện ý quá!. Cũng gửi sang Pháp cho các cô cậu một bản và đến tay Coàn của tôi. Do đó mới có thư Coàn này. Dài dòng văn tự như vậy mong các bạn sẽ thông cảm khi đọc những phần sau đây.

Cô Hoàn tôi tốt bạn, những bạn từ thời học trường nữ học Đồng Khánh Huế còn sống đến những năm 2000 đều liên lạc mật thiết với cô và sẵn sàng giúp cô trong việc báo hiếu mà cô tiến hành cùng cô Phạm Thị Ngoạn tiến sĩ Sorbonne đã làm luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp. Sau khi bà Ngoạn bị pắc-kinh-sơn rồi mất, gánh nặng này chủ yếu đặt lên vai bà Hoàn. Và tôi, trước kia thư từ với bà Ngoạn bao giờ cũng kết thúc bằng dòng chữ này trước khi ký tên: Người giúp việc tận tụy của cô, bây giờ lại viết như thế và làm như thế với Coàn của tôi.

Đầu năm 2000, một bạn Đồng Khánh của Coàn, nhà (bà này gọi là phủ) ở đối diện với nhà Coàn, nên thường đi về có nhau. Bà là Hà Vô Vi gọi điện thoại nói chuyện với tôi, cho biết đã về Việt Nam đang ở nhà bà con. Tôi thưa nay chưa được khỏe không đi xa như thế để thăm bà như lòng mong muốn. Ít lâu sau, bà cho người cháu là anh Phương, sinh viên ngành du lịch sang nhà đưa cho tôi một phong bì to dán kín. Mặt sau phong bì có vẽ đường chỉ dẫn đến nơi hiện bà đang ở. Phong bì to của khách sạn Saigon Morin chi nhánh Huế. Tôi bất ngờ khi trong phong bì là một tập giấy mỏng tang, kèm thư bà Vi như sau: “Anh Thành, Xin gửi anh một tập photocopie nói chuyện Cụ, cháu tôi ở Pháp đã fax qua cho tôi (tức là bài Gió đã đổi chiều của Người Luân Đôn tức nhà nghiên cứu Mạc Kinh.)

Đọc xong anh cho biết ý kiến, Hoàn rất hài lòng sau khi đọc bài này. Thăm anh chị mạnh khỏe vui vẻ sang năm canh thìn (ký tên)

 Bà Hà Vô Vi 654B An Bình An Phú Thành phố Hồ Chí Minh.

T.B. Không kịp nói chuyện với Hoàn, theo tôi chắc là Hoàn cũng đồng ý. Mong anh hài lòng khi đọc bài này”.

Phong Bi ba Hoan gui bo Khach san Morin

Tôi đọc xong, chưa kịp phôtô thì anh sinh viên nọ lại đến xin lại bài đưa hôm trước. Rất tiếc nhưng tôi đưa trả ngay, vì hiểu sự cẩn trọng của người đã thu bài đó. Thời ấy do sản xuất đồ gỗ xuất khẩu nên nhà mới có máy fax, lại đi thu một tài liệu chính trị liên quan đến một người từng bị ta xử tử như Ông tôi, có thể bị phiền phức ảnh hưởng đến việc làm ăn. May mắn sau này tôi được chú Miềng tức cậu Phạm Tuân gửi cho toàn bài viết của Nguyễn Văn Trung nên đã trích một phần đưa lên Blog PhamTon là bài Thượng Chi Phạm Quỳnh “điệp viên đơn tuyến” của Hồ Chí Minh với cái tên tác giả là Nguyễn Văn Trung, làm sôi nổi dư luận bạn đọc.

Cũng đầu năm 2000, cô Hoa giúp việc cho em họ tôi là kiều bào Pháp Nguyễn Quốc Khánh đại diện hãng Shell ở Việt Nam, sau khi nghỉ phép về lại Sài Gòn tôi nhận được thư của Coàn. Trong bì thư có một phong bì nhỏ, đẹp, trong đó là một thiếp chúc mừng năm mới in hình một chai sâm banh. Mặt sau là những dòng chữ Coàn viết nắn nót rõ ràng: “Chai champagne (sâm banh) này để chúc mừng Đông, Thành, Trung một năm Canh Thìn sức khỏe dồi dào và nhiều may mắn.

– Mở ra để ăn mừng bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn, bút hiệu rất hay.

Tết Canh Thìn 19/1/2000”Thiep chuc mung cua co Hoan

Trong thư dài viết cùng ngày 19/1/2000, có đoạn cô viết: “Cô đã đọc đi đọc lại nghiền ngẫm bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn. Cô thích lắm, cảm ơn Phạm Tôn đã cho cô nhiều chi tiết rất thú vị và thi vị mà cô chưa từng biết. Hồi đó Thành còn gửi kèm một lá thư nói đây mới là phác thảo, còn phải bổ túc nhiều, cô rất mong cháu hoàn tất rồi và gửi ngay cho cô nhé. Cháu nên cho phổ biến ở nhà, hay là ở hải ngoại trong những tờ báo văn hóa. Cách đây hai tháng, có một cô muốn làm luận án về tục ngữ ca dao ngạn ngữ ở Việt Nam, dĩ nhiên là họ đến tìm tài liệu ở đằng cô. Cô tìm mục lục Nam Phong, thì có bài diễn thuyết cô đã đăng lại rồi năm 1992, nhưng nay qua bài của Thành mới biết bài diễn thuyết này năm 1932 có được xuất bản thành sách trong Nam Phong tùng thư + Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Năm ngoái ở Paris cô may mắn kiếm được một cụ mọt sách, cụ có đủ bộ Nam Phong tùng thư cụ quí hơn vàng thế mà cụ cho cô mượn hơn một tháng để đi chụp lại (…) Khi đọc bài cháu cô lục lại thì thấy thiếu quyển Tục ngữ ca dao. Cụ ấy cho biết là cũng không có”

Cô còn hỏi tôi về nhiều người như cụ Dưỡng Am, cụ Tú, cụ Cả, tên ông nội của ông tôi và cho biết: “Hồi bác Phạm Trọng Nhân trước khi sang Pháp đoàn tụ gia đình có làm một cây gia hệ họ Phạm, có đưa cô Lãng (tức cô Ngoạn) mà nay thì chịu không biết đâu mà tìm”. Rồi cô còn hỏi tôi nhiều tài liệu nữa. Và cô viết : “Thành ơi, cô say sưa mải miết về chuyện đời xưa mà quên không hỏi thăm sức khỏe Thành. Cô rất mong thư dài dằng dặc này đến tay Thành lúc cả nhà sức khỏe dồi dào. Cô cầu mong vậy”

Đúng là Coàn của cháu làm gì cũng say mê quên hết mọi chuyện thực tế nhất cần thiết nhất bình thường nhất của đời sống một con người bình thường.

Trưa 5/6/2000, tôi nhận được thư ngắn của Coàn viết ngày 26/5/2000 từ Yerres (Pháp). Mở đầu là: “Thành của Coàn, cô giới thiệu cháu đến gặp cô Oanh, bạn Đồng Khánh Huế cùng bạn với cô Vi, thỉnh thoảng gặp nhau ở bên phía trời Âu cùng sống lại thời kỳ tươi sáng vô tư ở sân trường Đ.K (…) Vài hàng nhắn Thành cố đến gặp nhé, kẻo như cô Vi chỉ được gặp qua điện thoại! Như vậy mà không ngớt lời: “Cháu mi ăn nói lịch sự lắm, rất chững chạc, dễ thương!”.Thu ba Hoan mat sau

“Cô đã được gặp cô Trung (em họ, con em trai bà ngoại tôi- PT chú) qua điện thoại. Cậu Vượng (em ruột bà Trung) cũng đã tới nơi (Hoa Kỳ) rồi. Có lẽ đã gặp chú Miềng, cô Hảo (là dược sĩ chị ruột bà Hoàn),  vì cùng ở một vùng gần Washington. (…) Cu Ti (tức Thành Trung con trai tôi) đã 17 tuổi? Mình già là phải. Cầu mong sức khỏe cho toàn gia nhé: Thăm Đông nhiều (Vợ tôi) Coàn (ký)”

May cho tôi là bà Nguyễn Hoàng Oanh lại ở nhà bà Bích Liên ngay 235 Võ Thị Sáu quận 3 cùng phường với tôi. Coàn còn cho số điện thoại của bà để tôi liên hệ trước, hẹn giờ gặp.

Thế là đúng hẹn 15:00 ngày 5/6 con trai đi xe máy chở tôi đến nhận thư dài và tư liệu về Ông tôi.

Toàn văn thư Coàn viết ngày 26/5/2000 như sau:

Mến gửi Thành, Đông và cháu Trung,

Nhân có cô Oanh về, cô tranh thủ thời gian dài dòng văn tự một chút. Cái thư và bài của Thành đề ngày mùng 4 Tết (Canh Thìn) mãi đến cuối tháng ba dương lịch cô Vi mới về đến Pháp và gần 10 ngày sau mới có dịp gửi cho cô. Được tin Thành và gia đình bình yên cô mừng lắm, nhất là qua bức thư đánh máy cô nhận thấy trí nhớ của Thành thật tuyệt vời, và lời lẽ trong thư mạch lạc rõ ràng cô mừng lắm. Thế rồi, cũng như lần trước, mãi mấy tháng sau, tức là hôm nay cô mới hồi âm, cũng vì gửi cho chú Miềng xem. Cô thì dạo này không được khỏe lắm, làm việc gì cũng phải cắt quãng, dưỡng mục, dưỡng thủ, dưỡng tinh thần nên có chậm chạp.

“Chú Miềng có ý đưa đăng báo bài của Thành, cứ đề bút hiệu của Thành, xuất xứ Thành phố Hồ Chí Minh, vì cô Nhị (là nhà văn em ruột bà Trung, ông Vượng) cảm xúc viết một bài đoản văn, dựa vào ý chính đó nhưng tiểu thuyết hóa một tý, chú Miềng khen hay, cô chưa được đọc. Cô thì không quen nhà báo mấy, cô định, trong một tuyển tập đang sửa soạn in gồm một số bài của nhiều tác giả viết về Ông, cô sẽ đăng bài của Thành. Cô cần biết ngay trong hai việc này Thành có đồng ý không, và có muốn sửa đổi gì hay thêm thắt gì vào bản cô Vi đem sang không. Nếu có, khi cô Oanh về, cứ gửi cô Oanh.

“Nghe Thành nói không biết gì về việc Ngày kỷ niệm Ông (tức Ngày Phạm Quỳnh), cô lạ quá. Có lẽ cô nghe nhầm, vì hồi ở Cal (Nơi tổ chức lễ kỷ niệm) chị An và anh Đệ (Chị và anh rể tôi) nói có gửi bài và ảnh về đằng me (mẹ tôi hồi ấy sống ở Bạc Liêu nhà em gái tôi), còn chú Tuyên thì cũng chỉ gần đây có con rể Trần Hà sang Pháp công tác cô mới gửi vài bài về thôi. Vậy lần này cô gửi photo một bài tường thuật đăng ở nhật báo Người Việt ở Cali thì Thành có một bài tường thuật rõ ràng hơn là cô kể. Cô gửi thêm một bài của giáo sư dược sĩ Bửu Tập, bài cô thấy dễ thương nhất và không khô khan. Chuyện tổ chức này là hoàn toàn do sáng kiến của bốn cơ quan truyền thông ở Cali làm, và họ định ngày tháng xong mới mời gia đình tiếp tay nên cô khệ nệ mang hai chiếc vali sách và ảnh, tờ báo Tết Nam Phong, tờ số một khai trương và một ít sách trong Nam Phong tùng thư cô may mắn tìm được ở nhà một cụ mọt sách có đủ bộ! Thế là phải mượn làm photocopie chứ chẳng dám đem sách cổ của cụ, lỡ thất lạc thì chẳng sao đền được.

“Cô Vi về nói có gửi cho Thành bài của nhà báo viết trả lời ông Nguyễn Văn Trung (giáo sư nghiên cứu văn học sử định cư ở Canada) cô biết là qua internet và email, ở nhà cũng có người có rồi. Cô Vi nói: Tau chắc cháu mi chưa có nên tau đưa. Nhưng khi đưa rồi lại cận ngày về nên cũng không gặp Thành.

Đấy, có những người mình chẳng quen biết gì, họ thấy gai mắt là họ phản ứng ngay thôi (ý nói cụ Mạc Kinh tức Người Luân Đôn).

“Cô vẫn lầm lũi tìm kiếm tài liệu làm sáng tỏ con đường ông đi. Riêng loạt bài của Ông bằng Pháp văn (tức Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, trong thời gian 1922-1932 – Essais (1922-1932) –NXB Tri Thức) cũng đủ tỏ rõ con đường của ông chọn, nếu các chữ nếu được thực hiện (về phía Pháp, về phía triều đình, về phía dân trí…) hội đủ cơ duyên thì là con đường đắc sách nhất để dẫn dắt đến tự trị, rồi độc lập… Than ôi!

“Thành Đông ơi, sức khỏe các cháu thế nào. Nhất là Thành, cô cầu chúc được gặp thầy gặp thuốc cho chóng bình phục.

Cô Lãng (tức bà Phạm Thị Ngoạn, vợ nhà văn Nguyễn Tiến Lãng) thì nay cứ yên phận thôi (bà bị păckinhxơn) không đi, không đứng, không nói, thương tâm lắm. Nhưng đối với cô Lãng thì cô ấy hoàn toàn quên, nên hay tủm tỉm cười, chứ không có nét mặt buồn.

“Đến 1/6, cô Oanh lên máy bay. Đến nơi cô đã nhờ cô Oanh bỏ thư cho Thành. Có thời giờ hồi âm cho cô biết về việc bài của Thành nhé. Mến nhiều. Coàn

“T.B (viết ở lề thư) Thành ơi, cô gửi thư thăm me trên một tấm ảnh vẽ mùa xuân trong rừng, lại do một họa sĩ vẽ bằng miệng. Cô còn nhớ me vẫn thích bưu thiếp màu tươi vui mà hiện không có trong tay, cô e me ở tuổi già nhìn màu không tươi không thích, vậy cô cứ gửi, Thành xem rồi thưa lại với me là cô nhớ me và quý me lắm, cô sẽ có thư sau vậy. 1/6 cô Oanh đã đi, phải gửi thư ngay”

—o0o—

 THƯ GỬI COÀN của Tôn Thất Thành

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7-6-2000,

“Coàn yêu quí của cháu,

Chiều hôm qua, hai bố con cháu đã đến gặp bạn cô và đã nhận được thư và tài liệu cô gửi cho. Thật cảm ơn cô vô cùng, cô lại còn gửi cho cả quà nữa. Về nhà, cả nhà cháu, từng người một, đọc hết những gì cô gửi cho, và sung sướng nhận cả tấm lòng thương yêu của cô.

Bạn cô, đến tháng 9 mới về, sợ cô mong, cháu viết vội mấy hàng này.

Bài cháu viết chỉ để ghi lại những gì về Ông mà sau này người đời nên biết, mà cũng chỉ viết để con, cháu trong nhà đọc, cho nên cháu không muốn đăng lên báo. Còn nếu có in trong sách, thì lại là chuyện khác. Cháu nghĩ, nếu nay cô cho in một tập sách lấy tên là Tục ngữ ca dao, như ngày xưa ông đã cho in, trong đó bao gồm bài diễn văn ông đọc tại hội Khai Trí Tiến Đức, những câu ca dao tục ngữ cháu đã gửi cô Vi đem sang, và cuối cùng, cho phụ lục bài cháu viết về ông kèm theo đó là một số ảnh ông chụp trong thời gian đó (cháu có ảnh ông chụp mặc veston, có lẽ hồi ở Pháp và một ảnh chụp hồi viết Đông Dương tạp chí, đội khăn, mặc manteau, cháu đã có gửi cho cô Ngoạn rồi). Có lẽ một tập như vậy sẽ rất lý thú, tất cả thống nhất với nhau. Bản như vậy, ngay cả cụ “mọt sách” cô quen cũng chưa có, và chắc chắn là sẽ thích lắm. Còn cháu, cháu chỉ mong được đưng sau lưng Ông mà thôi không muốn đứng chung với ai khác để nói về ông đâu. Cô chớ cho in cháu cùng những người khác cô ạ. Cháu là người nhà, cháu của Ông mà.

Còn tên tác giả, cháu nghĩ cứ đề Phạm Tôn là đủ”

*

*      *

Năm 2001, tập sách Coàn tham gia chuẩn bị ra đời tại cơ sở xuất bản Tâm Nguyện. Đó là tập sách 460 trang tuyển tập gồm 20 bài của nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu Việt hiện sống ở nước ngoài. Tiếp đó 10 bài của Phạm Quỳnh. Đứng tên xuất bản là Ủy ban Vận động Phục hồi Danh dự Nhà Học giả Phạm Quỳnh. Tôi không biết họ là những ai…

Coàn đã tôn trọng ý kiến của tôi nên trong sách không có bài Người Nặng Lòng với Tiếng Ta của tôi.

Ky Nguyen Moi va giai oan lap mot dan trang

Nhưng do ông em họ đã sang định cư tại Mỹ tiếp tục làm báo, có bản thảo cũ (thiếu phần viết về Nguyễn Du) đã đưa lên tạp chí Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6/2001). Vì biết tôi từ chối từ khi đưa ông đọc bài này ở Việt Nam, nên tôi không nhận được nhuận bút, không có cả báo biếu có bài mình viết. Tôi hiểu nên không trách ông, chỉ tiếc là lại dùng bản chưa hoàn chỉnh…

Phạm Tôn viết thêm ngày 30/12/2021, tại thành phố Hồ Chí Minh

Chuyện bây giờ mới kể

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 2 năm 2022.

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Trước Tết Mậu Tuất năm nay, nhạc sĩ Phạm Tuyên có hai vị khách không mời và cũng không ngờ tới thăm

tại nhà riêng. Đó là cụ Phạm Quang Tấn, sinh năm 1940 đến từ thị xã Dĩ An Bình Dương,, vốn là Thiếu sinh quân ở đại đội mà chính nhạc sĩ là đại đội trưởng hồi ở Khu học xá Trung ương bên Trung Quốc. Và người thứ hai là cụ Vũ Văn Chỉ, sinh năm 1942 đến từ thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Cụ Tấn thì “tóc bạc, cái râu bạc” dáng tiên phong đạo cốt; cụ Chỉ thì “mày râu nhẵn nhụi” vạm vỡ, có dáng lực điền, nông dân thứ thiệt. Hai cụ đến thăm nhạc sĩ là “thay mặt cho bạn thân của hai cụ cùng học ở Học viện Nông Lâm những năm 1960”. Mất liên lạc với nhau nửa thế kỷ, mới tìm được nhau, nhờ hai phóng viên của báo Nhân Dân.

Sau Tết, nhạc sĩ là người nổi tiếng, lại là trưởng họ Phạm nhà Phạm Quỳnh, cho nên khách đến thăm nhiều, khách gọi điện thăm hỏi lại càng nhiều hơn, khiến cho tôi, người cháu thứ thiệt ở Sài Gòn, gọi nhạc sĩ bằng cậu ruột, đành phải biết phận,

chờ đến chiều mồng ba mới gọi điện được cho ông.

Không phải vì tôi định chúc Tết, mà là muốn cho ông biết một chuyện mà chỉ mới nói sơ qua, ông cũng đã ngạc nhiên, nói kể ngay đi, sao lại có chuyện thế. Chuyện tôi kể là: Ông có liên quan đến việc tìm ra nơi chôn thân phụ, nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Chuyện ấy như sau: Đầu năm 1930, một đồng liêu với học giả Phạm Quỳnh

gửi một người con trai ra sống ở nhà số 5 phố Hàng Da, nhờ nhà báo Phạm Quỳnh chăm nom cho con theo học ở Hà Nội. Phạm Giao và Phạm Bích là con cả và con thứ của Phạm Quỳnh ra ga Hàng Cỏ đón, vừa giơ cao tấm bảng đề tên vừa gọi to “Hoàng Hùng, Hoàng Hùng, có người đón!” Đến nhà, lên cầu thang chàng trai miền Trung đã nghe thấy tiếng ru em tha thiết, trìu mến của cô gái 17 tuổi. Đó là trưởng nữ của nhà báo tên là Phạm Thị Giá, do trắng như giá đỗ mà thành tên. Anh Hoàng Hùng nghĩ: “Ai mà được làm chồng cô này thì thật là hạnh phúc, đã ra dáng một bà mẹ hiền rồi…” Đứa bé trong lòng cô say ngủ là nhạc sĩ Phạm Tuyên sau này. Ông Hoàng Hùng học ở Hà Nội xong liền du học Pháp, ngành kiến trúc và biết tin cô gái nọ đã làm vợ một chàng trai xứ Huế, dạy học ở trường Gia Long. Rồi chàng kiến trúc sư cũng có gia đình riêng. Một kỷ niệm đẹp, một tình yêu thoảng qua, nhưng không bao giờ phai…

Rồi năm 1945, gia đình học giả Phạm Quỳnh gặp nạn, kéo theo gia đình bà Giá cũng gặp nạn.

Năm 1956, ông Hoàng Hùng hồi đó đang làm Bộ Trưởng Bộ Kiến thiết của chính quyền Sài Gòn, được giao trách nhiệm trang trí nội thất toàn bộ Dinh Tổng thống, hằng ngày làm việc với anh em Ngô Đình Diệm là tổng thống và em trai là cố vấn Ngô Đình Nhu. Tình cờ một hôm ông Hùng được biết tin gia đình họ Ngô chuẩn bị tìm nơi chôn bố con Ngô Đình Khôi là anh ruột ông Diệm. Ông Hùng nói rõ ơn cưu mang của gia đình Phạm Quỳnh đối với mình thời thanh niên và xin cho được báo đáp bằng cách báo cho bà Phạm Thị Hảo là con gái Phạm Quỳnh hiện là dược sĩ, mở hiệu thuốc Tây ở Sài Gòn. Và chuyện bà Hảo và em trai là Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh đã thực hiện được việc cải táng đưa Phạm Quỳnh về chùa Vạn Phước, một việc mà gia đình tự mình đã cố gắng nhiều năm nhưng không sao làm được.

Nhiều năm sau, đất nước giải phóng, Bắc Nam sum họp, tôi vào thành phố Hồ Chí Minh làm phóng viên thường trú, mẹ tôi cũng vào sống cùng. Một hôm, mẹ tôi nhận được một lá thư từ Pháp gửi về, bà rất bất ngờ vì đó là thư của ông Hoàng Hùng; nhờ đó tôi mới biết được chuyện tình đơn phương của ông Hùng. Ông Hùng có ông em còn ở trong nước là ông Hoàng Liệu, sống ở đường Lê Quang Định gần chợ Bà Chiểu. Lâu lâu, ông Liệu đến thăm mẹ tôi, đưa quà “của anh Hùng gửi chị”, nhiều lần còn mời tham quan lễ hội này, nọ như lễ hội Bà Chúa Xứ, đi về bằng xe riêng cùng mấy bà cùng trạc tuổi, chụp nhiều ảnh” để còn gửi cho anh Hùng tôi”. Cứ như thế cho đến khi em gái tôi sinh con, mẹ tôi về Bạc Liêu, quê chồng em.

Nay, me tôi cũng về cõi Phật tròn 18 năm, tro cốt để tại chùa Vĩnh Nghiêm thành phố Hồ Chí Minh. Không biết ông Hoàng Hùng sau này thì thế nào…

Cuộc sống vốn vô thường, chỉ có tình người là còn mãi.

Nhân “khai… máy chữ” đầu năm, xin có vài hàng lòng thành tưởng nhớ mẹ và những người thương ông ngoại tôi mà thương cả lũ chúng tôi là con cháu chắt Người.

Thành phố Hồ Chí Minh mồng bốn Tết Mậu Tuất (19/2/2018)

Tôn Thất Thành

Blog tại WordPress.com.