Pham Ton’s Blog

Tháng Một 14, 2022

Thư COÀN

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:23 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2022.

THƯ COÀN

Phạm Tôn

Thật ra không có ai tên Coàn! Ngoài tôi chắc chẳng ai biết Coàn là ai…Vì Coàn là chữ dì Phạm Thị Hoàn em ruột mẹ tôi thường ký cuối những thư gửi cho tôi: là viết tắt của hai chữ Cô Hoàn.

Gia đình tôi thường gọi các em gái mẹ là cô. Chỉ trừ dì Thức vợ chú Hỷ.Thu Coan

Không hiểu vì sao, Coàn yêu quí tôi từ nhỏ. Hồi hai tuổi, Coàn cho tôi đi thuyền trên Sông Hương cùng cô Tâm bạn thân của cô, cùng là nữ sinh Đồng Khánh. Nhưng lại bảo tôi ngồi lòng cô Tâm, còn cô ngồi trước mặt Ton That Thanh 1943ngắm hai cô cháu, khen: Mắt to đen lay láy, lông mi cong, phải cái đầu to quá! Cô Tâm xoa đầu tôi, rồi hai bàn tay cứ ngón cái và ngón trỏ mân mê hai dái tai tôi, khen tai tròn, dày dễ thương quá.

Hồi xa mẹ, năm tám tuổi sống với bà ngoại đã khánh kiệt, cô xuống nhà bếp ăn cơm cùng chị em tôi và bác bếp Nguyên, u Nấm quản gia. Từ đó, bữa ăn có thêm món trứng chưng tương tôi cho là ngon tuyệt, rưới cơm cũng ngon mà chấm rau muống luộc càng ngon. Năm ấy tôi chẳng may bị trai làng Vạn Lộc đánh nhau với trai làng bên đến cua gái làng, ném trượt một tảng đất cày ải trong đó có mảnh sành to. Tôi giập sọ máu ra rất nhiều. Cả nhà ai cũng bận công này việc nọ hoặc đi học. Chị tôi bận tối ngày xay thóc giã gạo còn phụ bác bếp Nguyên lo bữa ăn nhà đông người. Lúc ấy cô chuẩn bị đi Yên Mô học, hằng ngày cô gọi tôi lên gác, lấy bông nhúng vào nước muối rửa vết thương đã mưng mủ. Rẽ tóc ra để rửa là tóc rụng cả đám, bong từng mảng da đầu. Cho đến một hôm cô bảo sạch rồi, hết mủ rồi và đưa gương cho tôi soi. Tôi bật cười, thấy giữa đỉnh đầu mọc một ong chau ba Hoan luc giacục đỏ như nửa quả mận chín. Rồi cậu Tuyên đi bộ bẩy tám cây số lên Hành Thiện mua cho một viên Đagiênăng là thuốc chữa bách bệnh thuở ấy. Cô cạo thuốc, mới rắc hết nửa viên vết thương đã lành hẳn. Chỉ còn một cái sẹo sờ nhẵn thín trên đỉnh đầu, hình như cao hơn trước. 10 tuổi về Hà Nội với mẹ, cô vẫn sống cùng chúng tôi. Ngoài giờ làm việc, cô còn hát ở Đài phát thanh Hà Nội trong giàn nhạc Thẩm Oánh, có quen nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Hai người đi xem phim thường cho anh tôi và tôi đi cùng . Đặc biệt cô còn xin cho tôi học viôlông tại nhà nhạc sĩ ở phố Đặng Dung. Tôi được mượn một đàn nhỏ cho trẻ em về nhà tập, mỗi tuần ba buổi đi tàu điện lên học. Tôi thích nghe nhạc, nhưng không đủ kiên nhẫn học cây đàn khó này, cũng có lẽ là không có năng khiếu biểu diễn nhạc cụ, bèn tự ý thôi không học nữa. Lấy cớ: họ yêu nhau nên bày ra việc tôi học đàn thôi. Tôi nghỉ mà cả cô tôi lẫn nhạc sĩ chẳng ai nhắc nhở, trách móc gì… Rồi cô được bà chị nhiều uy lắm tiền bảo đi du học Pháp. Từ đấy cô cháu tôi xa nhau.

Sau khi tôi bệnh nặng năm 1991 xin thôi việc cơ quan, cô ở Pháp biết tin lo lắm, nhưng không biết giúp Truong thin va bocách nào. Trong dịp đi học một lớp săn sóc sức khỏe bằng phương pháp Đông Y, gặp một ông thầy người Việt, có bạn bè đồng nghiệp sống ở Việt Nam, bèn nhờ ông giới thiệu cho gặp lương y Lê Hưng ở Bình Dương nhờ chữa trị. Mặc dù hồi ấy tôi vẫn là bệnh nhân đặc biệt diện nghiên cứu của Viện Y Dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, do Bác sĩ Trương Thìn nổi tiếng về Đông y thời ấy trực tiếp điều trị nhiều năm mà vẫn chưa có kết quả, chỉ sống sót thôi. Nắng không ưa, mưa không chịu. Lúc nào cũng mệt. Dù mệt mỏi hay bận rộn việc gì lúc nào tôi cũng suy nghĩ về Ông Ngoại, cố tìm lời giải cho số phận thăng trầm và cái kết cục bi thảm oan khuất của Ông. Cô cháu tôi viết thư cho nhau thường nói chuyện đó ở Pháp và trong nước ta, cố cập nhật mọi chuyện về Ông Ngoại.

Ty mac ao do Ba Hoan cho

Ngày 8/3/1993, gia đình ba người chúng tôi cùng vợ chồng cô Trịnh Thị Ngọ, Lê Văn Rạng, vợ chồng cô Đặng Vũ Hồng Miên, Nguyễn Văn Tý đến ga Sài Gòn đón cô Hoàn từ Pháp về Hà Nội nay ghé Sài Gòn để từ đây về lại Pháp. Cả ba gia đình không ngờ bên nhà ông Lương Hàm Châu (tức nhạc sĩ Lương Ngọc Châu) chồng Coàn có người làm to bên ngành giao thông vận tải đã tổ chức đón cô trong nhà khách lớn ở ga. Rồi cả một đoàn ô tô con đưa cô về thăm gia đình bên chồng, sau đó mới đưa về nhà cô Ngọ, bạn thân thiết nhất của cô để cô sống ở đấy những ngày lưu lại Sài Gòn. Con gái cô Ngọ tên là Thu Hương, nghệ danh của cô Hoàn khi hát tại đài Phát thanh Hà Nội. Tôi và con trai bám sát cô. Rất chân tình,cô cho con tôi một chiếc áo thun đỏ rất đẹp, của Italia mua cho con trai là Quốc Vinh, nhưng em lớn rồi, chỉ cố mặc vài lần. Cô biết con tôi năm ấy 10 tuổi, chắc mặc vừa. Từ đấy, con tôi lúc nào muốn diện đều mặc áo đỏ này. Bố con tôi đưa cô và cô Ngọ đến thăm nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa đúng ngày giỗ thân phụ là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Hồi ấy, Sài Gòn chưa có taxi, tôi nhờ một anh bạn cùng học tiếng Nhật đưa đón hai cô cho thuận lợi. Lần cô đi tàu vào đây còn có nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, gặp từ Pháp hồi ông sang nghiên cứu bên ấy. Nhà thơ Hỷ Khương và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đều là người Huế. Ở nhà bà Hỷ Khương, còn gặp nhà thơ lão thành Mộng Tuyết, vợ thi sĩ Đông Hồ. Sau đó, về nhà cô Ngọ ăn cơm với đậu phụ rán và rau muống luộc chấm tương Bần theo yêu cầu của cô Hoàn. Bỏ mâm cao cỗ đầy toàn món Huế tổ chức linh đình tại đám giỗ. Chiều 20/3 cả nhà đi xe hơi máy lạnh người lái là bà Cam, vợ cư sĩ Phật giáo Võ Đình Cường tổng biên tập tạp chí Văn hóa Phật Giáo cả hai vợ chồng đều người Huế, bạn của các cô Ngoạn, Hoàn. Tất cả tới Tân Sơn Nhất, tiễn cô lên máy bay về Paris.

Năm 1997-1998, tôi bị một tai biến nhỏ mà thành to do hạ đường huyết. Ăn bằng ống bơm thẳng vào dạ Pham Thi Hoan_Hy Khuongdày. Mõi ngày đủ nửa ký thịt bò mà chẳng biết ăn gì. Mất trí nhớ một thời gian ngắn, hôn mê nửa tháng nhưng vẫn nghe được. Nằm bệnh viện Nguyễn Trãi 37 ngày, an dưỡng thêm 27 ngày ở nhà chị vợ có máy lạnh. Ra viện đọc sách báo rất khó vì các dòng chữ cứ nhảy múa, phải lấy tay chặn hai bên mới đọc được những chữ ở giữa. Không giở trang sách được, tay mất cảm giác. Chữ viết cực xấu. Theo lệ mọi năm viết thiếp chúc Tết bà con bạn bè. Chỉ mấy dòng cũng phải viết nháp mấy lần sửa chữa chán chê mới xong. Trí óc gần như nghỉ. Tôi nghĩ: những chuyện tôi biết về Ông nhiều hơn mẹ tôi, các cậu, các cô, vậy mà tôi suýt nữa sống để bụng, chết mang theo, tôi hóa ra một kẻ vô dụng. Vì thế, tuy sức mọn nhất trong đời rồi, mà tài thì còn hèn hơn trước nhiều, tôi cứ bắt tay vào viết về Ông Ngoại kính yêu, mong để lại cho gia đình, bà con và những ai còn thương Ông tôi hiểu hơn về Ông, ít nhất cũng bằng tôi.

Viết xong bài đầu tiên Người nặng lòng với tiếng ta, tôi đưa cho ông em họ cậu Tuyên là nhà thơ Vương Đức Lệ (Lê Đức Vượng) xem. Ông hỏi có muốn in không. Tôi đáp: không! Lại hỏi: cậu sợ gì? Tôi đáp: sợ vì viết về Ông và tiếng ta mà chưa nhắc đến Nguyễn Du! Tôi đánh máy gửi cậu Tuyên một bản, cậu hỏi Phạm Tôn là ai, chưa nghe tên bao giờ mà thấy có thiện ý quá!. Cũng gửi sang Pháp cho các cô cậu một bản và đến tay Coàn của tôi. Do đó mới có thư Coàn này. Dài dòng văn tự như vậy mong các bạn sẽ thông cảm khi đọc những phần sau đây.

Cô Hoàn tôi tốt bạn, những bạn từ thời học trường nữ học Đồng Khánh Huế còn sống đến những năm 2000 đều liên lạc mật thiết với cô và sẵn sàng giúp cô trong việc báo hiếu mà cô tiến hành cùng cô Phạm Thị Ngoạn tiến sĩ Sorbonne đã làm luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp. Sau khi bà Ngoạn bị pắc-kinh-sơn rồi mất, gánh nặng này chủ yếu đặt lên vai bà Hoàn. Và tôi, trước kia thư từ với bà Ngoạn bao giờ cũng kết thúc bằng dòng chữ này trước khi ký tên: Người giúp việc tận tụy của cô, bây giờ lại viết như thế và làm như thế với Coàn của tôi.

Đầu năm 2000, một bạn Đồng Khánh của Coàn, nhà (bà này gọi là phủ) ở đối diện với nhà Coàn, nên thường đi về có nhau. Bà là Hà Vô Vi gọi điện thoại nói chuyện với tôi, cho biết đã về Việt Nam đang ở nhà bà con. Tôi thưa nay chưa được khỏe không đi xa như thế để thăm bà như lòng mong muốn. Ít lâu sau, bà cho người cháu là anh Phương, sinh viên ngành du lịch sang nhà đưa cho tôi một phong bì to dán kín. Mặt sau phong bì có vẽ đường chỉ dẫn đến nơi hiện bà đang ở. Phong bì to của khách sạn Saigon Morin chi nhánh Huế. Tôi bất ngờ khi trong phong bì là một tập giấy mỏng tang, kèm thư bà Vi như sau: “Anh Thành, Xin gửi anh một tập photocopie nói chuyện Cụ, cháu tôi ở Pháp đã fax qua cho tôi (tức là bài Gió đã đổi chiều của Người Luân Đôn tức nhà nghiên cứu Mạc Kinh.)

Đọc xong anh cho biết ý kiến, Hoàn rất hài lòng sau khi đọc bài này. Thăm anh chị mạnh khỏe vui vẻ sang năm canh thìn (ký tên)

 Bà Hà Vô Vi 654B An Bình An Phú Thành phố Hồ Chí Minh.

T.B. Không kịp nói chuyện với Hoàn, theo tôi chắc là Hoàn cũng đồng ý. Mong anh hài lòng khi đọc bài này”.

Phong Bi ba Hoan gui bo Khach san Morin

Tôi đọc xong, chưa kịp phôtô thì anh sinh viên nọ lại đến xin lại bài đưa hôm trước. Rất tiếc nhưng tôi đưa trả ngay, vì hiểu sự cẩn trọng của người đã thu bài đó. Thời ấy do sản xuất đồ gỗ xuất khẩu nên nhà mới có máy fax, lại đi thu một tài liệu chính trị liên quan đến một người từng bị ta xử tử như Ông tôi, có thể bị phiền phức ảnh hưởng đến việc làm ăn. May mắn sau này tôi được chú Miềng tức cậu Phạm Tuân gửi cho toàn bài viết của Nguyễn Văn Trung nên đã trích một phần đưa lên Blog PhamTon là bài Thượng Chi Phạm Quỳnh “điệp viên đơn tuyến” của Hồ Chí Minh với cái tên tác giả là Nguyễn Văn Trung, làm sôi nổi dư luận bạn đọc.

Cũng đầu năm 2000, cô Hoa giúp việc cho em họ tôi là kiều bào Pháp Nguyễn Quốc Khánh đại diện hãng Shell ở Việt Nam, sau khi nghỉ phép về lại Sài Gòn tôi nhận được thư của Coàn. Trong bì thư có một phong bì nhỏ, đẹp, trong đó là một thiếp chúc mừng năm mới in hình một chai sâm banh. Mặt sau là những dòng chữ Coàn viết nắn nót rõ ràng: “Chai champagne (sâm banh) này để chúc mừng Đông, Thành, Trung một năm Canh Thìn sức khỏe dồi dào và nhiều may mắn.

– Mở ra để ăn mừng bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn, bút hiệu rất hay.

Tết Canh Thìn 19/1/2000”Thiep chuc mung cua co Hoan

Trong thư dài viết cùng ngày 19/1/2000, có đoạn cô viết: “Cô đã đọc đi đọc lại nghiền ngẫm bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn. Cô thích lắm, cảm ơn Phạm Tôn đã cho cô nhiều chi tiết rất thú vị và thi vị mà cô chưa từng biết. Hồi đó Thành còn gửi kèm một lá thư nói đây mới là phác thảo, còn phải bổ túc nhiều, cô rất mong cháu hoàn tất rồi và gửi ngay cho cô nhé. Cháu nên cho phổ biến ở nhà, hay là ở hải ngoại trong những tờ báo văn hóa. Cách đây hai tháng, có một cô muốn làm luận án về tục ngữ ca dao ngạn ngữ ở Việt Nam, dĩ nhiên là họ đến tìm tài liệu ở đằng cô. Cô tìm mục lục Nam Phong, thì có bài diễn thuyết cô đã đăng lại rồi năm 1992, nhưng nay qua bài của Thành mới biết bài diễn thuyết này năm 1932 có được xuất bản thành sách trong Nam Phong tùng thư + Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Năm ngoái ở Paris cô may mắn kiếm được một cụ mọt sách, cụ có đủ bộ Nam Phong tùng thư cụ quí hơn vàng thế mà cụ cho cô mượn hơn một tháng để đi chụp lại (…) Khi đọc bài cháu cô lục lại thì thấy thiếu quyển Tục ngữ ca dao. Cụ ấy cho biết là cũng không có”

Cô còn hỏi tôi về nhiều người như cụ Dưỡng Am, cụ Tú, cụ Cả, tên ông nội của ông tôi và cho biết: “Hồi bác Phạm Trọng Nhân trước khi sang Pháp đoàn tụ gia đình có làm một cây gia hệ họ Phạm, có đưa cô Lãng (tức cô Ngoạn) mà nay thì chịu không biết đâu mà tìm”. Rồi cô còn hỏi tôi nhiều tài liệu nữa. Và cô viết : “Thành ơi, cô say sưa mải miết về chuyện đời xưa mà quên không hỏi thăm sức khỏe Thành. Cô rất mong thư dài dằng dặc này đến tay Thành lúc cả nhà sức khỏe dồi dào. Cô cầu mong vậy”

Đúng là Coàn của cháu làm gì cũng say mê quên hết mọi chuyện thực tế nhất cần thiết nhất bình thường nhất của đời sống một con người bình thường.

Trưa 5/6/2000, tôi nhận được thư ngắn của Coàn viết ngày 26/5/2000 từ Yerres (Pháp). Mở đầu là: “Thành của Coàn, cô giới thiệu cháu đến gặp cô Oanh, bạn Đồng Khánh Huế cùng bạn với cô Vi, thỉnh thoảng gặp nhau ở bên phía trời Âu cùng sống lại thời kỳ tươi sáng vô tư ở sân trường Đ.K (…) Vài hàng nhắn Thành cố đến gặp nhé, kẻo như cô Vi chỉ được gặp qua điện thoại! Như vậy mà không ngớt lời: “Cháu mi ăn nói lịch sự lắm, rất chững chạc, dễ thương!”.Thu ba Hoan mat sau

“Cô đã được gặp cô Trung (em họ, con em trai bà ngoại tôi- PT chú) qua điện thoại. Cậu Vượng (em ruột bà Trung) cũng đã tới nơi (Hoa Kỳ) rồi. Có lẽ đã gặp chú Miềng, cô Hảo (là dược sĩ chị ruột bà Hoàn),  vì cùng ở một vùng gần Washington. (…) Cu Ti (tức Thành Trung con trai tôi) đã 17 tuổi? Mình già là phải. Cầu mong sức khỏe cho toàn gia nhé: Thăm Đông nhiều (Vợ tôi) Coàn (ký)”

May cho tôi là bà Nguyễn Hoàng Oanh lại ở nhà bà Bích Liên ngay 235 Võ Thị Sáu quận 3 cùng phường với tôi. Coàn còn cho số điện thoại của bà để tôi liên hệ trước, hẹn giờ gặp.

Thế là đúng hẹn 15:00 ngày 5/6 con trai đi xe máy chở tôi đến nhận thư dài và tư liệu về Ông tôi.

Toàn văn thư Coàn viết ngày 26/5/2000 như sau:

Mến gửi Thành, Đông và cháu Trung,

Nhân có cô Oanh về, cô tranh thủ thời gian dài dòng văn tự một chút. Cái thư và bài của Thành đề ngày mùng 4 Tết (Canh Thìn) mãi đến cuối tháng ba dương lịch cô Vi mới về đến Pháp và gần 10 ngày sau mới có dịp gửi cho cô. Được tin Thành và gia đình bình yên cô mừng lắm, nhất là qua bức thư đánh máy cô nhận thấy trí nhớ của Thành thật tuyệt vời, và lời lẽ trong thư mạch lạc rõ ràng cô mừng lắm. Thế rồi, cũng như lần trước, mãi mấy tháng sau, tức là hôm nay cô mới hồi âm, cũng vì gửi cho chú Miềng xem. Cô thì dạo này không được khỏe lắm, làm việc gì cũng phải cắt quãng, dưỡng mục, dưỡng thủ, dưỡng tinh thần nên có chậm chạp.

“Chú Miềng có ý đưa đăng báo bài của Thành, cứ đề bút hiệu của Thành, xuất xứ Thành phố Hồ Chí Minh, vì cô Nhị (là nhà văn em ruột bà Trung, ông Vượng) cảm xúc viết một bài đoản văn, dựa vào ý chính đó nhưng tiểu thuyết hóa một tý, chú Miềng khen hay, cô chưa được đọc. Cô thì không quen nhà báo mấy, cô định, trong một tuyển tập đang sửa soạn in gồm một số bài của nhiều tác giả viết về Ông, cô sẽ đăng bài của Thành. Cô cần biết ngay trong hai việc này Thành có đồng ý không, và có muốn sửa đổi gì hay thêm thắt gì vào bản cô Vi đem sang không. Nếu có, khi cô Oanh về, cứ gửi cô Oanh.

“Nghe Thành nói không biết gì về việc Ngày kỷ niệm Ông (tức Ngày Phạm Quỳnh), cô lạ quá. Có lẽ cô nghe nhầm, vì hồi ở Cal (Nơi tổ chức lễ kỷ niệm) chị An và anh Đệ (Chị và anh rể tôi) nói có gửi bài và ảnh về đằng me (mẹ tôi hồi ấy sống ở Bạc Liêu nhà em gái tôi), còn chú Tuyên thì cũng chỉ gần đây có con rể Trần Hà sang Pháp công tác cô mới gửi vài bài về thôi. Vậy lần này cô gửi photo một bài tường thuật đăng ở nhật báo Người Việt ở Cali thì Thành có một bài tường thuật rõ ràng hơn là cô kể. Cô gửi thêm một bài của giáo sư dược sĩ Bửu Tập, bài cô thấy dễ thương nhất và không khô khan. Chuyện tổ chức này là hoàn toàn do sáng kiến của bốn cơ quan truyền thông ở Cali làm, và họ định ngày tháng xong mới mời gia đình tiếp tay nên cô khệ nệ mang hai chiếc vali sách và ảnh, tờ báo Tết Nam Phong, tờ số một khai trương và một ít sách trong Nam Phong tùng thư cô may mắn tìm được ở nhà một cụ mọt sách có đủ bộ! Thế là phải mượn làm photocopie chứ chẳng dám đem sách cổ của cụ, lỡ thất lạc thì chẳng sao đền được.

“Cô Vi về nói có gửi cho Thành bài của nhà báo viết trả lời ông Nguyễn Văn Trung (giáo sư nghiên cứu văn học sử định cư ở Canada) cô biết là qua internet và email, ở nhà cũng có người có rồi. Cô Vi nói: Tau chắc cháu mi chưa có nên tau đưa. Nhưng khi đưa rồi lại cận ngày về nên cũng không gặp Thành.

Đấy, có những người mình chẳng quen biết gì, họ thấy gai mắt là họ phản ứng ngay thôi (ý nói cụ Mạc Kinh tức Người Luân Đôn).

“Cô vẫn lầm lũi tìm kiếm tài liệu làm sáng tỏ con đường ông đi. Riêng loạt bài của Ông bằng Pháp văn (tức Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, trong thời gian 1922-1932 – Essais (1922-1932) –NXB Tri Thức) cũng đủ tỏ rõ con đường của ông chọn, nếu các chữ nếu được thực hiện (về phía Pháp, về phía triều đình, về phía dân trí…) hội đủ cơ duyên thì là con đường đắc sách nhất để dẫn dắt đến tự trị, rồi độc lập… Than ôi!

“Thành Đông ơi, sức khỏe các cháu thế nào. Nhất là Thành, cô cầu chúc được gặp thầy gặp thuốc cho chóng bình phục.

Cô Lãng (tức bà Phạm Thị Ngoạn, vợ nhà văn Nguyễn Tiến Lãng) thì nay cứ yên phận thôi (bà bị păckinhxơn) không đi, không đứng, không nói, thương tâm lắm. Nhưng đối với cô Lãng thì cô ấy hoàn toàn quên, nên hay tủm tỉm cười, chứ không có nét mặt buồn.

“Đến 1/6, cô Oanh lên máy bay. Đến nơi cô đã nhờ cô Oanh bỏ thư cho Thành. Có thời giờ hồi âm cho cô biết về việc bài của Thành nhé. Mến nhiều. Coàn

“T.B (viết ở lề thư) Thành ơi, cô gửi thư thăm me trên một tấm ảnh vẽ mùa xuân trong rừng, lại do một họa sĩ vẽ bằng miệng. Cô còn nhớ me vẫn thích bưu thiếp màu tươi vui mà hiện không có trong tay, cô e me ở tuổi già nhìn màu không tươi không thích, vậy cô cứ gửi, Thành xem rồi thưa lại với me là cô nhớ me và quý me lắm, cô sẽ có thư sau vậy. 1/6 cô Oanh đã đi, phải gửi thư ngay”

—o0o—

 THƯ GỬI COÀN của Tôn Thất Thành

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7-6-2000,

“Coàn yêu quí của cháu,

Chiều hôm qua, hai bố con cháu đã đến gặp bạn cô và đã nhận được thư và tài liệu cô gửi cho. Thật cảm ơn cô vô cùng, cô lại còn gửi cho cả quà nữa. Về nhà, cả nhà cháu, từng người một, đọc hết những gì cô gửi cho, và sung sướng nhận cả tấm lòng thương yêu của cô.

Bạn cô, đến tháng 9 mới về, sợ cô mong, cháu viết vội mấy hàng này.

Bài cháu viết chỉ để ghi lại những gì về Ông mà sau này người đời nên biết, mà cũng chỉ viết để con, cháu trong nhà đọc, cho nên cháu không muốn đăng lên báo. Còn nếu có in trong sách, thì lại là chuyện khác. Cháu nghĩ, nếu nay cô cho in một tập sách lấy tên là Tục ngữ ca dao, như ngày xưa ông đã cho in, trong đó bao gồm bài diễn văn ông đọc tại hội Khai Trí Tiến Đức, những câu ca dao tục ngữ cháu đã gửi cô Vi đem sang, và cuối cùng, cho phụ lục bài cháu viết về ông kèm theo đó là một số ảnh ông chụp trong thời gian đó (cháu có ảnh ông chụp mặc veston, có lẽ hồi ở Pháp và một ảnh chụp hồi viết Đông Dương tạp chí, đội khăn, mặc manteau, cháu đã có gửi cho cô Ngoạn rồi). Có lẽ một tập như vậy sẽ rất lý thú, tất cả thống nhất với nhau. Bản như vậy, ngay cả cụ “mọt sách” cô quen cũng chưa có, và chắc chắn là sẽ thích lắm. Còn cháu, cháu chỉ mong được đưng sau lưng Ông mà thôi không muốn đứng chung với ai khác để nói về ông đâu. Cô chớ cho in cháu cùng những người khác cô ạ. Cháu là người nhà, cháu của Ông mà.

Còn tên tác giả, cháu nghĩ cứ đề Phạm Tôn là đủ”

*

*      *

Năm 2001, tập sách Coàn tham gia chuẩn bị ra đời tại cơ sở xuất bản Tâm Nguyện. Đó là tập sách 460 trang tuyển tập gồm 20 bài của nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu Việt hiện sống ở nước ngoài. Tiếp đó 10 bài của Phạm Quỳnh. Đứng tên xuất bản là Ủy ban Vận động Phục hồi Danh dự Nhà Học giả Phạm Quỳnh. Tôi không biết họ là những ai…

Coàn đã tôn trọng ý kiến của tôi nên trong sách không có bài Người Nặng Lòng với Tiếng Ta của tôi.

Ky Nguyen Moi va giai oan lap mot dan trang

Nhưng do ông em họ đã sang định cư tại Mỹ tiếp tục làm báo, có bản thảo cũ (thiếu phần viết về Nguyễn Du) đã đưa lên tạp chí Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6/2001). Vì biết tôi từ chối từ khi đưa ông đọc bài này ở Việt Nam, nên tôi không nhận được nhuận bút, không có cả báo biếu có bài mình viết. Tôi hiểu nên không trách ông, chỉ tiếc là lại dùng bản chưa hoàn chỉnh…

Phạm Tôn viết thêm ngày 30/12/2021, tại thành phố Hồ Chí Minh

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.

%d người thích bài này: