Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 15, 2017

Chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 4 năm 2017.

CHUYỆN KỂ CỦA MỘT CHIẾN SĨ XE TĂNG

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão 2011, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

–    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

–    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

–    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

–    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Tháng Mười Hai 15, 2016

Chúng tôi đã sống như thế: Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

Chúng tôi đã sống như thế:

BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 46 đến trang 54)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Ba Tuyet sach chung toi da song nhu the*

*     *

Chúng tôi mời quí bạn đọc bài của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, người vợ hiền, người bạn đời của nhạc sĩ, viết về Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên, để hiểuPham Tuyen_Nguyen Anh Tuyet rõ vì sao nhạc sĩ đã chọn, và kiên trì đi theo con đường mình đã chọn nửa thế kỷ nay.

Phó giáo sư tiến sĩ tâm lý học Nguyễn Anh Tuyết sinh năm 1936 tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một gia đình cách mạng. Cha thoát ly gia đình đi hoạt động, ít khi có nhà. Sau đó, mẹ cũng giác ngộ cách mạng và thoát ly luôn. Bé Nguyễn Anh Tuyết được gửi về quê sống với bà ngoại và dì. Sau đó mẹ gửi vào ăn học ở trại Thiếu Sinh Quân Quảng Trị đóng trên đất Hà Tĩnh, rồi sang học trường Phan Đình Phùng. Học dở dang thì có người đến đón lên Nghệ An để “sang Trung Quốc học theo tiêu chuẩn con em cách mạng”.

Từ đó, Nguyễn Anh Tuyết sống và học tập ở Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc), gặp, yêu thương rồi sau này thành vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên từ năm 1957. Nay ông bà đã có hai con gái, hai con rể, ba cháu ngoại, quá tuổi tổ chức Đám Cưới Vàng rồi mà vẫn sống hạnh phúc bên nhau: người này là điểm tựa cho người kia vươn lên trong sự nghiệp và cuộc sống vốn không ít sóng gió

Năm 2007 bà bắt đầu viết tại Hà Nội và năm 2008 thì hoàn thành bản thảo hồi ký chẵn 200 trang giấy A4 Chúng tôi đã sống như thế

Bà mất tại Hà Nội ngày 11 tháng 5 năm 2009 (tức ngày 17 tháng 4 Kỷ Sửu).

Chúng tôi trích đăng dưới đây một phần trong hồi ký của bà viết về ông “người bà yêu suốt đời mà cũng là người suốt đời yêu bà. Nhan đề bài viết là của chúng tôi.

—o00—

S

au khi có được tấm bằng tú tài, năm 1948 Phạm Tuyên liền ghi tên vào học tại trường Đại học Pháp lý do luật sư Đỗ Xuân Sảng làm hiệu trưởng, với nguyện vọng là được trang bị lý luận về pháp luật để sau này nếu có điều kiện, khi bản án Phạm Quỳnh được đưa ra phán xử (như Hồ Chủ tịch đã nói với hai người chị của anh trong lúc gia biến năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này lịch sử sẽ đánh giá lại”) thì mình còn có đủ lý lẽ để lấy lại công lý cho cha mình. Nhiều tri thức mới về luật pháp lại được các giảng viên truyền đạt hay, Phạm Tuyên bị thu hút vào những bộ luật và điều đầu tiên được khắc họa và khẳng định là “Quyền tư hữu là quyền bất khả xâm phạm của con người” (lúc đó được coi là chuyện bình thường). Nhiều lý luận chính trị, kinh tế… đang làm thỏa mãn tính ham học, ham hiểu biết vốn đã có từ hồi còn thơ ấu của anh. Tài liệu trong sách báo, chủ yếu là bằng tiếng Pháp và qua những cuộc nói chuyện của các cán bộ chính trị cao cấp và các vị trí thức đi tham gia kháng chiến để bổ sung cho những gì học được trong trường. Bạn học ở trường Đại học Pháp lý lúc đó là những thanh niên trí thức tản cư lên chiến khu như: Trần Văn Tý, Lê Đạt, Đặng Hồng Miên, Lê Hồng Chi, Nguyễn Vịnh, Đặng Đình Hưng, Trương Đắc Vị...

Đang háo hức thâu nạp tri thức thì giặc Pháp đổ bộ lên Việt Bắc, trường phải giải thể. Thế là “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu!”, Phạm Tuyên cùng với một số sinh viên được cử đi học tại trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa 5- khóa chuẩn bị tổng phản công. Anh bắt đầu đời binh nghiệp. Cuộc sống gian khổ của bộ đội ta đầu kháng chiến chống Pháp cộng với một chế độ luyện tập quân sự hà khắc bởi người huấn luyện là một sĩ quan Nhật là hàng binh được nhà trường sử dụng, không làm cho anh bộ đội “thư sinh” này nao núng. Những bài tập đi, chạy, lăn lê bò toài không phải theo kiểu của bộ đội ta mà theo kiểu quân phiệt Nhật. Nhiều lần ông ta bắt học viên lăn từ trên đồi xuống rồi lại bò lên. Quần áo rách nát, da dẻ xoạc sờn, thế mà các anh lính trẻ trọc đầu vẫn ráng sức chịu đựng. Câu hát “Thuở thanh bình anh là thư sinh, Thời chinh chiến anh là chiến binh” mà đồng đội đã hát tặng anh lúc đó thật là phù hợp. Cuộc sống hết sức gian khổ nhưng các anh vẫn lạc quan và càng gắng công tập tành. Không khí hăng say luyện tập, sinh hoạt tập thể sôi nổi đã làm Phạm Tuyên quên đi những chuyện đau buồn riêng mà bắt đầu cảm thấy yêu đời, thúc giục anh sáng tác bài hát cho đồng đội để động viên lẫn nhau. Ca khúc đầu tiên là bài Vào lục quân trong đó có đoạn: “Góc trời lửa rực cháy hoang tàn. Căm hờn giặc Pháp uất hận chứa chan! Chàng thanh niên lòng căm uất! Dứt bao tình thương quyết lên đường! Vào lục quân tìm thấy ánh sáng! Vào lục quân tìm thấy chiến thắng! Hẹn ngày phá tan quân thù…” Sau những buổi tập tành nặng nhọc ở thao trường trở về trại, các anh lính trẻ hát vang bài Đường về trại (do Phạm Tuyên sáng tác): “Khi đoàn ta dồn bước tiến về! Kìa trông thoáng xa mái gianh thân yêu! Vui thao trường cố quên nhọc nhằn! Bước! Ta cùng nhau tiến bước!…”. Càng tích cực luyện tập càng mong cho đến ngày tổng phản công. Hướng về ngày tổng phản công, anh viết: “Đây! Khóa chuẩn bị tổng phản công! Náo nức bao chàng trai, từng đoàn tập hợp nuôi ý chí hùng! Mong chờ ngày tổng phản công! Giữa chốn rừng sâu, giữa hoa lá xanh gắng tập tành! Pham Tuyen_Si Quan Luc QuanKhông tiếc chi xương máu giành ngày toàn thắng!”. Những ca khúc đó ngày nay nhiều đồng đội của anh, có người đã đeo quân hàm tướng tá, hay cán bộ cốt cán trong các ngành của Đảng và Nhà nước, tuy đã về hưu nhưng vẫn thuộc, vẫn hát mỗi khi gặp nhau. Tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn năm 1950, ngay trong năm đó Phạm Tuyên được điều về làm đại đội trưởng trường Thiếu sinh quân Việt Nam, nơi học tập và rèn luyện của các em “thiếu nhi mặc áo lính”, do cấp trên nhận thấy anh có trình độ văn hóa và tính tình thích hợp với việc giảng dạy các em nhỏ.

Vào một buổi sáng đầu hè năm 1950, khi Phạm Tuyên vác ba lô đến nhận công tác tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Cao Vân, Đại Từ, Thái Nguyên, các em thiếu sinh quân ùa ra đón anh thật sôi nổi. Trường được thành lập từ năm 1949, lúc đó mới có hai đại đội, anh được giao ngay nhiệm vụ làm đại đội trưởng Đại đội Ba, là đại đội bé nhất. Học sinh của trường là các em liên lạc viên ở các đơn vị phía bắc gửi về và một số học sinh vùng tự do, các em ở độ tuổi từ 11 đến 15, đang tuổi ăn tuổi chơi.

Công việc đầu tiên là sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho các em vào những lán trại được dựng theo chiều dài, trong đó có hai hàng giường đan bằng tre nứa kéo dài theo chiều của nhà. Không có hội trường, cũng không có lớp học. Họp chung thì ra ngoài sân, còn sinh hoạt trung đội hay tiểu đội thì ngồi cả lên hai phía giường ngủ. Đời sống của các em thiếu thốn vô cùng.

Hằng ngày dạy các em học văn và học nhạc, anh cùng các “chiến sĩ tí hon” đào hầm, dựng nhà, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, đi lấy gạo… sinh hoạt cùng các em anh càng thấy gắn bó với bầy “thiếu nhi mặc áo lính” ấy...

Buổi sinh hoạt lửa trại đầu tiên quanh đống lửa nứa khô nổ lép bép anh đã được nghe các em hát. Một cảm giác yêu thương tha thiết tràn ngập lòng anh khi nhìn những gương mặt non tơ trong bộ quân phục xuềnh xoàng, đã sớm phải xa gia đình để lên học tập tận nơi núi rừng Việt Bắc xa xôi này. Trăn trở hơn là khi anh chỉ nghe các em hát những bài bộ đội người lớn và quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vài bài. Với vốn liếng âm nhạc đã có từ khi còn ở nhà, anh thấy không thể không viết ra cho các em những bài hát mới phục vụ cho sinh hoạt tập thể của đơn vị, hy vọng làm cho cuộc sống của các em nơi núi rừng được sôi nổi, vui tươi hơn. Và anh đã bắt tay vào sáng tác bài hát cho các em

Thế là chỉ trong một thời gian ngắn anh đã viết được một chùm ca khúc cho các em như các bài Em vào thiếu sinh quân để tặng các em mới nhập trường: Em vào Thiếu sinh quân vì em hằng ước ao sống bên bao bạn hiền/ Được dìu dắt em càng quyết tâm học hành! Cho chóng nên người hữu ích sau này, bài Lớp học rừng tả lại cảnh lớp học rất đặc biệt ở đây. Vì phải tránh máy bay giặc Pháp, nhà trường đã chọn cho mỗi lớp học một khu rừng nứa um tùm, cạnh bờ một con suối để dễ sơ tán khi có máy bay oanh tạc. Bàn ghế làm toàn bằng tre nứa và được chôn chặt ở dưới lùm cây. Học các môn văn hóa nhưng không có bảng đen, chỉ nói và cho các em ghi vào vở. Điều kiện học tập thì thiếu thốn và đơn sơ như vậy mà các em đều học tập rất nghiêm chỉnh và có kết quả tốt. Trong bài hát có đoạn: “Ngồi quanh đây bên cây bóng mát! Rừng xanh lá che bốn bề/ Nứa uốn quanh che rợp/ Gốc cây ta để sách/ Cùng ngồi bàn tre ghế nứa mới/ Ta hứng thú học quyết tâm/ Đắp xây ngày mai giữa rừng!”. Bài Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa! nói lên tâm trạng của các em nhỏ lúc đó, chúng không những tỏ ra khoái chí và rất bằng lòng với lớp học của mình mà còn có phần thích thú hơn vì được học trong lớp học đặc biệt do chính tay mình làm ra: “Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa/ Kề dòng suối trong, rừng nứa um tùm/ Lúc thi đua thật là thú vô cùng/ Vì tre nứa ngay bên rừng/ Giá ba lô và lợp mái chuồng gà/ Bàn lúc học, ghế lúc ngồi/ Cuốc “tăng xê” vừa đan liếp nhà/ Tay ta tự làm ra”. Những bài Em tăng gia, Của công là của nhân dân, Bài ca nhân ái, Năm yêu, Đố cờ… đều được viết ra để phục vụ cho sinh hoạt của các em lúc đó.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, thế hệ thiếu sinh quân từng hát những ca khúc này năm xưa đã thành ông nội, ông ngoại, nhiều người trở thành văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các nhân vật trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta như: Đặng Nhật Minh, Thúy Toàn, Phan Phúc, Chu Hảo, Lê Đức Phúc, Vũ Khoan, Vũ Mão, Vũ Mạnh Kha… Nhưng mỗi khi gặp nhau họ vẫn không quên vỗ tay hát vang nhưng bài hát ấy.

Có thể nói những bài hát đầu tiên của Phạm Tuyên dành cho đối tượng thiếu nhi được viết ra từ cái môi trường đặc biệt này. Từ đây trở đi duyên nợ của anh đối với lứa tuổi thiếu nhi cứ dần dần được bền chặt hơn, có ý thức hơn. Và anh đã trở thành Nhạc sĩ của tuổi thơ như những thế hệ thiếu nhi sau này gọi anh như thế.

Trong trường Thiếu sinh quân Việt Nam, anh là một đại đội trưởng trẻ đầy nhiệt huyết, không những giảng dạy tốt mà còn hăng hái tham gia công việc của trường. Anh cũng coi đây là một môi trường rèn luyện cho mình về tác phong sinh hoạt cũng như sức chịu đựng gian khổ, nên được đồng nghiệp nể trọng và các em yêu mến. Có thể nói một trong những công việc vất vả nhất thời ấy là đi lấy gạo trên kho về, vác nặng, đường rừng xa xôi lại phải trèo đèo lội suối. Nhiều lần vác gạo lội qua khe thì gặp nước lũ ập về. Nước khe dâng cao và chảy siết, các em thiếu sinh quân lớn thì tự bơi qua được, còn các em nhỏ, mà đại đội của anh hầu hết là các em nhỏ thì phải có người lớn giúp đỡ. Trong tình huống đó, anh phải ráng sức vừa vác gạo vừa cõng các em nhỏ vượt qua dòng nước đang chảy xiết. Và thế là việc lấy gạo thắng lợi. Với sự phấn đấu vượt bực, anh trở thành tấm gương để đồng đội và các em nhỏ học tập. Anh được đồng chí Lê Chiêu, hiệu trưởng của trường, giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Anh được công nhận là Đảng viên chính thức vào ngày 27 tháng 7 năm 1950, đúng ngày Thương binh Liệt sỹ, một thời điểm rất đặc biệt đối với anh. Hôm đó đang đứng trong lớp giảng bài thì máy bay giặc Pháp đến ném bom, cả lớp phải sơ tán. Anh hướng dẫn các em nhỏ xuống hầm ẩn nấp rồi mình sẽ xuống sau. Nhưng không kịp! Bom đã dội xuống và anh đã bị thương, mảnh đạn găm vào người, máu chảy lênh láng. Dứt đợt báo động, anh được đưa đi cứu chữa. Người lớn thì cáng còn các em nhỏ thì vừa chạy theo sau vừa khóc thút thít vì thương anh quá, sợ anh bị làm sao! Anh được chuyến một cái lán ở La Bằng để được cứu chữa, chăm sóc tử tế. May quá, mảnh đạn chỉ găm vào phần mềm phía bên trái người anh, đến nay mảnh đạn vẫn còn nằm ở đó. Bộ quân phục anh mặc lúc đó bị thủng nhiều lỗ. Sau này chúng tôi giữ lại như một kỷ vật thời chiến đấu của anh. Từ đó anh luôn xứng đáng là một Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Các con tôi không những tự hào về điều đó mà còn rất tự hào vì có bố là thương binh! Suốt cả thời kỳ bao cấp tấm thẻ thương binh có giá trị vô cùng. Có nó người ta sẽ được ưu tiên về nhiều mặt như không phải xếp hàng để mua hàng, đi tàu xe không mất tiền, con em thương binh liệt sĩ đi học được hưởng nhiều quyền lợi. Các con tôi rất ngạc nhiên không hiểu vì sao nhà mình lại không có thẻ thương binh để được ưu tiên? Đó là vì bố các cháu không chịu đi làm thẻ thương binh. Anh nghĩ đơn giản rằng việc anh bị trúng đạn xảy ra đã quá lâu và vết thương cũng đã lành rồi, hơn nữa thủ tục làm thẻ thương binh cũng rất rắc rối như bất cứ một loại giấy tờ nào trong thời bao cấp!

Sau này khi nước nhà đã thống nhất anh gặp lại đồng chí Lê Chiêu (lúc này đã mang quân hàm thiếu tướng) trong một cuộc họp mặt truyền thống của thiếu sinh quân, anh hỏi đồng chí Lê Chiêu: “Hồi đó anh giới thiệu tôi vào Đảng, bây giờ anh có ân hận gì không?”. Đồng chí Lê Chiêu không nói gì, chỉ đến bắt tay anh thật chặt và cười vui sướng đầy vẻ tự hào.

Năm 1951, sau chiến dịch Biên Giới, trường Thiếu sinh quân Việt Nam dời sang Quế Lâm (Trung Quốc) để có điều kiện ăn học tốt hơn do Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc dành cho. Trường Thiếu sinh quân Việt Nam lúc này trở thành trường Thiếu nhi Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và được bổ sung một số lượng đông đảo các em thiếu nhi từ trong nước sang, rồi sau đó lại sáp nhập vào Khu học xá trung ương đóng tại Nam Ninh (Trung Quốc).

(Phần này viết theo nhật ký của Phạm Tuyên hồi đó và theo lời kể của bạn bè và học trò của anh).

N.A.T.

Tháng Một 31, 2016

Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 2 năm 2016.

PHẠM QUỲNH VẪN SỐNG TRONG LÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

Blog PhamTon

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời bốn ngày… Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972-in 3200 cuốn). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Sau khi phát hành ít ngày, sách ấy bỗDoi viet vanng “biến mất” trong các hiệu sách và tất nhiên trong tất cả các thư viện công. Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã ra đời lâu rồi, mới lại thấy sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn. Nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh. Đây là lần đầu Phạm Quỳnh xuất hiện trong lòng Tổ quốc mình, nay đã là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Sau đó 10 năm, lại 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 12 ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc số 13 (278) cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba)

Trước đó bốn năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Trong Lời nhà xuất bản (trang 8) viết: “về mặt văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển nền văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học.”

Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học (644 trang) do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu. Trong Lời giới thiệu, Trịnh Bá Đĩnh viết: “Làm nên cốt cách ngòi bút của ông là các bài luận giải, khảo cứu mà nội dung nghiêng về tư tưởng và các vấn đề học thuật. Ở đó ta thấy một sự hiểu biết uyên bác, một cách diễn giải chu đáo tỉ mỉ, một nhiệt tình quảng bá tư tưởng, được diễn tả với một văn phong chặt chẽ, khúc chiết, chắc nịch mà các độc giả trí thức chắc sẽ ưa chuộng”.

8 sach Pham QuynhNăm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh cũng 1000 bản, Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Mỗi bộ bồm ba tập, mỗi tập khoảng 650 trang, trong đó có nhiều bài của Phạm Quỳnh. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký (NXB Trí Thức, 511 trang, khổ lớn 16x24cm phát hành 600 bản, Nguyễn Hữu Sơn viết: “Học giả Phạm Quỳnh viết du ký vừa thỏa mãn hứng thú nội tâm, trình bày những cảm xúc riêng tư vừa hướng tới giới thiệu những điều trải nghiệm tai nghe mắt thấy liên quan đến mỗi thắng cảnh di tích lịch sử và đời sống xã hội nơi phương xa. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên kết nối giữa chủ thể sáng tác và phía tiếp nhận, nghĩa là bạn đọc cũng sẽ được hướng dẫn đi thamquan, du lịch, hành hương về xứ đẹp và cội nguồn lịch sử dân tộc nhờ chính các trang du ký. Du ký của Phạm Quỳnh là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”… Về phong cách nghệ thuật, du ký của Phạm Quỳnh hòa quyện được phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nghệ sĩ (…) Nhìn chung trên địa hạt du ký, có thể khẳng định Phạm Quỳnh không chỉ đứng đầu Nam Phong Tạp Chí mà cũng là nhà viết du ký xuất sắc trong suốt cả thế kỷ XX.”

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932, 1000 tập sách khổ 14, 5×20, 5. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút. Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết ngay đầu sách bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang. Ông viết đầy xúc động: “Cuốn sách này của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (11 bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn nhất vọn vẹn một trang! Và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền…” Và “Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta gọi là dấn thân)” ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết Hoa Đường tùy bút. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ, rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm”. Rồi: “Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang, Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

“Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm”.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh dày đến 1134 trang, in tới 1000 bản và chính thức bán và quảng cáo với bích chương lớn tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3 (56) năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Bẵng đi hai năm, lại thấy tác giả này xuất hiện trên Hồn Việt, một tạp chí của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước (bài 1 và 2)

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272). Nguyễn Huệ Chi viết: “Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dịch thuật hay trước tác, ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng (…) Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (Chẳng hạn bài viết về lễ tế Nam Giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết… nói riêng (…) Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được các phạm trù trừu tượng, như tư tưởng tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa được nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng, chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu càu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.”

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Vì “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, đúng như một câu thơ Kiều.

Thành phố Hồ Chí Minh 28/10/2014.

B.P.T.

Tháng Một 28, 2016

Nửa giờ với cựu thủ tướng Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 1 năm 2016.

NỬA GIỜ VỚI CỰU THỦ TƯỚNG PHẠM QUỲNH

Thanh Tịnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan về Huế, vừa gởi cho chúng tôi bài này. Trong Từ điển văn học bộ mới của nhà xuất bản Thế Giới năm 2014, mục từ Thanh Tịnh từ trang 1635-1636 viết:

“(12.XII.1911-17.VII.1988), Nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Các bút danh khác: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trịnh Thuần (sau 1945). Tên thật Trần Văn Ninh. Từ sáu tuổi, được đổi là Trần Thanh Tịnh. Nguyên quán: xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Nguồn văn nghệ dân gian phong phú của Thừa Thiên – Huế đã sớm ảnh hưởng đến ông. Phần lớn thơ văn của ông đều bắt nguồn từ giọng hò câu hát trên sông nước quê hương. Thanh Tịnh được học chữ Nho đến 11 tuổi, rồi tiếp tục học tiểu học và trung học ở Huế.

Khi đi học ông đã ham thích văn chương. Hai nhà văn Pháp nổi tiếng Đôđê và Môpaxăng có ảnh hưởng không nhỏ đến văn phong của Thanh Tịnh sau này. 1933, đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn làm thơ và cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị… sáng tác đầu tay: Cha làm trâu, con làm ngựa (Thần kinh tạp chí, 1934).

Ông không thành công trong lĩnh vực viết truyện dài (Xuân và Sinh, 1944), nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn. Tập thơ Hận chiến trường (1937) và nhiều bài khác đăng trên các báo ở Huế và Hà Nội mang phong cách lãng mạn đậm nét. Thơ ông, trong những bài tiêu biểu nhất như Tơ trời với tơ lòng, Vì đàn câm tiếng, Rồi một hôm, Muôn bến… thường mượt mà, tinh tế, hàm súc nhưng hơi buồn và in rõ dấu ấn bâng khuâng, thơ mộng của truyền thống văn hóa, tinh thần xứ Huế. Thành công hơn cả trong chặng đường sáng tác này là các tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943) trong đó có nhiều truyện đẹp, trong sáng và gợi cảm.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ. Gia nhập bộ đội 1948, tham gia phụ trách Đoàn kịch Chiến thắng của Bộ Tổng tư lệnh Quân độ nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến, ông khai sinh ra hình thức độc tấu. Nghệ thuật trình diễn độc đáo này rất được phổ biến trong nhân dân. (…)

Từ năm 1954, tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông viết nhiều thơ trữ tình, thơ đả kích, ca dao, độc tấu, nhận xét nhỏ, hồi ký… đăng trên các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Phụ nữ, Tiền phong, Tổ quốc, Thiếu niên tiền phong, v.v… Tác phẩm chính sau cách mạng: Sức mồ hôi (thơ, 1954), Những giọt nước biển (tập truyện ngắn, 1956), Đi từ giữa một mùa sen (truyện thơ, 1973), Thơ ca (tuyển tập, 1980)…Thơ của ông giai đoạn này có sự chuyển biến rõ rệt. Do có nhiều gắn bó với nhân dân, ông phấn đấu “ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đậm màu dân gian”. Ông viết nhiều ca dao, một số bài rất quen thuộc với người đọc (Nghe lThanh Tinhời Bác dạy, Sức mồ hôi, Dân no thì linh cũng no…). Mảng thơ trữ tình của giai đoạn này nhìn chung không trội. Ông viết thiếu lắng đọng, tinh tế, trừ một số bài đã kế thừa, phát huy một cách tích cực phong cách lãng mạn, trong phần thành công nhất của chính tác giả trước đây (Nhớ Huế quê tôi, Gặp lại). Truyện thơ Đi giữa một mùa sen gồm tám đoạn, dài non hai ngàn câu, kể về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh từ lúc chào đời đến năm 15 tuổi… đây là một công trình lao động nghệ thuật công phu của Thanh Tịnh. Ông sưu tầm tài liệu và viết trong nhiều năm. Tác phẩm viết dưới hình thức kể chuyện, mang đậm phong cách dân gian và hợp với giọng điệu tâm tình của thơ ông.

Tập truyện ngắn Những giọt nước biển phần lớn gồm những bài ông viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Mỗi truyện như một bài thơ nhỏ, ghi lại hình ảnh những người nông dân bình thường miền xuôi cũng như miền núi, gan dạ một cách hồn nhiên, dung cảm một cách lặng lẽ, hoạt động phục vụ sự nghiệp chiến đấu chống ngoại xâm.

Nhìn chung tác phẩm Thanh Tịnh đậm chất trữ tình. Thông qua tâm hồn tác giả hiện thực cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc, không phải chỉ ở bề ngoài, mà ở cái linh hồn sâu kín bên trong. Văn Thanh Tịnh gợi cảm, đằm thắm và trong sáng. Như Thạch Lam nhận xét, tác phẩm của Thanh Tịnh “truyện ngắn nào hay đều có chất thơ và bài thơ nào hay đều có cốt truyện”. Thanh Tịnh mất ở Hà Nội.

Trần Hữu Tá

* Bài sau đây đăng trên Việt Nam Tân báo số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945 tức là sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập. Chức vụ cuối cùng Phạm Quỳnh giữ trong triều đình Huế là Thượng Thư Bộ Lại, như chức thủ tướng chính phủ.

Bài này góp thêm một chứng cứ khách quan nữa bác bỏ các luận điệu bịa đặt, vu khống nói rằng Phạm Quỳnh “câu kết với Nhật” hoặc “nằm im chờ Pháp đến giải cứu” hòng phục hồi chức vụ và quyền lợi của các kẻ bán nước như một số người đương thời và hậu thế từng đưa ra để “kết tội ông cho xứng với bản án tử hình mà ông đã phải chịu tháng 9/1945”.

—o0o—

Một buổi chiều nắng nhạt trong biệt thự Hoa Đường gần bờ song An Cựu. Tôi đưa giấy nhờ người nhà đem vào để xin yết kiến. Hai phút sau Phạm Tướng công đã lộ hình trong khung cửa giữa. Mắt nhìn vào mảnh giấy, một lát ông nhìn tôi rồi cười hỏi:

  • Anh Thanh Tịnh đấy à? Thế mà tôi nhìn mãi chữ ký không nhận ra.

Tôi không bỏ dịp tốt:

  • Cụ cho biết cảm tưởng của cụ đối với Nội các mới.

Với nụ cười vẫn giữ luôn trên môi ông nói:

  • Cảm tưởng thì tốt lắm. Tôi rất hoan nghênh Nội các mới. Các vị Bộ trưởng mới, phần nhiều tôi đã biết người biết tiếng cả. Riêng cụ Trần Trọng Kim lại nhiều dây liên lạc đằm thắm hơn. Bạn làng báo cũ với nhau kia mà!
  • Thế bây giờ cụ nhất định về tĩnh dưỡng ở đây?

Một cái nhìn tươi mới tiếp theo sau cái vỗ vai thân mật, Phạm Tướng công nói:

  • Vâng, về ở đây để tiện việc tra cứu những sách vở xưa.

Mấy hôm về đây, tôi chỉ bận sắp lại những tài liệu cũ và mấy bộ sách chữ Hán.

Ông vừa nói vừa dẫn tôi đi xem cái thư viện đặc biệt của ông. Đặc biệt vì đó là một phòng làm việc có gần mười cái tủ sách vây quanh. Trong đó sách lớn có nhỏ có sắp đặt rất thứ tự và bìa thì đóng dấu bạc hay chạy chữ vàng đủ thứ.

Ông đưa cho tôi xem mấy quyển sách Ma doctrine (Học thuyết của tôi – PT chú) của A.Hitler và La tragédie de la Jeunesse allemande (Thảm kịch của tuổi trẻ Đức –  PT chú) của Noth, quyển lịch sử duy tân nước Nhật Bản trong 50 năm đầu bằng chữ Hán, và một tập giấy cắt trong nhật trình Pháp bàn về vấn đề Diến Điện và Đại Đông Á rồi quay nhìn tôi:

  • Đến 54 tuổi tôi mới về được với công việc nghiên cứu thích thú nhất của đời tôi. Đấy anh xem tờ Nam Phong xưa có phải là một cơ quan chính trị đâu. Tôi nghĩ văn hóa là căn bản tinh thần của một chủng tộc, cho nên – là một nhà báo, là nhà học giả – tôi phải theo đuổi đến kỳ cùng. Cho đến sau cùng có vấn đề trực trị xướng lên, tôi mới đưa ra đề nghị Lập hiến. Thế rồi sự tình cờ đưa tôi ra làm chính trị. Biết là không phải con đường chính của mình, tôi cũng phải theo. Rồi mấy mươi năm trong bể hoạn, tôi biết rõ nhân tình thế thái lắm anh ạ!

Biet thu Hoa Duong

Câu “biết rõ nhân tình thế thái lắm” ông dấn từng chữ một rồi đưa dài ra nên nghe có vẻ mỉa mai và chua chát lạ lùng. Ngừng một lát để mơ màng nhìn mấy quyển sách mà chừng ông âu yếm lắm ông nhìn tôi rồi tiếp:

  • Anh còn nhớ ngày chúng tôi qua Pháp (chỉ chuyện Phạm Quỳnh tháp tùng nhà vua Bảo Đại sang Pháp năm 1939 – PT chú) không? Để bàn về chuyện Bắc Kỳ đấy. Nhưng qua bên ấy nhằm lúc các nhà chính trị đi nghỉ mát cả. Thế là không biết bàn với ai. Cho đến lúc được tin ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ là Hoàng thượng cùng tôi và ba người nữa đáp máy bay về nước.

Tôi nhận thấy trong lời nói sau cùng của ông có vẻ ngao ngán buồn buồn. Tôi tự nhiên sực nhớ đến hai câu thơ của tôi:

Như chàng sứ giả chẳng thành công.

Trở lại môn quan ứa lệ lòng.

Tình cờ mắt ông lại nhìn đến mấy pho Kinh Phật, ông liền nói:

  • Trước kia tôi rất ham nghiên cứu về Phật giáo, trước cả hồi người ta lập Phật Học hội khắp ba kỳ. Vì Khổng giáo là đạo nhập thế, Phật giáo trái ngược lại là đạo xuất thế. Còn Lão Tử lại chuyên về mặt tiêu cực hơn…

Thấy ông đi hơi xa, tôi liền hỏi:

  • Cụ cho biết có phải đức Hoàng thượng muốn lưu cụ lại để lập Viện Hàn lâm Việt Nam không?

Lại nụ cười khi trước hiện ra.

  • Đó chỉ là một tin đồn. Sau ngày phục mạng Hoàng thượng để ra về, tôi không xin thêm điều gì cả. Nhọc lắm anh ạ. Tôi phải tĩnh dưỡng nhiều lắm. Vả lại bây giờ công việc chính trị cần hơn vấn đề văn hóa. Miễn sao bổ dưỡng cho thể chất tráng kiện trước rồi đòi hỏi đến thực phẩm tinh thần sau.

Sau một nụ cười khó hiểu ông lại nói:

  • Chúng tôi bây giờ là những cô đào già, ca Nam ai, Nam bằng nhiều lần quá thành nhàm tai nên không ai muốn nghe nữa. Thời đã mới cần người mới để hát những bài ca mới hơn… Nhưng thôi, bỏ những chuyện viển vông ấy đi, tôi đã hiện nguyên hình là nhà báo thì nói chuyện về báo vui hơn. Lúc nào tờ Việt Nam Tân báo cần những người trợ bút không công, tôi sẽ vui lòng giúp quý báo…

Rời khỏi biệt thự Hoa Đường ra về tôi cảm thấy như vừa rời khỏi một thư viện.

Thanh Tịnh

————————————-

Tư liệu do Dương Phước Thu, Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế sưu tầm và chú thích.

Nguồn Việt Nam Tân báo, số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945.

Lúc đương chức Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh ở nhà “công vụ”, nơi hiện đóng là Nhà văn hóa thành phố Huế. Nguyên trước là chỗ đất đóng trường Hậu Bổ.

Tháng Chín 13, 2015

Nơi táng mộ cụ Thượng Chi – Nguyễn Đắc Xuân

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 3 tháng 9 năm 2015.

NƠI TÁNG MỘ CỤ THƯỢNG CHI

Nguyễn Đắc Xuân

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân sinh ngày 15/7/1937 tại Huế. Hiện ông là hội viên các hội Nhà văn Việt Nam, Sử học Việt Nam, Nhà báo Việt Nam; ông cũng là thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Cha là người Thừa Thiên-Huế, mẹ là người Thanh Hóa, xa nhau từ khi Nguyễn Đắc Xuân mới ba tuổi. Nguyễn Đắc Xuân từng làm vườn ở Đà Lạt, học qua các nghề mộc, rửa ảnh, phụ xe, hớt tóc…, 15 tuổi mới đi học chữ. Đã học xong Đại học Sư Phạm (Việt – Hán, 1966), từng là trưởng Văn phòng Đại diện báo Lao Động tại miền Trung, nghỉ hưu từ tháng 7/1998, và đã sống qua các địa phương Đà Lạt (1940-1954), Đà Nẵng (1954-1955), Quảng Ngãi (1955-1956) và Huế (từ 1956 đến nay, có 9 năm tham gia kháng chiến ở chiến khu Thừa Thiên – Huế).

Với các bút danh Nguyễn Đắc Xuân, Tâm Hằng, Xuân Huy, Nguyễn Được, đã có thơ đăng báo và in thành tập từ năm 1959. Về sau, viết truyện ngắn, bút ký. Từ 1975, chuyên nghiên cứu, khám phá những bí ẩn trong lịch sử, văn hóa triều Nguyễn và Huế xưa. Hiện sống bằng nghề cầm bút.

Đã đi các nước Nga, Hung-ga-ri, Trung Quốc, Pháp, Bỉ, Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ, và Hoa Kỳ.

Các tác phẩm chính đã xuất bản (Chỉ ghi từ sau 1975 đến nay): In chung: Huế từ ấy (thơ) (Hội Văn nghệ TTH, 1976), Hành khúc mới (Thơ)  (Hội Văn Nghệ BTT,1977); Đất đang gieo – Truyện ký  (Nxb Tác phẩm mới.HN.1979); Huế những ngày nổi dậy (Nxb Tác phẩm mới, HN. 1979); Cô gái vùng ven (Bút ký. Nxb Phụ Nữ, HN.1978). In riêng: Chuyện cũ Cố Đô (Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên xuất bản, 1987, NXB Thuận Hoá tái bản, Huế, 1989), Bác Hồ thời niên thiếu (Nxb Trẻ, TP HCM.1990), Chuyện các bà trong cung Nguyễn (3 tập) (NXB Thuận Hoá 1989,1994, 1997); Chuyện các ông hoàng triều Nguyễn (NXB Thuận Hoá 1991), Chuyện ba vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân (NXB Thuận Hoá, 1995), Chuyện tình và thơ tình xứ Huế (NXB Thuận Hoá 1998); Qua Pháp Tìm Huế Xưa (NXB Thuận Hoá, 2000), Chuyện các quan triều Nguyễn (NXB Thuận Hoá 2001); Trịnh Công Sơn Có Một Thời Như Thế (NXB Văn Học-TTNCQH- 2003); Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu Của Bác Hồ Ở Huế (NXB Văn Học-TTNCQH- 2003)

Bài sau đây là trích bức thư tác giả gửi cho nhạc sĩ Phạm Tuyên từ Huế, ngày 12/6/2006. Đầu đề là do chúng tôi đặt, mượn chữ của tác giả.

—o0o—

Huế, ngày 12 tháng 06 năm 2006

Kính gởi anh Phạm Tuyên,

Kính anh,

(…) Đứng ở mảnh đất nơi táng mộ cụ Thượng Chi nhìn về phía Nam hiện nay, ngày xưa có một con suối chảy từ trái sang phải (từ cuối thế kỷ 18 có tên là Suối Tiên). Vùng nầy, từ xa xưa là rừng rú có tên là Lâm Lộc. Trước thời các chúa Nguyễn, ở gần mộ cụ Thượng Chi hiện nay có một cơ sở gọi là “Trấn Lỗ Tướng Quân”. Đến thời các chúa Nguyễn, để tránh lũ lụt vào mùa đông ở Kim Long/Phú Xuân, các chúa dựng lên ở Trấn Lỗ Tướng Quân một cái phủ gọi là Phủ Dương Xuân. Về sau, người phương Tây đến thăm các chúa Nguyễn ở đây gọi Phủ Dương Xuân là Phủ Đông (Palais d’hiver). Lúc sửa chữa Phủ, người ta đào được một cái ấn khắc tên “Trấn Lỗ Tướng Quân”, Phủ Dương Xuân đổi thành Phủ Ấn. Ngôi chùa ở gần đó đổi tên thành chùa Ấn Tôn (sau nầy đổi một lần nữa là chùa Từ Đàm). (…)

Thời Nguyễn Phúc Khoát Phủ Dương Xuân (Phủ Ẩn) được sữa chữa lớn, “vàng son tráng lệ” (Lê Quý Đôn). Đến sau ngày Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Xuân (1786), Nguyễn Huệ không ở trong Đô Thành Huế (khu vực bên trong cửa Thượng Tứ hiện nay) mà ở ngay trong Phủ Dương Xuân. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Huệ lấy niên hiệu Quang Trung, cho sửa chữa Phủ Dương Xuân thành Cung điện Đan Dương. Bà Hoàng hậu (mẹ vua Quang Toản sau nầy) ở với Quang Trung tại Cung điện Đan Dương, bà Bắc phương hoàng hậu Ngọc Hân được ở trong chùa Kim Tiên nằm chếch về phía dưới bờ nam con suối chảy trước cung điện Đan Dương. Con suối có tên Suối Tiên từ đó. Năm 1792, Quang Trung qua đời, để giữ bí mật, triều Tây Sơn đã táng Quang Trung ngay trong cung điện Đan Dương, từ đó cung điện Dan Dương trở thành Lăng Đan Dương. (…) Những bí mật của Lăng Đan Dương bị lộ. Cuối năm 1801, Nguyễn Ánh trở lại Phú Xuân, việc khẩn cấp đầu tiên Nguyễn Ánh thực hiện là cho quật lăng Đan Dương, lấy xương cốt Quang Trung đốt thành tro, đầu lâu nhốt vào Ngục thất. Vùng Phủ Dương Xuân/ cung điện rồi lăng Đan Dương được đổi tên là Ấp Bình An, tất cả giếng nước, mồ mả những người giữ lăng Đan Dương được chôn quanh đó gọi là giếng ngụy, mả ngụy. Dân chúng không được ở chung quanh khu vực từng là cung điện Đan Dương. Mãi dến cuối thế kỷ, cái uy của triều Nguyễn đã suy tàn, dân chúng mới từ từ đến ở ấp Bình An. Họ Nguyễn Hữu của anh Oánh là dòng họ đến khai khẩn ở ấp Bình An vào loại sớm nhất. Đến đầu thế kỷ các quan trong triều đình mon men lên đây làm chùa Phật. Chùa Vạn Phước ra đời vào giai đoạn nầy. Gia đình cụ Nguyễn Đình Hòe và sau đó là gia đình cụ Thượng Chi giúp đỡ nhiều cho Vạn Phước. Đầu thời Ngô Đình Diệm (sau năm 1954), người ta tìm được hài cốt cụ Thượng Chi ở miền núi huyện Phong Điền, được gia đình cụ Ưng Trình (suôi gia của cụ Thượng Chi) xin đem về táng trong chùa Vạn Phước – nơi ơn nghĩa cũ của cụ Phạm. Sau đó gia đình của cụ Thượng Chi nghĩ nơi táng trong chùa Vạn Phước chưa tốt nên đưa ra táng ở chỗ như ta còn thấy hiện nay.

Theo tôi cụ Thượng Chi là một nhà văn hóa lớn của dân tộc, khi chính trị không còn giữ vai trò thống soái nữa, vai trò văn hóa của cụ Thượng Chi sẽ được phục hồi và mộ cụ sẽ trở thành một địa chỉ văn hóa quan trọng của Cố đô Huế. Mộ cụ Thượng Chi thế nào cũng sẽ được đưa vào các tuyến tham quan du lịch Huế;

Địa điểm táng mộ cụ Thượng Chi hiện nay là địa điểm tốt nhất ở Huế: nó nằm trong vùng có nhiều chùa nổi tiếng; nằm trong khu vực lăng Đan Dương mà tôi tin chắc thế nào cũng sẽ được công nhận và tôn tạo trở thành một khu tưởng niệm lớn của dân tộc, ở gần lăng mộ cụ Phan Bội Châu. Không có địa điểm danh nhân văn hóa nào thuận lợi đến như vậy. Tôi đề nghị gia đình nên giữ nguyên như hiện nay và nếu có thể mua thêm đất chung quanh mở rộng khu vực lăng. Thế thôi. Sau nầy thế nào ngành văn hóa của Việt Nam và của Thừa Thiên Huế cũng sẽ đầu tư. Vấn đề là thời gian nhanh hay chậm thôi.

Festival 2006 đã kết thúc nhưng công việc của tôi thì vẫn chồng chất, lực bất tòng tâm, tôi bận và lo hết sức. Sợ thất hứa với gia đình cụ Phạm nên vội ghi lại mấy thông tin và ý kiến trên. Tuy viết vội nhưng tôi xin bảo đảm với các anh chị và ngành sử học Việt Nam: Những gì tôi vừa viết trên là kết quả của hàng chục năm nghiên cứu, hoàn toàn có giá trị lịch sử. Mong anh và gia đình họ Phạm nhận nơi đây tấm lòng quý trọng của tôi đối với cụ Thượng Chi và các anh chị trong gia đình họ Phạm.

Kính chúc anh chị và gia đình sức khỏe.

Khi nào tiện, nhờ anh thắp hộ cho tôi một cây hương tưởng nhớ đến hai người họ Phạm mà tôi đã hân hạnh được gặp: Chị Phạm Thị Ngoạn và anh Phạm Khuê. Xin hứa với những người đã khuất nếu tôi còn sức khỏe thế nào tôi cũng phụ một tay vào việc xây dựng lại khu mộ cụ Thượng Chi ở Huế.

Kính chào anh

Tôi đưa thầy tôi về chùa Vạn Phước – Phạm Thị Hảo

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:04 sáng

Blog PhamTon năm thứ  bảy, tuần 3 tháng 9 năm 2015.

TÔI ĐƯA THẦY TÔI VỀ CHÙA VẠN PHƯỚC

Phạm Thị Hảo

Lời dẫn của Phạm Tôn: Khi các bạn, đọc những dòng xúc động sau đây thì tác giả Phạm Thị Hảo đã ra đi về cõi vĩnh hằng ở tuổi 94. Bà sinh năm 1920 tại Hà Nội và vừa mất hồi 8 giờ ngày 28/4/2914 tại Hoa Kỳ nơi bà định cư từ 1975.

Cách đây vài năm, con trai, con gái đến thăm bà thì bà tiếp đón lịch sự, có hơi “khách khí”, rồi “xin phép hỏi quý danh”. Nhưng khi con gái hỏi chuyện thì bà đọc cho nghe hàng trăm câu Kiều, rành rẽ, ngâm nga say sưa. Đúng là con gái người say Kiều, sùng bái Kiều, suốt đời vận Kiều vào thân mình: học giả Phạm Quỳnh.

Năm 1956, chính bà và em trai út là Phạm Tuân đã đi cải táng thân phụ, nhân gia đình Ngô Đình Diệm hồi ấy là tổng thống Việt Nam Cộng Hòa tổ chức đi tìm hài cốt cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân cùng chôn một chỗ.

Đáng tiếc là lá thư bà hứa sẽ viết tỉ mỉ cho chị gái là bà Phạm Thị Giá thì lại chưa kịp viết, vì “khi định viết thì lại quá bận, khi có thời giờ thì tâm lại bất an” như bà viết thư than với chị. Vì thế chúng tôi chỉ còn chút ít dòng này của bà gửi đến bạn đọc.

—o0o—

  1. 1. THƯ GỬI CHỊ

…Đọc thư chị, em cảm động và thương chị lắm. Chị em ta sống gần gũi nhau suốt từ ngày em cưới (1942) đến lúc đất nước chia đôi (1954) vui buồn đều có nhau. Sau khi Thầy bị nạn, rồi lúc Me ở Hàng Da với chị, mất ở nhà chị…đều có em bên chị. Lúc em sinh hai cháu gái Mai, Ầm nay đã bốn mươi tuổi, đều có chị đưa đi nhà hộ sinh và nắm tay em khi đau đẻ…làm sao em quên được…Lẽ dĩ nhiên em sẽ nói nhiều đến những ngày cuối năm 1956 em đi lãnh hài cốt Thầy và đưa về chùa Vạn Phước…Em thật có lỗi với chị vì chưa viết trả lời những câu hỏi và kể chuyện công việc thiêng liêng này cho chị, dù chị đã hỏi đến mấy lần. Em không quên đâu, em sẽ chờ lúc tĩnh tâm để viết. Trước kia em đi làm bận rộn, nay về hưu nhàn hơn thì tâm lại chưa tĩnh…Ngày mất thì khi em đi nhận hài cốt, chỉ thấy một nhân chứng nói là “đêm đó trăng lưỡi liềm”

(Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washinton DC, Mỹ gửi cho chị ở Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 24-9-1990))

  1. 2. THƯ GỬI EM TRAI

Nhận được thư em chị mừng lắm, đọc đi đọc lại những dòng chữ thân yêu với những tin tức vui của gia đình ta.

Anh chị em ta “năm con voi và tám nàng tiên” yêu nhau thật thắm thiết, thật là kỳ diệu! Không phải gia đình nào cũng được diễm phúc đó. Sau bao nhiêu năm xa cách, bao biến động, tình ruột thịt lại càng thắm thiết.

…Nay có em sang “nghìn năm một thuở” cũng như năm ngoái khi K. đến, chị cũng không làm sao dứt ra mà đi được. Rất buồn tủi, song các em cũng hiểu chị và yêu thương chị

…Chị rất tiếc không có mặt ở Paris lúc này để ôm em vào lòng và kể cho em cùng các em Ngoạn, Hoàn, Lệ, Viên những chi tiết và những phút đau lòng, lo âu, cảm động khi đi nhận di hài Thầy yêu quí của chúng ta. Ngày giáp Tết, khi ánh bình minh vừa rạng ló, con thuyền đưa cốt Thầy cặp bến chùa Vạn Phước, và chị cùng Miềng (tức Phạm Tuân – PT ghi chú), cô (me chị Bích) dự lễ an táng bên cạnh sư cụ cùng một vài thân hữu ở Huế. Chị không sao quên nổi cái đêm kinh hoảng (27 Tết thì phải) sau khi tìm bới hai ngày dài, rồi nhờ các vị sư cúng các vong tại chỗ, đến mãi tối mịt mới tìm được di hài ba vị (Thầy, cụ Khôi và cậu Huân). Người ta (họ Ngô) đang làm to, mang hai cha con họ Ngô quàn ở một cái rạp thật lớn trang hoàng theo nghi lễ công giáo, lính gác chung quanh, để chờ sáng hôm sau tám giờ tổ chức quốc tang theo lịch trình đã định. Còn chị em mình (chị và Miềng) cùng cô lẽo đẽo đưa di hài Thầy lên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Định ở đó suốt đêm, chờ sáng hôm sau nhà Ngô đưa đám (quốc táng thật to) đi rồi, mình dùng đúng con đường đó (đã được “quét sạch” ) để đưa cha mình về chùa. Song đêm trên đỉnh đồi lãnh lẽo, lủi thủi có ba bà con, văng vẳng nghe tiếng cầu kinh của các đệ tử Thiên Chúa bề tôi nhà Ngô ở dưới chân đồi, chỗ rạp quàn hài cốt nhà Ngô, vừa tủi thân vừa sợ. Miềng lúc đó còn nhỏ (20 tuổi – PT ghi chú) lo sợ, cứ bảo “Thôi, đi về đi!”. Những nhà chức trách nơi đó lại khuyên nên chờ đến sáng, sau đám nhà Ngô hãy đi, kẻo vùng này có tiếng là dữ (cọp beo, “hắc thú”, và …). Sau cùng, chị nhất quyết xin họ cho một cái đò để chở Thầy về ngay đêm đó. Họ khuyên không được, cũng tử tế cho hai thuyền có lính và khí giới đi kèm đò mình. Thế là chiếc tiểu – quan tài nhỏ, qua sông. Suốt đêm đến sáng thì tới bến Vạn Phước. Tờ mờ sáng, lòng đang buồn tủi đau khổ thương cho cha chịu phận hẩm hiu, lại hãnh diện cho mình được thay mười một người con của Thầy Me, đưa Thầy về nơi an nghỉ ngàn năm…Thì trên bến đã thấy sư cụ cùng mấy sư bác, các tiểu chờ sẵn. Em ơi, chị Hảo lúc bấy giờ mừng quá “đi đến nơi về đến chốn” rồi, trông mấy vị tu hành như thấy mấy vị cứu tinh, cảm động nước mắt dào ra không biết nói gì… Chôn cất Thầy xong, chị và Miềng về Sài Gòn, vừa vặn sửa soạn Tết, cúng giao thừa.

Mừng là mọi chuyện êm đẹp, nhưng nửa tháng sau sư cụ lại nói với cô là Thầy về báo mộng, mộ ướt lắm. (Chỗ đất này tốt nhất, đáng ra là dành cho sư cụ, cụ nhường cho Thầy). Thầy nằm trong vũng nước. Cô lại gửi thư về Sài Gòn nói tuỳ chị, cô không dám định đoạt đào lại mộ, chị nói cô cứ làm. Quả nhiên mộ đầy nước…Vì thế mới thỉnh Thầy ra ngoài cửa chùa, chỗ này cũng đẹp đẽ, sạch sẽ như em chắc đã thấy

(Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washington DC, Mỹ gửi cho em trai ở Hà Nội (ngày 7-3-1990))

Tháng Chín 4, 2015

Tôi đi cải táng thầy tôi – Phạm Tuân

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần  tháng 9 năm 2015.

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

Phạm Tuân

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, hiện định cư tại Mỹ.

—o0o—

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nới xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

…Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện. Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái  thứ ba trong tám con  gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa?  Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005)

Tháng Tám 28, 2015

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 9 năm 2015.

TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

KỶ NIỆM 69 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

– “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Tháng Tám 21, 2015

Viết về thầy tôi – Phạm Thị Thức

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 5 tháng 8 năm 2015.

VIẾT VỀ THẦY TÔI

Phạm Thị Thức

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học giả Phạm Quỳnh có 11 con gái, 3 người mất từ lúc chưa đầy tuổi tôi (thôi nôi). Có 5 người từng viết về ông là bà Phạm Thị Giá, con gái trưởng, Phạm Thị Thức con gái thứ hai và các bà Phạm Thị Hảo, Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn.

Từ nay, chúng tôi sẽ lần lượt đăng các trang viết đó để bạn đọc biết rõ hơn con người Phạm Quỳnh trong đời thường, qua con mắt của các con gái ông.

Mở đầu là bài Viết về thầy tôi của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội năm 1992, mà nhà sử học Trần Gia Phụng đã đôn lên thành Hồi ký của bà Phạm Thị Thức viết tại Paris năm 1992 gây nên một sự hiểu lầm lớn trong dư luận, nhất là ở nước ngoài, chủ yếu là Canada, Mỹ và Pháp. Bài này, bà Phạm Thị Thức viết theo yêu cầu của các em gái ở Pháp, nhân dịp kỉ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh (1892-1992), nhưng chưa công bố trên báo chí.

Bài này chúng tôi đã đưa lên Blog PhamTon 3/12/2009 nay phải đăng lại. Chỉ vì người Mỹ Sơn Tùng đã lặp lại sai lầm của ông Trần Gia Phụng trong bài viết ghi ngày 4/9/2011 nhan đề Sau 66 năm lịch sử và công lý nào cho vụ án Phạm Quỳnh? (tạp chí Thế Giới Mới).  Chúng tôi đã có bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?, mới đưa lên Blog PhamTon ngày 21/10/2011 mà đến ngày 05/12/2011 đã có tới 36.344 lượt người truy cập! Đủ thấy sự đăng lại bài của bà Phạm Thị Thức là cần thiết đối với các bạn quan tâm.

—o0o—

Thầy tôi, nói đến hai chữ ấy, tự nhiên hai dòng nước mắt của tôi chảy dài xuống má, ruột tôi đau quặn như đứt từng khúc! Nỗi hận này suốt đời tôi không sao có thể quên được…!!

Tôi hồi tưởng lại trong ký ức, những mẩu chuyện nhỏ về Thầy tôi…

Năm tôi 13 tuổi, tối nào tôi cũng lên ngồi bàn làm việc để viết bài cho Thầy tôi, vì Thầy tôi cho rằng chữ tôi đẹp và rõ ràng. Thầy tôi cầm quyển sách vừa dịch vừa đọc như đọc chính tả cho tôi viết. Tôi ngây thơ hỏi: Thầy phải dịch vào giấy nháp rồi để con viết chứ. Thầy thôi chỉ cười. Tôi còn nhớ là viết những học thuyết của Hippocrate gì gì đó mà tôi chẳng hiểu chi cả. Có hôm khuya quá, thấy tôi có vẻ buồn ngủ Thầy tôi bảo: “Con cố lên, chỉ còn vài trang nữa là xong thôi.”, và gọi người nhà mua cho tôi một bát chí mà phù để bồi dưỡng…

Phần đầu bài viết của bà Phạm Thị Thức.

Năm 1928, tôi học École Brieux, cours Supérieur (Trường Brieux lớp nhất – PT chú) và là học sinh giỏi nhất lớp, đồng thời cũng là nhất trường vì ở đó chỉ có đến lớp Supérieur (nhất – PT chú) là hết. Đầu năm 1929, các cô giáo cử tôi lên đọc compliment (lời chúc – PT chú) chúc Tết bà  Đốc là bà Autigeon. Các cô bảo: Em về nhà nhờ Thầy em viết giúp cho mấy câu. Tôi lo quá, nghĩ Thầy tôi bận nhiều công việc như thế, chắc có viết không. Nhưng khi tôi về nói, Thầy tôi vui lòng ngay và bảo: Con đừng lo. Thầy sẽ viết cho vài câu, nhưng con phải học thuộc lòng và đọc cho hay vào. Thế rồi tối nào Thầy tôi cũng bắt học cho rõ thuộc và đọc cho nghe, dặn nhấn mạnh khi nào nên nhìn vào giấy, thỉnh thoảng phải ngẩng đầu lên nhìn xuống dưới chỗ mọi người ngồi. Bài viết tôi học thuộc kỹ quá, cho đến nay quá 64 năm tôi vẫn còn nhớ mãi, những câu sau đây:

…C’est en obéissant à une tradition chère à tous les pays que nous venons aujourd’hui vous apporter le sincère témoignage de nos jeunes coeurs. L’année 1928 vient à peine de s’écouler, emportant dans sa fuite une année de notre existance que déjà la foule s’empresse de fêter sa jeune soeur, en qui, elle met toute sa confiance et son espoir. Que cette année qui vient marque pour vous et votre chère famille, une ère de prospérité et de joie. Qu’elle soit pour vous douce et bénie. Avec cette confiance facile de notre jeunesse pour cette année qui s’annonce de bon augure, nous formulons des voeux les plus sincères pour qu’elle soit pour vous bonne et heureuse, remplie de bonheur et exempte de tout souci… (Tạm dịch là: Nay, theo tục lệ thân thiết với mọi xứ, hôm nay, chúng con xin chuyển đến Bà tấm lòng thành của những trái tim non trẻ. Năm 1928 vừa qua đi, mang theo một năm trong cuộc sống chúng ta, mà nhân dân đã hối hả mở hội đón năm mới, năm họ đặt tất cả niềm tin và hy vọng. Mong sao năm nay sẽ đánh dấu một kỷ nguyên thịnh vượng và vui vẻ với Bà và gia đình yêu quí của Bà. Mong sao năm mới an lành và đầy ân huệ với Bà. Với lòng tin cậy giản dị của tuổi trẻ chúng con vào năm mới này, năm báo trước điềm lành, chúng con xin chúc những lời chân thành, mong sao năm mới tốt lành và hạnh phúc với Bà, tràn đầy niềm vui và tiêu tan hết mọi ưu phiền …. – PT chú) còn dài nữa, v.v… Bài đọc từ hơn nửa thế kỷ không bao giờ nhớ lại, nay bỗng có dịp nhắc lại, nên có thể nhiều chữ sai và nhiều lỗi chính tả!

Tôi đọc trôi chẩy quá đến nỗi sau đó bà Đốc ôm lấy tôi hôn và bảo “Con đọc hay quá”. Các cô giáo thì tíu tít vui mừng vì học trò của mình được bà Đốc khen…

Năm 1930 tôi đậu Certificat (Tiểu học – PT chú) và thi vào trường École normale des institutrices (Trường nữ sư phạm – PT chú). Thi concours (Tuyển – PT chú) 150 người lấy 30, trong đó chỉ lấy có 3 người vào Normale (Sư phạm – PT chú), còn 27 vào cours complémentaire (Lớp bổ túc – PT chú). Tôi được đỗ thứ 2, như vậy là trong 3 người trên cùng được bourse (Học bổng  PT chú) mỗi tháng 9 đồng. Tôi mừng quá về khoe ríu rít ở nhà. Thầy tôi bảo: “Thầy không muốn cho con nhận học bổng, sau này đỗ ra trường làm cô giáo, người ta bổ đi đâu cũng phải đi. Nhà mình, con đi học chỉ cần có kiến thức, không cần đi làm ăn lương gì cả. Con không nên nhận và để cho người đỗ thứ 4 lên thay con”. Tôi buồn quá, khóc với Me tôi. Thầy tôi thấy tôi buồn và có vẻ tiếc cái món bourse, một hôm Thầy tôi gọi vào buồng giấy và cho tôi một chồng 90 đồng bạc hoa xòe và bảo tôi: “Đây Thầy “đền” cho con 10 tháng học bổng. Con lấy muốn mua gì thì mua và yên tâm mà học hành”. Nhận được số tiền đó tôi mừng quá, tôi đi vội đến phố Hàng Khay sắm sửa bao nhiêu thứ mình vẫn thích: dentelle (Đăng ten – PT chú) viền áo, vòng đeo tay, dây chuyền đeo cổ, nhẫn, v.v và quà cho các anh các chị và các em…

Thầy tôi có bà bạn là nữ sĩ Jeanne Duclos Salesses. Bà vẫn thường đến chơi với gia đình và làm nhiều bài thơ tặng Me tôi và em bé của tôi là em Yến. Được tin bà qua đời, sau đó em tôi cũng mất, Thầy tôi có viết một bài nói về Bà, trong đó có mấy câu tôi còn nhớ: “Son souvenir est attaché à un petit être qui m’est cher, à ma petite hirondelle chérie, qui, un mois après son départ, s’est envolée dans les airs, òu elle aurait du la retrouver…”(Tạm dịch là: Kỉ niệm về Bà gắn với một sinh linh nhỏ bé thân thiết với tôi, với chim yến nhỏ yêu quí của tôi, một tháng sau khi Bà ra đi, đã bay lên trời, nơi có lẽ cháu sẽ được gặp lại bà.- PT chú)

Năm 1935, chồng tôi sang Pháp thi doctorat en médecine (Bác sĩ y khoa – PT chú) 3 năm, tôi vào Huế với Thầy Me tôi và sinh cháu Tứ ở Huế. Năm 1937 có một sự kiện làm cho tôi xúc động và nhớ mãi. Hồi đó Me tôi có mang em Phạm Tuân được độ 6 tháng thì Me tôi mắc bệnh hen rất nặng, suốt ngày tôi ngồi vuốt ngực và xoa bóp cho Me tôi, nhiều lúc thấy lên cơn hen Me tôi khó thở tưởng như nếu kéo dài có thể chết. Thầy tôi đi làm về là vào ngay buồng thăm hỏi, vuốt ve và nói chuyện động viên và an ủi sẽ khỏi, v.v…Một hôm tôi thấy Thầy tôi ngồi với hai ông docteur (Bác sĩ – PT chú), nói chuyện gì mà tôi thấy Thầy tôi nét mặt buồn rầu tôi chưa từng thấy. Tôi đoán là có chuyện gì hệ trọng lắm. Sau đó, thấy Thầy tôi vào nói với Me tôi là các ông docteur hội chẩn và khuyên nên lấy cái thai ra thì mới khỏi nguy hiểm cho người mẹ. Me tôi khóc, bảo: “Đau đớn mấy tôi cũng cố chịu được, không khi nào tôi chấp nhận cái việc đó; vì tôi nằm mơ thấy rõ ràng có một thằng bé rất thông minh xinh đẹp chạy theo xe tôi và nói “Me, cho con về với me!””. Sau đó nhờ phúc ấm tổ tiên, Me tôi qua khỏi và sinh được đứa con thứ 15 của Thầy Me tôi. Thầy Me tôi thương và quý em lắm, cứ gọi là “chú Miềng”; năm nay em đã 55 tuổi, có 5 con rồi mà gia đình vẫn quen gọi là chú Miềng.

Thầy tôi có 16 người con mà lúc nào cũng chú ý săn sóc thương yêu như nhau, chưa hề bao giờ mắng mỏ con cái. Thầy tôi rất thông minh, uyên bác, tuy không phải là docteur nhưng có một “Larouse médicale” (Từ điển Larouse y khoa – PT chú) nhiều tập. Mỗi khi con cái ốm đau, Thầy tôi đều đem ra sưu tầm tra cứu và theo đơn trong sách chữa bệnh, hiếm lắm mới phải mời đến docteur.

Tháng tám năm 1945, Thầy tôi ra đi!! Than ôi cả Thầy Me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corps (người hộ vệ – PT chú) cho Cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” Và tôi còn nghe một bà bạn là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng Cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi cụ Hồ bảo:“Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học!”

Trời ơi, oan uổng cho Thầy tôi biết bao!!! Nỗi oan này khắc sâu trong lòng chúng tôi, nỗi hận này đến kiếp nào cho khuây!…

Thầy ơi, chúng con thật là bất lực, xin cúi đầu nhận tội với Thầy.

Phạm Thị Thức

28/10/1992

Bản sao chụp phần cuối bài của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội ngày 28/10/1992.

Tháng Tám 10, 2015

Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh – Phạm Thị Ngoạn

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 8 năm 2015.

 TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

CHỦ NHIỆM KIÊM CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH

Phạm Thị Ngoạn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bà Phạm Thị Ngoạn là con gái thứ tư trong tám con gái của Phạm Quỳnh, sinh năm 1921 tại Hà Nội, định cư và đã mất tại Pháp năm 2000

—o0o—

Gia đình…từ biệt làng Lương Ngọc để lên Hà Nội lập nghiệp. Và Phạm Quỳnh đã ra đời, khôn lớn và học hành tại Hà Nội.

Suốt đời nhà văn này vẫn có tính dè dặt và có thể nói là rất kín đáo, tự ý lựa chọn một nếp sống thu mình trong khuôn khổ gia đình. Ngay từ hồi tuổi trẻ người đã sớm tạo nên một loại “tháp ngà” để sống riêng biệt, sự kiện trái ngược đối với một người mà sau này lịch sử sẽ xô đẩy vào đời sống chánh trị, có liên qua đến vận mệnh quốc gia, đảm nhiệm những chức vụ trong các hội đồng và sau hết trở nên Thượng thư Triều đình Huế

Mâu thuẫn này – nếu đây quả là mâu thuẫn – được giảng giải bằng luật di kế và gánh nặng của trách nhiệm gia đình. Nhưng tuy không mong đợi mà Phạm Quỳnh đã được đền bù thoả đáng, vì chính trong khung cảnh gia đình êm ấm mà ông được mãn nguyện về tình cảm

Ngay từ buổi thiếu thời, ông đã phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt. Pham Quỳnh gần như không có mẹ, vì người mất đi khi con mới được chín tháng. Sau đó, khi ông chín tuổi, lại đến cha từ trần. Nhờ bà nội mà Phạm Quỳnh côi cút được biết thế nào là tình thương trong gia đình, cùng là cắp sách theo đòi sự học.

Dù nói hay viết, mà nhất là viết, Phạm Quỳnh rất dè dặt bộc lộ tâm tình. Tuy nhiên, đôi khi ông cũng đã nhắc tới một số kỉ niệm buổi ấu thời, thật hồn nhiên giản dị.

Trong cuốn Pháp du hành trình nhật ký, ông tâm sự như sau:

“Hỏi đến lịch sử của riêng mình, mình cũng lấy lòng thành thực mà đáp; kể những lúc lênh đênh cơ khổ buổi thiếu thời, nhờ bà nội nuôi đi học. Từ khi khôn lớn biết nghĩ tới giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng là đối với nhà làm thế nào nối được nghiệp của ông cha, đáp được cái nền “sĩ phong” cho xứng đáng (…),đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong quốc vận được sáng sủa (…) không dám đem cái chí nguyện mà hi sinh cho sự giàu sang…”

Về đời học sinh và những thành tích đầu tiên trên đường học vấn cũng như về cuộc đời công chức, Pháp du hành trình nhật ký đã cho ta biết

“Bấy giờ mới tốt nghiệp ở trường Bảo Hộ ra (…) mình đỗ đầu đang khét tiếng là “Cậu thủ khoa tây”! Thậm chí có người nói: “Lương Ngọc có đất thật, thi chữ tây mà cũng đỗ thủ khoa!” (…) Hồi bấy giờ mới đặt ra thi Diplôme trong dân gian còn lấy làm trọng lắm, trọng hơn là thi cao đẳng bấy giờ…”

Những lời tâm sự đó rất ít khi được kí thác trong các tác phẩm. Phạm Quỳnh còn cho ta biết ông đã học chữ nho, kiên trì và lao khổ tới mực nào:

“Mình bấy giờ còn nhỏ dại quá (…) lại thật thà hiền lành, đến nỗi anh em đặt tên là “Anh lý nhà quê!” Thủ khoa tây mà chữ nho chỉ biết viết được hai chữ tên, còn thì mịt mù cả. Kỳ thi có một bài Hán tự dịch ra chữ tây, dịch giỏi đến nỗi chấm được một nửa điểm (1/2)! Đáng thì phải 0, hỏng “toẹt” không được đỗ vì dịch sai cả, làm hẳn một bài chữ tây khác không giống gì nguyên văn chữ Hán cả (…) Sau ngày vào làm việc ở Bác Cổ, gia công học Hán tự trong mấy năm”

Khi trở nên Thượng thư Bộ Học, ông đã tuyên bố như sau, nhân một cuộc phỏng vấn:

“Nghề này vốn là tổ nghiệp của nhà tôi; chính tôi cũng đã từng dạy học ở trường Đại học Hà Nội. Thân phụ tôi, các cụ tôi đời trước đều là nhà nho dạy học cả. Cho nên nay tôi ra chủ trương Bộ Học chẳng qua cũng chỉ là nối lại nghiệp nhà mấy mươi đời làm thầy dạy học” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong, số 189)

Mới hai mươi lăm tuổi, ông đã có chín năm thâm niên trong ngạch Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ

Kể từ năm 1914, theo đề nghị của Phủ Toàn quyền, ông phụ trách thêm một công tác mới: cùng với Nguyễn Bá Trác, phiên dịch cuốn Lịch sử chiến tranh của Hanotaux đã xuất bản tại Pháp, nhằm hướng về các độc giả Trung Hoa. Thật là mâu thuẫn của số mệnh nếu chúng ta nhớ lại lời tự thú của Phạm Quỳnh là cho đến năm 1908, ông rất “dốt” chữ nho.

Ông đã trở nên một nhà báo “có hạng”, một văn sĩ thời danh, nhờ ở những bài đăng trong Đông Dương tạp chí từ năm 1913

Trông bề ngoài, Phạm Quỳnh có vẻ mặt cương nghị. Cận thị tử nhỏ, ông không hề rời cặp kính trắng đã trở nên mật thiết. Trước khi có dịp qua Pháp, cho đến năm 1922, ông vẫn trung thành với cái búi tó củ hành giấu trong vành khăn nhiễu. Ông tồn cổ ngay cả với chi tiết nhỏ nhặt này cũng như về y phục: một chiếc áo đen khuy cài nghiêm chỉnh, một chiếc quần trắng ủi thật thẳng. Lưng hơi còng (lưng “tôm”) toàn thể cho ta một cảm tưởng diêm dúa, nghiêm trang, có thể nói là hơi lãnh đạm. Ông cao một thước bảy ba, vai rộng. Nhà thơ Mai Nhạc đã mô tả như sau:

Vai không rộng lắm, sức không dài

Đem tấm lòng văn gánh việc đời

Gót đạp đất,

Đầu đội trời.

Giương mắt mà coi,

Đẹp là ai?

Xấu là ai?

Câu khôn câu dại chứa đầy tai…

(“Đề tấm ảnh ông P.Q” Nam Phong số 100, trang 183)

Và gần đây nữa, một tấm hình được thực hiện nhờ nét bút của kí giả Vân Bình Phạm Văn Bính, trong tuần báo Đời:

“Cụ Phạm Quỳnh là một học giả hào hoa phong nhã. Cụ người dong dỏng cao, nước da trắng xanh, lúc nào cũng mang một cặp kính trắng, đạo mạo như một nhà giáo sư triết học.Cụ ăn mặc chải chuốt lịch sự; mỗi câu chuyện cụ nói ra đều đượm vẻ văn hoa bóng bảy. Nhiều người gặp cụ lần đầu tưởng cụ kiêu ngạo khinh người. Nhưng khi gần cụ lại thấy cụ dễ dãi nói chuỵên có duyên, trung thực và chân thành.

“Khi cụ còn là một chủ báo, tôi thấy hằng ngày cụ đi bộ từ số 5 Hàng Da ra bờ hồ Hoàn Kiếm, làm việc tại trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Cụ đi làm giản dị như một viên thư kí đi làm ở một công sở, đều đặn, đúng giờ, chăm chỉ.

“Khi cụ được vua Bảo Đại triệu vào Huế làm Ngự tiền văn phòng và Thượng thư Bộ Giáo dục, cụ cũng không đổi phương làm việc. Vẫn cần mẫn siêng năng, vẫn chu đáo như khi còn làm chủ báo” (Vân Bình Phạm Văn Bính: Hai quái kiệt của làng báo Bắc Việt, báo Đời số 33, ngày 21-5-1970, Sài Gòn)

Đào Hùng nhà phóng viên Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn năm 1931, ra Bắc phỏng vấn chủ bút Nam Phong cũng cho ta biết thêm một vài nét về hình dung và tính nết Phạm Quỳnh:

“Phạm tiên sinh…dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ gìn giữ, tỏ ra một người có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Đào Hùng: Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, 18-6-1931)

Người ta đã nói đã viết rằng Phạm Quỳnh “kín đáo”, hay có vẻ mặt “kín đáo”. Ngay trong Nam Phong số 168, phần phụ trương Pháp văn, độc giả có thể thưởng thức đoạn văn sau đây trong bài tường thuật về một phiên họp của Đại Hội Đồng Kinh Tế và Tài Chính Đông Dương. Tác giả là một nhà báo Pháp:

“Phạm Quỳnh mà văn hoá và tài năng làm vinh dự cho giống nòi đã là một chiến lược gia cho buổi tranh luận. Theo dõi phản ứng trong hội nghị một cách thiệt tài tình, ông làm chủ buổi hội, điều khiển buổi họp mà lại cho ta có cảm tưởng như ông chỉ là người ngoại cuộc. Kỹ thuật của ông tế nhị cũng như vẻ mặt ông kín đáo, đã tỏ ra rất hiệu nghiệm” (La question des alcools au Grand Conseil, Revue “Indochine”, Sài Gòn, Nam Phong số 168, tháng giêng năm 1932, phụ trương Pháp văn trang 14)

Thực ra, vỗn dĩ và nhất là từ năm 1917, học giả Phạm Quỳnh đã kiên trì nuôi dưỡng đức tính trầm lặng đó. Ông là một thanh niên Khổng học, dòng dõi nho phong, ông quan niệm có bổn phận trung thành với tập quán cổ truyền. Nhưng một khi đã lên tiếng, đã chấp nhận đối thoại, ông trở nên hùng biện, qua sức hấp dẫn của đề tài, qua giọng nói cao thấp, nhịp câu nhanh chậm, lại qua lập luận bắt nguồn từ cả một tấm lòng giàu nhiệt thành, đầy xúc cảm và say sưa biết chừng nào đối với một vài loại sự kiện hay tư tưởng. Bằng chứng là đoạn văn sau đây của kí giả René Lays:

“Ngài tiếp đón chúng tôi một cách rất nhã nhặn. Chúng tôi bèn đánh bạo hỏi ngài có muốn tuyên bố gì cho các độc giả của báo Impartial không. Quan Thượng thư Phạm Quỳnh vốn tính ôn hoà nho nhã, liền bảo chúng tôi rằng xin tuỳ ý phỏng vấn, ngài sẽ tường tận trả lời (…) Quan Thượng thư tủm tỉm cười, đáp lại rằng: “Tôi cám ơn ông đã có bụng yêu mừng như vậy. Tôi lấy làm cảm động, vì là lời mừng của một bạn đồng nghiệp cũ, vì tôi đây cũng đã từng viết trong các báo. Ngày nay, vì địa vị, vì chức vụ, không thể viết được nữa, nhưng nghề làm báo thực là một nghề có hứng thú làm ai đã làm qua, vẫn giữ như vết in trong tâm não, không bao giờ phai được…” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong số 189, tháng 8 năm 1933)

Phạm Quỳnh không phải là con người vô cảm giác, nhưng ông đã khéo chế ngự cảm giác đó vào khuôn phép. Và lẽ dĩ nhiên khía cạnh này của cá tính – nghĩa là ý chí cương quyết chế ngự cảm giác – đã ảnh hưởng rất nhiều tới quan niệm của ông trên lãnh vực văn chương và xã hội.

Khi còn thanh niên, ông đã có dịp bàn về “ý chí kỉ luật” này trong bài “Làm văn”. Và ông kể lại mặc dầu say sưa trước sức cám dỗ của Pháp văn, ông đã cương quyết từ bỏ tham vọng phù phiếm Pháp văn để hoàn toàn quay về với tiếng mẹ đẻ.

“Vào khoảng mười năm về trước mà xướng ra làm văn quốc ngữ tưởng cũng là liều mà bạo thật…Thầy không có, tuổi còn trẻ, học còn ít, thế mà dám hăm hở làm văn, phỏng có liều không? Nhưng liều mà cũng bạo, bạo là thế này: một bên các thầy tây học lãnh đạm, một bên các cụ khủng khỉnh, thế mà dám không nho, không tây, giở nghề quốc ngữ lơ láo một mình, chẳng ai thiết đến, tưởng không bạo cũng là gan. Nhưng gan nhất là tự mình miễn cưỡng với mình. Tôi từ thuở nhỏ ham mê chữ tây lắm (…) Nhưng đương ham mê như thế mà phấn nhiên miễn cưỡng lại được, chợt tỉnh lại mà tự nghĩ rằng: “Làm thằng An Nam mà không tập làm văn An Nam, lại học văn tây, cho dẫu hay tám vạn cũng không bằng người ta được, mà phí công vô ích (…) Tôi cũng ví như người nghiện văn tây mà tự mình bắt buộc (…) là chỉ vì một chút khốn tâm, khốn tâm về văn quốc ngữ, chỉ vì một chút hi vọng, hi vọng có một ngày người mình cũng làm văn được như người” (Làm văn – Nam Phong số 67, tháng 1 năm 1923, trang 19)

Trong thời gian làm Thượng thư, Phạm Quỳnh thường có dịp tiếp phóng viên các báo đàn bà (tỉ dụ: tuần báo Phụ nữ thời đàm) muốn phỏng vấn về cuộc đời tình cảm hay các cuộc “phiêu lưu” của ông, Câu trả lời của Phạm Quỳnh thời đó: “Đời tình  cảm của tôi là một con số không” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) đã làm nhiều người rất lấy làm lạ, trong khi ông chỉ muốn ngụ ý ông không có tình cảm nào khác hơn là gia đình (Lẽ dĩ nhiên câu trả lời đó không có ý nghĩa là Phạm Quỳnh vô tình hay chủ trương không có cảm xúc… Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xin kể vài giai thoại sau đây:

“Phạm Quỳnh đôi khi cùng với bạn bè, cũng có lúc tới các ca lâu tửu điếm thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán cho phép, người ta hỏi ông có chấm một cô đào nào không. Ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy nên không bị cám dỗ”. Tuy vậy, ông rất là ưa ca và nhạc. Khi đã làm Thượng thư ở Huế, ông hân hoan mỗi khi tiếp đón các nhân vật hay ký giả từ Hà Nội, Sài Gòn hay cả  từ Paris tới, được dịp tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ rất bình dân, ngồi cùng chiếu với các đào nương hay nhạc công chuyên nghiệp. Đó là những buổi họp mặt đặc biệt, không thể lấy gì mà so sánh hay đánh giá. Nhưng trong đời sống thường ngày, Phạm Quỳnh giản dị đến mức có thể gọi là nôm na, không đòi hỏi gì hơn là được ru ngủ bằng một chiếc máy hát với mấy cái đĩa ca nhạc quen thuộc. Khi còn ở Hà Nội, thị hiếu chính của ông là sưu tầm những đồ sứ Giang Tây cổ. Vào Huế, ông khám phá ra vẻ đẹp nên thơ của các cổ y Trung Quốc, làm bằng lụa Tàu hay gấm dệt. Ông mua rồi đưa may thành áo dài xếp trong tủ.

“Ông không có sức khoẻ; do đó phải dùng thuốc luôn và kiêng khem thận trọng. Ông đau bao tử nên chỉ ăn được cơm nếp; quanh năm và cứ mỗi hai giờ phải uống hai thìa thuốc than chiêu bằng  nước trà; ông không uống rượu vang, rượu mạnh, mà cũng không hút thuốc lá. Trái lại, ông nghiện trà Tàu, và khi có  dịp, thú vui của ông là từ tốn nhắp chén nước thơm để ngâm nga mấy câu Đường thi. Ông không thích chơi bài, đánh bạc, tuy nhiên, sau cùng ở Huế, ông cũng học đánh “mà chược”. Trước hết là để khỏi mang tiếng lập dị khi vào yết kiến đức Từ Cung và sau nữa là để cùng với gia đình tiêu khiển trong mùa mưa. Tất cả lòng thương mến ông đã dành cho gia đình. Tôi rất cảm động khi nhớ lại những buổi họp mặt gia đình, các con quây quần xung quanh cha, nhân dịp nhà có giỗ và cha tôi ôn lại tiểu sử các bậc tiền nhân đã qua đời, hay nhắc lại một vài kỉ niệm liên quan đến đại gia đình”). Trách nhiệm gia đình đó ngày thêm đè nặng lên vai ông, người con một, mồ côi từ nhỏ, đã vậy còn lập gia đình sớm và đông con. Ông không thể hi sinh, xao lãng con, vì vậy không thể làm khác những gì ông đã làm. Nói tóm lại, ông chỉ có thể chủ trương cải cách, mà không thể là một nhà cách mạng…

Ngay từ năm 1917, lúc Nam Phong mới chào đời, niềm tin của ông đã rõ rệt. Ông tin tưởng nhận lãnh một sứ mệnh. Tất cả niềm tin mãnh liệt đó là di sản ông được thừa hưởng là do bản tính, có thể nói là do bối cảnh trong đó ông đã sống đời côi cút cô đơn. Về một vài khía cạnh nào đó, “cô đơn” dường như là một trong số các yếu tố chánh mà ta phải lưu ý khi phân tích thái độ, hành động và toàn thể sanh hoạt của ông, thuần nhất và bất khả phân, cho đến khi ông vĩnh biệt cõi đời. Ông không muốn cô đơn. Ông không tìm cô đơn nhưng định mệnh đã muốn ông phải là một thanh niên cô đơn, để sau này trở nên một chủ gia đình cô đơn mặc dầu sống giữa các người thân mến. Ông sẽ tiếp tục đời sống cô đơn đó, nhưng nhờ văn chương mà gặp bạn tri âm.

Và như vậy, Nam Phong ra đời. Đối với Phạm Quỳnh, tạp chí trở thành một phương tiện khả dĩ giải thoát ông khỏi vòng vây của cô đơn. Cũng như lịch sử cổ kim đã từng chứng tỏ khía cạnh này của nghề làm báo. Giữa các độc giả và Phạm Quỳnh, một sợi dây thường xuyên cảm thông được tạo nên dưới hình thức một cuộc đối thoại (kể từ số 26 tháng 4 năm 1919, Nam Phong đã đặt ra mục “Thư cho người bạn”). Ông nhận thấy mỗi cuộc bút chiến đã dạy cho ông biết phải làm thế nào để truyền bá tư tưởng và truyền cảm tâm tư.

Có thể nói Nam Phong chẳng khác nào một trường học, quy tụ một số môn sinh. Trong môn phái đó, một tiếng nói Việt Nam tiến bộ được rèn luyện, một nền văn hóa canh tân được chủ trương. Ít hay nhiều, một biên tập viên là một giáo sư, mỗi độc giả là một học sinh hay phụ giáo, có nhiệm vụ truyền bá sau khi đã thấm nhuần “lời đẹp”… “Lời đẹp” đó phù hợp với tập quán chỉ chấp nhận những bài viết nhằm mục đích giáo huấn hay đạo lý. Chúng ta cần chú ý đến tánh cách đặc biệt này của văn chương Việt Nam và Trung Hoa.

Trọn đời Phạm Quỳnh không hề sáng tác một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết. Mặc dù tự học về chữ nho, ông lại rất khắt khe trong việc áp dụng những khuôn phép cổ truyền, hơn các vị khoa bảng xuất thân từ các kỳ thi hương thi hội. Ông không chấp thuận “nghệ thuật vì du hí”, mà cũng không tán thành “nghệ thuật vì nghệ thuật”. Phần khác do văn hoá Pháp đào tạo, ông không chủ trương một nền văn chương sáo ngữ, chứa đầy những dẫn văn hay hình bóng mượn trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam. Tác luyện một nền văn hóa mới thuần tuý Việt Nam, rèn luyện sao cho tiếng nói của đất nước có đủ khả năng diễn tả những tư tưởng mới và những kiến thức mới, đó là tôn chỉ giáo huấn mà Phạm Quỳnh đã lựa chọn và thực hành, nhờ tạp chí Nam Phong. Ông sẽ rất thẳng tay đối với tất cả những người mà ông cho là “tài tử”, làm phí thì giờ của độc giả bằng những sáng tác giải trí, kể cả giải trí bằng cách tự thoát ly trong phạm vi nghệ thuật thuần tuý.

Vì bất đồng ý kiến về điểm này, một số văn hữu cộng tác buổi đầu đã ra đi; các vị này, trong số có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và sau này có Trương Dân và Mân Châu, chủ trương đứng bên lề truyền thống Khổng học để có thể tạo nên một nếp sống phóng khoáng

Và như vậy, Phạm Quỳnh thản nhiên tiếp tục tiến hành dồn hết tâm trí vào công cuộc hướng dẫn văn chương Việt Nam tới các đề tài mà ông cho là nghiêm chỉnh. Ông sáng suốt viết những dòng sau đây trích trong Nam Phong số Tết năm 1918 (năm Mậu Ngọ) là số Tết duy nhất đặc biệt phát hành nhân dịp Tết và cũng là ông tổ của các số Tết của các báo chí sau này (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân. Trong thế giới dễ không có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui; vui ngày Tết là cái vui dễ truyền nhiễm vậy

“Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến lối văn tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế; đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự “thực” hơn sự “phiếm”. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ như hội Tân Xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gảy khúc đàn sai nhịp vậy

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cản chung của xã hội trong buổi đầu xuân năm mới, giời ấm khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại không muốn trái với chữ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này (…)

“Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm ái, truyền vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết đươc…” (số Tết báo Nam Phong, Tết Mậu Ngọ 1918)

Đó là những nét chính yếu về Phạm Quỳnh trong những năm đầu của tạp chí Nam Phong. Lẽ dĩ nhiên trong tương lai, thời gian và các biến cố sẽ đem lại những nét bổ túc không kém quan trọng

P.T.N.

(Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993)

Tháng Sáu 26, 2015

Lạ lùng một cuốn sách dở dang

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 7 năm 2015.

LẠ LÙNG

MỘT  CUỐN SÁCH DỞ DANG

Nguyên Ngọc

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang của Nguyên Ngọc mới lên Blog PhamTon tuần 1/2/2012. Tính đến ngày 19/9/2012 đã có 10.521 lượt người truy cập.

—o0o—

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn vừa ấn hành 2000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Mở đầu tập sách 222 trang là bài viết này của nhà văn Nguyên Ngọc.

Nhà văn Nguyên Ngọc là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, những bút danh khác là Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim, tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5-11-1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, xin gia nhập quân đội, tốt nghiệp Trường Lục Quân Khu V. Hầu hết thời gian 1951-1954, hoạt động ở vùng Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên Khu V bấy giờ. Chính điều đó đã dẫn đến thành công của tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (1956), được tặng giải nhất về tiểu thuyết trong Giải Thưởng Văn Học 1954-1955 của Hội nhà Văn Việt Nam. Sau đó, cho in Mạch nước ngầm (1960) và tập truyện ngắn Rẻo cao (1961). Năm 1962, trở lại Tây Nguyên và Quảng Nam, ông tiếp tục sáng tác với bút danh Nguyễn Trung Thành. Năm 1969, có tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc nổi tiếng với truyện ngắn Rừng xà nu và tùy bút Đường chúng ta đi. Năm 1971 và 1974, phần 1 và 2 tiểu thuyết Đất Quảng, 2000 có ký sự – kịch bản phim Có một con đường mòn trên biển Đông (NXB Trẻ), 2002 Cát chảy  (NXB Trẻ), 2006 Lắng nghe cuộc sống (NXB Văn Nghệ) và Nghĩ dọc đường (NXB Văn Nghệ) ra mắt bạn đọc…

Sáng tác của Nguyên Ngọc không nhiều về số lượng, nhưng gây được ấn tượng mạnh với người đọc. Ông nhận thức rõ ràng về những hạn chế mang tính lịch sử của một thời đã qua để hướng tới sự đổi mới, đó chính là kết quả của sự nhạy cảm trong tư tưởng của nhà văn. Ông nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Dịp nhà xuất bản Tri ThứcTrung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây tổ chức buổi ra mắt bản dịch Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Phạm Quỳnh, nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Đầu thế kỷ XX, chúng ta đã có những người khổng lồ như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi. Không phải mọi kiến giải của họ đều đúng đắn, nhưng những vấn đề họ đặt ra đến nay vẫn còn tính thời sự”.

Chúng tôi xin mời  các bạn đọc nguyên văn bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang như sau:

*

*    *

Cuốn sách này của Thượng Chi Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (mười một bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn vỏn vẹn một trang; và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền… Tôi đối với Truyện Kiều, Truyện Kiều đối với tôi – hay là có thể nói, tôi đối với cô kiều, cô Kiều đối với tôi…” Kiều với Đạm Tiên, một hội một thuyền. Phạm Quỳnh với Kiều, một hội một thuyền. Cả ba một hội một thuyền vậy! Đều “tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Nhưng Phạm Quỳnh không đổ lỗi cho trời, ông nhận lỗi về mình.

Ông viết những trang cuối cùng này ở nơi có tên là biệt thự Hoa Đường và tự gọi mình là “Thiếu Hoa Đường”, nương theo tên “Lão Hoa Đường” của danh nhân Phạm Quý Thích, “vị tiền bối chân Nho ôn hòa thuần túy” mà ông cho là ông đã dại dột không biết ứng xử cho bằng “Lão Hoa Đường sinh vào thời Lê Mạt Nguyễn sơ”, là đời loạn, tự biết “phận Nho quèn” không sao đương được với thời cục rối, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu Thiếu Hoa Đường này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, “chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nhà nho mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào!…”

Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta goi là “dấn thân”) ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết “Hoa Đường tùy bút”. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, có thể là một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm.

Ở giữa tập tùy bút này là một bài có vẻ lạc giọng so với những bài khác, với cái đầu đề trông rất thản nhiên, lối kể cũng rất thản nhiên, điềm đạm, dửng dưng nữa, “Chuyện một đêm và một ngày”. Ấy vậy mà cái đêm và cái ngày ấy, mồng 9 tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương – và Phạm Quỳnh chừng nào đó ở chính trung tâm của sự kiện chấn động ấy, sự kiện cắt ngang đứt phựt cuộc đời ông – và rộng hơn, chuẩn bị cho cả đất nước bước qua một trang hoàn toàn mới của lịch sử (chính trong cái một đêm và một ngày đó Trường Chinh dã viết Văn kiện quyết định “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”). Cuối bài ông có hứa: “… (Trong một đêm và một ngày ấy) đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường?” Như ta biết, cũng là một lời hứa ảo tưởng thôi, bởi cái lịch sử ông vừa nói đó nào có cho ông “có dịp”. Nó đã hất ông ra bên lề. Ở bên lề đó, ông bắt tay chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, những trang trông rời rạc này chính là chuẩn bị cho cuộc tổng kết ấy – tôi tin vậy, bởi hai lẽ: một người như Phạm Quỳnh, vốn sống đầy suy tư, vừa có cái chất nghệ sĩ chết người của cô Kiều, vừa dẫu đã quyết về vườn chắc hẳn vẫn chưa chịu hết trách nhiệm với xã hội và nhân quần, sau cuộc lăn lộn lấm lem mấy mươi năm trong vòng danh lợi đắng cay, ắt không thể không có điều muốn nói lại với đời, và trước hết với chính mình. Lại nữa, đọc kỹ xem, chừng rời rạc vậy mà vẫn có một nhất quán: hoặc bằng đôi ba chân dung cực ngắn mà cực tinh, rất cụ thể mà sức khái quát lớn – khiến ta không thể không nhớ những trang viết nổi tiếng Các tính cách (Les caracactères) của La Bruyère; hoặc súc tích đến chỉ vẹn một trang, mỗi câu như một châm ngôn – lại khiến ta nghĩ đến La Rochefoucault; hoặc cứ như xa xôi thâm trầm bàn về căn nguyên của con người và tính người khi ngẫm nghĩ về Keyserling…; mà hóa ra tất cả đều hướng về một điều rất quán xuyến ông viết ngay từ đầu thiên tùy bút dở dang này: “Thế thái nhân tình”. Một chuẩn bị tổng kết bi quan về cuộc đời, thói đời. “Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói vậy, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào… Dù có lạc quan gì về thế sự, thấy người đời trở mặt như bàn tay, xây lưng như chớp nhóng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ồ! Thói đời đen bạc đến thế ru?… Cho đến nỗi, tham sống vốn là bản năng hàng đầu của con người, nhưng rồi trải thói đời điên đảo, “người ta dù có mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai doạ hỏi: “Muốn sống thì…” thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không.

… Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?…”

Đối lại cái bi quan cùng cực đó, Phạm Quỳnh cố đưa ra hai lối thoát: Đạo đức, mà ông gọi là “Chỉ buộc chân voi”; “Nền nếp của gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân, phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn cái thị dục vô nhai của người ta, ngăn cái xuẩn động vô ý của quần chúng… Cho nên những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn tọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được…

Thứ nhất là kẻ có trách nhiệm trị dân trị nước, lại phải thận trọng lắm, và phải nhớ rằng một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy.”

Sâu sắc lắm, tha thiết lắm, nhưng mà liệu chính ông thật có tin, khi chính ông biết những sợi chỉ ấy là vô cùng mong manh, mà “con voi” cuộc sống thì vốn hung dữ quàng xiên. Và có khi “chỉ” cũng đã đứt rồi!

Phạm Quỳnh lại vận đến đạo Phật: “Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy…” Thâm thúy lắm, nhưng rồi chính ông cũng không kịp nếm được cái mùi an tịnh thâm trầm đó!

Cũng có khi ông cố tìm một con đường khác nữa: bàn về văn học và chính trị, ông bảo nhà chính trị nên có thêm văn học, bởi nhà chính trị “nếu quả có tài năng thời tài năng ấy nhờ văn học chắc cũng được cường hóa, thâm hóa thêm ra”. Nghe chừng không thuyết phục lắm, bằng cái đoạn “phản thuyết” sau đây: “Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ làm chính trị… thời đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem ra trưng bày nơi đầu đường góc chợ được…” Kinh nghiệm đau đớn của chính ông là một. Và ai cũng biết, xưa cũng như nay, không chỉ có một.

Như ta vẫn thấy, tổng kết sự đời của một người thành công thường nhạt. Có mấy tác phẩm lớn viết về những cuộc đời suôn sẻ đâu. Kinh nghiệm đời quan trọng và đáng giá nhất là của những người ngấm đau vì đời. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một người như vậy. Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang. Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy, mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm.

Tháng 8/2011.

Tháng Năm 22, 2015

Ông quả là Người nặng lòng với nước

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 5 năm 2015.

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôn trên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.

Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).

Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.

Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Phan boi chau (tre)Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quPham Quynh_Trean trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại cHoang Hy Nguyenhưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đâPhan boi chau (gia)y biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến Nha Phan Boi Chauđỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ. Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

 Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

 Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

    • Bằng tiếng Pháp:
      • Palais Inpérial: Hoàng Cung
      • Cabinet Civil de Sa Majesté: Ngự tiền Văn phòng
    • Bằng chữ Hán:
      • Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

Thu gui Louis Marty

Tháng Năm 15, 2015

Tình bạn Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

TÌNH BẠN PHẠM QUỲNH – NGUYỄN VĂN VĨNH

 Dã Thảo

Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quê quán làng Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Bố mẹ nghèo, phải bỏ làng ra Hà Nội kiếm sống và sinh ông ở 46 phố Hàng Giấy, ngày 15/6/1882. Nguyễn Văn Vĩnh hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi.

Lên tám, phải đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở Trường Thông ngôn của Pháp vừa mở ở đình Yên Phụ. Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông vẫn chăm chú nghe giảng, do đó nói và viết được tiếng Pháp. Hiệu trưởng Đác-giăng-xơ (D’Argence) chú ý và sau ba năm học, cho phép cùng thi tốt nghiệp. Ông đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi, nên được đặc cách nhận vào làm học sinh chính thức, được học bổng để theo học khóa tiếp theo (1893-1895) và đã đỗ thủ khoa khóa học này. 14 tuổi, làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai, rồi chuyển về tòa sứ Hải Phòng, Bắc Giang, ông bắt đầu cộng tác với các báo tiếng Pháp. Công sứ Bắc Giang đánh giá tài mẫn tiệp và nói tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã đặc cách bổ nhiệm làm chánh văn phòng. Khi được cử làm Đốc lý  Hà Nội cũng đưa ông về theo.

Ông giúp vận động người Việt làm đơn xin mở trường và các hội nên đã trở thành người sáng lập Hội Trí Tri, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt du học Pháp. Năm 1906 được sang Pháp giúp tổ chức và quản lý gian hàng Bắc Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa mở ở Marseille. Học hỏi được nhiều về nghề báo và nghề in, nên khi về nước, ông từ chức ở phủ thống sứ và đứng ra làm báo và nghề in… Năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh từ Sài Gòn trở về Hà Nội làm chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, sang năm sau, kiêm cả tờ Trung Bắc tân văn, hai tờ này đều của Snây-đe (Schneider) người Pháp.

Sau Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa Trường Thông ngôn năm 1895, Phạm Quỳnh cũng học tại trường này và cũng đỗ thủ khoa năm 1908, khi trường Thông ngôn kết hợp trường Thành chung Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi). Nguyễn Văn Vĩnh đi làm công chức khi 14 tuổi, thì Phạm Quỳnh đi làm công chức năm 15 tuổi ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Chính trong thời gian làm việc tại đây, được học tập nghiên cứu nhiều, Phạm Quỳnh đã viết bài cho Đông Dương tạp chí và dần dà trở thành cây bút được bạn đọc tin cậy và cũng là cộng tác viên thường xuyên của báo.

Họ thân nhau từ đấy.

Lý do sâu xa hơn của tình thân ấy chính là cả hai đều học chữ Pháp, làm việc dưới quyền người Pháp, nhưng đều yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ và cố dốc hết tâm sức để vun trồng chăm sóc cho quốc ngữ ngày một lớn mạnh, phong phú, đủ để giữ được hồn nước. Ngay từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở như chữ quốc ngữ” (Lời tựa bản dịch Tam Quốc Chí của Phan Kế Bính), cũng tha thiết tin tưởng như sau này Phạm Quỳnh nói “Tiếng ta còn, nước ta còn” trong lễ Kỷ niệm Nguyễn Du đầu tiên ở nước ta năm 1924.

Năm 1922, hai ông cùng đi dự Đấu xảo Thuộc địa Marseille và tranh thủ đi Paris. Nguyễn Văn Vĩnh đã đi Pháp năm 1906, có kinh nghiệm hơn, lại tháo vát, có khiếu về kinh doanh, đã mua xe hơi, đưa Phạm Quỳnh đi tất cả những nơi mà Phạm Quỳnh muốn đến “xem tận mắt, nghe tận tai”. Trong Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ngày 23/7/1922, Phạm Quỳnh viết: “Sẵn có ô tô của ông V., hai anh em định suốt tuần lễ này đi xem cho thật nhiều không những trong châu thành Paris, mà đi cả các nơi phụ cận ở ngoài nữa”. Chính nhờ có ông V. tự lái xe của mình cho Phạm Quỳnh đi cùng mà hậu thế chúng ta được biết thêm bao nhiêu cảnh và người nước Pháp hồi ấy, chứ Phạm Quỳnh thì chỉ có đi bộ và đi các phương tiện giao thông công cộng, làm sao mà tung hoành theo ý mình được.

Chính vì tình bạn vong niên đó mà năm 1926 khi Thống sứ Bắc Kỳ Rơ-nê Rô-banh (René Robin) có “nhã ý” trợ cấp cho Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong thì ông đã nhân cơ hội này xin trợ cấp cho Nguyễn Văn Vĩnh mà trong thư gửi cho Robin ông trình bày là Nguyễn Văn Vĩnh đã làm rất nhiều việc cho xã hội và còn gặp khó khăn lớn hơn ông.

Cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta, mục đích chỉ là nhằm giữ hồn nước, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi trong nhân dân ta. Nhưng khi gặp được cơ hội trực tiếp đấu tranh chính trị để đem lại lợi ích cho nhân dân, nâng cao vị thế của người dân thì hai ông cũng không bỏ qua, mà luôn luôn tận dụng.

Năm 1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, Nguyễn Văn Vĩnh cùng bốn người Pháp ký tên yêu cầu chính quyền Đông Dương thả Phan Châu Trinh đang có mặt ở đấy. Vì việc này, ông đã bị Toàn quyền Pháp gọi lên đe dọa. Sau, nhờ có sự can thiệp của Hội Nhân quyền, Phan Châu Trinh được trả tự do trước hạn và đưa về quản thúc ở Mỹ Tho (1911).

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử tại Tòa Đề hình Hà Nội, bị kết sáu án chung thân và hai án tử hình. Nhà báo Phạm Quỳnh đã viết bằng tiếng Pháp trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương cộng hòa) có thế lực cả ở Đông Dương lẫn chính quốc, lên tiếng bênh vực Phan Bội Châu là “người chỉ có một tội là tội yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm” và yêu cầu khoan hồng. Kết quả là, cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân sôi nổi cả nước, Phạm Quỳnh đã góp phần giảm án cho Phan Bội Châu từ tử hình xuống chỉ còn quản thúc ở Huế, để Phan Bội Châu thành “ông Già Bến Ngự” nổi tiếng cả nước.

Năm 1930, trên diễn đàn của Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương, nhà báo Phạm Quỳnh đã lớn tiếng bênh vực công nghiệp còn non trẻ, yếu ớt của nước nhà, chống lại và làm thất bại chính sách độc quyền kinh doanh của thực dân Pháp, điển hình là đã làm phá sản chính sách độc uyền về sản xuất và bán rượu gạo ở Việt Nam của công ty Fontaine. Cũng trên diễn đàn ấy, năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị vì có lợi cho ngân hàng Pháp và có hại cho Đông Dương.

Tuy cùng một mục đích nhưng không phải khi nào hai ông cũng nhất trí với nhau về con đường và cách thức đi tới mục đích đó. Cho nên mới có cuộc tranh luận trực trị hay lập hiến sôi nổi một thời mà hai ông đứng ở hai phía đối lập . Tuy thế cả hai đều hòa nhã, chừng mực, lấy việc tìm ra con đường tốt nhất cho dân cho nước làm trọng, bình tĩnh thảo luận tìm ra chân lý. Hai ông bao giờ cũng “hòa nhi bất đồng” (tức: hòa với mọi người, nhưng không về hùa với ai) theo đúng kiểu người quân tử. Đó là một cuộc tranh luận có văn hóa.

Nhưng, rốt cuộc, tất cả những việc các ông tham gia hoạt động chính trị chỉ càng chứng tỏ là cả hai ông chỉ là những nhà văn hóa, nhà văn hóa lớn như nhà văn Nguyên Ngọc có lần gọi là “những người khổng lồ”, nhưng không thể là những nhà chính trị. Sự nghiệp các ông để lại vẫn chỉ là về văn hóa, văn học mà thôi.

Năm 1932 khi Nguyễn Văn Vĩnh đang họp Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương ở Sài Gòn thì có trát tòa án đòi tịch biên gia sản vì ông thiếu nợ do vay tiền dựng tòa soạn báo An Nam Nouveau (Nước An Nam mới). Vỡ nợ, ông phải đi sang Lào đào vàng và chết trong một cơn sốt rét ác tính, trên con thuyền độc mộc ở sông Sêbăngghi, gia sản chỉ còn hai bàn tay trắng (ngày 1/5/1936).

Lễ tang ông được tổ chức ở Hà Nội với đông đảo giới báo chí ba kỳ dưới dòng chữ kính viếng “ông tổ của nghề báo”.

Bấy giờ, Phạm Quỳnh đang ở Huế, là Tổng lý Đại thần Ngự tiền Văn phòng và Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục. Vậy mà ông lại làm một bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh, sau này có người tìm thấy khi được giao nhiệm vụ tịch thu gia sản Phạm Quỳnh khi ông bị bắt tháng 8/1945. Bài thơ có bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác, chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Người đương thời cũng thường gắn tên hai ông với nhau như trong việc kể tên bốn tác giả kiệt xuất thời đầu thế kỷ XX là “Quỳnh (Phạm Quỳnh), Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh), Tố (Nguyễn Văn Tố), Tốn (Phạm Duy Tốn.

Hai ông đều là “nhưng người dân thuộc địa, qua ứng xử với nền văn hóa đô hộ, đã tiếp biến văn hóa phương Tây để tạo ra những giá trị mới (lắm khi chống lạinằm ngoài toan tính của kẻ xâm lược)” (trích bài của Hữu Ngọc, Việt Nam và “sốc văn hóa”, báo Nhân dân cuối tuần, 27/6/1999 trang 5.)

Thành ra cảm thấy … hụt hẫng khi đọc bài Nhớ “người Nam mới” đầu tiên của Thu Hà đăng trên Tuổi Trẻ chủ nhật 12/9/2010 đoạn văn sau:

“Có quá nhiều điều chúng ta hôm nay chưa biết về Nguyễn Văn Vĩnh và những người ông chịu ảnh hưởng hay chia sẻ tâm huyết (Chúng tôi nhấn mạnh-D.T.) như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Tố, các đồng chí trong Đông Kinh Nghĩa Thục…”

Hụt hẫng vì không thấy nhắc đến tên người bạn thân thiết nhất, người đồng chí đồng tâm nhất với Nguyễn Văn Vĩnh là Phạm Quỳnh.

Vì sao đến cuối năm 2010 rồi mà vẫn cứ phải né tránh một tên tuổi cả nước đã biết từ gần 100 năm nay

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/11/2010.

D.T.

Trong bài sử dụng chủ yếu tư liệu trong Từ điển văn học-bộ mới (NXB Thế Giới, 2004) và Blog PhamTon.

Tháng Năm 8, 2015

Đôi lời về 11 bài viết cuối đời của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 5 năm 2015.

ĐÔI LỜI VỀ 11 BÀI VIẾT CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI –  PHẠM QUỲNH

            Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa cho ra đời 2.000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Những trang cuối tập sách 222 trang là bày này, đã lên Blog PhamTon từ tuần  3 tháng 11 năm 2009. Toàn văn bài như sau:

—-o0o—-

Các bạn đang có trong tay đủ 11 bài viết cuối đời văn, cũng là cuối đời người của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Đó là 1) Thế thái nhân tình, 2) Muốn sống…, 3) Chỉ buộc chân voi, 4) Văn học và chính trị, 5) Vô duyên, 6) Chuyện một đêm, một ngày, 7) Con người hiểm độc, 8) Anh chàng khoác lác, 9) Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường, 10) Tư tưởng Keyserling và 11) Cô Kiều với tôi, là bài cuối còn dang dở…

Con số thứ tự bài, chẳng qua chỉ là để tác giả biết là đã viết được mấy bài và dễ kiểm tra về sau. Tất cả theo thứ tự thời gian. Thượng Chi Phạm Quỳnh  viết những bài này sau khi từ quan tháng 3 năm 1945 về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên bờ sông nhỏ An Cựu nắng đục, mưa trong xứ Huế. Tiếp theo công việc tuyển chọn và dịch thô 51 bài thơ của thi hào thời thịnh Đường Đỗ Phủ, người đồng cảnh, đồng điệu với ông, được xem là “để lấy đà” cho việc trở lại với văn học của ông.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân từ Hà Nội đã vào gặp và phỏng vấn Thượng Chi Phạm Quỳnh tại biệt thự Hoa Đường, nơi ông “bế môn” không tiếp khách từ lâu. Sau này, nhà báo đã viết: “Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà ra làm quan (…) Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng. Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực (…) Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.” (Trích bài đăng trên báo Tin Điển, Sài Gòn, ngày 23/3/1952). 

Có lẽ các bạn đã thấy rõ điều đó khi đọc các bài ông viết về Thế thái nhân tình, Muốn sống…, Chỉ buộc chân voi, Vô duyên, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác Tư tưởng Keyserling. Còn về bản thân, Phạm Quỳnh rất ít khi nói về bản thân, trừ vài đoạn trong các du ký như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký thì trong những bài cuối đời này chúng ta được đọc Văn học và chính trị, rõ ràng là rút ra từ kinh nghiệm quan trường mười mấy năm đau xót của ông. Rồi Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường với những lời than như “Thiếu Hoa Đường (Tức bản thân Phạm Quỳnh – PT chú) này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào …” (trích bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường). Và tâm sự đau đớn nhất đã bật lên trong bài viết cuối còn dang dở Cô Kiều với tôi. Ông viết “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền (tức Nguyễn Du – PT chú), trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: “truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…” Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

Chỉ có một bài, duy nhất trong cả văn nghiệp đồ sộ của ông. Phạm Quỳnh viết về một đêm một ngày trong đời mình. Ông như tiên đoán hậu thế sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về ngày hôm đó của đất nước nên đã ghi lại tỉ mỉ những gì tai nghe, mắt thấy trong đêm 9 và ngày 10/3/1945 ấy. Và sự thật quả đã diễn ra như ông từng nghĩ. Ông là một con người của lịch sử, sẵn sàng với mọi phán xét của lịch sử, ông chỉ chuẩn bị tư liệu cho việc phán xét đó thôi.

Một điểm xin bạn đọc lưu ý là 11 bài này không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh, cho nên ta không biết tác giả định nói gì khi viết loạt bài này. Có lẽ, chẳng qua sau bước khởi đầu lấy đà với thơ Đỗ Phủ, ông bắt đầu tùy tiện ghi lại những gì mình nghĩ ra hằng ngày. Chỉ mới là viết để một mình mình nhớ, một mình mình đọc mà thôi. Thể loại ông chọn là tạp văn, như Lỗ Tấn cuối đời đã chuyên viết thể loại này, có đến 18 tập trong tổng số 20 tập của Lỗ Tấn toàn tập. Ông có lẽ cũng định sẽ viết nhiều, cho nên sau tên ghi ở bìa tập vở học trò Hoa Đường Tùy bút, Kiến văn, cảm tưởng, ông ghi rõ con số I La Mã. Rõ ràng là ông còn định viết tiếp thật nhiều tập tạp văn khác như thế, để thể hiện trên trang giấy “ngòi bút dồi dào phong phú hơn xưa”. Nhưng, tiếc là tập vở học trò mỏng vẫn còn nhiều trang giấy trắng mà đời văn của văn hào đã dừng lại ở bài viết dở dang về đề tài gan ruột nhất của mình, viết về nhân vật đã vận vào cuộc đời mình như thế nào.

Ông chọn thể loại tạp văn, chính là chọn thể loại có thể thỏa sức tung hoành trên trường văn, trận bút, không lệ thuộc chủ đề, khuôn phép nào.

Tiếc là chim bằng đã gãy cánh khi đang dốc sức tàn để bay vút một lần nữa lên bầu trời văn học cao đẹp, mênh mông, bao la bát ngát.

Tiếc thay, thương thay một đời tài hoa, kiên cường…một lòng trung với Nước, hiếu với Dân.

TP.HCM, ngày 27/3/2009.

P.T

Tháng Mười Một 28, 2014

Viết về Thầy tôi

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 12 năm 2014.

VIẾT VỀ THẦY TÔI

Phạm Thị Thức

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học giả Phạm Quỳnh có 11 con gái, 3 người mất từ lúc chưa đầy tuổi tôi (thôi nôi). Có 5 người từng viết về ông là bà Phạm Thị Giá, con gái trưởng, Phạm Thị Thức con gái thứ hai và các bà Phạm Thị Hảo, Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn.

Bài Viết về thầy tôi của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội năm 1992, mà ông Trần Gia Phụng đã đôn lên thành Hồi ký của bà Phạm Thị Thức viết tại Paris năm 1992 gây nên một sự hiểu lầm lớn trong dư luận, nhất là ở nước ngoài, chủ yếu là Canada, Mỹ và Pháp. Bài này, bà Phạm Thị Thức viết theo yêu cầu của các em gái ở Pháp, nhân dịp kỉ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh (1892-1992), nhưng chưa công bố trên báo chí.

Bài này chúng tôi đã đưa lên Blog PhamTon 3/12/2009 nay phải đăng lại. Chỉ vì người Mỹ Sơn Tùng đã lặp lại sai lầm của ông Trần Gia Phụng trong bài viết ghi ngày 4/9/2011 nhan đề Sau 66 năm lịch sử và công lý nào cho vụ án Phạm Quỳnh? (tạp chí Thế Giới Mới). Chúng tôi đã có bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?, mới đưa lên Blog PhamTon ngày 21/10/2011 mà đến ngày 05/12/2011 đã có tới 36.344 lượt người truy cập! Đủ thấy sự đăng lại bài của bà Phạm Thị Thức là cần thiết đối với các bạn quan tâm.

Những tưởng chuyện đến thế là cùng, không còn gì phải lên tiếng nữa…

Nhưng, ngày thứ ba, 18/11 năm nay, chúng tôi lại được nhiều anh em và con cháu gửi cho “bài mới” về Phạm Quỳnh đăng trên Diễn đàn thế kỷ từ Hoa Kỳ. Tưởng gì, hóa ra “bổn cũ soạn lại”, nhưng mang một cái tít mới thật giật gân, tha hồ “câu viu”. Chắc chắn nhiều người trong nước đã thu được và đọc bài nay, vì nó nhan đề rất thách thức Tại sao Cộng Sản giết Phạm Quỳnh? Tác giả tất nhiên vẫn là nhà sử học nổi tiếng Trần Gia Phụng, viết tại Toronto, Canada.

Trong bài, một trong những cứ liệu “quan trọng, đáng tin cậy” vẫn là Hồi ký của bà Phạm Thị Thức viết tại Paris ngày 28/10/1992

“Sau khi Phạm Quỳnh bị giết (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp HCM. Sau đây là lời kể của bà Thức: “…Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!…Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), … Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), , nhân kỷ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình do bà Phạm Thị Hoàn thông tin.) Những điều nầy cho thấy rõ tính ngụy biện của HCM.   Lúc Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945, HCM đã về Hà Nội lập chính phủ (2-9-1945).   Nếu HCM cho rằng giết Phạm Quỳnh là sai sót của địa phương, HCM giải thích thế nào về chủ trương của đảng CS bôi lọ lâu dài Phạm Quỳnh sau khi Phạm Quỳnh từ trần? Tác giả Bernard Fall, trong quyển Les deux Viet-Nam, Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102 đã viết: “Người ta biết rằng Hồ là một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại.”

Vì thế, chúng tôi buộc phải đăng lại cả bài Viết về Thầy tôi đã đăng năm 2009 của bà Phạm Thị Thức và cũng buộc lòng phải đăng lại cả bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế? dù đã đăng nhiều lần trong mấy năm qua.

—o0o—

Thầy tôi, nói đến hai chữ ấy, tự nhiên hai dòng nước mắt của tôi chảy dài xuống má, ruột tôi đau quặn như đứt từng khúc! Nỗi hận này suốt đời tôi không sao có thể quên được…!!

Tôi hồi tưởng lại trong ký ức, những mẩu chuyện nhỏ về Thầy tôi…

Năm tôi 13 tuổi, tối nào tôi cũng lên ngồi bàn làm việc để viết bài cho Thầy tôi, vì Thầy tôi cho rằng chữ tôi đẹp và rõ ràng. Thầy tôi cầm quyển sách vừa dịch vừa đọc như đọc chính tả cho tôi viết. Tôi ngây thơ hỏi: Thầy phải dịch vào giấy nháp rồi để con viết chứ. Thầy thôi chỉ cười. Tôi còn nhớ là viết những học thuyết của Hippocrate gì gì đó mà tôi chẳng hiểu chi cả. Có hôm khuya quá, thấy tôi có vẻ buồn ngủ Thầy tôi bảo: “Con cố lên, chỉ còn vài trang nữa là xong thôi.”, và gọi người nhà mua cho tôi một bát chí mà phù để bồi dưỡng…

Thu ba Pham Thi Thuc_1Phần đầu bài viết của bà Phạm Thị Thức.

Năm 1928, tôi học École Brieux, cours Supérieur (Trường Brieux lớp nhất – PT chú) và là học sinh giỏi nhất lớp, đồng thời cũng là nhất trường vì ở đó chỉ có đến lớp Supérieur (nhất – PT chú) là hết. Đầu năm 1929, các cô giáo cử tôi lên đọc compliment (lời chúc – PT chú) chúc Tết bà Đốc là bà Autigeon. Các cô bảo: Em về nhà nhờ Thầy em viết giúp cho mấy câu. Tôi lo quá, nghĩ Thầy tôi bận nhiều công việc như thế, chắc có viết không. Nhưng khi tôi về nói, Thầy tôi vui lòng ngay và bảo: Con đừng lo. Thầy sẽ viết cho vài câu, nhưng con phải học thuộc lòng và đọc cho hay vào. Thế rồi tối nào Thầy tôi cũng bắt học cho rõ thuộc và đọc cho nghe, dặn nhấn mạnh khi nào nên nhìn vào giấy, thỉnh thoảng phải ngẩng đầu lên nhìn xuống dưới chỗ mọi người ngồi. Bài viết tôi học thuộc kỹ quá, cho đến nay quá 64 năm tôi vẫn còn nhớ mãi, những câu sau đây:

…C’est en obéissant à une tradition chère à tous les pays que nous venons aujourd’hui vous apporter le sPham Quynh va Voincère témoignage de nos jeunes coeurs. L’année 1928 vient à peine de s’écouler, emportant dans sa fuite une année de notre existance que déjà la foule s’empresse de fêter sa jeune soeur, en qui, elle met toute sa confiance et son espoir. Que cette année qui vient marque pour vous et votre chère famille, une ère de prospérité et de joie. Qu’elle soit pour vous douce et bénie. Avec cette confiance facile de notre jeunesse pour cette année qui s’annonce de bon augure, nous formulons des voeux les plus sincères pour qu’elle soit pour vous bonne et heureuse, remplie de bonheur et exempte de tout souci… (Tạm dịch là: Nay, theo tục lệ thân thiết với mọi xứ, hôm nay, chúng con xin chuyển đến Bà tấm lòng thành của những trái tim non trẻ. Năm 1928 vừa qua đi, mang theo một năm trong cuộc sống chúng ta, mà nhân dân đã hối hả mở hội đón năm mới, năm họ đặt tất cả niềm tin và hy vọng. Mong sao năm nay sẽ đánh dấu một kỷ nguyên thịnh vượng và vui vẻ với Bà và gia đình yêu quí của Bà. Mong sao năm mới an lành và đầy ân huệ với Bà. Với lòng tin cậy giản dị của tuổi trẻ chúng con vào năm mới này, năm báo trước điềm lành, chúng con xin chúc những lời chân thành, mong sao năm mới tốt lành và hạnh phúc với Bà, tràn đầy niềm vui và tiêu tan hết mọi ưu phiền …. – PT chú) còn dài nữa, v.v… Bài đọc từ hơn nửa thế kỷ không bao giờ nhớ lại, nay bỗng có dịp nhắc lại, nên có thể nhiều chữ sai và nhiều lỗi chính tả!

Tôi đọc trôi chẩy quá đến nỗi sau đó bà Đốc ôm lấy tôi hôn và bảo “Con đọc hay quá”. Các cô giáo thì tíu tít vui mừng vì học trò của mình được bà Đốc khen…

Năm 1930 tôi đậu Certificat (Tiểu học – PT chú) và thi vào trường École normale des institutrices (Trường nữ sư phạm – PT chú). Thi concours (Tuyển – PT chú) 150 người lấy 30, trong đó chỉ lấy có 3 người vào Normale (Sư phạm – PT chú), còn 27 vào cours complémentaire (Lớp bổ túc – PT chú). Tôi được đỗ thứ 2, như vậy là trong 3 người trên cùng được bourse (Học bổng PT chú) mỗi tháng 9 đồng. Tôi mừng quá về khoe ríu rít ở nhà. Thầy tôi bảo: “Thầy không muốn cho con nhận học bổng, sau này đỗ ra trường làm cô giáo, người ta bổ đi đâu cũng phải đi. Nhà mình, con đi học chỉ cần có kiến thức, không cần đi làm ăn lương gì cả. Con không nên nhận và để cho người đỗ thứ 4 lên thay con”. Tôi buồn quá, khóc với Me tôi. Thầy tôi thấy tôi buồn và có vẻ tiếc cái món bourse, một hôm Thầy tôi gọi vào buồng giấy và cho tôi một chồng 90 đồng bạc hoa xòe và bảo tôi: “Đây Thầy “đền” cho con 10 tháng học bổng. Con lấy muốn mua gì thì mua và yên tâm mà học hành”. Nhận được số tiền đó tôi mừng quá, tôi đi vội đến phố Hàng Khay sắm sửa bao nhiêu thứ mình vẫn thích: dentelle (Đăng ten – PT chú) viền áo, vòng đeo tay, dây chuyền đeo cổ, nhẫn, v.v và quà cho các anh các chị và các em…

Gia Dinh Sinh Nhat 2 cu

Thầy tôi có bà bạn là nữ sĩ Jeanne Duclos Salesses. Bà vẫn thường đến chơi với gia đình và làm nhiều bài thơ tặng Me tôi và em bé của tôi là em Yến. Được tin bà qua đời, sau đó em tôi cũng mất, Thầy tôi có viết một bài nói về Bà, trong đó có mấy câu tôi còn nhớ: “Son souvenir est attaché à un petit être qui m’est cher, à ma petite hirondelle chérie, qui, un mois après son départ, s’est envolée dans les airs, òu elle aurait du la retrouver…”(Tạm dịch là: Kỉ niệm về Bà gắn với một sinh linh nhỏ bé thân thiết với tôi, với chim yến nhỏ yêu quí của tôi, một tháng sau khi Bà ra đi, đã bay lên trời, nơi có lẽ cháu sẽ được gặp lại bà.- PT chú)

Năm 1935, chồng tôi sang Pháp thi doctorat en médecine (Bác sĩ y khoa – PT chú) 3 năm, tôi vào Huế với Thầy Me tôi và sinh cháu Tứ ở Huế. Năm 1937 có một sự kiện làm cho tôi xúc động và nhớ mãi. Hồi đó Me tôi có mang em Phạm Tuân được độ 6 tháng thì Me tôi mắc bệnh hen rất nặng, suốt ngày tôi ngồi vuốt ngực và xoa bóp cho Me tôi, nhiều lúc thấy lên cơn hen Me tôi khó thở tưởng như nếu kéo dài có thể chết. Thầy tôi đi làm về là vào ngay buồng thăm hỏi, vuốt ve và nói chuyện động viên và an ủi sẽ khỏi, v.v…Một hôm tôi thấy Thầy tôi ngồi với hai ông docteur (Bác sĩ – PT chú), nói chuyện gì mà tôi thấy Thầy tôi nét mặt buồn rầu tôi chưa từng thấy. Tôi đoán là có chuyện gì hệ trọng lắm. Sau đó, thấy Thầy tôi vào nói với Me tôi là các ông docteur hội chẩn và khuyên nên lấy cái thai ra thì mới khỏi nguy hiểm cho người mẹ. Me tôi khóc, bảo: “Đau đớn mấy tôi cũng cố chịu được, không khi nào tôi chấp nhận cái việc đó; vì tôi nằm mơ thấy rõ ràng có một thằng bé rất thông minh xinh đẹp chạy theo xe tôi và nói “Me, cho con về với me!””. Sau đó nhờ phúc ấm tổ tiên, Me tôi qua khỏi và sinh được đứa con thứ 15 của Thầy Me tôi. Thầy Me tôi thương và quý em lắm, cứ gọi là “chú Miềng”; năm nay em đã 55 tuổi, có 5 con rồi mà gia đình vẫn quen gọi là chú Miềng.

Thầy tôi có 16 người con mà lúc nào cũng chú ý săn sóc thương yêu như nhau, chưa hề bao giờ mắng mỏ con cái. Thầy tôi rất thông minh, uyên bác, tuy không phải là docteur nhưng có một “Larouse médicale” (Từ điển Larouse y khoa – PT chú) nhiều tập. Mỗi khi con cái ốm đau, Thầy tôi đều đem ra sưu tầm tra cứu và theo đơn trong sách chữa bệnh, hiếm lắm mới phải mời đến docteur.

Tháng tám năm 1945, Thầy tôi ra đi!! Than ôi cả Thầy Me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corps (người hộ vệ – PT chú) cho Cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” Và tôi còn nghe một bà bạn là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng Cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi cụ Hồ bảo:“Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học!”

Trời ơi, oan uổng cho Thầy tôi biết bao!!! Nỗi oan này khắc sâu trong lòng chúng tôi, nỗi hận này đến kiếp nào cho khuây!…

Thầy ơi, chúng con thật là bất lực, xin cúi đầu nhận tội với Thầy.

Phạm Thị Thức

28/10/1992

Thu ba Pham Thi Thuc_2Bản sao chụp phần cuối bài của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội ngày 28/10/1992.

 ***

Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?

Phạm Tôn

(Đến ngày 26/11/2014 bài này đã được 62.755 lượt người truy cập, đứng đầu bảng xếp hạng bài viết được nhiều người đọc nhất trên Blog PhamTon)

—o0o—

Nhân dân ta thường khinh bỉ gọi những kẻ chuyên theo sát người khác với ác ý là “Bám dai như đỉa đói”. Quả tình, đỉa đói bám dai người, vật không phải để “chơi”, mà là để hút máu cho đã cơn khát máu tươi mới chịu buông tha. Câu ví đó thật đúng với việc người Mỹ gốc Việt tên là Sơn Tùng, từ mươi năm nay luôn bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên, cập nhật từng hành động, lời nói của ông, không phải để “tìm hiểu” sự thật, cũng chẳng phải để “nghiên cứu”, mà chỉ để tìm xem có chỗ nào có thể “xía vô, xáng cho ông một Pham Tuyen_cong dan uu tuđòn”.

Bài viết mới nhất phát trên tạp chí Thế Giới Mới (Sau 66 Năm Lịch Sử và Công Lý Nào Cho Vụ Án Phạm Quỳnh?) ghi ngày viết là 4/9/2011, cũng khởi đầu từ một sự kiện liên quan đến nhạc sĩ Phạm Tuyên. Người Mỹ Sơn Tùng viết ngay từ đầu bài là “Nhân dịp từ chối” “tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh” năm 2011 về âm nhạc (rồi lại làm đơn), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con trai thứ chín của cố học giả Phạm Quỳnh, qua một bài phỏng vấn được phổ biến trên diễn đàn điện tử ngày 30 tháng 8 vừa qua dưới tựa đề “Cây cúc đắng trổ hoa vàng”, đã nói khá nhiều về con đường đi theo “cách mạng” và phục vụ Đảng Cộng Sản Việt Nam của ông từ năm 15 tuổi (…)”

Sơn Tùng sống ở Mỹ viết là nhạc sĩ Phạm Tuyên “từ chối “tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh” về âm nhạc (rồi lại làm đơn)” là có ý miệt thị. Nhưng, trong bài trả lời phỏng vấn trên báo điện tử vnexpress.net ngày 11/10/2011, chính nhạc sĩ đã nói: “Người ta bảo tôi cung cấp tư liệu cho họ thì tôi cung cấp, chứ nói làm đơn xin là không bao giờ tôi chấp nhận. Tôi cho rằng báo chí bức xúc nhân trường hợp của tôi bởi họ cũng nhìn thấy bất cập từ cơ chế xin-cho bao cấp còn tồn tại đến ngày nay. Chúng ta phải cùng phấn đấu làm sao để cơ chế xin-cho chấm dứt sau đợt xét duyệt này. Giải thưởng không phải là cuộc thi mà là sự thẩm định của đời sống.” Như thế là rõ, Sơn Tùng ở Mỹ đã “ra đòn” không trúng!

Tuy nói là “bài mới”, nhưng thật ra vẫn là “bổn cũ soạn lại” mà chúng tôi đã nhiều lần vạch rõ; thủ đoạn đơn giản như sau: Khi nào muốn bôi nhọ Tổ quốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta mà chưa tìm ra được cớ gì mới thì họ lại đem nhạc sĩ Phạm Tuyên ra, rồi nhân thóa mạ nhạc sĩ là đứa con bất hiếu , rồi cẩu tử, rồi tặc tử, lại nói về cái chết oan ức của học giả Phạm Quỳnh, thân phụ ông, với niềm tin chắc chắn là nấp sau tấm bia tưởng nhớ Học Giả Phạm Quỳnh dựng trong lòng nhân dân mà bắn phá Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nhất định là trúng! Và chúng tôi nói “bổn cũ soạn lại” cũng không sai. Lần này, cũng như cách đây mấy năm trong bài Sau 62 năm, mở lại vụ án Phạm Quỳnh (2007), Sơn Tùng người Mỹ lại bám gót sử gia Trần Gia Phụng tiếp tục nói về việc hai bà con gái của Phạm Quỳnh đã lên gặp Hồ Chủ tịch sau ngày “cha bị giết”. Lấy lý do bịa đặt đó để kết tội khi Hồ Chủ tịch nói “Hồi ấy tôi chưa về”, là “chối tội”! Sự thật là Trần Gia Phụng đã xuyên tạc bức thư bà Phạm Thị Thức con gái thứ hai của Phạm Quỳnh từ Hà Nội viết cho các em ở Pháp mà ông đôn lên là “Hồi ký viết tại Paris năm 1992”-mặc dù bà chưa bao giờ đến nước Pháp. Bức thư này chỉ rõ là bà Thức và chị là Phạm Thị Giá đã gặp Hồ Chủ tịch ngay sau khi có tin cha bị bắt (tức ngày 23/8/1945). Ngày 25/8, xẩm tối, Hồ Chủ tịch mới về tới Hà Nội. Đúng là “hồi ấy” Hồ Chủ tịch “chưa về” Hà Nội! Có lẽ vì muốn “bổ sung” cho thầy một chút, hoặc giả do đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh vì nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho nên trong phần sau, người Mỹ Sơn Tùng còn viết thêm: “Khi cha bị xử tử, Phạm Tuyên mới 15 tuổi (…) ông theo hai bà chị tới gặp Hồ Chí Minh tại Hà Nội để hỏi về cái chết oan khiên của cha mình”. Khi cha bị bắt, Phạm Tuyên còn tham gia mít tinh ở sân vận động Huế, mãi sau mới cùng mẹ ra Hà Nội ở với chị. Chuyện bịa đặt thêm này càng làm cho không ai còn tin nổi “tư liệu” của hai thầy trò Phụng – Tùng. Riêng nhạc sĩ Phạm Tuyên, chắc ngạc nhiên hơn ai hết vì “vinh dự” này. Hóa ra ông đã “được gặp và nói chuyện với Hồ Chí Minh ngay từ thuở thiếu thời” đang khi mình còn ở Huế, mà đến nay, ngoài 80 tuổi rồi, ông mới được biết! Nhờ người Mỹ Sơn Tùng vậy…

Người Mỹ Sơn Tùng còn căm giận việc nhạc sĩ Phạm Tuyên đã “trung với nước, hiếu với dân”, đem hết sức mình đấu tranh để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nHoang Hy Nguyenước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như phụ thân hằng mơ ước và đã phấn đấu suốt đời mình để mong có ngày được trông thấy. Nên còn viết: “Không mấy ai có can đảm đứng thẳng lưng để dõng dạc nói ra Sự Thật, tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” như Nhạc sĩ Tô Hải đã làm”. Một lời khích, hơn là một lời khuyên! Nhưng chắc chắn là nhạc sĩ của nhân dân Phạm Tuyên không thể nào thực hiện nổi. Không phải vì “không có can đảm đứng thẳng lưng”. Mà ông không thể “tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” chỉ vì suốt đời ông không hề làm những việc nhơ bẩn như vậy! Ông bao giờ cũng sống trung thực, một lòng trung với nước, hiếu với dân, toàn tâm toàn lực phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân… Học gấp rút trong ba tháng để thi lấy bằng trung học kháng chiến xong là Phạm Tuyên xin ngay vào học đại học pháp lý, để mong sau này góp phần chiêu tuyết cho cha! Nhưng rồi, giặc Pháp đánh lên tận chiến khu, đành phải cùng các bạn “xếp bút nghiên” đầu quân vào trường sĩ quan lục quân. Vì bấy giờ, cứu nước mới là nhiệm vụ cao nhất phải làm để thực sự trung với nước hiếu với dân, giữ vững hai chữ Trung Hiếu mà phụ thân suốt đời lấy làm phương châm sống. Vì sao phải tự phỉ nhổ vào quá khứ cao đẹp và trong sạch của cả đời mình?!

Cuối bài, người Mỹ Sơn Tùng còn tung ra một đòn độc: Đưa ông Phạm Tuân, em trai nhạc sĩ ra để đối lập với nhạc sĩ! Thật ra người Mỹ Sơn Tùng đã lầm to: Hai anh em nhạc sĩ rất thương yêu nhau, nhiều lần vượt vạn dặm thăm nom nhau, vì đều là những người con có hiếu của học giả Phạm Quỳnh. Có điều, mỗi người báo hiếu cha theo cách của mình, cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được trong hoàn cảnh của mình, phù hợp với sức mình. Họ như hai cầu thủ ăn ý trong một đội bóng. Người này chuyền bóng cho người kia làm bàn. Ông Phạm Tuân là con trai út yêu quí của học giả. Biết vợ ông có bệnh, nên bác sĩ đã bảo nếu sinh Phạm Tuân có thể người mẹ sẽ chết, nhưng do bà quyết tâm nên ông bà đã đồng lòng sinh con mà không theo lời khuyên nên bỏ con cứu lấy mẹ. Chính ông Phạm Tuân là nhân chứng sống rất quan trọng, nhất là trong những ngày cuối đời học giả Phạm Quỳnh. Từ nhỏ, sau nhiều bữa cơm tối, bé Tuân đã cùng phụ thân đi xe hơi đến thăm ông già Bến Ngự Phan Bội Châu. Chính ông cũng chứng kiến việc cha bị bắt trưa ngày 23/8/1945 và cuối cùng ông là người năm 20 tuổi đã cùng chị ruột là bà dược sĩ Phạm Thị Hảo đi cải táng và đưa di hài cha từ nơi bị vùi tạm về chùa Vạn Phước (Huế) mai táng, xây mộ. Ông đã viết bài trên báo ở Mỹ kể rõ chuyện cải táng ngày. Ông còn cùng vợ hiền và các chị sưu tầm và cho xuất bản quyển sách Giải oan lập một đàn tràng dày tới 458 trang, để làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu sau này tìm hiểu nhiều chiều về thân phụ. Và ông cùng vợ đã đóng góp đáng kể về nội dung và cả về kinh phí để giúp viện Việt Học (Hoa Kỳ) ra được bộ đĩa DVD Rom ghi lại toàn bộ 210 số tạp chí Nam Phong kèm toàn bộ luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong của chị ông là bà Phạm Thị Ngoạn, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Và cả số báo Xuân Nam Phong năm 1918 (Mậu Ngọ), báo Xuân đầu tiên của nước ta. Vợ chồng ông hiện còn lưu giữ và bảo quản tốt hai bản thảo quý cuối đời của học giả Phạm Quỳnh là tập Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng và bản Phạm Quỳnh chép tay 51 bài thơ Đỗ Phủ và phần dịch nghĩa của ông, cùng toàn bộ Tạp chí Nam Phong do bà Ngoạn để lại.

Mặc dù bệnh nặng từ nhiều năm, nhưng ông Phạm Tuân vẫn cố gắng tham dự các hoạt động về thân phụ và khi cần, đều phát biểu ý kiến, dù có khi phải đi khá xa. Không thể tin là người Mỹ Sơn Tùng không biết những chuyện này.

Viết đến đây, chúng tôi chợt hiểu rõ: Vì sao không thù không oán, không gặp nhau bao giờ mà người Mỹ Sơn Tùng lại quá “quan tâm” đến nhạc sĩ Phạm Tuyên như vậy. Cứ có dịp, có cớ là lại lôi ông ra mà thóa mạ… Thì ra người Mỹ gốc Việt Sơn Tùng chuyên sống bằng nghề viết lách, mà có lẽ “lách” nhiều hơn viết. Còn nghề chính thật ra là nghề chống cộng, cụ thể là chống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải viết để còn có cái mà ăn, có hơi sức mà … chống nhân dân, chống tổ quốc chứ!

Vì thế, chúng tôi lại muốn đổi nhan đề bài này thành Tại sao người Mỹ Sơn Tùng lại quyết truy sát nhạc sĩ Phạm Tuyên đến cùng?

Ngày 15/10/2011

P.T.

Blog PhamTon ghi thêm

Tháng 10/2014 vợ chồng ông Phạm Tuân đã về thăm gia đình. Sau mấy ngày nghỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh thăm các em bà Hoàng Hỷ Nguyên, hai vợ chồng đã ra Hà Nội, gặp gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình các cháu, rôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên về Hải Dương, quê cha, viếng mộ ông nội Phạm Hữu Điển thân phụ của Phạm Quỳnh.

Ông Tuân cho biết đây có lẽ là chuyến về quê hương cuối cùng vì tuổi đã cao lại đau yếu luôn vì bệnh đái tháo đường từ nhiều năm.

Phạm Quỳnh, một sĩ phu Hà Nội

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 4:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014.

 PHẠM QUỲNH, MỘT SĨ PHU HÀ NỘI

Phạm Tôn

Năm 1908 Phạm Quỳnh đã đỗ thủ khoa năm đầu tiên của trường Trung học Bảo Hộ. Nhân dân thường quen gọi là “Thủ khoa Tây trường Bưởi”.

Pham Quynh_1922 tai PhapCũng năm 1908 ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục của cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con nhà nghèo đến mấy đời Phạm Quỳnh đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì chưa đến tuổi thành niên.

“Thủ khoa Tây” được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn, đủ mọi mặt toàn xứ Đông Pháp. Năm ấy, “công chức” Phạm Quỳnh mới mười lăm tuổi. Vốn ham hiểu biết, lại được làm việc dưới sự chỉ bảo của các “đại sư” người Pháp uyên thâm nhiều lĩnh vực, và được ở bên, ở ngay trong kho sách lớn có một không hai trong nước ta, Phạm Quỳnh thả sức học tập, đọc miệt mài, hết tra cứu, đến so sánh, lại ghi chép… đến quên cả giờ về nhà. Tại đây Phạm Quỳnh quen biết Nguyễn Văn Tố, sau này cũng là một học giả nổi tiếng, từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên của cụ Hồ.

Những năm làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) cũng chính là những năm học tập miệt mài, khổ công tự học và thành tâm, khiêm tốn học hỏi các bạn đồng nghiệp Pháp Việt đã đưa Phạm Quỳnh từ một thanh niên hiếu học trở thành một nhà nghiên cứu có kiến thứPham Quynh chu but Nam Phongc vững chắc, khá toàn diện về nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên nữa. Đặc biệt, từ một học sinh chỉ viết được có hai chữ nho tên mình, suýt bị trượt kỳ thi tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ vì bài dịch Hán văn ra Pháp văn đáng lẽ bị điểm liệt, may mà được các giám khảo nương tay cho nửa điểm mới đỗ “Thủ khoa Tây”, sau chín năm trời đã trở thành một nhà Hán học uyên thâm, có thể đọc, dịch và viết văn bằng chữ Nho thành thạo. Chủ yếu là do công tự học kiên trì và có phương pháp đúng.

Do có vốn liếng vững chắc về khoa học xã hội, năm 1913, Phạm Quỳnh đã trở thành một cây bút quen thuộc, được tín nhiệm trên Đông Dương tạp chí của người bạn cùng học trường Thông Ngôn năm nào Nguyễn Văn Vĩnh. Từ đó Phạm Quỳnh nổi tiếng với nhiều bài nghiên cứu sắc sảo, chững chạc, già dặn hơn tuổi đời hai mươi của mình rất nhiều.

Những bài báo đó “lọt mắt xanh” của Louis Marty, giám đốc Vụ Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương và cả bản thân Toàn quyền Albert Sarraut nữa. Hai con cáo già thực dân này đã quyết định dùng Phạm Quỳnh làm cầu nối giữa Pháp và Việt Nam, giữa lớp trí thức cũ Hán học và lớp trí thức mới Tây học.

Năm 1917 tạp chí Nam Phong ra đời với chủ bút phần quốc ngữ là Phạm Quỳnh, mới hai mươi bốn tuổi.

Chẳng bao lâu, tạp chí Nam Phong đã trở thành tờ báo có uy tín nhất và lớn nhất thời bấy giờ. Báo quy tụ được cả những nhà cựu học uyên thâm lẫn những người tuổi trẻ tài cao. Phạm Quỳnh dùng Nam Phong tạp chí làm cơ quan để “tài bồi” cho văn quốc ngữ trở thành tiếng nói, chữ viết chuyển tải được những sự phát triển mới trong đời sống xã hội, đủ các ngành khoa học.

Vì ông tin rằng, có tiếng mới có nước, tiếng còn thì nước không mất được.

Năm 1922, với danh nghĩa Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseilles. Ông tranh thủ diễn thuyết ở nhiều nơi để người Pháp hiểu thêm và do đó tôn trọng nước và người Việt Nam mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam mà tìm ra đường đến diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Bài nói của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ có mặt nhất loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở nơi tụ hội tinh hoa của cả nước Pháp, gây chấn động lớn khắp thủ đô Paris. Ông nói dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ khác lên những trang đã đầy chữ rồi. Ông kiên quyết bảo vệ bản sắc Việt Nam.

Những ngày ở Paris, ông đã gặp và trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc ít nhất ba lần; một lần còn được Nguyễn Ái Quốc “đích thân tổ chức bữa cơm Bắc thết khách Bắc” tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Ngày 8/9/1924, Phạm Quỳnh là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du. Trước hơn 2000 người tham dự, câu nói bất hủ của ông đã được đồng thanh tán thưởng

Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hinh Hà Nội, nơi kết án tàn bạo nhất. Phạm Quỳnh không ngần ngại viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) lớn tiếng bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả mọi người Pháp yêu nước chống quân ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân hồi ấy đòi khoan hồng cho Phan Bội Châu. Thế rồi, từ một án tử hình, tám án chung thân, hạ dần xuống mức chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Mười lăm năm cuối đời Phan Bộ Châu, nhà báo Phạm Quỳnh, rồi Thượng thư Phạm Quỳnh lúc nào cũng bênh vực, tận tụy chăm sóc ông về tinh thần và cả vật chất nữa. Cho đến năm 1940 Thượng thư Phạm Quỳnh vẫn không ít lần đến tận nhà thăm và giúp đỡ nhà chí sĩ cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.

Năm 1926, Thống sứ Bắc Kỳ René Robin có “nhã ý” trợ cấp cho tạp chí Nam Phong. Nhân cơ hội này, Phạm Quỳnh xin trợ cấp cả cho Nguyễn Văn Vĩnh mà ông trình bày trong thư gửi Robin là đã và đang làm nhiều việc mà còn gặp nhiều khó khăn hơn ông.

Ngày 4/12/1931, Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng cấp cao Đông Dương về Kinh tế-Tài chính đòi bãi bỏ chính sách độc quyền sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra một thị trường rượu ở Bắc Kỳ, có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bãi bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị.

Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục kiêm Tổng lý Đại thần Ngự Tiền Văn Phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đày ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản” ở Kiến An. Có lẽ xưa nay không có ai vừa nhậm chức lại đi làm một việc như thế, không hề nghĩ gì đến “cái ghế mình ngồi còn chưa ấm chỗ”.

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thảm trên đường đi tìm vàng tại Lào thì Phạm Quỳnh đang là Tổng lý Đại Thần Ngự Tiền Văn Phòng và Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục. Vậy mà ông lại làm bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh; Trong đó, bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục.

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ.

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

 Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp rồi dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh rút khỏi chính trường, về nhà sống ẩn dật, chuyên tâm trở lại với nghề viết mà ông hằng yêu quí. Trong những ngày biến động này, ông em vợ thấy anh rể cứ bình chân như vại thì sốt ruột quá mới khuyên anh “nên tránh đi, sang Lào chẳng hạn vì xem ra vua Lào quí anh lắm.” Thì Phạm Quỳnh thản nhiên trả lời là “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước để đem tài trí ra giúp nước”. Rồi lại cặm cụi đọc sách, viết văn.

Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongNhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945.

Tp Hồ Chí Minh, 30/08/2014

P.T.

Tháng Chín 5, 2014

Phạm Quỳnh năm 1945

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 9 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NĂM 1945

Phạm Tôn

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

            “Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

            “Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

            “Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

            “Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

            “Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

            “Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”[1]

            Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

            Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”[2] Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”[3] Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

            Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

(…)

            Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongRồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[4] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[5] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường.

Nhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945. Đúng lúc đang diễn ra cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế do Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Ho Chi Minh_1945– Huế tổ chức. Từ sáng sớm, ông đã bảo các con trai lớn (trong đó có Phạm Khuê, Phạm Tuyên) và những người làm trẻ đến tham gia, còn dặn họ “nhớ mang theo cờ đỏ sao vàng”.

Sáng 30/8/1945, Hoàng Hữu Nam thưa với bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”. Bác nói: “Bất tất nhiên.” (Tức: không nhất định phải như thế, có thể có cách khác). Đầu tháng 9/1945, sau khi biết tin Phạm Quỳnh bị sát hại tại Huế, bác lại nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì” và “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Năm 1946, trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau (Pháp), Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn ta, trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng. Bác nói với ông này trước mặt Vũ Đình Huỳnh và Đỗ Đình Thiện là: “Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”; ông Phạm Văn Đồng nói: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà…”

Suốt cuộc đời mình, năm mươi ba tuổi ta, Phạm Quỳnh đã sống như một người Hà Nội chân chính, hậu duệ của những sĩ phu Bắc Hà xưa, lớp người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Tạm dịch là: Giàu sang không thể làm rối lòng, nghèo khó không thể biến đổi tiết tháo, uy vũ không thể khuất phục)”.

P.T.

[1] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

[2] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

[3] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

[4] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[5] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

Tháng Bảy 24, 2014

Phạm Minh, chắt nội của Phạm Quỳnh, biên đạo và diễn viên ba lê nổi tiếng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

Phạm Minh, chắt nội của Phạm Quỳnh, biên đạo và diễn viên ba lê nổi tiếng

(Bài viết riêng tặng cháu Phạm Minh)

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Blog PhamTon, chúng tôi đã đăng bài Phạm Vinh, đích tôn của Phạm Quỳnh, trọn đời là anh bộ đội Cụ Hồ. Cuối bài, có nhắc đến Phạm Minh, con trai ông và cũng là diễn viên ba lê múa đơn kiêm biên đạo nổi tiếng. Nhiều bạn đã gởi email và gọi điện thoại ngỏ ý mong được biết rõ hơn con đường dẫn người chắt nội này của học giả Phạm Quỳnh đến với nghệ thuật hàn lâm và thành đạt khi tuổi đời còn rất trẻ.

Hôm nay, chúng tôi xin đáp ứng phần nào yêu cầu đó của bạn đọc thân mến của blog PhamTon.

*

*  *

Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, ông có tài về cả văn học nghệ thuật và khoa học. Đến đời các con ông, thì mặt khoa học xem ra phát triển mạnh hơn. Người là luật sư, người là bác sĩ, dược sĩ, người là nhà nghiên cứu văn học. Tuy hầu như tất cả các con ông đều ham mê văn học nghệ thuật, người dàn giỏi, người hát hay, người làm thơ, người vẽ tranh… Nhưng, chỉ là để làm phong phú hơn cuộc sống làm khoa học của mình. Chỉ có một người hiến trọn đời mình cho nghệ thuật âm nhạc, đó là nhạc sỹ Phạm Tuyên . Đến đời các cháu ông, cũng thế. Xu hướng khoa học át hẳn xu hướng văn học nghệ thuật. Tuy thế, vẫn có người quản lý đoàn nghệ thuật, dạy nhạc, đàn pi-a-no… có người viết báo mê văn, có kiến trúc sư sành đàn ghi ta và vẽ tranh đẹp, có nhà giáo nhân dân hát hay… Và hầu như, mọi người đều thích hát, nghe nhạc.. Chỉ đến đời các chắt của ông, mới xuất hiện một con người như sinh ra chỉ để làm nghệ thuật. Mà lại là một nghệ thuật hàn lâm, cao siêu, chuyên sâu: múa ba lê. Đó là Phạm Minh, con trai đích tôn Phạm Vinh của ông. Phạm Minh như sinh ra chỉ để múa, mà là múa ba lê.

Phạm Minh sinh ngày 4/10/1974, tại Hà Nội, trong khu văn công Mai Dịch. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, em mới hơn nửa tuổi. Và bấy giờ, bố Phạm Vinh của em, người “trọn đời là anh bộ đội Cụ Hồ” đang tiếp quản Sài Gòn. Với cương vị phó đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, rồi đoàn Văn công Quân khu II. Những ngày bố Vinh về thăm nhà, Phạm Minh mới biết có bố sống bên mình sướng đến thế nào…

Được hơn ba năm, Phạm Minh mới gần tròn năm tuổi, thì tối 7/9/1979, bố Vinh đi dự liên hoan mừng thắng lợi của đơn vị và cũng là buổi đơn vị cũ thân thương tiễn anh lên nhận chức vụ mới, cao hơn. Sáng hôm sau, bé Minh ngơ ngác thấy bố không về và mắt mẹ và hai chị cứ đỏ hoe. Các cô, chú trong khu văn công thì nức nở: “Bà Vinh ơi, thương bà quá”. Minh hiểu, mọi người nói “Bà Vinh” là nói về bố em, người vốn rất yêu thương chăm sóc chu đáo đồng đội. Mẹ bảo: “Đêm qua, bố ngủ lại với đồng đội sau buổi liên hoan chia tay. Sáng nay, bố không dậy nữa”.

Dần dần, Phạm Minh mới hiểu thế là em mất bố Vinh thật rồi…

Trước cặp mắt ngây thơ của em, mẹ và chị cả gọi người đến bán dần bán mòn “các đồ vật có giá” quen thuộc với gia đình từ khi “đổi đời” mấy năm nay. Tivi, tủ lạnh, ra-đi-ô, rồi đến cả quạt máy, bàn là…lần lượt ra đi… Các bữa cơm hằng ngày cũng nhiều rau đậu hơn thịt cá. Em không hiểu vì sao khi cả nước vui mừng, các gia đình trong khu văn công quân đội đời sống ngày càng đầy đủ hơn, vui vẻ hơn thì nhà mình lại buồn bã suy tàn thế này. Mẹ là diễn viên múa đơn xinh đẹp mà nay xơ xác lo chạy ăn hằng ngày. Các chị lặng lẽ học và giúp mẹ làm việc nhà; ai cũng ít nói, cười…Tuy thế, mẹ Lương vẫn lo cho em đi học nhạc tại Trường Nghệ thuật Hà Nội. Nhưng lại học vi-ô-lông. Không cho theo nghề múa vất vả của mẹ. Minh được học nhạc là mừng rồi, học chăm và được trường cấp giấy khen. Bấy giờ, em mới tám, chín tuổi.

Còn hai tháng nữa thì em tròn mười tuổi. Bấy giờ Bộ Văn hóa có tổ chức thi tuyển để chọn những thiếu nhi có năng khiếu về múa, đưa đi đào tạo ở nước ngoài. Mong tránh cho con khỏi phải khổ vì theo cái nghiệp của mẹ, bà Lương đã giấu, không cho Minh biết. Bà lại đang là chính trị viên phó Đoàn Ca múa Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam thì nếu dự thi, Minh càng dễ trúng tuyển.

Nhưng bà mẹ thương con và lo xa ấy không hề biết tới tâm trạng u buồn lâu nay của cậu con út luôn đau đáu “tìm cách cứu mình, cứu nhà” và một lòng lo chuyện kế nghiệp múa của mẹ yêu quí.

Hằng ngày, Phạm Minh vẫn chăm chỉ đi xe buýt từ nhà đến trường học vi-ô-lông; còn học cả cách trốn vé xe cho đỡ tốn tiền mẹ. Nhưng rồi, chẳng biết bằng cách nào, Phạm Minh nghe ngóng được tin có cuộc thi tuyển định mệnh đó. Có lẽ, do đó là một tin làm chấn động cả Khu văn công Mai Dịch. Em nằng nặc đòi mẹ cho dự thi. Mẹ em đành bảo là em có học múa bao giờ đâu mà dự thi, vả lại hạn đăng ký thi cũng đã hết từ lâu rồi. … Chẳng ngờ, thấy mẹ không phản đối, chỉ nêu lý do khó khăn này nọ, Minh bèn tìm cách khắc phục. Khăn quàng đỏ trên vai, cậu bé gầy gò, nhỏ bé, lầm lũi đi bộ đến nơi dự thi. Thì khi ấy, cuộc thi đã qua hai vòng rồi. Bây giờ là vòng cuối. Phạm Minh hớt hải chạy đến nài nỉ ban tổ chức, vốn có nhiều người trong ngành múa quen biết bố, mẹ em. Thương tình cậu bé nhiệt tình, quyết tâm, đang mồ hôi mồ kê nhễ nhại đến xin dự thi, họ báo cáo lại và được ban giám khảo chấp thuận cho em vào thi thằng vòng ba. Thật không ai ngờ: Phạm Minh trúng tuyển ngay, lại còn được chuyên gia giám khảo khen là “có cả năng khiếu về múa lẫn âm nhạc”. Sau này, bà Vũ Thị Lương, mẹ em xúc động kể lại: “Hôm ấy, tôi thấy cu cậu ôm một tập hồ sơ về, vừa bước vào nhà vừa khóc thút thít. Tôi nghĩ là cháu bị trượt nên khóc; mà trượt thì cũng phải thôi, có học hành tập tành gì đâu, tôi định lựa lời an ủi… Về sau, mới biết, chỉ khóc vì tủi thân: “Ai cũng có bố, mẹ đưa đón, còn con thì lủi thủi một mình đến, lại lủi thủi một mình về.” Cháu đỗ rồi, tôi không muốn xa con, sợ con vất vả suốt đời với nghiệp múa mình đã trải qua, nhưng cũng đành chiều ý con.”

Mới chín, mười tuổi đầu, Phạm Minh lại một mình sang nước bạn xa xôi giá lạnh để quyết nối nghiệp mẹ, hiến thân cho nghệ thuật múa.

Suốt tám năm ròng rã học ở Trường múa của Nhà hát Hàn lâm quốc gia Ki-ép (U-crai-na) cái nôi lớn đào tạo diễn viên ba lê nổi tiếng thế giới, Phạm Minh đã cố gắng học cho được những bước cơ bản nhất của nghệ thuật múa hàn lâm này. Không có gì ngoài học bổng ít ỏi, không trông chờ gì vào chi viện của gia đình ba miệng ăn chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của mẹ, cũng không theo bạn bè “dạy khôn” học buôn bán kiếm tiền. Em chỉ lo học tập, miệt mài học tập, mà chỉ học một môn múa ba lê mà càng ngày em càng say mê, cảm thấy như mình sinh ra chỉ là để múa ba lê vậy. Có lần, viết thư về cho mẹ ở Hà Nội, Phạm Minh thành thật bày tỏ: “Mẹ ơi, con không thể từ bỏ ba lê!” Càng ngày em càng được thầy cô ưu ái, các vị giáo sư đầu ngành ở Ki-ép này đã không tiếc công sức chỉ bảo cho cậu học trò Việt Nam, cả từ chuyên môn múa đến những việc nhỏ nhặt nhất trong đời sống hằng ngày của một diễn viên ba lê. Ở đây, Phạm Minh học thiên về múa cổ điển. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc với tấm bằng đỏ, thầy cô muốn giữ lại trường, nhưng Minh nghĩ là muốn phát triển thêm thì phải qua biểu diễn thực tế trên sàn diễn thật nhiều, đồng thời phải biết kết hợp giữa cái cổ điển và cái hiện đại. Anh đành lòng từ chối nơi mình từng lưu luyến cả người lẫn cảnh và tìm cách gia nhập một vũ đoàn thực sự.

May mắn đến với anh khi trường cử học sinh xuất sắc của mình dự Cuộc thi Ba lê Quốc tế tại Vác-na (Bun-ga-ri). Phạm Minh vào tới vòng hai trong ba vòng, không được giải. Anh bình tĩnh nói với các chuyên gia ở đây là: “Tôi không phải là một trong số những người xuất sắc ở đây, bị loại là điều không thể tránh khỏi…”. Nhưng không ngờ, chính thái độ bình tĩnh của chàng trai Việt Nam 18 tuổi ấy đã khiến một vị trong Ban giám khảo xúc động. Ông Robert Barthier, người Pháp, giám đốc Đoàn Ba lê Trẻ Pháp (Jeune ballet de France –JBK) đã thấy được những khả năng thần kỳ tiềm ẩn trong cặp chân của Phạm Minh. Sau này, năm 1993, khi sang Việt Nam chỉ đạo đoàn biểu diễn, ông nói với giới báo chí Việt Nam: “Chúng tôi thấy cậu bé Việt Nam có đôi chân rất đặc biệt, nhất là trong các điệu cổ điển và cũng có rất nhiều khả năng để sau này múa hiện đại. (…) chúng tôi thích cậu ấy.” Phạm Minh được nhận vào đoàn ba lê của ông.

Đoàn này thật có một không hai: chỉ nhận học sinh từ 16 đến 22 tuổi, đã học múa mà chưa biểu diễn chuyên nghiệp, gồm cả thanh niên Pháp và các nước khác, đào tạo trong đúng một năm, sau đó giới thiệu cho các đoàn múa chuyên nghiệp. Trong năm này, học sinh biểu diễn trên 170 buổi. Phạm Minh nhờ được rèn luyện trong một môi trường múa chuyên nghiệp như vậy mà thành tài.

Năm 1994, lại một bước ngoặt quyết định nữa trong cuộc đời nghệ thuật của Phạm Minh. Anh là một trong ba người được chọn vào Nhà hát Le Ballet Capitole de Toulouse (Pháp) qua cuộc thi tuyển năm sáu chục người tài năng. Phạm Minh sớm được đảm nhiệm vai diễn chính trong các vở đặc sắc của George Balanchine, Peter Martine, Nacho Duato, Richard Tannuer, JC Blavier, Antony Todor… Anh vào các vai Albrecht trong Giselle (phóng tác của N.Glushak), vai hoàng tử trong Cô bé Lọ Lem của D.Dean, vai Franz trong Camella của Martinez và Kẹp Hạt Dẻ trong vở cùng tên của M.Rhan. Với kỹ thuật múa ba lê cổ điển điêu luyện gây ấn tượng và một phong cách múa thanh thoát, trẻ trung, tự nhiên, nhiều báo chí Pháp và thế giới đã ca ngợi Phạm Minh là một diễn viên múa đơn xuất sắc trong số những diễn viên ba lê nổi tiếng của Nhà hát Capitole lừng danh thế giới.

Năm 1993, Phạm Minh và Đoàn Ba lê Trẻ Pháp đã về biểu diễn ở nước ta. Đoàn biểu diễn buổi đầu tiên tại Cung văn hóa Việt Xô ngày 25/4/1993. Sau đợt biểu diễn ở Hà Nội đến hết tháng 5, đoàn đi nhiều tỉnh và thành phố lớn, đặc biệt là diễn cho công nhân khu mỏ Quảng Ninh. Năm 2003, Phạm Minh về nước cùng Đoàn ba lê Capitole, biểu diễn hai tối 30 và 31 tháng 8, tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh múa đơn, với kỹ thuật ba lê cổ điển, điêu luyện, gây ấn tượng và với phong cách độc đáo của riêng anh thanh thoát, trẻ trung và tự nhiên đã chinh phục khán giả Hà Nội, đặc biệt là thanh niên và sinh viên được xem với giá vé giảm tới 50%. Trong hai tối 6 và 7 tháng 9/2006, Phạm Minh, nghệ sĩ múa đơn số 1 từ hơn 10 năm nay của Nhà hát Capitole Toulouse dàn dựng vở Mùa xuân thiêng liêng của N.Roerich, ra mắt tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đoàn múa Capitole Toulouse (Pháp) trình diễn cùng với các nghệ sĩ múa của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Đây là chương trình hợp tác giữa Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội, Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam và Dự án Hỗ trợ phát triển văn hóa Việt Nam. Năm 2008, Phạm Minh lại về nước, chỉ đạo các nghệ sĩ múa ba lê của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam trình diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội hai tối 27 và 28 tháng 8/2008 tiết mục Người đãng trí (Amnesta) của Roderick Vanderstraen do anh biên đạo trong Đêm Ba lê hiện đại Khúc Giao Mùa.

Chắt nội Phạm Minh của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, con trai của hai nghệ sĩ –chiến sĩ Điện Biên Phủ Phạm Minh và Vũ Thị Lương, dù đi nhiều nước trên thế giới, danh tiếng cũng đã vang khá xa khi tuổi đời còn trẻ, nhưng bao giờ anh cũng luôn tâm niệm một điều là “Đi đến bất cứ nơi nào, mình và những người bạn của mình đều cố gắng làm mọi việc đạt kết quả cao nhất để nói lên rằng người Việt Nam rất tốt, rất giỏi”.

Tại Hà Nội, anh đã gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông trẻ của mình, một người cũng hiến thân cho nghệ thuật. Và khi nhắc tới tấm gương sáng của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, Cụ của Phạm Minh, anh càng thấy rõ hơn con đường hiến thân cho nghệ thuật của mình còn dài lắm.

Và cao hơn cả hiến thân cho nghệ thuật nữa là hiến thân cho Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quí của chúng ta.

Thành phố Hồ Chí Minh

7/3/2010

P.T.

Phạm Vinh, đích tôn của Phạm Quỳnh trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

PHẠM VINH, ĐÍCH TÔN CỦA PHẠM QUỲNH,

TRỌN ĐỜI XỨNG DANH “ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

(Bài viết tặng chị Vũ Thị Lương và các cháu Phạm Mai Hương, Phạm Lan Phương và Phạm Minh)

Phạm Tôn

Lâu nay, khi nói về học giả, nhà văn hóa Phạm Quỳnh, ta thường thấy nhắc tới các con Ông, nhất là Giáo sư bác sĩ Nhà giáo Nhân dân, Đại biểu Quốc hội Phạm Khuê, Viện trưởng cũng là người sáng lập ra Viện Lão Khoa và ngành lão khoa Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam. Và cũng không ai quên nhắc tới nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đã viết lên bài ca khải hoàn mà toàn thể người dân Việt Nam từ trẻ đến già và cũng không ít bầu bạn năm châu đều thuộc là Như có Bác trong ngày đại thắng, tác giả của hơn sáu trăm ca khúc và hiện là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Hà Nội, ông cũng là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam từ ngày thành lập năm 1957.

Nhưng, những người viết thường quên, hoặc không biết đến thế hệ thứ ba, các cháu nội, ngoại của Ông. Mặc dù vất vả, khốn khó với “chủ nghĩa lí lịch” một thời ngăn cản, kìm hãm, thậm chí trù dập, không muốn cho họ có cơ hội thành đạt… nhưng, đến nay, các cháu nội, ngoại của nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã có không ít người là giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo nhân dân, tiến sĩ, viện trưởng viện này viện nọ ngay trên đất nước mình. Trong số đó, nổi bật nhất có một viện sĩ, giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm một ủy ban trong Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, từng ba khóa liền là ủy viên trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đó là chưa kể các cháu nội ngoại,  vì lý do “tan đàn xẻ nghé” đau lòng năm 1945 ấy, đã phải ra sống ở nước ngoài, nay cũng nhiều người thành đạt, là cán bộ của Liên Hiệp Quốc, tổng giám đốc các công ty đa quốc gia lớn… Nói chung, tất cả đều là những con người lương thiện, không hề làm điều gì có hại cho dân cho nước mà người Ông đáng kính của họ đã dốc lòng phụng sự và suốt đời yêu quí. Tiêu biểu cho thế hệ thứ ba này là Phạm Vinh, đích tôn của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, người đã trọn đời là một anh bộ đội Cụ Hồ.

Trong bức ảnh mừng sinh nhật hai cụ đồng tuổi Nhâm Thìn tổ chức tại gia đình ở Huế năm 1934, dễ nhận thấy ngay chú bé hai tuổi đứng giữa ông, bà, ngay sát chân ông là Phạm Vinh, đích tôn của hai ông bà Phạm Quỳnh – Lê Thị Vân.

Phạm Vinh sinh ngày 21/5/1932, tại nhà số 5 phố Hàng Da Hà Nội, trụ sở tòa soạn tạp chí Nam Phong, khi Phạm Quỳnh vẫn còn làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Năm 1938, bố mẹ li dị vì không còn hợp nhau nữa, nhưng Phạm Vinh vẫn cùng mẹ và em sống với gia đình Phạm Quỳnh ở Huế, tại biệt thự Hoa Đường. Đến năm 1943, ba mẹ con mới ra Hà Nội sống với bên ngoại. Năm 1945, sau Cách Mạng Tháng Tám, bên nội ly tán, Phạm Vinh mới 13 tuổi đã phải xa cả bố lẫn mẹ. Rồi năm 1946, mới 14 tuổi đã thành nhân viên kế toán cho Công binh xưởng K6 Cục Quân giới, liên khu 11 đến gần hết năm 1947 thì được về sống cùng với mẹ và các em tại Vĩnh Yên để đi học tiếp đến gần hết năm 1948. Rồi trường Lục quân khóa 6 về đóng tại trường học Vĩnh Yên, thế là đích tôn của Phạm Quỳnh xin nhập ngũ ngay ngày 4/3/1950, công binh khóa 6 trường Lục quân, học tại Trung Quốc. Vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20/10/1950, được công nhận là đảng viên chính thức ngày 18/5/1951. Xong khóa học, thì về nước, được phát hiện “có năng khiếu văn nghệ”, nên đưa vào đoàn Văn công F.351. Những năm 1951 đến 1953, anh đi biểu diễn phục vụ chiến sĩ các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, rồi Điện Biên Phủ. Và dự Hội diễn văn công toàn quân ở Việt Bắc (Thái Nguyên). Đến tháng 8/1954 thì về công tác tại Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, tham gia tiếp quản tỉnh Nam Định, biểu diễn ở Thái Bình, Nam Định, Phát Diệm và toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1957, đi biểu diễn ở bốn nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em: Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Liên Xô.

Về nước cuối năm 1957 đến năm 1958 đi biểu diễn phục vụ bộ đội các đơn vị ở Tây Bắc. 1958 đến 1963  cùng vợ là nghệ sĩ múa Vũ Thị Lương tham gia biểu diễn vở nhạc vũ kịch đầu tiên của nước ta Ngọn lửa Nghệ – Tĩnh ở miền Trung và miền Bắc. Năm 1962 đến 1965 Phạm Vinh mới có thời cơ về học nhạc chính qui tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Tốt nghiệp trường nhạc, Phạm Vinh về Đoàn văn công Quân khu Việt Bắc và đến tháng 10/1969 thì về Đoàn văn công Quân giải phóng Trường Sơn, trực thuộc Bộ tư lệnh 559. Suốt 10 năm trời, đích tôn của nhà văn hóa Phạm Quỳnh là đoàn phó Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, thuộc Tổng cục Xây dựng Kinh tế, tham gia biểu diễn tại các mặt trận Quảng Trị, Vĩnh Linh, Khe Sanh, Đông Hà, Lào, Buôn Ma Thuột, ngay khi chiến sự còn đang diễn ra ác liệt. Anh luôn chăm sóc diễn viên một cách chu đáo, tỉ mỉ cho nên thường được diễn viên gọi thân mật là “Bà Vinh”, coi anh như bà mẹ luôn chăm lo cho các con , một người mẹ hiền, tốt bụng.

Sau ngày đại thắng 30/4/1975, các anh vào tiếp quản Sài Gòn. Từ đấy, Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn chuyển thành Đoàn Văn công Quân khu II.

Ngày 7/9/1979, trong buổi liên hoan mừng công của đơn vị, cũng là để tiễn Phạm Vinh lên nhận chức vụ mới, cao hơn, anh vui vẻ chan hòa cùng đồng đội đã từng cùng nhau chia lửa, cất cao lời ca tiếng nhạc suốt hàng chục năm dài gian khổ. Đêm ấy, anh ngủ lại cùng đồng đội trước lúc chia tay. Không ngờ tất cả những gian khổ về vật chất, đau đớn về tinh thần mà anh đã chịu đựng để rồi vượt qua từ năm mới mười ba tuổi đầu, đã dồn cả lại khiến đêm ấy thành đêm cuối cùng anh nằm trong lòng đồng đội yêu thương. Sáng hôm sau, Phạm Vinh không dậy nữa, không bao giờ còn thấy lại đồng đội, mẹ và vợ con yêu thương. Năm ấy, anh mới 47 tuổi đời, nhưng đã có 29 tuổi quân và 29 tuổi Đảng.

Khi anh mất, nhiều đồng đội đã đau đớn thốt lên: “Bà Vinh ơi, thương bà quá”.

Sau này, bà Vũ Thị Lương, nguyên chính trị viên phó Đoàn Ca múa Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, vợ hiền của Phạm Vinh đã nhớ lại: “Anh sống cả cuộc đời trong quân ngũ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh là con người hiền hậu, tận tụy với công việc, một mình làm việc bằng ba người… Không hề bao giờ anh kêu ca, phàn nàn, mà kiên trì chịu đựng mọi gian khổ trong đời sống người lính, cống hiến cho quân đội không hề tiếc sức, dù có lúc từng bị trù dập cũng vẫn không nản chí, không oán trách. Nhưng tôi cũng cảm ơn quân đội đã công bằng nhìn nhận những thành tích của anh”. Tổng cục Chính trị và các Bộ tư lệnh Quân khu đã tặng anh quá nhiều bằng và giấy khen của Phòng Chính trị F351, Tổng cục Chính trị, Nhạc viện Hà Nội, Quân khu Việt Bắc, Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, Quân khu II, Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Ngoài ra, Phạm Vinh còn được tặng một Huân chương Kháng chiến Chống Pháp hạng ba, ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang các hạng I, II, III, một huân chương Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước hạng I, hai huân chương Chiến công Quân giải phóng và hai lần được bầu là chiến sĩ Thi đua.

Đêm 7 rạng ngày 8/9/1979, Phạm Vinh đột ngột ra đi nhẹ nhàng trong giấc ngủ, để lại cho vợ mẹ già và ba con nhỏ. Con trai út là Phạm Minh, bấy giờ mới gần năm tuổi. Cuộc sống gia đình thật chật vật, ăn bữa nay, lo bữa mai; những đồ đạc “có giá” như tủ lạnh, ti-vi, ra-đi-ô, bàn là, quạt máy…đều lần lượt “ra đi” để đổi lấy ngày ba bữa ăn đạm bạc. Vợ anh, chị diễn viên múa xinh đẹp năm nào, nay đầu tắt mặt tối suốt ngày với công tác và lo chạy ăn hằng ngày. Nhưng chị vẫn nuôi dạy con cái thành người có ích cho xã hội, sống lương thiện, tận tụy với dân với nước như cha các con.

Cậu út Phạm Minh sinh năm 1974, đến năm 1982 thì bà lo cho theo học vi ô lông tại Trường Nghệ thuật Hà Nội. Do có năng khiếu và cố gắng học tập đã được giấy khen của trường. Lúc đó em mới tám, chín tuổi. Đến tháng 8/1984, non mười tuổi thì em may mắn “lọt mắt xanh” một chuyên gia Liên Xô đến Hà Nội tuyển học sinh đào tạo diễn viên ba lê, nên được sang nhập học ở Trường Ba lê quốc gia Ki-ép (U-crai-na) đến tháng 6/1992. Tốt nghiệp với tấm bằng đỏ, sau 8 năm miệt mài học tập, em được Trường Ba lê quốc gia Ki-ép cử dự thi Cuộc thi múa ba lê quốc tế (International Ballet Competition) tại Vác-na (Bun-ga-ri). Vừa lúc em tròn 18 tuổi. Từ đó, Phạm Minh vào Đoàn Ba lê Trẻ Pháp (Le Jeune Ballet de France). Rồi tháng 8/1994, tròn 20 tuổi, Phạm Minh được chính thức mời về làm việc tại Nhà hát Ballet du Capitole de Toulouse vơi vai trò là diễn viên múa đơn số 1 (Premier Solist). Trong thời gian làm việc ở hai đoàn trên, Phạm Minh đã tham gia biểu diễn các gala ở Mỹ, I-ta-li-a, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Na Uy, Trung Quốc, Phi-li-pin, Thái Lan, Cu-ba, Vê-nê-duy-ê-la, Bờ Biển Ngà, Ba Lan và lãnh thổ Hồng Công…Từ năm 2005, Phạm Minh thường xuyên được mời sang Nhật Bản, dạy ba lê cho Architanz Dance Studio ở Tô-ki-ô (Nhật Bản). Tháng 9/2009, Phạm Minh được Ban Giám đốc Nhà hát Ballet du Capitole bổ nhiệm làm “Bậc thầy ba lê” (Maître de Ballet) của nhà hát.

Trong hai tối 6 và 7/9/2006 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, đã ra mắt vở ba-lê nổi tiếng Mùa xuân thiêng liêng của N. Roerich do Phạm Minh đạo diễn. Đây là chương trình hợp tác giữa Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace) với Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam và dự án Hỗ trợ phát triển Văn hóa Việt Nam. Tham gia biểu diễn có các nghệ sĩ của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội và Phạm Minh, nghệ sĩ múa đơn số một từ mười năm nay của đoàn múa Capitole  (Toulouse, Pháp).

Thế là đứa chắt, con trai của đích tôn nhà văn hóa Phạm Quỳnh cũng đã trở về phục vụ nhân dân nước nhà.

Đến đây, có thể còn có người không hiểu vì sao con, cháu, chắt Phạm Quỳnh lại sống và làm việc như thế, trong khi nỗi đau bốn đời chưa được giải tỏa thỏa đáng… Sự thật giản dị hơn họ nghĩ nhiều. Con, cháu, chắt nhà văn hóa Phạm Quỳnh đều là những con người lương thiện, một lòng trung với nước, hiếu với dân như Ông suốt đời nêu gương và tin vào lời dặn lại của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng tám năm 1945 sau khi thảm kịch xảy ra với đại gia đình là: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Các con, cháu… cứ vững tâm đi theo cách mạng”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng chạp năm Kỷ Sửu, tức 12/2/2010.

P.T.

Tháng Bảy 17, 2014

Thư của nhà thơ Erik Stinus gửi bà Phạm Thị Hoàn

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:20 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 7 năm 2014.

THƯ CỦA NHÀ THƠ ERIK STINUS GỬI BÀ PHẠM THỊ HOÀN

Copenhagen

2-5-2002

Bà Phạm Thị Hoàn thân mến,

Một lần nữa tôi lại phải xin lỗi bà về sự chậm trễ này. Cám ơn bà rất nhiều về lá thư của bà, về cuốn sách và tập tiểu luận với bao thông tin quan trọng về Phạm Quỳnh. Và cám ơn bà đã nhắc nhở tôi.

Bà đặt cho tôi một câu hỏi rất khó, đó là tại sao tôi lại biết đến cụ thân sinh của bà với công trình của một học giả về văn chương. Tôi đã cố gắng ôn lại những chặng đường của mình và những điều tôi đọc được qua nhiều năm, nhưng chưa thể làm sáng tỏ cho câu hỏi của bà được.

Như bà biết tôi là một người làm thơ và hư cấu, đã có bao nhiêu điều xảy ra trên thế giới này đối với tôi, cũng vì vậy đã có bao nhiêu người tỏa sáng trong những trang tôi đã viết và cả những trang tôi sẽ viết.

Quê hương Việt Nam và nhân dân của bà đã ở trong tâm trí tôi nhiều năm và Pham Quynh Og Den Videre Historie* chính là một tựa đề như sẵn có trong bài thơ thứ 6 mà tôi viết về Việt Nam.

Tôi viết bằng tiếng Đan Mạch, một thứ ngôn ngữ chỉ dành cho 5 triệu người, vì vậy những gì mà tôi viết ra thông thường khó mà được ai biết đến ngoài đất nước Đan Mạch. Vì vậy tôi có phần lúng túng khi được biết là bà lại có thể biết (và do đâu?) về bài thơ của tôi, nhưng tất nhiên tôi đặc biệt vui mừng thấy bà lại có thể biết nó qua một bản dịch mà bà có được qua một trong những người bạn của tôi ở Việt Nam, tôi tin là như thế.

Tho tieng anh Erik StinusTôi đã đến thăm Việt Nam ba lần. Lần đầu là vào dịp kỷ niệm lần thứ 600 nhà thơ Nguyễn Trãi. Vào dịp đó cùng với một số nhà thơ của nhiều nước tôi đã có dịp gặp một số nhà văn và học giả của Việt Nam. Tôi cũng đã gặp Phạm Văn Đồng và Tướng Giáp. Và tôi đã được đọc nhiều sách của Việt Nam qua các bản dịch mà tôi có được. Một trong những sách đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cũng giống như lời tự và bài giới thiệu mà cụ thân sinh của bà đã giới thiệu về tập thơ nhưng cũng có thể do một trong những người dự hội thảo về Nguyễn Trãi đã nói về công trình của Phạm Quỳnh. Tại hội thảo này có nhiều nhân vật nổi tiếng tham gia, trong đó có cả một số người Việt không sống ở Việt Nam mà ở ngoài nước. Một trong số những người đó là một học giả về âm nhạc, ông ấy đã giới thiệu cho tôi về nền âm nhạc cổ điển của Việt Nam.

Nhưng bài thơ tôi lại viết từ sự tưởng tượng của riêng mình mà không hỏi bất cứ một người nào khác. Trong bản trường ca đó bà có thể thấy những trăn trở, những giấc mơ và những niềm hy vọng của tôi qua việc phác thảo những thời điểm rối ren và đầy xao động.

Tôi hoàn thành tác phẩm của tôi trong chuyến thứ hai thăm Việt Nam.

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với bà và tôi rất vui mừng vì đối với bà nó cũng phản ảnh một chuyện có thật về thân phụ của bà, ít nhất trong một chừng mực nào đó.

Người làm thơ có thể mong mỏi một chút rằng họ có được vài người nghe và hiểu họ. Và chính bà lại là người đã nghe được và điều đó đối với tôi quả thật là nhiều hơn một chút.

Với lời cầu chúc nồng nhiệt nhất của tôi.

Erik Stinus

* Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.