Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 29, 2018

Người nặng lòng với tiếng ta

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 7 năm 2018.

 

PHẠM QUỲNH – NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI TIẾNG TA

P

hạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương Đường mà tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Nhưng lại sinh tại Hà Nội, số nhà I phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm, ngày 30/1/1893, cuối năm Nhâm ThìnF[1]F. Gia đình ông sớm lên Hà Nội lập nghiệp; vì cả làng hầu như chỉ có một nghề là “nghề dạy học”

Từ khi lọt lòng, Phạm Quỳnh đã èo uột. Chín tháng, mẹ đột ngột qua đời. Bà nội là cụ Cả phải bế đi xin bú chực hàng xóm, láng giềng và mớm cơm cho ăn. Còn phải chăm sóc cháu ốm đau luôn; vất vả nhất là hồi bị đậu mùa. Sau này, di chứng sót lại là khuôn mặt tuy trắng trẻo, có vẻ thư sinh, lại hơi rỗ hoa, và một bên mắt nhìn rất kém. Mãn tang vợ, ít lâu sau, cha tục huyền, sinh được một trai, đặt tên là Phạm Bái. Còn èo uột hơn cả anh.

Thân phụ là Phạm Hữu Điển, xuất thân tú tài nho học, dạy nhiều học trò. Nhưng, chính con trai, thì trước sau chỉ học được có hai chữ nho viết tên mà thôi! Năm Phạm Quỳnh lên chín, lại mất cha. Chẳng bao lâu sau, cậu bé Bái cũng mất. Bà mẹ kế còn ít tuổi, được phép nhà chồng, đi bước nữa.

Phạm Quỳnh được bà nội nuôi cho ăn học. Hai bà cháu sống cùng bà cụ Tú, vợ người tuyệt tự đã cho ông nội hưởng thừa tự một căn nhà hình ống nhỏ hẹp. Nhà này do học trò dựng để thờ thầy là cụ Dưỡng Am Phạm Hội, thân sinh chồng bà cụ Tú.

Hai bà cụ tính, dù sao cũng phải cho đứa cháu côi cút, yếu ớt “đi học cho có cái chữ, để sau này còn có cái ra mà sống với đời chứ.” Bèn cho đi học ở trường Pháp Việt gần nhà.

hinh-1

Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất ham, học nhanh lắm. Chẳng bao lâu, được vào học không mất tiền ở Trường Thông Ngôn Hà Nội (Collège des Interprètes) bên sông Hồng. Sau đó, trường này hợp nhất với trường Sư phạm, Trung học Pháp Việt và trường Tiểu học thuộc trường Sư phạm, với trường sở là các khu nhà của nhà máy in Schneider gần Hồ Tây, Trường Trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) mà dân ta thường gọi là trường Bưởi, tức trường Chu Văn An sau này. Vẫn không mất tiền học, lại còn được học bổng.F[2]F Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu trường Thành Chung Bảo Hộ. Tuy mới 15, 16 tuổi đầu, ông đã chính thức trở thành công chức, làm thông ngôn tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Extrême-Orient) ở Hà Nội. Hằng ngày, đi bộ từ phố Hàng Trống, qua hồ Hoàn Kiếm đến dấy làm việc và học tập miệt mài. Ham học đến nỗi có lần bị khiển trách vì “lơ là công việc được giao”.

hinh-2Thấy cụ Tú đã già và cụ Cả còn khoẻ, nhưng tuổi cũng đã cao mà hai cụ vẫn phải sớm hôm chăm lo, bận rộn vì mình, ông áy náy quá.

Năm sau, nhờ người mai mối, ông cưới cô Lê Thị Vân, con cả một gia đình ký lục, gốc nông dân. Cô cũng sinh năm Nhâm Thìn như ông, nhưng là đầu năm, có hai em gái và một em trai út. Cô này khoẻ mạnh, tươi tắn, trắng nõn nà. Tóc để đuôi gà, răng đen nhưng nhức hạt huyền, đúng như lòng ông hằng mơ ước. Chính năm 1909 này, Trường Viễn Đông Bác Cổ cử ông sang Pháp làm chức trợ giáo cho giáo sư Deloustal, giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trường Đông Phương Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Nhưng, bấy giờ, mới lấy vợ, ông không chịu đi. Trường phải thay bằng ông Phan Văn Trường.

Đôi vợ chồng son vẫn sống trong căn nhà nhỏ hình ống với hai bà cụ, nhưng ở buồng ngoài, có cửa tò vò, sát đường phố. Tiếp đó là cái sân nhỏ, có giếng nước. Rồi đến buồng hai bà cụ và bàn thờ hai cụ ông. Đây cũng là nơi kê bàn học và làm việc của Phạm Quỳnh thời trẻ. Và cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ nếp đó: học hành, viết lách, làm việc trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm. Sau một cái sân con nữa là nhà thờ cụ Dưỡng Am Phạm Hội. Trong cùng là một khoảnh vườn khá to. Giữa vườn có cây táo và một cây bồ hòn, lấy quả để giặt giũ.

hinh-3

Cuộc sống gia đình đỡ gieo neo, hai cụ đỡ vất vả, Phạm Quỳnh yên lòng, cảm thấy hạnh phúc đơn sơ mà thật quý báu vô cùng.

Cô Vân, vốn con nhà nông, hay lam hay làm, khéo quán xuyến việc nhà, lại tài nấu nướng, để chồng yên tâm đèn sách. Cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von, thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện Kiều, nhưng không biết chữ nho, cũng chẳng biết chữ quốc ngữ. Chỉ rất rành tiếng ta, nhất là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, các sự tích vùng quanh làng Lương Ngọc quê chồng, hay làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, “quê hương quan họ” của cô.

Vốn ham học, giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu tiếng ta, quí trọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh tìm thấy trong chữ quốc ngữ mới phôi thai một vũ khí chiến đấu phục vụ Tổ Quốc hợp với sức mình. Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân tộc hằng ngày qua lời ăn, tiếng nói của hai cụ bà và cô vợ trẻ yêu. Từ câu hỏi thăm sức khoẻ buổi sáng, những lời trò chuyện, bàn bạc trong hai bữa cơm đến những khi gia đình sum họp dưới đèn chuỵên vãn và cả lúc đêm khuya thanh vắng, nghe lời thỏ thẻ của cô vợ trẻ, đang lúc dào dạt yêu thương. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức Đông Tây, kim cổ mà chàng thanh niên ham học hấp thụ hằng ngày trong công việc khảo cứu tại trường Viễn Đông Bác Cổ, khiến chàng càng tin vào sức sống mãnh liệt của tiếng ta. Nhất là từ nay, đã có phương tiện thuận lợi để thể hiện trên mặt giấy. Đó là chữ quốc ngữ. Ông hăm hở lục lọi các kho tư liệu cũ nát phủ đầy bụi thời gian, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hai thứ chữ do công việc bắt buộc ông phải khổ công tự học, đến nay, đã làm chủ được rồi. Một hôm, ông sững sờ khi đọc lần đầu tiên hai bài văn tế tướng sĩ viết bằng chữ Hán của một nhà nho yêu nước chống Pháp, trong tập Lệ ngữ văn tập. Bài văn lay động mạnh tâm hồn ông. Ông bắt tay ngay vào dịch với mong muốn để nhiều người, cả Việt lẫn Pháp, có thể tiếp xúc được với ngọn lửa yêu nước thương dân ngùn ngụt cháy trong lòng nhà nho nọ. Một việc làm quá sức ông. Nhưng, với lòng kính yêu tha thiết các chiến sĩ chân đất đã dũng cảm đứng lên cứu nước trong cuộc chiến không cân sức, một mình Phạm Quỳnh đã lặng lẽ tra cứu, so sánh, nghiền ngẫm, rồi dịch ra Pháp văn, và khôn khéo đưa vào tạp chí thường kỳ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (số đặc biệt) như “một tài liệu nghiên cứu mới được phát hiện để giúp độc giả hiểu thêm về Việt Nam”

Sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng, những giờ phút nghỉ ngơi bên gia đình yêu dấu-cô vợ trẻ, bà nội, cụ Tú-thật là quý báu, bổ ích. Bên chén chè, họ bàn chuyện nhà chuyện họ tộc làng xóm ở hai quê nội ngoại, Phạm Quỳnh ghi nhớ và còn ghi chép nữa, biết bao là tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói độc đáo từ “ba nguồn suối ngôn ngữ dân gian” ấy. Có những lúc cả ba người phụ nữ như chỉ toàn nói bằng tục ngữ ca dao mà vẫn diễn đạt được trọn vẹn ý mình muốn nói. Mà còn ý nhị, dí dỏm, duyên dáng, sâu sắc hơn lời nói thường. Càng sinh động hơn hẳn những gì hằng ngày ông vẫn đọc trong sách, báo. Ông chỉ nghe; khi chưa nghe rõ thì hỏi, chứ tịnh không dám nói gì. Vì biết mình không thể nói gì hay hơn, đúng hơn các bà. Và ghi chép. Rồi suy nghĩ, nghiền ngẫm. Còn đọc thêm những gì ngưòi trước đã viết về ca dao, tục ngữ, nhất là các tập sưu tầm tục ngữ, ca dao các miền đất nước. Để so sánh, đối chiếu, cố gắng hiểu cho ra ý nghĩa đích thực của từng bài, từng câu, thậm chí từng từ. Rồi những ngày Tết nhất, những dịp giỗ chạp, các cụ các bà, trong đó có bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyên-một nhân vật nổi tiếng của Hà Nội xưa) gọi bà cụ Tú bằng mợ, và các cụ học trò cụ Dưỡng Am, như ông ký lục Đỗ Thận, ông lang Hàng Đường, v.v… đến dự, trò chuyện rôm rả, ông lại càng kinh ngạc trước sức mạnh diệu kỳ của tiếng ta, càng học thêm đựơc bao cách nói tài tình, táo bạo, thâm thuý đến bất ngờ của ngôn ngữ dân gian. Lòng say mê ấy càng tăng lên gấp bội trong những dịp ông cùng vợ về quê, ra đồng xem bà con làm ruộng, trò chuyện cùng hàng xóm láng giềng, nhất là những lúc trò chuyện cùng người thân trong gia đình. Những câu, những chữ tưởng như đã biết, đã hiểu quá rõ rồi, nay nghe lại thấy như có ý nghĩa, sắc thái mới mẻ hẳn khi được nói lên đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, lại trong cảnh thiên nhiên đồng nội đẹp tuyệt vời nơi quê nhà thân thiết. Những buổi sáng, chiều ra đồng làng xem bà con thôn Nhân Thục quê vợ cày cấy, tát nước, lắng nghe và ghi vào lòng mình những lời ca tiếng hát, điệu hò, câu ví, lời đối đáp mộc mạc, dân giã mà thâm thuý, chứa đựng những chân lý từ lao động đời sống mà ra, lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác nhận giá trị đích thực qua chính cuộc sống lao động của nhân dân. Những lúc nghỉ ngơi giữa đồng lộng gió, dưới mái điếm lợp ngói xưa mát rượi, cùng bà con ăn tạm củ khoai lang với miếng cà muối, hay củ dong riềng, Phạm Quỳnh ân cần lễ độ xách ấm đất nung, khi thì nước vối nóng khi thì nước chè tươi, rót ra bát mời từng bà con giải khát, cung kính như với những người thầy đang dạy mình tiếng Việt. Rồi những tối, sau bữa cơm chiều, cùng gia đình uống nước bên hiên nhà, có bà con mến khách Hà Nội sang chơi góp chuyện. Hoặc cùng vợ sang thăm tận nhà bà con, người làng. Đều là những dịp tốt để ông học hỏi được nhiều từ ngữ, lối ăn nói mới lạ, khác xa trong sách vở đã đọc, đồng thời giúp xác minh được không ít những câu, chữ đã biết, nhưng chưa thể yên tâm về mặt chữ hoặc nghĩa. ”Những người thầy” mà ông học được nhiều nhất, vì dám hỏi nhiều nhất, chính là người nhà. Đó là bà Ký, thân mẫu cô Vân, các em cô như cô Hợp, còn gọi là Nhỡ, cậu Tốn, còn gọi là Xuân. Cô Mai dưới cô Hợp, trên cậu Tốn thì ông ít được gặp, vì cô đã bỏ nhà đi nương nhờ cửa Phật từ nhỏ. Nhưng cô Mai lại là một nguồn từ ngữ quý giá khác về ngôn ngữ Phật giáo dân gian thuần Việt. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu người dân thường giản dị qua những người ruột thịt quyện chặt với tình yêu tiếng nói sáng trong, đậm đà sức sống Việt đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn liếng quý báu nhất ấy mà mình may mắn được hưởng cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học, nâng cao dân trí, hầu chung sức cùng toàn dân đưa đất nước tiến lên bằng người. Đó là điều cứ canh cánh bên lòng ông, chằng giây phút nào nguôi. Càng hiểu biết, càng rộng tầm nhìn, càng thêm khao khát góp phần thực hiện. “Từ khi khôn lớn, biết nghĩ đến giờ, chỉ nuôi một cái chí ở trong lòng, là đối với nhà, làm thế nào nối được nghiệp của ông cha…đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong cho quốc văn được sáng sủa; cũng biết rằng tài có khi không kịp chí, nhưng khu khuF[3]F một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi…không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu sang”F[4]

18, 19 tuổi đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Hai năm sau, một gái ra đời. Hai năm kế, lại một gái nữa… Gia đình đông đúc dần, nhưng tất cả vẫn đoàn tụ dưới mái căn nhà nhỏ hình ống được thừa tự ở đầu phố Hàng Trống. Sau này, bà cụ Tú mất được mấy năm thì ông đồng sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, với hy vọng ngây thơ là sẽ lợi dụng được Tây để thực hiện “cái chí bình sinh của mình”. Bấy giờ, ông mới bán nhà cũ đi, mang bàn thờ tổ tiên đến nhà mới thoáng rộng kiểu Tây ở số 5 phố Hàng Da. Bàn học và làm việc, theo nếp cũ, vẫn kê dọc trước bàn thờ như xưa. Phòng tiếp khách ở dưới. Hai tầng nhà này nối với hai tầng nhà kế bên bằng một cây cầu gỗ, lát gạch đỏ, hai bên chấn song chạy con tiện sơn xanh lá cây. Bà nội, vợ cùng các con ở cả bên ấy. Lũ trẻ thường chạy ùa qua cầu sang bên ông, vừa chạy vừa gọi rối rít “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Ông rất thương yêu các con, nhưng vẫn cần có cuộc sống riêng của mình. Tất cả vì “cái chí ở trong lòng”. Hằng ngày, ông vẫn đi bộ đến làm việc ở Hội Khai Trí Tiến Đức, ngay bên Hồ Gươm, cuối phố Hàng Trống. Còn nhà là toà soạn tạp chí Nam Phong rồi.

Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn, sâu sắc đăng trên Đông Dương Tạp Chí từ năm 1913, ông đã trở thành “nhà báo có hạng, văn sĩ thời danh” rồi, mặc dù mới ở tuổi hai mươi. Trong hơn bốn năm, ông dùng báo Nam Phong cổ động, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, dùng chữ quốc ngữ không những chỉ để dịch thơ văn chữ Hán, mà còn dịch cả văn, thơ, triết học, khoa học từ tiếng Pháp, sưu tầm, phiên âm thơ văn chữ nôm, dịch thơ văn chữ Hán của ông cha, tiên tổ. Đã đến lúc Phạm Quỳnh quyết định phải nâng cao lòng tin yêu của người đương thời đối với tiếng ta, bằng cách xuất ra “ cái vốn quí báu nhất” mình có, đồng thời cũng tỏ rõ ”cái chí bình sinh của mình”.

hinh-4

Ngày thứ năm, 21-4-1921, ông đăng đàn diễn thuyết về đề tài ruột, thân thiết nhất mình ôm ấp hàng mấy chục năm ròng. Ông nói với giới trí thức đương thời-mà phần lớn, nếu không sùng chữ Hán, thì lại sùng tiếng Pháp- về tiếng ta. Mà lại là về phần nôm na, dân giã nhất trong tiếng ta: Ông nói về tục ngữ, ca dao. Trước cử toạ là các văn nhân, học giả, giới thượng lưu trí thức; có cả những người Pháp uyên thâm Hán học, hiểu rành rẽ tiếng Việt, ông chân tình nói:

– Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này; thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời…F[5]

Ông nêu câu hỏi là hàng ngàn, hàng vạn năm qua, người nông dân bình thường, không biết chữ “đã lấy gì mà tả nỗi lòng?” Và khẳng định ngay:”là cái tiếng quốc âm rất quý báu của ta.” Rồi nói tiếp “ Há chẳng phải là những lời tục ngữ, câu ca dao ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ! Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một thứ văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương truyền khẩu ấy…thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đây… Tiếng Việt Nam ta, không có gì là không nói bằng phương ngôn tục ngữ được!”F[6]

Sau đó ông dẫn ra vô số tục ngữ ca dao, diễn giải ý tứ một số câu này, bình luận một số câu nọ, khiến người nghe thảng thốt, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bất giác đồng loạt vỗ tay hồi lâu tán thưởng những khi đắc ý, rồi lại say mê hào hứng như vừa khám phá ra một kho báu lâu nay chính mình đã có mà không biết, để rồi hoàn toàn bị diễn giả trẻ tuổi (bấy giờ, ông mới 28, 29 tuổi) thuyết phục. Kết thúc bài diễn thuyết, ông nói vắn tắt mà xúc động, vì đấy là những lời tâm huyết nhất:

-Dù ta học tiếng Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ Quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơnF[7]

Hơn mười năm sau, năm 1932, Tục ngữ ca dao được xuất bản thành sách trong Nam Phong Tùng Thư. Cuối bài diễn thuyết năm nào, có thêm mấy hàng chú thích: “Tục ngữ ca dao là do khẩu truyền, cho nên lắm khi vô bằng. Có khi một câu mà mỗi nơi đọc ra một khác, mỗi người hiểu ra một nghĩa. Những câu tôi chép trong bài này, hoặc sở đắc ở miệng người hoặc nhặt ở các sách người khác biên tập, chắc cũng nhiều câu không được đúng, không thể nào biết hết được. Vậy có chỗ sai lầm, xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho, tác giả có lời cảm ơn trước.”F[8]

hinh-5

Tập Tục ngữ ca dao năm 1932 ấy còn có thêm phần Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Riêng phần Phụ Lục ít nhiều câu tục ngữ xếp thành câu đối có vần và một ít ca dao đã có đến 419 cặp, phần Ca dao xếp tiếp vận có 100 cặp. Còn phần Ca dao đặt thành bài, gồm 30 bài từ bốn câu đến 44 câu, lại có chú thích rõ: “Những bài hát này hoàn toàn truyền khẩu cả, nên cứ bằng vào cửa miệng mà sao, không biết thế nào là đúng”F[9]

Mặc dù tác giả đã viết:”chắc cũng nhiều câu không được đúng”, hoặc “không biết thế nào là đúng” và đề nghị :“Vậy có chỗ sai lầm xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho”, vậy mà hơn mười năm sau khi sách xuất bản, hơn 20 năm sau buổi diễn thuyết tại hội Khai Trí Tiến Đức, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại (tập I) do Tân Dân xuất bản năm 1942 tại Hà Nội, khi viết về Tục ngũ ca dao vẫn phải thốt lên : “Những cái đặc sắc trong quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: Những câu tục ngữ, phương ngôn, và ca dao mà ông lựa chọn đều là những câu rất đúng, không như những câu trong mấy quyển ca dao khác phần nhiều đầu Ngô mình Sở, câu ở bài nọ chắp vào bài kia! Ông lại định nghĩa rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn, và thế nào là ca dao”. Rồi lại bình tiếp:”Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài diễn văn dài, vừa biên tập vừa bình luận, nhưng thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét nhận rất đúng. Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình…”F[10]

Một năm sau buổi diễn thuyết ấy, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu Xảo Thuộc Địa, tổ chức tại Marseille. Chỉ mang theo một cuốn nhật ký nhỏ xíu và một “bản Kiều tùy thân”, người thanh niên Việt Nam nước da trắng xanh, dong dỏng cao, có dáng “lưng tôm”, vẻ thư sinh ấy, đã tranh thủ mọi mối quan hệ bạn bè riêng tư để bốn lần đăng đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng người Việt Nam và văn hoá Việt Nam. Ở đâu, ông cũng nói sâu sắc và hấp dẫn mà chẳng hề đao to búa lớn, không cậy nhờ ở tài hùng biện mà chinh phục cử toạ ưu tú nước Pháp bằng những sự thật lịch sử, những lý lẽ hiển nhiên không thể chối cãi. Đặc biệt, ngày 22-7-1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính Trị Viện Hàn Lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn và kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh. Bức ảnh ông chụp trước khi đi Pháp, bà vợ biết chồng nhớ con vừa gửi sang. Bé gái Việt Nam xuất hiện trên báo chí Pháp năm 1922 ấy, sau này sẽ là Tiến sĩ Sorbonne Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong).

hinh-6

Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

– Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.”F[11]

Những lời được Viện Hàn Lâm Pháp tán thưởng đó là do chính người trong bài diễn thuyết tại quê hương năm trước, đã hào hứng, tự tin khẳng định là:

– Ngày nay, ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi…Tiếng Việt ta hay lắm…người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên.F[12]

Ngày thứ hai, 11 tháng 9-1922, ông kết thúc chuyến “Pháp du” bằng mấy dòng nhật ký:

“Tàu ở Tourane ra đi rất mau, 12 giờ rưỡi đến Hải Phòng”.

“Vào gần bến, vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội xuống đón. Tàu còn từ từ vào, mỗi phút tưởng lâu bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống, người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm, khôn nói nên lời. Bà già mạnh khoẻ, con trẻ bình yên, cửa nhà vô sự, thế là yên lòng.”F[13]

Về nước, càng rộng tầm nhìn, ông càng hăng say lao vào “công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời”.F[14]F Còn về việc riêng, ông đau đứt ruột khi mất một bé gái sáu tháng tuổi; lại mừng vì sau đó sinh được một trai khôi ngô, bèn đặt tên là Phạm Khuê, mong con sau này sẽ là một ngôi sao sáng tựa sao khuê. (Quả nhiên, sau này, Phạm Khuê trở thành Giáo sư bác sĩ y khoa, nhà giáo nhân dân, chủ tịch đầu tiên Hội Người cao tuổi Việt Nam, từng là đại biểu quốc hội).

Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều. Càng đọc càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều tuỳ thân”. Càng say Kiều, lại càng thêm mê tiếng ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn. Để lại càng thêm yêu Kiều, “đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều , trước sau chỉ có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quý báu vô cùng” (Trích từ bài Cô Kiều với tôi của Phạm QuỳnhF[15]F). Và rồi, không thể nào cứ giữ “mối tình” đó trong lòng mình được mãi, ông muốn đem chia sẻ nỗi lòng với toàn dân ta, với cả nhân dân thế giới nữa.

hinh-7Năm 1924, ông đề nghị Hội Khai Trí tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta (8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp cả hội viên; còn thông báo cho nhân dân biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc danh sĩ trong nước thế nào”.

Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:

Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,

Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.

Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế”.F[16]

Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn. Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim “diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương Truyện Kiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn Đôn Phục soạn.17

Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:

– Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi

Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

hay là

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ…” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như môt giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”

“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy…Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra.”

Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”…”Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”

“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”

Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:

-Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta… Nhưng, còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,

Thác là thể phách còn là tinh anh.

“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, trập trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng :” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu (chúng tôi không rõ nghĩa – PT) lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.18 F[17]

Bài diễn văn kết thúc bằng lời thề tâm huyết đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.

hinh-8

Hơn hai mươi năm sau, từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên dòng sông nhỏ An Cựu, ông khởi thảo tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn cảm tưởng trên quyển vở học trò, viết bằng cây bút máy Waterman. Bài cuối còn dang dở là bài Cô Kiều với tôi. Phần cuối dở dang ấy, ông viết: “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…

“Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”19F[18]

Và ông đau buồn mãi vì chuyện ấy…

Vì bản thân Người chính là hiện thân của lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, yêu tha thiết đến say mê tiếng mẹ đẻ, đã cống hiến trọn đời mình cho tiếng ta, với niềm tin vững chắc là :

TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN20F[19]

21/06/1999 – 14/02/2006

* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9-2006 với nhan đề Phạm Quỳnh- Người nặng lòng với tiếng ta và bút danh Nguyễn Trung là bút danh thường dùng của Phạm Tôn từ 1973


[1] Theo Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn (Bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân – NXB Ý Việt, Paris, 1993, trang 60): Lời của người dịch: Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Études Interdisciplinaires sur le Viet Nam (Sai Gon, 1974) cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30/1/1893. Theo tác giả Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh, thì “thuyết” này đúng hơn cả, vì cũng là một năm Nhâm Thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (Cũng do ông Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2/2/1892)

[2] Theo tư liệu của Một số tư liệu quý về Hà Nội,  Lưu Đình Tuân tuyển dịch và chú giải, NXB Trẻ 2010)

[3] Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Tome I) của Huình Tịnh Paulus Của –SaiGon, 1895 thì từ khu khu có nghĩa là “đau đáu, mảy mảy”

[4] Trích Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh, ngày 8-7-1922. NXB Hội Nhà Văn-Hà Nội, 2004

[5] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

6 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

7 , 8 , 9 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

10 Trích Nhà Văn Hiện Đại (tập I) của Vũ Ngọc Phan, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1989

[11] Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[12] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

[13] Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2004.

14 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư – Hà Nội, 1932.

15 Trích Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[16] , 17 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

18 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

19 Trích Tuyển tập và Di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

20 Câu này có khắc trên đá tại khu mộ Phạm Quỳnh, trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế. Sau 1975 cho đến nay (2006), khu mộ vẫn được giữ nguyên vẹn

 

Ghi chú về bài viết này:

Bài này đăng báo lần đầu tiên trên Nguyệt san Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6 năm 2001) trước bài đăng trên Công Giáo và Dân tộc (số 141, tháng 9/2006) hơn năm năm. Dự tình như sau: Sau khi viết xong bài đầu tiên trong ba bài về Thượng Chi – Phạm Quỳnh tôi có đưa cho người em họ của nhạc sĩ Phạm Tuyên hồi đó còn sống ở Sài Gòn. Ông này đọc xong hỏi tôi là có muốn đăng báo không. Tôi đáp là không, thì ông hỏi ngay có phải là sợ không. Tôi đáp là có sợ, không phải là sợ về chính trị, mà là sợ vì bài viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh với tiếng ta mà không viết được dòng nào về Nguyễn Du và Truyện Kiều, vì chưa tìm được tài liệu. Sau đó mấy năm, ông này sang định cư ở Hoa Kỳ và lại tiếp tục nghề viết, làm báo. Nhân được ông Phạm Tuân và bà Phạm Thị Hoàn là chị, em ruột nhạc sĩ định cư ở Mỹ và Pháp gửi cho bài này, bèn cho đăng lên báo mình biên tập. Vì thế hai bài có khác nhau ở phần cuối.

Sau này, tạp chí Khởi hành xuất bản tại Mỹ, cũng lại chọn đăng bài đã đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, nhưng cho đến nay, tôi vẫn chưa được đọc bài đó, không biết có gì khác với bản gốc.

Còn bài trên Công giáo và Dân tộc lại không ký tên Phạm Tôn mà ký bằng bút danh khác là Nguyễn Trung. Đó là thay tên “theo yêu cầu của toà soạn”. Tôi bèn lấy bút danh thường dùng từ 1973. Vì tôi hiểu: tạp chí đã đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước trong mục Diễn Đàn, bút danh là Phạm Tôn, nay muốn có “một người khác” cũng viết về Phạm Quỳnh cho đúng … với nghĩa của mục này.

Advertisements

Tháng Mười 31, 2017

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 11 năm 2017.

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó là tên hai bài Phạm Tôn tôi viết gửi dự Cuộc Trao đổi – Ý kiến về trường hợp Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh trên tạp chí Hồn Việt (từ tháng 8 đến tháng 11/2008). Bài thứ nhất được đăng trên số 15, tháng 9/2001, nhưng đổi nhan đề thành Ông Phạm Quỳnh quả là người nặng lòng với nước. Bài thứ hai đăng trên số 17, tháng 11/2008, lại được đổi nhan đề là Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… Nhưng sau đây, chúng tôi đăng lại nguyên văn hai bài trên theo đúng nhan đề và toàn văn bài đã gửi cho Hồn Việt. Đó là theo đúng lệ của blog chúng tôi: chỉ đăng nguyên văn theo đúng bản gốc, chưa bị ai – ngoài tác giả – biên tập, sửa chữa.

—o0o—

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôntrên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.

Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy:Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).

Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.

Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo:Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quan trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại chưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đây biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến đỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ.Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

*      Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

+   Bằng tiếng Pháp:

–     Palais Inpérial: Hoàng Cung

–    Cabinet Civil de Sa Majesté: Ngự tiền Văn phòng

+       Bằng chữ Hán:

–     Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

*

*     *

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8-2008)

ÔNG PHẠM QUỲNH QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC (Bài số 2)

Phạm Tôn

Sau bài số 1 được bạn đọc đón nhận, chúng tôi thấy nên thuật lại thêm một số sự việc liên quan đến Phạm Quỳnh còn không ít người chưa biết rõ.

Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu xảo Thuộc địa tổ chức tại Marseille. Ông từ giã cái búi tó củ hành, nhưng vẫn mang theo mấy bộ quốc phục và một “bản Kiều tùy thân” cùng một cuốn sổ tay nhỏ xíu.

Xong nhiệm vụ ở đấu xảo ông tranh thủ đi ngay Paris. Trong Pháp du hành trình nhật ký đăng liên tiếp trên báo Nam Phong, ngày thứ ba, 16/5/1922 ông ghi “Ngồi trên xe lửa mình đã đọc kỹ cái sổ kê những nhà khách sạn ở Paris in trong các sách Paris chỉ nam, anh em đã bàn nhau định vào trọ một nhà ở đường Vaugirard, vì trong sách nói rằng nhà ấy trông ra vườn Luxembourg cảnh trí đẹp lắm. Nhưng khi đến nơi bảo xe ô tô đi đến đường ấy số ấy thì chẳng thấy nhà khách sạn đâu cả, không biết là sách in lầm hay nhà đã dọn đi nơi khác rồi. Thế là mình rắp định một điều hỏng cả một điều, mà sự không trông hòng thời lại tới. Số là ông Ng.H.C là con một vị hưu quan ở Bắc kỳ ta, được tin anh em đến có ra ga đón, khi đi tìm trọ ở đường Vaugirard không xong, ông bèn dắt về chỗ trọ ông, nơi gọi là “Thế giới khách sạn” (Hôtel du Monde) ở đường Berthollet số 15. Thế là sang đất lạ lại được ở cùng người đồng quận cũng là một sự không ngờ”. (Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2004)

Phạm Quỳnh không thể ngờ rằng, từ hôm ấy ông đã bị tên mật vụ Désiré theo dõi và báo cáo đều đặn lên cấp trên. Báo cáo ngày 16/6/1922, Désiré viết “Người An Nam Phạm Quỳnh đến từ Đông Dương đã bị sở cảnh sát Marseille chỉ điểm, từ ngày 16/5/1922 đã ở tại Hôtel du Monde, 15 phố Berthollet. Ông thuê một căn phòng trả tiền mỗi tháng 200 francs. Ông ta đăng ký vào sổ của khách sạn với nhân thân sau: Phạm Quỳnh, 29 tuổi, nhà báo. Sinh tại Hà Nội, đến từ Hà Nội.

“Ông đến Paris với hai đồng bào, cũng nói là đến từ Đông Dương, ở cùng địa chỉ là:

–          Nguyễn Văn Vi, 30 tuổi, sinh ở Hà Nội, thợ in.

–          Trần Lan Vi, 32 tuổi, sinh tại Hà Nội

“Từ khi tới Paris, ba người An Nam này có đồng bào tới thăm thường xuyên.

“Xin đặc biệt lưu ý là một người có nhận dạng ứng với nhận dạng của Phan Văn Trường.

“Họ thường ra ngoài và đôi khi đêm về nhà rất muộn.

“Tuần trước họ nói với chủ khách sạn là đi dự một cuộc họp, không giải thích gì thêm”.

“Ký tên Désiré” (Tư liệu lưu trữ tại Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp, phần Pháp quốc hải ngoại, tại Aix en Provence, Pháp)

Trong cuốn sổ tay nhỏ bằng bốn ngón tay của Phạm Quỳnh năm ấy có ghi “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật ký, ông viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.” (Phạm Quỳnh: sách đã dẫn)

Chắc chắn tên mật vụ Désiré có theo dõi hai cuộc gặp gỡ này, không biết hắn đã báo cáo thế nào… Nhưng còn một lần gặp gỡ nữa, có đến 11 người, do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi cơm chiều thì chắc chắn mật vụ Désiré không biết vì không vào nổi khách sạn Montparnasse Paris. Trong số khách dự có Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “5 nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi ký “Rời mái tranh trường Quốc Học”,  bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu cựu học sinh Quốc Học. Cả năm vị đều trình bày chủ trương cứu nước của mình. Đây thật sự là cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng thiết tha yêu nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ ít nhất qua ba lần gặp mặt mà chúng ta còn biết đó và mười mấy năm đọc Tạp chí Nam Phong mà tháng 8/1945, sau khi nghe ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra báo : “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu. (Tư liệu do nhà văn Sơn Tùng cung cấp). Và khi nhà thơ Huy Cận tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị xử tử hình, về tới Hà Nội, được gặp Bác, ông có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm lấy tay ông và nói: “Đã lỡ mất rồi”. Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư  Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch (Tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9/2006)

Tư liệu số 313 (Phạm Quỳnh) báo cáo của mật vụ Jolin ngày 21/12/1922 từ Marseille viết:   “Tôi vinh dự gửi tới ngài bản dịch một bài báo ký tên Phạm Quỳnh đăng trong Nam Phong, tờ báo Bắc kỳ mà ông ta là chủ bút”.

Trong bản dịch, Jolin nhấn mạnh những đoạn Phạm Quỳnh viết là tại khu Đấu xảo Thuộc địa ở Marseille khu vực Đông Dương “có một lâu đài lớn xây dựng theo kiểu Angkor, thực sự là vĩ đại. Để phục chế tòa lâu đài này đã phải tốn rất nhiều công và của. Nội thất thì toàn bằng gỗ, bên ngoài thì quét vôi. Thật tiếc vô cùng vì sau 6 tháng đấu xảo sẽ phải hủy bỏ. Hàng triệu đồng đã tiêu phí vào việc này và sẽ tan thành mây khói và tung theo gió bốn phương, lợi ích của việc tuyên truyền thuộc địa này có bõ công không?” Một đoạn khác, Jolin lại nhấn mạnh bằng cách gạch dưới “Tất cả những người thợ và nhân viên ở tại đấu xảo đều than phiền về thức ăn và nơi ở. Quả vậy, những lán trại dành cho người An Nam không có gì là hấp dẫn. Về cái ăn thì còn phải mong đợi nhiều. Người ta cho rằng tất cả những việc này chỉ là tạm thời vì những nhân viên chịu trách nhiệm tổ chức đấu xảo đã ngập đầu trong biết bao lo toan khác cho nên họ không có thời giờ vật chất để chăm sóc cho người An Nam. Mong rằng những cái đó chỉ là tạm thời, bởi lẽ thật là thảm thương. (…) Nhiều phái viên trước khi đi sang Pháp nghĩ rằng đời sống ở bên đó rất đắt đỏ, họ sẽ sống ở đấu xảo để tiết kiệm tiền, nhưng sau khi thấy được cảnh này, họ đã không thể ở lại đấy đến một giờ.

“Sự thực là với tiền người ta có thể làm tất cả, chỉ cần biết là họ có biết cách tiêu tiền có ích không.” Cuối bản báo cáo, Jolin viết “những lời gièm pha của Phạm Quỳnh chỉ trích oan uổng và gây ngờ vực đối với sự quản lý chung, đặc biệt là đối với ban Đông Dương ở Đấu xảo Marseille (…) Tôi tin chắc chắn rằng, thưa ông Toàn quyền, là Phạm Quỳnh như tôi đã nêu lên trong những bức thư số 170, 200, 203, 204 phải được coi là đáng ngờ nếu không muốn nói là kẻ bị tình nghi”. Mật vụ Jolin còn phụ thêm một báo cáo đặc biệt về “Cuộc trò chuyện của Phan Châu Trinh với Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh”, nhưng trong đó chỉ dẫn lời tranh luận với nhau của Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Chu Trinh, không thấy dẫn lời nào của Phạm Quỳnh (Tư liệu của Văn khố đã dẫn)

Đó là những nhân viên cấp thấp nhất của nhà cầm quyền Pháp đã “quan tâm” đến Phạm Quỳnh như thế. Còn các cấp cao thì sao?

Chúng tôi có trong tay tài liệu 14-PA-1/8 của Khâm sứ Trung kỳ J.Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Dương J.Decoux viết từ Huế ngày 15/10/1944, trong đó y ca ngợi Phạm Quỳnh tài năng xuất sắc hơn tất cả các quan lại trong triều cho nên đang bị kèn cựa, kỳ thị và đề nghị: “Giữ vững ông ta trong vai trò của mình là Thượng thư Bộ Lại” và “Tóm lại là đứng vững trên mớ hỗn độn”, kèm theo là hai chữ “Phải!!”, “Phải!!” ghi bằng mực đỏ, do chính tay Toàn quyền Decoux phê, tán thưởng việc đề xuất ấy. Tiếp sau đó là báo cáo ngày 8/1/1945 cũng của Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Dương J.Decoux và Đại tướng Mordant, trong đó viết : “Một lần nữa, viên Thượng Thư Lại Bộ (Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản… Ông (Phạm Quỳnh) đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay chế độ Bảo Hộ bằng một thể chế “Thịnh Vượng Chung”, trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông vào một chức vị danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài”. (Trích bản dịch của Đoàn Văn Cầu trong Dẫn Nhập tập Phạm Quỳnh: Hành Trình Nhật Ký, Nhà xuất bản Ý Việt, Yerres, Pháp, 1997).

Trong bài cùng nhan đề trên Hồn Việt số 15 có viết là năm 1933 mới làm quan được một năm, Phạm Quỳnh đã viết thư cho Louis Marty là Giám đốc Chính trị vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương, cũng là ”bạn cũ” đồng sáng lập Tạp chí Nam Phong để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Louis Marty can thiệp giảm án. Thì cuối năm đó, ngày 30/12/1933 ông lại viết cho Marty một lá thư “chúc mừng năm mới”, trong đó có những dòng tâm tình: “Về phần riêng tôi, như thế là số mệnh đã an bài. Tôi là người của chuyển tiếp, vì vậy, sẽ không bao giờ được người đời hiểu mình. Chuyển tiếp giữa Á Đông và Tây Âu, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chánh trị sản phẩm của xâm lăng và đương nhiên là phải hư hỏng ngay từ nền tảng, và một nền trật tự mới không thể nhất đán mà thành tựu, khả dĩ biết tôn trọng phẩm cách của con người. Sống giữa đầy rẫy những mâu thuẫn như thế, cố gắng dung hòa các mâu thuẫn đó, với hoài bão thực hiện một chương trình tiến hóa hợp tình hợp lý khả dĩ đưa đến tình trạng hòa hợp toàn diện; dĩ nhiên là tôi phải đương đầu với những ngộ nhận đủ loại.

“Tôi tự an ủi và tin tưởng mãnh liệt ở vai trò cần thiết của mình. Vai trò đó hiện nay chỉ mang lại cho tôi những “đắng cay”, nhưng một ngày kia sẽ có thể tiến tới “vinh quang”

“Dĩ nhiên là tôi rất có thể sống ẩn mình trong một “tháp ngà”, tự mãn với cuộc đời êm dịu thanh bình theo quan niệm của nhà hiền triết hay học giả mà đó cũng là lý tưởng của lòng tôi. Nhưng tôi thiển nghĩ có bổn phận sống ra ngoài khuôn khổ đó. Tôi đã lầm? Hay tôi đã có lý?

“Và một cuộc phiêu lưu đã đến với tôi.

Là một nhà ái quốc An Nam, tôi yêu nước với tất cả tâm hồn: người ta lên án tôi phản bội Tổ quốc, vì tôi đồng lõa với xâm lăng và phục vụ xâm lăng!

“Mặt khác, là bạn chân thành của nước Pháp: người ta lại trách tôi khéo léo che đậy một ý thức quốc gia khe khắt và bài Pháp sau một tấm bình phong thân Pháp!

“Và trường hợp của tôi làm ai nấy ngạc nhiên. Người ta cố tìm hiểu giải thích, bằng đủ mọi cách, mà vẫn không thể hiểu.

“Có lẽ một ngày kia người ta sẽ hiểu, khi một thỏa hiệp được chào đời có thể hòa giải tinh thần quốc gia An Nam và chánh sách thuộc địa Pháp.

“Tôi tin sự hòa giải có thể thực hiện được. Nhưng trong khi sự hòa giải đó chưa được thực hiện, cuộc phiêu lưu của tôi không tránh khỏi trở nên bi đát”.

“Có lẽ chăng, đó chẳng phải là cuộc phiêu lưu của riêng tôi. Nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cá nhân, để trở nên của cả một thế hệ, một thời đại” (Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, nguyên tác viết bằng tiếng Pháp, bản dịch của Phạm Trọng Nhân, Nhà xuất bản Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993)

Ông Phạm Quỳnh quả là người nặng lòng với nước.

22-9-2008

Tháng Mười 14, 2017

Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà – Phạm Tôn

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917-1.7.2017)

PHẠM QUỲNH, NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NHÀ

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2014), chúng tôi xin mời quý bạn đọc câu chuyện về một con người Hà Nội gốc (bốn đời) giữa những người ruột thịt và những người thân thiết như người nhà.

Bài này đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 (56).2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà.

—o0o—

Cụ tổ của Phạm Quỳnh là Cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854). Cụ có hai đời vợ và một bà thiếp. Nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một trai là ông Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài, có hai con đều chết khi mới mười bảy tuổi. Nên khi ông mất sớm, đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy[1]

Ông nội lại chỉ sinh được một trai là Phạm Hữu Điển (thân phụ Phạm Quỳnh), rồi bị cảm mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau được xét chấm đỗ tú tài. Phạm Hữu Điển cũng đỗ tú tài, sinh được Phạm Quỳnh mới chín tháng thì vợ ra đi mãi mãi, mẹ phải bế cháu nội sang hàng xóm xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi sớm khuya chăm sóc tận tình khi cháu bị đậu mùa. Mãn tang vợ ít lâu, ông Điển tục huyền, sinh được một trai nữa, đặt tên là Phạm Bái. Năm Phạm Quỳnh lên chín, thì ông mất; sau đó chú bé Bái cũng chết yểu. Bà vợ kế còn trẻ, đi bước nữa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và cụ Tú, vợ ông Ngạch, người cho gia đình thừa tự. Và ông đã lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc chu đáo của hai bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn gìn giữ giọt máu hiếm hoi của cả dòng họ. Côi cút, cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có thể có ngày ông lại mất họ…như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Cụ Tú và cụ Cả là bà nội Phạm Quỳnh, sống trong cảnh gieo neo, chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà và buôn bán lặt vặt nuôi cháu khôn lớn[2]. Đến năm mười sáu tuổi, Phạm Quỳnh đi làm, đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient), Phạm Quỳnh đi qua một cửa hiệu bán đồng hồ, bao giờ cũng dừng lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt xinh xắn bày trong tủ kính, thèm thuồng mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi ông nhận thêm việc dạy tiếng Việt tính theo giờ cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập có khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế, ở hiệu ấy, và giữ luôn bên mình như một vật báu suốt nhiều năm ròng, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế[3]

Hồi trẻ, say mê văn minh Pháp, nên khi hai bà cụ bảo về quê thăm và sửa sang phần mộ ông cha thì ông từ chối không đi, nói là: “Người đã mất rồi thì nên để cho người ta yên”; cho là: “Người mất rồi thì kỉ niệm để trong lòng là đủ”. Nhưng đến khoảng năm 1915, khi ông chừng hai mươi hai tuổi, bà cụ Tú qua đời, thì ông lại giữ đúng lễ xưa, khiến Hoàng Đạo Thuý, người bà con kém ông bảy tuổi, cũng là người say mê văn minh Pháp phải ngạc nhiên: Đầu đội mũ dứa, tay chống gậy trúc, đưa tiễn cụ đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở cánh đồng Bạch Mai, cạnh một bờ rào[4]

Từ nhỏ ở Hàng Trống, cho đến sau này về Hàng Da, rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nguyên nếp kê bàn học và làm việc dọc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ, có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán và sau này, còn đánh số thứ tự để khi giỗ vị nào thì vợ con theo lời ông bảo dễ dàng lấy đúng bài vị vị đó đặt ra trước, tiện chuẩn bị bày biện bàn thờ. Ông rất trọng kị giỗ gia tiên. Khi cỗ bàn đã bày xong thì ông khăn đóng áo dài, trịnh trọng thắp nhang khấn vái, sau mới đến vợ và các con vào lễ. Ông còn kể cho vợ và các con về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thuỷ tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ[5]

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn những người trên còn sống. Chính vì thấy cụ Tú quá già, cụ Cả tuy còn khoẻ nhưng tuổi cũng cao mà hai cụ ngày đêm vẫn vất vả vì mình, cho nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần hai cụ. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh[6] thăm mẹ vợ, thường gọi là cụ Ký (do ông chồng làm ký lục, bấy giờ đã qua đời), thăm các cô em vợ là Hợp, Mai và cậu út Tốn. Chính những lần về quê vợ này, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi được biết bao câu ca dao tục ngữ dân ca hay, tăng thêm đáng kể vốn từ ngữ dân tộc của ông.[7] Hồi đã khá giả ông nói với cậu Tốn là muốn biếu bà mẹ vợ một ngôi nhà, hỏi có muốn lấy nhà ở Hà Nội cho tiện việc học hành làm ăn sau này của các em không, thì cậu Tốn trả lời là anh chị cho thì tùy anh chị thôi. Thế là ông bàn với vợ, bà bảo: “Cứ làm cái nhà to ngay giữa làng, chớ làm ở Hà Nội, dân làng có mấy ai ra Hà Nội đâu mà biết”. Rồi cho dỡ ngôi nhà gỗ còn tốt đi để xây ngôi nhà mới tại làng, đến nay (năm 2000) vẫn còn.[8]

Cô Vân có em gái là Hợp, nhà quen gọi là cô Nhỡ, bởi dưới cô còn một em gái nữa là cô Mai. Chị đi lấy chồng bấy giờ đã là nhà báo nổi danh ở Hà Nội, còn em vẫn ở quê làm ruộng, mò cua, bắt ốc, hái rau,…Có khi nhớ chị, cô đem những thứ ấy sang tận Hà Nội, lên bán ở chợ Hàng Da ngay gần nhà chị để tiện ghé thăm. Bà chị xấu hổ vì thấy em gái ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lại còn quang gánh, thúng mủng, nên thấy mặt là thường đuổi về ngay. Nhưng những lần gặp ông thì thật là may. Ông mở cửa, đi thẳng vào nhà như “những nhà nho chân chính”, không thấy em vợ đứng cạnh cửa. Khi cô đánh tiếng chào, thì ông mừng rỡ, vồn vã hỏi thăm buôn bán thế nào, mẹ và các em bên nhà có được mạnh khoẻ không, rồi cuối cùng, bao giờ cũng móc túi lấy tiền dúi cho, bảo là: “Dì cầm tạm, đỡ tiền tàu xe”. Sau đó, mới gọi to báo cho vợ biết là có em gái sang chơi. Trước khi về, cô sang chào ông thì bao giờ ông cũng đưa sang vợ, nói là “Cho dì tiền tàu xe và mua quà cáp cho bà và các em bên nhà”[9]

Sau này, năm 1928, ông có mua lại của ông chủ Mỹ Ký (chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả, nổi tiếng một thời) một trang trại ở ấp Thái Hà, nhưng chỉ để mẹ vợ ở cùng gia đình cậu út Tốn; gia đình ông thỉnh thoảng mới về thăm thôi[10]

Phạm Quỳnh rất yêu vợ nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc có một năm, ông đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (Ecole des Langues Orientales), một dịp may hiếm có, thời ấy người trẻ tuổi nào cũng ao ước. Vậy mà ông đã từ chối. Chỉ vì mới …lấy vợ! Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông đã ghi lại trong nhật ký: “Giá nhận đi hồi ấy thì Trường Bác Cổ không đề cử ông Phan (Văn Trường- PT ghi chú), và sự nghiệp mình có lẽ lại xoay ra một phương diện khác.” Nhưng ông không hề tỏ ý tiếc… Cũng trong dịp này, sau khi thăm bảo tàng Trocadero và bảo tàng Guimet ở Paris, ông lại ghi: “Thứ bảy, 27-5: Người Tây bình phẩm đàn bà An Nam có thói nhuộm răng đen thường nói rằng: Trông miệng người đàn bà An Nam tối om như cái hố sâu. Người Tây có lẽ lấy thế làm xấu thật, nhưng ta lại cho thế là đẹp. Cô con gái nào nhuộm răng khéo, đen nhánh như hạt huyền, thì tựa hồ như có duyên thêm lên. Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân” của mình. Kẻ “ý trung nhân” của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy (chúng tôi nhấn mạnh – PT) mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.” Ông ghi nhật ký đúng như thế. Mà đây lại là nhật ký để đăng công khai đều đặn trên báo Nam Phong của ông! Vì ông đang nhớ vợ, mà kẻ “ý trung nhân” như ông tả ở trên, thì bất cứ ai đương thời quen biết gia đình ông đều dễ dàng nhận ra ngay đó chính là chân dung của vợ ông, cô gái một làng quan họ xứ Kinh Bắc. Ngày 23-6, ông ghi: “mình mặc jaquette, vào hiệu ảnh chụp cái ảnh gửi về nhà”. Đó là bức ảnh đầu tiên ông mặc âu phục, tóc cũng đã cắt mất cái “búi tó củ hành”. Trước thay đổi lớn đó về hình thức, ông thấy cần “thông báo khẩn” cho vợ biết. Ông gửi ngay ảnh đó về[11] với lời đề tặng đúng kiểu của riêng ông “Gửi hiền thê, ở nhà10

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn với nhau nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ nhau, suốt đời không hề có xích mích gì. Bà Cả Mọc, tên thật là Hoàng Thị Uyên, một nhân vật nổi tiếng về hoạt động xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ thứ 20, là cháu bà thiếp của cụ Phạm Hội, lập hội Tế Sinh. Đây là một hội từ thiện chuyên trông con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm ban ngày và còn mở một trại dưỡng lão ở Phúc Yên giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa.[12] Phạm Quỳnh coi bà như bà mình, thường đến thăm hội, trò chuyện cùng bà. Bà Cả Mọc nhận vợ Phạm Quỳnh làm thủ quỹ của hội. Cô Vân vốn không biết chữ, nhưng tinh ý lại nhớ dai. Cô chỉ thu, chi rồi cố nhớ thật kỹ, về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng, ông phải viết hàng trăm biên lai, chứng từ và vào sổ sách thay cô. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”[13]

Sau này, tuy bận nhiều công việc, ông vẫn cố dành chút giờ rảnh rỗi đem Nhị Độ Mai, Kiều,… ra đọc cho vợ nghe. Vì bà, tuy không biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ nhưng lại rất sành tiếng Việt, thuộc nằm lòng Truyện Kiều và vô số ca dao tục ngữ dân ca…[14]. Tuy không ham, nhưng ông cũng cố học đánh mạt chược mà ông biết bà thích và chơi khá thạo. Chỉ cốt để cùng bà và gia đình tiêu khiển trong mùa mưa xứ Huế.[15]

Còn có bằng chứng nào “hùng hồn” hơn về tình yêu của ông đối với vợ là họ đã có với nhau đến mười sáu mặt con! Ông bà sống với nhau được ba mươi sáu năm, kể từ người con trai cả sinh năm 1911 đến cô con út sinh năm 1938, trong hai mươi bảy năm ấy, ngoài ba người mất từ khi chưa đầy tuổi tôi, cũng còn lại đến năm trai và tám gái. Tuy đông con như thế nhưng hiếm có người cha nào trên đời này lại yêu thương chăm sóc con cái đến như ông. Những người con của ông, ít tuổi nhất nay cũng đã ngót bảy mươi, người lớn tuổi nhất hiện còn sống đã ngoài chín mươi, nhưng không một ai quên được nhưng kỉ niệm về tình thương yêu và sự chăm sóc ông đã dành cho mình. Đông con như thế mà ông vẫn chú ý đến từng người một, và yêu thương chăm sóc các con như nhau, không hề có sự “trọng nam, khinh nữ” hoặc “con yêu, con ghét” như thói thường vẫn vậy. Ông cũng không bao giờ lấy quyền làm cha để bắt các con phải theo ý mình, mà chỉ cảm hoá bằng tình thương yêu và lẽ phải mà thôi. “Dĩ thân vi giáo” là cách giáo dục của ông. Ông bao giờ cũng thân thiết, gần gũi bầy con đông đúc, nhiều vẻ.

Các con ông gọi cha bằng Thầy, gọi mẹ bằng Me và xưng là Em. Có lẽ là do ông gọi vợ theo kiểu TâyMe (Mère) , còn bà thì gọi ông theo kiểu taThầy nó. Và cả hai đều quý các con, thường gọi nựng khi còn nhỏ là Em, lâu ngày hình thành nếp xưng hô độc đáo của riêng gia đình ông.

Mười sáu tuổi lấy vợ thì mười bảy tuổi ông có con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Theo lệ cũ: tên con trai suy từ tên cha ra, đã có cây quỳnh tất phải có cành giao. Hai năm sau, vợ ông sinh một bé gái trắng nõn nà như cọng giá, nhà bèn đặt tên là Giá, ông cũng chấp nhận. Hai năm sau nữa, lại một bé gái ra đời, cứ ngày ngủ đêm thức, nhà lại đặt luôn cho tên là Thức, ông lại cũng chấp nhận, cho làm khai sinh như thế. Sự dễ dãi này cũng dễ hiểu, người thời ấy thường không coi trọng việc đặt tên cho con gái, vì sau này lấy chồng thì sẽ lấy tên chồng thôi. Nhà số 1 phố Hàng Trống là nơi chôn nhau cắt rốn của ba anh em. Sau này, khi đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong, dọn về ở số 5 phố Hàng Da, các con sinh ra đều được ông chọn đặt tên cẩn thận. Trước chuyến đi Pháp năm 1922, ông có thêm ba con, một trai là Phạm Bích, hai  gái là Hảo và Ngoạn. Mới hai mươi chín tuổi, ông đã sinh đến sáu con.[16] Chỉ đọc những dòng ông viết trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên báo Nam Phong năm ấy, cũng thấy được ông thương yêu các con đến thế nào

Thứ ba, 20-6: Chánh Công ty rượu Đông Pháp mời cơm trưa…Dự tiệc… còn có ông em ruột… bà em dâu và hai đứa cháu gọi ông bà bằng bác. Hai thằng bé ngộ quá, mình chơi đùa với chúng nó lại càng thêm nhớ đến lũ con ở nhà.” Phải, ở nhà ông cũng có hai thằng bé là Giao và Bích mà…

Thứ sáu, 23-6:…vào hiệu ảnh, chụp cái ảnh gửi về nhà”.[17] Ông gửi ảnh ấy về thì bà lại gửi sang cho ông bức ảnh ông mặc áo gấm bế bé gái Ngoạn. Ảnh chụp trước lúc ông đi xa. Ai ngờ, sau đó ông diễn thuyết đến bốn bận, có lần ở cả Viện Hàn Lâm Pháp, khiến các báo Paris xôn xao lên, tranh nhau đăng bài nói của ông, còn xin cả ảnh để đăng kèm cho thêm sức thuyết phục. Bấy giờ, tuy mới chụp ảnh mặc âu phục gửi về nhà, nhưng ông lại không dùng ảnh ấy, mà đưa đăng bức ảnh mặc áo dài khăn đóng, đang bế con gái mới vừa mấy tháng. “” Phạm Thị Ngoạn, sau này là tiến sĩ đại học Sorbonne Paris với luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong) nghiên cứu về sự nghiệp chủ yếu của đời ông, vẫn luôn giữ bên mình bức ảnh đó, coi như báu vật quý nhất đời mình. Bà nắn nót đề sau ảnh dòng chữ: “Tôi đã có mặt trên báo chí Paris từ năm 1922”. Năm 1921 là năm sinh bà Ngoạn

Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.” Thế là đang sống giữa Paris phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, lòng ông vẫn hướng về quê nhà; ông vẫn nhớ là sắp đến Tết Trung thu, và càng nhớ các con.

Thứ năm, 29-6: Năm giờ chiều mới ở vườn bách thú ra, trước khi lên xe, mua một mớ cartes postales (bưu ảnh) các giống thú lạ để gửi về cho các trẻ nhỏ ở nhà. Nào là sư tử, nào là hổ báo, nào là hươu nai, nào là vượn khỉ, mỗi cô mỗi cậu được mấy con giống, xem mà tranh nhau ỏm tỏi! Còn cái con nai cao cổ kia, chắc anh chị nào cũng thích, ta phải mua đến nửa tá mới đủ. Nửa tá là đúng, bấy giờ ông có vừa đúng nửa tá…con, hai trai bốn gái, kể cả cô mới sinh mấy tháng trước khi ông đi.

Và rồi, “Thứ hai, 17-7: đi vào vườn Luxembourg. Vào đến giữa vườn, trông cái cảnh mới đẹp sao!…Nhưng đẹp nhất là cái cảnh mặt trời về tây, bóng dương đã xế, mây vàng ngẩn ngơ, thật là Trời tây bảng lảng bóng vàng

Không gì đẹp bằng góc trời đó, mà cũng không gì buồn bằng đám mây đó. Vì trông mây, lại sực nhớ đến nhà: Lòng quê gửi đám mây vàng xa xa. Mến cảnh nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang thêm nữa. Trời vừa sập tối, lính canh vườn đã nổi trống để giục khách tháo lui. Lủi thủi bước ra, đi thẳng về trọ…mãi canh khuya vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Từ ngày sang đây đến giờ, đến hôm nay, mới thấy buồn là một, thật là: Lạnh lùng thay giấc cô miên”[18]

Ông nhớ nhà, nhớ vợ và các con là phải. Biết bao việc hằng ngày trong gia đình gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ, ông cùng các con đi xem phim, cứ mua bốn năm vé, mấy cha con cùng ngồi xem. Thời ấy, phim câm, thỉnh thoảng có chiếu chữ Pháp trên màn ảnh. Ông đọc rồi giải thích cho mấy anh chị em, cứ truyền khẩu nhau mà nghe. Khi có kịch cải lương hoặc vở chèo nào hay, thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.[19]

Sáng sáng, ông dậy sớm, đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà là dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất thời ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng, gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào chén cà phê nhỏ, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi, đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Ông lo chăm sóc các con như thể sợ vẩn vơ là có thể lúc nào đó, ông sẽ bị mất một đứa, mà đứa nào ông cũng quí, cũng yêu với tất cả tấm lòng! Vậy mà, ông đã phải gánh chịu tai hoạ đó. Không phải chỉ một lần…

Cô con thứ bảy mất lúc mới được nửa năm, còn cô thứ chín cũng chỉ sống với ông vẻn vẹn có chín tháng. Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Ông mời thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được. Ông đi bộ theo chân kiệu tang bé nhỏ, đưa các con đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có lần đang ngủ ông bỗng hốt hoảng choàng dậy, vội vã chạy sang buồng vợ, tưởng như nghe thấy có tiếng con nhỏ khóc. Ông vốn cận thị, lại không kịp đeo kính, nên lao cả đầu vào cửa kính mới bừng tỉnh, rồi thở dài, lủi thủi về lại giường nằm, trằn trọc cho đến sáng. Con gái đầu của ông, cụ Phạm Thị Giá, đến năm ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn nhớ như in trong óc cảnh tượng này.

Năm 1926 ông bà lại sinh một gái. Ông quyết định đặt tên con là Hoàn và nói rằng: “Đây là trời “hoàn” lại, thay cho hai người con gái đã mất”. Bé Hoàn được ông bà yêu chiều đặc biệt. Bữa cơm thì cho ngồi ghế mây cao ở giữa, ông một bên, bà một bên. Ông hỏi: “Em yêu thầy hay me?”. Khi cô bé trả lời: “Em yêu thầyme”, thì bà lại hỏi: “Em yêu me hay thầy?”. Và cô bé đáp: “Em yêu methầy!”. Ông như muốn nhìn thấy qua hình hài bé Hoàn cả hình bóng hai con gái ông rất mực yêu thương nhưng mệnh yểu.

Nhưng định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải đau khổ vì mất con một lần nữa. Sau bé Hoàn, bà lại sinh cho ông một bé gái, đứa con thứ mười một của ông. Thấy con gái xinh xắn, nhỏ nhoi, ông mới đặt tên cho em là Yến. Bấy giờ có nữ thi sĩ Pháp là bà Jeanne Duclos Salesse mến phục tài ông, thường lại nhà chơi, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên, rồi làm tặng một bài thơ, có câu:

Xin chào Chim Yến Nhỏ, đã khéo chọn hình mẫu từ những nét của mẹ em xinh đẹp, để ngời sáng lên như một viên kim cương, ơi Chim Yến”

Nhưng mới được năm tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo, chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh cũng chẳng hề thuyên giảm, cứ ngày một nặng lên. Bé Yến suy kiệt, héo hon dần ngay trước mắt ông. Nhiều đêm, ông bế con gái nhỏ, yếu ớt như cái giải khoai, để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt, cao chừng tám mươi  phân, cổ tượng ông có đeo cho một chuỗi hạt san hô đỏ, trước tượng, đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ đi như thế suốt đêm, bế con vác vai, miệng khe khẽ ngâm nga những câu thơ cổ, mong ru em ngủ, giấc ngủ mong manh, chập chờn. Nhưng rồi, việc ông lo sợ nhất vẫn cứ đến, Chim Yến Nhỏ lại cũng bỏ ông mà bay đi. Sau khi tác giả bài thơ tặng em về Pháp được một tháng.

Nhiều năm sau, khi được tin bà Salesse mất, ông có làm bài tưởng niệm, trong đó có câu:

Bà Jeanne Duclos không còn nữa! Kỉ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi, sau khi bà lên đường một tháng, đã bay về Trời; nơi ấy, chắc là bà sẽ gặp lại em

Ông vẫn không sao quên được tổn thất lớn lao mình đã phải chịu đựng năm ấy. Mất một đứa con, là ông đứt một khúc ruột

Giữa hai cô con yểu mệnh, ông được một trai khôi ngô, mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong “nhị thập bát tú” (sau này sẽ là Giáo sư nổi tiếng về lão khoa, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, và từng được bầu làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Dương quê hương ông, với số phiếu cao nhất). Sau Chim Yến Nhỏ, ông lại được thêm một trai nữa. Cậu này thay chỗ bé Hoàn trong bữa ăn gia đình, được ngồi giữa ông bà. Ông đau dạ dày, quanh năm chỉ ăn xôi với ít thịt gà thịt lợn kho. Bữa xôi nào, ông cũng chỉ xắn ăn chung quanh, để lại giữa đĩa một cái “cù lao” nhỏ, dành cho bé Tuyên. Cái cung cách để dành lại cho con một chút thức ăn đó, ông có đã lâu. Cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ: “ Có đêm, tôi ngủ đã lâu, tỉnh dậy, thấy bên bàn giấy thầy đèn vẫn sáng. Tôi thương thầy làm việc quá khuya, mở cửa sang, thì thầy hỏi: “Con ngủ rồi à, sang đây ngồi chép cho thầy.” Tôi ngồi vào bàn viết và thầy ra ngồi ghế xích đu, cầm quyển sách, dịch và đọc thẳng như người ta đọc chính tả cho tôi viết, đến mỏi cả tay. Đêm càng khuya, thầy càng tỉnh táo và giọng đọc vẫn rõ ràng. Sau chừng hai tiếng đồng hồ, tôi vừa mỏi tay, vừa buồn ngủ thì thầy mới như chợt nhận ra, và bảo tôi cắt cam cho thầy xơi…Cam bổ làm sáu, thầy xơi bốn miếng, còn hai miếng, bảo tôi ăn. Thầy còn nói vào mắc áo có cái gi-lê trắng của thầy, trong túi có gì thì thầy cho. Tôi vào lục túi, được mấy hào lấy làm sung sướng lắm, đó là thầy thưởng công cho tôi”.[20]

Sau đó, ông bà còn sinh hai gái nữa, đặt tên là Diễm (tên khai sinh bị ghi nhầm là Giễm, không sửa được!) và Lệ; chỉ bằng vào hai cái tên thôi, cũng đủ biết hai cô xinh đẹp dường nào. Rốt lòng là một trai tên Tuân, một gái út tên Viên, có thể là do khi sinh ra cô tròn trặn, mà cũng có thể ông cho đàn con đông đến như vậy là “viên mãn” rồi.

Bà Phạm Thị Hoàn còn nhớ: “Vào Huế tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh tay trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai, chóng nhớn, vươn vai, chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến thầy tôi “tỏ tình” với các em bé, nên cũng yên chí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy”.[21] Ông vẫn yêu mến, chăm sóc các con hết lòng, dù đó đã là các con thứ mười bốn, mười lăm, và mười sáu của ông.

Ông thường nói với các con là mình không có tuổi thanh niên. Trong thời gian còn làm báo, đôi khi ông cũng có lần cùng bạn bè tới các ca lâu tửu điếm, thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán thời ấy cho phép, người ta hỏi ông có “chấm” một cô đào nào không thì ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy, nên không bị cám dỗ”.[22]

Ông không bao giờ cáu giận, to tiếng với ai cả. Bực mình lắm, cũng chỉ thấy ông tặc lưỡi là cùng. Ông không bao giờ dùng quyền uy hay hình phạt. Con trai cả ông đã kết duyên với con gái ông bạn văn thân thiết nhất của ông, sinh được hai trai, thì lại đem lòng yêu thương và lấy một cô gái Huế “tân thời”, rồi đưa nhau vào tận Sài Gòn sinh sống như dân lao động, khi ông đã là mệnh quan của triều đình. Ngày giỗ kị, các quan mũ áo chỉnh tề đã tề tựu đông đủ, mới thấy cậu cả về nhà, mặc bộ đồ tây vàng, thời ấy chỉ những người phát thư mới mặc, đi thẳng vào giữa hàng các quan đang khúm núm, chìa tay ra suồng sã bắt tay từng người và chào hỏi tự nhiên. Tin đồn: “Cậu cả con cụ Thượng vào Sài Gòn mở tiệm cơm đeo bị cói đi mua thịt bò ở chợ Bến Thành” khiến không ít người dị nghị: “Sao cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú Ba Tàu!” Nhưng ông chẳng có hình thức trừng phạt gì, cũng không trách mắng con trai. Ông vẫn thương và giúp đỡ tận tình cả con trai với cô vợ cả và hai con trai, lẫn cô vợ lẽ và ba đứa con, không hề phân biệt đối xử, coi cũng như các con cháu khác của ông vậy, khiến cho gia đình tám con người ấy vẫn sống hoà hợp lâu dài mà không đi đến hận thù, đổ vỡ. Đương thời, một thạc sĩ y khoa trẻ, tốt nghiệp từ Pháp về Huế, do yêu thương và quyết xin cha cho lấy một cô gái Huế “tân thời” người Hoàng Tộc, nhưng trái ý cha, đã bị bắt nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên, trên mông đặt một cái roi mây “để tổ tiên trừng phạt tội bất kính, làm bại hoại gia phong”, ngay trước mặt bà con dòng họ, làm xôn xao xứ Huế một thời.[23]

Ông theo dõi tỉ mỉ và tạo mọi điều kiện cho con cái phát huy thiên hướng của mình, không hề áp đặt, kể cả trong học hành lẫn vui chơi, giải trí. Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn, rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn cây cỏ hoa lá xanh tươi. Chung quanh nhà, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh mát rượi. Kế đến là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đảo đang trưởng thành mà ông đã chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một Thiên Đường của lũ trẻ, giữa thiên nhiên thoáng mát. Con trai con gái lớn ông, mỗi người một phòng riêng. Cậu cả thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương; cậu hai lại thích ghi-ta cổ điển phương tây; cậu ba ham đàn phong cầm; cậu tư mê cả ghi-ta lẫn phong cầm, sau này sẽ thành nhạc sĩ nổi tiếng của nước ta là Phạm Tuyên, tác giả hơn sáu trăm ca khúc, đặc biệt là bài  Như có Bác trong ngày đại thắng mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc…Có lần rỗi rãi, ông xuống thăm nhà gỗ, thì gặp Phạm Bích con trai thứ hai của ông đang đệm đàn và hát cùng Hoàng Gia Lịnh bài Việt Nam bất diệt anh này mới sáng tác đưa bạn xem thử. Ông khen hay, bảo cứ hát tiếp đi, rồi đứng yên nghe hai người hát cho đến hết bài, mới đi chỗ khác. Kỉ niệm ấy, đến năm ngoài tám mươi tuổi cụ Lịnh vẫn còn nhớ rõ.[24]

Lần khác, muốn giới thiệu các con với một bạn người Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang tổ chức “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ. Âm nhạc do Phạm Vinh, đính tôn của ông (sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là nhạc sĩ quân đội, trưởng Đoàn Văn công Trường Sơn) tùy cảnh trong phim mà mở các đoạn nhạc thích hợp có trong những đĩa hát cũ, bằng kèn hát lên dây cót. Các cháu nhỏ, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée, thật ngoài mong ước của lũ trẻ. Còn các cô gái thì đan len, thêu thùa hoặc học hát cũng là ở nhà gỗ cả. Các con cháu ông có thói quen hát nhiều bè, chỉ cần một người cất tiếng hát là có người khác phụ hoạ, hát đệm theo luôn, có khi đến ba bốn bè. Về thể thao, các con ông ham bơi lội, quần vợt, săn bắn và câu cá ở ngay con sông nhỏ An Cựu trước cổng nhà. Hầu như ai cũng biết vẽ. Và tất nhiên, ham đọc sách báo, thích thơ văn. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “bản báo phóng viên”, “biên tập”,  “hoạ sĩ trình bày”…thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn kỳ lạ, và có phóng sự thuật cả chuyện “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya…” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ còn là nơi các thầy dạy kèm được ông  mời đến dạy các con cháu nhỏ học buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học, tự chúng có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Vào tuổi xế chiều, Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập vẫn thấy cần chia sẻ một ký ức tuổi thơ với đông đảo cử tọa của Ngày Phạm Quỳnh (năm 1999). Một hôm cậu Tập, học trò lớp nhất tiểu học được bạn cùng bàn là Xương mời đến chơi biệt thự Hoa Đường. Cậu đến thì bị hai lính lệ gác cổng đuổi. Hôm đi học, bèn nói cho Xương biết. Chủ nhật sau, cậu đi câu cá ở sông An Cựu, qua cổng thì hai anh lính hôm trước rượt theo, lễ độ Mời vào chơi với cậu Xương Cụ Thượng muốn gặp cậu. Cậu vào thì Xương giới thiệu với bác mình là cụ Thượng. Giáo sư kể: “Thong dong, hiền từ, tế nhị không nhắc đến chuyện cũ, cụ Phạm thăm hỏi gia đình tôi và dẫn vào thư viện xem sách. Sách, đâu cũng sách là sách… Cụ giảng cho biết thế nào là loại sách quí…”[25]

Con người cô đơn là ông luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy con cháu đông đảo, lạc quan, năng động. Ông như thấy có trách nhiệm với cái bộ lạc mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định gì có thể gây tổn thất cho bộ lạc của mình, làm “sẩy đàn, tan nghé”, ông e ngại tất cả những gì quyết liệt, mang tính bạo lực. Những việc ông dồn tất cả tâm sức vào làm cũng chỉ là để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lặng lẽ âm thầm làm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường của mình, mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong bộ lạc thân yêu của mình, để tiếp tục sống mà làm việc. Có lẽ ông nghĩ: không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm với những việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng; cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy; bởi cái gì phải đến, tất sẽ đến đúng lúc cần phải đến thôi…Ông vốn là người cho thì thật nhiều, mà nhận thì chẳng bao nhiêu.

Ông cũng không nệ “môn đăng, hộ đối” như lề thói đương thời. Cô con cả ông được một thanh niên nghèo người Huế đem lòng yêu thương. Anh là con một quan huỵên thanh liêm về hưu trước tuổi, tự làm việc nuôi thân ăn học thành tài, lại thay cha nuôi cả gia đình đông đúc, sau này là một trong tám vị sáng lập trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng ở Hà Nội. Thấy người có đức có chí, khi con gái thuận tình, thì ông cũng bằng lòng gả cho. Ông trọng ông thông gia là quan huyện thà về hưu ở lứa tuổi bốn mươi còn hơn là theo lệnh Tây đi lùng bắt những “người làm quốc sự”mà mình cho là lương dân. Một lần sinh nhật ông, ông này đến dự, có cho người mang theo một mâm lễ lớn, phủ vải đỏ. Ông đưa hai tay đón nhận, cảm ơn là Đã cho quà nhiều quá! Và sai người nhà mang vào nhà trong, rồi kính cẩn mời ông thông gia vào bàn thượng khách. Ông không cho khách dự – phần lớn là các quan trong triều và giới thượng lưu trí thức- thấy món quà tặng đó: Chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà![26]

Vợ chồng cô con cả sinh con đầu lòng năm 1932, ông vào tận bệnh viện thăm cháu gái và cho biết là năm ấy, ông sẽ vào làm quan trong Huế. Ông vuốt má cháu ngoại đầu tiên mà nói: “Sang năm, vợ chồng cho cháu về Huế thì tiện, có bên nội lại có cả bên ngoại nữa.” Sau đó, cứ mỗi lần gia đình này về Huế, ông lại cho lái xe ra tận ga đón, rồi đưa thẳng cả nhà về bên nội ở  một thời gian, sau mới cho đón về bên ngoại, ở lại lâu hơn.

Các con ông đều lấy người mình yêu thương, không hề có cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” như đương thời. Ông yêu quý tất cả dâu  rể, âu yếm tất cả các cháu nội ngoại. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đảo, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường rộng lớn, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con dâu rể và lũ cháu nội ngoại lớn nhỏ tuỳ tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, là con cháu bu lại, mỗi người một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàng lợi cứng, không còn sót một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà. Cho nên, sau khi gia biến, ông không còn, nhưng cụ Hạt, cụ bếp Nguyên, u Nấm, u Viết vẫn giúp việc vợ con ông cho đến tuổi già, tận tình và trung tín. Cụ thợ may Liễn (tên thường gọi là ông Hai Lươn, em ông Cả Trạch), thường xuyên thăm nom, giúp đỡ gia đình cô con cả ông những khi có việc. Các con cái cụ như Sâm, Nhung…thường đi lại, gắn bó thân thiết với cháu ngoại Phạm Quỳnh. Các ông Bồng, Huệ, Thìa, Khoá, Hồ, Gà… vẫn gắn bó như xưa. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, hội nghị giáo dục toàn miền Bắc họp lần đầu. Con trai Phạm Quỳnh là giáo viên Khu Học xá Trung ương từ Nam Ninh (Trung Quốc) về nước dự. Buổi tối, họp kín, chỉ toàn Đảng viên. Giờ giải lao, thì có một người cùng họp đến gặp, hỏi có phải là con Cụ Phạm không, rồi tự xưng Tôi tên là Thìa, em anh Khoá đây, thân thiết, không chút e ngại.

Trẻ con đông, lại nhiều cháu trai hiếu động, gây ồn ào, đổ vỡ, hư hỏng này nọ. Nhưng, tuyệt nhiên không đứa nào bị ông trách mắng hay có hình phạt nào cả. Có con cháu quây quần là ông vui rồi.

Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao, lớn lên lấy vợ lấy chồng  tên là gì, năm nào sinh con ông ghi đủ cả[27]

Bà Hoàn, hồi nhỏ ở Huế thường giúp ông các việc vặt như: mở máy hát các điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy, những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần Cung Oán…hay đọc sách cho ông nghe và chuyên cắt móng tay cho ông. Năm gần bảy mươi tuổi, bà vẫn còn nhớ: “Mỗi lần như vậy, thầy tôi lại nói đùa: Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn. Riêng câu đó cũng chứng tỏ thầy tôi luôn luôn dung hoà cái xưa và cái nay”.[28]

Ông yêu quý những người thân của mình và cũng được đáp lại bằng tình cảm kính yêu chân thành, tha thiết nhất.

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường lúc mới năm mươi hai tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mình tâm đắc nhất. Được đúng năm mươi mốt bài thì gửi Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút trong một cuốn vở học trò, mới được non năm mươi trang giấy.[29] Tháng sáu năm ấy, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”…”Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học”…” Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này”…”Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”[30]

Từ lâu, ông đã muốn thoát khỏi quan trường mà không sao thoát được. Năm 1932, nghe tin ông nhận vào Huế làm quan, Hoàng Đạo Thúy đã can ngăn hết lời, nhưng ông vẫn ngây thơ trả lời rằng: “Tôi vào thử một tháng, không làm được gì thì tôi lại ra”.[31] Ông còn nói với nhà báo Nguyễn Vạn An vào tháng 6-1945: “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả”.31

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[32] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[33] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường. Rồi ngày 23-8, nghe có lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế,[34] ông giục con cái chuẩn bị áo quần chỉnh tề, đem cờ nhà may, sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng dân làng An Cựu.

Nhưng rồi, đến trưa ngày 23-8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động, thì có mấy người đi xe hơi đến “đón” ông đi. Cô Hoàn, thường quấn quít bên ông từ nhỏ, vội vàng chạy theo ông, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé” (Vì cô vẫn biết mỗi ngày ông phải uống thuốc ấy bốn lần do đau dạ dày). Thì ông quay lại, dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về[35]

Xe chạy, và ông không bao giờ về nữa

Trước cổng  biệt thự Hoa Đường xưa “là chiếc cầu cho các thuyền dọc hay đò ngang ghé đậu nay vẫn như xưa. Người dân quê chân phương không ai bảo ai, đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm”.[36]

Tháng 10- 2000 – Tháng 4-2006

* Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(56). 2006 với nhan đề Phạm Quỳnh-Người nặng lòng với nhà


[1] Hoàng Đạo Thúy: bản dịch Trích gia phả họ Hoàng Đạo:

-Phụ: Bên Ngoại (Hoàng Đạo Thành soạn, viết)

– Phả ký học trò viết (Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết)

[2] Hoàng Đạo Thuý: Các việc tiếp theo (viết ngày 16-7-1991, tại Hà Nội)

[3] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[4] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[5] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[6] Theo lời kể của ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này, năm 1999

[7] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[8] Theo lời kể của bà Lê Thị Trung, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này ngày 19-1-2000

[9] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[10] Phạm Thị Giá:    –      Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–          Thư gửi con trai (25-5-1988)

–          Thư gửi em gái (14-9-1992)

[11] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[12] Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa, NXB Văn Hoá – Thông Tin, Hà Nội, 2000

[13] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[14] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[15] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[16] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[17] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[18] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[19] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

Thư gửi em gái (14-9-1992)

[20] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[21] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[22] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[23] Theo lời kể của bác sĩ Ngô Văn Quỹ, trực tiếp kể cho người viết bài này, tại Thành phố Hồ Chi Minh, năm 1999

[24] Theo lời kể của Giáo sư  Sử  học Hoàng Gia Lịnh, sống ở Paris trực tiếp kể cho người viết bài này.

[25] Nguyễn Phước Bửu Tập – Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá số 50, Mỹ

[26] Theo lời kể của bà Tôn Nữ Việt An, cháu ngoại Phạm Quỳnh, trực tiếp kể cho người viết bài này qua điện thoại (tháng 1-2006)

[27] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[28] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[29] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và Di cảo, NXB An Tiêm, Paris, 1992

[30] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23-3-1952

[31] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[32] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[33] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[34] Tố Hữu: Nhớ lại một thời, trích hồi kí đăng trên Tạp chí Văn học, số 8 năm 2000, chương V: Khởi nghĩa

[35] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[36] Phan Kính Đức: Từ Hồ Chí Minh đến Phạm Quỳnh, tạp chí  Sóng, Mỹ

Tháng Hai 7, 2013

Hai bưu thiếp Phạm Quỳnh gửi năm 1922

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 1:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ tư, tuần 3 tháng 2 năm 2013.

 

TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

 

HAI BƯU THIẾP PHẠM QUỲNH GỬI NĂM 1922

Dã Thảo

Như để thưởng cho sự cố gắng của chúng tôi duy trì Blog PhamTon chuyên về Thượng Chi – Phạm Quỳnh hơn ba năm qua, vợ chồng người con trai út của ông từ Hoa Kỳ đã gửi cho chúng tôi những di vật đáng quí, trong đó có hai bưu thiếp ông gửi từ Pháp về cho vợ, con mà chúng tôi giới thiệu với bạn đọc hôm nay.

Hai bưu thiếp này đều cùng một kiểu, khổ 9x14cm, có khung hoa văn giấy nổi, bên trong là một bức tranh nhỏ. Bưu thiếp thứ nhất, mặt trước mất tranh, trên “tranh” là hai dòng chữ nhỏ của Phạm Quỳnh:

À ma chère femme (Gửi vợ yêu quí của tôi – DT chú) / Marseille, 15 Avril (tháng 4) 1922 / Phạm Quỳnh (ký)”

Mặt sau trên in hai chữ CARTE POSTALE, dưới ghi 7 dòng chữ nhỏ, nắn nót, rõ ràng, đều đặn, đến nay, sau 90 năm, còn đọc được rất rõ ràng.

“Marseille, 15 avril 1922

Ái khanh ôi,

Từ hôm sang đến đây, nhớ nhà, nhớ mình lắm mình ơi!

Nghe nói có chuyến tàu về An-nam, vội-vàng gửi cái thiếp này để ghi chút lòng tưởng nhớ. Mình có nhớ tôi không?

Sáng mai đây thì Đấu – xảo mở, tôi phải làm bài diễn thuyết để đọc mừng quan Sarraut (Toàn quyền Đông Dương hai nhiệm kỳ 1911-1914 và 1916-1919, hiện là Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp – DT chú).”

Bưu thiếp thứ hai, mặt trước có bức tranh thêu chim én và cành hoa tím với mấy chữ thêu màu hồng NE M’OUBIEZ PAS (Đừng quên anh – DT chú). Trên tranh có hàng chữ nhỏ của Phạm Quỳnh “Gửi cành hoa này cho vợ yêu vợ quí của tôi”. Dưới tranh là hai chữ Thượng Chi.

Mặt sau, trên in hai chữ POST CARD, dưới ghi 11 hàng chữ nhỏ.

Marseille, 22 Avril 1922

Từ hôm sang đến giờ chưa nhận được thư nhà, nhớ mình, nhớ con lắm. Mỗi tuần lễ mình nên viết cho tôi mấy chữ, và bảo con nó viết nữa, để tôi biết tin tức nhà cho được bình tâm. Từ hôm sang đến nơi, vẫn ở nhà ô-ten, ngày nào cũng đi dạo chơi phố phường, mà thành phố to quá, đi mãi không khắp. Đấu-xảo đã mở từ chủ nhật trước, hôm làm lễ khánh-thành, tôi có thay mặt cái phái viên Bắc-kỳ đọc mấy câu chúc mừng ông Sarraut, người Tây lấy làm khen lắm. Tôi còn ở Marseille cho đến ngày 10 Mai (tháng 5), đợi quan Giám quốc đến thăm Đấu-xảo. Khi thư này về đến nhà thì tôi đã lên Paris rồi, nhưng gửi thư cho tôi cứ gửi về Marseille, rồi người ta chuyển theo cũng được. Nhớ gửi ảnh mình và ảnh cả nhà cho tôi.

Phạm Quỳnh (ký)”

Năm 1922, Phạm Quỳnh với tư cách Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, tham gia phái đoàn nước ta sang Pháp dự Đấu xảo Thuộc địa tổ chức tại Marseille. Việc này đã được ông thuật rõ trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên tạp chí Nam Phong và sau này được nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 2004.

Phạm Quỳnh vốn “nổi tiếng” là người kín đáo, ít khi nói về mình, càng ít khi tâm sự, dốc nỗi lòng với ai. Vì thế, hai bưu thiếp nhỏ này là một cơ hội hiếm hoi, quí báu cho những ai yêu quí Thượng Chi – Phạm Quỳnh, một khe nhỏ để chúng ta nhìn vào, hiểu sâu hơn một nhân cách lớn, một trí tuệ lớn, một tấm lòng lớn.

Chỉ xin lưu ý bạn đọc là khi viết những dòng chữ nhỏ li ti này, Phạm Quỳnh đã là một nhà báo nổi tiếng, một học giả có uy tín, một chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp chí lớn nhất nước ta hồi đó, nhưng, dù sao ông cũng mới chỉ là một thanh niên 29 tuổi (1893-1922).

D.T.

 

Tháng Hai 18, 2009

Ông quả là người nặng lòng (bài 2)

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 1:11 chiều

Bài viết được đăng trên Tạp chí Hồn Việt của Hội Nhà Văn Việt Nam số 17 (11-2008)

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8-2008)

ÔNG PHẠM QUỲNH QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC (Bài số 2)

Sau bài số 1 được bạn đọc đón nhận, chúng tôi thấy nên thuật lại thêm một số sự việc liên quan đến Phạm Quỳnh còn không ít người chưa biết rõ.

Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu xảo Thuộc địa tổ chức tại Marseille. Ông từ giã cái búi tó củ hành, nhưng vẫn mang theo mấy bộ quốc phục và một “bản Kiều tùy thân” cùng một cuốn sổ tay nhỏ xíu.

Xong nhiệm vụ ở đấu xảo ông tranh thủ đi ngay Paris. Trong Pháp du hành trình nhật ký đăng liên tiếp trên báo Nam Phong, ngày thứ ba, 16/5/1922 ông ghi “Ngồi trên xe lửa mình đã đọc kỹ cái sổ kê những nhà khách sạn ở Paris in trong các sách Paris chỉ nam, anh em đã bàn nhau định vào trọ một nhà ở đường Vaugirard, vì trong sách nói rằng nhà ấy trông ra vườn Luxembourg cảnh trí đẹp lắm. Nhưng khi đến nơi bảo xe ô tô đi đến đường ấy số ấy thì chẳng thấy nhà khách sạn đâu cả, không biết là sách in lầm hay nhà đã dọn đi nơi khác rồi. Thế là mình rắp định một điều hỏng cả một điều, mà sự không trông hòng thời lại tới. Số là ông Ng.H.C là con một vị hưu quan ở Bắc kỳ ta, được tin anh em đến có ra ga đón, khi đi tìm trọ ở đường Vaugirard không xong, ông bèn dắt về chỗ trọ ông, nơi gọi là “Thế giới khách sạn” (Hôtel du Monde) ở đường Berthollet số 15. Thế là sang đất lạ lại được ở cùng người đồng quận cũng là một sự không ngờ”. (Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2004)

Phạm Quỳnh không thể ngờ rằng, từ hôm ấy ông đã bị tên mật vụ Désiré theo dõi và báo cáo đều đặn lên cấp trên. Báo cáo ngày 16/6/1922, Désiré viết “Người An Nam Phạm Quỳnh đến từ Đông Dương đã bị sở cảnh sát Marseille chỉ điểm, từ ngày 16/5/1922 đã ở tại Hôtel du Monde, 15 phố Berthollet. Ông thuê một căn phòng trả tiền mỗi tháng 200 francs. Ông ta đăng ký vào sổ của khách sạn với nhân thân sau: Phạm Quỳnh, 29 tuổi, nhà báo. Sinh tại Hà Nội, đến từ Hà Nội.

“Ông đến Paris với hai đồng bào, cũng nói là đến từ Đông Dương, ở cùng địa chỉ là:

Nguyễn Văn Vi, 30 tuổi, sinh ở Hà Nội, thợ in.

Trần Lan Vi, 32 tuổi, sinh tại Hà Nội

“Từ khi tới Paris, ba người An Nam này có đồng bào tới thăm thường xuyên.

“Xin đặc biệt lưu ý là một người có nhận dạng ứng với nhận dạng của Phan Văn Trường.

“Họ thường ra ngoài và đôi khi đêm về nhà rất muộn.

“Tuần trước họ nói với chủ khách sạn là đi dự một cuộc họp, không giải thích gì thêm”.

“Ký tên Désiré” (Tư liệu lưu trữ tại Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp, phần Pháp quốc hải ngoại, tại Aix en Provence, Pháp)

Trong cuốn sổ tay nhỏ bằng bốn ngón tay của Phạm Quỳnh năm ấy có ghi “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật ký, ông viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.” (Phạm Quỳnh: sách đã dẫn)

Chắc chắn tên mật vụ Désiré có theo dõi hai cuộc gặp gỡ này, không biết hắn đã báo cáo thế nào… Nhưng còn một lần gặp gỡ nữa, có đến 11 người, do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi cơm chiều thì chắc chắn mật vụ Désiré không biết vì không vào nổi khách sạn Montparnasse Paris. Trong số khách dự có Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “5 nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi ký “Rời mái tranh trường Quốc Học”, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu cựu học sinh Quốc Học. Cả năm vị đều trình bày chủ trương cứu nước của mình. Đây thật sự là cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng thiết tha yêu nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ ít nhất qua ba lần gặp mặt mà chúng ta còn biết đó và mười mấy năm đọc Tạp chí Nam Phong mà tháng 8/1945, sau khi nghe ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra báo : “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu. (Tư liệu do nhà văn Sơn Tùng cung cấp). Và khi nhà thơ Huy Cận tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị xử tử hình, về tới Hà Nội, được gặp Bác, ông có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm lấy tay ông và nói: “Đã lỡ mất rồi”. Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch (Tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9/2006)

Tư liệu số 313 (Phạm Quỳnh) báo cáo của mật vụ Jolin ngày 21/12/1922 từ Marseille viết: “Tôi vinh dự gửi tới ngài bản dịch một bài báo ký tên Phạm Quỳnh đăng trong Nam Phong, tờ báo Bắc kỳ mà ông ta là chủ bút”.

Trong bản dịch, Jolin nhấn mạnh những đoạn Phạm Quỳnh viết là tại khu Đấu xảo Thuộc địa ở Marseille khu vực Đông Dương “có một lâu đài lớn xây dựng theo kiểu Angkor, thực sự là vĩ đại. Để phục chế tòa lâu đài này đã phải tốn rất nhiều công và của. Nội thất thì toàn bằng gỗ, bên ngoài thì quét vôi. Thật tiếc vô cùng vì sau 6 tháng đấu xảo sẽ phải hủy bỏ. Hàng triệu đồng đã tiêu phí vào việc này và sẽ tan thành mây khói và tung theo gió bốn phương, lợi ích của việc tuyên truyền thuộc địa này có bõ công không?” Một đoạn khác, Jolin lại nhấn mạnh bằng cách gạch dưới “Tất cả những người thợ và nhân viên ở tại đấu xảo đều than phiền về thức ăn và nơi ở. Quả vậy, những lán trại dành cho người An Nam không có gì là hấp dẫn. Về cái ăn thì còn phải mong đợi nhiều. Người ta cho rằng tất cả những việc này chỉ là tạm thời vì những nhân viên chịu trách nhiệm tổ chức đấu xảo đã ngập đầu trong biết bao lo toan khác cho nên họ không có thời giờ vật chất để chăm sóc cho người An Nam. Mong rằng những cái đó chỉ là tạm thời, bởi lẽ thật là thảm thương. (…) Nhiều phái viên trước khi đi sang Pháp nghĩ rằng đời sống ở bên đó rất đắt đỏ, họ sẽ sống ở đấu xảo để tiết kiệm tiền, nhưng sau khi thấy được cảnh này, họ đã không thể ở lại đấy đến một giờ.

“Sự thực là với tiền người ta có thể làm tất cả, chỉ cần biết là họ có biết cách tiêu tiền có ích không.” Cuối bản báo cáo, Jolin viết “những lời gièm pha của Phạm Quỳnh chỉ trích oan uổng và gây ngờ vực đối với sự quản lý chung, đặc biệt là đối với ban Đông Dương ở Đấu xảo Marseille (…) Tôi tin chắc chắn rằng, thưa ông Toàn quyền, là Phạm Quỳnh như tôi đã nêu lên trong những bức thư số 170, 200, 203, 204 phải được coi là đáng ngờ nếu không muốn nói là kẻ bị tình nghi”. Mật vụ Jolin còn phụ thêm một báo cáo đặc biệt về “Cuộc trò chuyện của Phan Châu Trinh với Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh”, nhưng trong đó chỉ dẫn lời tranh luận với nhau của Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Chu Trinh, không thấy dẫn lời nào của Phạm Quỳnh (Tư liệu của Văn khố đã dẫn)

Đó là những nhân viên cấp thấp nhất của nhà cầm quyền Pháp đã “quan tâm” đến Phạm Quỳnh như thế. Còn các cấp cao thì sao?

Chúng tôi có trong tay tài liệu 14-PA-1/8 của Khâm sứ Trung kỳ J.Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Dương J.Decoux viết từ Huế ngày 15/10/1944, trong đó y ca ngợi Phạm Quỳnh tài năng xuất sắc hơn tất cả các quan lại trong triều cho nên đang bị kèn cựa, kỳ thị và đề nghị: “Giữ vững ông ta trong vai trò của mình là Thượng thư Bộ Lại” và “Tóm lại là đứng vững trên mớ hỗn độn”, kèm theo là hai chữ “Phải!!”, “Phải!!” ghi bằng mực đỏ, do chính tay Toàn quyền Decoux phê, tán thưởng việc đề xuất ấy. Tiếp sau đó là báo cáo ngày 8/1/1945 cũng của Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Dương J.Decoux và Đại tướng Mordant, trong đó viết : “Một lần nữa, viên Thượng Thư Lại Bộ (Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản… Ông (Phạm Quỳnh) đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay chế độ Bảo Hộ bằng một thể chế “Thịnh Vượng Chung”, trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông vào một chức vị danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài”. (Trích bản dịch của Đoàn Văn Cầu trong Dẫn Nhập tập Phạm Quỳnh: Hành Trình Nhật Ký, Nhà xuất bản Ý Việt, Yerres, Pháp, 1997).

Trong bài cùng nhan đề trên Hồn Việt số 15 có viết là năm 1933 mới làm quan được một năm, Phạm Quỳnh đã viết thư cho Louis Marty là Giám đốc Chính trị vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương, cũng là ”bạn cũ” đồng sáng lập Tạp chí Nam Phong để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Louis Marty can thiệp giảm án. Thì cuối năm đó, ngày 30/12/1933 ông lại viết cho Marty một lá thư “chúc mừng năm mới”, trong đó có những dòng tâm tình: “Về phần riêng tôi, như thế là số mệnh đã an bài. Tôi là người của chuyển tiếp, vì vậy, sẽ không bao giờ được người đời hiểu mình. Chuyển tiếp giữa Á Đông và Tây Âu, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chánh trị sản phẩm của xâm lăng và đương nhiên là phải hư hỏng ngay từ nền tảng, và một nền trật tự mới không thể nhất đán mà thành tựu, khả dĩ biết tôn trọng phẩm cách của con người. Sống giữa đầy rẫy những mâu thuẫn như thế, cố gắng dung hòa các mâu thuẫn đó, với hoài bão thực hiện một chương trình tiến hóa hợp tình hợp lý khả dĩ đưa đến tình trạng hòa hợp toàn diện; dĩ nhiên là tôi phải đương đầu với những ngộ nhận đủ loại.

“Tôi tự an ủi và tin tưởng mãnh liệt ở vai trò cần thiết của mình. Vai trò đó hiện nay chỉ mang lại cho tôi những “đắng cay”, nhưng một ngày kia sẽ có thể tiến tới “vinh quang”

“Dĩ nhiên là tôi rất có thể sống ẩn mình trong một “tháp ngà”, tự mãn với cuộc đời êm dịu thanh bình theo quan niệm của nhà hiền triết hay học giả mà đó cũng là lý tưởng của lòng tôi. Nhưng tôi thiển nghĩ có bổn phận sống ra ngoài khuôn khổ đó. Tôi đã lầm? Hay tôi đã có lý?

“Và một cuộc phiêu lưu đã đến với tôi.

Là một nhà ái quốc An Nam, tôi yêu nước với tất cả tâm hồn: người ta lên án tôi phản bội Tổ quốc, vì tôi đồng lõa với xâm lăng và phục vụ xâm lăng!

“Mặt khác, là bạn chân thành của nước Pháp: người ta lại trách tôi khéo léo che đậy một ý thức quốc gia khe khắt và bài Pháp sau một tấm bình phong thân Pháp!

“Và trường hợp của tôi làm ai nấy ngạc nhiên. Người ta cố tìm hiểu giải thích, bằng đủ mọi cách, mà vẫn không thể hiểu.

“Có lẽ một ngày kia người ta sẽ hiểu, khi một thỏa hiệp được chào đời có thể hòa giải tinh thần quốc gia An Nam và chánh sách thuộc địa Pháp.

“Tôi tin sự hòa giải có thể thực hiện được. Nhưng trong khi sự hòa giải đó chưa được thực hiện, cuộc phiêu lưu của tôi không tránh khỏi trở nên bi đát”.

“Có lẽ chăng, đó chẳng phải là cuộc phiêu lưu của riêng tôi. Nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cá nhân, để trở nên của cả một thế hệ, một thời đại” (Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, nguyên tác viết bằng tiếng Pháp, bản dịch của Phạm Trọng Nhân, Nhà xuất bản Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993)

Ông Phạm Quỳnh quả là người nặng lòng với nước.

22-9-2008

Phạm Tôn

Ông quả là người nặng lòng (bài 1)

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:56 chiều

Bài viết được đăng trên Tạp chí Hồn Việt của Hội Nhà Văn Việt Nam số 15 (9-2008)


Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôn trên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.


Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).


Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.


Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).


Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quan trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại chưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu”. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đây biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến đỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ. Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

n Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

o Bằng tiếng Pháp:

§ Palais Inpérial: Hoàng Cung

§ Cabinet Civil de Sa Majesté: Văn phòng dân sự thuộc Hoàng thượng

o Bằng chữ Hán:

§ Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

qua-la-nguoi-nang-long-bai-1

Phụ Lục

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:48 chiều

PHỤ LỤC


VỀ NGÀY VÀ NĂM SINH CỦA PHẠM QUỲNH

Phạm Thị Ngoạn (con gái thứ bốn trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp)

CÓ BA “THUYẾT” VỀ GIẤY KHAI SINH

Trong tạp chí Văn học (Sài Gòn tháng 10 năm 1972, trang 7) Phan Kim Thịnh có kể lại một cuộc tiếp xúc với bà Phạm Thị Hảo, chị ruột tác giả. Theo ông và căn cứ theo giấy thế vì khai sinh thì Phạm Quỳnh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1892. Thực ra trong gia đình tôi có ba thuyết về giấy khai sinh. Sự kiện bất nhất là do trước đây, ngày sinh không được khai ngay, khiến sau đó mọi chi tiết đều căn cứ vào giấy “thế vì khai sinh” thiết lập nhờ các chứng nhân. Có một điều hiển nhiên mà chúng tôi là con, còn nhớ rõ: cha mẹ chúng tôi sinh cùng một năm và năm đó là năm nhâm thìn.

Phạm Trọng Nhân (cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, anh họ bà Phạm Thị Ngoạn, định cư và mất tại Pháp – người dịch cuốn sách của bà Ngoạn Introduction au Nam Phong ra tiếng Việt)

PHẠM QUỲNH SINH VÀO NGÀY 30 THÁNG 1 NĂM 1893

Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Etudes interdisciplinaires sur le Viet Nam Sài Gòn 1974, cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở Triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho Phạm Quỳnh và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30 tháng 1 năm 1893. Theo tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh thì “thuyết” sau này đúng hơn cả, vì cũng là một năm nhâm thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (cũng do Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1892)

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993, trang 60


VÀI Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI VỀ

PHẠM QUỲNH

Phan Thị Minh (tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Chu Trinh, nguyên đại sứ Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Luxembourg)

GHI LẠI TẶNG CHỊ NGOẠN VÀ CHỊ HOÀN

Tôi là Lê Thị Kinh tức là Phan Thị Minh, trước khi đi qua Paris tôi có gặp ông Sơn Tùng là một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử đồng thời là thương binh loại nặng (co rút cả hai tay) đã vui lòng kể cho tôi một số chuyện ông được nghe qua cụ Đào Nhật Vinh (tức Bùi Di, tức Bùi Lâm) ngày xưa đã gần gũi cụ Hồ thời kỳ cụ Hồ còn tên là Tất Thành đi làm trên tàu thủy (cùng đi với nhau từ Argentine đến Terre de feu, được Tất Thành dạy học chữ quốc ngữ). Sau ông này về làm adjudant ở bệnh viện Val de Grâce, hay đến 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường (hai ông nghè ta và tây) và Nguyễn Ái Quốc…

Ông Đào Nhật Vinh kể lại: lúc đó ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương – PT ghi chú) đưa bản án đề nghị “xử tử Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh” thì cụ Hồ đã bác (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Ông Vinh ỷ thế là chỗ thân tình đã chạy vào phản đối: “Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân và những tên đã chống phá cách mạng?”

hinh-15

Cụ Hồ đã trả lời nghiêm nghị: “Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú xồn xồn lên như vậy. Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới, tôi quyết định như vậy là đúng…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra, vào gặp cụ Hồ và báo “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… đó không phải là người xấu!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Tôi đi nghiên cứu ở Archives d’Outre Mer ở Aix-en-Provence có thấy được một số báo cáo của agents của mật thám Pháp báo là đầu tháng 5-1922 có một cuộc gặp của cụ Phan Châu Trinh với cụ Phạm Quỳnh và ông Nguyễn Văn Vĩnh mà nó không ghi được nội dung, chỉ nghe được ông Vĩnh kể lại nhưng chúng không tin và có tin hai người này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – PT ghi chú) có gặp ông Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) tại Paris hoặc ở Tours nhưng nó không ghi được nội dung. (Đó là năm 1922 khi hai người qua dự đấu xảo thuộc địa tại Marseille). Sau đó ông Nguyễn Văn Vĩnh ở lại mấy tháng, được ông Phan Văn Trường đưa đi Mayence, Berlin, Vienne rồi mới trở về Pháp và về Việt Nam.

Paris 20-1-1994

Phan Thị Minh

Bản viết tay của bà Phan Thị Minh tại Paris 20-1-1994 gửi tặng các bà Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn định cư tại Pháp.


Nguyễn Vạn An (nhà báo, đại diện nhóm Tri Tân)

Khi danh vọng về chiều

TÔI ĐÃ GẶP PHẠM QUỲNH Ở BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Sau cuộc biến chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945 (Nhật đảo chính Pháp – PT ghi chú), mọi phương tiện giao thông giữa Trung Nam Bắc hoàn toàn trở ngại vì những cuộc giội bom tàn phá của Đồng Minh. Tôi lặn lội từ Hanoi trở vô Nam, bằng đủ mọi cách: đi thuyền, xe hơi, xe lửa, xe kéo và đi bộ nữa để mãi tới tháng sáu tôi mới ghé được kinh thành Huế giữa lúc ông Trần Trọng Kim đang chấp quyền Thủ tướng Nam Triều, và cũng giữa một ngày kinh thành Huế cũng đang bị bom đạn tơi bời.

Không hề bỏ lỡ một dịp tốt để gặp gỡ các chánh khách lúc đó đang là những người của thời cuộc, tôi vinh dự được gặp hầu hết từ ông Tổng trưởng Nội các đến các ông Bộ trưởng có mặt tại kinh thành, và luôn cả những nhân vật có danh ở Huế.

Bài này tôi nói riêng về cuộc gặp gỡ cụ Phạm Quỳnh

Nói đến nhà đại học giả ấy, lẽ tất nhiên chẳng cần nửa lời giới thiệu, đồng bào toàn quốc ai nấy đều biết.

Sau cuộc “đảo lộn” Nội các Nam Triều, Cụ Phạm Quỳnh về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường là biệt thự riêng của cụ ở An Cựu, sát ngay thủ đô

Nghe nói Cụ “bế môn” không tiếp khách từ hơn một tháng nay. Tôi vẫn không nản lòng, gắng đến cho bằng được, vì tôi tin ở lời giới thiệu của cụ Nguyễn Văn Tố và nhóm Tri Tân mà tôi là đại diện

Sau khi cánh danh thiếp được trao qua cánh cửa sắt, tôi được mời vô phòng khách. Phạm Tiên sinh trịnh trọng trong bộ quốc phục màu đen vui vẻ niềm nở tiếp tôi và không quên nói:

– Thật ra đã hơn một tháng nay, tôi không hề tiếp khách, nhưng coi tấm danh thiếp biết ông là một “đồng nghiệp” (quá vinh dự cho tôi!) ở Bắc mới vào nên thành thực vui vẻ muốn được hầu tiếp để biết tin tức các bạn tôi ở Hanoi và tình hình ở Bắc ra sao…

Đã gần mười năm trời, tôi mới lại được gặp Cụ Phạm lần này là lần thứ hai. Bây giờ coi Cụ mập mạp bệ vệ quan cách hơn xưa nhiều

Trong hương trà sen, câu chuyện trở nên đầm ấm thân mật. Với nét mặt hình như phảng phất một vẻ buồn nhẹ nhàng, ẩn kín một tâm sự riêng, với một giọng nói đều đều, tự nhiên và hấp dẫn như nói chuyện với một người thân của mình, Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà quay ra làm quan

Tôi hỏi: “Tôi muốn biết cảm tưởng của Cụ đối với tân Nội các hiện thời?”

Cụ đáp: “Nội các hiện thời toàn là những người có tài có chí, nhất là Trần đại nhân thật là một người trong sạch liêm khiết mà chúng ta có thể tin cậy được. Trước khi đứng ra thành lập nội các, Cụ Trần cũng có đến thăm tôi và tôi cũng bày tỏ thành thực những quan điểm của tôi cho Cụ biết và những trở lực mà chúng tôi đã phải vượt qua.”

– Chúng tôi muốn biết rồi đây Cụ có hoạt động về chánh trị nữa không, hay trở về với văn học giới?

– Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan (Chúng tôi nhấn mạnh – PT), vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng.

Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.

Ông tính coi, một nhà văn bạch đinh như tôi, vụt một cái nhảy lên cái ghế danh vọng của triều đình thì tránh sao được những đố kị và ngộ nhận. Cảnh ngộ của tôi lúc ra làm quan thật phù hợp với hai câu:

Phấn Vua Lê trang điểm ấy là duyên

Tay Chúa Trịnh cầm quyền âu cũng nợ…

“Hồi tôi ra chấp chánh, ông cố Toàn quyền Pasquier nói với tôi rằng: “Nhà vua là một người hoàn toàn Âu hoá, phải có một người bán tân bán cựu ra làm cái cầu ở giữa để giúp nhà vua.” Mà cái cầu ấy, người ta đã chọn tôi. Nhưng tôi có làm được cái gì đâu! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Hồi sang Pháp, tôi có vận động để bên Chánh phủ Pháp thi hành đúng Hiệp ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam Triều trên thực tế. Tôi đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc địa). Nhưng việc đó cũng không thành.

Suốt một đời, tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Hiện thời tôi cần phải nghỉ tĩnh dưỡng trong ít lâu rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học. Tôi tin tưởng rằng Quốc văn của ta sau này sẽ tiến triển mạnh mẽ lắm. Một phần nó được hấp thụ nền cổ học Trung Hoa, một phần khác nó được ảnh hưởng rất mạnh trong nền học mới.

“…Tương lai nước ta sau này là do ở chữ Quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này…”

Trong câu chuyện vui vẻ, hết chuyện này qua chuyện khác, với một giọng đều đều và hùng biện, ông không hề đợi tôi hỏi mà nói thao thao không ngừng.

Phạm tiên sinh vẫn tiếp:

Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái”rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa

“Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hoá mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp và trọng dụng. Phải tạo cho họ có trường sở để thi thố phát triển tài năng của mình. Đôn đốc họ bất cứ trong trường hợp nào họ cũng phải đặt mình trong cái nghĩa lớn. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Trong nền văn hoá chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nẩy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng đã chẳng ra làm việc để tìm ra được một Tổ quốc mà phụng sự là gì!

“Tôi còn nhớ trong một bức thư gửi cho ông Paul Reynaud (hồi đó là Bộ trưởng Thuộc địa) có đoạn này:

“…Chúng tôi đang đi tìm Tổ quốc mà không thấy Tổ quốc ở đâu. Thưa Ngài Bộ trưởng, Tổ quốc ấy đối với chúng tôi nhất định không phải là nước Pháp. Lời nói đó, xin ngài đừng mếch lòng. Nó không hề có cái ý bất lương gì cả. Chính nó là tiêu biểu của sự thực đích xác. Người Việt Nam không thể coi nước Pháp làm Tổ quốc được, vì trước đã có Tổ quốc của mình rồi, mà cái Tổ quốc đó nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển, cho chúng tôi cũng được làm cái đời dân của một Quốc gia xứng đáng…”

Cụ Phạm vẫn tiếp:

– Thật vậy, trong trường hợp nào chúng ta cũng phải đặt Quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Câu chuyện Cụ Phạm càng nói càng thấy nồng nhiệt. Có nhiều đoạn mà chúng tôi thấy không cần và cũng không tiện viết ra đây. Nhân bàn về văn chương Việt Nam và nói đến cuốn Kiều, Cụ Phạm Quỳnh có nói một câu lý thú rằng: Truyện Kiều là một thánh thơ Quốc âm. Truyện Kiều còn, nước ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Trước khi chia tay, Cụ Phạm có kí tên tặng tôi một bức ảnh làm kỷ niệm mà tôi còn trang trọng giữ làm một lưu vật chót của một đại văn hào đã có công rất nhiều trong công cuộc xây dựng nền tảng văn học Việt Nam

Đăt mình hẳn ra ngoài lề chánh trị và chánh kiến, viết bài này tôi chỉ làm cái việc của một cây viết hoàn toàn khách quan với mục đích “Ghi chép” không hơn không kém

Bài đăng ở báo Tin Điển ngày 23-3-1952


Cụ Nguyễn Văn Bồng (kỹ sư, cựu cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam dưới chế độ cũ)

KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT MINH GIẾT CỤ PHẠM QUỲNH

Tháng 7-1993, con trai Phạm Quỳnh đến Đà Lạt, có ghé thăm cụ Nguyễn Văn Bồng là người thời trẻ từng nhiều năm giúp việc Phạm Quỳnh, suốt đời coi Phạm Quỳnh là “ông thầy”, là “ân nhân” của mình. Trong ngôi nhà số 2 đường Nguyễn Công Trứ, ấp Hà Đông, cụ Bồng đã chín mươi tuổi sôi nổi khẳng định: “Không phải là Việt Minh giết Cụ Phạm Quỳnh, mà chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đã tìm được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ “Năm cụ khi không rớt cái ình, / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa xin dâng lại…” Nguyễn Hữu Bài cùng bốn thượng thư bị bãi chức sau khi Cụ nhà vào Triều nên họ cho là Cụ bợ tây về cưỡi cổ triều đình, đuổi mấy thượng thư già về như đuổi lợn. Sau con cháu cụ Bài tham gia Việt Minh, nhân có cơ hội, khử Cụ luôn.

hinh-22

Tôi biết là do nhà tôi có ơn với cụ Bài. Ông nội tôi là em ruột Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp, đã lấy Nguyễn Hữu Bài từ ký lục toà khâm về làm thông ngôn cho vua Thành Thái, từ đấy vào triều đình. Cho nên gia đình cụ Bài coi tôi như con cháu trong nhà. Vì thế, sau Cách mạng tháng 8, tôi từ Đà Lạt về Huế, gặp nhau, nhân nói chuyện về Cụ nhà, tôi mới nghe được con cháu cụ Bài khoe với nhau là chính họ đã nhân cơ hội lập kế giết chết Cụ nhàF[1]F. Cụ Bồng chính là người đã đưa dân Bắc vào Đà Lạt trồng rau, lập nên ấp Hà Đông, là một nhân vật nổi tiếng ở Đà Lạt. Cụ từng tốt nghiệp ban canh nông đại học Paris và là cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam hồi chế độ cũ


Cụ Vương Hồng Sển (nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá)

NGƯỜI ĐÁNG LÀM THẦY: PHẠM QUỲNH

hinh-32

Bút tích nhà văn hoá Vương Hồng Sển đề tặng sách cho Phạm Tuyên ngày 9-12-1993
CON CHÁU PHẠM QUỲNH VIẾT VỀ ÔNG

Phạm Trọng Nhân (cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, định cư và mất tại Pháp)

MỘT CHÚT CẢM TƯỞNG

của người dịch

Lần đầu tiên – mà cũng là lần chót – tôi gặp nhà văn Phạm Quỳnh khoảng cuối năm 1942

Tôi cùng phái đoàn sinh viên Trường Đại học Hà Nội đáp hoả xa xuyên Đông Dương vào Sài Gòn viếng thăm Hội Chợ. Thầy tôi căn dặn:

Lượt về, nếu có thể được, con ghé Huế mấy ngày thăm Chú Thím. Chú Quỳnh đối với Thầy không phải chỉ có họ mà còn là tri âm, văn hữu…

Nhưng trước đó… tôi cũng thường được gặp Chú tôi mỗi khi nhà có giỗ. Hoặc đôi khi khác nhân ngày nghỉ lễ, khiển muộn tiêu sầu, Chú tôi ghé thăm Ông Nội tôi và Thầy tôi. Có những lần, một bữa cơm thanh đạm được cao hứng dọn ra. Các người lớn say sưa bàn luận về những vấn đề hay danh từ cao xa nào đó, mà tôi mới mười, mười hai tuổi còn bé nên không thể hiểu…Và thời gian lặng lẽ trôi…Sau này Chú vô Huế. Nhưng mỗi khi ra Hà Nội, Chú vẫn thường đi lại gặp gỡ họ hàng, nhất là Ông Nội tôi, vì ngành tôi là ngành trưởng. Những cuộc viếng thăm đi lại như vậy không hoàn toàn vì lí do xã giao hình thức. Tuy còn nhỏ dại, tôi vẫn có thể ức đoán được như vậy. Vì mặc dầu thời gian ngắn ngủi, mà Chú tôi vẫn có dịp để cùng với Ông Nội tôi và Thầy tôi trao đổi ý kiến về nhân sinh thế sự, và đôi khi khác, còn xướng hoạ văn thơ. Những tài liệu hay bút tích này, rất tiếc vì chiến tranh nên đã thất lạc hết.

Tôi trở lại cuộc gặp gỡ tại Huế, cuối năm 1942

Mặc dầu cử chỉ hồn nhiên, ngôn từ cởi mở nhưng có lúc Chú lại bỗng dưng trầm lặng suy tư, như dòng sông Hương lờ lững chảy. Hình như Chú suy nghĩ nhiều lắm thì phải. Về văn chương, về chánh trị, hay về cả văn chương và chánh trị?

Một buổi đêm đã khuya. Trời không lạnh. Nơi thư phòng tại biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, thuộc làng An Cựu, gần kinh thành Huế, tôi ngồi ghế kề gần bàn giấy. Ông Chú Phạm Quỳnh đi lại, đầu đội mũ ni, mình bận áo dài đen, hai bàn tay thu trong túi áo, vừa đi vừa kể chuyện. Tôi hỏi Chú lạnh lắm sao? Chú sờ vào cái tai mũ, điều chỉnh lại đôi mục kỉnh, rồi cười mỉm, nói rất nhẹ nhàng:

Mũ ni che tai… cái mũ này có đượm một ý nghĩa, tượng trưng một triết lý…

Chú còn bình luận thêm, thoạt nghe tưởng như câu chuyện tuỳ hứng không liên tục:

– Bất cứ làm việc gì trên đời, cũng phải giữ cho trọn vẹn cái cá tính và phẩm cách của mình…Chỉ có đáng trọng mới được trọng (Pour être respecté, il faut être respectable…)

Đêm đó, tôi được nói chuyện với nhà văn Phạm Quỳnh. Hay đúng ra tôi được nghe nhà văn Phạm Quỳnh nói. Rất nhiều. Rất lâu. Rất dài. Tôi tuy còn là sinh viên, chưa ra trường, chưa vào đời, nhưng đã bắt đầu phần nào biết thưởng thức văn thơ, và phần nào bắt đầu thắc mắc về thế sự

Cũng khoảng cuối năm 1942, tại Huế, không hiểu nhân câu chuyện gì, nhà văn Phạm Quỳnh đã tâm sự với tôi:

Úi chào! Thượng thư của một quốc gia bị trị, rồi ra có nghĩa lý gì…Ví như có để lại chút gì sau này, ấy chính là trong lĩnh vực văn chương…

Nếu như vậy, thì ngày nay, nhà văn Phạm Quỳnh phần nào đã có thể ngậm cười nơi chín suối…

Tôi nhận lãnh công tác (dịch cuốn Introduction au Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn, em họ – PT ghi chú) với rất nhiều cố gắng, nhưng đồng thời phải nói thêm: với rất nhiều liều lĩnh. Có nhiều vị giàu khả năng uy tín hơn tôi, có thể làm công việc này nhanh hơn, hay hơn…Tiềm tàng và xuất phát từ nơi tôi chỉ có một động lực khả dĩ giải thích lòng sốt sắng và chứng minh sự liều lĩnh đó.

Tôi không dám dịch cuốn sách nhân danh là một học giả. Vốn dĩ mến phục nhà văn Phạm Quỳnh, tôi lại là người trong họ, do đó có nhiều kỉ niệm chung. Đối với tôi Nam Phong chẳng khác nào một ngôi đền cổ. Ngôi đền có lẽ không nguy nga lắm, nhưng là ngôi đền nhà, một ngôi đền quen thuộc và cũng được nhiều người biết đến. Tôi đến ngôi đền, hay đúng ra trở lại ngôi đền, như cùng với một số người thân đi hành hương vậy. Tôi sắm sửa hành trang và lễ vật với rất nhiều khiêm cung và thành kính…

Tâm hồn tôi như thoát tục. Và tôi trân trọng gửi những trang này đến quý liệt vị xa gần…

Sài Gòn ngày 17 tháng 12 năm 1973

Sao chép lại tại Paris chủ nhật 12 tháng 5, 1991

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993


Phạm Thị Ngoạn (con gái thứ tư trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp)

CHỦ NHIỆM KIÊM CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH

Gia đình…từ biệt làng Lương Ngọc để lên Hà Nội lập nghiệp. Và Phạm Quỳnh đã ra đời, khôn lớn và học hành tại Hà Nội.

Suốt đời nhà văn này vẫn có tính dè dặt và có thể nói là rất kín đáo, tự ý lựa chọn một nếp sống thu mình trong khuôn khổ gia đình. Ngay từ hồi tuổi trẻ người đã sớm tạo nên một loại “tháp ngà” để sống riêng biệt, sự kiện trái ngược đối với một người mà sau này lịch sử sẽ xô đẩy vào đời sống chánh trị, có liên qua đến vận mệnh quốc gia, đảm nhiệm những chức vụ trong các hội đồng và sau hết trở nên Thượng thư Triều đình Huế

Mâu thuẫn này – nếu đây quả là mâu thuẫn – được giảng giải bằng luật di kế và gánh nặng của trách nhiệm gia đình. Nhưng tuy không mong đợi mà Phạm Quỳnh đã được đền bù thoả đáng, vì chính trong khung cảnh gia đình êm ấm mà ông được mãn nguyện về tình cảm

Ngay từ buổi thiếu thời, ông đã phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt. Pham Quỳnh gần như không có mẹ, vì người mất đi khi con mới được chín tháng. Sau đó, khi ông chín tuổi, lại đến cha từ trần. Nhờ bà nội mà Phạm Quỳnh côi cút được biết thế nào là tình thương trong gia đình, cùng là cắp sách theo đòi sự học.

Dù nói hay viết, mà nhất là viết, Phạm Quỳnh rất dè dặt bộc lộ tâm tình. Tuy nhiên, đôi khi ông cũng đã nhắc tới một số kỉ niệm buổi ấu thời, thật hồn nhiên giản dị.

Trong cuốn Pháp du hành trình nhật ký, ông tâm sự như sau:

“Hỏi đến lịch sử của riêng mình, mình cũng lấy lòng thành thực mà đáp; kể những lúc lênh đênh cơ khổ buổi thiếu thời, nhờ bà nội nuôi đi học. Từ khi khôn lớn biết nghĩ tới giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng là đối với nhà làm thế nào nối được nghiệp của ông cha, đáp được cái nền “sĩ phong” cho xứng đáng (…),đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong quốc vận được sáng sủa (…) không dám đem cái chí nguyện mà hi sinh cho sự giàu sang…”

Về đời học sinh và những thành tích đầu tiên trên đường học vấn cũng như về cuộc đời công chức, Pháp du hành trình nhật ký đã cho ta biết

“Bấy giờ mới tốt nghiệp ở trường Bảo Hộ ra (…) mình đỗ đầu đang khét tiếng là “Cậu thủ khoa tây”! Thậm chí có người nói: “Lương Ngọc có đất thật, thi chữ tây mà cũng đỗ thủ khoa!” (…) Hồi bấy giờ mới đặt ra thi Diplôme trong dân gian còn lấy làm trọng lắm, trọng hơn là thi cao đẳng bấy giờ…”

Những lời tâm sự đó rất ít khi được kí thác trong các tác phẩm. Phạm Quỳnh còn cho ta biết ông đã học chữ nho, kiên trì và lao khổ tới mực nào:

“Mình bấy giờ còn nhỏ dại quá (…) lại thật thà hiền lành, đến nỗi anh em đặt tên là “Anh lý nhà quê!” Thủ khoa tây mà chữ nho chỉ biết viết được hai chữ tên, còn thì mịt mù cả. Kỳ thi có một bài Hán tự dịch ra chữ tây, dịch giỏi đến nỗi chấm được một nửa điểm (1/2)! Đáng thì phải 0, hỏng “toẹt” không được đỗ vì dịch sai cả, làm hẳn một bài chữ tây khác không giống gì nguyên văn chữ Hán cả (…) Sau ngày vào làm việc ở Bác Cổ, gia công học Hán tự trong mấy năm”

Khi trở nên Thượng thư Bộ Học, ông đã tuyên bố như sau, nhân một cuộc phỏng vấn:

“Nghề này vốn là tổ nghiệp của nhà tôi; chính tôi cũng đã từng dạy học ở trường Đại học Hà Nội. Thân phụ tôi, các cụ tôi đời trước đều là nhà nho dạy học cả. Cho nên nay tôi ra chủ trương Bộ Học chẳng qua cũng chỉ là nối lại nghiệp nhà mấy mươi đời làm thầy dạy học” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong, số 189)

Mới hai mươi lăm tuổi, ông đã có chín năm thâm niên trong ngạch Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ

Kể từ năm 1914, theo đề nghị của Phủ Toàn quyền, ông phụ trách thêm một công tác mới: cùng với Nguyễn Bá Trác, phiên dịch cuốn Lịch sử chiến tranh của Hanotaux đã xuất bản tại Pháp, nhằm hướng về các độc giả Trung Hoa. Thật là mâu thuẫn của số mệnh nếu chúng ta nhớ lại lời tự thú của Phạm Quỳnh là cho đến năm 1908, ông rất “dốt” chữ nho.

Ông đã trở nên một nhà báo “có hạng”, một văn sĩ thời danh, nhờ ở những bài đăng trong Đông Dương tạp chí từ năm 1913

Trông bề ngoài, Phạm Quỳnh có vẻ mặt cương nghị. Cận thị tử nhỏ, ông không hề rời cặp kính trắng đã trở nên mật thiết. Trước khi có dịp qua Pháp, cho đến năm 1922, ông vẫn trung thành với cái búi tó củ hành giấu trong vành khăn nhiễu. Ông tồn cổ ngay cả với chi tiết nhỏ nhặt này cũng như về y phục: một chiếc áo đen khuy cài nghiêm chỉnh, một chiếc quần trắng ủi thật thẳng. Lưng hơi còng (lưng “tôm”) toàn thể cho ta một cảm tưởng diêm dúa, nghiêm trang, có thể nói là hơi lãnh đạm. Ông cao một thước bảy ba, vai rộng. Nhà thơ Mai Nhạc đã mô tả như sau:

Vai không rộng lắm, sức không dài

Đem tấm lòng văn gánh việc đời

Gót đạp đất,

Đầu đội trời.

Giương mắt mà coi,

Đẹp là ai?

Xấu là ai?

Câu khôn câu dại chứa đầy tai…

(“Đề tấm ảnh ông P.Q” Nam Phong số 100, trang 183)

Và gần đây nữa, một tấm hình được thực hiện nhờ nét bút của kí giả Vân Bình Phạm Văn Bính, trong tuần báo Đời:

“Cụ Phạm Quỳnh là một học giả hào hoa phong nhã. Cụ người dong dỏng cao, nước da trắng xanh, lúc nào cũng mang một cặp kính trắng, đạo mạo như một nhà giáo sư triết học.Cụ ăn mặc chải chuốt lịch sự; mỗi câu chuyện cụ nói ra đều đượm vẻ văn hoa bóng bảy. Nhiều người gặp cụ lần đầu tưởng cụ kiêu ngạo khinh người. Nhưng khi gần cụ lại thấy cụ dễ dãi nói chuỵên có duyên, trung thực và chân thành.

“Khi cụ còn là một chủ báo, tôi thấy hằng ngày cụ đi bộ từ số 5 Hàng Da ra bờ hồ Hoàn Kiếm, làm việc tại trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Cụ đi làm giản dị như một viên thư kí đi làm ở một công sở, đều đặn, đúng giờ, chăm chỉ.

“Khi cụ được vua Bảo Đại triệu vào Huế làm Ngự tiền văn phòng và Thượng thư Bộ Giáo dục, cụ cũng không đổi phương làm việc. Vẫn cần mẫn siêng năng, vẫn chu đáo như khi còn làm chủ báo” (Vân Bình Phạm Văn Bính: Hai quái kiệt của làng báo Bắc Việt, báo Đời số 33, ngày 21-5-1970, Sài Gòn)

Đào Hùng nhà phóng viên Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn năm 1931, ra Bắc phỏng vấn chủ bút Nam Phong cũng cho ta biết thêm một vài nét về hình dung và tính nết Phạm Quỳnh:

“Phạm tiên sinh…dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ gìn giữ, tỏ ra một người có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Đào Hùng: Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, 18-6-1931)

Người ta đã nói đã viết rằng Phạm Quỳnh “kín đáo”, hay có vẻ mặt “kín đáo”. Ngay trong Nam Phong số 168, phần phụ trương Pháp văn, độc giả có thể thưởng thức đoạn văn sau đây trong bài tường thuật về một phiên họp của Đại Hội Đồng Kinh Tế và Tài Chính Đông Dương. Tác giả là một nhà báo Pháp:

“Phạm Quỳnh mà văn hoá và tài năng làm vinh dự cho giống nòi đã là một chiến lược gia cho buổi tranh luận. Theo dõi phản ứng trong hội nghị một cách thiệt tài tình, ông làm chủ buổi hội, điều khiển buổi họp mà lại cho ta có cảm tưởng như ông chỉ là người ngoại cuộc. Kỹ thuật của ông tế nhị cũng như vẻ mặt ông kín đáo, đã tỏ ra rất hiệu nghiệm” (La question des alcools au Grand Conseil, Revue “Indochine”, Sài Gòn, Nam Phong số 168, tháng giêng năm 1932, phụ trương Pháp văn trang 14)

Thực ra, vỗn dĩ và nhất là từ năm 1917, học giả Phạm Quỳnh đã kiên trì nuôi dưỡng đức tính trầm lặng đó. Ông là một thanh niên Khổng học, dòng dõi nho phong, ông quan niệm có bổn phận trung thành với tập quán cổ truyền. Nhưng một khi đã lên tiếng, đã chấp nhận đối thoại, ông trở nên hùng biện, qua sức hấp dẫn của đề tài, qua giọng nói cao thấp, nhịp câu nhanh chậm, lại qua lập luận bắt nguồn từ cả một tấm lòng giàu nhiệt thành, đầy xúc cảm và say sưa biết chừng nào đối với một vài loại sự kiện hay tư tưởng. Bằng chứng là đoạn văn sau đây của kí giả René Lays:

“Ngài tiếp đón chúng tôi một cách rất nhã nhặn. Chúng tôi bèn đánh bạo hỏi ngài có muốn tuyên bố gì cho các độc giả của báo Impartial không. Quan Thượng thư Phạm Quỳnh vốn tính ôn hoà nho nhã, liền bảo chúng tôi rằng xin tuỳ ý phỏng vấn, ngài sẽ tường tận trả lời (…) Quan Thượng thư tủm tỉm cười, đáp lại rằng: “Tôi cám ơn ông đã có bụng yêu mừng như vậy. Tôi lấy làm cảm động, vì là lời mừng của một bạn đồng nghiệp cũ, vì tôi đây cũng đã từng viết trong các báo. Ngày nay, vì địa vị, vì chức vụ, không thể viết được nữa, nhưng nghề làm báo thực là một nghề có hứng thú làm ai đã làm qua, vẫn giữ như vết in trong tâm não, không bao giờ phai được…” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong số 189, tháng 8 năm 1933)

Phạm Quỳnh không phải là con người vô cảm giác, nhưng ông đã khéo chế ngự cảm giác đó vào khuôn phép. Và lẽ dĩ nhiên khía cạnh này của cá tính – nghĩa là ý chí cương quyết chế ngự cảm giác – đã ảnh hưởng rất nhiều tới quan niệm của ông trên lãnh vực văn chương và xã hội.

Khi còn thanh niên, ông đã có dịp bàn về “ý chí kỉ luật” này trong bài “Làm văn”. Và ông kể lại mặc dầu say sưa trước sức cám dỗ của Pháp văn, ông đã cương quyết từ bỏ tham vọng phù phiếm Pháp văn để hoàn toàn quay về với tiếng mẹ đẻ.

“Vào khoảng mười năm về trước mà xướng ra làm văn quốc ngữ tưởng cũng là liều mà bạo thật…Thầy không có, tuổi còn trẻ, học còn ít, thế mà dám hăm hở làm văn, phỏng có liều không? Nhưng liều mà cũng bạo, bạo là thế này: một bên các thầy tây học lãnh đạm, một bên các cụ khủng khỉnh, thế mà dám không nho, không tây, giở nghề quốc ngữ lơ láo một mình, chẳng ai thiết đến, tưởng không bạo cũng là gan. Nhưng gan nhất là tự mình miễn cưỡng với mình. Tôi từ thuở nhỏ ham mê chữ tây lắm (…) Nhưng đương ham mê như thế mà phấn nhiên miễn cưỡng lại được, chợt tỉnh lại mà tự nghĩ rằng: “Làm thằng An Nam mà không tập làm văn An Nam, lại học văn tây, cho dẫu hay tám vạn cũng không bằng người ta được, mà phí công vô ích (…) Tôi cũng ví như người nghiện văn tây mà tự mình bắt buộc (…) là chỉ vì một chút khốn tâm, khốn tâm về văn quốc ngữ, chỉ vì một chút hi vọng, hi vọng có một ngày người mình cũng làm văn được như người” (Làm văn – Nam Phong số 67, tháng 1 năm 1923, trang 19)

Trong thời gian làm Thượng thư, Phạm Quỳnh thường có dịp tiếp phóng viên các báo đàn bà (tỉ dụ: tuần báo Phụ nữ thời đàm) muốn phỏng vấn về cuộc đời tình cảm hay các cuộc “phiêu lưu” của ông, Câu trả lời của Phạm Quỳnh thời đó: “Đời tình cảm của tôi là một con số không” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) đã làm nhiều người rất lấy làm lạ, trong khi ông chỉ muốn ngụ ý ông không có tình cảm nào khác hơn là gia đình (Lẽ dĩ nhiên câu trả lời đó không có ý nghĩa là Phạm Quỳnh vô tình hay chủ trương không có cảm xúc… Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xin kể vài giai thoại sau đây:

“Phạm Quỳnh đôi khi cùng với bạn bè, cũng có lúc tới các ca lâu tửu điếm thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán cho phép, người ta hỏi ông có chấm một cô đào nào không. Ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy nên không bị cám dỗ”. Tuy vậy, ông rất là ưa ca và nhạc. Khi đã làm Thượng thư ở Huế, ông hân hoan mỗi khi tiếp đón các nhân vật hay ký giả từ Hà Nội, Sài Gòn hay cả từ Paris tới, được dịp tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ rất bình dân, ngồi cùng chiếu với các đào nương hay nhạc công chuyên nghiệp. Đó là những buổi họp mặt đặc biệt, không thể lấy gì mà so sánh hay đánh giá. Nhưng trong đời sống thường ngày, Phạm Quỳnh giản dị đến mức có thể gọi là nôm na, không đòi hỏi gì hơn là được ru ngủ bằng một chiếc máy hát với mấy cái đĩa ca nhạc quen thuộc. Khi còn ở Hà Nội, thị hiếu chính của ông là sưu tầm những đồ sứ Giang Tây cổ. Vào Huế, ông khám phá ra vẻ đẹp nên thơ của các cổ y Trung Quốc, làm bằng lụa Tàu hay gấm dệt. Ông mua rồi đưa may thành áo dài xếp trong tủ.

“Ông không có sức khoẻ; do đó phải dùng thuốc luôn và kiêng khem thận trọng. Ông đau bao tử nên chỉ ăn được cơm nếp; quanh năm và cứ mỗi hai giờ phải uống hai thìa thuốc than chiêu bằng nước trà; ông không uống rượu vang, rượu mạnh, mà cũng không hút thuốc lá. Trái lại, ông nghiện trà Tàu, và khi có dịp, thú vui của ông là từ tốn nhắp chén nước thơm để ngâm nga mấy câu Đường thi. Ông không thích chơi bài, đánh bạc, tuy nhiên, sau cùng ở Huế, ông cũng học đánh “mà chược”. Trước hết là để khỏi mang tiếng lập dị khi vào yết kiến đức Từ Cung và sau nữa là để cùng với gia đình tiêu khiển trong mùa mưa. Tất cả lòng thương mến ông đã dành cho gia đình. Tôi rất cảm động khi nhớ lại những buổi họp mặt gia đình, các con quây quần xung quanh cha, nhân dịp nhà có giỗ và cha tôi ôn lại tiểu sử các bậc tiền nhân đã qua đời, hay nhắc lại một vài kỉ niệm liên quan đến đại gia đình”). Trách nhiệm gia đình đó ngày thêm đè nặng lên vai ông, người con một, mồ côi từ nhỏ, đã vậy còn lập gia đình sớm và đông con. Ông không thể hi sinh, xao lãng con, vì vậy không thể làm khác những gì ông đã làm. Nói tóm lại, ông chỉ có thể chủ trương cải cách, mà không thể là một nhà cách mạng…

Ngay từ năm 1917, lúc Nam Phong mới chào đời, niềm tin của ông đã rõ rệt. Ông tin tưởng nhận lãnh một sứ mệnh. Tất cả niềm tin mãnh liệt đó là di sản ông được thừa hưởng là do bản tính, có thể nói là do bối cảnh trong đó ông đã sống đời côi cút cô đơn. Về một vài khía cạnh nào đó, “cô đơn” dường như là một trong số các yếu tố chánh mà ta phải lưu ý khi phân tích thái độ, hành động và toàn thể sanh hoạt của ông, thuần nhất và bất khả phân, cho đến khi ông vĩnh biệt cõi đời. Ông không muốn cô đơn. Ông không tìm cô đơn nhưng định mệnh đã muốn ông phải là một thanh niên cô đơn, để sau này trở nên một chủ gia đình cô đơn mặc dầu sống giữa các người thân mến. Ông sẽ tiếp tục đời sống cô đơn đó, nhưng nhờ văn chương mà gặp bạn tri âm.

Và như vậy, Nam Phong ra đời. Đối với Phạm Quỳnh, tạp chí trở thành một phương tiện khả dĩ giải thoát ông khỏi vòng vây của cô đơn. Cũng như lịch sử cổ kim đã từng chứng tỏ khía cạnh này của nghề làm báo. Giữa các độc giả và Phạm Quỳnh, một sợi dây thường xuyên cảm thông được tạo nên dưới hình thức một cuộc đối thoại (kể từ số 26 tháng 4 năm 1919, Nam Phong đã đặt ra mục “Thư cho người bạn”). Ông nhận thấy mỗi cuộc bút chiến đã dạy cho ông biết phải làm thế nào để truyền bá tư tưởng và truyền cảm tâm tư.

Có thể nói Nam Phong chẳng khác nào một trường học, quy tụ một số môn sinh. Trong môn phái đó, một tiếng nói Việt Nam tiến bộ được rèn luyện, một nền văn hóa canh tân được chủ trương. Ít hay nhiều, một biên tập viên là một giáo sư, mỗi độc giả là một học sinh hay phụ giáo, có nhiệm vụ truyền bá sau khi đã thấm nhuần “lời đẹp”… “Lời đẹp” đó phù hợp với tập quán chỉ chấp nhận những bài viết nhằm mục đích giáo huấn hay đạo lý. Chúng ta cần chú ý đến tánh cách đặc biệt này của văn chương Việt Nam và Trung Hoa.

Trọn đời Phạm Quỳnh không hề sáng tác một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết. Mặc dù tự học về chữ nho, ông lại rất khắt khe trong việc áp dụng những khuôn phép cổ truyền, hơn các vị khoa bảng xuất thân từ các kỳ thi hương thi hội. Ông không chấp thuận “nghệ thuật vì du hí”, mà cũng không tán thành “nghệ thuật vì nghệ thuật”. Phần khác do văn hoá Pháp đào tạo, ông không chủ trương một nền văn chương sáo ngữ, chứa đầy những dẫn văn hay hình bóng mượn trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam. Tác luyện một nền văn hóa mới thuần tuý Việt Nam, rèn luyện sao cho tiếng nói của đất nước có đủ khả năng diễn tả những tư tưởng mới và những kiến thức mới, đó là tôn chỉ giáo huấn mà Phạm Quỳnh đã lựa chọn và thực hành, nhờ tạp chí Nam Phong. Ông sẽ rất thẳng tay đối với tất cả những người mà ông cho là “tài tử”, làm phí thì giờ của độc giả bằng những sáng tác giải trí, kể cả giải trí bằng cách tự thoát ly trong phạm vi nghệ thuật thuần tuý.

Vì bất đồng ý kiến về điểm này, một số văn hữu cộng tác buổi đầu đã ra đi; các vị này, trong số có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và sau này có Trương Dân và Mân Châu, chủ trương đứng bên lề truyền thống Khổng học để có thể tạo nên một nếp sống phóng khoáng

Và như vậy, Phạm Quỳnh thản nhiên tiếp tục tiến hành dồn hết tâm trí vào công cuộc hướng dẫn văn chương Việt Nam tới các đề tài mà ông cho là nghiêm chỉnh. Ông sáng suốt viết những dòng sau đây trích trong Nam Phong số Tết năm 1918 (năm Mậu Ngọ) là số Tết duy nhất đặc biệt phát hành nhân dịp Tết và cũng là ông tổ của các số Tết của các báo chí sau này (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân. Trong thế giới dễ không có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui; vui ngày Tết là cái vui dễ truyền nhiễm vậy

“Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến lối văn tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế; đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự “thực” hơn sự “phiếm”. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ như hội Tân Xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gảy khúc đàn sai nhịp vậy

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cản chung của xã hội trong buổi đầu xuân năm mới, giời ấm khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại không muốn trái với chữ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này (…)

“Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm ái, truyền vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết đươc…” (số Tết báo Nam Phong, Tết Mậu Ngọ 1918)

Đó là những nét chính yếu về Phạm Quỳnh trong những năm đầu của tạp chí Nam Phong. Lẽ dĩ nhiên trong tương lai, thời gian và các biến cố sẽ đem lại những nét bổ túc không kém quan trọng

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993


Phạm Thị Hoàn (con gái thứ năm trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư tại Pháp)

THẦY TÔI

Từ ngày lọt lòng đến năm lên bốn, tôi đã sống những ngày tháng êm lặng trong một khung cảnh gia đình yên hàn vô sự, bên Thầy Me và các anh các chị. Yên hàn vô sự đến mức quãng đời đó không ghi lại trong tâm khảm tôi một chút kỉ niệm nào!

Năm tôi lên năm, một sự kiện quan trọng đã thay đổi dòng đời của cả gia đình. Thầy tôi vào Huế làm việc và toàn thể gia đình đều rời Hà Nội đi theo.

Từ đó, cuốn “băng” kí ức trong tôi đã lần lượt ghi dấu những chặng đường nặng vết kỉ niệm, từ thời thơ ấu đến ngày nay.

Kỉ niệm đầu tiên là ngày nhập học trường Đồng Khánh, sau một tháng đến Huế. Ngày đó, theo trí nhớ của tôi, chắc chắn không phải là ngày khai trường, vì các “trò” trong lớp tôi, tức là lớp năm, toàn là một đám “ma cũ” cả. Họ gọi nhau “Tụi bây ơi, trò mới tụi bây ạ” rồi xúm quanh tôi, kẻ thì yên lặng “chiêm ngưỡng”, kẻ thì gợi chuyện, líu la líu lô giọng Huế tôi không hiểu kịp: “Ra chơi ù mọi với tụi tui không?” “Có biết chơi tàu bay không?” “Hay là chơi thẻ?”. Từng đó trò chơi các bạn mới đề nghị, tôi đều lắc đầu, vì không hiểu gì cả! Tôi nghe bàn tán: “Ngó bộ ngờ ngơ dữ!”

Trống đánh tan học buổi sáng, ai nấy đều sắp hàng lấy nón ra về. Thấy tôi vẫn “ngờ ngơ”, vài cô bé thương hại đến hỏi: “Rứa ba mạ trò có tới đón trò không?”. Tôi cũng chả hiểu gì, và vẫn “ngờ ngơ”, nước mắt chảy ròng, tìm chả thấy bóng dáng hai chị đâu để chạy theo hầu thoát cảnh hỏi cung này. Một cô bé tiến lại gần, giọng dịu dàng: “Rứa trò có hiểu “ba mạ” là chi không?”. Tôi lắc đầu, thì cô ta thở dài, tự nói “Hèn chi!” Và quay lại tôi giải nghĩa: “Ba mạ là cha mẹ mình. Rứa trò kêu ba mạ trò là chi?”. “Là Thầy Me”. Thế là cả bọn rũ ra cười và tôi lại được nghe giải thích: “Thầy là thầy giáo dạy học mình, đâu có sanh ra mình mà mình kêu thế cha mình được…”.Vừa lúc đó hai chị tôi ở lớp nhất và lớp nhì ra, đến đón tôi cùng về. Thấy tôi không được vui, hai chị yên chí là lần đầu tiên đi học trường, hẳn là nhớ nhà, nhưng đâu có hiểu được nông nỗi khổ tâm của tôi.

Trong đầu tôi cứ lẩn vẩn câu hỏi: “Tại sao tôi lại gọi cha tôi bằng Thầy?”. Bạn nói: “Thầy dạy mình chứ không sanh ra mình”, thật là chí lí. Thêm đó, tôi nhận thấy gọi “cha mẹ” bằng “ba mạ” nghe dễ thương hơn, thấy có sự thân mật gần gũi hơn, thấy “tân tiến” hơn chữ “Thầy”, nghe nghiêm khắc xa vời quá.

Về đến nhà, tôi chạy tìm ngay bác tài Mai để kể nỗi thắc mắc của tôi. Bác tài Mai là người vẫn đưa đón Thầy tôi đi làm và là người bạn độc nhất của tôi những ngày mới bước chân đến nhà Hậu Bổ ở Huế. Bác Mai ôm tôi vào lòng, vừa vuốt tóc tôi vừa nói: “Đừng có lo, có phải ai cũng gọi “cha” là “ba” mô, “ba” là bắt chước Tây đó; tui đây, tui kêu cha bằng “chú”, vợ tui kêu cha bằng “dượng””. Từ ngày đó tôi yên tâm, vì gọi cha bằng chú hay bằng dượng thì cũng “tức cười” như gọi cha bằng Thầy vậy.

Nhưng lớn lên, tôi càng nghiệm thấy không từ nào có thể đẹp và ý nghĩa bằng chữ “Thầy” khi áp dụng cho cha tôi. Chữ “Thầy” là hình ảnh sống động của cha tôi với các tính từ: chững chạc, mực thước, ôn hoà, ân cần, đôn hậu,…Và từ ngày khôn lớn, tôi đã suy tôn cha tôi qua chữ “Thầy” đáng kính và đáng mến đó.

Thầy tôi thờ chủ nghĩa “Trung Dung” nên giáo huấn con cái trong một khuôn khổ không nghiêm khắc như các cụ thời đó. Chứng cớ là tôi đã ra ngoài khuôn khổ xưa mà xưng với Thầy Me tôi là “em” chứ không xưng “con”. Còn nhớ trưa mùa hè năm ấy, khi “người ta đến đón” Thầy tôi đi, tôi còn chạy theo Người, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy Magnésie Bismurée cho Thầy nhé”. Và được Thầy tôi quay lại dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”. Ngày nay, ngồi viết lại dòng này, nước mắt tôi chan hoà thương cho mình lúc gia biến còn có phản ứng che chở cho cha và thương cho cha đã ngây thơ tin chiều sẽ trở về.

Thầy tôi dạy dỗ các con không theo lề lối xưa “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Vì chúng tôi không bao giờ bị ăn roi. Và cái “ngọt” cái “bùi” thì cũng quá thầm kín, chứ không lộ liễu như tôi đây, mỗi tối con trai tôi lên chúc mẹ ngủ ngon vẫn được nghe mẹ nựng: “Mẹ yêu em lắm, mẹ quý em lắm, em có biết không?”. Tôi nhận thấy Thầy tôi rất công bằng, mười ba người con, không hề thiên vị thương con nào hơn. Vào Huế, tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, Thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh ta trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai chóng nhớn, vươn vai chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến Thầy tôi “tỏ tình” với các em bé nên cũng yên trí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy.

Thầy tôi khuất núi, tôi mới tìm đọc đến sự nghịêp văn chương của Người. Thật là muộn màng đáng tiếc! Nhưng từ lâu tôi vẫn tự hỏi sao trong lúc sinh thời, Thầy tôi không bao giờ nói về mình với các con? Người ưu tư gì, Người khát vọng gì, Người tranh đấu gì, tư tưởng của người được người đương thời ủng hộ hay chống đối?… Thầy tôi chỉ chăm lo cho các con học hành tấn tới, dìu dắt các con sống trong một gia phong nền nếp. Thậm chí đến tạp chí Nam Phong hay các bài diễn văn của Thầy tôi, tôi cũng không được nghe Thầy tôi nói đến bao giờ!

Viết đến đây, một kỉ niệm “cười ra nước mắt” đã sống lại trong ký ức tôi: năm đó, tôi học đệ tam, trong giờ Pháp văn bà Sogny giảng một đoạn trong quyển Tuyển Tập của Pujarniscle: bài “La Poésie Annamite” (Thơ ca An Nam). Bà gọi tôi đọc nửa đoạn đầu, rồi bảo tôi cho ý chính đoạn đó cùng phê bình văn. Tôi còn nhớ câu đầu “Nous voguions lentement sur la Rivière des Parfums…” (Chúng tôi chèo thuyền từ từ trên sông Hương…) và kế tiếp là tả cảnh tả tình hay quá, lời văn nhẹ nhàng, lại có chút lẳng lơ lãng mạn khi tả giọng cô lái đò đưa câu hò mái đẩy, tiếng lanh lảnh vang trong tịch mịch. Tôi thao thao bất tuyệt nói cảm tưởng và hết lời khen tác giả. Bà Sogny chắc phải lấy làm lạ sự “mẹ hát con khen hay” của tôi. Sau khi tôi dứt lời, bà hỏi ngay: “Chắc hẳn trò biết tác giả bài này chứ?”. Không chút ngần ngại, tôi thản nhiên trả lời: “Thưa không”. Bà trợn tròn xoe đôi mắt dưới cặp kính dày: “Thật à, trò không biết thật à?”. Sau lưng tôi, các bạn khúc khích cười và nhắc tôi: “Của Ông Cụ mi đó”. Tôi chột dạ, lật qua trang sau thì quả nhiên chữ Phạm Quỳnh nổi bật ở cuối trang sách! Nào tôi có hay đâu, có bao giờ Thầy tôi bảo tôi đọc tác phẩm của Người đâu! Ai đó đọc đến dòng này chắc cũng ngạc nhiên không kém bà Sogny và các bạn đồng lớp của tôi thời đó.

Ngày nay, ngược dòng thời gian, thấy thương Cha vô cùng. Lúc nào cũng cô đơn, vượt cạn một mình, không tâm sự cùng ai. Âu đó cũng là thái độ của người tự trọng, biết lãnh trọn trách nhiệm, những nỗi ưu tư lo lắng một mình mình biết một mình mình hay, gánh vác mọi việc không hề muốn cho vợ con phải bận tâm. Tội thương! Cả đến lúc vô cùng đớn đau phải lìa đời, cũng một mình chịu đựng, mười ba người con mà không có được một mảnh khăn xô khóc cha! Con sông Bồ, ngọn núi Hắc Thú là mảnh đất Việt cuối cùng đã tiễn đưa cha tôi qua thế giới bên kia, một đêm thu lạnh năm Ất Dậu, dưới không độ tình người…

Thương cha đứt ruột!

Tôi không bao giờ thấy Thầy tôi ca thán giận hờn, hoặc bộc lộ sự vui mừng quá mức. Tôi biết thầy tôi vui những lúc người rung đùi ngâm thơ trước ấm trà độc ẩm hoặc đem Nhị Độ Mai, Kim Vân Kiều ra đọc cho Me tôi nghe. Hay vui hơn nữa, thì gợi ý Me tôi họp mạt chược. Còn những lúc buồn lo hay bất mãn chuỵên gì, tôi đoán là những lúc Thầy tôi nói bác tài Mai đưa xe lên chùa Vạn Phước. Trên đó, Sư Cụ luôn luôn để sẵn ngoài hành lang chánh điện một cái ghế xích đu. Thầy tôi thường nghỉ ở đó, tìm di dưỡng tinh thần trong giọng trầm nhẹ của lời kinh hoà tiếng mõ đều đều của khoá kinh chiều. Và như thế đến tối mịt mới về.

Tôi được diễm phúc có nhiều kỉ niệm với thầy tôi. Các chị đi ở riêng sớm, mấy em sau còn nhỏ lúc thầy tôi bị nạn, sát tôi trên dưới là hai trai, nên chỉ có tôi là con gái đúng tuổi để sai vặt: tôi chuyên cắt móng tay cho Thầy tôi và mỗi lần như vậy, Thầy tôi lai nói đùa: “Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn”. Riêng câu đó cũng chứng tỏ Thầy tôi luôn dung hoà cái xưa và cái nay. Trong xã hội xưa, quan niệm về thứ bực bốn giới sĩ nông công thương thật bất di bất dịch, nhưng Thầy tôi đã không câu nệ trật tự xưa mà chấp nhận anh cả tôi vào Nam mở tiệm cơm. Hồi đó cũng có lắm kẻ dị nghị: “Sao Ông Cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú ba Tàu?” Tôi có nhiệm vụ vặn đĩa hát cho Thầy tôi nghe khi người nghỉ trưa. Không biết tôi lúc đó có thấy hay hay không, chỉ nhớ như in là buồn ngủ quá mà không dám ngủ, vì đĩa hát cổ, máy hát cổ, luôn luôn phải thay kim, thay đĩa, lên giây cót…Nhưng những điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy… và những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần cung oán…đã in trong tiềm thức tôi, khiến lớn lên tôi càng mê những giai điệu cổ điển đó, nhất là trong thời gian sống xa quê hương…

Công việc thứ ba của tôi là đọc sách, cứ hai ngày đọc một quyển dày! Thầy tôi quả là một “mọt sách”. Cả một thư viện gồm sách Việt, Pháp và Hán văn có giá trị, đã bị đem ra bán cân ngoài chợ sau khi chúng tôi phải rời căn nhà yêu thương ở An Cựu ra Hà Nội!

Thầy tôi không hề tâm sự với ai. Đó là điều chúng tôi nhận thấy trong những năm sống bên Người.

Nhưng tôi đã lầm.

Năm 1942, anh họ tôi Phạm Trọng Nhân có dịp đến thăm Thầy tôi ở Huế. Chuyện trò giữa chú cháu có bề xúc tích hơn giữa cha con và qua câu chuyện cái mũ ni anh Nhân tôi kể lại, Thầy tôi đã để lộ tâm trạng thầm kín khi chỉ cái mũ ni bằng len đang đội và nói với anh họ tôi: “Thời buổi này, đội cái mũ ni che tai vừa ấm vừa yên”. Đó là tâm sự rồi!…

Cách đây non bốn mươi năm, chúng tôi có được đọc một bức thư Thầy tôi viết cho một người bạn Pháp vào cuối năm 1933, tức là một năm sau khi rời toà báo Nam Phong vào Huế. Đại khái Thầy tôi nói: Tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời, giao thời giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đóng gây nên và do đó đã sai lầm tận gốc và một trật tự mới, trong tương lai sẽ kính trọng phẩm giá con người hơn, nhưng sự kiện này không thể tạo lập ra được trong chốc lát. Vì thế, tôi cố gắng dung hoà những mâu thuẫn đó để giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo đưa đến một tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi bị va chạm vào sự hiểu lầm của người đời (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Vì thế cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi, đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương! Đó là tâm sự rồi!… Đọc qua bức thư, tôi hiểu Thầy tôi hơn, thương Thầy tôi hơn, kính phục Thầy tôi bội phần: tiên đoán được tính cách bi thảm của cuộc dấn thân mà vẫn dấn thân!…

Trong một cuộc phỏng vấn Thầy tôi vào tháng 6 năm 1945 do nhà báo Nguyễn Vạn An ghi dưới nhan đề Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, Thầy tôi tiết lộ: “Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa” … “Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay, không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”… “Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nảy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một Tổ quốc mà phụng sự là gì?”… Đó là tâm sự rồi!… Nhưng, nỗi niềm tâm sự thầm kín nhất, Thầy tôi đã giãi bày trên ngót năm mươi trang giấy học trò, gom dưới nhan đề Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tùy bút. Quyển vở này ngẫu nhiên gia đình tìm thấy trên bàn viết của Thầy tôi, mở ở trang chót, có cái bút Waterman còn chặn ngang trang giấy viết dở bài cuối tựa Cô Kiều với tôi. “Cô Kiều với tôi” là niềm tâm sự mới thoát trên giấy trắng mực đen, nhưng, than ôi, ngàn kiếp mãi mãi còn dang dở…

Năm mươi trang giấy học trò đã được nghe Thầy tôi thủ thỉ niềm tâm sự của con tim chán chường với Nhân tình thế thái, với Con người hiểm độc, hay Anh chàng khoác lác. Trong những ngày hè nóng nực của Ất Dậu năm đó mà đọc Keyserling, thuật Keyserling, theo Thầy tôi nói, thì quyết không phải là một tiêu khiển. Thầy tôi đã đọc, đã thuật Tư tưởng Keyserling và ghi cảm tưởng là “Để kỉ niệm mấy ngày nóng nực lạ thường, giữa lúc thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi những đường kia nỗi nọ xa gần…” Thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi đã dẫn người đến với Lão Hoa Đường, để tiếc “phận nho quèn” mà không biết như Lão Hoa Đường “quyết chí ẩn dật” để giữ lấy tiết tháo thanh cao. Và lan man nữa đến tìm an ủi nơi cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cảm như đây là người cùng hội cùng thuyền! Còn tâm sự gì nữa qua cô Kiều? Thầy tôi khi trẻ giữ để bụng, lúc về chiều lại muốn thoát ra cho nhẹ, thì oan nghiệt của số phận đã bắt thác phải mang theo!

Còn Thầy tôi?

Thầy tôi đã phải ra đi

Trước mắt tôi! …

Bất lực, tôi cúi đầu chịu oan khiên của định mệnh

…Để đánh dấu một trăm năm sinh nhật của Thầy tôi, tôi mạo muội ghi chép vài kỉ niệm nho nhỏ gắn liền thầy tôi với tôi.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi dám cầm bút “viết thư” tâm sự với các “bạn” chưa được quen biết.

Nhưng, chỉ cần nghĩ là “bạn” cũng đã cảm thấy sự khoan dung và thông cảm rồi!

Tôi xin thành thật cám ơn người “bạn” đã đọc đến những dòng này

Trích Thầy Tôi, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6-1992, Paris, Pháp


Phạm Thị Giá (con gái cả của Phạm Quỳnh (1913-2000) sinh sống và mất tại Việt Nam)

1. THƯ GỬI EM GÁI (14-9-1992)

…Nghĩ thật đau xót, mấy chục năm trời con cháu không viếng thăm mộ Thầy được. Nay đông đảo con cháu được về chùa Vạn Phước thăm mộ Thầy và làm lễ thật thoả lòng mong ước mà vong linh Thầy cũng thoả mãn.

Chị đọc hồi ký em kể những ngày thơ ấu em được ở gần Thầy làm chị xúc động và nhớ lại những ngày chị còn ở Hàng Da gần gũi Thầy nhiều, vì khi đó các em còn nhỏ dại… Tất cả những sự việc đã qua như một cuốn phim quay lại trong đầu óc chị… Gia đình nhà ta con độc cháu đàn. Thầy mình anh trên em dưới không có ai. Ngày giỗ chỉ có họ hàng tụ họp lại đông đủ. Các bà các cụ cứ nói: “Nhà đông con, nên cho cháu gái lớn nó ở nhà trông nom các em đỡ mẹ. Con gái học như thế cũng là đủ rồi”. Năm ấy chị mới mười bốn tuổi học trường Brieux. Bà đốc và bà trợ giáo là người Pháp, còn các cô giáo người mình. Có học cả Hán văn và thêu thùa nữa. Nghe các cụ nói vậy nên Thầy Me cũng đồng lòng cho chị nghỉ học; khi ấy chị mới học Cours Supérieur (lớp nhất – PT ghi chú) và từ đấy chị lo chăm sóc việc nhà đỡ Me. Me sinh em Khuê, em Tuyên đều có chị đưa đi hộ sinh.

Con nhà nho nhưng sinh hoạt theo cách Âu Tây. Các con đi học về là phải rửa tay ở một chậu nước để sẵn với xà phòng trước khi ăn cơm…Năm Thầy sang Pháp ba tháng (1922 – PT ghi chú) là năm sinh chị Ngoạn. Thầy có gửi ảnh cho Me và đề: “Tặng hiền thê, ở nhà”. Nhà có gửi ảnh Thầy bế chị Ngoạn sang, sau chị ốm đau luôn ai cũng bảo tại gửi ảnh đi xa cho nên mới hay đau ốm…Chị còn nhớ một buổi tối Thầy diễn thuyết về Truyện Kiều ở Hội Khai Trí Tiến Đức, người đến nghe rất đông, toàn những người trí thức, yêu văn chương Truyện Kiều. Có mấy cô giáo của chị cũng đi nghe. Thầy mặc quốc phục, áo dài đen, khăn đóng, đeo kính trắng, khuôn mặt rất nghiêm trang và nói thật có duyên, lại tươi tỉnh, ai cũng thích. Nói xong họ vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt…

Chị nhớ Thầy hay đọc một bài thơ mà chị thích nên vẫn ghi nhớ

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

Xuân nhật ngưng trang thượng Thúy Lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu!

(Tạm dịch:

Buồng khuê thiếu phụ không sầu

Ngày xuân đứng tựa trên lầu ngắm xuân

Nhác trông nhành liễu xanh rì

Chàng ơi! Tham ấn phong hầu làm chi!)

Gia đình nền nếp, nuôi dạy con cái với một nền giáo dục không quá phong kiến và cũng không buông thả.

…Thầy Me đồng tuổi Nhâm Thìn nên rất quý hoá chiều chuộng nhau, suốt cuộc đời không có chuyện gì xích mích. Me rất chiều Thầy, Thầy ngồi ăn Me ngồi bên gắp các món ăn mời Thầy.

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Bạc Liêu gửi cho em gái định cư ở Pháp (ngà y 14-9-1992)


2. THƯ GỬI CON TRAI (25-5-1988)

Mấy hôm nay, cả me, dì và bác cả gái (tức Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức – hai con gái lớn và con dâu trưởng của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) họp nhau lại cố nhớ xem có chuyện gì thuộc về ông thì góp ý cho nhau.

…Cụ nuôi ông ăn học, đến năm ông mười sáu tuổi thì thi Diplôme (tức trung học phổ thông – PT ghi chú) đỗ thủ khoa nên được nhà trường thưởng cho rất nhiều sách, ông phải thuê một xe cút kít chở sách về còn ông thì đi bộ theo sau.

…Sau này ông có chủ trương về giáo dục bắt buộc các học trò tiểu học phải thi sơ học yếu lược cho am hiểu chữ quốc ngữ và lịch sử nước nhà. Sau đỗ yếu lược mới được thi Certificat (tốt nghiệp tiểu học – PT ghi chú). Thời đó me và dì đều phải đi thi sơ học yếu lược. Khi ấy cũng có một số người phản đối, nói nên để cho thi Certificat ngay, thi sơ học yếu lược mất thời giờ.

…Ông không nghiện một thứ gì. Ông có tiền là chỉ mua sách để nghiên cứu, thứ nào cũng mua toàn bộ như La Grande Encyclopédie (Đại từ điển bách khoa), sau đó thì mua đồ cổ.

…Cái mũ ni bằng len ông thường đội là do bác cả gái đan. Vì ông thường làm việc khuya, ở Huế thời tiết mưa và lạnh nên đội cho ấm.

…Có lần ông tranh luận với một nhà báo Pháp ở báo France Indochine, cứ mỗi kì báo ra là mọi người đổ xô nhau mua để xem, báo bán rất chạy.

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Hà Nội gửi cho con trai ở Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 25-5-1988)


3. THƯ GỬI CON TRAI (4-1988)

…Tính ông điềm đạm. Ông thường nói ông không có tuổi thanh niên, lập gia đình sớm, con cháu đông nên không có thú chơi bời như mọi người trẻ khác, chỉ cần cù đọc sách. Ông không bao giờ giận giữ, gắt gỏng với ai dù là con cái hay người làm, lúc nào bực mình lắm chỉ tắc lưỡi thôi. Ông có bệnh đau dạ dày nên không ăn được cơm tẻ mà chỉ dùng cơm nếp, lại ăn rất ít. Những khi mệt nhọc thì dùng cháo nếp hấp cách thuỷ ăn với đường. Ông không rượu chè thuốc lá, chỉ có buổi trưa hoặc tối uống một tách nước trà Ô Long hoặc Thiết Quan Âm, chứ trà Liên Tâm mát, ông uống thì đau bụng. Ông không uống trà chén hạt mít nhỏ như các cụ xưa mà dùng tách to. Ông có một cái bếp đèn cồn và một ấm đun nước nhỏ, mỗi khi me pha trà cho ông thì cho trà vào ấm, nước phải thật sôi, đếm nhẩm đúng từ một đến hai mươi là rót ra tách đã có sẵn hai viên đường…

…Tính ông rất sạch sẽ, quần áo vải trắng mỗi ngày thay một bộ. Quyển sổ biên đồ đưa thợ giặt bao giờ cũng ghi: một quần, một áo dài, một áo cánh, một mùi xoa, cứ đều đặn hằng ngày như vậy.

Ông rất ít bạn bè, bạn thân hầu như không có ai. Anh trên em dưới không có. Họ hàng thì phần lớn là chi trên, chỉ có một chi dưới thôi. Ông làm việc, đọc sách, dịch sách cả ngày ở bàn giấy trên gác. Tối làm đến khuya. Có khi nửa đêm nằm nghĩ ra vấn đề gì là lại ra bàn giấy ngồi viết. Ông dịch sách tiếng nước ngoài mà cứ cầm sách đọc như đọc chính tả cho con viết. Nhiều khi me viết mỏi cả tay, đêm đã khuya mà ông vẫn say mê đọc cho viết.

…Ông chỉ có hai cái thú là đọc sách và ngắm đồ cổ. Ông chắt chiu được đồng nào là mua sách và đồ cổ hết. Sách chất trên các kệ bao nhiêu bậc từ dưới sàn lên đến sát trần nhà, quanh phòng làm việc toàn là sách. Còn dưới nhà, phòng khách thì có các tủ đựng đồ cổ do một ông người Tàu đem lại bán. Ông ta giới thiệu, nói món đồ cổ đó từ đời nảo đời nào, sự tích ra sao rồi đòi bao nhiêu tiền ông mua bấy nhiêu. Có một bức tranh cổ chỉ vài nét vẽ mà rất tinh thần. Tranh này cũ nát lắm, ông đã phải đưa đi bồi tốn mất bao nhiêu tiền rồi treo ở phòng khách. Trên tranh vẽ một ông quan mặc áo khoác có liền mũ đội đầu, người cao, nét mặt nghiêm trang và một người lão bộc cũng mặc áo vải thường, nét mặt có vẻ trung hậu, tay ôm túi đàn, lại có một con hạc đi theo sau. Nét vẽ đơn sơ màu nâu nhạt. Tranh đó ông rất quí, ai không biết, có hỏi thì ông nói: Đó là hình ảnh một ông quan thanh liêm khi xong việc quan, mặc thường phục cùng người hầu già đi du ngoạn. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao, ông gảy đàn và con hạc múa.

Sau lưng bàn giấy ông ngồi, trên tường là một bức có hai chữ nho lớn: chữ Trung và chữ Hiếu

Tối ông thường ngồi ngắm đồ cổ. Có mấy bức tượng Phật Bà Quan Âm. Một bức cao đến tám mươi xentimet bằng sứ trắng muốt, cổ có đeo một chuỗi san hô đỏ. Trước tượng ông đặt một lư trầm, khói thơm nghi ngút. Ông ngồi ngắm tượng Phật trầm ngâm, thú vị…Càng nghĩ lại càng thương ông, thân cô thế cô, không có vây cánh, không có bạn bè thân thiết, cứ cặm cụi làm một mình cô độc, thẳng biết than thở bàn bạc cùng ai. Con cái cũng chẳng ai biết việc ông làm. Bác cả Giao thì không nói làm gì. Sau này có cậu Bích chú Lãng (tức Nguyễn Tiến Lãng, chồng bà Ngoạn – PT ghi chú) là biết việc ông làm. Cho nên quyển sách mà cô Ngoạn viết (Introduction au Nam Phong – PT ghi chú) là có sự cộng tác của chú Lãng, cô được bằng tiến sĩ văn chương, xem quyển đó thì rõ đủ cả chi tiết

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Hà Nội gửi cho con trai ở Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4-1988)


Về việc cải táng di hài Phạm Quỳnh năm 1956

Phạm Tuân (con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, hiện định cư tại Mỹ)

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nới xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

…Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện. Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005


Phạm Thị Hảo (con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh, hiện định cư tại Mỹ)

1. THƯ GỬI CHỊ

…Đọc thư chị, em cảm động và thương chị lắm. Chị em ta sống gần gũi nhau suốt từ ngày em cưới (1942) đến lúc đất nước chia đôi (1954) vui buồn đều có nhau. Sau khi Thầy bị nạn, rồi lúc Me ở Hàng Da với chị, mất ở nhà chị…đều có em bên chị. Lúc em sinh hai cháu gái Mai, Ầm nay đã bốn mươi tuổi, đều có chị đưa đi nhà hộ sinh và nắm tay em khi đau đẻ…làm sao em quên được…Lẽ dĩ nhiên em sẽ nói nhiều đến những ngày cuối năm 1956 em đi lãnh hài cốt Thầy và đưa về chùa Vạn Phước…Em thật có lỗi với chị vì chưa viết trả lời những câu hỏi và kể chuyện công việc thiêng liêng này cho chị, dù chị đã hỏi đến mấy lần. Em không quên đâu, em sẽ chờ lúc tĩnh tâm để viết. Trước kia em đi làm bận rộn, nay về hưu nhàn hơn thì tâm lại chưa tĩnh…Ngày mất thì khi em đi nhận hài cốt, chỉ thấy một nhân chứng nói là “đêm đó trăng lưỡi liềm”

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washinton DC, Mỹ gửi cho chị ở Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 24-9-1990)


2. THƯ GỬI EM TRAI (7-3-1990)

Nhận được thư em chị mừng lắm, đọc đi đọc lại những dòng chữ thân yêu với những tin tức vui của gia đình ta.

Anh chị em ta “năm con voi và tám nàng tiên” yêu nhau thật thắm thiết, thật là kỳ diệu! Không phải gia đình nào cũng được diễm phúc đó. Sau bao nhiêu năm xa cách, bao biến động, tình ruột thịt lại càng thắm thiết.

…Nay có em sang “nghìn năm một thuở” cũng như năm ngoái khi K. đến, chị cũng không làm sao dứt ra mà đi được. Rất buồn tủi, song các em cũng hiểu chị và yêu thương chị

…Chị rất tiếc không có mặt ở Paris lúc này để ôm em vào lòng và kể cho em cùng các em Ngoạn, Hoàn, Lệ, Viên những chi tiết và những phút đau lòng, lo âu, cảm động khi đi nhận di hài Thầy yêu quí của chúng ta. Ngày giáp Tết, khi ánh bình minh vừa rạng ló, con thuyền đưa cốt Thầy cặp bến chùa Vạn Phước, và chị cùng Miềng (tức Phạm Tuân – PT ghi chú), cô (me chị Bích) dự lễ an táng bên cạnh sư cụ cùng một vài thân hữu ở Huế. Chị không sao quên nổi cái đêm kinh hoảng (27 Tết thì phải) sau khi tìm bới hai ngày dài, rồi nhờ các vị sư cúng các vong tại chỗ, đến mãi tối mịt mới tìm được di hài ba vị (Thầy, cụ Khôi và cậu Huân). Người ta (họ Ngô) đang làm to, mang hai cha con họ Ngô quàn ở một cái rạp thật lớn trang hoàng theo nghi lễ công giáo, lính gác chung quanh, để chờ sáng hôm sau tám giờ tổ chức quốc tang theo lịch trình đã định. Còn chị em mình (chị và Miềng) cùng cô lẽo đẽo đưa di hài Thầy lên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Định ở đó suốt đêm, chờ sáng hôm sau nhà Ngô đưa đám (quốc táng thật to) đi rồi, mình dùng đúng con đường đó (đã được “quét sạch” ) để đưa cha mình về chùa. Song đêm trên đỉnh đồi lãnh lẽo, lủi thủi có ba bà con, văng vẳng nghe tiếng cầu kinh của các đệ tử Thiên Chúa bề tôi nhà Ngô ở dưới chân đồi, chỗ rạp quàn hài cốt nhà Ngô, vừa tủi thân vừa sợ. Miềng lúc đó còn nhỏ (20 tuổi – PT ghi chú) lo sợ, cứ bảo “Thôi, đi về đi!”. Những nhà chức trách nơi đó lại khuyên nên chờ đến sáng, sau đám nhà Ngô hãy đi, kẻo vùng này có tiếng là dữ (cọp beo, “hắc thú”, và …). Sau cùng, chị nhất quyết xin họ cho một cái đò để chở Thầy về ngay đêm đó. Họ khuyên không được, cũng tử tế cho hai thuyền có lính và khí giới đi kèm đò mình. Thế là chiếc tiểu – quan tài nhỏ, qua sông. Suốt đêm đến sáng thì tới bến Vạn Phước. Tờ mờ sáng, lòng đang buồn tủi đau khổ thương cho cha chịu phận hẩm hiu, lại hãnh diện cho mình được thay mười một người con của Thầy Me, đưa Thầy về nơi an nghỉ ngàn năm…Thì trên bến đã thấy sư cụ cùng mấy sư bác, các tiểu chờ sẵn. Em ơi, chị Hảo lúc bấy giờ mừng quá “đi đến nơi về đến chốn” rồi, trông mấy vị tu hành như thấy mấy vị cứu tinh, cảm động nước mắt dào ra không biết nói gì… Chôn cất Thầy xong, chị và Miềng về Sài Gòn, vừa vặn sửa soạn Tết, cúng giao thừa.

Mừng là mọi chuyện êm đẹp, nhưng nửa tháng sau sư cụ lại nói với cô là Thầy về báo mộng, mộ ướt lắm. (Chỗ đất này tốt nhất, đáng ra là dành cho sư cụ, cụ nhường cho Thầy). Thầy nằm trong vũng nước. Cô lại gửi thư về Sài Gòn nói tuỳ chị, cô không dám định đoạt đào lại mộ, chị nói cô cứ làm. Quả nhiên mộ đầy nước…Vì thế mới thỉnh Thầy ra ngoài cửa chùa, chỗ này cũng đẹp đẽ, sạch sẽ như em chắc đã thấy

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washington DC, Mỹ gửi cho em trai ở Hà Nội (ngày 7-3-1990)


[1] Trích băng ghi âm lời cụ Nguyễn Văn Bồng nói với con trai Phạm Quỳnh tại Đà Lạt tháng 7-1993

Tháng Hai 17, 2009

Người nặng lòng với nước

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 3:54 chiều

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

C

ứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện : “Còn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1F[1]

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

hinh-1_nuoc1

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2[2]

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thương thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3F[3]FVà trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4[4]FÔng lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi ông được chính quyền Cách mạng “mời đi họp”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ khi ông được chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế “mời đi họp” trưa 23/8/1945.

Một học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến (Huế) được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời” Phạm Quỳnh “đi họp.”5[5]FÔng ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6[6]FHành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7F[7]Fbấy giờ là Thứ trưởng và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)8[8]F Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

hinh-2_nuoc

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).9F[9]FCụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.10[10]

hinh-3_nuoc

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức), ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không biết gì hết, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Trong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

hinh-4_nuoc

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”11[11]

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”12F[12]FKhông phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

hinh-5_nuochinh-6_nuoc

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

hinh-7_nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để rủ rỉ kể lại một chuyện xưa.

Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.13F[13]FTrong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch14F[14]

hinh-8_nuoc

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.15F[15]

hinh-9_nuoc

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, con gái thứ năm của Phạm Quỳnh may mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp cho nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT ghi chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)16[16]

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói đặc giọng Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.17F[17]F“Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”18F[18]

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi. Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá hàng chữ Quốc ngữ Tiếng ta còn, nước ta còn, câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh.

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.19F[19]F

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng20[20]

Tháng 9-2001 – 26-3-2006


* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8-2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước

* Còn đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9-2006

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

(*)Băng ghi lời cụ Nguyễn Văn Bồng,tháng 7/1993

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chí Thế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.



1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo Thái Vũ, Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong chủ nhật số 51, 18/12/2005

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

9 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy, báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

10 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

11 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

12 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

13 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

14 Giáo sư Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

15 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

16 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

17 Việc Phạm Quỳnh bị xử đầu tiênchỉ có Phạm Quỳnh bị đánh trước khi bắn cho thấy đây là một vụ trả thù, không phải là “xử lý do tình hình cấp bách” như với hai cha con Ngô Đình Khôi.

Trong bài Phạm Quỳnh-Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và ứng dụng, số 2, 2005, Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam có ghi chú như sau: “Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh, nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán”.

“Chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đã tìm được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ Năm cụ khi không rớt cái ình / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa, xin dâng lại….” Đó là lời khẳng định của cụ Nguyễn Văn Bồng, một người thân thiết như con cháu trong nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và là một nhân vật nổi tiếng của Đà Lạt, từng là cố vấn văn hoá Hội Chấn Hưng Quốc Gia Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn, nói với con trai Phạm Quỳnh tháng 7/1993, tại ấp Hà Đông, Đà Lạt, Lâm Đồng. (*)

18 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bang Minesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

19 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

20 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam (trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Người nặng lòng với nhà

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 7:28 sáng

PHẠM QUỲNH-NGƯỜI NẶNG LÒNG

VỚI NHÀ

C

ụ tổ của Phạm Quỳnh là Cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854). Cụ có hai đời vợ và một bà thiếp. Nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một trai là ông Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài, có hai con đều chết khi mới mười bảy tuổi. Nên khi ông mất sớm, đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy1F[1]

Ông nội lại chỉ sinh được một trai là Phạm Hữu Điển (thân phụ Phạm Quỳnh), rồi bị cảm mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau được xét chấm đỗ tú tài. Phạm Hữu Điển cũng đỗ tú tài, sinh được Phạm Quỳnh mới chín tháng thì vợ mất, mẹ phải bế cháu nội sang hàng xóm xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi sớm khuya chăm sóc tận tình khi cháu bị đậu mùa. Mãn tang vợ ít lâu, ông Điển tục huyền, sinh được một trai nữa, đặt tên là Phạm Bái. Năm Phạm Quỳnh lên chín, thì ông mất; sau đó chú bé Bái cũng chết yểu. Bà vợ kế còn trẻ, đi bước nữa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và cụ Tú, vợ ông Ngạch, người cho gia đình thừa tự. Và ông đã lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc chu đáo của hai bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn gìn giữ giọt máu hiếm hoi của cả dòng họ. Côi cút, cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có thể có ngày ông lại mất họ…như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Cụ Tú và cụ Cả là bà nội Phạm Quỳnh, sống trong cảnh gieo neo, chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà và buôn bán lặt vặt nuôi cháu khôn lớn2.F[2]FĐến năm mười sáu tuổi, Phạm Quỳnh đi làm, đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient), Phạm Quỳnh đi qua một cửa hiệu bán đồng hồ, bao giờ cũng dừng lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt xinh xắn bày trong tủ kính, thèm thuồng mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi ông nhận thêm việc dạy tiếng Việt tính theo giờ cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập có khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế, ở hiệu ấy, và giữ luôn bên mình như một vật báu suốt nhiều năm ròng, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế3F[3]

Hồi trẻ, say mê văn minh Pháp, nên khi hai bà cụ bảo về quê thăm và sửa sang phần mộ ông cha thì ông từ chối không đi, nói là: “Người đã mất rồi thì nên để cho người ta yên”; cho là: “Người mất rồi thì kỉ niệm để trong lòng là đủ”. Nhưng đến khoảng năm 1915, khi ông chừng hai mươi hai tuổi, bà cụ Tú qua đời, thì ông lại giữ đúng lễ xưa, khiến Hoàng Đạo Thuý, người bà con kém ông bảy tuổi, cũng là người say mê văn minh Pháp phải ngạc nhiên: Đầu đội mũ dứa, tay chống gậy trúc, đưa tiễn cụ đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở cánh đồng Bạch Mai, cạnh một bờ rào4F[4]

hinh-1_nhaTừ nhỏ ở Hàng Trống, cho đến sau này về Hàng Da, rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nguyên nếp kê bàn học và làm việc dọc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ, có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán và sau này, còn đánh số thứ tự để khi giỗ vị nào thì vợ con theo lời ông bảo dễ dàng lấy đúng bài vị vị đó đặt ra trước, tiện chuẩn bị bày biện bàn thờ. Ông rất trọng kị giỗ gia tiên. Khi cỗ bàn đã bày xong thì ông khăn đóng áo dài, trịnh trọng thắp nhang khấn vái, sau mới đến vợ và các con vào lễ. Ông còn kể cho vợ và các con về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thuỷ tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ5F[5]

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn những người trên còn sống. Chính vì thấy cụ Tú quá già, cụ Cả tuy còn khoẻ nhưng tuổi cũng cao mà hai cụ ngày đêm vẫn vất vả vì mình, cho nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần hai cụ. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh6F[6]Fthăm mẹ vợ, thường gọi là cụ Ký (do ông chồng làm ký lục, bấy giờ đã qua đời), thăm các cô em vợ là Hợp, Mai và cậu út Tốn. Chính những lần về quê vợ này, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi được biết bao câu ca dao tục ngữ dân ca hay, tăng thêm đáng kể vốn từ ngữ dân tộc của ông.7F[7]F Hồi đã khá giả ông nói với cậu Tốn là muốn biếu bà mẹ vợ một ngôi nhà, hỏi có muốn lấy nhà ở Hà Nội cho tiện việc học hành làm ăn sau này của các em không, thì cậu Tốn trả lời là anh chị cho thì tùy anh chị thôi. Thế là ông bàn với vợ, bà bảo: “Cứ làm cái nhà to ngay giữa làng, chớ làm ở Hà Nội, dân làng có mấy ai ra Hà Nội đâu mà biết”. Rồi cho dỡ ngôi nhà gỗ còn tốt đi để xây ngôi nhà mới tại làng, đến nay (năm 2000) vẫn còn.8F[8]

Cô Vân có em gái là Hợp, nhà quen gọi là cô Nhỡ, bởi dưới cô còn một em gái nữa là cô Mai. Chị đi lấy chồng bấy giờ đã là nhà báo nổi danh ở Hà Nội, còn em vẫn ở quê làm ruộng, mò cua, bắt ốc, hái rau,…Có khi nhớ chị, cô đem những thứ ấy sang tận Hà Nội, lên bán ở chợ Hàng Da ngay gần nhà chị để tiện ghé thăm. Bà chị xấu hổ vì thấy em gái ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lại còn quang gánh, thúng mủng, nên thấy mặt là thường đuổi về ngay. Nhưng những lần gặp ông thì thật là may. Ông mở cửa, đi thẳng vào nhà như “những nhà nho chân chính”, không thấy em vợ đứng cạnh cửa. Khi cô đánh tiếng chào, thì ông mừng rỡ, vồn vã hỏi thăm buôn bán thế nào, mẹ và các em bên nhà có được mạnh khoẻ không, rồi cuối cùng, bao giờ cũng móc túi lấy tiền dúi cho, bảo là: “Dì cầm tạm, đỡ tiền tàu xe”. Sau đó, mới gọi to báo cho vợ biết là có em gái sang chơi. Trước khi về, cô sang chào ông thì bao giờ ông cũng đưa sang vợ, nói là “Cho dì tiền tàu xe và mua quà cáp cho bà và các em bên nhà”9F[9]

Sau này, năm 1928, ông có mua lại của ông chủ Mỹ Ký (chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả, nổi tiếng một thời) một trang trại ở ấp Thái Hà, nhưng chỉ để mẹ vợ ở cùng gia đình cậu út Tốn; gia đình ông thỉnh thoảng mới về thăm thôi10F[10]

Phạm Quỳnh rất yêu vợ nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc có một năm, ông đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (Ecole des Langues Orientales), một dịp may hiếm có, thời ấy người trẻ tuổi nào cũng ao ước. Vậy mà ông đã từ chối. Chỉ vì mới …lấy vợ! Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông đã ghi lại trong nhật ký: “Giá nhận đi hồi ấy thì Trường Bác Cổ không đề cử ông Phan (Văn Trường- PT ghi chú), và sự nghiệp mình có lẽ lại xoay ra một phương diện khác.” Nhưng ông không hề tỏ ý tiếc… Cũng trong dịp này, sau khi thăm bảo tàng Trocadero và bảo tàng Guimet ở Paris, ông lại ghi: “Thứ bảy, 27-5: Người Tây bình phẩm đàn bà An Nam có thói nhuộm răng đen thường nói rằng: Trông miệng người đàn bà An Nam tối om như cái hố sâu. Người Tây có lẽ lấy thế làm xấu thật, nhưng ta lại cho thế là đẹp. Cô con gái nào nhuộm răng khéo, đen nhánh như hạt huyền, thì tựa hồ như có duyên thêm lên. Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân” của mình. Kẻ “ý trung nhân” của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy (chúng tôi nhấn mạnh – PT) mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.” Ông ghi nhật ký đúng như thế. Mà đây lại là nhật ký để đăng công khai đều đặn trên báo Nam Phong của ông! Vì ông đang nhớ vợ, mà kẻ “ý trung nhân” như ông tả ở trên, thì bất cứ ai đương thời quen biết gia đình ông đều dễ dàng nhận ra ngay đó chính là chân dung của vợ ông, cô gái một làng quan họ xứ Kinh Bắc. Ngày 23-6, ông ghi: “mình mặc jaquette, vào hiệu ảnh chụp cái ảnh gửi về nhà”. Đó là bức ảnh đầu tiên ông mặc âu phục, tóc cũng đã cắt mất cái “búi tó củ hành”. Trước thay đổi lớn đó về hình thức, ông thấy cần “thông báo khẩn” cho vợ biết. Ông gửi ngay ảnh đó về11F[11]Fvới lời đề tặng đúng kiểu của riêng ông “Gửi hiền thê, ở nhà12F[12]

hinh-2_nha

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn với nhau nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ nhau, suốt đời không hề có xích mích gì. Bà Cả Mọc, tên thật là Hoàng Thị Uyên, một nhân vật nổi tiếng về hoạt động xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ thứ 20, là cháu bà thiếp của cụ Phạm Hội, lập hội Tế Sinh. Đây là một hội từ thiện chuyên trông con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm ban ngày và còn mở một trại dưỡng lão ở Phúc Yên giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa.13F[13]FPhạm Quỳnh coi bà như bà mình, thường đến thăm hội, trò chuyện cùng bà. Bà Cả Mọc nhận vợ Phạm Quỳnh làm thủ quỹ của hội. Cô Vân vốn không biết chữ, nhưng tinh ý lại nhớ dai. Cô chỉ thu, chi rồi cố nhớ thật kỹ, về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng, ông phải viết hàng trăm biên lai, chứng từ và vào sổ sách thay cô. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”14F[14]

hinh-3_nha

Sau này, tuy bận nhiều công việc, ông vẫn cố dành chút giờ rảnh rỗi đem Nhị Độ Mai, Kiều,… ra đọc cho vợ nghe. Vì bà, tuy không biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ nhưng lại rất sành tiếng Việt, thuộc nằm lòng Truyện Kiều và vô số ca dao tục ngữ dân ca…15F[15]FTuy không ham, nhưng ông cũng cố học đánh mạt chược mà ông biết bà thích và chơi khá thạo. Chỉ cốt để cùng bà và gia đình tiêu khiển trong mùa mưa xứ Huế.16F[16]

Còn có bằng chứng nào “hùng hồn” hơn về tình yêu của ông đối với vợ là họ đã có với nhau đến mười sáu mặt con! Ông bà sống với nhau được ba mươi sáu năm, kể từ người con trai cả sinh năm 1911 đến cô con út sinh năm 1938, trong hai mươi bảy năm ấy, ngoài ba người mất từ khi chưa đầy tuổi tôi, cũng còn lại đến năm trai và tám gái. Tuy đông con như thế nhưng hiếm có người cha nào trên đời này lại yêu thương chăm sóc con cái đến như ông. Những người con của ông, ít tuổi nhất nay cũng đã ngót bảy mươi, người lớn tuổi nhất hiện còn sống đã ngoài chín mươi, nhưng không một ai quên được nhưng kỉ niệm về tình thương yêu và sự chăm sóc ông đã dành cho mình. Đông con như thế mà ông vẫn chú ý đến từng người một, và yêu thương chăm sóc các con như nhau, không hề có sự “trọng nam, khinh nữ” hoặc “con yêu, con ghét” như thói thường vẫn vậy. Ông cũng không bao giờ lấy quyền làm cha để bắt các con phải theo ý mình, mà chỉ cảm hoá bằng tình thương yêu và lẽ phải mà thôi. “Dĩ thân vi giáo” là cách giáo dục của ông. Ông bao giờ cũng thân thiết, gần gũi bầy con đông đúc, nhiều vẻ.

Các con ông gọi cha bằng Thầy, gọi mẹ bằng Me và xưng là Em. Có lẽ là do ông gọi vợ theo kiểu TâyMe (Mère) , còn bà thì gọi ông theo kiểu taThầy nó. Và cả hai đều quý các con, thường gọi nựng khi còn nhỏ là Em, lâu ngày hình thành nếp xưng hô độc đáo của riêng gia đình ông.

Mười bảy tuổi lấy vợ thì mười tám tuổi ông có con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Theo lệ cũ: tên con trai suy từ tên cha ra, đã có cây quỳnh tất phải có cành giao. Hai năm sau, vợ ông sinh một bé gái trắng nõn nà như cọng giá, nhà bèn đặt tên là Giá, ông cũng chấp nhận. Hai năm sau nữa, lại một bé gái ra đời, cứ ngày ngủ đêm thức, nhà lại đặt luôn cho tên là Thức, ông lại cũng chấp nhận, cho làm khai sinh như thế. Sự dễ dãi này cũng dễ hiểu, người thời ấy thường không coi trọng việc đặt tên cho con gái, vì sau này lấy chồng thì sẽ lấy tên chồng thôi. Nhà số 1 phố Hàng Trống là nơi chôn nhau cắt rốn của ba anh em. Sau này, khi đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong, dọn về ở số 5 phố Hàng Da, các con sinh ra đều được ông chọn đặt tên cẩn thận. Trước chuyến đi Pháp năm 1922, ông có thêm ba con, một trai là Phạm Bích, hai gái là Hảo và Ngoạn. Mới hai mươi chín tuổi, ông đã sinh đến sáu con.17F[17]FChỉ đọc những dòng ông viết trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên báo Nam Phong năm ấy, cũng thấy được ông thương yêu các con đến thế nào

Thứ ba, 20-6: Chánh Công ty rượu Đông Pháp mời cơm trưa…Dự tiệc… còn có ông em ruột… bà em dâu và hai đứa cháu gọi ông bà bằng bác. Hai thằng bé ngộ quá, mình chơi đùa với chúng nó lại càng thêm nhớ đến lũ con ở nhà.” Phải, ở nhà ông cũng có hai thằng bé là Giao và Bích mà…

Thứ sáu, 23-6:…vào hiệu ảnh, chụp cái ảnh gửi về nhà”.18F[18]FÔng gửi ảnh ấy về thì bà lại gửi sang cho ông bức ảnh ông mặc áo gấm bế bé gái Ngoạn. Ảnh chụp trước lúc ông đi xa. Ai ngờ, sau đó ông diễn thuyết đến bốn bận, có lần ở cả Viện Hàn Lâm Pháp, khiến các báo Paris xôn xao lên, tranh nhau đăng bài nói của ông, còn xin cả ảnh để đăng kèm cho thêm sức thuyết phục. Bấy giờ, tuy mới chụp ảnh mặc âu phục gửi về nhà, nhưng ông lại không dùng ảnh ấy, mà đưa đăng bức ảnh mặc áo dài khăn đóng, đang bế con gái mới vừa mấy tháng. “” Phạm Thị Ngoạn, sau này là tiến sĩ đại học Sorbonne Paris với luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong) nghiên cứu về sự nghiệp chủ yếu của đời ông, vẫn luôn giữ bên mình bức ảnh đó, coi như báu vật quý nhất đời mình. Bà nắn nót đề sau ảnh dòng chữ: “Tôi đã có mặt trên báo chí Paris từ năm 1922”. Năm 1921 là năm sinh bà Ngoạn

hinh-4_nha

Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.” Thế là đang sống giữa Paris phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, lòng ông vẫn hướng về quê nhà; ông vẫn nhớ là sắp đến Tết Trung thu, và càng nhớ các con.

Thứ năm, 29-6: Năm giờ chiều mới ở vườn bách thú ra, trước khi lên xe, mua một mớ cartes postales (bưu ảnh) các giống thú lạ để gửi về cho các trẻ nhỏ ở nhà. Nào là sư tử, nào là hổ báo, nào là hươu nai, nào là vượn khỉ, mỗi cô mỗi cậu được mấy con giống, xem mà tranh nhau ỏm tỏi! Còn cái con nai cao cổ kia, chắc anh chị nào cũng thích, ta phải mua đến nửa tá mới đủ. Nửa tá là đúng, bấy giờ ông có vừa đúng nửa tá…con, hai trai bốn gái, kể cả cô mới sinh mấy tháng trước khi ông đi.

Và rồi, “Thứ hai, 17-7: đi vào vườn Luxembourg. Vào đến giữa vườn, trông cái cảnh mới đẹp sao!…Nhưng đẹp nhất là cái cảnh mặt trời về tây, bóng dương đã xế, mây vàng ngẩn ngơ, thật là Trời tây bảng lảng bóng vàng

Không gì đẹp bằng góc trời đó, mà cũng không gì buồn bằng đám mây đó. Vì trông mây, lại sực nhớ đến nhà: Lòng quê gửi đám mây vàng xa xa. Mến cảnh nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang thêm nữa. Trời vừa sập tối, lính canh vườn đã nổi trống để giục khách tháo lui. Lủi thủi bước ra, đi thẳng về trọ…mãi canh khuya vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Từ ngày sang đây đến giờ, đến hôm nay, mới thấy buồn là một, thật là: Lạnh lùng thay giấc cô miên”19F[19]F

Ông nhớ nhà, nhớ vợ và các con là phải. Biết bao việc hằng ngày trong gia đình gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ, ông cùng các con đi xem phim, cứ mua bốn năm vé, mấy cha con cùng ngồi xem. Thời ấy, phim câm, thỉnh thoảng có chiếu chữ Pháp trên màn ảnh. Ông đọc rồi giải thích cho mấy anh chị em, cứ truyền khẩu nhau mà nghe. Khi có kịch cải lương hoặc vở chèo nào hay, thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.20F[20]

Sáng sáng, ông dậy sớm, đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà là dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất thời ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng, gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào chén cà phê nhỏ, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi, đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Ông lo chăm sóc các con như thể sợ vẩn vơ là có thể lúc nào đó, ông sẽ bị mất một đứa, mà đứa nào ông cũng quí, cũng yêu với tất cả tấm lòng! Vậy mà, ông đã phải gánh chịu tai hoạ đó. Không phải chỉ một lần…

Cô con thứ bảy mất lúc mới được nửa năm, còn cô thứ chín cũng chỉ sống với ông vẻn vẹn có chín tháng. Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Ông mời thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được. Ông đi bộ theo chân kiệu tang bé nhỏ, đưa các con đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có lần đang ngủ ông bỗng hốt hoảng choàng dậy, vội vã chạy sang buồng vợ, tưởng như nghe thấy có tiếng con nhỏ khóc. Ông vốn cận thị, lại không kịp đeo kính, nên lao cả đầu vào cửa kính mới bừng tỉnh, rồi thở dài, lủi thủi về lại giường nằm, trằn trọc cho đến sáng. Con gái đầu của ông, cụ Phạm Thị Giá, đến năm ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn nhớ như in trong óc cảnh tượng này.

Năm 1926 ông bà lại sinh một gái. Ông quyết định đặt tên con là Hoàn và nói rằng: “Đây là trời “hoàn” lại, thay cho hai người con gái đã mất”. Bé Hoàn được ông bà yêu chiều đặc biệt. Bữa cơm thì cho ngồi ghế mây cao ở giữa, ông một bên, bà một bên. Ông hỏi: “Em yêu thầy hay me?”. Khi cô bé trả lời: “Em yêu thầyme”, thì bà lại hỏi: “Em yêu me hay thầy?”. Và cô bé đáp: “Em yêu methầy!”. Ông như muốn nhìn thấy qua hình hài bé Hoàn cả hình bóng hai con gái ông rất mực yêu thương nhưng mệnh yểu.

Nhưng định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải đau khổ vì mất con một lần nữa. Sau bé Hoàn, bà lại sinh cho ông một bé gái, đứa con thứ mười một của ông. Thấy con gái xinh xắn, nhỏ nhoi, ông mới đặt tên cho em là Yến. Bấy giờ có nữ thi sĩ Pháp là bà Jeanne Duclos Salesse mến phục tài ông, thường lại nhà chơi, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên, rồi làm tặng một bài thơ, có câu:

Xin chào Chim Yến Nhỏ, đã khéo chọn hình mẫu từ những nét của mẹ em xinh đẹp, để ngời sáng lên như một viên kim cương, ơi Chim Yến”

Nhưng mới được năm tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo, chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh cũng chẳng hề thuyên giảm, cứ ngày một nặng lên. Bé Yến suy kiệt, héo hon dần ngay trước mắt ông. Nhiều đêm, ông bế con gái nhỏ, yếu ớt như cái giải khoai, để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt, cao chừng tám mươi phân, cổ tượng ông có đeo cho một chuỗi hạt san hô đỏ, trước tượng, đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ đi như thế suốt đêm, bế con vác vai, miệng khe khẽ ngâm nga những câu thơ cổ, mong ru em ngủ, giấc ngủ mong manh, chập chờn. Nhưng rồi, việc ông lo sợ nhất vẫn cứ đến, Chim Yến Nhỏ lại cũng bỏ ông mà bay đi. Sau khi tác giả bài thơ tặng em về Pháp được một tháng.

Nhiều năm sau, khi được tin bà Salesse mất, ông có làm bài tưởng niệm, trong đó có câu:

Bà Jeanne Duclos không còn nữa! Kỉ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi, sau khi bà lên đường một tháng, đã bay về Trời; nơi ấy, chắc là bà sẽ gặp lại em

Ông vẫn không sao quên được tổn thất lớn lao mình đã phải chịu đựng năm ấy. Mất một đứa con, là ông đứt một khúc ruột

Giữa hai cô con yểu mệnh, ông được một trai khôi ngô, mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong “nhị thập bát tú” (sau này sẽ là Giáo sư nổi tiếng về lão khoa, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, và từng được bầu làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Dương quê hương ông, với số phiếu cao nhất). Sau Chim Yến Nhỏ, ông lại được thêm một trai nữa. Cậu này thay chỗ bé Hoàn trong bữa ăn gia đình, được ngồi giữa ông bà. Ông đau dạ dày, quanh năm chỉ ăn xôi với ít thịt gà thịt lợn kho. Bữa xôi nào, ông cũng chỉ xắn ăn chung quanh, để lại giữa đĩa một cái “cù lao” nhỏ, dành cho bé Tuyên. Cái cung cách để dành lại cho con một chút thức ăn đó, ông có đã lâu. Cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ: “ Có đêm, tôi ngủ đã lâu, tỉnh dậy, thấy bên bàn giấy thầy đèn vẫn sáng. Tôi thương thầy làm việc quá khuya, mở cửa sang, thì thầy hỏi: “Con ngủ rồi à, sang đây ngồi chép cho thầy.” Tôi ngồi vào bàn viết và thầy ra ngồi ghế xích đu, cầm quyển sách, dịch và đọc thẳng như người ta đọc chính tả cho tôi viết, đến mỏi cả tay. Đêm càng khuya, thầy càng tỉnh táo và giọng đọc vẫn rõ ràng. Sau chừng hai tiếng đồng hồ, tôi vừa mỏi tay, vừa buồn ngủ thì thầy mới như chợt nhận ra, và bảo tôi cắt cam cho thầy xơi…Cam bổ làm sáu, thầy xơi bốn miếng, còn hai miếng, bảo tôi ăn. Thầy còn nói vào mắc áo có cái gi-lê trắng của thầy, trong túi có gì thì thầy cho. Tôi vào lục túi, được mấy hào lấy làm sung sướng lắm, đó là thầy thưởng công cho tôi”.21F[21]

Sau đó, ông bà còn sinh hai gái nữa, đặt tên là Diễm (tên khai sinh bị ghi nhầm là Giễm, không sửa được!) và Lệ; chỉ bằng vào hai cái tên thôi, cũng đủ biết hai cô xinh đẹp dường nào. Rốt lòng là một trai tên Tuân, một gái út tên Viên, có thể là do khi sinh ra cô tròn trặn, mà cũng có thể ông cho đàn con đông đến như vậy là “viên mãn” rồi.

Bà Phạm Thị Hoàn còn nhớ: “Vào Huế tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh tay trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai, chóng nhớn, vươn vai, chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến thầy tôi “tỏ tình” với các em bé, nên cũng yên chí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy”.22F[22]FÔng vẫn yêu mến, chăm sóc các con hết lòng, dù đó đã là các con thứ mười bốn, mười lăm, và mười sáu của ông.

Ông thường nói với các con là mình không có tuổi thanh niên. Trong thời gian còn làm báo, đôi khi ông cũng có lần cùng bạn bè tới các ca lâu tửu điếm, thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán thời ấy cho phép, người ta hỏi ông có “chấm” một cô đào nào không thì ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy, nên không bị cám dỗ”.23F[23]

Ông không bao giờ cáu giận, to tiếng với ai cả. Bực mình lắm, cũng chỉ thấy ông tặc lưỡi là cùng. Ông không bao giờ dùng quyền uy hay hình phạt. Con trai cả ông đã kết duyên với con gái ông bạn văn thân thiết nhất của ông, sinh được hai trai, thì lại đem lòng yêu thương và lấy một cô gái Huế “tân thời”, rồi đưa nhau vào tận Sài Gòn sinh sống như dân lao động, khi ông đã là mệnh quan của triều đình. Ngày giỗ kị, các quan mũ áo chỉnh tề đã tề tựu đông đủ, mới thấy cậu cả về nhà, mặc bộ đồ tây vàng, thời ấy chỉ những người phát thư mới mặc, đi thẳng vào giữa hàng các quan đang khúm núm, chìa tay ra suồng sã bắt tay từng người và chào hỏi tự nhiên. Tin đồn: “Cậu cả con cụ Thượng vào Sài Gòn mở tiệm cơm đeo bị cói đi mua thịt bò ở chợ Bến Thành” khiến không ít người dị nghị: “Sao cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú Ba Tàu!” Nhưng ông chẳng có hình thức trừng phạt gì, cũng không trách mắng con trai. Ông vẫn thương và giúp đỡ tận tình cả con trai với cô vợ cả và hai con trai, lẫn cô vợ lẽ và ba đứa con, không hề phân biệt đối xử, coi cũng như các con cháu khác của ông vậy, khiến cho gia đình tám con người ấy vẫn sống hoà hợp lâu dài mà không đi đến hận thù, đổ vỡ. Đương thời, một thạc sĩ y khoa trẻ, tốt nghiệp từ Pháp về Huế, do yêu thương và quyết xin cha cho lấy một cô gái Huế “tân thời” người Hoàng Tộc, nhưng trái ý cha, đã bị bắt nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên, trên mông đặt một cái roi mây “để tổ tiên trừng phạt tội bất kính, làm bại hoại gia phong”, ngay trước mặt bà con dòng họ, làm xôn xao xứ Huế một thời.24F[24]

hinh-5_nha

Ông theo dõi tỉ mỉ và tạo mọi điều kiện cho con cái phát huy thiên hướng của mình, không hề áp đặt, kể cả trong học hành lẫn vui chơi, giải trí. Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn, rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn cây cỏ hoa lá xanh tươi. Chung quanh nhà, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh mát rượi. Kế đến là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đảo đang trưởng thành mà ông đã chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một Thiên Đường của lũ trẻ, giữa thiên nhiên thoáng mát. Con trai con gái lớn ông, mỗi người một phòng riêng. Cậu cả thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương; cậu hai lại thích ghi-ta cổ điển phương tây; cậu ba ham đàn phong cầm; cậu tư mê cả ghi-ta lẫn phong cầm, sau này sẽ thành nhạc sĩ nổi tiếng của nước ta là Phạm Tuyên, tác giả hơn sáu trăm ca khúc, đặc biệt là bài Như có Bác trong ngày đại thắng mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc…Có lần rỗi rãi, ông xuống thăm nhà gỗ, thì gặp Phạm Bích con trai thứ hai của ông đang đệm đàn và hát cùng Hoàng Gia Lịnh bài Việt Nam bất diệt anh này mới sáng tác đưa bạn xem thử. Ông khen hay, bảo cứ hát tiếp đi, rồi đứng yên nghe hai người hát cho đến hết bài, mới đi chỗ khác. Kỉ niệm ấy, đến năm ngoài tám mươi tuổi cụ Lịnh vẫn còn nhớ rõ.25F[25]

hinh-6_nha

Lần khác, muốn giới thiệu các con với một bạn người Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang tổ chức “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ. Âm nhạc do Phạm Vinh, đính tôn của ông (sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là nhạc sĩ quân đội, trưởng Đoàn Văn công Trường Sơn) tùy cảnh trong phim mà mở các đoạn nhạc thích hợp có trong những đĩa hát cũ, bằng kèn hát lên dây cót. Các cháu nhỏ, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée, thật ngoài mong ước của lũ trẻ. Còn các cô gái thì đan len, thêu thùa hoặc học hát cũng là ở nhà gỗ cả. Các con cháu ông có thói quen hát nhiều bè, chỉ cần một người cất tiếng hát là có người khác phụ hoạ, hát đệm theo luôn, có khi đến ba bốn bè. Về thể thao, các con ông ham bơi lội, quần vợt, săn bắn và câu cá ở ngay con sông nhỏ An Cựu trước cổng nhà. Hầu như ai cũng biết vẽ. Và tất nhiên, ham đọc sách báo, thích thơ văn. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “bản báo phóng viên”, “biên tập”, “hoạ sĩ trình bày”…thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn kỳ lạ, và có phóng sự thuật cả chuyện “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya…” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ còn là nơi các thầy dạy kèm được ông mời đến dạy các con cháu nhỏ học buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học, tự chúng có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Vào tuổi xế chiều, Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập vẫn thấy cần chia sẻ một ký ức tuổi thơ với đông đảo cử tọa của Ngày Phạm Quỳnh (năm 1999). Một hôm cậu Tập, học trò lớp nhất tiểu học được bạn cùng bàn là Xương mời đến chơi biệt thự Hoa Đường. Cậu đến thì bị hai lính lệ gác cổng đuổi. Hôm đi học, bèn nói cho Xương biết. Chủ nhật sau, cậu đi câu cá ở sông An Cựu, qua cổng thì hai anh lính hôm trước rượt theo, lễ độ Mời vào chơi với cậu Xương Cụ Thượng muốn gặp cậu. Cậu vào thì Xương giới thiệu với bác mình là cụ Thượng. Giáo sư kể: “Thong dong, hiền từ, tế nhị không nhắc đến chuyện cũ, cụ Phạm thăm hỏi gia đình tôi và dẫn vào thư viện xem sách. Sách, đâu cũng sách là sách… Cụ giảng cho biết thế nào là loại sách quí…”26F[26]F

Con người cô đơn là ông luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy con cháu đông đảo, lạc quan, năng động. Ông như thấy có trách nhiệm với cái bộ lạc mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định gì có thể gây tổn thất cho bộ lạc của mình, làm “sẩy đàn, tan nghé”, ông e ngại tất cả những gì quyết liệt, mang tính bạo lực. Những việc ông dồn tất cả tâm sức vào làm cũng chỉ là để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lặng lẽ âm thầm làm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường của mình, mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong bộ lạc thân yêu của mình, để tiếp tục sống mà làm việc. Có lẽ ông nghĩ: không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm với những việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng; cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy; bởi cái gì phải đến, tất sẽ đến đúng lúc cần phải đến thôi…Ông vốn là người cho thì thật nhiều, mà nhận thì chẳng bao nhiêu.

Ông cũng không nệ “môn đăng, hộ đối” như lề thói đương thời. Cô con cả ông được một thanh niên nghèo người Huế đem lòng yêu thương. Anh là con một quan huỵên thanh liêm về hưu trước tuổi, tự làm việc nuôi thân ăn học thành tài, lại thay cha nuôi cả gia đình đông đúc, sau này là một trong tám vị sáng lập trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng ở Hà Nội. Thấy người có đức có chí, khi con gái thuận tình, thì ông cũng bằng lòng gả cho. Ông trọng ông thông gia là quan huyện thà về hưu ở lứa tuổi bốn mươi còn hơn là theo lệnh Tây đi lùng bắt những “người làm quốc sự”mà mình cho là lương dân. Một lần sinh nhật ông, ông này đến dự, có cho người mang theo một mâm lễ lớn, phủ vải đỏ. Ông đưa hai tay đón nhận, cảm ơn là Đã cho quà nhiều quá! Và sai người nhà mang vào nhà trong, rồi kính cẩn mời ông thông gia vào bàn thượng khách. Ông không cho khách dự – phần lớn là các quan trong triều và giới thượng lưu trí thức- thấy món quà tặng đó: Chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà!27F[27]

Vợ chồng cô con cả sinh con đầu lòng năm 1932, ông vào tận bệnh viện thăm cháu gái và cho biết là năm ấy, ông sẽ vào làm quan trong Huế. Ông vuốt má cháu ngoại đầu tiên mà nói: “Sang năm, vợ chồng cho cháu về Huế thì tiện, có bên nội lại có cả bên ngoại nữa.” Sau đó, cứ mỗi lần gia đình này về Huế, ông lại cho lái xe ra tận ga đón, rồi đưa thẳng cả nhà về bên nội ở một thời gian, sau mới cho đón về bên ngoại, ở lại lâu hơn.

Các con ông đều lấy người mình yêu thương, không hề có cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” như đương thời. Ông yêu quý tất cả dâu rể, âu yếm tất cả các cháu nội ngoại. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đảo, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường rộng lớn, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con dâu rể và lũ cháu nội ngoại lớn nhỏ tuỳ tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, là con cháu bu lại, mỗi người một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàng lợi cứng, không còn sót một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà. Cho nên, sau khi gia biến, ông không còn, nhưng cụ Hạt, cụ bếp Nguyên, u Nấm, u Viết vẫn giúp việc vợ con ông cho đến tuổi già, tận tình và trung tín. Cụ thợ may Liễn (tên thường gọi là ông Hai Lươn, em ông Cả Trạch), thường xuyên thăm nom, giúp đỡ gia đình cô con cả ông những khi có việc. Các con cái cụ như Sâm, Nhung…thường đi lại, gắn bó thân thiết với cháu ngoại Phạm Quỳnh. Các ông Bồng, Huệ, Thìa, Khoá, Hồ, Gà… vẫn gắn bó như xưa. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, hội nghị giáo dục toàn miền Bắc họp lần đầu. Con trai Phạm Quỳnh là giáo viên Khu Học xá Trung ương từ Nam Ninh (Trung Quốc) về nước dự. Buổi tối, họp kín, chỉ toàn Đảng viên. Giờ giải lao, thì có một người cùng họp đến gặp, hỏi có phải là con Cụ Phạm không, rồi tự xưng Tôi tên là Thìa, em anh Khoá đây, thân thiết, không chút e ngại.

Trẻ con đông, lại nhiều cháu trai hiếu động, gây ồn ào, đổ vỡ, hư hỏng này nọ. Nhưng, tuyệt nhiên không đứa nào bị ông trách mắng hay có hình phạt nào cả. Có con cháu quây quần là ông vui rồi.

hinh-7_nha1

Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao, lớn lên lấy vợ lấy chồng tên là gì, năm nào sinh con ông ghi đủ cả28F[28]

Bà Hoàn, hồi nhỏ ở Huế thường giúp ông các việc vặt như: mở máy hát các điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy, những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần Cung Oán…hay đọc sách cho ông nghe và chuyên cắt móng tay cho ông. Năm gần bảy mươi tuổi, bà vẫn còn nhớ: “Mỗi lần như vậy, thầy tôi lại nói đùa: Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn. Riêng câu đó cũng chứng tỏ thầy tôi luôn luôn dung hoà cái xưa và cái nay”.29F[29]F

Ông yêu quý những người thân của mình và cũng được đáp lại bằng tình cảm kính yêu chân thành, tha thiết nhất.

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường lúc mới năm mươi hai tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mình tâm đắc nhất. Được đúng năm mươi mốt bài thì gửi Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút trong một cuốn vở học trò, mới được non năm mươi trang giấy.30F[30]F Tháng sáu năm ấy, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”…”Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học”…” Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này”…”Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”31F[31]

hinh-8_nha

Từ lâu, ông đã muốn thoát khỏi quan trường mà không sao thoát được. Năm 1932, nghe tin ông nhận vào Huế làm quan, Hoàng Đạo Thúy đã can ngăn hết lời, nhưng ông vẫn ngây thơ trả lời rằng: “Tôi vào thử một tháng, không làm được gì thì tôi lại ra”.32F[32]FÔng còn nói với nhà báo Nguyễn Vạn An vào tháng 6-1945: “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả”.33

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.34F[33]FÔng mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.35F[34]FÔng bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường. Rồi ngày 23-8, nghe có lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế,36F[35]F ông giục con cái chuẩn bị áo quần chỉnh tề, đem cờ nhà may, sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng dân làng An Cựu.

Nhưng rồi, đến trưa ngày 23-8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động, thì có mấy người đi xe hơi đến “đón” ông đi. Cô Hoàn, thường quấn quít bên ông từ nhỏ, vội vàng chạy theo ông, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé” (Vì cô vẫn biết mỗi ngày ông phải uống thuốc ấy bốn lần do đau dạ dày). Thì ông quay lại, dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về37F[36]

Xe chạy, và ông không bao giờ về nữa

Trước cổng biệt thự Hoa Đường xưa “là chiếc cầu cho các thuyền dọc hay đò ngang ghé đậu nay vẫn như xưa. Người dân quê chân phương không ai bảo ai, đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm”.38F[37]

Tháng 10- 2000 – Tháng 4-2006

* Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(56). 2006 với nhan đề Phạm Quỳnh-Người nặng lòng với nhà


1 Hoàng Đạo Thuý: bản dịch Trích gia phả họ Hoàng Đạo:

Phụ: Bên Ngoại ( Hoàng Đạo Thành soạn, viết)

Phả ký học trò viết (Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết)

2 Hoàng Đạo Thuý: Các việc tiếp theo (viết ngày 16-7-1991, tại Hà Nội)

3 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

4 Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

5 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

6 Theo lời kể của ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này, năm 1999

7 Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

8 Theo lời kể của bà Lê Thị Trung, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này ngày 19-1-2000

9 Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

10 , 12 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

13 Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa, NXB Văn Hoá – Thông Tin, Hà Nội, 2000

14 Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

15 Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

16 Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

17 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

18 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

19 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

20 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

21 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

22 Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

23 Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

24 Theo lời kể của bác sĩ Ngô Văn Quỹ, trực tiếp kể cho người viết bài này, tại Thành phố Hồ Chi Minh, năm 1999

25 Theo lời kể của Giáo sư Sử học Hoàng Gia Lịnh, sống ở Paris trực tiếp kể cho người viết bài này.

26 Nguyễn Phước Bửu Tập – Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá số 50, Mỹ

27 Theo lời kể của bà Tôn Nữ Việt An, cháu ngoại Phạm Quỳnh, trực tiếp kể cho người viết bài này qua điện thoại (tháng 1-2006 )

28 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai (tháng 4-1988 )

Thư gửi con trai (25-5-1988 )

Thư gửi em gái (14-9-1992 )

29 Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

30 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và Di cảo, NXB An Tiêm, Paris, 1992

31, 33 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23-3-1952

32 Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

34 Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

35 Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

36 Tố Hữu: Nhớ lại một thời, trích hồi kí đăng trên Tạp chí Văn học, số 8 năm 2000, chương V: Khởi nghĩa

37 Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

38 Phan Kính Đức: Từ Hồ Chí Minh đến Phạm Quỳnh, tạp chí Sóng, Mỹ

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.