Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 14, 2017

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo đã nghỉ hưu Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, thành phố Huế, từng có bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007) từ trang 36 đến trang 47. Mới đây, ông có nhã ý gửi cho chúng tôi bài Văn tế Nam Phong Chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn để bạn đọc thưởng thức thêm một nét hoài cổ của người đương thời với chúng ta

Vinh Ba_Pham Tuyen

—o0o—

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam,[1]

Đất đã khóc người xứ Bắc.[2]

Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn,[3]

Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất.[4]

Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?

Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi,[5]

Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.

Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,

Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.

Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,

Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.

Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường,[6]

Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất.[7]

Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,

Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.

Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?

Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư ,

Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.

Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, Trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,

Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, Viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.

Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,

Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực

Chí đã quyết nâng cao văn hóa, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,

Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiển Hoàng triều chọn làm chiến lược.

Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường

Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.

Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,

Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.

Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,

Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức

Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,

Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.

Mộng Vị Thủy[8] phò trợ minh vương,

Giấc Nam Kha [9]viễn trình bắc khuyết.

Rời Nam Phong tạp chí, xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang

Nhận Lại bộ Thượng Thư, đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc.

Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân

Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hòa thương thuyết.

Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!

Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;

Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.

Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên

Vành khăn tang trùm kín một gia đình, mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt

Uy vũ bất năng khuất,[10] bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,

Lương mọc kỳ hoại hồ,[11] gươm Văn Khúc[12] cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,

Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ

Nhiều nuối tiếc, hóa ra toàn có thật.

Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,

Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!

Hồn có linh thiêng,

Niệm tình thượng hưởng

Tháng 3.2009

N.P.V.B.


[1] Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917-1932. Khi thôi tham chính, mùa hạ năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.

[2] Ông phạm Quỳnh quê ở tỉnh Hải Dương thuộc miền Bắc nước ta.

[3] Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

[4] Ông mất tại một vùng hoang vắng, làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.

[5] Phạm tiên sinh sinh năm 1893, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung Kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn, nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.

[6] Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân, nhưng mất sớm vào năm 1926

[7] Ông Nguyễn Thái Học (1904-1930) bị xử tử tại Yên Bái ngày 17/6/1930, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.

[8] Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.

[9] Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của  một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.

[10] Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.

[11] Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.

[12]Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hóa

Advertisements

Người nặng lòng với nước – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Các bạn đọc bài này có thể sẽ thắc mắc vì sao năm 2006, tháng 8, trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay lại đăng bài Người nặng lòng với nước đều của tác giả Phạm Tôn, mà sao hai bài không hoàn toàn giống hệt nhau và cũng chẳng có bài nào giống hệt bài chúng tôi đăng dưới đây. Lý do là như sau…

Năm 2006 ấy, với khí thế đổi mới sôi nổi khắp cả nước đón chào Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng tôi quyết tâm với tràn đầy lòng tin tưởng ở sự nghiệp đổi mới, hoàn chỉnh bài viết sơ thảo từ năm 2001. Bản đầu tiên tới tay nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, là người tôi cho là có ”con mắt xanh”. Anh nhận ra ngay đây là bài có thể ra đời trong thời cơ này. Trong khi là người viết, chúng tôi còn do dự, chỉ mong hai bài Người nặng lòng với tiếng ta (viết năm 1999) và Người nặng lòng với nhà (viết năm 2000) ra đời trót lọt mới tính đến chuyện cho bài này ra đời. Nhưng anh Trần Văn Chánh đã đưa tạp chí Công giáo và Dân tộc, lại được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đọc và viết cho bức thư hai trang ”bảo lãnh”, nên mới ra đời suôn sẻ như vậy, trước sự ngỡ ngàng của tác giả và không ít người hiểu biết.

Sau đó, do có thêm tư liệu mới, tôi đã viết thêm một hai đoạn. Cho nên bài đăng trên Công giáo và Dân tộc là đăng nguyên văn, không thêm không bớt một chữ nào, nhưng vẫn không có các đoạn mới thêm đó. Bài sau này đến tạp chí Xưa và Nay, lại có sự biên tập thêm bớt nữa, cho nên đã khác lại càng khác với bài trên Công giáo và Dân tộc.

Đến bản trên blog lần này, do có thêm tư liệu, xác định được chính xác hơn một số lời nói, tình tiết, chúng tôi lại sửa chút ít, để đảm bảo sự chính xác tối đa về tư liệu lịch sử, trước khi đưa đến bạn đọc, nên lại khác đi một chút nữa.

Có điều, nội dung cơ bản ba bài vẫn như nhau, cho nên chúng tôi để nguyên ở cuối bài ngày tháng hoàn thành.

Hơn nữa, như các bạn đã đọc blog chúng tôi thì biết, chúng tôi luôn đăng theo đúng bản thảo của tác giả mà không lấy những bản đã bị cắt xén, sửa chữa

Vài hàng mạo muội trình bày để bạn đọc thông cảm sao một bài của một tác giả mà lại có đến ba bản khác nhau.

—o0o—

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Hinh 1_NuocCòn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant.Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh,  một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4 Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng I. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được hơn chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ trước khi ông được ”mời ra làm việc” trưa 23/8/1945.

Một sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến-Huế được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời Phạm Quỳnh ra làm việc”5 Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6 Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Hinh 2_NuocKhi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7 bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lHinh 3_Nuocên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).8 Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.9

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt . Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Hinh 4_NuocTrong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn  Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”10

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tayHinh 5_Nuoc. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. SHinh 6_Nuocau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin  ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng  đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

Hinh 7_Nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để Hinh 8_Nuocrủ rỉ kể lại một chuyện xưa. Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị bắt. Sau đó ít lâu, lại được bạn bè từ Huế cho biết dân chúng đang rất xôn xao về vụ Cụ bị xử tử hình. Nhân một dịp được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.12Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch13

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.14

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ mười của Phạm Quỳnh Hinh 9_Nuocmay mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)15

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”17

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể .(Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh – Thượng Chi). Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá vào bình phong của mộ hàng chữ Quốc ngữ câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Hinh 10_Nuoc

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.18

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng19

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

P.T.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chíThế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.


1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo tập tư liệu viết tay 10 trang của thiếu tướng Phan Hàm viết chiều ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

9 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

10 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

12 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

13 Giáo sư  Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

14 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

15 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

16, 17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

18 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

19 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam(trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Tháng Tám 27, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí (1934

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:09 chiều

Blog PhanTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

 DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN

TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917-1934) (*)

Nguyễn Đức Thuận

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 485 tháng 7 năm 2017, trong trang 33 và các trang 36-39)

Những năm đầu thế kỉ XX, do những biến động về đời sống xã hội, do những đòi hỏi thẩm mỹ mới của đối tượng tiếp nhận văn chương, nền văn học của nước nhà đã từng bước được hiện đại hóa, chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, báo và tạp chí mở rộng khắp từ Nam chí Bắc. Báo chí ra đời là một sự kiện mới, tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội cận đại ở nước ta, và là một trong những thành quả tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam hiện đại… Ngoài những nội dung thông tin, các báo và tạp chí thời ấy đều có mục văn chương. Trên con đường phát triển của báo chí, thành tố văn chương ngày càng được mở rộng, gia tăng. Trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại, cũng như hiện nay, báo chí có quan hệ khăng khí máu thịt với văn chương theo hai chiều tương hỗ. Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương mà lôi cuốn người đọc và ngược lại, văn chương nhờ báo chí mà đến được người đọc một cách phổ biến rộng rãi. Khi nhìn nhận vè quá trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, nhiều ý kiến đã khẳng định vai trò của báo chí trong việc góp phần xây dựng nền văn học mới. Nghiên cứu diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí, bước đầu chúng tôi muốn góp phần khắc phục một “khoảng trống” trong việc nghiên cứu về văn chương trên các báo và tạp chí đã hiện diện trên văn đàn nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ XX.

Từ trước đến nay, Nam Phong tạp chí đã trở thành một đối tượng thể hiện sự khác biệt, mâu thuẫn về quan điểm nhìn nhận và đánh giá, thậm chí có những ý kiến trái ngược nhau. Đến nay, đi qua thời gian gần một trăm năm, vấn đề nhìn nhận đã khác. Bình tĩnh đọc lại với ý thức thực sự cầu thị, chắc chắn chúng ta sẽ rút ra được những kết luận khoa học và có ích.

Nhìn tổng quát, việc nghiên cứu Văn trên Nam Phong mới giới hạn ở một số vấn đề về tác giả và tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, ngay cả trong những vấn đề thuộc về Văn trên Nam Phong tạp chí đã được nghiên cứu, ở mỗi thời kỳ, ở mỗi khu vực, nhiều ý kiến cũng còn chưa thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, kể cả một số nhận định của các nhà nghiên cứu văn học ở nước ngoài (1)

Báo chí thời đó có thể xem “là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách xây dựng câu văn xuôi. Nó còn là nơi sưu tầm phổ biến vốn văn học cổ điển của nước nhà, giới thiệu văn học Pháp và Trung Quốc. Quan trọng hơn cả, nó là nơi hầu hết các nhà văn bấy giờ và về sau rèn luyện ngòi bút của mình”(2). Với Phạm Quỳnh, ông chủ trương canh tân đất nước bằng văn hóa, tiếp nhận văn hóa văn minh phương Tây, đồng thời bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, trên tinh thần “Thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”. Muốn vậy, ông chủ trương phải xây dựng cho được một nền quốc học, quốc văn, mở mang dân trí, đưa đất nước tới con đường thực hiện chủ trương chính trị quân chủ lập hiến của mình. Một tinh thần “Thổ nạp Á – Âu” mà thời điểm nước nhà không chỉ bị thực dân tấn công bằng văn hóa và giáo dục, là cần thiết. Ông đã dùng tờ tạp chí Nam Phong như một công cụ hợp lý và có hiệu quả để hành động, thực hiện ý đồ chính trị của mình. Đó là phương hướng cải cách văn hóa, văn học nước nhà trên lập trường dân tộc, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, bảo tồn tiếng nói, văn hóa, văn học của nước nhà.

Sự nghiệp của Nam Phong tạp chí phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tờ tạp chí ở vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, cũng là một hành trình khá dài, trí đã cùng và lực đã kiệt. Về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn (như cuộc cách mệnh thi ca mở đầu từ tháng 3/1932 và trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn 1933), Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học dân tộc.

Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng vẫn thuộc về sản phẩm của một thời kỳ văn hóa, văn học của Việt Nam, cần phải được nghiên cứu thật khách quan và công bằng.

Bước sang đầu thế kỷ XX, những yếu tố của một xã hội hiện đại đã xuất hiện ở nước ta. Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại – xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học. Nhưng bắt tay vào xây dựng một nền văn học mới quả là gặp muôn vàn khóa khăn. Bởi lẽ, “Có biến đổi được nhu cầu của nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ mới biến đổi được tính chất của văn học. Một thời đại văn học này phân biệt được với một thời đại văn học trước hoặc sau nó là ở chỗ khác nhau của lý tưởng thẩm mỹ và nhu cầu nghệ thuật” (3) Lực lượng nào có thể làm được việc ngày? Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra. Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học. Nhưng sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới (chữ quốc ngữ la-tinh) và tư duy sáng tạo mới (thi pháp sáng tác). Cần phải có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp và khắc phục sự đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu thé kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là nguyên thủ và giữ vai trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời. Thời gian khắc phục sự “đứt gãy” và chuyển đổi tư duy văn học trên văn đàn nước ta là khoảng hai mươi năm (từ đầu thập niên mười đến đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước). Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ. Đó là sự phát triển phong phú và đặc sắc về các thể loại văn học của giai đoạn 1930-1945. Và khi ấy, Nam Phong đã trở nên bất cập rồi bị bỏ lại ở phía sau trên con đường hiện đại hóa văn học của nước nhà.

Nam Phong tạp chí hoạt động từ tháng 7 năm 1917 đén tháng 12 năm 1934 thì đình bản. Văn trên Nam Phong tạp chí có vai trò và vị trí như thế nào trong tương quan với văn đương thời trên các báo và tạp chí khác trước và sau giai đoạn này? Đây là một vấn đề thú vị, nhưng phải có điều kiện nghiên cứu ở một công trình khác. Ở đây chỉ có thể nhìn nhận khái quát như sau: Một số thể loại văn học tuy xuất hiện ở báo chí Nam bộ trước Nam Phong tạp chí, nhưng thực sự lại chưa có thành tựu, chưa có lý luận định hướng sáng tác, do đó cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học trên phạm vi cả nước. Mặc dù sáng tác của Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Larazo Phiền (1887) ra đời từ rất sớm, nhưng chỉ như một đốm sáng lóe lên rồi vụt tắt trên bầu trời văn học cuối thể kỷ XIX. Nam Phong tạp chí đã bước đầu thành công trong mục đích “xây dựng một nền quốc học và quốc văn” mới cho nước ta, tạo nền móng khá vững chắc và chuẩn bị những điều kiện cần thiết, ban đầu cho sự phát triển của văn học nước nhà theo hướng hiện đại hóa. Văn trên Nam Phong tạp chí có cả cũ và mới và đã đạt được thành tựu cả về chất và lượng, trong đó đã có dấu hiệu của những hoa trái đầu mùa (4). Nam Phong tạp chí là một trong những nơi “đầu nguồn” của văn chương hiện đại. Trong tiến trình của lịch sử văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, vai trò của Nam Phong là vai trò mở đầu. Cùng với một số báo chí và tạp chí khác của đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí chủ yếu tựa như đã làm những công việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc sinh nở – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy sự nghiệp hơn 17 năm của Nam Phong không tạo ra được một cuộc “cách mệnh thi ca”, hay cũng không tạo ra được một trào lưu văn xuôi lãng mạn của Tự lực văn đoàn hoặc trào lưu hiện thực phê phán ở giai đoạn sau, nhưng Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì là cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học. Văn trên Nam Phong tạp chí đã kế thừa văn truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu những cái mới của văn phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, để xây dựng và phát triển thành một nền văn học bước đầu mang tính chất hiện đại, hiện đại từ ngôn ngữ, thể loại đển một số yếu tố mang tính thi pháp, như nhân vật, kết cấu và phong cách văn chương. Trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học của nước nhà, Nam Phong tạp chí đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại trên nhiều phương diện. Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác, thời đó, Nam Phong tạp chí  là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Nhìn từ góc độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật. Trong tiến trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong tạp chí như một dòng sông, có dòng trong dòng đục. Ở nơi dòng trong, hòa cùng với nhiều mạch nguồn trong khác của các báo chí đương thời, nó đã đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945. Còn nơi dòng đục, đó là một phần không nhỏ những tác hại về nội dung của văn chương trên Nam Phong tạp chí. Bên cạnh những bài của mục “Luận thuyết” thuộc về các vấn đề quan hệ với thời thế, chính trị của tờ tạp chí này, mà trong phạm vi của luận án không đặt ra việc nghiên cứu, ngay trong nhiều tác phẩm thuộc phần Văn ở đây, cũng có tác phẩm đã đề cao sự bảo hộ của “Đại Pháp”, tuyên truyền bằng văn học cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, vốn đã làm không ít người ngộ nhận và mắc sai lầm về tư tưởng chính trị, trên con đường đấu tranh cứu nước. Đó là điều cần nhận rõ và cần phê phán!

Khác với nhiều tờ báo và tạp chí khác, Nam Phong tạp chí kể từ khi mới xuất bản, đã có định hướng, có trình bày lý luận và lí thuyết một số thể loại mới của văn học, có tổ chức, có khích lệ, dìu dắt để các cây bút mở đầu trên cả nước ta sáng tác, làm văn theo hướng hiện đại hóa, ảnh hưởng của văn đàn Nam Phong là rất lớn. Nhiều người đã từ “trường học” Nam Phong mà trở thành các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học… Nam Phong tạp chí đóng vai trò “bà đỡ” cho nhiều cây bút văn chương, nhất là những cây bút văn xuôi xuất hiện và trưởng thành. Trong việc làm đó Nam Phong có định hướng, và có một ý thức rõ rệt; vừa bền bỉ, lại vừa cố gắng. Nhiều tác giả, tuy tác phẩm đến nay chỉ còn được coi như những “bài tập” mở đầu cho một nền văn học mới, nhưng tên tuổi và một số sáng tác của họ vẫn như những “cái đinh” đóng vững chắc vào trong lịch sử văn học của nước nhà. Thời kỳ này, một số báo và tạp chí khác ngoài Bắc cũng đã tham gia vào quá trình đổi mới, hiện đại hóa nền văn học. Nhưng Nam Phong tạp chí là một tạp chí tham gia một cách tự giác nhất và đầy đủ nhất trên cả hai phương diện: lý thuyết và thực tiễn sáng tác. Nam Phong đã chủ động mở “cửa sổ nghệ thuật” sang hướng phương Tây, đã tạo dựng được nhiều thể loại văn học mới. Các thể loại văn học của nền văn học hiện đại, chẳng hạn như tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch nói… đã xuất hiện trên Nam Phong. Thể loại văn xuôi thuộc loại hình tự sự ra đời và đã trưởng thành. Nó đã tiếp nhận hình thức kết cấu, nhân vật, hành văn, ngôn ngữ…của thi pháp hiện đại, như: kết cấu theo nội tâm nhân vật, mang đậm yếu tố bi kịch, nhân vật gần với cuộc sống thực, từ bỏ dần lối văn biền ngẫu, cú pháp thiếu chặt chẽ, dùng nhiều từ Hán – Việt nặng nề… góp phần tạo những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới và hiện đại hóa văn học những năm sau. Trên Nam Phong tạp chí đã xuất hiện những bài viết mang tính chất nghiên cứu, lý luận, phê bình sắc sảo, nghiêm túc và hiện đại. Đồng thời có nghĩa là, Nam Phong tạp chí cũng đã có những cây bút nghiên cứu, lý luận, phê bình của văn học quốc ngữ theo hướng hiện đại đầu tiên trên văn đàn nước nhà. Rồi đây, không lâu sau, ở giai đoạn 1930-1945, văn đàn sẽ xuất hiện những nhà văn – những cây bút phê bình, nghiên cứu, lý luận văn học nổi tiếng, như: Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Lê Thanh, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai… Nhưng một số cây bút nghiê cứu, lý luận không chuyên trên Nam Phong cũng đã đem đến một ngọn gió mới cho một thể văn vốn còn quá hiếm trong tiến trình hàng ngàn năm của nền văn chương dân tộc. Công việc nghiên cứu, phê bình văn học mang tính chất mở đầu ấy của Nam Phong là rất đáng ghi nhận. Việc phát triển và làm cho sâu sắc là công việc của những thế hệ tiếp sau! Bởi vì, xây dựng một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học cho có thành tựu, cũng không thể là công việc của mười, hai mươi năm, hay của một thế hệ!

Văn trên Nam Phong có cả cũ và mới. Cũ ở chỗ, Nam Phong tạp chí đã cho đăng một số lượng rất nhiều thơ làm theo thể thơ cổ điển, nhất là thể thất ngôn bát cú Đường luật của những tác giả cựu học cuối mùa. Trên Nam Phong cũng có cả thể biền văn: văn tế, câu đối, và những câu tản văn cân đối nhịp nhàng… Nhưng mới ở chỗ, Văn trên Nam Phong tạp chí cũng đã có những thể loại văn học mới mà trước đó chưa hiện diện ở văn đàn nước ta. Đó là văn xuôi, gồm: tiểu thuyết (có đoản thiên, có trường thiên), truyện ngắn, có các thể ký quốc ngữ la-tinh; có cả nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, là thể loại văn học mà gia tài ông cha ta chưa có, và nếu có để lại thì vốn quá mỏng manh. Lại còn có cả kịch nói, dịch thuật chữ Hán, chữ Nôm và chữ Tây… Những cây bút tân học đã đem đến cho Văn trên Nam Phong không chỉ là những tri thức mới. Những thể loại văn xuôi quốc ngữ mới của nước ta, đến Nam Phong mới bước đầu được định hình, hoặc nếu trước đây đã có cũng “chỉ như như một cánh chim lạ đáp xuống cánh đồng văn học của nước ta”, và chỉ đến Nam Phong, chúng mới được đẩy lên một cách có ý thức, đạt được sự hoàn thiện về thể loại, cả chất lượng cũng như số lượng của tác phẩm. Bấy nhiêu thể loại văn mới đó đã dần thay thế cho những thể loại văn học xưa cũ, và đó cũng là dấu hiệu cơ bản của một nền văn học hiện đại.

Số lượng các sáng tác, nghiên cứu, văn dịch… trên Nam Phong tạp chí là rất đáng ghi nhận, tạo nên một nền văn học quốc ngữ mới, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và đời sống văn chương từ giai đoạn đầu thế kỷ bấy giờ và nhiều năm sau… Nhiều cây bút “sáng giá” đã viết cho Nam Phong, thế nên Nam Phong tạp chí là tờ báo thu hút được số đông bạn đọc đương thời. Họ đã thực sự lấy sáng tác, nghiên cứu văn chương làm nghề nghiệp, mặc dù họ phải đối mặt với cuộc sống cực kỳ khó khăn. Nhưng qua thực tiễn sáng tác, nghiên cứu Nam Phong tạp chí cũng đã bồi dưỡng , dìu dắt, đào tạo được một lực lượng sáng tác văn xuôi mới, những cây bút mở đầu của nền văn chương hiện đại, trong đó có nhiều tác giả có vị trí, có tên tuổi trong thể loại văn học mới, thể loại đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Sáng tác của họ, nhìn khắt khe, có thể chỉ như là những “bài tập” cho một số thể loại của văn xuôi quốc ngữ, nhưng rõ ràng là cũng đã có thành tựu. Sau này, một lớp người cầm bút sáng tác thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản xuất hiện, khi đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy nghệ thuật mới, Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước đòi hỏi của đời sống văn chương và nhu cầu của đời sống xã hội.

Bên cạnh việc xây dựng một nền quốc học, Nam Phong tạp chí đồng thời đã gắn với việc xây dựng một nền quốc văn mới, trong đó dùng chữ quốc ngữ là văn tự chủ yếu để làm công cụ cho bạn đọc tiếp nhận văn chương. Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với một lớp công chúng tiếp nhận mới. Do tính chất phổ biến của chữ quốc ngữ, vì là kết quả của những cuộc vận động học tập của nhóm Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ XX, nên từ Nam Phong tạp chí,  nhiều người đã có thêm những tri thức mới trên nhiều phương diện của đời sống, trong đó văn học là phần tri thức quan trọng mà Nam Phong đã cung cấp cho độc giả.

Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với các hoạt động văn hóa và những quan điểm văn hóa. Xây dựng quốc học để làm nền móng xây dựng quốc văn, đó là mục tiêu của Nam Phong. Cùng với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Nam Phong tạp chí đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình sử dụng, hoàn thiện và sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ trong xã hội nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Nhiều ngôn từ mới trên mục “Từ Vựng” mà Nam Phong cung cấp cho độc giả và công chúng thời ấy, đến nay vẫn còn có giá trị sử dụng trong kho tàng ngôn từ tiếng Việt. Tiếng nói của nước nhà, dù sao cũng phải một lần chịu ơn những gì mà hàng ngàn bài thơ, bài văn của các nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật, phê bình… đã đăng trên Nam Phong tạp chí, góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn từ dân tộc.

Đề tài, nội dung các sáng tác của Văn trên Nam Phong đã gần với cuộc sống hiện thực, theo thời gian, xa dần tính chất “tải đạo” và khuôn mẫu của văn chương trung đại những thế kỷ trước. Tuy chưa thể xem là thành tựu cơ bản, nhưng Nam Phong tạp chí cũng đã góp phần làm đổi mới văn pháp của một số thể loại văn học, nhất là văn xuôi nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX.

Là tạp chí, báo chí, Nam Phong tạp chí đã tạo nên được sự gắn bó mật thiết giữa báo chí với sự phát triển của văn chương và ngôn ngữ văn chương. Tính chất “cộng sinh” này đã giúp cho văn chương và báo chí cùng song song tồn tại và phát triển dài lâu. Đây cũng là một trường hợp khá tiêu biểu để báo chí hiện đại ngày nay tham khảo.

Nam Phong tạp chí đã trang bị cho lớp thanh niên trí thức ở những năm đầu thế kỷ XX một “hành trang tri thức” khá phong phú về nhiều phương diện, nhất là về văn hóa, văn học để rồi từ đó họ sẽ kế thừa, phát triển nối tiếp tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đổi mới trong lĩnh vực văn học, là tiền đề cho ra đời những trào lưu văn học mới, tạo nên một nền văn học mới – văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 và những năm sau.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thành tựu và diện mạo phần Văn trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi nhận thức rằng: ở nơi “đầu nguồn” của văn học Việt Nam hiện đại, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nhiều năm qua, chúng ta còn chưa khai thác một cách đầy đủ vào gia tài còn rất bề bộn và giàu có của văn chương dân tộc hồi đầu thế kỷ XX. “Ở trong còn lắm điều hay” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Đi qua thời gian ngót một trăm năm, Nam Phong tạp chí nói riêng cũng như nhiều báo chí, tạp chí khác nói chung đã rách nát, hư hỏng. Chúng ta cảm thấy xót xa và tiếc! Nhiều người còn ngần ngại và né tránh đi vào khai thác và nghiên cứu khu vực văn học trên các báo chí, tạp chí của giai đoạn này. Nếu vượt qua được những rào cản tâm thức “vô hình” để đến với khu vực và giai đoạn văn học “đầu nguồn” này một cách khoa học và nghiêm túc, khách quan và công bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ còn nhận về được một di sản văn chương mà giá trị của nó có nhiều hơn chúng ta tưởng.

Từ đây, các nhà nghiên cứu văn học sẽ có đủ tư liệu và bằng chứng để khẳng định rõ ràng hơn về sự hình thành và phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời đó cũng là cơ sở để làm sáng tỏ và lí giải sâu sắc những thành tựu phong phú, đặc sắc của văn học giai đoạn sau – giai đoạn văn học 1930-1945.

——————

Chú thích:

(*) Xem Nguyễn Đức Thuận, Văn trên Nam Phong tạp chí ( Diện mạo và thành tựu), NXB. VH, HN, 2008.

(1) Nguyễn Đức Thuận, “Tình hình nghiên cứu phần Văn trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) từ 1975 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, Viện KHXH Việt Nam, năm 2005, tr.117-125.

(2) Nhóm Lê Quý Đôn, Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, NXB, Xây Dựng, Hà Nội, 1957, tr.132.

(3) Trương Tửu, Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam, NXB. Xây Dựng, Hà Nội, 1958, tr.229

(4) Xem Nguyễn Đức Thuận, Đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí, NXB. VH, HN, 2013.

(5) Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong , NXB. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

 

Tháng Tám 14, 2017

Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NAM PHONG TẠP CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

NGƯT. Vũ Thế Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này do Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Trong luận văn khoa học tổng kết 15 năm điền dã khảo cứu về Hướng Thiện hội đền Ngọc Sơn (hình thành trước 1836 và hoạt động trong suốt thế kỷ XIX) như một cơ sở văn hóa – xã hội sâu xa của phong trào Duy tân – Nghĩa thục, trên cơ sở 3 sơ đồ về sự truyền thừa tư tưởng giáo dục dân tộc, nhân bản và hướng Thiện (xem Phụ lục), chúng tôi đã đề xuất khái niệm “hậu Đông Kinh Nghĩa Thục”. Ngôi nghĩa thục trung ương trên phố Hàng Đào chỉ hoạt động được 7 tháng thì bị đàn áp, nhưng ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng thay vì bạo động non do các lãnh tụ Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục khởi xướng, vẫn tiếp tục tác động sâu rộng và dài lâu khắp Nam Bắc. Khắp đô thị và nông thôn vẫn ngầm tuôn chảy những mạch tư tưởng dân tộc và dân chủ mà ĐKNT đã kịp khai thông. Các tư thục của ông đồ làng – những cơ sở văn hoá – xã hội rộng khắp của tầng lớp “Nho sĩ bình dân” (thuật ngữ do nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện đề xuất, đối lập với “Nho sĩ quan lại”) – vẫn âm thầm hoạt động trong các làng xã, phường thôn. Từ đền Ngọc Sơn đến tận chùa Nhã Nam ở Cần Thơ người ta vẫn giảng những bài Đạo Nam kinh thấm đậm hồn Duy tân: Hợp đoàn thể, Khuyến nông, Khuyến công, khyuến thương, Khuyến nữ học[i]. Cư sĩ Thiều Chửu vẫn mở các lớp dạy chữ quốc ngữ, soạn và in sách quốc ngữ (mỏng, chỉ một tay sách 16 trang) truyền bá đạo lí dân tộc và khoa học thường thức, phát không cho dân nghèo[ii]. Tác động do đường lối “giáo dục quốc dân” của ĐKNT sở dĩ sâu rộng là vì nó thực sự mang tính cánh mạng, chứ không phải là “cải lương”, như quy kết của một số nhà nghiên cứu mang cái dớp của phái Proletkult mà Lenin đã phê phán. Gọi là “cách mạng” vì ĐKNT chủ trương thay hẳn nền giáo dục Nho học cổ hủ cốt đào luyện “thần dân bù nhìn chỉ biết làm theo lệnh trên”, bằng một sách lược tân học văn minh (“Văn minh tân học sách”) “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm đào tạo những công dân biết độc lập suy nghĩ và tự hành động[iii]. Để đạt mục tiêu đó các nhà Nho dứt khoát vứt bỏ thiên kinh địa nghĩa nghìn năm, thay nó bằng “tân thư” với những khái niệm hoàn toàn mới như quốc thể, quốc dân, dân chủ, nghị viện, lập hiến, xã hội, đoàn thể, công nghĩa, công ích, khoa học thực nghiệp v.v…

Nam Phong tạp chí không nằm ngoài sự ảnh hưởng của tư trào hậu ĐKNT, dẫu không thể không chịu sự tác động của quan Chánh mật thám Marty ở Phủ toàn quyền Đông Dương, người trực tiếp sáng lập và tài trợ cho tạp chí. Thì Quan Chánh đã chẳng cố công tác động đến cả Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp đấy thôi! Kết quả (và cả hậu quả) ra sao, ngày nay mọi người đều rõ.

Bất chấp việc danh tính Chánh mật thám Marty lù lù trên trang bìa, Nam Phong tạp chí vẫn trở thành diễn đàn uy tín dẫn đạo được quốc dân trong “buổi giao thời”. Ấy là nhờ vị Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có tinh thần tự chủ văn hóa đã tuyên ngôn rõ ràng, có học vấn thông kim bác cổ, có nhân cách kẻ sĩ đàng hoàng, lại có tài tổ chức, nên đã tập hợp được một đội ngũ trên trăm rưởi tác gỉả tài ba thuộc đủ khuynh hướng xã hội-chính trị, nhưng đều là những cây bút nghiêm túc và xuất sắc, từ các bậc đàn anh từng tham gia Đông Kinh nghĩa thục như Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, đến lớp hậu sinh có tư tưởng cấp tiến như sáng lập viên Việt Nam Quốc dân đảng Phạm Tuấn Tài và đảng viên Cộng sản tương lai Lê Mạnh Trinh.

Trong bài phát biểu năm 1922, kí giả Phạm Quỳnh, cố ý mặc quốc phục áo the đen và đóng khăn xếp, đã khôn ngoan mượn lời lẽ của một học giả Pháp để nói thẳng với chư vị viện sĩ Hàn lâm Đại Pháp rằng: “Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hoá kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hoà giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang” (VTK nhấn)[iv]. Trước đó 2 năm, trong bài viết “Độc thư cứu quốc (mừng các ông tân khoa trường đại học)”, hướng tới thế hệ trí thức trẻ nước Việt, ông đặt thẳng ra trước họ cái nhiệm vụ chính ông đang thực hiện bằng tờ báo của mình: “…Người ta học là vị chân lí, vị nhân loại, ta học nên vị nước trước nhất, sự học của ta phải là cái học cứu quốc vậy” (Nam Phong, số 36, tháng 6 – 1920).

Rõ ràng ông Chủ bút Nam Phong tạp chí không có ý định hạn chế trong phạm vị mấy điều cải lương nhỏ giọt của “mẫu quốc Đại Pháp” mà nuôi hoài bão “thể (tức thể theo, dựa theo – VTK) cái chủ nghĩa khai hoá” của chính quyền bảo hộ để làm đại sự –  kế tục khéo léo hơn, ôn hòa hơn trong tình thế mới đường lối “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm cứu nước của Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục. Vậy sao có thể quy kết chụp mũ là ông “chỉ phục vụ chính sách nô dịch của thực dân’, “làm tay sai, bán nước”?!

Phạm Quỳnh đã thực hiện đường lối giáo dục cứu nước trên hơn 2 vạn trang Nam Phong tạp chí như thế nào? Các bài vở bàn bạc về các vấn đề giáo dục, kể cả tranh luận giữa các ý kiến trái chiều, vô cùng phong phú. Trong phạm vi tham luận này xin phép chỉ đề cập một vấn đề, từng được Văn minh tân học sách của ĐKNT nêu lên hàng đầu trong đường lối giáo dục quốc dân của các nhà nho Duy tân:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,

Phải đem ra tính trước dân ta…

Vấn đề còn đặc biệt thời sự là vì người ta đang đua nhau dạy tiếng Anh cho cả trẻ mẫu giáo. Thậm chí có vị lãnh đạo nọ còn định biến tiếng Anh thành “ngôn ngữ thứ nhất” tại Việt Nam, khi bản thân chưa phân biệt nổi thế nào là “ngôn ngữ thứ nhất” (trong môi trường các nước đa ngữ, như Áo, Canada v.v…) và thế nào là “ngoại ngữ thứ nhất”!

Ông Phạm Quỳnh kiên trì đấu tranh thực sự cho việc dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ La tinh hóa làm công cụ chuyển tải tri thức phổ thông thay cho tiếng Pháp. Chuyện bây giờ tưởng như đương nhiên, hóa ra không hề dễ dàng trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ và chính quyền thực dân chủ trương biến dân Việt thành những con vẹt nói tiếng Pháp ngô ngọng như thổ dân ở các thuộc địa châu Phi của họ. Lại nữa, như các tiểu mục trên Nam Phong phản ánh, một bộ phận người Việt thăng tiến nhanh chóng nhờ “vào làng Tây”, tức trở thành những ông Tây An Nam, vì vụ lợi đòi dạy cho con em họ tiếng Pháp ngay từ ấu học, để chúng thành Tây con, nhanh chóng kiếm được vị trí “sáng rượu sâm-banh, tối sữa bò”. Ông chủ bút Nam Phong gọi chủ trương đó là “tư tưởng kì khôi”, là đem “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống cam tâm tự diệt vậy”. Kế thừa phương châm của ĐKNT, coi chữ quốc ngữ không phải là phương tiện làm nô bộc để vinh thân phì gia, mà là “hồn trong nước”, Chủ bút họ Phạm kiên trì gắn kết Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc học – Quốc hồn. Ngay từ bài đầu tiên trên Nam Phong bàn về giáo dục, lại là giáo dục cho phụ nữ, ông đã khẳng định: “Phàm phổ thông giáo dục mà dạy bằng tiếng ngoại quốc nhiều, là thất sách cả. Đối với con trai còn hại, huống chi là con gái” (NP, số 4/1917). Theo ông, chỉ quốc ngữ gắn liền với quốc văn, quốc học và quốc hồn mới xây dựng được nhân cách Việt vững vàng để tiếp thu văn minh Pháp và nhân loại. Hướng tới các quan thực dân định đoạt vận mệnh nền giáo dục ở thuộc địa, ông nhẹ nhàng than trách Học chính tổng quy-1917 của Toàn quyền Albert Sarraut là nó “chỉ để cho tiếng Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở bậc tiểu học”. Ông khéo léo gợi ý họ: “Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự (chúng tôi nhấn – VTK), sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ đầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp?”… Trích  đến dẫn đến đây, tôi phải tạm ngắt ngang, để lưu ý quý vị quan điểm quốc học toàn diện sâu sắc làm nền tảng cho quốc hồn của vi Thượng thư bộ học tương lai (10 năm sau, 1932!) – mà nền giáo dục XHCN của chúng ta, từ cuộc Cải cách giáo dục năm 1950 – 51 theo tả khuynh kiểu Proletcult, đã từ bỏ, do đó đã tạo nên “khoảng trống đáng sợ” như cả Bộ trưởng Giáo dục Dân chủ Vũ Đình Hòe[v] lẫn Thứ trưởng Giáo dục Cộng sản Nguyễn Cảnh Toàn[vi] đã chỉ ra. Trong bài diễn thuyết trích dẫn trên đây, kí giả Phạm Quỳnh gợi ý tiếp các quan Đại Pháp về phương hướng đặt cơ sở văn hóa của nền quốc học như sau: “…Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán với chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?”.

Học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra là một nhà giáo dục học uyên thâm và tiên tiến khi thuyết minh cho chư vị viện sĩ Hàn lâm Pháp về cứu cánh, tức mục đích cuối cùng, hay như thuật ngữ thời thường hiện nay – “mô hình đầu ra” của một nền giáo dục chân chính: “Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách con người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình”.[vii]

Rõ ràng không ngẫu nhiên ông “Vua tân thời” Bảo Đại chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư bộ Học.

Và cũng hoàn toàn có lí, khi vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”[viii].

[i] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Hội Hướng Thiện đền  Ngọc Sơn,  một cơ sở văn hoá – xã hội sâu  xa của phong trào Duy tân –  Đông Kinh nghĩa thục. – bản tiếng Pháp in trong sách Vietnam – le moment moderniste, Publications de l’Université de Provece 2009, tr. 79 – 93; toàn văn bản tiếng Việt có thể tìm đọc trên các mạng Talawas; dongtak.net (mục Đông tác giao lưu); lichsuvn.com; vanhien.vn; tóm  lược: Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đến trường Đông Kinh nghĩa thục. – Tạp chí Xưa và Nay, số 283, tháng 5 – 2007.

[ii] Tham khảo: VũThế Khôi – Cư sĩ Thiều Chửu với nền giáo dục bình dân. – Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 – 2002.

[iii] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Tính cách mạng trong đường lối “giáo dục quốc dân” của Đông Kinh nghĩa thục. -Bài đã công bố ở hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ” tổ chức ở Đại học Hoa Sen TP Hồ Chí Minh ngày 18 – 12 – 2008; đăng trong Kỷ yếu cùng tên, NXB Văn hóa Sài Gòn & Đại họa Hoa Sen – 2009, tr. 67 – 88; có thể tìm đọc toàn văn trên các trang mạng: hocthenao.vn; dongtac hncity. Org; event.hoasen.edu.vn

[iv] Phạm Quỳnh: Tiểu luận. Viết bằng  tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. Phạm Toàn giới thiệu và biên tập. – NXB Tri Thức, Hà Nội 2007, tr.410.

[v] Vũ Đình Hòe: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cuối 1945 – đầu 1946. – Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, N21/2003 và N1+2/2004; Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004.

[vi] Nguyễn Cảnh Toàn: Chữ Nho với nền văn hóa Việt Nam. – Tạp chí Hán Nôm, N4(59)/2003.

[vii] Tlđd ở chú thích 4., tr.408.

[viii] Vũ Đình Hoè: Nguồn gốc của Hội Truyền bá Quốc ngữ. – Tạp chí Xưa & Nay, số 51, tháng 5 – 1998.

Tháng Bảy 31, 2017

Dựng bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

DỰNG BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

(Bài đăng trang 9 báo Đại Đoàn Kết số 332 ngày 28/11/2014)

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyệBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongn Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa PHẠM QUỲNH (1893-1945);

Chủ bút báo Nam Phong hiệu Thượng Chi.

V.T.K.

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8năm 2017.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ ĐBia tuong niem nha van hoa Pham Quynhiển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế tại chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang QuynhTrên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho Pham Tuyen - Pham Dungmấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang QuynhTiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc. Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangBia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

 

Tháng Bảy 30, 2017

Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

BÀN PHIẾM VỀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên Tạp chí Nam Phong số 84 tháng 6 năm 1924. Tức là hai năm sau cuộc gặp gỡ tại Paris (Pháp) giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và nhiều người yêu nước khác. Khi viết bài báo tâm huyết, có tầm nhìn xa và đặc sắc này, Phạm Quỳnh mới 31 tuổi, đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

So sánh văn minh Đông phương với Tây phương, còn vấn đề nào to tát bằng! Những đọc đến đầu đề đã lấy làm sợ thay. Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau.

Trong một cõi Tây phương mà văn hóa nước Pháp không giống văn hóa nước Anh, văn hóa nước Anh lại khác văn hóa nước Đức; nay nói chung văn hóa Tây phương thời là chỉ văn hóa nước nào? Tức cũng như nói chung văn hóa Đông phương là chỉ văn hóa Ấn Độ, hay là văn hóa Nhật Bản, hay là văn hóa Trung Hoa? Vẫn biết rằng các nhà nghị luận là dùng phép tổng quát, chỉ gồm lấy những tính cách chung của văn hóa cả một phương mà không xét đến những sự đặc biệt trong văn hóa của từng nước, và cứ đại để mà xét như thế thời văn hóa nước Pháp dẫu khác với nước Đức, nhưng cũng là đại đồng tiểu dị, sánh với nhau còn gần hơn là sánh với văn hóa nước Tàu hay nước Nhật vậy. Song nhà nghị luận muốn khái quát cho đích đáng thời phàm những văn chương, triết học, mĩ thuật, tôn giáo, luân lí, chính trị của các nước Thái Đông, Thái Tây đời xưa đời nay, ít ra cũng phải thiệp liệp và lĩnh lược được hết, thời phán đoán mới khỏi sai lầm, nghị luận mới được xác đáng. Bậc thiên tài như thế, cổ kim đã được mấy người?

Hiện nay có nhà đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã từng đem một cái tư tưởng rất cao mà phê phán về văn minh Thái Tây. Nhưng ý kiến tiên sinh siêu việt quá, dẫu có cái đạo vị thâm trầm, cái mùi thơ ngào ngạt, mà tưởng không thiết cho sự yêu cầu của tâm trí người ta đương buổi Á, Âu xung đột này.

Lại mấy năm trước có một nhà làm sách Nhật Bản tên là Okakura Kakuzo, học vấn uyên bác, kiêm thông cả Hán học cùng Âu học, soạn một quyển sách nghĩa lí cũng sâu sắc, khám phá được nhiều điều, đều là “Lý tưởng Đông phương” (Les Idéaux de L’Orient, par Okakura Kakuzo, nguyên bản tiếng Anh, có dịch ra tiếng Pháp)  nhưng lập luận có ý thiên vì lòng ái quốc, cho rằng nước Nhật ngày nay là cái kho bảo tàng chung để chứa cả tinh hoa của thế giới.

Xem như thế thì so sánh văn minh Đông-Tây thật không phải là sự dễ. Các bậc tài cao học rộng còn chưa xét được đến nơi, tôi đây đâu dám tự phụ.

Song người nước ta bây giờ đương đứng giữa nơi hợp lưu hai cái văn hóa khác nhau, trước mắt có cái cảnh hai dòng nước đổ lộn, chưa biết rồi sau trong đục ra thế nào. Kẻ bi quan cho rằng nước càng xa nguồn tất càng đục; kẻ lạc quan cho rằng nước có đổ lộn sức mới to. Bi quan hay lạc quan, chẳng qua là theo cái ý riêng của mỗi phái mà dự tưởng sự kết quả về sau này. Còn hiện nay thời cũng chửa ai biết ra thế nào cả, lòng còn phân vân, trí còn bối rối, chửa hay nên đối phó với phong trào ra sao.

Cứ thực ra thì kẻ thức giả trong nước ta bây giờ, người nào cố ý không để tâm đến những chuyện xa xôi ấy thì chớ, còn những người còn biết trọng điều nghĩa lí ở đời, còn biết cho rằng ngoài sự danh lợi còn có những lẽ quan thiết cho nhân tâm thế đạo hơn, thời xem ra ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cho nên nhất là trong hạng thanh niên, kẻ không có chí bị đắm đuối trong cuộc ăn chơi phóng túng đã đành, kẻ có chí cũng đến hãm hại vào chốn sầu thảm chán chường.

Cái bi kịch về tinh thần đó, cái thảm trạng trong tâm trí đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, di truyền tự thượng cổ, tích lũy đã lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải chia sẻ ra lắm đường, nên giữ được cái vẻ thản nhiên yên ổn.

Kịp đến buổi phong hội mở mang, Á – Âu giao thiệp, thời sự xung đột hai cái văn hóa Đông-Tây bắt đầu từ đấy. Trong bấy lâu, tuy cứ bề ngoài mà xét tựa hồ như có bên thắng bên bại, bên tiến bên lùi, tình thế đã rõ ràng ra đó, nhưng cứ thực sự thời người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng dở dang, chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định. Bởi thế nên chí hướng phất phơ, tâm hồn phảng phất, thần trí không được thư xướng mà trong lòng như mang một nỗi áy náy không yên.

Cũng muốn nhắm mắt mà theo mới, nhưng theo mãi rồi đến đâu? Nếu kết quả chỉ gây ra một giống không Âu không Á, nửa Tây nửa Đông, tầm phơ tầm phất, lốc cốc lông bông, không nhà không nước, không cha không ông, thời cũng là uổng công vô ích mà lại để hại về sau. Cũng muốn khư khư mà giữ cũ, nhớ lấy câu “giấy rách giữ lề”, nhưng mà lại lắm nỗi dở dang, “bỏ thương vương tội”; những cái nguyên nhân tích nhược trong bấy lâu đeo đẳng mãi thật cũng khốn!

Ấy tình trạng những kẻ thức giả trong nước ta thuộc về vấn đề văn hóa có cái vẻ bối rối mà thảm thương như thế. Đối với tình trạng ấy, trách sao có lắm người sinh ra những tư tưởng chán đời. Không phải đời đáng chán, bởi lòng không yên, trí không định, nên sự nghiệp đến hững hờ, mà công danh đến đểnh đoảng. Mà lòng không yên, trí không định, là bởi cái vấn đề văn hóa chửa giải quyết xong.

Xét cho cùng, cái nguyên nhân của mọi sự chếch lệch trong xã hội, mọi nỗi bất bình trong lòng người không phải là thuộc về luân lí, không phải là thuộc về chính trị, chính là một cái vấn đề văn hóa ấy vậy.

Văn hóa là gì? Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần người ta thế nào cho được thập phần tốt đẹp, để nẩy nở ra những công trình to tát, sự nghiệp lớn lao mà đem tư cách một quốc dân đến tuyệt phẩm. Ví người ta như cái cây, thời văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, kết quả sinh hóa, để tô điểm cho cái vườn hoa của thế giới.

Nay mầm Hồng chồi Lạc của ta cũng không phải là giống cỏ hèn của Tạo vật; sao nỡ để cho đến khô héo mà úa tàn? Bởi vì ta bấy lâu lúng túng chưa biết cách vun xới cho phải đường. Cứ trồng theo lối cũ thời chỉ gây được một giống cây non bộ, coi nó nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nơi nắng cả gió to được mấy nả. Muốn trồng theo lối mới thời cũng chỉ mọc ra ngoài một loài tầm gửi giây leo, quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt đứng sao!

Nhân tài nước ta cũng như cái dây tầm gửi, cây non bộ đó, mong sao có ngày chiếm được địa vị vẻ vang trên thế giới?

Cho nên cái vấn đề văn hóa đối với nước ta là quan hệ lắm. Vấn đề này có giải quyết được phải đường, thời nước ta mới có được nhân tài xứng đáng; nước ta có nhân tài xứng đáng, thì mới mong sinh tồn tự lập được ở đời.

Tôi không dám tự phụ rằng đã tìm được cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng bấy lâu nay, từ khi khôn lớn biết tư tưởng đến giờ, vẫn lấy làm băn khoăn khắc khoải, lúc nào cũng như canh cánh trong lòng, tưởng như sự hạnh phúc cả một đời, sự vận mệnh cả một nước là quan hệ ở đó. Tôi không phải là người “đa tư đa cảm” như các bạn thanh niên đời nay; nhưng bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng biết khổ vì một cái lí tưởng suông. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng trong trí không có một cái lí tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình, thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lí riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi. Nhưng nói thế là để tỏ rằng, đối với cái vấn đề văn hóa này, thành thực và sốt sắng là dường nào.

Vẫn biết rằng một lòng thành thực sốt sắng thật chưa đủ giải quyết được một vấn đề quan trọng mà khó khăn, nhưng không có tư cách gì khác nữa thời thế cũng đủ để cùng các anh em đồng chí trong nước giãi bày chút ý kiến riêng.

Bọn ta sống giữa đời Đông-Tây giao thiệp, Âu-Á một nhà, đối với văn hóa Tây phương, đối với văn hóa Đông phương, đối với tinh thần Âu châu, đối với tinh thần Á châu, phải nên có một thái độ như thế nào? Ấy cả cái vấn đề là gồm trong một câu đó.

Gần đây đã thành một câu khẩu đầu hễ bàn đến văn minh Âu-Á thì nói nên phải điều hòa hai bên, giữ lấy cái hay mà bỏ cái dở. Tôi đây cũng tin ở sự điều hòa đó, vẫn lấy bốn chữ “Thổ nạp Âu-Á” làm lời cảnh huấn riêng. Song nói dễ mà làm khó; văn minh không phải là vị thuốc, có thể cứ đồng cân mà hòa lấy cho đúng liều được. Văn minh là một vật không hình thể, không trọng lượng; văn minh là thuộc về tinh thần vậy.

Muốn điều hòa hai cái tinh thần khác nhau, phải biết dùng trí tuệ một cách sáng suốt khôn ngoan, phải biết khảo sát: thương lượng, biện biệt, phán đoán, rồi mà châm chước cho thích trung. Khó lắm thay! Lại khó hơn nữa, là cách giáo dục trong nước tuyệt nhiên không giúp được tí gì cho sự điều hòa ấy, không những không giúp được tí gì mà lại hầu như ngăn trở cho không thành được. Vì rằng muốn điều hòa tất phải có hai bên, mà nay giáo dục chỉ chuyên về một bên, bên kia không biết đến, thì còn điều hòa cái gì? Hiện nay cái hiện tượng đã rõ rồi đấy: phần nhiều những bậc thiếu niên tuấn tú trong nước, từ thuở nhỏ chỉ theo về một đường Tây học, đối với văn học Đông phương, đối với lịch sử nước nhà, đang nhiên không biết một tí gì, như thế thời còn biết điều hòa là sự gì nữa? Muốn điều hòa, phải tham bác cả đôi bên, nghiền ngẫm cho thâm thúy, rồi mới châm chước cho vừa phải. Nếu chỉ độc chuyên một phương diện, thời thành ra thiên lệch rồi.

Cho nên cái vấn đề văn hóa ở nước ta càng xét ra lại càng thấy khó khăn phiền phức vô cùng.

Trước hết có một cách giải quyết cái vấn đề ấy, mới coi tựa hồ như giản dị ổn thỏa hơn cả, một số nhiều trong quốc dân ta ngày nay như mơ màng mà khuynh hướng về hết. Kể giản tiện thì cách này giản tiện thật, giản tiện quá! Là cứ thuận dòng nước mà chảy xuôi, không cần phải bận lòng đến sự gì nữa. Nghĩa là xóa hẳn cái vấn đề đi, cho là không cần phải đề khởi ra làm gì. Ngày nay các nước Âu Tây cường thịnh nhất trong thế giới, văn hóa của các nước ấy chắc là hay ho tốt đẹp vô cùng. Ta cứ việc nhắm mắt mà theo, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn cho phiền. Có ngày theo được đến nơi, rồi cũng sẽ được như người ta, có lo gì? Và văn hóa ấy ngày nay có thế lực rất mạnh, cơ hồ muốn tràn ngập cả thế giới. Dẫu ta không muốn theo, cái phong trào nó cũng lôi cuốn ta đi. Miễn cưỡng phải theo, thà rằng vui lòng mà theo còn hơn.

Nói rút là theo phái ấy thời vấn đề văn hóa ở nước ta là một câu chuyện hão huyền, bất tất phải bàn đến. Nghĩ cũng tiện thật, nhưng mà nghĩ kĩ có lẽ chưa tiện chút nào. Dẫu nay không muốn bàn đến mà rồi có ngày cũng phải bàn. Nếu không liệu sớm ngay từ giờ, rồi càng ngày càng thêm khó. Xưa nay không có nước nào bỏ căn bản mình mà thành lập được bao giờ. Phàm sự văn hóa là phải vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nếu bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái “dã tràng xe cát bể Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì!” Tự mình không có gốc sẵn mà đi mượn của người, thời như người vay lãi mà ăn, sớm trưa tất có ngày phá sản. Tình cảnh ấy rất là nguy ngập. Người Nam ta nếu túy tâm về Âu hóa mà không hồi cố đến căn bản mình, thời không khác gì người đi vay nợ mà ăn, tất có ngày vỡ nợ. Ví Âu hóa mà có cách nào hóa được hẳn như người Tây, thời còn hạnh phúc nào bằng, chúng ta xin sẵn lòng kí cả hai tay. Nhưng cái lẽ không thế được; cổ kim không có bao giờ có sức biến hóa đến căn bản như thế. Nếu trong khi biến hóa mà không khéo châm chước điều hòa, thời có cái nguy gây ra một giống dở dang bác tạp, căn bản cũ mất hết mà tính cách mới không thành, tức là một cái quái vật trong nhân quần, không biết liệt vào chủng loại nào. Giống quái vật ấy chỉ biết xuẩn động quấy rối, không biết sáng khởi kiến thiết bao giờ.

Giống quái vật ấy là cái ác ma của xã hội, càng ngày càng nhiều thời xã hội đến diệt vong. Nói thế không phải là nói quá, cái triệu chứng đã nghiệm thấy ngay quanh mình vậy.

Như vậy thời dẫu người nhiệt thành Âu hóa, vì có cái trí phán đoán sáng suốt, tất phải hiểu rằng sự điều hòa là sự cần. Cái thuyết thuận dòng xuôi chảy, nhắm mắt mà theo phong trào, là một cái thuyết sai lầm vậy. Nay đã biết điều hòa là sự cần, thời phải nên điều hòa ra làm sao? Như trên kia đã nói, sự này là thuộc về tinh thần, về trí tuệ, không thể cân nhắc đo lường được, không thể kê ra cân lượng như cái đơn thầy thuốc vậy. Phải tùy ở mỗi người biết khéo dụng trí khôn mà châm chước có thích nghi. Song cũng phải có mấy cái phàm lệ chung để định cái thái độ của người mình đối với hai văn hóa Đông, Tây như thế nào.

Trước hết hẳn phải định nghĩa văn hóa là gì. Như đã giải ở trên, văn hóa là gồm cách đoàn luyện tinh thần người ta. Văn hóa là dịch tiếng Tây culture, nghĩa đen là cách cấy trồng. Người ta ví như cái cây thì văn hóa là cách vun trồng cho nẩy nở được hết cái tinh hoa. Cây có trồng cây mới tốt, người có hóa người mới hay; văn minh với dã man khác nhau là một bên có văn hóa, một bên không. Như vậy thời văn hóa là một sự cần, một dân một nước không thể khuyết được. Nước ta xưa nay vẫn xưng là “văn hiến chi bang”, nghĩa là đời nào cũng có văn hóa, nên người thuần, tục tốt, xã hội chỉnh đốn, lịch sử vẻ vang. Nay gặp đời giao thông, thế không thể không ra tiếp thụ văn minh mới, thâu thái mà điều hòa với cái tinh thần cố hữu của mình. Ta phải tìm cách gây lấy một nền văn hóa riêng cho nước ta, tham bác cả hai tinh thần Âu, Á. Đó không phải là sự mơ tưởng viển vông, chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn vậy. Kẻ thức giả trong nước phải nhận chân lấy cái trách nhiệm đó mà ra sức đảm đương. Lại là việc lâu dài, không thể kể hàng tháng hàng năm, cũng không thể thành công kết quả ngay được. Nhưng phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, muốn tìm phương tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được, còn ngoại giả không có đường lối nào nữa. Xin quốc dân ta nhớ lấy cho rằng, cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hóa. Vấn đề văn hóa còn quan hệ hơn vấn đề chính trị vậy.

Đó là điều cốt yếu, mong những nhà có chí trong nước để tâm suy xét, vì trong bài này không thể nói cho hết ý được.

Nay đã biết sự văn hóa là quan hệ, việc điều hòa văn hóa là sự cần, thời phải biết cách đối đãi hai cái văn hóa Đông, Tây ra thế nào.

Ngày nay vì thời thế, quốc dân ta mỗi ngày một khuynh hướng về đường Tây học. Phần nhiều cũng là thuận dòng nước chảy xuôi, như trên kia đã nói có lẽ không mấy ai nghĩ đến cái tính cách, cái giá trị của Tây học thế nào. Hay là có, có nghĩ đến cái giá trị sự học, nghĩ đến nhiều, nhưng nghĩ rằng học hết tiểu học thì có thể làm được vài chục đồng một tháng, hết trung học thời được dăm chục đồng, mà hết cao đẳng thời được một trăm đồng, không kể còn những phẩm hàm chiếu đối, danh dự xóm làng là phụ thêm ở ngoài nữa. Cái giá
trị đó tuy cũng đáng trân trọng thật, nhưng quyết không phải là giá trị chân chính của sự Tây học. Nay bất luận vì cớ gì mà người nước ta xô theo Tây học, đã theo cũng phải biết rõ tính cách sự học thế nào. Tính cách ấy, muốn phân tích ra cho tường thì phiền phức lắm, nhưng có thể tóm tắt lại đại khái bằng một câu như sau này: học thuật của Thái Tây là học thuật về sự vật, văn hóa của Thái Tây là văn hóa về sự vật. Người Âu Tây từ xưa đến nay chỉ chuyên chủ khảo sát sự vật, mà làm thế là chỉ có một mục đích lợi dụng cho người ta được phú cường…(“…” là do bị kiểm duyệt xóa)

Các hiền triết phương Đông không thiết gì đến sự vật, chỉ chủ dạy người ta sửa mình theo Đạo đức, và ăn ở với nhau trong xã hội cho êm thấm. Ấy cái đặc sắc, cái giá trị của văn hóa Đông phương là thế. Nếu cứ biệt lập ra một thế giới, không can thiệp đến ngoài, thời Đạo đức cũng đủ làm cho xã hội hòa bình. Nhưng cái văn minh đạo nghĩa ấy nhất đán phải ra xung đột với cái văn minh công lợi của Tây phương kia, thời không sao địch nổi, chỉ thấy hết phen thất bại ấy đến phen thất bại khác, rồi mà càng ngày càng sút đi, hầu như không còn có cơ hưng thịnh lên được nữa.

Hai văn hóa đã có tính chất khác nhau như thế, thời đối với văn hóa Tây phương ta phải có cái chủ ý thâu thái, mà trong khi thâu thái phải biết khéo kén chọn; đối với văn hóa Đông phương ta phải có cái chủ ý bảo tồn, mà trong khi bảo tồn phải biết khéo phát huy.

Nói rằng thâu thái, lại nói rằng kén chọn, là không thể cứ toàn thể, cứ y nhiên mà thâu nhập được; phải biết phân tích, phải biện biệt các phần mà chỉ chọn lấy phần nào có bổ ích cho sự tăng tiến của ta mà thôi. Việc này là thuần ở cái tài khôn khéo của mỗi người, không thể định cách thức sẵn được. Nhưng có một điều cốt yếu, là rất không nên câu nệ. Học Tây mà câu nệ là hỏng.

Nói rằng bảo tồn, lại nói rằng phát huy, là cũng có cái ý phân biệt ở trong đó, phần nào là phần cốt yếu thì phải nên giữ gìn, mà lại tỏ rạng cho sáng sủa thêm ra. Vì rằng văn hóa Đông phương ta ngày nay đương qua một hồi yếm thế, không những ta cần phải bảo tồn lấy, mà ta lại cần phải biểu dương lên. Đối với văn hóa Âu Tây ta nên hoài nghi bao nhiêu, thời đối với văn hóa Á Đông ta lại phải nên đôn đốc bấy nhiêu. Người Âu mê tín ở khoa học, người Á mê tín ở đạo đức. Sự mê tín trên có lẽ không chính đáng, vì đối với sự vật mà mê tín. Sự mê tín dưới có thể thừa nhận được, vì đối với một cái lí tưởng mà mê tín. Lí tưởng ấy cho rằng có thể lấy đạo đức, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa người đời sửa sang phong tục, chỉnh đốn xã hội, mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình trong thiên hạ. Lí tưởng ấy ta phải nên trân trọng, vì là cái tinh túy của văn hóa Đông phương ta; ta phải nên giữ gìn cho khỏi bị những phong trào mới nó lay chuyển đến đổ nát đi mất. Ta phải nên phát huy ra để làm cái đuốc sáng soi con đường tiến hóa cho nước ta.

Như vậy thời văn hóa Tây phương là gồm ở khoa học; văn hóa Đông phương là gồm ở Đạo học. Đối với khoa học ta phải nên có lòng công lợi, đối với đạo học ta phải nên có bụng chân thành. Hai đàng là cần cả, không đàng nào khuyết được. Nếu có Khoa học mà không có Đạo học thời như có vỏ mà không có ruột, không có khoa học thời như có ruột mà không có vỏ, không thể xông pha được với đời. Cho nên hai bên phải điều hòa hai cái văn hóa Đông, Tây vậy.

Nói tóm lại, cả cái vấn đề văn hóa nước ta là ở sự phân biệt và điều hòa hai mối Đạo học và Khoa học vậy. Điều đó tựa hồ như tầm thường ai cũng biết, mà về phần riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu được hết lẽ. Nhưng đến khi hiểu được rồi thời thấy trong lòng được khoan khoái, trong trí được vững vàng, không còn băn khoăn khắc khoải như trước nữa. Điều đó tuy tầm thường như thế mà tôi hiểu được cho là một sự phát minh đáng kỉ niệm trong một đời. Còn sự phát minh nữa, cũng tầm thường cho thiên hạ mà cũng đáng kỉ niệm cho riêng tôi, là phát minh được một cái phương tiện để giúp cho sự điều hòa như trên kia. Sự tác dụng thiết yếu nhất của thần trí người ta là sự tư tưởng. Dẫu văn hóa phương nào nước nào cũng là phát nguyên ở một mối tư tưởng trong lòng người mà ra. Nhưng nếu cái tư tưởng ấy cứ u u âm âm ở trong lòng, thời như vô hình vô trạng, không biết đâu mà dò xét được. Tất phát biểu ra lời nói mới gọi là thành hình. Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng, mà tư tưởng tất phải do lời nói mới biểu lộ ra được, thời lời nói cũng tức là cái cơ quan “thực hiện” của tư tưởng, lời nói quan hệ vô cùng. Nay người trí thức ở nước ta – là nói người trí thức mà thôi, còn kẻ tầm thường thời có mấy khi dùng đến tư tưởng – từ xưa đến nay, tư tưởng bằng tiếng gì? Có thể nói rằng các nhà cựu học hầu hết tư tưởng bằng chữ Nho cả, mà các bậc tân học cũng phần nhiều tư tưởng bằng chữ Pháp hết. Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hồ nghĩ ra một cái lí tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn thành câu rõ ràng, hoặc diễn u âm trong trí. Như thế thời nhà Nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ Nho, mà nhà Tây học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng của mình bằng chữ Tây. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy. Huống nhiều khi lại là tư tưởng mượn!

Tôi lấy cái đó làm khổ tâm, bèn nghĩ ra một cách phương tiện để bổ cứu, cách phương tiện này chính là sự nghiệp tôi về đường quốc văn. Tôi nghĩ rằng: Cớ sao người nước ta không tư tưởng bằng tiếng ta? Hoặc cho tiếng ta còn non nớt, thời có tập đến dùng đến mới thành ra già dặn được. Vả lại lời nói già dặn là ở như tư tưởng già dặn. Chỉ sợ tư tưởng còn non nớt, không sợ lời nói non nớt. Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rằng: phàm tư tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả. Thí nghiệm trong bấy lâu, xem ra cũng hơi có kiến hiệu. Lại nhận ra rằng cách đó chính là một cách rất diệu để giúp cho sự điều hòa hai cái văn minh như trên kia, vì những tư tưởng trong sách Tây sách Tàu phải diễn ra tiếng ta cả, khác nào qua cái óc ta lọc đi một lần dễ cho sự “tiêu hóa” biết dường nào! Nếu cứ để trườn trườn như trong sách, cứ giữ nguyên chất của người ta, thời chỉ dùng đến sức kí ức để nhớ lấy và truyền đi lắm khi hãy còn sống sượng, trí não không thể dung nạp được, không thể “tiêu hóa” được, chỉ giao dịch ở ngoài cửa miệng mà thôi. Nay đem đàn diễn ra tiếng ta, tức là biến nhuyễn ra cho dễ dung hòa vào khí huyết tinh túy của ta, cho dễ cùng nhau điều hòa trong óc ta vậy. Mấy sự “phát minh” đó, thật là tầm thường, chẳng lấy gì làm lạ lùng cả. Nói ra đây, thật là lời “bàn phiếm”; nhưng có ai chưa kịp nghĩ tới thời cũng mong giúp được cho sự nghiên cứu về vấn đề văn hóa một đôi phần vậy.

 

 

Tạp chí Nam Phong – 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:42 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

TẠP CHÍ NAM PHONG, 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Theo nguồn tin riêng của Blog PhamTon chúng tôi: Sáng thứ bảy, ngày 15/7/2017, tại thư viện Trung ương – Hà nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Tạp chí Xưa và Nay tổ chức cuộc tọa đàm “Tạp chí Nam Phong, 100 năm nhìn lại (1917 – 2017)”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc chủ trì buổi tọa đàm.

Mở đầu, nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Cụ Phạm Quỳnh – chủ bút Nam Phong – lên giới thiệu bộ đĩa in lại đầy đủ 210 số tạp chí Nam Phong thêm số báo Tết Mậu Ngọ 1918 là số báo Tết đầu tiên của nước ta, tiểu luận Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bản tiếng Việt do Phạm Trọng Nhân dịch từ nguyên văn tiếng Pháp, và Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên, được những người bạn Việt kiều ở Mỹ in lại gửi về biếu Thư viện Quốc gia và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Sau đó, nhà sử học Dương Trung Quốc trân trọng giới thiệu người tham luận đầu tiên là Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú. Giáo sư đã 89 tuổi. Giáo sư nói đại ý: Tôi có món nợ là đã viết bài phê phán Phạm Quỳnh. Sau năm 1954, tôi viết phản đối Phạm Quỳnh trong bài “Thực chất cuộc tranh luận giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh”. Năm 1958, trong giáo trình giảng ở đại học, tôi xếp Phạm Quỳnh vào văn nô dịch với Nguyễn Văn Vĩnh. Đến 1960, tôi đã nhận ra vấn đề. Năm 1965, tôi được khen và cảm thấy xấu hổ đã có lỗi lầm với Cụ Phạm. – “Lịch sử không làm lại được, nhưng nhận thức lại lịch sử thì vẫn luôn có.

Tiếp đó nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, tham luận với đề tài “Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục”. Chủ bút họ Phạm đã kiên trì gắn kết  Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc hồn.

Kế đến Tiến sỹ Nguyễn Đức Thuận, người đã tự mình dày công sưu tầm được đủ 210 tập Nam Phong tạp chí và làm sao chụp toàn bộ. Năm 1986 ông đã làm luận án Tiến sỹ về Nam Phong, nhan đề “Văn trên Nam phong tạp chí”, đã xuất bản thành sách.

Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên điểm lại những phê phán của văn học mới với Phạm Quỳnh, từ nhóm Lê Quý Đôn năm 1960 đến những lời nặng nề nhất của Đặng Thai Mai trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, đến cuốn “Chủ đích Nam Phong” của Nguyễn Văn Trung…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn tham luận về cuốn sách Du ký của Phạm Quỳnh do ông biên soạn và giới thiệu. Sau đó, đến tham luận của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

Giáo sư Nguyễn Nhật Vượng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) dự kiến sẽ tổ chức một hội thảo quốc tế tại đại học Quốc gia Hà Nội vào cuối năm nay nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong.

Ông Phan Bá Hoành – chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Dương tham luận, giới thiệu Hải Dương có hơn 1000 nhân vật lịch sử, mong muốn giới trẻ nhìn lại lịch sử và tìm thấy những bài học.

Do thời gian chỉ giới hạn trong một buổi sáng, buổi tọa đàm đã diễn ra rất xúc tích.

Kết thúc buổi toạ đàm, nhà sử học Dương Trung Quốc tuyên bố bế mạc. Ông nói: “Thời gian là thuốc thử hiện hình, nhưng cũng là chất cường toan có thể xóa đi ký ức”.

Tháng Bảy 14, 2017

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

  • Thu từ Tạp chí Sông Hương online, 21/58 ngày 7/7/2017:

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Sáng ngày 1/7,  Hội đồng họ PhạmThừa Thiên Huế đã tổ chức lễ dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân  kỷ niệm 100 năm  Tạp chí Nam Phong.

Tại buổi lễ, ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên Huế đã khái quát lại quá trình hoạt động, những đóng góp, cống hiến của cụ Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn hóa Việt Nam.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892.  Cụ Phạm là dịch giả, nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại trường Viễn Đông bác cổ. Từ năm 1913, cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, lúc mới 25 tuổi, cụ đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí. Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Là một Nho sĩ Bắc Hà, quê ở Hải Dương, sinh trưởng ở Hà Nội nhưng cụ Phạm rất nặng lòng với Huế. Lần đầu tiên đến Huế, cụ đã xem Huế là quốc hồn của Việt Nam.

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Kênh quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ chính là thông tin đại chúng và văn học. Thời kỳ này, báo chí Quốc ngữ phát triển rất nhanh, nhưng vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ quốc ngữ của báo chí thực sự nở rộ khi Đông Dương Tạp chí và Nam Phong tạp chí ra đời. Hai tờ tạp chí này có cách viết, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng câu chuẩn hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ.

Tờ Nam Phong tạp chí kế tiếp sự nghiệp truyền bá Quốc ngữ nhưng phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các cây bút chủ lực của Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong văn bản hành chính, đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học.

Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hóa, chuẩn hóa kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Cuộc đời của Cụ Phạm gắn liền với Tạp chí Nam Phong. Sự nghiệp văn hóa lẫn chính trị của Cụ được thực hiện thông qua tờ tạp chí này với sự tham gia của các đông nghiệp cùng chí hướng trên suốt một chặng đường dài.

Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “ Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên Tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời ký đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…. Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới…Đối với nên văn hóa cũ của nước ta, ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân…Văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả”.

Phương Anh

 

 

Trả lại sự sáng trong cho Phạm Quỳnh – Hà Khánh Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017.

TRẢ LẠI SỰ SÁNG TRONG CHO PHẠM QUỲNH

Hà Khánh Linh, Nhà văn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Hà Khánh Linh, tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, sinh tại Huế, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại Thừa Thiên Huế. Hiện ở tại số 24/7 đường Chế Lan Viên, thành phố Huế.

Những tác phẩm đã xuất bản gồm có Thúy, tiểu thuyết, nhà xuất bản Văn Nghệ Giải Phóng, 1973; Nụ cười Ápxara, tập truyện, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 1983; Là bóng hay là hình, tập truyện, NXB Tác Phẩm Mới, 1986; Chiến tranh và sau chiến tranh, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 1989; Rừng và cái chết con thiên nga, tiểu thuyết, Hội văn nghệ Thừa Thiên-Huế, 1992; Góa phụ Paris, tập truyện, NXB Văn Học, 1993; Trăng cứu rỗi, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1995; Những bọt bóng màu, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Con gái người cung nữ, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 1999; Vũng Chân Mây, tập truyện, NXB Đà Nẵng, 1999; Ngày ấy, Trường Sơn…, Hồi ký, NXB Hội Nhà Văn, 2000; Vì người mà tôi làm vậy, tập truyện, NXB Hội Nhà Văn, 2001; Người cắm hoa nhà thờ, tiểu thuyết, NXB Văn Học, 2002; Người kinh đô cũ, tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, 2004; …Và đàn bà, tập truyện, NXB Văn Nghệ, 2007; Phùng Quán viết Trăng Hoàng Cung, tự truyện, NXB Thuận Hóa, 2007; Ôi trần gian, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 2008…

Từ lâu nhà văn Hà Khánh Linh đã quý mến học giả Phạm Quỳnh và coi  “Vấn đề Phạm Quỳnh là vấn đề của lương tâm thời đại”. Với tâm thức đó, bà đã viết bài báo này vào cuối năm 2006.

—-o0o—

Sinh ra và lớn lên tại Huế, sau chiến tranh được sống và được làm việc ở Huế, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều với các giới đồng bào, càng thêm hiểu tâm tình bà con với những ai đã từng yêu quý và sống hết mình với Huế, vì nước vì dân. Năm 1945, sau khi cùng phái đoàn chính phủ vào Huế tước ấn kiếm và dự lễ thoái vị của Bảo Đại, ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch, nhà thơ Huy Cận đã không quên nói lên tâm tình của dân Huế. Sau này, ở tuổi ngoài tám mươi, ông đã hai lần kể lại rành rọt cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh câu chuyện xưa mà ông không bao giờ quên: “Năm 1945, cuối tháng 8, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh Nông của chính phủ Cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện Cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “ĐÃ LỠ MẤT RỒI!”

Đầu năm 2005, tôi đã được đọc bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, đăng trên tạp chí Khoa học và Ứng dụng số 2-2005, và bài Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỉ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005 thì cuối năm đó lại được đọc loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Rồi đến năm 2006, tôi được đọc các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, và Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung Phạm Quỳnh người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Tôi còn được đọc bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Tôi cũng đã đọc bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12 tháng 6-2006. Và mới đây là bài trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005, Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh cũng của Vương Trí Nhàn. Còn mới nhất là bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục…Tôi cũng đọc các sách của Phạm Quỳnh mới tái bản ở nước ta như Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Luận giải văn học và triết học Thượng Chi văn tập của các nhà xuất bản Văn Học và Hội Nhà Văn. Càng đọc tôi càng thấm thía lời nhà thơ Huy Cận nói với nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Càng đọc kỹ những dòng chữ Cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của Cụ.” Và tôi càng thương tiếc vô hạn học giả Phạm Quỳnh, đau xót trước cái chết oan ức của ông. Vì thế tôi đặc biệt chú ý đến một bài báo mới đăng trên tạp chí Xưa và Nay.

Trong số 269, tháng 10/2006 tạp chí có đăng bài của Nhật Hoa Khanh: Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông. Do yêu mến Phạm Quỳnh tác giả đã nhiều năm cố công tìm hiểu về cái chết bí ẩn của ông, đã gặp nhiều người, tìm tòi nhiều tư liệu và cuối cùng đã tìm được hai tờ báo khổ nhỏ phát hành hẹp tại Huế năm 1945. Đó là nhật báo Quyết Chiến khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân Cách mạng Huế”. Số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945 có đăng bản tin: “Ba tên Việt Gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án Quân sự tỉnh Thuận Hóa” (tức là Huế), sau đó đăng trên tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số bốn trang, là “cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ.” Số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩ tỉnh Nguyễn Tri Phương”, mà không có ai đứng tên thay mặt ký cả.

Trong lời tòa soạn in chữ đậm,  cỡ lớn, chính tạp chí Xưa và Nay cũng thấy cần nhấn mạnh “ở đây vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn (Thật ra là ba – PT chú) tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (chúng tôi nhấn mạnh – HKL).

Lệ thường, khi cần xử tử một kẻ gây tội ác lớn, người ta thường thông báo càng rộng rãi, càng kịp thời, càng được nhiều người chú ý và vì thế tác dụng răn đe các kẻ xấu khác càng lớn. Hơn nữa, việc xử tử cũng thường tổ chức càng công khai, càng đông người tận mắt được thấy kẻ thủ ác phải bị trừng phạt, càng có tác dụng ngăn ngừa tội ác. Nhưng, trường hợp “xử tử ba tên Việt gian tối nguy hiểm” này lại diễn ra khác hẳn. Trong số 267 tháng 9/2006, tạp chí Xưa và Nay đăng bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn có đoạn: “Người canh gác xưởng (ép dầu tràm, nơi giam giữ Phạm Quỳnh cuối cùng-HKL chú) kể: Một đêm đầu tháng 8 ta, trăng lưỡi liềm, khoảng 11 giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra cho ăn cơm (…) Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò (…) gần 1 giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người”

“Xử tử” vào 1 giờ đêm, ở một nơi hoang vắng, giữa đêm trăng mờ. Thật lạ lùng cho cách “xử tử” này. Quả là có một không hai trên đời!…

Chắc hẳn là ba tháng sau khi thủ tiêu Phạm Quỳnh, người xưng là cấp trên có quyền sinh quyền sát trong tay ấy mới nghĩ ra được cách ra thông báo để hợp pháp hóa vụ giết hại mờ ám, lén lút và tàn bạo mình đã tự ý gây ra trong đêm trăng non nọ?…Để rồi suốt hơn 60 năm trời Cách mạng Việt Nam phải chịu tiếng đã giết oan một con người nặng lòng với nước với dân như Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh, con người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, đã sống 13 năm cuối đời tại Huế, đã viết những dòng tâm huyết cuối cùng tại Huế (tập Hoa Đường tùy bút: Kiến văn, cảm tưởng và 51 bài thơ Đỗ Phủ còn dịch dở dang). Và cũng đã gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên chùa Vạn Phước xứ Huế. Dân Huế yêu quý ông, đã tự nhiên bảo nhau gọi bến đò An Cựu trước biệt thự Hoa Đường xưa của ông là Bến Cụ Phạm. Và tôi tin là hình ảnh ông, tư tưởng của ông còn sống mãi trong lòng người dân xứ Huế, vốn nặng tình và trọng nghĩa.

Tôi tin là giống như mặt trời lên thì xua tan bóng tối, đất nước ta ngày càng tiến lên xã hội công bằng dân chủ văn minh thì những đám mây đen, bụi bẩn bấy lâu che mờ gương sáng của ông cũng sẽ tiêu tan cùng với các thế lực đen tối, cực tả một thời đã làm ô danh cách mạng Việt Nam.

Huế, những ngày mưa cuối năm 2006

H.K.L

Ghi thêm:

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác là cộng tác viên nhiệt thành của tạp chí Nam Phong rồi trở thành bạn tri âm tri kỷ từ lâu của học giả Phạm Quỳnh. Cho nên, sau khi từ quan về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên con sông nhỏ An Cựu để chuẩn bị quay trở lại với nghiệp văn của mình, Phạm Quỳnh đã bắt đầu “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ Trung Quốc đồng cảnh với ông. Dịch được 51 bài, ông tin cậy gửi cả nguyên văn chữ Hán do tay ông chép và các bản dịch thô của mình cho Đông Hồ, người mà ông tin cậy ở cả cái tâm và cái tài. Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đàu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó là nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Tháng Bảy 2, 2017

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

(Tin đăng trên www.tuoitre.vn lúc 15:33 ngày 01/07/2017)

Sáng 1-7, tại khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh (phường Trường An, TP Huế) đã diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí – một trong những ấn phẩm báo chí chữ quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam – ra đời.

Buổi lễ do đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế chủ trì. Tham dự buổi lễ gồm những nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa và cả những người dân sống gần khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh.

Trong không khí trang nghiêm, mọi người có mặt tại buổi lễ đều kính cẩn nghiêng mình để tưởng nhớ đến nhà chí sĩ Phạm Quỳnh – người có công tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để thay thế tiếng Hán và tiếng Pháp vào đầu thế kỷ 20.

Ông Phạm Hữu Thanh Tùng, đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế, cho biết hội đồng đã cùng nhiều nhà nghiên cứu Huế dày công sưu tập được hơn 40 tác phẩm của cụ Phạm Quỳnh và gần như trọn bộ hơn 200 ấn phẩm Nam Phong tạp chí.

“Đây đều là những tư liệu quý phục vụ trong việc nghiên cứu văn học, báo chí. Nếu có cơ hội chúng tôi sẽ phối hợp với các bên liên quan để mở một cuộc triển lãm về cụ Phạm Quỳnh” – ông Tùng nói.

Cụ Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu.

Cụ Phạm Quỳnh cũng là chủ bút và chủ biên của tờ nguyệt san Nam Phong tạp chí, xuất bản số đầu tiên vào ngày 1-7-1917.

Tờ nguyệt san này là một trong những ấn phẩm báo chí dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu – Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ nho.

Nhật Linh

  • Trần Biên Hòa 17:38 01/07/2017

Tôi ngưỡng mộ cụ Phạm Quỳnh từ năm học lớp 9 ở miền Nam (1973), khi thầy giáo dạy môn văn giới thiệu cụ và công lao phổ biến chữ quốc ngữ qua Nam Phong tạp chí.

  • hồng ngự 22:02 01/07/2017

chân lý cuối cùng vẫn là chân lý

  • dongle 21:17 01/07/2017

Sao ở Huế không có tên đường Phạm Quỳnh nhỉ?

  • Kim Dung 19:13 01/07/2017

Làm thế nào tiếp cận được những tư liệu hay những bài báo của cụ , về cụ . Ngưỡng mộ , thành kính Cụ , nhạc sỹ Phạm Tuyên và gia đình . Chúc hậu duệ của cụ bình yên ,

  • Trần Quang 20:19 01/07/2017

Cụ dưới suối vàng cũng yên lòng.

  • Vũ Vinh 09:48 02/07/2017

Tôi đã được đọc một số bài viết của Cụ Phạm Quỳnh và thấy Cụ thực là một người yêu nước, yêu văn hoá Việt. Tôi tin rằng sự công bằng của lịch sử sẽ trả lại chỗ đứng xứng đáng cho Cụ với tư cách nhà văn hoá, nhà khai phóng của Việt Nam.

  • Pham Han 08:31 02/07/2017

Nhà nước ta nên có 1 chương trình, dự án dài hạn 5 ,10 năm hoặc hơn nữa, về dịch thuật tất cả các văn bản chữ Nôm, Việt ngữ hóa tất cả các từ và văn bản Hán Nôm ra 1 hệ Việt ngữ thống nhất và lưu hành chính thống trong cả nước và thế giới, để các thế hệ mai sau dễ tiếp cận, đồng thời cắt các từ hán trong văn chương Việt Nam.

  • Nguyễn Ngọc Lanh 11:56 02/07/2017

Cụ Phạm được xếp đứng đầu Tứ Đại Học Giả nước ta khi cụ sống và hoạt động văn hóa (Quỳnh – Vĩnh – Tố – Tốn).

Qua hoạt động văn hóa, cụ còn đóng góp lớn cho việc phổ biến chữ quốc ngữ.

Tháng Bảy 1, 2017

Lễ tưởng niệm 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Lễ tưởng niệm nhân 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Sáng ngày 13-9-2015, nhằm ngày mồng 1-8 năm Ất Mùi, tại chùa Vạn Phước, thành phố Huế, Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và gia đình cụ Phạm Quỳnh tổ chức lễ dâng hương tại mộ phần và lễ cầu siêu tại chùa cho cụ Thượng Chi nhân tròn 70 năm ngày mất của cụ.

Nhân dịp này các nhà báo Hoàng Phước, Thanh Tùng (Phạm Hữu Thanh Tùng), Thuỷ Trường đã kịp hoàn thành và tổ chức ra mắt cuốn sách “Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế”. Tác phẩm được hình thành từ những bài viết đã in trên các báo in, báo điện tử, một số tham luận trong Pham Tuyen dang huong truoc mo Pham Quynhbuổi ra mắt cuốn “Phạm Quỳnh – một góc nhìn”, tập 2, do Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một nhà nghiên cứu người Huế, sinh sống ở Hà Nội, tổ chức bản thảo, NXB Công an nhân dân ấn hành. Buổi ra mắt và giới thiệu cuốn sách này do Thường trực Hội Đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và Trung tâm Du lịch Huế xưa Huế nay tổ chức (tại Huế) vào tháng 8-2012.

“Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế” do NXB Thuận Hoá ấn hành đầu tháng 9-2015. Sách dày 200 trang, khổ 13x19cm. Cuốn sách tiếp tục đưa ra những góc nhìn khác nhau, những góc nhìn mới, và cởi mở, nhằm tiếp tục nhận diện lại chân dung nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh một cách trung thực; góp phần thẩm thấu hơn nữa những giá trị văn hoá thuộc về học giả đa tài Phạm Quỳnh và những góc khuất lịch sử cần được làm sáng tỏ.

Chúng tôi xin giới thiệu bài phát biểu của nhà báo Phạm Hữu Thanh Tùng, Uỷ viên Thường trực Hội đồng Toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, và một số hành ảnh tại buổi lễ tưởng niệm cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân. Sinh thời, những lúc mỏi mệt, căng thẳng, sau giờ làm việc cụ Phạm thường lên đây thư giản, tĩnh tâm, tìm về nơi chốn thanh thản của tâm hồn.

Mộ phần cụ Phạm tựa lưng vào chùa Vạn Phước, phía trước là chùa Thiền Lâm.

Nơi đây từng là dinh phủ của Thái sư Bùi Đắc Tuyên và các công quán của triều Tây Sơn. Vì thế, ở dưới cửu tuyền chắc là ngày ngày cụ được đọc sách, bình thơ, ngẫm sự đời, luận bàn nhân sinh thế sự cùng các bậc trung thần và văn nhân như: Ngô Thời Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngọc Hân công chúa. v.v…

Sau một cuộc đời oan nghiệt, còn có gì đáng quý hơn là ngày ngày cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh được yên vui trong tiếng chuông chùa và tiếng gõ mõ, cầu kinh giải oan bạt độ.

Sinh thời cụ Phạm là dịch giả, nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ. Từ năm 1913 cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí. Năm 1922, với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức, cụ sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Macxây, rồi lên Paris diễn thuyết ở nhiều diễn đàn.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Le dang huong Pham QuynhNăm 1932, đang làm Chủ bút Nam Phong tạp chí, ở Hà Nội, thì cụ Phạm được triệu về kinh giữ chức Thượng thư Bộ Học, rồi Thượng thư Bộ Lại, kiêm quản Tổng lý Ngự tiền văn phòng. Thời kỳ dấn thân quan trường cụ Phạm kiên trì đấu tranh cho độc lập chủ quyền, tự trị của dân tộc; cụ thể là đòi khôi phục quyền hành của triều Nguyễn trên cả ba kỳ. Cụ đề xướng thiết lập nhà nước quân chủ lập hiến, được vận hành bằng hiến pháp, quy định rõ quyền của dân, quyền của vua quan, và của chính quyền bảo hộ. Nhưng chủ trương cải cách chính trị của cụ Phạm đã không thành trong bối cảnh Nhật Pháp đánh nhau, đồng thời là “đêm trước của cách mạng vô sản” ở Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nội các Trần Trọng Kim thành lập, cụ Phạm rút lui khỏi chính trường về làm dân, sống ở biệt thự Hoa Đường, bên bờ sông An Cựu.

Lễ giỗ lần thứ 70 của cụ Phạm được tổ tại Huế trong ngày hôm nay, 1-8, và tại Từ đường, ở Hà Nội, vào ngày mồng 4 tháng 8 năm Ất Mùi – 2015.

Hôm nay, các nhà sư ở Tổ đình Vạn Phước sẽ làm lễ cầu siêu, giải oan bạt độ cho cụ Phạm. Trước lễ cầu siêu Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế cùng con cháu nội ngoại tổ chức lễ dâng hương cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh tại mộ phần.

Đến dâng hương cụ Phạm Quỳnh, ngoài đại diện Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, nội thân, ngoại thân, còn có sự hiện diện của đoàn đại biểu Hội Đồng Họ Phạm Quảng Nam – Đà Nẵng, Hội Đồng Họ Phạm làng Thanh Thuỷ Thượng, thị xã Hương Thuỷ, dòng họ Phạm có gốc ở Phủ Hạ Hồng, tỉnh Hải Dương. Nhiều vị trí thức, văn nghệ sĩ tại cố đô Huế, những người kính trọng, ngưỡng mộ tài năng, nhân cách của cụ Thượng Chi; có sự ảnh hưởng tích cực của cụ trên con đường hoạt động văn hóa nghệ thuật của mình đã đến dâng hương và dự lễ cầu siêu.

Phạm Hữu Thanh Tùng

Một số hình ảnh tại lễ tưởng niệm

Ảnh: Anh Tú

 Hoi Dong Ho Pham dang huong le tuong niem pham quynh

Gio cu Pham Quynh

Dai dien ho Pham lang Thanh Thuy Thuong dang huongNha tho Nguyen Khoa Diem dang huongNha tho Ngo MinhNha bao Thanh Tung phat bieu tai le dang huongNhac si Pham Tuyen tam su chuyen doiNha su hoc Duong Trung Quoc phat bieu

 

 

 

 

Tháng Sáu 30, 2017

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí thử tìm một cách lí giải

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:36 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1/7/2017)

Nhân 100 năm NAM PHONG TẠP CHÍ, thử tìm một cách lý giải

Nguyễn Đình Chú

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 484 từ trang 48 đén trang 53 và trang 65)

Nam Phong tạp chí ra đời với vai trò chủ bút Phạm Quỳnh (trừ hai năm cuối) từ năm 1917 đến năm 1934, gồm 210 số, tính đến nay vừa tròn 100 năm tuổi. Có thể nói đây là tạp chí bề thế nhất trong lịch sử tạp chí, báo chí ở nước ta trong thế kỷ XX, kể cả hiện nay. Nhưng cũng là tạp chí bị dồi lên dồi xuống, bị biến thành dây co của hai loại quan điểm đánh giá đối lập nhau như nước và lửa… và số phận của Nam Phong tạp chí cũng gần với số phận của ông chủ bút Phạm Quỳnh, vẻ vang bao nhiêu thì bi thảm cũng bấy nhiêu. Mà đây không chỉ là chuyện của bút giấy, đây còn là chuyện liên quan đến tính mạng một con người.

Người mở đầu công kích ông chủ bút là cụ Nghè chí sĩ Ngô Đức Kế, sau 13 năm tù Côn Đảo, ra Hà Nội làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, với bài bút chiến nhan đề “Luận về chánh học cùng tà thuyết”. Công kích bài diễn văn của chủ bút Phạm Quỳnh đọc tại buổi lễ Kỷ niệm Nguyễn Du do Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức tại Hà Nội ngày 8/91924. Theo cụ Nghè Ngô, những gì Phạm Quỳnh tán dương Truyện Kiều “Thiệt là “con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ, tà thuyết mê dân đến thế là cùng”. Với cụ, Truyện Kiều chỉ là thứ “ai dâm sầu oán đạo dục tăng bi”. Ông chủ bút Nam Phong im lặng. Nhưng cuộc bút chiến của cụ Nghè Ngô vẫn mở ra một giai đoạn tranh luận về Truyện Kiều kéo dài trong nhiều năm. Đặc biệt vào năm 1930, nhân việc Phan Khôi công kích Phạm Quỳnh im lặng không trả lời cụ Nghè Ngô là “học phiệt”, Phạm Quỳnh đã lên tiếng cho rằng mình im lặng vì không có 13 năm Côn Đảo và cuộc bút chiến này chỉ là chuyện “hàng thịt nguýt hàng cá” trong nghề báo chí. Trước tình hình này, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng bênh vực chí sĩ họ Ngô và tiếp tục chê bai Truyện Kiều. Cuộc bút chiến của hai nhà chi sĩ chỉ trực tiếp đụng đến ông chủ bút Phạm Quỳnh nhưng gián tiếp cũng là với Nam Phong tạp chí.

Đúng là số phận ông chủ bút Nam Phong ngay ở thời Pháp thuộc đã gặp phải sự quy kết không kém phần nặng nề. Tuy thế, dưới thời Pháp thuộc, thanh danh của Tạp chí Nam Phong gắn liền với chủ bút Phạm Qynhf vẫn theo thời gian mà tỏa sáng… Năm 1933, trong “Phê bình và cáo luận”, Thiếu Sơn đã viết: “Có nhiều người không biết đọc văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà có được cái tri thức phổ thông tạm đủ sinh hoạt ở đời. Có nhiều ông đồ Nho chỉ đọc Nam Phong mà cũng biết được đại khái những văn chương học thuật của Tây phương”. Nhà thơ Đông Hồ, từng là cộng tác viên của Nam Phong, trên tờ báo Sống ngày 9/4/1935, cũng đã viết: “Người đồng chí yêu quý thì đã đành, người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng. Tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng. Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh dự đặc biệt như Nam Phong vậy”. Năm 1942, Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, nghiên cứu toàn diện, công phu về Nam Phong tạp chí, đã viết: “Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khiếm khuyết của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong tạp chí làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề về Đạo giáo, muốn biết  văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca từ đời Lý Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lích sử nước Nam, tiểu sử các danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ Hy Lạp, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu được. Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với văn đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều”. Riêng về ông chủ bút Phạm Quỳnh, tác giả Nhà văn hiện đại cũng đã nhận định: “Ông là ngời chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái tư tưởng. Lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình. Không mất bản sắc mà vẫn có cơ tiến hóa được”. “Nam Phong tạp chí được rực rỡ như thế cũng vì được người chủ trương là một nhà văn, học vấn đã uyên thâm, lại có biệt tài, có lịch duyệt. Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì. Từ thơ văn cho đến triết lý, Đạo giáo cho đến chính trị xã hội, không một vấn đề nào là không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy”.

Ở các đô thị tạm chiếm trước năm 1945 vẫn là sự tiếp tục đánh giá cao vai trò của Nam Phong tạp chí cùng ông chủ bút Phạm Quỳnh. Năm 1948, theo tác giả Chủ đích Nam Phong là Nguyễn Văn Trung thì Đào Đăng Vĩ trong cái buổi diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Huế, Sài Gòn đã ví Phạm Quỳnh là Descartes và nói về Phạm Quỳnh như sau: “Mặc dù cuộc đời chính trị của ông rất bị bàn cãi, tất cả dư luận văn giới Việt Nam ngày nay đều ca tụng tài năng hiếm hoi của Phạm Quỳnh và những công lao mênh mông mà ông đã làm cho tiếng nói và văn chương quốc gia”. Năm 1949, Hạo Nhiên Nghiêm Toàn trong Việt Nam văn học sử toát yếu thì nhận định: “Ảnh hưởng của Nam Phong rất lớn, không những gây dựng cho tiếng ta có đủ chữ phô bày hết mọi tính tình, ý niệm, lại phổ thông hóa những điều đại cương thiết yếu trong các học thuyết Đông Tây, mới cũ, và những điểm chính trong văn hóa cổ Việt như lễ nghi, phong tục, văn chương…”.

Ở miền Nam từ sau 1954 đến 1975, Nam Phong tạp chí cũng được sống lại một cách vẻ vang. Chu Đăng Sơn – Trần Việt Sơn  với Luận đề về nhóm Tạp chí Nam Phong (1961), Nguyễn Duy Diễn với Luận đề về Nam Phong (1961), Phạm Văn Diêu với Việt Nam văn học giảng bình (1961), Đàm Xuân Thiều và Trần Trọng San với Việt văn độc bản (1961), Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961), Thanh Lãng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1969), Doãn Quốc Sỹ với Văn học và tiểu thuyết (1972)… kẻ ít người nhiều, người nói kiểu này người nói kiểu khác, đã thành một dàn đồng ca ca ngợi Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thanh Lãng cho rằng Nam Phong là tạp chí có ảnh hưởng nhất từ xưa đến nay, là văn đàn tụ tập tất cả những nhà văn hóa thời danh nhất của thế hệ này và “dưới ngọn cờ Phạm Quỳnh, cả một đoàn nghệ sĩ tiến bước dùng dũng!”. Muốn hiểu văn học Việt Nam hồi này không gì tốt bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, là tất cả văn học thế hệ 1913-1932 nếu đem đốt Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913-1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch… Trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều đẹp, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người đều tuân theo, chữ Nam Phong chế ra người ta đều dùng. Người ta coi Nam Phong như bậc thầy. Riêng Nguyễn Văn Trung với thái độ khách quan trong khoa học, với Chủ đích Nam Phong (1975) thì đã làm một cuộc phỏng vấn nhiều người để biết thái độ hai chiều khen chê Nam Phong trong đó khen vẫn là chính.

Ở nước ngoài, Meillon, Giám độc viện Pháp – Việt (Institut Franco – Vietnamien) đã viết về Phạm Quỳnh như sau: “Phạm Quỳnh là tay cự phách trong văn giới Việt Nam ở tiền bán thế kỷ XX. Tạp chí Nam Phong đã đăng tải từ năm 1917 đến năm 1934 nhiều dịch phẩm và những bài khảo luận về Hán văn, Pháp văn và Việt văn. Ông đã để lại nhiều tác phẩm nào sách khảo luận tiểu thuyết, nào dịch văn, chứng tỏ một tay học vấn uyên bác và văn tài lỗi lạc. Vừa là một đại văn hào, một diễn thuyết gia tài ba vừa là chính trị gia xuất chúng, Phạm Quỳnh đã góp rất nhiều công lao vào cuộc thành tựu của nền quốc ngữ” (Đại cương văn học Việt Nam, Lời dịch của Nguyễn Thọ Dực, 1961). Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Việt kiều) trong Introduction à la littérature vietnamienne (Dẫn luận văn học Việt Nam), Paris 1969, cũng viết: “Nhóm Nam Phong đã tạo những huy hiệu cao cả và tìm kiếm con đường của mình”. Cũng tại Pháp, năm 1973, con gái chủ bút Nam Phong là Phạm Thị Ngoạn đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài Tìm hiểu tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp, đến năm 1993 được dịch ra tiếng Việt. Nhân 100 năm sinh Phạm Quỳnh, có Phạm Quỳnh 1892-1992 Tuyển tập và di cảo (Bản quyền Phạm Thị Hoàn – An Tiêm – Paris).

Chuyện nhà chí sĩ Ngô Đức Kế năm 1924 và tiếp sau là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng năm 1930 lên án Phạm Quỳnh mới chỉ là thế. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí bị phủ nhận, bị lên án, là chuyện của miền Bắc sau năm 1954, một khi mà yêu cầu củng cố lập trường giai cấp vững chãi, xác định quan điểm địch – ta ngày một tăng trưởng trong đời sống chính trị xã hội. Ỏ miên Bắc năm 1957, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, được coi là viết theo quan điểm Mác xít của nhóm Lê Quý Đôn đã phê phán Nam Phong tạp chí. Tuy thế vẫn chưa phủ nhận trơn nó khi còn viết: “Nhưng dù lên án đúng mức, cũng không thể không ghi công lao lớn cho Nam Phong về vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển văn học”. Về trước, người ta còn hoài nghi khả năng của tiếng ta. Với Nam Phong, không ai còn chối cãi là tiếng ta chưa phải là một ngôn ngữ văn học, là một ngôn ngữ đang hiện đại hóa. Người ta có thể bảo văn của Nam Phong rườm rà, khễnh khạng, véo von, nhưng không có thể bảo đó không phải là văn. Tiếp đó, đẩy mạnh việc lên án chủ bút Phạm Quỳnh một cách gay gắt, khốn nỗi, lại chính là người đang viết những dòng chữ này. Ngày đó, nhân vớ được một tài liệu của mật thám Đông Dương nói về quan hệ giữa chủ bút Phạm Quỳnh với thực dân Pháp, trong khi ngồi trông con ở phòng cấp cứu của bệnh viện B, tôi đã viết bài “Thực chất cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12 năm 1960. Bài viết không đồng tình với thái độ nhẹ tay của nhóm Lê Quý Đôn về Nam Phong tạp chí và khẳng định “Cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều thực chất là một cuộc dấu tranh chính trị trên lĩnh vực học thuật. Chính trị ở đây là chính trị của những người yêu nước luôn luôn quan tâm tới lợi ích của đất nước dân tộc và chính trị của bọn tay sai bán nước thể hiện trung thành quyền lợi của bọn thực dân phong kiến thống trị”. Bài viết đã gây ra một cuộc tranh luận và tổng kết cuộc tranh luận, khốn nỗi, nhà nghiên cứu Tuấn Nghi lại nghiêng về phía tôi. Từ cuộc tranh luận này ở miền Bắc, tại Sài Gòn cũng có cuộc tranh luận tiếp theo về việc đánh giá Nam Phong tạp chí. Năm 1965, tạp Pháp, Maurice Durant trong công trình Mélanges sur Nguyễn Du đã lược thuật bài viết của tôi. Năm 1962, giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập IV do Lê Trí Viễn và tôi biên soạn, trong phần viết về “Văn học hợp pháp” do Lê Trí Viễn chấp bút lại đã liệt Nam Phong tạp chí vào cái gọi là “Văn học nô dịch” tức là thứ văn học phục vụ chính sách cai trị của thực dân Pháp. Cùng chung không khí này sư phụ của tôi, giáo sư Đặng Thai Mai, trong chuyên luận Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900-1925) đã thêm một lần lên án Nam phong tạp chí “một công cụ hết sức tốt của chủ nghĩa thực dân trong mười mấy năm ròng” và phủ nhận chủ bút Phạm Quỳnh. Xu hướng kết tội Nam Phong và Phạm Quỳnh vẫn tồn tại sau 1975. Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988) vẫn viết: “Trước sau đại chiến (1914-1918), thực dân cho bọn tay sai Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh ra Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, loại sách Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn học Pháp, vừa đề xướng một tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu đánh lạc hướng quần chúng”.  “Phạm Quỳnh đã cổ động cho văn hóa điều hòa tân cựu, thổ nạp Á Âu, hô hào xây dựng nền quốc văn mơn trớn, lôi kéo cả cựu học lẫn tân học,… đề cao Pháp, lái thanh niên trí thức vào hoạt động văn hóa, văn học, đánh vào lòng tham danh vọng của họ”… Đúng là một thời do yêu cầu khẳng định lập trường cách mạng mà như thế với Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thế nhưng giữa cái thời buổi “lập trường” lên ngôi như thế, tác giả của Kép tư bền (Nguyễn Công Hoan) trong Đời viết văn của tôi khởi thảo năm 1957, hoàn thành năm 1969, in năm 1971 lại đã viết: “Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi  lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị là một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng là một người dân mất nước, ai không đau lòng, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra truyện Kép tư bền là một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha anh đương hấp hối”.

Cuộc kéo co giữa hai quan điêm hai hệ quy chiếu trên thân phận Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong là như thé… Nhưng xem ra thời gian và xu thế đổi mới của đất nước đã và đang ủng hộ Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Cứ ra các hiệu sách lớn trong Nam ngoài Bắc sẽ thấy hầu hết văn nghiệp của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã được in lại. Theo nhịp độ biến chuyển của thời tiết nhận thức, việc đánh giá của giới học thuật đã hạ nhiệt dần và trở lại tôn vinh trong không ít sách nghiên cứu, luận văn, luận án. Nếu tôi không lầm thì trong vài chục năm trở lại đây. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một trong số ít người ngốn giấy mực của đất nước nhiều nhất. Trong xu thế “của Xéda trả lại cho Xéda”, câu chuyện gặp gỡ giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến (Việt kiều) năm 1922 tại Paris để hội đàm về con đường cứu vận nước do Lê Thanh Cảnh vốn là bạn học với Nguyễn Tất Thành ở Quốc học Huế, lúc này là phiên dịch cho đoàn Bảo Đại sang Paris bố trí, viết hồi ký kể lại, được nhiều người biết đến. Rồi sách báo đó đây còn nói sau cái chết của cụ Phạm, Bác Hồ có nói: “Cụ Phạm là một nhân vật lịch sử. Cụ Phạm nếu còn thì sẽ có ích cho đất nước”. Và Tố Hữu vốn là Bí thư tỉnh bộ Việt Minh Thừa Thiên – Huế ngày Cách mạng tháng Tám. Khi có người hỏi về chuyện cái chết của họ Phạm, thì đã nói đó là điều mình ray rứt bao nhiêu năm nay. Những câu chuyện như thế thực hư đến đâu chưa rõ nhưng đã hỗ trợ rất đáng kể cho xu thế nhận thức lại họ Phạm. Còn kẻ bỉ nhân này đã qua cái thời ngựa non háu đá, biết mình sai nên năm 1990, trong Tác gia văn học Việt Nam tập I, cũng đã đổi giọng được chút ít như sau: “Phạm Quỳnh viết đủ thứ đủ loại như vậy và đương thời đã tạo được một uy danh không nhỏ, nhưng cũng đương thời dưới con mắt của nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, thì chỉ là cậu bé đang “lom lem những học thuyết ông Mạnh ông Lư”, “bập bẹ những cách ngôn họ Trang họ Liệt” và sau này, dưới con mắt học giải Đặng Thai Mai thì là người “đủ tiếng Tây để lòe người Việt, và đủ tiếng Việt để lòe người Tây”… Ấy mới hay: Chưa cần biết động cơ gì, sống trên đất nước ta, hễ cứ dính với kẻ thù ngoại bang thì trước hết phải chịu sự phán xét, sự phủ nhận đó. Mặc dù, nói cho công bằng, ngoài phần độc tố gây  hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học Việt Nam trong thời cận đại này”. Năm 1991, nhân dịp vào Huế, tôi đã đến viếng mộ Phạm tiên sinh. Ngoài ra, tôi còn qua việc hướng dẫn luận văn luận án mà nhờ các môn đệ của mình trang trải thêm món nợ với Tiên sinh. Cuốn sách Văn trên Nam Phong tạp chí vốn là luận án Tiến sĩ xuất sắc của TS. Nguyễn Đức Thuận (nay là PGS.TS) ra mắt bạn đọc năm 2008 (Nxb. Văn học) là sản phẩm của ý đồ đó.

Bạn đọc kính mến!

Hiện tượng Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí không phải là hiện tượng duy nhất. Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… gần 100 năm qua trong đời sống học thuật của nước nhà cũng là thế. Họ bị biến thành giây co của hai hệ quy chiếu đối địch nhau quyết liệt. Nhưng thời gian và xu thế đổi mới của đất nước lại đã và đang ủng hộ họ. Tôi, ít nhiều cũng là người trong cuộc và tự mình cũng có sự chuyển biến trong nhận thức. Không giấu gì quý bạn, bao nhiêu năm nay, một câu hỏi cứ xoáy vào đầu óc tôi, buộc phải tìm câu trả lời: Tại sao trước những hiện tượng giấy trắng mực đen sờ sờ ra đó, không ai có thể thêm bớt, xóa dập gì mà người khen người chê ngược nhau như nước và lửa vậy? Lý thuyết tiếp nhận văn học không thiếu. Bản thân tôi, không làm lý luận văn học nhưng cũng thích nghĩ điều này điều nọ có tính chất lý thuyết, chủ yếu là từ thực tiễn nghiên cứu của bản thân mà nghĩ ra lý thuyết. Với cách đó, tôi đã nói đến quy luật cộng hưởng trong tiếp nhận văn học, rộng ra là văn bản nói chung là vô cùng phức tạp. Hi vọng có dịp sẽ trình bày thấu đáo với bạn đọc. Gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, lý thuyết diễn ngôn đang được các bạn trẻ đón nhận nồng nhiệt. Tôi hiểu không biết có đúng không, lý thuyết diễn ngôn là của phương Tây và sản phẩm trước tiên là của các nhà ngôn ngữ học mà các nhà lý luận văn học đã tiếp nhận. Nội dung cốt lõi của nó là sự tôn trọng quyền uy của ngôn ngữ. Nếu đúng thế thì đó là một biện pháp bảo vệ giá trị những hiện tượng văn hóa văn học như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… Nhưng với tôi, lại muốn có một cách lý giải nữa về những trường hợp này với hai ý chính sau đây:

  1. Trở lại với hiện tượng kéo co giữa hai hệ quan điểm đánh giá như trên đã nói, có thể thấy nguồn gốc của sự đối lập chính là do: bên tôn vinh là theo văn hóa luận đơn thuần và phi chính trị. Bên kết tội là xuất phát từ nhãn quan chính trị dù đó là các chí sĩ cứu nước trước hay giới Mácxit về sau. Còn với tôi hôm nay thì muốn từ nhận thức cuộc sống để đến nhận thức văn học, văn hóa. Đúng là vậy. Tùy theo cách nhận thức cuộc sống đơn giản hay phức tạp, phiến diện hay đa diện sẽ có kết quả nhận thức văn hóa văn học khác nhau, thậm chí đối địch nhau như trong các trường hợp đang nói. Cuộc sống của nhân loại trong đó có cuộc sống Việt Nam vốn có hai quy luật tồn tại cơ bản là độc lập (Indépendant) và phụ thuộc lẫn nhau (Interdépendant). Mà độc lập một khi bị ngoại xâm thì cũng có hai phương án: bạo động và không bạo động… Chỗ khác nhau giữa nước ta với không ít quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới là ở chỗ với nước ta, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Cha ông thuở trước đã vậy, con cháu sau này cũng vậy. Ai không theo phương án này sẽ bị lên án. Tuy nhiên, từ ngày thực dân Pháp xâm lược rồi thống trị nước ta, thì những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đã đi theo phương án hai, không chống Pháp mà có quan hệ với Pháp, làm việc với Pháp nên bị kết tôi. Phan Châu Trinh một thời bị các sử gia Mácxít đặt dưới Phan Bội Châu vì Phan chủ trương “Bất bạo động. Bạo động tắc tử”. Phan Bội Châu được đánh giá cao vị chủ trương bạo động nhưng khi chuyển sang chủ trương Pháp Việt đề huề thì bị coi là một điểm đen trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của đường lối cách mạng bạo động nhưng năm 1946, ký Hiệp đinh 6/3 và Hòa ước Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), đặt Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp là theo phương án phụ thuộc lẫn nhau mà kẻ thù thì rêu rao là bán nước nhưng nhân dân thì nhiệt liệt hoan nghênh sự sáng suốt, bản lĩnh cao cường.

Nhận thức về sự sống của đất nước từng liên quan đến nhận thức đánh giá Nam Phong tạp chí với chủ bút Phạm Quỳnh cũng như với mấy trường hợp tương tự đó là như thế. Còn như thừa nhận có quy luật phụ thuộc lẫn nhau (khác phụ thuộc) song song với quy luật độc lập thì chính đó sẽ là mảnh đất sống của những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, sẽ là cơ sở khoa học, là phương pháp luận nhận thức công lao của các vị với nước nhà, là cách lý giải về sự hồi sinh, sự ủng hộ của thời gian với các vị.

  1. Cũng là từ nhận thức cuộc sống mà nhận thức các hiện tượng văn học văn hóa đang nói. Còn có vấn đề nhận thức về tương quan giữa động cơ và hiệu quả trong sự sống. Phải chăng đã có sự khác nhau giữa đất nước ta trong một thời so với thế giới đó đây là ta thì coi trọng động cơ hơn hiệu quả. Còn họ thì ngược lại. Động cơ gì không cần biết. Chỉ căn cứ vào hiệu quả mà đánh giá. Bởi lẽ động cơ là thứ không có hình hài, không phải là vật thể, thường là do suy tưởng mà nói tới, mặc dù cũng vào căn cứ này nọ và trong thực tế cũng có đúng có sai. Nhưng chuyện đúng sai cũng không đơn giản. Trong khi hiệu quả thì ai ai cũng trông thấy dược, và nếu là hiệu quả tốt thì người đời sẽ được hưởng, có trường hợp với muôn đời. Các lãnh tụ Cần vương về động cơ cao đẹp là yêu nước và từ đó quyết tâm cứu nước được hậu thế mãi mãi tôn vinh. Nhưng hiệu quả thì vẫn thất bại, chưa giành lại được nước nhà. Trong khi với họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm là những người đã không chống Pháp, lại còn cộng tác với Pháp để hậu thể, không phải tất cả nhưng có một bộ phận, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đã lên án, kết tội thì thực tế, họ đã tạo ra những hiệu quả có lợi cho đất nước trong muôn đời. Xin quý vị bạn đọc đừng bắt tôi diễn giải nhiều thêm chỉ nói qua một chút. Hàng ngày chúng ta cầm tờ báo để đọc, hỏi ai là người khai mở đầu tiên, nếu không là Trương Vĩnh Ký. Cuối tuần chúng ta đến Nhà hát Tuổi Trẻ xem kịch nói chứ không phải tuồng chèo, hỏi ai là người góp sức buổi đầu bằng cách dịch tác phẩm kịch nói của Pháp để người Việt Nam ta biết thế nào là kịch nói mà xây dựng ngành kịch nói Việt Nam. Hàng ngày chúng ta, con em chúng ta đọc tiểu thuyết hiện đại có cấu trúc nghệ thuật khác tiểu thuyết chương hồi vốn gốc Trung Hoa, hỏi ai là người đầu tiên giới thiệu trên văn đàn Việt Nam thế nào là tiểu thuyết hiện đại một cách khá cơ bản như thế để giúp các nhà văn Việt Nam từ mô phóng mà sáng tạo thêm nếu không phải là Thượng Chi Phạm Quỳnh. Hiện nay đất nước có một nền văn xuôi tiếng Việt bề thế sáng giá như thế, hỏi ai là những người đặt nền xây móng đầu tiên nếu không là họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm… Tôi xin được nói thật ý nghĩ của tôi hiện nay là: Trương Vĩnh Ký là người tiên phong của công cuộc hiện đại hóa văn hóa và phần nào cũng là văn học Việt Nam thời cận đại. Dù với Trương chủ yếu mới là trên phương diện thực thi còn về lý thuyết thì chưa có gì đáng kể. Đến Nguyễn Văn Vĩnh thì vẫn là thực thi nhưng đã có ít nhiều lý thuyết. Còn Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí thì đã đi bằng hai chân: lý thuyết và thực thi… đáng coi là nhà đạo diễn của công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học nước nhà của những năm 20 của thế kỷ XX.

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí, với phương châm khoa học là Recherche, nghĩa là tìm đi rồi tìm lại, hiện tại tôi đã tìm đến cách lý giải Nam Phong tạp chí gắn với chủ bút Phạm Quỳnh là như thế. Mong có sự chỉ bảo của quý vị bạn đọc.

Chú thích:

  1. Trong bài viết này, một số tư liệu, tôi đã lấy từ công trình của TS. Nguyễn Đức Thuận.

Gần đây nhất, trên tờ Đại Đoàn Kết – Tinh hoa Việt số 47 từ ngày 10/3 đến 23/3/2017 có bài “Chuyện ít được biết về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh: “Một mối thân tình” của nhà văn Sơn Tùng viết ngày 8/12/2008 (12/11 – Mậu Tý). Ở mục: “Ghi theo lời Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh” cho biết: “Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ… nói với ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản và Vũ Đình Huỳnh: Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới nhớ ra thì đã trễ, giờ chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp cụ Phạm Quỳnh trao thư tôi mời cụ”. Ngày 31/8/1945, vào lúc 10 giờ 30, sau khi biết Phạm Quỳnh bị bắt, hai con gái của cụ là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức muốn xin gặp Hồ Chủ tịch, thì Người đã tiếp hai chị em tại phòng khách và nói: “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành với cụ nhà ở Huế… Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ, khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội…” . Chị Phạm Thị Giá dâng thư lên Hồ Chủ tịch. Người chuyển sang ông Vũ Đình Huỳnh dặn chuyển sang Bộ Nội vụ và nói: “Những chuyện hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam nhá”. Ở mục “Cụ Đào Nhật Vinh ở số 13 phố Nguyễn An Ninh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Quê ở Trực Ninh, Nam Định” cho biết cụ Vinh là người năm 1913, từng làm việc trên tàu Viễn Dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành, từ 1919 đến 1923, thân giao với Nguyễn Ái Quốc đã kể nhiều chuyện trong đó có chuyện: “Ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh mấy lần đến nhà ông Tạ Văn Cấn đàm đạo với cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc”, “Đầu tháng 7/1922, tôi trong Hội chợ… đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm”. Ngày 13/7, tôi đến sớm làm bữa cơm Bác thiết khách Bắc. Tôi tự hỏi vị khách quý nào mà cụ Nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi. Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng… Chỉ có ba vị trong phòng thôi, và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa. Tôi được dự đồng bàn đồng bữa với ba vị và hầu chuyện.

Tháng Sáu 15, 2017

Phạm Quỳnh trong thế giới danh nhân – Đại từ điển của Nhật Bản in năm 2013

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 6 năm 2017

PHẠM QUỲNH TRONG THẾ GIỚI DANH NHÂN – ĐẠI TỪ ĐIỂN CỦA NHẬT BẢN IN NĂM 2013.

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bạn Nguyễn Trọng Hiền (địa chỉ email hn90250@yahoo.com), con trai họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur), định cư tại Hoa Kỳ vừa gửi hồi 13:19 ngày 13/6/2014 tư liệu nguyên văn chữ Nhật như sau:

Pham Quynh Tieng Nhat(PHẠM QUỲNH

Hiệu là Thượng Chi, 17/12/1892-6/9/1945? Trí thức Việt Nam, chính trị gia, sinh tại Hà Nội, tốt nghiệp trường Thông Ngôn năm 1908, vào làm thông ngôn tiếng Pháp tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Hoạt động văn bút, ông viết cho Đông Dương Tạp Chí (1913), trở thành Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Nam Phong Tạp Chí (1917). Nhân dịp Triển Lãm (Đấu Xảo) Các Nước Thuộc Địa (1922) ông đã đi Pháp. Trong Nam Phong Tùng Thư, ông đã cho xuất bản Văn Minh Luận, Ba Tháng Ở Paris, Văn Học Nước Pháp, Chính Trị Nước Pháp, Khảo Về Tiểu Thuyết, v.v… (1928-1932) cũng có tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Năm 1943, đã xuất bản Thượng Chi Văn Tập, 5 cuốn, là tuyển tập các bài đã đăng trên Nam Phong Tạp Chí. Một mặt hoạt động văn bút, một mặt giữ chức Ngự Tiền Văn Phòng của triều Nguyễn (1932), trở thành Học Bộ Thượng Thư (1933), Lại Bộ Thượng Thư (1942). Sau khi Nhật Bản thanh toán Đông Dương của thực dân Phápbằng vũ lực vào tháng 3 năm 1945, ông đã từ chức. Tháng 8 cùng năm, ông đã bị thế lực Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) bắt, sau đó bị xử tử.)

 

 

Tháng Sáu 8, 2017

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 1 tháng 5 năm 2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:23 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 5 năm 2017.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/5/2017:

Đưa quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển thực chất, hiệu quả và bền vững

Nhận lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Ðô-nan Trăm, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 29 đến 31-5. Ðây là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị Thủ tướng Chính phủ và là cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam với Tổng thống Hoa Kỳ, sau khi Ðại hội XII của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội khóa XIV của Việt Nam bầu ra ban lãnh đạo mới và Tổng thống Ð.Trăm được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ.

Nằm ở tây bán cầu, với diện tích hơn 9,8 triệu km2 và số dân hơn 320 triệu người, Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ ba thế giới cả về diện tích và dân số. Với 50 bang và một đặc khu liên bang, Hoa Kỳ là quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới. Là nước công nghiệp phát triển, Hoa Kỳ có nền kinh tế quy mô lớn nhất thế giới, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2016 đạt khoảng 18,5 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 24% GDP toàn cầu; Hoa Kỳ cũng là nước xuất, nhập khẩu lớn nhất thế giới, với kim ngạch xuất, nhập khẩu chiếm hơn 30% GDP. Từ quý III năm 2009, kinh tế Hoa Kỳ thoát khỏi suy thoái sau giai đoạn khủng hoảng, đạt nhịp độ tăng trưởng GDP trong các năm 2014, 2015 và 2016 lần lượt là 2,4%, 2,6% và 1,6%. Chính phủ của Tổng thống Ð.Trăm đang đẩy mạnh áp dụng các nhóm biện pháp nhằm khôi phục sản xuất, tạo thêm việc làm cho người dân.

Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12-7-1995. Quan hệ song phương đạt những bước phát triển tích cực và thực chất, kể từ khi hai nước xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện (tháng 7-2013). Chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ (tháng 7-2015), trong đó hai nước ký Tuyên bố Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ, cùng chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ B.Ô-ba-ma (tháng 5-2016) tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển tích cực, ngày càng sâu rộng và thực chất. Sau khi Tổng thống Ð.Trăm đắc cử, hai nước tiếp tục duy trì các hoạt động trao đổi, tiếp xúc. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Ð.Trăm.

Trong lĩnh vực kinh tế, hợp tác giữa hai nước duy trì ổn định. Từ năm 2005, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng ở mức 20% những năm gần đây, đạt 53 tỷ USD năm 2016. Hiện Hoa Kỳ là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ tám tại Việt Nam, đến tháng 11-2016 có 815 dự án, với tổng đầu tư trực tiếp hơn 10 tỷ USD. Hoa Kỳ xếp thứ chín trong số 68 quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam, với 147 dự án có tổng vốn đăng ký hơn 571 triệu USD. Hợp tác trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng được duy trì và đẩy mạnh. Các lĩnh vực hợp tác khác, như giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, du lịch, y tế, môi trường, nhân đạo, giao lưu nhân dân… đều có những bước tiến tích cực. Hai bên tiếp tục đối thoại thẳng thắn, trên tinh thần xây dựng về các vấn đề còn khác biệt, tránh tác động tiêu cực đến hợp tác song phương.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác, phối hợp tại các diễn đàn quốc tế và khu vực; củng cố đoàn kết và đề cao vai trò của ASEAN, thúc đẩy quan hệ ASEAN – Hoa Kỳ; hợp tác trong các vấn đề thế giới như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng và nguồn nước…

Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thể hiện đường lối đối ngoại của Ðảng, Nhà nước ta là hòa bình, độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Chuyến thăm khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, sẵn sàng hợp tác với Chính quyền của Tổng thống Ð.Trăm phát huy những kết quả đạt được và thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển hơn nữa, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị và con đường phát triển của nhau, vì lợi ích của hai nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được giới nghị sĩ và cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ hoan nghênh. Hai đồng Chủ tịch Nhóm ASEAN của Quốc hội Hoa Kỳ ra tuyên bố chào mừng, khẳng định coi trọng và thúc đẩy hơn nữa quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam.

Chuyến thăm diễn ra vào dịp kỷ niệm 40 năm Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc, trong thời gian tại Hoa Kỳ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ thăm thành phố Niu Oóc và gặp Tổng Thư ký Liên hợp quốc A.Gu-tê-rét. Kể từ khi Việt Nam gia nhập ngày 20-9-1977, Liên hợp quốc trở thành một diễn đàn để Việt Nam triển khai các mục tiêu chính sách đối ngoại. Việt Nam cũng chủ động và tích cực tham gia các hoạt động chung, các chương trình nghị sự của Liên hợp quốc. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm và làm việc với lãnh đạo Liên hợp quốc thể hiện sự coi trọng vai trò của tổ chức đa phương lớn nhất thế giới; khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, đóng góp cho các mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Chúc chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thành công tốt đẹp, góp phần tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng thực chất, hiệu quả và bền vững, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

  • Tin trang 20 báo Tuổi Trẻ ngày 2/6/2017:

Đưa quan hệ Việt – Mỹ đi vào chiều sâu

Tâm điểm của chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là cuộc gặp và hội đàm với Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng.

Sự kiện quan trọng này diễn ra rạng sáng 1/6 (giờ Việt Nam), nằm trong ngày làm việc cuối cùng dày đặc các hoạt động của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Nhiều cơ hội

Tại cuộc hội đàm kéo dài gần một giờ, Tổng thống Donald Trump hoan nghênh Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Hoa Kỳ; khẳng định coi trọng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, vai trò của Việt Nam và ASEAN tại khu vực; mong muốn quan hệ hai nước thời gian tới tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn Tổng thống Donald Trump và chính quyền Hoa Kỳ đã đón đoàn nồng ấm và trọng thị; khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ; đánh giá cao các bước triển khai chính sách của chính quyền Tổng thống Donald Trump đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương thời gian qua.

Hai nhà lãnh đạo vui mừng nhận thấy quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian qua đã phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, trên cả bình diện song phương và đa phương, và nhất trí rằng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đang có rất nhiều cơ hội phía trước.

Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi các biện pháp nhằm đưa quan hệ hai nước đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới, trong đó có thúc đẩy trao đổi đoàn, tiếp xúc, đặc biệt là cấp cao, tăng cường tính hiệu quả của các cơ chế hợp tác hiện có, đồng thời xem xét tiến tới thiết lập các cơ chế hợp tác mới phù hợp với sự phát triển của quan hệ hai nước trong giai đoạn mới.

Trọng tâm là hợp tác phát triển

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Donald Trump nhất trí cùng nỗ lực thúc đẩy quan hệ kinh tế có lợi cho cả hai bên. Hai nhà lãnh đạo khẳng định coi hợp tác phát triển tiếp tục là trọng tâm trong quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai nước.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định quyết tâm của Việt Nam tiếp tục cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, đề nghị hai bên nghiên cứu thiết lập chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ để tận dụng tính bổ trợ lẫn nhau của hai nền kinh tế. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Donald Trump khẳng định Việt Nam và Hoa Kỳ chia sẻ những lợi ích chung ở châu Á – Thái Bình Dương, trong đó việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực.

Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông; khẳng định ủng hộ giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm việc tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh tiến triển trong đàm phán một bộ quy tắc ứng xử hiệu quả và có ý nghĩa.

Tại cuộc hội đàm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam mời Tổng thống Donald Trump và phu nhân cùng gia đình thăm chính thức Việt Nam, dự Hội nghị cấp cao APEC 2017. Tổng thống Donald Trump đã vui vẻ nhận lời.

Sau hội đàm, hai bên đã ra tuyên bố chung về tăng cường đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Lê Kiên

(Từ nhà trắng Washington DC)

Khoảng 20 hợp đồng tổng trị giá 10 tỉ USD

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, có khoảng 20 hợp đồng và văn bản thỏa thuận hợp tác giữa hai nước được trao đổi với tổng giá trị khoảng 10 tỉ USD. Trong số đó, nổi bật nhất là các hợp đồng của hãng hàng không giá rẻ Vietjet Air.

Công ty CFM International – một liên danh giữa General Electrics (GE) và Safran – đã ký hợp đồng cung cấp 215 động cơ máy bay kèm theo dịch vụ kỹ thuật, bảo dưỡng cho Vietjet Air, trị giá 3,6 tỉ USD, thực hiện trong vòng 12 năm. Vietjet Air và Công ty GECAS thuộc Tập đoàn GE đã ký bản ghi nhớ hợp đồng cung cấp tài chính thuê mua máy bay trị giá 1 tỉ USD cho 10 máy bay mà Vietjet Air đặt hàng từ các nhà sản xuất.

Một thỏa thuận hàng tỉ USD khác là giữa Tập đoàn Phú Cường và Tập đoàn GE về nhập thiết bị tuốcbin điện gió và dịch vụ bảo dưỡng cho dự án phát triển 800MW điện gió tại Sóc Trăng.

Ngoài ra, thỏa thuận nhập một số thiết bị cho nhà máy điện tuôcbin sử dụng khí mỏ Cá Voi Xanh trị giá hàng trăm triệu USD cũng được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và GE trao đổi…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Hoa Kỳ

Tối 31-5 (giờ địa phương tức sáng 1/6 giờ Việt Nam) Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời thủ đô Washington lên đường về nước kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Donald Trump. Trước đó, vào buổi chiều (rạng sáng 1-6, giờ VN), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới thăm hỏi và nói chuyện với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và các cơ quan bên cạnh Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Cũng trong chiều 31-5 (giờ Mỹ), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm Viện Di sản (Heritage Foundation) – tổ chức uy tín hàng đầu trên thế giới về nghiên cứu chiến lược độc lập và có tầm ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình hoạch định, thực thi chính sách của Hoa Kỳ và nhiều vấn đề quốc tế. Tại đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có bài phát biểu quan trọng trước đông đảo chính giới, học giả Hoa Kỳ và Đại sứ, đại diện Sứ quán các nước ASEAN, về chủ đề “Cơ hội, thách thức đối với hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở châu Á – Thái Bình Dương và phát triển quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ”.

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 27/5/2017:

Mỹ bàn giao tàu tuần duyên trọng tải cao cho Việt Nam

Thông tin từ Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, Mỹ đã bàn giao tàu tuần duyên trọng tải cao Morgenthau lớp Hamilton cho Cảnh sát biển Việt Nam tại buổi lễ ở Honolulu, Hawaii sáng 25-5 (giờ địa phương). 

Con tàu này sẽ được đổi tên thành CSB 8020, và được trông đợi giúp nâng cao năng lực nhận thức về các vấn đề hàng hải của Cảnh sát biển Việt Nam, tăng cường năng lực của họ trong việc thực hiện các hoạt động thực thi luật hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và các hoạt động ứng phó nhân đạo.

CSB 8020 đã được chính phủ Mỹ chuyển giao cho Cảnh sát biển Việt Nam thông qua Chương trình bán trang bị quốc phòng dư thừa (EDA).

Chương trình EDA cung cấp thiết bị quân sự dư thừa cho đối tác và các quốc gia đồng minh của Mỹ để hỗ trợ các nỗ lực hiện đại hóa an ninh và quân đội của họ.

“Con tàu này mang một biểu tượng ý nghĩa và cụ thể về Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ – Việt Nam. Tuần duyên Mỹ vinh dự được chứng kiến con tàu này tiếp tục duy trì hòa bình và sự thịnh vượng toàn cầu khi trở thành một phần của Cảnh sát biển Việt Nam” – Chuẩn đô đốc Tuần duyên Mỹ Michael J. Haycock, trợ lý tham mưu trưởng về quân dụng và cán bộ chuyên trách quân dụng, phát biểu tại buổi lễ.

Trước đó, ngày 22-5, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Ted Osius chính thức bàn giao 6 tàu tuần tra Metal Shark dài 45-foot (tương đương 14 mét) cho Cảnh sát Biển Việt Nam tại Quảng Nam.

Theo đó, các tàu tuần tra này sẽ hỗ trợ Cảnh sát biển Việt Nam Vùng 2 trong hoạt động tuần tra liên bờ biển và thực thi pháp luật về buôn lậu, buôn bán bất hợp pháp, cướp biển và các vụ cướp tàu có vũ trang và đánh bắt cá bất hợp pháp.

Ngay sau lễ chuyển giao, Cảnh sát biển Việt Nam sẽ bắt đầu hoạt động đào tạo và vận hành tàu, đưa vào hoạt động chính thức.

D.An

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/5/2017:

Cộng đồng doanh nghiệp thể hiện tích cực hơn vai trò thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ

Sáng 19-5, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội (AmCham) và Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tổ chức hội thảo “Viễn cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2017 và những năm tiếp theo”. Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự và có bài phát biểu quan trọng trước đại diện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ.

Tại hội thảo, đại diện doanh nghiệp hai nước tập trung luận bàn về phương hướng mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư, cùng nhiều vấn đề khác như đổi mới trong lĩnh vực y tế, công nghệ tài chính và phát triển thị trường tài chính, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ công nghệ thông tin, đẩy mạnh đổi mới và sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng trưởng theo hướng xuất khẩu, gia tăng tiếp cận thị trường thông qua việc tạo thuận lợi cho thương mại…

Phát biểu ý kiến tại hội thảo, Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh, qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành và phát triển. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, cạnh tranh minh bạch, bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng ngày càng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển nguồn nhân lực và khoa học – công nghệ cũng như huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng.

Chủ tịch nước cho biết, Việt Nam đang tập trung thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 với mục tiêu tăng trưởng xanh gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, phát triển bền vững nhằm sớm cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Việt Nam kiên định thực hiện ba đột phá lớn gồm: Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh thực hiện chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, phấn đấu đến năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.200 đến 3.500 USD, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 350 tỷ USD. Việt Nam đang chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng với trọng tâm là hội nhập kinh tế và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Cộng đồng Kinh tế ASEAN; đã ký kết 12 hiệp định và đang tích cực đàm phán để ký kết bốn hiệp định thương mại tự do (FTA). Việt Nam quyết định tham gia đàm phán TPP – một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, có mức độ cam kết cao, phạm vi cam kết toàn diện với mong muốn đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện đang có nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư, kinh doanh thành công ở Việt Nam, trong đó có các tập đoàn của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ xếp thứ tám trong các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ không ngừng tăng trưởng, từ 15 tỷ USD năm 2008 tăng lên 52 tỷ USD năm 2016. Năm 2016, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam đạt hơn 10 tỷ USD, tăng 43% so với năm 2015. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn ExxonMobil đã ký Thỏa thuận khung phát triển dự án và Thỏa thuận khung hợp đồng bán khí Cá Voi Xanh với tổng giá trị khoảng 10 tỷ USD, dự kiến góp phần đưa Hoa Kỳ trở thành một trong những nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam. Chủ tịch nước nhấn mạnh: Việt Nam trân trọng sự đóng góp quý báu của các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Hoa Kỳ.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho rằng, thời gian qua, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những bước tiến triển nhanh chóng, thực chất và toàn diện theo những định hướng của quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2013, Tuyên bố về tầm nhìn chung nhân chuyến thăm lịch sử tới Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tháng 7-2015 và Tuyên bố chung Việt Nam – Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ B. Ô-ba-ma tháng 5-2016. Tổng thống Hoa Kỳ Đ.Trăm đã chính thức nhận lời mời tham dự Hội nghị cấp cao APEC 2017, thể hiện sự quan tâm của Hoa Kỳ trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam. Hợp tác phát triển tiếp tục là một động lực của quan hệ song phương để hai bên thúc đẩy phát triển thương mại và đầu tư. Tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế, bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là nền tảng căn bản, tạo ra những cơ hội mới để doanh nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác đầu tư, kinh doanh và cùng phát triển bền vững, qua đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ đầu tư và thương mại giữa hai nước.

Để quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển tương xứng với tiềm năng hợp tác cũng như mong muốn của cả hai bên, Chủ tịch nước đề nghị cộng đồng doanh nghiệp hai nước thể hiện tích cực hơn nữa vai trò của mình trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Trong đó, về lĩnh vực đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực mà Hoa Kỳ có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu và có thể tạo điều kiện để các doanh nghiệp Hoa Kỳ hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam cùng phát triển, như: năng lượng – dầu khí, kết cấu hạ tầng, tài chính – ngân hàng, giáo dục – đào tạo, du lịch… Về lĩnh vực thương mại, dư địa hợp tác vẫn còn rất lớn, Việt Nam mong muốn xuất khẩu các sản phẩm nông sản, thủy sản, sản phẩm gỗ, các mặt hàng dệt may, điện tử, hàng tiêu dùng… nhiều hơn nữa sang Hoa Kỳ và nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao phục vụ nhu cầu kinh tế của Việt Nam.

Đánh giá cao các dự án đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam, Chủ tịch nước khẳng định, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương của Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm các cam kết để các nhà đầu tư nước ngoài nói chung, các nhà đầu tư Hoa Kỳ nói riêng, đầu tư, kinh doanh thành công, bền vững, lâu dài ở Việt Nam. Thành công của hợp tác kinh tế sẽ tạo cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước theo hướng bền vững, lâu dài, xây dựng, và cùng có lợi. Việt Nam luôn coi thành công của các bạn cũng là thành công của mình.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang bày tỏ tin tưởng, quan hệ hợp tác đầu tư, thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục phát triển hơn nữa và cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ tích cực đóng góp vào thành công của Hội nghị cấp cao Doanh nghiệp APEC vào tháng 11 tới.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2017:

Ba tàu hải quân Mỹ và Nhật Bản đến Cam Ranh

Chiều 20-5, tại Cảng quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa), Hải quân VN đã tổ chức lễ đón tàu hải quân Mỹ USNS Fall River (T-EPF-4) và hai tàu khu trục của Hải quân Nhật Bản là J.S.Izumo 183, J.S. Sazanami 113.

Tàu hải quân Mỹ và Nhật Bản đến VN trong khuôn khổ chương trình Đối tác Thái Bình Dương 2017 (PP17).

Chiều cùng ngày, cuộc họp báo thông tin về PP17 và các hoạt động của thủy thủ đoàn Mỹ và Nhật Bản những ngày tới.

Đại tá Stanfield Chien – tổng chỉ huy Chương trình PP17 – cho biết trong chuỗi hoạt động tại chương trình lần này sẽ đặc biệt tập trung vào lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và y tế.

Tại Khánh Hòa, PP17 sẽ tổ chức các hội thảo trong các dự án xây dựng dân sự, trao đổi chuyên môn, tổ chức diễn tập công tác ứng phó thảm họa ở mức độ khu vực và quốc gia. PP17 cũng là chuỗi hợp tác về y tế bờ biển, tìm kiếm và cứu trợ hàng hải.

Hải quân hai nước cùng với với VN sẽ hoàn thành trường mầm non Họa Mi, Sơn Ca (Khánh Hòa). Ban nhạc Hạm đội 7 sẽ biểu diễn tại Công viên Yến Sào, công viên Thanh niên, giao lưu trường THCS Phan Chu Trinh.

Chiều cùng ngày, quan khách VN và các nhà báo cũng được tham quan ba chiếc tàu hiện đại của Hải quân Mỹ và Nhật Bản. Theo đó tàu USNS Fall River thuộc biên chế Hải quân Hoa Kỳ dài 103m, rộng 28,5m, mớn nước 3,83m với 4 động cơ diesel. Đặc biệt tàu có tốc độ cực nhanh 43 hải lý/ giờ. Biên chế tàu có 312 người, trong đó số người tham gia chương trình PP17 là 104 người.

Tàu Izumo (DDH-183) là chiếc đầu tiên trong lớp tàu sân bay trực thăng được đặt tên theo tỉnh Izumo của Nhật Bản. Con tàu được hạ thủy vào năm 2013 và biên chế vào năm 2015. Izumo dài 284m, rộng 38m; lượng choán nước đầy tải lên tới 27.500 tấn, tốc độ tối đa là hơn 30 hải lý/giờ với chi phí chế tạo hơn 1,2 tỉ USD vào năm 2013.  Tàu được vũ trang nhẹ với 3 hệ thống pháo phòng thủ tầm gần Phalanx, 2 bệ phóng tên lửa phòng thủ tầm gần SeaRAM.

Izumo còn được gọi là “tàu khu trục chở trực thăng”, với tối đa 28 trực thăng các loại và triển khai cùng lúc 9 trực thăng trên boong. Izumo sở hữu năng lực chống ngầm và cảnh báo sớm mạnh mẽ, nó có thể trở thành một trung tâm chỉ huy và ứng phó thảm họa nhân đạo.

Trong khi đó, tàu khu trục Sazanami 113 có chiều dài 151 mét, rộng 17,4 mét, cao 10,9 mét, mớn nước 5,3 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 4.650 tấn, đầy tải 6.300 tấn, với khoảng 175 quân nhân. Đây là lớp tàu là phòng không, săn ngầm và chống tàu chiến mặt nước của đối phương.

Trước đó, chương trình Đối tác Thái Bình Dương 2017 đã kết thúc thành công tại Đà Nẵng.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/5/2017:

Đối thoại nhiều bên về APEC hướng tới năm 2020 và tương lai

Sáng 16-5, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Hà Nội, đã khai mạc trọng thể Đối thoại nhiều bên về Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) hướng tới năm 2020 và tương lai. Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự và phát biểu ý kiến.

Đây là một trong những hoạt động quan trọng nhất về cả tầm vóc và quy mô trong dịp Hội nghị các quan chức cấp cao (SOM) APEC lần thứ hai và các cuộc họp liên quan, do Việt Nam phối hợp Ban Thư ký APEC quốc tế và Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) tổ chức.

Đối thoại thu hút sự tham gia của khoảng 300 đại biểu là các quan chức cấp cao APEC, Trưởng các cơ quan đại diện các nền kinh tế APEC tại Hà Nội, lãnh đạo doanh nghiệp, học giả có uy tín, đại diện các tổ chức quốc tế và khu vực, cùng các tổ chức xã hội và giới truyền thông. Lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành và địa phương của Việt Nam đã tham dự Đối thoại.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đối thoại, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định: “Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm các nền kinh tế APEC đưa ra thông điệp khẳng định tiếp tục cam kết duy trì mở cửa thị trường, đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực và ủng hộ một tiến trình toàn cầu hóa mới tiến bộ hơn. Chúng ta cần xây dựng tầm nhìn mới sau 2020 nhằm đem lại cho APEC một giá trị và vai trò mới trong cấu trúc kinh tế khu vực và toàn cầu đang thay đổi”. Chủ tịch nước nhấn mạnh, “chìa khóa cho thành công mới của APEC hiện nay chính là APEC cần đặt người dân và doanh nghiệp ở trung tâm của sự phát triển. Chúng ta cần thúc đẩy phát triển bền vững, bao trùm và sáng tạo, đưa các thành phần trong xã hội cùng tham gia và thụ hưởng từ sự phát triển và thịnh vượng chung”. Chủ tịch nước đề nghị các thành viên APEC “chung tay thúc đẩy một mô hình tăng trưởng mới bền vững hơn”. (Toàn văn bài phát biểu đăng trên số báo hôm nay).

Tại phiên khai mạc, đồng Chủ tịch của Hội đồng PECC Đ.Cam-beo đã có bài phát biểu chào mừng, nêu rõ: Châu Á – Thái Bình Dương là trọng tâm của những thay đổi và chuyển đổi nhanh chóng đang diễn ra trên thế giới. Các thành viên của Diễn đàn đang đứng trước cơ hội xác định tầm nhìn dài hạn nhằm định hướng cho việc hình thành các chính sách và quy định bảo đảm cho mọi người dân được hưởng lợi từ những thay đổi này.

Diễn ra trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế đang thay đổi nhanh chóng và APEC chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới, Đối thoại là hoạt động rất có ý nghĩa nhằm triển khai chỉ đạo của các nhà lãnh đạo APEC tại Hội nghị cấp cao năm 2016 và đóng góp vào nỗ lực chung của các thành viên trong việc chuẩn bị cho tương lai của Diễn đàn trong những thập niên tới. Đối thoại đã gợi mở nhiều ý tưởng và nêu những đề xuất cụ thể góp phần vào việc định hướng hợp tác APEC trong thời gian tới.

* Tại phiên toàn thể thứ nhất với chủ đề “APEC trong một thế giới thay đổi nhanh chóng” diễn ra sáng cùng ngày, nguyên Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) P.La-mi phát biểu ý kiến đề dẫn nhận định, thương mại mở mang lại nhiều lợi ích, song để nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân, cần có các chính sách xã hội phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong một thế giới thương mại đang thay đổi.

Các đại biểu đã nghe tham luận và tích cực thảo luận về triển vọng của thế giới đến năm 2050; những thay đổi trong trật tự và quản trị kinh tế toàn cầu cũng như của cục diện kinh tế khu vực và APEC; những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nền kinh tế và các khu vực, nhất là đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương và APEC; các tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)…

* Trong phiên thảo luận thứ hai, chủ đề “APEC hướng tới năm 2020 và tương lai”, các đại biểu tập trung thảo luận và chia sẻ góc nhìn đa chiều về triển vọng của APEC và châu Á – Thái Bình Dương, kết quả rà soát việc thực hiện các Mục tiêu Bô-go… Các ý kiến nhìn chung đều nhất trí APEC cần tiếp tục phát huy thế mạnh là cơ chế hợp tác linh hoạt, trên cơ sở tự nguyện, không ràng buộc, tiếp tục thúc đẩy thương mại và đầu tư mở nhằm đóng góp vào thịnh vượng chung của khu vực. Trong tình hình mới, để tiếp tục khẳng định vai trò của APEC, các nội dung hợp tác của Diễn đàn cần gắn hơn với các vấn đề phát triển bền vững và bao trùm. Diễn đàn cũng cần đẩy mạnh thông tin tới người dân và các doanh nghiệp về những lợi ích thiết thực hợp tác giữa các thành viên mang lại.

* Chiều cùng ngày, các đại biểu đã tiến hành thảo luận nhóm nhằm trao đổi các biện pháp thúc đẩy nỗ lực hoàn tất các Mục tiêu Bô-go về tự do hóa thương mại và đầu tư, nội dung hợp tác của Diễn đàn sau năm 2020 và các bước chuẩn bị cần triển khai để tiến tới hình thành tầm nhìn cho APEC sau năm 2020.

* Cũng trong ngày 16-5, các quan chức cấp cao APEC đã tổ chức hội thảo về nghiên cứu và công nghệ, do nhóm Đối tác chính sách về khoa học, công nghệ và sáng tạo (PPSTI) chủ trì.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 28/5/2017:

Ra mắt sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với giới công thương Việt Nam

Sáng 27-5, tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Phủ Chủ tịch, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp Nhà xuất bản Công an nhân dân, Viện Ðào tạo, Tư vấn và Phát triển kinh tế thuộc Câu lạc bộ các nhà công thương Việt Nam tổ chức lễ ra mắt, giới thiệu cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với giới công thương Việt Nam.

Ðây là công trình được triển khai thực hiện trong thời gian dài với sự phối hợp của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, lý luận và hoàn thành vào dịp kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách có năm phần nội dung, cung cấp những tư liệu, bài phát biểu, bài báo và các văn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giới công thương Việt Nam; những nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế; các sự kiện và cuộc gặp gỡ, làm việc của Người với giới công thương, các đơn vị, nhà máy, xí nghiệp cùng hồi ức, kỷ niệm của một số gia đình doanh nhân tiêu biểu, các nhà tư sản dân tộc đã có nhiều đóng góp cho cách mạng.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/5/2017:

Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2017

Ngày 17-5, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2017 với chủ đề “Đồng hành cùng doanh nghiệp”. Cùng dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Trương Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Vương Đình Huệ, Phó Thủ tướng Chính phủ; Tô Lâm, Bộ trưởng Công an; các Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trịnh Đình Dũng; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Lê Minh Trí; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan T.Ư, địa phương; gần 2.000 đại biểu doanh nghiệp (DN) trong nước và nước ngoài; các hiệp hội DN; các cơ quan, tổ chức quốc tế. Cuộc họp được truyền trực tuyến với đầu cầu 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận của các DN, hiệp hội DN, các bộ, ngành, địa phương.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Minh Hưng khẳng định, thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục tập trung vốn tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục nghiên cứu, đổi mới cách thức cấp tín dụng theo hướng có sự chọn lọc ưu tiên phân loại DN góp phần thực hiện các chương trình tái cơ cấu sản xuất. NHNN bám sát diễn biến tình hình để điều hành lãi suất ổn định, chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay; tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho DN. Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam Nguyễn Văn Thân kiến nghị các DN lớn, tập đoàn hỗ trợ, giúp đỡ các DNNVV tiêu thụ hàng hóa, tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Lê Minh Trí kiến nghị Chính phủ cần tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện của cấp dưới đối với việc triển khai Nghị quyết; chọn xử lý một vài trường hợp vi phạm pháp luật làm khó DN để răn đe, giáo dục chung. Ngành Kiểm sát sẽ quan tâm phát hiện các sơ hở, những bất cập của pháp luật để kiến nghị, khắc phục những sơ hở, bất cập đó, để ngăn chặn những người lợi dụng sơ hở đó thu lợi bất chính và không công bằng trong thương trường. Quyết tâm bảo vệ DN, người dân làm ăn chân chính, hiệu quả và đúng pháp luật. Ngành Kiểm sát sẽ phấn đấu hạn chế và không hình sự hóa các quan hệ dân sự, hành chính và kinh tế…

Phát biểu ý kiến kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, tinh thần của hội nghị cần chuyển từ lời nói thành hành động; khẳng định Chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ người dân và DN thì cần xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh (MTĐTKD) thân thiện, có năng lực cạnh tranh cao, không chỉ có tự do kinh doanh, sáng tạo mà còn bảo đảm an toàn đối với người đầu tư và tài sản; chi phí và rủi ro thấp; chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái hiệu quả. Đó là môi trường mà nhà đầu tư, DN được tôn trọng, luôn tạo sự tin cậy cao, để mọi người yên tâm đầu tư dài hạn và không ngừng phát triển. Dẫn chứng tình hình kinh tế, nhất là sản xuất, kinh doanh mấy tháng gần đây, Thủ tướng khẳng định, bức tranh kinh tế Việt Nam đang ngày càng tốt đẹp hơn; việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp tạo sức ép các địa phương cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản cho người dân thành lập DN; nhiều kiến nghị của DN đã được các bộ, ngành giải quyết trong một năm qua; các tổ chức nước ngoài uy tín đều đánh giá cao việc cải thiện MTĐTKD ở Việt Nam.

Chúng ta đạt kết quả bước đầu đáng khích lệ, tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản phát triển DN. Chính phủ đã nhận diện vấn đề này, đó là, về thể chế chính sách, chúng ta chưa giải quyết được triệt để các mâu thuẫn các văn bản dưới luật. Do đó, phải xây dựng thể chế chính sách bình đẳng, tạo MTĐTKD minh bạch, dễ áp dụng. Thủ tướng đề nghị các DN, hiệp hội cần đóng góp ý kiến, xây dựng và tổ chức thực hiện để có MTĐTKD tốt hơn, phấn đấu đứng vào nhóm đầu ASEAN về thể chế.

Về thuế, phí, DN còn gặp nhiều khó khăn: các loại thuế phí còn cao; thủ tục hành chính, các thủ tục cấp phép còn gây khó khăn cho DN, còn hiện tượng “cò” giải quyết thủ tục; giá thuê đất còn cao; nhiều giấy phép con chưa được loại bỏ; tồn tại tình trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức; có cơ quan, bộ phận cán bộ chưa nắm bắt yêu cầu của DN, chưa ý thức đối với sự phát triển DN; việc tiếp cận tín dụng, thông tin thị trường còn hạn chế; số DN Việt Nam tham gia được chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn còn ít; chưa hình thành đồng bộ các thị trường đất đai, tài chính, ý tưởng, giải pháp kinh doanh…; hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo, gây thiệt hại và bức xúc cho DN.

Trên tinh thần đó, Thủ tướng khẳng định, Chính phủ cam kết tập trung giải quyết các vấn đề then chốt sau:

Tiếp tục kiến tạo MTĐTKD công bằng, khuyến khích đầu tư, thông qua bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, tinh thần thượng tôn pháp luật từ trung ương đến địa phương; thực thi công vụ nghiêm túc không gây khó khăn cho DN. Trách nhiệm này thuộc về Bộ trưởng, lãnh đạo các ngành, địa phương phải trực tiếp giải quyết. Mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng không phân biệt công tư. Chính phủ sẽ sớm trình Quốc hội Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; hoàn thiện sửa đổi các chính sách về thuế, hải quan; xóa bỏ sự ưu ái, thu hồi nguồn lực, tài nguyên đang bị sử dụng lãng phí để trao cho những DN, đơn vị làm ăn, khai thác hiệu quả, góp phần cải thiện năng suất lao động, thúc đẩy cổ phần hóa DNNN. Chính phủ quyết tâm giảm bớt chi phí cho DN, chi phí thủ tục hành chính, thuế, hải quan, logistics, chi phí giám định, thẩm định… Thúc đẩy phát triển các thị trường mạnh mẽ như lao động, tài chính, hàng hóa, khoa học công nghệ…

Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam, tối ưu hóa các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Xây dựng các yếu tố kiến tạo cạnh tranh, phát triển hệ thống tài chính, đầu tư nghiên cứu cơ bản; liên kết; kết hợp tối ưu nguồn lực, tăng năng lực cạnh tranh trong kinh doanh và hội nhập quốc tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; kỹ năng quản lý tiên tiến; xây dựng thương hiệu sản phẩm Việt Nam. Chúng ta nên tự tin chuyển sang tâm thế “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam” – nghĩa là các DN trước hết phải chiếm lĩnh ngay thị trường trong nước lớn có nhiều lợi thế.

Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị nhà nước và DN, không cho phép tồn tại yếu kém quản trị, gây trì trệ. Để làm được việc đó cần có sự đồng lòng, đồng tâm của tất cả các DN, doanh nhân Việt Nam, cùng với quyết tâm cả hệ thống chính trị, trong đó yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Từng công chức, viên chức phải nâng cao nhận thức trách nhiệm, nâng cao đạo đức công vụ, bảo vệ quyền tài sản, kinh doanh của DN. Chính phủ cũng mong DN kinh doanh liêm chính, bảo vệ tốt hơn môi trường; chủ động và tự đổi mới và cải cách. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng cần có chương trình cụ thể để tạo điều kiện cho DN phát triển.

* Chiều cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, các Phó Thủ tướng Chính phủ: Trương Hòa Bình, Vương Đình Huệ, Vũ Đức Đam họp với lãnh đạo các bộ, ngành đóng góp ý kiến vào dự thảo Chỉ thị về triển khai hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16-5-2016 theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng DN; bàn các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và thảo luận các kiến nghị của DN tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DN.

Phát biểu ý kiến tại cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu các ý kiến đóng góp, sớm hoàn thiện Chỉ thị. Thủ tướng nêu rõ, cần chú trọng thêm vấn đề khởi nghiệp, hệ sinh thái khởi nghiệp và các bộ, ngành thúc đẩy mạnh mẽ hơn vấn đề này; tiếp cận đất đai, tài sản trên đất cũng là vấn đề lớn cần được các bộ, ngành liên quan coi trọng. Thủ tướng bày tỏ quan tâm khả năng chuyển các hộ kinh doanh (khoảng 5 triệu hộ) hiện nay phát triển thành DN, vấn đề là cần có các cơ chế, chính sách phù hợp. Thủ tướng đồng ý giao một số nhiệm vụ công cho các hiệp hội tùy theo chức năng; yêu cầu NHNN cần tạo điều kiện để tín dụng ra xã hội, nhất là có biện pháp mạnh mẽ hơn nữa để đưa tín dụng về nông thôn. Chú trọng khâu đào tạo nguồn nhân lực; yêu cầu phải xử lý nghiêm mọi cán bộ, công chức nhũng nhiễu, tiêu cực…

* Chiều cùng ngày, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn của Chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì họp báo thông báo về những nội dung nổi bật của Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DN.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/5/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Thanh Hóa

Tối 18-5, tại TP Sầm Sơn, UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp Bộ Kế hoạch và Ðầu tư tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Thanh Hóa năm 2017. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Cùng dự, có nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí: Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư; Uông Chu Lưu, Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư, đông đảo các doanh nghiệp, đại diện một số tổ chức quốc tế.

Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đầu tư vào năm lĩnh vực ưu tiên: công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp; du lịch; y tế; phát triển hạ tầng, đô thị. Tại hội nghị, có 32 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, ký biên bản ghi nhớ đầu tư với tổng mức đầu tư 135.300 tỷ đồng, tương đương 6,1 tỷ USD, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo 76.500 tỷ đồng; nông nghiệp 12 nghìn tỷ đồng; du lịch 22.800 tỷ đồng; y tế 2.500 tỷ đồng và phát triển hạ tầng, đô thị 21.500 tỷ đồng.

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh, đánh giá cao tỉnh Thanh Hóa tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư quy mô lớn, chất lượng chọn lọc, thiết thực chào mừng kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần sớm xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu như Bác Hồ từng mong muốn. Thủ tướng nhấn mạnh, Thanh Hóa là vùng kinh tế năng động, nhiều tiềm năng, là hình ảnh nước Việt Nam thu nhỏ với nhiều thế mạnh cụ thể như người dân thông minh, cần cù, hiếu học, nhiều học sinh đạt thành tích cao trong học tập. Trên cơ sở đó, Thanh Hóa cần xây dựng quy hoạch tổng thể giúp tỉnh phát triển mạnh, bền vững hơn trong tương lai.

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Thanh Hóa cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; cần có quy hoạch, bố trí, sử dụng đất hiệu quả và về lâu dài không mâu thuẫn, ảnh hưởng với nhau. Tăng cường tính minh bạch, giảm chi phí cho doanh nghiệp; bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Chính quyền các cấp cần năng động hơn trong thu hút đầu tư, phát huy lợi thế cạnh tranh. Tỉnh cũng cần xác định rõ các lĩnh vực lợi thế như công nghiệp, thủy, hải sản, du lịch, đất đai, nhân lực.

Thủ tướng đề nghị tỉnh nghiên cứu phát triển hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh. Ða dạng hóa các loại hình dịch vụ, trong đó khai thác lợi thế du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, cộng đồng, làng nghề; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương. Thủ tướng nhấn mạnh, Thanh Hóa cần đặc biệt chú trọng phát triển nhân lực, phát triển doanh nghiệp lớn; đề nghị các doanh nghiệp làm ăn bài bản, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; hành động hơn nữa, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, cùng Nhà nước quan tâm đào tạo nhân lực địa phương. Chính phủ sẽ sớm triển khai làm đường cao tốc Thanh Hóa – Nghệ An, mở rộng đường sắt, nâng sân bay Thọ Xuân thành sân bay quốc tế, khai thác hiệu quả cảng nước sâu. Thủ tướng khẳng định, Chính phủ tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, bảo vệ quyền con người, quyền tài sản, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế tư nhân.

* Chiều cùng ngày, tại TP Thanh Hóa, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cuộc làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Thanh Hóa.

Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao nỗ lực của tỉnh trong quá trình chuyển mình đã quan tâm đến công tác quy hoạch để phát triển bền vững; biểu dương tỉnh có định hướng đạt mục tiêu ba nhất hạ tầng thiết yếu phục vụ các dự án đầu tư của doanh nghiệp đồng bộ nhất, chi phí thuê đất và lao động cạnh tranh nhất; giải quyết các thủ tục hành chính, khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp kịp thời nhất. Thủ tướng hoan nghênh hướng đi gần đây của Thanh Hóa là tập trung phát triển mạnh mẽ du lịch dịch vụ.

Thủ tướng đề nghị Thanh Hóa tiếp tục nghiên cứu triển khai chiến lược phát triển toàn diện, ưu tiên các lĩnh vực trọng điểm, các thế mạnh để gia tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Không có nhà đầu tư, không có những dự án lớn thì khó có thể thành công. Tỉnh cần rà lại việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra năm 2017 để làm sao đạt kết quả cao nhất, đóng góp vào kết quả chung của cả nước. Thủ tướng mong muốn Thanh Hóa phấn đấu không ngừng, trở thành tỉnh khá ở miền bắc.

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 26/5/2017:

Bốn Doanh nghiệp Việt lọt top 2.000 Doanh nghiệp niêm yết lớn nhất thế giới

Tạp chí Forbes vừa công bố danh sách Global 2000, gồm các công ty đại chúng lớn và quyền lực nhất thế giới. Năm nay Việt Nam có bốn đại diện lọt vào top này, bên cạnh ba ngân hàng gồm VietinBank, BIDV, 
Vietcombank, Vinamilk cũng đã lọt vào danh sách.

Như vậy, đây là doanh nghiệp (DN) hàng tiêu dùng nhanh đầu tiên của Việt Nam lọt vào danh sách Global 2000, với doanh thu và vốn hóa lần lượt là 2,1 tỉ USD và 9,1 tỉ USD. Xét về vốn hóa, Vinamilk là công ty lớn nhất trong bốn công ty của Việt Nam lọt vào danh sách Global 2000 năm nay.

Tiêu chí để Forbes đưa một DN vào danh sách Global 2000 là dựa trên doanh thu, lợi nhuận, tài sản và giá trị thị trường. Năm nay, 2.000 công ty lọt vào danh sách đến từ 58 quốc gia. Các DN này sở hữu 35.300 tỉ USD doanh thu, 2.500 tỉ USD lợi nhuận, 169.100 tỉ USD tài sản và có tổng vốn hóa 48.800 tỉ USD.

  • Trang 2 báo Nhân Dân 26/5/2017:

Thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu. Theo đó, khu nông nghiệp có tổng diện tích tự nhiên 418,91ha; ứng dụng thành tựu  nghiên cứu và phát triển công nghệ cao vào ngành tôm, như: gia hóa tôm bố mẹ, sản xuất giống, nghiên cứu quy trình nuôi, nghiên cứu chế biến thức ăn, các ngành công nghiệp phụ trợ, sản xuất chế phẩm sinh học, bảo qunar chế biến, đào tạo, tiếp nhận, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ ngành tôm của tỉnh, vùng bán đảo Cà Mau, đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.

  • Trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2017:

Bắt đầu hội chợ hàng Việt – Cần Thơ 2017

Hội Chợ hàng Việt – Cần Thơ 2017 đã khai mạc tối 16/5 tại Trung tâm xúc tiến đầu tư – thương mại và hội chợ triển lãm Cần Thơ (quận Ninh Kiều). Hội chợ này quy tụ 250 gian hàng của 110 doanh nghiệp VN. Bên cạnh việc triển lãm các dự án khởi nghiệp, hội chợ sẽ có chương trình “Vui cùng thương hiệu Việt” với các trò chơi dân gian có thưởng. Ban tổ chức sẽ mở cửa vào cổng miễn phí từ 8h30 đến 16h mỗi ngày để người tiêu dùng tìm hiểu và mua sắm các sản phẩm Việt. Hội chợ sẽ kéo dài đến ngày 21/5.

Thêm dự án điện mặt trời tại bán đảo Cam Ranh

UBND tỉnh Khánh Hòa đã đồng ý về mặt chủ trương cho Tổng công ty Điện lực miền Trung đầu tư nhà máy điện mặt trời miền Trung công suất 50MW, trên diện tích khoảng 70ha tại xã Cam An Bắc (Cam Lâm, Khánh Hòa). Tổng vốn cho dự án này lên tới 1.904 tỉ đồng. Hiện chủ đầu tư đang hoàn thiện báo cáo phương án đầu tư, dự kiến khởi công cuối năm 2017 và hoàn thành vào cuối năm 2018.

  • Trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 2/6/2017:

Khai trương “thành phố sách”

Một không gian rộng đến 3000m2 dành cho sách vừa ra mắt vào sáng 1-6 tại Bình Dương với sức chứa 500.000 bản sách, được xem như một ‘thành phố sách ‘đầu tiên của cả nước.

Đây là dự án mơ ước trong nhiều năm của công ty Văn hóa Phương Nam, với kỳ vọng tìm được một không gian đủ rộng để có thể bày bán tất cả các sách của các thương hiệu nổi tiếng trong cả nước.

Không những thế, Phương Nam Book City còn có khu vực văn phòng phẩm và cà phê sách, thuận tiện cho nhu cầu mua sắm và lựa chọn sách của những gia đình có xu hướng đưa con em đến với sách theo tinh thần “vui chơi thỏa thích với sách”.

Phương Nam Book City quy tụ gần 200 nhà cung cấp trong cả nước, bên cạnh đó còn có khoảng 70 nhà cung cấp sách ngoại văn, 150 thương hiệu văn phòng phẩm. Tổng kinh phí đầu tư cho “thành phố sách” này khoảng 50 tỷ đồng.

“Thành phố sách” Phương Nam còn ứng dụng công nghệ thông tin bằng cách thiết lập bảng truy cập sách trực tuyến ngay tại cửa vào: bạn đọc có thể gõ tìm tên sách xem quyển ấy hiện còn không, và được bày bán tại vị trí nào trong “thành phố”. Các sách mới cũng sẽ được cập nhật tại bảng này.

Lam Điền

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/5/2017:

Bí thư Tỉnh ủy Long An đối thoại với công nhân

Ngày 27/5, Liên đoàn Lao động tỉnh Long An phối hợp Ban Dân vận Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng UBND tỉnh tổ chức hội nghị đối thoại giữa Bí thư Tỉnh ủy với đại diện công nhân lao động và người sử dụng lao động. Hơn 450 công nhân và đại diện doanh nghiệp trên địa bàn thamd ự. Tại buổi đối thoại, vấn đề được nhiều người phản ánh là việc thu hút lao động nhập cư, hạ tầng giao thông, tăng lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp độc hại, chất lượng bữa ăn công nhân; chính sách xây dựng nhà trẻ cho con em công nhân lao động. Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Long An Phạm Văn Rạnh, đánh giá cao sự đóng góp của hơn 250 nghìn công nhân và gần 8.000 doanh nghiệp cho sự  phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Long An. Lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đại diện công nhân, doanh nghiệp, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Long An cam kết sẽ phát huy tốt những việc các cấp chính quyền địa phương đã làm được, đồng thời, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, vướng mắc nhằm tháo gỡ khó khăn cho công nhân, doanh nghiệp

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 27/5/2017:

Thi công ngầm bằng máy khoan hiện đại

Ngày 26/5, Ban Quản lý đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh (đơn vị chủ đầu tư, dự án Tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên) chính thức thi công khoan ngầm bằng máy khoan hiện đại TBM, đoạn từ ga Ba Son đến ga Nhà hát thành phố, dài 781m. Dự kiến, đến tháng 12/2017 máy sẽ khoan đến ga Nhà hát thành phố, sau đó, sẽ được tháo dỡ, vận chuyển về ga Ba Son để tiếp tục khoan hầm phía tây, điểm đến vẫn là ga Nhà hát thành phố và dự kiến hoàn thành trong tháng 6/2018. Đại diện nhà thầu Shimizu (Nhật Bản) cho biết, máy khoan TBM lần đầu sử dụng công nghệ khiên đào cho đoạn đường tàu điện ngầm đầu tiên của Việt Nam, tại TP Hồ Chí Minh

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 27/5/2017:

Đào tạo kỹ năng sử dụng kỹ thuật số cho nông dân

Sáng 26/5, tại Hà Nội, T.Ư Hội Nông dân Việt Nam, Tập đoàn Google phối hợp tổ chức hội thảo triển khai dự án “Nâng cao năng lực sử dụng máy tính, điện thoại thông minh và in-tơ-nét cho cán bộ, hôi viên nông dân Việt Nam”. Tới dự, có đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Dự án được triển khai trong ba năm, đào tạo 40 tập huấn viên, 50 cán bộ hội về tầm quan trọng và lợi ích của việc sử dụng in-tơ-nét; các kiến thức, kỹ năng sử dụng máy tính, điện thoại thông minh và in-tơ-nét phục vụ công tác, sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân. Sau khóa học, cán bộ hỗi sẽ làm nòng cốt đào tạo cho hơn 30 nghìn nông dân ở chín tỉnh, thành phố.

  • Trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2017:

Vinamilk nhập thêm hơn 2.000 bò sữa

Công ty cổ phần Sữa VN (Vinamilk) vừa nhập thêm hơn 2.000 con bò sữa cao sản từ Mỹ, nâng đàn bò sữa của trang trại bò sữa Tây Ninh lên gần 5.000 con, tiếp tục cam kết xây dựng nguồn nguyên liệu sữa nội địa ổn định.

Theo thông tin từ Vinamilk, nhập về lần này đều là bò tơ thuần chủng Holstein Friesian Mỹ với khả năng cho sữa hơn 14.000 lít/chu kỳ. Đây là lứa bò thứ hai được nhập từ Mỹ của trang trại bò sữa Vinamilk tại Tây Ninh, nơi có diện tích đất sử dụng lên đến 700ha với hệ thống chuồng trại được đầu tư ứng dụng công nghệ cao, nâng cao khả năng cho sữa của đàn bò.

Theo kế hoạch, trang trại Vinamilk Tây Ninh sẽ có thêm các đợt nhập bò nhằm gia tăng tổng đàn lên 8.000 con trong năm 2017. Vinamilk hiện có hệ thống 10 trang trại với giống nhập khẩu từ Úc, Mỹ và New Zealand.

Hiện tổng đàn bò cấp sữa của Vinamilk (gồm cả bò của nông dân ký kết hợp đồng bán sữa cho Vinamilk) là hơn 120.000 con, cung cấp khoảng 750 tấn sữa tươi/ngày. Với tốc độ tăng trưởng nhu cầu sữa, tổng đàn bò của Vinamilk dự kiến tăng lên khoảng 160.000 con trong năm 2017.

KH.Ngọc

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 26/5/2017:

Các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu

Sáng 25/5, tại TP Hồ Chí Minh, Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam tổ chức hôi nghị đánh giá một năm triển khai Chương trình phối hợp phát huy vai trò các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.

Theo đánh gái của Thường trực Ban chỉ đạo Chương trình phối hợp, từng tôn giáo đã triển khai và đưa nội dung về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu vào chương trình hoạt động hằng năm. Trong đó, hoạt động của các mô hình điểm mang lại kết quả thiết thực có sức lan tỏa trong cộng đồng; như: mô hình của chùa Pháp Vân (Hà Nội), với ba câu lạc bộ chuyên hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; mô hình điểm của chùa Pháp Bảo (TP Hồ Chí Minh) thu hút sự tham gia của Ban điều hành khu phố, phật tử và các tình nguyện viên tuyên truyền về bảo vệ, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/5/2017:

Đón bằng xếp hạng Hải Vân Quan là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia

Chiều 24-5, tại di tích Hải Vân Quan (đèo Hải Vân), hai Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên – Huế và TP Đà Nẵng đã tổ chức lễ công bố quyết định và đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Hải Vân Quan theo Quyết định số 1531/QĐ-BVHTTDL ngày 14-4-2017 của Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Hải Vân Quan được công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia và là di tích quốc gia chung đầu tiên ở nước ta thuộc tỉnh và thành phố quản lý. Di tích Hải Vân Quan nằm trên địa bàn của huyện Phú Lộc (Thừa Thiên – Huế) và quận Liên Chiểu (Đà Nẵng). Việc xếp hạng di tích quốc gia giúp các cơ quan quản lý văn hóa, du lịch và chính quyền địa phương có điều kiện giữ gìn, bảo tồn, phát huy tốt hơn những giá trị đặc biệt của Hải Vân Quan. Sau khi được công nhận là di tích quốc gia, Hải Vân Quan sẽ được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đưa vào danh mục công trình thuộc di tích triều Nguyễn trong hồ sơ tái đề cử Quần thể di tích cố đô Huế là Cảnh quan văn hóa thế giới trình UNESCO công nhận.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 24/3/2017:

Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế hoạt động hiệu quả

Chiều 23-5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức thông tin định kỳ về chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) tháng 5-2017.

Tại hội nghị, BHXH Việt Nam cung cấp thông tin “nóng” trong thực hiện chính sách BHYT, như: hiệu quả ban đầu của Hệ thống Thông tin giám định BHYT; những vấn đề nổi cộm trong sử dụng quỹ Khám, chữa bệnh (KCB) BHYT hiện nay như: trục lợi, lạm dụng quỹ, “ăn gian” định mức kinh tế kỹ thuật dịch vụ y tế về thời gian, nhân lực, vật tư y tế… ảnh hưởng quyền lợi người bệnh… Hệ thống Thông tin giám định BHYT hoạt động hiệu quả trong kiểm soát chi phí KCB BHYT. Bốn tháng đầu năm, hệ thống đã tự động phát hiện và từ chối hơn 10% số hồ sơ đề nghị thanh toán với số tiền gần 3.000 tỷ đồng do sai thông tin về thẻ BHYT, sai mức hưởng, đề nghị thanh toán trùng lặp, hoặc chỉ định thuốc, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật ngoài phạm vi hưởng BHYT, dữ liệu mã hóa không đúng danh mục dùng chung. BHXH một số tỉnh đã giám định chủ động và từ chối thanh toán hơn 9,7 tỷ đồng…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 18/5/2017:

Đột phá trong sản xuất sản phẩm phòng, hỗ trợ điều trị ung thư

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa công bố kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chế tạo phức hệ nano extra XFGC phòng và hỗ trợ điều trị ung thư.

Kết quả nghiên cứu là sản phẩm bảo vệ sức khỏe Ksol với thành phần hoạt chất chứa Fucoidan sulfate hóa cao, phân tử lượng thấp dưới dạng phức hệ nano kết hợp ba dược liệu có chất làm ức chế, ngăn cản sự phát triển của khối u là curcumin, tam thất và xáo tam phân. Đây là lần đầu các nhà khoa học Việt Nam chế tạo thành công phức hệ nano extra XFGC và là thành quả của quá trình hợp tác, đặt hàng, tài trợ ngân sách nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ Nha Trang (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và doanh nghiệp.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/5/2017:

Cháu bé thứ 200 được thụ tinh trong ống nghiệm ở Bệnh viện Bạch Mai

Ngày 17/5, Bệnh viện Bạch Mai tổ chức hội thảo Sản phụ khoa và hỗ trợ sinh sản nhân dịp ba năm thành lập Đơn vị hỗ trợ sinh sản (ĐVHTSS) và chào đón cháu bé thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) thứ 200. Báo cáo tại hội thảo, PGS, TS Phạm Bá Nha, Trưởng khoa Phụ sản, Phụ trách ĐVHTSS cho biết: Sau ba năm hoạt động, đến nay ĐVHTSS đã thực hiện được hầu hết các kỹ thuật trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản tiên tiến trên thế giới. Tỷ lệ thành công trong chuyển phôi tươi trung bình đạt hơn 30%, chuyển phôi trữ lạnh trung bình đạt hơn 40% và số người bệnh có thai sinh hóa của đơn vị đã vượt con số 50%. Tính đến nay, ĐVHTSS đã giúp được 200 gia đình hiếm muộn có em bé từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Điện ảnh Việt Nam tham dự Liên hoan phim Cannes lần thứ 10

Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) vừa có thông báo chính thức vê việc đoàn điện ảnh Việt Nam tham dự Liên hoan phim (LHP) quốc tế Cannes lần thứ 70, diễn ra từ ngày 17 đén 28/5 tại thành phố Cannes (Pháp). Các hoạt động tại LHP bao gồm: trưng bày phim ấn phẩm, tài liệu quảng bá bối cảnh quay phim, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tại “Gian hàng Việt Nam” trong Chợ phim Cannes; giới thiệu LHP quốc tế Hà Nội (HANIFF); tổ chức “Đêm Việt Nam” giới thiệu ẩm thực Việt Nam; trình chiếu các phim Việt Nam được tuyển chọn (trong đó có phim truyện “Đảo của dân ngụ cư” của đạo diễn Hồng Ánh vừa đoạt một số giải thưởng tại LHP ASEAN 2017, và ba dự án phim khác là “Vợ ba”, “Vị” và “Con culi không biết khóc”). Dịp này, Cục Điện ảnh sẽ ký Biên bản thỏa thuận hợp tác với Trung tâm Điện ảnh và Hoạt hình quốc gia Cộng hòa Pháp.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 19/5/2017:

Phẫu thuật cho người nhiễm HIV bị lóc động mạch chủ týp A

Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức (Hà Nội), ngày 18-5 cho biết, vừa thực hiện ca phẫu thuật thành công cho một người nhiễm HIV mắc hội chứng Marphan bẩm sinh với biểu hiện là lóc động mạch chủ tuýp A mãn tính. Lóc động mạch chủ tuýp A là bệnh lý nặng, gặp với tần suất ba, bốn trường hợp/100 nghìn dân/năm. Người bệnh lóc động mạch chủ nếu không được điều trị thì tỷ lệ sống sau một năm là dưới 10%.

Sau tám giờ thực hiện, kíp mổ đã tiến hành thay van động mạch chủ, thay động mạch chủ lên, cắm lại hai động mạch vành, sửa van hai lá có vòng van. Ðây là ca mổ khó trong phẫu thuật tim mạch, đặc biệt với người bệnh nhiễm HIV, hệ miễn dịch bị suy giảm, nguy cơ nhiễm trùng cao và nguy cơ phơi nhiễm của kíp mổ cũng rất cao. Ca mổ thành công, người bệnh được rút ống nội khí quản và chuyển sang điều trị nội khoa sau mổ. Dự kiến trong tuần tới, người bệnh sẽ được ra viện.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 27/5/2017:

Khai trương Khu phẫu thuật và điều trị theo yêu cầu

Sáng 26/5, tại Hà Nội, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 (Bộ quốc phòng) tổ chức khai trương Khu phẫu thuật và điều trị theo yêu cầu.

Sau gần tám tháng cải tạo, xây dựng, Khu phẫu thuật và điều trị theo yêu cầu được hoàn thành đi vào hoạt động. Công trình được triển khai tại tầng ba của Viện Phẫu thuật tiêu hóa, với tổng diện tích 1.334 m2, được bố trí thành tổ hợp hoàn chỉnh, kết nối hệ thống hạ tầng của bệnh viện, tạo ra khu khám bệnh hiện đại, môi trường làm việc chuyên nghiệp và hiệu quả.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 27/5/2017:

Gần năm triệu trẻ em được bổ sung vi-ta-min A liều cao

Ngày 26/5, tại Bắc Ninh, Bộ Y tế phát động Ngày vì chất dinh dưỡng (ngày 1 và 2/6) năm 2017, với thông điệp “Vì chất dinh dưỡng giúp nâng cao sức khỏe, trí tuệ, tầm vóc và chất lượng cuộc sống”. Ngày vi chất dinh dưỡng năm nay tập trung vào các hoạt động: bổ sung vi-ta-min A liều cao cho trẻ em; tẩy giun cho trẻ em độ tuổi từ 24 đến 60 tháng tại 22 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao; tăng cường truyền thông giáo dục, nâng cao kiến thức và twhjc hành của người dân về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, ăn uống hợp lý, cân đối, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm…

Tổng số sẽ có gần năm triệu trẻ em (từ sáu đến 36 tháng tuổi ở 41 tỉnh, thành phố; từ sáu đến 60 tháng tuổi ở 22 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao) được bổ sung vi-ta-in A liều cao. Trong dịp này cxung có khoảng 500 nghìn bà mẹ sau sinh trong vòng một tháng được uống bổ sung viên nang vi-ta-min A.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 26/5/2017:

Cứu sống trẻ sinh non nặng 1.500 gram

Ngày 25/5, Bệnh viện quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh cho biết: Vừa cứu sống, nuôi dưỡng, chăm sóc thành công trẻ sinh non chỉ nặng 1.500 gram. Trwosc đó ba tuần, sản phụ Tr.T.T (ngụ Bình Dương) đã sinh non thai nhi 32 tuần, nặng 1.500 gram. Trẻ sinh non được cho nằm lồng ấp, thở áp lực dương liên tục qua đường mũi (NCPAP) để điều trị suy hô hấp, tránh hạ thân nhiệt. Sau hơn ba tuần được điều trị tích cực và nuôi dưỡng bằng tĩnh mạch, trẻ từng bước phát triển ổn định, có thể bú bình, chuẩn bị xuất viện.

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 28/5/2017:

Trực thăng cấp cứu bệnh nhân từ dảo Thổ Chu về TP.HCM

Chiều 27-5, trực thăng mang số hiệu Mi8-848 của trung đoàn 917, Sư đoàn Không quân 370 chở chiến sĩ từ đảo Thổ Chu (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) về đất liền cấp cứu đã hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất trong cơn mưa lớn.

Trước đó, bệnh nhân là anh Nguyễn Hoàng Giang (23 tuổi) – chiến sĩ của trung đoàn 152, Quân khu 9 (đóng trên đảo Thổ Chu) – có dấu hiệu ho, đau họng, sốt và xuất hiện ban. Sau đó, bệnh nhân rơi vào trạng hôn mê.

Sau khi nhận lệnh, trực thăng đã cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất ra đảo Thổ Chu vào lúc 10h17. Trên trực thăng gồm lái chính là đại tá Đỗ Thanh Hồng – trung đoàn trưởng trung đoàn 917; thiếu tá Lưu Công Bằng – lái phụ, kiêm dẫn đường; đại úy chuyên nghiệp Nguyễn Trọng Thành – cơ giới trên không và hai y bác sĩ của Bệnh viện Quân y 175.

Đến hơn 16h, trực thăng đã hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất. Trong cơn mưa rất lớn, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 917 cùng các bác sĩ Bệnh viện Quân y 175 đã cố gắng chuyển bệnh nhân lên xe cứu thương để chở về cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 175.

Bác sĩ Nguyễn Tuấn Phương – trưởng khoa truyền nhiễm Bệnh viện Quân y 175 – cho biết sau khám xét lâm sàng, chuẩn đoán ban đầu thì bệnh nhân bị viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết. Tiên lượng bệnh nhân xấu.

Bác sĩ Phương cho biết bệnh viện sẽ tiếp tục hồi sức tích cực, dùng kháng sinh liều cao, tiếp tục theo dõi để phát hiện những biến chứng… ở bệnh nhân.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 30/5/2017:

Phẫu thuật cứu bé trai 10 tháng tuổi bị khối u trung thất khổng lồ

Các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật cứu cháu bé Nguyễn S.B, 10 tháng tuổi (ở Ứng Hòa, Hà Nội) bị khối u trung thất lớn, dài hơn 10 cm. Các bác sĩ cho biết đây là ca bệnh hiếm gặp, vì kích thước khối u quá lớn, chèn ép toàn bộ phổi phải và bắt đầu xâm lấn sang phổi trái, gây suy hô hấp nặng.

Quá trình phẫu thuật, các bác sĩ gặp rất nhiều khó khăn, bởi khối u to chiếm hết một bên lồng ngực, trong khi đó bệnh nhi còn quá nhỏ, các thao tác phải rất cẩn trọng. Cho đến khi tách được phần cuối cùng của khối u, điều khiến các bác sĩ lo lắng nhất là phổi của cháu bé bị chèn ép lâu ngày sẽ khó hồi phục. Tuy nhiên, lúc các bác sĩ bóp bóng thì lá phổi bị chèn ép đã nở ra gần hết.

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 30/5/2017:

Sống sót sau 17 giờ trôi trên biển

Sáng 29/5, Bộ đội biên phòng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp nhận ngư dân Nguyễn Văn Quý (19 tuổi, trú xã Ninh Hải, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) từ tàu cá BV 99939 TS.

Theo anh Quý, vào 2h ngày 26/5, khi đang cùng tàu cá BV 98172 TS (do Kiều Ngọc Quang, phường 2, TP Vũng Tàu làm thuyền trưởng) đánh bắt hải sản trên biển, do bất cẩn nên anh rơi xuống biển. Đến 19g cùng ngày, ngư dân Quý được một tàu cá phát hiện, cứu vớt lên an toàn trong tình trạng sức khỏe rất yếu và thông báo cho tàu cá BV 98172 TS quay lại tiếp nhận anh này. Sau đó thuyền trưởng Kiều Ngọc Quang đã đưa anh Quý sang tàu cá BV 99939 TS đang đi vào bờ để bàn gaio cho cơ quan biên phòng.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 31/5/2017:

Phẫu thuật thành công cho người bệnh bị gãy nát xương cột sống

Các bác sĩ Khoa Ngoại – Thần kinh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Lắc vừa phẫu thuật thành công một trường hợp gãy nát xương cột sống. Người bệnh là anh Y Sơn, 36 tuổi, ở xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong, tỉnh Đác Nông. Trúc đó, ngày 21/5, anh Y Sơn nhập viện trong tình trạng: lưng đau nhiều, liệt hai chân, bí tiểu … Sau khi thăm khám, chụp, chiếu, các bác sĩ xác định người bệnh bị gãy nát xương cột sống hình chữ V, gập góc nhiều, mất vững độ 4, liệt tủy. Người  bệnh được mổ cấp cứu nắn chỉnh xương sống, bắt 10 ốc vít vào năm đốt cột sống, đưa cột sống vè vị trí ban đầu.

Sau một tuần phẫu thuật, đến nay tình trạng sức khỏe của anh Y sơn tiến triển tốt.

  • Trang 14 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2017:

Lần đầu một bệnh viện quận mổ ung thư gan

Sáng 18-5, các bác sĩ Bệnh viện Q.2 (TP.HCM) cho biết lần đầu tiên Bệnh viện Q.2 đã phẫu thuật gan cho bà N.T.D., 77 tuổi, ngụ ở Q.2 bị ung thư gan. 

Ngoài mắc bệnh ung thư gan, bà D. còn bị bệnh cao huyết áp, đái tháo đường từ nhiều năm nay.

Trước đó, bà D. đến Bệnh viện Q.2 khám với lý do bị mệt, đau vùng hạ sườn phải. Các bác sĩ phát hiện bà D. có khối u nang phải với kích thước 5×5,5cm. Bà D. được chẩn đoán bị ung thư gan nguyên phát, phân thùy 6 gan phải.

Sau khi hội chẩn với Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Đại học Y dược, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, các bác sĩ Bệnh viện Q.2 quyết định mổ cho người bệnh tại Bệnh viện Q.2 dưới sự hướng dẫn của các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y dược.

Bà D. đã được cắt đi gần 1/2 gan phải (cắt trọn phân thùy 6 và một phần phân thùy 7).

Phẫu thuật gan là một loại phẫu thuật đặc biệt vì khi mổ gan máu sẽ chảy ra rất nhiều.

Hiện bà D. đang hồi phục tốt.

Thùy Dương

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2017:

Phẫu thuật lấy “khối u hóa đá” 2kg trong tử cung

Ngày 16/5, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh cho biết đã phẫu thuật thành công cho một nữ bệnh nhân có “khối u hóa đá” nặng gần 2kg nằm trọng trong tử cung.

Ngày 11,5 bệnh nhân T.T.C. (52 tuổi) nhập viện trong tình trạng buồn nôn, bụng đau nhiều nhất là khu vực mạn sườn trái và hạ vị. Sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân có khối cản quan kích thước lớn 12x15cm chiếm toàn bộ vùng tiểu khung. Sau hội chẩn, bệnh nhân được chẩn đoán bị u tử cung vôi hóa, phải phẫu thuật cắt bỏ khối u và tử cung. Ca mổ được tiến hành trong ngày 15-5 và kéo dài gần 1 giờ đồng hồ. Các bác sĩ đã bóc tách thành công khối u tử cung bị vôi hóa nặng gần 2kg ra khỏi cơ thể bệnh nhân.

Đức Hiếu

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 18/5/2017:

Công trình tượng đài Nguyễn Sinh Sắc – Nguyễn Tất Thành

(Trích bài của Nguyễn Phương)

Một sự kiện tràn đầy niềm vui và ý nghĩa đến với người dân Bình Định, là công trình Tượng đài Nguyễn Sinh Sắc – Nguyễn Tất Thành hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Bác.

Theo nhiều tài liệu, Nguyễn Tất Thành từng theo cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đến Bình Định trong thời gian cụ làm tri huyện Bình Khê. Và sự kiện tác động mạnh đến tư tưởng Nguyễn Tất Thành chính là biến cố Bình Khê, khi người cha thân yêu bị giáng chức. Ở tuổi 20, nhận rõ hơn bao giờ hết tình cảnh đen tối, bế tắc của đất nước, Người đi đến sự chọn lựa quan trọng là vượt trùng dương sang phương Tây tìm đường cứu nước.

Không chỉ là nơi diễn ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời Nguyễn Tất Thành, mảnh đất Bình Khê, Bình Định cũng là nơi chứng kiến cha con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sống những ngày sum họp đẹp đẽ cuối cùng và diễn ra cuộc chia tay lịch sử của hai cha con để rồi Nguyễn Tất Thành bước vào cuộc hành trình vạn dặm tìm đường cứu dân, cứu nước và không bao giờ được gặp lại người cha thân yêu của mình nữa.

Nguyễn Phương

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2017:

Tổng bí thư biểu dương 30 đại biểu “Vinh quang Việt Nam”

Chiều 20-5, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gặp mặt thân mật 30 đại biểu đại diện các tập thể, cá nhân được tôn vinh trong chương trình “Vinh quang Việt Nam – Dấu ấn 30 năm đổi mới” do Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam tổ chức.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng biểu dương những đóng góp quý báu của 30 tập thể, cá nhân được tôn vinh trong chương trình “Vinh quang Việt Nam” nói riêng, của tổ chức công đoàn, đội ngũ đoàn viên công đoàn, người lao động cả nước nói chung, vào những thành tựu chung của đất nước sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Tổng Bí thư mong muốn các tập thể, cá nhân được vinh danh lần này tiếp tục phát huy những thành tích, kinh nghiệm đã có, chủ động, sáng tạo, giữ vững thương hiệu, uy tín trên thương trường, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/5/2017:

Trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật

Ngày 20-5, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật năm 2017. Chủ tịch nước Trần Ðại Quang dự và phát biểu ý kiến. Dự Lễ trao giải, có các đồng chí: Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Vũ Ðức Ðam, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ, ngành T.Ư và Hà Nội; cùng các tác giả, thân nhân tác giả có tác phẩm, công trình được trao tặng Giải thưởng đợt này.

Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật năm 2017 được trao cho 18 tác giả, đồng tác giả có tác phẩm, công trình tiêu biểu, trong đó lĩnh vực văn học có các tác giả như: Trần Hữu Mai, Nguyễn Xuân Thiều, Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, Hà Ðức Trọng (Thu Bồn); lĩnh vực âm nhạc có các tác giả như: Ðoàn Hữu Công (Thuận Yến), Hoàng Phi Hồng (Hoàng Hà, Cẩm La), Doãn Nho, Chu Minh, Nguyễn Trọng Bằng,… Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật được trao cho 95 tác giả, đồng tác giả có tác phẩm, công trình tiêu biểu.

Phát biểu ý kiến tại Lễ trao giải, thay mặt lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang biểu dương, chúc mừng những thành tựu to lớn mà đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam đã đạt được trong những năm qua; chúc mừng các tác giả, thân nhân các tác giả có tác phẩm, công trình được trao tặng Giải thưởng. Chủ tịch nước nhấn mạnh: Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước, nền văn học, nghệ thuật nước nhà đã kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước và nhân văn; gắn bó sâu sắc với sự nghiệp cách mạng của Ðảng, của dân tộc; là vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa, tư tưởng; nỗ lực phản ánh chân thật cuộc đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân ta; góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ðội ngũ văn nghệ sĩ được hình thành, tôi luyện và phát triển trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc; là lực lượng tin cậy, trung thành của Ðảng, Tổ quốc và nhân dân; có lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, tâm huyết với nghề nghiệp; có nhiều cống hiến tạo nên nền văn học, nghệ thuật cách mạng của dân tộc trong thời kỳ mới. Chủ tịch nước khẳng định, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước là những phần thưởng cao quý của Ðảng và Nhà nước dành tặng những tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc nhất của những tác giả tiêu biểu trong đội ngũ văn nghệ sĩ. Các tác giả có tác phẩm, công trình được trao tặng Giải thưởng, bằng tài năng sáng tạo đặc biệt và sức lao động bền bỉ, đã sáng tạo nên các tác phẩm, cụm tác phẩm, công trình, cụm công trình có giá trị đặc biệt về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng to lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Chủ tịch nước cho rằng, sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc ta đang đứng trước tiền đồ hết sức vẻ vang, nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, giao lưu văn hóa, sự bùng nổ của các phương tiện truyền bá sản phẩm văn hóa đã, đang và sẽ tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống văn học, nghệ thuật. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm kích động sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng, văn học, nghệ thuật. Tình hình đó đòi hỏi đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Ðảng, Nhà nước về văn học, nghệ thuật, trọng tâm là Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Tập trung đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước; gắn bó với cuộc sống của nhân dân, phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người, vừa mang tính định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân. Tích cực động viên, khích lệ các nhân tố mới tiến bộ; lên án, phê phán cái xấu, cái ác đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, tiến bộ của bạn bè năm châu.

Chủ tịch nước đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam và các bộ, ban, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm, động viên, khích lệ đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà phát huy tài năng, năng lực sáng tạo, quảng bá văn học, nghệ thuật với ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, trân trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật; tôn vinh các văn nghệ sĩ trên cơ sở cống hiến của họ đối với đất nước. Phối hợp nghiên cứu, đề xuất xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật đối với các văn nghệ sĩ xứng đáng nhưng chưa được vinh danh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/5/2017:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang gặp mặt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tiêu biểu toàn quốc

Nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6 và hưởng ứng Tháng hành động Vì trẻ em năm 2017, chiều 26-5, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang có buổi gặp mặt 58 học sinh nghèo hiếu học, học giỏi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn của 11 tỉnh, thành phố.

Phát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khen ngợi 58 gương mặt tiêu biểu, cùng các học sinh, sinh viên nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên cả nước đã nỗ lực phấn đấu, vượt khó, vươn lên trong học tập và rèn luyện, đạt thành tích học tập giỏi nhiều năm liền, nhiều em đạt thành tích cao trong các kỳ thi cấp huyện, tỉnh. Chủ tịch nước nhấn mạnh, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, là vấn đề có tính chiến lược, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có sự chuyển biến tích cực, đạt những kết quả quan trọng…

Chủ tịch nước nêu rõ, hiện nay, trong số 26 triệu trẻ em nước ta, còn gần 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hơn 2,5 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, rất cần sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành, sự chung tay góp sức của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Chủ tịch nước đề nghị, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các bộ, ban, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trọng tâm là Chỉ thị số 20-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, Luật Trẻ em năm 2016, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 gắn với Chiến lược gia đình Việt Nam đến năm 2020; các cấp, các ngành đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, để mọi người dân thấy tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; kịp thời tuyên truyền, cổ vũ các điển hình tiên tiến, các tấm gương người tốt, việc tốt; quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền của trẻ em, xâm hại, bạo lực, lôi kéo trẻ em vào hoạt động tội phạm.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đề nghị, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam chủ động phối hợp các cơ quan chức năng tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức quỹ các cấp, phấn đấu để quỹ thật sự trở thành cầu nối, địa chỉ tin cậy của trẻ em Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm trong nước và quốc tế tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 17/5/2017:

45 Công trình được trao Giải thưởng Sáng tạo khoa học – công nghệ Việt Nam

Tối 16-5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ tổng kết, trao Giải thưởng Sáng tạo khoa học – công nghệ Việt Nam (STKHCN) và Giải thưởng WIPO năm 2016. Đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội gửi lẵng hoa chúc mừng.

Tại lễ trao giải, có 45 công trình được nhận Giải thưởng STKHCN năm 2016, bao gồm bốn giải nhất, chín giải nhì, 15 giải ba và 17 giải khuyến khích. Trong đó, có hai công trình đoạt giải nhất được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới trao giải WIPO là: “Chế tạo tàu khách bằng vật liệu mới PPC với 56 chỗ ngồi” của tác giả Nguyễn Kim Sơn và các cộng sự (Công ty CP công nghệ James Boat); “Thâm canh trồng sả trên vùng đất chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để thu tinh dầu phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ bã thải chưng cất” của TS Lê Văn Tri và các cộng sự (Công ty CP Công nghệ sinh học).

Hai giải nhất còn lại thuộc về hai công trình trong lĩnh vực quốc phòng gồm: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo kính quan sát đêm tầm xa cho biển đảo” của tác giả Đoàn Ngọc Hiệp (Xí nghiệp 23, Nhà máy Z199); “Nghiên cứu, cải tiến nâng cao chất lượng súng chống tăng SCT-9 (SGP-9) nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và phù hợp với môi trường Việt Nam” của tác giả Cù Đức Lam (Nhà máy Z125), cùng thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Bộ Quốc phòng.

Nhân dịp này, Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam và các cá nhân là chủ nhiệm và đồng chủ nhiệm của bốn công trình đoạt giải nhất được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/5/2017:

Tặng thưởng 10 ca khúc về quan hệ hữu nghị Việt Nam – Lào

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa quyết định trao giải thưởng cuộc thi “Sáng tác ca khúc ca ngợi mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào” tặng 10 tác phẩm xuất sắc nhất.

Cuộc thi không có giải nhất; ba giải nhì thuộc về các tác phẩm: Việt – Lào biên giới xa-ma-khi (tác giả Phan Văn Minh, Quảng Nam); Thắm tình Việt – Lào (Thái Dương, Thái Bình) và Mãi xanh tươi tình hữu nghị Việt – Lào (Văn Thành Nho – TP Hồ Chí Minh).

Ba giải ba thuộc về: Cùng múa Lăm Vông (Lê Xuân Hòa – Nghệ An), Việt – Lào chung một bài ca (Hình Phước Liên – Khánh Hòa), Bài ca hữu nghị Việt – Lào (Việt Trung – Trà Vinh) và bốn giải khuyến khích. Cuộc thi là hoạt động kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước và 40 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

  • Trang 13 báo Tuổi Trẻ ngày 18/5/2017:

Truy cập miễn phí hàng triệu tài liệu khoa học

Điểm truy cập mở thông tin khoa học và công nghệ quốc gia đã được Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ – KH&CN) khai trương tại Hà Nội sáng ngày 17-5.

Được đặt tại 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội (trụ sở của Cục thông tin KH&CN), điểm truy cập mở thông tin khoa học và công nghệ quốc gia cho phép người sử dụng khai thác đầy đủ các công bố khoa học trong nước và quốc tế của các tác giả Việt Nam, đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu được thực hiện bằng ngân sách Nhà nước và tiếp cận hàng triệu kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới thông qua các cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ quốc tế. Lãnh đạo Cục thông tin KH&CN cho biết nội dung chính của nguồn tin khoa học và công nghệ quốc gia là 7.700 tên tạp chí thuộc các lĩnh vực khoa học và công nghệ, chủ yếu là tạp chí quốc tế có hệ số ảnh hưởng cao; 380.000 đầu sách khoa học, hơn 17.000 sách chuyên khảo gồm nhiều loại hình từ bách khoa toàn thư, cẩm nang, sổ tay tra cứu…, 23.000 báo cáo kết quả nghiên cứu cấp quốc gia, cấp bộ, tỉnh.

Tại đây, các nhà khoa học, sinh viên và bất cứ người dân có nhu cầu tìm hiểu thông tin còn có thể truy cập vào toàn văn 220.000 bài báo khoa học của Việt Nam, các nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước, toàn văn 40 triệu tài liệu công bố quốc tế của các nhà xuất bản, tạp chí, thư viện hàng đầu thế giới về KH&CN.

Ngày 17-5, Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia cũng khai mạc triển lãm Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 5 (gồm 16 công trình, cụm công trình). Đây là các công trình có ý nghĩa thiết thực và tầm ảnh hưởng rộng lớn, lâu dài đối với kinh tế của đất nước, lần đầu tiên được giới thiệu rộng rãi đến công chúng.

T.Hà

  • Trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 15/5/2017:

Lê Quang Liêm giành 2 bằng cử nhân hạng xuất sắc tại Mỹ

Ngày 14/5 (giờ VN), kỳ thủ Lê Quang Liêm đã làm lễ tốt nghiệp tại Đại học Webster (Mỹ) với hai tấm bằng cử nhân hạng xuất sắc chuyên ngành khoa học, tài chính và ngành nghệ thuật, quản lý.

Quang Liêm được Đại học Webster trao học bổng toàn phần từ năm 2013. Suốt 4 năm qua, Quang Liêm góp công lớn giúp đội cờ của trường liên tục vô địch cờ vua sinh viên Mỹ. Ngoài ra, anh còn giành một số thành tích ấn tượng như: á quân Giải cờ vua triệu phú 2015, á quân châu Á 2016, vô địch giải HD Bank 2015 và 2017… để luôn có mặt trong top 30 kỳ thủ hàng đầu thế giới.

Dù tốn không ít thời gian cho tập luyện và thi đấu nhưng Quang Liêm cũng học rất giỏi. Bà Trần Mỹ Lệ (mẹ Quang Liêm) cho biết: “Ngoài hai tấm bằng cử nhân hạng xuất sắc chuyên nghành khoa học, tài chính và ngành nghệ thuật, quản lý, Quang Liêm còn được trao bằng danh dự của khoa quản lý và bằng danh dự của khoa kinh doanh”.

T.P.

  • Trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 16/5/2017:

Hoàn thành trùng tu lăng chúa Nguyễn Hoàng

Sáng 15-5, tại xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã diễn ra lễ khánh thành công trình trùng tu tôn tạo di tích lăng Trường Cơ – lăng chúa Nguyễn Hoàng.

Lăng chúa Nguyễn Hoàng – vị chúa Nguyễn có công lao to lớn trong việc mở mang bờ cõi giai đoạn nửa cuối thế kỉ 16, đặt nền móng cho cơ nghiệp họ Nguyễn sau này, vốn được dời về từ huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị khoảng cuối thế kỉ 17.

Lăng từng trải qua nhiều lần trùng tu, lần gần đây nhất là vào năm 1999. Theo ông Phan Thanh Hải, dự án trùng tu công trình lăng mộ này khởi công từ tháng 7-2016 với tổng kinh phí gần 3,8 tỷ đồng, lấy từ nguồn xã hội hóa và do Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế làm chủ đầu tư.

Sau 10 tháng thi công, dự án đã hoàn thành với các hạng mục: tu bổ khu lăng mộ, tường bao, cổng, bình phong hậu…

Ngoài nhưng hạng mục tu bổ, công trình di tích lăng Trường Cơ còn được tôn tạo và xây mới một số hạng mục như: hồ bán nguyệt, sân chầu, trụ biểu, cảnh quan sân vườn… Ông Phan Thanh Hải cho biết phương án tôn tạo và xây mới cac hạng mục này đã được sự đồng ý của dòng họ Nguyễn Phước.

Ông Hải còn cho biết thêm, ngoài công trình lăng Trường Cơ, một số công trình lăng mộ của các chúa Nguyễn khác cũng đang trong quá trình tu bổ, tôn tạo như lăng Trường Diên (mộ của chúa Nguyễn Phúc Lan) và lăng Trường Diễn (mộ chúa Nguyễn Phúc Nguyên).

“Nguồn kinh phí để tu bổ các công trình này đều lấy từ nguồn xã hội hóa” ông Hải nói.

Nhật Linh

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 17/5/2017:

WB tài trợ 155 triệu USD hỗ trợ tự chủ giáo dục đại học tại Việt Nam

Ngày 16/5, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho biết, Ban giám đốc điều hành WB đã phê duyệt khoản tín dụng 155 triệu USD để tăng cường năng lực nghiên cứu, giảng dạy và thể chế của ba trường đại học tự chủ của cải thiện quản lý hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) của Việt Nam.

Dự án sẽ hỗ rợ tài chính cho các cơ sở vật chất và thiết bị mới để giảng dạy và nghiên cứu, cũng như các hệ thống tăng cường quản lý GDĐH. Các trường đại học khoa học và công nghệ cũng như các trường đại học có định hướng nghiên cứu đều được hưởng lợi ích từ dự án, qua đó các bài học thu được có thể áp dụng cho việc hoàn thiện các chính sách về tự chủ và bảo đảm chất lượng các trường đại học. Các mục tiêu bổ sung của dự án bao gồm hỗ trợ tăng cường các thành phần chính cảu GDĐH; nỗ lợ để chia sẽ các bài học kinh nghiệm của các trường đại học được đầu tư. Dự án cũng sẽ hỗ trợ phân tích chính sách về tài chính bền vững và tự chủ đại học, phát triển một hệ thống quản lý thông tin GDĐH và một hệ thống thư viện điện tử dùng chung…

  • Trang 4 báo Nhân Dân ngày 17/5/2017:

Tặng hệ thống lọc nước cho 10 trường mầm non ở Bắc Ninh và Thái Nguyên

Tập đoàn Samsung Hàn Quốc cùng với Hội Khoa học Kỹ thuật không biên giới, Viện Nghiên cứu phát triển môi trường năng lượng Xơ-un (Đại học Quốc gia Xơ-un), Trường đại học Hà Nội và Samsung Việt Nam vừa tổ chức trao tặng 10 hệ thống lọc nước với tổng kinh phí hơn 2,2 tỷ đồng cho 10 trường mầm non tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) và Yên Phong (Bắc Ninh). Hệ thống lọc nước được xây dựng và lắp đặt dựa trên công nghệ mới, sử dụng nguồn nước mưa và nước ngầm. Quy trình lọc nước được tiến hành qua hai vòng khép kín, bảo đảm an toàn vệ sinh. Mỗi hệ thống sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng cho từ 200 đến 500 người/ngày với công suất khoảng 1.000 lít nước ăn, uống và 5.000 lít nước sinh hoạt mỗi ngày.

Phương Hoa

  • Trang 13 báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2017:

Bộ GD – ĐT truy tặng bằng khen cho học sinh cứu bạn đuối nước

Chiều 16/5, TS Hà Hữu Phúc –vụ trưởng, giám đốc cơ quan đại diện Bộ GD-ĐT – thừa ủy quyền của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ đã đến thăm hỏi và trao bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT truy tặng, cùng 5 triệu đồng cho em Trần Đức Đông, học sinh lớp 2A3 Trường tiểu học Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, vì đã dùng cảm hi sinh trong lúc cứu bạn đuối nước.

Trúc đó, khoảng 15h ngày 1/5 em Trần Đức Đông (sinh năm 2007) cùng 5 người bạn trong trường 9 (gần nhà ở xã Long Tân, huyện Phú Riềng) chơi và tắm. Tắm được 10 phút, em Nguyễn Thị Thúy Ngân (sinh năm 2009) lên do sợ độ sâu. Các em còn lại là Nguyễn Văn Bắc (sinh năm 2006), Trần Phi Hùng (sinh năm 2010), Trịnh Thị Hồng Hà (sinh năm 2009), Trần Đức Đông và Nguyễn Thị Huyền Nhi (sinh năm 2008) vẫn tiếp tục tục tắm. Được một lúc sau thì Đông phát hiện em mình là Hùng bị đuối nước nên bơi ra xa để cứu. Sau khi đưa em Hùng vào bờ, Đông tiếp tục bơi ra cứu được  Bắc, Hà. Trong khi đó, em Nhi vẫn kêu cứu ở phía xa bờ, Đông lại tiếp tục bơi ra cứu bạn. Tuy nhiên do quá mệt, cùng với em Nhi vùng vẫy mạnh, nên Nhi và Đông đã chìm dưới hồ nước tử vong.

Trần Huỳnh

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 21/5/2017:

Kỳ thủ Võ Thị Kim Phụng vô địch Giải cờ vua châu Á 2017

Ngày 20-5, thi đấu tại bảng nữ Giải cờ vua vô địch châu Á 2017 đang diễn ra tại Tứ Xuyên (Trung Quốc), kỳ thủ Võ Thị Kim Phụng của Việt Nam (elo 2323) đã đăng quang ngôi vô địch sau khi cầm hòa kỳ thủ của Ấn Ðộ Gô-mê Ma-ri An (elo 2318) ở ván đấu thứ chín.

Kim Phụng đã chủ động hòa nữ kỳ thủ của Ấn Ðộ trong một thế trận phòng thủ chặt chẽ buộc đối thủ phải chấp nhận chia điểm sau 19 nước cờ. Nữ kỳ thủ 24 tuổi của Việt Nam đã có chín ván bất bại, sáu ván thắng và ba ván hòa, được 7,5 điểm, đoạt ngôi vô địch bảng nữ. Ðây là ngôi vô địch châu Á cờ tiêu chuẩn thứ hai của cờ vua Việt Nam sau khi Hoàng Thanh Trang vô địch cờ vua châu Á năm 2000. Với thành tích này, Kim Phụng được phong danh hiệu Ðại kiện tướng nữ quốc tế (WGM) và tích lũy được thêm 55 elo và có thể lọt vào tốp 100 kỳ thủ nữ hàng đầu thế giới trong tháng 6 tới.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 21/5/2017:

Phiên chợ nông sản – ẩm thực và hát dân ca giao duyên ở Cao Bằng

Phiên chợ nông sản – ẩm thực và hát dân ca giao duyên Tà Lùng (Việt Nam) – Long Châu (Trung Quốc) năm 2017 vừa diễn ra tại cửa khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Phiên chợ gồm 50 gian hàng bán nông sản, đặc sản, ẩm thực vùng miền của Việt Nam, Trung Quốc và có các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, hát dân ca giao duyên Việt – Trung; quảng bá sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp, tìm cơ hội hợp tác chuyển giao công nghệ chế biến nông sản, tiêu thụ sản phẩm; quảng bá tiềm năng, lợi thế phát triển hàng hóa, dịch vụ, du lịch… Ngoài ra còn có các sự kiện thể thao, như: Giải Việt dã đường dài qua biên giới Việt – Trung, với sự tham gia của gần 1.000 vận động viên Việt Nam, Trung Quốc; Hội thi làm bánh dày truyền thống.

Cứu sống nạn nhân tai nạn giao thông bị vỡ tim

Bệnh viện quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh vừa cứu sống người bệnh N.D.T (26 tuổi, ngụ Bình Thạnh) bị vỡ tim do tai nạn giao thông. Người bệnh được đưa vào cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương, lơ mơ, sốc, mất máu, mạch nhanh, nhẹ, huyết áp không đo được, có lượng dịch màng ngoài tim nhiều, nghi do tràn máu màng tim. Ngoài ra, người bệnh có triệu chứng của chèn, ép tim cấp đe dọa tính mạng.

Áp dụng kích hoạt hệ thống báo động đỏ, các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật, cho thấy nạn nhân bị tổn thương, buồn tim (tiểu nhĩ trái) bị rách khoảng 3cm. Các bác sĩ đã kẹp vị trí rách, cầm máu và khâu vết thương tim; trong thời gian 60 phút, người bệnh được truyền bốn đơn vị máu và đã qua cơn nguy kịch.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 22/5/2017:

Festival thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn

Tối 20-5, tại đền Đông Cuông, xã Đông Cuông, huyện Văn Yên (Yên Bái), diễn ra Lễ khai mạc Festival thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn lần đầu được tổ chức tại Việt Nam. Đây là một trong những sự kiện mở đầu chuỗi các hoạt động hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia 2017 – Lào Cai – Tây Bắc.

Festival có 54 bản hội đến từ 19 tỉnh, thành phố trên cả nước, cùng hàng chục nghìn du khách và nhân dân địa phương tham dự. Lễ khai mạc gồm nhiều chương trình nghệ thuật ấn tượng; trong đó trình diễn nghệ thuật hầu đồng với những giá chầu đặc sắc nhất trong 36 giá chầu của nghi thức tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn. Festival diễn ra hết ngày 21-5.

Mừng thọ nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang 100 tuổi

Sáng 21-5, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tổ chức mừng thọ nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang tròn 100 tuổi; với sự có mặt của nhiều nhà nghiên cứu, khoa học, các văn nghệ sĩ, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình ông.

Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang tên thật là Nguyễn Thế Khoán, sinh năm 1917 tại làng Phụng Sơn, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ông là một trong những nhà nghiên cứu và tác giả tuồng hàng đầu Việt Nam; tác giả của gần 20 kịch bản và soạn giả có nhiều vở tuồng, cải lương nổi tiếng như: “Giảm tô”, “Má Tám”, “Trần Hưng Đạo”, “Áo vải cờ đào”, “Phất cờ nương tử”, “Thanh gươm hát bội”…; tác giả công trình nghiên cứu “Âm nhạc và sân khấu kịch hát dân tộc” cùng hơn 80 tiểu luận đăng trên báo chí. Thành công nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Mịch Quang là tác phẩm “Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống”, được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001. Mới đây, ông vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật năm 2017 với các tác phẩm: Đặc trưng nghệ thuật tuồng; Khơi nguồn mỹ học dân tộc.

Đưa công viên nước nổi trên lòng hồ Hòa Bình vào hoạt động

Ngày 21-5, Công trình Công viên nước nổi trên lòng hồ Hòa Bình chính thức được đưa vào hoạt động. Công viên nằm trên vùng vịnh sông nước thuộc bản Ngòi, xã Ngòi Hoa, huyện Tân Lạc; do Công ty cổ phần Đầu tư Du lịch Hòa Bình đầu tư và triển khai thực hiện. Công viên gồm 34 cụm trò chơi kết cấu phao nổi cùng hơn 20 trò chơi thể thao dưới nước, như: mô-tô nước, thuyền bơm hơi, ca-nô câu cá, đua bè mảng, chèo thuyền tôm… Thời gian tới, cụm dịch vụ du lịch nổi nơi đây gồm nhà nghỉ, nhà hàng, bể bơi sẽ được hoàn thiện phục vụ du khách.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/5/2017:

TP Hồ Chí Minh đặt tên đường mang tên đồng chí Võ Trần Chí

Ngày 22-5, UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ đặt tên đường mang tên đồng chí Võ Trần Chí, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh (đã từ trần). Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Tất Thành Cang, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh, dự lễ.

Đường Võ Trần Chí là đường dẫn cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương, đoạn từ nút giao Tân Tạo (quận Bình Tân) đến nút giao Chợ Đệm (huyện Bình Chánh), có chiều dài 9,6 km. Đây là tuyến đường quan trọng, huyết mạch, kết nối TP Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Việc đặt tên đường thể hiện sự trân trọng, biết ơn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đối với những cống hiến của đồng chí Võ Trần Chí đối với sự nghiệp cách mạng của thành phố và đất nước.

  • Trang 4 báo Nhân Dân ngày 29/5/2017:

Kiên quyết xử lý cán bộ sai phạm

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Ðảng và Nhà nước có nhiều kết quả đáng ghi nhận, được đông đảo cử tri và đại biểu QH đồng tình ủng hộ. Nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng đã được điều tra, xét xử; nhiều sai phạm trong công tác cán bộ được kết luận, xử lý nghiêm minh. Việc nhiều cán bộ, công chức, trong đó có cả lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Nhà nước bị kỷ luật vì sai phạm, đã thể hiện được quyết tâm chính trị, trách nhiệm rất lớn của Ðảng và Nhà nước trước nhân dân.

Trong năm 2016 và nửa đầu năm 2017, công tác phòng chống tham nhũng đã quyết liệt hơn, đạt được những kết quả nhất định; tăng thêm niềm tin của nhân dân với Ðảng và Nhà nước. Việc xử lý cán bộ, đảng viên của Ủy ban Kiểm tra T.Ư vừa qua đối với người đương chức và cả cán bộ đã về hưu, đặc biệt là cán bộ cao cấp trong Ðảng, là điều cần thiết. Ðây là dấu hiệu đáng mừng trong xây dựng chỉnh đốn Ðảng, việc cương quyết xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm đã thể hiện rõ không có “vùng cấm” đối với bất cứ ai vi phạm. Ðiều đó sẽ củng cố được niềm tin, không chỉ đối với nhân dân mà còn củng cố niềm tin ở ngay trong Ðảng và ở cả trong hệ thống chính trị. Việc xử lý nghiêm đối với các cán bộ, đảng viên vi phạm sẽ làm cho Ðảng ngày càng mạnh lên.

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân nêu ý kiến: Việc phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng còn chậm, việc làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các ngành, các cấp, nhất là đối với người đứng đầu trong công tác quản lý đầu tư các dự án lớn để thua lỗ, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước chưa được kịp thời. Ðây là nhận định chính xác, căn cứ trên những số liệu thực tế từ Bộ Công thương. Theo đó, trong số 12 dự án thua lỗ và thất thoát, có sáu nhà máy đang vận hành sản xuất, kinh doanh (gồm bốn nhà máy sản xuất phân bón thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam: Nhà máy sản xuất đạm Ninh Bình, Nhà máy sản xuất đạm Hà Bắc, Nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 – Hải Phòng và DAP số 2 – Lào Cai); Nhà máy đóng tàu Dung Quất; Nhà máy thép Việt Trung. Ba dự án đang bị dừng thi công do chi phí tăng cao và thiếu vốn (dự án sản xuất nhiên liệu sinh học Phú Thọ, dự án mở rộng giai đoạn 2 Nhà máy gang thép Thái Nguyên, dự án nhà máy bột giấy Phương Nam); ba nhà máy đang bị dừng sản xuất do giá thành cao, thua lỗ lớn (Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Dung Quất; Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Bình Phước; Nhà máy sản xuất xơ sợi Ðình Vũ – PVTex). Tổng mức đầu tư ban đầu của 12 dự án là hơn 43 nghìn tỷ đồng và đã được phê duyệt điều chỉnh tăng lên hơn 63 nghìn tỷ đồng. Tổng số lỗ lũy kế của 10 nhà máy đang sản xuất hoặc đã dừng sản xuất tới thời điểm cuối năm 2016 là hơn 16.000 tỷ đồng. Cử tri mong muốn, các cơ quan chức năng tiếp tục truy rõ trách nhiệm của những cá nhân liên quan đối với những thất thoát, thua lỗ rất lớn nêu trên.

Gần đây nhất, ngày 22-5, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã đề nghị khởi tố bị can đối với ông Phí Thái Bình, nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, nguyên Chủ tịch HÐQT Vinaconex, để điều tra hành vi “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex). Cơ quan điều tra xác định, hành vi của ông Phí Thái Bình có liên quan giai đoạn ông làm Chủ tịch HÐQT Vinaconex, chủ đầu tư dự án đường ống dẫn nước sạch sông Ðà.

Trao đổi về vấn đề này bên hành lang Quốc hội (QH), một số đại biểu cho rằng, quyết định khởi tố ông Phí Thái Bình tiếp tục thể hiện quyết tâm của Ðảng và Nhà nước trong việc xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật, cả khi họ đương chức hay khi đã về hưu. Ðây còn là hành động cụ thể, thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với những tâm tư, bức xúc chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Bởi trước đó, tại buổi tiếp xúc cử tri của Ðoàn đại biểu QH thành phố Hà Nội năm 2016, nhiều cử tri bức xúc trước việc xử lý trách nhiệm liên quan 18 lần vỡ đường ống nước sông Ðà, ảnh hưởng cuộc sống hàng chục nghìn người dân.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong xử lý cán bộ sai phạm, nhiều đại biểu QH nêu rõ những khó khăn rất lớn trong công tác này. Khởi tố, điều tra sai phạm của mỗi cán bộ là công việc phức tạp, chưa đủ chứng cứ thì chưa thể khởi tố vụ án, cũng như khởi tố bị can. Vì vậy, nhiều trường hợp cán bộ khi đã về hưu rồi mới có đủ điều kiện để xử lý, khởi tố sau quá trình điều tra công phu.

Có thể thấy, thời gian qua, việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật đang được nhiều địa phương kiên quyết thực hiện nghiêm minh. Ðáng chú ý, chiều 23-5 vừa qua, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Kiên Giang công bố quyết định kỷ luật cách chức Ủy viên Ban Thường vụ Huyện đoàn Hòn Ðất đối với bà Lê Thị Vân Anh và cảnh cáo ông Vũ Việt Hoài, Phó Bí thư Huyện đoàn Hòn Ðất. Trước đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kiên Giang đã công bố quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Ðảng đối với ông Trần Huy Minh (Bí thư Huyện đoàn Hòn Ðất), Bí thư Chi bộ Thanh vận thuộc Ðảng ủy Dân vận, Huyện ủy Hòn Ðất; ông Vũ Việt Hoài nhận hình thức kỷ luật cảnh cáo và bà Lê Thị Vân Anh bị cách chức Phó Bí thư Chi bộ Thanh vận. Những cá nhân nêu trên đã có nhiều sai phạm trong quá trình điều hành công việc, trong công tác Ðảng…

Trước đó, ngày 16-5, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Huyện ủy Chư Păh (Gia Lai) cho biết, vừa thông báo đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét hình thức kỷ luật đối với một số cán bộ để xảy ra sai phạm trong quá trình triển khai các nhiệm vụ được giao. Theo đó, đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Chư Păh xem xét quyết định xử lý kỷ luật đối với ông Nguyễn Hòa, Bí thư Chi bộ, Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng huyện. Liên quan vụ việc, UBKT Huyện ủy cũng đề nghị UBND huyện kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND thị trấn Phú Hòa và Chủ tịch UBND xã Nghĩa Hòa trong quản lý, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm về lĩnh vực đất đai và trật tự xây dựng; kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với ông Nguyễn Ngọc Quang, Phó Chủ tịch UBND huyện do thiếu kiểm tra trước khi ký giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ cho sáu hộ dân ở thôn 4, thị trấn Phú Hòa…

Nhiều đại biểu QH cho rằng: Xử lý kỷ luật cán bộ sai phạm là điều không ai mong muốn, nhưng đó là một trong những nguyên tắc hoạt động của Ðảng, mọi cán bộ, đảng viên bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, các quy định, Ðiều lệ Ðảng. Cán bộ giữ cương vị càng cao, càng phải chịu trách nhiệm lớn trước Ðảng, trước dân. Qua đó, chúng ta có thêm những bài học sâu sắc về xây dựng Ðảng, nhất là đối với công tác cán bộ.

Liên quan vấn đề này, một số đại biểu QH thành phố Hồ Chí Minh đề nghị, các cơ quan liên quan nghiên cứu, xem xét và khẩn trương đưa các quy định cụ thể về xử lý cán bộ vi phạm pháp luật, nhất là đối với những cán bộ đã về hưu, rời khỏi cơ quan trong Luật Cán bộ, công chức, viên chức. Ðây là vấn đề có tính cấp bách và đại biểu QH đã có ý kiến từ lâu, nhưng chưa thấy đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Có đại biểu QH nêu ý kiến, trong một số kết luận, mới chỉ nêu những sai phạm của cán bộ, đảng viên mà chưa chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến sai phạm, để phòng ngừa, chấn chỉnh. Nếu kết luận nêu rõ được những nguyên nhân thì sẽ có tính thuyết phục hơn, từ đó sẽ khắc phục được những lỗ hổng, thiếu sót. Bên cạnh đó, để xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao đương chức và về hưu, phải có được sự thống nhất cao trong lãnh đạo của Ðảng thì mới kiên quyết thực hiện được…

Khánh An

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/5/2017:

Ban Bí thư T.Ư Đảng quyết định cảnh cáo đồng chí Nguyễn Văn Thiện, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định

Ngày 25-5, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư đề nghị thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Văn Thiện, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định (số 77-BC/UBKTTW, ngày 28-4-2017). Ban Bí thư đã thảo luận, phân tích toàn diện các vi phạm của đồng chí Nguyễn Văn Thiện và kết luận như sau:

Thời gian giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Bình Định nhiệm kỳ 2010 – 2015, đồng chí Nguyễn Văn Thiện đã có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển của địa phương. Tuy nhiên, qua báo cáo kết quả giải quyết đơn tố cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư, Ban Bí thư nhận thấy, trên cương vị là người đứng đầu, đồng chí có trách nhiệm trong việc bổ sung quy hoạch, bổ nhiệm đối với cán bộ không bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn và không đúng quy định; thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy ký văn bản đề nghị Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn không thuộc trách nhiệm của tỉnh, không thông qua tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo Quy chế làm việc của Tỉnh ủy.

Những vi phạm của đồng chí đã ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và cá nhân đồng chí, cần áp dụng hình thức kỷ luật theo Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.

Quá trình kiểm điểm đồng chí đã thấy rõ được các vi phạm, khuyết điểm và trách nhiệm, đồng thời tự nhận hình thức kỷ luật trên cương vị người đứng đầu.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ Quy định số 181 của Bộ Chính trị và kết quả kiểm điểm, xem xét kỷ luật, Ban Bí thư đã bỏ phiếu kín 100% thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Nguyễn Văn Thiện.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/5/2017:

Chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Chỉ thị 20/CT-TTg yêu cầu chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra (TTKT) đối với doanh nghiệp (DN).

Theo đó Thủ tướng yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư nghiêm túc quán triệt và chỉ đạo chặt chẽ công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao theo đúng quy định của Luật Thanh tra, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22-9-2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23-4-2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra và đặc biệt là Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16-5-2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020.

Thủ tướng yêu cầu tập trung chỉ đạo khi xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hằng năm không để xảy ra tình trạng TTKT quá 1 lần/năm đối với DN; trường hợp kế hoạch thanh tra trùng lặp, chồng chéo với hoạt động kiểm toán nhà nước thì chủ động phối hợp, trao đổi với Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ để thống nhất phương án xử lý theo quy định hiện hành, bảo đảm sự kế thừa kết quả thanh tra, kiểm toán, không làm cản trở hoạt động bình thường của DN.

Cần tiến hành rà soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt theo tinh thần trên. Đồng thời chỉ đạo tiến hành các cuộc thanh tra theo đúng định hướng, kế hoạch thanh tra đã phê duyệt; nội dung thanh tra phải giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước được giao; chủ động kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch thanh tra khi cần thiết theo hướng không làm tăng số cuộc thanh tra; ban hành kết luận thanh tra phải đúng thời hạn theo quy định.

Trường hợp TTKT đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chỉ ban hành quyết định TTKT khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng; kết luận TTKT phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm. Người ra quyết định TTKT; trưởng đoàn TTKT; công chức thanh tra chuyên ngành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kết luận, làm rõ nguyên nhân, mức độ vi phạm và việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức có liên quan theo các dấu hiệu đã được xác định là căn cứ để ra quyết định TTKT đột xuất. Không mở rộng phạm vi TTKT vượt quá nội dung của quyết định TTKT đột xuất…

Tổng Thanh tra Chính phủ phải tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư nhằm kịp thời phát hiện, xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra theo thẩm quyền; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo.

Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng TTKT và các cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp; quyết định TTKT thiếu căn cứ, không ban hành được kết luận TTKT theo các dấu hiệu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 21/5/2017:

Xử phạt hai công ty bán hàng đa cấp 320 triệu đồng

Căn cứ một số dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động bán hàng đa cấp (BHĐC), Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) đã tiến hành điều tra và ra quyết định xử phạt Công ty CP Queenet Quốc tế số tiền 240 triệu đồng; xử phạt và Công ty TNHH World Việt Nam số tiền là 80 triệu đồng vì những vi phạm như: khong làm thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC khi có thay đổi liên quan hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận theo quy định; cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia BHĐC; không thực hiện nghĩa vụ đào tạo cơ bản về BHĐC cho người tham gia BHĐC theo quy định

  • Trang 8 báo Nhân Dânngày 27/5/2017:

Xử phạt Vinastas về sai phạm trong vụ “nước mắm nhiễm asen”

Ngày 26-5, Bộ Công thương cho biết, thực hiện văn bản chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công thương, Cục Quản lý thị trường phối hợp Cục Quản lý cạnh tranh đã thực hiện xử phạt hành vi vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm Luật An toàn thực phẩm (ATTP) của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas) trong vụ việc “nước mắm nhiễm asen”.

Cụ thể, Vinastas bị phạt 15 triệu đồng theo khoản 2 Điều 27 và khoản 3, khoản 4 Điều 4 Nghị định số 178 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về ATTP vì hành vi phát hành tài liệu, ấn phẩm thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP không chính xác, không đúng sự thật gây ảnh hưởng xấu dư luận xã hội. Vinastas bị buộc thu hồi để tiêu hủy tài liệu, ấn phẩm vi phạm theo khoản 3 Điều 27 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Thời gian thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 10 ngày kể từ ngày 23-5.

  • Báo Nhân Dân ngày 28/5/2017:

Khai trừ Đảng, cách chức Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Tiền Giang Lê Minh Tùng

Sáng 27-5, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tiền Giang Nguyễn Văn Nhã cho biết: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tiền Giang quyết định kỷ luật ông Lê Minh Tùng, Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Tiền Giang với hình thức: Khai trừ Đảng, cách chức Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy do vi phạm nghiêm trọng Quy định những điều đảng viên không được làm.

Lợi dụng danh nghĩa là Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, thời gian qua, ông Lê Minh Tùng vay nợ của nhiều người với số tiền lớn, không có khả năng chi trả. Người bị hại đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan chức năng. Việc làm này của ông Tùng làm mất uy tín đội ngũ cán bộ, đảng viên tại địa phương nói chung và cá nhân ông Tùng. Ông Lê Minh Tùng sinh năm 1968, quê quán huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; từng là cán bộ Tỉnh đoàn Tiền Giang trước khi được bổ nhiệm chức vụ Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Tiền Giang.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 26/5/2017:

3.587 cơ sở vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm ở Hà Nội

Ngày 24-5, tại hội nghị tổng kết Tháng hành động vì an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2017, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Trần Văn Chung cho biết: Trong tháng hành động, các đoàn thanh tra, kiểm tra trên toàn thành phố phát hiện 3.587 cơ sở vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm đã xử lý hành chính 1.236 cơ sở, phạt tiền hơn 5,3 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Sở Y tế, hiện nay trên địa bàn vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ, lẻ; việc quản lý sản xuất và kinh doanh các cơ sở sản xuất rượu thủ công và kiểm soát nguồn thực phẩm tươi sống, rượu pha chế từ các tỉnh khác về còn gặp không ít khó khăn.

Vì vậy, thời gian tới các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã sẽ tiếp tục kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh chế biến thực phẩm tươi sống, thức ăn ngay, dịch vụ ăn uống khu vực du lịch, thức ăn đường phố, nước uống đóng chai… nhằm nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 26/5/2017:

Xử phạt 13 cơ sở không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm

Trong tháng 5/2017, các cơ quan chức năng tỉnh Yên Bái kiểm tra 37 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản; xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn áp dụng tiêu chuẩn GAP cơ bản giai đoạn 2017-2020. Qua thanh tra, phát hiện và xử lý 16 cơ sở với các lỗi vi phạm như không thực hiện việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm, sản phẩm rau và thịt nhiễm vi sinh vật, sản phẩm quả tươi vượt ngưỡng thuốc bảo vệ thực vật Cabendazim…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 31/5/2017:

Xử lý việc cập nhật, bổ sung thiếu cẩn trọng danh sách hơn 300 ca khúc

Ngày 30-5, Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức cung cấp thông tin đến các báo, đài về xử lý việc cập nhật, bổ sung danh sách hơn 300 ca khúc trên trang web của Cục Nghệ thuật biểu diễn một cách thiếu cẩn trọng vừa qua.

Theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Ðức Ðam về chấn chỉnh việc cấp phép phổ biến tác phẩm âm nhạc và hoạt động biểu diễn nghệ thuật, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã yêu cầu Cục Nghệ thuật biểu diễn nghiêm túc rút kinh nghiệm, làm rõ trách nhiệm, kiểm điểm tập thể và các cá nhân liên quan; yêu cầu các cơ quan chức năng của Bộ phối hợp các đơn vị liên quan rà soát các quy định pháp luật về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, để báo cáo xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn.

Bộ cũng nêu rõ: Không cần cấp phép phổ biến đối với các ca khúc đã trở nên quen thuộc, phổ biến trong thực tế, nếu không có nội dung ca từ trái với thuần phong, mỹ tục, xâm phạm lợi ích quốc gia. Bộ cũng yêu cầu rà soát lại chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Nghệ thuật biểu diễn, đồng thời quyết định điều chuyển Cục trưởng Nghệ thuật biểu diễn Nguyễn Ðăng Chương về làm việc tại Văn phòng Bộ, chờ bố trí công tác. Trong thời gian này, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vương Duy Biên được giao điều hành Cục Nghệ thuật biểu diễn.

  • Trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 1/6/2017:

Công nhận bản án của Pháp trả con cho người mẹ Việt

Bản án mà bà Nguyễn Thị Thanh Huyền đã lặn lội sang Pháp để khởi kiện đòi bạn trai là doanh nhân Ste’phane Azais trả lại con cho mình đã được TAND TP.HCM công nhận, cho thi hành tại Việt Nam.

Sau 1 tuần mở phiên họp xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh Huyền (người mẹ Việt sang Pháp kiện đòi con), ngày 31-5, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận toàn bộ bản án của tòa án Pháp và cho thi hành tại Việt Nam.

Bảy tháng trước đó, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền (32 tuổi, ngụ tại Khánh Hòa) đã nộp đơn đến tòa yêu cầu được công nhận bản án Pháp tại Việt Nam. Tại phiên họp, thẩm phán chủ tọa đã hỏi lại bà Huyền toàn bộ diễn biến quá trình quan hệ của bà và ông Ste’phane Azais (doanh nhân người Pháp, bạn trai của Huyền). Theo tòa, dù được tống đạt hợp lệ quyết định mở phiên tòa vào ngày 24-5 và theo xác minh của chính quyền địa phương, ông Azais hiện đang sinh sống tại phường Thảo Điền, quận 2 nhưng ông Azais vẫn vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

Tại phiên họp, bà Huyền đã kể lại quá trình hai người có quan hệ tình cảm với nhau từ trước năm 2013 đến khi phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chia tay. Năm 2014 Huyền sinh ra bé Thiên Kim và được cơ quan ngoại giao của Pháp cấp giấy khai sinh. Tuy nhiên, sau khi Thiên Kim được 3 tháng tuổi thì ông Azais đã đưa bé đi (mang sang Pháp) khiến Huyền không thể được gặp con.

Sau đó Huyền đã sang Pháp để khởi kiện ông Azais và tháng 6-2016 bà Huyền đã được tòa án thẩm quyền rộng Albi ra phán quyết buộc ông Azais phải ngay lập tức giao bé Thiên Kim cho Huyền.

Tuy nhiên, ngay sau khi bản án được tuyên, ông Azais đã đưa bé Thiên Kim về Việt Nam, từ đó tới nay Huyền không được gặp con.

Do đó, Huyền phải yêu cầu TAND TP.HCM ra quyết định công nhận toàn bộ bản án trên tại Việt Nam và thi hành bản án này.

Xét những điều kiện thực tế cũng như bản án đã được tòa án Pháp tuyên, căn cứ vào quy định pháp luật của Việt Nam cũng như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Pháp,TAND TP.HCM đã tuyên công nhận và cho thi hành toàn bộ bản án tại Việt Nam.

Theo bản án, Huyền sẽ được chăm sóc, nuôi dạy và giữ hộ chiếu của bé. Ông Azais sẽ chịu trách nhiệm trả chi phí cho bé đi học tại một trường Quốc tế. Đồng thời, ông Azais được quyền đến thăm bé Thiên Kim.

Trao đổi với Tuổi Trẻ ngay sau khi nghe quyết định, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền cho biết ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Huyền sẽ làm đơn yêu cầu thi hành bản án để đưa bé Thiên Kim về sinh sống với mẹ.

Hoàng Điệp

 

 

Tháng Sáu 1, 2017

Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Ho Đường

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:13 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 6 năm 2017.

ĐÚNG 70 NĂM TRƯỚC

Khi danh vọng về chiều

TÔI ĐÃ GẶP PHẠM QUỲNH

Ở BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Nguyễn Vạn An

(Bài đăng ở báo Tin Điển ngày 23/3/1952 – xuất bản tại Sài Gòn)

Sau cuộc biến chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945, mọi phương tiện giao thông giữa Trung Nam Bắc hoàn toàn trở ngại vì những cuộc dội bom tàn phá của Đồng Minh. Tôi lặn lội từ Hà Nội trở vô Nam, bằng đủ mọi cách: đi thuyền, xe hơi, xe lửa, xe kéo và đi bộ nữa để mãi tới tháng sáu tôi mới ghé được kinh thành Huế giữa lúc ông Trần Trọng Kim đang chấp quyền Thủ tướng Nam Triều và cũng giữa một ngày kinh thành Huế cũng đang bị bom đạn tơi bời.

Không hề bỏ lỡ dịp tốt để gặp gỡ các chánh khách lúc đó đang là những người của thời cuộc, tôi vinh dự được gặp hầu hết từ ông Tổng Trưởng Nội Các đến các ông Bộ trưởng có mặt tại kinh thành, và luôn cả những nhân vật có danh ở Huế.

Bài này tôi nói riêng về cuộc gặp gỡ Cụ Phạm Quỳnh.

Nói đến nhà đại học giả ấy, lẽ tất nhiên chẳng cần nửa lời giới thiệu, đồng bào toàn quốc ai nấy đều biết.

Sau cuộc “đảo lộn” Nội các Nam Triều Cụ Phạm Quỳnh về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường là biệt thự riêng của Cụ ở An Cựu, sát ngay thủ đô.

Biet thu Hoa Duong

Nghe nói Cụ “bế môn” (đóng cửa – PT chú) không tiếp khách từ hơn một tháng nay. Tôi vẫn không nản lòng, gắng đến cho bằng được. Vì tôi tin ở lời giới thiệu của Cụ Nguyễn Văn Tố và nhóm Tri Tân mà tôi là đại diện.

Sau khi cánh danh thiếp được trao qua cánh cửa sắt, tôi được mời vô phòng khách. Phạm tiên sinh trịnh trọng trong bộ quốc phục màu đen vui vẻ niềm nở tiếp tôi và không quên nói:

  • “Thật ra đã hơn một tháng nay, tôi không hề tiếp khách, nhưng coi tấm danh thiếp biết ông là một “đồng nghiệp” (quá vinh dự cho tôi!) ở Bắc mới vào nên thành thực vui vẻ muốn được hầu tiếp để biết tin tức các bạn tôi ở Hà Nội và tình hình ở Bắc ra sao…”

Đã gần 10 năm rồi, tôi mới lại được gặp Cụ Phạm lần này là lần thứ hai. Bây giờ coi Cụ mập mạp bệ vệ quan cách hơn xưa nhiều.

Trong hương trà sen, câu chuyện trở nên đầm ấm thân mật. Với nét, mặt hình như phảng phất một vẻ buồn nhẹ nhàng, ẩn kín một tâm sự riêng, với một giọng nói đều đều, tự nhiên và hấp dẫn như nói chuyện với một người thân của mình, Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà quay ra làm quan.

Tôi hỏi: “Tôi muốn biết cảm tưởng của Cụ đối với tân Nội Các hiện thời?

Cụ đáp: Nội các hiện thời toàn là những người có tài có chí, nhất là Trần Đại Nhân (Trần Trọng Kim – PT chú) thật là một người trong sạch liêm khiết mà chúng ta có thể tin cậy được. Trước khi đứng ra lập nội các, Cụ Trần cũng có đến thăm tôi và tôi cũng bày tỏ thành thực những quan điểm của tôi cho Cụ biết và những trở lực mà chúng tôi đã phải vượt qua”.

  • Chúng tôi muốn biết rồi đây Cụ có hoạt động về chánh trị nữa không, hay trở về với văn học giới?
  • “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”.

“Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.

“Ông tính coi, một nhà văn bạch đinh như tôi, vụt một cái nhảy lên cái ghế danh vọng của Triều đình thì tránh sao được những đố kỵ và ngộ nhận. Cảnh ngộ của tôi lúc ra làm quan thật phù hợp với hai câu:

Phấn vua Lê trang điểm ấy là duyên

Tay Chúa trịnh cầm quyền âu cũng nợ…

“Hồi tôi ra chấp chánh, ông cố Toàn Quyền Pasquier nói với tôi rằng: – “Nhà Vua là một người hoàn toàn Âu hóa, phải có một người bán tân bán cựu (nửa mới, nửa cũ – PT chú) ra làm cái cầu ở giữa để giúp nhà Vua”. Mà cái cầu ấy, người ta đã chọn tôi. Nhưng tôi có làm được cái gì đâu!

“Hồi sang Pháp, tôi có vận động bên Chánh Phủ Pháp thi hành đúng Hiệp Ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam Triều trên thực tế. Tôi đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc Địa). Nhưng việc đó cũng không thành.

“Suốt một đời, tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.

“Hiện thời tôi cần phải nghỉ tĩnh dưỡng trong ít lâu rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học. Tôi tin tưởng rằng Quốc văn của ta sau này sẽ tiến triển mạnh mẽ lắm. Một phần nó được hấp thụ nền cổ học Trung Hoa, một phần khác nó được ảnh hưởng rất mạnh trong nền học mới.

“… Tương lai nước ta sau này là do chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này…”

Trong câu chuyện vui vẻ, hết chuyện này qua chuyện  khác, với một giọng điệu đều đều và hùng biện, ông không hề đợi tôi hỏi mà nói thao thao không ngừng.

Phạm tiên sinh vẫn tiếp:

“Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.

“Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hóa mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp và trọng dụng. Phải tạo cho họ có trường sở, để thi thố phát triển tài năng của mình. Đôn đốc họ bất cứ trong trường hợp nào họ cũng phải đặt mình trong cái nghĩa lớn.

“Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nẩy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một TỔ QUỐC mà phụng sự là gì?

“Tôi còn nhớ trong một bức thư gửi cho ông Paul Reynaud (hồi đó là Bộ Trưởng thuộc địa) có đoạn này:

“… Chúng tôi đang đi tìm TỔ QUỐC, mà không thấy TỔ QUỐC ở đâu.

“Thưa Ngài Bộ Trưởng, Tổ quốc ấy đối với chúng tôi nhất định không phải là nước Pháp. Lời nói đó, xin Ngài đừng mếch lòng. Nó không hề có cái ý bất lương gì cả. Chính nó là tiêu biểu của sự thực đích xác. Người Việt Nam không thể coi nước Pháp làm tổ quốc được, vì trước đã có tổ quốc của mình rồi, mà cái tổ quốc đó nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển, cho chúng tôi cũng được làm cái đời dân của một quốc gia xứng đáng…”

Cụ Phạm vẫn tiếp:

“Thật vậy, trong trường hợp nào chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hóa cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả…”

Câu chuyện Cụ Phạm càng nói càng thấy nồng nhiệt. Có nhiều đoạn mà chúng tôi thấy không cần và cũng không tiện viết ra đây. Nhân bàn về văn chương Việt Nam và nói đến cuốn Kiều là một thánh thơ quốc âm. Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.

Trước khi chia tay, Cụ Phạm có ký tên tặng tôi một bức ảnh làm kỷ niệm mà tôi còn trang trọng giữ làm một lưu vật chót của một đại văn hào đã có công rất nhiều trong công cuộc xây dựng nền tảng văn học Việt Nam.

Bao Tin Dien

Đặt mình hẳn ra ngoài lề chánh trị và chánh kiến, viết bài này tôi chỉ làm cái việc của một cây viết hoàn toàn khách quan với mục đích “GHI CHÉP” không hơn không kém.

N.V.A.

Tháng Năm 31, 2017

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 6 năm 2017

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh

là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Vũ Hữu Sự

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vôi cùng đau đớn báo tin với quí bạn đọc Blog PhamTon trong và ngoài nước là 11:20 ngày 31/5/2017, con gái trưởng của Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từ trần tại Hà Nội.

Tưởng nhớ bà, chúng tôi đăng bài này để các bạn cùng chia sẻ với Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Đây là phần chúng tôi trích trong bài của Vũ Hữu Sự Ba giờ với chị Phạm Thị Thanh Tuyền in trong các trang từ 659 đến 678 của tập Dịu dàng và bừng sáng do Tập đoàn Dầu Khí quốc gia Việt Nam thực hiện để tôn vinh một số chị em tiêu biểu của tập đoàn. Sách do nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm 2010. Nhan đề là của chúng tôi.

—o0o—

– Sở dĩ phải hẹn anh vào 16 giờ vì lúc ấy mới ngơi công việc được. Tôi thường rời cơ quan sau 17 giờ 30, nhà ở tận Cầu Giấy, đến nhà đã 18 giờ, nếu hôm nào đường tắc thì có khi tận 19 giờ. Về là bắt tay vào việc nhà; cơm nước, xong xuôi, có khi đến tận 21, 22 giờ. Tôi thường bảo đùa với chị em trong Viện rằng đến cơ quan thì quên việc nhà đi, mà về đến nhà thì quên luôn việc cơ quan. Nói thì nói vậy chứ chắc khó mà thực hiện được.

Viện phó kiêm Phó bí thư Đảng ủy Viện dầu khí Việt Nam, tiến sỹ Phạm Thị Thanh Tuyền mở đầu câu chuyện với tôi bằng những chuyện rất đời thường như vậy.

(…)

–          Sao chị không mướn lấy một “ô sin”?

–          Hai cháu nhà tôi, một đi học nước ngoài, một đang học Bách Khoa trong nước, cháu suốt ngày ở trường. Hai vợ chồng cùng ngành dầu khí nhưng mỗi người một cơ quan, cũng đi cả ngày, tối đến cả nhà mới có điều kiện đoàn tụ. Không tìm được người giúp việc nên nhiều khi cũng bận…

(…) trong lần sơ kiến, sau khi trình bày yêu cầu và nội dung của tập sách, tôi đề nghị chị Tuyền dành một ít thời gian để “sắp xếp” lại những chuyện của mình trên con đường mà chị đang đi, để lần gặp sau sẽ giúp chúng tôi những tư liệu cần thiết cho bài ký của mình, nhưng chị lắc đầu:

–          Chẳng biết các anh cần những gì mà “sắp xếp”. Với lại tôi không quen làm thế. Tốt nhất là ta làm việc luôn, cần gì anh cứ hỏi, tôi sẽ trả lời.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền sinh năm 1958, quê gốc ở làng Lương Ngọc. Đó là một làng Việt cổ, có tuổi đời nhiều trăm năm ở xứ Đông. Thời Lê, làng mang tên là Hoa Đường rồi có thời gọi là làng Lương Đường thuộc phủ Bình Giang, nay là huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Thời trước, làng ấy có rất nhiều người ra kinh kỳ sinh sống bằng nghề dạy học rồi lập nghiệp ở đó, tính đến nay đã có nhiều đời, cụ tổ chị cũng là một trong số đó:

–          Ông nội tôi sinh ở Hà Nội. Ngày trước ông nội tôi cũng làm báo đấy.

–          Chị có thể cho tôi biết tên cụ được không?

–          Ông nội tôi là Phạm Quỳnh.

Tôi hơi sững người, tim đập chộn rộn bởi những cảm xúc bất ngờ ập đến. Thì ra vậy. Thì ra trước mắt tôi là cháu nội của một trong ba trí thức lớn nhất của Việt Nam những năm đầu thế kỷ trước. Ba người đó là Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Cụ Phạm là người hết lòng với tiếng Việt, đã dùng tờ tạp chí Nam Phong do cụ làm chủ bút để cổ súy, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ của nước nhà. Chính cụ đã “đem gió Nam đến thổi trên đất Pháp”, làm cho người Pháp thực dân quen kỳ thị cuối cùng cũng phải hiểu rằng: “Dân tộc (Việt Nam) chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ”. Cái công lao của cụ đối với tiếng Việt, với sự phát triển của chữ quốc ngữ, nói như cụ Dương Quảng Hàm, là đã góp phần “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”. Cụ cũng là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất của thi hào Nguyễn Du với câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn!” Thời phổ thông, chúng tôi biết đến câu nói đó không phải trong toàn bộ văn cảnh của nó, mà là qua một bài luận chiến của chí sĩ Ngô Đức Kế “đánh” cụ Phạm một cách khá nặng nề. Mãi về sau tôi mới hiểu lý do khiến cho câu nói đó trở thành danh ngôn. Điều gì sẽ xẩy ra nếu qua một ngàn năm Bắc thuộc, tiếng Việt vĩnh viễn bị chôn vùi, dân tộc ta nói toàn bằng tiếng Hoa? (…) Được đọc của cụ Phạm không nhiều, nhưng chỉ qua những gì đã đọc, tôi vô cùng kính phục cụ. Toan bày tỏ sự kính trọng ấy với chị Tuyền, nhưng lại e mang tiếng là khen phò mã tốt áo. Miên man suy nghĩ, tôi đã để một “khoảng lặng” trong cuộc trò chuyện:

–          Xin lỗi, chị có phải là con gái của nhạc sĩ Phạm Tuyên không?

–          Vâng

Chị Tuyền kể, cuộc đời chị cũng rất bình thường như mọi người khác. Học phổ thông ở Hà Nội. Năm 1975, khi miền Nam vừa giải phóng, cũng là năm ngành dầu khí Việt Nam được thành lập, thì chị thi đại học, đủ điểm để được chọn đi Liên Xô (cũ) học.

–          Chị chủ động chọn ngành học hay là theo sự phân công của tổ chức?

–          Theo sự phân công thôi. Tôi được phân vào học ở trường đại học Dầu khí Matxcơva, chuyên ngành của tôi là kinh tế khai thác dầu khí. Năm 1981 tôi về, thì cũng là năm Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt Nam – Liên Xô (Vietsovpetro) được thành lập. Tôi được nhận về làm việc tại Vụ Kế hoạch thuộc Tổng cục Dầu khí, trực tiếp theo dõi tình hình của Liên doanh. Mấy năm sau thì lấy chồng, chồng tôi cũng làm trong ngành dầu khí. Năm 1985 chúng tôi sinh cháu trai. Năm 1988, Tổng cục Dầu khí nhập vào Bộ Công nghiệp nặng, cuối năm ấy tôi thi đỗ nghiên cứu sinh, lại sang Liên Xô nghiên cứu luận án phó tiến sĩ, luận án của tôi vẫn là kinh tế khai thác dầu khí. Sang Liên Xô lần này, tôi mang cả con đi theo, lúc đó cháu mới ba tuổi. Một thời gian sau, chồng tôi cũng sang Liên Xô, nghiên cứu luận án phó tiến sĩ.

Sang đấy, chúng tôi có thêm một cháu nữa. Tháng 12 năm 1992 tôi bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Do sinh con nên mãi năm 1995 tôi mới về nước. Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt có quyết định tách ngành dầu khí khỏi Bộ Công nghiệp nặng, bỏ cấp Tổng cục, thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Chính phủ. Về nước, tôi lại tiếp tục làm việc ở Ban kế hoạch Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, trực tiếp phụ trách các dự án như dự án mỏ Bạch Hổ, dự án khí Nam Côn Sơn.

–          Thời kỳ anh chị làm luận án phó tiến sỹ, chính là thời kỳ biến động dữ dội nhất ở Liên Xô. Đầu tiên là khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt chuyển đổi thể chế chính trị. Năm 1991 thì Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan rã. Để hoàn thành luận án, chắc là anh chị gặp không ít khó khăn?

–          Chẳng có gì khó khăn cả. Xã hội tuy có biến động nhưng việc nghiên cứu của chúng tôi, cũng như rất nhiều học sinh hay nghiên cứu sinh của các ngành khác, vẫn được tiến hành rất bình thường. Vì giữa hai Chính phủ đã có hiệp định mà.

–          Lạ nhỉ. Những năm đó tôi đang học ở trường Viết văn Nguyễn Du tại Hà Nội. Việc khối Đông Âu từ bỏ chủ nghĩa xã hội, rồi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan vỡ đã tạo ra một cơn sốc lớn ở trong nước. Rất nhiều người đang công tác hay học tập, nghiên cứu bên ấy; trong đó có cả một số nhà văn được trường Nguyễn Du cử sang học ở Viện Văn học Macxim Gorki, đã bỏ về, nói là không thể tiếp tục học tập, nghiên cứu nữa.

–          Tôi không rõ vì cái gì mà họ “không thể tiếp tục” được, nhưng tôi thấy việc học tập, nghiên cứu của cán bộ, sinh viên Việt Nam hồi ấy tại trường Dầu Matxcơva không hề gặp điều gì khó khăn do tình hình xã hội biến động cả. Thôi tốt nhất là quên những chuyện ấy đi. Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?

–          Chị ở Tổng công ty được mấy năm thì về Viện dầu khí?

–          Tôi mới về Viện từ năm 2008 thôi mà. Nhìn chung, cuộc đời công tác của tôi là một cuộc đời “động” chứ không phải là tĩnh. Hồi ấy, làm việc ở Tổng công ty được 5 năm thì đến tháng 10-2000, toi được điều động sang Công ty Tài chính Dầu khí, nay là Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Sang đó, lúc đầu tôi làm trưởng phòng kế hoạch rồi sau làm trưởng phòng dịch vụ tài chính.

–          Nếu tôi không lầm, thì vào thời kỳ đó, thị trường tài chính còn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với nước ta?

–          Lúc đó, cả nước chỉ mới có sáu công ty tài chính, trong đó có công ty của chúng tôi. Tuy thành lập sau năm công ty kia, nhưng Công ty tài chính Dầu khí lại lớn nhất. Trước khi thành lập, lãnh đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có sự nghiên cứu rất kỹ về các mô hình những công ty loại này, nghiên cứu thị trường tài chính ở cả trong và ngoài nước. Nói về thị trường tài chính trong nước lúc đó, thì không phải chỉ là “khá mới mẻ” như anh nói đâu, mà là mới hoàn toàn. Vì chưa có thị trường, nên nghiệp vụ cũng chưa có. Chúng tôi phải xây dựng lấy thị trường cho mình, sáng tạo và hoàn thiện nghiệp vụ của mình.

–          Những nghiệp vụ hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành mà chị được đào tạo?

–          Công ty tài chính, thực chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có mục đích làm tăng tài sản của doanh nghiệp bằng công cụ tài chính. Vừa xây dựng thị trường, xây dựng nghiệp vụ, chúng tôi đã triển khai hoạt động của công ty trên rất nhiều lĩnh vực như thu xếp vốn cho các dự án của Tổng công ty, kinh doanh vốn nhàn rỗi của Tổng công ty bằng cách cho vay, kinh doanh tiền tệ liên ngân hàng hoặc đầu tư để sinh lời. Ngoài ra còn nhận tư vấn về tài chính, về thuế hay nhận ủy thác về vốn cho các doanh nghiệp khác… Ngay khi mới thành lập, anh Nguyễn Tiến Dũng, giám đốc Công ty Tài chính Dầu khí, đã có sự định hướng rất chuẩn xác rằng cổ phần hóa các doanh nghiệp là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế của Việt Nam. Từ định hướng đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề về cổ phần hóa doanh nghiệp. vì thế, từ đầu những năm 2000, khi Nhà nước tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thì Công ty Tài Chính dầu khí đã đủ điều kiện để làm dịch vụ cổ phần hóa cho các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau. Và khi Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tiến hành cổ phần hóa, thì công ty chúng tôi cũng được chỉ định làm tư vấn cổ phần hóa cho toàn ngành. Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, thì Công ty Tài chính Dầu khí cũng chuyển thành Tổng Công ty Tài chính Dầu khí trực thuộc tập đoàn. Nhưng năm 2005 thì tôi lại được điều trở lại Tổng công ty rồi.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền dành cho tôi ba buổi tiếp xúc, mỗi lần đúng một tiếng đồng hồ, lần thì từ 16 đến 17 giờ, lần thì từ 16g30 đến 17 giờ 30. Cách nói chuyện của chị nhẹ nhàng nhưng khúc chiết, không rườm ra lan man, không bao giờ ra khỏi nội dung câu hỏi, đúng là cách nói của một nhà khoa học. Lần thứ ba, câu chuyện của chúng tôi xoay quanh nhạc sĩ Phạm Tuyên, thân sinh ra chị. Trong đời mình, tôi mới chỉ được nhìn người nhạc sĩ tài danh này hai lần ở xa xa, nhưng tên tuổi ông thì tôi biết rất sớm. Ai cũng biết cụ Phạm Quỳnh yêu Truyện Kiều, mê Truyện Kiều, gọi Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc túy” của Việt Nam, nhưng ít ai để ý rằng trong Truyện Kiều, có một câu mà nếu “vận” vào cái đại gia đình của cụ thì thật đúng, đó là câu: Nền phú hậu, bậc tài danh / Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Danh nhân Phạm Quỳnh có một vợ, mười sáu người con, ba người mất sớm, còn lại 13 người, phần lớn đều là những tên tuổi nổi tiếng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con thứ 12 của cụ Phạm. (…) Tôi biết ông từng học trường Pháp lý, trường Sĩ quan Lục quân trước khi trở thành nhạc sĩ. Ông nôi tiếng với những bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ như Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng, Màu cờ tôi yêu, Ngày thống nhất Bác đi thăm, Như có Bác trong ngày đại thắng… và là người được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt đầu tiên (2001). Giờ đây trước mặt tôi là con gái của Nhạc sỹ Phạm Tuyên và không hiểu sao điều đó khiến tôi rất tò mò. Tôi muốn biết tại sao chị lại chọn con đường nghiên cứu khoa học làm sự nghiệp của đời mình. Truyền thống thơ ca nhạc họa của ông nội và cha chị có tham gia được điều gì ở những thành công khoa học của chị. Có lẽ sự thông minh, đam mê tìm tòi sáng tạo là điều dễ nhận thấy nhất ở chị từ những tiếp nối truyền thống gia đình.

(…) Ba giờ tiếp xúc, một thời gian quá ngắn ngủi để có thể hy vọng hiểu được một con người, nhưng qua những gì chị Tuyền kể, tôi đã kịp nhận ra một điều: Chị là một người luôn làm chủ được công việc, dù ở bất kể công tác gì, cương vị nào, và công việc có phù hợp với chuyên môn của mình hay không, và ở đâu, chị cũng làm tốt vai trò của một “kiến trúc sư” cho những thành tựu của cơ quan nơi mình công tác. Đang từ công ty Tài chính Dầu khí, chị được điều chuyển về Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nhận nhiệm vụ chuyên viên trong Hội đồng quản trị, giúp lãnh đạo Tổng công ty theo dõi toàn bộ mảng cổ phần hóa và đổi mới doanh nghiệp trong ngành. Từ chuyên viên, chị trở thành phó ban đổi mới doanh nghiệp. Năm 2006, Chính phủ quyết định nâng Tổng công ty dầu khí Việt Nam thành Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Trong cương vị phó ban đổi mới doanh nghiệp, tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền đã tích cực tham gia vầ có nhiều đóng góp vào quá trình chuyển đổi của tập đoàn.

Năm 2008, chị Tuyền về làm Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư Đảng bộ Viện Dầu khí Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt (…) Năm 2006, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thành lập, thì tháng 1/2007 Viện Dầu khí cũng chính thức được trở lại với tên gọi vốn có của mình là Viện Dầu khí Việt Nam trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức khoa học công nghệ của tập đoàn. Năm 2008, tiến sĩ Thanh Tuyền được điều về viện nhận trọng trách là Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư (2009). (…) Chị cho biết:

–          Trước đây, ba cọc ba đồng, tháng tháng lĩnh lương, trên giao cho đề tài nào thì thực hiện đề tài ấy, ngoài lương, người thực hiện đề tài còn được thêm tiền. Bây giờ, phải tự tìm lấy khách hàng, tự tìm thị trường, tìm công việc để bù đắp chi phí. Không thì không có lương, Muốn có khách hàng, có công việc thì chất lượng các công trình nghiên cứu hay chất lượng dịch vụ phải cao, phải sát với thực tết, phải có tác dụng thực sự với sản xuất kinh doanh.

–          Để làm được điều đó, viện đã bắt đầu từ đâu, thưa chị?

–          Đảng ủy và lãnh đạo viện chúng tôi đã tập trung vào hai vấn đề lớn. Thứ nhất là làm công tác tư tưởng cho cán bộ công nhân viên, để ai cũng hiểu rằng với cơ chế mới theo Nghị định 115, thì chỉ có chính chúng ta mới cứu được chúng ta, và nếu chúng ta làm tốt thì cuộc sống của chúng ta sẽ khác trước. Làm công tác tư tưởng, chúng tôi cũng đồng thời khơi dậy lòng tự trọng của những người làm khoa học. Việc này được anh em rất ủng hộ, nhất là những anh em trẻ. Lâu nay, họ rất muốn được thể hiện mình. Và họ thấy đây chính là cơ hội để cho họ thực hiện mơ ước đó. Thứ hai, là sắp xếp lại tổ chức, giảm tới mức tối thiểu biên chế gián tiếp, tăng cường cán bộ cho chuyên môn, mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ xây dựng cơ chế, tiêu chuẩn hóa chức danh để phân loại cán bộ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của anh em. Hiện tại, chúng tôi đã thành lập được bảy trung tâm chuyên ngành, đó chính là những nơi thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học và làm dịch vụ, dưới sự quản lý của viện. Ngoài ra viện cũng là đơn vị chủ trì việc thực hiện các đề tài khoa học mang tính chất chiến lược cho Ngành Dầu khí Việt Nam. Tất cả những việc làm đó đã thổi vào viện một luồng sinh khí mới. Hiện tại, chúng tôi đã có trong tay một đội ngũ cán bộ công nhân viên tinh thông chuyên môn, năng động ham tìm tòi, thông suốt về tư tưởng, hào hứng trong công việc, một đội ngũ lãnh đạo đoàn kết, một đảng bộ vững vàng. Tôi cho đó là thành công lớn nhất.

Ngày nay, nhờ cố gắng của rất nhiều người, Viện Dầu khí Việt Nam đã có được tầm vóc mới, hiện đại hơn. Những hoạt động khoa học của viện đa dạng, thiết thực, bám sát yêu cầu thực tế hơn. Với các chức năng chính là nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản trong lĩnh vực dầu khí; tư vấn, lập và đánh giá, thẩm định các dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dầu khí; giám định hóa chất, sản phẩm dầu khí, thiết bị, công nghệ thí nghiệm; đánh giá/ giám sát rủi ro, an toàn môi trường; dịch vụ khoa học công nghệ, phân tích mẫu, xử lý số liệu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; thu thập, bảo quản và quản lý khai thác, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý nhà nước về thông tin dữ liệu chuyên ngành, phục vụ nghiên cứu và sản xuất kinh doanh; tổ chức hội nghị, hội thảo triển lãm / quảng cáo về ngành dầu khí; đào tạo chuyên ngành, cung cấp nguồn nhân lực chuyên ngành cho các đơn vị có nhu cầu; sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm trong các lĩnh vực trên… Viện Dầu khí Việt Nam đang chứng tỏ bản lĩnh hội nhập và cập nhật của mình, đáp ứng mọi yêu cầu từ phía đối tác trong và ngoài Ngành Dầu khí.

Vấn đề hiện nay Ban Lãnh đạo Viện chúng tôi còn băn khoăn, trăn trở là làm thế nào cân bằng được giữa nghiên cứu cơ bản, đón đầu và dịch vụ khoa học công nghệ nhằm mục đích doanh thu. Đây là điểm bất cập của Nghị định 115 mà các tổ chức Khoa học Công nghệ còn đang lúng túng. Mặc dù vậy, khát vọng lớn nhất của những người làm khoa học chúng tôi là làm sao những nghiên cứu của mình được đóng góp nhiều nhất trong hoạt động của tập đoàn cũng như sự phát triển của đất nước, không còn tình cảnh các công trình nghiên cứu lần lượt được cất vào tủ vì thiếu tính thực tế, đồng thời cũng mong muốn lao động của các nhà khoa học được đánh giá đúng với những giá trị mà họ đã đem lại cho xã hội và xứng đáng được hưởng.

Tuy mới chuyển về chưa lâu, nhưng Phó Bí thư đảng ủy, Phó Viện trưởng Phạm Thị Thanh Tuyền đã có những đóng góp xứng đáng cho Viện Dầu khí Việt Nam, bằng tài năng và tâm huyết của mình.

Hà Nội, tháng 11-2009

V.H.S.

Tháng Năm 30, 2017

Nhân đọc bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” của nhà báo Đặng Minh Phương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ chính, kỳ 1 tháng 6 năm 2017.

Mừng Tạp Chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1917—2017)

Nhân đọc bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” của nhà báo Đặng Minh Phương

Phạm Tôn

Tôi với nhà báo Đặng Minh Phương vốn là chỗ quen biết cũ, từ cuối những năm 1950, khi tôi là một thanh niên mới vào đời, còn ông đã là một phóng viên của tờ nhật báo lớn nhất nước. Rồi khi tôi tham gia điều hành Blog PhamTon (từ 2009) thì ông đã là “nguồn cảm hứng” gợi ý cho tôi viết những bài đáp lại những lời kết án tử Phạm Quỳnh của ông đăng trên tạp chí Hồn Việt. Bẵng đi một thời gian, thấy Hồn Việt và ông im tiếng. Nay mới lại thấy ông “tái xuất” trên Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh. Có lẽ Hồn Việt không còn mặn mà với những bài viết theo kiểu bổn cũ soạn lại không có gì mới của ông rồi.

Biết là ông có bài mới, tôi vội tìm đọc. Thì ra lý do khiến ông lại phải lên tiếng, vì không chịu nổi việc báo Tinh Hoa Việt số 47, giữa tháng 3/2017 đăng bài Một mối thân tình kể chuyện “ít dược biết về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh” của nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng. Trong bài lại nhắc đến những lời nói của Hồ Chí Minh  về Phạm Quỳnh như: “Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi, mình mới nhớ ra thì đã trễ, giờ thì chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế, gặp cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời cụ”. Khi được báo là Phạm Quỳnh bị bắt, Hồ Chí Minh nói lửng “Bất tất nhiên”. Rồi khi Tôn Quang Phiệt báo với Hồ Chủ tịch: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Hồ Chủ tịch nói: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”. Trước ngày khai mạc hội nghị Việt-Pháp tại Fontainebleau năm 1946, Hồ Chủ tịch nói trước mặt tất cả phái đoàn: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…” Người im lặng. Ông Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên. Bác đã nói rồi mà…”.

Trong bài viết Trở lại chuyện Phạm Quỳnh, ông Đặng Minh Phương dẫn ra nhiều dẫn chứng để kết án tử Phạm Quỳnh lẩy trong sách của Nguyễn Văn Trung Trường hợp Phạm Quỳnh tủ sách Tìm về dân tộc, Nam Sơn, Sài Gòn năm 1975. Nay, chúng tôi xin mời ông và các bạn Blog PhamTon đọc những gì cùng tác giả năm 1975 ấy viết năm 1999 tại Montreal. Sau đó ông còn lùi xa vào lịch sử những năm 1930 kể lại chuyện Huỳnh Thúc Kháng, nay cũng xin đọc trích một luận văn của Thanh Lãng về cùng đề tài. Và cuối cùng ông Đặng Minh Phương tìm nơi trú ẩn bình yên ở Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh không biết ông có biết năm 2012, cách đây mới có năm năm, chính tạp chí này có đăng bài Mấy lời gởi ông Tô Nhuận Vỹ, chúng tôi cũng xin trích đăng sau đây để ông và các bạn cùng đọc.

*

*      *

“ĐIỆP VIÊN ĐƠN TUYẾN”

­­­­­CỦA

NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH

(Một đoạn báo của giáo sư Văn khoa Đại học Nguyễn Văn Trung, tháng 9 năm 1999)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Giáo sư Văn khoa Đại học Nguyễn Văn Trung từng nổi tiếng như cồn ở Sài Gòn thập niên 60 và 70 thế kỷ trước với các bài viết, các tập sách và cả các buổi diễn thuyết chống Phạm Quỳnh quyết liệt, sắc sảo đến mức “đào đất đổ đi”, “không đội trời chung”, nhất là trong tập sách Chủ Đích Nam Phong (Tủ sách Tìm về dân tộc của nhà xuất bản Trí Đăng, Sài Gòn phát hành 2000 bản, ngày 20/2/1975), một công trình phê bình chính trị, trong đó ông dành hết tâm trí để chứng minh rằng Phạm Quỳnh là: “tay sai chính trị, tay sai văn hóa của thực dân Pháp”.

nguyen-ai-quoc_pq_hcm

Thế nhưng, tháng 9 năm 1999, trên tạp chí Đi Tới, xuất bản ở Montreal, Canada số đặc biệt về chủ đề “Phạm Quỳnh: Văn hào và Chính trị: Công hay Tội”, ông lại bất ngờ công bố một giả thuyết mới và lạ.

Để bạn đọc có tư liệu tham khảo nhiều chiều khi tìm hiểu về học giả Phạm Quỳnh, chúng tôi xin trích đăng đoạn báo đó và một phần trong Lời kết bài của giáo sư Nguyễn Văn Trung đăng trong số báo trên từ trang 8 đến trang 20 nhan đề Từ suy tôn Phạm Quỳnh đến đề cao thực dân thời hậu hiện đại. Đầu đề đoạn trích này là của chúng tôi.

—-o0o—-

Tóm lại xét về mặt nổi mặt chìm Phạm Quỳnh là người của địch nhưng có thể là người của ta gài trong hàng ngũ của địch (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) hay không? Giả thuyết này có thể được nêu lên dựa vào tâm sự mà Phạm Quỳnh đã bày tỏ trong chuyến công du Pháp hồi 1922. Bất cứ người Việt Nam nào từ khi Việt Nam tiếp xúc với Tây phương và nước Pháp, có cơ hội ra nước ngoài sang Pháp đều có một lối nhìn thời cuộc khác với người chỉ ở trong nước. Qua những trang tâm sự Phạm Quỳnh cho biết:

  1. Đời sống va chạm hằng ngày trong nước ở xa mới thấy những việc tưởng là quan hệ mà sau đó bần tiện nhỏ nhen, tranh ăn tranh nói, tranh uống tranh ngồi, v.v…
  2. Ở Paris đầu óc mở ra đón nhận những trào lưu mới tiến bộ. Phạm Quỳnh đi nghe các buổi nói chuyện của phe tả Cộng sản, đi thăm đại học Sorbonne, trường sư phạm rồi than thở về thân phận học hành dang dở dở dang của mình và cả nước cũng là dở dang.
  3. Nhận rõ chân tướng chế độ thực dân ở Việt Nam, những người Pháp thực dân khác hẳn người Pháp ở Pháp
  4. Hiểu được tại sao người Việt ở Pháp chống thực dân và không thể có thái độ khác

Với tâm tình đó ông tìm gặp các ông Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc.

Trong bài du ký ông chỉ nhắc tới buổi gặp Phan Chu Trinh mà không nói tới những gặp gỡ khác đặc biệt với Nguyễn Ái Quốc. Chắc hẳn ông đã báo cáo với mật thám Pháp về những tiếp xúc này một cách nào đó cho khỏi bị nghi ngờ. Những ai đã có dịp gặp Nguyễn Ái Quốc bất kể là người Việt Nam hay người ngoại quốc đều thú nhận rất khó chống khả năng cảm hóa thuyết phục của Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh, một người thấm nhuần sách lược Lê-nin-nít. Có thể Nguyễn Ái Quốc, nhận thức được sự đóng góp đặc biệt của Phạm Quỳnh cho cách mạng Việt Nam ở cương vị một người cộng tác thân tín với giới lãnh đạo chính trị an ninh tình báo cấp cao nhất trong chính quyền thuộc địa, trao công tác cho Phạm Quỳnh mà bây giờ gọi là “ĐƠN TUYẾN” nghĩa là chỉ tiếp xúc nhận chỉ thị của một người khi cần đến, trong khi chờ đợi cứ năm vùng 10 năm, 20 năm hoàn thành xuất sắc tất cả các việc người Pháp trao để không bị nghi ngờ bất chấp những đố kị kết án là phản quốc Việt gian. THỜI ĐIỂM 1945-46 PHẠM QUỲNH CÓ THỂ XUÁT HIỆN VỚI BỘ MẶT THẬT (thì) BỊ CẤP DƯỚI GIẾT CHẾT. Khả năng bị thủ tiêu ở thời điểm này lại rất dễ xảy ra ngay cả với những người được triệu ra Bắc làm bộ trưởng như Lê Văn Hiến nếu không nhờ có can thiệp kịp thời.

Dĩ nhiên, đây hoàn toàn là một giả thuyết có thể phải đợi bao giờ một cuốn sử về Nguyễn Ái Quốc trung thực được công bố có nói đến tiếp xúc giữa ông và Phạm Quỳnh hồi ở Paris hoặc không bao giờ được kiểm chứng.

(…) Tình hình hiện nay có xu hướng tạm gác đánh giá Phạm Quỳnh về chính trị và lưu tâm tìm hiểu về sự nghiệp văn học của ông. Trong nước đã xuất bản những Truyện ngắn Nam Phong và chuẩn bị những trao đổi về mặt văn học (…) Việc nghiên cứu này không dựa vào những chứng từ như hồi ký, trả lời phỏng vấn… chỉ có giá trị tương đối nào đó, mà vào bút tích ghi trong hồ sơ hành chính lưu trữ ở văn khố Pháp, Nhật hay của bộ nội vụ ở Việt Nam. Hy vọng có thể phát hiện những sự kiện thuận lợi cho Phạm Quỳnh như xác nhận giả thuyết ông Nguyễn Ái Quốc móc nối Phạm Quỳnh và bức thư kết bằng những mẩu thuốc lá của những Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở trong tù gửi cho ông Phạm Quỳnh đề nghị can thiệp với Pháp thay án tử hình đối với nhóm Nguyễn Thái Học được xác minh ông Phạm Quỳnh có can thiệp… (những đoạn in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Montreal, đầu tháng 8/1999

N.V.T.

*

*     *

TRƯỜNG HỢP PHẠM QUỲNH

THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

Thanh Lãng

* Bài Thực ra, chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì theo Tây là phần 4 trong toàn bộ 7 phần của bài Trường hợp Phạm Quỳnh của Thanh Lãng. Bài viết đặc sắc, công phu của giáo sư Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh, đã đăng trên tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963. Đây là một tư liệu nhiều bạn cần mà nay rất khó kiếm.

—o0o—

4. THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

Trong khoảng này (1917-1932 – PT chú), hoạt động nói được là có hình thức chính trị, chỉ có việc Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội (Năm 1920- PT chú).

Nếu chỉ làm cái ông cố vấn của một hội đồng thành phố mà bị ghép vào tội phản dân hại nước thì chẳng riêng gì Phạm Quỳnh mà hầu hết các nhà văn hóa đương thời vẫn được quốc dân công nhận là đứng đắn như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Bá Học, và sau này, hầu hết các nhà văn như Tú Mỡ, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, đều là công chức của Pháp. Tôi nghĩ Ngô Đức Kế đả kích Phạm Quỳnh chắc không phải vì Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

Nếu không phải vì cái chức cố vấn mà lúc ấy, năm 1924, Phạm Quỳnh còn đang nắm giữ, thì phải chăng vì một bài báo viết ra mãi từ năm 1917, bài báo mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã trích một đoạn với lời buộc tội là Phạm Quỳnh “đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân trong khi biết bao nhà ái quốc ngã gục trước họng súng của cái chủ nghĩa mà Phạm Quỳnh cho là nhân đạo, là xả kỷ”.

Về cái bài Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp này, điều thứ nhất ta cần nhận định đó là một nhận định không phải do Phạm Quỳnh viết ra mà chỉ là tường thuật bài La civilisation (Nền văn minh – PT chú) của ông Victor Giraud viết năm 1916. Có đọc cả cái bài khái luận này mới thấy rằng chủ trương của bài khái luận không phải là biện minh cho chế độ thực dân.

Bài khái luận chia làm 6 phần, phân tích những đặc tính của nền văn minh của Pháp là một nền văn minh lấy “nhân đạo” làm cốt yếu. Giraud minh chứng tính cách nhân đạo ấy của nền văn minh Pháp được bộc lộ qua văn chương Pháp, qua triết học Pháp, qua tôn giáo Pháp, qua  lịch sử Pháp. Chính do cái phần Victor Giraud phân tích tính cách nhân đạo của Pháp qua lịch sử của Pháp này mà giáo sư Nguyễn Văn Trung buộc tội Phạm Quỳnh là muốn biện hộ, đề cao chế độ thực dân.

(…)

Tôi chưa có dữ kiện đủ để biện hộ cho Phạm Quỳnh là một chiến sĩ quốc gia chống Pháp mà tôi cũng chưa thấy có gì đáng ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước qua một đoạn văn viết như trên kia.

(…) Do sự phân tích trên đây, tôi thấy không thể chỉ vì một đoạn văn vỏn vẹn có ngần ấy câu mà ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước, là đề cao hay biện hộ cho chế độ thực dân.

Và Ngô Đức Kế, khi đả kích Phạm Quỳnh năm 1924, chắc không phải vì các đoạn văn vỏn vẹn ấy viết ra từ năm 1917.

Đàng khác, nếu chỉ căn cứ vào một đoạn văn mà buộc tội thì tôi thiết tưởng người ta có thể buộc tội cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà cách mạng và anh hùng dân tộc ở đầu thế kỷ, vậy mà cả hai nhà đại cách mạng đều lâm thời chấp nhận sự kiện bảo hộ như là một sự kiện nếu không cần thiết thì cũng không thể tránh được.

Phan Chu Trinh, trong bức thư gửi cho chính phủ Pháp ngày 15/8/1918, hình như không những chấp nhận sự kiện bảo hộ của Pháp mà còn coi đó như một điều cần thiết cho sự an toàn của dân ta trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy: “Ôi, ham mến tự do, mưu toan độc lập, xấu hổ làm nô lệ cho người, lấy cái đó mà ngờ cho dân tộc Âu châu là phải rồi, chớ còn như lấy đó mà ngờ cho dân An nam thì có khác gì ngờ người có bệnh tê bại leo tường ăn cắp, ngờ đứa con nít ba tuổi đốt nhà giết người; chẳng qua cái thói đa nghi đó mà thôi. Chớ cứ nói thật ra, trong một nước mà học thuật không ra sao, phong hóa bại hoại, liêm sỉ mất hết, kiến thức không có một chút gì, ngay đến trong một làng, một ấp mà cũng coi nhau như cừu địch thì còn mong mỏi gì liên kết đoàn thể mà chống giữ với ai? Mà ví thử có muốn đem võ lực để kháng cự với chính phủ bảo hộ đi nữa, thì không những đất dụng võ không có, tàu to súng lớn không có, lương thực không có, mà cứ nói ngay ra ví thử bây giờ người Pháp cho người Nam độc lập, giao cho mấy ngàn khẩu súng, cấp cho đất đai mấy tỉnh, rồi cho tự trị lấy, không hỏi gì đến nữa, thì chỉ trong vòng mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi, còn mong gì mở mày mở mặt với thế giới được; ấy mình đối với mình còn thế, còn mong gì đối với ai.” (Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh , Tân Việt, trang 97-98).

Qua đoạn văn trên này, Phan Chu Trinh nhận định hai điều:

Điều thứ nhất là dân tộc ta trong hoàn cảnh đương thời không thể nào đánh lại được người Pháp.

Thứ hai có vẻ cay đắng, bi đát hơn, đó là việc giả sử người Pháp có trao quyền tự trị hay độc lập cho dân tộc mình thì người mình lúc ấy cũng không cai trị nổi nhau mà chỉ có cấu xé lẫn nhau “chỉ trong mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù, báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi”.

(…) Đã có chủ trương rõ rệt như vậy, cho nên Phan Chu Trinh chống bạo lực, muốn thành tâm cộng tác với Pháp chứ không muốn nổi dậy làm cách mạng bạo động. Đó là ý tưởng ông bàn đến nhiều lần trong bài diễn văn Đạo đức và luân lý Đông Tây ông đọc tại Sài Gon đêm 19/11/1925.

Trong bài đó tôi chú trọng đến đoạn sau này hơn cả:

Cái thương nước tôi nói đây không phải là xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu! Tôi xin thưa: Nước ta đã hư hèn bị mắc trong tay người ta rồi, thì bây giờ ta phải đem lòng thương nước, bênh vực lẫn nhau, mà giúp cho nhau để cứu chuộc lại cái danh giá cùng lợi quyền của ta về sau. Hễ người ta làm việc gì bất công thì mình phải hiệp sức nhau lại mà chống, còn làm việc gì phải chăng thì mình cũng phải nhìn nhận, chớ có thấy chính quyền mình mất rồi mà đem lòng căm tức không kể đến việc hay của người ta. Thế thì lòng thương nước của dân Việt Nam có làm gì hại đến quyền lợi người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!. Dân Việt Nam thấy người nào làm hại cho nước nó thì nó ghét, ấy là lẽ tự nhiên”.

(Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Tân Việt, trang 144).

Theo Phan Chu Trinh, lòng yêu nước, tức tinh thần quốc gia, tức bổn phận làm một công dân yêu nước, một chiến sĩ quốc gia không cần phải xung đột với Pháp: “Thế thì lòng yêu thương nước của dân Việt Nam có làm hại gì đến quyền lợi của người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!”

Đây chưa phải là chỗ thẩm định tư tưởng của Phan Chu Trinh mà chỉ muốn trích hai văn kiện của một nhà Đại Cách Mạng Việt Nam được mọi giới yêu kính, văn kiện thứ nhất đề năm 1918, văn kiện thứ hai đề năm 1925, để minh chứng rằng, thuộc vào khung cảnh lịch sử của nó, những bài văn, bài báo như của Phan Chu Trinh hay của Phạm Quỳnh không thể hiểu thẳng băng theo ngữ ngôn của thời đại ta. Mà nếu hiểu theo ngữ ngôn của thời đại ta thì Phan Chu Trinh có vẻ còn đề cao, còn biện hộ cho chế độ thực dân mạnh hơn Phạm Quỳnh nhiều.

Không những xem ra đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân mà Phan Chu Trinh còn kết án cả cái lối làm cách mạng theo lối Ngô Đức Kế nữa kia, điều mà Phạm Quỳnh trong thâm tâm không biết ông nghĩ thế nào, chứ chưa hề công khai dám tuyên bố táo bạo như Phan Chu Trinh:

“Cái thương nước tôi nói đây không phải xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này, cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu.”

Nếu bài báo của Ngô Đức Kế ra đời sau năm 1924 là năm rồi đây Phạm Quỳnh sẽ tham gia nhiều hoạt động có tính cách chính trị, nhất nữa là ra đời vào khoảng sau năm 1933 là năm Phạm Quỳnh sẽ chìm sâu vào chính trị thì sự giải thích của giáo sư Nguyễn Văn Trung có lẽ mới thích hợp. Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết vào thượng tuần tháng 9 năm 1924, nghĩa là hơn một tuần sau khi có cuộc lễ kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn Du vào tuần cuối tháng 9 năm 1924. Tôi muốn nói: Từ năm 1924 trở về trước, cuộc đời của Phạm Quỳnh chưa có gì đáng cho Ngô Đức Kế hay dư luận nghi là buôn dân bán nước, là theo Tây.

Hình như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã bắt Ngô Đức Kế nhìn thấy cả đời chính trị của Phạm Quỳnh về sau này, khi ông viết bài Chánh học cùng tà thuyết năm 1924.

Thực ra giáo sư Nguyễn Văn Trung biết Phạm Quỳnh đã làm chính trị, đã làm thượng thư, một thứ thượng thư Bộ Học rồi đến Bộ Lại mà chưa tranh đấu được gì cả cho dân tộc như người ta từng chờ mong, chứ Ngô Đức Kế thì không những năm 1925, ông không thể biết các việc ấy được, mà cho ngay sau này ông cũng chẳng có thể đoán được là Phạm Quỳnh có sẽ làm thượng thư hay không, vì Ngô Đức Kế chết năm 1930 mà mãi đến 1933 Phạm Quỳnh mới ra tham chính. Tôi nêu lên sự kiện này là có ý lưu ý giáo sư Nguyễn Văn Trung là rất có thể chúng ta đem ghép cho Ngô Đức Kế cái tâm tính của ta về Phạm Quỳnh. Thực ra tôi cũng như giáo sư Nguyễn Văn Trung, chúng ta chỉ biết Phạm Quỳnh như một đại thần của triều đình Huế, nghĩa là một người mà tuổi thanh niên chúng ta lúc ấy (khoảng năm 1938 – 1945) mong phải có những hành động kinh thiên động địa. Thú thật chính tôi cũng đã rất ghét Phạm Quỳnh hồi ông đang làm thượng thư. Chứ thời kỳ ông còn ở báo Nam Phong thì tôi còn nhỏ xíu, ngay đến năm 1924 khi xẩy ra cuộc cãi lộn giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh, thì cả giáo sư Nguyễn Văn Trung lẫn tôi chưa một ai sinh ra.

Như vậy Phạm Quỳnh có thể bị ghét về nhiều phương diện, chúng ta những người sinh sau, đã ghét Phạm Quỳnh về phương diện chính trị vì chỉ biết hay chỉ nghe nhiều về Phạm Quỳnh chính trị, Phạm Quỳnh Thượng Thư mà không ngờ rằng Phạm Quỳnh còn có thể bị ghét về nhiều phương diện khác nữa. Có thể ta đã bắt Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh theo phương diện của ta đang khi thực ra Ngô Đức Kế có thể ghét Phạm Quỳnh về một phương diện không giống chúng ta. Chúng ta ngày nay đã nhìn tổng lược cả cuộc đời của Phạm Quỳnh mà bị ám ảnh bởi cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh hơn là cuộc đời làm văn hóa của ông, nhưng Ngô Đức Kế lo sợ sẽ cuốn bay tất cả, phá hoại tất cả không phải là thái độ theo Tây hay chống Tây của các học giả mà là thái độ đề cao Kiều có vẻ quá mức của các ông hồi bấy giờ.

Tôi còn tiếp tục đọc lại bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và còn tiếp tục đặt ra các nghi vấn.

T.L.

*

*      *

ĐÃ ĐẾN LÚC LỊCH SỬ CẦN ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC VÀ TÀI NĂNG CỦA THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

        Nguyễn Văn Thịnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hồn Việt số 79 tháng 3/2014 đăng bài Ông Phạm Quỳnh có công gì với đất nước vẫn là cụ Đặng Minh Phương, quê Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên, sinh ngày 15/7/1928 và về hưu ngày 3/10/1993.

Không còn là “sưu tầm” như trước nữa mà đây là bài do chính cụ viết.

Mở đầu bài “đại luận” hai trang, cụ viết: “Gần đây, nhất là vào cuối năm 2013, đầu năm 2014, một số nhà báo và nhà xuất bản đã đăng nhiều bài, in sách đề cao những người như Phan Thanh Giản, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh… Cái mưu đồ lấy cớ đổi mới, xét lại chính sử, lộn ngược lịch sử được gieo mầm trong một số cuộc hội thảo về triều Nguyễn ở Thanh Hóa năm 2009, hồi đó đã bị các báo vạch trần, phản bác một cách chính xác, mạnh mẽ như các tờ Hồn Việt, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh v.v…”

sach-ve-pham-quynh.jpg

Phần cuối bài “đại luận”, nhà báo lão thành còn viết: “Sau cùng, cần nhắc thêm điều này: không được lợi dụng những “sử liệu giả” – bịa ra những câu nói không có nguồn gốc, xuất xứ từ bất kỳ sách nào, báo nào, ai làm chứng… của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hòng gỡ tội cho Phạm Quỳnh”.

Rõ ràng cái máu “sưu tầm chuyên nghiệp” của cụ lại nổi lên, lúc nào cũng thích “sách nào, báo nào”, cứ như là hễ đã vào sách vào báo là không thể nào sai được.

Thật tiếc cho nhà sưu tầm chuyên nghiệp, viết bài này vào tháng 2/2014 mà không biết rằng trước đó cả mấy năm trời, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về Phạm Quỳnh của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan Phạm Quỳnh – Một góc nhìn năm 2011, trong đó có tư liệu của nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh với Thượng Chi Phạm Quỳnh (từ trang 139 đến trang 162). Rồi năm 2012 lại xuất bản Phạm Quỳnh – Một góc nhìn (tập 2) có bài Biết ơn những con người nhân hậu mà dũng cảm (từ trang 272 đến trang 284) trong đó nêu lên những ý kiến của nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy, Nhà văn Nguyễn Công Hoan, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Châu Trinh, và nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng…Cũng có thể đọc được những ý kiến này của Hồ Chủ tịch trong hồi ký của PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết Chúng tôi đã sống như thế (NXB Tri Thức, 2013) và trong tiểu thuyết của nhà văn Hà Khánh Linh Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học, 2013).

Thật tiếc cho một “nhà sưu tầm” mà bỏ lọt nhiều nguồn tư liệu về nhân vật mà cuối đời cụ bỗng quan tâm và dốc hết sức mình để diệt cho bằng được.

Chúng tôi may mắn có trong tay một bài đăng trên tờ Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh mà cụ đã đề cao ngay từ đầu bài “đại luận”. Theo đúng chủ ý của nhà báo lão thành, chúng tôi chỉ xin trích đăng những phần liên quan đến Phạm Quỳnh, mong bạn đọc có thêm tư liệu tham khảo đáng tin cậy…

—o0o—

Giữa tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, nhằm dịp lễ Vu lan, đêm 30/8/20012 (14/7ÂL), Hội đồng họ Phạm ở Thừa Thiên-Huế tổ chức ra mắt tập II cuốn sách Phạm Quỳnh – Một góc nhìn của Tiến sỹ sử học Nguyễn Văn Khoan. Trước đông đảo cử tọa, có nhiều nhà nghiên cứu và văn nghệ sỹ, trong bài phát biểu Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh, ông Tô Nhuận Vỹ, sau khi giảng thuyết rằng: “Khái niệm địch ta, bên này bên kia trong nhiều trường hợp phải hết sức cẩn trọng”, ông nói: “Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, cho Léopold Cadière…” để rồi kết lại: “Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn Hóa Thể Thap & Du Lịch cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng góp lớn lao cho văn hóa dân tộc của ông”.

(…) Phạm Quỳnh thông minh học giỏi, 15 tuổi đã được tuyển vào làm việc ở Viện Viễn đông bác cổ danh giá của nước Pháp văn minh tân tiến hàng đầu lúc ấy. Với ý chí ham học hỏi tìm tòi càng sớm nổi danh là người hiểu sâu biết rộng. Vào đời bằng nghề làm báo, 24 tuổi đã làm chủ tạp chí Nam Phong, càng có dịp mở rộng các mối quan hệ xã hội, nhậy cảm với thời cuộc và vốn kiến thức càng phong phú. Ở tuổi “nhi bất hoặc”, ông hăm hở “dấn thân vào hoạn lộ tưởng sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng” để rồi hối hận vì đã lỡ lầm.

Quan Thượng thư Bộ Học sau qua Bộ Lại Phạm Quỳnh nhậm chức trong cảnh dân nước điêu linh dưới ách nô lệ của đại quốc Phú-lang-sa. Mọi việc triều chính nhất nhất đều dưới quyền điều hành của viên Khâm sứ người Pháp. Cả vua và quan đều biết rõ chỉ là thân bù nhìn. Dân tình ngột ngạt trong cảnh cá chậu chim lồng. Người có tâm thì đau lòng miễn cưỡng lựa lách theo thời thế. Kẻ háo danh trục lợi thì an phận tay sai. Trong hoàn cảnh ấy thì với thần dân trăm họ cả vua lẫn quan đều phải làm ngơ bỏ ngoài tai trước lời thị phi là “phường bán nước buôn dân”. Phạm Thượng thư than thở: “Khi tôi ra đời nước đã mất rồi còn đâu mà bán!”.(…)  Hai người bạn vong niên đồng cảnh đồng môn Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đều là những nhà văn hóa xuất chúng, cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta nhằm giữ nguyên hồn nước, hoạt động rất hăng hái, về chính trị cùng ôn hòa mà mỗi người một cách. Ông Vĩnh sôi nổi muốn kéo cả nước cùng chui vào cái rọ “trực trị” mong được bình đẳng với người Tây. Ông Quỳnh mềm dẻo với tài khéo nói tích cực vận động cho một chính thể “quân chủ lập hiến” lấp lửng với ông vua mà quyền hạn do dân kiểm soát, vừa giữ được thể diện quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có độc lập tự do. Dịp viên Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud qua Hà Nội, ông gửi thư thỉnh nguyện: “Hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Lời lẽ thì ôn hòa mà ý chí thì quyết liệt. Viên Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi báo cáo lên Toàn Quyền Đông Dương Jean Decoux nhận xét như sau: “Thượng thư Bộ Lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật… Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ, tiến tới hình thành một quốc gia Việt Nam… Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hòa hoãn nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành bất di bất dịch nơi ông ta”.

(…) Vào lúc giao thời ấy, dù học giả Thượng Chi đã về ở ẩn tại tư gia cặm cụi mải mê dịch thơ, viết ký… thì cả bên này bên kia vẫn nhìn ở vị cựu Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh còn tiềm ẩn tài năng lớn! Đó là mầm mống cho nỗi oan nghiệt với con người “kinh luân chứa một túi đầy” này. Ngay lúc được tin cụ Phạm bị bắt, Cụ Hồ đăm chiêu nói với những người giúp việc: “Bất tất nhiên!”, nghĩa là không nhất thiết phải làm như thế. “Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới!”. Sau Cụ Hồ lại nói với hai người con gái lớn của cụ Phạm rằng: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm. Đó không phải là một người xấu. Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Các con cháu cụ cứ vững tâm đi theo cách mạng”. Ông Hoàng Hữu Nam vừa là thân hữu với gia đình họ Phạm lại đang giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ lúc bấy giờ đã khuyên hai bà con gái đại ý là: Bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng nên phải giữ cụ tại một nơi yên ổn. Các chị không nên vào Huế vì nhân dân đang nổi dậy có khi lại bị bắt giữ lôi thôi. Ông Nam nhận sẽ “tư” vào Huế đưa gia đình cụ ra Hà Nội. Kết cục là toàn bộ gia đình cụ Phạm gồm 14 người cả nam và nữ, từ con nít và người đang tuổi thanh xuân đến bà già được đưa ra Hà Nội đoàn tụ gia đình an toàn cùng nguyên vẹn các đồ đạc tư trang. Riêng cụ Thượng Chi thì bị “khử” chưa rõ trong hoàn cảnh nào. Nhận được tin này, Cụ Hồ thốt lên: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? cách mạng lợi lộc gì?… Thật là không may cho cụ Thượng Chi, không may cho gia đình cụ Phạm!”. Cách mạng là sự đổi thay khởi nguồn từ những mâu thuẫn xã hội sâu xa. Cuộc cách mạng nào cũng nhân danh sự công bằng bác ái nhưng bị kích động cực đoan hoặc vì tư thù hay vụ lợi đã xảy ra không ít điều bất nhẫn làm mờ đi cái thiện căn của nó và hằn sâu những hận thù. Thực tế là từ cấp trung ương tới thành phố Huế của chính quyền mới không từng lập một phiên tòa nào kết án “Phạm Quỳnh làm tay sai cho giặc Pháp” để ghép tội tử hình. Tình trạng lộn xộn trong những ngày đầu khởi nghĩa, không chỉ ở một nơi là điều hiển nhiên ai cũng biết. Vậy có thể coi cái chết của vị học giả lớn này như một trong những tai họa giữa “phen thay đổi sơn hà”! Tất nhiên là với những người thân thích ruột rà thì nỗi thương đau cứ đeo đẳng mãi và cũng là sự thiệt thòi lớn khó bù đắp được cho nền văn hóa nước nhà. Còn việc đánh giá các trước tác của người quá cố lớn mức nào và ảnh hưởng xã hội tới đâu không chỉ là công việc của vài người trong một thời gian. Cái chết của cụ Thượng Chi được mọi người, mọi giới trong xã hội thật lòng thương tiếc thì việc phục hồi danh dự cho nhà văn hóa Phạm Quỳnh dù có gặp lực cản nào cũng dễ vượt qua. Như Cụ Hồ đã nói: “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Đã đến lúc lịch sử cần đánh giá và khó có lý do nào để khắt khe trước đạo đức và tài năng của cụ.

(…) Trong bài viết, ông Tô Nhuận Vỹ dẫn lời của triết gia J.P.Sartre rằng: “Yếu tố thời gian lịch sử nếu bỏ qua sẽ là acide sulfuric phá hủy hết mọi giá trị”. Tuy nhiên với lịch sử thành văn, nó lại như một base mạnh làm vô hiệu mọi loại acide, cụ thể là những ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử nhằm đạt mục tiêu của ai. Người viết xin được dẫn ra vài lời nói mang tính tiêu biểu của hai nhân vật lịch sử này (Phan Thanh Giản và Phạm Quỳnh – PT chú) còn được giữ trong thư tịch để tùy bạn đọc suy ngẫm:

Thượng thư Phan Thanh Giản: (…)

Thượng thư Phạm Quỳnh:

– Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được vì chúng tôi đã có một Tổ quốc…

– Chính trị và văn hóa một đàng là gốc, một đàng là ngọn. Gốc có vững thì ngọn mới tốt được. Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị. Điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại thì chỉ có hai cách: một cách là bạo động, một cách là ôn hòa.

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn… Tiếng là nước. Tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn không sao vãn hồi được nữa.

– Khi sang Paris được mời diễn thuyết tại trụ sở Viện hàn lâm, ông khéo chọn đề tài Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt ách bảo hộ Pháp để nói lên ý chí của mình: “Người Pháp phải tôn trọng truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ đầy đặn những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy chỉ có thể đóng lại theo lối mới cho hợp với thời trang chứ không thể đem một thứ chữ khác in lên những trang đã đầy chữ rồi”, đã được những cử tọa vào hàng danh giá tinh hoa của nước Pháp lắng nghe và vỗ tay tỏ lòng biệt đãi khách phương xa là điều chưa từng thấy.

– “Công bộc” là làm đầy tớ chung, không cho riêng ai, nghĩa là cho dân cho nước. Cái tiếng “công bộc” vẻ vang biết chừng nào. Muốn làm một kẻ “công bộc” cho xứng đáng phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ dàng. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “công bộc” cho dân mà bề trong làm đầy tớ riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những hành vi bất chính đáng của mình thì thật là dễ lắm mà cũng hèn lắm. Cho nên ai ôi! Làm “công bộc” mới khó chứ làm “tư bộc” vẫn dễ , làm “công bộc” mới danh giá chứ làm “tư bộc” thật đê hèn. Cái huy hiệu “công bộc” đã tốt đẹp như thế , cái địa vị “công bộc” đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” của dân cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” của dân mới mẻ này. Các ngài làm như thế  để tỏ ta là người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng thời nay và bớt được lòng oán hận của công chúng.

– Khóc bạn Nguyễn Văn Vĩnh: Sống lại như tôi là sống nhục – Chết đi như bác chết là vinh – Suối vàng bác có dư dòng lệ – Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Cả hai ông quan đầu triều này lúc sinh thời được dư luận khen là sống liêm khiết và thanh bạch. Khi chết đi, cụ Thượng Chi để lại gia tài là cái biệt thự tư Hoa Đường trong đó có một thư viện sách cổ kim đủ loại vào hàng lớn nhất kinh thành Huế bấy giờ.

N.V.T.

 

Tháng Năm 20, 2017

Trên quê hương yêu dấu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:20 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 5 năm 2017.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/5/2017:

Thông báo hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 5-5 đến 10-5-2017, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII đã họp để thảo luận, cho ý kiến về: Ðề án “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Ðề án “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”;

Ðề án tổng kết 15 năm (2002 – 2017) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2016 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đến Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII; Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng năm 2016 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Báo cáo công tác tài chính đảng năm 2016 và xem xét thi hành kỷ luật cán bộ. Ðồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Sau khi xem xét và thảo luận các tờ trình, đề án và các báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã quyết nghị:

1– Thông qua nội dung cơ bản các văn kiện sau đây:

– Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Nghị quyết về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

– Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã giao Bộ Chính trị, căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo hoàn chỉnh, ban hành chính thức và tổ chức thực hiện các Nghị quyết nói trên.

2– Tán thành với Tờ trình và Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2016 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng.

Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đánh giá cao công tác chuẩn bị, quá trình tiến hành và kết quả kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2016 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; khẳng định việc kiểm điểm được tiến hành nghiêm túc, đúng nguyên tắc, bài bản, đạt yêu cầu đề ra.

3– Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã thảo luận, thống nhất cao với Tờ trình của Bộ Chính trị về thi hành kỷ luật đồng chí Ðinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Bí thư Ðảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.

Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã quyết định kỷ luật đồng chí Ðinh La Thăng bằng hình thức cảnh cáo và cho thôi giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII.

4– Theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã xem xét, cho ý kiến về các báo cáo của Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, gồm: Báo cáo của Bộ Chính trị về những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đến Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; Báo cáo về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Ðảng năm 2016; Báo cáo về công tác tài chính đảng năm 2016.

5– Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện có hiệu quả các nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017 và Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Ðảng.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/5/2017:

Công bố Quyết định của Bộ Chính trị phân công Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh

Sáng 10-5, tại TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác nhân sự. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội; Phạm Minh Chính, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư tham dự hội nghị.

Tại hội nghị, đồng chí Phạm Minh Chính công bố Quyết định của Bộ Chính trị phân công đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ðảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam giữ chức Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Quyết định của Bộ Chính trị phân công đồng chí Ðinh La Thăng, nguyên: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Ủy viên T.Ư Ðảng, giữ chức Phó Trưởng Ban Kinh tế T.Ư.

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh: Căn cứ vào quy chế làm việc của Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Bộ Chính trị đã họp, thảo luận, xem xét kỹ lưỡng, khách quan, toàn diện, cân nhắc nhiều mặt, nhiều chiều các phương án kiện toàn, phân công và đã biểu quyết đồng thuận 100% với phương án phân công đồng chí Nguyễn Thiện Nhân làm Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2015-2020. Ðồng chí Nguyễn Thiện Nhân là cán bộ trưởng thành từ TP Hồ Chí Minh, được đào tạo cơ bản, đã kinh qua nhiều chức vụ: Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; Phó Chủ tịch, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hồ Chí Minh; Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo; Phó Thủ tướng Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam. Ðồng chí là Ủy viên T.Ư Ðảng khóa X, XI, XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, XII, Ðại biểu Quốc hội khóa X, XII, XIII, XIV. Trên cương vị mới, với năng lực, trí tuệ, bề dày kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị vững vàng, cùng với sự giúp đỡ tận tâm, tận lực của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị tin tưởng đồng chí Nguyễn Thiện Nhân sẽ tiếp tục kế thừa những thành quả, kinh nghiệm của các thế hệ lãnh đạo đi trước, cùng tập thể Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Ðảng bộ TP Hồ Chí Minh đoàn kết, thống nhất để lãnh đạo quân và dân thành phố phấn đấu hoàn thành xuất sắc Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ 10, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng, xây dựng TP Hồ Chí Minh tiếp tục là thành phố năng động, tăng trưởng mạnh mẽ và là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước.

Ðồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân bày tỏ mong muốn đồng chí Ðinh La Thăng tiếp tục thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, sự năng động và kinh nghiệm của mình, có những đóng góp xứng đáng cho Ðảng và Nhà nước trên cương vị công tác mới.

Bày tỏ niềm vinh dự lớn khi được Ðảng tin tưởng giao trọng trách Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân hứa sẽ làm hết sức mình, xứng đáng với sự tin tưởng của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Ðảng bộ và 10 triệu đồng bào thành phố, tiếp tục làm tốt công việc các thế hệ lãnh đạo thành phố đã làm. Ðồng chí mong muốn lãnh đạo Ðảng, Nhà nước quan tâm; Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố chia sẻ, cộng đồng trách nhiệm để TP Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

Ðồng chí Ðinh La Thăng phát biểu cảm ơn những tình cảm mà Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố dành cho mình. Ðồng chí cho biết: “Tôi đã nghiêm túc kiểm điểm, nhận trách nhiệm của người đứng đầu về những hạn chế, khuyết điểm của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến tháng 8-2011. Quyết định thi hành kỷ luật của Ban Chấp hành T.Ư đối với tôi là có lý, có tình, thể hiện sự đoàn kết, tập trung, thống nhất cao trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, cũng như tạo điều kiện cho tôi sửa chữa khuyết điểm. Hôm nay, trước Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, tôi chân thành xin lỗi, mong được Ðảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố cảm thông, chia sẻ, tiếp tục giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao…”.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 13/5/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN

Chiều 12-5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu Việt Nam rời thủ đô Phnôm Pênh của Cam-pu-chia lên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (WEF – ASEAN).

★ Trước đó, tại Phnôm Pênh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Giám đốc điều hành WEF P.Ruết-xlơ đã gặp gỡ, tọa đàm với lãnh đạo 21 doanh nghiệp hàng đầu thế giới thuộc nhiều quốc gia, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên toàn cầu. Tại buổi đối thoại, dẫn câu tục ngữ của Việt Nam “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, Thủ tướng chia sẻ với các nhà đầu tư về những thách thức cũng như quyết tâm của Việt Nam; bày tỏ tin tưởng các nhà đầu tư sẽ thành công ở Việt Nam.

Thủ tướng nêu bật tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam; cho rằng kinh doanh ở Việt Nam không chỉ là tiếp cận thị trường hơn 93 triệu dân mà còn là thị trường của ASEAN và thế giới, nhất là khi Việt Nam đã ký 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới, có độ mở lớn, tiêu chuẩn cao; đang đàm phán bốn FTA khác. Thủ tướng khẳng định, Chính phủ Việt Nam tiếp tục tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng tái tạo, công nghệ cao; cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tài sản cho các nhà đầu tư. Thủ tướng nhấn mạnh việc ủng hộ mạnh mẽ các doanh nghiệp khởi nghiệp và sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công.

Tại cuộc gặp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo một số bộ trực tiếp giải đáp về những vấn đề các nhà đầu tư quan tâm. Lãnh đạo các doanh nghiệp tham gia đối thoại đánh giá cao quyết tâm đổi mới, nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam, cũng như sự hỗ trợ của Chính phủ đối với cộng đồng doanh nghiệp; bày tỏ mong muốn tiếp tục hợp tác, đầu tư, mở rộng hoạt động tại Việt Nam.

★ Tại phiên thảo luận “Đầu tư cơ sở hạ tầng thông minh”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, cơ sở hạ tầng quan trọng đối với phát triển, là điều kiện tiên quyết để kết nối kinh tế và là một trọng tâm trong xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Thủ tướng khẳng định, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ là một trong ba đột phá chiến lược để tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam. Thủ tướng nhấn mạnh, trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam có nhu cầu lớn về huy động vốn đầu tư khoảng 480 tỷ USD cho phát triển cơ sở hạ tầng, chủ yếu là huy động đầu tư tư nhân. Thủ tướng hoan nghênh các doanh nghiệp quốc tế tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng chất lượng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; khẳng định Chính phủ Việt Nam tiếp tục nỗ lực cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, đầu tư, tài chính, thuế để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhất là theo mô hình đối tác công – tư (PPP).

★ Trưa cùng ngày, tại cuộc gặp đông đảo các đại biểu, doanh nghiệp tham dự WEF với nội dung tọa đàm về Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu bật các thành tựu phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhất là tiếp tục giữ vững ổn định chính trị – xã hội và kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội. Thủ tướng khẳng định, Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5% đến 7% từ nay đến năm 2020; tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; khuyến khích mạnh mẽ kinh tế tư nhân phát triển để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế; quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế một cách thực chất, đổi mới căn bản mô hình và phương thức tăng trưởng, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường; phấn đấu năm 2017 đạt các chỉ tiêu chủ yếu của môi trường kinh doanh bằng mức trung bình của bốn nước hàng đầu ASEAN; nâng cao hơn nữa hiệu quả hội nhập quốc tế…

★ Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự phiên bế mạc Hội nghị WEF – ASEAN và lễ bàn giao vai trò nước chủ nhà Hội nghị năm 2018 cho Việt Nam. Sau khi nhận chuông nước chủ nhà Hội nghị WEF – ASEAN từ Thủ tướng Cam-pu-chia Hun Xen, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, việc WEF một lần nữa chọn Việt Nam để tổ chức hội nghị về khu vực là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ đối tác Việt Nam – WEF, cũng như giữa Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp quốc tế; Việt Nam khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với WEF, Chính phủ các nước và cộng đồng doanh nghiệp quốc tế tổ chức thành công Hội nghị WEF – ASEAN tại Việt Nam năm 2018.

★ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp lãnh đạo một số công ty, tập đoàn lớn thuộc WEF, như Chủ tịch phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Tập đoàn P&G (Mỹ) M.Xu-ra-gian; Phó Chủ tịch Tập đoàn Shire (Ai-len) L.Xê; Giám đốc khu vực Ngân hàng HSBC (Anh) Đ.Xtây-lơ và Phó Chủ tịch Tập đoàn GE (Mỹ) C.Ben-nét. Thủ tướng đánh giá cao hoạt động kinh doanh của P&G tại Việt Nam, sự ủng hộ thiết thực và tham gia tích cực của P&G trong các hoạt động của Năm APEC 2017; hoan nghênh Tập đoàn Shire ứng dụng công nghệ cao trong điều trị y tế ở Việt Nam; đề nghị HSBC tiếp tục hợp tác với các ngân hàng thương mại Việt Nam mở rộng kinh doanh ở nước ngoài; đánh giá cao Tập đoàn GE đã hợp tác tốt với các đối tác Việt Nam trong việc phát triển năng lượng, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ.

  • Trang 20 báo Tuổi Trẻ ngày 13/5/2017:

Thủ tướng Việt Nam tọa đàm với 21 doanh nghiệp hàng đầu thế giới

Ngày 12/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp tục các hoạt động tại Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) diễn ra ở thủ đô Phnom Penh của Campuchia. Trong buổi sáng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và giám đốc điều hành WEF Philipp Roesler gặp gỡ tọa đàm với lãnh đạo 21 doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

Thủ tướng khẳng định Chính phủ Việt Nam tiếp tục tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng tái tạo, công nghệ cao cũng như cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tài sản cho các nhà đầu tư.

Giám đốc điều hành WEF Roesler nhìn nhận khu vực sông Mekong trong đó có Việt Nam, là khu vực rất năng động, có dân số trẻ và mong muốn các doanh  nghiệp đầu tư, tạo nhiều việc làm cho giới trẻ. Ông Roesler cho rằng các doanh nghiệp cũng cần môi trường ổn định, thuận lợi và hoan nghênh Thủ tướng gặp gỡ, đối thoại với các doanh nghiệp WEF để tăng cường hợp tác cùng có lợi.

Lãnh đạo các doanh nghiệp tham gia đối thoại đánh giá cao quyết tâm đổi mới, nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam cũng như sự hỗ trợ của Chính phủ đối với cộng đồng doanh nghiệp và bày tỏ mong muốn tiếp tục hợp tác, đầu tư, mở rộng hoạt động tại Việt Nam.

Trưa cùng ngày, Thủ tướng đã dự buổi gặp mặt do WEF và VinaCapital tổ chức, có sự tham dự của đông đảo đại biểu, doanh nghiệp tham dự WEF với nội dung tọa đàm về Việt Nam. Tại đây, Thủ tướng khẳng định Việt Nam 6,5%-7% từ nay đến năm 2020. Để thực hiện mục tiêu này, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, khuyến khích mạnh mẽ kinh tế tư nhân phát triển để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/5/2017:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Tập Cận Bình, ngày 11-5, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc và dự Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế “Vành đai và Con đường”.

Đón Chủ tịch nước Trần Đại Quang cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay Bắc Kinh có đồng chí Lạc Thụ Cương, Bộ trưởng Văn hóa Trung Quốc; Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hồng Tiểu Dũng; Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Minh Khôi, cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam sinh sống, công tác, học tập tại Trung Quốc.(…)

Tại cuộc hội đàm, hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng về những tiến triển tích cực của quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong thời gian qua; đồng thời đi sâu trao đổi về các định hướng lớn nhằm tăng cường tin cậy, củng cố tình hữu nghị, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, duy trì hòa bình, ổn định trên biển, đưa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục phát triển lành mạnh, bền vững.

Hai bên nhất trí duy trì trao đổi, tiếp xúc cấp cao thường xuyên giữa lãnh đạo hai Đảng, hai nước nhằm định hướng chiến lược, chỉ đạo thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác, kịp thời trao đổi, giải quyết các vấn đề nảy sinh, duy trì cục diện hữu nghị và đà phát triển lành mạnh, ổn định cho quan hệ Việt Nam – Trung Quốc; tổ chức tốt Cuộc gặp Đại diện hai Bộ Chính trị; phát huy tốt vai trò của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc trong việc điều phối, thúc đẩy thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước; triển khai hiệu quả Kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng giai đoạn 2016 – 2020, Hội thảo lý luận hai Đảng; thúc đẩy các hoạt động trao đổi đoàn, hợp tác đào tạo cán bộ kênh Đảng; tiếp tục thúc đẩy giao lưu, hợp tác giữa các tổ chức Đảng địa phương; tăng cường giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa Quốc hội Việt Nam với Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc, giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc; thúc đẩy giao lưu, hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật; tăng cường chỉ đạo và ủng hộ giao lưu hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh/khu biên giới, thúc đẩy các địa phương liên quan phát huy tốt vai trò của các cơ chế hiện có, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực, tích cực nghiên cứu các biện pháp tăng cường quản lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho lao động thời vụ tại khu vực biên giới hai nước.

Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy, tạo sự chuyển biến tích cực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác kinh tế và các lĩnh vực khác nhằm tạo nền tảng vững chắc phát triển quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc; tăng cường chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước tập trung triển khai kịp thời, có chất lượng các kế hoạch, chương trình, dự án đã thỏa thuận; áp dụng các biện pháp hữu hiệu tăng cường thương mại song phương phát triển cân bằng; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các văn phòng xúc tiến thương mại Việt Nam tại một số địa phương Trung Quốc; khuyến khích doanh nghiệp hai bên tăng cường trao đổi thương mại, nhất là các mặt hàng nông, thủy hải sản, thực phẩm; khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc triển khai các dự án đầu tư công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, phù hợp nhu cầu và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam; tích cực trao đổi, ký kết “Phương án tổng thể chung về xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới” theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và phù hợp quy định pháp luật của mỗi bên.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đề nghị Trung Quốc áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm dần tình trạng nhập siêu của Việt Nam, nhất là tăng cường nhập khẩu các mặt hàng nông sản liên quan lợi ích thiết thực của nông dân Việt Nam; đề nghị đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, khoa học – công nghệ, ứng phó biến đổi khí hậu, hỗ trợ Việt Nam lai tạo các giống lúa thích hợp với hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long; sớm trao đổi, ký gia hạn Thỏa thuận về đường dây nóng các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển; tăng cường hợp tác sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công – Lan Thương; ứng phó những thách thức về an ninh nguồn nước, bảo vệ môi trường, an toàn hạt nhân…

Về vấn đề trên biển, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên trì giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tôn trọng tiến trình ngoại giao và pháp lý; đề nghị hai bên thực hiện nghiêm túc nhận thức chung, các thỏa thuận, cam kết đã ký, nhất là Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển; kiểm soát tốt bất đồng, không có các hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp; xử lý thỏa đáng vấn đề nghề cá và hoạt động của ngư dân; thúc đẩy các cơ chế đàm phán trên biển sớm có tiến triển thực chất; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), phấn đấu cùng ASEAN hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong năm 2017 nhân dịp kỷ niệm 15 năm ký DOC.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 7/5/2017:

Tàu hải quân Trung Quốc thăm Cảng quốc tế TP Hồ Chí Minh

Ngày 6-5, tại Cảng quốc tế TP Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam, Biên đội tàu hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cập bến, bắt đầu chuyến thăm hữu nghị Việt Nam từ ngày 6 đến 9-5.

Đoàn Biên đội tàu hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc gồm 500 sĩ quan, thủy thủ đoàn do Chuẩn đô đốc Thẩm Hạo, Phó Tư lệnh Hạm đội Đông Hải làm trưởng đoàn. Chuyến thăm nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa quân đội hai nước nói chung, giữa hải quân hai nước nói riêng, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực. Trong thời gian chuyến thăm, Biên đội tàu hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ đến chào xã giao lãnh đạo UBND TP Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Vùng 2 Hải quân và Lữ đoàn Hải quân 171.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ nước ta đã về đến Hà Nội tối 29-4, kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 và các hội nghị liên quan tại thủ đô Ma-ni-la của Phi-li-pin theo lời mời của Tổng thống Phi-li-pin R.Ðu-téc-tê.

Trước đó, tại Ma-ni-la, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp Tổng thống Phi-li-pin R.Ðu-téc-tê. Tại cuộc gặp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt chúc mừng Tổng thống Phi-li-pin đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về tiến triển tốt đẹp của quan hệ đối tác chiến lược thời gian qua; nhất trí sẽ tăng cường trao đổi đoàn các cấp, đồng ý sớm họp Ủy ban hợp tác song phương để phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước. Tổng thống Phi-li-pin khẳng định rất coi trọng tình bạn với Việt Nam, cảm ơn việc Việt Nam sẵn sàng cung cấp gạo ổn định, dài hạn cho Phi-li-pin. Về vấn đề Biển Ðông, Tổng thống Ðu-téc-tê cho biết sẽ nỗ lực thúc đẩy để sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC) với nội dung thực chất, có tính khả thi, phù hợp luật pháp quốc tế.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mời Tổng thống Ðu-téc-tê tham dự Hội nghị cấp cao APEC 2017 với tư cách Chủ tịch ASEAN; tiếp tục phối hợp và ủng hộ các sáng kiến của Việt Nam đề xuất trong năm APEC Việt Nam 2017. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn Tổng thống Ðu-téc-tê đã thả 17 ngư dân Việt Nam về nước trong tháng 11-2016 và cử chỉ nhân đạo của Tổng thống khi đến thăm các ngư dân bị bắt.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Việt Nam chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh

LTS – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng Ðoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 và các hội nghị liên quan tại thủ đô Ma-ni-la, Phi-li-pin. Nhân dịp này, đồng chí Nguyễn Quốc Dũng, Thứ trưởng Ngoại giao đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến công tác của Thủ tướng. Xin trân trọng giới thiệu nội dung trả lời phỏng vấn.

Phóng viên (PV): Xin Thứ trưởng cho biết những nội dung và kết quả nổi bật của Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30?

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng: Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Năm nay ASEAN bước vào năm thứ hai sau thành lập Cộng đồng và cũng là kỷ niệm 50 năm thành lập. Trong bối cảnh đó, các nhà lãnh đạo ASEAN đã tập trung thảo luận ba chủ đề chính gồm: xây dựng Cộng đồng ASEAN; quan hệ đối ngoại của ASEAN và tình hình thế giới và khu vực.

Về xây dựng cộng đồng, bên cạnh việc ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được, các lãnh đạo chỉ ra các mặt cần khắc phục trong xây dựng Cộng đồng, gồm: một là, nhận thức của người dân về Cộng đồng ASEAN còn thấp; hai là, sự phối hợp công tác giữa các cơ quan của ba trụ cột khác nhau trong xử lý các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực còn yếu; ba là, hợp tác kinh tế trong nội khối chưa đạt được những kết quả như mong muốn. Từ đó, cần ưu tiên xây dựng Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân, để người dân được hưởng những lợi ích cộng đồng đem lại; tạo điều kiện hỗ trợ thuận lợi cho các doanh nghiệp, gồm các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs); xóa bỏ các rào cản thương mại. Nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực hành chính công, các lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố ASEAN về vai trò của nền công vụ làm chất xúc tác trong việc đạt được Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025.

Về quan hệ đối ngoại, năm nay có nhiều hoạt động quan trọng với một loạt các dịp kỷ niệm lớn như 40 năm quan hệ ASEAN với Hoa Kỳ, EU, Ca-na-đa, 25 năm với Ấn Ðộ và 20 năm hợp tác ASEAN+3 (ba nước Ðông – Bắc Á). Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình; xem đây là một nhân tố quyết định để duy trì và phát huy vai trò của ASEAN ở khu vực và vươn ra toàn cầu.

Về tình hình quốc tế và khu vực, ASEAN cần có tiếng nói chung mạnh mẽ, phát huy vai trò tích cực và đóng góp thiết thực cho hòa bình, an ninh, ổn định trong khu vực và trên thế giới nói chung. Các lãnh đạo hoan nghênh việc kịp thời ra Tuyên bố chung của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đối với những vấn đề nóng, như các vụ khủng bố ở châu Âu và căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Về Biển Ðông, các nhà lãnh đạo và các bộ trưởng bày tỏ quan ngại về những diễn biến hiện nay trên thực địa ở Biển Ðông, gồm những biểu hiện quân sự hóa. Các nước đều khẳng định lập trường chung ASEAN, đề cao giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình; thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Tuyên bố DOC và thúc đẩy sớm hoàn thành khung Bộ quy tắc COC thực chất, hiệu quả và phù hợp luật pháp quốc tế.

PV: Xin Thứ trưởng cho biết về sự tham gia và đóng góp của Ðoàn Việt Nam tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30?

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng: Với phương châm “chủ động, tích cực và có trách nhiệm”, Ðoàn Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu tham dự Hội nghị đã có những đóng
góp quan trọng vào thành công chung của Hội nghị. Việt Nam chủ động phối hợp Phi-li-pin và các nước ASEAN tham gia xây dựng các văn kiện chung của ASEAN, thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Nhóm Ðặc trách Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) và điều phối quan hệ đối thoại ASEAN – Ấn Ðộ.

Tại Hội nghị, để xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh ba điểm. Thứ nhất là ưu tiên hàng đầu cho việc đáp ứng lợi ích của người dân, lấy người dân làm trung tâm. Thứ hai, ưu tiên việc ASEAN cần cải cách, tiếp tục triển khai các biện pháp cải tiến tổ chức bộ máy và lề lối hoạt động theo hướng tinh giản số lượng, tăng tính hiệu quả của các cuộc họp, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Thư ký ASEAN và các cơ quan của ASEAN, tăng tính kết nối giữa các trụ cột Cộng đồng. Thứ ba, Thủ tướng nêu trọng tâm hợp tác nội khối và liên kết khu vực nhằm củng cố nội lực, gia tăng sức hút của ASEAN, tạo nền tảng vững chắc để mở rộng hợp tác và thu hút đầu tư bên ngoài.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng thảo luận các nội dung nhằm xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống; chia sẻ quan ngại về những căng thẳng gia tăng trên bán đảo Triều Tiên, Biển Hoa Ðông, Biển Ðông; nhấn mạnh, ASEAN cần đề cao các nguyên tắc cơ bản và lập trường chung về giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và trên cơ sở luật pháp quốc tế.

PV: Xin Thứ trưởng cho biết các hoạt động tiếp xúc song phương của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 và kết quả của các hoạt động tiếp xúc này?

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng: Nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có các cuộc gặp song phương với Thủ tướng Ma-lai-xi-a N.Ra-dắc; Cố vấn Nhà nước, Bộ trưởng Ngoại giao Mi-an-ma A-ung Xan Xu Ki; Quốc vương Bru-nây Ða-rút-xa-lam, Ngài X.Bôn-ki-a; Thủ tướng Vương quốc Thái-lan Pray-út Chan Ô-cha và Tổng thống Phi-li-pin R.Ðu-téc-tê.

Với Ma-lai-xi-a, hai Thủ tướng nhất trí phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 20 tỷ USD vào năm 2020 và tăng cường hợp tác giữa quân đội hai nước trong việc chống cướp biển, bảo đảm an toàn hàng hải trong khu vực. Thủ tướng Ma-lai-xi-a N.Ra-dắc nêu rõ sẽ bảo đảm quá trình tố tụng, xét xử công dân Ðoàn Thị Hương diễn ra công bằng và bảo đảm các quyền hợp pháp của Ðoàn Thị Hương.

Với Mi-an-ma, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Cố vấn Nhà nước, Bộ trưởng Ngoại giao A-ung Xan Xu Ki nhấn mạnh cần tiếp tục đàm phán thúc đẩy việc ký kết các thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, tài chính, tư pháp… Mi-an-ma nhất trí tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Mi-an-ma.

Trong cuộc gặp với Quốc vương Bru-nây Ða-rút-xa-lam, Ngài X.Bôn-ki-a, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Bru-nây thúc đẩy đầu tư vào thị trường Việt Nam trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, chế biến thực phẩm xuất khẩu…; đề nghị Bru-nây tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các lĩnh vực dầu khí, thực phẩm cho người Hồi giáo và nông sản, cũng như liên doanh đánh cá trong vùng biển Bru-nây theo pháp luật sở tại.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Vương quốc Thái-lan Pray-út Chan Ô-cha nhất trí cần cân bằng cán cân thương mại và thúc đẩy hợp tác đầu tư, tăng cường tuyên truyền và phối hợp cảnh báo trước để làm giảm số tàu cá hai nước vi phạm lãnh hải của nhau.

Tổng thống Phi-li-pin R.Ðu-téc-tê khẳng định rất coi trọng tình bạn với Việt Nam; hoan nghênh Chủ tịch nước Trần Ðại Quang thăm chính thức Phi-li-pin trong năm 2017; đồng thời cảm ơn việc Việt Nam sẵn sàng cung cấp gạo ổn định, dài hạn cho Phi-li-pin. Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc mời Tổng thống Ðu-téc-tê tham dự Hội nghị cấp cao APEC 2017 và với tư cách Chủ tịch ASEAN, tiếp tục phối hợp và ủng hộ các sáng kiến của Việt Nam đề xuất trong Năm APEC Việt Nam 2017.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Tạo cơ chế đặc thù đầu tư phát triển TP Hồ Chí Minh

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định 48/2017/NÐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách tài chính – ngân sách đặc thù đối với TP Hồ Chí Minh.

Theo đó, Nhà nước ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn tài chính khác nhằm phát triển kinh tế – xã hội để TP Hồ Chí Minh thực hiện vai trò trung tâm kinh tế – xã hội của khu vực và cả nước. Thành phố được tạm ứng từ nguồn ngân sách hoặc từ nguồn vay để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, sau đó thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vay. Chính phủ ưu tiên bố trí vốn ODA và nguồn vốn ưu đãi cho TP Hồ Chí Minh để đầu tư các chương trình, dự án xây dựng hạ tầng đô thị, môi trường,… Ngoài vốn ngân sách, thành phố quyết định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định việc huy động đầu tư theo các hình thức của đối tác công – tư (PPP) như BOT, BTO, BT,…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Cả nước có hơn 13 nghìn doanh nghiệp thành lập mới

Bộ Kế hoạch và Ðầu tư vừa cho biết, trong tháng 4, cả nước có hơn 13 nghìn doanh nghiệp (DN) thành lập mới, tổng số vốn đăng ký là 98,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9% về số doanh nghiệp và giảm 17,1% về số vốn đăng ký so tháng trước.

Ðây là tháng có số DN thành lập mới nhiều nhất trong 12 tháng qua, vốn đăng ký bình quân một DN đạt 7,5 tỷ đồng, giảm 23,9%. Trong tháng, cả nước có 2.274 DN trở lại hoạt động, tăng 75,7% so tháng trước; 6.305 DN tạm ngừng hoạt động, tăng 37,3%.

Tính chung bốn tháng, cả nước có 39.580 DN thành lập mới với tổng vốn đăng ký 369,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14% về số DN và tăng 48,9% về vốn đăng ký so cùng kỳ năm trước.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 3/5/2017:

Xuất khẩu rau, quả ước đạt một tỷ USD

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu rau, quả bốn tháng đầu năm 2017 ước đạt một tỷ USD, tăng 32,6% so cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc là bốn thị trường nhập khẩu hàng đầu của mặt hàng rau, quả Việt Nam, chiếm 82,9% tổng giá trị xuất khẩu rau, quả.  Các thị trường có giá trị xuất khẩu rau, quả tăng mạnh là Nga (88,7%), Nhật Bản (50,9%), Thái-lan (34%), Trung Quốc (33,3%), Ma-lai-xi-a (32,8%), Hàn Quốc (18,7%) và Hoa Kỳ (13,3%).

Hòa lưới điện quốc gia tổ máy 3 Thủy điện Trung Sơn

Đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, tổ máy 3 có công suất 65 MW của Nhà máy Thủy điện Trung Sơn (huyện Quan Hóa, Thanh Hóa) đã chính thức phát điện, hòa thành công vào lưới điện quốc gia. Nhà máy do EVN giao Công ty Thủy điện Trung Sơn thuộc Tổng công ty Phát điện 2 (EVN GENCO 2) làm chủ đầu tư, gồm bốn tổ máy, tổng công suất lắp đặt 260 MW. Đây cũng là dự án thủy điện đầu tiên của Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ tín dụng. Sau khi hoàn thiện và đưa vào vận hành, nhà máy sẽ cung cấp sản lượng điện trung bình hơn một tỷ kW giờ/năm, góp phần kiểm soát lũ và tưới tiêu cho hạ du sông Mã. Công trình đưa ra mục tiêu hạn chế đến mức thấp nhất các tác động về môi trường, xã hội từ việc thi công, vận hành liên quan dự án, giúp giảm phát thải khí nhà kính (GHGs) so với các nhà máy nhiệt điện than cùng quy mô.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 5/5/2017:

Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu vực có diện tích rừng ngày càng tăng

Ngày 4-5, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị triển khai Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; công bố Chương trình quốc gia về REDD+ đến năm 2030 và đường tham chiếu rừng.

Trong giai đoạn 2010 – 2016, độ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng từ 33,2% (12,3 triệu ha năm 2010) lên 41,19% (14 triệu ha năm 2016), trở thành quốc gia duy nhất trong khu vực có diện tích rừng ngày càng tăng. Trong thời gian tới, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được hỗ trợ để thực hiện có hiệu quả các sáng kiến về rừng và REDD+ mà Việt Nam đã tham gia. Bên cạnh đó, cùng với nỗ lực chung của toàn xã hội, ngành lâm nghiệp đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế để phát huy hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng…

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/5/2017:

PVN khai thác thùng dầu thứ 10 triệu từ sa mạc Xa-ha-ra

Ngày 10-5, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết, Công ty Liên doanh GBRS – một công ty liên doanh với Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) vừa khai thác thùng dầu thứ 10 triệu tại Lô 433a & 416b mỏ Bir Seba ở sa mạc Sahara (Algeria). Đây là dự án đầu tiên mà PVN đưa được hoạt động khoan và dịch vụ khoan dầu khí ra nước ngoài khi Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PV Drilling) đã đưa được giàn khoan đến mỏ Bir Seba và khoan hàng chục giếng tại Lô 433a & 416b. Dự án được đánh giá có tổng trữ lượng khoảng 1 tỷ thùng dầu, trong giai đoạn 1 sẽ cho sản lượng khai thác 20.000 thùng dầu/ngày từ 13 giếng khoan.

  • Trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 13/5/2017:

Vinamilk ký kết để xuất khẩu sữa vào Trung Quốc

Trong khuôn khổ chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, ngày 12-5 Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) đã chính thức ký kết bản ghi nhớ hợp tác cung cấp sản phẩm sữa của công ty này vào thị trường Trung Quốc.

Như vậy, Vinamilk là doanh nghiệp sữa đầu tiên của Việt Nam đạt được bản ghi nhớ hợp tác cung cấp sản phẩm sữa vào thị trường hơn 1 tỉ dân của Trung Quốc.

Theo đại diện Vinamilk, đây là kết quả của nhiều nỗ lực, đặc biệt có sự hỗ trợ lớn của thương vụ và tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc trong việc kết nối với các đối tác Trung Quốc ở lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ và chế biến sữa.

Trung Quốc đang có dung lượng thị trường sữa lên đến khoảng 30 tỉ USD/năm.

Vinamilk cho biết bản ghi nhớ được ký kết lần này sẽ là tiền đề cho việc xuất khẩu chính ngạch các sản phẩm sữa sang Trung Quốc thời gian tới. Vinamilk hiện là công ty sữa nằm trong top 50 công ty sữa lớn nhất thế giới xét về doanh thu.

KH.Ngọc

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 8/5/2017:

Hơn 1.500 đoàn viên, sinh viên tham gia ngày sáng tạo và khởi nghiệp

Ngày 7/5, Tỉnh đoàn Đồng Nai phối hợp Hội Sinh viên tỉnh tổ chức chương trình “Ngày sinh viên Đồng Nai sáng tạo và khởi nghiệp”. Hơn 1.500 đoàn viên, sinh viên các trường đại học cao đẳng trên địa bàn tham dự.

Đây là lần đầu Đồng Nai tổ chức một chương trình với quy mô lớn dành cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên đại bàn tỉnh. Điểm nhấn của chương trình là thảo luận “Niềm tin khởi nghiệp” với sự tham gia tư vấn, hướng nghiệp và chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên gia. Chương trình còn tổ chức hội chợ tuyển dụng với sự tham gia của hơn 20 doanh nghiệp trực tiếp thực hiện phỏng vấn , hướng nghiệp và chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên gia. Chương trình còn tổ chức hội chợ tuyển dụng với sự tham gia của hơn 20 doanh nghiệp trực tiếp thực hiện phỏng vấn, nhận hồ sơ và tư vấn miễn phí cho sinh viên

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Hỗ trợ người chăn nuôi tiêu thụ thịt lợn

Do giá lợn hơi tiếp tục xuống thấp, gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi, Sở Công thương Hà Nội vừa có văn bản đề nghị các trung tâm thương mại, siêu thị, các cửa hàng và hộ kinh doanh, các chợ trên địa bàn hạ giá bán các loại thịt lợn để kích cầu tiêu dùng ở mức cao nhất, tăng giá mua đầu vào để giúp giảm đến mức thấp nhất thiệt hại cho người chăn nuôi lợn.

Bên cạnh đó, Sở Công thương đề nghị UBND quận, huyện, thị xã; các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể trên địa bàn đẩy mạnh tuyên truyền kêu gọi các đoàn viên, hội viên, nhân dân trên địa bàn tiêu thụ thịt lợn giúp người chăn nuôi; tạo điều kiện thuận lợi để lưu thông trên thị trường được tốt; triển khai các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi.

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 30/4/2017:

Bãi giữ xe miến phí cho người dân đi xe buýt

Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp Sở GTVT tỉnh Bình Dương, công ty xe buýt Becamex Tokyu xây dựng các bãi giữ xe trung chuyển để người dân gửi xe cá nhân chuyển sang đi xe buýt.

Đây là một trong những giải pháp nhằm khuyến khích người dân sử dụng giao thông công cộng, góp phần hạn chế xe cá nhân.

Dự kiến bãi giữ xe trung chuyển đầu tiên sẽ được khai trương trong tháng 6-2017 tại khu vực trung tâm thương mại trên đại lộ Bình Dương.

Theo đó, hành khách có thẻ xe buýt định kỳ (thẻ từ) có thể dùng tích hợp để gửi xe máy miễn phí tại bãi giữ xe trung chuyển trước khi chuyển sang đi xe buýt.

Hành khách đi xe buýt vé lượt cũng được áp dụng giữ xe miễn phí từ khi khai trương tới hết tháng 11-2017.

Việc xây dựng các bãi giữ xe máy miễn phí để người dân chuyển sang đi xe buýt là ý tưởng nhiều thành phố lớn khác mong muốn nhưng thiếu quỹ đất nên chưa thực hiện được.

Tại Bình Dương, do quỹ đất còn khá rộng rãi và hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ nên hiện nay nhiều tuyến buýt, đặc biệt các tuyến do Nhật Bản đầu tư có khá nhiều ưu điểm để thu hút người dân đi xe buýt như xe buýt có wifi, xe buýt chạy bằng khí nén thiên nhiên thân thiện môi trường, giành làn đường riêng cho xe buýt…

Bá Sơn

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 13/5/2017:

Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân

Trong hai ngày 11-5 và 12-5, các chiến sĩ trẻ Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển 2 (đóng tại huyện Núi Thành, Quảng Nam) đã về huyện đảo Lý Sơn để thực hiện chương trình Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân.

Tại đây đoàn đã tuyên truyền cho hàng trăm ngư dân, cán bộ công chức về biển đảo, luật biển Việt Nam, luật biển của các nước có vùng biển giáp ranh, vùng biển chồng lấn hoặc đang có tranh chấp. Hơn 100 ngư dân ở huyện đảo này cũng được các chiến sĩ cảnh sát biển hướng dẫn nhận biết và xử lý một số tình huống cấp cứu trên biển.

Đoàn còn tặng 77 suất quà cho gia đình chính sách, ngư dân nghèo và con em ngư dân vượt khó học giỏi. Tặng 80 lá cờ tổ quốc, nhiều phao cứu sinh và tủ thuốc cho các ngư dân. Ngoài ra các chiến sĩ trẻ trên tàu đã ra quân dọn dẹp rác trên bãi biển Lý Sơn.

Đại tá Lê Huy Sinh- Chính ủy Vùng Cảnh sát biển 2 cho biết thông qua mô hình Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân nhằm tuyên truyền cho ngư dân thấy được tầm quan trọng của biển đảo đối với quốc phòng an ninh. Đồng thời hỗ trợ ngư dân quyết tâm bám biển vươn khơi.

Lê Trung

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Việt Nam tham dự Liên hoan phim ASEAN 2017

Việt Nam vừa gửi hai bộ phim tham gia Liên hoan phim ASEAN 2017, đó là “Thầu Chín ở Xiêm” (đạo diễn Bùi Tuấn Dũng) và “Cha và con” (đạo diễn Phan Đăng Di). Liên hoan phim được tổ chức từ ngày 27/4 đến 1/5 tại thủ đô Băng-Cốc (Thái Lan) với sự góp mặt của 22 bộ phim của 10 nước ASEAN; trong đó có 10 phim tham gia dự thi, 9 phim trình chiếu và ba phim cổ điển tiêu biểu. Bộ phim “Cha và con” tham gia dự thi và bộ phim lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thầu Chín ở Xiêm” được trình chiếu.

Liên hoan phim ASEAN 2017 là một trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập ASEAN (8-8-1967 – 8-8-2017). Đây cũng là năm thứ ba Bộ Văn hóa Thái-lan tổ chức Liên hoan phim nhằm tôn vinh các nhà sản xuất và bộ phim tiêu biểu của các nước thành viên ASEAN.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 6/5/2017:

Tôn vinh tầm vóc và giá trị lịch sử ngã ba Cò Nòi

Hướng tới kỷ niệm 63 năm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (7-5-1954 – 7-5-2017) và 127 năm ngày sinh nhật Bác (19-5-1890 – 19-5-2017) sáng ngày 5-5, tại TP Sơn La, Tỉnh ủy Sơn La phối hợp với T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học: “Ngã ba Cò Nòi Anh hùng – tầm vóc và giá trị lịch sử”.

Đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Giữ vững tuyến giao thông huyết mạch mang tính sống còn, bộ đội, TNXP, dân quân hỏa tuyến và đồng bào các dân tộc Sơn La không quản khó khăn gian khổ, mất mát đã chiến đấu hy sinh anh dũng. Hơn 100 TNXP đã anh dũng hy sinh ngay tại ngã ba Cò Nòi.

Ban tổ chức đã tiếp nhận 35 bản tham luận, cùng nhiều ý kiến có giá trị chung quanh sự kiện này. Hầu hết các ý kiến đều khẳng định chủ trương đúng đắn của Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đó, đánh giá đúng về tầm vóc, giá trị lịch sử, những chiến công oanh liệt của quân và dân ta tại ngã ba Cò Nòi. Khẳng định sự hy sinh to lớn, sáng tỏ nhiều vấn đề về cuộc chiến đấu bảo đảm giao thông của lực lượng TNXP

  • Trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 7/5/2017:

Du lịch biển Quảng Bình vui trở lại sau sự cố Formosa

Theo ông Hồ An Phong – giám đốc Sở Du lịch Quảng Bình, dù không có khách đông như dịp lễ 30/4 và 1/5, nhưng những ngày đầu tháng 5, Quảng Bình vẫn đón được lượng khách bình thường như năm 2015 (năm 2016 hầu như không có khách đến vì sự cố môi trường biern do Formosa gây ra). “Mọi thứ đã trở lại bình thường” – ông Phong cho biết

Điều này được nhận thấy khá rõ từ các khách sạn, nhà hàng ở TP Đồng Hới. Lễ tân của khách sạn 3 sao Tân Binh cho biết: “Hiện luôn có lượng khách đạt phòng chiếm 35-40% tổng phòng của khách sạn”. Chị Nguyễn Thị Hoa, chủ nhà hàng hải sản Đức Hạnh bên biên Nhật Lệ cũng cho biết trong và sau sự cố môi trường biển, cả năm 2016 hầu như nhà hàng của chị phải đóng cửa. Bây giờ chị phải kêu người đến làm lại. “Buôn bán trở lại được như xưa rồi. Mỗi ngày lai rai cũng bán được cả trăm cân hải sản” – chị Hoa nói.

Từ những ngày nghỉ lễ vừa qua, khu vực biển Nhật Lệ, quán nào cũng đôn đáo tìm người làm. Sự trở lại của du khách ở Quảng Bình đã tạo ra sức sống mới cho du lịch biển tỉnh này. Hàng loạt dịch vụ khác cũng vận hành mạnh trở lại, như sản xuất đá lạnh, cung ứng rau quả và bia rượu, nước giải khát, mua bán hải sản cho ngư dân.

L.Giang

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/5/2017:

Việt Nam đoạt ba Huy chương vàng tê-cuôn-đô bãi biển thế giới

Rạng sáng 7-5 (theo giờ Việt Nam), ngày thi đấu cuối cùng của Giải vô địch tê-cuôn-đô bãi biển thế giới 2017 tổ chức tại Hy Lạp, đội tuyển quyền Việt Nam đã thi đấu xuất sắc, đoạt ba Huy chương vàng (HCV), hai Huy chương bạc (HCB) và một Huy chương đồng (HCĐ).

Theo đó, ba võ sĩ: Lê Hiếu Nghĩa, Nguyễn Thiên Phụng, Hồ Thanh Phong vô địch nội dung quyền tiêu chuẩn đồng đội nam; hai võ sĩ Nguyễn Thị Lệ Kim, Trần Tiến Khoa vô địch quyền sáng tạo đôi nam nữ; các võ sĩ: Châu Tuyết Vân, Nguyễn Thị Kim Hà, Lê Thanh Trung, Nguyễn Thiên Phụng và Trần Tiến Khoa đoạt HCV quyền sáng tạo đồng đội. Hai HCB của đội tuyển quyền Việt Nam giành được ở nội dung quyền tiêu chuẩn đồng đội nữ và quyền sáng tạo đôi nam nữ. Về giải cá nhân, chỉ có võ sĩ Nguyễn Thị Kim Hà đoạt một HCĐ ở nội dung quyền sáng tạo cá nhân nữ U17. Kết thúc giải, đội tuyển Việt Nam đã có tổng cộng ba HCV, ba HCB và bốn HCĐ.

* Cũng trong sáng qua (theo giờ Việt Nam), tại vòng chung kết A bơi 400 m hỗn hợp cá nhân nữ của Giải bơi Arena Pro Swim Series 2017 diễn ra ở Át-lan-ta, VĐV Nguyễn Thị Ánh Viên đã về thứ hai với thành tích 4 phút 45,25 giây, đoạt HCB. Tại vòng thi này, “kình ngư” của Việt Nam đã phải đua tranh cùng các VĐV bơi trẻ tài năng hàng đầu của Mỹ và phải nhường ngôi đầu cho VĐV Pho-đi Brúc-cơ. Cùng ngày, Ánh Viên đã về nhì lượt bơi chung kết B nội dung 200 m ngửa nữ với thành tích 2 phút 15,73 giây. Trước đó, Ánh Viên đã đoạt HCB nội dung 1.500m tự do nữ ở ngày thi đấu đầu tiên.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/5/2017:

Đoàn Việt Nam đoạt Huy chương vàng tại Ô-lim-pích Vật lý châu Á

Ngày 8-5, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, đoàn học sinh Việt Nam dự Ô-lim-pích Vật lý châu Á lần thứ 18, năm 2017, có tám học sinh thì bảy em đoạt giải, gồm: Một Huy chương vàng, ba Huy chương bạc, ba Bằng khen (giải khuyến khích).

Trong đó, Huy chương vàng thuộc về học sinh Đinh Anh Dũng, lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam (Hà Nội). Ba Huy chương bạc thuộc về các học sinh: Nguyễn Thế Quỳnh, lớp 12, Trường THPT chuyên Võ Nguyên Giáp (Quảng Bình); Tạ Bá Dũng, lớp 12, Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội); Trần Hữu Bình Minh, lớp 12, Trường THPT chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An). Ba Bằng khen thuộc về các học sinh: Nguyễn Ngọc Long, lớp 11 trường THPT chuyên Lam Sơn (Thanh Hóa); Nguyễn Đình Bách, lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam (Hà Nội); Phan Tuấn Linh, lớp 12, Trường chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An). Với thành tích đạt được, Đoàn học sinh Việt Nam được ghi nhận là một trong số bảy nước có Huy chương vàng.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/5/2017:

Nhiều hoạt động tại Festival Di sản Quảng Nam 2017

Ngày 9-5, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức họp báo giới thiệu về Festival Di sản Quảng Nam lần thứ sáu.

Festival sẽ diễn ra từ ngày 7 đến 14-6 trên nhiều địa bàn của tỉnh Quảng Nam, trong đó tập trung tổ chức tại hai thành phố Tam Kỳ và Hội An với 23 sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch. Trong khuôn khổ Festival có các hoạt động hội thảo; triển lãm, giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của đất và người xứ Quảng, liên hoan bài chòi các tỉnh miền trung và trình diễn các Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh. Tâm điểm của Festival là cuộc trình diễn hợp xướng quốc tế từ ngày 7 đến 10-6 với sự tham gia của 32 đoàn, 1.500 nghệ sĩ đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dịp này, UBND tỉnh Quảng Nam sẽ khai trương nhiều tuyến, điểm du lịch mới…

Khai mạc vòng chung kết cuộc thi Robocon Việt Nam 2017

Tối 9-5, tại Nhà thi đấu TP Ninh Bình, UBND tỉnh Ninh Bình phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức khai mạc vòng chung kết cuộc thi Robocon Việt Nam 2017. Tham dự có 32 đội tuyển ở 10 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước. Cuộc thi có tên gọi là “Chinh phục đĩa bay” dựa trên một trò chơi của Nhật Bản (nước đăng cai tổ chức cuộc thi Robocon châu Á – Thái Bình Dương năm 2017) diễn ra từ ngày 9 đến 14-5.

Đội vô địch sẽ đại diện cho Việt Nam tham gia cuộc thi Robocon châu Á – Thái Bình Dương vào tháng 8 năm nay.

  • Trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 10/5/2017:

Hội thề không tham nhũng là di sản quốc gia

Ngày 8-5, Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Ngọc Thiện đã ký Quyết định công nhận 12 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Theo đó, 12 di sản văn hóa phi vật thể (thuộc 4 loại hình: lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tập quán xã hội và tín ngưỡng; nghệ thuật trình diễn dân gian) gồm: Lễ hội Xa Mã – Rước kiệu Đình Hoàng Châu, xã Hoàng Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Hội Minh thệ thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Nghề sơn mài Cát Đằng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Lễ hội Điện Trường Bà, thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Lễ hội Tiên Công, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội Lồng tồng của người Tày, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nghi lễ Cấp sắc của người Nùng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Nghệ thuật Khèn của người Mông, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Hò khoan Lệ Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nghệ thuật Rô-bam của người Khmer, tỉnh Trà Vinh. Lễ hội Trò Ngô làng Giàng, xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Múa sư tử của người Tày, Nùng, tỉnh Lạng Sơn.

V.V.T.

  • Trang 4 báo Nhân Dân ngày 11/5/2017:

Đại sứ Du lịch Việt Nam thăm và quảng bá Di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An

Ngày 10-5, Đại sứ Du lịch Việt Nam Gio-đơn Vốt Rô-bớt (đạo diễn phim Kong: Skull Island – Kong: Đảo đầu lâu) đã có chuyến thăm khu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình).

Trở lại nơi từng là trường quay bộ phim “bom tấn” của thế giới sau hai tháng được trình chiếu ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, ông Vốt Rô-bớt có nhiều ấn tượng với việc ngành du lịch tỉnh đã phối hợp doanh nghiệp cho dựng lại trường quay để đón khách du lịch, mang lại nguồn thu nhập cho nhân dân địa phương. Đại sứ Du lịch Việt Nam đã đi thăm khu trường quay phục dựng, nói chuyện và chụp ảnh cùng những diễn viên thổ dân và người hâm mộ…

Bộ phim Kong: Skull Island đã được ghi hình tại nhiều nơi của tỉnh Ninh Bình hồi đầu năm 2016 với bối cảnh hùng vĩ, hoang sơ, qua đó góp phần giúp quảng bá điểm đến.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 9/5/2017:

Thêm một ca ghép gan từ người cho sống

Ngày 8-5, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City công bố thực hiện thành công ca ghép gan từ người cho sống. Đây là ca ghép mới nhất trong số khoảng 20 ca ghép gan từ người cho sống đã được thực hiện thành công trên toàn quốc từ năm 2004 đến nay. Theo đó, ca ghép gan này được thực hiện vào ngày 15-4. Người được ghép gan là anh Mai Văn Tuân (46 tuổi, ở Hải Dương) bị xơ gan do viêm gan B, tiến triển lên ung thư gan. Người hiến gan là anh Hoàng Trung Kiên (em rể của người nhận gan). Sau 13 giờ thực hiện, kíp phẫu thuật là các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City và các chuyên gia đến từ Hàn Quốc đã thực hiện lấy 60% phần gan của người cho, tương đương thể tích 700 cm3 và ghép thành công cho người nhận.

Đến nay, hơn 20 ngày sau phẫu thuật, các chức năng gan của người cho đã thích ứng với hoạt động, sức khỏe ổn định, đã được xuất viện. Người nhận gan sức khỏe cũng đang dần ổn định, bắt đầu đi lại và phục hồi vận động; các chỉ số sinh tồn cơ thể đang trở về giới hạn cho phép. Dự kiến người nhận gan sẽ được xuất viện trong khoảng một tuần tới.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 12/5/2017:

Kỳ thủ Trần Tuấn Minh vô địch cờ chớp Giải vô địch cờ vua trẻ châu Á 2017

Với chín ván bất bại, đạt tám điểm, kỳ thủ Trần Tuấn Minh (elo 2587) của Việt Nam vừa đoạt ngôi vô địch nội dung cờ chớp của bảng mở rộng Giải vô địch cờ vua trẻ (U-20) châu Á 2017 diễn ra tại I-ran. Được xếp là hạt giống số một của bảng mở rộng, Tuấn Minh đã khởi đầu không thuận lợi khi kém điểm hai kỳ thủ của nước chủ nhà sau sáu ván đấu. Tuy nhiên, ở ba ván còn lại, Tuấn Minh toàn thắng, đạt tám điểm (bảy ván thắng, hai ván hòa), hơn kỳ thủ về thứ hai Hác-sa Bha-ra-tha-cô-ti của I-ran 0,5 điểm.

Tạo hình, cắm lại niệu quản vào bàng quang cho người bệnh

Ngày 11-5, Bệnh viện Bình Dân (TP Hồ Chí Minh) thực hiện phẫu thuật tạo hình niệu quản, cắm lại niệu quản vào bàng quang cho người bệnh Nguyễn Đức (trong cặp song sinh Việt – Đức, được phẫu thuật mổ tách rời ngày 4-10-1988). Trước đó, Nguyễn Đức đã được phẫu thuật để điều trị thận ứ nước nhiễm trùng. Các bác sĩ cho biết, do tình trạng dị tật bẩm sinh của hệ tiết niệu diễn tiến phức tạp theo thời gian, nếu không được phẫu thuật tạo hình, Nguyễn Đức sẽ phải đeo ống thông dẫn lưu nước tiểu suốt đời và nguy cơ biến chứng trên chức năng của thận. Ca phẫu thuật nhằm khắc phục tình trạng hẹp niệu quản vốn đã gây tình trạng nhiễm trùng hệ tiết niệu tái phát nhiều lần ở người bệnh

Cứu sống sản phụ bị vỡ phình động mạch

Ngày 11-5, Bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh) cho biết vừa phẫu thuật cứu sống một phụ nữ mang thai bị vỡ quai động mạch chủ, đe dọa tính mạng. Người bệnh tên N.T.M.D (20 tuổi, ngụ Bình Dương) được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy trong tình trạng lơ mơ, tiếp xúc chậm, phải thở máy.

Kết quả chụp CT scan, các bác sĩ nhận thấy tại đoạn quai động mạch chủ ngực có một túi phình dài khoảng 6cm, nhiều máu tụ quanh túi phình, khả năng túi phình đã bị vỡ gây nên chèn ép cho khí quản khiến người bệnh bị suy hô hấp cấp. Các bác sĩ đã tiến hành ngưng tim, phổi, chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể, đồng thời thực hiện hạ thân nhiệt. Ca phẫu thuật thành công sau tám giờ, hiện sức khỏe người bệnh ổn định, bảo toàn được sự sống của thai nhi ở tuần thứ 12.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/5/2017:

Tiền túi của người dân chiếm 43% tổng chi cho y tế

Ngày 10/5, tại Hội thảo xây dựng kế hoạch tổng thể các phương thức chi trả dịch vụ y tế do Bộ Y tế tổ chức, các chuyên gia đều đánh giá mức tiền túi của người dân chi cho dịch vụ y tế vẫn ở mức cao trong tổng chi cho y tế, chiếm 43%, chưa kể chi phí đi lại, ăn ở.

Để đạt mục tiêu giảm tỷ lệ này xuống còn dưới 30% vào năm 2025, các chuyên gia cho rằng cần thực thi nhiều chính sách, trong đó tiếp tục tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT); giảm việc người dân phải tự đi mua thuốc để điều trị; tăng tỷ lệ chi trả BHYT cho người bệnh… Giải pháp mang tính quyết định là đổi mới phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT theo các phương thức chi trả: thanh toán theo phí dịch vụ, thanh toán theo định suất và theo trường hợp bệnh.

  • Trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 10/5/2017:

Quảng bá Việt Nam tại LHP Cannes

Chiều 9-5 tại TP.HCM, đại diện của Sở Du lịch TP.HCM, ông Bùi Tá Hoàng Vũ – giám đốc sở, bà Ngô Phương Lan – cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam và bà Lý Nhã Kỳ đã có buổi gặp gỡ truyền thông.

Buổi gặp này để thông tin về kế hoạch quảng bá hình ảnh TP.HCM và điện ảnh Việt Nam tại Liên hoan phim quốc tế Cannes lần thứ 70 sẽ diễn ra từ ngày 17 đến 28-5 tại TP Cannes, Pháp.

Được biết tại Cannes sẽ có ba pano quảng cáo gồm một bảng quảng cáo cho điện ảnh Việt với hình ảnh đặc sắc từ kỳ quan Sơn Đoòng, một trong những minh chứng sinh động nhất cho việc Việt Nam đang dần trở thành điểm đến của những đoàn làm phim quốc tế. Hai bảng quảng cáo còn lại là hình ảnh quảng bá cho du lịch TP.HCM.

Thông tin cho biết 3 pano này đều được đặt đối diện khách sạn Majestic – nơi lưu trú của những diễn viên, nhà làm phim Hollywood trong suốt thời gian diễn ra Liên hoan phim Cannes. Lý Nhã Kỳ cho biết cô sẽ tổ chức thêm 3 đêm tiệc riêng với những khách mời là các nhà đầu tư, sản xuất phim, các doanh nhân có tiếng trong giới sản xuất phim để tạo cơ hội tiếp xúc, trao đổi và hợp tác với Việt Nam.

Bà Ngô Phương Lan cho biết thêm điện ảnh Việt Nam cũng sẽ lần đầu tiên có một gian hàng giới thiệu tại Cannes, tạo điều kiện cho việc đầu tư, hợp tác với các nước. “Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức một đêm Việt Nam với tên gọi Việt Nam Night tại Cannes vào tối 20-5 nhằm giới thiệu các bộ phim mới của điện ảnh Việt. Thời điểm đó cũng sẽ diễn ra lễ ký kết hợp tác giữa Cục Điện ảnh và chủ tịch Trung tâm Điện ảnh quốc gia Pháp cho một số dự án hợp tác chính thức trong tương lai” – bà Ngô Phương Lan nói thêm.

Cũng tại Liên hoan phim quốc tế Cannes lần này, Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có 2 (trong tổng số 15) dự án phim được lựa chọn ở hạng mục The Cinefondation’s Atelier – một trong những hạng mục chính của Liên hoan phim quốc tế Cannes nhằm giúp các nhà làm phim trẻ, mới có cơ hội đổi đời với những tác phẩm độc đáo của họ. Đó là Culi không bao giờ khóc (Culi Never Cries) của Phạm Ngọc Lân và Vị (Taste) của Lê Bảo.  Dự án Người vợ ba của đạo diễn Nguyễn Phương Anh và nhà sản xuất phim Trần Thị Bích Ngọc cũng được mời đến Cannes bởi Quỹ hỗ trợ điện ảnh Hong Kong để gặp gỡ các nhà sản xuất tại đây.

Minh Trang

  • Trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 9/5/2017:

Cha cõng con đoạt thêm 3 giải ở LHP quốc tế

Vừa trở về sau một tháng ở Mỹ, đạo diễn Lương Đình Dũng cho biết tại Liên hoan phim (LHP) Arizona lần thứ 26 diễn ra ở nhà hát trung tâm thành phố Touson, Cha cõng con đoạt giải Phim truyện nước ngoài xuất sắc nhất (Best Foreign Feature) và giải Quay phim ấn tượng nhất (Special Jury Award for  Outstanding Cinematography) do ban giám khảo bình chọn dành cho nhà quay phim Lý Thái Dũng. Năm nay LHP quốc tế Arizona có 96 phim được gửi đến từ 20 quốc gia, diễn ra trong 12 ngày, từ 19 đến 30/4. Trúc đó tại LHP quốc tế Boston lần thứ 15 (từ ngày 13 đến 17/4), Cha cõng con đoạt giải Phim có cốt truyện hay nhất (Indie Spirit Best Story Line Award) – một trong những giải thưởng chính của LHP.

Chưa hết, đoàn làm phim vừa được thông báo bộ phim thắng giải Quay phim xuất sắc nhất (Best Cinematography) LHP quốc tế Milano lần thứ 17 của Ý. Giải thưởng này đã được ban tổ chức thông báo trên website của LHP diễn ra từ ngày 10/5 đến 10/6.

Như vậy, trước và sau khi ra rạp chiếu VN từ ngày 5/4, bộ phim có kinh phí sản xuất khoảng 18 tỉ đồng Cha cõng con đã giành được hơn 10 giải thưởng tại các LHP lớn nhỏ. Tới đây, phim được chọn chiếu và tranh giải tại LHP châu Á – Thái Bình Dương – châu Mỹ Latin lần thứ 17 diễn ra ở Washington DC (Mỹ) từ ngày 19 đến 21/5.

Danh Anh

  • Trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 7/5/2017:

Vĩnh biệt nhà thơ Việt Phương:

Một chút hư không một chút đầy

Ông nhiều năm là thư ký cho người đứng đầu Chính phủ và bất ngờ nổi tiếng về thơ từ thập niên 1970 khi đã mở trước và mở sớm, bằng ý nghĩ, cảm xúc và vần điệu cánh “cửa mở”, cho xã hội và cho thơ.

Ông là nhà thơ Việt Phương (1928-2017), vừa từ giã chúng ta vào ngày 6-5 tại Hà Nội.

Năm mới tặng ta điều gì mới / Hình như gió lộng thổi từ mây / Ta tặng điều gì cho năm mới / Một chút hư không một chút đầy.

Bây giờ thì ông đã về hư không, nhưng cõi thế vẫn còn một chút đầy ông để lại. Trong những bài thơ ông đã viết. Viết khi còn ở vị thế và tâm thế của một người làm chính trị, từng nhiều năm gần cận các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Viết khi đã về lại cuộc sống của một người bình thường, một người dân, trong “cõi nhân gian bé tí” như một nhà văn đã từng ngẫm ngợi. Và chính thơ đã cho ông một chút đầy để lưu lại dấu vết mình trong cuộc làm người 90 năm vào một thế kỷ khốc liệt của nhân loại ở nước Việt Nam nhiều biến động dữ dội. Để không tan biến vào chốn hư không mịt mù với những chức này tước nọ.

Thơ đã giúp một người có tên Trần Quang Huy trở thành nhà thơ Việt Phương sẽ còn được nhắc đến trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại với các tập thơ Cửa mở (1970), Cửa đã mở (2008), Bơ vơ đông đảo (2009) và Cỏ dọc đường trần (2010). Nhất là với tập Cửa mở – một hiện tượng văn học đột xuất ở thập niên 1970.

“Những khung cửa mở ngày mai” mà gần nửa thế kỷ trước ông đã mong muốn và dự báo, đó là làm sao cho ở cuộc sống này, trần gian này, con người được thực là con người. Bởi làm người thì “mặc kệ được sao một nỗi đau người” và gộp lại những nỗi đau người đó là “nỗi đau trái đất”. Hễ con người còn biết đau và đồng cảm nỗi đau người, chứ không bao giờ mặc kệ trước nỗi đau của đồng loại, thì hành tinh này, cuộc đời này còn đáng sống. Nhưng “trần ai hạnh phúc cái khi làm người”!

Cho nên trong tập thơ thứ hai có cái tên ngỡ trái ngược nhưng rất biện chứng tâm tình Bơ vơ đông đảo ông đã thổ lộ, bộc bạch, giãi bày những chiêm nghiệm và tình cảm của một người đã sống một đời thấy nhiều, hiểu nhiều, để cuối cùng ngộ ra “Có lẽ tôi đã làm xong việc sống hỏng đời mình”.

Ai có thể tự nhận và dám nhận đời mình được như nhà thơ này? Người đã biết từ sớm cái ý nghĩ “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ” là “Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”. Người về già vẫn đau đáu nỗi niềm thế sự đất nước, nhân dân. Thời gian, thời đại, thời cuộc đã chứng thực cho những câu thơ nói thật, nghĩ thật của nhà thơ: Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin/ Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả/ Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ/ Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn. Câu khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” của thời đổi mới đã được nói trước bằng thơ của Việt Phương.

Thơ đó sẽ thay ông hiện diện trong đời sống tinh thần của xã hội và của mọi người. Một chút đầy của ông sẽ làm đầy thêm một chút trong lòng những ai chia sẻ cùng ông cái đau, cái vui và lòng yêu này được ông viết thành thơ từ năm 1969: Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở/ Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi/ Ta vui lắm những niềm vui cởi mở/ Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi…

Phạm Xuân Nguyên

Việt Phương là một nhà nghiên cứu chính trị, kinh tế xuất sắc; một nhà thơ nổi tiếng, đi trước thời đại; một người đồng chí trung thực, tốt bụng, mẫu mực. Anh đã tham gia vào việc biên soạn hầu hết các nghị quyết về cải cách, có những đóng góp vô cùng lớn lao vào công cuộc đổi mới của đất nước

Tiến sĩ LÊ ĐĂNG DOANH (nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương)

  • Trang 5 báo Nhân Dân 3/5/2017:

Cấp cứu kịp thời một ngư dân bị hôn mê trên biển

Sáng sớm 2-5, tàu SAR412 của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực II (Trung tâm II) đã đưa ngư dân Đinh Văn Đán về tới cảng Đà Nẵng và chuyển thẳng đến Bệnh viện Đà Nẵng tiếp tục điều trị, hiện ngư dân này đã qua cơn nguy kịch.

Trước đó, khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 30-4, Trung tâm II tiếp nhận thông tin tàu QNa 91991 TS do ông Bùi Xuân Thành (trú xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng, trên tàu có thuyền viên tên Đinh Văn Đán, 50 tuổi bị ho, nôn ra nhiều máu; bệnh nhân lúc tỉnh, lúc mê man. Vị trí tàu có ngư dân bị nạn lúc đó ở phía Đông Nam quần đảo Hoàng Sa, cách Đà Nẵng khoảng 320 hải lý. Thuyền trưởng tàu QNa 91991 TS Bùi Xuân Thành yêu cầu cứu nạn khẩn cấp.

Ngay sau khi nhận được thông tin, Trung tâm II đã phối hợp với Trung tâm cấp cứu y tế 115 – Đà Nẵng tư vấn y tế cho bệnh nhân, hướng dẫn cho thuyền trưởng tăng hết máy chạy về bờ để kịp thời cứu chữa. Tuy nhiên, tình trạng bệnh nhân chuyển biến xấu nên tàu SAR412 nhận lệnh cứu hộ, cứu nạn khẩn cấp. Tàu SAR412 và một bác sĩ Trung tâm cấp cứu y tế 115 Đà Nẵng rời cảng Đà Nẵng lúc 11 giờ 40 phút, ngày 1-5. Đến 20 giờ cùng ngày, tàu SAR412 tiếp cận tàu QNa 91991 TS, các nhân viên cứu nạn và bác sĩ tiến hành cấp cứu cho bệnh nhân qua cơn nguy kịch ngay trên biển, sau đó tăng tốc đưa bệnh nhân về đất liền tiếp tục điều trị.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 3/5/2017:

Tổ chức Tết Lao động cho công nhân

Tại Khu du lịch Bửu Long, TP Biên Hòa (Đồng Nai) LĐLĐ tỉnh Đồng Nai vừa tổ chức phát động Tháng công nhân và Tết Lao động năm 2017. Hơn 5.000 công nhân đang làm việc trên địa bàn tỉnh đến dự.

Ngay sau lễ phát động, các hoạt động như: tư vấn sức khỏe, tư vấn pháp luật công nhân, hội thi “Văn nghệ công nhân viên chức tỉnh Đồng Nai năm 2017”… đồng loạt diễn ra và kéo dài đến hết ngày 1/5. Dịp này, công nhân tham gai các trò chơi dân gian, giao lưu văn nghệ với các ca sĩ, gửi thư công nhân kết bạn cùng công nhân, tham quan các gian hàng ẩm thực, mua hàng giá ưu đãi do chính các công đoàn cơ sở của các công ty tổ chức cho công nhân…

* Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Bùi Văn Cường cùng đại diện LĐLĐ thành phố Đà Nẵng vừa đến thăm hỏi một số công nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của Báo Lao Động tặng người lao động nghèo. Dịp này, đại diện LĐLĐ thành phố Đà Nẵng đến thăm hỏi, trao quà tặng một trường hợp công nhân bị tai nạn lao động nhưng vẫn nỗ lực làm việc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/5/2017:

Khách du lịch tăng mạnh trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5

Chiều 2-5, đại diện lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội cho biết, từ ngày 29-4 đến 2-5, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt 289.480 lượt khách, tăng 11% so cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó khách du lịch quốc tế đạt hơn 54 nghìn lượt, khách du lịch nội địa đạt khoảng 235,4 nghìn lượt. Tổng thu từ du lịch đạt 867 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ năm trước. Những địa chỉ thu hút đông khách du lịch gồm: khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Ba Vì, đền Ngọc Sơn, chùa Hương, làng cổ Đường Lâm… Dịp nghỉ lễ năm nay nằm trong khoảng thời gian thành phố triển khai “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2017 với chủ đề “Sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ thực phẩm tươi sống, an toàn; kiểm soát, phòng tránh ngộ độc rượu”, các cơ sở lưu trú du lịch có kinh doanh dịch vụ ăn uống đã tích cực hưởng ứng và không xảy ra sự cố mất an toàn vệ sinh thực phẩm đối với khách du lịch. Trong dịp nghỉ lễ, Sở Du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra đối với hoạt động hướng dẫn viên, lái xe, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy… Nhìn chung, các doanh nghiệp, các địa điểm du lịch đều thực hiện khá tốt.

* Dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5, tỉnh Điện Biên đã đón hàng chục nghìn lượt khách, trong đó riêng hai ngày 29 và 30-4 có hơn 20.000 lượt khách tham quan tại các điểm di tích thuộc Chiến trường Điện Biên Phủ. Để tăng cường phục vụ đợt cao điểm này, ngoài mười thuyết minh viên chính thức, Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ điều động thêm 15 cán bộ kiêm nhiệm, được đào tạo cơ bản tới các điểm di tích phục vụ du khách. Tại các điểm di tích như: Đồi A1, Hầm Đờ Cát, Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, luôn có từ ba đến năm thuyết minh viên tại mỗi điểm.

* Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai, lượng khách du lịch đến tỉnh trong bốn ngày nghỉ lễ 30-4 và 1-5 ước đạt gần 100.000 lượt người, khách quốc tế đạt hơn 8.000 lượt. Riêng thị trấn Sa Pa đón khoảng 74.000 lượt khách, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả cơ sở lưu trú tại Sa Pa cùng 117 nhà nghỉ homestay tại các thôn bản như Bản Hồ, Tả Van, Tả Phìn… của huyện Sa Pa đều sử dụng hết công suất. Khách đông nhưng giá cả tại các cơ sở lưu trú đều không tăng, thậm chí nhiều cơ sở kinh doanh còn giảm giá dịch vụ.

* Từ ngày 30-4 đến sáng 2-5, đã có khoảng 350.000 du khách đến với Đồ Sơn (Hải Phòng). Trong dịp này, Liên hoan du lịch “Đồ Sơn – Điểm hẹn du lịch 2017” được khai mạc, mở đầu cho mùa du lịch biển Hải Phòng năm 2017 bên cạnh các hoạt động như: giải bóng chuyền bãi biển và hội đua thuyền rồng trên biển, biểu diễn dù lượn… Tại Cát Bà, lượng khách cũng tăng mạnh song không có tình trạng đẩy giá dịch vụ lên cao do phần lớn khách đã đăng ký đặt phòng từ trước.

* Theo thông tin từ Sở Du lịch Quảng Ninh, trong bốn ngày nghỉ lễ vừa qua, ngành du lịch tỉnh đã đón 420.000 lượt khách, tăng 40% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khách lưu trú đạt 120 nghìn lượt, các khách sạn từ 3 đến 5 sao đạt công suất hơn 95%. Cùng thời gian, đã có 2.645 chuyến tàu xuất bến đưa hơn 71.500 lượt khách tham quan Vịnh Hạ Long, trong đó khách du lịch quốc tế đạt gần 26 nghìn lượt. Thành phố Móng Cái đón gần 50 nghìn lượt khách du lịch, tăng 15,3% so cùng kỳ, trong đó có khoảng 20 nghìn lượt khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái.

* Trong dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5, đã có hàng chục nghìn khách du lịch đến nghỉ dưỡng và tắm biển, thưởng thức hải sản tại các bãi biển: Cửa Lò (Nghệ An); Xuân Thành, Thiên Cầm, Thạch Hải, Thạch Bằng (Hà Tĩnh); Nhật Lệ, Bảo Ninh (Quảng Bình), Cửa Tùng, Cửa Việt (Quảng Trị). Riêng thị xã Cửa Lò đã đón hàng chục nghìn khách trong nước và quốc tế sau lễ khai mạc mùa du lịch hè 2017 “Cửa Lò – Hội tụ và tỏa sáng” kỷ niệm 110 năm đô thị du lịch biển Cửa Lò. Bãi biển Xuân Thành cũng đón số lượng khách tăng kỷ lục với hàng nghìn lượt. Riêng bãi biển Thạch Hải của Hà Tĩnh đã đón hơn bốn nghìn khách chỉ riêng trong ngày 30-4, trong đó có nhiều đoàn khách đến từ Hà Nội, Hải Phòng. Sôi động nhất trong dịp này là bãi biển Thạch Bằng khi đón hơn 20 nghìn khách du lịch đến nghỉ dưỡng, vui chơi. Dịp này, hai khu nghỉ dưỡng Vinpearl Hà Tĩnh (Ocean Villas) và Công viên nước (Vinpearlland Water Park) đã chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà. Đây là hai dự án do Vingroup đầu tư, trải dài trên bờ biển phẳng lặng với diện tích khoảng 31 ha. Vinpearl Hà Tĩnh đạt tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 5 sao lớn đầu tiên và lớn nhất của khu vực bắc miền trung.

* Hơn 100 nghìn lượt khách du lịch đã đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Quảng Bình, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm 2016. Tất cả các khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh đều kín phòng, nhất là các khách sạn từ ba sao trở lên. Nhiều điểm tham quan du lịch có lượng khách tăng cao như: động Thiên Đường, sông Chày – hang Tối, khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, biển Nhật Lệ – Bảo Ninh… Thông điệp “Biển đã sạch và an toàn” khiến du khách yên tâm đến nghỉ dưỡng tắm biển và thưởng thức đặc sản biển Quảng Bình trong dịp nghỉ lễ này.

* Từ ngày 30-4 đến 2-5, đã có 280.000 lượt khách du lịch đăng ký phòng và mua tua du lịch đến Huế; trong đó có 68.000 lượt khách nước ngoài, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường khách quốc tế đến Huế trong dịp này dẫn đầu vẫn là Hàn Quốc, Pháp, Mỹ, Anh, Thái-lan, Đức, Hà Lan, Ô-xtrây-li-a, I-ta-li-a, Ca-na-đa… Riêng Đại nội Huế đã đón từ 4.000 đến 9.000 khách tham quan vào các buổi tối. Trong dịp này, tỉnh đã tổ chức Festival Nghề truyền thống Huế 2017 với nhiều hoạt động, thu hút khách.

* Dịp nghỉ lễ vừa qua, tổng lượng khách tham quan, du lịch tại Đà Nẵng đạt 311.334 lượt, tăng 38,8% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách quốc tế đạt 84.556 lượt, tăng 91,2%, khách trong nước đạt 226.778 lượt, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2016. Lượng khách tăng do kỳ nghỉ lễ cũng là thời điểm khai mạc Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2017 với chương trình nghệ thuật đặc biệt cùng nhiều hoạt động phụ trợ thu hút đông khách du lịch trong nước và quốc tế đến Đà Nẵng. Khách quốc tế chủ yếu đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc.

* Theo Sở Du lịch Bình Định, tổng lượng khách đến Bình Định từ ngày 29-4 đến 2-5 đã đạt 14.000 lượt, tăng 18% so với cùng kỳ 2016. Khách chủ yếu đến nghỉ và tham quan quần thể du lịch FLC Quy Nhơn, các khu du lịch Hầm Hô Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung và Đàn tế Trời đất cùng các bãi biển Kỳ Co, Trung Lương – Cát Tiến, biển Nhơn Hải và các điểm du lịch khác.

* Nhiều người dân ở TP Hồ Chí Minh và những người ở các địa phương khác đến thành phố làm ăn, học tập đã chọn đi chơi xa hoặc về quê. Trong những ngày nghỉ lễ, thành phố không nhộn nhịp bằng những ngày bình thường; giao thông khá thông thoáng. Tuy vậy, các điểm vui chơi, giải trí quen thuộc của thành phố cũng đã thu hút khá đông người. Đại diện Ban Giám đốc Công viên Văn hóa Đầm Sen, quận 11, TP Hồ Chí Minh, cho biết, trong bốn ngày nghỉ lễ, khách đến tham quan và vui chơi tại Đầm Sen đạt khoảng 100 nghìn lượt, tương đương cùng kỳ năm 2016 và không xảy ra quá tải ở các khu vực vui chơi. Tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn, chỉ tính riêng trong hai ngày cao điểm 30-4 và 1-5 đã đón gần 80 nghìn lượt khách, tăng 30% so với dịp lễ năm ngoái, tương đương 21 nghìn lượt khách. Theo đại diện Khu du lịch Suối Tiên, dịp nghỉ lễ năm nay, lượt khách trong và ngoài nước đến Suối Tiên tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều nhất là du khách tại TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An, các tỉnh miền Tây Nam Bộ và du khách nước ngoài. Khu di tích địa đạo Củ Chi (huyện Củ Chi) cũng đón hơn 20 nghìn lượt khách; Khu du lịch sinh thái Rừng Sác Cần Giờ (huyện Cần Giờ) thu hút 16 nghìn lượt khách.

* Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ cho biết, trong bốn ngày nghỉ lễ, thành phố đón hơn 100.000 lượt khách, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khoảng 6.000 lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 30,5 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2016; trong đó, doanh thu lưu trú ước đạt 14,5 tỷ đồng và doanh thu từ các điểm tham quan ước đạt 16 tỷ đồng. Các khách sạn lớn từ 4 đến 5 sao hầu hết đã được đặt kín phòng, công suất phòng tại các cơ sở lưu trú bình quân trong các ngày nghỉ lễ đạt từ 90% trở lên.

* Do kỳ nghỉ lễ 30-4 và 1-5 năm nay gần với Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam cho nên đông đảo du khách từ khắp nơi trong, ngoài tỉnh và khách quốc tế đã đến An Giang tham quan vui chơi tại các khu điểm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh. Bình quân mỗi ngày, tỉnh thu hút hơn 30.000 lượt du khách, số lượng du khách tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước và tăng hơn 50% so với ngày thường. Du khách chủ yếu đến viếng Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (TP Châu Đốc), hành hương lên Núi Cấm, tham quan rừng tràm ngập nước Trà Sư (huyện Tịnh Biên), thăm di tích văn hóa lịch sử Đồi Tức Dụp, khu du lịch nhà mồ Ba Chúc (Tri Tôn),..

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/5/2017:

Hà Nội khai trương Phố Sách

 

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/5/2017:

Khai mạc Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2017

Tối 30-4, tại TP Ðà Nẵng, khai mạc Lễ hội pháo hoa quốc tế Ðà Nẵng – DIFF 2017, do Tập đoàn Sun Group tổ chức. Tham dự, có các đồng chí lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và địa phương, lãnh đạo TP Ðà Nẵng, khách mời quốc tế cùng đông đảo người dân và khách du lịch.

Trong đêm khai mạc, hai đội pháo hoa nghệ thuật của Việt Nam và Vương quốc Áo có màn trình diễn ấn tượng trên nền nhạc truyền thống của đất nước mình. Các nghệ sĩ đã giới thiệu đến công chúng những tiết mục ca múa nhạc đặc sắc, như Việt Nam trên đường chúng ta đi, Hello Vietnam,…; trình diễn kèn sừng, cờ,… (Vương quốc Áo).

Lễ hội pháo hoa quốc tế Ðà Nẵng 2017 thu hút tám đội dự thi, gồm nước chủ nhà Việt Nam và các nước: I-ta-li-a, Áo, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Ô-xtrây-li-a, Thụy Sĩ. Khác với những năm trước, các màn trình diễn pháo hoa năm nay được tổ chức trong năm đêm: 30-4, 20-5, 27-5, 3-6, 24-6; với các tên gọi: Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Mộc; xoay quanh chủ đề “Tỏa sáng Ngũ Hành Sơn”. Theo Ban tổ chức, đã có 22 nghìn vé được bán ra trong đêm khai mạc.

  • Trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 30/4/2017:

Cùng tôn vinh chiếc áo dài

Áo dài – nón lá – cầu Trường Tiền là “bộ nhận diện thương hiệu” của Huế. Theo Minh Hạnh, đó cũng là nơi đầu tiên tổ chức “lễ hội áo dài” vào Festival Huế 2002 và cũng lần đầu tiên sàn diễn thời trang là một chiếc cầu (Trường Tiền). Sau 15 năm, chiếc cầu lịch sử này trở lại với lễ hội áo dài. Lần này, đạo diễn Minh Hạnh chỉ lấy một vài nhịp cầu đầu tiên phía bờ nam và đường dẫn vào cầu để làm sàn diễn, trang trí bằng thảm hoa vàng và nón lá treo trên vài nhịp cầu. Toàn bộ phần cầu còn lại phía sau là nền của sân khấu. 120 người mẫu cả nước cùng trình diễn với 120 người mẫu là học sinh, sinh viên, các chị, các dì, các mệ Huế. Tất nhiên, trên sân khấu Trường Tiền đó không thể thiếu chiếc xe đạp và xích lô vẫn đều đặn mỗi ngày chở những tà áo dài thướt tha qua cầu.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 30/4/2017:

Phiên chợ “về với cao nguyên Mộc Châu”

Sáng 29-4, phiên chợ vùng cao phía bắc với chủ đề “Về với cao nguyên Mộc Châu” đã khai mạc tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội). Trong số hơn 50 gian hàng tham gia, có 18 gian hàng giới thiệu sản vật đặc trưng của đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La làm điểm nhấn, tái hiện không gian văn hóa đậm sắc mầu các dân tộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc. Các gian hàng kết hợp giữa không gian hội xuống chợ, vui chơi gắn với các hoạt động dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian, không gian ẩm thực, sản vật đậm sắc mầu các dân tộc Mông, Dao, Thái, Mường, Khơ Mú, Tày… Phiên chợ diễn ra hết ngày 2-5.

Triển lãm ảnh “Trên mọi nẻo đường Tổ quốc”

Tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội vừa khai mạc Liên hoan ảnh nghệ thuật các CLB Nhiếp ảnh Hà Nội “Trên mọi nẻo đường Tổ quốc”. Triển lãm đã nhận được hơn 1.900 tác phẩm của 282 tác giả gửi đến từ 16 CLB; trong đó hơn 60% là tác giả trẻ; 130 ảnh được chọn trưng bày. Các tác phẩm đi sâu khám phá nhiều đề tài phong phú, đa dạng; phản ánh vẻ đẹp cuộc sống, con người và đất nước trong hành trình phát triển, hội nhập. Hội đồng giám khảo chọn trao giải cho 16 tác phẩm xuất sắc, gồm: một giải nhất cho tác phẩm “Lắp thiết bị tổ máy số 3 thủy điện Lai Châu” của Nguyễn Tất Lộc; hai giải nhì cho các tác phẩm “Hạnh phúc” của Hoàng Phương và “Đan đó” của Nguyễn Tiến Dũng; ba giải ba và 10 giải khuyến khích.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 5/5/2017:

Đình chỉ hoạt động Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng Tây Nguyên

Ngày 4-5, Văn phòng UBND tỉnh Đác Nông cho biết, vừa ký ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đình chỉ hoạt động đối với Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng Tây Nguyên, đặt tại thôn Phú Sơn, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đác Nông.

Theo quyết định, Nhà máy bị phạt vi phạm hành chính tổng số tiền là 210 triệu đồng. Trong đó phạt 140 triệu đồng đối với hành vi không vận hành thường xuyên công trình bảo vệ môi trường theo quy định, phạt 70 triệu đồng đối với hành vi không đăng ký nguồn chất thải nguy hại theo quy định. Bên cạnh đó, Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng Tây Nguyên còn bị đình chỉ hoạt động trong thời gian ba tháng để khắc phục các hành vi vi phạm.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 6/5/2017:

Cung cấp thông tin cho các tổ chức tôn giáo về nghi phạm Nguyễn Hữu Tấn

Chiều 5-5, Ủy ban MTTQ tỉnh Vĩnh Long phối hợp Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Công an tỉnh chính thức cung cấp thông tin tới đông đảo thành viên MTTQ tỉnh, các tổ chức tôn giáo trên địa bàn về vụ việc nghi phạm Nguyễn Hữu Tấn (SN 1979, ngụ tổ 7, khóm 2, phường Thành Phước, thị xã Bình Minh) tự sát trong Trại tạm giam của Công an tỉnh Vĩnh Long.

Ðại tá Phạm Văn Ngân, Phó Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Long đã thông tin vụ việc, phát hình ảnh do ca-mê-ra an ninh ghi lại việc nghi phạm Nguyễn Hữu Tấn tự sát, không bị đánh đập hay dùng nhục hình. Công an tỉnh Vĩnh Long cũng đã mời gia đình Nguyễn Hữu Tấn trực tiếp đến xem hình ảnh về quá trình nghi phạm tự sát; chứng kiến quá trình khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường. Phó Trưởng Ban đại diện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Văn Nhanh cho biết: Hình ảnh ghi lại từ ca-mê-ra cho thấy Nguyễn Hữu Tấn đã cầm dao tự sát. Phật giáo Hòa Hảo tỉnh Vĩnh Long sẽ quán triệt, tuyên truyền, vận động các ban thờ tự cơ sở, tín đồ địa phương có ý thức chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, tránh những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ xấu…

Tại buổi cung cấp thông tin, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Vĩnh Long Lê Quang Ðạo cho biết: Hiện, trên nhiều trang mạng xuất hiện thông tin sai lệch về vấn đề này. Các tổ chức tôn giáo cần tích cực tuyên truyền, vận động tín đồ, người dân hiểu đúng bản chất sự việc, không nghe theo những luận điệu xuyên tạc, tránh bị kẻ xấu lợi dụng…

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 10/5/2017:

Bình Thuận hủy 15 văn bản sử dụng con dấu không đúng

Ngày 9-5, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận Nguyễn Ngọc Hai đã ký Văn bản số 1675/UBND-NC chỉ đạo việc xử lý sử dụng con dấu của UBND thành phố Phan Thiết.

Theo đó, qua rà soát 1.530 văn bản trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng cơ bản do UBND và Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết ban hành trong năm 2016; kiểm tra 13 hồ sơ công trình đầu tư, xây dựng cơ bản có liên quan đến các văn bản có sử dụng con dấu mới, Đoàn kiểm tra đã phát hiện 15 văn bản sử dụng con dấu mới không đúng thời điểm mà con dấu này có hiệu lực sử dụng, gồm 13 quyết định và hai công văn. Tất cả các văn bản này đều được đóng con dấu mới từ ngày 30-3 đến 8-11-2016, trong khi con dấu mới có hiệu lực từ ngày 23-11-2016. Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết chấn chỉnh công tác văn thư theo đúng quy định; tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc để xảy ra những thiếu sót.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 10/5/2017:

Khởi tố vụ án tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại Gia Lai

Ngày 9-5, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai cho biết, vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra sáng sớm 7-5-2017, khiến 13 người chết, 32 người bị thương. Bên cạnh đó, cơ quan Công an đang trưng cầu giám định mẫu máu của lái xe tải, nhằm tiếp tục làm rõ vụ án. Trước đó, trong lần kiểm tra nhanh, mẫu máu của lái xe này âm tính với chất ma túy.

Trung tá Trần Ngọc Anh, Trưởng phòng Tham mưu tổng hợp Công an tỉnh Gia Lai cho biết, sau khi có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Gia Lai sẽ tiếp tục tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, mở rộng điều tra để làm rõ vụ việc. Đến thời điểm hiện nay, có sáu trong 32 nạn nhân bị thương đã xuất viện, 13 nạn nhân bị chết đã xác định được danh tính và bàn giao gia đình đưa về quê mai táng. Riêng lái xe tải Võ Văn Quý vẫn trong tình trạng nguy kịch; được các y, bác sĩ Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai theo dõi, cứu chữa.

  • Trang 8 báo Tuổi Trẻ ngày 10/5/2017:

Ngăn chặn 1.500 clip xấu độc trên Youtube

Theo thông tin từ Bộ TT-TT, Google đã ngăn chạn khoảng 1.500 clip có nội dung xấu độc trong tổng số hơn 2.300 clip do cơ quan chức năng Việt Nam thông báo với Google thời gian qua.

Từ kết quả rà soát của Cục Phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử (Bộ TT-TT) có hơn 8.000 video clip có nội dung phản động, độc hại đã được 15 kênh và tài khoản cá nhân đưa lên trang mạng Youtube thông qua dịch vụ quảng cáo của Google.

Từ tháng 2/2017 tới nay, các cơ quan chức năng đã phối hợp với Google và Facebook nhằm ngăn chặn những thông tin xấu độc tại các clip trên Youtube, tài khoản giả mạo, page… có nội dung kích động bạo lực, chống phá Nhà nước, bôi nhọ tổ chức, cá nhân… tại Việt Nam.

T.Hà

  • Trang 5 báo Nhân Dân 10/5/2017:

Đà Nẵng thành lập văn phòng giám sát an toàn thực phẩm

Chiều 9-5, UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức ra mắt Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm TP Đà Nẵng. Văn phòng được thành lập nhằm theo dõi, nắm chắc các hoạt động về lĩnh vực an toàn thực phẩm; tiếp nhận thông tin của các tổ chức, cá nhân về tình hình an toàn thực phẩm, tham mưu Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) thành phố xử lý kịp thời các tình huống xảy ra… Được biết, trong bốn tháng đầu năm 2017, các đoàn kiểm tra liên ngành Đà Nẵng đã tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát đột xuất việc chấp hành pháp luật về ATVSTP, qua đó, đã phát hiện, xử phạt nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm.

Quảng Ninh phạt hai doanh nghiệp vi phạm các quy định về môi trường

Ngày 9-5, UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, cơ quan này đã ra quyết định xử phạt hai doanh nghiệp đối với Công ty CP Xi măng Thăng Long (huyện Hoành Bồ) và Công ty CP Giải trí quốc tế Lợi Lai (TP Móng Cái) vì đã vi phạm các quy định về lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường.

Cụ thể, Công ty CP Xi măng Thăng Long đã bị phạt 170 triệu đồng do khai thác khoáng sản vượt ra ngoài phạm vi được phép khai thác (vượt 10% tổng diện tích); xử phạt 8 triệu đồng do chiếm đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất.

Theo đó, Công ty CP Xi măng Thăng Long phải thực hiện các giải pháp đưa khu vực khai thác lấn chiếm về trạng thái an toàn. Đồng thời, buộc phải khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm và trả lại diện tích 2,8ha tại thôn Yên Mỹ, xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ mà Công ty đã lấn chiếm.

Trước đó, ngày 5-5, UBND tỉnh Quảng Ninh cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Công ty CP Giải trí quốc tế Lợi Lai 280 triệu đồng vì đã xả thải ô nhiễm vào nguồn nước sông Ka Long.

Theo kết quả quan trắc môi trường của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường, các chỉ tiêu amoni và coliform có trong nước thải sau xử lý của Công ty CP Giải trí quốc tế Lợi Lai xả thải ra sông Ka Long vượt quy chuẩn cho phép theo QCVN 14:2008/BTNMT-Quy chuẩn quốc gia về nước thải sinh hoạt, trong đó chỉ tiêu amoni vượt 2,06 lần, coliform vượt 28 lần.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 5/5/2017:

Nghi phạm chết trong trại tạm giam là do tự sát

Chiều 4-5, UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức họp báo, cung cấp thông tin chính thức vụ việc nghi phạm Nguyễn Hữu Tấn (sinh năm 1979, ngụ tổ 7, khóm 2, phường Thành Phước, thị xã Bình Minh) dùng dao tự sát trong Trại tạm giam của Công an tỉnh Vĩnh Long.

Tại buổi họp báo, Phó Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Long Phạm Văn Ngân khẳng định, nghi phạm Tấn chết trong trại tạm giam là do dùng dao rọc giấy để tự sát. Trước đó, ngày 2-5, Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Tấn để điều tra về hành vi tán phát tài liệu chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, được quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự.

Cơ quan An ninh điều tra dẫn giải đối tượng về cơ quan công an để làm việc. Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 3-5, tại cơ quan công an, trong lúc làm việc, Tấn đề nghị điều tra viên cho xin một điếu thuốc để hút, sau đó xin nước để uống. Lợi dụng lúc cán bộ điều tra vừa ra khỏi phòng, đối tượng đã lục tìm con dao rọc giấy được cất trong cặp riêng của cán bộ điều tra (dùng để cắt niêm phong vật chứng khi làm việc) để tự sát bằng cách tự cắt mạch máu hai bên cổ.

Công an tỉnh đã thông báo, mời cha và vợ Nguyễn Hữu Tấn đến, dự khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, sau đó hỗ trợ khâm liệm và đưa thi thể về thị xã Bình Minh tổ chức tang lễ. Hiện, Công an tỉnh Vĩnh Long tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Hoàng Học đề nghị các cơ quan báo chí thông tin về tình hình vụ việc một cách kịp thời, khách quan, trung thực, chính xác để người dân biết, hiểu đúng bản chất vụ việc, tránh bị lợi dụng, xuyên tạc, kích động những hành vi trái pháp luật.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/4/2017:

Tạm dừng thi công dự án khu du lịch New City Việt Nam

Chiều 29-4, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên Đào Mỹ cho biết, UBND tỉnh đã yêu cầu tạm dừng thi công xây dựng tại công trường dự án khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam cho đến khi có ý kiến chính thức của Thủ tướng Chính phủ. UBND tỉnh giao Công ty TNHH New City Việt Nam là chủ đầu tư dự án, có trách nhiệm phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Yên hoàn thành các thủ tục pháp lý liên quan hồ sơ đánh giá tác động môi trường, làm cơ sở để triển khai các bước tiếp theo; đồng thời khẩn trương hoàn chỉnh các thủ tục còn lại của dự án, như hồ sơ quy hoạch chi tiết, hồ sơ thiết kế cơ sở…

Liên quan vụ việc trên, Báo Nhân Dân số ra ngày 21-4 đã đăng bài “Chưa hoàn thành thủ tục, đã phá rừng làm dự án du lịch”, phản ánh việc tỉnh Phú Yên cho đốn hạ, san ủi hàng chục héc-ta rừng phi lao phòng hộ ở ven biển tại xã An Phú (TP Tuy Hòa) để làm dự án khu du lịch cao cấp New City Việt Nam. Đến nay, diện tích rừng phòng hộ này chưa được Thủ tướng chuyển mục đích sử dụng, tỉnh chưa giao đất cho nhà đầu tư, dự án chưa được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 30/4/2017:

Xử phạt hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề

Ngày 29-4, Thanh tra Sở Du lịch Quảng Ninh tiến hành kiểm tra 12 trường hợp hướng dẫn viên các đoàn khách du lịch quốc tế tại Cảng tàu du lịch quốc tế Tuần Châu; phát hiện, lập biên bcùngản vi phạm hành chính đối với ông Hán Văn Thần (địa chỉ thường trú TP Hồ Chí Minh) khi đang hướng dẫn đoàn khách Đài Loan (Trung Quốc) về hành vi không có thẻ hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề. Đơn vị tổ chức tua là Công ty TNHH du lịch và thương mại Sang Trọng, có địa chỉ tại quận Đống Đa, Hà Nội. Sở Du lịch Quảng Ninh cũng kiến nghị Tổng cục Du lịch xem xét, rút giấy phép kinh doanh du lịch lữ hành quốc tế của công ty này.

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.