Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 10, 2021

Tiếng ta hay lắm

Filed under: Báo — phamquynh @ 4:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 4 năm 2021

TIẾNG TA HAY LẮM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu và phần cuối chúng tôi trích trong bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại Hội Trí Tri (Hà Nội) ngày thứ năm 21 tháng 4 năm 1921. Đầu đề phần trích này là của chúng tôi.

*

*        *

Mới đây tôi có tiếp một cụ linh mục người quí quốc (chỉ nước Pháp – PT chú), cụ là người rất am hiểu tiếng ta mà lại thông cả chữ Hán nữa. Nhân bàn về văn quốc ngữ, tôi có phàn nàn với cụ rằng có nhiều người Đại Pháp không chịu công nhận tiếng An Nam, lại có ý phản đối, cho tiếng An Nam là không đủ dùng ở đời này, không sớm thời muộn, tất có ngày tự nhiên phải tiêu diệt đi và sẽ bị tiếng Pháp thế vào. Cụ đáp lại rằng: “Những người nói thế là xét lầm. Văn quốc ngữ ngày nay đương tấn tới, rồi cũng có ngày thành văn chương hay được. NgPham Quynh_Treười ta cứ chê rằng văn quốc ngữ phải mượn nhiều chữ Tàu, nhưng không hiểu rằng tiếng An Nam đối với chữ Hán thật là thuộc vào một cảnh ngộ  riêng, tưởng trong thế giới không có tiếng nước nào giống như thế. Chữ nho mà đem dùng sang văn quốc ngữ là thiện thị thành tiếng An Nam rồi. Ông có mượn chữ nước người, nhưng ông đọc theo giọng ông, ông lại đặt vào giữa một câu tiếng An Nam, thời chữ ấy là hóa theo An Nam rồi, còn gì là Tàu nữa. Đó là một sự rất tiện lợi cho cái quốc văn mới của các ông, vì tiếng các ông nhờ mượn chữ Tàu mỗi ngày một giàu thêm ra, mà mượn chữ Tàu thời mượn bao nhiêu cũng có thể tiêu hóa được. Không kể ngày nay nhiều người học tiếng Tây, một đôi khi cũng có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Như vậy thời văn quốc ngữ không bao lâu sẽ thành một nền quốc văn xứng đáng…”

Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này, thường nghe thiên hạ bình về văn quốc ngữ, người khen người thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp của một đời. Vậy nghe lời cụ linh mục là người đã nghiên cứu về tiếng ta và chữ nho thâm lắm, phán đoán mấy câu như thế, thật lấy làm vui lòng. Như thế thời  quốc văn ta có cơ thành lập được, không đến nỗi bị tiêu diệt như người ta nói. Mà nghĩ cho kỹ, tiêu diệt làm sao được? Nước ta với nước Tàu là đồng chủng đồng văn, người Tàu cai trị ta trong hơn ngàn năm, văn hóa Tàu ta đổi theo, phong tục Tàu ta bắt chước, dạy tiếng ta ta nói, ta không nói tiếng Tàu; huống ngày nay Đại Pháp sang bảo hộ là lấy cái chính khoan dung đại độ mà mở mang gây dựng cho ta, hà tằng lại có bụng muốn vùi rập phá hoại cái quốc túy của ta: không có lẽ đâu như thế. Đương khi ta còn tùy tâm về Hán học, đương khi những hàng thượng lưu trong nước còn mải miết về chữ nho, nung kinh nấu sử câu phù câu thì, thời trong dân gian những kẻ làm ruộng hái dâu, cùng là đàn bà con trẻ, nói năng với nhau bằng gì, lấy gì mà dạy bảo khuyên răn lẫn nhau, lấy gì mà truyền cho nhau cái tâm thuật làm người, những mánh khóe ở đời, những điều kinh nghiệm về việc làm ăn, những sự từng trải trong việc giao tế? Lại những khi nhớ hão thương thầm, mối tình lai láng, thời lấy gì mà giãi tỏ chút cảm thương, lòng tưởng nhớ? Con trai con gái, đời nào nước nào cũng biết dùng lời hát giọng thơ mà tỏ cái lòng ham muốn cho nhau biết, vậy mà trừ những bậc khuê môn đài các có thể lấy văn chương mà tự tỉ mình như Tư mã Văn quân, còn những kẻ tầm thường vô học thời biết lấy gì mà bày tỏ nỗi lòng? Há chẳng phải là cái tiếng quốc âm rất quí báu của ta rư? Há chẳng phải là những lời tục ngữ câu ca dao, ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ? Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy chỉ xuất bản ở miệng người tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một cái văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương nôm na mách qué, song thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ, phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đấy.

Cói đó thời biết giữa khi cái thế lực của Hán học còn đương lấn khắp hết cả, những người tri thức trong nước không ai chịu luyện tập đến tiếng Nôm mà tiếng Nôm còn sinh hoạt được mạnh như thế; huống bây giờ quốc dân đã biết hồi tỉnh lại mà quý chuộng tiếng nước mình, thời cái quốc âm kia thể sao mà tiêu diệt đi được, không những không tiêu diệt được, mà chắc càng tập luyện càng ngày càng hay mãi ra, sau này cũng thành một nền văn học xứng đáng, chẳng kém gì người. Ngày nay ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh Thái Tây trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi. Thứ tiếng thông thường ấy chính là những tục ngữ ca dao của ta đó.

(…)

Tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào, và cái văn chương truyền khẩu của ta thanh thú biết bao nhiêu. Tiếng An Nam ta hay lắm, các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quí báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà:

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương lấy cùng.

P.Q.

Tháng Ba 27, 2021

Tâm lý cô Kiều

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 4 năm 2021.

Một trăm năm trước, Phạm Quỳnh đã viết bài này

TRUYỆN KIỀU

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ một trăm năm nay, ở nước ta, hầu như không ai nói tới Truyện Kiều mà quên nhắc tới Phạm Quỳnh. Nhất là từ sau 1924, năm diễn ra lễ kỷ niệm lớn nhất nước ta từ xưa tới nay ngày mất đại thi hào Nguyễn Du, với hơn hai nghìn người tham dự tại Hà Nội. Tối ấy, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh xuất thần thốt lên câu nói bất hủ “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Sau đó, đã nổ ra một cuộc tranh luận lớn về Truyện Kiều, với sự tham gia của những tên tuổi lớn trong cả nước. Đến nỗi, sau này cuộc tranh luận về một tác phẩm văn học đã bị đẩy lên thành một hành động chính trị. Và cuộc tranh luận đã thành một “vụ án”: Vụ án Truyện Kiều, thoát hẳn ra ngoài lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Đến nay, sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, theo tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đang ngày càng có nhiều cách tiếp cận mới dân chủ hơn, công bằng hơn mà cũng thấu tình đạt lý hơn. Và chân lý ngày càng sáng tỏ, trong một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng là quê hương của các danh nhân văn hoá thế giới: đại thi hào Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Thật ra, Phạm Quỳnh quan tâm, yêu mến Truyện Kiều và Nguyễn Du từ lâu rồi. Trong bài văn cuối đời viết còn dở dang vào trưa ngày 23/8/1945 Cô Kiều với tôi, Phạm Quỳnh có kể là ông đã say mê Kiều từ thuở lọt lòng, qua lời ru của mẹ là cô Vũ Thị Đoan, một hậu duệ của dòng thi thư họ Vũ nổi tiếng hay chữ, hiếu học đất Hải Dương. Và bài đầu tiên ông viết về Truyện Kiều, phân tích tìm hiểu Truyện Kiều “theo lối mới” là bài Truyện Kiều, đăng trên Tạp chí Nam Phong số 30, tháng 12 năm 1919, năm ông mới 26 tuổi và Nam Phong ra đời vừa hai năm. Bài dài đến 20 trang báo, gồm bốn phần: 1) Cỗi rễ Truyện Kiều. 2) Lịch sử tác giả. 3) Văn chương Truyện Kiều. 4) Tâm lý cô Kiều.

Để cung cấp cho bạn đọc ngày nay có thêm tư liệu nghiên cứu về Truyện Kiều và Nguyễn Du, cũng như bản thân tác giả Phạm Quỳnh, bắt đầu từ kỳ 1 tháng 1/2011, chúng tôi lần lượt trích đăng bài báo quan trọng này, theo văn bản in trong Phạm Quỳnh – Thượng Chi Văn Tập, Nhà xuất bản Văn học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, từ trang 549 đến trang 593. Nay đăng lại bắt đầu từ kỳ 2 tháng 1 năm 2019

Sau đây, xin mời các bạn đọc từng phần.

—o0o—

4. Tâm lý cô Kiều

Theo phép phê bình của văn học Thái Tây thời muốn biết một văn sĩ có tài hay không, nên xét xem những nhân vật mô tả ra có vẻ linh hoạt như người sống hiển nhiên không, hay là chẳng qua là những người mơ hồ như trong giấc mộng, những hình bù nhìn chuyển động như cái máy mà thôi. Vì chuyện có đằm thắm trong nhân sinh thực tế, có thiết đến những nỗi vui buồn sướng khổ ở đời, có trúng với nhân tình thế thái, nói tóm lại là có hoạt động, hiển nhiên như sự thật, khiến cho người đọc đến quên hẳn mình đi, tưởng như chính thân lịch những cảnh huống ấy, chính mình cảm những nông nỗi ấy, mình tức là người trong truyện, người trong truyện tức là mình, có như thế thời truyện mới cảm người được. Khi đọc những bộ tiểu thuyết có tiếng của Thái Tây thường có cái cảm giác như thế, như người trong truyện là người sống thật, đương hành động ở trước mặt mình. Cho nên Thái Tây cho những văn sĩ có tài là những tay sáng tạo ra nhân vật, các nhân vật ấy có khi sinh tồn mãi mãi trong ký ức của người đời, không bao giờ mai một được nữa. Cụ Tiên Điền ta đặt ra truyện Thúy Kiều thật cũng đang là một tay sáng tạo tuyệt luân, vì cô Kiều đã thành một nhân vật não nùng ở trong tình giới người nước ta, thành một người bạn bi thu thê thảm của biết bao nhiêu kẻ bạc mệnh tài tình tự hơn một trăm năm tới giờ và cho đến muôn đời về sau nữa. Nhờ tay Cụ tác thành mà người con hát vô danh ở miền Triết Giang Phúc Kiến bên Tàu tự ba bốn trăm năm về trước kia, đã thành cái gương phong tình tiết nghĩa cho người cả một nước soi chung.

Phong tình mà tiết nghĩa, cả cái tâm lý cô Kiều là gồm trong bốn chữ ấy. Lịch sử không thiếu gì những gương đàn bà tiết liệt, nhưng các bậc ấy cao nghiêm quá, chỉ khiến cho người ta kinh sợ, không khiến cho người ta mến yêu. Ở đời không thiếu gì những kẻ trăng hoa, nhưng các hạng ấy bỉ tiện quá, chỉ khiến cho người ta khinh lờn, không khiến cho người ta quí chuộng. Có cái đức nghiêm của người liệt nữ, mà lại có cái vẻ tình của khách phong lưu, đức hạnh đủ khiến kính, tài tình đủ khiến yêu, giá trị đủ khiến quí, thân thế đủ khiến thương, vì cảnh ngộ mà phải nặng kiếp đào hoa, trong tình ý vẫn ra người tiết nghĩa, ở nơi ô trọc mà vẫn giữ được tiết thanh cao, gặp cảnh gian nan mà không hề đến nỗi đắm đuối. Kiều nương thật là gồm cả bấy nhiêu tính cách, nên ai đọc truyện cũng phải kính, phải thương, phải yêu, phải trọng.

Kiều là một kẻ sầu nhân: xem như thủa nhỏ mới học đàn đã gẩy khúc “Bạc mệnh”, khi đi thăm mộ lại sẵn mối thương tâm, “trông người nằm đấy biết sau thế nào”, nghe lời thầy tướng đoán mà tin ngay ở số đoạn trường, toàn là những khóe một người không biết sự sung sướng ở đời là gì. Sướng gì bằng lúc ngồi nói chuyện với kẻ tình nhân, thế mà cũng nghĩ xa nghĩ gần, nói những lời sái, gẩy những khúc buồn, khiến cho người ngồi đấy cũng phải ngơ ngẩn trong lòng mà thê lương trong dạ. Lại như lúc vui vầy với Thúc Sinh, như người ta ra thời thân đã đến thế, được vui sướng ngày nào hay ngày ấy, còn mưu tính xa xôi làm gì, cho uổng mất các thời giờ quí báu ấy, thế mà cứ một mực khuyên chàng Thúc về tính việc nhà, kết cục đến xảy ra sự tai nạn bất kỳ. Lại như khi ở với Từ Hải, tưởng sướng đến thế đã là cực, như người ta ra thời cứ yên lòng mà tận hưởng cái sướng ấy, phận đàn bà biết đâu những việc quân cơ mà bàn hơn tính thiệt, nỗi địch nỗi hàng, cho đến gây ra cuộc thất bại, phụ lòng người tri kỷ mà đem thân đi chìm nổi một lần nữa. Nhưng đã bẩm tính ra người hay nghĩ hay buồn thời gặp cảnh ngộ nào cũng là khiến cho phải buồn phải nghĩ, mà không biết hưởng cái sung sướng nông nỗi của người đời. Vì ở đời phải có tính nhẹ nhàng nông nổi mới sướng được, người thâm trầm là người đau đớn, cổ lai bao giờ cũng thế. Kiều nương là người đa tư đa cảm, lại là thân phận đàn bà, mà đàn bà có tài tình, nên cái khổ lại bội phần hơn người.

Kiều là người hay nghĩ hay buồn, lại là người khôn ngoan biết điều quá, Nghe những lời nói năng, coi những cách cư xử, thật là phải chăng đến điều. Phải chăng quá thành ra tỉnh ngộ quá, không biết ham mê cái gì nữa. Trong các tiểu thuyết Tây, người đàn bà chủ động trong truyện thường là người có ham mê sự gì, hoặc là ham mê người nào, mà vì trắc trở ở ngoài không được mãn ý, hết sức chống cưỡng lại thành ra mọi nỗi khổ sở long đong. Kiều đây tuy có tình với chàng KIm Trọng, tình ấy tuy đậm tuy sâu, mà vẫn giữ lấy thích trung, đến khi phải đem tình với hiếu ra cân nhau, thời nhất quyết vị hiếu bỏ tình, không có chút phàn nàn lưỡng lự gì cả. Là vì Kiều tin rằng muôn sự tại Trời còn cưỡng sao được, dẫu việc gì xảy ra cũng đành chịu vậy.

Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu.

Đã thế thời không có lòng ham muốn gì nữa, vì biết rằng mình ham muốn mà trời không cho, số không được, thời cũng không được; đã không ham muốn gì thời số phận xoay vần thế nào cũng mặc dầu, dẫu phải cực khổ đau đớn cũng chịu vậy chứ biết sao. Thành ra người là hy sinh của vận mệnh, vận mệnh khiến sao chịu vậy; bởi vậy nên các tình tiết trong truyện không phải là vì người ta để kháng với vận mệnh mà thành ra như trong các truyện Tây, mà là tự đâu đâu xảy đến cả, trước khi xảy đến không dự biết, khi xẩy đến rồi cam lòng chịu vậy. Như thế thì người “chủ động” trong truyện tức là người “thụ động” của vận mệnh mà thôi, chỉ khác là bị cái vận mệnh nó làm khổ hơn người thường vậy. Nhưng có khi nó làm khổ quá, không biết giải duyên cớ ra làm sao, thời lấy cái lý thuyết của đạo Phật mà chứng, cho là bởi tiền oan nghiệp chướng gì:

Kiếu xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xong…

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong…

Nói tóm lại thời Kiều là một người đa tình, nhưng không đắm đuối vì tình, biết lấy nghĩa mà chế tình, thế là trúng với lý tưởng của đạo Nho. Lại là người rất khôn ngoan, “biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng”, đáng lẽ ở đời phải êm thấm trót lọt lắm là phải, thế mà chỉ gặp những sự hoạn nạn khổ sở, không biết ở đâu mà ra, bèn tin rằng bởi cái số phận đã định như thế, cái tiền duyên đã khiến như vậy, không sao mà cưỡng được, đành đem mình làm hy sinh cho vận mệnh, thế là khuynh hướng về Phật. Tính cách là tính cách Nho mà tinh thần là tinh thần Phật, đó cũng lại là một đặc sắc trong tâm lý cô Kiều. Bởi tính cách Nho nên trong cách cư xử có cái chủ nghĩa “trung dung”, dẫu vào cảnh ngộ nào cũng rõ ra người biết điều phải chăng, nền nếp khôn ngoan; bởi tinh thần Phật nên về đường quan niệm có cái chủ nghĩa “định mệnh”, tin rằng số phận mình là đã định sẵn tự bao giờ, dẫu thế nào cũng đành phải chịu vậy, không dám nói sao. Có tinh thần ấy lại có tính cách ấy, người ở đời khôn ngoan như thế mà phải gặp cảnh đau đớn như vậy, mới thành ra một nhân vật rất não nùng ai oán, khiến cho người đọc truyện muôn đời cũng phải khóc thương.

Tiên Điền tiên sinh tả tâm lý cô Kiều như trên kia môt cách rất tinh tường, rất hiển hiện, đủ biết Ngài đã thuộc nhân tình thế thái lắm và đã hiểu rõ cả cơ quan trong tâm giới người ta. Nhưng trong nét bút của Ngài đều có ngụ một cái ý chán đời cả, và cứ xét lịch sử Ngài như trên kia thời có lẽ Kiều nương tức là biểu tượng của tấm lòng xót xa đau đớn của Ngài vậy. Những văn sĩ có tài xưa nay kết cấu ra một truyện gì cũng là tự diễn tâm sự của mình mà thôi, nhưng tâm sự ấy thiết tha thâm trầm, diễn ra được tức là diễn được cái nỗi lòng u âm sầu khổ của cả mọi người biết thương biết nghĩ ở đời vậy. Cho nên người ta còn có cảm tình, có tư tưởng, thời đọc truyện Kiều còn cảm động mãi; và tiếng Việt Nam còn có người nói người học thời những lời ăn tiếng nói của cô Kiều còn phảng phất bên tai người nước Nam mãi mãi vậy.

1919

P.Q.

Tháng Ba 13, 2021

Truyện Kiều phần 3: Văn chương truyện Kiều

Filed under: Báo — phamquynh @ 4:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 3 năm 2021.

Một trăm năm trước, Phạm Quỳnh đã viết bài này

TRUYỆN KIỀU

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ một trăm năm nay, ở nước ta, hầu như không ai nói tới Truyện Kiều mà quên nhắc tới Phạm Quỳnh. Nhất là từ sau 1924, năm diễn ra lễ kỷ niệm lớn nhất nước ta từ xưa tới nay ngày mất đại thi hào Nguyễn Dupham quynh can cuoc, với hơn hai nghìn người tham dự tại Hà Nội. Tối ấy, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh xuất thần thốt lên câu nói bất hủ “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Sau đó, đã nổ ra một cuộc tranh luận lớn về Truyện Kiều, với sự tham gia của những tên tuổi lớn trong cả nước. Đến nỗi, sau này cuộc tranh luận về một tác phẩm văn học đã bị đẩy lên thành một hành động chính trị. Và cuộc tranh luận đã thành một “vụ án”: Vụ án Truyện Kiều, thoát hẳn ra ngoài pham quynh trelĩnh vực văn học nghệ thuật.

Đến nay, sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, theo tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đang ngày càng có nhiều cách tiếp cận mới dân chủ hơn, công bằng hơn mà cũng thấu tình đạt lý hơn. Và chân lý ngày càng sáng tỏ, trong một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng là quê hương của các danh nhân văn hoá thế giới: đại thi hào Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Thật ra, Phạm Quỳnh quan tâm, yêu mến Truyện Kiều và Nguyễn Du từ lâu rồi. Trong bài văn cuối đời viết còn dở dang vào trưa ngày 23/8/1945 Cô Kiều với tôi, Phạm Quỳnh có kể là pham quynh bui toông đã say mê Kiều từ thuở lọt lòng, qua lời ru của mẹ là cô Vũ Thị Đoan, một hậu duệ của dòng thi thư họ Vũ nổi tiếng hay chữ, hiếu học đất Hải Dương. Và bài đầu tiên ông viết về Truyện Kiều, phân tích tìm hiểu Truyện Kiều “theo lối mới” là bài Truyện Kiều, đăng trên Tạp chí Nam Phong số 30, tháng 12 năm 1919, năm ông mới 26 tuổi và Nam Phong ra đời vừa hai năm. Bài dài đến 20 trang báo, gồm bốn phần: 1) Cỗi rễ Truyện Kiều. 2) Lịch sử tác giả. 3) Văn chương Truyện Kiều. 4) Tâm lý cô Kiều.

Để cung cấp cho bạn đọc ngày nay có thêm tư liệu nghiên cứu về Truyện Kiều và Nguyễn Du, cũng như bản thân tác giả Phạm Quỳnh, bắt đầu từ kỳ 1 tháng 1/2011, chúng tôi lần lượt trích đăng bài báo quan trọng này, theo văn bản in trong Phạm Quỳnh – Thượng Chi Văn Tập, Nhà xuất bản Văn học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, từ trang 549 đến trang 593. Nay đăng lại bắt đầu từ kỳ 2 tháng 1 năm 2019

Sau đây, xin mời các bạn đọc từng phần.

—o0o—

3. Văn chương truyện Kiều

Truyện Kiều kết cấu thế nào, trên kia đã được kể rồi. Nhưng sắp đặt các tình tiết, giàn bày các cảnh ngộ, châm chước biến hóa, khác nào như người làm nhà mới vẽ xong cái kiểu, kiểu đã xong phải dựng cho thành thân cái nhà mới là công hoàn thành, mà phần đó lại là phần khó nhất. Ở đâu cũng là khó, mà ở nước ta lại là khó hơn nữa, vì tài liệu ta ít ỏi, thường thiếu thốn không đủ dùng. Thế mà Cụ Tiên Điền ta cũng dựng nên cái nhà vàng cho nàng Kiều ở, thì đủ biết Cụ là một tay thợ tài, và tài liệu của ta nếu khéo biết dùng cũng không phải là không sung túc vậy. Mà thật văn chương truyện Kiều quả là một nền văn chương tuyệt bút, có lẽ văn Tàu cũng không có gì bằng. Nay muốn phát biểu cho hết những chỗ hay trong truyện Kiều, không thể sao cho khắp được, vì suốt truyện không một câu nào là đặt non đặt ép, câu nào cũng là lời chải chuốt, ý sâu xa cả. Vậy sau đây gọi là lược cử giăm ba câu, một vài đoạn ký giả lấy làm hay nhất, có ý tứ nhất, và thử giải cái sở dĩ.

Phàm văn chương hay là thứ nhất ở lời văn điêu luyện, thứ nhì ở ý tứ thâm trầm. Có ý tứ hay mà lời văn không đạt, thời ý tứ cũng không biểu lộ ra được; có lời văn đẹp mà không có ý tứ gì thời khác nào có vỏ mà không có ruột, có xác mà không có hồn. Xét trong truyện Kiều thật là kiêm được cả hai, lời văn rất luyện mà ý tứ rất sâu, lời văn luận cho đến nỗi  tưởng không ai có tài nào đặt hơn được nữa, và trong một câu không thể nào dịch đi một chữ, đổi lại một tiếng, giọng hồn nhiên như trong ống thiên lại mà ra; ý tứ sâu cho đến nỗi càng đọc càng cảm, càng nghĩ càng thấm, lời lời trầm trọng như mang nặng một gánh tình thiết tha như kêu oan nỗi sầu khổ, cảm động vô cùng.

Văn chương hay ở lời ở ý, mà ý với lời lại còn phải cho xứng hợp với cái cảnh, cái người định mô tả, thời mới gọi là hoàn toàn được; cảnh vui mà giọng buồn không hợp, cảnh buồn mà giọng vui cũng không hợp; chỗ cảm động phải ra lời cảm động, chỗ chua cay phải có giọng chua cay; người điên đảo phải nói câu điên đảo; người thuần hậu phải ra vẻ thuần hậu, và khách giang hồ phải ra thói giang hồ. Văn truyện Kiều thật được trúng như thế không sai. Chỗ nào lời văn cũng là in với nghĩa truyện, ý tứ hợp với cảnh người, lời nào ý nào cũng thích với nhân tình thế cố, khiến cho nhiều câu trong truyện Kiều đã thành những lời cách ngôn thiên cổ, dẫu người bình thường cũng biết dùng trong khi nói chuyện như dùng tục ngữ phương ngôn vậy.

Đó là mấy tính cách chung của văn chương truyện Kiều, suốt trong truyện từ đầu chí cuối đều đủ bấy nhiêu tính cách cả. Văn chương nào đã trúng cách như thế là văn chương có giá trị cả, dẫu ngoài không có cái tinh thần gì khác nữa cũng là đủ lưu truyền vậy. Nhưng truyện Kiều sở dĩ hơn các văn chương khác chính là ở cái tinh thần riêng ở ngoài lề lối ấy. Tinh thần ấy cao thâm mà uyên áo, sán lạn mà rực rỡ, điều hòa mà êm ái, mãnh liệt mà hùng hồn, tuy trạng thái có khác mà đều là một mảnh hồn thơm của kẻ giai nhân người danh sĩ cách đại cảm nhau, hương thừa còn phảng phất trong toàn truyện. Tinh thần ấy không thể gồm một câu mà tóm cho hết được, nhưng đại để là cái tinh thần xót xa đau đớn, cảm nhận bi thương, dẫu trong lúc vui vầy cũng có mùi cay đắng, dẫu trong cuộc truy hoan cũng có vẻ u sầu.

Trên kia đã nói truyện Kiều là một “đoạn trường thanh”. Mà thật truyện Kiều tức là một bài đàn chia ra làm mấy đoạn, mà người gẩy là một kẻ sầu nhân. Thủa nhỏ mới học đàn đã gẩy khúc “bạc mệnh”, rồi sau trong mười mấy năm trời đổi xoang đổi điệu biết bao nhiêu lần, mà lần nào cất tiếng lên cũng có cái giọng “bạc mệnh” ở trong ấy cả; thành ra một tiếng đàn ấy là cái tia mạch ngầm quán xuyến cả cuộc đời cô Kiều, cả toàn thiên truyện Kiều vậy. Các nhà đại trước tác xưa nay phàm kết cấu những trường thiên đại đoạn thường hay dùng một ngụ ý để làm cái giây vô hình liên lạc các bộ phận trong bài văn, các chương tiết trong bộ sách. Cái ngụ ý trong truyện Kiều ấy tức là tiếng đàn của cô Kiều, tiếng não nùng ai oán, suốt truyện không đâu là không như văng vẳng nghe thấy bên tai…

Giữa buổi đêm khuya kia, đương lúc tình ý nồng nàn, ngồi gẩy cho kẻ tri âm nghe, tưởng suốt đời cô Kiều không còn có thời khắc nào vui sướng bằng cái phần đêm hôm ấy, nên cả nghề tài phô bày ra hết, mà tiếng đàn gẩy lên.

Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa…

“Hay thì thật là hay”, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”, khiến cho “người ngồi đấy cũng phải ngơ ngẩn sầu”!

Lựa chi nhng khúc tiêu tao,
Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người?”
Rằng: “Quen mất nết đi rồi,
“Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao?”

Lại buổi đêm kia nữa, khi đã kinh qua những sự nguy hiểm tầy trời, mới lĩnh chức Hoa Nô ở nhà ả Hoạn.

Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa giây,
Nỉ non thánh thót dễ say lòng người,
Tiểu thư xem cũng thương tài,…

Rồi đến lúc bắt ra hầu rượu Thúc lang, trông mặt cố nhân lòng càng đau đớn, mà tiểu thư ác nghiệt thay, lại bắt giờ đến nghề chơi mọi ngày.

Rằng: “Hoa nô đủ mọi tài,

Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe”.
Nàng đà choáng váng tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.

Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Cũng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
“Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?…”

Lại đến lúc Từ Hải bị lừa mà chết, Hồ Tổng đốc mở tiệc trong dinh

Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu.
Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn giây giỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu!

Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?
“Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay!”
Thưa rằng: “Bạc mệnh khúc này,
“Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ,
“Cung đàn lựa những ngày xưa,
“Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!”
Nghe càng đắm, ngắm càng say,
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!…

Cho đến hồi tái hợp, mười lăm năm mới lại ngồi cùng ai như đêm nào:

Tình xưa lai láng khôn hàn,
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
Nàng rằng: “Vì mấy đường tơ,
“Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!
“Ăn năn thì sự đã rồi,
“Nể lòng người cũ vâng lời một phen”.
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?

Trong sao châu rỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông?
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xót xa?
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
“Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
“Tẻ vui bởi tại lòng người,
“Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
“Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
“Một phen tri kỷ cùng nhau,
“Cuốn giây từ đấy về sau cũng chừa”

Cầm đến đàn là gẩy nên tiếng bạc mệnh, cũng như bước chân ra là gặp phải cảnh đoạn trường, đó là cái ngụ ý của tác giả, muốn mượn tiếng đàn mà biểu hiệu cái thân thế cô Kiều. Khúc khúc rặt những giọng tiêu tao, kịp cho đến lúc sau cùng kết cục vì nể lòng người cũng mà phải giở đến ngón đàn xưa, thời tuy có gẩy nên những những giọng đầm ấm xuân tình nhưng rõ là gẩy gượng mà thôi, giọng vui ấy lại thảm hơn mấy mươi lần những giọng thảm khi xưa, cũng như cuộc vui cuối mùa ấy cũng là vui gượng cho khỏi phụ lòng ai, chứ thân thế ấy còn vui sao được nữa? Bi thay! Nhà thơ biết đặt cái ngụ ý sâu xa như thế thật là tuyệt xảo vậy.

Kể cái khéo trong văn chương truyện Kiều thời còn nhiều lắm, không sao nói cho hết được, nhưng cái khéo ấy không phải là cái tiểu xảo ở sự xếp câu hợp vận, đưa đẩy đệm lót, mà phần nhiều ở cái ý tứ thâm trầm cảm tình vô hạn.

Như tả hình dung hai chị em Vân, Kiều lời đều trang nhã, mà rõ biệt hai bức tranh người khác nhau, rất là có ý vị.

Một bên thời

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang,
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Một bên thời

Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Trang trọng, đầy đặn, nở nang, hoa cười, ngọc thuyết, đoan trang, nước tóc, màu da, kể đẹp cũng là đẹp thật, nhưng rõ đẹp về hình thức nhiều hơn đẹp về tinh thần, đẹp đài các mà không đẹp tài tình, đẹp “vô hồn” như bức tranh tố nữ này.

Sắc xảo, mặn mà, tài sắc, thu thủy, xuân sơn, hoa thắm, liễu xanh, cũng là đẹp mà là đẹp đậm đà, đẹp có tinh thần, có khí sắc, có sinh hoạt, có tài tình.

Chỉ đọc tám câu thơ ấy cũng đủ biết được tính tình hai người con gái, một người đài các, một người tài tình, người đài các thời cái thân thế sau này chắc cũng bình thường như các cô con gái khác không có gì là lạ; mà người tài tình thời càng tài tình lại càng phải đem thân ra nếm trải những mùi chua cay ở đời để tăng thêm cho cái kho kinh lịch của loài người về đường luyện tâm xử thế: đó vẫn là cái số phận xưa nay của những người có tài mà lại có tình vậy.

Vẽ người đến thế là đã khéo lắm, nhưng đó là cái lối vẽ chính thức, còn lối vẽ phá bút, chỉ một vài câu dăm ba chữ mà hình dung được cả nhân cách một người, như đánh dấu đến thiên cổ không bao giờ sai được.

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao,

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…

Cò kè bớt một thêm hai…

rõ ra chú Mã Giám sinh, anh lái buôn người làm ra mặt văn nhân đi kén vợ.

Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay…

Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên…

thật là mụ mẹ giầu đáo để tai ác.

Nghĩ rằng cũng mạch thư hương.

Hỏi ra mới biết là chàng Sở Khanh…

là thằng sỏ lá làm mặt hào hiệp.

Thúc Sinh là anh dại gái mà sợ vợ, người tầm thường nhu nhược, ngồi với gái thì nói khoác:

“Đường xa chớ ngại Ngô Lào,

“Trăm điều hãy cứ trông vào một ta…

“Đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều…”

mà về đến nhà thấy vợ làm tội tình nhân, không dám hở răng can gián, không dám tỏ rõ sự tình, cái hiệp khí lúc trước đi đâu mất cả, đành chịu làm người bó tay…

Hai câu sau này rõ ra cô Hoạn Thư, con quan, đài các mà đanh thép:

Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già…

Văn tả cảnh lắm bức tuyệt bút:

Tà tà bóng ngả về tây…

Nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh,

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối gành bước sang,

Sè sè nấm đất bên đàng,

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng, nửa xanh…

Mấy chữ rắp đôi đó thật là khéo lắm và tả được hết cái vẻ buồn rầu trong phong cảnh chiều hôm.

Lại bức cảnh sau này nữa, thật là cái cảnh nặng tình:

Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
Gương nga chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.

Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà,.
Một mình lặng ngắm bóng Nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời…

Tả cảnh theo phép phong lưu cũ, có đủ: phong hoa, tuyết, nguyệt, thi, họa, cầm, kỳ, trang nghiêm mà tiêu sái, thời tám câu như sau này thật là tuyệt phẩm:

Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu,
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Đôi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Lại cái cảnh kẻ đi người ở, thương nhớ bùi ngùi, thật là ý nhã và lời xinh:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai sẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường…

đọc tưởng như trông thấy bức tranh mĩ nhân đứng cửa sổ dưới bóng trăng mà con mắt đăm đăm nhìn xa như tưởng vọng ai…

Đại để cảnh nào trong truyện Kiều cũng là cảnh đeo tình, mà tình là u tình, sầu tình cả.

Văn tự sự thời như đoạn Vương Quan thuật lại chuyện Đạm Tiên cho hai chị nghe, đoạn Đô lại thuật lại chuyện Kiều cho Kim Trọng nghe, lời lời gãy gọn, phân minh, rạch ròi, đích xác.

Nhiều khi một câu thơ mà gợi ra cái tình ý vô cùng, bày ra những nông nỗi bát ngát, như câu:

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh…

người ta ai cũng có lúc nghĩ xa man mác mà thấy ghê sợ rùng mình như vậy.

Trong văn chương Pháp thường truyền có câu thơ của Racine:

C’était pandant l’horreur d’une profonde nuit… (Nghĩa là đương lúc ghê thảm đêm khuya) cho là hay lắm, chỉ có mấy chữ mà gợi ra được cái cảm giác sợ hãi lúc đêm khuya. Nhưng thiết tưởng câu trong truyện Kiều:

Canh khuya thân gái dặm trường…

cũng chăng kém gì, có lẽ lại uẩn súc bao hàm hơn. Đêm đã khuya, thân là con gái, mà đường đi thì dài, chỉ có sáu chữ mà diễn ra được cái cảm giác hãi hùng ghê sợ biết bao nhiêu!

Những câu lời vắn tắt mà ý tứ nhiều như vậy, trong truyện Kiều thật nhiều lắm, không kể sao cho xiết được. Như câu:

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e…,

có rõ ra cái thái độ cô con gái thẹn thùng, mới nói chuyện với tình nhân lần thứ nhất không?

Văn chương ta vẫn có tiếng là không biết tả thực, hay chuộng những cảnh hoang đường huyền diệu. Văn chương truyện Kiều thời không thế; chỗ nào nên tả thực rõ ra nét bút tả thực, mà vẫn có cái vẻ trang nghiêm thanh nhã. Như mấy đoạn tả về lầu xanh:

Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thì hương án hẳn hoi

Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư,
Hương hoa hôm sớm phụng thờ,
Cô nào xấu vía có thưa mối hàng,
Cổi xiêm trút áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi…

Mụ rằng: “Ai cũng như ai,
“Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
“Ở trong còn lắm điều hay,
“Nỗi đêm khép mở, mỗi ngày riêng chung.
“Này con thuộc lấy làm lòng,
“Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.
“Chơi cho liễu chán hoa chê,
“Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời…”

Lại như đoạn Kiều tắm, cũng là tả thực, mà thanh nhã biết bao nhiêu:

Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Đầy đầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên!
Sinh càng tỏ nét càng khen,
Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường…

Nói tóm lại thời trong truyện Kiều thật là đủ các lối văn chương, mà lối nào cũng tới cực điểm, mỗi lối một vẻ, mà lối nào cũng là “mười phân vẹn mười” vậy.

Lạ thay, tiếng Việt Nam ta nhiều người chê là nghèo nàn non nớt, thế mà truyện Kiều thời rõ là một áng văn chương lão luyện, tưởng có thể sánh với những hạng kiệt tác trong các văn chương khác mà không thẹn vậy. Đủ biết rằng tiếng ta cũng đủ phong phú, nếu khéo luyện tập cũng làm nên văn chương hay chẳng kém gì tiếng nước khác, chứ không phải như nhiều người tưởng lầm là một thứ tiếng bán khai, đành lòng bỏ đi để đem công mà học văn chương nuớc khác. Lại lạ nữa, là trước truyện Kiều không có văn nôm gì hay bằng văn Kiều – trừ có khúc Cung oán và truyện Hoa Tiên, tương truyền là đã có từ trước truyện Kiều, tuy cũng là hạng văn nôm có giá trị, nhưng vẫn còn kém văn Kiều nhiều, – mà sau truyện Kiều cũng không có văn nào hay bằng văn Kiều; đủ biết người nước ta xưa nay vẫn khinh thường văn quốc âm không chịu tập, bỏ phí mất cái lợi khí thiên nhiên của Tạo vật đã phú dữ cho người mình để mở mang cho giống nòi được tiến hóa. Người trước đã xao lãng, người sau nên chăm chút, cho hồn Cụ Tiên Điền ta dưới chín suối không đến nỗi ngậm ngùi than rằng đời sau không có kẻ kế nghiệp vậy.

P.Q.

Tháng Hai 4, 2021

Tâm lý ngày Tết

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2021.

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này.

—o0o—

Những dịp để cho cả một dân tộc cùng nhau hướng về một tình cảm, một tư tưởng, để cùng nhau rung động…thật là hiếm có. Thường phải có những sự xẩy ra khá quan trọng, có ảnh hưởng đến tính mạng cả một đoàn thể, để ai nấy đều phải để hết tâm trí vào.

Dân Việt Nam ta có cái may mắn, cái đặc ân là có một dịp vui chung cho tất cả, dịp ấy cứ đều đặn mỗi năm một lần vào ngày đầu xuân năm mới. Về dịp này tất cả đàn con đất Việt, từ người giàu cho đến kẻ nghèo, từ người tiên tiến cho đến kẻ thủ cựu đều một lòng một dạ, cùng nhau hớn hở đón chúa xuân, trong mấy ngày lễ long trọng, trang nghiêm mà cũng rộn ràng náo nhiệt biết bao! Ngày ấy là ngày TẾT.

“TẾT”, chữ màu nhiệm thay! Như đã chứa chất biết bao niềm vui mừng của cả một dân tộc vô tư vui vẻ, cứ mỗi năm, đến kỳ xuân tới là quên cả hết thẩy những nỗi lo lắng khó khăn của năm cũ để sẵn sàng hoan hỷ bước vào năm mới với chứa chan hy vọng.

Vậy thời ý nghĩa của ngày TẾT, của cái thực thể huyền bí ấy mà người ta sùng bái như một vị thần thánh có sức mạnh đến nỗi có thể khiến cho cả một dân tộc, trong khoảng mấy ngày tròn, đã cùng một tâm hồn, cùng một tình cảm, mà nhất là cùng một hy vọng tin tưởng ở ngày mai, hy vọng và tin tưởng mà nhiều khi họ rất cần phải có, để đương đầu với một cuộc đời vất vả bấp bênh…

TẾT không phải chỉ là ngày đầu năm mà thôi, vì nếu kể cả những ngày sửa soạn linh đình trước và những cuộc vui đùa giải trí sau, thì TẾT ít ra cũng phải kể tất cả là ba tuần. Nhưng dù sao tâm trạng của người ta mà ngày TẾT đã gây nên chưa dễ đã xóa nhòa trong chốc lát, và ta cũng nên thử nghiên cứu xem, để tìm hiểu giá trị đặc biệt của ngày lễ long trọng ấy.

TẾT không phải hoàn toàn không có nghĩa lý, mà lại còn bao trùm cả một “triết lý”.

Trong một năm bốn mùa liên tiếp nối nhau và đó là một hiện tượng tự nhiên rất quan trọng cho một dân tộc nông nghiệp. Theo như thuyết “Vũ trụ khai tịch” xưa, khoảng thời gian đông qua xuân tới là đánh dấu một thời kỳ hoàn toàn đổi mới, người và vạn vật thiên nhiên như sống lại và cùng nhau thông cảm trước sự đổi mới vui tươi để hăng hái đón mừng xuân mới. Trong mấy ngày cổ truyền ấy, con người ta phải hoàn toàn đổi mới, lột hết những gì cổ hủ của con người cũ đi mà tự tạo nên một tâm hồn mới mẻ; phải đuổi hết những tư tưởng yếm thế, phải tạo ra những ý vui, chỉ nói những lời ngọt ngào dễ thương, quên hết những hận thù, để đối với ai, – dù là kẻ thù chăng nữa- cũng một lòng khoan hồng bác ái. Như thế là ta đã góp phần vào sự gây dựng vũ trụ điều hòa, và do đó gây dựng hạnh phúc của xã hội và đồng thời hạnh phúc của chính mình. Những lời nặng nhẹ, những cử chỉ không hợp phép, những sự buồn bực, bất bình thổ lộ ra trong những ngày TẾT không những trái với lễ độ cổ truyền và rất kỵ trong những ngày tốt lành nhất của một năm ấy mà lại là một sự phản bội đối với vạn vật thiên nhiên, và như thế kẻ đã phạm tội ấy sẽ bị tai họa.

Dị đoan lại khiến cho người ta tin rằng tất cả những gì xẩy ra trong mấy ngày đầu năm đều có ảnh hưởng huyền bí, hay, dở đến cả một năm. Vì vậy sáng sớm ngày đầu năm, người khách đầu tiên đến nhà có thể coi như đã đem đến cho gia đình ấy hạnh phúc hay tai họa, tùy theo nếu người ấy là một người sướng hay khổ, có chức phận trong xã hội hay không, giàu hay nghèo, con cháu đông đủ hay hiếm hoi, tính nết tốt hay xấu, nhiều may mắn hay không…Một người có tang vừa đau khổ, một người rủi ro vừa bị thất bại trong công việc làm ăn…chớ nên đến thăm ai trong buổi sáng đầu năm vì sợ có thể sẽ đem lại rủi ro đến cho người ta. Để khỏi phải có những sự bất ngờ chẳng hay, người khách đầu tiên đến “xông đất” mỗi nhà, nghĩa là người khách có thể coi như sẽ đem lại may mắn hay rủi ro đến cho gia đình, đều được chủ nhà sắp đặt trước. Người ấy sẽ được lựa trong những bà con bè bạn thân thiết và là người được coi như có hạnh phúc đầy đủ, vừa giàu sang phú quí lại con cháu đầy đàn, để sáng sớm đầu năm làm “sứ giả” đem Hạnh phúc đến cho cả gia đình.

HẠNH PHÚC! Hạnh phúc là cái mộng đẹp mà hết thảy chúng ta ai cũng mong ước. Ở nước Nam này, mỗi năm xuân tới, người ta kêu gọi, cầu khẩn, tìm kiếm Hạnh phúc bằng đủ mọi cách. Họ ca ngợi Hạnh phúc trên những câu đối đỏ chói treo trên tường bên những cánh cửa nhà. Màu đỏ là màu tượng trưng điểm lành, điểm tốt, vì vậy từ sân nhà cho đến trên bàn thờ, mỗi gia đình, chỗ nào cũng rải rác đầy xác pháo đỏ cùng những cánh hoa đào. Người ta cũng thế, ai cũng có vẻ tạo ra một vẻ mặt sung sướng, vui tươi, niềm nở như để dễ quyến rủ cái Hạnh phúc nó như cái bóng phảng phất khó lòng mà nắm được, tựa hồ như con chim hoàng oanh của nhà thi sĩ nọ, ríu rít hót ca trên cành liễu này rồi phút chốc đã lại bay qua cành liễu khác. Thật không cái gì cảm động bằng cái lòng nguyện vọng thiết tha của cả một dân tộc, nguyện vọng đến được một đời sống thanh nhàn hạnh phúc, mà tất cả đều mơ ước, nhưng dễ mấy ai đã tới được!

Vậy thì TẾT là gì? Là lời kêu thiết tha của cả đàn dân Việt trong dịp vạn vật đổi mới, nói lên lòng tin tưởng ở năm mới sẽ đến, và sự khát khao một đời sống thảnh thơi sung sướng.

Ngày TẾT lại còn có một ý nghĩa khác nữa. Ngày TẾT còn là sự thánh hóa, sự ca tụng, tán dương chủ nghĩa gia tộc và sự thờ phượng tổ tiên. Với tư cách này TẾT có thể coi như một thiết lập có liên hệ mật thiết với sự thành lập gia tộc ở nước Việt Nam ta. Mấy ngày TẾT chính là những ngày mà cả đại gia đình đông đủ sống quây quần tụ họp làm một. Gia đình Việt Nam thường có cha mẹ, anh chị em, hay là cả ông bà cô chú, có khi lại có cả cụ nội ngoại ở cùng cả một nhà. Những gia đình có con cháu đi làm xa trong cả năm, đến kỳ TẾT đều trở về đông đủ dưới mái nhà của tổ tiên. Những hôm đó trên bàn thờ trang hoàng rực rỡ, những bài vị ghi tên tuổi các vị tổ tiên đã mất, đều được mở ra chưng bày, những đèn hương sắp lên nghi ngút, những đồ mã tượng trưng nén vàng nén bạc để cung hiến tổ tiên được chất thành từng đống.

Vì TẾT không phải chỉ là ngày vui cho người sống mà còn cả cho người chết nữa. Chính trong những ngày TẾT các vị tổ tiên ông bà đều về sống chung với gia đình con cháu. Hôm ba mươi Tết, mỗi gia đình đều có một lễ thỉnh mời tổ tiên về. Rồi cứ mỗi ngày hai lần, dâng lễ cúng cơm cùng nước trà bánh trái. Đến ngày thứ ba là ngày cúng tiễn biệt, để rồi hồn của tổ tiên lại trở về nơi chín suối, mang theo lời chúc tụng cùng tâm sự của con cháu mà các ngài vừa được chung sống trong mấy  ngày Tết vừa qua, và tuy từ biệt ra về, tổ tiên vẫn không quên phù hộ và che chở cho con cháu bằng một cách huyền bí.

Trong mấy ngày Tết, người sống và người chết lẫn lộn chung sống dưới mái gia đình. Bà con bạn bè đến thăm viếng nhau ngày Tết, trước hết không quên đến kính cẩn lễ trước bàn thờ tổ tiên rồi mới cùng nhau chúc tụng năm mới.

Tết với những tượng trưng và nghi lễ của ngày ấy đã ghi vào đời sống của chúng ta một giai đoạn vui sướng, mà giai đoạn ấy chúng ta có cái may mắn là cứ mỗi năm ta lại được sống lại một lần. Sống mấy ngày hoan hỷ vui chung cả quốc dân, tự thấy mình đã cũng chia sẻ sự vui sướng ấy và cùng thông cảm với tất những người đồng chung về một ý thức, một tư tưởng, đó là niềm vui không phải nhỏ; niềm vui ấy, chính ngày Tết đã đem lại cho ta, và ta sẽ không bao giờ quên ơn.

Riêng về phần tôi, mõi lần ngó về dĩ vãng, nhớ lại những ngày thơ ấu, những năm của tuổi trẻ đã qua, ngày Tết đã để lại cho tôi toàn những kỷ niệm êm đềm.

Một ngày kia nếu phải bỏ phiếu để bãi bỏ cái ngày lễ ấy đi, thì dù ai biện lẽ phải gì hay ho tốt đẹp đến đâu, tôi cũng bỏ phiếu chống sự bãi bỏ ấy, mặc dầu họ có thể cho tôi là một anh thủ cựu bướng bỉnh hay liều lĩnh.

Thượng Chi (Phạm Quỳnh)

Tháng Mười 25, 2020

Phụ mẫu dân hay là công bộc dân?

Filed under: Báo — phamquynh @ 1:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

 PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, ngót 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

Tháng Bảy 27, 2020

Độc thư cứu quốc-P2: “ĐỘC THƯ QUÂN TỬ”

Filed under: Báo — phamquynh @ 5:18 chiều

Blog PhamTon thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2020.

“ĐỘC THƯ CỨU QUỐC”

(Mừng các ông tân khoa trường đại học)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Nam Phong số 36 tháng 6 năm 1920. Bản chúng tôi đăng lại dưới đây lấy trong Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập (Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2006) từ trang 853 đến trang 862.

Do bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần và tự đặt nhan đề để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*     *

PHẦN II: “ĐỘC THƯ QUÂN TỬ”.

Muốn thực hành chí đó cho đạt được mục đích như trên, thời học giả phải gồm những tư cách gì, phải để mình vào địa vị gì, và phải làm trọn những nghĩa vụ gì?

Tư cách một người là gồm những tính hay nết tốt làm cho người ấy xứng đáng nhân cách và hữu dụng với đời. Tư cách một người học hành ở nước ta bây giờ phải cần mẫn, thành thực, đôn đốc, cẩn nghiêm; lại phải có công tâm, biết vị nghĩa; sau hết phải có một quan niệm cao về phẩm giá con người.

Tư cách người ta tuy gốc tự thiên nhiên, vốn trời bẩm thụ, nhưng phần nhiều cũng là bởi người ta tự gây dựng lấy.Cho nên đầu trong tư cách là tính cần lao. Người ta có thân ở đời phải lao động cần cù, kẻ lao động bằng chân tay, người lao động bằng đầu não, ai ai cũng phải cần lao cả. Nỗ lực, lại nỗ lực, cho đến kiệt lực mới thôi, đó là luật của tạo hoá, nghiệp của giống người, không ai tránh được. Trong Thánh thư đạo Gia Tô có một câu Thượng đế bảo ông tổ loài người rằng: “Mày phải đổ mồ hôi nước mắt mới có miếng ăn”, thật là lời vạn cổ châm ngôn cho người ta ở đời. Xét tâm lý người nước mình có cái tính ưa nhàn, cái tính cầu an, thật là hai ác căn phải tiệt đi cho hết. Nói ngay trong bọn học hành, được mấy người sau khi thi đỗ làm nên, sự nghiệp yên ổn rồi, còn ra công học vấn, gắng gỏi trau dồi, cho trí thức rộng thêm, nhân cách hay hơn lên? Thật là ít lắm. Phần nhiều người tốt nghiệp ở nhà trường là tốt nghiệp cả một đời, vì cái công lao động về sau chẳng qua là lao động như cái máy, như cái đồng hồ hằng ngày “tích tắc”, hết vòng lại lên giây, không phải là sự cần lao có ý thức của người biết ma luyện (mài rèn, như rèn giũa – PT chú) tâm thân vậy. Người ta như loài kim rất quí, phải rèn đúc, mài rũa luôn, thời chất nó mới cứng mới mạnh, nếu để không tất rỉ, han mục nát ra vậy. Bạn thiếu niên ta nên gắng gỏi mà ma luyện cho tấm thân quí báu này, để mai sau thành cái lợi khí quốc gia: cùng một mảnh sắt, mà thanh gươm sắc với con dao cùn khác nhau là bởi sao? Là bởi cái công ma luyện vậy. Người ta có ma luyện mới lên người. Tăng Quốc Phiên là bậc danh nhân ở nước Tàu về cuối thế kỷ 19 có nói rằng: “Tôi bẩm sinh là một người rất đần độn: sau có làm nên được chút sự nghiệp thực là nhờ cái công khắc khổ để lệ (mài giũa, rèn luyện – PT chú) suốt một đời”. Người tài năng còn phải khắc khổ mới nên, huống chi là kẻ tầm thường. Chúng ta nên tập trước nhất cái tính nhẫn nại cần lao.

Lao cần khắc khổ để ma luyện cho tâm thân đó là gốc của tư cách. Nhưng cần lao mà không thành thực cũng không nên công chuyện gì. Một người ra công ráng sức chỉ để dối mình lừa người, tự huyễn diệu (khoe khoang – PT chú) mà huyễn diệu người, dụng tâm toàn bằng giả dối, dẫu có thành công cũng không có giá trị. Người ta phải thành thực, thành thực với mình và thành thực với người; có thành thực với mình rồi mới thành thực với người được. Thành thực với mình là giốc một lòng chuyên một dạ trau dồi cho ngày một hay hơn lên, tốt thêm ra, không có cẩu thả, không có dối dá, không có vị danh lợi bên ngoài mà tự mình mờ hoặc mình, đến không biết chân giá trị thế nào, lấy bề ngoài làm sự thực, lấy ảnh hưởng làm chân thân, gắng gỏi theo đuổi những cái không đâu, để cầu danh với đời, thành ra vừa dối người vừa dối cả mình nữa. Xét trong học giả nước ta nhiều người không thành thực như vậy. Sức học còn kém, tài văn tầm thường, nhờ được buổi “nhá nhem”, dư luận còn hồ đồ, chưa biết phân biệt người hay kẻ dở, kẻ giỏi người hèn, tự riêng mình đã tưởng là thánh thần rồi, dưới mắt không còn ai hơn nữa. Cái tinh tự cao tự đại ấy xét cho kỹ chính là bởi không thành thực với mình. Những bậc “tiểu thánh nhân” kia sở dĩ tự mình huyễn diệu mình như thế là bởi không có cái lòng thành thực mà tự lượng tự xét cho biết cái chân giá trị của mình, nên không biết chỗ khuyết mà bổ và tự gây dựng cho tư cách được hoàn toàn. Nhưng cái tính không thành thực ấy không những là hại riêng cho mình không thể tu luyện mà tinh tiến lên được, lại còn hại chung cho nước nữa, vì phàm tự dối mình thành ra dối người, dối người tất người dối lại, hết thảy đều dối lẫn nhau, đều huyễn diệu nhau, gây ra trong xã hội một cái không khí hư nguỵ khi trá, làm trở ngại đường tiến hoá của quốc dân. Nay kẻ học thức trong nước ta phải ra tay mà phá tan cái không khí mờ đục ấy đi, cho cõi học được sáng sủa trong suốt. Nhưng muốn tiệt cái căn tính giả dối phải tập lấy thói quen thành thực. Học giả phải thành thực với mình, thành thực với sự học, thời mới thành thực với nước được. Đã lấy quan niệm quốc gia làm mục đích cho sự học, thời nếu không thành thực về sự học, còn mong ích lợi gì cho nước. Cho nên dối mình tức là dối nước vậy.

Đã cần lao và thành thực, khi ra thi thố với đời, lại phải đôn đốc mới nên sự nghiệp. Đôn đốc cũng là do thành thực mà ra. Có thành thực mới đôn đốc được. Đôn đốc nghĩa là đã rắp theo một mục đích gì, thời tận tâm tận lực mà theo đuổi cho tới nơi, lấy làm cẩn trọng, không dám sai lời. Thường nhận trong thanh niên ta có cái tính khinh bạc, nhiều người trí thức có cái tính hoài nghi và mấy kẻ tự phụ lại có cái tính ngông cuồng. Mấy tính đó hại cho người mình lắm lắm, nhưng tính khinh bạc của thanh niên còn dễ sửa, vì tuổi cao lên tất người thuần lại, nếu là người có tư chất tốt thời cũng dễ khiến cho có lòng đôn đốc tận tâm về nghĩa vụ; đến như tính hoài nghi, tính ngông cuồng thời khó chữa lắm, vì những người có tính ấy lấy làm tự cao, không biết hại cho sự nghiệp biết dường nào. Nhất là tính hoài nghi, thật là một cái tội với nước. Ở đời chỉ có hai đường: một là đời người đáng sống, đời người đã đáng sống thời có thân ở đời phải có sự nghiệp với đời; nếu sự nghiệp ấy lại có quan hệ đến quốc gia thời lại càng phải nên đôn đốc tận tuỵ mà làm cho nên, không thể thờ ơ lãnh đạm được; hai là đời người không đáng sống, đời người đã không đáng sống thời chỉ nên lánh đời cho yên hay tự diệt cho rồi. Ngoài hai đường ấy, không còn đường nào nữa, nên cái thái độ kẻ hoài nghi, phân vân do dự, không dám bước lên, không dám lui lại, là một thái dộ đáng ghét, vì kẻ hoài nghi đã không làm gì thì chớ lại hay bài bác người ta, tự minh không làm gì không ai bẻ được mà thấy người khác hành động chỉ tìm cách làm cho người ta nản chí ngã lòng.

Đến người ngông thời không đáng ghét mà nực cười. Ngông là cuồng, nhưng cuồng cũng có năm bảy cách: có cái cuồng cao thượng những kẻ hào mại siêu quần (tài giỏi vượt hơn người – PT chú), thấy thế tình bỉ ổi, vũ trụ hư không, muốn đem tinh thần ra ngoài vật chất mà phóng đạt tiêu diêu; đó là cái cuồng của ông Trang ông Lão. Nhưng cổ kim có mấy Lão Trang, còn những kẻ giả Trang giả Lão thời chỉ có cái trò cười cho người thức giả. Chớ nên khinh bạc, cũng chớ hoài nghi, lại chẳng dại gì mà làm trò cười cho đời; đã có một mục đích mà theo đuổi, phải nên tận tuỵ cho tới nơi. Phải tập lấy cái tính đôn đốc vậy.

Người đôn đốc tất là người người cẩn nghiêm. Cẩn nghiêm nghĩa là không coi thường, không khinh suất, không sốc nổi, không vội vàng. Thanh niên nước ta nhẹ dạ, người đứng tuổi hay cẩu thả; còn thông quốc (Suốt cả nước – PT chú) đều có tính a dua. Xét lắm việc cử động của người mình, tưởng như là một dân không có não, không biết suy xét nghĩ ngợi, thấy ai làm gì cũng a dua bắt chước, mà lại cẩu thả không thành việc gì. Có người ngoài đã bình phẩm dân Việt Nam là một “dân trẻ con”. Ôi! một nước đã có lịch sử mấy nghìn năm mà là nước trẻ con ư? Sở dĩ có câu bình phẩm đó là bởi cái thông bệnh (thói xấu chung – PT chú) trong nước mình là cái tính nhẹ dạ, việc gì cũng phải suy xét gần xa cân nhắc kỹ lưỡng, đối với hết thảy mọi sự phải tỏ một cái thái độ thận trọng cẩn nghiêm, cho khỏi mang tiếng là dân tộc con nít vậy.

Đã có bất nhiêu tính hay nết tốt như trên, thời tư cách dẫu chưa được hoàn toàn, cũng không đến nỗi bác tạp (lộn xộn, tạp nhạp – PT chú). Không bác tạp là có vẻ thuần tuý; có nhân cách thuần tuý mới xứng đáng là kẻ độc thư quân tử vậy. Nhưng làm người “quân tử đọc sách” mà để mình ra ngoài thời thế ưu du trong bể thánh rừng nho, ở giữa cái đời sinh tồn cạnh tranh, ưu thắng liệt bại này, thời sao cho đang? Cho nên người “độc thư quân tử” lại phải có công tâm, biết vị nghĩa nữa mới được. Học vấn yêm bác (học rộng – PT chú), tư cách tuyệt vời, mà đem tài học ấy ra thi thố với đời, còn gì hay bằng! Nhưng trong khi trì trục (tranh giành – PT chú) ở đời, cái bả lợi danh nó thường cám dỗ lòng quân tử, khiến cho phạm những điều tổn hại nhân cách. Cho nên người quân tử ra đời bao giờ cũng phải hoài bão một quan niệm rất cao về phẩm giá người ta. Làm người ai cũng có phẩm giá, có phẩm giá con người mới hơn loài cầm thú, mà phẩm giá người quân tử phải cao hơn người thường. Người “độc thư quân tử”, nhất cử nhất động phải giữ gìn cho khỏi tổn đến phẩm giá của mình. Công việc ở đời đều có một giới hạn tới đó thời không hại đến danh dự, ra ngoài thời có tổn đến nhân cách; người “độc thư quân tử” tất mỗi lúc biết tự hỏi lương tâm mình mà phân biệt cái giới hạn ấy rất rõ ràng vậy.

Độc thư quân tử, còn huy hiệu gì tốt đẹp bằng! Ký giả xin lấy bốn chữ ấy tặng các sinh viên cùng tân khoa trường Đại học ta.

Còn địa vị trong xã hội, nghĩa vụ với nước nhà, muốn nói cho tường, phải một bài dài nữa mới hết được. Nay hẵng tạm ngừng bút tại đây và chỉ nói qua một câu rằng địa vị ấy rất cao, nghĩa vụ ấy rất nặng, những người đã được hơn quốc dân mà hưởng thụ cái học cao đẳng, đối với quốc dân phải có trách nhiệm đặc biệt, và có thể nói hậu vận nước nhà hay dở thế nào một phần là ở trong tay vậy…

Ôi! Người ta mừng các ông tân khoa, thường hay tặng bài thơ đôi liễn. Nay ký giả mừng bằng một bài luận thuyết dài như thế này, không phải là muốn vì các ông đăng đàn thuyết pháp, dạy lại những người sau này sắp ra dạy quốc dân đâu, không phải thế. Nhưng lòng hi vọng của quốc dân đối với các ông to tát lắm, muốn giãi bày cho hết ý, bàn bạc cho hết lẽ, một bài như bài này cũng chửa thấm vào đâu. Các ông là người tốt nghiệp đầu tiên của trường Đại học thứ nhất ở Đông Dương, muốn mừng các ông cho xứng đáng phải đến mấy bài luận thuyết mới đủ được. Nay gọi là nói qua đại khái, cốt để kỷ niệm một việc đáng ghi trong lịch sử sự học nước nhà vậy.

(1920)

P.Q.

Tháng Bảy 13, 2020

Độc thư cứu quốc-P1: Sự học là của báu đệ nhất ở đời

Filed under: Báo — phamquynh @ 4:03 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2020.

“ĐỘC THƯ CỨU QUỐC”

(Mừng các ông tân khoa trường đại học)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Nam Phong số 36 tháng 6 năm 1920. Bản chúng tôi đăng lại dưới đây lấy trong Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập (Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2006) từ trang 853 đến trang 862.

Do bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần và tự đặt nhan đề để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*       *

PHẦN 1: SỰ HỌC LÀ CỦA BÁU ĐỆ NHẤT Ở ĐỜI.

Ký giả muốn nhân kỳ thi tốt nghiệp năm nay là kỳ đầu nhất của trường Đại học Đông Dương, khái luận mấy câu về tư cách, địa vị, nghĩa vụ của một người đã có cái học cao đẳng trong xã hội nước ta bây giờ (1920 –PT chú) thế nào, tưởng cũng là một cách mừng các ông tân khoa ta vậy. Các ông trong ba năm trời rùi mài học tập, hăm hở nhiệt thành, ra công gắng sức thâu thái những tư tưởng học thuật mới, rắp đem ra ứng dụng với đời, nay công đã thành, danh đã toại, chắc cũng muốn biết quốc dân kỳ vọng ở mình những gì: ký giả xin thay mặt quốc dân cùng các ông bàn phiếm một đôi lời.

*

*       *

Sự học là của báu đệ nhất ở đời, học làm được cho thân hiển vinh, làm được cho nhà tỏ rạng, làm được cho nước phú cường. Học là cái đuốc sáng phá chốn mê thành, nơi ám thất, mà soi tỏ lối văn minh. Học là cái thang cao vượt khỏi chốn hôn mông ngu muội mà lên tới cõi trí tuệ quang minh. Học thật là quí lắm thay! Nhưng học phải có mục đích thời sự học mới có ích, và mục đích cao thấp thể nào thời sự học rộng hẹp thể ấy. Có người lấy sự học làm một vật tô điểm cho trí mình, làm cái màu văn vẻ cho người mình, chỉ ưng bề ngoài tốt đẹp mà không thấu giá trị thâm trầm của sự học. Phần nhiều người coi sự học là cái thang tiến đạt cho mình; có lắm người lại chỉ lấy sự học làm một kế sinh nhai, học để làm nghề này nghiệp kia, ngoại giả không có chí thú cao thượng gì nữa. Những mục đích ấy tuy không phải là không chính đáng, nhưng khí thấp và hẹp, không xứng với tôn chỉ của sự học. Tôn chỉ ấy ở các nước văn minh cao thâm và siêu việt biết đường nào! Học giả các nước ấy không ai là không có chí muốn khám phá những lẽ huyền vi của tạo vật, những điều u ẩn trong tâm tình, những cảnh éo le của xã hội, để phát minh ra chân lý và bổ ích cho người đời. Người nước mình chưa thể có được tôn chỉ cao siêu như vậy, nhưng có thể đặt cho sự học một mục đích cao hơn các mục đích trên kia; người ta học là vị chân lý, vị nhân loại, ta học nên vị nước trước nhất, sự học của ta phải là cái học cứu quốc vậy. Chắc làm người ai cũng phải nghĩ đến thân gia mình trước, thân gia có yên mới nghĩ đến nước được; nhưng ai cũng phải coi nước là cái mục đích tối cao, tới được mục đích ấy sự học mới là hoàn toàn, phải khuynh hướng hết tinh lực cho đạt tới, không nên lấy mục đích nào khác làm trọng hơn vậy.

Học đã là “học cứu quốc” thời tư cách, địa vị, nghĩa vụ của học giả cũng suy đó mà ra. Nhưng trước hết hẵng giải thế nào gọi là cái “học cứu quốc”. Đời nào có sự học của đời ấy. Đời xưa, hồi nước mình còn bế quan toả cảng, chưa giao thông với ngoài, thời học trọng về luân thường đạo lý, lấy duy trì xã hội làm mục đích. Đời nay phong hội mở mang, Á Âu hoà hợp, học bây giờ lại phải trọng về động tác kinh doanh, lấy phú quốc lợi dân làm mục đích. Cái học cũ của ta không thích hợp với đời  nay nữa. Nhưng bấy lâu những thương tiếc không nỡ bỏ đi, những di du không muốn thay đổi, đến bị phong trào mới tràn ngập, đặt người mình vào cái thế nguy nguy ngập ngập, đốn toả uỷ mị trong bao năm, cơ hồ không sao cất đầu nổi. Tuy cũng có người miễn cưỡng theo học mới, nhưng trình độ dân còn thấp kém, Chánh phủ (Thời Pháp thuộc- PT chú) chỉ mới ban bố cho cái học sơ đẳng tầm thường đủ làm những bậc hạ lại để phục dịch trong các sở công mà thôi, chưa gọi là học đào tạo nhân tài được. Tuy thế cũng có người vượt được ra ngoài phạm vi ấy, không ai dạy, không ai bảo, không ai đưa đường chỉ lối, mà cũng biết lĩnh được chút học thuật mới, thâu thái được chút tư tưởng mới; thậm chí có người đến cái học sơ đẳng tầm thường của Chánh phủ ban bố cũng không được hưởng mà chỉ vì công khó nhọc, trí thông minh, làm nên sự nghiệp, nổi được danh giá, chẳng kém gì ai, thời đủ biết dân trí mình không đến nỗi bạc nhược cho lắm, và nếu khéo khai thông chẳng bao lâu cũng tấn tới kịp người vậy. Chánh phủ cũng phải công nhận như thế, nên gần đây mới chấn chỉnh việc học, kết quả đến đặt ra trường Đại học mới này, để ban bố cho người Nam một cái học cao hơn cái học các trường “thông ngôn” trước. Tuy cũng gọi là “Đại học” cho tôn nghiêm và so với trường Đại học các nước còn kém xa nhiều, nhưng đối với trình độ nước mình hiện giờ thời cũng là bậc học cao nhất. Thế là người mình từ nay trở đi mới có thể cho là có học vậy, vì cái học từ trước tới giờ mới là cái “học kiếm gạo” hay là cái “học đi làm” mà thôi. Học mới này phải tiếp tục cái học thống cũ trong nước đã đoạn tuyệt bấy lâu và mở đường cho người mình tiến lên cõi văn minh tư tưởng mới; phải chấn loát tinh thần, đề khởi sự nghiệp, phá những thói mê tục hủ, sửa những nết tốt tính hay, nói tóm lại là phải làm thuốc “bổ não” cho khỏi cái cố tật uỷ mị suy đồi, đổi thành tính cương cường mãnh tiến chuộc lại được sự chậm trễ bấy lâu mà phấn phát bước lên cho theo kịp người. Bởi thế nên gọi là học cứu quốc, nghĩa là học để cứu cho nước khỏi yếu hèn mà nên mạnh mẽ. Học giả ví chỉ có cái chí thú “kiếm ăn” hay cái tư tưởng “làm mướn” thời chẳng nói làm chi, nếu còn có chút khí khái cao thượng, biết quên mình mà thờ một lý tưởng cao, thời đã gọi là người “có học” bao giờ cũng phải có cái quan niệm quốc gia ở trong lòng. Các sinh viên trường Đại học ta là hạng thiếu niên tuấn tú trong nước, chắc cũng có hoài bão một cái chí to tát như thế và muốn sau này đem tài học ra giúp cho nước nhà: nếu vậy mới là hợp với mục đích sự học như vừa giải trên kia.

Một danh sĩ nước Tàu đời bây giờ có câu nói rằng: “Kẻ hạ sĩ này chỉ khu khu có một cái chí giữ gìn cho nòi giống, yêu mến lấy nước nhà, và bảo tồn cho sự học vậy” – Học giả trong nước ta, nếu không muốn phụ lòng kỳ vọng của quốc dân, cũng phải có một cái chí như vậy.

P.Q.

Tháng Sáu 26, 2020

Ngôn ngữ mới của nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 7 năm 2020.

NGÔN NGỮ MỚI CỦA NƯỚC NAM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau đây là toàn văn bài Ngôn ngữ mới của nướcNam của Phạm Quỳnh, theo bản dịch của nhà nghiên cứu phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, từ trang 474 đến 479 sách Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức và Trung tâm Ngôn ngữ Văn hóa Đông Tây, Hà Nội, năm 2007. Nguyên bản tiếng Pháp Essais 1922-1932 do Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái học giả Phạm Quỳnh sưu tầm, biên soạn và xuất bản tại Pháp.

—–o0o—–

Không thể chối cãi là hiện giờ (1931 – PT chú) đang có một ngôn ngữ mới của nước Nam đa dạng hơn, uyển chuyển hơn, đủ khả năng hơn cho sự diễn tả các tư tưởng mới và các quan niệm trừu tượng so với ngôn ngữ đó cách đây mười lăm, hai mươi năm. Ảnh hưởng của văn hóa Pháp một bên, và một bên khác là sự phát triển của thư viện và báo chí quốc ngữ đã giúp rất nhiều cho việc tạo ra thứ ngôn ngữ mới này, nó vừa là kết quả vừa là biểu tượng của sự tiến hóa tinh thần ở xứ chúng tôi từ một phần tư thế kỷ qua.

Có một thực tế là các nhà nho xưa của chúng tôi chỉ viết bằng tiếng Hán. Đến khi họ viết Nôm, tức một thứ tiếng dân tộc, thì văn phong vẫn theo khuôn tiếng Hán. Thế nhưng tiếng Hán mà chúng tôi học lại không phải là bạch thoại mà là văn ngôn, một thứ tiếng cổ điển gần như là tử ngữ. Vậy là cha ông chúng tôi đã  xây dựng một ngôn ngữ sống theo mô hình một ngôn ngữ chết, nó hết sức chân xác, ngữ pháp và cú pháp được thu lại ở cách biểu đạt đơn giản nhất hạng, vì thế mà các sản phẩm của họ đều có vẻ không thực, ngay những sản phẩm nào xuất sắc, nổi trội nhất thì cũng chỉ là sự đẽo gọt hơn là sự thể hiện văn học những điều sâu kín hơn và bột phát hơn trong tâm hồn của giống nòi.

Trong hoàn cảnh đó, tiếng Nam không thể phát triển được như một thứ tiếng văn học hay tiếng văn hóa, và nằm trong cái khuôn cứng nhắc của tiếng Hán với phép biền ngẫu và âm vận chặt chẽ, với cách viết bóng gió và tượng trưng, nó chỉ có thể sản sinh ra những bài thơ bác học rắc rối, kiểu cách, dùng nhiều chữ cổ, đó là thú tiêu khiển của các bậc tao nhân mặc khách hơn là sự nảy nở một nền văn học thực sự bằng ngôn ngữ dân tộc.

Ngược lại, cái nền văn học dân tộc này lại được vun xới trong nhân dân qua các nhà thơ dân gian, giống như những người hát rong ở Âu châu thời xưa, cất lên lời ca tiếng hát theo thị hiếu và tiếng nói của dân chúng. Khẩu ngữ dân gian mỗi ngày càng phong phú thêm những cách thức nói năng độc đáo, đôi khi là những khám phá thực sự, khéo léo và lý thú, và cả một nền văn học truyền khẩu mà chủ yếu là thơ ca đã hình thành gần như tự phát, không hề có sự giúp sức của giới bác học. Nền văn học này gồm các ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, châm ngôn, những bài thơ ngắn, những so sánh, phúng dụ…, nó rất phong phú và đẹp đẽ, chứng tỏ tiếng Nam không nghèo như người ta lầm tưởng. Nhưng sinh ra từ dân chúng nên nền văn học này cũng lộ ra cái nguồn gốc dân dã của mình, nó thiếu đi sự tao nhã là dấu hiệu của một văn hóa tinh tế. Nó còn xa mới tạo nên được một nền văn học dân tộc đúng nghĩa, nền văn học ấy phải là sự nghiệp của tầng lớp có học đứng ra tổ chức, rèn giũa tiếng nói dân gian, làm cho nó mềm dẻo, hoàn thiện, và khai thác được hết mọi sự phong phú của nó.

Như vậy, một bên là thứ ngôn ngữ nhân tạo đầy rẫy những kiểu cách vay mượn từ tiếng Hán, đồ theo văn phong Hán, đó là ngôn ngữ của nhà nho. Một bên là tiếng nói dân gian thú vị và phong phú, sinh ra từ chốn thôn quê đồng ruộng, nhưng còn hơi thô phác, còn quá cụ thể, chưa vươn lên được cao hơn tầm những cảm quan, chưa diễn tả được những tư tưởng có phần cao siêu, tóm lại là một thứ tiếng nói có thể nói là còn hỗn loạn, ngoài khuôn phép.

Đấy là tình trạng tiếng nước Nam khi chúng tôi bắt tay vào đổi mới nó một cách hệ thống.

Việc đầu tiên phải làm là hợp nhất hai ngôn ngữ của nhà nho và của dân chúng, thông tục hóa ngôn ngữ nhà nho bằng cách nhúng nó vào những nguồn mạch sâu xa của khẩu ngữ, nâng cao ngôn ngữ dân chúng bằng cách thêm vào nó một số ngữ điệu văn chương và bồi đắp cho nó tất cả vốn từ Hán – Nôm đã được công nhận sử dụng. Công việc này đòi hỏi phải khéo léo và có mức độ, đó là một sự cải biến kiên trì mà chỉ có thể làm được khi hiểu biết sâu sắc cả hai ngôn ngữ, sự giàu có tiểm ẩn trong ngôn ngữ này và quy tắc bất biến của ngôn ngữ kia. Đồng thời cần tránh sự thô thiển của khẩu ngữ và sự khoa trương của văn chương bác học để cuối cùng tạo nên một thứ ngôn ngữ vừa có cái thanh lịch của nhà nho vừa có cái mạnh mẽ của dân chúng.

Nhưng thứ ngôn ngữ sinh ra từ sự hợp nhất hai yếu tố dân gian và bác học đó, nếu trong quá trình tự hoàn thiện mà có thể trở thành một ngôn ngữ văn học thực sự, thì như vậy vẫn chưa đủ để nó làm được nhiệm vụ của một ngôn ngữ văn hóa. Nó vẫn còn thiếu vốn từ kỹ thuật và triết học để dịch và diễn đạt các tư tưởng và quan niệm hiện đại. Làm thế nào lấp được chỗ trống đó?

Có thể tiến hành những sự vay mượn từ cả tiếng Hán lẫn tiếng Pháp. Tiếng Hán đơn âm và gần với tiếng Nam hơn tiếng Pháp đa âm. Các từ Hán là từ biểu ý chỉ cần chữ ghi lại không cần đến phát âm; khi chuyển qua tiếng Nam, chúng được phát âm theo kiểu tiếng Nam, phục tùng mọi yêu cầu ngữ âm của tiếng Nam và do đó trở thành những từ của tiếng Nam. Mặt khác, các từ mới tiếng Hán hay Hán-Nhật thường rất hay được cấu tạo bằng cách ghép hai hay nhiều chữ đã biết sao cho nếu một từ là hoàn toàn mới thì các yếu tố tạo nên nó đã có trong ngôn ngữ thông dụng, nên việc hiểu nghĩa và ghi nhớ nó được dễ hơn rất nhiều. Bởi vì tiếng Nam, mà nguồn gốc rất phức tạp và dẫu sao cũng không phải là phát xuất từ tiếng Hán như người ta thường nghĩ, thực tế vẫn đầy rẫy những từ tiếng Hán được du nhập qua nhiều thế kỷ và được hòa trộn vào đó ngay trong cách phát âm. Trong khoảng mười ba nghìn từ ở từ điển Génibrel thì hơn một nửa là từ gốc Hán.

Như vậy những sự vay mượn tiếng Hán không có gì đáng ngạc nhiên hết; đó là một hiện tượng lâu đời và giới ngữ học nước Nam đã biết đến, nó luôn diễn ra theo cùng một quy trình: phát âm từ hay chữ theo kiểu tiếng Nam và đưa chúng vào câu tiếng Nam theo các quy tắc ngữ pháp, cú pháp tiếng Nam. Có thể nói, đó là một hiện tượng nhập tịch ngôn ngữ thường hay xảy ra và bản thân nó rất lạ lùng, có thể không gặp ở đâu khác ngoài tiếng Nam trong sự vay mượn tiếng Hán. Bởi vì một từ mới mượn ở tiếng Hán và phát âm theo kiểu tiếng Nam chuyển ngay tức khắc vào một ngôn ngữ mà ở đó nó gặp lại từng yếu tố tạo nên nó và đã có ở đó dưới dạng riêng lẻ, hoặc dưới dạng một bộ phận của một từ phức khác đã biết, trường hợp này không có ở một ngôn ngữ nào khác. Thí dụ từ trực giác dùng để dịch từ “intuition” (trong thuyết intuitionisme của Bergson) là gồm hai từ đã biết trong tiếng Nam: trực nghĩa là “thẳng” và giác nghĩa là “biết”; một sự “biết thẳng”, không cần phải qua các thao tác thông thường của suy lý và logic, và chính đó là đặc điểm của “intuition”.

Như vậy là từ ngữ mới của tiếng Hán có ưu điểm khiến cho người Nam dù ít học cũng dễ dàng hiểu được ngay. Chỉ gồm hai từ đơn âm tiết, nó tiện lợi hơn nhiều so với dùng lời lẽ thô sơ diễn giải dài dòng nghĩa của “intuition” hay phiên âm từ đó sang âm tiếng Nam làm nghịch tai không chịu nổi.

Tôi nói hơi dài những chi tiết này để làm rõ hơn những sự vay mượn của tiếng Nam đối với tiếng Hán, những vay mượn tiện lợi, cần thiết và hữu ích. Cố nhiên là không nên lạm dụng chúng, không vay mượn bừa bãi. Ở đây có vấn đề mức độ và khéo léo, những phẩm chất mà mọi nhà văn chân chính đều phải có. Viết câu tiếng Nam đầy những từ Hán khó hiểu cũng lố bịch như là bài trừ tất cả các từ Hán để chỉ dùng từ Nam không thôi, vả chăng việc này là không thể được bởi vì như đã nói, một nửa tiếng Nam là có nguồn gốc hay xuất xứ từ tiếng Hán. Quy tắc cần luôn có là nếu có thể dịch được những tư tưởng mới bằng các từ ngữ tiếng Nam đủ rõ ràng và sáng sủa thì không cần phải dùng đến các từ Hán và khi phải vay mượn các từ Hán thì nên mượn những từ gồm những yếu tố đã biết trong ngôn ngữ thường dùng.

Như vậy trong việc xây dựng vốn từ mới của tiếng Nam để dịch các tư tưởng và quan niệm mới, những sự vay mượn tiếng Hán là cần thiết. Từ nửa thế kỷ nay, trước hết là người Nhật – họ cũng dùng tiếng Hán, sau đến người Trung Hoa, đã dịch hoặc phóng tác ra tiếng nước họ một số lượng lớn các sách Âu châu liên quan đến tất cả các ngành tri thức Tây phương: khoa học, triết học, nghệ thuật, xã hội học, luật học, kinh tế, chính trị, v.v… Nhờ đó họ đã tạo ra một kho từ vựng hiện đại rất phong phú cho chúng ta tha hồ vay mượn.

Nhưng chỉ mượn tiếng Hán thôi chưa đủ. Theo quy tắc chung, chúng cần thiết cho vốn từ triết học pháp lý, cho hệ thuật ngữ của cái mà chúng ta có thể gọi là các khoa học luân lý và chính trị; nhưng đối với từng khoa học riêng biệt mỗi khi có thể thì dịch và cần thì viết lại từ tiếng Pháp với những cách thức của tiếng Nam tốt hơn là dùng những cách dịch như tiếng Hán. Việc này còn tùy thuộc vào sự sáng suốt của nhà văn và dịch giả biết lựa chọn và không quá thiên về phía này hay phía khác.

Đấy là cách tôi hiểu công việc đổi mới tiếng Nam và cách thức tôi đã đóng góp vào công cuộc đó. Nhưng có một điều tôi muốn nhấn mạnh: đó là văn xuôi mới của nước Nam- vì sự sáng tạo một thứ văn xuôi của nước Nam là mối quan tâm chính của tôi, còn thơ thì đã đạt đến đỉnh cao trong những tác phẩm như Kiều rồi – rõ ràng là văn xuôi mới đang đi theo mẫu của văn xuôi Pháp và đang tìm cách vay mượn ở đó một số phẩm chất: sáng sủa, chính xác, logic, thanh nhã, dí dỏm và hài hước. Nó thận trọng tránh những thứ của văn phong Hán: biền ngẫu, đăng đối, rườm rà, suông nhạt, trịnh trọng. Nó sẽ ít mang tính tổng hợp hơn khi bỏ qua những sự ám chỉ và khuôn sáo mà mang tính phân tích nhiều hơn khi đi vào miêu tả chi tiết các hoàn cảnh và con người, các phương tiện bên ngoài và trạng thái tâm lý bên trong. Nếu nó kiên trì con đường này, nó sẽ hợp nhất thành công tinh thần Pháp với tinh thần Nam: cái chất Pháp mang lại cho cái chất Nam sự sáng sủa, tính duy lý, còn cái chất Nam trong cuộc tiếp xúc này chỉ mất đi sự mơ hồ và thiếu chính xác, mất đi sự thiếu duy lý và logic, mà vẫn giữ lại được tất cả những ưu điểm vốn có: lương tri, hài hước, cân bằng, chừng mực, một chút gì nhọn sắc đối với mọi sự ngu ngốc và kiêu căng của con người.

Thực ra từ ít lâu nay người ta đã tung ra một lối viết mới có ý muốn học theo văn phong báo chí Pháp, song đó thường mới chỉ là viết một cách khoa trương hay biếm họa sơ sài. Lối viết đó không có cấu trúc, không có cú pháp; các câu cụt, các đoạn nối nhau không theo một logic nào, chỉ tuân theo cảm xúc thoáng qua hơn là những ý tưởng chính xác rõ ràng; một lối viết kỳ cục, dị dạng, tăm tối, khó hiểu, hoàn toàn trái với cái tinh thần Pháp.

Nhưng đấy chỉ là cái mốt rồi sẽ qua đi, và tôi tin rằng ngôn ngữ mới của nước Nam sẽ vẫn đi theo truyền thống lành mạnh của sự sáng sủa Pháp và lương tri Nam.

(1931)

Tháng Sáu 14, 2020

Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2020.

CUỘC TIẾN HÓA CỦA TIẾNG NƯỚC NAM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong email gửi cho chúng tôi hồi 7:17:35 ngày 15/5/2010, bạn Vũ địa chỉ email: hanhan_1991@hotmail.com tỏ ý thích bài Mới 29 tuổi, Phạm Quỳnh đã đọc diễn văn trước Viện Hàn lâm Pháp tác giả là Dã Thảo. Và tất nhiên là có đọc bài diễn văn ấy nhan đề Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi. Sau đó, bạn tế nhị gợi ý chúng tôi là: “Bài này Cụ Phạm viết mới hay”, trước khi đánh lại nguyên văn bài Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam, đã in trong Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (NXB Tri Thức xuất bản tại Hà Nội cuối năm 2007) từ trang 434 đến trang 454. Chẵn 20 trang! Chúng tôi thành thật cảm ơn lòng nhiệt thành của bạn muốn chúng tôi đem đến cho bạn đọc những tác phẩm ưu tú nhất của học giả Phạm Quỳnh. Điều này cũng nói lên tình cảm của bạn với học giả, nhà văn hóa Pham Quỳnh kính yêu của chúng ta.

Đây là bài diễn văn Phạm Quỳnh đọc tại Trường sinh ngữ Phương Đông, Paris, chiều thứ sáu, 26/5/1922, nhân dịp ông sang Pháp dự Triển lãm Thuộc địa tổ chức tại Marseille.

Trong Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ sáu, 26/5 ấy, ông viết: “Thôi, thế là thoát nợ. Còn mấy trang diễn thuyết, tối hôm qua viết nốt rồi, thế là ngày hôm nay được thư thả đi chơi.”  (…) “5 giờ chiều diễn thuyết ở trường Đông phương Bác ngữ. Được chừng mươi mống đến nghe! Nói về vấn đề “Sự tiến hóa của tiếng An Nam” thì thuộc về chuyên môn quá, cả thành Paris dễ không được mười người chuyên trị tiếng An Nam. Nhưng diễn thuyết ở trường dạy tiếng Đông phương mà không diễn thuyết về ngôn ngữ học thì diễn về cái gì? Nói về một chuyên khoa thì không mong có nhiều người nghe được. Vả chủ ý mình là mượn cuộc diễn thuyết này và mượn cái thanh thế của trường Đông phương Bác ngữ để làm một bài kể về cái tình trạng của tiếng An Nam thế nào và nói rõ cho thiên hạ biết rằng tiếng An Nam không phải là hèn mạt gì, cũng có cơ tiến hóa được, rồi cho đăng báo cho người Tây họ biết, kẻo có nhiều người ở bên ta quen miệng cứ công kích tiếng ta oan quá….

Tuy có ít người như thế, nhưng xem ra họ cũng chú ý nghe, lấy cái vấn đề tiến hóa tiếng An Nam làm một điều quan hệ (Có ý nghĩa quan trọng) nên khảo cứu.” (Sách Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004 các trang 144 và 146)

Sau đây, xin mời các bạn đọc bài mà bạn Vũ giới thiệu là “Bài này Cụ Phạm viết mới hay” theo bản dịch của Phạm Xuân Nguyên.

—o0o—

Bài nói tôi vinh dự được trình bày trước quý ngài hôm nay nhan đề là “Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam”. Cái nhan đề này có vẻ như không được rõ ràng lắm. Nên trước khi đi vào chủ đề, tôi muốn nói vài lời để quý ngài biết ý đồ và mục đích của tôi.

Tôi không có ý trình bày ở đây với quý ngài về quá trình tiến hóa của tiếng nước Nam trong quá khứ, về lịch sử nguồn gốc và sự hình thành của nó. Chắc chắn chủ đề này cũng lý thú và không kém thu hút sự chú ý của cử tọa am hiểu và sành sỏi các vấn đề ngôn ngữ học như quý vị mà vinh dự cho tôi hôm nay là được quý vị lắng nghe. Nhưng vấn đề đó đến nay vẫn chưa được nghiên cứu sâu sắc để có thể trình bày một cách sáng sủa và toàn diện. Một số nhà bác học ngữ văn như ngài Henri Paspéro, Cha Souvignet, cũng có lần soi rọi qua vào nguồn gốc của tiếng nước Nam. Song các nguồn gốc đó vẫn đang còn mờ mịt; và nếu dựa vào cuốn từ điển của Cha Rhodes, ta có thể so sánh tiếng nước Nam thế kỷ XVI với tiếng nước Nam hiện nay, thì lại vẫn còn thiếu những thư tịch cổ xưa về tiếng nước tôi, điều đó khiến cho ta không lần lại được quá trình tiến hóa của tiếng nói ấy qua các thời đại. Mặt khác, các văn bản cổ của nước Nam đều viết bằng chữ Nôm, một thứ chữ dùng chữ Hán biến cải đi để ghi âm tiếng Nam, và các ngài nên biết thứ chữ này rất ít bảo đảm, nên người viết văn, người sao chép cũng như người đọc có thể tha hồ tự ý suy diễn, giải thích. Những khó khăn này làm cho việc nghiên cứu một cách khoa học đối với tiếng Nam chưa được đảm bảo chắc chắn lắm. Đồng thời, dù có quan tâm đến lịch sử của vấn đề, nhưng theo ý tôi nó vẫn chẳng bằng việc nghiên cứu tiếng Nam hiện thời, cái tiếng nói đang trải qua một sự biến đổi sâu sắc, có thể nói là một sự tiến hóa đang diễn ra ngay trước mắt ta. Vì thế câu chuyện tôi đem ra thảo luận với quý ngài hôm nay là sự phát triển hiện thời của tiếng nước tôi chứ không phải sự tiến hóa trong lịch sử của nó.

Hiện thời ở xứ tôi đang có phong trào khôi phục ngôn ngữ dân tộc mà nguồn gốc của nó đáng để ta đi sâu tìm hiểu. Phong trào này phát sinh từ phản ứng chống lại chữ Hán là thứ chữ viết duy nhất của giới nhà nho bao lâu nay, và cũng có nguyên nhân từ ảnh hưởng của văn hóa Pháp.

Chữ Hán ở nước tôi có vai trò gần như chữ Latin ở các nước Âu châu thời trung cổ trước khi hình thành các ngôn ngữ dân tộc khác nhau. Đó là thứ chữ bác học do tầng lớp văn nhân gọi là “nhà nho” sử dụng. Là lớp tinh hoa duy nhất của đất nước, họ tỏ thái độ bề trên coi khinh khẩu ngữ. Đối với họ, đó là thứ tiếng tầm thường của dân chúng, không đáng để người có học chăm lo bồi đắp. Không chỉ có sách là viết bằng chữ Hán, mà các giấy tờ hành chính, quan phương, cũng như thư từ cá nhân đều như vậy cả.

Tiếng nói của người Nam, tiếng Nôm, hoặc tiếng nói thông tục chỉ dành cho người thất học, cho dân chúng. Họa hoằn mới có người hạ cố viết văn bằng tiếng Nôm: đó là để soạn những bài ca hay bài thơ ngắn như một thứ giải khuây sau những thời gian đèn sách nghiêm túc. Chỉ có một ngoại lệ vào hồi đầu thế kỷ XIX: một nhà nho làm quan là Nguyễn Du đã viết Nôm cả một cuốn Kim Vân Kiều, cuốn tiểu thuyết bằng thơ đó thực sự là một kiệt tác, nó cho thấy những khả năng của tiếng Nam và một khi nhà văn có tài sử dụng nó thì có lợi đến đâu. Bị các nhà nho phớt lờ đi vì nó không được dạy trong trường học, nhưng tiếng Nôm vẫn được nuôi dưỡng trong dân chúng là nơi vẫn có những nhà thơ họ yêu thích giống như các ca sĩ hát rong Phương Tây hát về tình yêu và mùa xuân, ngợi ca quá khứ tốt đẹp và cảnh đồng áng yên bình. Vì thế mà, bên cạnh nền văn học viết chính thống mà ta có thể gọi là văn học Hán-Nôm vì nó bao gồm tất cả những tác phẩm của các tác giả người Nam viết bằng chữ Hán (các sách sử ký, địa dư, triết học, luân lý), còn có một nền văn học dân gian đa phần là truyền khẩu, có thể là một trong những nền văn học phong phú nhất thế giới, một cái mỏ không vơi cạn những điều chỉ dẫn quý báu cả cho những người nghiên cứu ngữ học và những nhà văn hóa dân gian, bởi vì nó phát ra trực tiếp từ dân chúng, nó diễn tả dưới hình thức khi thì mộc mạc đơn giản, khi thì tinh nghịch ranh mãnh tâm hồn dân chúng nước tôi.

Trong khi các nhà nho khép mình trong tháp ngà vui thú viết những bài thơ chữ Hán – giống như các bài thơ chữ Latin vậy – hoặc là bình chú các kinh sách cổ, thì dân chúng làm hình thành tiếng nói và sản sinh ra một nền văn học phong phú bao gồm các câu phương ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ nói về những chuyện xa xưa hay các tập tục từng vùng quê, các bài ca dao dài ngắn kể chuyện những người tài, những danh nhân lịch sử của nước Nam, của Trung Hoa, những anh hùng truyền thuyết hay có thật, các bài dân ca huê tình dịu dàng, mượt mà ngân lên trong những đêm hè dưới mái nhà tranh nhỏ bé hay giữa ruộng đồng ao hồ bao la và như dội lại trong không gian vắt vẻo lên tới đỉnh ngọn tre xào xạc. Những bài ca ấy thật ngọt ngào, quyến rũ. Ai đã một lần nghe các cô thôn nữ cấy lúa ở đồng bằng Bắc Bộ hay những cô gái chèo thuyền tam bản ở Huế hát những câu ca như:

Núi cao chi lắm núi ơi

Núi che mặt trời không thấy người yêu

[Montagne, ô montagne, pourquoi êtes-vous si haute?

Vous cachez le soleil et vous me cachez

le visage de mon bien aimé!]

hẳn sẽ không bao giờ quên cái giọng buồn man mác không sao nắm bắt nổi kiểu như thơ Lamartine, nó cho thấy chiều sâu của thơ ca nòi giống mình cũng như khả năng tuyệt diệu của tiếng mẹ đẻ trong việc diễn tả những tình cảm như vậy.

Trong khi các nhà nho say sưa vịnh cảnh và người Trung Hoa thì các ca sĩ dân gian đã tìm được chất giọng như thế để thổ lộ tình yêu trắc trở, để gợi nhắc kỷ niệm bùi ngùi.

Nhờ nỗ lực âm thầm của những người bình dân du ca đó, những kẻ sáng tạo thực sự nên tiếng nói của chúng tôi, thứ tiếng này đã có được một cái nền dân gian rất phong phú mà các văn nhân, nho gia chúng tôi đã quá xem thường, quá hạ thấp, và không biết cách vun xới và khai thác nó một cách đúng đắn để sản sinh ra một nền văn học dân tộc vừa độc đáo vừa lý thú như văn học Nhật Bản chẳng hạn.

Bất luận thế nào đi nữa, trước phong trào phục hồi hiện nay, tiếng Nam vẫn chưa bao giờ được giảng dạy và được chăm sóc vì giá trị của bản thân nó. Ngoài một số tác phẩm ghi lại bằng chữ Nôm như Kim Vân Kiều, Cung oán, Nhị độ mai…, – đó là những bài thơ dài do các nhà nho sáng tác, còn lại toàn bộ nền văn học dân gian gần như là hoàn toàn truyền miệng, và không ai bao giờ có ý nghĩ tập hợp, giữ gìn những bông hoa đẹp của xứ sở đã đưa lại cho tiếng mẹ đẻ âm sắc mùi vị quyến rũ ấy. Để cho tiếng Nôm trở thành một nền văn học đáng gọi là văn chương, nó đang còn thiếu một Ronsard hay một Rabelais, những người ở vào hoàn cảnh tương tự đã biết chối bỏ tiếng Latin, biết hy sinh danh tiếng nhà văn của mình để viết bằng thứ tiếng dân gian thông dụng hồi bấy giờ là tiếng Pháp, nhờ họ và những người kế tục sự nghiệp của họ mà chỉ trong vòng chưa đầy trăm năm tiếng Pháp đã trở nên một thứ tiếng đẹp nhất Châu Âu.

Khi mà hệ thống nhà trường truyền thống chỉ dạy tiếng Hán vẫn còn sống vật vờ, thì tiếng Nam không phát triển lên được và bị liệt vào hàng nôm na mách qué, bị tầng lớp nhà nho coi thường. Nhưng cái nhà trường lỗi thời không đáp ứng được các nhu cầu hiện đại đó đã biến mất, để nhường chỗ cho nền giáo dục Tây phương đang ngày càng phổ biến trong dân chúng. Phong trào cách tân tiếng Nam tôi nói ở trên chính là được bắt đầu với sự quảng bá của chữ quốc ngữ. Phong trào này đi liền với sự tiến bộ của nền giáo dục kiểu Pháp và sự tàn tạ của lối học kiểu Tàu. Các ngài đều biết chữ quốc ngữ là gì. Đó là cách dùng chữ cái Latin ghi âm tiếng Nam do các giáo sĩ Âu châu, nhất là các giáo sĩ Pháp, phát minh ra trong khoảng thế kỷ XV-XVII. Dưới dạng thức như hiện nay nó chính là sự nghiệp của một bậc giáo sĩ cấp cao, người đã đóng vai trò rất quan trọng trong những bước đầu xây dựng quan hệ Pháp – Nam và kết liền số phận nước Nam với nước Pháp: giám mục d’Adran. Chúng tôi chịu ơn ông, con người đáng kính đó, và chịu ơn những bậc sùng đạo trước ông đã đặt chân đến nước Nam, đã tạo ra một công cụ tuyệt diệu giải phóng cho trí tuệ là chữ quốc ngữ, thứ chữ này nhờ sử dụng bảng chữ cái Latin và hệ thống ghi âm vô cùng thích hợp với các ngữ điệu của tiếng nước tôi đã xích chúng tôi lại gần hơn nữa với các chữ viết Âu châu và đã cho chúng tôi một ưu thế vô giá đối với các chữ viết Trung Hoa và Nhật Bản. Người Nhật, người Hoa cũng muốn Latin hóa tiếng nước họ, nhưng ngoài việc hệ thống ngữ âm của họ kém phong phú hơn của chúng tôi và chưa sẵn sàng cho việc ghi âm, thì họ lại không có cơ hội tốt để có được một cách ghi âm đơn giản, tiện lợi, đầy đủ và uyển chuyển như chữ quốc ngữ. Chắc chắn là người ta vẫn có thể thấy cách ghi âm này còn những chỗ chưa hợp lý, nhưng nó đã được thử thách, nó đã trở thành thứ chữ viết thông dụng khắp nước Nam từ biên giới Trung Hoa đến vịnh Thái Lan; nó đã có một hình hài riêng và người ta không thể nghĩ đến cải cách nó gì hơn như là việc cải cách chính tả tiếng Pháp. Trong những chuyện này, tốt quá hóa xấu, thế gian này không có gì hoàn thiện cả, hãy cứ để cho những sự sáng tạo của con người mang dấu vết dở dang, đấy là dấu hiệu của chính sự sống trong quá trình tiến hóa không ngừng của nó.

Nói đúng ra, những người sáng tạo sùng đạo đã làm ra bộ chữ quốc ngữ không hề ngờ tới một vận may to lớn đã khiến họ một ngày kia trở thành người làm ra chữ viết của cả một dân tộc. Khi phát minh ra chữ quốc ngữ, họ chỉ nhằm mục đích ghi lại những từ ngữ tiếng Nam để đem dùng vì mục đích riêng và tiếp đó là để dạy cho các con chiên của họ các sách giáo lý Cơ đốc cũng như các sách tôn giáo khác. Thực tế là, mãi đến gần đây, chữ quốc ngữ vẫn không vượt qua được bậc cửa của các giáo đoàn và chủng viện, và những người Nam đầu tiên biết dùng thông thạo thứ chữ đó là các giáo sĩ Cơ đốc. Ban đầu, những người này rụt rè đem dạy thứ chữ đó cho trẻ nhỏ đã, sau mới đến người lớn, như một sự luyện tập hữu ích cho việc giảng đạo của họ, còn trong thâm tâm họ không có ý định phế bỏ chữ Hán hay chữ Nôm. Nhưng dần dần về sau, cộng tác với các ông thầy và cộng sự người Âu của mình, họ cho xuất bản không chỉ các bản dịch những cuốn sách đạo chỉ dùng cho giáo dân Cơ đốc, mà còn cả những cuốn sách nhỏ về luân lý thông thường, về những câu chuyện kể vui nhộn, thậm chí cả những sách phổ biến khoa học mà tất thảy mọi người đều đọc được. Với các ấn phẩm đó, chữ quốc ngữ có thể nói là đã được thế tục hóa và ngày càng lan rộng trong dân chúng. Chỉ có một số nhà nho là vẫn cố chấp coi khinh nó vì lý do kép: trước hết vì đó là thứ chữ viết ngoại lai do các nhà truyền giáo Cơ đốc mang tới, tiếp đến vì đó là thứ chữ ghi lại lời ăn tiếng nói thông thường không xứng để giới tinh hoa vun xới.

Chính ở Nam Kỳ mới là nơi chữ quốc ngữ được phổ biến sớm và với tốc độ nhanh chóng nhờ nỗ lực của một nhóm tác giả người Nam sốt sắng và chăm chỉ như Trương Vĩnh Ký, Paulus Của, những người được học từ các giáo đoàn ra, những người đã làm việc rất nhiều để phổ biến thứ chữ viết mới này thông qua các xuất bản phẩm yếu lược dành cho các trường tiểu học công đầu tiên mở ra ở xứ này, cũng như các sách sưu tầm những bài ca dao, dân ca cho đông đảo dân chúng thích đọc để giải trí. Vả chăng xứ Nam Kỳ cũng dành sẵn những điều kiện tối hảo cho việc truyền bá chữ quốc ngữ. Trở thành đất thuộc Pháp trước các xứ khác của nước Nam, và lại là nơi ít mang dấu ấn sâu sắc của Trung Hoa như Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Nam Kỳ đã khá nhanh chóng bỏ rơi việc học chữ Hán để chuyển qua học chữ Pháp. Muốn thế thì nhất thiết phải biết chữ quốc ngữ như là khâu nhập môn để làm quen với bảng chữ cái Pháp. Mặt khác, Nam Kỳ không có tầng lớp nhà nho thủ cựu và cố chấp như ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nó cởi mở hơn đối với mọi cái mới, điều này giải thích vì sao chữ quốc ngữ và chữ Pháp lại được phổ biến dễ dàng trong mọi tầng lớp xã hội ở đây. Nhưng, như rồi các ngài sẽ thấy, nếu việc thiếu một tầng lớp nhà nho am hiểu văn hóa Trung Hoa, tự phụ về sự hơn hẳn của mình và khư khư bám lấy đặc quyền, nên đã tạo thuận lợi cho sự phổ biến chữ quốc ngữ trên phương diện chữ viết, thì chữ quốc ngữ lại có phần gây cản trở sự phát triển của tiếng Nam trên phương diện một ngôn ngữ. Bởi vì dù sao đi nữa, tiếng Nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của tiếng Hán, giống như tiếng Pháp đối với tiếng Latin, mà có thể còn ở mức độ rộng hơn. Không có sự góp phần của chữ Hán thì nó không những không thể giàu có lên được, mà còn để mất đi một số lượng lớn những từ đã thông dụng mà nếu không biết chữ Hán thì không thể biết từ nguyên và nghĩa đích xác.

Chính vì thế mà ở Nam Kỳ, mặc dù chữ quốc ngữ được phổ biến nhanh chóng, nhưng tiếng Nam lại không có được những tiến bộ lớn và không có được sự tiến hóa như ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Trong hai xứ này, chữ quốc ngữ ban đầu được lớp nhà nho tiếp nhận một cách thù nghịch. Nhưng khi nhận ra tiện ích của thứ chữ viết mới này thì rốt cuộc họ đã chấp nhận nó và ngày càng xa rời chữ Nôm là thứ chữ dần dần bị bỏ rơi hoàn toàn.

Đồng thời cũng có một sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong tinh thần các nhà nho chúng tôi đối với văn hóa Tây phương nói chung và đối với nền giáo dục Pháp nói riêng. Vào khoảng năm 1900, sau khi Trung Hoa bị Nhật Bản đánh bại, một nhóm nhà cải cách Trung Hoa đã nhận ra nguyên nhân sự yếu kém của dân tộc mình, nên đã quyết tâm học theo văn minh Tây phương. Một số lượng lớn các nhà nho Trung Hoa đã sang học tập ở Âu châu và Hoa Kỳ và khi trở về họ đã bắt tay vào dịch sang tiếng Hán các tác phẩm tiêu biểu nhất của những nhà triết học và bác học lớn Tây phương. Có nhiều bản dịch đó, nhất là những tác phẩm của Darwin, Kant, của các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII: Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot đã được truyền qua Đông Dương và được các nhà nho chúng tôi ngốn ngấu đọc, qua các tư tưởng mới mẻ đó họ khám phá ra nền văn minh Tây phương ở những cái cao cả và sâu sắc của nó. Họ kinh ngạc thực sự. Nếu như hồi đầu họ có thái độ kỳ thị cái học Tây phương thì bây giờ họ lại say mê. Không thể dịch thẳng từ tiếng Pháp, họ bèn dịch lại từ tiếng Hán sang tiếng Nam không chỉ các tác phẩm của Rousseau và Montesquieu, của Darwin và Kant, mà cả những sách giáo khoa thường thức khoa học do các tác giả Trung Hoa viết cho các trường học mới ở Trung Quốc, và khi dịch như thế họ dùng luôn chữ quốc ngữ. Nhờ đó tiếng Nam nhanh chóng trở nên phong phú bởi một loạt từ ngữ mới vay mượn của chữ Hán: các thuật ngữ kỹ thuật, các từ trừu tượng mà bản thân người Trung Hoa và trước họ là người Nhật, nhờ sự phong phú của thứ chữ ghi ý đã dịch thoát hoặc phiên âm được các thứ tiếng Âu châu. Người ta đã tranh luận nhiều về việc du nhập các từ ngữ mới tiếng Hán-Nhật vào tiếng Nam: người ta suy tính xem, nên chăng du nhập hoàn toàn và đơn giản vốn từ vựng kỹ thuật của tiếng Pháp thay cho vay mượn qua cái cầu chữ Hán. Có nhiều điều để nói về chủ đề này; lát nữa tôi sẽ đề cập tới. Nhưng cần phải ghi nhớ một thực tế hiển nhiên là: trước khi ở nước tôi có tầng lớp Tây học có khả năng dịch sang tiếng Nam các tác phẩm Pháp, có khả năng phổ biến bằng tiếng mẹ đẻ những tri thức khoa học mới, thì các nhà nho lớp cũ đã làm việc đó nhờ cảm hứng từ các sách Trung Hoa và họ cũng đã làm phong phú thêm tiếng nước tôi bằng một số lượng đáng kể các từ ngữ mới từ đó đã trở nên thông dụng.

Khi lớp tinh hoa mới được đào tạo trong các trường Pháp đã có thể bắt tay vào việc dịch thuật và phổ biến bằng thứ tiếng dân tộc cần thiết cho việc giáo dục đám đông, nó đã có sẵn một thứ tiếng do các bậc tiền bối là các nhà nho lớp cũ chuẩn bị cho việc tiếp nhận cái mà họ gọi là “tân thư”. Nói đúng ra, những người Tây học trong lớp tinh hoa này, qua phản ứng rất dễ hiểu chống lại nền văn hóa Hán-Nôm cổ xưa, thì ban đầu cũng còn do dự mãi trước việc thừa nhận thứ tiếng mới này và những tiếng vay mượn từ tiếng Hán. Có một thời gian đã xảy ra một thứ “xung đột tân cựu” quanh chuyện ngôn ngữ này, một cuộc xung đột kéo dài không lâu và đã được thu xếp ổn thỏa. Bằng sự nhân nhượng lẫn nhau, hai phái tân học và cựu học đã đồng ý được với nhau về vấn đề quan trọng này và về việc cùng hợp tác để hoàn thiện ngôn ngữ dân tộc mà trong vòng mươi, mười lăm năm qua đã đạt được sự tiến bộ lớn và đã sản sinh ra một nền văn học mới rất đáng chú ý. Các tác phẩm viết bằng quốc ngữ xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng: lịch sử, tiểu thuyết, thơ, sân khấu, sách giáo khoa, các bản dịch văn học cổ điển Pháp và Trung Hoa, v.v… Hàng chục tờ báo và tạp chí bằng chữ viết mới được xuất bản ở Hà Nội và Sài Gòn và được đủ mọi tầng lớp xã hội tìm đọc, từ anh phu kéo xe tranh thủ giữa hai cuốc xe ngồi dưới bóng cây đọc các tin vặt trong ngày đến ông quan nằm trên giường, ngồi trong nhiệm sở nhấm nháp một bài viết hay những vần thơ của một nữ thi sĩ trẻ. Phong trào phục hưng hay đúng hơn là cuộc canh tân tiếng Nam này lại ít được biết đến trong những người Pháp sống ở nước tôi, thậm chí ngay cả lớp công chúng đặc biệt thân với nước Nam. Trừ một số ngoại lệ đáng quý, những người này thường chỉ bằng lòng với việc học thứ tiếng nói thông thường, khẩu ngữ, và quan tâm rất ít đến các ấn phẩm tiếng Nam. Nếu như họ có khi nào đọc một bài trên báo chí và vấp phải những từ ngữ Hán-Nôm khó hiểu, họ sẽ vất tờ báo xuống và nói như đanh đóng cột: “Đây không phải tiếng Nam. Đây là tiếng Hán !” Lời xét đoán này quả là rất thô thiển.

Ngược lại, những người đang thật sự “Nam hoá”, như thường thấy ở các nhà truyền giáo và những người quan tâm thiết thực đến sự tiến hóa của tiếng Nam, thì lại có nhiều cảm tình với phong trào này. Ở cương vị chủ bút một tờ tạp chí, tôi thường nhận được thư từ của các nhà truyền giáo đánh giá cao những nỗ lực của chúng tôi trong việc đổi mới tiếng Nam và khen ngợi những kết quả chúng tôi đạt được. Một trong số họ, Đức Cha H (*) có lẽ là người Âu duy nhất mà tôi biết đã sử dụng tiếng nước tôi thành thạo bậc thầy, không chỉ khẩu ngữ, mà cả ngôn ngữ văn chương của những người có học. Một hôm ông đã có nhã ý nói với tôi rằng ông đã học được cách viết tiếng Nam qua báo chí của chúng tôi. Quả thực, ông đã viết tiếng Nam hoàn toàn như một nhà nho nước Nam.

Tôi đã đăng cho ông một bài viết về “Các hệ thống luân lý hiện thời”, trong đó ông phê phán thuyết khoa học luận và quyết định luận, một vấn đề hóc búa ngay cả đối với một nhà triết học chuyên nghiệp viết bằng tiếng Pháp; cách trình bày của ông bằng tiếng Nam sáng sủa, cách ông dùng thuật ngữ chuyên môn triết học chính xác tới mức dù chủ đề bài viết phức tạp nhưng tất cả độc giả của chúng tôi đều hiểu ông và, do chỗ ông ký một bút danh lấy tên người Nam, cứ ngỡ ông là một nhà văn của dân tộc tôi.

Đức cha H. và tôi, chúng tôi thường nói về sự tiến hóa của tiếng Nam và tương lai của nó. Ông bảo tôi: “Các ngài có cái phúc lớn là có một thứ chữ viết ghi âm khiến các ngài gần với các thứ chữ viết Âu châu. Như vậy các ngài có thể lấy ở tiếng Pháp tất cả những vay mượn cần thiết, chuyển thoải mái những từ tiếng Pháp sang quốc ngữ của các ngài. Mặt khác, tiếng các ngài phần lớn phát sinh từ tiếng Trung Hoa; những vay mượn mà các ngài có thể lấy từ đó có thể nói là vô tận, bởi vì những từ Hán mà các ngài vay mượn thì các ngài đọc theo kiểu tiếng Nam, do đó chúng như là những từ tiếng Nam vậy. Đấy là những ưu thế vô giá. Tiếng các ngài như vậy là có thể giàu có, đổi mới vô tận. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào tương lai của tiếng Nam”.

Những lời nói khích lệ này làm yên lòng chúng tôi trước những phán xét vội vã của những người ít nhiều có hiểu biết.

*

*  *

Bây giờ tôi xin quay lại vấn đề đã lướt qua lúc nãy, đó là những sự vay mượn từ tiếng Hán và những từ ngữ mới. Tôi đã nói tới việc tiếng nước tôi vốn bị lớp nhà nho coi khinh một thời gian dài song lại được vun xới trong dân chúng như thế nào và nó có cái vốn dân gian phong phú ra sao. Nó chỉ thiếu vốn từ trừu tượng và kỹ thuật đối với những tri thức hiện đại, một tập hợp thuật ngữ chuyên ngành để biểu đạt các tư tưởng mới và các phát minh mới. Tôi tin rằng sự thiếu hụt đó không phải chỉ riêng cho tiếng nước tôi: nó là chung cho tất cả các thứ tiếng hạng hai không theo kịp sự tiến bộ chung của các khoa học và của văn minh. Ở trên kia, tôi đã cho thấy việc các nhà nho nước tôi, do hoàn cảnh bắt buộc phải học theo các tư tưởng và tri thức hiện đại đã bổ sung sự thiếu hụt đó bằng cách vay mượn những từ ngữ mới trong tiếng Hán và họ đã nhanh chóng thành công trong việc có thể gọi là hỗn nhập ngôn ngữ. Nhưng liệu những sự vay mượn đó có hợp lý không, có nên làm không. Hẳn là không bao giờ nên tiến hành việc một ngôn ngữ này vay mượn một ngôn ngữ khác. Nhưng việc tiếng Nam vay mượn tiếng Hán có bản chất rất đặc biệt và nội một việc những từ ngữ mới của tiếng Hán du nhập tiếng Nam không hề khó khăn, hầu như là tự nhiên, đã cho thấy những sự gần gụi sâu xa giữa hai thứ tiếng này.  Vả chăng, nói tiếng Nam vay mượn từ ngữ tiếng Hán là không hoàn toàn chính xác: tiếng Nam không “vay mượn” thô thiển từ ngữ tiếng Hán nằm trong khẩu ngữ, bạch thoại, là thứ tiếng không nói thống nhất như nhau trong tất cả các tỉnh của Trung Hoa; tiếng Nam, cũng như tiếng Triều Tiên, cũng như tiếng Nhật Bản, cũng như chính tiếng bạch thoại, vay mượn ở một cái kho chung là tiếng Hán, một thứ tử ngữ chung cho tất cả các dân tộc vùng Viễn Đông chịu ảnh hưởng văn hóa và văn minh Trung Hoa, giống như tiếng Hy Lạp và tiếng Latin chẳng hạn là hai tử ngữ chung cho các dân tộc Tây phương hay ít nhất cũng góp phần tạo nên phần lớn các thứ tiếng Âu châu hiện thời. Khi các ngài vay mượn chẳng hạn của tiếng Anh những từ như sleeping-car, rocking- chair, smoking-room hay tea-room – điều này hình như bây giờ đang trở thành mốt vì tôi thấy đâu đâu cũng là những Royal-Hotel và những Cinema-Palace – thì thế là các ngài đã thực sự vay mượn rồi, bởi vì những từ tiếng Anh này chuyển trực tiếp qua tiếng Pháp mà vẫn giữ nguyên chính tả và phát âm gốc của chúng. Nhưng khi bị thôi thúc bởi nhu cầu tìm kiếm những thuật ngữ phù hợp để chỉ một phát minh hay biểu đạt một tư tưởng mới, các ngài tìm về lại tiếng Hy Lạp và tiếng Latin để tạo nên những từ mới như électro-dynamique hay psycho-analyse, thì nếu các ngài muốn, đó cũng là những sự vay mượn, nhưng là những vay mượn có bản chất khá đặc biệt, đừng nên lẫn với những vay mượn đối với tiếng Anh. Và nếu có đôi khi một nhà văn hay nhà báo nào đó chế nhạo thứ tiếng lóng Hy-La của các nhà bác học và các triết gia thì họ đã không nhận biết sự cần thiết và tính hợp thức của việc đó, và nếu có dịp họ lại không ngần ngại sử dụng cũng những từ ngữ ấy để chỉ cũng những sự vật ấy và biểu đạt cũng những tư tưởng ấy.

Những sự vay mượn các thứ tiếng cổ theo kiểu này, miễn là chúng được thực hiện có lựa chọn, có phân biệt, và đáp ứng được các quy luật bí mật của sự hài âm và phát âm – vì tôi nghĩ đấy chính là điều kiện không thể thiếu để tạo ra những từ mới – sẽ làm giàu cho ngôn ngữ thay vì làm cho nó cồng kềnh lên hoặc bị sai lệch đi. Thế nhưng, những vay mượn của tiếng Nam đối với tiếng Hán lại chính xác và có cùng một bản chất như sự vay mượn của tiếng Pháp đối với tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latin. Khi xem xét vấn đề theo cách đó và đặc thù ngôn ngữ học, vấn đề này không còn quan trọng nữa và trở thành một điều hết sức tự nhiên, sự hỗn nhập tiếng Hán vào tiếng Nam thời nào cũng diễn ra, theo một cách gần như tự phát. Tuy nhiên nếu như vấn đề này vẫn cứ được nêu ra đó là vì một số khá lớn đồng bào trẻ tuổi của chúng tôi được đào tạo hoàn toàn trong các trường Pháp, bằng phản ứng tự nhiên chống lại nền văn hóa Trung Hoa già cũ và tinh thần nho học cổ xưa, đã bỏ rơi hẳn chữ Hán và như thế là lại rơi vào sai lầm ngược với sai lầm của các nhà nho lúc trước không muốn nghe nói gì đến việc học chữ Pháp. Song cuối cùng họ cũng đã thừa nhận sai lầm của mình và đã ý thức được rằng việc học chữ Hán là không thể thiếu để có hiểu biết đầy đủ về tiếng Nam, rằng tiếng Nam hoàn toàn độc lập với nền văn hóa kinh viện Trung Hoa già cũ đã bao thế kỷ qua chế ngự giới trí thức nước Nam, rằng cần phải học chữ Hán không phải vì thứ chữ đó mà vì phải chuyển biến theo thứ tiếng dân tộc phát sinh từ đấy ra, một việc không tốn mấy thời gian và cũng không mấy khó nhọc. Chính vì vậy một số lớn thanh niên Tây học của chúng tôi sau khi có được tấm bằng trong các trường Pháp đã quay sang học chữ Hán, nhưng không học theo cách của các nhà nho xưa dành cả đời bình giảng những cuốn sách cũ, mà theo cách người ta dạy tiếng Latin ở trường trung học hay cao đẳng. Hình như Chính quyền Đông Dương, trong chương trình trung học và cao đẳng ở thuộc địa, đang có ý định thay tiếng Hy lạp và Latin bằng tiếng Hán, đây sẽ là một biện pháp hoàn toàn đúng đắn và hợp thời, bởi vì những người trẻ của chúng tôi cần văn hóa Hy-La ít hơn là văn hóa Trung Hoa. Và cũng như ở Pháp việc học tiếng Hy Lạp và tiếng Latin không có nghĩa là các ngài chịu ảnh hưởng của nước Hy Lạp hay nước ltalia hiện thời, thì ở nước tôi việc học tiếng Hán không có nghĩa là chúng tôi đi theo Trung Hoa. Ảnh hưởng Trung Hoa vốn đã quá tai hại đối với sự tiến hóa tinh thần của dân chúng nước tôi, nó đã đè quá nặng lên chúng tôi, nên chẳng dại gì chúng tôi lại bị rơi vào đó nữa. Nhưng dẫu sao hai mươi thế kỷ của văn hóa Trung Hoa đã để lại những dấu vết không thể xóa nhòa trong ngôn ngữ chúng tôi, và để không bị quên mất hoàn toàn chúng tôi buộc phải học tiếng Hán như một tử ngữ, cái tử ngữ đã và vẫn đang góp phần tạo nên phương ngữ dân tộc chúng tôi.

Nhưng nếu tiếng Nam có phần phát xuất từ tiếng Hán là thứ tiếng vẫn không ngừng làm giàu cho nó bằng các từ ngữ mới, thì hiện giờ tiếng Nam cũng bắt đầu vay mượn tiếng Pháp. Những vay mượn này gồm có những từ ngữ Pháp dịch sang những từ ngữ Nam tương đương, có khi là phiên âm những từ Pháp sang âm tiếng Nam, hay có khi là đưa nguyên xi các từ Pháp vào tiếng Nam. Mặc dù bản chất hai thứ tiếng khác nhau, một tiếng đa âm tiết còn một tiếng đơn âm tiết, nhưng quy luật cuộc sống thực bắt buộc những vay mượn đó ngày càng nhiều lên và càng ngày càng làm giàu cho tiếng nước tôi ở mức độ đáng kể.

Xu hướng tiến hóa hiện nay, về mặt vay mượn tiếng Hán và tiếng Pháp, có thể thấy như sau.

Lớp từ vựng trừu tượng, tù vựng chỉ các tư tưởng, các khoa học luân lý, chính trị và triết học đa phần được tạo ra bằng cách phiên âm tiếng Hán sang tiếng Nam. Điều này là dễ hiểu, chữ Hán đều là chữ biểu ý, đặc biệt thích hợp để thể hiện các tư tưởng. Hơn nữa, phần lớn các từ mới được tạo nên như vậy là do ghép những chữ đã biết, đã thành thông dụng lại với nhau.

Xin lấy một thí dụ về cơ chế tạo từ này để các ngài rõ: học thuyết về cái “intuition” của Bergson được dịch sang tiếng Hán-Nam bằng hai từ kép: trực-giác chủ-nghĩa. Mỗi từ ở đây được tạo nên bằng cách ghép hai từ đơn đã thông dụng hàng ngày: trực là “thẳng, suốt”; giác là “hiểu biết, khai sáng” theo nghĩa Phật giáo; – chủ nghĩa gồm chữ chủ “chúa tể”, nghĩa “tư tưởng”, có nghĩa là một học thuyết, một hệ thống triết học có một định đề cơ bản, có một tư tưởng chủ đạo. Chữ Hán, nhờ số lượng lớn và khả năng kết hợp vô tận của chúng, vậy là đã đạt tới trình độ đủ để dịch tất cả các thuật ngữ chuyên môn của triết học hiện đại giống như hơn nghìn năm trước nó đã được dùng để dịch tất cả hệ thuật ngữ triết học Phật giáo còn trừu tượng và phức tạp hơn nhiều. Các từ được đọc theo kiểu tiếng Nam này truyền thẳng vào tiếng Nam và người có biết ít chữ Hán thông thường thì chỉ cần tách bạch các từ ra là có thể gần như hiểu được nghĩa của chúng.

Như vậy, đối với một người Nam học vấn trung bình, không biết gì về triết học Bergson, từ trực giác luôn có ý nói đến một cái mà người ta có thể nhận biết một cách trực tiếp, không cần phải tìm tòi, biện giải nhiều. Và tôi tin đó gần như là ý nghĩa của từ intuition đối với công chúng ngoại đạo. Cách dịch kiểu Hán-Nôm này trong mọi trường hợp đều đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với ngữ âm tiếng nước tôi hơn là cách phiên âm đơn giản và thuần túy từ intuition sang âm tiếng Nam: anh-tuy-si-ông hoặc là phải dùng tiếng Nam diễn giải dài dòng nghĩa của từ này.

Ngược lại, đối với lớp từ vựng của các khoa học cụ thể như vật lý hóa học và các môn tự nhiên, đối với tên riêng lịch sử và địa lý, việc dùng từ Hán-Nôm là không cần thiết và những sự vay mượn tiếng Pháp là đáng khuyến khích hơn. Đó là cách chúng tôi đang làm. Các từ kỹ thuật có thể dịch một cách khá đơn giản và khá tiện lợi sang tiếng Nam thì chúng tôi đều tiến hành, như l’aéroplane dịch là tàu bay, con tàu nó bay; le sous-marintàu ngầm, con tàu nó lặn xuống nước, v.v… Dịch thế nghe rất biểu cảm và rất dễ hiểu. Còn những từ khác thì chỉ đơn giản là ghi lại theo kiểu láy âm, thí dụ chúng tôi nói xe-ôtô cho l’automobile; xe tăng cho le tank hoặc le char d’assaut; nhà ga cho la gare de chemin de fer, v.v…

Tất cả các thuật ngữ hóa học được chấp nhận y nguyên không cần phải viết lại. Chúng tôi nói như các ngài chlorure de sodium, hoặc cyanure de potassium. Phải thừa nhận rằng các từ này chuyển qua nguyên dạng trong tiếng nước tôi, không bị biến đổi gì, và ngay cả một người Nam không biết gì bảng chữ cái tiếng Pháp và phát âm chúng theo kiểu quốc ngữ thì cách phát âm dở đó vẫn luôn gần đúng hơn là cách phiên âm (máy móc – ND thêm) theo hệ thống quốc ngữ. Vả lại, danh mục tên gọi hóa học hiện nay gần như là mang tính phổ quát, gần như giống nhau trong mọi thứ tiếng. Chúng tôi chỉ có lợi thế là tiếp nhận như nó sẵn có trong tiếng Pháp. Chúng tôi cũng làm như thế đối với các tên riêng lịch sử và địa lý, và ở đây chúng tôi có ưu thế lớn so với tiếng Hán và tiếng Nhật, đó là chữ quốc ngữ của chúng tôi gần với các chữ viết Âu châu và như vậy là chúng tôi có thể chuyển thẳng vào tiếng nước mình những cái tên Âu mà không cần phải viết lại theo cách khác. Tuy nhiên, có vấn đề ngữ âm rất quan trọng phải tính đến, âm tiết tiếng Pháp và âm thanh tiếng Nam khác nhau đến nỗi một cái tên Pháp đem ra phát âm theo kiểu Nam thường khiến nó khó nghe đến mức không chịu nổi hoặc dễ bị suy diễn một cách tai hại.

Tôi xin kể các ngài nghe một chuyện vui rất tiêu biểu mà tôi được biết về một đại thần ở Triều đình Huế. Khi vào triều nghe tin ngài Doumer được bổ làm Toàn quyền, các vị thượng thư trong Viện Cơ mật hỏi viên đại thần tôi đang nói đây tên vị toàn quyền mới là gì. “Đó là ngài Đume”, viên đại thần nói. Các vị thượng thư vốn là những ông quan già, không biết chút tiếng Pháp nào, nhìn nhau kinh ngạc: “Ngài Đume, ngài Đume, nhưng một quan toàn quyền không thể có cái tên như vậy, đó là điều không thể được!” Quả thực, từ “Doumer” đọc theo kiểu tiếng Nam nghe gần như một tiếng văng tục mà giới hạ lưu hay dùng. Đối với người Nam, nó có một nghĩa xấu rõ ràng. Một ông quan khác biết tiếng Pháp khẳng định rằng đó chính thực là tên của vị toàn quyền mới, nhưng các vị thượng thư già không muốn nghe gì thêm nữa. Cuối cùng mọi người bàn tính với nhau đặt cho ngài Doumer một cái tên khác dễ nghe hơn và về nghĩa thì ít tai hại hơn. Người ta tìm được hai từ Hán-Nôm: Đô-mỹ ý nói là “đẹp toàn vẹn”. Như vậy danh dự của ngài Doumer đã được cứu thoát và chiếc cầu dài 1.800 mét mà ông cho xây trên sông Hồng đến nay vẫn còn mang tên “Cầu Đô-mỹ” (Cầu đẹp toàn vẹn).

Qua thí dụ này các ngài có thể thấy những vấn đề ngữ âm quan trọng đến mức nào và chúng có ảnh hưởng ra sao ngay cả trong lĩnh vực chính trị.

Quan toàn quyền hiện nay, Ngài Long, có một cái tên tiền định: ông là “rồng”, và chuyến đi săn mới đây của ông trên dãy Lang-biang mà các ngài có thể đọc thấy trên báo chí đã thấm vào vinh quang của ông: ông là con rồng quật ngã con hổ.

Vì những lý do này nên việc phiên trực tiếp và y nguyên từ tiếng Pháp những tên riêng không có âm dễ nghe đối với lỗ tai người Nam không phải bao giờ cũng tốt; cần phải tìm cho chúng những từ Hán-nôm có cách đọc gần giống và nếu có thể làm tăng thêm nghĩa đẹp.

Vì vậy chúng tôi đã phiên âm tên Napoléon thành ba từ Hán-Nam: Nã-phá-luân đọc lên nghe rất vang và có một âm sắc thực sự của một chiến binh tuyệt vời. Theo cách đó tên Washington (Hoa – thịnh – đốn ) nghe cũng rất dễ chịu. Và tên Paris được phiên thành Pha-lê-thành (thành phố thủy tinh) thì thật không lựa chọn nào tốt hơn.

Còn đối với các tên khác, để tránh rắc rối, chúng tôi chấp nhận lối chính tả và lối đọc đơn giản và thuần túy như tiếng Pháp; chúng tôi nói: Verdun, Douaumont, Nice, Marseille, v.v…

Tiếng Nam không chỉ vay mượn tiếng Pháp một phần lớn vốn từ khoa học và gần như toàn bộ các tên riêng lịch sử và địa lý. Thứ tiếng của các ngài, nhờ Trời ban cho sự sáng sủa và hài hòa, nhờ logic của cú pháp và trật tự của phong cách khiến nó trở thành một trong những sáng tạo hoàn hảo nhất của trí tuệ người, còn tác động đến sự tiến hóa của tiếng Nam một cách sâu kín hơn, nội tạng hơn, nếu có thể nói như vậy. Nếu một phần vốn từ của chúng tôi vẫn còn lấy từ tiếng Hán thì cấu trúc của tiếng nước tôi đã càng ngày càng chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp. Và điều này không có gì đáng ngạc nhiên cả, bởi vì gần như tất cả các nhà cách tân nước Nam đang làm việc cho sự phục hưng tiếng dân tộc cũng đều là các nhà Tây học đã được hiểu biết và thưởng thức vẻ quyến rũ và nét tinh tế của tiếng Pháp đẹp đẽ của các ngài.

Đấy là mấy nét phác nhanh về sự tiến hóa của tiếng Nam hiện nay. Như các ngài thấy, nó khá lý thú và đáng được tìm hiểu kỹ hơn nữa, điều mà đến đây vẫn chưa làm được.

*

*  *

Thưa quý ngài, khi hai người không hoà thuận với nhau, các ngài bảo đó là họ không nói cùng một thứ tiếng. Chúng tôi thì nói: ngôn-ngữ-bất-đồng (không có cùng một ngôn ngữ). Đối với các cá nhân đã vậy; đối với các dân tộc càng như vậy. Để đi sâu vào tâm thức của một dân tộc, để có thể thiện cảm với nó, không gì bằng sự hiểu biết ngôn ngữ.

Tôi biết, đó là một chân lý quá đỗi tầm thường, chẳng nên nhắc lại ở đây, nơi các bậc thầy nổi tiếng dạy cho các sinh viên ưu tú những hiểu biết lý thuyết và thực hành của hầu khắp các ngôn ngữ Đông phương. Nếu tôi mạn phép nhắc lại điều đó ở đây thì chỉ vì tôi muốn cổ vũ những cử tọa nào chuyên về nghiên cứu tiếng Nam hãy theo sát hơn nữa sự tiến hóa hiện thời của tiếng nước tôi, đừng tự bằng lòng với việc học khẩu ngữ, mà còn phải biết cả ngôn ngữ văn học, và để hiểu biết nó tốt hơn, nên nghiên cứu một ít tiếng Hán là thứ tiếng, tôi xin nhắc lại, đối với tiếng Nam giống như tiếng Latin đối với tiếng Pháp. Tôi tin chắc việc nghiên cứu một thứ tiếng đang độ tiến hóa như vậy sẽ khiến các vị đó thích thú, thậm chí là say mê, và tôi không nghi ngờ rằng họ sẽ thú vị nhận ra ở đó dấu vết rành rành của tiếng Pháp, cái dấu ấn của tinh thần cải hoá văn minh của nước Pháp.

P.Q.

(*) Viết tắt trong nguyên văn, R.P.H., tức Révérend Père H, có nghĩa “Đức cha bề trên tên là H. hoặc đơn giản là “Đức cha H.”. Phạm Quỳnh tế nhị giữ kín quan hệ này khi không cần thiết phải công khai (Chú thích của biên tập viên NXB Tri Thức trong sách Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932).

Tháng Năm 30, 2020

Văn Quốc Ngữ

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 6 năm 2020.

VĂN QUỐC NGỮ

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài Phạm Quỳnh viết đăng trên Tạp chí Nam Phong số 2 (8/1917) sau đó được ông chọn đưa vào Thượng Chi Văn Tập xuất bản năm 1943 tại Hà Nội. Năm 1962, sách được tái bản lần thứ nhất tại Sài Gòn.

Bản trích đăng trên Blog PhamTon lần này, chúng tôi lấy từ Phạm Quỳnh: Thượng Chi Văn Tập của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2006, từ trang 58 đến trang 63.

—o0o—

Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mở mang được. Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu thái các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ, với tính cách dân ta. Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình, tinh thần cốt cách ấy hiện nay còn mập mờ phảng phất như ảnh không hình vậy. Nói rút lại, văn quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, mối tư tưởng mới mở mang được, quốc dân ta mới không đến nỗi chung kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay vậy.

Trách lịch sử cũng không bổ ích gì, mà lên án tiền nhân lại là phạm tội bất hiếu. Vậy ta chẳng nên oán gì các cụ ta ngày xưa vì say đắm chữ Tàu nên lãng bỏ tiếng Nôm, để cho con cháu ngày nay khổ vì có nước mà không có văn, có người mà không có cách nói cho nhau nghe ngoài những câu nhật dụng thường đàm. Ta chỉ nên xét hiện tình mà khuyên quốc dân để tâm để ý vào một vấn đề rất quan hệ cho tương lai nước nhà.

Hiện nay ai cũng rõ rằng chữ quốc ngữ là tiện lợi, so với chữ Tây chữ Nho học vừa dễ mà vừa mau, nhưng cũng vì thế mà coi thường coi khinh, cho là không đáng công học, không biết rằng chữ quốc ngữ ấy chính là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy.

Ôi! có nước mà không có tiếng nói, còn gì khổ bằng! Trong khi học tập năm ba anh em ngồi với nhau, bàn những chuyện thiết tha, nói những điều tâm sự, mà đương câu chuyện phải pha một hồi tiếng Tây hay điểm mấy câu chữ Tàu, thì cực biết bao nhiêu! Viết một bức thư là sẻ tấm lòng cho người yêu kẻ mến, lời đi cảm tình cũng phải đi theo, thế mà bày tỏ cái cảm tình ấy ra cũng không thể dùng được thứ tiếng nói bắt đầu học từ khi lọt lòng mẹ, thì thảm biết dường nào!

Ấy cái hiện tình như thế. Người trong nước ai là người đoái nghĩ đến?

Những người nhiệt thành về Tây học thì ước cho chữ Tây thông dụng cả trong nước, lấy tiếng Pháp mà thay vào tiếng ta không những trong khi học tập mà đến cả trong lúc trò chuyện nữa, không biết rằng sự “đổi não” ấy là thuộc lẽ thiên nhiên không thể nào thành được. Mà dù có làm được cũng là một sự không nên (…)

Đến những nhà cựu học thì tuy ngày nay không còn mấy nữa, nhưng còn người nào đều là người ôm cái chủ nghĩa chán đời cả. Trông thấy cái học cũ mỗi ngày một mòn mỏi đi, không thể cứu vớt được nữa, trong lòng những thương cùng nhớ, không hề xét đến tình thế tất nhiên, không hề nghĩ đến tiền đồ sự học, tựa hồ như quay mặt cả về ký vãng mà ngoảnh lưng lại với tương lai vậy. Nói văn quốc ngữ với các nhà ấy thì họ cũng cho là vô vị như chuyện Khổng Mạnh đối với người Tây học vậy.

Như thế thì cả quốc dân không hề lưu tâm đến cái vấn đề tâm huyết, là vấn đề chữ Quốc ngữ, cả quốc dân không hề tự hỏi: một nước có thể không có quốc văn được Không? Một nước muốn mưu sự sinh tồn tìm đường phát đạt, có thể đời đời học mướn viết nhờ mãi được không?

Đời trước đã lầm, đời nay phải biết tránh vết xe cũ mà đừng đi. Vì nước Nam xưa kia có được vài ba ông Nguyễn Du, năm bảy bà Thị Điểm, mấy cụ Bảng Đôn, mấy cụ Yên Đổ, thì chi mà quốc văn chẳng đã phong phú rồi, chi mà đến nỗi nghèo nàn như ngày nay !

Các cụ đã xao lãng, bọn ta phải chăm chú. Dám quyết rằng công phu này không phải là công phu uổng. Cái chất Nôm tuy còn mộc mạc như súc gỗ chửa thành đồ, nhưng nếu khéo bào, khéo chuốt thì có ngày bóng bẩy như trắc gụ cũng nên.

Vẫn biết rằng văn quốc ngữ ngày nay chưa có cái thú vị gì khá lấy làm vui được cho các bậc cao sĩ. Ngồi hầu chuyện các văn nhân thi sĩ nước Tàu nước Tây vẫn còn sướng hơn là để tai nghe những tiếng bi be của đứa lên ba đất Nam Việt. Nhưng mà kính trọng bậc tôn trưởng bao nhiêu, tưởng cũng nên phù trì (Giúp đỡ, giữ gìn – PT chú) cho đứa anh hài (Trẻ còn rất nhỏ – PT chú) bấy nhiêu mới là phải. Huống chi đứa anh hài lại là sản nhi giống Hồng Lạc, thì công phù trì ấy há lại chẳng nên thiết tha mà chăm chút bội phần dư?

Bởi vậy mà ngày nay người nào chịu tập văn Nôm là một việc công đức, người nào chịu xem văn Nôm là làm một việc nghĩa vụ vậy. Công đức ấy, nghĩa vụ ấy, người có lòng có dạ với nước, há chẳng nên vui vẻ mà làm dư?

Nào các nhà Tây học, sau khi các ông đọc xong một chuyện hay, lại chẳng nên tự nghĩ rằng: cái chuyện này ta thử thuật lại ra tiếng ta cho vợ ta em ta nghe xem năm phần có được một phần không? Đương khi các ông gặp được một cái tư tưởng lạ, lại chẳng nên tự hỏi rằng: tư tưởng này, ta thử đem diễn ra lời Nôm xem mười phần có được một phần không, cái ý nghĩa của nó sẽ kém đi bao nhiêu, sự sâu sắc của nó sẽ giảm mất chừng nào. Ông tự nghĩ tự hỏi thế rồi, ông thử cầm bút viết, lần đầu tất còn chưa được thanh thoát lắm, lần thứ nhì, đến lần thứ ba thì có lẽ năm phần đã đến được ba mà mười phần đã tới đến bảy rồi. Thế là đội văn Nôm được thêm một suất tinh binh, mà trong cái kho thiện nghiệp (Nghiệp tốt – PT chú) của ông cũng được thêm một công đức mới vậy! Việc đó tưởng không khó khăn gì, miễn là có chút hảo tâm hảo ý là đủ. Vả các ông cũng có thể tự chắc rằng có công tất có quả, vì một thứ tiếng đã đùng để giải được tính tình tâm sự một cô Kiều không phải là tiếng man mọi gì mà không thể thành văn được.

Lại các nhà Nho học, trong khi các ông bình một đoạn văn hay, lời gióng giả như bài biểu Chư Cát; giọng dịu dàng như bài tựa Vương Bột, khi mát mẻ như bài phú Đông Pha, tình cảm động như bài văn Hàn Dũ, lại chẳng nên tự hứa trong bụng rằng: Ta sẽ cố luyện cho tiếng Nôm ta cũng có cái thể cách nghiêm trang như lời văn chữ, để gây lấy một lối từ chương cho người mình, sau này cũng có thể làm tựa, làm ký, làm tứ lục biền ngẫu được như người Tàu. Nếu cái văn chương mới ấy mà gây dựng lên được thì công đức của các ông không phải là nhỏ vậy.

Nhờ cả các bậc cựu học tân học trong nước vun trồng vào, thì cái mầm quốc văn mấy nỗi mà mọc thành cây, sinh hoa kết quả; thêm tốt đẹp cho cảnh vườn cũ đất Việt Nam này. Nhà Tây học thì phỏng cái lối thuyết lý tả thực của Âu châu mà vụ cho lời Nôm được rõ ràng thiết thực, trọng phép trực tiếp hơn phép gián tiếp. Nhà Nho học thì theo cái lối từ chương biền ngẫu của văn Tàu mà luyện cho lời Nôm được chải chuốt nghiêm trang, dùng phép gián tiếp hơn phép trực tiếp. Hai lối điều hòa với nhau thì quốc văn cũng được đủ tư cách mà ra ứng đối trong trường ngôn luận, kết cấu trong cõi văn đàn.

Song nhà làm văn gắng sức đã đành, người đọc văn cũng phải chịu khó mới được. Nói thế tất có người lấy làm lạ mà nghĩ rằng: Người ta xem sách cốt lấy vui, nếu đọc sách cũng phải khó nhọc thì còn đọc làm gì? Cái đó đã cố nhiên rồi, nhưng phải xét đến cái tình cảnh riêng của văn quốc ngữ mới được. Cổ thi La Mã có câu: “Mày là đứa con sinh ra không có mẹ”. Văn quốc ngữ ta ngày nay cũng là một đứa con sinh ra không có mẹ vậy. Trước ta không ai làm văn bằng Nôm, ta không thể lấy người trước làm gương làm mẫu được. Ta phải nhất thiết sáng tạo dựng đặt ra cả, từ chữ dùng cho đến phép đặt câu. Việc đó không phải là một việc dễ: ai đã từng làm văn quốc ngữ, cần cho lời Nôm diễn được hết ý tứ, đạt được hết tư tưởng của mình, mới biết cái nỗi gian nan đó. Người đọc thường không lượng cái khổ tâm cho người viết mà quá trách bị ở văn quốc ngữ, muốn cho văn quốc ngữ đọc cũng vui cũng thú ngang bằng văn Tàu văn Tây, không biết rằng trẻ lên ba đã khôn sao bằng người đầu bạc được! Nhưng có nuôi thì có lớn, rồi cũng có ngày trưởng thành. Cốt là đương buổi ấu trĩ này phải có người chăm chút, phải có người trông nom, phải có người phù trì mà cũng phải có người tưởng lệ (Thưởng và khuyên – PT chú), thì mới mong ra khỏi tuần măng sữa, hết thời kỳ sài đẹn mà đến tuổi lớn khôn mạnh mẽ vậy.

Văn quốc ngữ ngày nay cũng tức như đồ Bát Tràng Phù Lãng ngày xưa. Ai đã từng vào xem nhà bảo tàng của trường Bác Cổ Hà Nội, tất trông thấy ở gian bày đồ cổ Việt Nam có mấy bộ tam sự, ngũ sự, đỉnh, lọ bằng sành từ đời Cảnh Hưng, Vĩnh Thịnh, hình cổ kính mà trang nghiêm, chất bóng bảy mà chải chuốt, nước men nét bút cũng chẳng kém gì sứ Tàu. Cớ sao mà những đồ ấy nay không thấy ai chế, không thấy đâu có nữa? Cớ sao mà cái kỹ nghệ quý báu của ông cha ấy, ngày nay ngoài mấy bộ của trường Bác Cổ, không còn di tích nữa? Cớ sao mà chính người nơi sản xuất dắt đến xem lấy làm kinh ngạc mà không dám nhận? Chẳng phải là nước ta xưa nay đã quá chuộng đồ Tàu, mà đồ sứ Tàu đã giết mất đồ sành của ta dư?

Ai ôi, quốc nghệ xưa kia là thế, quốc văn sau này thế nào?

Xin đồng bào ta chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Tương lai nước nhà chính ở đó.

(1917)

P.Q.

 

Tháng Năm 11, 2020

Bàn về quốc học – P2

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2  tháng 5 năm 2020.

BÀN VỀ QUỐC HỌC

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi xin mời các bạn đọc bài Bàn về quốc học của Phạm Quỳnh đăng trên báo Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931 để hiểu rõ hơn tư tưởng yêu nước, cứu nước của ông. Bài này viết năm 1931, năm cuối cùng ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong.

Để các bạn tiện theo dõi, chúng tôi chia bài ra làm hai phần và mạo muội theo thiển ý ghi chú sau mỗi từ nay ít thông dụng. Bài viết đã cách nay 80 năm rồi còn gì… Có gì sai sót, mong các bạn chỉ bảo cho để chúng tôi kịp thời sửa chữa. Xin cảm ơn các bạn..

*

*    *

(Tiếp theo kỳ trước)

Song nay ta đã tỉnh ngộ rồi, thì ta nên kíp tìm phương bổ cứu.

Mới đây tôi có viết một bài luận bằng Pháp văn đăng trong báo Tây nói về sự đồng hóa (Bài ấy nguyên văn chữ Pháp có lục đăng vào phần Phụ trương kỳ Nam Phong trước, kỳ này đăng bản dịch ra quốc ngữ ở ngay sau đây). Tôi nói rằng đồng hóa có nhiều cách: có cách đồng hóa đến không còn cốt cách tinh thần gì của mình nữa, mà biến hẳn theo người; có cách đồng hóa lấy những cái hay của người mà vẫn giữ được cốt cách tinh thần của mình, lại bồi bổ vào cho mạnh mẽ thêm lên. Cách đồng hóa trên là cách ta đồng hóa với Tàu ngày xưa đó, kết quả đến ngày nay anh em ta phải than rằng nước ta không có quốc học. Gương trước còn đó, ta phải soi đấy mà liệu đường đi sau này. Nếu ngày nay ta lại đồng hóa theo Tây như ngày xưa đồng hóa theo Tàu, thì giả sử có thành công nữa cũng phải đến mấy mươi đời, mà rốt cuộc lại cũng chỉ thành một bản phóng mờ của nước Pháp, chớ chẳng có tinh thần cốt cách gì cả. Rồi hai trăm, ba trăm năm về sau này, lại có ông Phan Khôi nào hậu sinh đó, trông thấy cõi học nước nhà vẫn vắng vẻ tịch mịch, không khỏi thở dài mà than rằng: “Quái! nước ta học Tây đến ba bốn trăm năm mà vẫn chưa có một nền quốc học riêng!” – Bấy giờ không phải là trong nước không có lắm tay làm thơ làm văn Tây giỏi chẳng kém gì người Tây, tức như các cụ ta ngày xưa cũng lắm tay làm thơ làm văn Tàu, chẳng kém gì người Tàu; nhưng cũng chỉ đến thế thôi, chớ ngay trong làng thơ văn xưa kia chưa cụ nào được bằng Lý Đỗ Tô Hàn, thì sau này có lẽ cũng không ai bằng Victor Hugo hay Anatole France được, vì cái nghiệp học mượn viết nhờ có đời kiếp nào cho bằng hẳn người ta; thơ văn còn thế, đến học vấn tư tưởng tất lại còn kém hơn nữa.

Vậy thời ngày nay nếu ta phải đồng hóa theo Tây, – mà cái đó là tất nhiên, vì lẽ chính trị, lẽ kinh tế, lẽ văn hóa bắt buộc ta càng ngày càng phải giao tiếp với người Tây, – ta nên đồng hóa một cách có ý thức, có nghĩa lý, nên kén chọn lấy những cái hay của người ta mà bắt chước, nên xét xem mình thiếu những gì mà học tập lấy của người ta để bồi bổ cho mình.

Nói riêng về đường học thuật, – mà học thuật là chủ não của văn minh, – thì học thuật của Đông phương ít tấn tới, học thuật của Tây phương mau phát đạt, là vì người Tây họ có cái quan niệm về khoa học, mà người Đông phương mình thì không có vậy.

Khoa học đây là nghĩa rộng, không phải là nói về cái khoa chuyên môn, như lý học, hóa học, thiên văn học, địa lý học đâu. Khoa học đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học do người Thái Tây khởi xướng ra. Khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi (sâu kín, tỉ mỉ). Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thực hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích.

Lối học như vậy thì Đông phương ta thật không có. Đông phương chỉ có đạo học, chớ không có khoa học.

Đạo học với khoa học khác nhau thế nào, Lương Khải Siêu trong bài tựa bản tiết yếu sách Minh nho học án có phân biệt như sau này, tưởng cũng xác đáng lắm: “Đạo học với khoa học, phải nên phân biệt cho rất rõ. Đạo học là cái học thụ dụng (thừa hưởng mà dùng), tự mình tìm lấy được, chớ không phải đợi ở ngoài, cổ kim đông tây cũng chỉ có một, chớ không có hai. Khoa học là cái học ứng dụng, nhờ cách biện luận tích lũy mà thành ra, tùy cái trình độ văn minh trong xã hội mà tiến hóa. Cho nên khoa học chuộng mới, đạo học thời những lời nói cũ tự trăm ngàn năm về trước, kẻ hiền triết đời nay vị tất đã nói được hay hơn; khoa học chuộng rộng, đạo học thời một lời nói một nửa câu, có thể đem ra mà thụ dụng suốt cả đời không hết. Lão tử nói rằng: Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn (làm việc học thì ngày càng nhiều lên, làm việc đạo thì ngày càng ít đi). Học ấy là nói khoa học, mà đạo ấy là nói đạo học vậy”.

Lương Khải Siêu nói mấy câu đó, kể cũng là khám phá lắm vậy. Đông phương với Tây phương khác nhau chính là ở cái quan niệm về sự học đó.

Cái học của Đông phương là đạo học, là cái học “thụ dụng” nghĩa là dùng cho mình, là cái học “nhật tổn” nghĩa là càng nhập diệu (học đến chỗ rất thâm thuý) bao nhiêu thì những cái chi tiết bề ngoài nó càng bớt đi bấy nhiêu, mà chỉ còn lại cái tôn chỉ thâm trầm cao thượng, là cái tôn chỉ học làm nhà đạo đức, làm ông thánh hiền ở đời. Đã là “thụ dụng” thì là thuộc về phương diện chủ quan, người nào tâm đắc là người ấy được, không cần mà cũng không thể đem tuyên truyền ban bố ra cho thiên hạ được. Đã là “nhật tổn” thì học càng thâm, càng quy nạp lại mấy điều cốt yếu, tự mình giác ngộ là đủ, không cần phải suy diễn ra cho nó rờm rà bề bộn làm gì.

Nay ta làm án cổ nhân mà buộc cho cái tội không gây nổi một nền quốc học cho nước nhà, ta cũng phải nghĩ lại mà lượng xét cái quan niệm về sự học của các cụ là thuộc về đạo học như vừa giải nghĩa đó. Các cụ đã có cái quan niệm như vậy thì học là chủ để thụ dụng, cốt là trau dồi cái nhân cách mình thế nào cho có thể hi thánh hi hiền (mong theo các vị thánh, người hiền) được, chớ không phải cốt lập ra học thuyết để truyền cho đời vậy. Các cụ dạy học trò cũng là đem cái tâm thuật mà truyền cho học trò, khiến cho người nào có tư cách thì tự mình tâm đắc lấy, mà lại đem thụ dụng cho mình. Vậy muốn phán đoán về các cụ cho công bằng thì phải xét các cụ về cái chỗ thụ dụng đó, nghĩa là xét các cụ làm người thế nào, ra đời thế nào, xử trí những lúc lâm nguy thế nào, chớ không phải xét cái lý thuyết của các cụ hay hay dở, có hay không vậy. Nếu xét ở cách học để làm người của các cụ, thì ta thật đáng thờ các cụ làm ông cha, chớ không phải vì các cụ mà xấu hổ vậy.

Song đạo học là cái học để làm thánh hiền, ở vào đời nay, có đâu được bằng cái học cho được giàu mạnh. Khoa học tức là cái học cho được giàu mạnh đó. Lấy về công dụng mà xét thì khoa học đích hẳn là thích hợp với đời này hơn là đạo học. Các nước Thái Tây được phú cường như bây giờ là nhờ ở khoa học. Ta muốn sinh tồn được ở đời này, ta cũng phải cần có khoa học.

Nhưng đó là đứng về phương diện duy lợi mà nói. Bàn về học thuật, không nên thiên về sự lợi ích, chỉ nên nói về nghĩa lý mà thôi.

Nói về nghĩa lý thời khoa học cũng có lắm cái hay lắm. Những cái hay đó, người Âu Tây cũng không phải là một sớm một mai mà tìm ngay được. Hy Lạp La Mã đời xưa cũng chưa biết khoa học là cái gì. Cái học cổ của họ cũng chỉ là đạo học mà thôi, mà trong khoảng đời Trung cổ thời cũng là phiền toái lôi thôi lắm; lại thêm quyền áp chế của Giáo hội Gia-tô nữa, có lẽ còn tệ hại độc ác hơn là cái quyền chuyên chế của Nho giáo ở Đông phương ta. Nhưng từ thế kỷ thứ 16, ở Âu châu họ có một cuộc cách mạng về tinh thần, đề xướng lên cái quyền tự do phê phán, đem cả các học thuyết cổ sát hạch lại, rồi lần lần mới nẩy ra cái quan niệm về khoa học đời nay.

Như vậy thì cái quan niệm về khoa học của Thái Tây mới mầm mống ra tự thế kỷ thứ 16 mà thôi, mà cũng còn hun đúc mãi đến thế kỷ thứ 19 mới thật là xuất hiện ra một cách rực rỡ. Từ đấy thời mỗi ngày một phát đạt, thiên biến vạn hóa, đổi mới cả mặt địa cầu, có trong khoảng một thế kỷ mà làm cho thế giới tiến hóa mau bằng mấy ngàn năm về trước.

Nay chúng ta tiếp xúc cái văn minh của Thái Tây, mới biết đến cái giá trị cùng cái sức mạnh của khoa học, thì ngoảnh lại xét mình, thấy cái óc mình dường hãy còn như cái óc của người Tây về trước thế kỷ thứ 16 vậy. Vậy nếu ta có muốn tiến hóa cho bằng người, thì ta cũng phải làm một cuộc cách mạng về tinh thần, như người Âu Tây về thế kỷ thứ 16, cách mạng một cách hòa bình mà thôi, vì đường lối người ta đã đi qua, mình cứ việc theo, không phải khó nhọc gì.

Mục đích của sự cách mạng đó, không phải là phá cái đạo học cố hữu của mình đi đâu, nhưng cốt là gây lấy cái quan niệm khoa học mà bổ thêm vào. Hai đàng tuy khác nhau, nhưng không tất nhiên là phản trái nhau. Cái học thụ dụng với cái học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người, không cần và cũng không thể truyền dạy được; cái học ứng dụng là thuộc về phổ thông, thuộc về khách quan, là của chung của xã hội, có thể dùng làm cái lợi khí để trao đổi tri thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một cái nền quốc học cho sau này được.

Vậy thời việc cần cấp bây giờ là phải đem cái quan niệm về khoa học của Âu Tây ra mà phân tích cho tinh tường. Khi đã dò được đến nơi, tìm được manh mối rồi, thì phải tập dùng cái phương pháp của khoa học mà nghiên cứu những nghĩa lý cổ của Đông phương mình. Vì cái khoa học sẵn có của Thái Tây, thì đã biên chép cả trong sách Tây rồi, ta cứ việc theo đấy mà học, không cần phải bàn làm chi. Nhưng cái học đó là cái học “vô ngã”, thuộc về cái kho tri thức chung của cả loài người, dẫu có học được hết đi nữa, cũng vẫn không bao giờ thành quốc học riêng của mình được. Muốn cho gây được thành một cái quốc học riêng của mình, thì phải dùng phương pháp phê bình khảo cứu của khoa học mà phân tích những học thuyết cùng nghĩa lý cũ của Á Đông ta, rồi đem ra nghiền ngẫm, suy nghĩ, đối chiếu với những điều chân lý cùng những sự phát minh của khoa học Thái Tây. Kết quả của sự phân tích cùng tổng hợp đó, tức là tài liệu để gây ra quốc học sau này vậy.

Việc gây dựng ra quốc học, không phải là việc một vài người, cũng không phải là việc một đời người mà làm xong được. Nhưng nếu các học giả trong nước đều có cái chí về việc đó, thì trước hết có thể gây ra được một cái “học phong” (phong thái trong giới có học) để làm hoàn cảnh cho quốc học sau này có chỗ mà sinh nở ra được.

Chí đó chính là cái chí muốn tự lập về đường tinh thần. Muốn tự lập thì không thể làm mất cái cốt cách tinh thần của mình đi mà đồng hóa theo người cả được. Phải mượn phương pháp của người để tự bồi bổ cho mình.

Trên đầu bài này có tiêu đề một câu của nhà phê bình nước Pháp bàn về cách Đông phương và Tây phương có thể bổ trợ lẫn cho nhau thế nào. ý tác giả là Tây phương ngày nay đã đem khoa học đến cực điểm, nên quay về mà hỏi cái bài đạo học của Đông phương; còn như Đông phương thì bấy lâu triền miên trong cõi đạo học mơ màng, ngưng trệ lại mà không tiến hóa được nữa, thì nên mượn phương pháp của khoa học Tây phương để mà chấn chỉnh lấy cái cổ học của mình cho có vẻ hoạt bát hơn. Nhà phê bình tóm tắt cái ý kiến ấy bằng một câu rằng: “Đem hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương” (Appliquer la forme de la science occidentale au contenu de la connaissance orientale).

Nay cũng xin lấy câu ấy để kết luận bài này.

P.Q.

 

Bàn về quốc học – P1

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ  mười ba, kỳ 2 tháng 5 năm 2020.

BÀN VỀ QUỐC HỌC

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi xin mời các bạn đọc bài Bàn về quốc học của Phạm Quỳnh đăng trên báo Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931 để hiểu rõ hơn tư tưởng yêu nước, cứu nước của ông. Bài này viết năm 1931, năm cuối cùng ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong.

Để các bạn tiện theo dõi, chúng tôi chia bài ra làm hai phần và mạo muội theo thiển ý ghi chú sau mỗi từ nay ít thông dụng. Bài viết đã cách nay 80 năm rồi còn gì… Có gì sai sót, mong các bạn chỉ bảo cho để chúng tôi kịp thời sửa chữa. Xin cảm ơn các bạn.

*

*    *

Cái học của Đông phương vẫn có cái bản chất phong phú, cái tinh thần thâm trầm thật, nhưng chính là thiếu mất cái quan niệm về khách quan, không quen biết sự đích xác là gì. Nay há lại không thể đem cái hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương được dư?

(Lời của một nhà phê bình Pháp).

Nước Nam ta có một nền quốc học chân chính không?

Câu hỏi đó gần đây đã làm đầu đề cho một cuộc tranh luận rất thú vị. Ông Lê Dư trong báo Đông Tây ở Hà Nội thì quyết rằng có, ông Phan Khôi trong báo Phụ Nữ ở Sài Gòn thì quyết rằng không.

Quốc học không phải là một vật có thể giấu giếm đi được, hay là cần phải tìm tòi mới ra. Nếu quả có thật thì nó sờ sờ rõ rệt ra đó, ai còn chối được, mà phải đến người nọ nói có, người kia nói không! Sở dĩ phải khởi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng là nhỏ nhen eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ.

Nay chứng xét lịch sử, thấy quả như vậy. Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu, chỉ mới là một người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt được ra ngoài vòng “giáo khoa” mà bước lên tới cõi “học thuật” nữa. Như vậy thì làm sao cho có quốc học được?

Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có; nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ độc lập một “nhà” đối với các “nhà” khác, như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa. Hay thảng hoặc cũng có mà mai một đi mất, sử sách không truyền chăng? Nhưng phàm đã gọi là một cái học phái thì phải có cảm hóa người ta sâu xa, phải có ảnh hưởng trong xã hội, phải gây ra một cái phong trào tư tưởng, không thể tịch mịch ngay đi mà không còn tăm hơi gì nữa. Cho nên dầu nay kê cứu trong các sách cổ, tìm kiếm ra được năm ba cái ý kiến lạ hay cái tư tưởng kỳ của một vài bậc tiền bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học đặc biệt với cái học cố hữu của bên Tàu truyền sang.

Ngay cái học mượn của người đó, ta học cũng chửa đến nơi. Nhà nho ta, ngoài mấy bộ kinh truyện là sách giáo khoa của phái Khổng Mạnh, mấy ai đã từng thiệp liệp (biết đủ cả mà không tinh thông gì) đến bách gia chư tử. Ai đã từng nghiên cứu đến học thuyết họ Mặc họ Dương, đến Lão, Trang, đến Phật học? Ngay trong Nho giáo, cũng chỉ biết đến Tống nho là cùng, còn Minh nho thì mang nhiên (không biết gì cả) không hiểu chi hết. Như Vương Dương Minh phản đối cái Nho học hẹp hòi của các thầy nhà Tống mà phát minh ra một cái thuyết mới có ý vị thâm trầm hơn, ở nước ta hầu như không ai biết đến. Ở Nhật Bản thì phái Vương học lại thịnh hành lắm, không những có ảnh hưởng trong học giới, mà lại tiêm nhiễm cả phong tục, có người cho là cái võ sĩ đạo của nước ấy chính sở đắc ở Vương học nhiều. Nhật Bản cũng là học trò của Tàu, cũng mô phỏng văn hóa của Tàu trong mấy mươi đời, nhưng họ biết lựa lọc kén chọn, họ không có phóng chép một cách nô lệ như mình. Cho nên tuy về đường tư tưởng học thuật họ vẫn chịu ảnh hưởng của Tàu nhiều, nhưng họ cũng có một nền quốc học của họ, dầu không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn có đặc sắc khác người.

Đến như ta thì khác hẳn. Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả. Mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa.

Dầu thế nào mặc lòng, người phụng sự cái chủ nghĩa quốc gia, đoái nhìn lại cõi học của nước nhà, thấy vắng vẻ tịch mịch, không khỏi rầu lòng mà lấy làm than tiếc. Gặp những lúc trong lòng bối rối, trong trí băn khoăn, mở đống sách cũ của tiền nhân để lại, muốn tìm kiếm lấy một vài cái tư tưởng hoặc cái học thuyết gì thiết tha thâm trầm đủ đem ra đối phó với đời, thì chỉ thấy các cụ ngâm hoa vịnh nguyệt, lập lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá được điều gì mới lạ về vũ trụ nhân sinh cả, thật lấy làm thất vọng vô cùng.

Nói thế không phải là bội bạc với tiền nhân, nhưng sự thật thế nào ta phải công nhận như thế. Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ cùng nhau ôn lại mấy quyển giáo khoa cũ, hết năm ấy đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò! Ấy cái tình trạng sự học ở nước ta từ xưa đến nay và hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế. Vì ta đừng tưởng rằng cái tâm lý học trò đó, ngày nay ta đã gột rửa được sạch đi đâu. Xưa kia học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây cũng chỉ làm học trò Tây mà thôi. Duy có khác là cái nghiệp làm học trò Tàu thì đã kinh quá mấy mươi đời, mà cái kết quả “tiêu cực” của nó đã rành rành ra đó; còn cái nghiệp làm học trò Tây thì mới trên dưới năm sáu mươi năm mà thôi, còn có thể mong rằng sau này có lẽ thành được cái kết quả “tích cực” chăng. Song cứ xem gương như bây giờ, thì cũng không lấy gì làm vui lòng cho lắm: xét những tay xuất sắc trong làng Tây học, phần nhiều cũng còn chưa thoát được cái tâm lý học trò đó; bọn đàn anh khi xưa thì dặm lại mấy câu sáo cũ của Tàu, bọn đàn em bây giờ cũng lại dặm lại mấy câu sáo mới của Tây đó mà thôi, chưa mấy ai là rõ rệt có cái tư cách, – đừng nói đến tư cách nữa, hẳn có cái hy vọng mà thôi, – muốn độc lập trong cõi học vấn tư tưởng cả.

Như vậy thì ra giống ta chung kiếp (suốt đời) chỉ làm nô lệ về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá, không đủ cho ta có cái óc tự lập? Hay là bởi những duyên cớ gì khác nữa?

Cái đó cần phải xét cho tường.

Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. – Bởi tại làm sao?

Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? – Phải làm thế nào?

Tuy nói quốc học ai cũng hiểu rồi, song cũng nên định nghĩa qua cho khỏi lầm. Quốc học là gồm những phong trào về tư tưởng học thuật trong một nước, có đặc sắc khác với nước khác, và có kết tinh thành ra những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy.

Cứ nghĩa tuyệt đối thì không nước nào hẳn có quốc học đặc biệt, nghĩa là tự mình gây dựng ra, không phải nhờ mượn của người, trừ ra mấy nước tổ văn minh trong thế giới như Tàu, ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp không kể.

Nhưng cứ nghĩa tương đối thì mỗi dân tộc hấp thụ được cái văn minh học thuật của ngoài, tất có biến hóa theo tinh thần riêng của mình, mà thành hẳn của riêng mình. Bởi thế nên nước Pháp, nước Anh, nước Đức, v.v…, tuy về đời trước thời nguồn gốc vẫn là do ở Hy Lạp, La Mã mà ra, mà về sau thời thường chịu ảnh hưởng lẫn của nhau nhiều, nhưng nước nào cũng có cái văn minh học thuật riêng của nước ấy, không giống với các nước kia; học thuật riêng đó, tức là quốc học của mỗi nước. Như nước Nhật ở Á Đông ta cũng vậy, thật là “con tinh thần” (fils spirituel) của nước Tàu, đồng văn đồng hóa với Tàu, nhưng vẫn có một cái lối học riêng của họ, tuy cũng xuất ở Tàu mà ra, mà có cái đặc sắc khác với Tàu, có thể gọi là quốc học của Nhật Bản được.

Đến như ta thì mượn cái học của người mà không hóa được theo tinh thần của mình, không gây được thành một nền quốc học cho mình, là bởi cớ sao vậy?

Nói rằng vì giống mình kém hèn hẳn, thì có lẽ phụ cái óc thông minh của các cụ đời trước, và cũng không đúng với sự thật chăng. Nhưng nói rằng vì tình thế khiến nên mà sau tạo thành một cái tâm lý riêng không lợi cho sự học vấn tư tưởng tự do, thì có lẽ đúng hơn.

Tình thế ấy thuộc về địa lý, thuộc về lịch sử, lại cũng thuộc về chính trị nữa.

Thuộc về địa lý là nước ta tiếp cận ngay với nước Tàu, đối với Tàu, dầu sau khi ta độc lập rồi, vẫn coi như một nước phụ dung (phụ thuộc), một nước phiên thuộc (nước chư hầu). Ta chỉ là một bộ phận trong cái thế giới Chi-na mà thôi. Thông tục thường có câu: Nước Tàu như cái áo, nước ta như cái giải. Thật thế: nước ta – nhất là xứ Bắc Kỳ là nơi phát tích của nước ta, – chẳng qua là một tỉnh Quảng Đông lạc về phía nam mà thôi, người dân vốn cũng là một giống trong các giống Bách Việt như người Quảng Đông, nhờ đất liền nên sự giao thông lại càng thân mật lắm. Người Tàu tiện đường tràn sang nước ta, hoặc bằng cách chiến tranh, hoặc bằng cách hòa bình, cứ luôn luôn, hết đời ấy sang đời khác, không hồi nào là không. Cho nên nước ta, dầu có biệt lập thành nước, nhưng về đường địa lý vẫn là tùy thuộc nước Tàu. Khác với Nhật Bản, là một đảo quốc cách biển, người Tàu không trực tiếp sang được, nên không bị xâm lấn bao giờ. Có giữ được độc lập về thổ vũ (lãnh thổ), mới giữ được độc lập về tinh thần.

Thuộc về lịch sử thì sự quan hệ của ta với Tàu lại mật thiết hơn nữa. Giống Giao Chỉ ta, từ khi mới thành bộ lạc đã bị người Tàu thống trị rồi. Trong mười thế kỷ, ta sống ở trong vòng khuôn nước Tàu, không khác gì như một bộ phận của Tàu vậy. Đến khi lập thành nước, từ thế kỷ thứ 10, thì cái dấu vết của người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi. Tự bấy giờ tiếng gọi là một nước, được độc lập về đường chính trị, nhưng nào đã hoàn toàn độc lập đâu, chỉ những lo lắng, những khó nhọc, những chật vật đối với cái nước láng giềng mạnh kia nó chỉ lăm le định tràn sang mà chiếm lấy mình, mà thật nó cũng đã tràn sang đến mấy mươi lần, lần nào mình cũng cực khổ, dùng hết nỗ lực mới đuổi nó đi được. Thành ra cả cuộc lịch sử của nước Nam ta là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu, hoặc bằng võ lực, hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ lại bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân (người xưa) ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật là đáng cảm phục. Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân (láng giềng mạnh) hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra vẻ một nước độc lập, thì còn có thời giờ đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa. Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn, chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hóa, về mỹ thuật gì nữa. Nói riêng về học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng rằng ngoài sách vở của thánh hiền còn có nghĩa lý gì khác nữa; sau đời Lý đời Trần là hồi Phật học còn thịnh hành, rồi chỉ độc tôn có một phái Nho học cho là đạo chính truyền, ngoại giả không dám có tư tưởng gì khác, sợ bị mang tiếng là “dị đoan”. Cái lệ “con chiên” theo đạo nước người thường hay “ngoan đạo” hơn là chính người nước phát hành ra cái đạo ấy. Thường nghiệm người Nam mình theo đạo Gia-tô lại mộ đạo hơn người Tây nhiều. Xưa kia theo đạo Nho có lẽ cũng sùng đạo hơn người Tàu vậy. Vả lại học thuật mà đã dính có tính cách tôn giáo thì không thể sao tấn tới được nữa. Không những ở nước ta, ở ngay nước Tàu cũng vậy: từ khi cái học của Khổng Mạnh, trước bị Hán nho, rồi sau đến Tống nho, lập thành đạo có tín điều, có giáo lý, có lễ nghi hình thức phân minh, thời không phải là học thuật nữa, mà nghiễm nhiên thành tôn giáo rồi. Người theo đạo đâu có dám nghị luận về lẽ đạo nữa. Nếu còn dám dị nghị điều gì, hay là ăn ở khác với lẽ đạo, thì là có tội với danh giáo, ắt phải trục xuất ra ngoài giáo hội rồi!

Thuộc về chính trị thì cái tình thế cũng khốn nạn như vậy. Nho học lợi cho cái chính thể quân chủ chuyên chế, nên các đế vương nước ta lại càng tôn sùng lắm. Đời Lý đời Trần, cái phong trào Phật học còn thịnh, nên nhân tài trong nước, thường thường vẫn có người xuất ở trong hàng tăng lữ. Tự cuối Trần đầu Lê trở về sau, thì bao nhiêu nhân tài là đúc theo cái khuôn khoa cử của Nho giáo cả. Cái chế độ khoa cử thật là một cái quà rất hại mà nước Tàu đã tặng cho ta. Ở ngay bên Tàu nó đã hại mà sang đến ta cái độc của nó lại gấp mấy lần nữa. Bao nhiêu kẻ anh tuấn trong nước đều phải đúc vào cái khuôn ấy cả, nếu không thì không thể ra thi thố gì với đời được nữa. Nhưng đã đúc vào cái khuôn ấy rồi thì thần trí eo hẹp lại sao mà còn có tư tưởng, có học vấn tự do được nữa. Người Nhật Bản họ hơn mình chính là vì họ không mắc phải cái vạ khoa cử như mình. Họ bắt chước cái gì của Tàu thì bắt chước, chớ đến cái lối khoa cử thì họ không chơi. Đời Đức Xuyên (Tokugawa) cũng đã có một hồi thi hành cái chế độ hãm hại nhân tài, nô lệ thần trí đó, nhưng mà sĩ phu trong nước họ không chịu, nên cũng không thể bền được. Ở nước ta thì đến năm sáu trăm năm sinh trưởng trong cái chế độ ấy, trách nào cái khí tinh anh trong nước chẳng đến tiêu mòn đi hết cả. Ở Văn Miếu Hà Nội còn mấy dãy bia kỷ niệm các cụ đỗ tiến sĩ về đời Hậu Lê; trong đó chắc có nhiều bậc nhân tài lỗi lạc, nhưng vì mài miệt về đường khoa cử, nên đều mai một mất cả, tên còn rành rành trên bia đá đó, mà có sự nghiệp về đường học vấn tư tưởng được những ai?

Nói tóm lại thời địa lý, lịch sử, chính trị đều như hiệp sức nhau lại mà gây cho nước ta một cái tình thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước đều bị cái tình thế ấy nó áp bách trong mấy mươi đời, nên lần lần tập thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý ỷ lại vào người, chớ không dám tự lập một mình; trong việc học vấn thì cái tâm lý ấy tức như trên kia gọi là cái tâm lý làm học trò suốt đời vậy. Nước ta ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành đều núp bóng nước Tàu mà sinh trưởng cả, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên cây lớn, bị nó “cớm” không thể nào nẩy nở ra được.

Nhưng trước kia mọc dưới bóng cây “đa” phương Đông, đã bị “cớm” mà không lên cao được, chỉ sợ nay mọc dưới bóng cây “sên” phương Tây, cũng lại bị “cớm” mà cằn cọc hẳn lại, thì thôi, còn mong mỏi gì nữa!

(Còn tiếp một kỳ)

P.Q.

Tháng Tư 29, 2020

Bàn về cái tinh thần lập quốc (P2)

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ  mười ba, kỳ 1  tháng 5 năm 2020.

 

BÀN VỀ CÁI TINH THẦN LẬP QUỐC

Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên tạp chí Nam Phong số 164, tháng 7 năm 1931 với nhan đề Bàn về cái tinh thần lập quốc. Đáng chú ý là tinh thần lập quốc trong nhan đề bài của Phạm Quỳnh không đặt trong ngoặc kép, tức là tác giả muốn nói thẳng về tinh thần lập quốc chứ không phải cái gọi là tinh thần lập quốc. Phạm Quỳnh tin tưởng vững chắc tinh thần ấy là có thật, một sự thật vĩ đại, thiêng liêng.

Dưới đây, xin mời các bạn đọc văn Phạm Quỳnh cách đây 80 năm. Vì viết theo lối văn thời ấy, cho nên chúng tôi mạn phép theo thiển ý chú thích những từ hơi khó hiểu với đông đảo bạn đọc ngày nay.

Bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*         *

(Tiếp theo kỳ trước)

 Đã tiếp thu được cái hương hoả của đời trước, lại có cái chí nguyện thiết tha muốn bảo tồn lấy cái hương hoả ấy, khuếch trương cho nó phong phú thêm, để truyền thụ cho đời sau, đời đời kế tục nhau như thế, thời quốc vận sẽ vững vàng như Thái sơn Bàn thạch, cùng với núi sông hoa cỏ sinh tồn mãi mãi trong thiên địa gian vậy.

Như nước Nam ta, kể cũng có thể là một quốc gia hoàn toàn. Không những đất rộng người nhiều, chủng tộc, tôn giáo, ngữ ngôn, phong tục từ Nam chí Bắc cũng là một, không gì gián cách nhau, mà cái tinh thần lập quốc xưa kia cũng đã từng lắm phen tỏ ra mạnh mẽ tỉnh tao vô cùng. Không nói tự đời Trưng vương Triệu Ẩu, nước còn là bộ lạc có lẽ cái tinh thần ấy còn phảng phất mà chưa chung đúc lại thành quốc hồn; nhưng hồi Trần hưng Đạo đánh giặc Nguyên, hồi Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, cử quốc (cả nước) đều cùng một lòng theo ông tướng tài, ông vua giỏi mà chống cự với quân ngoại địch, đến thu phục được giang sơn nước nhà ở tay kẻ cường lân (láng giềng mạnh), thời cái quốc hồn của ta bấy giờ kể cũng đã quật cường lắm vậy. Mà cái lịch sử của ta kể cũng đã vẻ vang lắm thay! Thuộc về quá khứ như thế, mà thuộc về hiện tại thế nào? Xưa kia quật cường bao nhiêu, bây giờ (1931-PT chú) xem như uỷ mĩ bấy nhiêu; xưa kia vẻ vang bao nhiêu, bây giờ xem ra suy đồi bấy nhiêu. Nhà thuật số (nghiên cứu bát quái, ngũ hành suy ra hoạ phúc con người) thời cho cái vận hội nước nhà đến hồi như thế, qua hồi này, rồi đến hồi khác, cũng giang sơn ấy, cũng anh hùng ấy, cũng có ngày vẻ vang quật cường, có kém chi xưa. Nhà tâm lý, nhà xã hội thời cho là cái tinh thần lập quốc của ta có suy nhược đi nhiều; cái chí nguyện chung của quốc dân có phần sút kém, không được vững bền như xưa; cái lòng tín ngưỡng ở tổ tiên, tự tin ở sức mình, là cái năng lực của kẻ anh hùng hào kiệt, cũng bị thời thế, bị hoàn cảnh nó tiêu ma mà mai một đi mất. Cái bệnh suy nhược của quốc gia ta ngày nay, bởi ngoại cảm cũng có, mà bởi nội thương phần nhiều. Muốn bồi bổ cho bình phục lại và phấn phát lên thời liệu trị ở ngoài đã đành mà điều dưỡng ở trong lại cần lắm. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị là thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tuỳ tình thế, tuỳ cơ hội mỗi lúc mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy có một phương: là bồi bổ cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn tỉnh tao lên. Đó là cái nghĩa vụ chung của cả quốc dân. Nội thương đã trị được thời ngoại cảm tất cũng cũng phải trừ. Quốc hồn đã khôi phục thời mọi vấn đề chính trị sớm trưa ắt sẽ giải quyết xong. Cốt nhất là quốc dân phải tỉnh ngộ mà sớm nên chú trọng về phần hồn, dẫu gặp cảnh yếu hèn cũng chớ nên cam tâm yên phận, biết tin ở nước, tin ở mình, phấn phát (cố gắng) tự cường, thời trở lực nào mà ngăn được cái sức mạnh tinh thần đó? Lại cốt nhất là phải đồng tâm hiệp lực với nhau, cố kết cùng nhau, thời yếu mà cũng trở nên mạnh được, dẫu mỏng như cánh bèo cũng có thể che được mặt nước, chắn được trời xanh. Đời nhà Mạc, tướng Tàu Mao Bá Ôn muốn đem quân sang đánh nước Nam, có ý khinh nước ta, ví như cái bèo trên mặt nước, vịnh bài thơi bèo rằng:

“Cái bèo kia mọc theo ruộng nước nhỏ như cái kim mọc ở chỗ nào cũng không được sâu; cây không có gốc rễ mà không có cán (thân cây), thể sao có ruột với có cành được; chỉ biết mọc xúm lại một chỗ, rồi tan đi đâu không biết, chỉ biết lúc nổi trên mặt nước, rồi chìm lúc nào không biết; gặp khi chiều trời cơn gió ác, quét ra hồ bể biết đâu mà tìm! – Cụ Trạng Giáp Hải hoạ lại bài thơ ấy rằng:

“Bèo kia mọc ken như vẩy gấm, khó luồn được cái kim vào; cành rễ liền nhau mọc rất sâu. Thường cùng với đám mây ráng trên trời mà tranh mặt nước, không để cho mặt trời chiếu xuống lòng nước được. Sóng đánh nghìn trùng không phá vỡ được; gió thổi muôn lần không đánh chìm được. Nào cá nào rồng ẩn cả trong đám bèo ấy, đến cần câu ông Lã Vọng cũng không biết đâu mà tìm!”

Ấy cái bèo nước Nam ngày xưa hùng như thế; tranh được cả bạch vân (mây trắng), chắn được cả hồng nhật (mặt trời đỏ), mà dung được bao nhiêu kẻ hào kiệt anh hùng. Có lẽ ngày nay để cho phong trào thế giới quét sạch ra bể hồ hay sao? Nếu không biết cố kết lấy nhau, mọc ken như vẩy gấm, mà nối lá liền rễ cùng nhau, thì đến thế thật.

P.Q.

Bàn về cái tinh thần lập quốc_P1

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:30 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 5 năm 2020.

 

BÀN VỀ CÁI TINH THẦN LẬP QUỐC

Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên tạp chí Nam Phong số 164, tháng 7 năm 1931 với nhan đề Bàn về cái tinh thần lập quốc. Đáng chú ý là tinh thần lập quốc trong nhan đề bài của Phạm Quỳnh không đặt trong ngoặc kép, tức là tác giả muốn nói thẳng về tinh thần lập quốc chứ không phải cái gọi là tinh thần lập quốc. Phạm Quỳnh tin tưởng vững chắc tinh thần ấy là có thật, một sự thật vĩ đại, thiêng liêng.

Dưới đây, xin mời các bạn đọc văn Phạm Quỳnh cách đây 80 năm. Vì viết theo lối văn thời ấy, cho nên chúng tôi mạn phép theo thiển ý chú thích những từ hơi khó hiểu với đông đảo bạn đọc ngày nay.

Bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*   *

Văn hào nước Pháp Ernest Renan trong một bài đại luận đề là Thế nào gọi là một nước? có nói rằng cái nguyên tố dựng ra một nước không phải chỉ ở thổ địa nhân dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau xum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích (cùng lo lắng) đồng hưu (cùng vui hưởng thái bình) nhìn về trước thời cùng nhau chung một cuộc lịch sử đề tạo (cấu thành) gian nan, ngó về sau thời cùng nhau chung một lòng hi vọng vẻ vang rực rỡ; nói tóm lại là ở một cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành một cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người cùng như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với sự ngoại hoạn (tai hoạ vì giặc ngoài). Cái mối vô hình ấy, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn. Cái tinh thần ấy phấn chấn thời nước mạnh; cái tinh thần ấy uỷ mĩ (kém hèn) thời nước suy. Có đất có người mà cái hồn chung ấy không có thời chưa thể thành một nước được. Đất đã vào tay chủ khác, dân làm nô lệ cho người, mà cái hồn chung ấy vẫn còn, thời dẫu phân lìa tan tác, bảy nổi ba chìm, sớm trưa rồi cũng có ngày khôi phục (mất rồi lại được). Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc vào hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có.

Cái mối vô hình đó là cái mối thần thánh thiêng liêng, dẫu áp chế cũng không làm cho tiêu diệt được, càng toả chiết (trắc trở) lại càng thêm mạnh bạo hơn; cái mối vô hình đó lại là cái mối mầu nhiệm tinh vi. Có giữ gìn chăm chút thời mới chung đúc kết tinh, nếu bỏ mặc chểnh mảng thời tất phân lìa giải tán. Đã kết tinh rồi thời rắn như kim cương, khó lòng mà vỡ ra được; đã giải tán rồi thời nhẹ như hơi khói, khó lòng mà thu lại được. Cho nên một nước quí không ở đất rộng người nhiều, mà ở cái quốc hồn tỉnh táo mạnh mẽ. Nhỏ như nước Nhật, chon von mấy cái đảo giữa bể khơi, mà oai hùng chấn động cả phương cầu; lớn như nước Tàu, bát ngát bao muôn dặm trên lục địa, mà việc nước lúng túng vẫn chửa xuôi. Là bởi cái tinh thần lập quốc của Nhật đã mấy mươi đời ma luyện (rèn luyện) bằng cái đạo võ sĩ (bushi), bằng cái phong “lãng nhân” (rônin), nay thành như một thanh bảo kiếm, vừa sắc vừa bền, không sức nào bẻ cho gẫy được. Mà cái tinh thần lập quốc của Tàu thời lại mấy mươi đời trầm trệ trong cái học hư văn (văn không thiết thực), trong cái thói hủ lậu, nay ví như một thanh gươm cùn, vừa rỉ vừa nhụt, không thể sao chống nổi với ngoài.

Như vậy thời cái tinh thần lập quốc, cái quốc hồn, là một mối thiêng liêng mà cũng là một mối sinh hoạt. Khéo gây dựng thời nẩy nở phát đạt, vụng chăm nuôi thời héo hắt tồi tàn. Cái công chăm nuôi gây dựng ấy là cái công chung của cả quốc dân. Hễ bao nhiêu người trong nước đều chung một cái ý nguyện cùng nhau kết hợp thành đoàn thể, sinh hoạt được thảnh thơi, thời cái tinh thần ấy tất bàng bạc trong xã hội mà đầm thấm cả mọi người. Nếu mỗi người chỉ biết riêng một thân mình, không thoát ra khỏi cái phạm vi cá nhân mà noi lên tới cái quan niệm về quốc gia về xã hội, cùng nhau ăn ở một đất nước chung, cùng nhau thờ phụng những tổ tiên chung, mà không biết rằng đối với nhau có cái giây liên lạc vô hình, có cái mối quan hệ mật thiết, lại kỳ thị lẫn nhau, coi nhau như kẻ Việt người Tần, gây ra cái tình trạng rời rạc, cái không khí lạnh lùng, thời cái tinh thần ấy càng ngày càng bạc nhược đi, rồi đến tiêu tán đi hết. Đã đến thế thời nước còn mà là mất, dân có cũng như không, vì chẳng qua là một mớ người ô hợp, phất phơ lơ láo, phảng phất mơ màng, chỉ thoảng qua một cơn sóng gió ở ngoài, là rụng rời tan tác như bèo giạt mây trôi vậy. Ấy cổ lai (xưa nay), các dân tộc lìa tan, các quốc gia lụn bại, cũng chỉ bởi cái ý nguyện người dân, cái tinh thần lập quốc đó suy sút bạc nhược đi mà thôi.

Nói tóm lại thời nước là ở lòng người; cái nguyên tố lập ra nước là tự trong lòng người không phải ở đâu xa. Hễ người ta có cái ý nguyện muốn xum vầy để sinh hoạt cùng nhau, thế là nước thành. Cái ý nguyện ấy càng đằm thắm thiết tha bao nhiêu thời đoàn thể quốc gia càng bền chặt vững vàng bấy nhiêu. Cái ý nguyện ấy đã thấy hững hờ lạt lẽo, thời là đoàn thể quốc gia bắt đầu suy vậy.

Vậy thời theo như lời ông Renan: nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une âme, un principe spirituel). Hồn ấy còn là nước còn, hồn ấy mất nước mới mất. Mà còn hay mất là ở cái ý nguyện của người ta, như trên kia đã nói.

Nay xét trong cái nguyên tố tinh thần lập quốc đó, có hai phần: một phần thuộc về quá khứ, một phần thuộc về hiện tại. Thuộc về quá khứ là phần lịch sử: người ta không phải là bỗng chốc mà nên con người được; một nước cũng không phải là hôm mai mà thành một nước được. Tất phải có kinh lịch mấy mươi đời đề tạo gian nan mới thành được: cái lịch sử đó là cái “tư bản” vô hình của một nước. Người ta phải có một cái “vốn kỷ niệm” chung như thế, thời mới có thể sinh tồn thành quốc gia được. Lịch sử càng lắm đoạn vẻ vang, lắm hồi khổ thống bao nhiêu, thời cái “vốn kỷ niệm” ấy lại càng phong phú bấy nhiêu. Mà trong các kỷ niệm, những cái kỷ niệm khổ thống (đau khổ) lại là nhớ lâu hơn cả, vì nó để cái vết sâu trong tâm hồn người ta: đã cùng nhau chịu khổ chịu nhục thời không bao giờ quên nhau được nữa. Thuộc về hiện tại thời đã có cái “vốn” chung như thế, phải có cái chí muốn đem cái “vốn” ấy ra mà cùng nhau mở mang, cùng nhau hưởng thụ, như cái hương hoả chung của ông cha để lại cho anh em trong một nhà vậy. Nếu chểnh mảng mà để cho cái “vốn” ấy suy sụt đi thời không những có tội với tổ tiên, mà lại có tội với hậu thế, vì cái hương hoả ấy phải truyền mãi đời đời, không được đoạn tuyệt, mà mỗi đời lại phải bồi bổ gom góp thêm mãi vào cho phong phú hơn lên.

(Còn tiếp)

P.Q.

Tháng Mười Hai 29, 2019

Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Filed under: Báo — phamquynh @ 10:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 1 năm 2020.

BÀN PHIẾM VỀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên Tạp chí Nam Phong số 84 tháng 6 năm 1924. Tức là hai năm sau cuộc gặp gỡ tại Paris (Pháp) giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và nhiều người yêu nước khác. Khi viết bài báo tâm huyết, có tầm nhìn xa và đặc sắc này, Phạm Quỳnh mới 31 tuổi, đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

So sánh văn minh Đông phương với Tây phương, còn vấn đề nào to tát bằng! Những đọc đến đầu đề đã lấy làm sợ thay. Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau.

Trong một cõi Tây phương mà văn hóa nước Pháp không giống văn hóa nước Anh, văn hóa nước Anh lại khác văn hóa nước Đức; nay nói chung văn hóa Tây phương thời là chỉ văn hóa nước nào? Tức cũng như nói chung văn hóa Đông phương là chỉ văn hóa Ấn Độ, hay là văn hóa Nhật Bản, hay là văn hóa Trung Hoa? Vẫn biết rằng các nhà nghị luận là dùng phép tổng quát, chỉ gồm lấy những tính cách chung của văn hóa cả một phương mà không xét đến những sự đặc biệt trong văn hóa của từng nước, và cứ đại để mà xét như thế thời văn hóa nước Pháp dẫu khác với nước Đức, nhưng cũng là đại đồng tiểu dị, sánh với nhau còn gần hơn là sánh với văn hóa nước Tàu hay nước Nhật vậy. Song nhà nghị luận muốn khái quát cho đích đáng thời phàm những văn chương, triết học, mĩ thuật, tôn giáo, luân lí, chính trị của các nước Thái Đông, Thái Tây đời xưa đời nay, ít ra cũng phải thiệp liệp và lĩnh lược được hết, thời phán đoán mới khỏi sai lầm, nghị luận mới được xác đáng. Bậc thiên tài như thế, cổ kim đã được mấy người?

Hiện nay có nhà đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã từng đem một cái tư tưởng rất cao mà phê phán về văn minh Thái Tây. Nhưng ý kiến tiên sinh siêu việt quá, dẫu có cái đạo vị thâm trầm, cái mùi thơ ngào ngạt, mà tưởng không thiết cho sự yêu cầu của tâm trí người ta đương buổi Á, Âu xung đột này.

Lại mấy năm trước có một nhà làm sách Nhật Bản tên là Okakura Kakuzo, học vấn uyên bác, kiêm thông cả Hán học cùng Âu học, soạn một quyển sách nghĩa lí cũng sâu sắc, khám phá được nhiều điều, đều là “Lý tưởng Đông phương” (Les Idéaux de L’Orient, par Okakura Kakuzo, nguyên bản tiếng Anh, có dịch ra tiếng Pháp)  nhưng lập luận có ý thiên vì lòng ái quốc, cho rằng nước Nhật ngày nay là cái kho bảo tàng chung để chứa cả tinh hoa của thế giới.

Xem như thế thì so sánh văn minh Đông-Tây thật không phải là sự dễ. Các bậc tài cao học rộng còn chưa xét được đến nơi, tôi đây đâu dám tự phụ.

Song người nước ta bây giờ đương đứng giữa nơi hợp lưu hai cái văn hóa khác nhau, trước mắt có cái cảnh hai dòng nước đổ lộn, chưa biết rồi sau trong đục ra thế nào. Kẻ bi quan cho rằng nước càng xa nguồn tất càng đục; kẻ lạc quan cho rằng nước có đổ lộn sức mới to. Bi quan hay lạc quan, chẳng qua là theo cái ý riêng của mỗi phái mà dự tưởng sự kết quả về sau này. Còn hiện nay thời cũng chửa ai biết ra thế nào cả, lòng còn phân vân, trí còn bối rối, chửa hay nên đối phó với phong trào ra sao.

Cứ thực ra thì kẻ thức giả trong nước ta bây giờ, người nào cố ý không để tâm đến những chuyện xa xôi ấy thì chớ, còn những người còn biết trọng điều nghĩa lí ở đời, còn biết cho rằng ngoài sự danh lợi còn có những lẽ quan thiết cho nhân tâm thế đạo hơn, thời xem ra ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cho nên nhất là trong hạng thanh niên, kẻ không có chí bị đắm đuối trong cuộc ăn chơi phóng túng đã đành, kẻ có chí cũng đến hãm hại vào chốn sầu thảm chán chường.

Cái bi kịch về tinh thần đó, cái thảm trạng trong tâm trí đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, di truyền tự thượng cổ, tích lũy đã lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải chia sẻ ra lắm đường, nên giữ được cái vẻ thản nhiên yên ổn.

Kịp đến buổi phong hội mở mang, Á – Âu giao thiệp, thời sự xung đột hai cái văn hóa Đông-Tây bắt đầu từ đấy. Trong bấy lâu, tuy cứ bề ngoài mà xét tựa hồ như có bên thắng bên bại, bên tiến bên lùi, tình thế đã rõ ràng ra đó, nhưng cứ thực sự thời người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng dở dang, chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định. Bởi thế nên chí hướng phất phơ, tâm hồn phảng phất, thần trí không được thư xướng mà trong lòng như mang một nỗi áy náy không yên.

Cũng muốn nhắm mắt mà theo mới, nhưng theo mãi rồi đến đâu? Nếu kết quả chỉ gây ra một giống không Âu không Á, nửa Tây nửa Đông, tầm phơ tầm phất, lốc cốc lông bông, không nhà không nước, không cha không ông, thời cũng là uổng công vô ích mà lại để hại về sau. Cũng muốn khư khư mà giữ cũ, nhớ lấy câu “giấy rách giữ lề”, nhưng mà lại lắm nỗi dở dang, “bỏ thương vương tội”; những cái nguyên nhân tích nhược trong bấy lâu đeo đẳng mãi thật cũng khốn!

Ấy tình trạng những kẻ thức giả trong nước ta thuộc về vấn đề văn hóa có cái vẻ bối rối mà thảm thương như thế. Đối với tình trạng ấy, trách sao có lắm người sinh ra những tư tưởng chán đời. Không phải đời đáng chán, bởi lòng không yên, trí không định, nên sự nghiệp đến hững hờ, mà công danh đến đểnh đoảng. Mà lòng không yên, trí không định, là bởi cái vấn đề văn hóa chửa giải quyết xong.

Xét cho cùng, cái nguyên nhân của mọi sự chếch lệch trong xã hội, mọi nỗi bất bình trong lòng người không phải là thuộc về luân lí, không phải là thuộc về chính trị, chính là một cái vấn đề văn hóa ấy vậy.

Văn hóa là gì? Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần người ta thế nào cho được thập phần tốt đẹp, để nẩy nở ra những công trình to tát, sự nghiệp lớn lao mà đem tư cách một quốc dân đến tuyệt phẩm. Ví người ta như cái cây, thời văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, kết quả sinh hóa, để tô điểm cho cái vườn hoa của thế giới.

Nay mầm Hồng chồi Lạc của ta cũng không phải là giống cỏ hèn của Tạo vật; sao nỡ để cho đến khô héo mà úa tàn? Bởi vì ta bấy lâu lúng túng chưa biết cách vun xới cho phải đường. Cứ trồng theo lối cũ thời chỉ gây được một giống cây non bộ, coi nó nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nơi nắng cả gió to được mấy nả. Muốn trồng theo lối mới thời cũng chỉ mọc ra ngoài một loài tầm gửi giây leo, quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt đứng sao!

Nhân tài nước ta cũng như cái dây tầm gửi, cây non bộ đó, mong sao có ngày chiếm được địa vị vẻ vang trên thế giới?

Cho nên cái vấn đề văn hóa đối với nước ta là quan hệ lắm. Vấn đề này có giải quyết được phải đường, thời nước ta mới có được nhân tài xứng đáng; nước ta có nhân tài xứng đáng, thì mới mong sinh tồn tự lập được ở đời.

Tôi không dám tự phụ rằng đã tìm được cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng bấy lâu nay, từ khi khôn lớn biết tư tưởng đến giờ, vẫn lấy làm băn khoăn khắc khoải, lúc nào cũng như canh cánh trong lòng, tưởng như sự hạnh phúc cả một đời, sự vận mệnh cả một nước là quan hệ ở đó. Tôi không phải là người “đa tư đa cảm” như các bạn thanh niên đời nay; nhưng bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng biết khổ vì một cái lí tưởng suông. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng trong trí không có một cái lí tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình, thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lí riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi. Nhưng nói thế là để tỏ rằng, đối với cái vấn đề văn hóa này, thành thực và sốt sắng là dường nào.

Vẫn biết rằng một lòng thành thực sốt sắng thật chưa đủ giải quyết được một vấn đề quan trọng mà khó khăn, nhưng không có tư cách gì khác nữa thời thế cũng đủ để cùng các anh em đồng chí trong nước giãi bày chút ý kiến riêng.

Bọn ta sống giữa đời Đông-Tây giao thiệp, Âu-Á một nhà, đối với văn hóa Tây phương, đối với văn hóa Đông phương, đối với tinh thần Âu châu, đối với tinh thần Á châu, phải nên có một thái độ như thế nào? Ấy cả cái vấn đề là gồm trong một câu đó.

Gần đây đã thành một câu khẩu đầu hễ bàn đến văn minh Âu-Á thì nói nên phải điều hòa hai bên, giữ lấy cái hay mà bỏ cái dở. Tôi đây cũng tin ở sự điều hòa đó, vẫn lấy bốn chữ “Thổ nạp Âu-Á” làm lời cảnh huấn riêng. Song nói dễ mà làm khó; văn minh không phải là vị thuốc, có thể cứ đồng cân mà hòa lấy cho đúng liều được. Văn minh là một vật không hình thể, không trọng lượng; văn minh là thuộc về tinh thần vậy.

Muốn điều hòa hai cái tinh thần khác nhau, phải biết dùng trí tuệ một cách sáng suốt khôn ngoan, phải biết khảo sát: thương lượng, biện biệt, phán đoán, rồi mà châm chước cho thích trung. Khó lắm thay! Lại khó hơn nữa, là cách giáo dục trong nước tuyệt nhiên không giúp được tí gì cho sự điều hòa ấy, không những không giúp được tí gì mà lại hầu như ngăn trở cho không thành được. Vì rằng muốn điều hòa tất phải có hai bên, mà nay giáo dục chỉ chuyên về một bên, bên kia không biết đến, thì còn điều hòa cái gì? Hiện nay cái hiện tượng đã rõ rồi đấy: phần nhiều những bậc thiếu niên tuấn tú trong nước, từ thuở nhỏ chỉ theo về một đường Tây học, đối với văn học Đông phương, đối với lịch sử nước nhà, đang nhiên không biết một tí gì, như thế thời còn biết điều hòa là sự gì nữa? Muốn điều hòa, phải tham bác cả đôi bên, nghiền ngẫm cho thâm thúy, rồi mới châm chước cho vừa phải. Nếu chỉ độc chuyên một phương diện, thời thành ra thiên lệch rồi.

Cho nên cái vấn đề văn hóa ở nước ta càng xét ra lại càng thấy khó khăn phiền phức vô cùng.

Trước hết có một cách giải quyết cái vấn đề ấy, mới coi tựa hồ như giản dị ổn thỏa hơn cả, một số nhiều trong quốc dân ta ngày nay như mơ màng mà khuynh hướng về hết. Kể giản tiện thì cách này giản tiện thật, giản tiện quá! Là cứ thuận dòng nước mà chảy xuôi, không cần phải bận lòng đến sự gì nữa. Nghĩa là xóa hẳn cái vấn đề đi, cho là không cần phải đề khởi ra làm gì. Ngày nay các nước Âu Tây cường thịnh nhất trong thế giới, văn hóa của các nước ấy chắc là hay ho tốt đẹp vô cùng. Ta cứ việc nhắm mắt mà theo, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn cho phiền. Có ngày theo được đến nơi, rồi cũng sẽ được như người ta, có lo gì? Và văn hóa ấy ngày nay có thế lực rất mạnh, cơ hồ muốn tràn ngập cả thế giới. Dẫu ta không muốn theo, cái phong trào nó cũng lôi cuốn ta đi. Miễn cưỡng phải theo, thà rằng vui lòng mà theo còn hơn.

Nói rút là theo phái ấy thời vấn đề văn hóa ở nước ta là một câu chuyện hão huyền, bất tất phải bàn đến. Nghĩ cũng tiện thật, nhưng mà nghĩ kĩ có lẽ chưa tiện chút nào. Dẫu nay không muốn bàn đến mà rồi có ngày cũng phải bàn. Nếu không liệu sớm ngay từ giờ, rồi càng ngày càng thêm khó. Xưa nay không có nước nào bỏ căn bản mình mà thành lập được bao giờ. Phàm sự văn hóa là phải vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nếu bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái “dã tràng xe cát bể Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì!” Tự mình không có gốc sẵn mà đi mượn của người, thời như người vay lãi mà ăn, sớm trưa tất có ngày phá sản. Tình cảnh ấy rất là nguy ngập. Người Nam ta nếu túy tâm về Âu hóa mà không hồi cố đến căn bản mình, thời không khác gì người đi vay nợ mà ăn, tất có ngày vỡ nợ. Ví Âu hóa mà có cách nào hóa được hẳn như người Tây, thời còn hạnh phúc nào bằng, chúng ta xin sẵn lòng kí cả hai tay. Nhưng cái lẽ không thế được; cổ kim không có bao giờ có sức biến hóa đến căn bản như thế. Nếu trong khi biến hóa mà không khéo châm chước điều hòa, thời có cái nguy gây ra một giống dở dang bác tạp, căn bản cũ mất hết mà tính cách mới không thành, tức là một cái quái vật trong nhân quần, không biết liệt vào chủng loại nào. Giống quái vật ấy chỉ biết xuẩn động quấy rối, không biết sáng khởi kiến thiết bao giờ.

Giống quái vật ấy là cái ác ma của xã hội, càng ngày càng nhiều thời xã hội đến diệt vong. Nói thế không phải là nói quá, cái triệu chứng đã nghiệm thấy ngay quanh mình vậy.

Như vậy thời dẫu người nhiệt thành Âu hóa, vì có cái trí phán đoán sáng suốt, tất phải hiểu rằng sự điều hòa là sự cần. Cái thuyết thuận dòng xuôi chảy, nhắm mắt mà theo phong trào, là một cái thuyết sai lầm vậy. Nay đã biết điều hòa là sự cần, thời phải nên điều hòa ra làm sao? Như trên kia đã nói, sự này là thuộc về tinh thần, về trí tuệ, không thể cân nhắc đo lường được, không thể kê ra cân lượng như cái đơn thầy thuốc vậy. Phải tùy ở mỗi người biết khéo dụng trí khôn mà châm chước có thích nghi. Song cũng phải có mấy cái phàm lệ chung để định cái thái độ của người mình đối với hai văn hóa Đông, Tây như thế nào.

Trước hết hẳn phải định nghĩa văn hóa là gì. Như đã giải ở trên, văn hóa là gồm cách đoàn luyện tinh thần người ta. Văn hóa là dịch tiếng Tây culture, nghĩa đen là cách cấy trồng. Người ta ví như cái cây thì văn hóa là cách vun trồng cho nẩy nở được hết cái tinh hoa. Cây có trồng cây mới tốt, người có hóa người mới hay; văn minh với dã man khác nhau là một bên có văn hóa, một bên không. Như vậy thời văn hóa là một sự cần, một dân một nước không thể khuyết được. Nước ta xưa nay vẫn xưng là “văn hiến chi bang”, nghĩa là đời nào cũng có văn hóa, nên người thuần, tục tốt, xã hội chỉnh đốn, lịch sử vẻ vang. Nay gặp đời giao thông, thế không thể không ra tiếp thụ văn minh mới, thâu thái mà điều hòa với cái tinh thần cố hữu của mình. Ta phải tìm cách gây lấy một nền văn hóa riêng cho nước ta, tham bác cả hai tinh thần Âu, Á. Đó không phải là sự mơ tưởng viển vông, chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn vậy. Kẻ thức giả trong nước phải nhận chân lấy cái trách nhiệm đó mà ra sức đảm đương. Lại là việc lâu dài, không thể kể hàng tháng hàng năm, cũng không thể thành công kết quả ngay được. Nhưng phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, muốn tìm phương tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được, còn ngoại giả không có đường lối nào nữa. Xin quốc dân ta nhớ lấy cho rằng, cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hóa. Vấn đề văn hóa còn quan hệ hơn vấn đề chính trị vậy.

Đó là điều cốt yếu, mong những nhà có chí trong nước để tâm suy xét, vì trong bài này không thể nói cho hết ý được.

Nay đã biết sự văn hóa là quan hệ, việc điều hòa văn hóa là sự cần, thời phải biết cách đối đãi hai cái văn hóa Đông, Tây ra thế nào.

Ngày nay vì thời thế, quốc dân ta mỗi ngày một khuynh hướng về đường Tây học. Phần nhiều cũng là thuận dòng nước chảy xuôi, như trên kia đã nói có lẽ không mấy ai nghĩ đến cái tính cách, cái giá trị của Tây học thế nào. Hay là có, có nghĩ đến cái giá trị sự học, nghĩ đến nhiều, nhưng nghĩ rằng học hết tiểu học thì có thể làm được vài chục đồng một tháng, hết trung học thời được dăm chục đồng, mà hết cao đẳng thời được một trăm đồng, không kể còn những phẩm hàm chiếu đối, danh dự xóm làng là phụ thêm ở ngoài nữa. Cái giá
trị đó tuy cũng đáng trân trọng thật, nhưng quyết không phải là giá trị chân chính của sự Tây học. Nay bất luận vì cớ gì mà người nước ta xô theo Tây học, đã theo cũng phải biết rõ tính cách sự học thế nào. Tính cách ấy, muốn phân tích ra cho tường thì phiền phức lắm, nhưng có thể tóm tắt lại đại khái bằng một câu như sau này: học thuật của Thái Tây là học thuật về sự vật, văn hóa của Thái Tây là văn hóa về sự vật. Người Âu Tây từ xưa đến nay chỉ chuyên chủ khảo sát sự vật, mà làm thế là chỉ có một mục đích lợi dụng cho người ta được phú cường…(“…” là do bị kiểm duyệt xóa)

Các hiền triết phương Đông không thiết gì đến sự vật, chỉ chủ dạy người ta sửa mình theo Đạo đức, và ăn ở với nhau trong xã hội cho êm thấm. Ấy cái đặc sắc, cái giá trị của văn hóa Đông phương là thế. Nếu cứ biệt lập ra một thế giới, không can thiệp đến ngoài, thời Đạo đức cũng đủ làm cho xã hội hòa bình. Nhưng cái văn minh đạo nghĩa ấy nhất đán phải ra xung đột với cái văn minh công lợi của Tây phương kia, thời không sao địch nổi, chỉ thấy hết phen thất bại ấy đến phen thất bại khác, rồi mà càng ngày càng sút đi, hầu như không còn có cơ hưng thịnh lên được nữa.

Hai văn hóa đã có tính chất khác nhau như thế, thời đối với văn hóa Tây phương ta phải có cái chủ ý thâu thái, mà trong khi thâu thái phải biết khéo kén chọn; đối với văn hóa Đông phương ta phải có cái chủ ý bảo tồn, mà trong khi bảo tồn phải biết khéo phát huy.

Nói rằng thâu thái, lại nói rằng kén chọn, là không thể cứ toàn thể, cứ y nhiên mà thâu nhập được; phải biết phân tích, phải biện biệt các phần mà chỉ chọn lấy phần nào có bổ ích cho sự tăng tiến của ta mà thôi. Việc này là thuần ở cái tài khôn khéo của mỗi người, không thể định cách thức sẵn được. Nhưng có một điều cốt yếu, là rất không nên câu nệ. Học Tây mà câu nệ là hỏng.

Nói rằng bảo tồn, lại nói rằng phát huy, là cũng có cái ý phân biệt ở trong đó, phần nào là phần cốt yếu thì phải nên giữ gìn, mà lại tỏ rạng cho sáng sủa thêm ra. Vì rằng văn hóa Đông phương ta ngày nay đương qua một hồi yếm thế, không những ta cần phải bảo tồn lấy, mà ta lại cần phải biểu dương lên. Đối với văn hóa Âu Tây ta nên hoài nghi bao nhiêu, thời đối với văn hóa Á Đông ta lại phải nên đôn đốc bấy nhiêu. Người Âu mê tín ở khoa học, người Á mê tín ở đạo đức. Sự mê tín trên có lẽ không chính đáng, vì đối với sự vật mà mê tín. Sự mê tín dưới có thể thừa nhận được, vì đối với một cái lí tưởng mà mê tín. Lí tưởng ấy cho rằng có thể lấy đạo đức, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa người đời sửa sang phong tục, chỉnh đốn xã hội, mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình trong thiên hạ. Lí tưởng ấy ta phải nên trân trọng, vì là cái tinh túy của văn hóa Đông phương ta; ta phải nên giữ gìn cho khỏi bị những phong trào mới nó lay chuyển đến đổ nát đi mất. Ta phải nên phát huy ra để làm cái đuốc sáng soi con đường tiến hóa cho nước ta.

Như vậy thời văn hóa Tây phương là gồm ở khoa học; văn hóa Đông phương là gồm ở Đạo học. Đối với khoa học ta phải nên có lòng công lợi, đối với đạo học ta phải nên có bụng chân thành. Hai đàng là cần cả, không đàng nào khuyết được. Nếu có Khoa học mà không có Đạo học thời như có vỏ mà không có ruột, không có khoa học thời như có ruột mà không có vỏ, không thể xông pha được với đời. Cho nên hai bên phải điều hòa hai cái văn hóa Đông, Tây vậy.

Nói tóm lại, cả cái vấn đề văn hóa nước ta là ở sự phân biệt và điều hòa hai mối Đạo học và Khoa học vậy. Điều đó tựa hồ như tầm thường ai cũng biết, mà về phần riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu được hết lẽ. Nhưng đến khi hiểu được rồi thời thấy trong lòng được khoan khoái, trong trí được vững vàng, không còn băn khoăn khắc khoải như trước nữa. Điều đó tuy tầm thường như thế mà tôi hiểu được cho là một sự phát minh đáng kỉ niệm trong một đời. Còn sự phát minh nữa, cũng tầm thường cho thiên hạ mà cũng đáng kỉ niệm cho riêng tôi, là phát minh được một cái phương tiện để giúp cho sự điều hòa như trên kia. Sự tác dụng thiết yếu nhất của thần trí người ta là sự tư tưởng. Dẫu văn hóa phương nào nước nào cũng là phát nguyên ở một mối tư tưởng trong lòng người mà ra. Nhưng nếu cái tư tưởng ấy cứ u u âm âm ở trong lòng, thời như vô hình vô trạng, không biết đâu mà dò xét được. Tất phát biểu ra lời nói mới gọi là thành hình. Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng, mà tư tưởng tất phải do lời nói mới biểu lộ ra được, thời lời nói cũng tức là cái cơ quan “thực hiện” của tư tưởng, lời nói quan hệ vô cùng. Nay người trí thức ở nước ta – là nói người trí thức mà thôi, còn kẻ tầm thường thời có mấy khi dùng đến tư tưởng – từ xưa đến nay, tư tưởng bằng tiếng gì? Có thể nói rằng các nhà cựu học hầu hết tư tưởng bằng chữ Nho cả, mà các bậc tân học cũng phần nhiều tư tưởng bằng chữ Pháp hết. Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hồ nghĩ ra một cái lí tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn thành câu rõ ràng, hoặc diễn u âm trong trí. Như thế thời nhà Nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ Nho, mà nhà Tây học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng của mình bằng chữ Tây. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy. Huống nhiều khi lại là tư tưởng mượn!

Tôi lấy cái đó làm khổ tâm, bèn nghĩ ra một cách phương tiện để bổ cứu, cách phương tiện này chính là sự nghiệp tôi về đường quốc văn. Tôi nghĩ rằng: Cớ sao người nước ta không tư tưởng bằng tiếng ta? Hoặc cho tiếng ta còn non nớt, thời có tập đến dùng đến mới thành ra già dặn được. Vả lại lời nói già dặn là ở như tư tưởng già dặn. Chỉ sợ tư tưởng còn non nớt, không sợ lời nói non nớt. Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rằng: phàm tư tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả. Thí nghiệm trong bấy lâu, xem ra cũng hơi có kiến hiệu. Lại nhận ra rằng cách đó chính là một cách rất diệu để giúp cho sự điều hòa hai cái văn minh như trên kia, vì những tư tưởng trong sách Tây sách Tàu phải diễn ra tiếng ta cả, khác nào qua cái óc ta lọc đi một lần dễ cho sự “tiêu hóa” biết dường nào! Nếu cứ để trườn trườn như trong sách, cứ giữ nguyên chất của người ta, thời chỉ dùng đến sức kí ức để nhớ lấy và truyền đi lắm khi hãy còn sống sượng, trí não không thể dung nạp được, không thể “tiêu hóa” được, chỉ giao dịch ở ngoài cửa miệng mà thôi. Nay đem đàn diễn ra tiếng ta, tức là biến nhuyễn ra cho dễ dung hòa vào khí huyết tinh túy của ta, cho dễ cùng nhau điều hòa trong óc ta vậy. Mấy sự “phát minh” đó, thật là tầm thường, chẳng lấy gì làm lạ lùng cả. Nói ra đây, thật là lời “bàn phiếm”; nhưng có ai chưa kịp nghĩ tới thời cũng mong giúp được cho sự nghiên cứu về vấn đề văn hóa một đôi phần vậy.

 

 

Tháng Hai 12, 2018

Nam Phong số Tết Mậu Ngọ – 1918

Filed under: Ý kiến,Báo — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2  tháng 2 năm 2018.

BÁO TẾT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA:

NAM PHONG SỐ TẾT MẬU NGỌ – 1918

Phạm Tôn

Đầu năm âm lịch, trời xuân mát mẻ, cây cối xanh tươi, hoa nở muôn màu, người Việt Nam ta khắp cả nước vui mừng ăn Tết cổ truyền. Nói là ăn, nhưng không chỉ có thịt mỡ, dưa hành, rượu ngon, trà thơm mà bao giờ cũng có câu đối đỏ và sau này là có báo Tết. Tết sắp đến là các báo đã đua nhau ra báo Tết, nở rộ như hoa mùa xuân, muôn màu, muôn vẻ, đáp ứng yêu cầu tinh thần của đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi. Mấy năm gần đây, cả nước có đến mấy trăm loại báo Xuân, đủ để đầu mỗi năm từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều tỉnh tổ chức ngày hội báo xuân, có bình bầu, phát thưởng hẳn hoi.

Nhớ lại những số báo Tết xưa vui tươi, nhẹ nhàng với văn Nhất Linh, Khái Hưng bay bướm, thơ Tú Mỡ dí dỏm và các tranh hài hước Lý Toét Xã Xệ châm biếm nhộn nhạo, không ít người cho rằng báo Tết có từ thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn tung ra năm 1932 với các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Nhưng, sự thật, còn xưa hơn nữa… Các tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí… chưa nghĩ đến việc này. Nam Phong tạp chí ra đời giữa năm 1917-Đinh Tỵ. Và ngay cái Tết đầu tiên của tờ báo mới hơn sáu tháng tuổi, chủ nhiệm kiêm chủ bút phần quốc văn đã nghĩ ngay đến việc cho ra một số báo đặc biệt ngày Tết. Bài Số Tết của báo “Nam Phong. Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết, nay ta có thể coi đó như tuyên ngôn mở màn, đặt nền móng cho lệ làm báo Xuân sau này của làng báo Việt Nam trong cả nước, thành một phong tục tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Ông đã viết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Đó là tạp chí Nam Phong số Tết Mậu Ngọ -1918. Ông là người đầu tiên đã gắn cái đặc điểm của ngày Tết vui khắp mọi nhà, vui khắp cả nước với cái nghề báo hằng ngày, gắn bó với đời sống người dân. Cũng vì ông là người yêu quí, trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một lòng tha thiết đem niềm vui đến cho đồng bào.

Cuối bài, ông còn khiêm tốn viết:

“Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít. (…) toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu vậy.

Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quà năm mới này. Có thức gì không vừa ý xin cũng rộng thứ cho: bản báo bước sang năm nay tính theo lối tổ quốc mới được là hai tuổi: nghề bánh trái đã khéo sao bằng các chị em!”.

Trong bài kế đó Mừng năm mới ký tên Nam Phong, ông viết: “Năm cũ Đinh Tỵ đã hầu qua, năm mới Mậu Ngọ đã sắp đến, đông tàn rồi lại sang xuân, ta chắc rằng cái ngày nguyên đán mới mẻ này, nhà nào nhà nấy, pháo đốt vang tai, đối hồng rực cửa, cơ đồ đổi mới, cảnh tượng khác xưa, kẻ lại người qua, không ai là không mừng rỡ mà chúc nhau rằng: “Năm cũ đã qua, năm mới đã đến, đinh tài lưỡng vượng, phúc lộc song toàn.” Nhưng hoa cát tường ở miệng người, như đua nhau phun nở trong ba ngày Tết.

Chúng ta đối với xã hội có cái trách nhiệm ngôn luận, trống sớm chuông khuya, tiếng vang khua động, đâu có nhẽ lại bỏ quá cái thì giờ quí báu ấy, mà im bặt không có một nhời nào để chúc mừng đồng bào ta hay sao? (…) vậy xin thắp hương rải hoa, hun bút mở giấy, mà mừng tuổi cho nước nhà.

Này, đồng bào ta ơi! Non cao núi nhớn, vòi vọi nghìn thu, sông cả nguồn sâu, thênh thênh một dải, dòng dõi thần minh, cùng nhau sum họp, vẫn còn đông đúc mãi mãi ở đây, dài dằng dặc không biết đâu là cùng, xa lăng lắc không biết bao giờ nghỉ, cái thế giới sau này chưa lại, ta tài nào mà biết được, ví cứ bắt chước nhời chúc của Phong Nhân đời xưa mà reo lên rằng: “Đại Nam vạn tuế! Vạn vạn tuế!” cũng chỉ là một câu thường sáo mà thôi. (…)

Đời thủa hồng hoang, ta không có thể xét được, ta chỉ cứ trong lịch sử ghi chép, mà sẽ kể bày ra như sau này.

Nghe rằng: Vua Hùng Vương dựng nước 18 đời trải 2222 năm, đến đời Thục An Dương Vương khởi lên được 50 năm; thuộc 3 đời vua nhà Triệu 59 năm; nội thuộc nước Tàu về nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, cả thảy 652 năm; vua Lý Nam Đế khởi tự năm Giáp Tí đến năm Mậu Thìn, cả thẩy 5 năm; vua Triệu Việt Vương khởi năm Kỷ Tỵ tới năm Canh Dần, cả thẩy 22 năm; ông Lý Phật tử khởi năm Tân Mão đến đăm Nhâm Tuất, cả thẩy 37 năm; lại nội thuộc về nước Tàu, nhà Tùy, nhà Đường, đời Ngũ Quí, nhà Tấn, khởi tự năm Đại Nghiệp Nguyên Niên nhà Tùy, đến năm Thiên Phúc Tam Niên nhà Tấn, cả thẩy 306 năm; ông Khúc Thừa Hiệu tự xưng Tiết độ sứ 16 năm; ông Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ 7 năm; Ngô vương Quyền 6 năm; Dương Tam Kha 6 năm; Ngô Nam Tấn vương 15 năm; Thập nhị sứ quân 2 năm; vua Đinh Tiên Hoàng đến Thiếu đế cả thẩy 13 năm; vua Lê Đại Hành đến vua Long Đĩnh, 3 đời cả thẩy 29 năm; nhà Lý khởi tự vua Thái Tổ đến bà Chiêu Hoàng, 8 đời, cả thẩy 360 năm; nhà Trần khởi tự vua Thái Tôn đến vua Thiếu đế, cả thẩy 12 đời, 174 năm; nhà Nhuận Hồ 7 năm; nhà Hậu Trần hai vua 7 năm; thuộc về nước Tàu đời Vĩnh Lạc nhà Minh 4 năm; nhà Lê độc lập khởi tự vua Thái Tổ đến vua Chiêu Tôn, 9 đời cả thảy 109 năm; nhà Mạc 3 năm; nhà Hậu Lê khởi tự vua Trang Tôn đến vua Chiêu Thống 16 đời, cả thẩy 257 năm; nhà Tây Sơn 15 năm; đến Bản Triều dựng nghiệp định đô ở Phú Xuân kinh, niên hiệu Gia Long 18 năm; Minh Mệnh 21 năm; Thiệu Trị 7 năm; Tự Đức 36 năm; Kiến Phúc 1 năm, Hàm Nghi 1 năm; Đồng Khánh 3 năm; Thành Thái 19 năm; Duy Tân 9 năm; đến đức Vạn tuế ta bây giờ kể là năm thứ 3.

Kể tóm cả lại, thời nước ta tự vua Hùng Vương dựng nước đến giờ, đã đầy 4490 năm linh. Lấy 30 năm kể làm một đời, thời người đời vua Hùng Vương, chính là ông Thủy tổ thứ 139 của chúng ta vậy.

Này các ngài ơi! Nước ta đã trải lâu ngày như vậy, mà năm năm tháng tháng ngày ngày ở trong 4400 năm linh ấy, đều là cái thì giờ của một trăm ba bốn mươi đời tổ tôn chúng ta khai sông mở núi, gây dựng nhọc nhằn, không biết bao nhiêu công trình, góp cái thái bình hạnh phúc, để cho hàng con cháu chúng ta hưởng thụ mãi đến giờ vậy.

Kể từ đời hỗn mang rồi mà thành ra bộ thuộc, thành ra quốc gia; tự thủa đóng cửa khóa ngòi, rồi mà mở mang, mà văn hóa; năm nay tiến một bước, sang năm tiến một bước, mà thành ra một cái nước hoàn toàn.

Nhưng cái tuổi nước từ trước, thì tự tay của tổ tiên chúng ta sửa sang lấy, mà làm cho dài ra. Còn như tuổi nước bây giờ về sau, thì lại là phận vị của anh em đồng bào chúng ta, phải cùng mó tay vào mà sửa sang bồi dưỡng để nối noi mới được. Gặp cái quang cảnh năm mới như thế này, chúng ta há nên dông dài lẩn thẩn mà bỏ hoài mất cái thì giờ quí báu hơn 360 ngày sắp đến này hay sao?

Này đồng bang ta ơi! Năm mới nên quí là vì cái gì? Là vì so với năm cũ có cái hiện tượng ngày rộng tháng dài vậy (…)

nước cố nhiên đã đến cái tuổi trưởng thành thật, thế nhưng mà nước không có thể tự nhiên mà trưởng thành được, sửa sang cái cơ nghiệp trưởng thành là trách nhiệm của người dân trong nước vậy.

Kìa! Lúc nào mà rậm rạp chông gai, rừng xanh nước độc, vẫn là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà mở mang sum họp, ruộng đất cấy cầy, cũng là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà đuổi giặc Nguyên, bắt tướng Hồ, đánh Chiêm Thành, lấy Chân Lạp, nhất thống sơn hà, gây dựng cơ nghiệp, cũng là một miếng đất ấy mà thôi. Dẫu trong khoảng dó, lúc trị lúc loạn, lúc phế, lúc hưng, vận hội đổi thay, vẻ này vẻ khác, mà non sông đất nước, y nguyên còn đó trơ trơ, không biết trải bao nhiêu tháng tháng năm năm, mà phía đất Nam giao vẫn tự nhiên là một nơi bất tiêu bất diệt. Rồi từ đó mà năm bảy nghìn năm, mà muôn năm, ức triệu năm, kinh cai vô số năm, cũ qua mới lại, không biết thế nào mà kể cho hết, không biết thế nào mà tính cho cùng vậy.

Chúng ta muốn mừng tuổi nước, nhưng nước vẫn sống lâu, lọ là phải mừng, chỉ nên mừng là mừng cho người ăn ở trong nước này.

Ngày tháng như thoi đưa, kiếp người không phải sắt đá. Phàm các người bẩm tinh anh của giời đất, trung tú khí của non sông, sinh ra ở trên đất nước này phỏng được bao nhiêu năm, dẫu sống lâu cho lắm, chẳng qua bảy tám chín mươi tuổi, trừ bỏ cái thời kỳ trẻ mỏ giả nua ra ngoài, thì cái thì giờ có ích với xã hội, chẳng qua chỉ ở trong khoảng độ hai ba mươi năm mà thôi.

Các ngài ơi! Kiếp trước chúng ta, chưa chắc chúng ta đã được làm người cổ nhân, kiếp sau chúng ta, chưa chắc chúng ta lại được làm người hậu tiến, chúng ta chính là một phần người trong đất nước ở kiếp này, tiêu thụ cái quang cảnh một năm (…). Bóng sáng thoáng qua, ngày sau còn rộng, phàm những sự nghiệp duy tân của nước ta, hoặc mọc mầm ở năm trước, hoặc nở trứng tự năm nay, học thuật nên làm thế nào cho cao thâm, sinh kế nên làm thế nào cho rộng rãi, chính trị nên làm thế nào cho hoàn toàn, không việc gì là không phải việc nghĩa vụ nên làm ở trong cái năm mới này cả. Vậy dám chúc già trẻ giai gái, sĩ nông công thương, cho chí hết thảy các người trong nước, nhân dịp bước lên, đua hơn ganh được, họa may ra dòng thần dõi thánh, rạng vẻ thêm hoa, đối với người xưa mà không hổ, đối với người sau mà có danh, rồi mà cái tuổi thọ của nước nhà ta, được hưởng một cái phúc lâu dài không có kỳ hạn, ấy là cũng bởi các bậc người ở trong năm mới này, không phí thì giờ, không bỏ nghề nghiệp, đồng lòng hiệp sức, tiếp ngọn nối ngành, để làm cho một ngày một dài ra vậy. Vậy nên chúng ta đương lúc thiều quang sắp đến, muốn mừng năm mới, mà lại rất mong cho 20 triệu đồng bào ta, chớ nên phụ cái năm mới này. (PT nhấn mạnh)

Nam Phong

Thật là những dòng tâm huyết, tha thiết với Tổ quốc, với đồng bào, nhất là với lớp trẻ, tràn đầy tình yêu nước thương nòi, mong cho ngày càng tiến bộ, theo kịp người.

Trên bìa số báo Tết ghi rõ Số Tết – 1918 và dưới đó là hai chữ Nam Phong to trên đầu bức tranh vẽ vị Hành Khiển Phán Quan Đinh Tỵ tay cầm cành đào trơ trụi, buồn bã chia tay với vị Hành Khiển Phán quan Mậu Ngọ tươi tỉnh, tay cầm cành đào rộ hoa. Dưới có in rõ: “In tại Đông Kinh ấn quán (Imprimerie Tonkinoise) 14 Rue du Coton (tức phố Hàng Bông – PT chú)”

Toàn số báo có tời 122 trang, với phần quốc ngữ 70 trang và phần chữ Hán 52 trang. Trong báo rải rác có đăng tới 36 bài thơ cổ, kim, có cả diễn Nôm bài Khuê oán của Tuy Lý Vương do Dương Tự Nhu dịch, kèm các bài là 43 tranh minh họa. Rồi các bài hát nói, phú như bài phú Giặc đến nhà đàn bà phải đánh của Vô Danh, với những câu Thương thay: những lúc ba đào, chút thân bèo bọt, nhà rách vách xiêu, con đau của sót. Nào phải bồ rìn chi đứng, ngoảnh mặt làm thinh, không bụt mọc chi ngồi, đến mình phải nhót (là rút mình, se mình – PT chú). Được thua, thua được chẳng kể, có người có ta. Hết còn còn hết cũng liều, rằng hai, rằng một (…) sức còn đương bẻ gãy sừng bò, sợ chi giặc cỏ, sống chết sao mình dám bỏ (…) Dẫu cơn hoạn nạn, còn lúc nghênh ngang. Chẳng sợ gì ai, chiêng không kêu cũng đấm, đành liều một chuyến, trống dẫu thủng còn tang” Những dòng đầy ẩn ý sâu xa.

Ngoài ra còn có nhiều câu đối. Có những câu như Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú/Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường, hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui. Hoặc Dán buồng học con: Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết/ Chăm chong đèn sách mới nên người của Tạ Quang Huy. Có cả Truyện Tàu Lý Khuê, Trịnh Xuân Nham dịch, Ngày xuân lữ thứ quê người của Hà Huy Sằn với câu kết buồn bã: “một tết thêm một tuổi, cảnh phù sinh chắc thọ được bao lâu, những hổ đem thân buộc vòng danh lợi” Rồi còn “tiểu thuyết mớiChén rượu năm mới, dài hơn tám trang do Nguyễn Bá Trác soạn, Nguyễn Bá Học dịch nôm. Và bài hát cô đầu, sẩm nhà trò, hành vân sang năm, hai bài tạp văn của Nguyễn Khắc Hiếu: Sợ vợ, Hai đồng xu. Và bài Hai con muỗi nói chuyện của Trần Văn Nguyên tóm dịch văn Tuyết Trang…Cuối số báo là Sách vàng những người An Nam giúp việc chiến tranh bên mẫu quốc gồm  các mục: Những bậc quan võ An Nam liệt đồng hàng với các quan Tây, kể tên ba người, Những bậc chiến sĩ tử trận, Những người bị thương và cuối cùng là Những bậc được tuyên công và được thưởng. Âu cũng là một việc không thể không làm ở một tạp chí do chính phủ Pháp tài trợ, song cũng là một cách “kể công”. Cũng như, ở ngay trang đầu, không thể không có mấy lời Kính chúc Hoàng-Thượng và quan Toàn-quyền, ký tên Nam Phong do Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết, kết thúc bằng một loạt khẩu hiệu “ Nay gặp hội Tân-xuân, xin tung hô Vạn-tuế”:

Đại-Nam Khải-định Hoàng-đế vạn tuế!

Toàn-quyền Xa-lộ đại-nhân vạn tuế! (Xa-lộ là Albert Sarraut – PT chú)

Đại-Nam cố quốc vạn vạn tuế!!

Đại-Pháp ân-quốc vạn vạn tuế!!”

Đáng chú ý là tập báo Tết này “là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới” như đã nói rõ trong bài Số Tết báo Nam Phong. Từ đó, thành một lệ tốt đẹp kéo dài hàng mấy chục năm cho toàn thể các báo nước ta là bạn đọc mua báo dài hạn thì hằng năm đều được tặng không một số báo Tết và không phải chịu trả thêm tiền “bù chênh lệch” khi báo tăng giá trong thời hạn mình đã đặt mua.

Nhân ngày Tết, nhắc lại một chút về lịch sử báo chí nước nhà, mong bạn đọc hiểu thêm một phần tấm lòng vì nước vì dân của nhà văn hóa Phạm Quỳnh chỉ qua một việc làm nhỏ của ông: mong làm cho ngày xuân của người dân thêm ý nghĩa và vui vẻ, nhưng không quên nhiệm vụ của mình với Tổ quốc.

24/12/2009

P.T.

 

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tháng Tám 14, 2017

Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi – Phạm Quỳnh

Filed under: Báo — phamquynh @ 7:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

MỘT VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO NÒI GIỐNG CHÚNG TÔI

 Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Theo gợi ý của bạn Nguyễn Trọng Hiền, một kiều bào ta hiện sinh sống ở Mỹ, địa chỉ email hn90250@gmail.com, chúng tôi đã tìm và đăng trên blog này bài diễn văn học giả Phạm Quỳnh đọc tại phiên họp của Ban Khoa học Luân lý và Chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ngày 22/7/1922.

Do tầm quan trọng lịch sử của bài này, chúng tôi không trính như lệ thường của blog mà đăng nguyên văn theo bản dịch của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên dịch theo bài in trong cuốn Le Viet-nam-Problèmes Culturels et Politiques (Essais 1922-1932) do bà Phạm Thị Ngoạn tập hợp và Ý Việt xuất bản tại Pháp.

Bản tiếng Việt này in trong Phạm Quỳnh Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) do nhà xuất bản Tri Thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội xuất bản năm 2007.

—o0o—

Thư tịch cổ của nước Nam chúng tôi thường nói đến các đấng cao minh, những vị bằng học thức, bằng tâm trí, bằng sự trải đời trải người, cũng như bằng cuộc sống tĩnh lặng, những con người xa lánh những rối loạn xã hội và những cuộc tranh giành chính trị, nên đã thấu suốt mọi vấn đề liên quan đến sự thịnh vượng của quốc gia và hạnh phúc của dân chúng. Những khi nguy biến, hay mỗi khi có chuyện can hệ đến vận mệnh quốc gia, đích thân nhà vua, hay các vị đại thần, các quan chức, hoặc nói chung là những ai quan tâm đến quyền lợi tổ quốc, đều quen tới tham vấn họ. Bao giờ họ cũng đưa ra những lời khuyên sáng suốt, thông thái. Và lời khuyên của họ hầu như bao giờ cũng được nghe theo.

Trước con mắt các đồng bào tôi, Viện Hàn lâm quốc gia Pháp, thánh đường của văn hóa Pháp, là nơi ngự trị của các nhà hiền triết cổ xưa, của các bậc đại thần cố vấn của Nhà nước và nhân dân. Các bậc nho gia thức giả nước tôi có một ước vọng khao khát là khi đến Pháp thì có dịp gặp một ai đó trong số các bộ óc sáng láng ấy, để được nghe những lời chỉ bảo về rất nhiều vấn đề mà cuộc tiến hóa tinh thần, luân lý và chính trị của nuớc tôi đang đặt ra. Ngẫu nhiên mà vinh dự lớn lao ấy lại được dành cho một nhà báo tầm thường, mà dù thiếu những phẩm chất đưa lại cho ông ta vinh dự ấy, song bù lại, ông có lòng yêu mến nồng nhiệt đất nước mình và sự thán phục sâu sắc đối với nước Pháp. Có được hạnh phúc đặc biệt này là nhờ sự quan tâm của Ngài bí thư thường trực Viện Hàn lâm, mặc dù chương trình nghị sự của phiên họp đã định trước, nhưng Ngài vẫn muốn cho tiếng nói yếu ớt của một người nước Nam được vang lên ở chốn trang nghiêm này như tiếng vọng xa xăm của những niềm hy vọng, những điều ta thán, những nỗi ước nguyện của giới tinh hoa trí thức của cả một dân tộc. Xin Ngài hãy nhận ở đây lòng biết ơn chân thành của tôi.

*

* *

Thưa các ngài, bốn mươi năm qua, dân nước Nam sống dưới sự bảo hộ của nước Pháp. Những ngẫu nhiên của lịch sử dã muốn như vậy. Ban đầu chúng tôi coi tình trạng này như là một việc bị áp đặt do nền chính trị yếu kém của chúng tôi không cho phép chống lại một kẻ đi chinh phục mạnh bạo hơn nhiều. Nhưng dần dần, trong khi chung sống, chúng tôi ngày càng hiểu biết các ngài rõ hơn. Chúng tôi biết rõ hơn về nước Pháp và vị thế của nó trên thế giới. Và dưới tác động của vẻ duyên tinh thần Pháp, chúng tôi dần dần bị cuốn hút, bị chinh phục bởi nền văn hóa và nền văn minh của các ngài. Đồng thời chúng tôi cũng nhận ra những thứ một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi còn thiếu để sống nổi trong thế giới hiện đại. Sinh ra từ một trong những nền văn minh lâu đời nhất ở Châu Á, dân tộc chúng tôi nhiều thế kỷ nay sống tách rời với thế giới bên ngoài, sống bằng lặng trong một xã hội gia trưởng theo thứ luân lý Khổng-nho nặng nề và khắc khổ. Ngập đầu vào việc tôn sùng Hán văn cổ, nó luôn luôn bàng quan với tất cả những trào lưu tư tưởng lớn đã khuấy động thế giới Tây phương từ biết bao lâu nay. Xa cách với những trào lưu đã khai sinh một hình thái văn minh mới, và xa cách với nền văn minh này khi đã trở thành công thức sống cho các dân tộc hiện đại, chúng tôi rơi vào tình trạng thiếu thốn mọi thứ gì cần thiết để thích ứng với cuộc sống đó. Thế là giờ dây, chúng tôi đang hướng về nước Pháp, nơi chúng tôi thấy những truyền thống tinh thần bảo đảm chắc chắn cho những ý đồ chính trị tốt đẹp của nước Pháp, để nhờ nước Pháp giúp chúng tôi trong cuộc thích ứng này bằng cách đưa lại cho chúng tôi một nền giáo dục có thể làm cho chúng tôi một ngày nào đó trở thành một dân tộc hiện đại. Chính vì thế, mà sau sự thù địch ban đầu, một sự thù địch có thể giải thích được là do việc bị chinh phục và chiếm đóng thô bạo, ngày nay, giới tinh hoa nước Nam đã hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền Pháp, hơn thế nữa, còn hoàn toàn trông cậy nước Pháp chăm lo cho công việc học hành và giáo dục của mình. Đấy thực sự là một việc cảm động, thậm chí có thể là sự kiện duy nhất trong lịch sử nhân loại, việc một dân tộc này tin tưởng ở một dân tộc khác giúp đỡ cho vận mệnh tương lai của mình. Hiển nhiên là tinh thần cao cả của nước Pháp, nền văn hóa đầy chất nhân văn của nó, luôn luôn được các dân tộc ngưỡng mộ. Không phải là hiếm thấy, thậm chí ta thường thấy các dân tộc bị áp bức, sống dưới ách đô hộ của nước khác, hướng về nước Pháp như một xứ sở của những tư tưởng lớn lao phóng khoáng, những tư tưởng tự do và độc lập. Nhưng trường hợp một dân tộc hai mươi triệu người, có một quá khứ lâu dài, một lịch sử tốt đẹp và những truyền thống đáng kính, sống dưới sự phụ thuộc chính trị của chính nước Pháp mặc dù nó không hề muốn thế, lại khẳng định ý muốn nhờ nước Pháp dẫn dắt để học cách sống hiện đại, tôi tin là sự kiện này không phải dễ thấy. Chính vì vậy nước Pháp, khi chiếm giữ cái được gọi là lãnh thổ Á châu rộng lớn của nó, thì đồng tời cũng chiếm giữ các tâm hồn; nó có bổn phận với chính nó, có bổn phận với loài người và với lịch sử, nó phải dẫn dắt một cách chính trực các dân tộc ở vùng này thực hiện số mệnh của họ. Đấy là một phương diện của công cuộc “thực dân hóa” mà nhiều “nhà thực dân” nhiều khi có thể không biết tới, bởi vì dường như bây giờ đang có cái mốt là  hễ cứ nói đến các thuộc địa và công cuộc thực dân hóa, thì người ta chỉ nói về sự khai khẩn, sự sinh lợi và chỉ nhằm đến việc giáo dục dân “bản xứ” theo cái đích quá ư vị lợi này.

Quan niệm như vậy về công cuộc “thực dân hóa” – cứ tạm gọi hành động của nước Pháp tại các nước nằm trong tầm ảnh hưởng của nó như vậy – còn xa mới là một cách hiểu tốt dẹp khi đem áp dụng cho một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi. Chúng tôi hài lòng nhận thấy đó không phải là quan niệm của bản thân chính phủ Pháp, nó không đến nỗi quá ý thức về vai trò “thực dân” của mình cũng như các quyền lợi riêng của mình để không tính đến các khát vọng thầm kín của cả một dân tộc.

Từ đó mà nảy sinh một vấn đề – một vấn đề lớn mà, trong vai trò người diễn đạt tự nguyện cho đồng bào mình, tôi mong mỏi được nhận những ý kiến sáng suốt của các bậc thầy danh tiếng đang lắng nghe lời tôi nói lúc này. Vấn đề đó là: một khi dân nước Nam đã có ý muốn nhiệt thành được giáo dục để sống theo đời sống hiện đại, thì nước Pháp bảo hộ đình làm cách gì để đáp ứng nguyện vọng ấy? Quan niệm của nước Pháp ra sao đối với việc điều hành công cuộc giáo dục ấy? Đây là vấn đề mà chính quyền Bảo hộ sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi đã rất lúng túng và thực sự chưa giải quyết được một cách thật thỏa đáng. Hiện có hai luận điểm. Luận điểm của “chủ nghĩa thực dân” có từ lâu, cho rằng dân nước Nam càng được học thì càng có thêm vũ khí chống lại sự đô hộ của Pháp, cho nên cứ duy trì họ trong tình trạng này càng lâu càng tốt, không cần phải cho họ học nghề nghiệp kỹ thuật để trở thành những thợ giỏi, những đốc công lành nghề, những viên chức thạo việc; sẽ là nguy hiểm cho ảnh hưởng của Pháp nếu cung cấp cho họ nền văn hóa tinh túy của Phương Tây, vả lại họ cũng không thể tiếp thu được cái thứ đó. Đó là một luận điểm thiển cận, ích kỷ, không xứng với các truyền thống hào hiệp của nước Pháp; một luận điểm hết sức bất công đối với năng lực trí tuệ của nòi giống chúng tôi vốn bao đời nay luôn say mê học hỏi, biết thưởng thức, tôn thờ văn chương và biện luận. May sao, đó không phải là luận điểm thắng thế. Còn đây là luận điểm thứ hai, khoan dung hơn, và đã được thừa nhận chính thức: đó là đưa lại cho người Nam một nền học vấn không chỉ dừng lại ở bậc cơ sở, nó đi dần từ thấp lên cao, gọi là đi theo từng bước tiến hóa của họ. Chính là nhờ được gợi ý từ luận điểm này mà chính quyền Bảo hộ những năm gần đây đã tăng thêm nhiều trường tiểu học, mở trường trung học và đặt mầm mống của trường đại học. Tất nhiên, việc đó chưa phải là lý tưởng, nhưng là một khởi đầu tốt đẹp, và chúng tôi rất biết ơn những người đã khởi xướng nó.

Nhưng ở đó nổi lên những khó khăn, chúng thực sự trở thành một vấn đề phải giải quyết trong việc giáo dục chủng tộc. Nếu như công việc được tiến hành với một dân tộc vô học hay một dân tộc mới sinh sống trên một vùng đất mới, một dân tộc không có quá khứ và lịch sử, thì chẳng hề có những khó khăn này. Khi đó ta chỉ việc đào tạo nó, nhào nặn nó ở chừng mức cao nhất theo hình ảnh nước Pháp, tóm lại là đồng hóa nó, “Pháp hóa” nó dần dần bằng cách đưa lại cho nó nền giáo dục Pháp ngày càng nâng cao theo đà tiến hóa của nó (cách nói này ở đây rất chính xác). Nhưng như tôi đã nói, dân nước Nam không phải là một tờ giấy trắng; đó là một cuốn sách cổ chứa đầy những dòng chữ được viết bằng một thứ mực không thể tẩy xóa từ bao đời nay; không một chất thử nào có thể tẩy xóa chúng được hoàn toàn và người ta không thể tự do muốn viết gì vào đấy thì viết. Người ta chỉ có thể đóng lại cuốn sách cổ đó theo một cách mới, bày biện nó theo lối hiện đại hơn, chứ đừng mơ tới việc viết vào đó một thứ chữ xa lạ đè lên thứ chữ đã có từ ngàn xưa. Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần phải biết đưa lại cho người Nam thứ giáo dục nào để khi truyền bá cho họ thứ văn hóa hiện đại bậc cao mà họ cần có thì không phải là “phi dân tộc hóa” họ, làm họ mất đi bản sắc dân tộc và cá tính lịch sử của mình, biến họ thành một trong những dân tộc vô định hình, không sinh khí, không còn nét độc đáo nào nữa, như một số thuộc địa cũ của Pháp đã bị sa vào (PT nhấn mạnh). Ở đây cũng có hai luận điểm. Một cho rằng vì người dân nước Nam cho đến tận bay giờ vẫn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên cần có thời gian làm cho ảnh hưởng Pháp chiếm ưu thế ở họ, muốn thế cần phải dạy tiếng Pháp rộng rãi để đến một ngày nó trở thành tiếng nói chính thức duy nhất của nước này, tiếng nước Nam sẽ dần biến mất hoặc chỉ còn sống lay lắt như một thứ thổ ngữ đơn giản. Khi mà tất cả trẻ em nước Nam đèu nói tiếng Pháp thì nước Nam đã tiến một bước lớn trên con đường tiến bộ. Luận điểm này nghe có vẻ đậm đà, tròn trịa, nhưng nó có đúng không? Nó đã tính sát thực tế chưa? Liệu ở đây người ta có nhầm lẫn giữa ngôn ngữ và văn hóa là hai cái khác nhau, cái này không nhất thiết bao hàm cái kia? Liệu đã có thể nói một việc biết nói tiếng Pháp khá thành thạo là đủ nắm được văn hóa Pháp không? Biết đâu nền văn hóa đó lại chẳng thấm vào đầu óc dân nước Nam tốt hơn thông qua chính tiếng nước Nam? Cứ cho rằng một ngày nào đó tất cả trẻ em nước Nam biết nói lúng búng mấy từ tiếng Pháp – bởi vì để nắm vững một thứ tiếng ngoại quốc khác với tiếng chúng tôi như tiếng Pháp thì cần phải nỗ lực, phải làm việc, phải kiên trì, phải có ý chí điều này không phải mọi trí thức đều làm được, mà chỉ là việc của bộ phân tinh hoa – khi mà tất cả trẻ em nước nam nói một thứ tiếng Pháp “giả cầy” nhưng đồng thời lại không học được tiếng mẹ đẻ do không đem dạy trong nhà trường nữa, liệu như thế có thật sự là bước tiến bộ lớn đối với chúng tôi không? Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thật sự, sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ dầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp? Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán lẫn chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?

Luận điểm thứ hai vẻ như là luận điểm chính thức thì ít cực đoan hơn và có để ý tới những sự chuyển đổi; nhưng thực chất nó cũng gần như luận điểm đầu ở chỗ nó cũng thực hiện sự đồng hóa, một sự đồng hóa từ từ và ít thô bạo hơn. Nó không tuyên bố tiếng Pháp là bắt buộc đối với tất cả dân nước Nam, nhưng nó cũng chỉ để cho tiếng nước Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở đầu bậc tiểu học. Luận điểm này hợp lý hơn, công minh hơn luận điểm trước chăng? Chúng tôi không nghĩ thế, và điều khẳng định ý kiến của chúng tôi là kết quả của nền giáo dục chính thống. Những người Nam học trường Pháp ngày càng có xu hướng mất chất người Nam, song đâu có vì thế mà học gần hơn với các thầy người Pháp trừ chỗ giống thầy ở bề ngoài.

Nhiều người thậm chí du học ở Pháp khi về nước đầy những học vị và bằng cấp đã hầu như quên hết tiếng mẹ đẻ và trở thành người mất gốc trên chính quê hương mình. Và Chính phủ định dựa vào những người đó để truyền bá trong dân chúng tư tưởng và ảnh hưởng Pháp thì thực là không thu được lợi lộc gì, bởi vì khi không nói được hay nói kém tiếng nói của đồng bào mình thì làm sao họ có thể có chút ảnh hưởng gì đến đám đồng bào kia? Chưa kể là, đôi khi thậm chí họ đi đến chỗ không gây được thiện cảm với dân chúng và họ tự nguyện bỏ quốc tịch Nam chuyển sang quốc tịch Pháp. Trong khi những người Nam học hành theo kiểu Pháp bị “phi Nam hóa” như vậy thì các nhà nho cũng co cụm lại, bắt đầu tìm hiểu tư tưởng Pháp bằng cách đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire qua bản dịch tiếng Hán!

Việc giáo dục người Nam của nước Pháp vậy là đã trở thành một vấn đề vô cùng phức tạp, chưa được xem xét rõ ràng và với sự khách quan cần thiết. Nó là vấn đề sống còn đối với dân tộc chúng tôi và toàn bộ tương lai của chúng tôi là tùy thuộc vào cách nó được giải quyết.

Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, nhưng người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thông lâu đời của chủng tộc mình.

Cần sử dụng những phương cách nào để đạt được mục đích đó? Vấn đề này đòi hỏi phải được đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ, phải được vạch ra từ một cách nhìn vượt lên trên mọi điều nhỏ nhặt về chính sách ở bên nước Nam hoặc ở bên chính quốc. Như tôi đã nói, đây là một vấn đề thực sự đặt ra cho việc giáo dục chủng tộc mà nhà tư tưởng, nhà xã hội học cũng như nhà chính khách đều quan tâm như nhau. Đây là một vấn đề mà nhân danh đồng bào của tôi, tôi muốn được thấy ánh sáng chiếu rọi từ các bậc thầy danh tiếng của Viện Hàn lâm nước Pháp.

Nhưng dù Chính phủ Pháp chọn giải pháp nào cho là thích hợp với vấn đề này, đồng bào tôi vẫn hoàn toàn tin tưởng vào thiên tài giáo dục của nước Pháp. Để kết thúc bài phát biểu ngắn này, tôi xin phép dẫn ra đây một đoạn dài trong bài của một Giáo sư đại học Pháp quốc viết sau chuyến đi khảo cứu ở Viễn Đông trở về. Khi nói đến lòng nhiệt thành của giới thanh niên Trung Quốc hiện nay đối với tư tưởng và văn hóa Pháp, tác giả đã bày tỏ những điều không chỉ đúng cho giới trẻ nước Nam, mà còn đúng với toàn thể cho giới tinh hoa trí thức nước Nam nữa:

“Chính là với tư cách một tổ quốc chung của những con người có đầu óc tự do, trong tư cách mẹ đẻ của những học thuyết giải phóng chính trị và xã hội mà nước Pháp đã thu hút được thanh niên Trung Hoa đang khao khát tự do và công lý. Cái họ thích nhất ở Pháp, đó là đất nước của các “nhà triết học”, của Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte, đất nước của các nhà sử học như Michelet, của các nhà thơ như Hugo, của các nhà hùng biện như Jaurès, những con người bằng ngôn ngữ tuyệt diệu của họ nói lên được cả cái thiên tư đặc trưng của nước Pháp lẫn cái lý tưởng chung của nhân loại.

“Nếu đã là như vậy, nếu như giới trẻ Trung Hoa có một thứ bản năng sáng suốt và một sự gần gũi trong lựa chọn đã hướng cả về giới trí thức Pháp để tìm ở đó người dắt dẫn tự nhiên của họ, thì thờ ơ trước tiếng gọi đó chẳng phải là có lỗi sao? Chính vào lúc nhiều dân tộc Viễn Đông muốn thoát khỏi tình trạng biệt lập từ xa xưa của họ, Trung Hoa đã hướng đến các bậc thầy Pháp và nói: “Hãy nắm lấy lớp thanh xuân nước tôi, hãy truyền cho họ khoa học, phương pháp, luật pháp và triết học của các ngài. Chúng tôi muốn được học để tự giải phóng. Hãy đưa lại cho chúng tôi những khả năng đi vào xã hội của các dân tộc tự do, không phải như một người khách được lịch sự mời ngồi trong phòng khách, mà như một dân tộc có nền văn hóa tinh thần cao, những con người sẽ cùng làm việc với các ngài cho nền hòa bình của thế giới. Hỏi có nhiệm vụ nào cao đẹp hơn? Chắc chắn nó sẽ khó khăn, nó đòi hỏi nhiều tới ý chí kiên trì theo đuổi. Nhưng nếu ở cả hai nước người ta tin tưởng vững chắc vào tầm quan trọng của nó thì nhiệm vụ này sẽ đi đến kết thúc tốt đẹp…”

Và tác giả kết luận:

“Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hóa kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hòa giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang. Những lợi lộc vật chất ở đó không ngăn cản được cảm nhận của kẻ thấy mình bị bóc lột: nó hiểu rằng không lợi lộc nào bù đắp nổi cảnh bạo hành chính nó phải gánh chịu. Từ đó mà có những yêu sách liên tiếp và ngày càng chua chát khó chịu, và những xung đột không lối thoát. Ngược lại, một ảnh hưởng thuần trí tuệ và luân lý, được chấp nhận một cách tự do và thậm chí là được cầu khẩn, như trường hợp nước Trung Hoa đang trông đợi ở nước Pháp đây, chỉ càng làm cho hai dân tộc quyến luyến nhau lâu dài. Ta chẳng phải trả giá cho những cuộc chinh phục này bằng máu và nước mắt. Những cuộc chinh phục này cũng chẳng làm ai ghen tức:  trong lĩnh vực tư tưởng, cạnh tranh là tự do. Ở thế kỷ XX, chỉ một nước Pháp, dù chiến thắng mà vẫn trung thành với thiên tư mang bản chất người của mình, là duy nhất xứng đáng với những cuộc chinh phục tinh thần ấy.”*

Tôi còn biết nói gì thêm vào những lời lẽ hùng hồn cao cả này, nếu không muốn nói rằng chính là ở Pháp đã có những đầu óc cao siêu, những trái tim hào hiệp đang xem xét vấn đề giáo dục của chúng tôi từ một tầm cao thật sự xứng với một ý thức Pháp và một tấm lòng thanh thản cả gan nhìn về tương lai?

Nhưng “các dân tộc cũng gống như các cá nhân, vào thời khắc quyết định vẫn thường thiếu đầu óc tưởng tượng cần thiết để nhận rõ được các quyền lợi đích thực của họ. Những kẻ vẫn còn nô lệ vào những châm ngôn chính trị từ đời nảo đời nào vẫn chẳng học nổi điều gì bổ ích, họ đang kiệt sức khi cứ đi mãi về những hướng chẳng dẫn họ đi tới đâu, và mù tịt lướt ngang bên cạnh cái đích mới mẻ mà lẽ ra họ phải tìm tới…”

Những con người suy tư có nhiệm vụ khơi gợi cho những con người hành động cái đầu óc tưởng tượng cần thiết này để nhận biết các quyền lợi đích thực của họ và chỉ cho họ thấy cái đích mới mà họ cần hướng mọi nỗ lực vào đấy. Phải chăng ta có thể tìm thấy những con người suy tư hào hiệp và sáng suốt ấy ở ngay trong ngôi nhà cổ xưa này của trí tuệ và minh triết nước Pháp, ngôi nhà đã bao đời nay làm nổi danh nước Pháp trên toàn thế giới?

Paris, 22-7-1922

P.Q.


* L’ébranlement du monde jaune (Sự rung chuyển của thế giới da vàng) của X.X.X. (tức giáo sư Lévy-Bruhl), Revue de Paris (Tạp chí Paris) 15/10/1920

Tháng Bảy 24, 2015

Văn hóa và chính trị

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 8 năm 2015.

VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ

Thượng Chi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Nam Phong số 107 (7/1926) đăng một bài quan trọng của Phạm Quỳnh ký bút danh Thượng Chi. Đó là bài Văn hóa và Chính trị mà chúng tôi đăng lại toàn văn sau đây để quý bạn đọc còn yêu quí Thượng Chi – Phạm Quỳnh cùng thưởng thức bài báo cách nay ngót 90 năm.

—o0o—

Kỳ trước bản chí có đăng một bài đại luận của ông Trần Văn Tăng đề là Quá khứ và hiện tại. Thật lâu nay trong các báo chí ta chưa có mấy bài luận thuyết có giá trị và có đặc sắc bằng bài ấy. Lập luận đủ cao xa cho cai quát được cả vấn đề, thuyết lý đủ tinh vi cho khám phá được khắp mọi lẽ, trước sau có mạch lạc, trên dưới có thống hệ, lại tham bác Đông Tây, dẫn chứng kim cổ, mà nghị luận vẫn có cái vẻ điềm đạm thung dung, không có lời kịch liệt, không có giọng chua cay, uyển nhiên ra cái thái độ một kẻ học giả Đông phương vậy.

Trong bài trường thiên luận thuyết đó, tác giả đã bày rõ cái vấn đề căn bản của nước ta ngày nay. Vấn đề ấy tóm lại hai điều như sau này: “1. làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính; 2. làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn.”

Tác giả đứng về phương diện triết lý, cho nên xét cái vấn đề tận chỗ căn nguyên, chỗ cứu cánh, phát minh ra cái lẽ xung đột hai văn minh Đông Tây, suy diễn ra cái hiểm tượng cho vận mệnh chung cả nhân loại và vận mệnh riêng của giống mình. Nhưng dù nghị luận cao xa, dường như thuộc về thuần lý hơn thuộc về thực tế, mà cái mục đích của tác giả chẳng qua cũng chỉ là muốn giúp cho công việc “vãn hồi quốc vận phù cứu quốc nguy” mà thôi.

Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được.

Tôi cũng xin vì mục đích ấy và thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế ngày nay.

Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn? – Hai câu hỏi đó, mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai, có giải quyết được câu thứ nhất, thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng là gồm ở trong phạm vi văn hóa. Thành ra cái vấn đề sinh tử cho nước ta ngày nay, xét cho cùng, suy cho kỹ, chỉ là một vấn đề văn hóa, phần chính trị chẳng qua là một phương diện, một phương tiện, một bộ phận, một thời kỳ trong toàn thể cái vấn đề lớn lao đó.

Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy phương diện văn hóa mới thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy thời thế, tùy cơ hội phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thời ngọn mới tốt được.

Ngày nay ai là người có bụng để đến việc nước, có chỉ mưu về việc nước, cũng hăm hở châu tuần về phương diện chính trị, băn khoăn muốn giải quyết cho được cái câu hỏi thứ nhất: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính?

Nước Nam ta hiện chửa là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chửa được là một nước chân chính là bởi không có chủ quyền về chính trị điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết. Đã thế thời cái cấp vụ ngày nay há chẳng phải là tìm đường để thu phục lấy cái chủ quyền chính trị đó dư? Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: một cách bạo động, một cách ôn hòa. Cách bạo động thời bất tất phải nói: muốn bạo động phải có sức mạnh; đã có sức mạnh thời ngăn cho đừng bạo động cũng không được, mà chửa có sức mạnh thời giục cho cứ bạo động cũng vô ích; cái sức mạnh cổ lai không cần đến lý luận bao giờ. Đến như cách ôn hòa thời thủ tục tuy phức tạp, tôn chỉ cũng là một: là châm chước vận động để yêu cầu cho kẻ cầm quyền dần dần nhường lại cho mình từng cái quyền lợi một. Đã không có sức mạnh mà dùng cách bạo động thời tất phải nhẫn nhục mà theo cách ôn hòa. Nhưng dù dùng cách bạo động hay theo cách ôn hòa, tổng chi cũng là vận động về chính trị cả, và mục đích cận tiếp là thu phục lấy cái chủ quyền về chính trị, mà mục đích cao xa là khiến cho nước Nam ta trở nên một quốc gia chân chính.

Nay thử xem hai cái mục đích đó có thể chỉ dùng sự vận động chính trị mà đạt tới được hoàn toàn không; hay là sự vận động chính trị phải hàm có cái ý nghĩa văn hóa, mà cái ý nghĩa văn hóa mới thật là thiết thực thâm trầm.

Theo ý kiến tôi thời cái thuyết thứ nhì là phải hơn. Mà ông Trần Văn Tăng sở dĩ thiết tha nghị luận về văn minh Đông Tây cũng là đồng một ý kiến như thế, cũng là cho phương diện văn hóa có lẽ là quan trọng hơn phương diện chính trị, và cái vấn đề của quốc dân ta phải giải quyết ngày nay chính là một vấn đề văn hóa vậy. Bởi ông đứng cao và bàn rộng về triết lý, nên chưa xét đến thực tế. Tôi muốn bổ tiếp cho lời bàn của ông mà chứng nghiệm ngay về tình trạng nước Nam ta ngày nay.

Nước Nam ta đã mất quyền độc lập về chính trị trên dưới năm mươi năm nay. Kể cái tình cảnh mất nước thời trong lịch sử chúng ta cũng đã từng trải đôi phen và chịu đựng lâu đời, không phải mới một ngày nay. Nhưng xưa kia thời mất nước là bị nội thuộc vào một nước đồng hóa mà đồng văn, có gặp cái khốn cảnh “vong quốc” nhưng không phải cái hiểm tượng “tiêu hồn”; nông nỗi mất nước chẳng qua chỉ là một vấn đề chính trị, có thể giải quyết bằng phương pháp chính trị, (sự chiến tranh cũng là một phương pháp ấy), không có ghép thêm một cái vấn đề văn hóa phiền phức mà gian nan. Ngày nay thời không thế: cái tấn kịch nhỏ trong cái đại bi kịch của thế giới bây giờ, là cái bi kịch Đông Tây xung đột nhau, Tây phương đem cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại, những cơ khí tối tân mà tràn ngập sang Đông phương, trong khoảng một thế kỷ nay làm cho các dân tộc Đông phương thất điên bát đảo, bảy nổi ba chìm, tới nay hãy còn tê mê lăn lóc, chưa tỉnh sự đời. Thành ra nông nỗi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi, lại kèm thêm một vấn đề văn hóa nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng. Chúng ta ngày nay thật là vừa gặp cái khốn cảnh “vong quốc”, vừa phải cái hiểm tượng “tiêu hồn”, hiểm tượng này lại còn nguy ngập cho ta bội phần. Xưa kia nước có mất mà hồn hãy còn, thời hồn vẫn còn nước không đến nỗi mất hẳn. Nay có khác: nước đã mất mà hồn cũng thoi thóp, thời nguy hiểm ấy to biết dường nào!

Vậy thời cái cấp vụ của chúng ta là phải dùng những kế hoạch tạm thời để thu lấy mấy cái quyền lợi trước mắt, hay là tìm những phương pháp trường cửu để phục vụ lấy cái tinh thần cố hữu? là phải châu tuần về phương diện chính trị là phương diện trên, hay là chuyển chủ phương diện văn hóa là phương diện dưới?

Hai dàng vốn không có phản trái gì nhau, duy chỉ có nông sâu rộng hẹp khác nhau mà thôi. Cứ lấy cái kết quả nhỡn tiền mà xét thời phương diện chính trị có lẽ là cần hơn; cứ lấy cái thực hiệu chân chính mà nghiệm thời phương diện văn hóa xem ra mới thiết thực. Hai đàng có thể đồng thời thi hành được, nhưng muốn cho có hiệu quả chắc chắn thời phải chuyên chủ về phương diện văn hóa trước, hễ phần văn hóa giải quyết được thì phần chính trị cũng giải quyết xong; nếu chỉ trì trục về một đường chính trị mà nhãng bỏ hẳn đường văn hóa thì có kết quả rút lại cũng là hư không vậy.

Như trên kia đã nói, vận động về chính trị có hai cách: cách bạo động và cách ôn hòa. Cách bạo động, không nói làm chi, nói cũng vô ích; muốn bạo động, phải có sức mạnh; sức mạnh không có, bạo động thế nào? Sức mạnh không có mà bạo động, ấy là xuẩn động, tai hại vô cùng. Hoặc giả nói: sức mình không có, nên mượn sức người; miễn là phá hoại cho được cường quyền, rồi sau kiến thiết thế nào sẽ liệu. – Nói thế là nói liều: xưa nay có việc gì không tự lực, không thực lực mà làm nên được không? có người nào mượn sức người mà nổi được cơ đồ không? Thuộc về sự nghiệp nhỏ mọn của cá nhân còn thế, huống chi là thuộc về vận mệnh lớn lao cả một quốc gia, một dân tộc.

Duy có cách vận động ôn hòa, là lấy pháp luật, lấy dư luận mà yêu cầu cho kẻ cầm quyền phải nhượng dần quyền lợi cho mình. Cách này là chánh đáng, phàm chính phủ văn minh không bao giờ ngăn cấm.

Vậy nay ta thử xét xem nếu chỉ vận động về đường chính trị như thế, không vận động về đường văn hóa ở ngoài, có thể thành được kết quả chân chính không.

Cái kết quả tạm thời thời tất có, cái kết quả chân chính thời chửa chắc. Phàm vận động về chính trị, tất phải dùng đến khí giới về chính trị. Lối chính trị ngày nay, lối chính trị của các nước gọi là nước “văn minh” ngày nay, lại chính là một cái kết quả bất lương, một cái trạng thái ác liệt của cái văn minh Tây phương nọ. Tây nho, ông Guglielmo Ferrero nước Ý đã giải thích văn minh Tây phương là cái văn minh chỉ có “lượng” (quantitative), không có “phẩm” (qualitative). Lối chính trị Tây phương cũng tính cách ấy, mà lại diễn đến cực đoan; có khách hoạt kê đã phê bình cách chính trị ấy một câu như sau này: “Ở các xã hội dân chủ chúng tôi, bốn mươi chín ông Hàn lâm không bằng mươi mốt thằng gánh đểu”. – Cái lợi khí đệ nhất của cách chính trị ấy là cái vé bầu cử, mà cái phương pháp tuyệt luân là lối siểm mị công chúng, tệ hơn siểm mị cá nhân gấp mấy lần. – Nay chúng ta trì trục về chính trị, thiết tha mà yêu cầu, là kêu nài cho được gì? Chẳng qua mỏi miệng đòi cho được lợi dụng cái khí giới ấy, thi hành cái phương pháp ấy; tùng sử được nữa, phỏng có dáng bao? Huống lại còn khó nhọc mới được mà cũng miễn cưỡng mới cho, trao tay này giật tay khác, và miếng nọ chắp miếng kia, thành ra những cái chế độ “lang lổ”, những cái hình thức “lố lăng”, không thích thiết cho dân tình quốc vận một chút nào. Vẫn biết rằng lối chính trị ngày nay chỉ toàn ở những chế độ, những hình thức đó mà thôi, chúng ta muốn có hoạt động về chính trị thời những chế độ, những hình thức đó cũng phải có, cũng phải tập, dẫu chẳng hay ho gì, nhưng thiên hạ thế cả, mình cũng phải thế, tựa hồ có thế mới ra vẻ một quốc gia đời nay. Người ta xướng dân chủ, mình cũng xướng dân chủ; người ta cầu tự do, mình cũng cầu tự do; người ta đòi bình đẳng, mình cũng đòi bình đẳng; chẳng qua là “nhượng bộ” cho lưu tục đó mà thôi, chứ những cái tư tưởng “tha phương” đó, ta đã biết nó thế nào mà chắt chiu yêu dấu, ta đã rõ nó thế nào mà cầu khẩn thiết tha. Biết đâu cái mầm họa hại cho ta lại không ở đó mà ra cũng có?

Cho nên phàm vận động chính trị mà không đồng thời vận động văn hóa, thời là vận động bông lông cả, là nhắm mắt theo liều, là a dua vô ích cả. Những cái lý thuyết phất phơ lơ láo của Tây phương truyền sang cho ta, ta cần phải sát hạch cho kỹ, nếu quả có lợi mà không có hại thời hẵng nên để vào tai mắt, gửi vào tâm tư, còn thời nên hoài nghi hết cả. Nhưng muốn cho có đủ tư cách mà sát hạch được của người cho biết là hay hay dở, thời tự mình cũng phải có cái bản lĩnh thế nào để làm thước đo để làm tỉ lệ. Nếu chính nhân cách mình cũng phất phơ lơ láo, thời thể sao mà phán đoán được người? Cho nên việc cần cấp ngày nay không phải là chỉ yêu cầu lấy quyền lợi, mà lại phải bồi bổ lấy tinh thần, gây lấy tư cách của chủng tộc thế nào cho thành cái bản lĩnh vững vàng chắc chắn có thể chống đối với những cái phong trào ác liệt ngày nay. Muốn cho được độc lập về chính trị, thời trước phải biết tự lập về tinh thần, mà muốn cho tự lập về tinh thần thời đối với cái văn hóa cũ của Đông phương phải biết trân trọng mà giữ gìn lấy, đối với cái văn hóa mới của Tây phương phải biết cẩn thận mà kén chọn kỹ. Nói tóm lại thời phải có một cái bản lĩnh chân chính mới tạo thành được một quốc gia chân chính. Nếu chửa có cái bản lĩnh chân chính thời dẫu có quyền bầu cử, có đặt Nghị viện, có được tự do, cũng là chuyện mô hồ huyễn diệu cả.

Trong hai câu hỏi: – Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? – Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần, về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn? – câu thứ nhì mới thật là quan trọng, hễ câu thứ nhì giải quyết được thời câu thứ nhất cũng giải quyết xong; hễ chúng ta gây được một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần, về thực tế, thời nước Nam ta tiện thị trở nên một quốc gia chân chính và hoàn toàn. Trong hai phương diện của cái đại vấn đề quốc gia ngày nay, phương diện chính trị và phương diện văn hóa, phương diện dưới tuy cao xa mà khẩn thiết, quốc dân ta cần phải chuyên chủ hơn nhất.

T.C.

Tháng Sáu 16, 2014

Bài học lịch sử

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 6 năm 2014.

 

BÀI HỌC LỊCH SỬ

Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi giới thiệu với các bạn một phần bài của Phạm Quỳnh viết năm 1929, trích từ bài Bài học lịch sử, nguyên văn viết bằng tiếng Pháp, qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, trong sách Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) do Nhà xuất bản Tri Thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2007 tại Hà Nội, từ trang 116 đến 121.

—o0o—

Lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục; nó còn khích lệ. Nó làm nguôi ngoai, đem lại sự bình tâm; nó xoa dịu những nôn nóng cũng như những âu lo và cung cấp chỗ dựa cho niềm tin và hy vọng. Giữa những ưu tư nặng nề trước các khó khăn hiện tại, nó đưa lại sự tĩnh tâm thư thái khi thanh thản chiêm nguỡng quá khứ vì dường như ta được tham dự vào sự bất tận của thời gian và vĩnh hằng của muôn vật. Nó là một phương thuốc tuyệt vời chống lại sự nản lòng và bi quan.

Khi ta có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử, thì trong những lúc thất vọng hay hoài nghi, sẽ là một khích lệ tuyệt diệu nếu biết nhớ lại thiên sử thi anh hùng dài lâu của tổ tiên và rút lấy từ trong các bài học của quá khứ những sức mạnh cần thiết để đối mặt với hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

Phương thuốc chữa bệnh tinh thần bằng cách thả chìm mình trở lại trong quá khứ sâu thẳm của giống nòi để nhận được từ đấy những ngọn nguồn năng lượng và ý chí không ngờ, để được cộng cảm thân thiết với “đất đai và những người đã mất” là bổ ích chẳng gì bằng, và không có liệu pháp nào hơn cách thức ấy để loại bỏ khỏi tâm hồn đôi lúc cái cảm giác chán nản khi ta thấy hoang mang và bất lực trước một sự kiện và bỗng hoài nghi tất cả, chính mình và mọi người khác.

Tôi đã nhiều lần trải qua kinh nghiệm đó và tôi vừa có dịp được trải nghiệm lại những ngày này cùng với các bạn Nam Kỳ và Trung Kỳ (…) qua một cuộc du ngoạn đến đền Cổ Tích.

(…) Ngôi đền này nằm trên một ngọn đồi cây cối rậm rạp cách Phú Thọ khoảng mười ki-lô-mét về phía hạ lưu, thờ đời vua Hồng Bàng thứ nhất, những vị vua nửa truyền thuyết nửa lịch sử, dưới tên gọi là Hùng Vương, đã trị vì từ năm 2879 đến năm 258  trước Công nguyên.

Madrolle[*] viết: “Qua khỏi sông Thao, những cánh đồng rộng vùng châu thổ liền biến mất: nền đất gấp khúc mạnh và con đường sắt phải leo lên bằng cách lượn quanh các sườn dốc đầu tiên ở gần đường phân thủy giữa sông Hồng và sông Thao.

“Về phía bên phải, một dãy đồi gợi lên trong tâm trí người nước Nam những khúc uốn lượn của Con Rồng; đỉnh cuối cùng, Nghĩa Cương, cao hơn cả và phủ đầy rừng, có một Hùng Vương, vị vua cuối cùng của triều đại Hồng Bàng… Nghĩa Cương, thường được gọi là Núi Đền, nằm cách ga Tiên Kiên 3km5 về hướng Đông Bắc. Nó thuộc làng Hy Cương mà tên dân gian gọi là làng Cổ Tích; quả là ở đấy người ta còn lưu giữ ký ức sùng kính về vị thủ lĩnh người nước Nam cuối cùng của nước Văn Lang, đã chết tại đây (năm 258 trước Công nguyên) khi bị các đoàn quân của vua Thục truy đuổi…”.

Đất nước Văn Lang bao gồm toàn bộ vùng Phú Thọ và Việt Trì này, ở đấy có thể nói mỗi làng, mỗi thôn ấp đều còn lưu giữ ký ức về triều đại quốc gia đầu tiên và quả đúng là cái nôi của nước Nam. Chính tại đây năm trăm năm trước Công nguyên, các bộ lạc Giao Chỉ đầu tiên đến từ miền Nam Trung Hoa đã định cư, tập họp nhau lại dưới quyền uy của những vị thủ lĩnh được công nhận và tạo nên cái hạt nhân về sau sẽ trở thành tổ quốc Nam Việt. Vậy nên người nước Nam biết ơn các vị tổ tiên xưa của nòi giống, qua bao nhiêu thế kỷ đã không ngừng cung kính thờ phụng. Có vô số các đền miếu các vị vua Hùng, nhất là ở vùng này nơi cửa ngõ của Châu thổ, nơi ghi dấu giai đoạn đầu tiên trong hành trình thắng lợi của các hậu duệ người Việt trong công cuộc chinh phục toàn Đông Dương.

Trong số đó đền Cổ Tích nổi tiếng hơn cả. Quả nhiên ở đây việc thờ phụng không chỉ mang tính chất địa phương, mà là của cả quốc gia. Từ những thời rất xa xưa, đến ngày đã định, – ngày mồng 10 tháng Ba, – tại đây diễn ra những lễ hội lớn lôi kéo một đám đông đáng kể đến từ khắp nước. Triều đình cử một vị quan, – thường là vị quan tỉnh sở tại, – thay mặt nhà Vua cử hành nghi lễ cúng “các vị tổ tiên của giống nòi”(…)

Vậy nên với tư cách là những kẻ hành hương hơn là những khách du ngoạn, những kẻ hành hương, nếu không “mê đắm”, thì ít ra cũng là đầy ý thức và hăng hái, dưới một màn mưa bụi báo hiệu những trận mưa phùn sẽ đến, các bạn thuộc ba Kỳ chúng tôi đã trèo ba trăm bậc từ chân núi Hy Cương dẫn lên đến ngôi đền và mộ vua nằm trên đỉnh. Như những đứa con đầy lòng hiếu thảo tất cả chúng tôi đã thắp những nén hương truyền thống và cúi lạy trước bàn thờ đặt những bài vị ghi rõ “Bài vị mười tám đời vua Hùng của nước Việt cổ”. Thật cảm động khi được thấy những con người có văn hóa, được đào tạo trong nền giáo dục hiện đại, vốn xa rời các truyền thống quá khứ, nay lại đang thực hiện cái nghi lễ tôn kính, sùng bái truyền thống này trước một tấm bài vị bằng gỗ đối với họ trong giờ phút này là biểu trưng của linh hồn tổ quốc vĩnh hằng.

Mọi người đều thi nhau bình phẩm vô số những câu đối và những bài thơ trang trí các cây cột và các bức vách của ngôi đền, tất cả đều ngợi ca tính cổ xưa đáng tôn kính của giống nòi và niềm vinh quang bất diệt của các vị vua đầu tiên. Khi chúng tôi quyết định ra về, thì trời đã quang, sương mù buổi sáng đã tan và từ trên ngọn núi thiêng có thể nhìn thấy quang cảnh tuyệt vời của toàn vùng chung quanh cho đến chỗ hợp lưu của ba con sông, Sông Thao, Sông Hồng và Sông Đà, hai bên có hai khối núi lớn Ba Vì và Tam Đảo, hai vị thần canh giữ cho vùng Châu thổ, như cách nói ý nhị của Boissière.

Trên chuyến xe trở về Hà Nội, tôi kể lại với các bạn tôi những giai đoạn bành trướng liên tục của giống nòi chúng ta, trong những thế kỷ đầu tiên trước Công nguyên vốn tập họp nhau ở cửa ngõ của Châu thổ Bắc Kỳ, đã dần dần tràn xuống châu thổ, càng lúc càng đổ về phương Nam, và cuối cùng đã chinh phục toàn bộ phần phía Đông và phía Nam bán đảo Đông Dương. Công cuộc “Nam tiến” này quả là sự kiện nổi bật trong lịch sử chúng ta; nó là biểu hiện ý chí, sức sống của dân tộc chúng ta mà những khó khăn không sao kể hết, những cuộc chiến đấu liên miên chống lại những người láng giềng hùng mạnh không thể chặn đứng đà bành trước không gì cưỡng lại được.

Tôi không thể không nhắc lại ở đây kết luận của nhà bác học lớn đã mất Léonard Aurousseau[†] trong một công trình nghiên cứu bậc thầy viết về “Nguồn gốc của người nước Nam”, kết luận nêu bật một cách ngắn gọn đầy ấn tượng các giai đoạn vinh quang của cuộc hành tiến ấy:

“Không một nguyên cớ nào lẽ ra đã có thể đánh gục một quốc gia đang hình thành (các cuộc xâm lược liên miên, ách đô hộ kéo dài suốt mười một thế kỷ) thắng nổi sức sống của người nước Nam. Là những chủ nhân về mặt dân tộc học của những vùng đồng bằng và thung lũng Bắc Kỳ từ thời khởi đầu thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, xã hội phong kiến của họ đã trở nên thịnh vượng ở đấy; rồi những làn sóng người di cư không ngừng nối tiếp của họ tiếp tục tràn về phương Nam và mang đi đến nơi xa nhất những chấn động cuối cùng của xung động mà những người Yuê (Việt) đã tạo nên từ thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Họ đi đến vùng trung nước Nam vào cuối thế kỷ sau đó. Ở đấy các bộ tộc về sau đã tạo nên vương quốc Chàm hùng mạnh đã buộc họ phải dừng lại một thời gian dài.

“Lúc này phần chủ yếu trong nhiệm vụ đã được hoàn thành, nước Nam, trở nên khả thể, chẳng bao lâu đã được hình thành. Những người con của họ sẽ còn giữ được tốc độ từng đạt được như một sức mạnh tiềm tàng và, bằng những cú đấm lặp đi lặp lại, sau nhiều năm dài chinh chiến, cuối cùng đến năm 1471 đã đánh bại đối thủ thuộc nền văn minh Ấn Độ của mình, để tiếp tục lấn sâu hơn nữa về phương Nam, lần lượt tiến đến Qui Nhơn vào cuối thế kỷ XV, đến Sông Cầu năm 1611, Phan Rang năm 1653, Phan Thiết năm 1697, Sài Gòn năm 1698, Hà Tiên năm 1741. Cuối cùng, trong nửa đầu thế kỷ XVIII, người nước Nam đã hoàn thành công cuộc bành trướng của chủng tộc mình bằng cách chiếm toàn bộ vùng Nam Kỳ ngày nay.

“Sau khi đã thiết lập hoàn tất quốc gia của mình như chúng ta thấy ngày nay, người nước Nam dừng lại, với ý thức đã vinh danh những nỗ lực đầu tiên của tổ tiên xưa bên bờ duyên hải Trung Hoa và thỏa mãn vì, sau hai mươi hai thế kỷ chiến đấu, đã lập nên một Tổ quốc xứng đáng với tài năng của chủng tộc mình”.

Một dân tộc đã làm nên một sự nghiệp liên tục suốt hơn hai mươi thế kỷ, chứng tỏ những đức tính tốt đẹp nhất về nghị lực, về sức chịu đựng, về ý chí bền bỉ và kiên định, hẳn còn chưa dừng lại; một số phận vinh quang còn mở ra trước mắt chúng ta (…)

Chúng tôi đã chia tay nhau trong niềm hy vọng đó, phấn khởi vì cuộc du ngoạn thành tâm của chúng tôi lên ngọn núi thiêng đã cho chúng tôi được sống đôi giờ trong niềm cộng cảm với những vị tổ tiên vĩ đại và vì bài học bổ ích rút ra được từ đó.

(1929)

P.Q.

 


[*] Madrolle là người viết nhiều sách về hướng dẫn du lịch cho chính quyền Đông Dương, như: Indochine du Nord (Bắc Đông Dương) do nhà xuất bản Hachette, Paris xuất bản năm 1923, Indochine du Sud (Nam Đông Dương) … Sách của ông là tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu địa lý, lịch sử. (PT chú)

[†] Léonard Aurouseau, 1888-1929, làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội từ 1911 đến 1929, từ 1926 đến 1929 là giám đốc Trường này. Tác phẩm quan trọng: Văn Miếu Hà Nội (1913), Thuyền “tam bản” là từ Hán?, Giới thiệu Địa lý lịch sử nước Nam, Hà Nội qua lịch sử (1922), Hai báo cáo khai quật khảo cổ ở Quảng Bình (1926). Bạn đọc cần nghiên cứu sâu thêm có thể tham khảo Một thế kỷ nghiên cứu của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội (TVĐBC, 2000) (BT).

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.