Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 12, 2020

Chỉ buộc chân voi – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2020

KVCT

———–

*BÀI SỐ 3 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

3.- CHỈ BUỘC CHÂN VOI

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

——

Tục ngữ có câu: Chỉ buộc chân voi. Sợi chỉ mà buộc được chân con voi, một cái hãm rất mong manh mà cầm được một cái sức rất to mạnh. Phàm dùng những phương pháp, những kế hoạch thuộc về đạo lý, thuộc về tinh thần mà ngăn ngừa cầm giữ những thị dục thuộc bản năng của cá nhân, hay là những lực lượng vô ý thức của quần chúng, toàn là dùng sợi chỉ mà buộc chân con voi cả. Vì thói quen, vì giáo dục, con voi kính cẩn sợ hãi, không dám đụng chạm đến, thời sợi chỉ vẫn thiêng liêng, vẫn đủ sức cầm giữ con voi không đâm quàng đạp bậy. Nhưng nếu thốt nhiên vì duyên cớ gì, không còn lòng kính cẩn sợ hãi đó nữa, thời ôi thôi! sợi chỉ chỉ là sợi tơ mành, thấm tháp chi mà cầm giữ được chi! Con voi bấy giờ sẽ tự do chạy ùa vào trong cửa hàng đồ sứ, theo như lời ngạn ngữ tây, rồi đâm quàng đạp bậy vài cái, bao nhiêu bát kiểu đồ mẫu loảng xoảng tan nát cả.

Nền nếp của gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân, phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn cái thị dục vô nhai (không có bờ bến – PT chú) của người ta, ngăn sự xuẩn động vô ý của quần chúng. Nếu những sợi chỉ ấy mà trùng mà đứt, thời có nguy hiểm đến văn minh của loài người. Vì cả cái lâu đài văn minh của nhân loại cũng ví như hàng đồ sứ nọ, chớ để cho con voi quần chúng ùa vào mà phá bậy.

Đời này là đời mị chúng, nhất thiết cái gì cũng kêu gào đến quần chúng, không biết rằng quần chúng là một sức mạnh cần phải điều khiển, chứ không để cho phóng túng được. Quần chúng phải buộc bằng những sợi chỉ vô hình của đạo đức, luân lý, phong tục, tập quán, sợi chỉ mong manh nhưng cũng là sợi chỉ thiêng liêng, nhờ đó mà loài người mới thành xã hội có kỷ cương, nếu không thời chỉ là những đám đông ô hợp, hỗn hào, loạn tạp.

Cho nên những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn trọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được nữa.

Thứ nhất là kẻ có trách trị dân trị nước, lại càng phải thận trọng lắm và phải nhớ rằng: một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy.

Chi buoc chan voi

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Mười Một 23, 2020

Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:59 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2020

KVCT

*BÀI SỐ 9 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

9.- LÃO HOA-ĐƯỜNG, THIẾU HOA-ĐƯỜNG

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Ai cũng biết bài thơ chữ vịnh Kiều:

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,

Bán thế vinh hoa trái vị thường…

Ông nghè Chu Mạnh Trinh đã dịch nôm là:

Giọt nước Tiền Đường chửa rửa oan,

Phong hoa chưa trắng nợ hồng nhan…

Bài thơ chữ đó là của cụ Phạm Quí Thích, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Hoa Đường, vì cụ chính là người làng Lương Ngọc tôi, trước là Lương Đường, mà tên về đời Lê là Hoa Đường.

Tôi mộ cái tài học danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tên cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm chí mình quá

Nhân sao lục và dịch nghĩa ra đây:

Tho trong Lao Hoa Duong

Nghĩa là: ”Núi sông nước cũ đã khác hẳn, Tùng cúc vườn xưa nửa bỏ hoang. Trời đất mênh mông thân ẩn dật, cuộc đời bề bộn phận nho quèn. – Cốt bệnh ví cùng non thu ốm – Lòng tôi chỉ bạn với trăng suông, – Có kẻ khuyên ta vui chè rượu, – Thử hỏi Tam Lư có chịu say?”.

Trời đất mênh mông thân ẩn dật

Cuộc đời bề bộn phận Nho quèn!

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ ”tài” vậy.

Song chữ ”tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.

Lao Hoa Duong_Thieu Hoa Duong

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Mười Một 13, 2020

Văn học, Chính trị – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 3:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2020.

KVCT

—–

—–

—–

—–

—–

BÀI SỐ 4 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

4.- VĂN HỌC, CHÍNH TRỊ

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

——-

Cố Tổng thống Wilson nước Mỹ là người đã có một địa vị tối quan trọng hồi Âu chiến lần thứ nhất 1914-1918, đã từng tán dương nhà chánh trị kiêm văn học là một hạng người cao quý, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước. Không nhớ rõ lời lẽ ông nói thế nào, vì đọc được trong một tạp chí nọ đã lâu năm. Nhưng đại khái ông cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm thay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…

Van hoc chinh tri

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Ba 14, 2020

Cô Kiều với tôi – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 4:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 3 năm 2020.

KVCT

BÀI CUỐI TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

11.-CÔ KIỀU VỚI TÔI

Phạm Quỳnh

(Sáng 23/8/1945)

 

 

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sáng 23/8/1945, Phạm Quỳnh ngồi vào bàn viết như lệ thường lâu nay, từ ngày ông quyết trở lại với văn học mà ông tha thiết nhất trên đời, để bắt tay vào viết về một đề tài tâm huyết, gắn bó với ông từ thuở ấu thơ: Truyện Kiều, nàng Kiều…Ông suy nghĩ thật lâu, thật kỹ rồi mới cầm lấy cây bút máy Waterman, bắt đầu viết những dòng đầu tiên về đề tài tha thiết như vận vào thân mình, trên quyển vở học trò nhỏ, bắt đầu từ trang 46. Vừa viết vừa trầm ngâm suy nghĩ theo phong cách của ông: bản thảo đầu tiên cũng là bản thảo cuối cùng, thường chỉ sửa vài chữ, chuyển chỗ vài câu, ít khi viết tới bản thảo thứ hai… Cả buổi sáng định mệnh ấy, ông nhẩn nha viết được có ba trang. Rồi ông dừng bút, để dùng bữa trưa và ngả lưng một chút lấy lại sức cho buổi làm việc chiều, mong kết thúc bài viết yêu quí… Nhưng, không ngờ, đó là những giây phút cuối cùng ông sống và viết tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp, bên con sông An Cựu nhỏ hiền hòa, nắng đục, mưa trong. Ông không thể ngờ là bài viết yêu thích nhất lại là bài viết cuối đời của mình, sẽ mãi mãi dở dang ở ngay nơi mới bắt đầu khơi mạch văn…

Xin mời bạn đọc yêu quí đọc những dòng tâm huyết này từ chính những dòng chữ viết tay của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, trong quyển vở học trò từ trang 46 đến trang 48, sáng 23/8/1945 ấy.

Biet thu Hoa Duong

Co Kieu Voi Toi_trang 1

Co Kieu voi toi_trang 3

Co Kieu voi toi_trang 2

P.Q.

Tư tưởng Keyserling – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 3 năm 2020

 

KVCT

*BÀI SỐ 10 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

10.- TƯ TƯỞNG KEYSERLING

 Phạm Quỳnh

(Tháng 6 năm 1945)

Giữa trời nóng tháng sáu mà đọc sách triết lý Keyserling, quyết không phải là một cách tiêu khiển mùa hè. Vậy mà mấy bữa nay đã đọc hết một quyển dày ngót bốn trăm trang của nhà triết học Đức, đề là “Mặc khảo về Nam Mĩ” (Méditations sud-américaines). Kể thì cũng không phải là một cách mua vui ngày hè thật, vì tư tưởng sâu xa, lời lẽ khó hiểu, phải để ý suy nghĩ luôn không khỏi mệt trí. Có lẽ cũng không phải là ý nghĩa quá thâm trầm mà khó hiểu, chỉ vì cách lý luận phô diễn của tác giả kỳ khu (khó khăn – PT chú) mắc mỏ mà làm cho độc giả không nhẫn nại đến chán nản vậy. Lối hành văn của các nhà triết học Đức vẫn có tiếng là nghiêu khê (lắt léo, quanh co – PT chú) xưa nay: thật thế; đọc văn Keyserling như đứng giữa đêm tối mà chốc chốc có chớp loáng giữa trời, có nhiều câu sáng sủa sâu sắc lạ lùng, mà chìm đắm trong những đoạn mập mờ tối nghĩa. Mạch lạc không rõ ràng, cho nên phải để ý luôn cũng mệt. Nhưng cách tiêu khiển của người ta, mỗi người mỗi khác. Muốn bận trí cho khỏi nghĩ lan man đến chuyện khác, đọc sách Keyserling giữa trời hè nóng nực, cũng là một cách tiêu khiển riêng vậy.

Nước Đức, sau cuộc thất bại năm 1918, tâm hồn tán loạn, thần trí hoang mang, các nhà tư tưởng băn khoăn tự hỏi khống biết lẽ phải ở đâu, đường sống nẻo nào. Bá tước Hermann Keyserling là một tay lỗi lạc trong các văn nhân học giả đó, đã từng sáng lập ra một nơi học xá riêng để họp tập đồ đệ nghiên cứu về đạo lý đặt tên là “trường Đạo Lý” (Ecole de la sagesse), lại du lịch  các nước để khảo sát về nghĩa lý các dân tộc. Cách khảo sát của ông là cách “mặc khảo”, mượn cảnh vật bề ngoài, lấy tình cờ quan sát mà trầm tư mặc tưởng, suy rộng đến nguyên lý sâu xa.

Ông tự hỏi: đời người có nghĩa không, và nghĩa đời người là gì?

Xét đời người phải xét đến sự sống, vì đời người là cái khoảng người ta sống trên mặt đất. Nhưng người ta cũng là một giống trong muôn vàn giống sinh vật khác; xét sự sống của người ta là xét sự sống của hết thảy các sinh vật trên mặt đất.

Các sinh vật bắt đầu sống thế nào? Nguyên thủy của sự sống thời mịt mù trong thời gian, không biết đâu mà dò xét cho được. Cứ xét các trạng thái có thể đoán được, thì có lẽ trạng thái gần với nguyên thủy hơn cả, là trạng thái những giống bò rạp (tức loài bò sát – PT chú), những loài máu lạnh: rồng rắn, thuồng luồng, mắt lờ đờ, mình quằn quại, lúc nhúc sinh sản trong những đầm lầy rừng rậm. Suốt mặt địa cầu, duy có châu Nam Mĩ là cảnh vật còn gần giống với cảnh vật hồi đầu, khi sự sống mới xuất hiện trên mặt đất: Thổ dân châu ấy là giống Tây Ấn Độ (Da đỏ), thì nay đã hầu tàn hết rồi. Hiện cư dân toàn là người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha sang thực dân đã mấy thế kỷ nay, sinh trưởng lâu đời, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh mà hầu thành những dân tộc mới. Xét sinh hoạt và tâm lý các dân tộc ấy, như người Argentine, Brésil, Pérou, v.v… có thể trừu tượng mà ức đoán được trạng thái của sự sống hồi nguyên thủy thế nào. Sự sống ấy có mật thiết quan hệ với hoàn cảnh địa lý, với cảnh vật bên ngoài. Sự sống ấy liền với mạch đất, khí đất, toàn thuộc về đất (tellurique). Theo thuyết “âm dương” của triết học cổ nước Tầu, thì sự sống hồi đầu là toàn thuộc âm cả. Thuộc âm nên nặng nề, tối tăm âm thầm, lạnh lẽo, chính là tính cách sự sống của các giống bò rạp ở các đầm lầy đời thượng cổ vậy. Xét tâm lý người Nam Mĩ ngày nay cũng có tính cách thuộc âm như vậy. Đó là tính cách người đàn bà thuộc về thụ động. Cho nên sự sống của người đàn bà mà giữ được thuần tính chất đàn bà, vẫn là gần với trạng thái nguyên thủy, vì không đoạn tuyệt với đất, ứng với địa mạch, thuận với địa lý, thuần thuộc âm vậy.

Nay lại xét sâu hơn nữa mà thử nghiệm xem cái sống vì địa mạch, cái sống thuần âm đó, cái sống gần với nguyên thủy đó, nó biểu lộ ra những đặc tính gì.

Xét cho kỹ, nhận ra có ba tính cách như sau, tác giả gọi bằng những tên riêng lấy ở tiếng Tây Ban Nha ra: một là gana, tiếng này cũng khó dịch lắm, hẵng tạm dịch là “khuynh hướng”; hai là delicadeza, cũng tạm dịch là “cảm xúc”; ba tức là “cảm động” (chữ Pháp là émotion).

Sự sống nguyên chỉ biểu lộ ra ba cách đó mà thôi: loài sống vốn có một sức ngầm nó đưa đẩy cho nghiêng theo một đường, tức là gana, là cái khuynh hướng muốn sống; bị ngoài kích thích thì cảm xúc, như cây hàm tu thảo (Cây xấu hổ – PT chú), chạm đến thì thu rút lại ngay; nhưng kích thích mạnh thì có dao động đến cả thân thể, tức là cảm động, và ở những loại cao thì nhân đó sinh ra cảm tình, thành ra ái ố (Yêu ghét – PT chú). Tác giả chỉ nói có ba tính cách đó; nay xin lạm thêm một tính cách thứ tư nữa, là “phản động”, vì có cảm động tất có phản động lại, tức là đáp lại cái kích thích bên ngoài, hoặc thuận, hoặc nghịch.

Sự sống rút lại chỉ có thế mà thôi, chỉ là một mớ những khuynh hướng, cảm động và phản động tự nhiên, dường như vô ý thức vậy. Đã vô ý thức thì còn có ý nghĩa gì nữa?

Xét phần nhiều người cũng chỉ là quanh quẩn trong cái vòng sống tự nhiên đó mà thôi, và hết thẩy người đàn bà là sống như thế cả. Các dân tộc Nam Mĩ cũng thế. Mà cách sống đó là cách sống chân thiệt hơn cả, mà cũng là cách sống không có ý nghĩa gì cả.

Mà thiệt sự sống vốn không có ý nghĩa lý chi hết, không có nghĩa có lý đối với chi hết cả. Nghĩa lý là sự người ta ngẫu nhiên bịa đặt ra đó mà thôi.

Sự sống hồi đầu chỉ là một đám tối tăm lạnh lẽo, do mấy sức mạnh đơn sơ chuyển động, ngọ nguậy như con trăn khổng lồ nằm trong hang sâu vực thẳm…Một buổi nọ, không biết vì duyên cớ gì, cũng như không biết vì sao mà có sống, trong đám tối đó bật ra một cái tia sáng là tia sáng của Thần trí người ta. Sự tình cờ ấy đem lại cho loài người lắm chuyện lôi thôi. Tự đó mà sự sống vốn ù lì mù mịt thành ra có giác có tri. Tự đó mà loài người đương thiêm thiếp giấc mòng, vụt tỉnh lên hoạt động. Tự đó mới có cuộc đời, có lịch sử, mới khởi lên vấn đề nghĩa đời người. Nhưng đối với sự sống, đó toàn là trò chơi, là chuyền thừa cả, do Thần trí người ta vẽ vời bịa đặt ra, chứ đối với lẽ sống tuyệt nhiên không có quan hệ gì, mà thường thường lại là mâu thuẫn phản trái với sự sống vậy.

Thần trí đã can thiệp vào cõi sống – dương đã phối hợp với âm – chiếu sáng vào trong đám hỗn độn u âm, tiện thị (Ấy là- PT chú) là nhận thức sự sống, đã nhận thức liền muốn tổ chức, muốn tổ chức tức là lấy lý trí mà đặt cho sự vật thành thống hệ (Quan hệ của những sự vật có mối liên tiếp cùng nhau, tức hệ thống – PT chú) đời người có nghĩa lý.

Số là Thần trí, có cái đặc tính hay tưởng tượng, hay quan niệm. Tưởng tượng là tạo ra những hình tượng, quan niệm là trừu tượng mà hóa thành lý tưởng. Lý tưởng với hình tượng lại có sức mạnh muốn hiển hiện ra thực sự. Thành ra cuộc đời càng ngày xa với lẽ sống nguyên thủy, chỉ bằng cứ ở những lý tưởng cùng hình tượng huyền ảo do thần trí cấu tạo ra, lại do thần trí muốn đem ra diễn thành sự thực vậy. Nói tóm lại thời đời người là một tấn kịch, cuộc đời là một kịch trường, và người ta toàn là những vai đóng kịch cả. Đời người có nghĩa hay không, là chỉ đối với vai tuồng của người đóng, đối với bản tuồng của mỗi người diễn mà thôi, chứ đối với lẽ sống thiên nhiên trong Vũ trụ, thì chẳng có quan hệ mảy may gì cả. Không những thế: người ta nhiều khi mê man về trò chơi đó mà quên cả lẽ sống cốt yếu; cho nên thường phải cảnh cáo cho biết đó là chuyện giả, chuyện giả hết cả.

Thế là nghĩa làm sao? Nghĩa là sự sống vốn thuộc âm, không có nghĩa lý gì cả, cho đến ngày Thần trí (Esprit) – tức là khí Dương[1]– can thiệp vào, biến một cái thế giới tối tăm lạnh lẽo thành một vũ đài rực rỡ náo nhiệt, để cho loài người diễn một tấn tuồng thiên cổ li kỳ, thiên cổ đặc sắc, tức như thi hào nước Ý Dante gọi là cái “Hí kịch thành thần” (Divina Comedia) của Nhân loại vậy.

Nhưng phải nhớ rằng tấn tuồng đó không có quan hệ gì với sự sống cả, chỉ là cái trò chơi của người đời đặt ra để tiêu khiển trong cõi sống vậy. Nhưng cả giá trị của đời người, cả nghĩa lý của đời người là ở trong tấn tuồng đó…

Ấy tư tưởng của Keyserling như vậy. Tư tưởng ấy kể cũng li kỳ và cũng sâu sắc thật. Đây gọi là tóm tắt đại khái mà thôi, chưa chắc đã thấu hiểu được hết, mà nói ra cũng là thô lược vô cùng. Vì giá trị sách của Keyserling là nhân một việc nhỏ mà khái luận thành nghĩa lý sâu xa, dẫn chứng ba lan (Như sóng, tầng lớp trong văn chương khi lên khi xuống – PT chú), khiến cho người đọc phải nghĩ ngợi vô cùng. Nhưng cách lý luận không khỏi tần phiền (Nhiều, thường hay quấy quả – PT chú), mà cách hành văn có điều trắc trở, cũng khiến cho người đọc nhiều khi mệt trí não.

Đọc sách Keyserling quyết không phải là cách tiêu khiển mùa hè vậy. Thuật sách Keyserling cũng quyết không phải là cách tiêu khiển mùa hè vậy.

Nhưng đã trót tiêu khiển bằng cách đó, cũng phải vội vàng ghi chép lấy, gọi là kỷ niệm mấy ngày nóng nực lạ thường, giữa lúc thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi những đường kia nỗi nọ xa gần…

Tu Tuong Keyserling

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

 

P.Q.

 


[1] Đối chiếu với thuyết âm dương, là tự thuật giả, không phải tự tác giả.

 

 

 

Tháng Hai 26, 2020

Anh chàng khoác lác – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 3 năm 2020

  KVCT

*BÀI SỐ 8 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

8.- ANH CHÀNG KHOÁC LÁC

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Cũng có trí thông minh, cũng có tài hoạt-bát, cũng biết đường hơn thiệt, cũng biết điều phải chăng, nhưng phải cái tính tự phụ hiếu thắng, nói khoác nói lác, nói quàng nói xiên, thành ra con người trắng trợn, rất khả ố.

Trên trời, dưới đất, phương Đông, phương Tây, thượng vàng hạ cám, có cái chi là anh không biết? Anh là toàn trí, toàn năng, toàn tài, toàn lực; suốt trong nước còn ai bằng anh?

Mỗi khi anh dương (Nay thường viết là giương – PT chú) gân cổ mà nói: Moa– vì anh hay nói tiếng tây, thì cái Moa của anh đó, lúc bấy giờ tưởng như là trung tâm điểm của Vũ-trụ vậy.

Thân anh, nhà anh, họ anh, kẻ trên người dưới của anh, cho chí con chó con mèo nhà anh nữa, cũng là hơn người cả.

Anh mà đã dự vào một việc gì, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, có khi chẳng trực tiếp mà cũng chẳng gián tiếp, chỉ nghe lóng bên ngoài, nghe hơi nồi trõ (Nay thường viết là chõ – PT chú), thời việc đó thành quan trọng vô cùng, anh tuyên truyền khắp mọi nơi, mách bảo đủ mọi người, trong thành ngoài phố, không ai là không biết, và theo phép tuyên truyền đời nay – vì anh rất sở trường về cái thuật mới đó, -thời việc gì qua miệng anh cũng là nhân lên thành mười, phóng đại thành trăm cả, không thấy con người nào ồn ào bằng con người ấy.

Ưa ồn ào, nên ngồi không không chịu được, tất phải có chuyện gì mà nói cho ra con người thông thạo tỏ tường. Không có thời dựng đứng mà đặt ra, rồi vơ quàng vơ xiên, lấy người nọ người kia làm chứng tá (Người làm chứng trong vụ kiện cáo– PT chú). Vì phép lịch sự, người ta không cãi lại, lại càng nhơn nhơn mà nói tướng nữa. Thành ra nhiều khi nói khoác mà hóa ra nói không, phạm lỗi cuồng ngôn (Lời nói cao kỳ mà không đúng sự thật, không đúng đạo lý – PT chú) hay phạm tội vu cáo mà không biết.

Một mà nhân lên làm mười, hay phóng đại làm trăm, thì còn có tỉ lệ mà trừ đi hay rút lại được, như thông tục mà nói là “trừ bì” vậy. Cho nên ai đã biết anh, thời nghe lời anh nói, nghe chuyện anh thuật, cứ theo tỉ lệ mà “trừ bì”, không dám tin hẳn. Nhưng không mà làm ra có, rồi cũng nhân lên làm mười, phóng đại làm trăm, thời thật là vô khả tư nghị (Không thể tưởng tượng và nghị luận được – PT chú) vậy.

Tiếc thay, con người thông minh lanh lợi mà phải cái tính ác liệt đó, thành ra hư hỏng cả, không những hư hỏng cho mình, mà lại khiến cho người yếm ố (Ghét, giận – PT chú) nữa.

Hư hỏng, vì con người ấy không tự cải chính được nữa, và cũng không chịu để ai cải chính cho nữa.

Đã ồn ào, lại hung hăng. Nói gì không muốn cho ai nói lại. Nói lại thành cãi lộn liền, có khi thành ẩu đả nữa. Cho nên ai đã biết, cứ để mặc anh nói, chẳng buồn cãi làm chi.

Thấy thế lại càng tự đắc lắm, tự đắc là thánh thần, không ai dám ngược.

Tự đắc quen thân, thành ra trắng trợn, không biết kiêng nể gì ai nữa. Bấy giờ lại càng được thể dễ nói khoác, một tấc đến Trời, tự do tha hồ nói, càn dỡ quàng xiên.

Vì trắng trợn nên không ai dám dây, lại càng túng sính (Như: được thể – PT chú). Người đã biết tính, cứ để cho nói, chẳng làm tai nghe. Nhưng đối với người thường thời cái thái độ trắng trợn ấy cũng là một cách thị oai, cho nên cũng có người “yếu bóng vía”, phục anh chàng là tài là giỏi. Nhưng sớm trưa rồi cũng rõ cái bản sắc anh chỉ là một chàng nói khoác, thừa lúc đắc thế, lại càng khoác lác lắm.

Anh chang khoac lac

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Hai 14, 2020

Vô duyên

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 5:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 2 năm 2020.

VÔ DUYÊN

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Muốn biết vô duyên thế nào, phải hiểu có duyên làm sao. Có duyên, vô duyên, cửa miệng người ta thường nói đến luôn, mà giải nghĩa cho rõ, thật không phải dễ.

Có duyên, vô duyên theo nghĩa thông thường là may và không may. Có duyên là may mắn, vô duyên là rủi ro. Những mà phân tích cho kỹ, ý nghĩa nó còn ba lan (Như sóng, khi lên khi xuống – PT chú) rộng rãi hơn nhiều, và cũng có vẻ thiết tha thâm trầm lắm nữa.

Chữ duyên (Nguyên tác có ghi chú chữ Hán- PT chú) là chữ Hán, mà lại là chữ Phật. Nhưng cái nghĩa có duyên, vô duyên như trong tiếng ta, Hán văn ít thấy dùng. Vậy cái quan niệm duyên, vô duyên đó, có thể cho là đặc biệt nhuộm màu Việt Nam.

Duyên là nhân duyên, là cái giây (Nay thường viết là dây – PT chú) liên lạc nhân với quả, quả với nhân, trong cái vòng nhân quả vô cùng tận nó giàng (Nay thường viết là ràng – PT chú) buộc muôn loài muôn vật trong cõi trần gian. Cuộc đời là một mớ nhân duyên rất chặt chẽ, một mối quan hệ rất phức tạp. Nhất thiết sự vật đều có tương quan tương hệ với nhau cả. Không có một sự vật gì xảy ra mà không có nhân duyên, không có quan hệ với sự khác vật khác, không do một căn duyên nào mà ra, không bởi một cơ duyên nào mà tới, như có một cái giây vô hình nó buộc với mọi sự vật khác. Theo thuyết định mệnh của nhà Phật mà cả của nhà Nho nữa, người ta châu tuần trong vòng nhân quả hay lý số, đều có một cái số phận hay duyên phận đã định từ trước, nếu thuận theo duyên số đó thời mọi sự xong xuôi yên ổn, nếu trái lại duyên số đó thời mọi điều trắc trở khó khăn.

Vậy thời lấy nghĩa rất rộng mà nói, có duyên là nhất thiết thuận theo dòng nhân quả tự nhiên như có cái bản năng hay cái linh tính nó dẫn đưa run rủi, khiến cho nhất quan nhất niệm, nhất cử nhất động đều là thích hợp với cơ vi mầu nhiệm, nhịp nhàng với vận điệu thiên nhiên dường như muốn sao được vậy, “đáo xứ giai xuân” (Bất kể nơi nào đến cũng là mùa xuân – PT chú) trời chiều người chuộng may mắn lạ lùng.

Nếu là người tài giỏi khôn ngoan, mà lại có duyên may mắn như vậy, thời thật là cái diễm phúc vô song ở đời. Nhưng cũng nhiều khi người tầm thường mà có duyên may như vậy, thời người đời cho là tốt số. “Tốt số hơn bố giàu” không cần phải phẩm bình, nghị luận gì nữa.

Ví cõi đời như một sân khấu lớn, cuột đời như một tấn tuồng to, do một sức mạnh thiêng liêng màu nhiệm, -là lý số (Lý học và số học trong nho, y, lý, số – vận mệnh – PT chú) hay là nhân duyên- đã dàn bày sắp đặt sẵn, thời mỗi người đều phải đóng một vai tuồng đã định sẵn: người có duyên là người đóng đúng cái vai mình phải đóng, – dù là trung thần, liệt nữ, hay là tướng cướp, đào điên, – nên nhẹ nhàng dung dị, lanh lợi dễ thương.Trái lại, người vô duyên là người ra đóng trò lộn vai sai lớp cả, hoặc là tự phụ mà miễn cưỡng, hoặc là bất lực mà lỗi làng, không những thất bại về phần mình, mà đến dở dang cả bài kịch nữa.

Lại ví cuộc đời như một cuộc hòa nhạc lớn, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng sáo, tiếng đàn, ngũ thanh bát âm hòa hợp mà tấu thành một khúc nhạc tuyệt luân, theo dịp điệu nhiệm màu của một nhạc công thần diệu; mỗi người ta là một tay đàn, tay sáo, người đánh trống, kẻ gõ sênh, phải cho thích hợp với bản đàn chung. Người có duyên là người theo đúng dịp, cho nên lưu loát dễ nghe. Người vô duyên là người lỗi dịp ngang cung, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho nên chướng tai khó chịu.

Ấy theo nghĩa thâm trầm về triết lý thời có duyên với vô duyên là thế: có duyên là thuận theo, mà vô duyên là trái ngược cái dịp thiên nhiên của sự vật; có duyên là có giây liên lạc trong vòng nhân quả, có mối tương quan trong cõi nhân duyên, vô duyên là trùng đứt mất giây liên lạc ấy, rối lộn mất mối tương quan ấy.

Có duyên là may mắn; đã là may mắn thời không phải bàn nói chi nữa: xấu cũng nên tốt, dở cũng ra hay.

Còn như vô duyên cũng có năm bảy đường: có kẻ bất tài mà vô duyên, tưởng lẽ tự nhiên là thế, nhưng nghĩ kỹ vô duyên không phải ở bất tài, không tất nhiên bởi bất tài; bất tài mà yên phận thời dẫu không có duyên cũng không đến nỗi nào; chỉ vì bất tài mà không yên phận, không tự lượng, lại tự phụ chống chỏi với số phận, không có duyên mà miễn cưỡng cho có phận, thời bất tài mới thành ra vô duyên, mà đã vô duyên thời dễ sinh cho người chán.

Có kẻ hữu tài mà vô duyên:

Hữu tài thường nỗi vô duyên lạ đời!

Là có làm sao vậy? Cớ sao người có tài lại thường không có phận, và “chữ tài liền với chữ tai một vần”? Lại cớ sao người có sắc cũng như người có tài:

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành, cũng cùng chung một số phận không may như vậy?

Cái đó bất công quá, khiến cho ta phải trách ông Tạo-Vật là ghen kẻ sắc tài.

Nhưng mà “hữu tài” mà “vô duyên”, nghĩ kỹ có lẽ cũng không phải là chuyện “lạ đời” chi. Kẻ có tài thường cậy tài, người có sắc thường hay cậy sắc; có tài có sắc là có cái hơn người, hơn người mà biết rằng hơn người, dễ sinh lòng tự cao tự phụ. Nếu cái bí quyết màu nhiệm ở đời là thuận theo dịp điệu thiên nhiên của sự vật, không phá vòng nhân quả mà biết giữ mối tương quan thời kẻ hữu tài là người thường không có sẵn lòng thuận nhận như thế, muốn cậy ở tài mình mà can thiệp vào sự vật, thay đổi xoang điệu (Cái điệu của bản nhạc – PT chú), xáo lộn nhân duyên, đoạn tuyệt quan hệ, tự hào rằng: “nhân định thắng thiên” là thường. Nhưng “nhân định” có bao giờ “thắng thiên” được. Bởi thế nên thất bại; thất bại vị chi là vô duyên.

Nhưng vô tài mà vô duyên, dễ sinh cho người chán; hữu tài mà vô duyên dễ khiến cho người thương.

Cho nên lòng người vẫn sẵn mối liên tài (Thương người có tài mà không gặp vận tốt – PT chú); liên tài là thương cho người tài mà vô duyên vậy.

Nay vô tài mà vô duyên, muốn khỏi khiến cho người chán, chỉ nên thủ thường yên phận, đừng để cho người đời để ý đến mình làm chi, tự cam tâm chìm đắm trong đám quần chúng vô danh, thế là hơn cả.

Còn những người hữu tài mà vô duyên, cũng chẳng nên để cho thiên hạ thương tiếc làm chi, chẳng hay gì cho mình, mà cũng vô bổ cho đời. Đã không có duyên với đời, thời nên đoạn hẳn trần duyên, lánh xa cõi đời, mà đem mình gởi nơi am thanh cảnh vắng, để di dưỡng tính tình. Nếu quả có tài cao lỗi lạc thời tài ấy không bị miễn cưỡng làm vật trao đổi với đời nữa, sẽ nhờ cảnh tịch mịch mà phát triển được hoàn toàn.

Đạo Phật là nơi lánh mình thích hợp nhất cho hạng người đó.

Vo duyen

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Con người hiểm độc

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 4:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 2 năm 2020.

CON NGƯỜI HIỂM ĐỘC

Phạm Quỳnh

Ai nói đến người đó cũng phê bình một câu: con người hiểm độc…

Vậy thời cái con người hiểm độc ấy nó thế nào? Có thể tả được bức tranh tâm lý về con người ấy, bằng nét vẽ phác họa, đủ cai quát (Bao quát toàn bộ – PT chú) mà hình dung được một nhân vật chung trong xã hội, không mang tiếng là ám chỉ một cá nhân đặc biệt nào, có thể vẽ được bức tranh phá bút như thế không?Nguyen Huu Bai

Chắc rằng một bức vẽ “trừu tượng” như vậy, thời không thể đậm đà rõ rệt như bức tranh tả thực, chụp ảnh được con người ấy ra, cho ai cũng có thể chỉ mặt gọi tên được.

Nhưng mà nói chung hơn nói riêng. Vả lại tâm lý cá nhân, dù đặc biệt thế nào, rút lại cũng qui nạp ở mấy nét vẽ lớn, là hình dung thiên cổ của lòng người.

Vậy thử nhân một cá nhân đặc biệt mà tổng quát hóa thành một mô dạng phổ thống (Như: phổ thông – PT chú), dù có thiếu mầu đậm đà, mà có lẽ được thêm vẻ triết-lý.

Trái với lời sách nho ta dạy, con người ấy tính nó vốn ác. Nó ác cũng như con rắn độc, sẵn chứa trong mình một bầu nọc độc, gần gụi hay đụng chạm với ai, phải châm chích được vào người ta một vài giọt độc mới nghe.

Dạ ớt ngâm như vậy, mà miệng lại thơn thớt, cho nên độc mà hiểm. Độc tất hiểm, mà hiểm thường độc. Độc có hiểm mới dễ hại người.

Nghe con người ấy nói năng, thì ngọt ngào hết sức, dễ thương vô cùng. Tưởng không còn ai thành thiệt thân thiết bằng. Nhưng chớ có nhẹ dạ mà vội tin. Nhất là chớ có thật thà mà chuyện trò thân mật, đến thổ lộ can trường. Nguy, tối nguy! Vì câu chuyện, thân tình hay thực tình ấy, ngay sớm mai sẽ truyền đến những nơi không cần phải nghe, mà tẩm thêm mấy giọt nọc độc. Hoặc bị phóng đại, hoặc bị ác-hóa (Làm cho xấu đi – PT chú), mà nghiễm nhiên thành một mối nghi ngờ, ghen-ghét, oán-giận, căm-hờn giữa những người trước kia không có chuyện gì với nhau cả. Giữa những người vốn có hiềm khích với nhau, thời cố nhiên thành một cớ chiến tranh kịch liệt.

Vì miệng thơn thớt, tất mỏng môi hay hớt. Nhưng hớt đây là hớt hiểm hớt độc, không phải hớt cho có chuyện vui chơi. Vì đặc tính con người ấy là có làm hại được người ta mới sướng, như con rắn độc có nhả được nọc độc mới nhẹ mình. Vậy chuyện chỗ nọ hớt sang chỗ kia, chuyện người này mách cho người nọ, nhiều khi không có gì cũng bằng không kết cấu lên thành chuyện mà tuyên truyền đi nữa, không phải là để lấy công với người, không phải là để lấy tiếng thông thạo, bao giờ cũng có cái ác ý hại người.

Đối với con người ấy, bao giờ cũng phải đề phòng luôn luôn, không nên một giây phút nào ngộ hoặc (Nghi lầm, lừa dối – PT chú) vì cái thái độ mềm mỏng dễ thương.

Nó mang sẵn bầu nọc độc, phải nhả được mới yên thân, nên nó đã gian, nó lại ngoan, hết sức kiều mị để cám dỗ người.

Nhưng mà Tạo-vật cho con hổ mang bầu nọc độc để làm khí giới mà tự vệ. Chớ Tạo-vật cho con người ấy bầu nọc độc để làm gì?

Vẫn biết rằng người ta không phải là thánh nhân cả, không thể lấy thiện mà trả ác, nhiều khi cũng phải lấy ác mà trả ác. Nhưng mà con người ấy không phải làm ác để trả thù, không phải nhả độc để tự vệ; con người ấy làm ác để sướng mình, nhả độc để tự khoái. Con người ấy làm ác khống, nhả độc chơi!

Phàm hành vi động tác không có mục đích duy kỷ duy lợi, mà chỉ có mục đích du-khoái (Vui sướng – PT chú) mà thôi, thời là thuộc về phạm vi mĩ thuật vậy. Họa-sĩ vẽ bức tranh đẹp, nhạc-sĩ gẩy khúc đàn hay, trước khi nghĩ đến cầu lợi, cốt để vui tai sướng mắt mình đã.

Con người nọ làm ác để mà chơi, làm ác để cho sướng, có lẽ cũng là một nhà mĩ-thuật chăng? Nó là một nghệ sĩ trong cái thuật làm ác, trong cái nghề quấy hôi bôi nhọ người đời. Có lẽ thế chăng? Nếu không thì sao nó độc ác một cách tự nhiên, một cách dễ dàng, một cách khinh khí (Nhẹ nhàng – PT chú) khoái hoạt (Khoan khoái, thích thú – PT chú) như vậy? Tựa hồ như bản tâm, bản tính, thiên-lương, thiên-năng của nó, là chung đúc cả vào một chữ ác. “Con cá sống về nước”, con người đó sống về ác. Ác là cái không khí tự nhiên cho nó sống; chỉ trong không khí đó nó mới phát-triển được tài năng, vẫy-vùng, bay nhẩy và như nhà mĩ-thuật nọ, tạo nên được những tác phẩm tuyệt luân (Thuộc vào loại giỏi nhất, xuất sắc nhất – PT chú).

Con người lạ lùng, mà con người nguy hiểm thay!

Con nguoi hiem doc

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Mười Hai 12, 2019

Muốn sống – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 12 năm 2019.

KVCT…..

*BÀI SỐ 2 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

2.- MUỐN SỐNG…

 Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

 Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn. Ai cũng sẵn lòng hi sinh hà bao để chuộc lấy sinh-mệnh.

Nhưng chuyện giết người lấy của, là chuyện xa xôi ít có. Cứ nghe ngay cửa miệng người ta hằng ngày đe dọa nhau thường nói: “Muốn sống thì…”. Muốn sống thì bắt sao mà chẳng chịu? Muốn sống thì tất sẵn sàng thừa nhận bất cứ điều kiện gì, dù nặng nề đến đâu mặc lòng. Đe dọa như thế là quyết có hiệu nghiệm, vì ai là người không muốn sống? Vẫn biết rằng có kẻ anh hùng liệt nữ, có người siêu việt khác thường, thà chết còn hơn chịu nhục, thà chết còn hơn bội nghĩa. Nhưng đây là nói đại đa số người ta, không phải nói một số ít những bậc phi thường. Đối với đại đa số người ta thì không ai là không muốn sống, dù phải thế nào cho được sống cùng không từ.

Lòng “muốn sống”, ham sống, tham sống, quả là cái thị dục căn bản, thiết tha thâm trầm, mãnh liệt của loài người, không những loài người, của hết thảy chúng sinh trong thế giới.

Đừng có lý luận mà hỏi sống để làm gì, sống có ích chi. Nó chỉ là cái sức bản năng vô địch xô đẩy các giống sinh vật tranh đua nhau mà sống, ăn lẫn nhau mà sống, sống rồi lại truyền thực cái sống ra, sinh sôi nẩy nở đến vô cùng, hằng hà sa số, tương diệt tương sinh, đến đầy rẫy cả không gian, đông chật cả mặt đất, dẫu cá thể có tiêu diệt biến hóa, mà toàn thể vẫn bồng bột phồn thịnh; lấy thân một con người có ý thức đứng giữa cái bể sống mênh mông bát ngát, không bến không bờ đó, có cảm giác như bị cái sóng chao tự thiên vạn cổ đưa lại, lúc nhúc những giống sinh vật, nó tràn, nó ngập, nó lôi, nó cuốn mình đi, thấy mình bé mọn cũng như trăm nghìn vạn mớ những giống đó mà cũng bị chìm đắm trong cái luồng sóng sinh hoạt vô cùng vô tận vậy.

Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy.

Vì chỉ có đạo Phật cho sống là khổ, mới giải thoát được cho ta khỏi sống, từc là khỏi khổ.

Chỉ có đạo phật mới giải, mới giã được cái độc thâm trầm vĩnh viễn của quần sinh, là cái độc “muốn sống”, ham sống, tham sống.

Người ta dù mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai dọa hỏi: “Muốn sống thì…”, thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không:

Đã không biết sống là vui,

Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương.

Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?

Chỉ có đạo Phật mới có cái hiệu quả mầu nhiệm đó…

Muon song

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

Biet thu Hoa Duong

P.Q.

Thế Thái Nhân Tình- Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 12 năm 2019.

KVCT

—–

*BÀI SỐ 1 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

1.- THẾ THÁI NHÂN TÌNH

 

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói thế, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới thật biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào. Nhất là đã để mình trong trường danh lợi, mới biết rõ những trạng thái ô uế ở đời. Kẻ xu nịnh mình buổi sáng là người phản bội mình buổi chiều. Kẻ tâng bốc mình hôm qua, là người thóa mạ mình hôm nay. Mà kẻ hàm ơn nhiều nhất lại là người qui oán hơn cả. Không kể phần nhiều thời lựa gió theo chiều, thấy không có lợi đến gần nữa, liền linh lỉnh lảng xa ngay, dù trước kia tỏ ra vồn vã thân mật vô cùng. Trong đám đó tìm cho được một kẻ trung hậu, kiếm cho được một người thủy chung, thật là hiếm có thay.

Vẫn biết thế, vẫn biết rằng trừ nhà đạo đức mới đem bụng thật thà cầu cho thói đời trở về trung hậu, lòng người trở lại thủy chung, chứ phận ai đã lăn lộn với đời cũng từng nếm trải mùi đời mặn lạt như thế cả. Nhưng dù không có lạc quan gì về thế sự, thấy người đời trở mặt như bàn tay, xây lưng như chớp loáng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ồ! thói đời đen bạc đến thế dư?”…

The Thai Nhan Tinh

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Mười Một 28, 2019

Chuyện một đêm một ngày – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:30 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 12 năm 2019

*Bài số 6 trong 11 bài cuối đời của Thượng Chi Phạm Quỳnh

CHUYỆN MỘT ĐÊM MỘT NGÀY (9-10 tháng 3 năm 1945)

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành 2000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ, chúng tôi xin mời bạn đọc tham khảo thêm hai bã đã đưa lên Blog PhamTon từ 3/8/2009.

Do nhiều bạn đọc muốn được trực tiếp đọc 11 bài viết cuối đời của học giả Phạm Quỳnh, chúng tôi sẽ xin lần lượt đăng dần trên blog này để các bạn có tư liệu nghiên cứu, hiểu sâu hơn về học giả này. Nhưng, hôm nay, vì lý do trình bày sau đây, chúng tôi chọn đăng đầu tiên bài Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945) là … bài số 6.

Sau khi đăng trên Hồn Việt số 17, tháng 11-2008 bài Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh, Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn

KVCT

còn đăng một bài dài hơn (có lẽ do bài trước bị Hồn Việt cắt mất của Giáo sư khá nhiều đoạn mà ông tâm đắc nhất ?) trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 11-2008 là bài Góp thêm một ít tư liệu chung quanh cái chết

của Phạm Quỳnh. Cả hai bài đều nhấn mạnh “một phát hiện mới” của giáo sư là: “việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ.” Đây là một tội tày trời mà ngay cả Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương (tức Thừa Thiên) trong thông báo đăng trên báo Quyết Thắng tháng 12-1945 (Công bố sau khi Phạm Quỳnh bị thủ tiêu… 3 tháng!?) cũng không hề nhắc đến một chữ. Kết luận này chỉ là của riêng Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn mà thôi!

Về căn cứ để giáo sư đưa ra kết luận ấy là: Trong Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo (xuất bản ở Paris, năm 1992, do bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ 8 của Phạm Quỳnh giữ bản quyền), có viết: “Chúng tôi cho in lại trọn vẹn phần Di cảo này…” Nhưng thật ra, “đã cố ý bỏ quên” (Chữ của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn) bài thứ 6, nhan đền Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945). Công “phát hiện” ra chuyện này hóa ra không phải là của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, mà từ năm 1975, trong tập Trường hợp Phạm Quỳnh xuất bản ở Sài Gòn, Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã thấy và 24 năm sau trong bài Từ suy tôn Phạm Quỳnh đến đề cao thực dân thời hậu thuộc địa đăng trên báo Đi Tới (xuất bản ở Montreal, Canada) tháng 9-1999, ông cũng chỉ mới dè dặt ghi ở chú thích số (5) là: “Bài này (tức bài số 6-PT chú) cho biết những tiếp xúc của Phạm Quỳnh với Nhật có thể là nguyên nhân quyết định bắt giữ”. Chứ không dám quả quyết như Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn. Còn việc trong Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo không có bài số 6 thì năm 1993 bà Phạm Thị Hoàn về thăm nhà có nói với tôi: “Chỉ vì bài đó hoàn toàn không có tính văn chương, chỉ như là một đoạn nhật ký ghi lại tỉ mỉ sự việc mà thôi. NXB đã sơ xuất viết là in lại trọn vẹn khi giới thiệu phần Di cảo. Nhận ra thiếu sót này, năm 2001, ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh và vợ là bà Hoàng Hỷ Nguyên đã cho in lại nguyên văn bài này trong tập Giải oan lập một đàn tràng (cơ sở XB Tâm Nguyện, Hoa Kỳ).

Chuyện chỉ như thế mà Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn xé ra to quá. Từ chỗ Giáo sư Nguyễn Văn Trung chỉ viết trong chú thích “có thể là nguyên nhân quyết định bắt giữ”, Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đã nâng lên thành lời kết án tử: “Việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ.”

Xin mời các bạn đọc toàn bộ bài viết của Phạm Quỳnh, để càng hiểu thêm thời cuộc phức tạp ngày ấy, và cũng hiểu thêm “cái tài bé xé ra to” của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn.

—o0o—

Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới.

Đương phân vân chưa hiểu chuyện gì thì chợt thấy quan Đề đốc Hộ thành Phan Gia Chung chạy vào Bộ. Ông nói “Có biến to. MOT DEM 1 NGAYNghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Khi bấy giờ đứng ở thềm bộ Lại, ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các Ngài ngự vi-hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại-nội và viên Võ-hộ-giá tây mới biết rõ giờ đi giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề: “Thôi, quan lớn cứ đốc xuất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ tìm quan ba Bon để hỏi.” Ông Đề cũng nói: “Phải đấy, cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải”. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói: “Đã sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe và đi cho mau.”

Tôi khoác cái “măng tô”, rồi lên xe đi, con trai tôi và một tên lính đạp xe đạp theo sau. Đến cửa Hòa Bình, tôi gõ cửa hỏi Ngài đã hồi loan chưa, thì cửa đóng kín mít, không tiếng trả lời: có lẽ lính canh đứng vào trong xa không nghe thấy, có lẽ nghe thấy mà đương lúc lộn xộn không biết ai không dám thưa.

Tôi liền bảo xe kéo vào nhà quan ba Võ-hộ-giá, ở tận bãi trong xa. Bấy giờ đêm lại càng tối, không trông thấy gì cả. Vào đến gần nhà quan ba cũng thấy tối mịt, không thấy đèn lửa gì. Đứng trong vườn rộng, con tôi và tên lính phải hết sức lên tiếng gọi bồi, hỏi quan ba có nhà không đến mười phút không thấy tiếng người, đã toan quay xe ra, mới thấy trong nhà bật đèn.

Chúng tôi đi vào, bồi ra mở cửa, hỏi thì nói quan ba còn đương ngủ, để vào đánh thức. Đợi năm phút mới thấy ông Bon chạy ra, như còn mơ ngủ, chưa hiểu chuyện gì. Hỏi có nghe tiếng súng không, thì ông nói: “Có lẽ lại báo động giả, chứ gì!” Sau nghe kỹ, ông mới hiểu là có chuyện biến. Tôi hỏi: “Ông có biết bao giờ Ngài ngự về? Hiện đã dời Quảng Trị chưa? Hồi loan đêm hôm nay, hay ngày mai?” Thế ra ông mơ hồ không biết chi cả. Tôi giục ông phải gấp làm thế nào thông tin tới Quảng Trị cho biết Ngài ngự ở đâu. Bấy giờ xem ra ông cũng hơi hoảng, bàn với tôi nên vô Nội để sẽ liệu.

Rồi mấy người cùng đi ra, đêm càng khuya càng tối và tiếng súng vẫn lác đác bốn phương. Ông Bon thuộc đường đi trước, chúng tôi đi theo sau. Ra khỏi vườn được một ít thì nghe trong đêm tối có tiếng người và tiếng gươm súng đụng chạm. Rồi có tiếng hỏi: “Có phải quan ba Bon đó không?” Thì ra có toán hiến binh Nhật Bản đương đi vào nhà ông Bon để tìm bắt. Rồi họ thấy chúng tôi đi lên, họ cũng giữ lấy. Bấy giờ có người thông ngôn Việt Nam đi theo, nói tiếng ta với tôi rằng: “Hiện quân Nhật đương giải võ quân Pháp, vì có việc lôi thôi giữa quân quan Nhật và Toàn quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta. Chỉ sáng mai là xong chuyện cả.”

Rồi nghe tiếng người hỏi: “Nhà ông Vĩnh Cẩn ở đâu?” Nhà ông Vĩnh Cẩn cũng ở gần ngay đấy. Rồi cả đoàn kéo vào. Quân Nhật xô cửa vào, mấy người trèo lên lầu, mấy người đứng bên dưới. Tôi ngồi với ông Bon ở nhà dưới. Được một lát thì có người hạ sĩ quan Nhật đưa cho tôi xem một mảnh giấy vừa chữ ta vừa chữ tây, đại khái cũng nói như lời người thông ngôn nói khi hồi, rồi mời tôi lên lầu, giao ông Bon cho lính canh ở dưới. Lên lầu thấy ông bà Vĩnh Cẩn ngồi cả đấy. Một lát nữa thì thấy ông Đề đốc Hộ thành cũng đến. Có viên quan Nhật Bản chung ngồi nói chuyện. Tôi thấy mệt vào nằm nghỉ ở một gian phòng cạnh đấy, vừa chợp mắt thì thấy tiếng người: Nhìn ra thì là quan phó lãnh sự Ishida, tôi đã quen biết, đi với một vị võ quan nữa. Ông bắt tay chào tôi, mời ra ngoài nói chuyện, rồi giới thiệu cho quan Đội trưởng Hiến binh Sơn Dã đại úy. Ông nói: “Chúng tôi có vào tìm cụ, ở Bộ Lại không thấy. Có vào cả các bộ khác, để tìm các cụ, có cụ ở Bộ, cũng có cụ đi khỏi. Chúng tôi muốn nói rõ cho các cụ biết đầu đuôi việc xảy ra như thế, và xin cứ yên tâm, quân đội sẽ bảo toàn châu đáo.” Ông lại nói: “Hiện khởi sự ở toàn cõi Đông dương, ở Sài Gòn, Hà Nội cũng cùng một giờ này, và có lẽ hiện đã xong rồi.” Rồi ông hỏi tin tức về Hoàng Đế. Hai ông bàn với nhau bằng tiếng Nhật hồi lâu, rồi nói lại với tôi rằng: “Bây giờ đã khuya rồi, cụ cứ nghỉ lại đây, đừng đi về Bộ vội, vì còn có tiếng súng bắn, đi đường có nguy hiểm. Sáng sớm mai, chúng tôi sẽ lại đây, rồi cụ cùng đi với chúng tôi ra Quảng Trị để rước Ngài về.” Hai ông ra về, tôi đi nghỉ.

Sáng hôm sau chủ nhật, tôi vừa khăn áo ngồi đợi, thì hai ông vừa tới. Ông Ishida nói: “Vừa có tin, Hoàng Đế và Hoàng Hậu đã ở Quảng Trị về từ khi đêm. Nhưng xe Ngài hiện còn ở cửa An Hòa, mời cụ cùng chúng tôi ra rước Ngài về điện.”

PQTôi liền lên xe ô tô của Hiến binh, cùng với quan ba Hiến binh và ông phó lãnh sự ra cửa An Hòa. Đến nơi thì thấy xe Ngự đã ở đó, chung quanh có quân quan Nhật và một khẩu đại bác đương bắn vào đồn lính Tây ở Mang Cá. Tôi liền đến trước xe, tâu qua tình hình, rồi rước Ngài về Điện. Ngài ban rằng xe tới từ khuya mà đứng đợi đấy mãi đến giờ. Rồi ban cho lên xe, cùng chầu vô Nội. Đi trước là xe của Hiến binh, ở trong vẫn có quan ba Hiến binh và quan phó lãnh sự. Đến trước cửa Hòa Bình, thì xe Hiến binh đứng ra một bên, để xe ngự vào. Tôi xuống gọi cửa: lính canh nghe rõ tiếng tôi và tiếng xe ngự, liền mở cửa. Xe Hiến binh xin phép đi theo sau. Đến trước thềm lầu Kiến Trung, Hoàng Đế và Hoàng Hậu xuống xe. Bấy giờ hai vị quan Nhật mới ra trình diện, cúi đầu chào, do tôi giới thiệu, và xin phép chầu ngài mấy phút để tâu mấy lời. Hoàng Hậu lên lầu nghỉ, Hoàng Đế liền ngự vào phòng khách, rồi ban tôi mời hai vị cùng vào. Hoàng Đế ngự ghế giữa quan ba Sơn Dã, đứng bên, rất kính cẩn nói mấy câu bằng tiếng Nhật, rồi trao một tờ giấy cho ông Ishida. Ông này dịch lại lời quan ba ra tiếng Pháp có câu xin lỗi Hoàng Đế, đêm khuya Ngài ngự về giọc đường quân quan không biết, có điều gì sơ suất xin Ngài ban xá. Rồi đọc tờ giấy bằng chữ Pháp, là lời của quan Tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương, hiện ở Sài Gòn, thỉnh cầu Hoàng Đế và chính phủ Việt Nam hiệp sức với quân đội Nhật, và xin Ngài cứ ngự tại Đại Nội, không quan ngại gì, Hoàng quân sẽ bảo toàn châu đáo.

Ngài ban cảm ơn, và giao cho tôi giao thiệp với quí quan mọi việc rồi hai ông lui ra, tôi cũng tâu xin ra để Ngài nghỉ, sẽ vô chầu sau.

Hai ông cùng đi ra Bộ Lại với tôi, nói chuyện chừng mười lăm phút. Khi ấy vào khoảng mười giờ hơn. Đương lúc nói chuyện thì viên hạ sĩ quan vào trình việc MOT DEM 2NGAYgì. Hai ông nói lại với tôi là ở Huế việc đã gần xong, chỉ còn đồn Mang Cá chống lại chưa hàng mà thôi. Hai ông khuyên tôi cứ ở Bộ, đừng ra ngoài vội, vì đương khi đánh nhau, đạn lạc tên bay, có nguy hiểm. Tôi nói tôi cần phải vô Nội chầu Ngài, sợ lính Nhật canh các đầu đường trong thành có cản trở chăng. Quan ba Sơn Dã liền viết cho tôi một tờ giấy thông hành để đi lại trong thành cho tiện. Trước khi ra về, ông Ishida có tin cho tôi biết rằng hiện có quan đặc sứ Yokoyama ở Huế, ngài sẽ đến thăm tôi, nhưng không nói giờ nào. Tôi nói quan sứ Yokoyama thì tôi đã biết, đã có dịp tiếp chuyện ngài năm trước, và sẽ hân hạnh được thừa tiếp lần nữa.

Bấy giờ tiếng súng đại bác và liên thanh vẫn không ngớt, bắn vào Mang Cá.

Chừng bốn giờ chiều thì có tin trong Nội Hoàng Đé ban triệu tôi. Tôi liền khăn áo vô chầu. Bấy giờ Hoàng Đế, Từ Cung và Hoàng Hậu đương đứng ở sân lầu Kiến Trung. Tôi chầu chuyện ba ngài giờ lâu, rồi Hoàng Đế ban cho tôi tối phải vào ngủ trong Nội, để túc trực phòng việc cần. Bấy giờ tiếng súng đã ngớt. Chợt nghe tiếng xe ở cửa Hòa Bình, rồi thấy tên lính canh chạy vào bẩm với tôi có hai xe ô tô quan Nhật xin vô Nội. Hoàng Đế ban tôi ra tiếp, rồi Ngài ngự lên lầu.

Tôi truyền cho lính ra mở cửa để xe các quan vào. Tôi chực ở trước cửa Ngự Tiền văn phòng. Hai xe tới nơi, thời ở xe trước xuống, thấy quan đặc sứ Yokoyama, võ quan lãnh sự Ishida tôi đã biết, đi cùng với quan lãnh sự Watamata, bấy giờ mới giới thiệu. Xe sau là võ quan và quân lính hộ vệ tùy tùng. Tôi mời các quan lên buồng giấy nói chuyện. Sau mấy câu hàn huyên, quan đặc sứ tỏ ý muốn chầu Hoàng Đế để tâu việc cần. Tôi liền qua lầu Kiến Trung để tâu lại, Ngài ban mời các quan vào phòng khách tiếp chuyện.

Hoàng Đế ngồi giữa, đặc sứ Yokoyama ngồi tay phải, còn hai bên thì hai quan lãnh sự Watamata và Ishida với tôi.

Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn rất quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam, sau này sẽ có dịp tự thuật tường, để cống hiến một tài liệu cho lịch sử, không tiện biên chép lại- thảo ngay bây giờ.

Sau cuộc tiếp kiến ấy, liền có cuộc hội đồng đặc biệt Viện Cơ Mật trong phòng nhỏ Hoàng Đế tại lầu Kiến Trung vào bảy giờ tối.

Rồi mười giờ đêm hôm ấy, các cụ Cơ Mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan đặc sứ và thảo tờ Tuyên bố Độc lập.

Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường.

P.Q.

 

Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 12 năm 2019.

HOA ĐƯỜNG TÙY BÚT –

KIẾN VĂN, CẢM TƯỞNG I

 Phạm Tôn

Sau khi đã đưa bài số 6 Chuyện một đêm một ngày lên blog tuần thứ 3 tháng 8, như đã hẹn từ nay chúng tôi sẽ lần lượt đưa nốt 10 bài còn lại trong số 11 bài văn cuối đời Phạm Quỳnh viết mùa hè năm 1945 tại biệt thư Hoa Đường.

Sau ngày 23/8/1945, Phạm Quỳnh bị bắt tại biệt thự Hoa Đường ở Huế, thì tất cả sách vở tài liệu liên quan đến chính trị và văn học đều bị lục xét và phần lớn bị tịch thu. May mắn là còn sót lại một quyển vở học trò trên bàn làm việc của ông, đặt ngang sẵn cây bút máy Waterman để chiều viết tiếp. Đó là tập Hoa Đường tùy bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, với bài cuối cùng Cô Kiều và tôi viết còn dở dang.

Như vậy là sau gần 30 năm lăn lộn trên trường văn học (1917-1932) và chính trị (1932-1945), chắc chắn ông đã phải đối đầu với nhiều sự tình éo le, gây cấn, cho nên trong những trang viết cuối cùng này ta thấy những điều ông nói đến như Thế thái nhân tình, Văn học và Chính trị, Muốn sống, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường… đều gần như là những lời tâm sự ông rút từ ruột gan mình muốn thổ lộ, nhắn gửi với người đời sau. Đây là bản thảo đầu tiên ông viết chỉ để mình đọc, chưa phải để đưa đi in. Tên bản thảo có ghi rõ số I, tức ý ông sẽ còn viết nhiều tập như thế nữa. Chỉ đọc qua tên một số bài như trên, chúng ta đã thấy ngay đây là một tập tạp văn, kiểu tạp văn Lỗ Tấn, mà ta biết từ nay ông quyết định sẽ viết liên tiếp nhiều tập. Nhưng chẳng may, ngay tập I mỏng cũng chưa hoàn thành, vẻn vẹn chỉ có 47 trang giấy học trò, cho nên chưa thể đoán định được ông định hướng chủ yếu về đề tài gì. Sau khi ông mất khá lâu, nhân kỷ niệm 100 năm sinh, con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn ở Paris đã công bố 10 bài vào năm 1992, trong phần II của tập sách kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh (1892-1992) Tuyển tập và Di cảo. Loại ra một bài Chuyện một đêm một ngày mà bà cho chỉ là những trang nhật ký, ghi lại những sự việc cần nhớ, để sau này dùng, chứ hoàn toàn không có tính chất nghệ thuật gì. Sau này, em trai bà là ông Phạm Tuân đã cho in toàn văn bài Chuyện một đêm một ngày này trong tập Giải oan lập một đàng tràng do Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ năm 2001. Bản Tuyển tập và Di cảo này in tại Pháp, tại nhà xuất bản An Tiêm, cả công nhân lẫn người sửa bài đều không phải là những người chuyên làm về văn học tiếng Việt, người duyệt lại là bà Phạm Thị Hoàn, lúc ấy tuổi cũng đã cao, cho nên có nhiều sai sót trong chữ nghĩa in sai, hoặc thiếu, hoặc thừa so với bản thảo Phạm Quỳnh viết chỉ để mình đọc. Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp toàn bộ 11 bài ấy, cho nên lần này công bố trên blog, chúng tôi cố gắng bám sát bản viết tay của Phạm Quỳnh mà không dùng những bài đã đăng trong Tuyển tập và Di cảo mong tránh được những sai sót đã mắc. Vì thế cũng xin báo để các bạn đã có sách Tuyển tập và Di cảo nên căn cứ vào các bài đăng trên blog của chúng tôi để rà soát lại bài có trong sách của mình.  Riêng bài số 11 Cô Kiều với tôi viết dở dang, chỉ có 3 trang, chúng tôi đăng toàn văn bằng chữ Phạm Quỳnh viết để bạn đọc trực tiếp đọc. Đó cũng là một cách tưởng nhớ người xưa.

P.T.

Tháng Bảy 12, 2015

Con người hiểm độc

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:49 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 12 tháng 7 năm 2015.

ĐÚNG 70 NĂM TRƯỚC

CON NGƯỜI HIỂM ĐỘC

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bức ảnh này do kiến trúc sư Tôn Thất Đại là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh trong một lần giảng dạy lớp cao học về kiến trúc tại Huế đã tìm thấy và chụp lại trong phòng trưng bày ở Đại Nội Huế.

Bấy giờ Vua Bảo Đại mới lên ngôi, chưa cải cách quan trường triều đình cho nên trong ảnh là Phạm Quỳnh chụp cùng các đại thần thượng thư triều Khải Định. Trong đó có Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài là người theo ý kiến nhiều nhà nghiên cứu về triều đình Huế, chính là nguyên mẫu khiến Phạm Quỳnh viết nên nhân vật chính trong bài Con người hiểm độc.

Theo nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Hữu Bài đã làm Thượng thư bộ Lại trong 16 năm (1917-1933) thời gian dài nhất trong các đời thượng thư bộ Lại. Nguyễn Hữu Bài chỉ chịu về nghỉ khi được trao quyền kế nghiệp bộ Lại cho một người con nhà công giáo toàn tòng do mình chọn. Ngô Đình Diệm giữ chức này ngắn nhất, chỉ có 3 tháng (năm 1933). Ngô Đình Diệm không vợ, con chỉ toàn tâm làm nhiệm vụ được ủy thác… Còn Phạm Quỳnh, 3 năm (1942-1945). Thuong thu trieu Nguyen

Ngày24/9/1932 Phạm Quỳnh được bổ nhiệm làm Ngự tiền Tổng lý với hàm Thượng thư. 5h30 chiều ngày 2/5/1933, Bảo Đại mời Nguyễn Hữu Bài đến gặp đột xuất, có sự hiện diện của Toàn quyền Đông Dương Pasquier, khâm sứ Léon Thibaudeau và chánh mật thám Louis Marty. Lúc đó Bảo Đại mới giải thích ngắn gọn cho Nguyễn Hữu Bài: “Các thầy đã già không theo kịp được trào lưu mới, trẫm để các thầy về nghỉ”.

Vua đã nói rõ ràng như thế, nhưng Nguyễn Hữu Bài và đồng bọn vẫn cho rằng đó là “âm mưu” của Phạm Quỳnh là người mới vào triều.

Về sau này, chính thân nhân Nguyễn Hữu Bài trong lúc vui chuyện đã kể lại cho người bằng vai phải lứa rất được Nguyễn Hữu Bài và gia tộc quí mến là ông Nguyễn Văn Bồng chuyện họ đã lợi dụng lúc phong trào Việt Minh mới ra mắt ở Huế, thúc đẩy việc sát hại Phạm Quỳnh và trực tiếp ra tay độc ác trong đêm tháng 9/1945.

Trong bài Phạm Quỳnh- Chủ bút báo Nam Phong (trang 9+10) tạp chí Khoa học và Ứng dụng (Hải Dương) Giáo sư Van Tạo, Nguyên Viện trưởng  Viện Sử học Việt Nam có chú thích số 5 ghi nhận “Có người cho rằng trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán”.

Mời các bạn đọc bài của chính Phạm Quỳnh viết trong những ngày cuối đời sống ở biệt thự Hoa Đường bên dòng sông An Cựu. Chắc ông không thể ngờ được con người hiểm độc ấy đã nêu gương cho con cháu thế nào, để họ trút hết căm hờn, thù oán lên kẻ thù mà họ cho là “đã đập vỡ hũ gạo” của cả dòng họ.

*

*        *

Ai nói đến người đó cũng phê bình một câu: con người hiểm độc…

Vậy thời cái con người hiểm độc ấy nó thế nào? Có thể tả được bức tranh tâm lý về con người ấy, bằng nét vẽ phác họa, đủ cai quát (Bao quát toàn bộ – PT chú) mà hình dung được một nhâNguyen Huu Bain vật chung trong xã hội, không mang tiếng là ám chỉ một cá nhân đặc biệt nào, có thể vẽ được bức tranh phá bút như thế không?

Chắc rằng một bức vẽ “trừu tượng” như vậy, thời không thể đậm đà rõ rệt như bức tranh tả thực, chụp ảnh được con người ấy ra, cho ai cũng có thể chỉ mặt gọi tên được.

Nhưng mà nói chung hơn nói riêng. Vả lại tâm lý cá nhân, dù đặc biệt thế nào, rút lại cũng qui nạp ở mấy nét vẽ lớn, là hình dung thiên cổ của lòng người.

Vậy thử nhân một cá nhân đặc biệt mà tổng quát hóa thành một mô dạng phổ thống (Như: phổ thông – PT chú), dù có thiếu mầu đậm đà, mà có lẽ được thêm vẻ triết-lý.

Trái với lời sách nho ta dạy, con người ấy tính nó vốn ác. Nó ác cũng như con rắn độc, sẵn chứa trong mình một bầu nọc độc, gần gụi hay đụng chạm với ai, phải châm chích được vào người ta một vài giọt độc mới nghe.

Dạ ớt ngâm như vậy, mà miệng lại thơn thớt, cho nên độc mà hiểm. Độc tất hiểm, mà hiểm thường độc. Độc có hiểm mới dễ hại người.

Nghe con người ấy nói năng, thì ngọt ngào hết sức, dễ thương vô cùng. Tưởng không còn ai thành thiệt thân thiết bằng. Nhưng chớ có nhẹ dạ mà vội tin. Nhất là chớ có thật thà mà chuyện trò thân mật, đến thổ lộ can trường. Nguy, tối nguy! Vì câu chuyện, thân tình hay thực tình ấy, ngay sớm mai sẽ truyền đến những nơi không cần phải nghe, mà tẩm thêm mấy giọt nọc độc. Hoặc bị phóng đại, hoặc bị ác-hóa (Làm cho xấu đi – PT chú), mà nghiễm nhiên thành một mối nghi ngờ, ghen-ghét, oán-giận, căm-hờn giữa những người trước kia không có chuyện gì với nhau cả. Giữa những người vốn có hiềm khích với nhau, thời cố nhiên thành một cớ chiến tranh kịch liệt.

Vì miệng thơn thớt, tất mỏng môi hay hớt. Nhưng hớt đây là hớt hiểm hớt độc, không phải hớt cho có chuyện vui chơi. Vì đặc tính con người ấy là có làm hại được người ta mới sướng, như con rắn độc có nhả được nọc độc mới nhẹ mình. Vậy chuyện chỗ nọ hớt sang chỗ kia, chuyện người này mách cho người nọ, nhiều khi không có gì cũng bằng không kết cấu lên thành chuyện mà tuyên truyền đi nữa, không phải là để lấy công với người, không phải là để lấy tiếng thông thạo, bao giờ cũng có cái ác ý hại người.

Đối với con người ấy, bao giờ cũng phải đề phòng luôn luôn, không nên một giây phút nào ngộ hoặc (Nghi lầm, lừa dối – PT chú) vì cái thái độ mềm mỏng dễ thương.

Nó mang sẵn bầu nọc độc, phải nhả được mới yên thân, nên nó đã gian, nó lại ngoan, hết sức kiều mị để cám dỗ người.

Nhưng mà Tạo-vật cho con hổ mang bầu nọc độc để làm khí giới mà tự vệ. Chớ Tạo-vật cho con người ấy bầu nọc độc để làm gì?

Vẫn biết rằng người ta không phải là thánh nhân cả, không thể lấy thiện mà trả ác, nhiều khi cũng phải lấy ác mà trả ác. Nhưng mà con người ấy không phải làm ác để trả thù, không phải nhả độc để tự vệ; con người ấy làm ác để sướng mình, nhả độc để tự khoái. Con người ấy làm ác khống, nhả độc chơi!

Phàm hành vi động tác không có mục đích duy kỷ duy lợi, mà chỉ có mục đích du-khoái (Vui sướng – PT chú) mà thôi, thời là thuộc về phạm vi mĩ thuật vậy. Họa-sĩ vẽ bức tranh đẹp, nhạc-sĩ gẩy khúc đàn hay, trước khi nghĩ đến cầu lợi, cốt để vui tai sướng mắt mình đã.

Con người nọ làm ác để mà chơi, làm ác để cho sướng, có lẽ cũng là một nhà mĩ-thuật chăng? Nó là một nghệ sĩ trong cái thuật làm ác, trong cái nghề quấy hôi bôi nhọ người đời. Có lẽ thế chăng? Nếu không thì sao nó độc ác một cách tự nhiên, một cách dễ dàng, một cách khinh khí (Nhẹ nhàng – PT chú) khoái hoạt (Khoan khoái, thích thú – PT chú) như vậy? Tựa hồ như bản tâm, bản tính, thiên-lương, thiên-năng của nó, là chung đúc cả vào một chữ ác. “Con cá sống về nước”, con người đó sống về ác. Ác là cái không khí tự nhiên cho nó sống; chỉ trong không khí đó nó mới phát-triển được tài năng, vẫy-vùng, bay nhẩy và như nhà mĩ-thuật nọ, tạo nên được những tác phẩm tuyệt luân (Thuộc vào loại giỏi nhất, xuất sắc nhất – PT chú).

Con người lạ lùng, mà con người nguy hiểm thay! Con nguoi hiem doc

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

 

Tháng Sáu 26, 2015

Vô Duyên – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 1 tháng 7 năm 2015.

KVCT——*BÀI SỐ 5 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

5.- VÔ DUYÊN

(Bài đã có số lượt truy cập tính đến nay lên tới 11.776 lượt)

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Đây là bài đã lên Blog PhamTon tuần 1 tháng 11 năm 2009. Tính đến 19/9/2012 đã có 11.577 lượt người truy cập. Xin mời các bạn đọc và suy nghĩ xem vì sao bài lại được đông đảo bạn đọc đến như vậy.

—o0o—

Muốn biết vô duyên thế nào, phải hiểu có duyên làm sao. Có duyên, vô duyên, cửa miệng người ta thường nói đến luôn, mà giải nghĩa cho rõ, thật không phải dễ.

Có duyên, vô duyên theo nghĩa thông thường là may và không may. Có duyên là may mắn, vô duyên là rủi ro. Những mà phân tích cho kỹ, ý nghĩa nó còn ba lan (Như sóng, khi lên khi xuống – PT chú) rộng rãi hơn nhiều, và cũng có vẻ thiết tha thâm trầm lắm nữa.

Chữ duyên (Nguyên tác có ghi chú chữ Hán- PT chú) là chữ Hán, mà lại là chữ Phật. Nhưng cái nghĩa có duyên, vô duyên như trong tiếng ta, Hán văn ít thấy dùng. Vậy cái quan niệm duyên, vô duyên đó, có thể cho là đặc biệt nhuộm màu Việt Nam.

Duyên là nhân duyên, là cái giây (Nay thường viết là dây – PT chú) liên lạc nhân với quả, quả với nhân, trong cái vòng nhân quả vô cùng tận nó giàng (Nay thường viết là ràng – PT chú) buộc muôn loài muôn vật trong cõi trần gian. Cuộc đời là một mớ nhân duyên rất chặt chẽ, một mối quan hệ rất phức tạp. Nhất thiết sự vật đều có tương quan tương hệ với nhau cả. Không có một sự vật gì xảy ra mà không có nhân duyên, không có quan hệ với sự khác vật khác, không do một căn duyên nào mà ra, không bởi một cơ duyên nào mà tới, như có một cái giây vô hình nó buộc với mọi sự vật khác. Theo thuyết định mệnh của nhà Phật mà cả của nhà Nho nữa, người ta châu tuần trong vòng nhân quả hay lý số, đều có một cái số phận hay duyên phận đã định từ trước, nếu thuận theo duyên số đó thời mọi sự xong xuôi yên ổn, nếu trái lại duyên số đó thời mọi điều trắc trở khó khăn.

Vậy thời lấy nghĩa rất rộng mà nói, có duyên là nhất thiết thuận theo dòng nhân quả tự nhiên như có cái bản năng hay cái linh tính nó dẫn đưa run rủi, khiến cho nhất quan nhất niệm, nhất cử nhất động đều là thích hợp với cơ vi mầu nhiệm, nhịp nhàng với vận điệu thiên nhiên dường như muốn sao được vậy, “đáo xứ giai xuân” (Bất kể nơi nào đến cũng là mùa xuân – PT chú) trời chiều người chuộng may mắn lạ lùng.

Nếu là người tài giỏi khôn ngoan, mà lại có duyên may mắn như vậy, thời thật là cái diễm phúc vô song ở đời. Nhưng cũng nhiều khi người tầm thường mà có duyên may như vậy, thời người đời cho là tốt số. “Tốt số hơn bố giàu” không cần phải phẩm bình, nghị luận gì nữa.

Ví cõi đời như một sân khấu lớn, cuột đời như một tấn tuồng to, do một sức mạnh thiêng liêng màu nhiệm, -là lý số (Lý học và số học trong nho, y, lý, số – vận mệnh – PT chú) hay là nhân duyên- đã dàn bày sắp đặt sẵn, thời mỗi người đều phải đóng một vai tuồng đã định sẵn: người có duyên là người đóng đúng cái vai mình phải đóng, – dù là trung thần, liệt nữ, hay là tướng cướp, đào điên, – nên nhẹ nhàng dung dị, lanh lợi dễ thương.Trái lại, người vô duyên là người ra đóng trò lộn vai sai lớp cả, hoặc là tự phụ mà miễn cưỡng, hoặc là bất lực mà lỗi làng, không những thất bại về phần mình, mà đến dở dang cả bài kịch nữa.

Lại ví cuộc đời như một cuộc hòa nhạc lớn, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng sáo, tiếng đàn, ngũ thanh bát âm hòa hợp mà tấu thành một khúc nhạc tuyệt luân, theo dịp điệu nhiệm màu của một nhạc công thần diệu; mỗi người ta là một tay đàn, tay sáo, người đánh trống, kẻ gõ sênh, phải cho thích hợp với bản đàn chung. Người có duyên là người theo đúng dịp, cho nên lưu loát dễ nghe. Người vô duyên là người lỗi dịp ngang cung, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho nên chướng tai khó chịu.

Ấy theo nghĩa thâm trầm về triết lý thời có duyên với vô duyên là thế: có duyên là thuận theo, mà vô duyên là trái ngược cái dịp thiên nhiên của sự vật; có duyên là có giây liên lạc trong vòng nhân quả, có mối tương quan trong cõi nhân duyên, vô duyên là trùng đứt mất giây liên lạc ấy, rối lộn mất mối tương quan ấy.

Có duyên là may mắn; đã là may mắn thời không phải bàn nói chi nữa: xấu cũng nên tốt, dở cũng ra hay.

Còn như vô duyên cũng có năm bảy đường: có kẻ bất tài mà vô duyên, tưởng lẽ tự nhiên là thế, nhưng nghĩ kỹ vô duyên không phải ở bất tài, không tất nhiên bởi bất tài; bất tài mà yên phận thời dẫu không có duyên cũng không đến nỗi nào; chỉ vì bất tài mà không yên phận, không tự lượng, lại tự phụ chống chỏi với số phận, không có duyên mà miễn cưỡng cho có phận, thời bất tài mới thành ra vô duyên, mà đã vô duyên thời dễ sinh cho người chán.

Có kẻ hữu tài mà vô duyên:

Hữu tài thường nỗi vô duyên lạ đời!

Là có làm sao vậy? Cớ sao người có tài lại thường không có phận, và “chữ tài liền với chữ tai một vần”? Lại cớ sao người có sắc cũng như người có tài:

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành, cũng cùng chung một số phận không may như vậy?

Cái đó bất công quá, khiến cho ta phải trách ông Tạo-Vật là ghen kẻ sắc tài.

Nhưng mà “hữu tài” mà “vô duyên”, nghĩ kỹ có lẽ cũng không phải là chuyện “lạ đời” chi. Kẻ có tài thường cậy tài, người có sắc thường hay cậy sắc; có tài có sắc là có cái hơn người, hơn người mà biết rằng hơn người, dễ sinh lòng tự cao tự phụ. Nếu cái bí quyết màu nhiệm ở đời là thuận theo dịp điệu thiên nhiên của sự vật, không phá vòng nhân quả mà biết giữ mối tương quan thời kẻ hữu tài là người thường không có sẵn lòng thuận nhận như thế, muốn cậy ở tài mình mà can thiệp vào sự vật, thay đổi xoang điệu (Cái điệu của bản nhạc – PT chú), xáo lộn nhân duyên, đoạn tuyệt quan hệ, tự hào rằng: “nhân định thắng thiên” là thường. Nhưng “nhân định” có bao giờ “thắng thiên” được. Bởi thế nên thất bại; thất bại vị chi là vô duyên.

Nhưng vô tài mà vô duyên, dễ sinh cho người chán; hữu tài mà vô duyên dễ khiến cho người thương.

Cho nên lòng người vẫn sẵn mối liên tài (Thương người có tài mà không gặp vận tốt – PT chú); liên tài là thương cho người tài mà vô duyên vậy.

Nay vô tài mà vô duyên, muốn khỏi khiến cho người chán, chỉ nên thủ thường yên phận, đừng để cho người đời để ý đến mình làm chi, tự cam tâm chìm đắm trong đám quần chúng vô danh, thế là hơn cả.

Còn những người hữu tài mà vô duyên, cũng chẳng nên để cho thiên hạ thương tiếc làm chi, chẳng hay gì cho mình, mà cũng vô bổ cho đời. Đã không có duyên với đời, thời nên đoạn hẳn trần duyên, lánh xa cõi đời, mà đem mình gởi nơi am thanh cảnh vắng, để di dưỡng tính tình. Nếu quả có tài cao lỗi lạc thời tài ấy không bị miễn cưỡng làm vật trao đổi với đời nữa, sẽ nhờ cảnh tịch mịch mà phát triển được hoàn toàn.

Đạo Phật là nơi lánh mình thích hợp nhất cho hạng người đó.

Vo duyen

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Mười Một 13, 2009

Đôi lời về 11 bài viết cuối đời của Thượng Chi Phạm Quỳnh – Phạm Tôn

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 7:24 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 3 tháng 11 năm 2009.

ĐÔI LỜI VỀ 11 BÀI VIẾT CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Đến nay, các bạn đã có trong tay đủ 11 bài viết cuối đời văn, cũng là cuối đời người của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Đó là 1) Thế thái nhân tình, 2) Muốn sống…, 3) Chỉ buộc chân voi, 4) Văn học và chính trị, 5) Vô duyên, 6) Chuyện một đêm, một ngày, 7) Con người hiểm độc, 8 ) Anh chàng khoác lác, 9) Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường, 10) Tư tưởng Keyserling và 11) Cô Kiều với tôi, là bài cuối còn dang dở…

Con số thứ tự bài, chẳng qua chỉ là để tác giả biết là đã viết được mấy bài và dễ kiểm tra về sau. Tất cả theo thứ tự thời gian. Thượng Chi Phạm Quỳnh  viết những bài này sau khi từ quan tháng 3 năm 1945 về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên bờ sông nhỏ An Cựu nắng đục, mưa trong xứ Huế. Tiếp theo công việc tuyển chọn và dịch thô 51 bài thơ của thi hào thời thịnh Đường Đỗ Phủ, người đồng cảnh, đồng điệu với ông, được xem là “để lấy đà” cho việc trở lại với văn học của ông.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân từ Hà Nội đã vào gặp và phỏng vấn Thượng Chi Phạm Quỳnh tại biệt thự Hoa Đường, nơi ông “bế môn” không tiếp khách từ lâu. Sau này, nhà báo đã viết: “Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà ra làm quan (…) Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng. Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực (…) Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.” (Trích bài đăng trên báo Tin Điển, Sài Gòn, ngày 23/3/1952).

Biet thu Hoa Duong

Có lẽ các bạn đã thấy rõ điều đó khi đọc các bài ông viết về Thế thái nhân tình, Muốn sống…, Chỉ buộc chân voi, Vô duyên, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác Tư tưởng Keyserling. Còn về bản thân, Phạm Quỳnh rất ít khi nói về bản thân, trừ vài đoạn trong các du ký như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký thì trong những bài cuối đời này chúng ta được đọc Văn học và chính trị, rõ ràng là rút ra từ kinh nghiệm quan trường mười mấy năm đau xót của ông. Rồi Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường với những lời than như “Thiếu Hoa Đường (Tức bản thân Phạm Quỳnh – PT chú) này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào …” (trích bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường). Và tâm sự đau đớn nhất đã bật lên trong bài viết cuối còn dang dở Cô Kiều với tôi. Ông viết “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền (tức Nguyễn Du – PT chú), trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: “truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…” Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

Chỉ có một bài, duy nhất trong cả văn nghiệp đồ sộ của ông. Phạm Quỳnh viết về một đêm một ngày trong đời mình. Ông như tiên đoán hậu thế sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về ngày hôm đó của đất nước nên đã ghi lại tỉ mỉ những gì tai nghe, mắt thấy trong đêm 9 và ngày 10/3/1945 ấy. Và sự thật quả đã diễn ra như ông từng nghĩ. Ông là một con người của lịch sử, sẵn sàng với mọi phán xét của lịch sử, ông chỉ chuẩn bị tư liệu cho việc phán xét đó thôi.

Một điểm xin bạn đọc lưu ý là 11 bài này không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh, cho nên ta không biết tác giả định nói gì khi viết loạt bài này. Có lẽ, chẳng qua sau bước khởi đầu lấy đà với thơ Đỗ Phủ, ông bắt đầu tùy tiện ghi lại những gì mình nghĩ ra hằng ngày. Chỉ mới là viết để một mình mình nhớ, một mình mình đọc mà thôi. Thể loại ông chọn là tạp văn, như Lỗ Tấn cuối đời đã chuyên viết thể loại này, có đến 18 tập trong tổng số 20 tập của Lỗ Tấn toàn tập. Ông có lẽ cũng định sẽ viết nhiều, cho nên sau tên ghi ở bìa tập vở học trò Hoa Đường Tùy bút, Kiến văn, cảm tưởng, ông ghi rõ con số I La Mã. Rõ ràng là ông còn định viết tiếp thật nhiều tập tạp văn khác như thế, để thể hiện trên trang giấy “ngòi bút dồi dào phong phú hơn xưa”. Nhưng, tiếc là tập vở học trò mỏng vẫn còn nhiều trang giấy trắng mà đời văn của văn hào đã dừng lại ở bài viết dở dang về đề tài gan ruột nhất của mình, viết về nhân vật đã vận vào cuộc đời mình như thế nào.

Ông chọn thể loại tạp văn, chính là chọn thể loại có thể thỏa sức tung hoành trên trường văn, trận bút, không lệ thuộc chủ đề, khuôn phép nào.

Tiếc là chim bằng đã gãy cánh khi đang dốc sức tàn để bay vút một lần nữa lên bầu trời văn học cao đẹp, mênh mông, bao la bát ngát.

Tiếc thay, thương thay một đời tài hoa, kiên cường…một lòng trung với Nước, hiếu với Dân.

TP.HCM, ngày 27/3/2009.

P.T

Tháng Chín 25, 2009

Con người hiểm độc – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 9:12 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009

KVCT

—–

—–

—–

BÀI SỐ 7 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

7.- CON NGƯỜI HIỂM ĐỘC

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

—–

Ai nói đến người đó cũng phê bình một câu: con người hiểm độc…

Vậy thời cái con người hiểm độc ấy nó thế nào? Có thể tả được bức tranh tâm lý về con người ấy, bằng nét vẽ phác họa, đủ cai quát (Bao quát toàn bộ – PT chú) mà hình dung được một nhân vật chung trong xã hội, không mang tiếng là ám chỉ một cá nhân đặc biệt nào, có thể vẽ được bức tranh phá bút như thế không?

Chắc rằng một bức vẽ “trừu tượng” như vậy, thời không thể đậm đà rõ rệt như bức tranh tả thực, chụp ảnh được con người ấy ra, cho ai cũng có thể chỉ mặt gọi tên được.

Nhưng mà nói chung hơn nói riêng. Vả lại tâm lý cá nhân, dù đặc biệt thế nào, rút lại cũng qui nạp ở mấy nét vẽ lớn, là hình dung thiên cổ của lòng người.

Vậy thử nhân một cá nhân đặc biệt mà tổng quát hóa thành một mô dạng phổ thống (Như: phổ thông – PT chú), dù có thiếu mầu đậm đà, mà có lẽ được thêm vẻ triết-lý.

Trái với lời sách nho ta dạy, con người ấy tính nó vốn ác. Nó ác cũng như con rắn độc, sẵn chứa trong mình một bầu nọc độc, gần gụi hay đụng chạm với ai, phải châm chích được vào người ta một vài giọt độc mới nghe.

Dạ ớt ngâm như vậy, mà miệng lại thơn thớt, cho nên độc mà hiểm. Độc tất hiểm, mà hiểm thường độc. Độc có hiểm mới dễ hại người.

Nghe con người ấy nói năng, thì ngọt ngào hết sức, dễ thương vô cùng. Tưởng không còn ai thành thiệt thân thiết bằng. Nhưng chớ có nhẹ dạ mà vội tin. Nhất là chớ có thật thà mà chuyện trò thân mật, đến thổ lộ can trường. Nguy, tối nguy! Vì câu chuyện, thân tình hay thực tình ấy, ngay sớm mai sẽ truyền đến những nơi không cần phải nghe, mà tẩm thêm mấy giọt nọc độc. Hoặc bị phóng đại, hoặc bị ác-hóa (Làm cho xấu đi – PT chú), mà nghiễm nhiên thành một mối nghi ngờ, ghen-ghét, oán-giận, căm-hờn giữa những người trước kia không có chuyện gì với nhau cả. Giữa những người vốn có hiềm khích với nhau, thời cố nhiên thành một cớ chiến tranh kịch liệt.

Vì miệng thơn thớt, tất mỏng môi hay hớt. Nhưng hớt đây là hớt hiểm hớt độc, không phải hớt cho có chuyện vui chơi. Vì đặc tính con người ấy là có làm hại được người ta mới sướng, như con rắn độc có nhả được nọc độc mới nhẹ mình. Vậy chuyện chỗ nọ hớt sang chỗ kia, chuyện người này mách cho người nọ, nhiều khi không có gì cũng bằng không kết cấu lên thành chuyện mà tuyên truyền đi nữa, không phải là để lấy công với người, không phải là để lấy tiếng thông thạo, bao giờ cũng có cái ác ý hại người.

Đối với con người ấy, bao giờ cũng phải đề phòng luôn luôn, không nên một giây phút nào ngộ hoặc (Nghi lầm, lừa dối – PT chú) vì cái thái độ mềm mỏng dễ thương.

Nó mang sẵn bầu nọc độc, phải nhả được mới yên thân, nên nó đã gian, nó lại ngoan, hết sức kiều mị để cám dỗ người.

Nhưng mà Tạo-vật cho con hổ mang bầu nọc độc để làm khí giới mà tự vệ. Chớ Tạo-vật cho con người ấy bầu nọc độc để làm gì?

Vẫn biết rằng người ta không phải là thánh nhân cả, không thể lấy thiện mà trả ác, nhiều khi cũng phải lấy ác mà trả ác. Nhưng mà con người ấy không phải làm ác để trả thù, không phải nhả độc để tự vệ; con người ấy làm ác để sướng mình, nhả độc để tự khoái. Con người ấy làm ác khống, nhả độc chơi!

Phàm hành vi động tác không có mục đích duy kỷ duy lợi, mà chỉ có mục đích du-khoái (Vui sướng – PT chú) mà thôi, thời là thuộc về phạm vi mĩ thuật vậy. Họa-sĩ vẽ bức tranh đẹp, nhạc-sĩ gẩy khúc đàn hay, trước khi nghĩ đến cầu lợi, cốt để vui tai sướng mắt mình đã.

Con người nọ làm ác để mà chơi, làm ác để cho sướng, có lẽ cũng là một nhà mĩ-thuật chăng? Nó là một nghệ sĩ trong cái thuật làm ác, trong cái nghề quấy hôi bôi nhọ người đời. Có lẽ thế chăng? Nếu không thì sao nó độc ác một cách tự nhiên, một cách dễ dàng, một cách khinh khí (Nhẹ nhàng – PT chú) khoái hoạt (Khoan khoái, thích thú – PT chú) như vậy? Tựa hồ như bản tâm, bản tính, thiên-lương, thiên-năng của nó, là chung đúc cả vào một chữ ác. “Con cá sống về nước”, con người đó sống về ác. Ác là cái không khí tự nhiên cho nó sống; chỉ trong không khí đó nó mới phát-triển được tài năng, vẫy-vùng, bay nhẩy và như nhà mĩ-thuật nọ, tạo nên được những tác phẩm tuyệt luân (Thuộc vào loại giỏi nhất, xuất sắc nhất – PT chú).

Con người lạ lùng, mà con người nguy hiểm thay!

Con nguoi hiem doc

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Blog tại WordPress.com.