Pham Ton’s Blog

Tháng Một 14, 2018

Cuộc thảo luậ xoay quanh quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 1 năm 2018

CUỘC THẢO LUẬN XOAY QUANH QUAN ĐIẾM
TI
P CẬN TOÀN B, TOÀN DIỆN V LỊCH SỬ VIỆT NAM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 490 (tháng 12 năm 2017) từ trang 29 đến trang 33.

—o0o—

Sáng ngày 22 tháng 2 năm 2017 tại trụ sở Ban Tuyên giáo Trung ương ớ Hà Nội, dưới sự chủ trì của đồng chí Võ Văn Thưởng ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, GS Phan Huy Lê trình bày báo cáo Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sứ Việt Nam, trong đó tập trung khái quát những thành tựu nổi bật của Sử học Việt Nam từ Đổi mới cho đến nay làm cơ sở triển khai xây dựng bộ Lịch sử Việt Nam 30 tập và khẳng định quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện là quan điểm khoa học cơ bàn của bộ Quốc sử theo tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng và của Thủ tướng Chính phủ.

Quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện thật ra đã được vận dụng khá phố biến ở hầu hết các nước có nền sử học phát triển và cũng đã được đưa vào nghiên cứu và giảng dạy ở khá nhiều cơ sở sử học trong nước, nhưng đối với mặt bằng nhận thức chung thì cũng có thể được xem là đang còn mới mẻ. Trước những vấn đề mới của khoa học, nếu có đầy đủ tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, lãnh đạo Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh cần bình tĩnh lắng nghe, xem xét và tổ chức trao đồi học thuật trên tinh thần xây dựng, thì họ lại vội vàng cho đây là quan điểm đối lập, thậm chí là thù địch và phản động cần phải loại bỏ. Họ đã phát động cả một chiến dịch vu khống và phê phán vô căn cứ trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 23 tháng 2 năm 2017 cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Dưới đây chúng tôi xin bước đầu tập hợp hơn ba chục bài viết trên được triển khai theo tinh thần chủ đạo này.

Bảng I. Thống kê bài viết trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh:

TT

Tác giả

Tên bài Số báo, ngày
1 Quan Văn Đàn Những người “vĩ đại ” VN438, 23-2-2017 VN439, 2-3-2017 VN440 9-3-2017
2 Vũ Hạnh Vương triều Nguyễn dưới mắt người xưa VN439, 2-3-2017
  Nguyền Văn Thịnh Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì VN439, 2-3-2017
3 Nguyền Minh Tâm Đừng mượn danh khoa học để đánh tráo lịch sử VN440, 9-3-2017
4 Quan Văn Dàn GS Phan Huy Lê ẩn chính dương phụ! VN441, 16-3-2017
5 Quan Văn Dàn Lịch sử “vươn lên “! VN442,23-3-2017
6 Nguyễn Văn Thịnh Không được xúc phạm vong linh liệt sỉ VN442, 23-3-2017
7 Nguyên Văn Toàn Lịch sử dân tộc không có chỗ cho kẻ “rước

voi giày mã tổ”

VN444, 6-4-2017
8 Thu Tứ Công-Tội nhà Nguyên VN444, 6-4-2017

9 Giá Khê Một lời biện minh cho Nguyễn Ánh VN447, 27-4-2017
10 Đặng Minh Phương Trở lại chuyện Phạm Quỳnh VN447, 27-4-2017
11 Cao Đức Trường Đâu là khoảng trống lịch sử? VN450, 18-5-2017
12 Tông biên lập tuần

báo Văn nghệ

Trả lời công văn Hội KHLSVN VN450, 18-5-2017
13 Nguyễn Văn Thịnh Sự thật lịch sư không thể tô hồng, không thể bôi đen

bôi đen

VN451,25-5-2017
14 Hoàng Phương Chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quôc sử như thế này sao? VN451,25-5-2017
15 Cao Đức Trường Lập lờ hay né tránh lịch sứ VN452, 1-6-2017
16 Chu Giang Vẫn còn gia trướng bao cấp VN452, 1-6-2017
17 Chu Giang Thần tình yêu trong tư duy sử học VN453, 18-6-2017
18 Nguyễn Ngọc

Quang

Tri thức và lương thức của sử học VN455, 22-6-2017 VN456, 29-6-2017 VN457, 6-7-2017
19 Cao Đức Trường Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay VN458, 13-7-2017
20 Trương        Thanh

Hùng

Ngụy và Việt Nam Cộng hòa VN464, 7-9-2017
21 Vũ Hạnh, Dương Linh Đột phá hay chạy tội VN465, 14-9-2017
22 Hoàng Phương Thư ngõ gửi ông Trần Đức Cường — Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam VN465, 14-9-2017
23 Nguyễn Long Trảo Lịch sử và viết sử VN467, 5-10-2017
24 Nguyền Đức Huy Phái chăng là việc làm dối Đảng lừa dân? (Thư gửi BBT Tuần bảo VN TPHCM) VN467, 5-10-2017
25 Giá Khê Mấy vấn đề nhờ GS Phan Huy Lê giải thích… VN470, 26-10-2017
26 Cao Dức Trường Pháp lý hay phi lý? VN472, 9-11-2017
27 Hoàng Phương Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị VN474, 23-11-2017 VN475, 30-11-2017
28 Ban Biên tập VN TPHCM Ý kiến của Tuần báo Văn nghệ về vấn đề đối

thoại sử học

VN474, 23-11-2017
29 Nguyễn         Ngọc

Quang

Bình yên cho sử học! VN474, 23-11-2017 VN475, 30-11-2017 VN476, 7-12-2017 VN477, 14-12-2017
30 Đông La Cần phải xem xét Dương Trung Quốc “nhìn lại lịch sử” VN475, 17-11-2017
31 Quan Văn Dàn Thế là quy chụp và xuyên tạc VN477, 14-12-2017
32 Cao Đức Trường Lê Vản Tám không phải truyền thuyêt VN477, 14-12-2017 VN478, 21-12-2017
33 Nguyễn Văn Thịnh Đừng chơi với lửa VN477, 14-12-2017
34 Quan Văn Dàn Nhận thức chưa tới? VN478, 21-12-2017

Tuy nhiều tác giả chỉ dùng bút danh, nhưng cũng không khó để có thế nhận ra cả 17 tác giả của hơn ba chục bài viết được thống kê ở trên (người viết nhiều nhất có đến 5 bài), đều không phải là những người viết sử chuyên nghiệp, không có một chuyên gia nào có đủ năng lực để luận bàn những vấn đề hết sức khái quát, nhưng lại rất chuyên sâu của lịch sử Việt Nam. Họ chỉ dùng một miếng võ sở trường là giương cao “lập trường quan điểm”, quy kết chính trị cực đoan và mặc sức phán xử theo lối “Văn Nghệ”. Họ chỉ lấy những nhân vật, sự kiện lịch sử, vấn đề lịch sử để làm cái cớ luận bàn về lập trường chính trị và quan điểm sử học theo ý hiểu riêng của họ.

Họ khai thác triệt để quan điểm bảo thủ, giáo điều của thời kỳ bao cấp vẫn còn rơi rớt lại trong một số người, chọn lọc một vài ý kiến có tính định hướng của một số nhà lành đạo hay nhà khoa học có uy danh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chủ yếu tập trung vào lịch sử vương triều Nguyễn và một số vấn đề của lịch sử Cận – hiện đại Việt Nam để làm tiêu chí đánh giá. Phải nói đây là những vấn đề hết sức phức tạp và “nhạy cảm” nên dưới thời bao cấp không có cơ hội được trao đổi, thảo luận kỹ càng. Đến thời kỳ Đổi mới, Sử học Việt Nam đã đầu tư đi sâu vào nhiều những vấn đề khó khăn phức tạp trước đây và thu được nhiều thành tựu nổi bật. Thành tựu nghiên cứu mới có mặt làm sáng rõ hơn, và cùng có nhiều mặt bổ sung, nâng cao nhận thức, góp phần hiệu chình lại, thậm chí loại bỏ một số quan niệm đẫ trở nên bảo thủ, lạc hậu. Đây phải được coi là một bước tiến lớn của Sử học, niềm tự hào chính đáng của Sử học cách mạng Việt Nam, mà không một ai có thể phủ định được. Thế nhưng nhóm tác giả Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã không biết đến điều này. Trước sau họ chỉ một mực coi những quan điểm sử học và sách lịch sử xuất bản từ những năm 1950, 1960, cách ngày nay tròn một nửa thế kỷ là chân lý lịch sử, là khuôn vàng thước ngọc và kết tội những nghiên cứu mới của sử học ngày nay là “đi chệch chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học”, phủ định các bậc tiền bối, là “xét lại lịch sử”, “mượn danh khoa học để đánh tráo lịch sử” và “lật đổ lịch sử”. Họ tưởng tượng ra một thứ “Chủ nghĩa xét lại lịch sử, một thứ “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong khoa học lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” về chính trị. Đây là điều mà các thế lực thù địch và phản động mong muốn”. Đi xa hơn, họ tiên đoán “việc thừa nhận chính quyền ngụy Sài Gòn là hợp pháp; sẽ là phủ nhận toàn bộ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ đó dẫn đến việc phủ nhận chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lành đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”1.

Họ cảnh báo: “Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên mặt trận tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành sử học kể cả trên ba mặt: Về chính trị, về tư tương và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường”. Họ gieo rắc hoài nghi rằng nếu giao việc biên soạn bộ Quốc sử nước nhà cho nhóm Đề án và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam như hiện nay thì nhóm này sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận sử học của ai và “điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thât không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục cũng như trên địa hạt tư tưởng”. Họ hối thúc phải giải quyết ngay lập tức hàng loạt kiến nghị của Tuần báo Văn Nghệ vì “nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thức trong xã hội”, đe dọa đến cả sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và Chế độ Xã hội Chủ nghĩa của chúng ta.

Như thế mục tiêu lớn nhất của hơn ba chục bài báo trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh có thể được tóm gọn lại là kiên quyết giương cao ngọn cờ “quan điểm lập trường”, dứt khoát trở về với phương pháp sử học cổ điển, phủ định tuyệt đối quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam và đình chỉ hay xóa bỏ Đề án Khoa học xã hội cấp Quốc gia Nghiên cứu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam mà Đảng và Nhà nước đang chỉ đạo triển khai.

Trước những bài báo đặt vấn đề chính trị hết sức nghiêm trọng như thế, ngày 8 tháng 5 năm 2017, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã gửi công văn đề nghị cùng Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật và tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức một cuộc đối thoại trên tinh thẩn dân chủ, thẳng thắn, khách quan, tôn trọng lẫn nhau vì sự thật lịch sử, vì trách nhiệm trước nhân dân và trước lịch sử. Hội thảo dự kiến sẽ được tổ chức ngay trong tháng 5 năm 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiếc rằng ngày 12 tháng 5 năm 2017, Tổng Biên tập Tuần báo Văn Nghệ đã có thư trả lời với những khó khăn không thể cùng tổ chức đối thoại trực tiếp được và mong tổ chức đối thoại bằng văn bản, qua các bài viết trên báo Văn Nghệ. Ông Tổng Biên tập còn khẳng định viết như thế sẽ chặt chẽ hơn, “trách nhiệm khoa học và nhân cách văn hóa đương nhiên cũng phải được đề cao. Không bạ đâu nói đấy, phát biểu tùy hứng”. Tiếc rằng ngay sau đó, Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, bất chấp lời hứa danh dự của ông Tổng biên tập, tiếp tục đăng những bài báo còn phi văn hóa, phản khoa học và quy chụp chính trị cực đoan hơn.

Tạp chí Xưa & Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch s là các cơ quan phát ngôn chính thức cua Hội Khoa học Lịch sứ và giới Sử học Việt Nam, tuy vẫn biết đây chỉ là mượn danh sử học, hoàn toàn không vì mục tiêu khoa học, nhưng vẫn sẵn sàng đứng ra tổ chức cho các chuyên gia trao đổi xoay quanh một số vấn đề về phương pháp tiếp cận, về cách thức nhìn nhận, đánh giá và cả một số sự kiện hay nhân vật lịch sử cụ thể mà Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh nêu ra. Một lần nữa chúng tôi hy vọng hai bên có thể cùng nhau làm sáng tỏ những vấn đề hết sức cơ bản đang được quan tâm (xin tham khảo những bài đã được giới thiệu trên tạp chí Xưa & Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử).

Bảng II. Thống kê bài viết trên tạp chí Xưa và Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử.

TT Tác giả Tên bài Tạp chí
1 Phan Huy Lê Công cuộc khôi phục thông nhất quôc gia cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Xưa & Nay, 486,8-2017 NCLS,7(495)2017
2 Nguyễn      Quang

Ngọc

Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa –

Trường Sa trong thời kỳ nhà Nguyễn thế kỷ XIX

Xưa & Nay, 486,8-2017 NCLS. 7(495)2017
3 Phạm Hồng Tung Vấn đề quốc gia Việt Nam trong lịch sử Việt

Nam hiện đại & Tuyên bố của Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco năm 1951

Xưa & Nay, 487,9-2017
4 Vũ Minh Giang Không thê tùy tiện xuyên lạc các nguyên tắc biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam Xưa & Nay, 487,9-2017
5 Nguyền Văn Kim Ý nghĩa công pháp quốc tế của các bản hiệp ước mà triều Nguyễn ký với phương Tây Xưa & Nay, 487,9-2017 NCLS, 8(946)2017
6 Vũ Văn Quân Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam XưaNay, 488,10-2017
7 Nguyễn Văn Khánh Phan Chu Trinh trong lịch sử dân tộc Xưa & Nay, 488,10-2017 NCLS, 9(947)2017
8 Nguyễn Văn Nhật Thể chế “Việt Nam cộng hòa” trong lịch sử

Việt Nam

Xưa & Nay, 490 12-2017
9 Tống Văn Lợi Về nhân vật Nguyên Anh – Gia Long Xưa & Nay, 490.12-2017
10 Nguyễn Huy Mầy tư liệu mới vê Lê Văn Tám Xưa & Nay, 490,12-2017
11 Phạm Hồng Tung Giá trị pháp lý quốc tế của Hội nghị hòa hình San Francisco trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa Xưa & Nay, 490,12-2017
12 Tạp chí Xưa và Nay Cuộc tranh luận xoay quanh quan điểm tiếp cận toàn hộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam do Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh khởi xướng Xưa & Nay, 490,12-2017

Các bài báo này tập trung vào một số vấn đề cơ bản và chỉ ra được những sai lầm trong tư liệu và lập luận của những bài viết trên Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, khai thác và cập nhật các kết quả nghiên cứu mới trên tinh thần nhìn nhận và đánh giá lịch sử theo phương pháp tiếp cận toàn bộ, toàn diện lịch sử Việt Nam.

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tỏ ý hoan nghênh Hội Khoa học Lịch sử đã đáp đăng bài phản hồi công khai trên tạp chí Xưa & Nay số 487, tháng 9 năm 20172 và cho biết sẽ tiếp tục đăng bài phản hồi lại những bài phản hồi của giới Sử học trên tạp chí Xưa & Nay.

Gần đây, đọc những bài phản hồi lại của Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh như: Pháp lý hay phi lý? (Văn Nghệ, 472), Thế là quy chụp và xuyên tạc (Văn Nghệ, 477), Nhận thức chưa tới? (Văn Nghệ, 477), Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị (Văn Nghệ, 477),  Bình yên cho sử học (478)…, chúng tôi càng nhận thấy rõ hơn giữa chúng tôi và các vị không có cùng một nền tảng kiến thức, lại khác xa nhau về phương pháp tiếp cận, nên làm sao có thể cùng nhau đi đến ngọn nguồn của vấn đề.

Vì vậy sau một số bài tranh luận nhằm mục đích làm sáng rõ trước công luận một số vấn đề lịch sử cơ bản do Tuần báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh nêu lên, chúng tôi dừng cuộc tranh luận ở đây

X & N

———–

(1) Sự vu khống độc địa này chính là lý do làm bùng lên cơn bão mạng khi Viện Sử học Việt Nam tổ chức Lễ ra mắt bộ Lịch s Việt Nam 15 tập (do PGS Trần Đức Cường làm Tổng Chủ biên) vào ngày 18 tháng 8 năm 2017. Họ cố tình “nhầm” bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập là kết quả đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Sừ học dã được xuất bản với bộ Quốc sử do GS Phan Huy Lê làm Tồng Chủ biên mới dang dược triên khai, đòi thu hồi bộ sách và kỷ luật các tác giá. Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức một Hội đồng khoa học đánh giá một cách chính xác và công tâm, khẳng định những cố gắng và thành công của tập thể các nhà khoa học Viện Sử học, đề nghị cho bộ sách được phát hành bình thường.

(2) Thật ra tạp chí Xưa & Nay số 486 (tháng 8 năm 2017) và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 7 (495) 2017 đã đăng bài các bài phản hồi từ trước đó rồi.

 

 

 

Advertisements

Năm mới, chúc nhà báo Đặng Minh Phương trường, trường thọ.

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 1 năm 2018.

Năm mới, chúc nhà báo Đặng Minh Phương trường, trường thọ.

Phạm Tôn

Nhà báo Đặng Minh Phương sinh năm 1928, tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, tức là đã đến tuổi đại thọ rồi. Nhưng, xem ra, ông vẫn còn trẻ lắm, luôn “tả xung hữu đột” trên mặt trận báo chí. Không những trẻ, mà nhiều khi còn rất ngây thơ nữa (Xin lỗi đã nói như vậy, và cũng hứa sẽ chứng minh sau đây).

Bài Trở lại chuyện Phạm Quỳnh đăng trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 447 viết vì có sự xuất hiện bài Một mối thân tinh của Anh hùng Lao động Sơn Tùng đăng trên tạp chí Tinh Hoa Việt số 47, giữa tháng 3/2017. Đến số 450 Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ra ngày 18/5/2017 thì ông nói toạc ra ý kiến của mình về bài đó trong bài có tên “Một mối thân tình” chuyện bịa đặt của ông Sơn Tùng.

Chủ yếu trong bài này ông phản bác hai việc là: 1/ Nguyễn Ái Quốc gặp Phạm Quỳnh ở Pháp năm 1922 và 2/ ông Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên báo cáo việc ông Phạm Quỳnh bị xử tội chết.

Ông Đặng Minh Phương viết:

“1. Chuyện Nguyễn Ái Quốc gặp Phạm Quỳnh ở Pháp năm 1922

Ông Sơn Tùng viết: Năm 1913, cụ Đào Nhật Vinh cùng làm việc trên tàu viễn dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành từ Le Havre, hải cảng ở Bắc Pháp quốc. Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất, ông Sơn Tùng vào miền Nam, nhờ có hướng dẫn, ông được gặp cụ Đào Nhật Vinh.

Ông Sơn Tùng được nghe cụ Đào Nhật Vinh kể nhiều chuyện về mối quan hệ giữa các cụ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Ông Sơn Tùng viết: “Tôi (cụ Vinh) được làm chân điếu đóm của các cụ…cho nên chúng tôi được đến gần các vị trong phái bộ tháp tùng Nhà vua (Khải Định) như quan tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định, ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh… Ông Vĩnh, ông Quỳnh quen biết nhau từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục…

Đầu tháng 7/1922, tôi (cụ Vinh) không nhớ chính xác là ngày nào tôi trong Hội chợ cùng anh bạn đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau, có lẽ đang nói thầm.. Tôi và anh bạn quay trở lại… chiều hôm ấy tôi về nhà ông Tạ Văn Cẩn, gặp cụ Phan và ông Nguyễn đang ở đây. Ông Nguyễn dặn nhỏ tôi: Ngày 13/7, Vinh đến cụ Nghè Đông Ngạc nhé, đến sớm sớm đó… Tức là tôi đến số 6 Villa des Gobelins, cụ Nghè Đông Ngạc là Tiến sĩ luật khoa Phan Văn Trường. Cách nói lóng này chỉ một số trong nhóm chúng tôi biết. Tôi đến sớm để làm “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc… Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợt ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng. Tôi đem tách trà lên phòng mời khách. Chỉ có ba vị trong phòng thôi. Và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa soạn xong bữa…”.

Những điều kể trên là hoàn toàn bịa đặt. Làm gì có chuyện “những ngày đầu tháng 7 (1922) ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau đi sóng bước… và hơn 8 giờ sáng 13/7, đàm đạo tới 11 giờ…”.

Xin mời đọc Pháp du hành trình nhật ký của chính ông Phạm Quỳnh viết (NXB Hội Nhà văn, 2004) có ghi nhật ký từng ngày:

Thứ 7 mồng 1 tháng 7: Hôm nay đi chơi Saint Cloul, cách Paris chừng 15 cây lô mét… Thứ 3 ngày mồng 4 tháng 7: Tối mai đây đã phải diễn thuyết ở Hội Đông Pháp Ái hữu. Mấy hôm nay nằm hầm ở nhà để soạn bài, không đi chơi đâu cả. Thứ 4 ngày mồng 5 tháng 7, … 8 giờ diễn thuyết ở Kinh tế Cục cho các hội viên Hội Đông phương Ái hữu nghe…”. Từ ngày 6-7 cho đến ngày 11/7, ông Quỳnh đi thăm chơi nhiều nơi ở Paris, nói chuyện ở nơi này nơi nọ, gặp gỡ nhiều người bạn Pháp, không hề thấy ông ghi là có gặp và “sóng bước” với ông Nguyễn Ái Quốc! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Về cuộc gặp Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… ở Paris, ông Phạm Quỳnh ghi: Thứ 5 ngày 13/7/1922. “Cụ V. hôm nay đưa đến chơi ông De Naléche, chủ nhà báo Journal des Débat ở đường Saint Germain…, không phải là “… Hơn 8 giờ sáng ông Quỳnh tới” nhà cụ Nghè Phan Văn Trường. Cũng không hề có chuyện “ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng” như ông Sơn Tùng ghi. Xin đọc tiếp nhật ký của ông Quỳnh:

“Chiều hôm nay (13/7) ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi, không khỏi có trinh tử do thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu nay không được ăn cơm ta ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ thỏa thích. Ăn no uống say, cười cười nói nói, không ngờ buồng bên cạnh có người đương hấp hối chết, đến lúc xuống thang mở cửa ra đi chơi mới thấy lão quản gia nói, các ông có ý trách sao lão không bảo trước để cho bọn mình khi ngòi bàn ăn biết mà tĩnh túc hơn một chút; lão giơ hai tay lên, tựa hồ như cho việc đó là không can hệ gì. Trong một nơi đô hội ba bốn triệu con người này, một người chết đi có lẽ cũng không quan hệ gì thật…”

Ngày 14/7, ông Quỳnh đi xem điểm binh ở trường đua ngựa… Ngày 15, đến thăm bác sĩ Lyon Caen là vĩnh viễn thư ký Hội Hàn lâm, Ban Chính trị luân lý học…

Đến ngày chủ nhật, 16/7, ông ghi:

“Hôm nay không đi chơi đâu, ngồi hầm trong buồng, viết mấy cái thư về nhà.

Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử đi theo, chắc bọn đó đứng đâu ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng phải là sự phi phạm gì. Và chính phủ Pháp vẫn có tiếng là khoan dung đại độ, xem như mấy ông ở đây bấy lâu vẫn được yên ổn ở dưới quyền bảo hộ của pháp luật, vẫn được tự do như người Pháp, thì đủ biết. Còn sự trinh sát là phận sự của các Chính phủ, dân nước nào cũng vậy, chẳng lấy gì làm lạ…” (Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, NXB Hội Nhà văn 2004).

Cả hai lần gặp gỡ (Chiều 13 và trưa 16/7), ông Phạm Quỳnh chỉ ghi gọn trong 30 dòng nhật ký. Ông cũng không ghi rõ “mấy tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi” này là ai, không kể nội dung các cuộc gặp ấy là gì, chỉ nói qua là “ăn cơm ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích… (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai cũng thế…”.

Ông dẫn chứng bằng những sự việc Phạm Quỳnh viết công khai trên báo Nam Phong và nhấn mạnh “Không hề thấy ông ghi là có gặp và “sóng bước” với ông Nguyễn Ái Quốc và “Cả hai lần gặp gỡ (chiều 13 và 16/7) ông Phạm Quỳnh chỉ ghi gọn trong 30 dòng nhật ký.” Và lại nhấn mạnh: “Ông cũng không ghi rõ “mấy tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi” này là ai, không kể nội dung các cuộc gặp ấy là gì, chỉ nói qua là “ăn cơm ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích… gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai cũng thế…”

Ở phần mở bài, tôi có nói là cụ đại thọ này… rất ngây thơ. Cụ thể hai điều ông nhấn mạnh trên, muốn một nhà báo Việt Nam trên đất Pháp phải nói rõ là mình đã gặp gỡ và bàn chuyện gì với những người đang bị cảnh sát Pháp theo dõi ngay trên mặt báo công khai! Đúng là quá ngây thơ, không thể tin được đó lại là yêu cầu của một nhà báo đã nhiều năm trong nghề.

Còn về việc thứ hai ông phản bác thì chúng tôi tin là chính ông Đặng Minh Phương cũng biết là nếu dẫn chứng ý kiến của ai thì cần phải đưa ra ý kiến cuối cùng của người đó, chứ không phải là ý kiến đó lợi cho mình. Các nhà nghiên cứu ai cũng biết lệ đó. Vì theo thời gian, kinh nghiệm từng trải, có thêm tư liệu mới… người ta có thể thay đổi ý kiến. Ví như ông dẫn chứng ý kiến giáo sư Nguyễn Văn Trung trong sách in năm 1975 mà không đưa ý kiến của ông ấy năm 1999, trên báo Đi tới  xuất bản ở Montréal, Canada:

“Trong bài du ký ông chỉ nhắc tới buổi gặp Phan Chu Trinh mà không nói tới những gặp gỡ khác đặc biệt với Nguyễn Ái Quốc. Chắc hẳn ông đã báo cáo với mật thám Pháp về những tiếp xúc này một cách nào đó cho khỏi bị nghi ngờ. Những ai đã có dịp gặp Nguyễn Ái Quốc bất kể là người Việt Nam hay người ngoại quốc đều thú nhận rất khó chống khả năng cảm hóa thuyết phục của Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh, một người thấm nhuần sách lược Lê-nin-nít. Có thể Nguyễn Ái Quốc, nhận thức được sự đóng góp đặc biệt của Phạm Quỳnh cho cách mạng Việt Nam ở cương vị một người cộng tác thân tín với giới lãnh đạo chính trị an ninh tình báo cấp cao nhất trong chính quyền thuộc địa, trao công tác cho Phạm Quỳnh mà bây giờ gọi là “ĐƠN TUYẾN” nghĩa là chỉ tiếp xúc nhận chỉ thị của một người khi cần đến, trong khi chờ đợi cứ nằm vùng 10 năm, 20 năm hoàn thành xuất sắc tất cả các việc người Pháp trao để không bị nghi ngờ bất chấp những đố kị kết án là phản quốc Việt gian. THỜI ĐIỂM 1945-46 PHẠM QUỲNH CÓ THỂ XUÁT HIỆN VỚI BỘ MẶT THẬT (thì) BỊ CẤP DƯỚI GIẾT CHẾT. Khả năng bị thủ tiêu ở thời điểm này lại rất dễ xảy ra ngay cả với những người được triệu ra Bắc làm bộ trưởng như Lê Văn Hiến nếu không nhờ có can thiệp kịp thời.

Dĩ nhiên, đây hoàn toàn là một giả thuyết có thể phải đợi bao giờ một cuốn sử về Nguyễn Ái Quốc trung thực được công bố có nói đến tiếp xúc giữa ông và Phạm Quỳnh hồi ở Paris hoặc không bao giờ được kiểm chứng.

 (…) Tình hình hiện nay có xu hướng tạm gác đánh giá Phạm Quỳnh về chính trị và lưu tâm tìm hiểu về sự nghiệp văn học của ông. Trong nước đã xuất bản những Truyện ngắn Nam Phong và chuẩn bị những trao đổi về mặt văn học (…) Việc nghiên cứu này không dựa vào những chứng từ như hồi ký, trả lời phỏng vấn… chỉ có giá trị tương đối nào đó, mà vào bút tích ghi trong hồ sơ hành chính lưu trữ ở văn khố Pháp, Nhật hay của bộ nội vụ ở Việt Nam. Hy vọng có thể phát hiện những sự kiện thuận lợi cho Phạm Quỳnh như xác nhận giả thuyết ông Nguyễn Ái Quốc móc nối Phạm Quỳnh và bức thư kết bằng những mẩu thuốc lá của những Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở trong tù gửi cho ông Phạm Quỳnh đề nghị can thiệp với Pháp thay án tử hình đối với nhóm Nguyễn Thái Học được xác minh ông Phạm Quỳnh có can thiệp… (những đoạn in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Montreal, đầu tháng 8/1999

N.V.T.

Ông dẫn lời ông Tôn Quang Phiệt năm 1945, nhưng chắc chắn ông có biết đoạn văn này trong bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 267 tháng 9 năm 2006 như sau:

“Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.”

Chúng tôi cũng báo để các bạn biết là bài này đăng lại trong sách mới của Đặng Minh Phương Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng. Trong sách này, bài Trở lại chuyện Phạm Quỳnh đã biến thành một bài “đại luận”, tên bài được lấy làm tên sách, bài dài đến 28 trang, do ông gom lại tất cả những gì đã sưu tầm và công bố trên Hồn Việt năm xưa, mà tháp vào đuôi bài cũ!

Đầu năm Tây, xin tặng ông một tục ngữ Tây Qui Vivra Verra (tạm dịch là Sống lâu biết nhiều chuyện lạ). Vì thế, xin chúc ông trường, trường thọ.

P.T.

Tháng Mười Hai 31, 2017

Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:30 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018.

PHẠM QUỲNH VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN

VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY  Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

Vương Trí Nhàn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Vương Trí Nhàn sinh ngày 15 tháng 11 năm 1942 tại Hà Nội. Quê ông là xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm vào năm 1964, sau đó đi bộ đội cho đến đầu năm 1979. Trong quân đội ông dạy học và về sau làm báo. Ông từng giáp mặt với thực tế các chiến trường B4, B5. Các bài viết của ông xuất hiện trên báo Văn Nghệ từ tháng 3 năm 1965. Sau đó ông viết đều đặn trên các báo Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội. Từ 198  5 còn trên cả Thể Thao & Văn Hóa, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Kiến Thức Ngày Nay v.v… cùng với các bài nghiên cứu dài trên Tạp chí Văn Học. Đầu 1968, ông về Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và năm 1979, thì sang nhà xuất bản Hội Nhà Văn, đều là những cơ quan người sáng tác đông hơn người nghiên cứu phê bình. Việc này ảnh hưởng quyết định đến những đề tài những tác giả mà ông quan tâm cũng như cách viết của ông. Năm 1977 ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông học tiếng Nga từ đầu thập niên 1970, có một số bài dịch từ tài liệu tiếng Nga về một số tác phẩm văn học, cũng như biên soạn một tập sách nhan đề Sổ tay truyện ngắn, dựa vào tài liệu tiếng Nga. Năm 1990, khi đang học tại trường viết văn Gooc-ki của Nga, dù chưa gặp nhưng qua các tác phẩm được đọc, ông đã có nhận xét nổi tiếng về  “khuôn mặt nhàu nát vì đau khổ“ của Nguyễn Huy Thiệp. Lúc đầu, ông chỉ tập trung về mảng văn học đương đại, cho đến đầu thập niên 1980, ông có ý thức dần dần trở lại với văn học sử, nhất là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX và đã viết một số bài nghiên cứu về các nhà văn tiền chiến. Tới đầu thập niên 1990, trước các hiện tượng văn học quen thuộc, ông lại muốn ngả sang cách tiếp cận văn hóa học. Ban đêm, ông tự học thêm về lịch sử, dân tộc học, xã hội học v.v…

Vuong Tri NhanMột số tác phẩm của Vương Trí Nhàn đã xuất bản là: Sổ tay truyện ngắn (sưu tầm, biên soạn, dịch NXB Tác Phẩm Mới, 1980, in lại năm 1998. NXB Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2001), Bước đầu đến với văn học (tiểu luận phê bình NXB Tác Phẩm Mới, 1986), Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (kể chuyện đời sống văn học, Hà Nội, 1986), Những kiếp hoa dại (chân dung và phiếm luận văn học, NXB Hội Nhà Văn, 1993, in lại 1994), Cánh bướm và đóa hướng dương (tiểu luận phê bình, Hải Phòng, 1999), Cây bút, đời người (chân dung văn học, NXB Trẻ, 2002), Ngoài trời lại có trời (viết về một số tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài, NXB Hội Nhà Văn, 2003)…

Cuối năm 1992, Vương Trí Nhà đã gửi bài tham gia hội thảo (không thành) do Viện Văn Học tổ chức tại Hà Nội cùng với hai mươi tham luận của các tên tuổi lớn trong văn hóa văn học Việt Nam như Hoàng Đạo Thúy, Vương Hồng Sển, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Xuân…

Sau này bài đó được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số tháng 7-2005 nhưng đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Chúng tôi mời các bạn đọc những trang sau đây do chính tác giả đưa lên mạng. Để tiện theo dõi, chúng tôi cho vào ngoặc vuông ( [ ] ) các đoạn bị lược bỏ đó.

—o0o—

I.

Từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch qua Phan Chu Trinh và các nhà nho hoạt động cho Ðông Kinh Nghĩa Thục, trong giới trí thức – thường gọi là các sĩ phu – của nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thấy nổi lên một loạt người có cách nhìn khác đi so với cách giải quyết thông thường các vấn đề xã hội. Họ cũng yêu nước; trước hoạ diệt vong, họ cũng muốn nhận lấy trách nhiệm với đất nước. Song, xem xét kỹ tình hình xã hội đương thời, họ cho rằng cứu nước trước tiên không phải là lập nên lực lượng vũ trang tổ chức kháng Pháp mà cần “cường dân hoá quốc”, đưa nước ta hưng thịnh theo mẫu hình xã hội phương Tây, sau đó thì công cuộc cứu nước cực kỳ quan trọng kia mới có cơ thực hiện.

Khi quan niệm như vậy, mỗi nhà nho của chúng ta – những người vốn được đào tạo từ nơi cửa Khổng sân Trình – quả đã trải qua một cuộc đột biến trong suy nghĩ. Song, trong trường hợp này, sự nhạy cảm đã mách bảo họ khá chính xác, trí tuệ của họ tìm ra một định hướng hợp lý khiến cho lòng yêu nước có được sức sống, lại mang sắc thái khá hiện đại. Nói gọn lại là họ đã đúng! Hãy thử nhìn vào sự chuyển biến của xã hội Việt Nam trong lịch sử: nếu đem xã hội đó cuối thế kỷ XIX và một vài năm đầu tiên của thế kỷ XX, so sánh với chính nó những năm 30-40 (và không quên quy định rõ với nhau rằng chỉ xét sự vật thuần tuý mà không đếm xỉa đến những nguyên nhân khách quan, chủ quan, các loại tác động bên trong và bên ngoài v.v…), người ta sẽ ngạc nhiên thấy giữa đôi bên có một khoảng cách xa thẳm. Một sự thay đổi ghê gớm đã đến với xã hội này, chẳng khác chi một con người đổi thịt thay da, hoặc một cỗ máy được tháo ra và lắp lại theo kiểu khác. Từ góc độ của kẻ đứng ngoài – trong trường hợp này là kẻ cầm đầu cơ quan cai trị – vào năm 1928, toàn quyền P. Pasquier đã khái quát bằng hình ảnh “Tôi từng biết nước Nam hồi còn đi võng, nay xem ra như đã muốn lên tàu bay rồi“ (Nam Phong. Số 127, 1928; tr. 216). Hơn chục năm sau, tức là qua năm 1942, trong bài mở đầu cho Thi nhân Việt Nam 1932 41 , với tư cách một người trong cuộc, Hoài Thanh sẽ viết về một nước Việt Nam kỳ lạ:

“Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp (…). Nhưng cuộc Âu hoá không phải chỉ có thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa (…) Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta“ (Hoài Thanh, tr. 18).[1]

Sự vận động như vậy đã rõ, phương hướng lại càng rõ. Trước khi nhà văn hoạt kê Vũ Trọng Phụng cho Xuân tóc đỏ mang hai chữ Âu hoá ra đùa giỡn, thì suốt một thời gian dài, nó đã là điều ám ảnh, tức yếu tố chi phối mọi hành động của bao người. Sở dĩ nó, cuộc Âu hoá ấy, có thể diễn ra, và bất chấp mọi giá (ngay trong máu và nước mắt, trong chán chường và uất hận), vẫn diễn ra, bởi lẽ rộng hơn suy nghĩ của một hai người có đầu óc sáng suốt, và rộng hơn một phong trào vận động (như phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục), nó là nhu cầu bức bách của cả xã hội. Chẳng phải bốc đồng mà Phan Chu Trinh, trong thư gửi toàn quyền Pháp từng kêu lên về tình trạng suy đồi của đời sống tinh thần trong dân ta lúc bấy giờ: “Giả phỏng chính phủ cho mượn dăm ngàn khẩu súng cấp đất vài tỉnh cho ở, không thèm hỏi đến, tha hồ muốn làm gì thì làm, chỉ độ dăm năm, thật là báo thù lẫn nhau cho chết hết mới thôi, quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự được ai nữa?“ (Dẫn theo Ðặng Thai Mai tr. 251). Ý Phan Chu Trinh muốn bảo, trong hoàn cảnh ấy, không canh tân đất nước đi, thì có độc lập cũng vô nghĩa. Theo lô – gích mà suy, rõ ràng giữa hai nhiệm vụ là đánh Phápmở mang dân trí, cái thứ hai nếu không cấp bách hơn thì cũng quan trọng ngang với cái thứ nhất. Có điều, cũng từ đây, khía cạnh bi đát của lịch sử bắt đầu bộc lộ. Biết bao người có tâm, có chí, có hiểu biết song bởi chỗ chỉ chăm chăm lo việc trước mắt, hoá ra manh động, trước sau không tránh được thất bại. Trong cuốn Sự phát triển  của tư tưởng  ở Việt nam  từ thế kỷ XIX  đến Cách mạng tháng  Tám tập II  với tiêu đề cụ thể Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Trần Văn Giàu xác nhận “Những tổ chức cách mạng yêu nước không hề đặt vấn đề điều hoà văn hoá Ðông phương và Tây phương, chỉ nghĩ rằng đi vào văn hoá là xa rời yêu nước” (Trần Văn Giàu, tr. 529). Chủ ý của ông là muốn đưa ra một lời khen ngợi, song chúng tôi tưởng, nếu đúng như thế, thì đây lại là lời cắt nghĩa đúng đắn bậc nhất về thất bại của những người yêu nước đương thời (xin lưu ý tôi nói những người yêu nước đương thời, tức là thời mà xã hội Việt Nam chưa được nhào nặn lại theo hướng Âu hoá, chứ không phải những người yêu nước nói chung). Trong khi ấy, có những kẻ lâu nay thường được lịch sử ta coi như bọn phản bội, đặt cược cả đời mình vào việc cộng tác với ngoại bang, tối thiểu cam chịu một bề, đầu hàng hoàn cảnh, cốt sống và tồn tại, song, suy cho cùng, họ rất gần gũi với cách hiểu của Phan Chu Trinh nói trên về tình trạng đất nước, cũng như cách vượt ra khỏi tình trạng tệ hại đó. Khách quan mà xét họ có đóng góp vào việc thúc đẩy cho sự nghiệp canh tân. Việc đánh giá các nhân vật lịch sử bao giờ cũng phải rất cụ thể. Giữa những người cùng làm một việc, động cơ chi phối chưa chắc đã giống nhau; giữa những người cùng ý nghĩ ,  có khi lịch trình hành trạng lại trái ngược và sẽ được thông cảm ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên nếu được phép quan niệm rằng với xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhu cầu canh tân – với tư cách là bước đầu tiên đi đến cứu nước – là một nhu cầu có thật, thì người ta sẽ dễ dàng độ lượng và có cái nhìn phải chăng hơn với nhiều người, trong đó có một nhân vật lịch sử mà lâu nay thường được quy là đầu sỏ tội trạng, song thực tế lại đã làm được khá nhiều việc có ích trong nghiên cứu, giới thiệu và dịch thuật văn hoá  phương Tây vào Việt Nam, cũng như trong việc hướng văn hoá Việt Nam hoà nhập vào văn hoá thế giới nói chung. Người đó là nhà văn Phạm Quỳnh (1892-1945).

II.

Theo nhà sử học Nhật Tsubôi thì một trong những đòi hỏi cấp bách nhất đặt ra với nhiều nước ở phương Ðông hồi cuối thế kỷ XIX là phải “tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một kiểu tư duy khả dĩ thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của phương Tây”. Và để đáp ứng đòi hỏi đó, ở Nhật Bản người ta đã đưa ra khẩu hiệu “Hoà hồn dương tài”, ở Triều Tiên có “Ðông đạo tây khí”, ở Trung Quốc có “Trung thể tây dụng”. Bằng cách diễn tả khác nhau, các khẩu hiệu đó có phần cốt lõi giống nhau: đó là những cố gắng của trí thức mỗi nước nhằm tìm cách hoà hợp văn hoá Ðông -Tây và tạo cho đất nước một sự thích ứng với hoàn cảnh (Tsubôi, tr. 184-185). Trong khi đó ở Việt Nam thì sao? Một mặt đúng như nhà sử học Nhật đã nhận xét “do chỗ Việt Nam (…) bảo thủ hơn các nước theo Nho giáo khác”, – ở Việt Nam đã không thấy có một khẩu hiệu tương tự. Và đây chính là một trong những lý do khiến đất nước ta rơi vào tay bọn xâm lược, còn xã hội thì trượt dài trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ. Mặt khác, nên nhớ rằng một trong những đặc điểm của văn hoá Việt Nam là thói quen dung hoà, tức là khả năng chấp nhận những ảnh hưởng xa lạ với mình, thích ứng với hoàn cảnh mới để tồn tại (Có người đã hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn “Có thể đó là một trong những lý do làm nên sự sống còn của Việt Nam?”, ông đã trả lời “Có thể lắm” – tư liệu do nhà sử học Trần Quốc Vượng cung cấp). Bởi vậy, tuy không có những khẩu hiệu rõ ràng tức là không được đưa lên phương diện ý thức, song sự tiếp nhận văn minh phương Tây vẫn cứ ngấm ngầm xảy ra, dần dà tự phát mà xảy ra, cái tinh thần thấy ở các khẩu hiệu nói trên ở Nhật Bản, ở Trung Hoa, vẫn là điều được thực hiện ở Việt Nam. Những nỗ lực “tuỳ tâm Âu hoá” khởi đi từ các nhà nho trong Ðông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, đến những năm sau, càng được nhiều người thấy là phải và thành tâm tin theo. Nói như Trần Văn Giàu “Tư tưởng về sự điều hoà đạo đức phương Ðông với khoa học phương Tây để tạo cho Việt Nam một lớp thượng lưu mới, tạo cho Việt Nam điều kiện đi tới phú cường – tư tưởng đó trong những năm 20 và 30 khá là phổ biến trong các báo chí chứ không riêng gì trên Nam Phong“ (Trần Văn Giàu, tr. 526).

Thế chỗ bắt đầu của tâm thức “kết hợp Ðông- Tây”, “thổ nạp Âu Á” này là gì?

Có một khái niệm cơ bản, một khi có được nhận thức mới về nó, người ta sẽ hiểu đúng hơn thực chất các vấn đề xã hội do đó có một phương hướng hành động đúng: Ðó là khái niệm văn hoá.

Những người có quan tâm đến lịch sử Việt Nam đều biết rằng ngay từ thế kỷ XV, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nói đến văn hoá:

Như nước Ðại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Sơn hà cương vực đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Cho đến cuối thế kỷ XIX, trong đầu óc các nhà nho, văn hoá vẫn được hiểu như vậy. Có cương vực bờ cõi riêng, phong tục tập quán riêng, tức chúng ta đã có văn hoá riêng. Chắc chắn không có gì đáng phải phàn nàn về nền văn hoá đó. Hơn nữa, nó – nền văn hoá ấy – đủ mạnh đến mức có thể là yếu tố cố kết mọi người lại, lôi cuốn họ vào cuộc chiến đấu cứu nước, cho đến khi lấy lại được đất nước.

Tiếc thay, điều đã đúng trong các thế kỷ trước, đến nay không đúng nữa.

Mặc dù vẫn nhân danh văn hoá (theo nghĩa rộng), nhân danh hùng khí đất nước để chiến đấu, song các cuộc khởi nghĩa Cần vương trước sau không tránh được thất bại.

Tại mệnh trời chăng? Lúc đầu nhiều người chỉ nghĩ có vậy. Song lẻ tẻ, bắt đầu có người ngờ rằng sở dĩ chúng ta thất bại, vì cuộc sống ở xã hội ta quá trì trệ, dân trí ta thấp, trong đó có sự hiểu biết của ta về thế giới quanh ta đơn giản nghèo nàn cũ kỹ dẫn đến tình trạng có sự tách rời giữa nước ta với thế giới. Vậy là tại văn hoá. Nếu cứ để như cũ, nền văn hoá đã là lý do của mất nước lại sẽ trở thành vật cản trong công cuộc cứu nước. Dù sâu cây bén rễ đến đâu, nền văn hoá đó cũng phải được làm lại. Phải nói rằng trước lớp trí thức Tây học khá lâu, các nhà nho đã có người nghĩ như vậy. Song với lớp trí thức trẻ hơn (sản phẩm của quá trình Âu hoá do sự áp đặt cưỡng bức của thực dân Pháp) thì các ý nghĩ đó mới được đẩy đến cùng. Ðến lượt mình, Phạm Quỳnh sẽ có dịp nhấn mạnh điều đó thật đầy đủ khi phác ra bức tranh toàn cảnh của cả khu vực phương Ðông lúc ấy:

“Cái nông nỗi mất nước của ta chính là một tấn kịch nhỏ trong tấn kịch Ðông – Tây xung đột nhau. Tây phương đem lại cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại những cơ khí tối tân mà tràn ngập sang Ðông phương trong khoảng một thế kỷ nay, làm cho các dân tộc Ðông phương thất điên bát đảo bảy nổi ba chìm đến nay hãy còn tê mê chưa tỉnh sự đời. Thành ra cái nông nỗi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi , lại kèm thêm một vấn đề văn hoá nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng.”

Pham Quynh_Tre

Phạm Quỳnh đã viết như vậy trong bài Văn hoá và chính trị in ở tạp chí Nam Phong số 107, năm 1926. Và Phạm Quỳnh còn trở đi trở lại với cái ý ấy trong nhiều bài viết lớn nhỏ khác nữa, bao gồm từ những bài quan trọng, trình bày chính kiến, hoặc kiểm điểm thành tựu của Nam Phong, cho tới các đoạn văn ngắn, nhân chuyện thời sự mà bàn thêm việc chung (ông gọi là mục Thời đàm ). Trong  những phát biểu như vậy, tác giả đã làm một cuộc đảo lộn trong quan niệm, bởi đã dám trao cho văn hoá một sứ mệnh lớn, trực tiếp liên quan đến sự sống còn của đất nước. Mối phản cảm đã đến rất nhanh với người đương thời. Làm sao mà việc mất nước lại do văn hoá được? Do quen sống trong một hệ giá trị khác, làm sao các nhà nho khỏi bị sốc khi phải nghe một kiểu ăn nói nghĩ ngợi khác hẳn mình như vậy?! Trong cảnh bất lực vì không làm cách gì để đuổi bọn cướp nước đi được, bấy lâu, điều làm cho họ cảm thấy được an ủi, là thực ra, bọn cướp nước kia là man di mọi rợ, ta cao hơn chúng, và mặc dù bị thua, song ta vẫn không thèm dùng đồ của chúng, đi xe của chúng… Nay thì tinh thần bài ngoại ấy – một thứ chủ nghĩa yêu nước thẳng tay từ chối mọi nền văn hoá khác lạ – hình như không có cơ đứng vững nữa, làm sao mà họ chịu nổi! Thế còn đối với các nhà Tây học, liệu có thể nói quan niệm đó của Phạm Quỳnh về văn hoá, là quan niệm có tính chất chính thống và phổ biến trong lớp trí thức trẻ đương thời? Cũng không hẳn. Trong số những người cộng tác với thực dân Pháp lúc ấy không thiếu gì kẻ bị ngợp trước nền văn minh mới, hoàn toàn chối bỏ nền văn hoá truyền thống của dân tộc. Có gì chung với đám người ấy thì chung, riêng chỗ này Phạm Quỳnh không chịu! Khi thuật lại chuyện du lịch ở Paris trước 1.500 người nghe, ông không khỏi tự hào “báo cáo” với thính giả rằng mình đã dám nói ngay ở Paris, trước Viện Hàn lâm Pháp:

“Nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một nền văn hoá cũ nhưng văn hoá cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải thâu thái lấy văn hoá mới đời nay mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ”.

Ông yêu cầu nhà nước bảo hộ phải có, trên phương diện văn hoá, mà cũng tức là trên phát triển của xã hội , một chính sách sáng suốt:

“Nếu dân Việt Nam là một dân tộc còn mộc mạc cổ lỗ, chưa có nền nếp chưa có lịch sử, thì quý quốc cứ việc hoá theo Tây cả (…) đồng hoá được đến đâu hay đến đó. Nhưng ngặt thay dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì vào cũng được; tức là một tập giấy đã có sẵn từ đời nào đến giờ rồi, nếu bây giờ viết đè một thứ chữ nữa lên trên, thì e thành giấy lộn mất.” (Thượng Chi văn tập, t.II , tr. 215)

Với một cách nhìn chi tiết và cẩn trọng, văn hoá dân tộc với Phạm Quỳnh hiện ra như một cái gì đa dạng. Nó là một thực thể có thật, không ai có thể gạt bỏ. Nó đã ăn vào máu thịt mỗi chúng ta, thậm chí là một gánh nặng, mãi mãi chúng ta phải mang. Song trong gánh nặng ấy, lại thấm thía bao nhiêu mồ hôi nước mắt của tiên tổ cha ông, lại in dấu bao vui buồn của mỗi kiếp người! Bởi vậy, tốt hơn hết là hãy đến với cái bản chất thứ hai ấy của ta với một thái độ hết sức thân tình, vừa tha thiết, vừa tỉnh táo, vừa vui với nó bằng lòng với nó, vừa biết rằng ở đó có những chỗ yếu, những khuyết tật. Tinh thần phê phán – vốn là đặc trưng của văn hoá phương Tây – có mặt trong từng nhận xét nhỏ nhất của Phạm Quỳnh để rồi giúp ông đi tới một tinh thần cởi mở và một thái độ chân thành trong tiếp nhận. Không chỉ mang lại cho sự tiếp nhận đó một ý nghĩa một lý do tồn tại, ông còn đề ra cho những bước đi và mang lại cho những người làm việc cụ thể một sự động viên, một niềm an ủi. Bằng con mắt của con người Việt Nam ở cuối thế kỷ XX, với mặc cảm tự tôn hình thành và tiếp nối trong nhiều thế hệ, ngày nay đọc lại Phạm Quỳnh, chúng ta dễ có cảm tưởng trước người nước ngoài và văn hoá nước ngoài, ông chủ bút Nam Phong có phần  học trò, quá đề cao và tôn sùng một chiều. Song, nếu nhớ lại rằng vào thời của Phạm Quỳnh, nền quốc văn mới – rộng hơn, cả nền văn hoá mới, những nếp sống mới – còn đang ở dạng sơ khai, thì chúng ta sẽ thông cảm với ông hơn. Hoặc hãy nhìn sang nước Nhật, cách người Nhật nhìn nhận và cách học của họ trước văn hoá nước ngoài, chúng ta sẽ thấy trong những gặp gỡ ban đầu, sự trân trọng là cần thiết đến như thế nào.

Tóm lại, trước khi tiếp nhận và đồng thời với việc tiếp nhận, Phạm Quỳnh đã giải quyết một số vấn đề giống như cơ sở lý thuyết.

1. Thế nào là văn hoá ?

2. Thực chất của văn hoá dân tộc .

3. Mối quan hệ giữa văn hoá và thực trạng đất nước, giữa việc mở mang văn hoá và công cuộc cứu nước.

4. Tính cấp bách và thái độ cần thiết khi tiếp nhận.

Ðây là những định hướng quan trọng mà thiếu đi, sự tiếp nhận văn hoá phương Tây không thể thực hiện một cách tương đối ổn thoả như nó đã được thực hiện. Trong sự bình tĩnh của con người sống ở cuối thế kỷ XX đầu XXI, chúng ta có dịp nhận thấy những thành tựu của giai đoạn văn hoá tiền chiến, là khá rực rỡ, có lẽ là thuộc loại rực rỡ bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Nhưng tất cả đã được gợi mở từ nhiều năm trước khi những người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Tản Ðà… mới đào móng xây nền.

III.

Chẳng những có phương hướng đúng đắn, có quan niệm khá chính xác về công việc, Phạm Quỳnh còn bắt tay vào làm, tức mang đến cho sự tiếp nhận văn hoá phương Tây những đóng góp cụ thể. Trong khi hô hào mọi người nên như thế nọ nên như thế kia, đồng thời Phạm Quỳnh không quên phần việc của mình. Với sự thông minh hiếm có và thói quen làm việc siêng năng, ông thật đã hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ mà người đương thời và các thế hệ sau phải kính phục.

Ðể có một ý niệm sơ bộ về công việc mà Phạm Quỳnh đã làm, người ta chỉ cần giở qua tạp chí Nam Phong, thậm chí một cuốn bản đồ thu nhỏ của nó, như cuốn Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 của L. M. Nguyễn Khắc Xuyên in ở Sài Gòn 1968.

– Ở mục Triết học Tây phương, trong vòng 17 năm, Nam Phong in 14 bài thì riêng Phạm Quỳnh đã viết 11 bài.

– Ở mục Xã hội ngoại quốc, hai con số đó là 13 và 9.

– Ở mục Chính trị ngoại quốc: 18 và 15.

– Ở mục Giới thiệu văn học các nước: 15 và 12.

– Ở mục Giới thiệu văn học Pháp: 39 và 34.

– Ở mục Truyện dịch Pháp: 26 và 15.

Với ba bút hiệu khác nhau (Phạm Quỳnh, Thượng Chi, Hồng Nhân), ông đã “thi công” ngòi bút ở đủ các thể loại: viết có, dịch có, lược thuật có, khảo cứu có. Chỉ trừ thơ là ông không dịch (hoặc không định dịch như một nhà thơ), ngoài ra, thấy cái gì hay, cái gì cần kíp với đời sống trong nước Phạm Quỳnh lập tức tìm cách chuyển nó sang tiếng Việt nghĩa là khoác cho nó bộ y phục dân tộc. Vừa bao quát lịch sử, ông vừa chú ý các vấn đề đương đại của văn học. Vừa làm các việc tương đối lâu dài theo hệ thống đã định, ông vừa có sự phản ứng linh hoạt, năng nổ thu vén nhặt nhạnh, không chịu bỏ rơi bỏ sót cái gì. Có thể là ngòi bút dịch thuật của Phạm Quỳnh không thật tài hoa, nhưng theo một người thạo tiếng Pháp và cũng hay bắt bẻ như Vũ Ngọc Phan, thì các đoản thiên tiểu thuyết được ông chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt một cách vừa có duyên vừa sát nghĩa, còn văn khảo cứu của ông chứng tỏ tác giả là “một người có cái học vừa sâu sắc vừa quảng bác”. Ngày từ 1933, trong Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh “Những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn” (Thiếu Sơn – tr. 19).

Pham Quynh _1922 tai Phap Hơn chục năm sau, nhóm Thanh Nghị còn đưa ra những nhận xét khái quát hơn. Trong bài viết mang tên Nay và mai in trên Thanh Nghị số Tết 1944, Ðinh Gia Trinh cho rằng trong sự kết hợp Ðông Tây, chính thái độ Nam Phong là ôn tồn và phải chăng hơn cả. Qua thời Tự lực, vẫn theo Ðinh Gia Trinh, người ta “đột ngột đi tới sự khinh miệt cái di sản tinh thần của nước nhà sự ca tụng quá đáng và thiết tha những cái gì Âu Tây mang lại (thời kỳ Phong hoá, Ngày nay)” . Về phần mình nhóm Thanh Nghị không giấu diếm ý đồ “ trở lại  sự tôn trọng những di sản của đất nước ,  những tinh tuý của văn minh Á Đông  trong khi tin tưởng  càng mạnh là ta phải  học nhiều ở Tây phương để đi tới sự thành công trong việc xây dựng một nền tư tưởng và một nền nghệ thuật Việt Nam xứng đáng” (  VTN gạch dưới  ) Có thể là Thanh Nghị vẫn không phục gì Phạm Quỳnh (nhất là lúc này Phạm Quỳnh đã vào triều làm quan); nhưng trong một mục tiêu như thế, họ đâu có ngờ là họ đã đến rất gần các mục tiêu của Nam Phong.

Ðấy là những cách đánh giá tích cực.

Về một phía khác, sự phủ nhận đóng góp của Nam Phong nói chung của Phạm Quỳnh nói riêng cũng rất quyết liệt. Và trong những năm mà cuộc chiến đấu cho độc lập dân tộc nổi lên hàng đầu, thì là cả một sự quyết liệt không khoan nhượng. Ðáng kể nhất là trường hợp Ngô Ðức Kế, như lịch sử văn học đã ghi nhận, và gần đây là Ðặng Thai Mai. Trong khi dựng lại bức tranh chung của đời sống văn học đầu thế kỷ, nhà nghiên cứu không dành cho Nam Phong một ý nghĩa tích cực nào, kể cả trên lĩnh vực thuần tuý học thuật. [Những nhận xét chính của Ðặng Thai Mai đối với vai trò của Phạm Quỳnh trong việc tiếp nhận văn hoá có thể tóm tắt:

1. Lập trường của Phạm Quỳnh đã hỏng, đã là dơ bẩn, thì “ý kiến của y cũng chỉ có thể có hại cho tinh thần”.

2. Thực ra Phạm Quỳnh không ghê gớm như chúng ta tưởng:

– “Cái mà Phạm Quỳnh giới thiệu trên tờ Nam Phong không hề có một mặt nào có thể nói là có hệ thống”. “Phạm Quỳnh đã đọc khá nhiều sách, đã viết rất nhiều vấn đề. Nhưng y chưa hề nghiên cứu về một vấn đề gì”.

– Về mọi mặt, chỗ “độc đáo” của y là điểm lạc hậu của bọn học giả phản động Pháp. Với tư cách “ông tham biện của toà Liêm phóng”, y đã “chiếu theo mặt hàng mà quảng cáo cho chính sách thực dân và truyền bá phần lạc hậu nhất (kể cả chính kiến của Charles Maurras) trong tư tưởng nước Pháp”  (Ðặng Thai Mai, tr. 126).]

Ở đây, chúng tôi không có tham vọng giải quyết đầy đủ vấn đề Phạm Quỳnh, cũng không dám đứng ra bàn lại mọi chuyện. Nhưng trước khi đi vào một điểm nhỏ thuần tuý học thuật, chỉ xin phép nói là ngay với định đề ban đầu (Phạm Quỳnh đã “chọn một chỗ đứng trong dơ bẩn”), chúng tôi đã thấy nên dè dặt. Bởi nếu cho rằng tình cảm yêu nước có thể được bộc lộ qua nhiều cách khác nhau và công nhận “hễ ai có đóng góp về vào việc phát triển ngôn ngữ, nói chung là làm lợi cho đất nước về mặt văn hoá, đều đã coi như có lòng với đất nước, có ý thức dân tộc”… thì mọi chuyện có thể được nghĩ khác đi một chút. Thậm chí, ngay cả khi đã kết luận hai năm rõ mười rằng một người hỏng về lập trường chính trị, và có cuộc sống tạm gọi là dơ bẩn thì cũng không có nghĩa rằng mọi thứ người đó viết ra đều là đổ xuống sông xuống bể cả. Thái độ của lớp trí thực hiện nay ở Pháp và Na-uy với di sản của L. F. Céline, K. Hamsun… chứng tỏ rằng ngày nay, hậu thế vẫn có thể rút ra nhiều điều bổ ích từ trước tác của những kẻ từng đã phản quốc và cộng tác với bọn phát-xít. Xử lý cho thích đáng sự không đồng nhất – tức cũng có nghĩa là sự độc lập tương đối và tách rời tương đối – giữa lập trường chính trị và học thuật là khó khăn, nhưng cũng là cần thiết, khi nghiên cứu, chúng tôi nghĩ vậy. Mà trong lịch sử Việt Nam – trước tiên là lịch sử tinh thần, lịch sử văn hoá – Phạm Quỳnh chính là một ví dụ tốt để thấy rằng muốn khỏi bỏ sót từng đóng góp nhỏ, một thái độ phân tích cận nhân tình và thấu đáo là cần thiết như thế nào.

[Sau hết, có thực về học thuật, Phạm Quỳnh cũng rất kém cỏi, một thứ con số không to tướng, như một số người (chứ không chỉ riêng Ðặng Thai Mai) đã nói chăng?]

Ở chỗ này tốt hơn hết, chúng tôi nghĩ là nên vận dụng triệt để quan điểm lịch sử – một điều giới nghiên cứu khoa học xã hội ở ta vẫn thường nói và sẵn sàng nói đi nói lại , nhưng trong lúc làm lại bị nhiều thành kiến vướng víu hạn chế, nên không mấy khi vận dụng được một cách hợp lý.

Ðúng là Phạm Quỳnh viết khá tạp. Ông không để lại những công trình dài hơi – chữ của Phạm Thế Ngũ – và thuần nhất như Trần Trọng Kim hoặc Phan Kế Bính. Nhưng nên nhớ về mặt học thuật căn bản Phạm Quỳnh là típ người thông tin, loại “thuật nhi bất tác”. Ðặt ông vào hoàn cảnh nước Việt Nam đầu thế kỷ, người ta thấy ông khá nhạy bén và thực sự là đã giới thiệu có phân tích có chọn lọc những tri thức phổ thông trong sách vở phương Tây đương thời và trong không ít trường hợp có liên hệ với thực tế Việt Nam, thế là được rồi, không nên do ghét ông mà đặt ra những yêu cầu quá cao như buộc ông đưa ra những luận thuyết, những triết lý lớn rồi chê là ông không làm nổi. Lại như bảo Phạm Quỳnh chỉ truyền bá phần lạc hậu nhất trong tư tưởng của nước Pháp thì cũng không hẳn. Chẳng nhẽ do đăng trên Nam Phong và do Phạm Quỳnh viết mà những bài lược thuật tổng thuật nghiêm túc giới thiệu về Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Baudelaire, Renan, A. France… đều là không đáng đọc, là có tội? Chúng tôi ngờ rằng ở đây, Ðặng Thai Mai  đã để ngòi bút của mình cho tình cảm nồng nhiệt chi phối nên có phần… quá tay. Nói riêng về trường hợp Charles Maurras (1868-1952). Ðúng là trên Nam Phong số 115 ở các trang 218-220 của năm 1927 có thấy trích đăng một ít suy tưởng của nhà văn này. Nhưng chúng tôi tưởng là Nam Phong đã sòng phẳng khi trong lời dẫn ghi rõ rằng Maurras là một kẻ đi ngược dòng trong đời sống tư tưởng ở Pháp, giữa thời cộng hoà mà lại đi đề cao quân chủ, chẳng qua là ông có lối văn rất hay, lập luận rất khúc chiết, nên cũng cần được biết tới. Còn như bảo Nam Phong đăng Maurras nghĩa là cùng tư tưởng với Maurras, như vậy chúng ta sẽ tính sao khi thấy trước đó năm 1926 ở số 109, Nam Phong cho in bản dịch bài viết của một học giả Nhật Bản viết về Chủ nghĩa xã hội, nói tới tính chất không thể tránh được – ngày nay ta gọi là tính tất yếu – của chủ nghĩa xã hội và có dẫn lời của cả Mã-khắc-tư (Marx) lẫn Ân-cách-nhĩ-thị (Engels)? Theo lôgích trên mà suy, chúng ta sẽ bảo như thế là Phạm Quỳnh  cũng góp phần vào việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, hoặc là một trong những người đầu tiên cho đăng trên tờ báo mình, những tài liệu về chủ nghĩa xã hội     chăng? Tôi sợ rằng, nếu được sống lại, Phạm Quỳnh cũng thấy cái mũ ấy to quá, không hợp! Tóm lại, nếu được để phần lập trường chính trị của Phạm Quỳnh sang một bên khi xét phần học thuật, và nếu chúng ta thực sự sáng mắt sáng lòng, thật sự thanh thoát, công bằng trong cảm nhận, chúng ta sẽ thấy phải ghi công cho ông nhiều hơn trước khi có sự định tội cần thiết. Nên nhớ rằng ngay từ 70 năm trước, chính vào lúc đi trên đất Pháp, Phạm Quỳnh đã nhận ra những chỗ yếu của văn hoá phương Tây. Ông bảo nó là cái gì ma quái, “làm vạ cho người đời khá nhiều”, và chính người phương Tây cũng chẳng sung sướng gì”. Theo ông chúng ta không nên ngộ hoặc về nó (Pháp du hành trình nhật ký, Nam Phong, số 91, tr.12). Ở một người mới 30 tuổi, một cách nhìn một tư thế như thế là đàng hoàng là chững chạc. Tinh thần phê phán có lẽ là một trong những nhân tố chính khiến cho ngay trên phương diện chất lượng các công trình tiếp nhận văn hoá của Phạm Quỳnh vẫn có ít nhiều giá trị. Còn như về mặt số lượng, ai cũng biết là vào khoảng những năm hai mươi, khi Phạm Quỳnh đang viết nhiều viết khoẻ, nền học thuật ở ta còn ở tình trạng rất phôi thai. Ðứng trước ngổn ngang công việc và mọi khó khăn bày ra phía trước, ông có vai trò thật sự của một người mở đường. Sự thao túng của ông đối với đời sống văn học công khai là điều ai cũng phải công nhận kể cả người cho là hay lẫn người cho là dở. Sở dĩ đây đó một hai người còn gọi ông là một thứ đạo sư của nền văn nghệ đương thời, là bởi lẽ đó.

IV.

Ðể diễn tả những cuộc gặp gỡ kỳ lạ mà cũng hứng thú giữa các nền văn hoá khác nhau, ở nhiều nước trên thế giới, các học giả thường viện dẫn đến khái niệm acculturation. Trong tiếng Việt, có người dịch thuật ngữ đó là thụ ứng, người dịch là hấp thụ, gần đây hơn lại thấy đưa ra những hỗn dung, tiếp biến, đan xen, giao thoa v.v…; mấy cách dịch ấy chữ nào cũng có lý của nó, nên hãy tạm để đấy, điều quan trọng hơn là cách hiểu về khái niệm. Bách khoa toàn thư Mỹ định nghĩa acculturation “là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hoá khác nhau, tiếp xúc trực tiếp và lâu dài với nhau, gây nên sự biến đổi trong dạng thức văn hoá ban đầu của một hay cả hai bên (Dẫn theo Hà Văn Tấn, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật 4-1981). Ðối chiếu với một định nghĩa nghiêm chỉnh như thế, người ta thấy cuộc tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây (trước tiên là văn hoá Pháp) trong một vài thế kỷ gần đây, nhất là cuối thế kỷ XIX đầu XX, đáng được coi là một hành động acculturation điển hình. Trong bài này, sở dĩ không dùng những giao thoa, đan xen, mà chỉ dùng một chữ khá phổ biến là chữ tiếp nhận, bởi lẽ, rõ ràng là trong quá trình tiếp xúc mà chúng ta đang quan sát, sự biến đổi chủ yếu xảy ra với một bên (phía Việt Nam), hơn là cả hai bên (cả phía Pháp). Hơn thế nữa, phải nhận đó là một sự biến đổi quá lớn, biến đổi hẳn trong dạng thức (pattern); sau khi tiếp xúc, văn hoá Việt Nam như nhào nặn lại, làm lại hoàn toàn. Nhưng có hề gì! Theo các nhà lịch sử văn hoá cho biết hoà nhập, vừa là đặc trưng, là tính nội tại, vừa là điều kiện sống còn của văn hoá. Lịch sử mỗi nền văn hoá không chỉ là sự phát triển tự thân của nó, mà còn là lịch sử của mối quan hệ giữa nó với các nền văn hoá khác. Riêng ở Việt Nam lịch sử đã hai lần biết tới một sự cấy ghép văn hoá ngoại lai như vậy, nhưng cả hai lần, văn hoá Việt Nam đều không mất đi, không bị đồng hoá, trong khi cải biến vẫn giữ được sắc thái của riêng mình. Nếu sau khi tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa, chúng ta vẫn có những thời kỳ phát triển độc đáo, như văn hoá Lý- Trần, văn hoá cuối Lê đầu Nguyễn, thì sau khi làm một cuộc thay máu hoàn toàn dưới ảnh hưởng văn hoá Pháp, nền văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ vẫn đẻ ra được những đứa con bụ bẫm, như nền tiểu thuyết hiện đại, phong trào Thơ Mới v.v. Ngày nay, mỗi chúng ta đều thấy hết sức tự nhiên khi khoác lên người những bộ âu phục với complet, cravate, chemise… Chúng ta tưởng từ lúc khai thiên lập địa, người Việt đã ăn mặc vậy. Nghe nói tới nỗi băn khoăn của lớp người đầu thế kỷ khi phải lần đầu cởi bộ khăn đóng áo dài, nhất là cắt cái búi tó sau gáy, chúng ta hơi ngạc nhiên. Nhưng quả thật là những bước đầu Âu hoá đã xảy ra với muôn vàn lúng túng. Và những điều ấy cũng đúng với công cuộc biến đổi trong văn hoá tinh thần, mà xã hội ta ở đầu thế kỷ thể nghiệm. Ở khu vực này, trong mỗi con người thường khi dồn tụ bao nhiêu mặc cảm, sự biến đổi xảy ra gián tiếp chậm chạp, có khi người này cấy trồng, người kia gặt hái, nhưng như người ta vẫn nói, “có những việc làm thì rất khổ, không làm lại còn khổ hơn” bởi vậy phải có người làm thì lịch sử mới tiến lên được.

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, Phạm Quỳnh đáng được coi là nhân vật tiêu biểu của quá trình tiếp nhận văn hoá vừa nói ở trên, ít ra là ở giai đoạn đầu của sự tiếp nhận ấy. Người ta thường chỉ nghĩ đến ông như một trong những người có cơ sở Tây học vững chắc, song sự thực là trong cái môi trường văn hoá Hán Việt rộng lớn lúc ấy, Hán học đã thấm vào ông , cả hai nền văn hoá Ðông Tây kết hợp ở ông khá nhuần nhị. Tiếp nối sự nghiệp của những Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… ông thuộc loại xây nền đắp móng cho nền văn hoá mới. Không hề có sự chuyển giao chính thức, song ông đã làm những việc cụ thể để biến ước mơ của các nhà nho đầu thế kỷ, như Phan Chu Trinh và các yếu nhân Ðông Kinh Nghĩa Thục, trở thành hiện thực. Khốn thay những điều tâm huyết ấy lại được Phạm Quỳnh thực hiện trong vòng tay của kẻ cướp nước, mối quan hệ của ông với nhà nước bảo hộ quá gần gũi nó là cái điều không thể chấp nhận với hầu hết các nhà trí thức thuộc thế hệ ông cũng như các thế hệ tiếp. Ở trên chúng tôi đã nói tới cách nhìn sổ tuột của một học giả đáng kính với mọi đóng góp học thuật của Phạm Quỳnh. Thật ra, thái độ đó của Ðặng Thai Mai được khởi đi từ Ngô Ðức Kế và còn tiếp nói với nhiều người khác, kể cả Thiếu Sơn, để rồi bao trùm trong giới nghiên cứu ở Hà Nội và kéo ra đến tận Nguyễn Văn Trung ở Sài Gòn trước 1975, tóm lại là hầu như suốt cả thế kỷ XX. Trong hoàn cảnh một nước luôn luôn có những chuyện không ổn trong quan hệ với các quốc gia bên ngoài, một thái độ như thế là dễ hiểu. Trong hàng ngũ trí thức Việt Nam, còn bao người khác, tuy không nói ra, nhưng sẵn sàng đứng chung tên với các lối lên án Phạm Quỳnh của Ngô Ðức Kế, và tuy vẫn đọc Nam Phong, nhưng không bao giờ tha tội cho chủ bút Nam Phong ! Có điều, đọc kỹ thì cũng thấy là Phạm Quỳnh chưa bao giờ hoàn toàn “mất hết” trong tâm trí giới nghiên cứu, và những ý đồ nhằm xác định vai trò của ông trong lịch sử, cũng như đánh giá đúng công lao của ông trong công cuộc xây dựng văn học vẫn thu hút cố gắng của nhiều người. Ở Sài Gòn trước 1975, Linh mục Thanh Lãng đã sớm đứng ra tranh cãi với Nguyễn Văn Trung, còn nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ thì dành cho ông rất nhiều cảm tình, trong số các tác gia được Phạm Thế Ngũ viết thành những chương riêng trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong được dành cho một số trang nhiều nhất để nghiên cứu kỹ càng nhất. Còn ở Hà Nội, chúng tôi chưa có dịp tìm hiểu đầy đủ về các công trình nghiên cứu từ 1960 về trước, song có điều chắc là từ 1961 trở đi, sau câu nói kiểu văn bia của Ðặng Thai Mai rằng Phạm Quỳnh, đó là một học giả có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây và cũng có đủ chữ Tây để loè người An Nam”, thì không thấy ai nói khác. Có điều có thể không nói ra, mà vẫn nghĩ khác, hoặc lờ mờ cảm thấy cần phải nghĩ khác. Mở đầu cuốn sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX có mấy trang mang tên Cùng các bạn đọc, trong đó, Ðặng Thai Mai trình bày ý hướng chính của mình trong từng chương sách. Ðiều kỳ lạ là với chương VI, chương dành để viết về văn học công khai, tác giả có một giọng điệu mềm mại khác hẳn, so với những gì ông viết trong sách: “Quyền lãnh đạo văn hoá đã vào tay bọn thống trị nước ngoài cho nên cái mà người ta gọi là văn học Việt Nam trên thị trường hồi này chỉ có thể phát triển theo đường lối của chủ nghĩa thực dân. Do đó mà cái thiện chí của những người muốn xây dựng văn học nước nhà bằng phương tiện công khai, cũng bị hạn chế”. Cố nhiên, trung thành với chính mình, Ðặng Thai Mai không gọi đích danh Phạm Quỳnh. Nhưng “những người muốn xây dựng văn học nước nhà bằng phương tiện công khai” là ai? Trong thời kỳ mà Ðặng Thai Mai đem ra phân tích, văn học Việt Nam còn rất phôi thai, bởi vậy khi đề cập tới những nhân tố đóng vai trò chủ đạo trong dư luận xã hội, người ta nhất thiết phải kể nhóm Nam Phong và những người chịu ảnh hưởng của Nam Phong. Biết đâu là nếu còn sống đến ngày nay, ở thời điểm hơn bốn chục năm sau khi cuốn Văn thơ Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX ra đời, Ðặng Thai Mai sẽ cho mang bản án ra phúc thẩm. Nhưng thôi, dự đoán vậy chỉ để cho thêm thấu đáo, sự thực là những ghi nhận tích cực với các đóng góp của Phạm Quỳnh còn là quá ít. Vậy nên dừng lại ở công thức nào bây giờ? Chúng tôi đã băn khoăn nhiều về vấn đề này, để rồi sau hết, trong phạm vi các tài liệu mà bản thân có dịp đọc, thấy trên nét lớn, nên đồng ý với cách đánh giá của Nguyễn Trần Huân trong Văn học Việt Nam dẫn luận (Introduction à la litérature Vietnamienne ,  P. 1969) mà Nguyễn Văn Trung đã dẫn lại trong cuốn Chủ đích Nam Phong (Nam Sơn, Sài gòn, 1975), đoạn dẫn sau đây liên quan chủ yếu đến tờ tạp chí, nhưng ai cũng biết, nói tới tờ tạp chí ấy là nói tới chủ nhân kiêm chủ bút của nó.

«Những người Việt Nam yêu nước đã có thể dùng tạp chí để bênh vực những quyền lợi của văn hoá Việt Nam và Á Ðông… và sự xoay sở tế nhị của Phạm Quỳnh để dung hoà đôi bên, rút cục có lợi cho Việt Nam.

… Sinh ra để ca tụng những ân huệ của nước Pháp và sự cao cả của nó trong thế giới, báo Nam Phong đã vượt mục đích đó, và tất cả hy vọng thầm kín của những cộng tác viên Việt Nam đã được thoả mãn. »

… Không phải là Nguyễn Trần Huân không biết việc Nam Phong ca tụng Pháp. Nhưng ông khẳng định dứt khoát: Ðó là một sự xấu xa cần thiết tương đối nhỏ bé, so với công lao to tát mà tạp chí đã làm cho tiếng Việt.

(Dẫn theo Nguyễn Văn Trung, tr. 37-38 , VTN gạch dưới )

Mấu chốt vấn đề ở đây, suy cho cùng, vẫn là cách hiểu của mỗi người nghiên cứu về bản chất của văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và công cuộc cứu nước. Phạm Quỳnh đã nhất quán với chính mình, hành động của ông là phù hợp với quan niệm của ông về văn hoá, mà ông đã tiếp nhận được của sách vở phương Tây. Còn chúng ta, chúng ta sẽ hiểu vấn đề như ông, như các nhà nho của phong trào Duy tân đầu thế kỷ, hay trở lại với cách hiểu của các nhà nho yêu nước như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền v.v…, đó là quyền của chúng ta.

Pham Quynh chu but Nam Phong

Trở lên, trong khi đáng lẽ phải nói riêng về Phạm Quỳnh, chúng tôi cố ý nhắc tới các sĩ phu tiên tiến đầu thế kỷ, trong đó có Phan Chu Trinh và các yếu nhân của Ðông Kinh Nghĩa Thục. Không phải người viết định nói vơ vào cho nhân vật mang ra bàn luận, và cố kiếm chác cho ông chút vốn liếng chính trị; chẳng qua, hiện tượng Phạm Quỳnh cũng như các hiện tượng xã hội khác, bao giờ cũng có tính cách liên tục về mặt lịch sử. Là người nhạy cảm với hoàn cảnh, Phạm Quỳnh chắc không thể bỏ qua không biết tới những kiến giải của các bậc tiền bối và những người đương thời về các vấn đề quan trọng của xã hội, rồi sau đó, mới tính chuyện đi tiếp. Cho nên, chúng tôi cho rằng nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung đã nói đúng sự thực khi viết trong các cuốn Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, huyền thoại và hiện thực và Chủ đích Nam Phong rằng, về mặt văn hoá không thể đi thẳng từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của tới Ðông Dương tạp chí, Nam Phong, mà nhất quyết là phải qua Ðông Kinh Nghĩa Thục, và nói giản lược thì Nam Phong đó là “một Ðông Kinh Nghĩa Thục do Pháp lập ra” (Nguyễn Văn Trung, tr. 169). Không khó khăn gì nếu muốn thấy giữa hai bên có những chỗ khác: trong khi Ðông Kinh Nghĩa Thục chỉ nói tới phương Tây, thì Phạm Quỳnh nói thẳng ra là Pháp, Ðại Pháp; trong khi Ðông Kinh Nghĩa Thục muốn đi tới một cái gì giống như chính thể  cộng hoà (“Vua là tượng gỗ dân là thân trâu” – Ðề tỉnh quốc dân ca), thì Phạm Quỳnh còn lấn bấn ở chủ nghĩa tôn quân, — khi Nam Phong mới khai trương đã nói tôn quân, mười lăm năm sau, bao nhiêu nước chảy qua cầu, song có lẽ là cần biện hộ cho việc vào kinh tham chính, lại nói tôn quân. Sẽ rất lý thú, nếu so sánh các tư tưởng của Phạm Quỳnh với tư tưởng Ðông Kinh Nghĩa Thục, song ngay từ giờ, nếu có một sự so sánh công bình, khoa học, cận nhân tình, thông cảm nữa, thì, hơn bù kém, sẽ có lợi cho Phạm Quỳnh. Thậm chí chúng tôi còn muốn nghĩ tới một cái gì mà thật là không quen thật là ngần ngại khi phải nói ra, nhưng trong thực tế đã vậy: Phạm Quỳnh có yêu nước, và đó là một kiểu yêu nước ở thời của ông, nó giúp cho ông thấy ý nghĩa của đời sống và thúc đẩy ông làm việc. Kết luận khái quát: Khi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hoá phương Tây và góp phần hình thành nền văn hoá mới của dân tộc trong thời hiện đại.

1992

——————-

Tài liệu tham khảo chính

1. Tạp chí Nam Phong

2. Phạm Quỳnh Thượng chi văn tập tái bản lần thứ nhất – Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962

3. Ðặng Thai Mai – Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX – bản in lần thứ ba, H. 1974

4. Trần Văn Giàu – Sự phát triển  của tư tưởng  ở Việt nam  từ thế kỷ XIX  đến Cách mạng tháng  Tám tập II  ,  Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, H. 1975

5. Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam 1932-1941 bản của nhà xuất bản Văn học, H. 1989

6. Nguyễn Văn Trung – Chủ đích Nam Phong , Sài Gòn, 1975

7. Phạm Thế Ngũ – Việt Nam văn học sử giản ước tân biên t.III, Sài Gòn, 1965

8. Thiếu Sơn – Phê bình và cảo luận, Hà Nội, 1933

9. Tsubôi – Nước Ðại Nam đối diện Pháp và Trung Hoa, TP. Hồ Chí Minh, 1990

Ghi chú về văn bản : Bài đã in trên tạp chí Nghiên cứu văn học Hà Nội , số ra tháng 7-2005 ,      dưới nhan đề „ Vai trò  của trí thức  trong  quá trình tiếp nhận  văn hoá  phương Tây  ở VN  đầu thế kỷ XX „. Bản in ở đây có khôi phục lại một số đoạn  mà Nghiên cứu văn  học lược bỏ và ghi rõ thời điểm bài viết hoàn thành, 1992


[1] Những tài liệu tham khảo chính dùng để viết bài này, chúng tôi sẽ nêu ở phần cuối với đầy đủ tên tác giả, tên sách, nơi và năm xuất bản. Sau các đoạn trích, chỉ xin nêu tóm tắt tên tác giả với số trang. Ví dụ ghi Hoài Thanh tr. 18 ở đây, tức là trích ở Thi Nhân Việt Nam 1932–41, bản in ở Hà Nội năm 1989, tr. 18. Các trích dẫn dưới đây, đều theo lệ đó.

In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín,kỳ 1 tháng 1 năm 2018

TRỞ LẠI VỚI KHU VỰC ĐẦU NGUỒN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

IN LẠI NHẬT KÝ ĐI PHÁP CỦA PHẠM QUỲNH

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Pháp du hành trình nhật ký là thiên du ký nổi tiếng của Phạm Quỳnh. Chúng tôi mời bạn đọc tiếp cận tác phẩm này qua bài phỏng vấn nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn, người biên soạn và chú giải tập du ký, do phóng viên Ngô Phan thực hiện, đăng trên trang 39 số 5, báo Thể thao và Văn hóa ra ngày 18/1/2005

—o0o—

Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20.

  • Vì sao ông lại đề xuất việc in lại và bắt tay và chú giải một cuốn nhật ký đã ra đời từ hơn tám mươi năm trước?

–          Trên con đường tìm hiểu về giao lưu văn hóa giữa người Việt và người nước ngoài, mấy năm nay, tự nhiên bọn tôi bảo nhau phải chú ý tới “đầu ra”, tức là hiện tượng người Việt qua khỏi biên giới nước mình để đối mặt với thế giới rộng lớn. Thể tài cần tập trung chú ý trước tiên là thể ký, bao gồm du ký, bút ký, nhật ký. Năm 2002, cuốn Đi Tàu đi Tây đã được biên soạn. Pháp du hành trình nhật ký tiếp tục cái mạch đó.

  • So với những cuốn đã in, nhật ký của Phạm Quỳnh có gì mới?

–          Xuất hiện sớm hơn, thứ nhất; dày dặn hơn, thứ hai; và thứ ba; bên trong nó là một nội dung văn hóa: tác phẩm cho thấy một phần đời sống tinh thần của người Việt đương thời.

  • Liệu có vì yêu mến tác phẩm mà ông nói quá lên so với mức độ nó vốn có?

–          Năm 1932, Phan Khôi từng có một bài viết in trên Phụ nữ tân văn, nói về thể nhật ký trong văn học, sự phát triển rất sớm của nhật ký ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng như các nước phương Tây và sự hiếm hoi của nhật ký ở nước ta. Kết luận bài viết, Phan Khôi cho rằng nhật ký là cái thước để đo trình độ văn minh của một dân tộc. Tôi cho rằng nói “một trong những cái thước” có lẽ phải hơn. Qua nhật ký, người ta có thể thấy mức độ trưởng thành của các nhân cách trong một giai đoạn của lịch sử xã hội.

  • Ông có thể cho đông đảo độc giả hiểu rõ hơn về nội dung cuốn sách của Phạm Quỳnh?

–          Năm 1922, tác giả có dịp đi Pháp. Trải qua hàng tháng lênh đênh trên biển, ông đến Marseille tham gia triển lãm, tiếp đó có ba tháng ở Paris, và ngoài những chuyến tham quan, còn có nhiều buổi tiếp xúc với một số trí thức, cũng như những buổi thuyết trình về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam…Qua Pháp du hành trình nhật ký, người ta nhận ra hình ảnh một người Việt Nam trước khi đi xa đã có những hiểu biết chắc chắn về xứ sở mình sẽ tới, nên có thể đi vào đó một cách đàng hoàng, nhất là con người ấy có lòng tự trọng, muốn giúp những người nước ngoài kia hiểu thêm về đất nước mình và nếu như đối tác có gì chưa hiểu thì kiên nhẫn thuyết phục…

  • Cuốn sách có vai trò thế nào đối với sự nghiệp tác giả?

–          Phạm Quỳnh thường chỉ được biết tới như một ngòi bút biên khảo. Luận giải văn học và triết học, cái tên của cuốn sách tập hợp các bài viết của ông được in ra gần đây, đã nói lên điều đó. Nhưng ông còn là một nhà văn. Theo Thanh Lãng, tác giả Bảng lược đồ của văn học Việt Nam hiện đại, “người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của Phạm Quỳnh chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút của ông (…) có đọc các tập hồi ký mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như người ta tưởng” (trích theo tạp chí Văn Học, in ở Sài Gòn, tháng 4/1963). Pháp du hành trình nhật ký là một minh chứng cho điều Thanh Lãng viết

  • Ông đã bắt tay vào việc chú giải cuốn sách như thế nào?

–          Lâu nay, sách tái bản thường chỉ cố in ra như nguyên văn đã có, trong khi đó, theo tôi, sau những biến thiên của hoàn cảnh, người đọc có nhiều điểm khó tiếp thụ, nhất là phần ngôn ngữ, nên nhất thiết các nhà chuyên môn phải phân công nhau vào cuộc. Công việc quá khó, tôi tự thấy chưa làm được bao nhiêu, chẳng qua đọc đến chữ nào thấy không hiểu thì giở từ điển tra lại và ghi ra để đỡ công cho bạn đọc. Tuy nhiên, cũng nhờ vào việc chú giải này mà tôi có dịp học hỏi thêm về tiếng Việt.

Phap Du Hanh Trinh Nhat Ky

  • Ông kỳ vọng gì ở cuốn sách?

–          Chung quanh ý niệm di sản văn học, nhiều người chỉ đơn thuần nghĩ tới phần văn chương Hán Nôm từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 19, trong khi đó theo tôi, phần văn chương quốc ngữ đầu thế kỷ 20 cũng là một bộ phận có ý nghĩa tích cực, bởi nó có nhiều liên hệ trực tiếp tới sự phát triển của văn chương hôm nay. Trước khi có được Thơ mới hay Tiểu thuyết tiền chiến – vốn là những giá trị chín đẹp bậc nhất trong lịch sử văn học dân tộc – văn học đã trải qua một giai đoạn mò mẫm tìm đường, nhưng chính bởi vậy, nó lại có sức hấp dẫn riêng . Chúng tôi muốn, một lần nữa, đánh động dư luận theo hướng đó.

  • Liệu các ông còn cho làm những cuốn tương tự?

–          Chúng ta đều biết nay là lúc giới xuất bản đang trải qua một giai đoạn khó khăn. Bên cạnh việc làm sách dịch theo đúng những chuẩn mực cần có, nên tính chuyện quay trở lại “thâm canh” vào văn học trong nước, kể cả khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại mà bấy lâu bị “bỏ hoang”. Có thể mới làm sẽ gặp nhiều khó khăn, không chỉ bạn đọc nhìn loại sách này đã ngại mà ngay cả giới biên khảo và nghiên cứu văn học cũng đánh bài lảng bởi việc quá xương xẩu, nói chung cầu dễ đã là một nếp quen trong cách sống của nhiều người chúng ta. Song nếu tận mắt nhìn thấy nhiều cuốn sách in ra từ tám mươi năm, chín mươi năm trước- những chứng tích của lịch sử dân tộc trên con đường hiện đại hóa, nay do không được bảo quản một cách khoa học, đã gần đến lúc tàn lụi, chúng ta mới thấy xót xa, và chỉ có thể nhủ thầm là phải bảo nhau mỗi người một tay, cứu lấy kho di sản đó càng nhanh càng tốt.

Ngô Phan (thực hiên)

 

Phần viết thêm cho bản in trên Talawas

Khi cuốn sách này đã được in ra ở Hà Nội thì người chú giải có tìm thêm được một tài liệu do Thanh Lãng viết trên Tạp chí Văn Học ra ở Sài Gòn số tháng 4/1963, có liên quan đến Pháp du hành trình nhật ký. Mặc dù đã chủ bụng không đi vào tìm hiểu và đánh giá tác phẩm, mà chỉ chú giải, song được một đoạn văn quý, chúng tôi xin được phá lệ mà chép ra sau đây để bạn đọc cùng biết:

“ Người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút trong đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris (tức bản tóm tắt của Pháp du hành trình nhật ký – VTN chú), thì ta phải nhận là những tập hồi ký giá trị, giá tị vì những nhận xét tỉ mỉ, những nét tả linh động, nhất là ở tình cảm say sưa của một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy. Phạm Quỳnh, là một nhà thơ viết văn xuôi. Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như chúng ta tưởng…”

Vương Trí Nhàn

 

Hoàng đế Khải Định dưới con mắt của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018

HOÀNG ĐẾ KHẢI ĐỊNH

DƯỚI CON MẮT CỦA THẦN DÂN PHẠM QUỲNH

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Hoàng đế Khải Định quả là một người xui xẻo.

Năm 1922, ngài được nước Đại Pháp mời sang dự triển lãm thuộc địa ở Marseille, thì đi cùng thời gian thần dân Phạm Quỳnh cũng được phái tới Marseille. Khi về lại về cùng một chuyến tàu thủy.

Đến Đại Pháp, hoàng thượng còn được hai thần dân của ngài, một già là Phan Châu Trinh, một trẻ là Nguyễn Ái Quốc đón tiếp “quá đỗi nhiệt tình”, đến nỗi gây nên mấy vụ tai tiếng lớn ở thủ đô Paris.

Phan-Chu-Trinh

Phan Châu Trinh “đón” ngài bằng cách dâng bức Thư Thất Điều nổi tiếng, đến nay lịch sử còn ghi, hài ra tới bảy tội lớn của nhà vua. Còn Nguyễn Ái Quốc thì viết truyện ngắn Vi Hành (Trích Những bức thư gửi cô em họ, do tác giả tự dịch từ tiếng Nam) đăng trên báo lớn Nhân Đạo c

ủa Đảng Cộng sản Pháp (ngày 19/2/1923) phát hành rộng, chế giễu nhà vua ăn mặc lố lăng lòe loẹt, cử chỉ kỳ quoặc, bị người dân Paris xem như một con rối đáng cười. “Tận tụy” hơn nữa, thần dân này còn viết hẳn một vở hài kịch một màn, nhan đề Con Rồng Tre đả kích sâu cay nhà vua và trò hề lừa bịp của bọn thực dân Pháp. Vở này được Câu lạc bộ Ngoại ô (Club Du Faubourg) Paris đem diễn tại ngày hội hằng năm của báo Nhân Đạo, tổ chức tại ngoại ô Paris.

Tiếc rằng, Thư Thất Điều tất nhiên Phan Châu Trinh viết bằng chữ Hán và truyện ngắn Vi Hành thì Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, còn Con Rồng Tre thì càng khó đến với đồng bào hơn, vì cho đến nay , vẫn chưa tìm được bản thảo. Vả lại,  khi ấy có diễn thì cũng diễn bằng tiếng Pháp, trên đất Pháp. Thành ra dân trong nước, chỉ được nghe tiếng mà không được thấy hình dạng các tác phẩm đó ra sao cả. Đến năm 1974, mới được đọc Vi Hành trên báo Nhân Dân, qua bản dịch của Phạm Huy Thông, rồi sau đó đọc trong tập Truyện và Ký của Nguyễn Ái Quốc do NXB Văn Học Hà Nội ấn hành cùng năm.

Nguyen Ai Quoc tai Phap 1921Nhưng, may mắn thay cho bạn đọc Việt Nam trong nước (và không may cho nhà vua!) là bà con đã được theo dõi ngay từng đường đi nước bước của nhà vua trong suốt chuyến Pháp du (mà báo chí thời ấy dùng chữ Nho, dịch là Hoàng Thượng Như Tây) qua một ngòi bút sắc sảo, hóm hỉnh nữa trong thiên kí sự Pháp Du Hành Trình Nhật Ký đăng không đều kỳ trên báo Nam Phong, phát hành rộng khắp cả nước từ số 58 tháng 4/1922 đến số 100, tháng 10+11/1925.

Chúng tôi xin trích đăng sau đây những đoạn Phạm Quỳnh viết về Hoàng Thượng Như Tây để các bạn cùng thưởng thức một lối viết ít thấy ở ngòi bút vốn trang nghiêm này.

Các đoạn trích đều từ Phạm Quỳnh – Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà Văn 2004, Vương Trí Nhàn chú giải)

—-o0o—-

Thứ sáu, 23 tháng 6 1922

(…) Sáng sớm mai Hoàng thượng đến Paris. Mình tuy không dự sự gì, nhưng cũng là người An Nam, tưởng nên cùng anh em ra đón ở ga cho phải phép. Song tự mình đã không đóng vai gì mà đánh cái áo gấm xúng xính, thời chỉ tổ cho thiên hạ chỉ trỏ vô ích, thà rằng làm hoàn toàn một anh khách quan còn hơn. Bởi thế nên mấy bữa nay phải đi cắt một bộ jaquette mấy trăm  quan, lối này là một lối lễ phục không trọng thể mà  cũng không tầm thường, trung bình, mặc vào dịp nào cũng được.(…)

Thứ bảy, 24 tháng 6 1922

10 giờ sáng, Hoàng thượng đến Paris, đi chuyến xe lửa riêng ở Lyon lên; đỗ ở ga Bois de Boulogne là nhà  ga để riêng đón các bậc vua chúa. Hoàng thượng đi cùng với quan Thượng thư Thuộc địa Sarraut; quan Giám quốc và quan Thủ tướng có phái đại biểu ra đón. Kèn, trống, cờ, quốc ca, lính  bồng súng, lính  kỵ mã, nghi vệ  cũng như  nghi  vệ thường, tưởng không có gì là đặc biệt. Có lẽ chỉ có lạ mắt cho người Paris là các sắc gấm sặc sỡ của các quan hộ giá. Mình không được biết thành Paris xưa nay đón các bậc đế vương các nước thế nào, nên không thể so sánh được lần này với các lần kia khác nhau thế nào. Nhưng nhận ra người đứng xem ít lắm. Nghe khách qua đường thấy đám lạ dừng lại xem, chỉ thấy nói: “Ồ! họ ăn mặc hay nhỉ! kỳ nhỉ!”; có người lại hỏi lẫn nhau: “Người nước nào vậy?”.

Pham Quynh _1922 tai Phap Anh em cất mũ cúi chào, thế là hết phận sự thần dân ở nơi khách địa, rồi vua quan trảy về dinh quan Thuộc địa, bọn mình cũng nhân mũ cao áo dài thuê xe hơi dạo quanh một vòng phường phố (…)

Thứ hai, 26 tháng 6 1922

Hôm nay Hoàng thượng cùng quan Sarraut đến thăm nghĩa sĩ từ ở Nogent sur Marne. Sẵn có ô tô, anh em cũng đánh bộ “gia két”, đội mũ “mơ lông” chạy xe về Nogent xem lễ. Quan nguyên học chính Gourdon làm hội trưởng hội “Đông Pháp Kỷ niệm” (Le Souvenir Indochinois), diễn thuyết chúc mừng, Hoàng thượng đáp lại mấy câu, chắc là những lời hùng biện cả, nhưng đứng xa chẳng nghe thấy chi hết. Xong rồi Hoàng thượng vào thắp hương trong đền, ra đặt vòng hoa sắt ở cái đài Kỷ niệm những chiến sĩ theo đạo Thiên Chúa  ở ngoài  vườn,  dạo  quanh  vườn  một  lượt,  rồi  lên  xe,  vua  quan  trẩy về Paris  hết.

(…) Trưa hôm nay được tiếp một thầy mật thám đến hỏi giấy thông hành. Chừng là nhân Hoàng thượng ở Paris nên sở cảnh sát cho dò xét những người An Nam ở bên này để phòng sự bất kỳ. Đó cũng là việc thường và là bổn phận của cảnh sát mỗi khi có các vua chúa qua lại, không lấy gì làm lạ.

Tối quan Giám quốc có đặt tiệc mừng Hoàng thượng ở cung Elysée. Tiệc xong có cuộc tiếp kiến ở trong cung, mời đông người lắm. (…)

Phap Du Hanh Trinh Nhat Ky

Thứ sáu, 14 tháng 7 1922

Sáng sớm đi xem điểm binh ở trường thi ngựa Longchamp. Hôm nay có Hoàng thượng ta cùng với quan Giám quốc đến dự cuộc. (…)

Thứ bảy, ngày 22 tháng 7 1922

(…) Về  trọ  nghỉ  một  lát,  thay  áo  ta  mặc  áo  tây,  rồi  ra  nhà  Hội  Association  Mutuelle  des Indochinois (Đông Pháp Hỗ trợ Hội), ở đường Sommerard. Hội này là của học sinh An Nam ta ở bên này lập ra đã mấy năm nay, bây giờ mới thuê được nhà, làm chỗ học tập cho người đồng bang, hôm nay khánh thành hội sở mới, có mời Hoàng thượng và quan Thượng thư Sarraut đến chủ lễ. Hội sở còn chật hẹp lắm, được có một phòng lớn và vài ba cái buồng nhỏ, tân khách đứng chật cả. Chủ Hội là ông Cao Văn Sen, người Lục tỉnh, sang bên này đã lâu, hiện làm kỹ sư và đã lấy vợ đầm ở đây. Khi vua quan đã đến đông đủ cả,  ông  Cao  đọc  một  bài  diễn  văn  chúc  mừng,  Hoàng  thượng  nói  mấy  câu  trả lời, nhưng nhỏ quá, không nghe thấy tiếng gì cả, rồi ông ngự tiền thông sự dịch ra tiếng Pháp. Đoạn tân chủ chuyện vãn ít lâu, rồi ông chủ Hội đem quyển “Kim thư” của Hội ra xin chữ ký Hoàng thượng và các quan khách. Lệ thường các ngài danh giá ký vào sách “Kim thư” (Sổ Vàng-VTN chú)  của các Hội hay phê mấy câu, hoặc để khen lao, hoặc để khuyến miễn (Khen công lao vất vả và khuyên gắng sức hơn-VTN chú), và cũng để lưu chút tự tích trong sách kỷ niệm của hội. Khi dâng Hoàng thượng ta ngự phê thì thấy ngài cầm quản bút ra dáng nghĩ ngợi, các quan Tây có ý chờ đợi ngóng trông, bọn mình thì tưởng rằng chắc ngài nghĩ một bài thơ nôm hay thơ chữ Đường luật hay tứ tuyệt  gì, nên mới lâu như thế.  Lúc bấy giờ cử hội im phăng phắc, ai cũng để mắt vào nhìn, có cái vẻ oai nghiêm vô cùng. Tưởng chừng đức Chí tôn ta, đương khi mấy trăm con mắt ném ánh sáng vào bàn tay ngọc đó, – ngọc thật, vì ngài thường đeo nhẫn kim cương quý giá lắm, – thời:

Tay tiên gió táp mưa sa,

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu

ngay tức thì.Nhưng mà không! Cứ thấy cái quản bút quằn quại trên tay, mà không thấy viết chữ gì. Năm phút, mười phút, mười lăm phút, người đứng chung quanh đã thấy thì thào động đậy, kẻ nói nhỏ, người đưa mắt, anh em đồng bang mình thì vừa nóng ruột, vừa động lòng. Sau mới thấy ngòi bút chuyển động; ai nấy thở dài! Hỏi ra thì không phải thơ ngũ ngôn tứ tuyệt  gì,  chỉ có  một câu chữ Hán  rằng:  năm ấy, tháng ấy, đức  Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội, thế mà thôi – Ấy đức Chí tôn ngài viết một chữ một câu cũng thận trọng như thế…

Thứ ba, mồng 8 tháng 8, 1922

(…) Hôm ở Paris sắp đi đã nghe mang máng rằng Hoàng thượng cũng sắp về, nhưng chưa lấy gì làm đích. Về đến đây mới rõ rằng ngài không phục thủy thổ, bị se mình, quan thầy thuốc khuyên phải về ngay, nên nay mai sẽ xuống Marseille để cùng đáp chuyến tầu Angers về nước. Được tin này ai cũng lấy làm lạ, vì trước vẫn định rằng Hoàng thượng đi Tây chuyến này là ở năm sáu tháng, du lịch khắp mọi nơi rồi mới về, không ngờ chưa được vài tháng đã về ngay, và về gấp như thế. Thế là bọn mình về chuyến này sẽ tình cờ được đi với Hoàng đế một chuyến tầu: vinh hạnh thay!

Thứ tư, mồng 9 tháng 8, 1922

3 giờ chiều hôm nay, Hoàng thượng đến Marseille, ở Lyon xuống. Chắc tự Paris đi làm hai chặng, có nghỉ ở Lyon một vài ngày. Đón vào dinh quan quận trưởng (préfecture) ở.

9 giờ sáng mai thì Hoàng thượng vào xem Đấu xảo. Sở Đông Pháp ở Đấu xảo có giấy đạt mời cả các phái  viên Trung Nam Bắc sớm mai  tựu tại khu Đông Pháp để đón. Tối hôm nay nghe đâu có ông P.C.T. đặt một cuộc diễn thuyết bằng tiếng ta cho người An Nam làm việc ở Đấu xảo đến nghe, nói về quân chủ và sự chính trị bên Đông Pháp; tiếc được tin muộn quá, không kịp đi. Nhưng sau có người thuật rằng cuộc diễn thuyết không thành, vì cảnh sát cấm và những người trong Đấu xảo cũng không được ra nghe.

Khai Dinh

Thứ năm, mồng 10 tháng 8

Hôm nay vào Đấu xảo đón vua.

Các phái viên đều mặc quốc phục hết cả, mình cũng đánh cái áo sa trơn. Hoàng thượng cùng với ông Toàn quyền Long đi xem khắp trong khu Đông Pháp. Các phái viên thời đứng chực sẵn ở trong đình “phố An Nam” (la rue annamite). Khi đi xem xong cả mọi nơi, Hoàng thượng vào đình để cho các phái viên yết chào. Ông Tây phần việc ở Đấu xảo xướng tên giới thiệu từng người, ra đứng trước mặt cúi đầu vái một cái.

Lễ xong, ra chơi bên ngoài, gặp ông Tây quen vỗ vai hỏi: “Thế nào, tôi tưởng ông là đảng dân chủ, sao cũng lạy vua lúc nãy thế?” – Mình trả lời: “Đảng gì thì đảng, chứ ở nơi đất khách cũng phải tỏ lòng cung kính ông quốc trưởng; cách lễ phép phải như thế.”  Rồi cùng cười.

Thứ sáu, 11 tháng 8, 1922

2 giờ 30, anh em đã xuống tầu cả.  (…)Gần bốn giờ thì Hoàng thượng xuống tàu, kèn trống thổi mừng, quân quan đứng tiễn. – Ngài đi Tây chuyến này sắm được vô số đồ, chở xuống tầu từ 2 giờ đến 4 giờ, hết kiện ấy đến kiện khác, cái cần máy trục cứ  giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt. (…)

Thứ ba, 15 tháng 8, 1922

(…) Ngày hôm nay thời suốt ngày được khá cả, vì tầu đã đi gần vào bờ, nghe đâu ngày mai thời rẽ vào Beyrouth, ở bờ bể Syrie, để Hoàng thượng tiếp ông nguyên soái Gouraud làm Tổng đốc đấy. Cái hành trình này có khác thường một chút, vì lệ thường tầu chạy Á Đông không đáp vào Syrie bao giờ.

Thứ tư, 16 tháng 8, 1922

(…) Tầu đến trước Beyrouth  rúc còi báo hiệu, trong nổi súng mừng. Nguyên soái Gouraud cùng với tham mưu bộ đi sà lúp ra, lên tầu yết kiến Hoàng thượng, chừng nửa giờ rồi về. Được một lát thời Hoàng thượng cùng quan Khâm sứ và các quan hộ giá cũng đi sà lúp vào thành đáp lễ lại nguyên soái (…)

Thứ năm, 17 tháng 8, 1922

11 giờ trưa đến Port Said.

Anh em đều xuống phố đi chơi.

Hoàng thượng cũng xuống phố, mời Lãnh sự Pháp thời (Ăn, xơi, (tiếng dùng trong hoàng tộc)-VTN chú) cơm ở khách sạn. Đoạn rồi ngài đi dạo các cửa hàng sắm đồ. Có thấy ngài mua một cái mũ tây. Ngài bận thường phục cũng thường đội mũ. (…)

Thứ ba, 22 tháng 8, 1922

10 giờ đến Djibouti. Đỗ đây lâu.

Cảnh đây là cảnh đốt cháy, người cháy. Xuống dạo chơi phố một tí, nhưng nóng quá, lại phải trở về tầu ngay. Cũng muốn ăn cơm dưới phố cho đổi bữa, nhưng có cái khách sạn lèo tèo, coi không hứng thú gì, nên anh em đều về tầu ăn cơm cả. Hoàng thượng cũng mời ông Thống đốc Pháp ở Djibouti thời cơm trưa ở tầu.

Thứ ba, 29 tháng 8, 1922

(…) Cửa Colombo này thật là một cửa bể to lớn, tàu bè các nước đậu san sát, thuyền thời ngổn ngang như lá tre.

Cùng anh em đi chơi phố, vào các cửa hàng bán ngọc thạch, xem được nhiều thứ ngọc xanh, biếc, đỏ, vàng, màu sắc rất đẹp mà giá tiền cũng rẻ. – Hoàng thượng cũng xuống bộ, thời cơm với Lãnh sự Pháp, nghe đâu ngài sắm được nhiều đồ chơi và ngọc thạch.

2 giờ đêm tầu mới chạy.

Thứ tư, mồng 6 tháng 9.

8 giờ sáng đến Vũng Tầu (Cap Saint Jacques), thế là đã vào đất nước nhà rồi, vui mừng khôn xiết kể, nhất là các ông bạn Nam kỳ, vì nội nhật hôm nay các ông đã về nhà.

Tầu đỗ ở Cap mãi đến 12 giờ trưa mới vào sông Sài Gòn.

4 giờ chiều đến Sài Gòn. Quan quân ra đón Hoàng thượng về ở phủ Toàn quyền, vì tầu còn đậu ở Sài Gòn hai đêm hai ngày nữa. (…)

Chủ nhật, mồng 10 tháng 9, 1922

11 giờ trưa đến Tourane. Tầu đỗ tận ngoài xa. Có sà lúp ở trong ra đón vua quan vào bến. Đậu đủ thì giờ cất hết các đồ của Hoàng thượng xuống thuyền, rồi đúng 2 giờ thì chạy ra Bắc. – Còn có một ngày nữa sẽ đến nhà rồi, trong bụng đã thấy nôn nao phấp phỏng. Ai nấy soạn lại hành lý, cho đem sẵn các hòm xưởng ở dưới kho lên. (…)

Lời bình của Phạm Tôn: Lẽ ra ở đây, Phạm Tôn tôi dám xin có đôi lời bàn vụn…Nhưng tự thấy mình còn kém xa một nhà nghiên cứu phê bình lão thành, từng rất quan tâm và viết nhiều bài về Phạm Quỳnh là giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, cho nên thấy tốt hơn hết là dành lời bình ấy cho giáo sư -viện trưởng. Bởi cũng thật hiếm khi giáo sư viết về Phạm Quỳnh lại … nhẹ nhàng như vậy. Và qua những lời bình này, ta cũng hiểu rõ hơn lâu nay giáo sư đã “hiểu” Phạm Quỳnh như thế nào. Đây là phần trích lời phát biểu của giáo sư ngày 23/3/2007 (In lại các bài du ký, một sáng kiến hay) nhân dịp nhà xuất bản Trẻ giới thiệu tại Hà Nội bộ Du ký Việt Nam mới phát hành. Giáo sư nói:

“Người đọc đã quen với nhà khảo cứu Phạm Quỳnh với giọng văn học giả, trịnh trọng, đạo mạo, nhiều khi nặng nề, khô khan, lại bắt gặp ở đây một Phạm Quỳnh, nhà văn viết du ký, tuy vẫn mang con mắt của nhà khảo cứu nhưng lời văn nhẹ nhàng thanh thoát hơn, thậm chí đây đó còn dám châm biếm “phạm thượng”, chẳng hạn kể chuyện “đức Hoàng thượng Khải Định” ghi lưu niệm vào “kim thư” của “Hội Hỗ Trợ Đông Pháp” ở Paris mọi người im phăng phắc, sốt ruột chờ đợi, năm phút, mười phút, mười lăm phút… mà chiếc bút lông của Hoàng thượng vẫn chưa động đậy, mãi cuối cùng rồi ngài cũng viết được một câu chữ Hán “Năm ấy, tháng ấy, Đức Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội…”. Nhà du ký mát mẻ bình luận: “Ấy Đức chí tôn ngài viết một câu cũng thận trọng như thế!”. Hoặc việc kể Đức Hoàng Thượng vung vinh đi mua sắm “nhiều đồ quý vật lạ” đến nỗi một người Pháp đã nức nở khen: “Vua anh giàu thật!Khi ra về “chở xuống tàu từ 2 giờ đến 4 giờ, hết kiện này đến kiện khác, các cần máy trục cứ giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt

Phạm Quỳnh, năm này (1922) là nhà báo trẻ tuổi, chưa làm quan thượng thư nên viết lách có vẻ còn tự do lắm. Có thể thấy trong số bảy bài du ký của Phạm Quỳnh in ở đây (tức Du Ký Việt Nam– PT chú) thì Pháp du hành trình nhật ký là đáng chú ý hơn cả.”

Phạm Quỳnh với Công Giáo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018

PHẠM QUỲNH với CÔNG GIÁO

 Nguyễn Đình Đầu

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Nam Định, từng là bí thư Bộ Kinh tế của chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945, hiện là ủy viên ban chấp hành Hội Sử học Việt Nam, ủy viên Uy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Cụ là tác giả hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử xuất bản bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh; nổi bật là các công trình nghiên cứu về địa bạ, bản đồ, địa lý-lịch sử, đặc biệt vùng Nam bộ và Nam Trung bộ. Cụ cũng là người có bộ sưu tập hàng ngàn bản đồ, sách, đồ dùng cổ có hình bản đồ, nhất là bản đồ cổ về Việt Nam. Năm 2005 cụ nhận Giải thưởng Trần Văn Giàu (lần 2) về công trình Nghiên cứu địa bạ và ruộng đất triều Nguyễn thuộc Nam kỳ lục tỉnh. Cuối tháng 3/2009 lại nhận Giải thưởng Nghiên cứu-2008 của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu trọn đời nghiên cứu của mình. Cụ vừa hoàn thành việc tổng hợp chọn lựa và hệ thống hóa hàng trăm bản đồ về thềm lục địa và biển đảo Việt Nam có nhiều bản đồ do nước ngoài thực hiện rất tỉ mỉ về các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

 Năm 2006, cụ đọc bản thảo Người nặng lòng với nước viết về cái chết của Phạm Quỳnh của tác giả không tên tuổi, cũng chẳng quen biết, gửi nguyệt san Công giáo và Dân tộc, đã viết tay hẳn hai trang nhận xét, “bảo lãnh” để Công giáo và Dân tộc thêm vững lòng cho đăng bài đó vào số tháng 8 dưới tựa đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước. Rồi tháng 9 năm ấy, Xưa và Nay tạp chí của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng đăng bài Người nặng lòng với nước.

pham-tuyen_pham-ton_cu-dinh-dau

Đầu năm 2009, cụ khởi đăng bài Phạm Quỳnh và Công giáo liền bốn kỳ, mỗi kỳ hai trang, trên tuần báo Công giáo và Dân tộc các số từ 1693 đến 1696, từ 2/2 đến 5/3/2009. Ngoài phần mở đầu, còn lại là 15 đoạn trích Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh và hai đoạn trích từ Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập.

 Chúng tôi xin mời các bạn đọc phần mở đầu và hai phần cuối bài.

 —o0o—

Trong Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong, Nguyễn Khắc Xuyên viết nơi mục Tôn giáo: “Không kể Khổng giáo và Lão giáo mà chúng tôi đã xếp vào mục Triết học Đông Phương. Tôn giáo ở đây được quy tụ vào những tôn giáo cố hữu của dân tộc, nhất là Phật giáo… Tuy nhiên cũng có một bài giới thiệu Hồi giáo…, còn tuyệt nhiên không có ai, không có bài giới thiệu một tôn giáo rất phổ biến tại Au châu và trên thế giới: Cơ Đốc giáo hay Thiên Chúa giáo…Chúng tôi tự hỏi: phải chăng người ta đã làm việc sao nhãng lớn lao này vì cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Đốc giáo của Au châu, đúng hơn Pháp quốc thời đó”(1)

 Đúng là trong sưu tập trên 200 số tạp chí Nam Phong không có bài nào giới thiệu Cơ Đốc giáo, như đã có bài giới thiệu Phật giáo hay Hồi giáo. Sự thật viết một bài báo giới thiệu tổng quát đạo Công giáo, đâu phải chuyện dễ. Chúng ta tự hỏi ngay báo chí Công giáo xưa nay có bài báo nào giới thiệu được đầy đủ đạo Công giáo? Còn những thông tin hay nhận xét về hành đạo thì Nam Phong không hề “sao nhãng”, nếu đọc kỹ nội dung một số bài có liên quan dẫu không mang tiêu đề tôn giáo.

 Chúng tôi đã căn cứ và trích dẫn một số thông tin và biên khảo của mấy số báo có trong tay để viết bài Tạp chí Nam Phong rất trân trọng Công giáo (CGvDT số 1389 ra ngày 3/1/2003). Bài này gồm 3 mục: 1) Phạm Quỳnh: Công giáo là đạo của từ bi bác ái- 2) Nam Phong giới thiệu Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ– 3) Nam Phong giới thiệu sách Nguồn gốc tiếng Việt của cố Thi.

 Mới đây tôi được ký giả Phạm Tôn biếu cuốn Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do NXB Hội Nhà văn ấn hành bằng cách thu gom những trang nhật ký đăng trong Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (11/1925). Sách dầy 392 trang(2). Khi đọc sách này tôi rất thích thú, đặc biệt những gì liên quan đến tôn giáo và các nhà thờ Công giáo. Sau đây tôi xin trích đăng những đoạn ấy với tâm tình tri ơn và xin lỗi Phạm Quỳnh vì tưởng nhầm ông đã “sao nhãng” vấn đề Cơ Đốc giáo đáng quan tâm của thời đại. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

 (1)Nguyễn Khắc Xuyên: Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong tái bản, NXB Thuận Hóa, 2002, trang 26.

(2) Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký NXB Hội Nhà văn, 2004

 (…)

Về Hà Nội được hơn một tháng, Phạm Quỳnh liền đăng đàn Thuật chuyện du lịch ở Paris tại nhà Nhạc hội Tây Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 1922. “Cuộc diễn thuyến do Hội Khai Trí Tiến Đức chủ trương, có tới ngàn rưỡi người đến nghe trong ngót 2 giờ đồng hồ, vừa hội viên hội Khai Trí, vừa thân sĩ trong thành phố và học sinh các trường” (16). Trong diễn văn quan trọng này, Phạm Quỳnh không quên tóm tắt lại các cuộc đi thăm và nhận xét về nhà thờ Công giáo như sau:

 Bốn năm bữa trước khi rời thành Paris tôi đi xem các nhà thờ. Nhà thờ ở Paris thời lớn nhỏ kể hàng trăm cái, có mấy cái thiệt to, thiệt đẹp, thật là những công trình vĩ đại của nghề kiến trúc đời xưa. Tôi có xem nhà thờ Notre Dame là nhà thờ lớn nhất ở Paris và có lẽ ở cả Au châu nữa, chắc các ngài cũng đã biết tiếng; nhà thờ Madeleine, làm theo kiểu các thần từ Hy Lạp đời xưa, trông có bề thế uy nghiêm lắm; nhà thờ Sainte Chapelle ở khuất vào trong sân toà án tuy nhỏ mà tương truyền là một nền kiệt tác trong kiểu kiến trúc “gô-tích” (gothique), trong có bộ tượng 12 ông thánh tông đồ và những kính ngũ sắc tuyệt đẹp về thế kỉ thứ 13; nhà thờ Saint-Sulpice, quy mô hoằng vĩ, làm ghé theo kiểu Hy Lạp, dựng từ thế kỷ thứ 16-17, có lẽ là nơi giáo đường to rộng nhất ở Paris; nhà thờ Sacré Coeur ở trên đống cao xóm Montmartre, dựng theo kiểu roman và kiểu byzantin tự năm 1878 kinh phí mất hơn 30 triệu quan, có một quả chuông nặng 2 vạn 6000 cân; – đó là mấy nơi nhà thờ lớn và có tiếng nhất, còn nhiều nơi khác nữa nhỏ hơn nhưng cổ lắm, các nhà sử học, nhà khảo cổ lại lấy làm quý và đẹp hơn các nơi kia, như nhà thờ Saint Germain des Prés, Saint Germain l’Auxerrois, Saint Séverin,… tôi đều đi xem gần hết cả. Đến những nơi nhà thờ cổ ấy cùng vào xem những cổ vật quán như Musée de Cluny mới biết rằng văn hóa cũ của Pháp đã sở đắc ở đạo Gia Tô nhiều lắm. Từ đời Đại Cách mệnh trở về trước, trong khoảng 1000 năm các nghệ thuật ở nước Pháp đều chịu ảnh hưởng ở tôn giáo, hình như thấm nhuần tinh thần tôn giáo cả; bao nhiêu những đồ vật cổ ở các viện bảo tàng toàn là những đồ tế tự ở nhà thờ cả, và bao nhiêu những công trình kiến trúc lớn về đời trước toàn là nhà thờ hết. Ngày nay phong trào tư tưởng tự do mỗi ngày một thịnh, song người Pháp cũng không quên công to của giáo hội đã giúp cho văn hóa trong nước bấy lâu nay (17)

 (16) Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập. Tập V. Tái bản lần thứ 1. Bộ QGGD-Sài Gòn, 1962, trang 161

(17) Như trên, trang 210-211

Phỏng vấn một khách du lịch

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018

 PHỎNG VẤN MỘT KHÁCH DU LỊCH

Lê Thị Liên Hoan

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài viết sau đây của tác giả Lê Thị Liên Hoan đăng trên trang 42, mục Phản Chiếu báo Thể Thao và Văn Hóa số 40 (25/4/2006) nhân Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh mới được tái bản.

 —-o0o—-

 PV: Thưa anh, trong khi đi du lịch cơ bản anh làm gì?

Khách: À, đã đi du lịch thì cơ bản là… nhìn ngó.

PV: Vậy giữa các điểm ngó thì sao?

Khách: Thì tôi ngồi trên xe, và đọc sách.

PV: A, sách hướng dẫn phải không? Chỉ ra những nơi giảm giá? Le Hoang

Khách: Ồ, đâu có. Nhiều thứ đáng đọc hơn. Chẳng hạn Pháp du hành trình nhật ký của tác giả Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, ông Vương Trí Nhàn chú giải.

PV: Tôi biết Phạm Quỳnh là một trong những nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ

Khách: Đúng vậy. Nhưng có lẽ nếu chưa đọc cuốn sách này, ít người biết ông ấy cũng là một nhà du lịch lớn.

PV: Du lịch? Lớn theo nghĩa nào?

Khách: Theo hai nghĩa: Đầu tiên, vào những năm 20 của thế kỷ trước, đối với một người Việt Nam (lúc đó còn gọi là An Nam) đi theo một chặng đường dài qua nhiều nước như vậy là điều rất hiếm.

PV: Không thể gọi là rất mà phải gọi là rất – rất –rất hiếm hoi.

Khách: Vâng. Rồi sau đó, gần như toàn bộ chuyến đi, những suy nghĩ của Phạm Quỳnh chủ yếu thiên về văn hóa.

PV: Văn hóa.

Khách: Đúng thế. Hãy nhớ rằng vào năm 1922, năm mà chuyến du lịch ấy được thực hiện, Việt Nam còn ở trong một tình trạng xã hội phong kiến nặng nề, nói thẳng ra là vô cùng lạc hậu. Đùng một cái, Phạm Quỳnh tới nước Pháp, một xã hội tư bản phát triển, y hệt như anh đang đi guốc leo vào thang máy.

PV: Tôi cũng đọc cuốn đó rồi. Phạm Quỳnh không những nhìn thấy thang máy, mà thấy cả tàu điện ngầm, trong khi bản thân vừa mới bước xuống từ…xe kéo

Khách: Nhưng khách du lịch Phạm Quỳnh (tôi chỉ nói về khía cạnh này thôi) đã làm một điều rất hay mà khách du lịch ngày nay khối người không làm được.

PV:Chắc là ông ấy khảo giá được hết các mặt hàng, và mua được toàn đồ rẻ?

Khách: Bậy nào. Phạm Quỳnh chả để ý gì tới hàng hóa. Ông chỉ quan tâm đến văn hóa mà thôi.

PV: Vậy sao?

Khách: Đúng. Toàn bộ những ghi chép của ông, từ lúc tàu rời cảng Hải Phòng, đều hướng về điều đó. Ông quan sát, ông đối chiếu và ông tự rút ra bài học cho mình.

PV: Một cách sâu sắc?

Khách: Vào những năm ấy, suy nghĩ như thế rõ ràng là sâu sắc. Nhưng đánh giá nó là tùy mỗi người. Điều tôi thích ở Phạm Quỳnh là thái độ của ông. Một thái độ học giả hoàn toàn.

PV: Suốt ngày, Phạm Quỳnh chui vào thư viện hay sao?

Khách: Không chỉ thư viện thôi đâu. Ông lắng nghe người ta diễn thuyết, ông dạo quanh các bảo tàng, ông tới nhà hát.

PV:A, những thứ đó thì tôi cũng đến

Khách: Nhà báo đến là do được…người ta hướng dẫn, hoặc đến để cho oai, để chụp hình về treo tủ kính. Còn Phạm Quỳnh thì đến vì tự thân. Ý thức học hỏi của ông rất cao

PV: Chỉ học hỏi thôi à?

Khách: Phạm Quỳnh còn phân tích nữa. Ví dụ ở trang 321 ông viết: “Nghĩ trong các vấn đề thiết yếu của người mình không có gì bằng vấn đề giáo dục…Nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một nền văn hóa cũ, nhưng cái văn hóa cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải có văn hóa mới thời nay thì mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ…Nhưng ngặt thay, dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì cũng được, tức là một tập giấy đã có sẵn chữ từ mấy đời đến bây giờ rồi. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên, thì e thành giấy lộn mất…”

PV: Nghĩa là Phạm Quỳnh không phải loại trí thức “thuộc địa” lắm!

Khách: Không! Nhưng đó không phải vấn đề của bài này. Cái tôi muốn nhấn mạnh là thái độ du lịch của ông.

PV: Thái độ du lịch à? Chữ dùng lạ đấy.

Khách: Lạ ư. Nhưng tôi không tìm ra chữ khác. Thái độ của Phạm Quỳnh rõ ràng là của nhà nghiên cứu. Nó đầy suy ngẫm, đầy liên tưởng và cũng nhiều khi mỉm cười phê phán.

PV: Chà, giá như ngoài mỉm cười, ông ấy có chút mỉa mai…

Khách: Đừng đòi hỏi nhiều quá. Sự mỉa mai chỉ đến sau này…

Tóm lại Pháp du hành trình nhật ký là một cuốn sách đáng đọc, không chỉ dành cho người sắp định đi đâu.

 LTLH

 

 

Tháng Mười Hai 15, 2017

Nhật ký 1922 tại Pháp của Phạm Quỳnh (P1)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 12 năm 2017.

NHẬT KÝ 1922 TẠI PHÁP CỦA PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Thật ra, bạn đọc thân thiết của Blog PhamTon không lạ gì cuốn nhật ký nhỏ này. Trong nhiều bài viết của chúng tôi và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã trích đăng hai trang trong nhật ký này là:

 Hinh 7_Nuoc

Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam PNguyen Ai Quoc tai Phap 1921hong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học.” (Tạp chí Xưa và Nay, 8/2006). Điều đó chứng tỏ từ năm 1922, Phạm Quỳnh 29 tuổi và Nguyễn Ái Quốc 32 tuổi, hai thanh niên Việt Nam yêu nước, xa nhà đã gặp nhau rất thân mật, như những người bạn, những người đồng chí.

Điều hôm nay chúng tôi muốn “khoe” với bạn đọc là hiện chúng tôi đã có trong tay cuốn nhật ký tròn 90 tuổi ấy (1922-2012), cũng do vợ chồng người con trai út của Phạm Quỳnh là Hỷ Nguyên và Phạm Tuân trao cho giữ gìn, như một “phần thưởng” cho việc chúng tôi đã cố gắng duy trì Blog PhamTon sống mạnh mẽ hơn ba năm nay (2009-2012).

 Bia nhat ky 1922

Trước chỉ dám nói “quyển nhật ký nhỏ, bề ngang chỉ bằng bốn ngón tay xếp khít” nay thì có thể nói rõ, chiều ngang là 7.5cm và chiều dài là 12.5cm, đo tại nhà tôi, ngay trước mắt tôi. Bìa quyển nhật ký bằng ni lông giả da đen, góc trái có chữ số 1922 mạ vàng, sau 90 năm còn sáng đẹp. Trang đầu đề AGENDA POUR 1922/ Sổ nhật ký cho năm 1922. Quyển nhật ký nhỏ này được Phạm Quỳnh giữ gìn từ 1922 đến 1945. Tiếp đó là các con ông là Phạm Thị Ngoạn giữ từ 1945 đến 2000. Sau đó là bà Phạm Thị Hoàn và vợ chồng ông Phạm Tuân giữ gìn đến nay.

Sổ tay này là Phạm Quỳnh viết chỉ để một mình mình dùng, cho nên theo thói quen, ghi nhiều chỗ bằng chữ Pháp. Để bạn đọc dễ theo dõi, chúng tôi mạn phép tạm dịch sang tiếng ta bằng chữ nghiêng ngay sau gạch chéo (/).

Trang đầu tiên có chữ Phạm Quỳnh viết là trang đề ngày 9 Jeudi/thứ năm, Mars/ tháng ba như sau:

“Đi chuyến xe lửa 6h ½ : ở Hà Nội xuống Hải Phòng. Ông Hàn Hanh ra đón./Ăn cơm trưa với ông Thu ở Hôtel du Commerce/Khách sạn Thương mại. / 7giờ ½ tối, các thân hào Haiphong (Bưởi, TPham Quynh _ Nguyen Van Vinh _ Pham Duy Tonhu, v.v…) mời ăn tiệc ở Hôtel de la Marine/ Khách sạn Hải Quân)/ Tối ngủ ở nhà ông Hàn Hanh (Rue de Belgique, Phố Tám Gian)/ Cả ngày hôm ấy trời mưa cho đến khuya.”

Hôm sau, 10 thứ sáu tháng ba có ghi: “Ông Hàn Hanh mời các phái viên ăn cơm trưa ở nhà/ Đi lấy vé tàu (số giường 262) / Lấy giấy thông hành ở Sở Lãnh sự Anh (Denis Frères). /4 giờ rưỡi, tàu Armand Béric dời (rời) bến Hải-phòng. /Trời tạnh ráo”. Các ngày tiếp theo: 11, “tàu ra khỏi Đồ Sơn, say sóng” – “12”, “Say sóng”. 13, “5 giờ sáng tới Sài Gòn. / Ăn cơm trưa ở Chợ Lớn. /Ăn cơm tối ở nhà ông Đắc. (Rue Catinat / Phố Ca-ti-na), các bạn Bắc-kỳ mời. /Tối xem hát cải lương (bài/vở) “Vợ ngoan làm quan cho chồng” của Hồ Văn Lang và trò xiếc Jeune Annam /An Nam trẻ của Quốc Thận)”. 14: “Saigon. /11 giờ vào chào quan Toàn quyền Long ở Sài gòn. /12 giờ ăn cơm trưa ở nhà ông Nguyễn Phú Khai, 238 Rue Pellerin. /3 giờ ½  đi xem nhà máy dầu và máy gạo của ông Trương Văn Bền ở Chợ-lớn, Quai du Cambodge. / Bến Campuchia. 5 giờ, đi thăm Bắc-kỳ nghĩa trang, ở địa phận Phú-nhuận, cách Sài-gòn 6,7km./ 7 giờ ăn tiệc ở Sàigòn Palace của các thân hào Nam-kỳ thết. Có các ông như sau này: Nguyễn Phú Khai, Lương Văn Mỹ, Nguyễn Phan Long, Tự do (Tribune Indigène/Diễn đàn bản xứ) Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Văn Lung, Nguyễn Trí Thức, Nguyễn Văn Thường, Lê Đức, Nghiêm Đốc phủ sứ, Trương Văn Bền, Nguyễn Hữu Sanh”. Ngày 15: “4 giờ sáng tàu dời (rời) Sàigòn. /Gặp các ông phái viên Nam-kỳ trong tàu: 1/Trương Minh Giảng, tri huyện. 2/Võ Văn Chiêu, chef de canton/cai tổng Hoà Đồng hạ, Gò Công 3/ Võ Văn Cang, propiétaire/ Điền chủ, ancien maire du village – cựu lý trưởng làng Tân Niên Tây, Gò Công. / Lương Khắc Ninh (có đem theo một phường tuồng 3 đào 3 kép”. Ngày 16: “Đi bể – Say sóng.” Ngày 17: “Singapore. / 9h ½ xuống bộ, đi chơi phố phường. /Ăn cơm ở Shanghai Hôtel (13$50, 6 người). /Đi chơi ô tô (3$ giờ thứ nhất, 2$ giờ thứ hai). /4 giờ ½ tàu chạy”. Ngày 18: “Đi bể bình yên”.

Đọc đến đây ta thấy rõ Phạm Quỳnh ghi theo kiểu phóng viên, có khá nhiều chi tiết, tên đất, tên người, giá cả ăn uống, đi tàu, xe… để tra cứu khi viết bài, tin sau này. Và rõ ra là để phục vụ cho việc viết Pháp du hành trình nhật ký đều kỳ gửi về đăng trên tạp chí Nam Phong. Đoàn cùng đi với Phạm Quỳnh đều là các phái viên ba kỳ đi dự khai mạc Đấu xảo thuộc địa ở Marseille năm 1922.

Ngày chủ nhật 9/4 Phạm Quỳnh ghi: “Marseille, /9 giờ sáng đến Marseille (bến Joliette). Đồ hành lý phải đem vào cho douane / hải quan và octroi/ sở thuế nhập thị khám Giao cho Agence/Hãng Duchemin lo liệu việc hành lý, tính mỗi cái hòm và cái vali 8f50, đem tự bến tàu đến Hôtel Saint Louis./ Vào ở Hôtel Saint Louis, thuê buồng số 17. Ở cùng với Nghị./Vi Văn Định, Trần Lưu Vị, Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh), vợ chồng Võ Van Cang, cai tổng Võ Văn Chiêu cũng ở cùng một hôtel ấy. /Giá buồng 10f. Ăn cơm ở restaurant/nhà hàng bên cạnh (Restaurant Saint Pierre/Nhà hàng Thánh Pi-e) mỗi bữa 6f (kể cả rượu vang). /Đi chơi Palais/ lâu dài Longchamp, Jardin Zoologique/ vườn bách thú. Vào xem Đấu xảo ở Prado. /Tối gặp anh Hai Cận.” Ngày 11/4: “Đánh giây thép (điện báo) về nhà 19 chữ (…) Gặp ông Phan Chu Trinh. Xem trò ở Palais de Cristal. Fauteuils / Ghế bành 3f50”. Ngày 13: “Lên chơi quartier/ phường Panouse, làng ông Phan Chu Trinh và thầy Trần Lê Luật ở.” Ngày 26/4: “Tàu André Lebon 7 giờ sáng đến bến (ở Cap/Mũi Pinède). Có Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiệp và Hoàng Kim Bảng đến.” Ngày 30/4: “5 giờ chiều. Nghe ông Gl/Tướng Mangin ở Théâtre des Nation (Rue Parabis) về việc chiến tranh Pham Quynh _1922 tai Phapmới rồi (Chiến tranh thế giới 1914-1918 – PT chú) Les causes de la victoire et ses conséquences/ Những nguyên nhân của chiến thắng và những hậu quả của nó. Có một anh huýt còi thoá mạ ông Mangin lúc ở nhà hát ra, công chúng xúm lại đánh, cảnh sát phải can thiệp.” Ngày 2/5: “(…) Ăn cơm với quan Tuần, Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh) Bảng, Vị, Giệm. / Đi txem cinéma /phim Camocbin”. Ngày 3/5: “(…) Ăn cơm với Teanot (Tốn / Phạm Duy Tốn mời ở Hôtel Rugby, 115 Rue Paradis). /Ngủ ở 12 Rue Barberoux.” Ngày 8/5: “Gặp Diệp Văn Kỳ. /Ăn cơm trưa với Diệp Văn Kỳ ở Restaurant Francoannamite.” Ngày 18/5: “Vào xem Bibliothèque Nationale/thư viện quốc gia. Ăn cơm trưa ở Buffet/ quầy ăn tự chọn món của Thư viện Quốc gia. / Lĩnh cái chèque/ séc 8700f ở nhà Banque de l’Indochine/ Ngân hàng Đông Dương (…) Lấy về 1700fs, còn 7000fs để gửi lại compte/tài khoản.” Ngày 19/5: “Thăm général/tướng Pédaya và Mme/bà Marty ở 24 Rue Gay Lussac”. /Ngày 20/5: “(…) Thăm M.Chatel”. Ngày 21/5: “(…) Đi chơi Bois/rừng de Boulogne”. Ngày 23/5: “Nắng nực lắm”. Ngày 24/5: “Nắng dữ (36 độ à l’ombre/ trong bóng râm”. Ngày 31/5: “11 giờ M/ông Chatel/ 8h ¾ diễn thuyết ở École Colonial/ Trường Thuộc địa. Được lắm.” Ngày 2/6: Tối ăn cơm tàu với các phái viên Bắc-kỳ rồi đi chơi Monmartre, vào Moulin Rouge (nơi tụ tập nhiều văn nghệ sĩ Pháp, có ăn uống và biểu diễn nghệ thuật – PT chú) và L’Enfer/ Địa ngục”. Ngày 3/6: “8 giờ mời Alice đi ăn cơm rồi xem cinéma/phim (salle/rạp – Marivaux bd/đại lộ des Italiens (người Ý). Biếu một hộp Magic Beauty/sắc đẹp thần kỳ.” Ngày 4/6: “11 giờ đi Verseilles, ăn cơm trưa rồi xem Parc/công viên Grand và Petit Trianon, musée des Voitures/Bảo tàng xe hơi. Tối xem diễn bài (vở) Ce qu’on dit aux femmes/ Những điều người ta nói với các phụ nữ của Tristan Bernard ở Théâtre/rạp des Capucines (Bd/ đại lộ Capucines) Fauteuils /Ghế bành mỗi người 30 francs.” Ngày 5/6: “Xem Folie-Bergères (một rạp hát nổi tiếng – PT chú), 32 rue Riche.” Ngày 8/6: “Mua sách 200f. Cơm sáng 10, Sà (xà) phòng, tiêu vặt 3, cơm chiều 10. Buổi sáng di dạo qua Louvre (Lâu đài bảo tàng nổi tiếng – PT chú) lần thứ nhất. /I ½ coi hát ở Théâtre Française, diễn bài L’Abbé /Cha Coustantin (Ngồi fauteuil de balcon/ ghế bành ở ban công Ier rang/hàng đầu giá 20f). / Nhận 3 cái thư nhà”. Ngày 9/6: “Sáng đi xem Crédit Lyonnais/ cơ quan tín dụng Lyon cùng với các phái viên.” Ngày 10/6: “Các phái viên mời ông Sarraut  (Albert Sarraut thời gian này làm Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, từng làm toàn quyền Đông Dương hai nhiệm kỳ – PT chú) ăn cơm trưa ở Verseilles (…) Xem Palais/ Lâu đài de Verseilles. Xem opéra hát bài Faust (kịch của đại thi hào Đức Goethe – PT chú) (Soirée de gala/tiệc tối de l’association des cheminots của Hiệp hội các nhân viên đường sắt (fauteuil d’orchestre/-ghế bành sát sân khấu: 80f)”. Ngày 11/6: “Nghỉ”. Ngày 12/6: “Xem Sorbone (đại học lớn, nổi tiếng ở Pháp – PT chú) Valise/vali 90f. Đồ toilette/ đồ vệ sinh trang phục) 45f”. Ngày 13/6: “Thăm Origny au Thiérache Nhà Évêque d’Adran (tức cha Bá Đa Lộc – PT chú) /Soissons (Đi tại Paris 8 giờ 50 đến Origny 11 giờ ¼. 3 giờ 50 về Soissons) Đến Soissons, ở đêm ở Hôtel de la Croix d’Or /Thánh giá vàng.” Ngày 15/6: “Verdun. Xem thành Verdun, Cimetière du Faubourg Pavé/ Nghĩa trang ngoại ô lát đá. Xem Fort/pháo đài de Vacoy. Tranchée des baïonnettes/Chiến hào lưỡi lê (Agence Le Bourgeois). Về Paris chuyến xe lửa 5h50 chiều, đến nơi 10h ½ .” Ngày 18/6: “4 giờ chiều ông Sarraut và Outrey tiếp các phái viên ở Agence Économique”. Ngày 19/6: “3 giờ chiều thăm bà Sarraut cùng với Hồ Đắc Di 17 bd/đại lộ Latour Maubourg”. Ngày 20/6: “Ăn cơm trưa ở biệt thự ông Fontaine (Les Charmettes (ở làng Torsy, Seine et Maine, cách Paris 25km)”. Ngày 21/6: “Tối đi xem Théâtre du Grand Guignol/ nhà hát kịch rối Guignol lớn 20 bis rue Chamtal, cùng với Alice và Vị (fauteuils de balcon/ ghế bành ban công – 3e rang/hàng 3: 9f)”. Ngày 22/6: “1 ½ xem diễn bài Le Bourgeois Gentilhomme/ Trưởng giả học làm sang ở Théâtre Français/ Nghe diễn thuyết ở L’Université Nouvelle/ Trường Đại học Mới.” Ngày 23/6: “Gặp M.Chatel, đưa bài diễn thuyết để in./ Xem Sénat/ Thượng nghị viện (interpellation/chất vấn về Affaire/vụ de Vingré. Ông Suolié interpeller/chất vấn. Ông Maginot, ministère de la guerre/ bộ quốc phòng trả lời)/ Mua một bộ jaquette”. Ngày 24/6: “10 giờ sáng Vua đến Gare du Bois de Boulogne/ ga Rừng Bu-lô. Dạo xem nhà hàng Bon Marché gần rue de Sévier. Mua đồ chơi gửi về cho trẻ. / Vào Séminère des mission étrangères/ trường dòng truyền giáo nước ngoài thăm cha Robert. (Rue du Lac).” Ngày 25/6: “Xem Louvre. /Dạo chơi các phố bằng auto/ ô tô của Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh). Đi đến tận Butte/ đồi Monmartre, vào xem Basilique Sacré Coeur/ nhà thờ Thánh Tâm.” Ngày 26/6: “Xem Hoàng Thượng đến thăm nghĩa sĩ từ ở Nogend sur Marne. / Đến nghĩa địa Joinville le Pont thăm mộ một người Nam-kỳ. /Mật thám ở Préfecture de Police/ cảnh sát tỉnh đến hỏi passe-port/hộ chiếu. Chiều dự tiệc ở Élysée.” Ngày 29/6: “Đi chơi ô tô từ 10 giờ sáng đến 12 giờ đêm. Xem Père Lachaise (Nghĩa trang có chôn các chiến sĩ Công xã Paris – PT chú). / Ăn cơm ở Vincennus. /Xem jardin des plantes/ vườn bách thảo. /Chơi Bois de Boulogne/Rừng Bu-lô. /Ăn cơm chiều ở bd Vister. /Dạo ô tô về Andenil. 60f.” Ngày 1/7: “Xem Saint-Cloud và ParadeSaint-Cloud. /Ăn cơm ở restaurant/nhà hàng À L’Orme (St-Cloud)”. Ngày 5/7: “Sáng gặp André Varagnac 133 bd Saint Germain (André là bạn Phạm Quỳnh hồi ở Việt Nam, con của người sẽ giúp ông diễn thuyết tại Viện Hàn lâm Pháp sau này – PT chú). /Diễn thuyết ở Sociéte des Amis de l’Orient/ Hội những người bạn của Phương Đông.

(Còn tiếp một kỳ)

P.T.

Nhật ký 1922 tại Pháp của Phạm Quỳnh _ P2

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 12 năm 2017.

NHẬT KÝ 1922 TẠI PHÁP CỦA PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Thật ra, bạn đọc thân thiết của Blog PhamTon không lạ gì cuốn nhật ký nhỏ này. Trong nhiều bài viết của chúng tôi và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã trích đăng hai trang trong nhật ký này là:

 Hinh 7_Nuoc

Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! NhNguyen Ai Quoc tai Phap 1921ưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học.” (Tạp chí Xưa và Nay, 8/2006). Điều đó chứng tỏ từ năm 1922, Phạm Quỳnh 29 tuổi và Nguyễn Ái Quốc 32 tuổi, hai thanh niên Việt Nam yêu nước, xa nhà đã gặp nhau rất thân mật, như những người bạn, những người đồng chí.

Điều hôm nay chúng tôi muốn “khoe” với bạn đọc là hiện chúng tôi đã có trong tay cuốn nhật ký tròn 90 tuổi ấy (1922-2012), cũng do vợ chồng người con trai út của Phạm Quỳnh là Hỷ Nguyên và Phạm Tuân trao cho giữ gìn, như một “phần thưởng” cho việc chúng tôi đã cố gắng duy trì Blog PhamTon sống mạnh mẽ hơn ba năm nay (2009-2012). Bia nhat ky 1922

Trước chỉ dám nói “quyển nhật ký nhỏ, bề ngang chỉ bằng bốn ngón tay xếp khít” nay thì có thể nói rõ, chiều ngang là 7.5cm và chiều dài là 12.5cm, đo tại nhà tôi, ngay trước mắt tôi. Bìa quyển nhật ký bằng ni lông giả da đen, góc trái có chữ số 1922 mạ vàng, sau 90 năm còn sáng đẹp. Trang đầu đề AGENDA POUR 1922/ Sổ nhật ký cho năm 1922. Quyển nhật ký nhỏ này được Phạm Quỳnh giữ gìn từ 1922 đến 1945. Tiếp đó là các con ông là Phạm Thị Ngoạn giữ từ 1945 đến 2000. Sau đó là bà Phạm Thị Hoàn và vợ chồng ông Phạm Tuân giữ gìn đến nay.

Sổ tay này là Phạm Quỳnh viết chỉ để một mình mình dùng, cho nên theo thói quen, ghi nhiều chỗ bằng chữ Pháp. Để bạn đọc dễ theo dõi, chúng tôi mạn phép tạm dịch sang tiếng ta bằng chữ nghiêng ngay sau gạch chéo (/).

(Tiếp theo và hết)

Ngày 8/7: “Gặp M./ông Gaillard, directeur de la revue Orient et Occident/ giám đốc tạp chí Phương Đông và phương Tây (28 Rue/phố Bonaparte)./Ăn cơm chiều ở nhà M.Varagnac (134 bd/đại lộ St Germain/đại lộ Thánh Germain). Ông bà người tử tế lắm, nói chuyện đến hơn 10 giờ mới về. Hẹn đến thứ ba lại ăn cơm trưa. (Đây là gia đình của bạn thân Phạm Quỳnh là André, quen biết nhau từ hồi ở Việt Nam, André hẹn khi nào Phạm Quỳnh sang Pháp thì đến thăm. Do ông bà đã biết nhiều về Phạm Quỳnh qua con trai, nên gặp là mến ngay, có biệt nhãn với Phạm Quỳnh và cố tìm cách đưa Phạm Quỳnh lên diễn đàn Viện Hàn lâm để nói về vấn đề giáo dục ở Việt Nam mà theo ông bà người Pháp ở Pháp hoàn toàn không biết gì – PT chú). Ngày 10/7: “12 giờ trưa Déjeuner à la Société de Géographie Commevich (Restaurant de Sociétés savantes, Rue Dulerch/ Ăn sáng ở hội Địa lý Commevich – Nhà hàng các hội bác học. Diễn thuyết. Được lắm ». Ngày 11/7 : « Déjeuner chez les Varagnac/ Ăn sáng ở nhà ông bà Varagnac ». Ngày 12/7 : « Chơi phố ». Ngày 13/7 : « Gặp M.De Nallèche, directeur du Journal des Débats/ Giám đốc Báo Tranh luận (Rue Sainte Germain d’Auxurois), ông Émile Varagnac giới thiệu. / Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins).

Ngày 14/7 : « Xem diễu binh ở Longchamp./Chiều dạo chơi đường Ste Michel».  Ngày 15/7 : « Cùng ông Émile Varagnac đến tiếp M.Lyon –Caln, secrétaire perpétuel de l’Académie Française des scienses morales et politique/ thư ký vĩnh viễn của Viện Hàn lâm Pháp các khoa học luân lý và chính trị (4h ½ chiều) tại nhà riêng ông (13 Rue Soufflet 2e étage au dessus de l’entresol, à droite/ 13 phố Souflet tầng hai, trên gác lửng, bên phải. »

Đến đây, chúng ta thấy ông Varagnac đã dẫn Phạm Quỳnh đến nhà riêng ông thư ký của Viện Hàn lâm, chuẩn bị cho việc Phạm Quỳnh diễn thuyết tại đây. Thật là một người bạn vong niên chí tình nơi xa lạ.

Ngày 16/7  Chủ nhật : « Ở nhà./ Trường, Ái Quốc và Chuyền (tức Nguyễn Thế Truyền) đến chơi ». Ngày 17/7 : « Tiễn Vị xuống Marseille/ Chiều ăn cơm sớm vào chơi vườn Luxembourg. Trời quang mây tạnh, cảnh đẹp vô cùng./Trời Tây bảng lảng bóng vàng. » Phạm Quỳnh nhớ nhà rồi…Ngày 18/7 : « Ở nhà soạn diễn thuyết ở Académie./ Ăn cơm chiều ở nhà ông Lambue, 223 Rue de l’Univunlo ». Ngày 19/7 : « Ở nhà soạn diễn thuyết ở Académie ». Ngày 20/7 : « Ăn cơm chiều ở nhà ông bà Varagnac. Gặp ông bà Marul Sambat ».

Ngày 21/7 : « Đọc thử bài diễn thuyết ở Académie cho ông bà Varagnac nghe, cho là được lắm ».Phạm Quỳnh rất gắn bó với ông bà Varagnac, nhưng trong Pháp du hành trình nhật ký chỉ thấy ghi ông V. mà không bao giờ ghi rõ họ tên. Có lẽ vì Phạm Quỳnh không muốn làm mếch lòng hai con người khiêm nhường này, luôn muốn « áo gấm đi đêm »

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh được mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

Ngày thứ bảy, 22/7: “Diễn thuyết ở Hội Hàn lâm, được lắm”. Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại ngheNhat ky 1922 ngay 22 nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó. Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng (trang 335, Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011). Dự khánh thành hội “An nam ái hữu” ở 15 Rue Sommerard, Paris 5e. Vua Khải Định và ông Sarraut đến chủ tọa. Khải Định lố lắm!

Thứ bảy, ngày 22 tháng 7 1922

(…) Về  trọ  nghỉ  một  lát,  thay  áo  ta  mặc  áo  tây,  rồi  ra  nhà  Hội  Association  Mutuelle  des Indochinois (Đông Pháp Hỗ trợ Hội), ở đường Sommerard. Hội này là của học sinh An Nam ta ở bên này lập ra đã mấy năm nay, bây giờ mới thuê được nhà, làm chỗ học tập cho người đồng bang, hôm nay khánh thành hội sở mới, có mời Hoàng thượng và quan Thượng thư Sarraut đến chủ lễ. Hội sở còn chật hẹp lắm, được có một phòng lớn và vài ba cái buồng nhỏ, tân khách đứng chật cả. Chủ Hội là ông Cao Văn Sen, người Lục tỉnh, sang bên này đã lâu, hiện làm kỹ sư và đã lấy vợ đầm ở đây. Khi vua quan đã đến đông đủ cả,  ông  Cao  đọc  một  bài  diễn  văn  chúc  mừng,  Hoàng  thượng  nói  mấy  câu  trả lời, nhưng nhỏ quá, không nghe thấy tiếng gì cả, rồi ông ngự tiền thông sự dịch ra tiếng Pháp. Đoạn tân chủ chuyện vãn ít lâu, rồi ông chủ Hội đem quyển “Kim thư” của Hội ra xin chữ ký Hoàng thượng và các quan khách. Lệ thường các ngài danh giá ký vào sách “Kim thư” (Sổ Vàng-VTN chú)  của các Hội hay phê mấy câu, hoặc để khen lao, hoặc để khuyến miễn (Khen công lao vất vả và khuyên gắng sức hơn-VTN chú), và cũng để lưu chút tự tích trong sách kỷ niệm của hội. Khi dâng Hoàng thượng ta ngự phê thì thấy ngài cầm quản bút ra dáng nghĩ ngợi, các quan Tây có ý chờ đợi ngóng trông, bọn mình thì tưởng rằng chắc ngài nghĩ một bài thơ nôm hay thơ chữ Đường luật hay tứ tuyệt  gì, nên mới lâu như thế.  Lúc bấy giờ cử hội im phăng phắc, ai cũng để mắt vào nhìn, có cái vẻ oai nghiêm vô cùng. Tưởng chừng đức Chí tôn ta, đương khi mấy trăm con mắt ném ánh sáng vào bàn tay ngọc đó, – ngọc thật, vì ngài thường đeo nhẫn kim cương quý giá lắm, – thời:

Tay tiên gió táp mưa sa,

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu

ngay tức thì.Nhưng mà không! Cứ thấy cái quản bút quằn quại trên tay, mà không thấy viết chữ gì. Năm phút, mười phút, mười lăm phút, người đứng chung quanh đã thấy thì thào động đậy, kẻ nói nhỏ, người đưa mắt, anh em đồng bang mình thì vừa nóng ruột, vừa động lòng. Sau mới thấy ngòi bút chuyển động; ai nấy thở dài! Hỏi ra thì không phải thơ ngũ ngôn tứ tuyệt  gì,  chỉ có  một câu chữ Hán  rằng:  năm ấy, tháng ấy, đức  Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội, thế mà thôi – Ấy đức Chí tôn ngài viết một chữ một câu cũng thận trọng như thế…”

NKhai Dinhgày chủ nhật 23/7: “Chơi maisons Lafitte (Về phía bắc Paris). Xem château/lâu đài. Chơi Lac/hồ d’Eughien./ Xem nhà thờ Saint Denis và lăng các vua chúa. Cảm phục lịch sử nước Pháp./ Qua trường tàu bay Le Bourget.” Ngày thứ hai 24/7: “Trời mưa, ở nhà viết thơ (thư).” Ngày 25/7: “Chơi Jardin des Tuilleries/ Vườn nhà Tuilleries.” Ngày 26/7: “Chơi Parc/công viên des Buttes Chaumonts./ Chơi Suresnes. Ăn cơm chiều ở restaurant  « À la Belle Cycliste/nhà hàng Cô em Đạp xe Xinh đẹp. » Ngày 29/7 : « Thăm Saint Germain des Prés. Ăn cơm trưa ở nhà ông bà Varagnac (Cùng với Vĩnh – Nguyễn Văn Vĩnh)./ Xem Petit Palais (Musée des (không đọc dược) oits de la Ville de Paris) / Lâu đài nhỏ, bảo tàng của các (không rõ) của thành Paris)./ Thăm M.Gaillard directeur de la revue Orient et Occident (28 rue Bonaparte) ». Ngày chủ nhật 30/7 : « Xem lễ ở nhà thờ Notre Dame. Lên tháp và gác chuông nhà thờ./ Xem Musée Jacquennard – André 158 bd Haussmann./ Đi xem Château/lâu đài de la Surelmaison (có exposition napoléonnien/Triển lãm về Napoléon) Qua Reuil xem lăng Impétratrice Joséphine ở trong nhà thờ. Qua Marty, Saint Germain au Raye và Poisoy. » Ngày 31/7 : « Gặp M.Mourrin nói chuyện về sự in bài diễn thuyết./ Xem nhà thờ Saint Germain d’Auxerrois./Ăn cơm chiều ở Pavillon Bleu (Saint Cloud)./ (Ngày cuối cùng ở Paris) ».

Ngày thứ ba 1/8 : « Đi chuyến xe lửa 8 ½ xuống Marseille. 10 ½ đêm đến Marseille. Vị, Chất, Bảng, Thiện ra đón. » Ngày 2/8 : « Xem Đấu xảo. / Thăm M.Eckent. » Ngày 9/8 : « Vua đến Marseille (3 giờ chiều) ». Ngày 10/8 : « 9 giờ sáng Vua vào xem đấu xảo ». Ngày thứ tư 11/8 : « Xuống tàu Angers 4 giờ chiều tàu chạy. Vua cùng đi một chuyến, mình ở buồng số 123 với huyện Vị và Trần Lê Chất. Có ba ông đại biểu Nam kỳ nữa cùng đi về một chuyến (Võ Văn Chiêu, Trương Vinh Qui, Cao Triều Phát). » Ngày 12/8 : « Đi bể./ Tốt ». Ngày 13/8 : « Đi bể./ Bữa cơm chiều hơi lảo đảo một chút ». Ngày 16/8 : « 2 giờ đến Beyrouth. Gl/Tướng Gounaud xuống tàu thăm Vua./ Vua xuống Beyrouth thăm lại Gl Gouraud. Có mấy trăm lính An nam tập hầu./ 6 giờ chiều tàu chạy về Cut-Laid ». Ngày 17/8 : « 11 giờ đến Port Said./ Xuống phố chơi. Vua với quan cũng xuống phố, mời lãnh sự Pháp ăn cơm ở khách sạn. (Vua sắm mũ và hộp thuốc lá mất 400 quan./7 giờ tàu chạy về Suez. Đêm đi qua canal/ kênh đào.» Phạm Quỳnh đã theo dõi nhà Vua mua nhiều thứ ! Ngày 18/8 : « 11 giờ đến Suez./ Đỗ một giờ./ 12 giờ vào Hồng Hải. » Ngày 22/8 : « 12 giờ đến Djibouti./ 12 giờ đêm đi. / Vua mời Gouverneur (thống đốc) Djibouti ăn cơm trưa ở tàu. Ngày 23/8 : « Hơi say sóng ». Ngày 24/8 : « Say sóng ». Ngày 25/8 : « Say sóng dữ. Phải nằm trong phòng cả ngày. Không đi ăn trưa”. Ngày 26/8: “Say sóng dữ. Nằm trong phòng”. Ngày 27/8: “Say sóng dữ, nằm trong phòng”. Ngày 28/8: “Say sóng. Khá hơn mấy hôm trước” Chúng ta biết là Phạm Quỳnh đau dạ dày, thường ngày phải uống thuốc bột Bismuth cho đỡ đau, càng hiểu sự cố gắng khi ông vất vả đi công cán. Ngày 29/8: “9 giờ sáng đến Colombo. Cơm sáng xong xuống bộ. Dạo chơi các cửa hàng, mua một cái nhẫn opale/ngọc mắt mèo 50 quan./ Vua xuống bộ, mời lãnh sự ăn cơm (bữa trưa, bữa sáng) Vua sắm đồ./ 2 giờ đêm tàu đi”. Ngày 30/8: “Hơi sóng nhưng dễ chịu hơn mấy hôm trước./ Khí hậu cũng mát dễ chịu”. Ngày 1/9: “Hơi sóng nhưng dễ chịu”. Ngày 2/9: “Dễ chịu./ 6 giờ chiều đến Penang./ 12 giờ chạy về Singapore. Đêm mưa to, tàu giúc còi”. Ngày 3/9: “Tàu đi trong Détroit/eo biển Malacca. Mát trời, dễ chịu. Ngày 4/9: “7 giờ sáng đến Singapore. Xuống bộ chơi. Đi dạo phố bằng ô tô với hai ông Cai Chiêu và Qui, Vị, Chất và bạn ông Cai Chiêu Jackao làm việc ở Singapore. Xe ô tô đè phải một tên khách. Ăn cơm khách ở Liêu Hương Giang. 1 giờ trưa tàu chạy. Anh Bổng lên thăm gouverneur de Singapore, không được tiếp”. Ngày 5/9: “Đi trong golfe/vịnh Siam. Trời nóng. 2 giờ chiều mưa to”. Ngày 6/9: “8 giờ sáng tới Cap Saint Jacque/Vũng Tàu. Đợi đến 12 giờ mới vào sông Sài Gòn. 4 giờ chiều đến Sài Gòn. Vua lên bộ vào ở dinh Toàn quyền./ Chiều hôm ấy, mình, quan Tuần và huyện Vi ăn cơm ở hiệu khách tại Sài Gòn, đi chơi phố, rồi về tàu ngủ”. Ngày 7/9: “9 giờ vào thăm Dr/bác sĩ Ognang. Thăm các bạn đồng nghiệp. Trưa ăn với Trần Lê Chất ở hội Liên Thành (Quai/bến Somme, quartier/ phường Khánh Hội). Cơm rồi nghỉ chơi ở Hội Liên Thành. Mưa to, sấm sét./ 6 giờ chiều, Chất thuê 2 cái ô tô dủ (rủ) cả bọn đi chơi Chợ Lớn, ăn cơm ở hiệu Đức Lợi (Nguyên văn viết chữ Hán) Tổi ngủ ở tàu”. Ngày 8/9: “Sáng đi chơi phố, mua the lĩnh. Thăm báo Kinh Tế. Trưa ăn cơm ở nhà huyện Của. 3 giờ chiều tàu dời (rời) Sài Gòn, chạy về Tourane/Đà Nẵng”. Ngày 9/9: “Đi men bờ bể Trung Kỳ”. Ngày chủ nhật 10/9: “11 giờ trưa tàu đến Tourane/Đà Nẵng. Có chaloupe/ca nô ra đón Vua quan vào bến. 2 giờ tàu chạy ra Hải Phòng”. Ngày 11/9: “12 giờ rưỡi đến Hải Phòng./ Me con Chắt và cậu Xuân (Me tức là vợ Phạm Quỳnh, bà Lê Thị Vân bằng tuổi ông, chắt là chỉ con trai cả Phạm Quỳnh là Phạm Giao sinh năm 1911, là chắt của cụ Phạm Tốn, ông nội của Phạm Quỳnh. Cậu Xuân là em vợ Phạm Quỳnh-PT chú) xuống đón./ Đem hành lý vào Hôtel de l’Europe. Ông Thu cho mượn xe ô tô đi chơi. Tối ăn tiệc với ông Bưởi (Bạch Thái Bưởi) và ông Thu ở Hôtel du Commerce./ Chuyến xe lửa 8 giờ 15 tối lên Hà Nội./ Tới ga Hà Nội  có đại biểu Hội Khai Trí ra đón.” Ngày thứ ba 12/9: “3 giờ chiều, cùng quan tuần Vi Văn Định vào yết quan Thống sứ Monguillot, nói chuyện đến 20 phút”. Ngày 20/9: “Tiệc trà ở Hội Khai Trí tiếp Toàn quyền Baudoin (9 giờ tối)./ Mình diễn thuyết một bài.”

P.T.

 

 

Tháng Mười Một 30, 2017

PHẠM QUỲNH VỚI THỂ TÀI DU KÝ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:55 chiều

Blog PhamTon  năm thứ chín, kỳ 1 tháng 12 năm 2017.

PHẠM QUỲNH VỚI THỂ TÀI DU KÝ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

Trần Thị Ái Nhi

Trần Thị Tú Nhi

(Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn Học số 7/2017, Nhân 100 ra đời Tạp chí Nam Phong (1917-2017) từ trang 28 đến trang 40 của Thạc sĩ Trần Thị Ái Nhi Trường THPT Quốc học Quy Nhơn và Tiến sĩ  Trần Thị Tú Nhi Khoa Ngữ Văn trường Đại học Quy Nhơn)

  1. Phạm Quỳnh (1893 – 1945) là một trong số trí thức Tây học có tư tưởng canh tân ở những năm đầu thế kỷ XX. Theo Nguyễn Phương Chi, giống như Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Phạm Quỳnh tuyên truyền tư tưởng riêng về việc đấu tranh, xây dựng đất nước: “muốn xây dựng chủ nghĩa quốc gia phải bắt đầu từ đấu tranh xây dựng văn hóa, việc này cần thiết hơn đấu tranh chính trị. Không cần đấu tranh chống Pháp mà chỉ cần nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân” (1). Trên tinh thần đó, năm 1913, Phạm Quỳnh làm trợ bút cho Đông Dương tạp chí. Về sau, tờ báo này chủ yếu chuyển sang dịch thuật nên ông thấy không còn phù hợp nữa. Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Trưởng phòng chính trị tại phủ toàn quyền, Phạm Quỳnh đứng ra làm chủ bút tờ Nam Phong tạp chí. Từ đây, sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh gắn liền với tờ báo này. Trong cuộc đời mấy mươi năm ngắn ngủi, Phạm Quỳnh để lại nhiều tác phẩm văn học giá trị, đóng góp lớn cho nền quốc văn. Ông không những là nhà khảo luận, nhà dịch thuật, nhà phê bình văn học mà còn là một nhà văn viết du ký rất có tài. Ông viết nhiều tác phẩm du ký: Một tháng ở Nam Kỳ; Mười ngày ở Huế; Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng; Du lịch xứ Lào; Trẩy chùa Hương và Pháp du hành trình nhật ký… Những tác phẩm du ký của ông có vai trò mở đường quan trọng cho 69 bài du ký trên Nam Phong tạp chí.
  2. Thể tài du ký và du ký của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí
    • Khái lược thể tài du ký trên Nam Phong tạp chí

Đầu thế kỷ XX, cuộc xâm lược Việt nam của thực dân Pháp cơ bản kết thúc. Cùng với nhiều tác động tiêu cực là những thay đổi lớn trong xã hội Việt Nam. Từ một quốc gia phong kiến, Việt Nam chuyển dần sang thực dân nửa phong kiến. Các nhà máy liên tục ra đời, kèm theo nó là phương tiện giao thông mới xuất hiện, nhiều tuyến đường mở mang… Do đó, việc đi lại của người người được thuận lợi hơn rất nhiều. Trên lĩnh vực văn hóa, chữ Quốc ngữ có những bước tiến rõ rệt. Trong tiếp nhận văn học, đội ngũ công chúng văn học mới xuất hiện và ngày càng đông đảo: tầng lớp thị dân. Đây là lực lượng bạn đọc chủ yếu của báo giới và văn chương lúc bấy giờ. Cùng với sự phát triển đó, báo chí, văn học ngày càng lớn mạnh, quy tụ một lực lượng sáng tác hùng hậu. Chính lực lượng này với tư tưởng nắm bắt điều mới, ghi nhận điều hay đã câu thúc họ đi và sáng tác. Sự tác động qua lại giữa người đọc và người viết đã tạo điều kiện cho nhiều đề tài mới trong văn học ra đời. Đó chính là cơ sở xã hội thuận lợi cho thể tài du ký phát triển sôi nổi trong giai đoạn này.

Du ký được xếp vào một trong mười bốn bộ môn mà Nguyễn Khắc Xuyên gọi là du hành. Đọc du ký Nam Phong tạp chí, độc giả được mở rộng tầm mắt cũng như mở rộng tấm lòng để gắn bó thân thiết với con người ở nhiều vùng miền của Tổ quốc. Chính vì thế, Nguyễn Hữu Sơn khái quát: “Chính thông qua những chuyến đi, các cuộc giao lưu mà mỗi người vừa tăng thêm nhận thức và niềm tự hào dân tộc, vừa chiêm nghiệm và chứng nghiệm được đầy đủ tình nghĩa đồng bào” (2). Một Hà Nội thanh lịch với nét đặc sắc của nền văn hóa cổ xưa, di tích lịch sử, thắng cảnh hữu tình trong: Từ Hà Nội tới Hồ Ba Bể của Nhật Nham Trịnh Như Tấu, Hà Nội – Vietiane trong hai giờ của Vũ Nhật, Một dịp đi thăm làng Bối Khê của Vu Ngã, Thăm trại thanh niên Tương Mai của Minh Tuyền… Một xứ Huế cổ kính, thơ mộng với những tư liệu lịch sử hết sức quý giá, ghi lại chính xác, chi tiết cảnh quan văn hóa xưa trong: Túy Vân du ký của Nguyễn Bá Kỉnh, Các lăng điện xứ Huế của Nguyễn Đức Tính, Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh, Ngày hội ở điện Huệ Nham, Cuộc đi chơi Huế của Thanh Tịnh, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng… Hơn thế nữa, du ký trên Nam Phong còn vươn xa khắc họa nhiều bức tranh khác nhau về các nước như Pháp, Cao Miên, Lào… Qua những trang du ký này, tâm lý, thói quen, ước nguyện của con người những năm đầu thế kỷ cũng được bộ lộ. Đi để thêm hiểu biết, đi để hiểu người và nghĩ về mình, đó là ý nguyện của người viết du ký nửa đầu thế kỷ. Họ đều có một sở nguyện như Phạm Quỳnh trong Pháp du hành trình nhật ký: “Chuyền này đi Tây, tôi cũng có cái sở đắc, nhưng không phải sở đắc như thế, sở đắc một điều: là được sáng mắt thêm ra, biết cái chân tình thế trong thiên hạ, biết cái chân giá trị của người ta, biết cái gì là cao, cái gì là sang, cái gì là trọng, cái gì là quý. Không chuyến này đi Tây tôi cũng có cái sở đắc, nhưng sở đắc là được sáng mắt ra như thế, chứ không phải sở đắc cái hư vinh gì huyễn diệu bà con” (3). Chính ý nguyện chân thành đó mà du ký Nam Phong tạp chí thu hút độc giả chú ý, đón nhận.

Độc giả không chỉ say với cảnh, thích thú với người, hiểu về phong tục tập quán, văn hóa, dân tộc nhiều vùng miền mà còn cảm nhận một lối văn những năm đầu thế kỷ. Du ký không như thơ mới, tiểu thuyết du nhập từ phương Tây, nó kế thừa cách viết kết hợp giữa tư duy truyền thống và hiện đại, giữa Đông và Tây. Vì thế, du ký vẫn có câu văn nhịp nhàng đăng đối, biền ngẫu, nặng về lối sử dụng từ Hán Việt bên cạnh câu văn sinh động, giàu hình ảnh, những câu đùa vui dí dỏm, lối văn pha tiếng Pháp của tác giả Tây học… Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá khi đọc bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong (1917-1934) đã nhận định: “Về mặt văn chương, cứ tưởng rằng non một thế kỷ qua đi, người đọc hôm nay khó mà cảm được lối văn cổ kính, biền ngẫu, nhịp nhàng đăng đối. Hóa ra không phải. Đọc lại văn chương quốc ngữ đầu thế kỷ XX của Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Trọng Thuật, Huỳnh Thị Bảo Hòa cũng như đọc Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Nguyễn Chánh Sắt (Nam Bộ) về cơ bản ta vẫn có khát khao tri âm, tri kỷ với văn chương”(4)

2.2 Du ký của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí

2.2.1 Hiện thực và lịch sử trong du ký Phạm Quỳnh

Gorki đã từng khẳng định: “Ký là sự hợp nhất truyện và nghiên cứu”. Trong các tác phẩm du ký bao giờ cũng có sự kết hợp giữa giọng văn chương và văn phong khoa học. Vì thế, đọc du ký không chỉ có giá trị văn chương mà còn có nhiều giá trị khác, trong đó, giá trị địa lý chiếm vai trò không nhỏ. Những tư liệu khảo sát địa lý vừa làm tăng tính thuyết phục cho những trang du ký viết về việc thật, người thật vừa giúp người đọc có thêm tư liệu về vùng miền mà tác giả giới thiệu. Phạm Quỳnh vốn là một người tỉ mỉ, làm việc gì cẩn trọng việc ấy, nên những trang khảo cứu địa lý của ông giúp người đọc thêm nhiều kiến thức và tư liệu. Khi đến Nam Kỳ, mỗi lần chơi phố phường Chợ Lớn, Chợ Cũ, Chợ Mới, tác giả luôn chạnh lòng trước họa người Khách. Để người đọc thấy rõ sự việc, Phạm Quỳnh đưa ra những con số thực địa cụ thể: “Hải Phòng tức là Chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người khách,  mà Chợ Lớn Nam Kỳ có những 75.000 khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377 người khách với 825 người Minh Hương! Coi đó thì biết cái nguy cho xứ Nam Kỳ to dường nào” (5). Những số liệu cụ thể ấy giúp người dân Nam Kỳ thấy chân xác cái họa người Khách. Bên cạnh đó, Phạm Quỳnh còn nêu lên những lời cảnh tỉnh: “Song dù hơn, dù kém, dù ít, dù nhiều, cũng vẫn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình, quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi, mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đua trên thị trường thế giới”(6)

Đọc những dòng du ký viết về danh thắng, ở đó ngoài giá trị thẩm mỹ, giá trị lịch sử cũng được Phạm Quỳnh hướng đến. Trên phương diện này, nhà văn tỏ ra tỉ mỉ, chi tiết từng vấn đề. Nhờ đó, đọc du ký của Phạm Quỳnh độc giả có thể am hiểu, tường tận ngọn nguồn từng danh lam, thắng cảnh. Quả thật, văn du ký tả thì tả kỹ, cảm thì cảm mạnh, nghĩ thì nghĩ sâu là vậy. Có những dòng du ký đơn thuần viết về lịch sử, nó là trang tư liệu quý giá, gợi mở nhiều vấn đề như lịch sử nước Lào, lịch sử Nam tiến trong Du lịch xứ Lào; lịch sử các vùng, miền, tên gọi của đất Nam Kỳ trong Một tháng ở Nam Kỳ; lịch sử hình thành Sở Sorbonne, cung Versaille, cao nguyên Fourvieres, đồn Saint Irénée; về truông nhà Hồ, lịch sử hình thành đất Huế, Tế Nam Giao, dòng họ Nguyễn Khoa trong Mười ngày ở Huế. Hãy xem Phạm Quỳnh viết về lịch sử Nam tiến của người Việt Nam: “Giống Giao Chỉ ngoài nghìn năm đúc trong cái khuôn lễ nhạc của Trung Hoa, càng ngày càng sinh sôi nảy nở, khu khu trong triền sông Hồng Hà lấy làm chật hẹp, thế tất phải bành trướng về phía Nam, bèn vượt đèo ngang mà tràn xuống Chiêm Thành. Thế giới Chi Na quyết  chiến với thế giới Ấn Độ trong mấy thế kỷ, rồi năm 1471 thì Chiêm Thành bị diệt, thế là Chi Na thắng mà Ấn Độ lui vậy. Đã thắng thắng mãi, đã lui lui hoài. Cuối thế kỷ thứ XV, người An Nam đã phá thành Đồ Bàn (Quy Nhơn bây giờ), là kinh đô nước Chiêm Thành, chiếm hết tỉnh Bình Định ngày nay, rồi cứ lần lần tiến về phía Nam, đi đến đâu người Hời, người Mên chạy đến đó, năm 1611 đến Phú Yên, năm 1653 đến Phan Rang, năm 1697 đến Phan Thiết, năm 1698 đến Sài Gòn, năm 1714 đến Hà Tiên, rồi từ đó cứ xâm lấn dần sang đất Cao Miên cho mãi đến khi nước Pháp sang xâm chiếm”(7). Lịch sử Nam tiến của dân tộc ta được Phạm Quỳnh ghi lại hết sức chi tiết và chân xác, khiến người đọc thêm tự hào về quá trình hình thành đất nước của ông cha, những con người đã vẽ nên hình hài Tổ quốc.

Đi để xem, để viết những gì mình cảm và nghĩ. Phong cách, danh thắng là hai đối tượng các tác giả du ký thường đề cập. Trong du ký của Phạm Quỳnh, cảnh vật hiện lên sinh động, đa dạng cả về nội dung và đối tượng ghi chép, miêu tả. Đó là phong cảnh chùa chiền, đền đài, lăng tẩm, sông núi, cả những công trình kiến trúc đồ sộ của xứ sở xa xôi… Những hình ảnh này được miêu tả chi tiết, sinh động, khách quan, chân thực. Theo bước chân Phạm Quỳnh ta đến với Chùa Hương, Đền Trình, Thiên Trù, Giếng giải oan, đẹp với những lí giải kỳ thú của ông. Không chỉ tả cảnh mà họ Phạm còn đưa ra tiêu chí xác định phong cảnh. Phạm Quỳnh cho rằng cảnh đẹp hay không, không chỉ tự bản thân nó mà còn phụ thuộc vào thời khắc viếng cảnh. Ví như động Hương Tích đối với tác giả không có gì đẹp lắm nhưng với thời khắc trời chiều thì nó là một bức tranh tuyệt bút: “Coi cái động Hương Tích đó cũng chẳng lấy gì làm đẹp, tưởng không xứng đáng cái huy hiệu “Nam Thiên đệ nhất động” của Chúa Trịnh khắc ở cửa hang đời xưa… Nhưng phàm cảnh sơn nham không có gì đẹp ở trái núi hay ở viên đá, mà phần nhiều đẹp ở cái khí sắc mỗi lúc, tùy trời u ám hay trời sáng sủa, buổi chiêu dương hay lúc tịch dương, mặt trời ánh sáng sắc núi đậm phai, mà mỗi lúc khác nhau. Vậy bây giờ đã trở về chiều, mặt trời đã xế, đứng tận trong cùng động nhìn ra ngoài cửa, thật là một bức tranh tuyệt bút. Khói hương đưa ra cửa động, mờ ám như đám sương mù, mặt trời phản chiếu nửa đỏ nửa vàng, bóng cây phất phới như thấp như cao, đứng trong nhìn ra như trông qua một cái gương mờ: bấy giờ tưởng bước chân ra cửa động là tiện thị để mình vào nơi mộng cảnh nào, theo sương mù mà bay bổng lên mấy từng mây, có lẽ đấy chính là cõi tây thiên tĩnh thổ vậy”(8).

Trong quá trình du lãm những vùng miền xa hôi, phong tục tập quán đặc biệt rất được khách tham quan chú ý. Văn du ký của Phạm Quỳnh ghi lại thật sâu, thật sát nét đặc sắc của từng vùng, miền như người hướng dẫn du lịch giúp người đọc hành hương về xứ đẹp. Đến chơi Lạng Sơn, Cao Bằng, Phạm Quỳnh giới thiệu cho người đọc phong tục hát Then. Đây là phong tục mang giá trị văn hóa lịch sử lâu đời của những người dân vùng cao Bắc Bộ đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Hát Then được nhiều nơi trên thế giới công nhận là một phong tục độc đáo của Việt Nam: “Quan châu Hà thời đặt ở nhà một cuộc tiêu khiển riêng của xứ này, là cuộc phụ tiên, đây gọi là Then hay Bụt (Tiên, Phật), Then hay Bụt thường là những đàn bà con gái óng ả lắm, đã học thuộc nhiều các bài văn cúng, nhà nào muốn làm lễ kỳ yên thời mời đến gẩy đàn đọc văn,  cầu nguyện cho trong nhà được bình yên mạnh khỏe. Trên giường bày lễ vật hương hoa, cô then ngồi bên cạnh, tay cắp cây đàn, chân đeo tràng nhạc, miệng hát, tay gảy, chân rung, dịp dàng lắm. Giọng hát tỉ tê thánh thót, nghe rất là buồn, như giọng gọi hồn vậy. Nhưng cũng có một cái thú âm thầm não nuột. Không trách đàn bà con gái có người mê lắm, quyến luyến then như đối với người có tình vậy”(9)

Không như truyện ngắn, tiểu thuyết trực tiếp đi vào phản ánh đời sống xã hội, ở du ký, đời sống xã hội được hiện lên thông qua lời bàn luận của tác giả, qua lời kể của các nhân vật. Đọc Một tháng ở Nam Kỳ, từ lời bàn luận của tác giả về Nam Kỳ, hay những dòng miêu tả khái quát, xã hội Việt Nam hiện hình qua hình ảnh đất Nam Kỳ với những nét chung nhất. Nam Kỳ mà Sài Gòn – trung tâm, lúc bấy giờ là một nơi đô hội gọi là “hạt báu của Á Đông”. So với Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore, Sài Gòn hơn hẳn về mọi mặt. Tác giả viết: “Tôi chưa từng được biết những nơi đô hội lớn ở Á Đông như Hương Cảng, Thượng Hải, Tân Gia Ba, nhưng chắc rằng những nơi ấy tuy có lớn, có đông, có sầm uất, phồn thịnh hơn mà về cách sửa sang, sắp đặt, về cái qui mô các đường phố, các lâu đài, về cái vẻ chỉnh đốn sạch sẽ, mỹ miều khả ái, trơn tru mà sán lạn như hạt châu mới rủa thì còn kém Sài Gòn nhiều”(10). Sau đó là những lời tả cảnh Sài Gòn, với đường phố như vẽ, con đường sạch sẽ với cây cối xanh um, bãi cỏ phẳng lì, với nhiều dinh thự, công sở đẹp như: nhà dây thép, tòa án, dinh quan thống đốc Nam Kỳ, nhà hát Tây, nhà Thị Sảnh Sài Gòn…

Nổi bật trong du ký của Phạm Quỳnh, đặc biệt Pháp du hành trình nhật ký, là quan điểm của ông về văn hóa Đông-Tây. Phạm Quỳnh xuất thân từ nhà Nho, nhưng khác với một số nhà Nho khác như Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương, ông có quan điểm riêng về vấn đề này. Trong Pháp du hành trình nhật ký, Phạm Quỳnh cho rằng Đông và Tây có thể hòa hợp, có những cái ta vẫn như Tây, bằng Tây. Có thể nói, giữa Ta và Tây có những mặt cách xa nhau về đường nghĩa lý và con người, nhưng Đông và Tây vẫn có thể kết nối bằng hữu thâm giao. Thông qua việc so sánh về văn hóa, về con người, Phạm Quỳnh chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa Đông và Tây. Qua đó, thể thiện mong muốn gắn kết hai thế giới cách xa nhau muôn trùng về địa lý. Chẳng hạn, về mặt văn hóa, Phạm Quỳnh nêu một số điểm đáng lưu ý như: Diễn thuyết giữa Ta và Tây, so với Tây, Ta còn kém xa hơn nhiều. Nghề diễn thuyết Ta còn chưa biết, chưa có người nói giữa đám đông một cách hùng biện. Ở Tây, đây lại là hoạt động thường nhật, người diễn thuyết nói năng lưu loát, hơn nữa lời ứng khẩu không khác gì lời văn viết. Về văn học, Tây không những có bài văn, thơ hay mà còn có người ngâm thơ, đọc văn tốt, khiến cho văn thơ trở nên hay bội phần. Ta tuy có nhiều bài thơ hay nhưng không có người đọc văn hay, không có người truyền cái hay cho độc giả nên văn thơ Ta kém hơn Tây. Không phải ở Tây, văn sĩ đều là những người đàng hoàng mà cũng có những kẻ văn sĩ không đàng hoàng như Ta. Ở Marseille, tác giả chứng kiến nhiều hạng văn sĩ không ra gì. Xem kịch ở Pháp, Phạm Quỳnh thấy họ diễn kịch Molière, ông cho rằng: Ta cũng có thể sánh một tám, một mười với Tây, chứ không thua xa như ta nghĩ. Xem hội đấu xảo, thấy các kĩ nghệ của người bản xứ bên Tây, tác giả thấy không xuất sắc cho lắm, cũng không hơn gì kĩ nghệ bên Ta. Như vậy, về mặt văn hóa, Ta và Tây vẫn có thể hòa hợp được, có những cái Ta có thể hơn Tây.

Xét góc độ nội dung, tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh đề cập nhiều vấn đề của cuộc sống, ngòi bút tác giả vừa ghi chép những gì thuộc về hiện thực non sông đất nước vừa không quên ghi lại chân dung con người. Tuy nhiên viết về con người, Phạm Quỳnh chỉ đề cập một cách chung chung, trong đó nổi bật là hình ảnh vua chúa, quan lại, danh sĩ, trí thức.

Hình ảnh nhà vua chủ yếu xây dựng qua hai du ký Mười ngày ở Huế Pháp du hành trình nhật ký. Viết về vua chúa, Phạm Quỳnh có thái độ phê phán, cười cợt. Trước một đấng chí tôn chỉ biết cho bản thân mình, không làm rạng danh cho đất nước mà chỉ đem đến sự lố bịch, đáng hổ thẹn, Phạm Quỳnh không ngại ngần chỉ trích. Trong lần họp Hội Đông Pháp hỗ trợ, là người đứng đầu của một nước, đại diện cho biết bao người dân An Nam để sang Pháp dự đấu xảo, thăm Hội Đông Pháp để lưu bút tích nhưng vua chẳng biết viết gì khác ngoài dòng chữ Hán mà người thường còn viết tốt hơn thế. Viết về vua Khải Định, tác giả sử dụng giọng văn trào lộng, châm biếm: “Tưởng chừng đức Chi tôn ta, đương khi mấy trăm con mắt ném ánh sáng vào bàn tay ngọc đó, -ngọc thật, vì ngài thường đeo nhẫn kim cương quý giá lắm, – thời:

                  Tay tiên gió táp mưa sa,

                  Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.

ngay tức thì. Nhưng mà không! Cứ thấy cái quản bút quằn quại trên tay, mà không thấy viết cái chữ gì” (11).

Phạm Quỳnh sang Pháp mang theo niềm tự hào lẫn sự tự tôn dân tộc. Vì vậy mà ông không thể không đau lòng trước một đấng chí tôn đã bôi nhọ lên lịch sử, thanh danh của dân tộc. Nỗi ô nhục đã khiến ông không ngại ngần viết những câu văn thật sâu cay để đả kích, châm biếm.

Hình ảnh quan lại là hình ảnh được tác giả miêu tả nhiều nhất, đó có thể là quan lại ta hay quan lại thuộc Pháp. Họ được nhắc đến trong các du ký Một tháng ở Nam Kỳ, Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký. Họ là những người mà Phạm Quỳnh tin tưởng có thể đem lại nhiều sự thay đổi cho đất nước. Hầu hết, các quan lại được tác giả đề cập là những người có học vấn uyên thâm, có đạo đức, là những người tốt. Viết về nhân vật này, Phạm Quỳnh thường giới thiệu tính cách trong lần tiếp xúc đầu tiên, người thì nhã nhặn, ôn hòa, người lịch thiệp, hòa nhã… Cũng như nhân vật Hoàng thượng, họ không được khắc họa hình dáng bên ngoài mà chủ yếu là tính cách, hành xử.

Tầng lớp danh sĩ, trí thức mà tác giả đề cập trong Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký, là những con người có học vấn uyên thâm, tài cao đức trọng khiến Phạm Quỳnh ngưỡng mộ. Tiêu biểu là cái nhìn của Phạm Quỳnh về cụ Phan Tây Hồ. Khi gặp Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh viết: “Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không biết người. Nay sang đây mới được gặp cụ trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết”(12). Trước những việc cụ đã làm, Phạm Quỳnh cho rằng người có chút lương tâm cũng phải ngậm ngùi, không nên “a dua nhẹ miệng mà gia tiếng thị phi” (13). Thái độ này, Phạm Quỳnh không chỉ dành cho Phan Châu Trinh mà đối với những người chí sĩ yêu nước ông đều có thái độ khả kính, xem họ là những người đứng trên ông một bực, chấp nhận mỗi người một việc mà theo chí hướng riêng. Trong việc Phạm Quỳnh suy tôn Truyện Kiều nhân kỉ niệm Nguyễn Du đã bị cụ nghè Ngô Đức Kế mạt sát: “Họ Ngô đối với tôi vốn không hiềm khích gì. Ông là người quốc sự phạm cũ, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dẫu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông, cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông như bậc đàn anh” (14)

Có thể nói, nhân vật trí thức trong Pháp du hành trình nhật ký chỉ là những hình ảnh chấm phá song họ đều là những người có học thức rộng đáng để ta kính phục, là những người có tấm lòng, tình cảm đáng yêu, đáng mến, Phạm Quỳnh viết về họ với những tình cảm trân trọng nhất, giúp cho người đọc có cái nhìn mới về những con người này.

2.2.2. Phạm Quỳnh và tâm tình viết du ký

Nhận xét về du ký trên Nam Phong tạp chí, Phạm Xuân Nguyên viết “Đọc để hiểu, có thêm tri thức là một lẽ. Đọc những tác phẩm du ký này còn để hiểu thêm nghĩ suy, cảm xúc của những con người đứng ở buổi đầu nền văn hóa văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm đến quốc dân trong một nước đang tìm cách thoát khỏi lạc hậu đến văn minh”(15)… Đọc du ký Phạm Quỳnh, ta như thấy hết tấm lòng, tâm sự. Trước hết, là tâm trạng quyến luyến người thân lúc ra đi trong Pháp du hành trình nhật ký. Đó là tâm trạng bùi ngùi cố quốc tha hương: “Buổi tối này là buổi tối cuối cùng của anh em chúng tôi còn để chân trên đất nước nhà, trước khi dời mình sang những phương xa cõi lạ. Từ Hải Phòng đến Sài Gòn, tuy lênh đênh trên mặt biển, nhưng vẫn chưa ra khỏi hải phận nước nhà; từ đây trở đi mới thật là miền dị vực. Cho nên trước khi từ biệt các bạn Nam Kỳ để xuống tàu, ai nấy cũng cảm thấy có chút cảm động trong lòng, cảm động vì cái thịnh tình của các bạn, cảm động vì cái tư tưởng cố quốc tha hương” (16). Chia tay người thân để đến với một vùng đất xa lạ, ai cũng quyến luyến, bịn rịn trước lúc ra đi. Tâm trạng ấy, ta có thể bắt gặp trong Chư quấc thại hội của Trương Minh Ký trên đường sang Pháp dự hội đấu xảo, Nhất Linh trong Đi Tây, cũng với tâm trjang đó, khi sụt sùi hết bốn chai sâm banh tiễn đưa với tình nhân và tâm trạng quyến luyến khi đồng nhân tiễn lên tàu.

Cảm xúc dồn nén, mỗi chặng đường mang đến tình cảm khác nhau. Rời Hà Nội vào Huế, nơi đất “thần kinh”, nên bao cảm xúc chợt hiện về. Vì thế Phạm Quỳnh viết: “Nhân dịp tế Nam Giao tôi có về chơi Huế, thật là phỉ cái lòng mong mỏi đã lâu nay. Sinh trưởng ở một nơi đô hội mới, không còn tí gì là cái dấu vết cựu thời, mối hoài cổ canh cánh trong lòng. Quan niệm về lịch sử nước nhà, trông quanh mình không có cái cảnh tượng gì đủ  nhắc lại những sự nghiệp lớn lao ở đời trước, tình ái quốc vẫn thường ngang ngang trong dạ”(17).

Là người hay động lòng trắc ẩn, trước cảnh tượng ông già ngồi bên vệ đường khi đến đền thờ bà Liễu Hạnh, Phạm Quỳnh cất lời than: “Than ôi! Khoảng vắng đường dài, trên rừng dưới bể, lão ở đâu đến, lão ngồi chi đây? Hay là lão cực nỗi đời khốn khổ, đem thân tự hiến cho sơn quân? Thương thay!” (18) Con người đa sầu, đa cảm này, ta bắt gặp trong Pháp du hành trình nhật ký, đứng trước điện Panthéon, thấy cậu học trò Pháp mà nghĩ đến mình: “Nhìn nét mặt các người sinh viên đó, như có hào quang của sự học, trong lòng cảm phục cái chí cao của kẻ thanh niên nước Pháp, mà lại bùi ngùi cho cái công học hành dở dang của mình. Than ôi! Mình không phải là không có cái lửa nhiệt thành về sự học, nhưng mà sinh trưởng vào giữa buổi thanh hoàng học không ra gì cả, nho đã chẳng ra nho, mà Tây cũng chằng thành Tây”(19). Buồn cho số mệnh sinh ra lúc xã hội rối ren, không có điều kiện học hành như người ta, Phạm Quỳnh biết thân, biết phận mà cố gắng vượt lên hoàn cảnh. Đến đồn Douaumont, Vaux là những nơi xảy ra chiến tranh Pháp – Đức, tác giả không khỏi chạnh lòng trước cảnh tượng đổ nát, mường tượng cảnh người chết trận mà thương tâm: “Bước chân vào chỗ này, thấy thương tâm vô cùng. Phần nhiều những người đến đây là có cha con anh em chết trận ở gần đây cả, nét mặt rầu rầu, giọt châu lã chã, coi thảm quá!”(20). Phải là người giàu cảm xúc, đầy suy tư mới có những tình cảm, nghĩ suy như thế.

Chưa đến Huế nhưng trong lòng Phạm Quỳnh ngổn ngang nhiều tâm sự. Là một người yêu mến cảnh đẹp non sông đất nước, đặc biệt với Huế ông luôn dành tình cảm ưu ái. Cho nên, tác giả sợ tất cả không như mong đợi: “Tôi chưa biết Huế tôi đã yêu Huế rồi, yêu vì cái nghĩa cao thượng nó cư ngụ ở trong cái tên ấy, yêu vì cái cảm tình vô hạn nó chan chứa trong lòng tôi. Bình sinh tôi học vấn được đến đâu, cảm giác được đến đâu, tư tưởng được đến đâu, hi vọng được đến đâu, bấy giờ tựa hồ như con sông vỡ đê mà tràn ngập cả trong tâm giới tôi vậy” (21). Người ta xưa tức cảnh sinh tình, đây Phạm Quỳnh cái tình đã có tự lâu, bởi như ông nói: “giời đã bẩm sinh cho cái tính luyến cảnh luyến người, bình sinh đã từng biết người nào, cảnh nào, những khi hồi tưởng đến không thể dứt cho đành”(22). Yêu Huế như thế, nên viết Mười ngày ở Huế , Phạm Quỳnh dùng lời lẽ trang trọng và tình cảm thân thương nhất dành cho xứ sở này.

Cùng cảm giác yêu mến Huế, khi đến Paris, Phạm Quỳnh có cảm xúc quyến luyến khung cảnh đất “kinh thành ánh sáng”. Ở đây, nhiều tình cảm, suy nghĩ không theo lớp lang thứ tự nào, cứ ập đến, tràn ngập trong lòng. Viếng thăm hết bảo tàng này đến dinh thự nọ, tiếp xúc cuộc sống tân tiến, xem các buổi văn nghệ, kinh kịch, dự cả những buổi của nhóm nghị viện, cuộc dân biểu chất vấn chánh phủ… mỗi nơi để lại trong lòng Phạm Quỳnh tình cảm khác nhau. Đó là sự tự ti trước văn minh đô hội của Pháp, với thân phận chỉ là anh chủ bút tạp chí An Nam thì sao không tự ti cho được. Có lần, tác giả ngượng ngùng khi được giới thiệu là một “quan to xứ Bắc Kỳ”: “Ông tặng cho mình những lời khen quá đáng, song cũng là một cách lễ phép đó mà thôi. Chỉ trách một điều, là ông lầm đến nỗi giới thiệu mình cho đồng nhân là một “vị quan to xứ Bắc Kỳ!”. Chết nỗi! Cái này giá các ngài trong quan trường bên ta biết thì không khỏi buộc cho cái tội “lạm xưng quan tước”, có lẽ cũng nặng bằng cái tội “lạm đeo huy chương” vậy”(23). Hơn nữa, nỗi tự ti lớn nhất của Phạm Quỳnh là thân phận dân thuộc địa. Tự ti nhưng cũng tự tin, tự hào thay, bởi trước cái văn minh đồ sộ, lâu đời ấy, mình có thể thâm nhập, có thể đứng trên nó mà phê phán, thẩm định. Tiếp xúc nhiều người Tây, được họ tôn trọng, ngạc nhiên trước tài nghệ giỏi giang của mình, đứng trong viện Hàn lâm của Pháp dõng dạc tuyên bố, dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì thì vẽ. Phạm Quỳnh cho nước Pháp thấy một nước thuộc địa nhỏ bé nhưng vẫn có những con người giỏi giang. Tự ti, tự tin nhưng cũng tự giác biết cái thân phận mình, thằng dân thuộc địa với một dân tộc mất tự do, thèm thuồng cái sự bình đẳng, để hai con người ở hai xứ sở khác nhau có thể hòa hợp, quan hệ bằng hữu. Phạm Quỳnh ước ao: “Không nói về đường chính trị, nó lại biệt ra một câu chuyện khác; nói về sự giao tế thường, muốn có cảm tình, tất phải bình đẳng; không có bình đẳng thời tình người dưới đối với người trên không ngoài sự sợ, tình người trên đối với người dưới không ngoài sự thương; thương với sợ ngoài tình cốt nhục trong gia đình, không đủ gây nên sự cảm tình đích đáng”(24). Đặc biệt ở đây, ta còn thấy tính tự trào, đứng trước nền văn minh của Pháp, Phạm Quỳnh thấy được những mặt Tây hơn mình nhưng không đến nỗi tự ti, có mặt mình vẫn có thể so sánh ngang Tây, hay hơn Tây nhưng vẫn không tự tôn quá đáng. Điều cốt lõi ở chỗ, nói như Nguyễn Vĩnh Nguyên: “Những chuyến đi của họ không chỉ có sự trải nghiệm khô khan, kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe mà còn là những chuyến tang bồng, mở mang cái nhìn, sự hiểu biết thế giới, qua đó có thái độ phản biện với chính mình, đất nước” (25). Không như chúng ta ngày nay, có lắm người đi nước ngoài, nhưng dường như mất đi ý thức tự trào, tự tri, rơi vào thái cực một là mặc cảm yếu kém mọi mặt, hai là tự tôn dân tộc quá đáng.

Có thể nói Pháp du hành trình nhật ký là du ký Phạm Quỳnh bộc lộ nhiều về mình. Đó là một con người yêu sắc phục của đất nước. Khi diễn thuyến ở Hội Hàn lâm, mặc cho thiên hạ ngoài phố chỉ trỏ, Phạm Quỳnh chọc quốc phục để thể hiện những gì đẹp nhất của con người An Nam. Con người ấy dù ở dâu cũng hướng về đất nước, muốn làm rạng danh đất nước. Trúc phồn hoa đô hội của Paris, bao người bị mua chuộc như G.Le Nôtre, văn sĩ Henri Heine, bác sĩ Humboltd, Bá tước Rostopchin, Phạm Quỳnh cũng không khỏi bị Paris mê hoặc nhưng tác giả nghĩ: “Song giấc mộng phải có lúc tàn, cuộc chơi cũng có giờ kết. Nào đâu của vạn của nghìn như ai mà dám triền miên nơi lạc cảnh. Trâu được thả rông bãi cỏ tốt, nhưng gọi là nghỉ xác được ít lâu mà thôi; ruộng nhà còn bề bộn, phải mau mau về mà kéo cày trả nợ cho rồi. Nợ nam nhi nghĩ cũng nặng thay, thân yếu ớt gánh sao cho nổi? Thôi thì đã sinh ra kiếp người An Nam, dù sướng, dù khổ, dù sang, dù hèn, cũng tu cái kiếp ấy cho trọn vẹn. Đất nước người đẹp thật, nhưng vẫn là của người; phong cảnh ta dẫu tre gai đất bùn, nhưng vẫn là của ta”(26). Đọc những dòng này, ta nhận ra một con người nặng nợ với đất nước, lo nghĩ đến số phận non sông. Dù ông có những sai lệch về con đường chính trị nhưng đọc du ký, ta lại có cái nhìn lạc quan hơn. Rồi đây lịch sử sẽ công bằng với ông, nói như Nguyên Ngọc: “Lịch sử, trên con đường đi tới của nó, vốn dửng dưng và tàn nhẫn. Phạm Quỳnh, như chúng ta biết, đã có số phận cá nhân bi đát. Nhưng rồi về lâu dài lịch sử cũng lại công bằng. Nó trả lại cho các nạn nhân của nó những giá trị không thể mất của họ”(27)

Trong du ký này, Phạm Quỳnh không chỉ nói những điều mình thấy, những việc mình gặp mà còn bộc bạch đời tư. Tuổi thơ, hoàn cảnh khó khăn, học hành thi cử, con đường hoạn lộ… Có thể nói, theo dõi từ đầu đến cuối du ký, ta thấy Phạm Quỳnh không phải là một con người nghiêm trang, kín đáo trong các thiên nghị luận mà là một người thân mật, hóm hỉnh duyên dáng, có lòng đối với đất nước. Tấm lòng ấy, cần phải được tôn trọng.

  1. Phạm Quỳnh đã đóng góp to lớn cho nền văn hóa của nước nhà. Ông có nhiều bài viết ở nhiều lĩnh vực khác nhau: từ khảo cứu, dịch thuật, phê bình đến du ký… Ông viết bằng chữ Quốc ngữ và cả chữ Pháp. Ở lĩnh vực nào, ở ngôn ngữ nào, Phạm Quỳnh cũng xuất sắc. Nhất là những trang du ký của Phạm Quỳnh đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc nhiều thế hệ. Đọc du ký của Phạm Quỳnh, người đọc không chỉ được thưởng lãm danh lam thắng cảnh của đất nước, biết được giá trị lịch sử, địa lý, phong tục tập quán mà còn hiểu hơn về con người nhà văn: một con người nặng nợ với đất nước, có tấm lòng yêu mến cảnh đẹp của non sông, thiết tha tôn trọng tín ngưỡng của người dân và có ý thức tự trào sâu sắc.

Tuy có những sai lệch về con đường chính trị song công bằng mà nói, Phạm Quỳnh đóng góp nhiều cho sự nghiệp văn học nước nhà ở buổi đầu. Những nỗ lực của ông đã giúp văn học tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa, để từ đó nền văn chương viết bằng chữ quốc ngữ của Việt Nam mới có được sự khởi sắc thời kỳ 1930-1945…

————————

  • Nguyễn Phương Chi: Nhóm Nam Phong, trong sách Từ điển văn học, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, H., 1984, tr.122.
  • Nguyễn Hữu Sơn: Thể tài du ký trên Nam Phong tạp chí (1917-1945). Nghiên cứu văn học, số 4-2007, tr.21.
  • (19), (20), (23), (24), (26) Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký, NXB. Hội Nhà văn, H., 2004, tr.302, 120, 224, 292, 211, 338.
  • Trần Hữu Tá: “Du ký Việt Nammột bộ sách quý. Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, số ra ngày 10/4/2007, tr.10.
  • (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (16) Nguyễn Hữu Sơn (Tuyển chọn, giới thiệu): Du ký Việt Nam, Tạp chí Nam Phong (1917-1934), Tập II. NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2007, tr.152, 99, 504, 106, 337, 55, 56, 257.

(14) Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập, Tái bản. NXB Văn học, H., 2006, tr.13

(15) Phạm Xuân Nguyên: Đọc sách để đi chơi. Tuổi Trẻ, số 205-2007, tr.12,38.

(17), (18), (21), (22) Nguyễn Hữu Sơn (Tuyển chọn, giới thiệu): Du ký Việt Nam, Tạp chí Nam Phong (1917-1934), Tập 1, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2007, tr.25, 32, 36, 34.

(25), (27) Nguyên Ngọc: Rồi lịch sử cũng sẽ công bằng. Tuổi Trẻ, số 336-2007, tr.13

Tháng Mười Một 14, 2017

Phạm Quỳnh – Nhà văn hóa kiệt xuất

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:50 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 11 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp chí

PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

NGUYỄN PHÚC VĨNH BA

(Bài thu từ tapchisonghuong.com.vn lúc 8:49 ngày 16/8/2017)

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Đó là câu nói hàm súc và hay nhất khi đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật lớn lao của tác phẩm này từ một học giả Việt Nam.

Phạm Quỳnh – Nhà văn hóa kiệt xuất

Di ảnh cụ Phạm Quỳnh treo tại chùa Vạn Phước

Câu nói này không những bao hàm một am hiểu sâu xa, một nhìn nhận nghệ thuật về Truyện Kiều – một áng văn chương tuyệt tác có một không hai của nền văn học nước ta – mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ và sâu sắc. Trong câu nói này, ta còn thấy được người phát ngôn đã đánh giá cao và đúng vai trò của văn hóa, nhất là văn học trong sự sống còn của một tộc người sống trong nền văn hóa đó. Ta có thể rút ra nhiều điều bổ ích nữa từ quan điểm này trong thời kì hiện nay lúc mà đang có rất nhiều lời kêu gọi giữ gìn bản sắc dân tộc trước cao trào hội nhập và toàn cầu hóa. Vì sao Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn? Vì sao tiếng ta còn thì nước ta còn? Đó là những vấn đề rất thời thượng. Nhưng trước hết, học giả này là ai?

  1. Sơ lược thân thế Phạm Quỳnh

Ông là Phạm Quỳnh, Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, sau đó Thượng thư Bộ Học rồi Bộ Lại trong Cơ Mật Viện của triều Bảo Đại cho đến khi Nhật đảo chánh Pháp tháng 3/1945. Phạm Quỳnh sinh năm 1892 tại Hà Nội, quê quán làng Thượng Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng mà chúng ta đã biết như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm Thị Ngoạn(1).

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, ông Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Thông ngôn Hà Nội (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương tạp chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút: Tạp chí Nam Phong.

Năm 1922 Phạm Quỳnh được chọn làm Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức nhưng qua đầu năm 1925 ông ly khai với Hội, không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa. Cũng trong năm 1922 ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai trí Tiến Đức tham dự hội chợ triển lãm Marseille. Trong thời gian 3 tháng ở lại Paris ông đã diễn thuyết nhiều lần ở Nghị viện Pháp và Ban Chính trị và Luân lí của Viện Hàn lâm Pháp quốc. Tháng 11 năm 1932 ông vào Huế để tham chính, lãnh chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, Thượng thư Bộ Học rồi Thượng thư Bộ Lại. Năm 1939, ông lại một lần nữa đi Pháp với vua Bảo Đại để điều đình với Chính phủ hầu mong lấy lại Bắc kỳ cho triều đình Huế. Kể từ khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời ông rút khỏi chính trường và có ý định trở lại nghiệp cũ.

Phạm Quỳnh để lại cho đời “Thượng Chi văn tập”, tuyển tập các bài viết rất có giá trị của một nhà báo được xếp vào lớp tiền phong của nền báo chí nước ta, và một số lượng các bài báo khác đã đăng tải trên Đông DươngNam Phong tạp chí. Trong thời kì phôi thai của chữ quốc ngữ, không mấy ai có thể quên được sự đóng góp của ông và các học giả như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật,… những người đồng thời với Phạm Quỳnh và cộng tác với ông trong Nam Phong tạp chí.

  1. Phạm Quỳnh làm báo

Khi làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1917 – 1934, lúc vừa 25 tuổi, ông chủ trương thuyết lập hiến, tiếp thu văn hóa phương Tây để nâng cao dân trí và lần hồi giành lại chủ quyền tự trị đất nước dựa vào hiệp ước Harmand 1883 và hiệp ước Patenôtre 1884 (tức là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp). Phạm tiên sinh đã đặt tên báo dựa vào bài phong dao (tương truyền do vua Thuấn sáng tác) trong Kinh Thi: “Nam Phong ca”:

Nam Phong chi huân hề          南 風 之 薰 兮

Khả dĩ giả ngô dân chi uẩn       可 以 解 吾 民 之 慍

Nam phong chi thời hề            南 風 之 時 兮

Khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề   可 以 阜 吾 民 之 財 兮

Dịch thơ:

Gió Nam mát mẻ vậy thay

Giải tan sầu muộn bao ngày của dân

Gió Nam thổi đúng lúc cần

Sẽ mang phú quý cho dân lâu dài.

                   (Bản dịch của Vĩnh Ba)

Qua bài thơ ta thấy được khát vọng của một nhà làm văn hóa hay tâm tình của một trí thức Tây học trong một thời kì đầy khó khăn của đất nước ta. Vậy “Gió Nam” là gì mà lại đem đến cho nhân dân một ơn ích lớn lao như thế? Theo Phạm Quỳnh, “Gió Nam” chính là nền quốc văn làm nền tảng cho nền quốc học của dân tộc Việt Nam. Ông viết, “Không có quốc văn thì không thể nào có quốc học. Không có quốc học thì không thể nào có độc lập tinh thần. Không có độc lập tinh thần thì không có độc lập chính trị.”(2)

Trong bài viết “Quốc học và Chính trị” trên Nam Phong số 165/1921 ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy… Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.” Nay chúng ta có một nền quốc văn không thua kém gì ai thì xét trong buổi đầu mới manh nha của chữ quốc ngữ, của nền báo chí và của văn học viết, há không trân trọng sự đóng góp của Phạm tiên sinh sao?

Về điều này, Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đã nhìn nhận: “Cái công của Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ… Trong 16 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến… Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết Cổ La-Hy, chỉ đọc Nam Phong là có thể hiểu biết được…” (tr. 134, 136 tập 4, Nxb. Hội Nhà văn).

Tuy nhiên, ta cũng cần biết nền quốc học đó đã được xây dựng trên quan điểm nào? Trên hoành phi còn lại hiện nay ở chùa Vạn Phước, Huế, ta còn có thể thấy thủ bút 4 chữ “Thổ nạp Âu Á” 吐 納 歐 亞 của chính Phạm tiên sinh. Thổ nạp Âu Á là nhả ra những cái lạc hậu cũ và thu nhập vào những tinh hoa của văn minh phương Tây và phương Đông. Bốn chữ này có thể xem là bao quát được quan điểm của tạp chí Nam Phong, chỉ ra phương hướng xây dựng nền quốc học theo ý đồ của Phạm Quỳnh.

Bút hiệu Thượng Chi của ông, theo giáo sư Tôn Thất Quỵ, là trích từ ba câu trong bài thơ “Trữ”, thiên Tề Phong, Kinh Thi cũng nói lên cái ý trên:

Thượng chi dĩ quỳnh hoa hồ nhi  尚 之 以 瓊 華 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh hoa che khuôn mặt (xinh đẹp của cô gái – người viết thêm).

Thượng chi dĩ quỳnh vinh hồ nhi  尚 之 以 瓊 榮 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh vinh che mặt)

Thượng chi dĩ quỳnh anh hồ nhi  尚 之 以 瓊 瑛 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh anh che mặt)

Thượng Chi có nghĩa là lại có thêm, cần có thêm tức thu nhập thêm những cái hay đẹp của các nền văn minh khác (các loại đá quỳnh – Quỳnh cũng là tên của ông, một cách chơi chữ tế nhị) bên cạnh bản sắc dân tộc đáng quý của chúng ta (khuôn mặt xinh đẹp của cô gái).

Chính Phạm Quỳnh đã nói đến cái bản sắc dân tộc đó trong một bài diễn văn trước mặt thực dân Pháp tức Ban lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp: “Chúng tôi là một nước có một nền văn hóa cũ, chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng có thể viết gì lên cũng được. Tức là tờ giấy có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ thuở nhỏ cho đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay kết quả chỉ làm người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hóa được Tây, hẳn thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.”(3)

Lần khác ông đã dám đứng trước Nghị Viện Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một cuốn sách dầy đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hằng mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của người Pháp kia.”(4) Quả là những lời diễn thuyết hùng hồn và sâu sắc vô cùng của một chiến sĩ tràn trề tình yêu đất nước trên mặt trận văn hóa.

Truyện Kiều mà Phạm tiên sinh đề cập đến trong câu nói thời danh trên của ông chẳng qua là một biểu tượng của nền văn hiến mấy ngàn năm của dân tộc ta, là bản sắc dân tộc quý giá mà muôn đời trước cha ông ta để lại được thể hiện qua thành tựu văn học. Nó thể hiện đỉnh cao của nền thi ca dân tộc mà thông qua đó ngôn ngữ, cách diễn đạt, tầm hiểu biết, trình độ cảm nhận của một tộc người đã bộc lộ. Rất nhiều điển cố, hình tượng văn học, thi ca ngôn ngữ Trung Quốc được Việt hóa thành một vốn liếng văn hóa cho ta bên cạnh bản sắc riêng của dân tộc ta. Ta giữ được vốn liếng văn hóa tập quán đáng quý của cha ông qua yêu thích, trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu Truyện Kiều thì còn tiếng nói, còn dân tộc giống nòi, đó là một lẽ tất nhiên mà ai ai cũng nhận ra. Tiếc thay vì bất đồng quan điểm chính trị khiến cuộc bút chiến Truyện Kiều đã xảy ra giữa các sĩ phu yêu nước thời đó. Bình tâm mà xét, ta thấy rằng Phạm tiên sinh rõ ràng muốn xây dựng và phát triển một nền quốc học dựa trên bản sắc tốt đẹp của dân tộc và có tiếp thu tiến bộ của cộng đồng nhân loại. Điều quan trọng hơn như ta đã thấy qua một số trích dẫn trên rằng cái mục tiêu cuối cùng Phạm Quỳnh tiên sinh muốn nhắm đến là một nền độc lập chính trị cho một quốc gia có dân trí.

  1. Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí với hơn 210 số, mỗi số hơn 400 trang là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ. Tạp chí Nam Phong mỗi tháng xuất bản một kỳ, giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh ấn quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội.(5) Tiền thân của Nam Phong tạp chí chính là “Âu châu chiến sử” viết bằng Hán tự được Phủ Toàn quyền Pháp xuất bản và phát không tại Trung Quốc nhằm chống lại thế lực và tố cáo tội ác của phát xít Đức. Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác đã viết cho báo này. Về sau Phủ Toàn quyền bàn với ông mở ra một bản tiếng Việt nên Nam Phong mới xuất hiện. Phạm tiên sinh đã nói rõ ý đồ của ông khi nhận làm Nam Phong như sau:

“Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…”.(6)

Theo nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ trong “Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên”, tập III tr. 129 thì đối với Phạm Quỳnh, việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ từ ngày viết trên Đông Dương tạp chí, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa một nền học thuật mới thay thế cho Hán học suy tàn. Luôn thể Phạm Quỳnh muốn dần dà gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hóa. Ngày nay “Thượng Chi văn tập” và “Du ký Việt Nam”, “Luận giải Văn học Triết học” v.v, đã được tái bản có thể giúp ta thấy được sự nghiệp to tát của Nam Phong tạp chí. Thượng Chi Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đã phần nào thực hiện được cái tôn chỉ mà tờ báo đã đề ra: xây dựng một nền quốc văn khá vững vàng mang bản sắc dân tộc. Trong Tự điển Văn học Việt Nam (Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1993) Phạm Quỳnh lại có tên bên cạnh các tác giả khác. Điều đó cho thấy nay ông đã được công nhận trở lại là một danh nhân văn hóa Việt Nam.

Phạm Thượng Chi tiên sinh cũng như bao nhà yêu nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 đều biết rằng dân trí của ta đương thời còn lạc hậu. Nền Hán học đã bộc lộ sự bất lực của mình trước nền văn minh kĩ thuật phương Tây ngày càng tiến bộ. Ngay cả ở Trung Quốc các chí sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… đều từ bỏ chế độ phong kiến quân chủ để tìm đến các lí tưởng nhân quyền, dân chủ và tự do mà các triết gia phương tây như Montesquieu, Voltaire, J.Rousseau,… đề xướng. Nhưng để tiếp thu được các tư tưởng tiến bộ phương Tây và bảo thủ được cái quốc hồn quốc túy thì không thể không xây dựng một vốn liếng ngôn ngữ Việt Nam nhằm diễn đạt các tư tưởng mới mẻ đó. Quả nhiên trong lãnh vực này Nam Phong đã đóng một vai trò quan trọng. Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đã nhận xét: “Ông là người đã chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được.” (tr.98, tập 4, Nxb. Hội Nhà văn).

Có thể nói Phạm Quỳnh đã tiếp nối con đường được mở ra trước đó của Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông cùng quan điểm với cụ Phan Tây Hồ khi chọn con đường nâng cao dân trí, khai hóa cho đồng bào và đấu tranh bất bạo động. Trước khi rời Nhật Bản về nước, cụ Phan Chu Trinh đã tâm sự với các đồng chí trong phong trào Duy Tân: “Tôi có định kiến rồi, công việc chúng ta làm ngày nay chỉ nên chú trọng vào việc khai hóa cho đồng bào mình, tiến được bước nào chắc bước ấy, mới mong có hy vọng về sau. Còn như chủ nghĩa muốn làm mau, muốn lấy võ lực mà bạo động trong nước hay là sức người để nối quân cách mệnh, việc ấy tất nhiên phải thất bại, tiếp đến dân bị khủng bố, nhuệ khí bị nhụt đi. Không có ích gì, tôi không tán thành cái chủ trương ấy”.(7)

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã tóm tắt sự nghiệp văn hóa của Phạm Thượng Chi tiên sinh như sau:

* Tác phẩm:

– Văn dịch: Phương pháp luận (Descartes), Sách cách ngôn (Epictète), Đời đạo lí (P.Carton), Le Cid, Horace (Corneille), Thơ của Baudelaire, Tư tưởng của Barrès, Le Bon, Maurras,…

– Khảo luận: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lí học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết của J.J. Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Triết học của Auguste Comte, Triết học của H. Bergson, Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của P. Bourgel, H. Bordeaux, G. de Maupassant, Afred de Vigny, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn.

– Văn du ký: Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ, Pháp du hành trình ký, Thuật truyện du lịch Paris, Du lịch xứ Lào. (Sđd tr. 134).

* Công nghiệp:

– Ông đã đấu tranh cho câu văn quốc ngữ. (Học tiếng Việt, viết văn quốc ngữ, luyện văn xuôi, văn nghị luận, dùng Hán Việt âm,…).

– Ông đã khởi công xây dựng một nền học mới. (Học tập thâu thái Tây Phương, soạn Tự điển, phiên dịch sách vở nước ngoài,…).

– Ông đã cùng giúp cho văn nghệ tiến bộ. (Mở ra các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… còn giá trị đến ngày nay.).

– Ông đã lập được một tạp chí có giá trị: Nam Phong tạp chí. Theo nhà phê bình Thiếu Sơn “nhiều người không biết văn Tây văn Tàu có thể chỉ nhờ đọc Nam Phong mà có được cái trí thức phổ thông về văn chương và học thuật Đông Tây” hay nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đó là một “bách khoa toàn thư” (Sđd tr.244 – 247).

Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, Thế hệ 1932 đã viết: “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 -1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hóa thế hệ 1913 – 1932. Câu nói trên đây quả không phải là quá đáng. Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919 – ghi chú của người viết) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đem đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 – 1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. Nói như vậy để các bạn ghi nhận thế giá và uy tín của Nam Phong nó to tát đến như thế nào. Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.” (Sđd tr.16-17). Dẫu đây là một ý kiến có phần chủ quan nhưng Thanh Lãng cũng đã cho ta thấy được sự đóng góp có một không hai trong thời kì đầu của công cuộc phát triển nền quốc văn nước ta.

Quả nhiên, Phạm Quỳnh đã thực hiện được ước nguyện của mình với Nam Phong tạp chí. Ông đã tập hợp được một số trí thức tân học và cựu học để xây dựng một nền quốc học, tạo được một cao trào nâng cao dân trí sôi nổi, gây được một thế lực dân tộc khá mạnh. Ta không nên hiểu những thành tựu của Nam Phong tạp chí là của riêng Phạm Quỳnh mà là dưới sự dẫn dắt lèo lái tài ba của ông. Một lớp thanh niên đông đảo đã hưởng được ơn ích từ sự mở mang từ kiến thức đến tinh thần qua đọc báo Nam Phong, làm cơ sở cho phát triển nền văn chương học thuật sau này. Để hiểu rõ hơn đóng góp của tạp chí Nam Phong trong thời kỳ văn học này đòi hỏi một công trình nghiên cứu nghiêm túc và dày công, điều đó ở ngoài nội dung của bài viết này.

  1. Phạm Quỳnh tham chính

Khi Phạm Quỳnh được ra chấp chính với chức vụ Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học tháng 11 năm 1932, trong dân chúng truyền tụng câu vè: “Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình Thượng thư.” Quả là oái oăm cho một học giả rất nghiêm túc như ông. Có phải vì tham chức quyền mà ông rời bỏ sự nghiệp văn học của mình chăng?

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước. Vị vua Tây học này đã thực hiện ý đồ tân hóa và trẻ hóa đội ngũ bằng cách thay 6 vị lão thần Thượng thư của Cơ Mật Viện bằng những người trẻ tuổi “Âu Á kiêm thông” trong hai gương mặt sáng giá đó là các ông Phạm Quỳnh (Bộ Học) và Ngô Đình Diệm (Bộ Lại). Dân gian nhắc nhở sự kiện này qua bài thơ châm biếm: Năm cụ khi không rớt cái ình/ Đất bằng sấm dậy xứ Thần Kinh. Tuy nhiên sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh không phải là điều khiến ông được nhắc nhiều về sau.

Trên nhiều diễn đàn và trang báo trong nước có nhiều bài viết, nghiên cứu đánh giá rất sâu sắc về những đóng góp của ông về mặt văn hóa. Còn về chính trị thì ta nên tham khảo ý kiến cách đây hơn 60 năm của Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn. Viên quan thầy người Pháp này đã không nhầm khi viết trong báo cáo ngày 08/01/1945 cho Toàn quyền Decoux và Tổng đại diện Mordant về ông Phạm Quỳnh:

“Viên Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của mình.

Một lần nữa, vị Thượng thư Bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng thư Bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà vua những biểu hiện của một chủ quyền trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh còn dọa sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với Hoàng đế Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vụ chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.

Tôi lưu ý Ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyến nổi của nền độc lập Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho đến nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản.”(8)

Hóa ra việc viết văn làm báo rồi làm chính trị của Phạm Quỳnh đều phát xuất từ một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc vì một nền văn hóa nước nhà, vì một nền độc lập chính trị cho Tổ quốc. Để hiểu hơn nữa việc Phạm Quỳnh tham gia chính trị thì có lẽ ta tin được một người đương thời với ông: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Trong “Đời viết văn của tôi” (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1971) Nguyễn Công Hoan đã viết:

“Khi viết truyện Kép Tư Bền tôi liên tưởng tới bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm chính là trường hợp Phạm Quỳnh!… Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, ông được cấp 600 đồng mỗi tháng. Món tiền này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng, trái với ý mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm.”

Bi kịch của Phạm Quỳnh là ở đây. Ông đã đem cái hồn nhiên của một người làm công tác văn học vào sân khấu chính trị, ôm cái ảo tưởng chân lí sẽ thắng cường quyền, tin vào việc đấu bằng nghị trường, bất bạo động sẽ giành được chủ quyền cho Tổ quốc Việt Nam mến yêu của ông. Ông đã quá thơ ngây khi trích dẫn ngay trên bìa báo Nam Phong lời của Roosevelt: Có ngang tầm với nhau mới có chuyện bình đẳng (Il n’y a que ceux qui sont des égeaux sont égeaux) và tuyên bố với Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà Nội ngày 06/11/1931 dưới hình thức một bức thư ngõ rằng “chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm Tổ quốc mà chưa thấy Tổ quốc ở đâu. Tổ quốc ấy, thưa Ngài Tổng trưởng, không thể nào là nước Pháp được”(9). Chính trị không giản dị như thế. Phạm Quỳnh biết mình lầm, vâng ông đã rất tiếc cho lòng tin của ông vào nước Pháp văn minh trí thức với lí tưởng công bằng, tự do và bác ái.

  1. Phong cách Phạm Quỳnh

Sau khi hiểu được tâm tình của Phạm tiên sinh, ta nên tìm hiểu một chút về nhân cách của ông. Ông sống rất giản dị, không nặng nề phô trương hình thức và thế lực như ông Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Phạm Thế Ngũ  trong “Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên” đã trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ nữ Tân văn ngày 18/06/1931 và ngày 16/07/1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của các ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, cho ta thấy rõ ràng sự tương phản nói trên. Về ông Phạm Quỳnh thì “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi tòa soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh… Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hòa nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”, còn về ông Nguyễn Văn Vĩnh thì “Tầng trên lầu là tòa soạn báo Trung Bắc Tân Văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong tòa soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”.(10)

Tương truyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trước một lò trầm và mặc khăn đen áo dài như đang cử hành một nghi lễ. Quốc phục khăn đen áo dài luôn luôn được ông mặc nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc nước nhà của Phạm tiên sinh. Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làm cho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi. Có người cho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất là với một thanh niên Tây học ta mới thấy quý một nếp nhà còn được gìn giữ và tự hào. Điều nhắc nhở chúng ta là trong hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo của các nước lớn trên thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Pháp,… đã hân hạnh được tặng và mặc bộ quốc phục như trên.

Khi mới hai mươi mấy tuổi đầu, ông đã tập hợp được những người lớn tuổi cùng cộng tác. Chính ông đồ Nguyễn Bá Học đã công khai khâm phục tài năng của người trai trẻ này qua câu nói “Bách tuế lão ô bất như sơ sinh phượng hoàng” (Con quạ già 100 tuổi cũng không bằng con phượng hoàng mới sinh). Khi khăn đen áo dài diễn thuyết trước Quốc hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hóa của Việt Nam, Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhưng ông đã làm trí thức Pháp kinh sợ với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nước nồng nàn hơn các trí thức Việt Nam Tây học khác tại Pháp có bằng cấp cao hơn nhiều. Giải thích việc tránh cuộc bút chiến về truyện Kiều với ông đồ Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh đã nói, “Bất luận tài học ông Nghè Ngô như thế nào, ông có điều hơn đứt tôi là ông đã vì nước mà phải tù tội… Nếu thành ra một cuộc cãi lộn thì tất phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ, ông mục cho tôi là văn sĩ lóp lép thì tôi nể gì ông mà không tặng ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá còn ra sự thể gì.”(11)

Không thích ông phải kể đến nhóm Phong Hóa. Họ đã làm vè như sau: Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai là sừ Uỳnh/ Một sừ béo núng rung rinh/ Một sừ lểu dểu như hình cò hương/ Không vốn liếng chẳng ruộng nương/ Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu… (Báo Phong Hóa số 14 ngày 22/07/1932). Phê bình một học giả từng diễn thuyết trước Nghị viện Pháp bằng thơ vè vớ vẩn như thế chỉ làm tăng thêm thế giá của ông Phạm Quỳnh.

Một người nữa không mấy thích ông Phạm Quỳnh là Đổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Khắc Hòe. Khi vua Bảo Đại sai ông soạn đạo Dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách nói chung thì ông Hòe lại thảo tờ Chỉ (thấp thua 2 cấp: Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Lại bộ Thượng thư Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên. Phạm Khắc Hòe viết: “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14/03/1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua Bộ Lại nói chuyện.”(12) Thâm nho như Phạm Thượng thư mà lại xử sự như thế thật là quá mã thượng.

Xét về hai mặt đức tài, ông Phạm Quỳnh đúng là một sĩ phu có thực học và công phu hàm dưỡng dẫu rằng ông thường tự khiêm tốn gọi mình là “một anh đồ nhà quê”. (un lettré compagnard).

  1. Nơi an nghỉ cuối cùng của Phạm Thượng Chi

Phạm Quỳnh mất năm 1945 khi ông mới 53 tuổi lúc đang mang trong lòng bao hoài vọng cống hiến cho nền văn hóa nước nhà sau khi rút khỏi vũ đài chính trị. Ông sống ở Huế khá lâu, 13 năm và cũng gởi nắm xương tàn trên đất Huế, chùa Vạn Phước.

Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) và bên hông phải của chùa Từ Đàm. Sinh tiền, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này lúc thư nhàn để đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hòa thượng trụ trì chùa lúc ấy. Chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông cũng rất thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn “Phật giáo lược khảo”. Âu cũng là một thiện duyên mà giờ đây giác linh Phạm Tiên sinh còn nghe được tiếng chuông và lời kinh của đấng Từ Phụ. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ biểu ở cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương câu nói lừng danh của ông “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Ở bình phong tiền có câu “Tiếng ta con, nước ta còn” viết bằng chữ Quốc ngữ. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (南 風 主 筆 范 瓊 尚 之 遺體 – Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi), bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật (乙 未 年 十 二 月 十 八 日 – Ngày 18/12, năm Ất Mùi, tức 09/02/1956) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền vào Huế (có tư liệu nói ông được đem vào từ rừng Hắc Thú, Quảng Trị). Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (男 范 璧 仝 弟 妹 等 恭 誌 – Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi). Vào năm 2016, con cháu của Phạm tiên sinh đã trùng tu lại mộ phần và dựng tượng cụ. Trong chùa Vạn Phước cũng còn nhiều di vật của ông. Ở nhà học của tăng sinh là hoành phi có câu Thổ nạp Âu Á, thủ bút của Phạm tiên sinh. Có tư liệu cho rằng có một hoành phi tương tự hiện tại nhà của người con trai áp út là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong hiên của điện thờ chính chùa Vạn Phước về phía trái khi đi vào còn có bức ảnh lớn hình Phạm tiên sinh đang làm việc tại văn phòng.

Biệt thự Hoa Đường thuộc đường Hải Triều (trước đây là đường Vạn Vạn) nhìn ra sông An Cựu và cách đường Hùng Vương về phía trái khoảng chừng 2km. Ngày xưa đây là một ngôi nhà 2 tầng xây theo kiểu Tây mà bây giờ chỉ còn lại cái tháp nước bên hông nhà trơ gan cùng tuế nguyệt. Cả khuôn viên đã bị lấn chiếm bởi những người không bà con gì với Phạm Thượng thư. Tất cả là những căn nhà tôn lụp xụp hoặc nhà trệt thấp, nhỏ như một xóm lao động nghèo khó. Khó ai có thể tưởng tượng được đây từng là một biệt thự xinh đẹp của một quan đầu triều ngày nào.

Dâu bể đã đổi thay nhưng lòng ngưỡng mộ Phạm Thượng Chi tiên sinh vẫn còn mãi trong lòng bao nhân sĩ Việt Nam.

N.P.V.B
(TCSH341/07-2017)

—————-

(1) Bà là con thứ 6 của Phạm Quỳnh và là vợ của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng là chủ  bút Nam Phong ở giai đoạn cuối 1933 – 1934. Ông Lãng về sau đã theo tướng Nguyễn Sơn và tiếp  tục các hoạt động văn hóa. Bà còn có bút hiệu là Liên Trang, đã từng viết một luận án tiến sĩ văn  chương về Những đóng góp của Nam Phong tạp chí trong buổi đầu của nền quốc học Việt Nam.

(2) Nam Phong tạp chí số 146, tháng 7/1931.

(3) Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ Tư, 19/7/1922.

(4) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, Quốc Học tùng thư, tập
III, tr. 149.

(5) Theo nhà báo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 05/11/2005.

(6) Phạm Thế Ngũ, sđd tr. 129.

(7) Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê, Nxb. Lá Bối, Sàigòn, 1968.

(8) Theo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 12/11/2005.

(9) Báo Nam Phong số 166, Octobre 1931, phần phụ lục tiếng Pháp.

(10) Phạm Thế Ngũ, sđd, tr. 127.

(11) Phạm Thế Ngũ, sđd tr. 154.

(12) Những ngày cuối cùng của triều Nguyễn, Trần Huy Liệu & Phạm Khắc Hòe, Nxb. Thuận  Hóa, Huế, 1992, tr. 15.

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 11 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp chí

NHẬN DIỆN LẠI NAM PHONG TẠP CHÍ

(Bài thu từ tapchisonghuong.com.vn lúc 10:04 ngày 19/7/2017)

Nam Phong tạp chí tồn tại qua 17 năm (1917 – 1934) với hơn 210 số, song dấu ấn của nó vang mãi, đến 100 năm sau vẫn còn nhiều giá trị được ghi nhận thêm cũng như cần đánh giá lại.

Từ lúc ra đời, Nam Phong đã khiến tầng lớp nhà văn, trí thức ở Việt Nam say sưa theo dõi. Người ta có thể học được trên mặt báo nền văn minh phương Đông, văn minh Pháp, tư tưởng nước Nhật, Tàu, và âm hưởng thi phú Hán ngữ đầy sinh khí thời cuộc. Giới phê bình đánh giá Nam Phong như một bách khoa toàn thư, giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm; các nhà biên tập của Nam Phong là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Chủ bút Phạm Quỳnh – một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây, qua Nam Phong tạp chí, cụ Phạm đã nêu cao tinh thần gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước, đồng thời xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Chuyên đề 100 năm Nam Phong tạp chí, qua góc nhìn chuyên sâu của các nhà nghiên cứu ở Huế và Hà Nội, Sông Hương hầu mong độc giả có được cái nhìn đầy đủ, xác thực hơn về nhà văn hóa kiệt xuất Phạm Quỳnh và tờ tạp chí đã không dễ dàng đứng vững trong thời kỳ biến động của đất nước; trong đó người chủ bút như vị thuyền trưởng đã chèo lái con thuyền ấy.

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí   

PHẠM PHÚ PHONG

“Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học.”(1) (Thiếu Sơn)

  1. Số đầu Nam Phong tạp chí ra ngày 1/7/1917, tính đến nay đã tròn 100 năm. Đây là tờ báo bách khoa nguyệt san, khổ 19×27,5cm, gồm hai phần: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, mỗi phần có khoảng từ sáu mươi đến bảy mươi trang. Bắt đầu từ năm 1923 trở về sau, tạp chí có thêm phần phụ trương bằng chữ Pháp và từ số 195, ra ngày 1/5/1934, Nam Phong chuyển thành bán nguyệt san, nhưng chỉ tồn tại đến cuối năm thì đình bản. Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh chính trị của phủ Toàn quyền Đông Dương là người đứng ra sáng lập tạp chí, Phạm Quỳnh (hàn lâm viện trước tác) làm chủ bút phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (hàn lâm viện thị giảng) làm chủ bút phần chữ Hán và ông Lê Văn Phúc, chủ nhà in Đông Kinh làm quản lý kiêm luôn việc phát hành báo. Tòa soạn đóng tại số 80 phố Hàng Gai, Hà Nội. Qua 17 năm tồn tại, nhân sự của ban biên tập cũng có sự vận động thay đổi: Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng (1917 – 1922); Phạm Quỳnh, Lê Dư (phụ trách phần chữ Hán thay cho Nguyễn Bá Trác), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long (1922 – 1925), Nguyễn Trọng Thuật (thay Phạm Quỳnh), Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Kỷ, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, và một số văn nhân thi sĩ phương Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Văn Kiêm, Trúc Hà (1925 – 1932); Nguyễn Tiến Lãng, Lê Văn Phúc, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Đình Thạch.

Nam Phong được thành lập theo “chủ thuyết” của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, một người đã từng làm báo, từng là biên tập viên thường trực cho tờ La Depêche du Midi ở Toulouse, hiểu rất rõ về sức mạnh của báo chí, nên mục tiêu của tờ báo là quá rõ ràng, là nhằm “cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngỏ hầu họ quan niệm được cái vai trò của người Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết… Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh phục và nhóm người nầy lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gửi mua từ bên Tàu trước đây”(2). Ngay cả việc in câu nói của Tổng thống Mỹ Roosevelt lên trang bìa của tạp chí, cũng cho thấy dụng ý chính trị của thực dân: “Có đồng đẳng mới bình đẳng được”. Câu nói như một lời đề từ, vừa khuyến dụ, vừa có ý chê bai trình độ văn minh thấp kém của người An Nam. Cái tên Nam Phong bắt nguồn từ bài cổ thi của Trung Hoa dưới thời vua Thuấn (2.255 năm TCN) với cái nghĩa là ngọn gió khai hóa, cải tạo xứ An Nam.

Ngoài mục tiêu ca ngợi người Pháp, phổ biến nền văn minh Pháp, A.Sarraut và L.Marty còn muốn dùng Nam Phong cách ly sự ảnh hưởng của người Trung Hoa đối với nước ta, đồng thời chống lại sự tuyên truyền, nói xấu của người Đức đối với người Pháp ở các nước thuộc địa, khi ở bìa sau của tạp chí có in hình “rồng Nam phun lửa diệt Đức tặc”. Louis Marty cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tờ báo này nay tên là Nam Phong, viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Nho, nhằm mục đích gieo rắc một cách khéo léo và sâu đậm ảnh hưởng của nước Pháp vào giới sĩ phu ở khắp ba kỳ, kể luôn các tỉnh Trung Hoa giáp giới Bắc Kỳ”(3). Vì vậy, hàng tháng chính phủ thuộc địa đã trợ cấp cho tạp chí 400 đồng, nhằm hỗ trợ chi phí cho tòa soạn và ấn loát (4, tr.211).

  1. Về nội dung, những số đầu Nam Phong gồm có tám mục: luận thuyết, văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, văn tuyển, tạp trở, thời đàm và cuối cùng là tiểu thuyết. Về sau, tạp chí có thêm những mục như tùng đàm, hài văn kỷ yếu, tồn danh thần lục, yếu lược về kinh tế. Nhưng làm nên hồn cốt, diện mạo đặc sắc và khẳng định vị trí của Nam Phong là các chuyên mục văn học, triết học và khoa học. Về triết học, tạp chí chủ trương truyền bá tư tưởng triết học của phương Tây, nhằm cải biến nhận thức truyền thống của người Việt thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng triết học Nho giáo, dịch và đăng những công trình triết học của Déscartes, Bergson, Voltaire, Julessimon, J.Rousseau, Montesquieu…(Chẳng hạn, Phạm Quỳnh dịch và giới thiệu học thuyết của Voltaire in trên số 114, hoặc Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) dịch thuyết Tự do luận của Julessimon in trên số 121). Ngay trong Mấy lời nói đầu in ở số đầu tiên, ra ngày 1/7/1917, chủ bút Phạm Quỳnh đã nói rõ: “Trong những bài bình luận về triết học, chúng tôi lấy cái chiết trung chủ nghĩa làm cốt, nghĩa là không thiên về một học thuyết nào, cái nào hay cũng thâu nhặt lấy. Nhưng cái tôn chỉ của chúng tôi là giúp cho sự tiến bộ của quốc dân về đường tri thức, về đường đạo đức, thì tất khuynh hướng về cái “duy tâm chủ nghĩa” hơn là cái “duy kỹ chủ nghĩa”. Vậy về đường tư tưởng, chúng tôi thiên trọng cái triết học của nước Pháp, vì cái triết học Pháp thực là gồm cả bấy nhiêu cái khuynh hướng “duy tâm”, “duy tha” mà thực tế đáng làm mẫu cho cái lý tưởng mới của ta”. Về văn học, tạp chí dịch và giới thiệu văn học Hy La, các tác giả văn học Pháp như thơ của Charles Pierre Baudelaire, truyện ngắn của Guy de Maupassant… Văn học trong nước được giới thiệu ở mục văn tuyển, chọn đăng thơ của các tác giả thành danh trong quá khứ (Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khóc quan thượng thư Vân Đình Dương Khuê, Đùa ông bạn điếc của Nguyễn Khuyến…), thơ của các tác giả đương thời (Đông Dương tổng ca của Tôn Thất Pháp, Chơi chùa Ngũ Hành, Tới Ải Vân không gặp bạn của Trần Hữu Giương…), hoặc văn xuôi, mà chủ yếu là truyện ngắn (Lòng yêu nước của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Đồng tiền nói chuyện của Điếu Hoàng…). Về khoa học, tạp chí giới thiệu những phát minh/ kiến thức mới mẻ của phương Tây, như bài viết về kỹ thuật đóng tàu ngầm của kỹ sư người Pháp Laubeuf, bài Tâm lý học-định lệ của cảm giác (Nguyễn Triệu Luật dịch), hoặc các bài viết về khoa học thường thức như Mấy lời về phép vệ sinh (Phan Khôi dịch), Bệnh lao có chữa được không của Phạm Quỳnh, Cái hại thuốc lá của Mã Nhân… Nhìn chung, nội dung tạp chí đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của con người, xứng đáng với sự tôn vinh là bách khoa tạp chí đương thời. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Muốn hiểu biết những vấn đề tôn giáo hay văn học, những thơ văn Việt Nam từ xưa cho đến thế kỷ thứ XIX, để hiểu hơn lịch sử hay cuộc đời của những nhân vật lịch sử Việt Nam, những vấn đề chính trị hay xã hội Âu châu… chúng ta chỉ cần đọc theo dõi tạp chí này. Chỉ cần đọc tạp chí Nam Phong cũng có thể mở mang kiến thức được” (5, tr.210).

Về hình thức, tùy thuộc vào nội dung phản ánh và khuôn khổ của các chuyên mục mà các tác giả lựa chọn một thể tài để chuyển tải thông tin đến với người đọc, trong đó đáng chú ý là những bài bình luận hoặc những phản ánh có tính chất phóng sự, đã cung cấp một nội dung chuyên sâu về một vấn đề tư tưởng, văn hóa – xã hội. Tạp chí có đăng tải thể tài tin, nhưng thường nằm trong mục tạp trở hoặc thời đàm, phản ánh những sự kiện diễn ra trong tháng trước, về chính trị, văn hóa, ngoại giao của thế giới, mà chủ yếu là của nước Pháp. Về tin trong nước, tạp chí đăng tải những sự kiện liên quan đến các hoạt động và công việc của các chính khách Pháp ở nước ta và các quan lại triều Nguyễn. Tất nhiên, tin thời kỳ này còn hạn chế về kết cấu, thiếu sự cô đọng, súc tích, đôi khi tối nghĩa. Chẳng hạn, tin sau đây in trên số 19 (1919): “1 tháng 1 (năm 1919) – Điện Paris: Quan giám quốc Wilson từ Paris đi sang chơi bên Ý-đại-lợi (Italia) thăm vua Ý/ Tới thành Rome là kinh đô nước Ý, vua cùng hoàng hậu ra đón, nhân dân nghênh tiếp thật long trọng. Quan Wilson đến thăm điện Panthéon là nơi lăng tẩm các vua Ý. Ngài lại đến Capitole là thị sảnh thành Rome, dân tặng ngài chức công dân thành Rome. Ngài vào yết kiến đức Giáo Hoàng ở điện Vatican. Ngày 5 tháng 1 ngài từ Rome đi ra thành Gênes, quê ông Christophe Colomb là người đã tìm ra châu Mỹ trước nhất, năm 1692. Ngài mang một vòng hoa đến viếng mả ông, có đọc mấy lời, nhân dân nghe rất cảm động, có người muốn nắm lấy vạt áo, cầm lấy tay ngài mà hôn. Ngày 7 lại trở về Paris”. Bình luận là thể tài chiếm ưu thế trên tạp chí Nam Phong. Ít nhất có ba chuyên mục được đặt tên là bình luận: văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, và ngay cả các chuyên mục khác không gọi tên là bình luận, nhưng đều được viết dưới dạng bình luận: Tiếng dùng trong quốc văn (Nguyễn Văn Ngọc, số 19), Bàn về tiếng An Nam (Dương Quảng Hàm, số 22), Chữ Pháp có dùng quốc văn An Nam được không? (Thượng Chi, số 22), Đàn bà phương Đông (Nguyễn Đôn Phục, số 101)… Phần lớn những bài bình luận đều sử dụng phương pháp diễn dịch, chứ không phải quy nạp, nên thường diễn giải dài dòng, thiếu sự chặt chẽ trong kết cấu. Điều đáng chú ý là trên tạp chí này đã xuất hiện một số bài viết có tính chất phóng sự – du ký có giá trị bền vững, được coi là sự mở đầu cho phóng sự hiện đại trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta những năm đầu thế kỷ XX: Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khuê), hoặc các phóng sự dài kỳ Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)…

  1. Như đã nói, Nam Phong ra đời với mục tiêu chính trị rõ ràng nhưng, các nhà biên tập của nó là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Đương thời, nhà phê bình văn học Thiếu Sơn từng cho rằng, “có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Những học giả chỉ cần đọc tạp chí này cũng có được một kiến thức rộng rãi. Và trong khi đọc tờ Nam Phong người ta cũng có thể học hỏi được nền văn hóa phương Đông” (6, tr.176). Đăng tải những tác phẩm văn học nước ngoài, không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thành tựu, đánh thức và vun đắp thị hiếu và năng lực thẩm mỹ, mà còn mở ra môi trường giao lưu văn hóa, tiếp thu và phát triển các yếu tố văn hóa hiện đại. Những thành tựu nổi bật của nền văn học Pháp thế kỷ XIX lần đầu tiên được giới thiệu với độc giả nước ta, với nhiều trường phái, nhiều trào lưu, nhiều hệ thống quan niệm. Chỉ tính riêng tiểu thuyết, Nam Phong đã trình chánh nhiều tác giả tiêu biểu của văn học Pháp như Alfred Victor de Vigny, Henry Bordeaux, Paul Bourget, bên cạnh tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa, như Tuyết hồng lệ sử, Song phượng kỳ duyên, Lục mẫu đơn, Phong kiếm xuân thu… Về văn học trong nước, Nam Phong ủng hộ và tạo điều kiện cho nhiều khuynh hướng mới trong văn học ra đời và khẳng định vị trí trong lịch sử văn học nước ta. Những tác phẩm văn xuôi được coi là mở đầu cho dòng văn học hiện thực phê phán ở nước ta, đều xuất hiện trên tạp chí này: Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (in số 18/1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học (in số116/1920) hoặc bài thơ Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị làm thay lời vợ vua Thành Thái thương nhớ đến chồng (vua Thành Thái) con (vua Duy Tân) bị chính quyền thực dân đày sang châu Phi (in số 112/1919)… Là sự tiếp tục và thay thế cho Đông Dương tạp chí đã bị tàn lụi và “thay tên đổi họ”, nhưng Nam Phong còn làm được nhiều hơn thế, có tầm ảnh hưởng trong đời sống tinh thần tư tưởng, văn hóa – văn học cả nước, nơi thu hút và qui tụ nhiều học giả, nhiều gương mặt văn hóa của đất nước. Cũng chính từ văn học, đã thúc đẩy ý nghĩa văn hóa lấn át mục tiêu chính trị, mà nhà đương cục đề ra ban đầu làm mục tiêu cho tạp chí.

Cố nhiên, ở một mức độ nào đó, Nam Phong vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu, lối đặt câu bốn chữ, sáu chữ hoặc sử dụng quá nhiều điển tích, điển cố, trộn lẫn với những câu văn Pháp chưa thuần thục, không phù hợp với tư duy người Việt. Những hạn chế tất yếu này không làm che lấp tầm ảnh hưởng sâu rộng của Nam Phong trong đời sống văn học của đất nước, bởi lẽ, “trong khoảng 17 năm tạp chí Nam Phong đã xây dựng nên một nền văn học căn bản và vững chắc cho văn chương chữ quốc ngữ, bằng những bài báo hay, những bài khảo cứu văn học mà những nhà văn, những nhà trí thức Việt Nam ở Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ lúc bấy giờ đã say sưa theo dõi” (7, tr.120).

Về ngôn ngữ, trong quá trình hoàn thiện chữ quốc ngữ, Nam Phong đã góp phần “làm giàu thêm ngôn ngữ nước nhà bằng cách đặt nhiều danh từ mới có liên quan đến triết học, khoa học bằng cách mượn chữ Hán làm hoàn hảo tiếng Việt trong dịch thuật và diễn tả những tư tưởng và học thuyết triết học” (8, tr.97). Quan trọng hơn, những con chữ từ tạp chí đã trở nên sinh động và ngày càng thấm sâu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Bên cạnh tạp chí Nam Phong, ban biên tập còn thành lập nhà xuất bản Nam Phong tùng thư, cho in sách nhằm cung cấp tài liệu cần thiết giúp cho việc học chữ quốc ngữ được dễ dàng. Trong tạp chí Nam Phong, số 114 (1927), có nêu rõ mục đích của việc làm này: “Chữ quốc ngữ ngày nay đã phổ thông khắp trong nước, có thể dùng để làm cái lợi khí để truyền bá cái sự học trong nhân gian. Kể sách quốc ngữ gần đây xuất bản cũng nhiều, nhưng ngoài những sách giáo khoa để dùng trong các trường sơ học, phần nhiều là những sách thơ văn, tiểu thuyết, tuy cũng có quyển có giá trị, bổ ích cho quốc văn, song vẫn là sách văn chương “chơi” không giúp gì cho việc truyền bá sự học. Mà việc này chính là cần cấp ngày nay/ Nho học mỗi ngày một tàn, Tây học dẫu có lấn tới mà ngôn ngữ bất đồng, văn tự sai biệt, cũng khó lòng phổ cập trong dân gian. Phổ cập tri thức trong nước ta gần đây có phần sút kém cũng là bởi cái lẽ đó. Vậy ngày nay thể tất phải dùng chữ quốc ngữ làm cái lợi khí để giới thiệu các học thuật tư tưởng Đông Tây cho phần nhiều quốc dân được biết, ngõ hầu giúp cho cái trình độ trí thức trong nước ngày một lên cao/ Bộ phận Nam Phong tùng thư này mở ra là muốn theo đòi cái mục đích đó/ Cái chí chúng tôi là muốn giúp cho phần nhiều người Việt Nam ta, không cần phải đọc sách Tây, chỉ biết chữ quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được cái điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay/ Chúng tôi ao ước rằng sau này người An Nam chỉ học bằng tiếng An Nam có thể trở nên được người thông hiểu, chỉ đọc bằng sách quốc ngữ cũng đủ bổ ích được cho trí khôn, ngày ấy thời sự khai hóa trong nước mới thật là có kết quả vậy.”

  1. Nói đến Nam Phong không thể không nhắc Phạm Quỳnh (1892 – 1945), người được coi là linh hồn của tờ báo. Ông quê ở Bình Giang, Hải Dương, nhưng sinh ra ở phố Hàng Trống, Hà Nội. Chín tháng sau khi sinh, mẹ ông lâm bệnh qua đời; chín năm sau, bố ông cũng đột ngột qua đời ngay tại phòng thi khi dự kỳ thi Hương năm 1901. Ông được ông bà nội nuôi, cho đi học tại trường tiểu học Pháp Việt, rồi trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ đầu kỳ thi Thành chung năm 16 tuổi (1908), về làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, 1917 thành lập Nam Phong tạp chí, 1922 thành lập Hội Khai trí tiến đức, 1924 kiến nghị thành lập trường tiểu học học bằng tiếng Việt ở Đông Dương, từ 1924 – 1932 làm giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ, 1932 Bảo Đại về nước làm vua, ông được cử chức Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, sau đó là Thượng thư Bộ Lại, 1939 cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin trả lại Bắc Kỳ như Hiệp ước 1884 nhưng không thành. Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, chính phủ Trần Trong Kim thành lập, ông xin rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt và qua đời tại Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên Huế.

Phạm Quỳnh là người đề xướng thuyết quân chủ lập hiến, một chủ trương lỗi thời trong tình hình nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đó là sai lầm về chính trị. Nhưng đóng góp về văn học và báo chí của ông vào đầu thế kỷ XX thì không thể phủ nhận được. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây: văn học, triết học, khoa học, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… được người đương thời suy tôn đứng đầu trong “tứ trụ” là bốn nhà văn hóa tiêu biểu của đất nước: Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố. Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến trữ lượng văn hóa tích tụ từ Nam Phong. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Phạm Quỳnh có đủ khả năng để tranh luận thấu đáo và minh bạch bất cứ vấn đề nào: văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, xã hội. Trước khi đề cập đến một vấn đề, ông chịu khó nghiên cứu kỹ lưỡng. Nếu so sánh Nam Phong với các tạp chí xuất bản bên Pháp như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Françase, độc giả thấy các tạp chí Pháp cũng đề cập đến những vấn đề tương tự, nhưng không tờ nào chú ý đến vấn đề của Đông phương, thời xưa cũng như thời nay” (9, tr.127). Vì vậy, trước hết với tầm nhìn văn hóa sâu rộng, Phạm Quỳnh có khả năng xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Phạm Quỳnh là tác giả của một khối lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự… Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại. Sai lầm của ông là khi đề ra một học thuyết “Pháp Việt đề huề” và yên tâm với lý tưởng về một nền quân chủ lập hiến, mà “sự thực hiện lý thuyết này không ích lợi gì cho đồng bào, nó càng làm tổn thương cho văn nghiệp của ông. Bây giờ người ta không thấy hậu quả của việc làm ấy. Điều hiển nhiên là từ khi ông chủ nhiệm ra đi, ai nấy đều nhận rằng giá trị văn chương của Nam Phong trở nên sa sút”(10). Tất nhiên, ông có sai lầm về chính trị, và sai lầm khi thiếu trách nhiệm với cả Nam Phong, nhưng không thể nói rằng ông không yêu nước, không có tinh thần tự tôn dân tộc, khi ông kêu gọi gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước. Năm 1922, khi phát biểu tại Ban Luân lý và chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ông đã khẳng định nền văn hóa dân tộc với tất cả bầu nhiệt huyết: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ.” (11, tr.683).

Thời gian cứ trôi không ngừng nghỉ. Sừng sững trên nền vách của thời gian, những nguồn mạch nóng hổi nhiệt huyết của Phạm Quỳnh từ thuở Nam Phong vẫn còn tỏa bóng.

P.P.P
(TCSH341/07-2017)

…………………………….
(1),(6) Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, Nam Ký xuất bản, Hà Nội
(2),(3) Louis Marty (1917), Phúc trình về tạp chí Nam Phong, ngày 22,8.1917
(4),(7),(8) Huỳnh Văn Tòng (1973), Lịch sử báo chí Việt Nam – từ khởi thủy đến 1930, Trí Đăng xuất  bản, Sài Gòn.
(5),(9) Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
(10) Thiếu Sơn (1931), Phạm Quỳnh, báo Phụ nữ tân văn, số ra ngày 30.7
(11) Dẫn theo Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

Tháng Mười 31, 2017

TINH THẦN GIẢI THUỘC ĐỊA TRONG DIỄN NGÔN CỦA PHẠM QUỲNH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 11 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

TINH THẦN GIẢI THUỘC ĐỊA TRONG DIỄN NGÔN CỦA PHẠM QUỲNH

Lê Thị Vân Anh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân 100 năm ra đời Nam Phong tạp chí (1917 – 2017), Tạp chí Nghiên cứu Văn học đăng bốn bài nghiên cứu gồm : Nguồn văn bản chữ Hán trên Nam Phong tạp chí của Phạm Văn Khoái, Du hành và ảnh tượng dân tộc:  Dự án quốc gia qua thể tài du kí của chủ bút Nam Phong tạp chí của Lê Nguyên Long, Phạm Quỳnh với thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí của Trần Thị Ái Nhi và Trần Thị Tú Nhi, Tinh thần giải thuộc địa trong diễn ngôn của Phạm Quỳnh của Lê Thị Vân Anh..

Kỳ này Blog PhamTon chúng tôi xin giới thiệu phần trích bài cuối, là bài của Thạc sĩ nữ, công tác tại Trường Trung học Cơ sở Cầu Giấy, Hà Nội.

—o0o—

Phạm Quỳnh (1892- 1945) là một quan đại thần triều Nguyễn, một nhà báo, nhà văn hóa quan trọng của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Những cống hiến của Phạm Quỳnh trên lĩnh vực văn hóa, văn học trong một thời gian dài đã bị lãng quên hoặc thậm chí bị hiểu một cách thiên lệch. Tại sao lại như vậy? Một diễn giải khả quan theo chúng tôi chính là sự khác biệt trong quan điểm của Phạm Quỳnh với diễn ngôn truyền thống của người Việt về lòng yêu nước cũng như tinh thần giải thuộc địa và phương cách được đề ra để thực hiện công cuộc giải thuộc địa ấy.

(…)

Về mặt lý thuyết, các phương thức giải thực dân/thuộc địa có thể được kết hợp nhuẫn nhuyễn mà không hề mâu thuẫn nhau. Nhưng thực tế thì không phải lúc nào cũng vậy, nhất là khi các diễn ngôn được tạo lập luôn có xu thế loại trừ các diễn ngôn khác để chiếm vị trí thống trị, sản sinh ra quyền lực và tri thức. Điều đó đã dẫn đến sự ngộ nhận và phán xét phiến diện trong lịch sử khi đánh giá giải pháp  nào tối ưu.

Trở lại ngữ cảnh văn hóa thực dân/ giải thực dân tại Việt Nam thế kỷ trước, chúng ta có thể nhận thấy những gợi mở nghiên cứu hiện tượng Phạm Quỳnh. Vậy tinh thần giải thuộc địa đã được thể hiện thế nào qua các diễn ngôn của ông?

  1. Nỗ lực kiến tạo bản chất văn hóa Việt Nam của Phạm Quỳnh

Văn hóa của các nước thuộc địa là một nền văn hóa đứt gãy. “Bị thuộc địa hóa”, theo Walter Rodney có nghĩa là “bị tách rời khỏi lịch sử” hay “Tổn hại lớn nhất mà các nước thuộc địa phải chịu đựng là bị tách rời khỏi lịch sử” (Memmi)(1). Vì thế, các nước cựu thuộc địa sẽ phải mất rất nhiều thời gian và công sức để chống lại lịch sử được tạo lập bởi phương Tây. Quan trọng hơn là sau khi giành độc lập về chính trị thì bản sắc của các cựu thuộc địa lúc này là gì? Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh và với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử và bản sắc của thuộc địa vì thế vẫn đang trên quá trình tự định nghĩa. Mặc dầu vậy, quá trình kiến tạo bản chất văn hóa như một phương thức giải thuộc địa luôn luôn diễn ra song hành với những kiến tạo áp đặt mang tính chất thực dân. Và ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, giữa sự bộn về của thời cuộc, Phạm Quỳnh đã dày công khôi phục những mảnh ghép của lịch sử dân tộc của người Việt, để thoát khỏi “việc bắt buộc im lặng” của kẻ/cái/sự nhược tiểu đồng thời khơi dậy tinh thần dân tộc.

  • Văn hóa Việt nam – nền văn hóa đầy mâu thuẫn

Qua văn bản của Phạm Quỳnh, Việt Nam hiện lên vừa là một đất nước có chiều dài lịch sử lâu đời, văn hóa bản địa đặc sắc vừa là một đất nước có nhiều lệ thuộc với văn hóa Trung Hoa. Khôi phục văn hóa bản địa, Phạm Quỳnh dùng hai phương thức chủ yếu: qua những chuyến đi và qua khảo cứu các di sản văn hóa của dân tộc. Với các bút ký du lịch Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ… Phạm Quỳnh là một trong số những nhà văn hóa Việt Nam đầu tiên quan tâm đến “địa văn hóa”, giới thiệu rất nhiều vĩ tuyến văn hóa của đất nước. Văn hóa dân tộc trước hết là những nét đẹp cụ thể như vậy.

Phạm Quỳnh đã tự khảo cứu và biên dịch các sách khảo cứu về các di sản của dân tộc trên rất nhiều lĩnh vực. Chỉ riêng việc lược dịch sách “Cổ Nam Việt” của ông Khâm sứ Pasquier đã cho thấy một cái nhìn tổng thể về Việt Nam – như một thiên đại luận về các chế độ cổ của nước Nam ta từ trước khi nước Pháp sang bảo hộ. Cuốn sách đã chỉ ra đặc tính của dân nước Nam “Giống ta chỉ ưa những đất đồng bằng… ta ít có chí khí độc lập khoáng trương mà chỉ ham cái lạc cảnh làm ăn yên ổn” (2), những nét đặc sắc như trong cách hành binh, các công trình, di sản thi ca và đặc biệt là văn hóa làng xã.

Trong thời đại của Phạm Quỳnh, sự nghiệp văn học quốc ngữ phải đối mặt với một hiện thực khó khăn: không có truyền thống văn bản bằng loại chữ này. Tuy nhiên, với Phạm Quỳnh văn học quốc văn đã bắt đầu từ tục ngữ, ca dao của người lao động và văn chương chữ Nôm của cha ông.  Ông đặc biệt quan tâm tới việc sưu tầm, khảo cứu, giưới thiệu chi tiết về nguồn gốc, giá trị của tục ngữ, ca dao Việt Nam, Truyện Kiều, … Phạm Quỳnh cũng chính là người đầu tiên nêu vấn đề Nghiên cứu vốn cổ Hán Nôm (1924), Các môn cổ văn Hán Nôm (1928), Văn chương trong lối hát ả đào (1923),…

Các bài viết như Thơ nước Nam (1922), Người nông dân Bắc kỳ qua tiếng nói bình dân (1929) được diễn thuyết bằng tiếng Pháp đã chứng minh vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam kết tinh ở ca dao. Phạm Quỳnh còn so sánh khúc hát của những cô thợ cấy ở đồng bằng Bắc bộ, hoặc những cô lái đò trên sông xứ Huế với cái âm điệu buồn man mác kiểu Lamartine, so sánh Truyện Kiều với văn học Pháp và văn học Trung Hoa để khẳng định tài năng của Nguyễn Du; so sánh bài thơ tả cảnh Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với bài thơ tả cảnh Soir en montagne (Buổi chiều chơi núi) của Lêôngxơ Đơpông (Léonce Depont) để thấy cái tài tình của thi nhân mỗi nước (3). Đây không chỉ là một thao tác sớm vận dụng phương thức so sánh vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đầu thế kỷ XX mà còn có dụng ý về việc đặt văn hóa dân tộc ngang hàng với các nền văn hóa khác. Nền văn hóa nào cũng có những đặc sắc riêng và mỗi ngôn ngữ đều có những điểm mạnh trong việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người.

Văn hóa Việt Nam đặc sắc như vậy nhưng mâu thuẫn thay, nó là nền văn hóa có nhiều điểm lệ thuộc văn hóa Trung Hoa. Trong cuộc tiếp xúc với nước Pháp, người Việt hiểu rằng cuộc tiếp xúc với dân tộc Trung Hoa từ xưa đến nay đã đem đến nhiều thua thiệt. “Cuộc chiến đấu đó đúng là trứng chọi đá. Quả trứng nước Nam ắt phải bị đập vỡ tan tành, chẳng thể nào khác. Sự thật là nó đã không bao giờ bị đập vỡ, và cuộc chiến đấu chênh lệch đó cứ lặp đi lặp lại một cách thường kỳ trong suốt lịch sử, và nước Nam bao giờ cũng đã thóat ra nguyên vẹn” (4). Tuy nhiên, trong một tiểu luận khác, Phạm Quỳnh lại viết: “Rành rành là cái ách tinh thần của Trung Hoa đã đè nặng lên xứ sở này tới mức ngăn cản đầu óc người Nam tấn tới và phát triển theo nguồn mạch riêng của mình…” (5). Phạm Quỳnh đủ tỉnh táo để phân biệt cái gọi là độc lập chính trị và độc lập văn hóa. Ông cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng sự lệ thuộc của văn hóa Việt Nam vào văn hóa Trung Quốc có hai nguyên nhân: từ hoàn cảnh lịch sử và sự chấp nhận, tự ti của chính người Việt Nam không cố gắng hết sức trong quá trình tự định nghĩa bản sắc dân tộc.

1.2. Người Pháp và hấp lực văn hóa bản địa Việt Nam

Trong hành trình đặt chân đến xứ sở An Nam, người Pháp chắc đã không lường trước được những hấp lực từ phía bản địa. Nhưng hấp lực này có thực và Phạm Quỳnh đã đề cập đến nội dung này trong rất nhiều bài viết mang tính đối thoại với phương Tây. Chẳng hạn các giáo sĩ phương Tây đã tạo ra chữ quốc ngữ cho người Việt Nam để truyền đạo Thiên Chúa và truyền bá văn hóa phương Tây nhưng: “không hề ngờ tới một vận may to lớn đã khiến họ một ngày kia trở thành người làm ra chữ viết của cả một dân tộc”, là một phương tiện hữu ích trong công cuộc hiện đại hóa đất nước (6). Thậm chí, người Pháp còn nhận ra được sức sống và sự đồng hóa ngược của người Việt đối với nền văn hóa mà họ bị lệ thuộc: “chữ Nho mà đem dùng sang văn quốc ngữ là tiện thị thành tiếng Việt Nam rồi… các ông nhờ mượn chữ Tàu, mỗi ngày một giàu thêm ra, mà mượn chữ Tàu thời bao nhiêu cũng có thể tiêu hóa được. Không kể ngày nay nhiều người học tiếng Tây, một đôi khi cũng có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Như vậy thời văn quốc ngữ không bao lâu sẽ thành một nền quốc văn xứng đáng…” (7).

Một chính trị gia người Pháp đã cho rằng: “Nước Pháp sang cai trị xứ này, phải lấy sự tôn trọng cái thể chế mấy nghìn năm của người bản thổ làm phương châm, làm chính sách. Chắc rằng nghĩa vụ của nước Pháp là phải đưa dắt dân này lên cõi văn minh mới, nhưng văn minh mới ấy chỉ nên bổ vào những sự thiếu thốn, không được phá mất cái nền nếp cũ của dân tộc này” (8)

1.3. “Người nước Nam không thể coi nước Pháp là tổ quốc của mình, bởi vì người nước Nam đã từng có một tổ quốc” (9)

Phạm Quỳnh đã viết về bản sắc văn hóa Việt Nam với niềm tự hào của người “có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử” (10). Ông khẳng định: “Đấy là hình ảnh một dân tộc bền bỉ và kiên trì, đầy sức sống, có một sức bành trướng đáng kể, giàu một thứ năng lượng có phần hơi thụ động nhưng do vậy càng bền gan đến độ không có khó khăn, trở ngại nào làm cho nản lòng được, khát khao một nền độc lập mà họ chưa bao giờ có được đầy đủ và trọn vẹn, thường khi phải theo đuổi nó như một ảo ảnh, chẳng bao giờ chùn bước trong cuộc đeo đuổi nền độc lập ấy qua bao nhiêu thăng trầm và thất bại” (11); “Chúng tôi cũng đã từng là một dân tộc đi chinh phục, chúng tôi cũng đã từng là “đế quốc” theo cách của chúng tôi” (12). Qua đó, Phạm Quỳnh muốn đối thoại lại với thực dân Pháp: người Việt sinh ra không phải để làm nô lệ. Vị thế nhược tiểu mà người Việt đang phải chịu đựng không phải là “có sẵn” mà chỉ là bước trũng của lịch sử, hoàn toàn có thể khắc phục được.

Theo Phạm Quỳnh, kiến tạo lại diện mạo văn hóa Việt, thế hệ hậu sinh cũng gặp phải những áp lực vô cùng lớn lao: “Mang một niềm tin vào tương lai và tự hào nhớ lại một quá khứ không phải là không có vinh quang, chúng tôi có tham vọng cũng có một cuộc sống của cả dân tộc mình, và sống trọn vẹn, mãnh liệt cuộc sống đó dưới sự bảo hộ của nước Pháp…”; “Trên góc độ quốc gia, khủng hoảng này có thể được tóm tắt như sau: chúng tôi là một dân tộc đi kiếm tìm một Tổ quốc và chưa tìm thấy Tổ quốc đó” (13), Và dù rằng như vậy, Phạm Quỳnh cũng khẳng khái khẳng định: Tổ quốc này không thể là nước Pháp.

“Một dân tộc đang kiếm tìm một Tổ quốc”, điều đó không hoàn toàn chỉ đem đến những bất lợi. Người Việt Nam hãy lọc ra những gì phù hợp và cần thiết để từ đó tiếp tục hành trình tự định nghĩa, hoàn thành những phác thảo về dân tộc mình với một sức bật và tinh thần cầu thị mạnh mẽ nhất. Đó có lẽ chính là những mục đích quan trọng mà Phạm Quỳnh muốn hướng tới qua những trang viết kiến tạo bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trong nỗ lực kiến tạo bản sắc văn hóa Việt Nam, ở Phạm Quỳnh là những trạng thái trái ngược cùng tồn tại: rất tự hào về văn hóa dân tộc với lịch sử phát triển lâu dài, những dấu mốc vẻ vang nhưng cũng rất mặc cảm, tự ti do nhận ra được gốc rễ sự thiếu khuyết của lịch sử văn hóa dân tộc và bày tỏ mong muốn thoát ra khỏi cái bóng to lớn của văn hóa Trung Hoa. Dù trong nỗ lực có những bất lực vì chính số phận lịch sử của văn hóa Việt nhưng Phạm Quỳnh đã nhìn nhận được sâu sắc bản chất văn hóa, kiến tạo được phần nào thế giới văn hóa bản địa của người Việt – điều mà người Pháp đang muốn bỏ qua và người Việt thì thiếu sự hiểu biết sâu sắc và bài bản. Đây chính là nền tảng để Phạm Quỳnh phác thảo ra “hành trình kiếm tìm Tổ Quốc” cho dân tộc.

  1. Phác thảo hành trình kiếm tìm tổ quốc cho dân tộc Việt Nam

Chủ trương mà Phạm Quỳnh hướng đến là một nước Việt Nam quân chủ lập hiến dưới sự bảo hộ của Pháp. Quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh chỉ còn cái vỏ của chế độ truyền thống, còn thực chất đã biến đổi về chất. Triều đình sẽ lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua tầng lớp trí thức để từ đó có những quyết sách cho phù hợp. Quan điểm của Phạm Quỳnh có lý khi người trí thức và người dân An Nam đương thời vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Hơn thế, khi dân trí còn thấp thì hình thức quân chủ lập hiến là một lựa chọn có ưu thế bởi lẽ chính triều đình là người định hướng, nâng cao dân trí cho dân chúng.

Phạm Quỳnh đã có một bài viết riêng về vấn đề Bảo hộ hay trực trị. Quản lý theo lối trực trị là đặc thù của một chính sách đồng hóa. Chính sách này là phù hợp “nếu dân “An Nam” là một dân tộc mới, không quá khứ và không lịch sử, nếu họ chỉ là một bộ tộc tản mát không có những mối liên hệ tạo nên bất kỳ một sự thống nhất quốc gia nào, nếu những người “An Nam” đó chỉ có một tổ chức xã hội và chính trị sơ khai”. Nhưng nước Nam luôn là một “dân tộc” theo đúng nghĩa của từ này với bề dày văn hóa bản địa mà ngay cả người láng giềng luôn có ý định thôn tính – Trung Quốc cũng không thể đồng hóa được: “dân tộc này vẫn khác người Trung Quốc như nó khác người Pháp ở những khía cạnh nhất định” (14). Nếu như sự có mặt của người Pháp trên đất nước này là một định mệnh lịch sử, một tất yếu chính trị thì điều cần thiết nhất là : Việt Nam chấp nhận sự bảo hộ để đi lên theo con đường văn minh, hiện đại dựa trên nền tảng tinh hoa văn hóa sẵn có của chính mình.

  • Xin chủ trương từ người Pháp và thuyết phục người Việt Nam

Phạm Quỳnh đã cố gắng điều hòa mâu thuẫn nảy sinh do sự không thông hiểu giữa Pháp và Đông Dương và thuyết phục người Pháp – người Việt “xích lại gần nhau” để từ đó có cơ sở thực hiện chủ trương mà ông đặt ra.

Thuyết phục nước Pháp từ chính truyền thống nhân đạo của nước Pháp, Phạm Quỳnh đã chỉ ra cho người Pháp một phương cách tối ưu: “muốn thống trị bền thì chỉ có thể dựa trên sự đồng thuận lương tâm và ý nguyện con người” (15). Bởi căn bản, “người nước Nam không phải là một kẻ hoang dã, người nước Nam… có truyền thống ngàn năm văn hiến vô cùng đáng trân trọng: phong tục và tập quán của người nước Nam chỉ kỳ cục với các bạn bởi vì các bạn không hiểu”. Đây không chỉ là sự khác biệt về văn hóa hai nước mà còn là sự khác biệt về văn hóa Đông – Tây. Tuy nhiên, sự khác biệt không có nghĩa sẽ có thể phân thành thứ bậc mang tính chất kỳ thị: hạ đẳng và thượng đẳng.

Đối với người Việt, họ cần hiểu sự có mặt của người Pháp là một tất yếu do sự yếu kém và lạc hậu của nước Việt. “Sự đô hộ của Pháp là một thực tế mà chúng ta không thể làm gì chống lại nó và chúng ta phải coi nó là một yếu tố. Hãy chấp nhận nó với tất cả các hậu quả của nó, và hãy tìm cách rút ra từ đó cái khả năng có lợi nhất” (16). Phạm Quỳnh thuyết phục cho người Việt hiểu rằng: người Việt học tập người Pháp vì chính người Việt chứ không phải là vì người Pháp. Ông đã cùng lúc tìm hiểu hai đất nước có tầm ảnh hưởng của châu Á: Trung Quốc và Nhật Bản. Trung Quốc vốn là một cường quốc nhưng đã tụt hậu, còn Nhật Bản – một nước nhỏ đã vươn lên phát triển không thua kém các nước phương Tây, đó là bởi đã có tư tưởng “Thoát Á luận” đúng đắn – thoát khỏi những lạc hậu, sức ì của văn hóa phương Đông kìm hãm. Nhật Bản chính là một hình mẫu phát triển mà Phạm Quỳnh hướng đến.

  • “Làm mới” tinh hoa văn hóa phương Đông trong thực tế hiện thời

Phạm Quỳnh không chỉ giới thiệu mà còn ngợi khen những yếu tố tích cực của các học thuyết là tinh hoa văn hóa Phương Đông khi vẫn còn nguyên những “giá trị thời sự”. Đạo đức của Khổng Tử nếu “được khôi phục đúng với sự trong sáng nguyên thủy của nó, cho đến ngày nay nó vẫn còn có thể cung cấp cho chúng ta nhiều bài học bổ ích về cuộc sống và minh triết”, như việc “bất cứ ở đâu con người sống thành xã hội, cuộc sống chung đó phải dựa trên một trật tự được thiết lập và phát triển trong hòa bình” (17). Người học trò xuất sắc của Khổng Tử, Mạnh Tử bổ sung thêm những giá trị bền vững của Nho giáo: “Những ý tưởng gần như là bình đẳng và dân chủ khiến cho Mạnh Tử được những người Trung Hoa hiện đại coi như là một kiểu vị thần bản mệnh của dân chủ” (18). Phạm Quỳnh đã so sánh Mạnh Tử với các triết gia phương Tây hiện đại như Jean Jacques Rousseau. Sự gặp gỡ giữa các nền văn minh là hoàn toàn có thật không kể khoảng cách địa lý và thời gian. Đó như là một luận điểm khước từ cái nhìn “ban ơn”, “chiếu cố” của phương Tây dành cho phương Đông.

Phạm Quỳnh cũng đã dành những lời đánh giá rất cao cho một triết gia vốn thường bị lãng quên, đó là Mặc Địch. Lý thuyết “kiêm ái”, tinh thần phản đối chiến tranh của Mặc Địch chính là đường lối cai trị mà Phạm Quỳnh hướng đến “Hình ảnh vị tông đồ của hòa bình và hữu nghị từng làm vinh dự cho nước Trung Hoa cổ đại” (19) nhưng cũng là người bị lãng quên, thậm chí bị mỉa mai cay độc phải chăng vì tư tưởng của ông không phù hợp đối với một đất nước mà tư tưởng bá quyền, bành trướng đã quá khắc sâu trong lịch sử phát triển như Trung Hoa? Mặc Địch căm ghét chiến tranh, coi đó là tội ác lớn nhất, luận điểm này đã được Phạm Quỳnh nhắc lại khéo léo như một đối thoại cho hiện thực đau lòng mà phương Tây đã đem đến cho phương Đông thông qua những lời có cánh là “khai hóa văn minh” (20)

Nếu như Nho giáo là công cụ giúp con người trong lĩnh vực vĩ mô của cuộc sống thì Phật giáo lại quan tâm chủ yếu đến đời sống tinh thần của con người. Theo Phạm Quỳnh, cuộc khủng hoảng mà người An Nam đang phải trải qua là một cuộc khủng hoảng về tinh thần còn nhiều hơn là về xã hội và chính trị. Trong cuộc khủng hoảng ấy, con người sẽ tìm về với những nề nếp tôn giáo và đạo đức xưa suốt bao thế kỷ đã tạo nên nền tảng của đất nước này. Và sự bổ sung cho nhau giữa Khổng giáo và Phật giáo, theo Phạm Quỳnh, sẽ là một phương thuốc cho sự bất ổn về tinh thần của người dân An Nam (21)

Tác dụng của những tinh hoa văn hóa trên sẽ ngày càng được phát huy khi những giá trị mà phương Tây đạt dược cũng không hẳn là hoàn toàn ưu việt và đang phải tìm về với phương Đông để bù đắp những khiếm khuyết của mình: “Ngay cả ở châu Âu bây giờ, những bộ óc lớn chăm chú theo dõi những quy luật của tiến hóa, đã tố cáo những hiểm nguy và khuyết tật của nền văn minh cơ khí đang nhằm làm bá chủ thế giới đó… Thậm chí một đôi người đã quay lại nhìn về phương Đông, nơi họ lục tìm trong các nền triết học xưa để nhận ra những bài học về minh triết” (22). Lý tưởng hơn cả là có thể đi đến được sự hài hòa giữa phương Đông và phương Tây, giữa khoa học châu Âu và minh triết châu Á.

  • Học tập tư tưởng và học thuật phương Tây

Trong bài viết Bàn về quốc học (Nam Phong, số 163), Phạm Quỳnh đã bày tỏ quan điểm là ở Việt Nam không có một nền quốc học chân chính. Cũng chính vì vậy Phạm Quỳnh đã rất chú trọng dịch thuật nhiều tư tưởng học thuật mang tính chất bách khoa của phương Tây để nâng cao dân trí.

Phạm Quỳnh chủ trương giới thiệu những lý thuyết mang tính tri thức bách khoa cho người dân An Nam. Phạm Quỳnh là người Việt Nam đầu tiên dịch, giới thiệu và bàn luận về triết lý cổ Hi La, những học thuyết của Descartes, Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte,… Với một cách viết cẩn trọng, tỉ mỉ nhưng cũng rất rõ ràng, dễ đọc, dễ nhớ, Phạm Quỳnh đã đưa người đọc đến với tri thức của rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, từ triết học, xã hội học, luật học, sử học đến kinh tế học, văn học nghệ thuật… Phạm Quỳnh đặc biệt đề cao nền văn minh học thuật nước Pháp bởi “nhân đạo là đặc tính hiển nhiên, có thể gọi được là “linh tính” của cả văn minh học thuật nước Pháp” (23). Vậy mà dường như người Pháp với những gì đang thi hành tại Việt Nam lại đang đi ngược với truyền thống văn minh của mình. Nếu có cái gọi là sự tiến bộ, thượng đẳng của người Pháp như người Pháp tự xưng: “Tôi làm người Pháp bao nhiêu, là làm người bấy nhiêu” (24), thì người Pháp phải hành xử sao cho xứng đáng với cái địa vị thượng đẳng đó.

Phạm Quỳnh cũng chú ý giới thiệu chuyên sâu về lý luận văn học và thực hành phương pháp nghiên cứu văn học mới. Phạm Quỳnh đã khảo dịch về lịch sử văn chương Pháp, về nghề văn, về cách viết tiểu thuyết, về thơ, kịch nói, các tác phẩm nổi tiếng đương thời,…tất cả đều có tính gợi ý, định hướng cho bước hình thành và phát triển văn mới ở nước ta theo mẫu hình văn phương Tây. Có thể nói, Phạm Quỳnh luận về văn học với tư cách một nhà khai sáng, viết lí luận cho những người thực hành và vì thế là nhà thiết kế chi tiết và công phu cho văn học Việt nam hiện đại.

Phạm Quỳnh đã phê bình một số tác phẩm văn học khác như Giấc mộng con của Tản Đà (1917), Một tấm lòng của Đòng Như Khuê (1918), Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (1918),…theo lối cũ. Lời phê bình còn mang tính điểm bình, ước lệ và đôi chỗ vẫn còn dấu vết của văn biền ngẫu. Tiếp thu lý luận phương Tây, Phạm Quỳnh đã thực hành phương pháp phê bình mới trong bài viết về Truyện Kiều (1919). Đây cũng chính là cột mốc của phương pháp phê bình hiện đại Việt nam thế kỷ XX.

  • Xây dựng nền giáo dục phù hợp với người Việt

Con người luôn là yếu tố quan trọng nhất trong mọi kế hoạch, chiến lược, đặc biệt là trong chiến lược để giành được vị thế độc lập, bình đẳng cho dân tộc. Vì vậy, nâng cao dân trí luôn luôn là nhiệm vụ cấp bách. Giới thiệu tư tưởng học thuật phương Tây là nâng cao dân trí, nhắc lại hệ thống bài bản tinh hoa văn hóa phương Đông cũng là nâng cao dân trí. Nhưng nếu được đào tạo một cách bài bản, sức mạnh dân tộc được tạo ra từ thế hệ trí thức mới sẽ càng mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, theo Phạm Quỳnh, một lý do không thể bỏ qua trong việc xây dựng nền giáo dục phù hợp cho người Việt: đó là vì tầng lớp trí thức tinh hoa truyền thống đã không còn thể hiện được uy tín và vai trò quan trọng của mình (có lúc Phạm Quỳnh gọi là tầng lớp thượng lưu/tầng lớp lãnh đạo/ tầng lớp ưu tú, các khái niệm này không hoàn toàn trùng khít nhưng đều để chỉ tầng lớp có trí thức, có khả năng định hướng tương lai dân tộc). Ông cho rằng: các tầng lớp nhân dân lao động ở mọi quốc gia đều giống nhau không có vị thế, không có tiếng nói, không thể đại diện cho những giá trị phát triển của dân tộc, tiêu chí để phân biệt sự phát triển của các quốc gia là tầng lớp thượng lưu, Phạm Quỳnh quan niệm trước hết phải cải cách từ chính tầng lớp này (25). Lựa chọn được một nền giáo dục phù hợp sẽ giúp tầng lớp này thay đổi được diện mạo quốc gia.

Cấu trúc thích hợp cho nền quốc học chính là điều Phạm Quỳnh đang nỗ lực truyền bá: tích hợp được các lý tưởng của cả Đông và Tây, hấp thu khoa học và văn minh phương Tây nhưng vẫn gắn bó với ngôn ngữ, truyền thống lâu đời của chủng tộc mình. Phân tích bí quyết tạo ra sự thay đổi thần kỳ diện mạo nước Nhật, Phạm Quỳnh tin tưởng rằng với sự trợ giúp của người Pháp, nước Nam có thể làm được những điều mà nước Nhật làm được bằng cách học tập mô hình giáo dục của Nhật Bản. Ông đã lược thuật tỉ mỉ hệ thống giáo dục Nhật từ mẫu giáo cho đến đại học và hi vọng chúng có thể áp dụng được vào Việt Nam.

Vấn đề ngôn ngữ luôn được Phạm Quỳnh đề cao, đó là cơ sở để xây dựng một nền văn hóa dân tộc, thậm chí là một căn cứ để khẳng định sự tồn tại của đất nước: “Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành ra một dân một nước. Cho nên xưa nay nước nào dân nào cũng có một thứ tiếng riêng, có dân có nước bờ cõi đã mất, quốc thể không còn, mà còn giữ được quốc âm, cũng không đến nỗi tiêu diệt đi được” (26).

Thể hiện lòng tự hào về Tiếng Việt, trong bài Một vấn đề ngôn ngữ học (1930), tác giả viết: “Nếu tiếng nước chúng tôi thiếu vốn từ vựng khoa học và kĩ thuật do khi xưa cha ông chúng tôi chưa thấy cần thiết, thì mặt khác nó lại phong phú vô cùng các cách nói độc đáo, và xét về màu sắc, vẻ đẹp, sự hài hòa hay thậm chí tính thơ quyến rũ, thì nó không nhường bất cứ tiếng nào” (27). Đồng thời ông cũng kiên quyết chống lại thứ “tiếng lai”. Từ đó, tác giả dẫn ra ý kiến của Gandhi: “Không có gì bất hạnh hơn là không hiểu biết đầy đủ một thứ tiếng nào, bắt đầu từ tiếng nước mình” (28)

Hơn thế, quốc âm của ta đã được Latin hóa, giản ước cho việc giao tiếp là một thế mạnh của nước ta so với các nước đồng văn trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc. Giải quyết được vấn đề chữ quốc ngữ, dân trí sẽ nhanh chóng được mở mang, cuộc tiến hóa ngày càng phát triển. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Phạm Quỳnh loại trừ chữ Nho và chữ Pháp: “Chuộng chữ Pháp không tất nhiên là phải ruồng bỏ quốc âm; mến quốc âm không tất nhiên là phản đối chữ Pháp”; “Chuộng chữ Pháp là thứ văn tự cao thượng đời nay, mến quốc âm là cái tiếng nói giòng dõi của mình, không phải là hai sự phản trái nhau” (29). Người Nam cần phải biết chữ Pháp bởi đó là “cái lợi khí của văn minh” và quan trọng đó là ngôn ngữ của kẻ đang cai trị mình – biết tiếng Pháp để hiểu chính sách cai trị và có sự đàm phán, thương lượng, điều chỉnh có lợi cho dân tộc. Còn cần phải giữ chữ Nho bởi lẽ “muốn gây dựng cho thành một nền quốc văn xứng đáng, thì không thể nào đoạn tuyệt với cái cổ điển của ông cha được, mà cái cổ điển ấy, ngoài chữ Nho không kiếm đâu cho thấy được” (30).

Trên đây, chúng tôi đã tổng kết những phương thức chính mà Phạm Quỳnh đặt ra để thực hiện mục tiêu của mình, về cơ bản các giải pháp của Phạm Quỳnh đưa ra để loại trừ vị thế thuộc địa của mình tập trung phần lớn ở phương diện văn hóa và sự cải tổ chủ yếu là từ chính tư tưởng của bản thân người Việt. Dù học tập phương Tây hay dựa vào truyền thống cha ông thì chính việc nâng cao dân trí mới là chìa khóa để người Việt tự cứu chính mình.

  1. Diễn ngôn của Phạm Quỳnh và những ngã rẽ tiếp nhận

Phạm Quỳnh là một nhà văn khai sáng đặc trưng của thời hiện đại có niềm tin chắc chắn vào ngôn ngữ và các đại tự sự, tin rằng ngôn ngữ sẽ truyền tải được đúng ý định của mình đến với mọi người, thúc đẩy mọi người hành động. Tuy nhiên, ngôn ngữ thường có những ngã rẽ trong tiếp nhận mà người tạo lập văn bản không thể biết trước được, bởi lẽ đời sống của diễn ngôn phụ thuộc rất nhiều vào “tầm đón đợi” của người tiếp nhận. Phạm Quỳnh cũng không ngoại lệ. Vai trò của ông trong xã hội đương đại với cú hích lớn trong tiến trình nâng cao dân trí, cải tiến nền văn hóa thật khó có thể chối cãi. Những diễn ngôn của ông góp phần không nhỏ tạo nên công lao ấy nhưng chúng cũng làm cho ông phải chịu những oan trái và kết cục đau lòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải nói là “bất tất nhiên”.

Sự thật là có quá nhiều cách hiểu về các diễn ngôn của Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh đã thể hiện một niềm tin nhiệt thành vào diễn ngôn tiến bộ, khai sáng của người Pháp mà hầu như không nhắc đến những biện pháp cai trị khắc nghiệt của họ đối với người An Nam. Điều này khiến cho ông rơi vào trạng thái bị nghi kỵ là bồi bút thân Pháp, nhất là khi số người có tinh thần yêu nước theo kiểu bạo động truyền thống lại chiếm phần chủ lực trong làn sóng giải thực dân/thuộc địa và số dân trí thấp – không có khả năng hiểu sâu được những kiến nghị của Phạm Quỳnh lại là quá nhiều trong tỉ lệ phần trăm dân số An Nam lúc bấy giờ. Từ sự nghi kỵ đó những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với nền văn hóa dân tộc – vốn là có sự độc lập tương đối với chính trị cũng không còn được thừa nhận (như những nhận định của Ngô Đức Kế, Đặng Thai Mai…). Nhẹ nhàng hơn thì một vài nhà phê bình cho rằng phương pháp giải thuộc địa từ gốc văn hóa của Phạm Quỳnh quá trừu tượng, không thể phù hợp với thực tế thống trị thực dân. Quan điểm của Phạm Quỳnh còn là một sự thách thức với số đông dân chúng An Nam lúc bấy giờ khi ông đặt sứ mệnh lịch sử lên vai tầng lớp trí thức tinh hoa – một điều gần như ngược lại với truyền thống “văn hóa làng xã” của người Việt.

Tuy nhiên, cái khó đối với Phạm Quỳnh không phải chỉ là sự bất thông hiểu của những người đồng hương mà còn là sự nghi kỵ của người Pháp – chính những người mà ông đặt số mệnh dân tộc dưới sự bảo hộ của họ. Ngày 8/1/1945, trong báo cáo của Thống sứ (đúng ra là Khâm sứ – PT chú) Trung kỳ Healewyn gửi Đô đốc Decoux và Tổng Đại diện Mordant, có đoạn viết: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một Quốc gia Việt Nam. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng” (31)

Việc người Pháp đề phòng thận trọng trước Phạm Quỳnh là điều dễ hiểu. Các diễn ngôn của ông có thể thừa nhận sự bảo hộ, khuyến khích việc học tập tư tưởng và học thuật của người Pháp để cải tiến xã hội nhưng không bao giờ chấp nhận sự thống trị hoàn toàn của người Pháp, không bao giờ chấp nhận là bản sao của người Pháp. Đối với Phạm Quỳnh, quan trọng nhất là người Việt phải có tiếng nói riêng của mình – phải có quốc hồn của mình, từ đó có được cái bản sắc riêng và phải làm cho bản sắc ấy ngày càng có giá trị, nhận được sự tôn trọng của các nước, đặc biệt là những nước mà chúng ta đang phải dày công xích lại và học tập(32)

Tất cả làm cho bi kịch của Phạm Quỳnh đến từ cả hai phía người Pháp và người Việt.

Có quá nhiều điều để nói về Phạm Quỳnh. Có thể nhiều người cho rằng ông là một tay sai của người Pháp, trong khi Phạm Quỳnh tự nhận mình là một người yêu nước đầy mộng tưởng và một nhà cải cách xã hội. Phạm Quỳnh là sự tổng hợp của tài năng, uyên bác, tầm nhìn xa trông rộng, cống hiến, ảo tưởng, bất lực… Sự hợp tác với người Pháp là hành động nảy sinh hoàn toàn tự nhiên và trong hành động này, rõ ràng Phạm Quỳnh không chỉ tham gia vào việc tạo nên lợi ích của người Pháp mà còn hướng đến lợi ích của chính dân tộc mình. Qua việc khảo sát diễn ngôn của Phạm Quỳnh điều chúng tôi muốn chứng minh là: quyền lực chi phối việc tạo lập nên các diễn ngôn của ông chính là tinh thần giải thuộc địa- giải thuộc địa theo cách khác với các diễn ngôn truyền thống. Dù là kiến tạo lại bản chất văn hóa Việt hay phác thảo những con đường đi cho tương lai dân tộc thì cuối cùng cũng là để mong dân tộc thoát khỏi tình trạng “nhược tiểu” – đang bị ấn định trong những diễn ngôn thực dân đương thời. Tư tưởng của Phạm Quỳnh đến bây giờ vẫn còn tính ứng dụng khi chủ nghĩa thực dân diễn biến phức tạp với hình thức mới là chủ nghĩa thực dân  – thực dân về kinh tế, văn hóa, từ đó chi phối về quân sự, ngoại giao.

Về cơ bản Phạm Quỳnh là một nhà văn hóa hiện đại tin vào lí trí, diễn ngôn giải thuộc địa của ông vẫn mang tính chất đại tự sự của một nhà văn khai sáng. Từ một người đặt hết niềm tin vào ngôn ngữ, Phạm Quỳnh đã trở thành nạn nhân của chính các diễn ngôn của mình khi nó đi chệch ra khỏi tầm đón đợi của đại đa số người tiếp nhận. Hành trình giải thuộc địa của Phạm Quỳnh trên thực tế là hành trình không tới đích. Cho nên việc tìm hiểu diễn ngôn của ông là sự truy nguyên và tái tạo một hành trình dang dở nhưng đầy ý nghĩa đối với số phận một nhân vật lịch sử, văn hóa quan trọng.

———————

  • Georg M.Gugelberger: Postcolonial Cultural Studies: Origins to the 1980s, in The Johns Hopkins Guide to Literary Theory & Criticism (Michael Groden, Martin Kreiswirth, Imre Szeman ed.) The Johns Hopkins University Press, Baltimore, 2005
  • Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập, Tái bản, NXB. Văn học, H., 2007, tr.879-880.
  • Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, (Nguyễn Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quốc Chiến dịch), Nxb. Tri Thức, H.,2007,tr68-69.
  • (5), (6), (23), (24), (26), (29) Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp…, Sđd, tr.138, 456,440, 86, 3, 383, 283.

(7) , (8) Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập , Sđd., tr.889, 878-879.

(9) , (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (25), (27), (28) Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp…, Sđd, tr.39, 116, 136, 376, 378, 355, 331, 329, 184, 170, 209, 210, 217, 154, 284-285, 471-472, 273.

(30) Phạm Quỳnh: Luận giải văn học và triết học (Trịnh Bá Đĩnh biên soạn). Nxb. Văn hóa Thông tin, H., 2003, tr.59.

(31) Phạm Tôn: Phạm Quỳnh năm 1945. Nguồn: https://phamquynh.wordpress.com/2014/05/pham-quynh-nam-1945/

(32) Phạm Thị Nhung: Cô Kiều với Phạm Quỳnh Nguồn: https://phamquynh.wordpress.com/2010/09/03/co-kiều-với-phạm-quỳnh-phạm-thị-nhung/

 

Tháng Mười 14, 2017

Vài ý kiến trả lời ông Đinh Nho Hoan

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

VÀI Ý KIẾN TRẢ LỜI ÔNG ĐINH NHO HOAN

Đặng Minh Phương

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng ở cuối số báo Xưa và Nay số 487 tháng 9 năm 2017 trên các trang 65 và 66.

—o0o—

Trong bài “Đôi điêu suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh” trên tạp chí Xưa và Nay số 486 (8/2017), tác giả Đinh Nho Hoan có trích một đọan trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” của tôi đăng trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 447 ngày 27/4/2017.

Ông Đinh Nho Hoan viết:

Trước tiên tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rẳng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa”…

Điều quan trọng xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chi công khai thời thượng đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp.

Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!… Và ông Đinh Nho Hoan dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết”…

Tôi xin trả lời như sau:

Đúng là trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 447, tôi có trích lại một đoạn ngắn của ông Quản Văn Đàn đã đăng trên Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 438 ngày 23/2/2017, đoạn sau đây:

… “Năm 1931, dưới chiêu bài gửi thư cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp “xin lại Tổ quốc đã mất”, Phạm Quỳnh bày tỏ tư tưởng nô lệ, lòng trung thành với nước Pháp như thế này:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa!”…

Trong trích dẫn đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có khuyết điểm là không chú thích rõ xuất sứ bài của ông Phạm Quỳnh như ông Quản Văn Đàn đã ghi là (Tiểu luận… sđd, trang 334). Và bài ông Quản Văn Đàn đăng trên báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 439 mà tôi ghi nhầm là số báo 438 cho nên người đọc tìm không thấy trên số báo 438.

Ông Quản Văn Đàn cũng có nhầm lẫn là câu của ông Phạm Quỳnh viết trong Tiểu luậnSứ mệnh của nước Pháp” chứ không phải là trong Thư gửi cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp năm 1931.

Bài “Sứ mệnh của nước Pháp” của ông Phạm Quỳnh đã được in trong tập sách Phạm Quỳnh, Tiểu luận, viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, ESSAIS 1922 – 1932, do Nxb. Tri Thức, Hà Nội dịch in năm 2007 (bản tiếng Việt).

Trong bài “Sứ mệnh của nước Pháp” do Ngô Quốc Chiến dịch từ tiếng Pháp trong sách nói trên, có đầy đủ câu tôi trích dẫn và còn dài hơn, như sau:

… “Người nước Nam không còn phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó, như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ của Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn tiếc nuối Tổ quốc ấy nữa, như thế có lẽ là một đòi hỏi quá đáng. Nhưng chấp nhận nó như một thực tế cần phải kính cẩn nghiêng mình và cố gắng moi ra từ thực tế này phần lợi nhất có thể, đó là điều họ làm hằng ngày bằng một thiện chí không mệt mỏi.

Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử, đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu chính trị”…

Tôi không hề bịa đặt. Đề nghị báo Xưa và Nay đăng ý kiến của tôi để bạn đọc rõ, khỏi hiểu lầm.

 

Đôi điều suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM NHÂN ĐỌC HAI BÀI BÁO VỀ PHẠM QUỲNH

Đinh Nho Hoan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mục Tòa soạn và Bạn đọc, tạp chí Xưa và Nay đã đăng bài này trên các trang 53-55 số báo 486 tháng 8 năm 2017.

—o0o—

Bài báo “Những mối chân tình của cụ Thượng Chi”, tác giả Năm Châu Đốc và bài báo “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” tác giả Đặng Minh Phương cùng đăng trên Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh các số 398 và 447, đã đưa đến cho tôi một số ngẫm nghĩ. Tôi xin phép nên vài ý kiến nhỏ, góp thêm phần tìm hiểu một học giả thực sự đã đi vào lịch sử.

Trước tiên, tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp, năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ Quốc và không còn nuối tiếc Tổ Quốc ấy nữa”

Nếu ông Phạm Quỳnh có gửi bức thư như thế này cho Toàn quyền Đông Pháp thì ông ta quả là một tên phản quốc mạt hạng, đáng bị muôn đời phỉ nhổ. Nhưng tôi có những lập luận để tin rằng ông Phạm Quỳnh không hề viết bức thư này.

Điều rất quan trọng, xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn trích này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay, chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chí công khai thời thượng, đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp. Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!

Để rộng đường suy xét, ta đặt giả thiết, nếu có bức thư này thì việc gì sẽ xảy ra, ngay khi nó ra dời? Chắc chắn thực dân Pháp sẽ tìm mọi cách tung nó thật rộng rãi khắp cõi Đông Pháp, đầu tiên là trên chính tạp chí Nam Phong. Vì thời điểm này, cả ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ dang bùng nổ một phong trào chống Pháp dữ dội: Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh, nông dân Thái Bình, Quảng Ngãi, công nhân các nhà máy ở Trường Thi, Bến Thủy, ở đồn điền Dầu Tiếng… đang đồng loạt nổi dậy. Pháp đang phải dùng vừa bạo lực vừa lừa phỉnh để đàn áp, dập tắt phong trào. Nếu có thì bức thư này sẽ là một vũ khí tiếp sức cho Pháp lung lạc tinh thần của quần chúng nổi dậy. Nhưng đến hôm nay, ta không hề thấy dấu viết bức thư này trên các phương tiện truyền thông thời đó vẫn còn lưu trữ khá đầy đủ trong các văn khố nhà nước.

Còn thêm một suy luận nữa giúp ta khẳng định thêm, ông Phạm Quỳnh không viết bức thư này. Hầu hết các trước tác của ông Phạm Quỳnh thời còn làm báo, đến nay đã được tái bản, cả trong nước lẫn ngoài nước. Những bài viết này, đọc kỹ, ta đều thấy có mối liên hệ, như một mạch ngầm tư tưởng, kết nối các tác phẩm với nhau. Tuy nhiên, không có bài viết nào có chút liên hệ, dù chỉ thoáng qua, giữa bức thư ông Đặng Minh Phương đưa ra với những bài viết đã công bố.

Chúng ta đều biết, thông thường tư tưởng của một con người, trước sau rồi cũng sẽ biểu lộ ra hành động. Nhưng ở ông Phạm Quỳnh, khi làm báo, cũng như lúc làm quan to, không hề có một hành động nào chống phá cách mạng, hại dân, hại nước, cũng không hề có một hành động nào thể hiện tư tưởng sẵn sàng xóa bỏ Tổ quốc để được làm  nô lệ cho Thực dân.

Nhà sử học Văn Tạo nhận xét: “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đày các nhà yêu nước…

Đến đây, ta có thể dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết.

Một số tài liệu nữa, ông Đặng Minh Phương đưa ra, nhằm kết tội ông Phạm Quỳnh, cũng có tình trạng như tài liệu trên: Nó dựa vào trí nhớ, lời nói của những người đã xa lánh cõi trần từ rất lâu. Theo ông Phương cho biết, sinh thời, các cụ đã kể cho người này người nọ nghe. Các vị nghe kể lại, nay cũng đã qua đời. Nhưng thuở còn tại thế thì đã có lúc các cụ kể lại cho lớp người ngày nay cũng đã lên hàng lão. Như thế, câu chuyện đến tai ông Phương đã qua trí nhớ của ba thế hệ vào hàng đại lão. Nội dung những lời kể này không thấy lưu lại hôm nay bằng văn bản xưa. Đến một mẩu tin nhỏ trên báo chí thời thượng để kiểm chứng độ chính xác của nó đều không có. Vì thế, ta có sơ cở để tin là nó không có.

Có một tài liệu rất đáng tin cậy của thời đó đánh giá hoạt động chính trị của ông Phạm Quỳnh. Đó là bản báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Healewyn ngày 3/1/1945 (Đúng ra là ngày 8/1/1945 – PT chú) gửi Toàn quyền Decoux và trung tướng Mordant:

“Vị thượng thư ày vốn đã chiến đấu suốt cả đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, chống lại sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ và cho người An Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại chấp thuận một chế độ tư trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ, khước từ chế độ thuộc địa ở Nam kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài hòa nhã và thận trọng, con người đó đúng là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam, và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước và chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Khâm sứ Trung kỳ là viên quan thực dân đứng đầu xứ, kiểm soát cả triều đình Huế, quyền uy chỉ đứng sau Toàn quyền Đông Pháp. Trung tướng Mordant là tổng chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Pháp. Cả ba, Decoux, Healewyn và Mordant đều đầu sỏ, quyền lực bao trùm cả sáu xứ Đông Pháp. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của họ là trấn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng, bảo vệ xứ Đông Pháp cho nước Pháp.

Báo cáo của Healewyn về quan thượng thư Phạm Quỳnh là một văn bản nhà nước gửi đến tên cầm quyền tối cao của thực dân toàn cõi Đông Pháp. Nó mang tính chất tổng kết, đánh giá và gián tiếp đề ra hành động đối phó với Phạm Quỳnh nên Healewyn phải suy nghĩ, cân nhắc. Dứt khoát không thể báo cáo ẩu, có sự thiên vị bao che cho ông Phạm Quỳnh.

Ở đoạn trích này, ta thấy rõ, chính những bọn đầu sỏ thực dân đã phải thừa nhận ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước, không thể bị lung lạc bằng tiền tài, danh vọng. Phạm Quỳnh đã bền bỉ đấu tranh vì sự nghiệp giành lại quyền tự chủ cho người Việt không bằng con đường bạo động.

Về mặt logic hình thức, đoạn trích này đã bác bỏ toàn diện, triệt để nội dung đoạn trích dẫn không có nguồn gốc mà ông Phương đưa ra.

Với tất cả những lập luận trên, ta có thể kết luận ông Phạm Quỳnh, về mặt chính trị, không phải là người phản dân, hại nước. Ở một cái nhìn thoáng rộng, vượt ra ngoài những định kiến hẹp hòi, chúng ta có thể đánh giá ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước.

Tôi có cảm giác hai ông Nam Châu Đốc và Đặng Minh Phương mới khảo sát con người chính trị của ông Phạm Quỳnh. Còn hơn một nửa nữa là con người hoạt động văn hóa khiến ông trở thành một học giả, được lưu danh trong sử sách, thì hai vị đề cập quá nhạt.

Về sự nghiệp văn hóa của học giả Thượng Chi, cũng chính nhà sử học Văn Tạo đã nhận xét và đánh giá:

“… Nhưng mặt khác, ông có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Công lao đó đáng được ghi nhận”.

Nhà văn lão thành, nổi tiếng trung thực Nguyễn Công Hoan, sinh thời cũng có một đánh giá tương tự.

Chúng ta đồng ý với sự đánh giá của hai vị.

Xin bàn rộng thêm một chút. Khoảng hai thập niên đầu của thế kỷ XX, quốc ngữ đang được rất nhiều nhà văn hóa cả nước vun trồng, bồi đắp, để vươn lên thành một ngôn ngữ hoàn chỉnh, có thể chuyển tải được chính xác những nội dung tư tưởng, khoa học, triết học của nhân loại. Người Việt đương thời đang có ước mong Quốc ngữ sẽ thay chữ Hán và chuẩn bị sánh vai với tiếng Pháp trong mọi giao tiếp xã hội.

Một trong những người có công trong sự nghiệp này là học giả Phạm Quỳnh. Quao Đông Dương tạp chíNam Phong tạp chí, ông đã giới thiệu, diễn giảng một khối lượng rất lớn các nền văn hóa, các tư tưởng gia trong thế giới phương Tây. Từ đó, ông đã góp phần làm ngôn ngữ dân tộc trở nên chính xác, phong phú, uyển chuyển. Cũng từ đó, nền văn hóa dân tộc được bồi bổ, tầm mắt người Việt được rộng mở.

Thế hệ người Việt đầu tiên được tiếp xúc với văn hóa phương Tây là các nhà nho trong phong trào Duy Tân. Nhưng các cụ chỉ tìm hiểu cho chính mình và phải qua tân thư của Tàu. Chỉ đến thế hệ của học giải Thượng Chi, người Việt mới được tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Vì thế nó được quảng bá rộng rãi.

Về sau, đã có người coi những bài viết của học giả Thượng Chi trong hai tạp chí Đông DươngNam Phong như bộ bách khoa toàn thư cho các thế hệ người Việt những năm đầu thế kỷ XX. Đánh giá này có phần đã nói quá. Nhưng qua đó, ta có thể hình dung được khối lượng kiến thức lớn lao mà học giả Thượng Chi đã chuyển tài đến người đọc.

Từ những nhận xét trên ta có thể kết luận: Học giả Thượng Chi là một nhà văn hóa, có những đóng góp đáng trân trọng cho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, cho sự giao lưu văn hóa Đông – Tây, cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Đồng thời, quan thượng thư Phạm Quỳnh là một người yêu nước, có những hoạt động yêu nước theo cách thức của cụ.

Tháng Chín 30, 2017

Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

 Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Lời dẫn của Phạm Tôn: Cách đây hơn 20 năm, tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta đã xuất hiện một tập Truyện ngắn Nam Phong in một số truyện đã đăng trên 211 số báo Nam Phong. Nhưng lần này, mới là lần đầu tiên xuất bản toàn tập truyện ngắn đã đăng trên Nam Phong do Tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo sưu tầm và biên soạn,  Nhà xuất bản Văn học xuất bản với 540 trang sách khổ 15x23cm, in xong và nộp lưu chiểu năm 2012.

Sau đây là Lời mở đầu tập sách của Phó giáo sư Lê Chí Dũng nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Đà Lạt, giới thiệu tập sách này.

—o0o—

Vào đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, khi thành thị Việt Nam đang tư sản hóa cùng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân, khi văn hóa nước ta giao lưu mạnh mẽ với văn hóa phương Tây, chủ yếu là với văn hóa Pháp, và một tầng lớp trí thức Tây học ra đời thay thế cho tầng lớp trí thức Nho học đang tàn tạ, thì vấn đề đổi mới văn học, đưa văn học vào quỹ đạo chung của văn học thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách. Văn học Việt Nam lúc đó đứng trước hai khả năng phát triển: hoặc cách tân dần dần văn học truyền thống để đi đến văn học hiện đại; hoặc học tập văn học phương Tây, theo hệ thống thể loại văn học ấy để nhanh chóng xây dựng văn học hiện đại nước nhà.

Trong hoàn cảnh như vậy, việc phát triển truyện ngắn, đương nhiên cũng đứng trước hai khả năng: đổi mới dần dần truyện ngắn truyền thống; hoặc nương theo thể loại truyện ngắn phương Tây, mau chóng tạo ra truyện ngắn hiện đại Việt Nam.

Các nhà nho, như Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Hiếu, đã chọn khả năng thứ nhất. Phan Bội Châu dùng văn học để tuyên truyền, cổ động cho sự nghiệp cứu nước. Nhà chí sĩ đã cách tân nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó có thể loại truyện kể ngắn; đó là những sáng tác bằng văn xuôi chữ Hán, như các truyện Nguyễn  Hàm, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân, Nữ liệt sĩ Đinh phu nhân, Tái sinh sinh, Nhà sư ăn rau, Chân tướng quân, Phạm Hồng Thái truyện, và các truyện được viết bằng tiếng Việt, như Truyện ông Lý Hồ, Anh Khờ, Kểnh và Càng. Đọc những truyện này, độc giả cảm nhận rõ ảnh hưởng của liệt truyện – một thể loại được Tư Mã Thiên sử dụng để viết Sử ký, một thể loại rất thông dụng đối với nghệ sĩ ngôn từ ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thời trung đại. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đến với văn học nước nhà giữa lúc các thể loại văn học truyền thống bị “xuống giá” so với hệ thống thể loại văn học phương Tây tràn vào Việt Nam, “xuống giá” tới mức không chỉ khiến Nguyễn Bá Học nói một cách cực đoan rằng thơ, phú, lục của nhà nho “tô điểm sai cả cảnh thực”, “dù cho quỷ khốc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”, mà còn làm Ngô Đức Kế buộc lòng thú nhận văn học cũ “chỉ tả được những cảnh kiều sương, điếm nguyệt, mục thụ, tiều phu, không lấy gì cho lạ tai mới mắt, thêm tri thức, thêm học vấn”. Sáng tác văn chương, “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, trong đó có viết truyện, Tản Đà mong muốn thể hiện trên trang giấy “những điều ta nghe, mắt thấy”, “không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội”, “để nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh sau được nghe câu chuyện về thuở trước”. Đọc truyện của Tản Đà, như Thề non nước, Thần tiên, độc giả thấy ông kế thừa lối viết truyện của tác giả Truyền kỳ mạn lục.

Các nghệ sĩ ngôn từ thuộc tầng lớp trí thức Tây học, như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, đã chọn khả năng thứ hai. Ở Nguyễn Công Hoan truyện ngắn đã đạt tới hiện đại ở giáp ranh những năm cuối 1920 – đầu những năm 1930 và trong truyện ngắn của ông lối kể chuyện dân gian rất rõ. Nếu nói rằng truyện ngắn hiện đại là cuộc phiêu lưu vô tận của nhà văn vào thế giới tâm lý của nhân vật, thì truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao là truyện ngắn hiện đại loại đó.

Trong sự vận động và phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và của truyện ngắn nói riêng, độc giả có thể thấy Đặng Thai Mai viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, in trên các báo ở Hà Nội; Cung Giũ Nguyên viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Đây là một hiện tượng nhất thời trong văn học hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc trong những năm cuối 1910 và những năm 1920 viết văn chính luận, truyện ngắn, ký và tiểu phẩm báo chí, in trên báo ở Paris. Những văn phẩm này của Nguyễn Ái Quốc theo các chuyến tàu biển từ Pháp về Việt Nam, lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, và đến các nước thuộc địa và phụ thuộc khác của chủ nghĩa thực dân. Những sáng tác văn chương ấy của Người đã đặt nền móng cho văn học cách mạng của giai cấp vô sản Việt Nam và chắc chắn đã góp phần xây dựng nền văn học cách mạng ở các nước từng là thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Viết văn bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc hướng sự tuyên truyền, vận động và tổ chức cách mạng vào quần chúng nhân dân, nhưng thông qua cái cầu nối là những người yêu nước, đồng thời thông thạo tiếng Pháp, thích văn học Pháp và tiếng Pháp trong sáng, tinh tế. Đó là chỗ khác biệt căn bản giữa Nguyễn Ái Quốc và những người kể trên khi dùng tiếng Pháp sáng tác văn chương. Chỗ khác biệt nữa giữa Nguyễn Ái Quốc và những người ấy là: viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, như Les lamentations de Trung Trac (Những lời than của bà Trưng Trắc), Incognito (Vi hành), Turlupinades ou Varenne et Phan Boi Chau (Những trò lố hay Varenne và Phan Bội Châu), La tortue (Con rùa), L’enfume’ (Con người biết mùi hun khói), D’un commun accord (Đồng tâm nhất trí), Nguyễn Ái Quốc kế thừa truyền thống giáo dục bằng lịch sử, bằng các nhân vật anh hùng trong lịch sử, bằng người thật, việc thật, sử dụng nghệ thuật ngụ ngôn…của văn học trung đại Việt Nam.

Như vậy, người Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, dù với những mục đích khác nhau, chỉ là hiện tượng nhất thời, không tạo ra một dòng văn chương bằng tiếng Pháp bên cạnh dòng văn chương bằng tiếng Việt trong con sông văn học hiện đại Việt Nam.

Nhìn lại những điều đã được trình bày ở trên, có thể rút ra điều sau đây: những truyện ngắn của Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc, của Tản Đà, Thạch Lam và Nam Cao, tuy viết bằng chữ Hán, bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Việt, và theo đuổi những mục đích khác nhau, nhưng đều cho thấy thể loại đang sống trong hiện tại bao giờ cũng nhớ đến quá khứ của mình.

Các tác giả của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí đã chọn khả năng nào trong hai khả năng phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và những truyện ngắn đó có vị trí như thế nào trong tiến trình xây dựng và phát triển truyện ngắn hiện đại Việt Nam? Nhằm mục đích cung cấp tư liệu để các nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc có thể trả lời một cách xác đáng, cụ thể câu hỏi đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo đã sưu tập toàn bộ truyện ngắn – hơn 60 truyện đã được đăng tải trên tạp chí tồn tại từ 1917-1934 ấy. Đó là cống hiến tủa tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo.

Các tác giả của những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí  đã cố gắng kể lại cho hệt những điều tai nghe, mắt thấy hoặc nếm trải trong cuộc sống – xã hội đời thường, một cuộc sống – xã hội khiến cho nhiều người đương thời phải than thở:

Ngồi buồn nghĩ chuyện vẩn vơ,

Quái, con ngựa sắt bây giờ đi đâu?

Anh hùng vắng mặt từ lâu,

Trên đầu phành phạch chiếc tàu nó bay”;

một cuộc sống – xã hội đầy rẫy những thối nát, bất công, thù địch với con người… Thi thoảng thấy đôi đốm sáng về người tốt, việc tốt trong những truyện ngắn ấy, thì ở thuật giả cũng pha tạp cảm hứng ngợi ca với cảm hứng phê phán. Nghĩa là truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí né tránh những vấn đề quốc sự (đọc hơn 60 truyện ngắn trên tạp chí này, chỉ gặp được một dòng có quan hệ đến quốc sự ở cuối truyện Câu chuyện ra ở đời của Tam Phủ: “ […] thuật giả nghe nói một người bị bắt, vì việc cộng sản, dây dưa thế nào, thuật giả lấy làm lạ; còn người kia được tin thời nghe nói ngồi khóc, […]” ).

Một điều đáng chú ý ở những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí là: những truyện ngắn này đã lọc qua chủ trương “điều hòa tân cựu”, “thổ nạp Á- Âu”. Có thể thấy rõ điều này nơi những tác giả các truyện ngắn: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục là những người cựu học; những người cựu học chuyển sang tân học: Nguyễn Bá Học và Hoàng Ngọc Phách; những người tân học: Phạm Duy Tốn và Lê Đức Nhượng. Ở truyện của Đông Châu và Tùng Vân không có chút gì gọi là truyện ngắn. Ở truyện ngắn Nguyễn Bá Học là sự mô tả khách quan, nhưng không vượt thoát được quan niệm văn học cũ; vừa làm quen với lối kể chuyện, mô tả, đối thoại của truyện ngắn hiện đại, vừa sử dụng văn biền ngẫu và chưa ra khỏi cách xây dựng hình tượng của văn học trung đại. Lê Đức Nhượng, không chỉ viết được nhiều truyện ngắn hơn, mà còn viết khéo hơn so với Nguyễn Bá Học. Về Phạm Duy Tốn, có nhà nghiên cứu đánh giá rằng “[…] lấy một truyện của Phạm Duy Tốn đem đặt cạnh một truyện cổ điển, ta thấy có một sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” (Thanh Lãng). Quả là truyện ngắn của Phạm Duy Tốn là một bước tiến về phía trước so với truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, nhưng vẫn chưa thể nói đó là một “sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” so với “truyện cổ điển” được. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, kể cả truyện ngắn nổi tiếng của ông Sống chết mặc bay, vẫn chưa đạt tới truyện ngắn hiện đại.

Nói đến sự vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại nước nhà, không thể quên vị trí đi đầu của truyện ngắn Nam Bộ, trong đó có truyện Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu văn học coi là tác phẩm hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam – đã được xuất bản tại Sài Gòn năm 1887.

Truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí xuất hiện chậm hơn truyện ngắn Nam Bộ hai thập niên;nhưng cả truyện ngắn trên Nam Phong, cả truyện ngắn Nam Bộ đều ở bước đi đầu tiên của truyện ngắn hiện đại Việt Nam và đều nằm trong quỹ đạo của sự lựa chọn khả năng thứ hai cho sự phát triển của truyện ngắn nước nhà.

Năm 1965, ở miền Bắc, sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã soạn Mục lục tư liệu văn hóa, văn học trên Nam Phong tạp chí  theo sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Lộc; năm 1968, ở miền Nam, Nguyễn Khắc Xuyên soạn và ấn hành Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (công trình này được nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Đông Tây tái bản, Huế, 2002). Nhờ những công trình như thể, độc giả hôm nay vô cùng thuận lợi tìm “địa chỉ” của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí . Tuy nhiên để đọc được những sáng tác đó, độc giả phải vào thư viện, tiếp xúc với bụi và mọt, với microfilm dưới ánh đèn nhức mắt, ngày này qua ngày khác. Độc giả ở Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí Minh có thể đọc những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí theo cách này. Độc giả ở những nơi khác thì đành…chào thua!

Sưu tập toàn bộ những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí để ấn hành, trao tận tay bạn đọc, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo cũng tính đến những điều ấy…

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa Toàn tập truyện ngắn Nam Phong.

PGS.TS Lê Chí Dũng

Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn

Trường Đại học Đà Lạt

 

100 năm Nam Phong tạp chí – Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp Chí

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Nguyễn Hữu Sơn

(Bài thu tại www.tapchisonghuong.com.vn ngày 19/8/2017)

  1. Việc nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí (1917 – 1934) trước hết cần đặt tạp chí này trong bối cảnh lịch sử – văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam và xu thế thực dân hóa trên thế giới đã vượt qua cao trào và chuyển dần sang giai đoạn thoái trào. Thời điểm ra đời Nam phong tạp chí (1917) rơi vào khoảng lặng giữa hai cuộc khai thác thuộc địa của nhà nước thực dân Pháp, lần thứ nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929). Sự tồn tại qua 17 năm của Nam phong tạp chí hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thực dân Pháp đã căn bản dẹp xong các cuộc kháng cự, từng bước đạt được sự ổn định và phát triển. Trên nền tảng thực tại đời sống tư tưởng, kinh tế, xã hội đã tạo đà cho học thuật, văn chương nghệ thuật, báo chí, xuất bản phát triển lên một tầm mức mới. Ở đây cần đặc biệt coi trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nhận diện đúng các đặc điểm và xác định đúng mức giá trị, ý nghĩa tiến bộ của Nam phong tạp chí, hạn chế tối đa lối đánh giá cực đoan, quy kết một chiều như đã từng đối xử với tổ chức Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, tư trào văn học lãng mạn và các nhóm Tri tân, Thanh nghị, Xuân thu nhã tập, v.v…
  2. Việc xác định tương quan giữa chính trị và văn học trên Nam phong tạp chí cần được xem xét, khảo sát đồng bộ ở ba phương diện cơ bản: Vai trò đội ngũ tác giả – Định hướng sáng tác – Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình và dịch thuật.
    • Vấn đề cần nhận thức và đi sâu khảo sát trước hết là định hướng tổ chức chính trị và đội ngũ tác giả đã làm nên lịch sử của Nam phong tạp chí, tức là tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người chủ trương và những người thực thi, thực hiện…

Không có gì phải bàn cãi việc ngài Albert Pierre Sarraut (1872 – 1962), quan cai trị, chính khách đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương lần hai (1917 – 1919), đã chỉ đạo Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị Đông Dương làm người sáng lập Nam phong tạp chí cùng học giả 25 tuổi Phạm Quỳnh làm Chủ bút kiêm Chủ nhiệm… Không chỉ với Nam phong tạp chí, Phủ Toàn quyền và Nhà nước bảo hộ Pháp đương thời còn khai sinh, bảo trợ cho Viện Viễn Đông bác cổ (từ 1900) và các tờ Gia Định báo (1865 – 1910), Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Đại Việt tân báo (1905 – 1908), Lục tỉnh tân văn (1907 – 1944), Đông Dương tạp chí (1913 – 1939), Trung Bắc tân văn (1913 – 1941), kể cả tài trợ in sách Đại Nam quốc âm tự vị (hai tập, 1895 – 1896) của Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907), bảo trợ cho gánh hát cải lương Phụng Hảo (1936), v.v… Hãy xem các ông chóp bu của chế độ thực dân nửa phong kiến bấy giờ trực tiếp xác lập tư tưởng chính trị và định hướng tôn chỉ, mục đích bản chí: “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7/1917, tr.1)… Cứ bằng vào lời phi lộ này và thực chất thước đo hiệu quả “nói và làm” trong suốt 17 năm tồn tại có thể ghi nhận Nam phong tạp chí đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, đặc biệt trên phương diện văn hóa – văn học, trong khi mệnh đề thứ hai “cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế” dường như chỉ là những mỹ từ cho đẹp đường lối chung chứ tuyệt nhiên không ăn nhằm gì và cũng vượt ra ngoài khả năng của một tờ tạp chí chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Trên thực tế, tạp chí đã chú trọng xây dựng, duy trì, điều hòa tốt mối quan hệ Đông – Tây, dân tộc – quốc tế, truyền thống – hiện đại với việc xuất hiện các bài viết bằng cả ba loại hình ngôn ngữ Quốc ngữ – Hán ngữ – Pháp ngữ. Thêm nữa, trong bối cảnh dân chủ tư sản, tạp chí vẫn rộng đường thông tin, trao đổi nhiều vấn đề nhạy cảm, dễ thường không lợi cho xu thế tập quyền của nhà nước bảo hộ: Khảo luận về chính đảng (số 103), Chế độ lập hiến và chế độ đại nghị (số 154), Nhân quyền luận (số 133), Chủ nghĩa quốc gia ở Ấn Độ (số 103), Khảo về hiện tình nước Nga (số 121), Vấn đề độc lập của Phi Luật Tân (số 196), v.v. Chính nhờ tinh thần khảo cứu khách quan và thượng tôn tư liệu mà các trang viết trên Nam phong tạp chí được người đương thời đón nhận, đánh giá cao và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều phần giá trị.

Trên thực tế, làm nên thành công của Nam phong tạp chí, học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh (30/01/1893 – 6/9/1945) đã có được một ban biên tập và cộng tác viên hùng hậu, gắn bó trong hầu suốt 17 năm tạp chí tồn tại… Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên (1923 – 2005) trong công trình Mục lục phân tích tạp chí Nam phong (Tái bản. Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.10-22) từng nhấn mạnh vị thế mấy tác giả chính: Phạm Quỳnh – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và chia loại, tôn vinh theo hai nhóm chủ yếu là nhà văn và nhà thơ… Có thể nói họ đều là những trí thức yêu nước, những cây đại thụ văn hóa đã gắn bó chặt chẽ với Nam phong tạp chí và góp công kiến tạo nền quốc văn – văn học Việt Nam giai đoạn bản lề nửa đầu thế kỷ XX.

  • Qua 17 năm phát triển, mảng sáng tác đã ghi dấu ấn sắc nét trên Nam phong tạp chí, đặc biệt khi đặt trong tương quan đời sống văn học trên báo chí giai đoạn cùng thời (1917 – 1934). Thực tế cho thấy, mặc dù có hai năm tồn tại song song, giao thoa với phong trào Thơ mới (1932 – 1934) nhưng thơ ca trên Nam phong tạp chí chủ yếu thuộc dòng thơ cũ gắn với thể Đường luật và không để lại dấu ấn nào đáng kể.

Do tính chất phức tạp, phức hợp, nguyên hợp của các loại hình và thể loại văn học mà nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong đã phân loại bộ môn XII- VĂN HỌC theo sáu chủng mục cơ bản: Văn học, văn hóa, văn minh – Văn gia, thi gia – Văn phẩm – Văn thể – Văn học thế giới – Văn học Pháp – Văn học Trung Hoa… Trên thực tế, có thể xác định thành tựu sáng tác trên Nam phong tạp chí chủ yếu lại là văn xuôi với hai thể loại chính là du ký và truyện ngắn…

2.2.1. Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên… Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký (còn được ông gọi là du hành) là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

2.2.2. Như đã phân tích, bên cạnh thể tài du ký nổi trội, ở đây chúng tôi tiếp tục xem xét thành tựu sáng tác truyện ngắn trên Nam phong tạp chí.

Theo thống kê của Nguyễn Đức Thuận, Nam phong tạp chí đã in tổng cộng 73 truyện ngắn (bên cạnh cách duy danh thể loại đoản thiên tiểu thuyết) (Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu). Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr.257)… Sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hào đã in Toàn tập truyện ngắn Nam phong (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2012, 540 trang) với tổng cộng 64 truyện. Đối chiếu các tác phẩm truyện ngắn trên Nam phong tạp chí với định hướng tư tưởng chính trị thường được lược quy là “bán nước hại dân”, “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, “nằm trong mưu lược của thực dân Pháp” lại thấy một nội dung khác hẳn. Khác biệt với định hướng chính thống, có thể khẳng định tất cả các tác giả truyện ngắn của Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), Nguyễn Mạnh Bổng (1879 – 1951), Nguyễn Tiến Lãng (1909 – 1976)… đều nhằm đề cao tinh thần dân tộc, phản ánh hiện thực đời sống xã hội và con người giai đoạn đương thời, tuyệt nhiên không thấy đâu một chiều tâm thế tuyên truyền và phục tùng chế độ thực dân Pháp như một số ý kiến từng quy kết. Xin đơn cử truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in vào ngay năm thứ hai sau khi tạp chí ra đời, được định dạng trong mục “Một lối văn hay”, trong đó phản ánh thực trạng người nông dân khốn khổ vì lũ lụt và phê phán sâu sắc bọn quan lại ích kỷ, vô trách nhiệm (cho dù truyện có chịu ảnh hưởng và mô phỏng La partie de billard của nhà văn Pháp A. Daudet, 1840 – 1897). Cốt truyện cô đúc, ngắn gọn, phác vẽ một bên là cảnh người dân cơ cực chống lụt với một bên là tên quan phụ mẫu, “quan cha mẹ” và đồng đảng, mỗi bên hút theo một mối quan tâm, cho đến kết cuộc: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!” (Nam phong tạp chí, số 18, tháng 12/1918, tr.355-357)…

Điều đặc biệt là truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn đã được ông Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh trực tiếp viết lời dẫn, trong đó nhấn mạnh chiều sâu và sức mạnh nghệ thuật “Shakespeare hóa”: “Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”…

Có thể nói bản lĩnh nhà văn, tinh thần hướng về quốc gia, dân tộc, thượng tôn bản chất thực tại cuộc sống và ý nghĩa khách quan của hình tượng nghệ thuật đã tạo nên tính nhân dân trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng như thể loại truyện ngắn, mở rộng đến toàn bộ văn xuôi, kể cả tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và tất thảy thể tài du ký đã từng xuất hiện trên Nam phong tạp chí. Điều này thể hiện định hướng, dòng chủ lưu của tiếng nói nhân dân trong các sáng tác văn xuôi trên Nam phong tạp chí mà không một ai có thể cực đoan bao biện, quy kết, phủ nhận…

2.2.3. Đối với Nam phong tạp chí, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng chính trị và khoa học xã hội vốn là định hướng chủ yếu của tạp chí.

Đặt trong tương quan với định hướng tư tưởng chính trị cũng như xu thế chung của quá trình hội nhập, giao thoa Đông – Tây và quy luật canh tân, đổi mới, phát triển, hiện đại hóa “thổ nạp Á – Âu”, việc các tác giả Nam phong tạp chí quan tâm nhiều đến yêu cầu “điều hòa tân cựu”, “tồn cổ lục”, “tổ quốc túy ngôn”, tập trung bảo tồn di sản văn hóa – văn học truyền thống, đi sâu khảo cứu chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Việt, chữ quốc ngữ; khởi động tìm hiểu từ cội nguồn ngữ văn dân gian đến trung đại và hiện đại; tổ chức kỷ niệm và đề cao vị thế danh nhân tác gia văn học như Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Vũ Quỳnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Mạc Thiên Tích, Lý Văn Phức, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Tương Phố,…; dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm tiêu biểu mà con cháu ngày nay vẫn còn được thừa hưởng như thơ văn thời Lý – Trần (123 bài), Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân thi tập, Hà Tiên thập cảnh, Thượng kinh ký sự, Văn tế thập loại chúng sinh,

Điểm danh và kiểm định toàn bộ phần sáng tác cũng như khảo cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học trên Nam phong tạp chí, thật khó mà qui kết đơn giản, cực đoan một chiều về những âm mưu, tác hại, nọc độc phản dân tộc, ru ngủ thanh niên, xa rời cuộc đấu tranh, phục vụ cho mưu đồ cướp nước, làm lợi cho thực dân…

  1. Trên tinh thần Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có Đổi mới văn học, nhiều hiện tượng tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học quá khứ đã được đánh giá, tôn vinh, giới thiệu trở lại, trong đó có vấn đề Nam phong tạp chí và học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh…

Theo thống kê bước đầu, các công trình nghiên cứu, giới thiệu từ 1986 đến nay đã khẳng định vị thế Nam phong tạp chí và vai trò học giả Phạm Quỳnh trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, chuyên khảo, luận án, luận văn; đặc biệt nhiều tác phẩm quan trọng đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Truyện ngắn Nam phong (1989), Mười ngày ở Huế (2001), Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong (Tái bản, 2002), Luận giải văn học và triết học (2003. Tái bản, 2016), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917 – 1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu) (2008), Phạm Quỳnh – con người và thời gian (2010), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Toàn tập truyện ngắn Nam phong (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (2013. Tái bản, 2014), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (2013), Thượng Chi Phạm Quỳnh (2015), Phạm Quỳnh – những góc nhìn xứ Huế (2015), v.v.

Có lẽ không cần có thêm lời bình về xu thế Đổi mới, hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ, hướng đến sự đánh giá khoa học, khánh quan, toàn diện, công bằng trước hiện tượng Nam phong tạp chí và học giả Phạm Quỳnh.

  1. Lời kết mở

Việc khảo sát, nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí không chỉ nhằm xác định, lý giải những so le nhất định trong hoạt động thực tiễn giữa những người làm báo yêu nước với chủ trương của giới thực dân, giữa những cách thức lựa chọn biện pháp đấu tranh khác nhau và hoàn cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1917 – 1934 quy định, mà cao hơn thế, còn cần đánh giá tổng thể các lĩnh vực tư tưởng chính trị, khoa học xã hội và nhân văn qua 17 năm tồn tại của tạp chí. Đương nhiên việc đánh giá Nam phong tạp chí theo tinh thần Đổi mới trước hết cần dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu tư liệu cụ thể, nghiêm túc, xác định đúng mức những đặc điểm, hạn chế lịch sử, đồng thời khẳng định những giá trị đồng hành với tiến bộ xã hội, với xu thế hội nhập, phát triển, canh tân đất nước. Đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá đúng mức vị thế Nam phong tạp chí trong lịch sử báo chí và quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.

N.H.S
(TCSH341/07-2017)

 

Tháng Chín 14, 2017

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo đã nghỉ hưu Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, thành phố Huế, từng có bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007) từ trang 36 đến trang 47. Mới đây, ông có nhã ý gửi cho chúng tôi bài Văn tế Nam Phong Chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn để bạn đọc thưởng thức thêm một nét hoài cổ của người đương thời với chúng ta

Vinh Ba_Pham Tuyen

—o0o—

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam,[1]

Đất đã khóc người xứ Bắc.[2]

Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn,[3]

Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất.[4]

Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?

Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi,[5]

Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.

Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,

Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.

Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,

Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.

Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường,[6]

Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất.[7]

Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,

Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.

Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?

Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư ,

Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.

Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, Trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,

Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, Viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.

Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,

Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực

Chí đã quyết nâng cao văn hóa, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,

Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiển Hoàng triều chọn làm chiến lược.

Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường

Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.

Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,

Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.

Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,

Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức

Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,

Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.

Mộng Vị Thủy[8] phò trợ minh vương,

Giấc Nam Kha [9]viễn trình bắc khuyết.

Rời Nam Phong tạp chí, xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang

Nhận Lại bộ Thượng Thư, đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc.

Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân

Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hòa thương thuyết.

Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!

Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;

Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.

Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên

Vành khăn tang trùm kín một gia đình, mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt

Uy vũ bất năng khuất,[10] bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,

Lương mọc kỳ hoại hồ,[11] gươm Văn Khúc[12] cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,

Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ

Nhiều nuối tiếc, hóa ra toàn có thật.

Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,

Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!

Hồn có linh thiêng,

Niệm tình thượng hưởng

Tháng 3.2009

N.P.V.B.


[1] Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917-1932. Khi thôi tham chính, mùa hạ năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.

[2] Ông phạm Quỳnh quê ở tỉnh Hải Dương thuộc miền Bắc nước ta.

[3] Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

[4] Ông mất tại một vùng hoang vắng, làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.

[5] Phạm tiên sinh sinh năm 1893, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung Kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn, nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.

[6] Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân, nhưng mất sớm vào năm 1926

[7] Ông Nguyễn Thái Học (1904-1930) bị xử tử tại Yên Bái ngày 17/6/1930, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.

[8] Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.

[9] Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của  một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.

[10] Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.

[11] Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.

[12]Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hóa

Người nặng lòng với nước – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Các bạn đọc bài này có thể sẽ thắc mắc vì sao năm 2006, tháng 8, trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay lại đăng bài Người nặng lòng với nước đều của tác giả Phạm Tôn, mà sao hai bài không hoàn toàn giống hệt nhau và cũng chẳng có bài nào giống hệt bài chúng tôi đăng dưới đây. Lý do là như sau…

Năm 2006 ấy, với khí thế đổi mới sôi nổi khắp cả nước đón chào Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng tôi quyết tâm với tràn đầy lòng tin tưởng ở sự nghiệp đổi mới, hoàn chỉnh bài viết sơ thảo từ năm 2001. Bản đầu tiên tới tay nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, là người tôi cho là có ”con mắt xanh”. Anh nhận ra ngay đây là bài có thể ra đời trong thời cơ này. Trong khi là người viết, chúng tôi còn do dự, chỉ mong hai bài Người nặng lòng với tiếng ta (viết năm 1999) và Người nặng lòng với nhà (viết năm 2000) ra đời trót lọt mới tính đến chuyện cho bài này ra đời. Nhưng anh Trần Văn Chánh đã đưa tạp chí Công giáo và Dân tộc, lại được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đọc và viết cho bức thư hai trang ”bảo lãnh”, nên mới ra đời suôn sẻ như vậy, trước sự ngỡ ngàng của tác giả và không ít người hiểu biết.

Sau đó, do có thêm tư liệu mới, tôi đã viết thêm một hai đoạn. Cho nên bài đăng trên Công giáo và Dân tộc là đăng nguyên văn, không thêm không bớt một chữ nào, nhưng vẫn không có các đoạn mới thêm đó. Bài sau này đến tạp chí Xưa và Nay, lại có sự biên tập thêm bớt nữa, cho nên đã khác lại càng khác với bài trên Công giáo và Dân tộc.

Đến bản trên blog lần này, do có thêm tư liệu, xác định được chính xác hơn một số lời nói, tình tiết, chúng tôi lại sửa chút ít, để đảm bảo sự chính xác tối đa về tư liệu lịch sử, trước khi đưa đến bạn đọc, nên lại khác đi một chút nữa.

Có điều, nội dung cơ bản ba bài vẫn như nhau, cho nên chúng tôi để nguyên ở cuối bài ngày tháng hoàn thành.

Hơn nữa, như các bạn đã đọc blog chúng tôi thì biết, chúng tôi luôn đăng theo đúng bản thảo của tác giả mà không lấy những bản đã bị cắt xén, sửa chữa

Vài hàng mạo muội trình bày để bạn đọc thông cảm sao một bài của một tác giả mà lại có đến ba bản khác nhau.

—o0o—

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Hinh 1_NuocCòn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant.Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh,  một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4 Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng I. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được hơn chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ trước khi ông được ”mời ra làm việc” trưa 23/8/1945.

Một sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến-Huế được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời Phạm Quỳnh ra làm việc”5 Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6 Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Hinh 2_NuocKhi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7 bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lHinh 3_Nuocên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).8 Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.9

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt . Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Hinh 4_NuocTrong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn  Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”10

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tayHinh 5_Nuoc. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. SHinh 6_Nuocau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin  ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng  đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

Hinh 7_Nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để Hinh 8_Nuocrủ rỉ kể lại một chuyện xưa. Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị bắt. Sau đó ít lâu, lại được bạn bè từ Huế cho biết dân chúng đang rất xôn xao về vụ Cụ bị xử tử hình. Nhân một dịp được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.12Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch13

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.14

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ mười của Phạm Quỳnh Hinh 9_Nuocmay mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)15

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”17

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể .(Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh – Thượng Chi). Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá vào bình phong của mộ hàng chữ Quốc ngữ câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Hinh 10_Nuoc

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.18

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng19

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

P.T.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chíThế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.


1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo tập tư liệu viết tay 10 trang của thiếu tướng Phan Hàm viết chiều ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

9 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

10 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

12 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

13 Giáo sư  Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

14 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

15 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

16, 17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

18 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

19 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam(trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Tháng Tám 27, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.