Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 14, 2017

Phạm Quỳnh – Nhà văn hóa kiệt xuất

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:50 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 11 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp chí

PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

NGUYỄN PHÚC VĨNH BA

(Bài thu từ tapchisonghuong.com.vn lúc 8:49 ngày 16/8/2017)

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Đó là câu nói hàm súc và hay nhất khi đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật lớn lao của tác phẩm này từ một học giả Việt Nam.

Phạm Quỳnh – Nhà văn hóa kiệt xuất

Di ảnh cụ Phạm Quỳnh treo tại chùa Vạn Phước

Câu nói này không những bao hàm một am hiểu sâu xa, một nhìn nhận nghệ thuật về Truyện Kiều – một áng văn chương tuyệt tác có một không hai của nền văn học nước ta – mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ và sâu sắc. Trong câu nói này, ta còn thấy được người phát ngôn đã đánh giá cao và đúng vai trò của văn hóa, nhất là văn học trong sự sống còn của một tộc người sống trong nền văn hóa đó. Ta có thể rút ra nhiều điều bổ ích nữa từ quan điểm này trong thời kì hiện nay lúc mà đang có rất nhiều lời kêu gọi giữ gìn bản sắc dân tộc trước cao trào hội nhập và toàn cầu hóa. Vì sao Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn? Vì sao tiếng ta còn thì nước ta còn? Đó là những vấn đề rất thời thượng. Nhưng trước hết, học giả này là ai?

  1. Sơ lược thân thế Phạm Quỳnh

Ông là Phạm Quỳnh, Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, sau đó Thượng thư Bộ Học rồi Bộ Lại trong Cơ Mật Viện của triều Bảo Đại cho đến khi Nhật đảo chánh Pháp tháng 3/1945. Phạm Quỳnh sinh năm 1892 tại Hà Nội, quê quán làng Thượng Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng mà chúng ta đã biết như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm Thị Ngoạn(1).

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, ông Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Thông ngôn Hà Nội (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương tạp chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút: Tạp chí Nam Phong.

Năm 1922 Phạm Quỳnh được chọn làm Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức nhưng qua đầu năm 1925 ông ly khai với Hội, không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa. Cũng trong năm 1922 ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai trí Tiến Đức tham dự hội chợ triển lãm Marseille. Trong thời gian 3 tháng ở lại Paris ông đã diễn thuyết nhiều lần ở Nghị viện Pháp và Ban Chính trị và Luân lí của Viện Hàn lâm Pháp quốc. Tháng 11 năm 1932 ông vào Huế để tham chính, lãnh chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, Thượng thư Bộ Học rồi Thượng thư Bộ Lại. Năm 1939, ông lại một lần nữa đi Pháp với vua Bảo Đại để điều đình với Chính phủ hầu mong lấy lại Bắc kỳ cho triều đình Huế. Kể từ khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời ông rút khỏi chính trường và có ý định trở lại nghiệp cũ.

Phạm Quỳnh để lại cho đời “Thượng Chi văn tập”, tuyển tập các bài viết rất có giá trị của một nhà báo được xếp vào lớp tiền phong của nền báo chí nước ta, và một số lượng các bài báo khác đã đăng tải trên Đông DươngNam Phong tạp chí. Trong thời kì phôi thai của chữ quốc ngữ, không mấy ai có thể quên được sự đóng góp của ông và các học giả như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật,… những người đồng thời với Phạm Quỳnh và cộng tác với ông trong Nam Phong tạp chí.

  1. Phạm Quỳnh làm báo

Khi làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1917 – 1934, lúc vừa 25 tuổi, ông chủ trương thuyết lập hiến, tiếp thu văn hóa phương Tây để nâng cao dân trí và lần hồi giành lại chủ quyền tự trị đất nước dựa vào hiệp ước Harmand 1883 và hiệp ước Patenôtre 1884 (tức là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp). Phạm tiên sinh đã đặt tên báo dựa vào bài phong dao (tương truyền do vua Thuấn sáng tác) trong Kinh Thi: “Nam Phong ca”:

Nam Phong chi huân hề          南 風 之 薰 兮

Khả dĩ giả ngô dân chi uẩn       可 以 解 吾 民 之 慍

Nam phong chi thời hề            南 風 之 時 兮

Khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề   可 以 阜 吾 民 之 財 兮

Dịch thơ:

Gió Nam mát mẻ vậy thay

Giải tan sầu muộn bao ngày của dân

Gió Nam thổi đúng lúc cần

Sẽ mang phú quý cho dân lâu dài.

                   (Bản dịch của Vĩnh Ba)

Qua bài thơ ta thấy được khát vọng của một nhà làm văn hóa hay tâm tình của một trí thức Tây học trong một thời kì đầy khó khăn của đất nước ta. Vậy “Gió Nam” là gì mà lại đem đến cho nhân dân một ơn ích lớn lao như thế? Theo Phạm Quỳnh, “Gió Nam” chính là nền quốc văn làm nền tảng cho nền quốc học của dân tộc Việt Nam. Ông viết, “Không có quốc văn thì không thể nào có quốc học. Không có quốc học thì không thể nào có độc lập tinh thần. Không có độc lập tinh thần thì không có độc lập chính trị.”(2)

Trong bài viết “Quốc học và Chính trị” trên Nam Phong số 165/1921 ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy… Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.” Nay chúng ta có một nền quốc văn không thua kém gì ai thì xét trong buổi đầu mới manh nha của chữ quốc ngữ, của nền báo chí và của văn học viết, há không trân trọng sự đóng góp của Phạm tiên sinh sao?

Về điều này, Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đã nhìn nhận: “Cái công của Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ… Trong 16 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến… Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết Cổ La-Hy, chỉ đọc Nam Phong là có thể hiểu biết được…” (tr. 134, 136 tập 4, Nxb. Hội Nhà văn).

Tuy nhiên, ta cũng cần biết nền quốc học đó đã được xây dựng trên quan điểm nào? Trên hoành phi còn lại hiện nay ở chùa Vạn Phước, Huế, ta còn có thể thấy thủ bút 4 chữ “Thổ nạp Âu Á” 吐 納 歐 亞 của chính Phạm tiên sinh. Thổ nạp Âu Á là nhả ra những cái lạc hậu cũ và thu nhập vào những tinh hoa của văn minh phương Tây và phương Đông. Bốn chữ này có thể xem là bao quát được quan điểm của tạp chí Nam Phong, chỉ ra phương hướng xây dựng nền quốc học theo ý đồ của Phạm Quỳnh.

Bút hiệu Thượng Chi của ông, theo giáo sư Tôn Thất Quỵ, là trích từ ba câu trong bài thơ “Trữ”, thiên Tề Phong, Kinh Thi cũng nói lên cái ý trên:

Thượng chi dĩ quỳnh hoa hồ nhi  尚 之 以 瓊 華 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh hoa che khuôn mặt (xinh đẹp của cô gái – người viết thêm).

Thượng chi dĩ quỳnh vinh hồ nhi  尚 之 以 瓊 榮 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh vinh che mặt)

Thượng chi dĩ quỳnh anh hồ nhi  尚 之 以 瓊 瑛 乎 而

(Lại có thêm đá quỳnh anh che mặt)

Thượng Chi có nghĩa là lại có thêm, cần có thêm tức thu nhập thêm những cái hay đẹp của các nền văn minh khác (các loại đá quỳnh – Quỳnh cũng là tên của ông, một cách chơi chữ tế nhị) bên cạnh bản sắc dân tộc đáng quý của chúng ta (khuôn mặt xinh đẹp của cô gái).

Chính Phạm Quỳnh đã nói đến cái bản sắc dân tộc đó trong một bài diễn văn trước mặt thực dân Pháp tức Ban lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp: “Chúng tôi là một nước có một nền văn hóa cũ, chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng có thể viết gì lên cũng được. Tức là tờ giấy có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ thuở nhỏ cho đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay kết quả chỉ làm người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hóa được Tây, hẳn thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.”(3)

Lần khác ông đã dám đứng trước Nghị Viện Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một cuốn sách dầy đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hằng mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của người Pháp kia.”(4) Quả là những lời diễn thuyết hùng hồn và sâu sắc vô cùng của một chiến sĩ tràn trề tình yêu đất nước trên mặt trận văn hóa.

Truyện Kiều mà Phạm tiên sinh đề cập đến trong câu nói thời danh trên của ông chẳng qua là một biểu tượng của nền văn hiến mấy ngàn năm của dân tộc ta, là bản sắc dân tộc quý giá mà muôn đời trước cha ông ta để lại được thể hiện qua thành tựu văn học. Nó thể hiện đỉnh cao của nền thi ca dân tộc mà thông qua đó ngôn ngữ, cách diễn đạt, tầm hiểu biết, trình độ cảm nhận của một tộc người đã bộc lộ. Rất nhiều điển cố, hình tượng văn học, thi ca ngôn ngữ Trung Quốc được Việt hóa thành một vốn liếng văn hóa cho ta bên cạnh bản sắc riêng của dân tộc ta. Ta giữ được vốn liếng văn hóa tập quán đáng quý của cha ông qua yêu thích, trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu Truyện Kiều thì còn tiếng nói, còn dân tộc giống nòi, đó là một lẽ tất nhiên mà ai ai cũng nhận ra. Tiếc thay vì bất đồng quan điểm chính trị khiến cuộc bút chiến Truyện Kiều đã xảy ra giữa các sĩ phu yêu nước thời đó. Bình tâm mà xét, ta thấy rằng Phạm tiên sinh rõ ràng muốn xây dựng và phát triển một nền quốc học dựa trên bản sắc tốt đẹp của dân tộc và có tiếp thu tiến bộ của cộng đồng nhân loại. Điều quan trọng hơn như ta đã thấy qua một số trích dẫn trên rằng cái mục tiêu cuối cùng Phạm Quỳnh tiên sinh muốn nhắm đến là một nền độc lập chính trị cho một quốc gia có dân trí.

  1. Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí với hơn 210 số, mỗi số hơn 400 trang là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ. Tạp chí Nam Phong mỗi tháng xuất bản một kỳ, giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh ấn quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội.(5) Tiền thân của Nam Phong tạp chí chính là “Âu châu chiến sử” viết bằng Hán tự được Phủ Toàn quyền Pháp xuất bản và phát không tại Trung Quốc nhằm chống lại thế lực và tố cáo tội ác của phát xít Đức. Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác đã viết cho báo này. Về sau Phủ Toàn quyền bàn với ông mở ra một bản tiếng Việt nên Nam Phong mới xuất hiện. Phạm tiên sinh đã nói rõ ý đồ của ông khi nhận làm Nam Phong như sau:

“Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…”.(6)

Theo nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ trong “Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên”, tập III tr. 129 thì đối với Phạm Quỳnh, việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ từ ngày viết trên Đông Dương tạp chí, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa một nền học thuật mới thay thế cho Hán học suy tàn. Luôn thể Phạm Quỳnh muốn dần dà gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hóa. Ngày nay “Thượng Chi văn tập” và “Du ký Việt Nam”, “Luận giải Văn học Triết học” v.v, đã được tái bản có thể giúp ta thấy được sự nghiệp to tát của Nam Phong tạp chí. Thượng Chi Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đã phần nào thực hiện được cái tôn chỉ mà tờ báo đã đề ra: xây dựng một nền quốc văn khá vững vàng mang bản sắc dân tộc. Trong Tự điển Văn học Việt Nam (Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1993) Phạm Quỳnh lại có tên bên cạnh các tác giả khác. Điều đó cho thấy nay ông đã được công nhận trở lại là một danh nhân văn hóa Việt Nam.

Phạm Thượng Chi tiên sinh cũng như bao nhà yêu nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 đều biết rằng dân trí của ta đương thời còn lạc hậu. Nền Hán học đã bộc lộ sự bất lực của mình trước nền văn minh kĩ thuật phương Tây ngày càng tiến bộ. Ngay cả ở Trung Quốc các chí sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… đều từ bỏ chế độ phong kiến quân chủ để tìm đến các lí tưởng nhân quyền, dân chủ và tự do mà các triết gia phương tây như Montesquieu, Voltaire, J.Rousseau,… đề xướng. Nhưng để tiếp thu được các tư tưởng tiến bộ phương Tây và bảo thủ được cái quốc hồn quốc túy thì không thể không xây dựng một vốn liếng ngôn ngữ Việt Nam nhằm diễn đạt các tư tưởng mới mẻ đó. Quả nhiên trong lãnh vực này Nam Phong đã đóng một vai trò quan trọng. Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đã nhận xét: “Ông là người đã chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được.” (tr.98, tập 4, Nxb. Hội Nhà văn).

Có thể nói Phạm Quỳnh đã tiếp nối con đường được mở ra trước đó của Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông cùng quan điểm với cụ Phan Tây Hồ khi chọn con đường nâng cao dân trí, khai hóa cho đồng bào và đấu tranh bất bạo động. Trước khi rời Nhật Bản về nước, cụ Phan Chu Trinh đã tâm sự với các đồng chí trong phong trào Duy Tân: “Tôi có định kiến rồi, công việc chúng ta làm ngày nay chỉ nên chú trọng vào việc khai hóa cho đồng bào mình, tiến được bước nào chắc bước ấy, mới mong có hy vọng về sau. Còn như chủ nghĩa muốn làm mau, muốn lấy võ lực mà bạo động trong nước hay là sức người để nối quân cách mệnh, việc ấy tất nhiên phải thất bại, tiếp đến dân bị khủng bố, nhuệ khí bị nhụt đi. Không có ích gì, tôi không tán thành cái chủ trương ấy”.(7)

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã tóm tắt sự nghiệp văn hóa của Phạm Thượng Chi tiên sinh như sau:

* Tác phẩm:

– Văn dịch: Phương pháp luận (Descartes), Sách cách ngôn (Epictète), Đời đạo lí (P.Carton), Le Cid, Horace (Corneille), Thơ của Baudelaire, Tư tưởng của Barrès, Le Bon, Maurras,…

– Khảo luận: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lí học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết của J.J. Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Triết học của Auguste Comte, Triết học của H. Bergson, Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của P. Bourgel, H. Bordeaux, G. de Maupassant, Afred de Vigny, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn.

– Văn du ký: Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ, Pháp du hành trình ký, Thuật truyện du lịch Paris, Du lịch xứ Lào. (Sđd tr. 134).

* Công nghiệp:

– Ông đã đấu tranh cho câu văn quốc ngữ. (Học tiếng Việt, viết văn quốc ngữ, luyện văn xuôi, văn nghị luận, dùng Hán Việt âm,…).

– Ông đã khởi công xây dựng một nền học mới. (Học tập thâu thái Tây Phương, soạn Tự điển, phiên dịch sách vở nước ngoài,…).

– Ông đã cùng giúp cho văn nghệ tiến bộ. (Mở ra các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… còn giá trị đến ngày nay.).

– Ông đã lập được một tạp chí có giá trị: Nam Phong tạp chí. Theo nhà phê bình Thiếu Sơn “nhiều người không biết văn Tây văn Tàu có thể chỉ nhờ đọc Nam Phong mà có được cái trí thức phổ thông về văn chương và học thuật Đông Tây” hay nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn Hiện đại” đó là một “bách khoa toàn thư” (Sđd tr.244 – 247).

Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, Thế hệ 1932 đã viết: “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 -1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hóa thế hệ 1913 – 1932. Câu nói trên đây quả không phải là quá đáng. Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919 – ghi chú của người viết) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đem đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 – 1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. Nói như vậy để các bạn ghi nhận thế giá và uy tín của Nam Phong nó to tát đến như thế nào. Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.” (Sđd tr.16-17). Dẫu đây là một ý kiến có phần chủ quan nhưng Thanh Lãng cũng đã cho ta thấy được sự đóng góp có một không hai trong thời kì đầu của công cuộc phát triển nền quốc văn nước ta.

Quả nhiên, Phạm Quỳnh đã thực hiện được ước nguyện của mình với Nam Phong tạp chí. Ông đã tập hợp được một số trí thức tân học và cựu học để xây dựng một nền quốc học, tạo được một cao trào nâng cao dân trí sôi nổi, gây được một thế lực dân tộc khá mạnh. Ta không nên hiểu những thành tựu của Nam Phong tạp chí là của riêng Phạm Quỳnh mà là dưới sự dẫn dắt lèo lái tài ba của ông. Một lớp thanh niên đông đảo đã hưởng được ơn ích từ sự mở mang từ kiến thức đến tinh thần qua đọc báo Nam Phong, làm cơ sở cho phát triển nền văn chương học thuật sau này. Để hiểu rõ hơn đóng góp của tạp chí Nam Phong trong thời kỳ văn học này đòi hỏi một công trình nghiên cứu nghiêm túc và dày công, điều đó ở ngoài nội dung của bài viết này.

  1. Phạm Quỳnh tham chính

Khi Phạm Quỳnh được ra chấp chính với chức vụ Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học tháng 11 năm 1932, trong dân chúng truyền tụng câu vè: “Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình Thượng thư.” Quả là oái oăm cho một học giả rất nghiêm túc như ông. Có phải vì tham chức quyền mà ông rời bỏ sự nghiệp văn học của mình chăng?

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước. Vị vua Tây học này đã thực hiện ý đồ tân hóa và trẻ hóa đội ngũ bằng cách thay 6 vị lão thần Thượng thư của Cơ Mật Viện bằng những người trẻ tuổi “Âu Á kiêm thông” trong hai gương mặt sáng giá đó là các ông Phạm Quỳnh (Bộ Học) và Ngô Đình Diệm (Bộ Lại). Dân gian nhắc nhở sự kiện này qua bài thơ châm biếm: Năm cụ khi không rớt cái ình/ Đất bằng sấm dậy xứ Thần Kinh. Tuy nhiên sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh không phải là điều khiến ông được nhắc nhiều về sau.

Trên nhiều diễn đàn và trang báo trong nước có nhiều bài viết, nghiên cứu đánh giá rất sâu sắc về những đóng góp của ông về mặt văn hóa. Còn về chính trị thì ta nên tham khảo ý kiến cách đây hơn 60 năm của Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn. Viên quan thầy người Pháp này đã không nhầm khi viết trong báo cáo ngày 08/01/1945 cho Toàn quyền Decoux và Tổng đại diện Mordant về ông Phạm Quỳnh:

“Viên Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của mình.

Một lần nữa, vị Thượng thư Bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng thư Bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà vua những biểu hiện của một chủ quyền trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh còn dọa sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với Hoàng đế Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vụ chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.

Tôi lưu ý Ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyến nổi của nền độc lập Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho đến nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản.”(8)

Hóa ra việc viết văn làm báo rồi làm chính trị của Phạm Quỳnh đều phát xuất từ một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc vì một nền văn hóa nước nhà, vì một nền độc lập chính trị cho Tổ quốc. Để hiểu hơn nữa việc Phạm Quỳnh tham gia chính trị thì có lẽ ta tin được một người đương thời với ông: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Trong “Đời viết văn của tôi” (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1971) Nguyễn Công Hoan đã viết:

“Khi viết truyện Kép Tư Bền tôi liên tưởng tới bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm chính là trường hợp Phạm Quỳnh!… Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, ông được cấp 600 đồng mỗi tháng. Món tiền này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng, trái với ý mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm.”

Bi kịch của Phạm Quỳnh là ở đây. Ông đã đem cái hồn nhiên của một người làm công tác văn học vào sân khấu chính trị, ôm cái ảo tưởng chân lí sẽ thắng cường quyền, tin vào việc đấu bằng nghị trường, bất bạo động sẽ giành được chủ quyền cho Tổ quốc Việt Nam mến yêu của ông. Ông đã quá thơ ngây khi trích dẫn ngay trên bìa báo Nam Phong lời của Roosevelt: Có ngang tầm với nhau mới có chuyện bình đẳng (Il n’y a que ceux qui sont des égeaux sont égeaux) và tuyên bố với Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà Nội ngày 06/11/1931 dưới hình thức một bức thư ngõ rằng “chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm Tổ quốc mà chưa thấy Tổ quốc ở đâu. Tổ quốc ấy, thưa Ngài Tổng trưởng, không thể nào là nước Pháp được”(9). Chính trị không giản dị như thế. Phạm Quỳnh biết mình lầm, vâng ông đã rất tiếc cho lòng tin của ông vào nước Pháp văn minh trí thức với lí tưởng công bằng, tự do và bác ái.

  1. Phong cách Phạm Quỳnh

Sau khi hiểu được tâm tình của Phạm tiên sinh, ta nên tìm hiểu một chút về nhân cách của ông. Ông sống rất giản dị, không nặng nề phô trương hình thức và thế lực như ông Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Phạm Thế Ngũ  trong “Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên” đã trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ nữ Tân văn ngày 18/06/1931 và ngày 16/07/1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của các ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, cho ta thấy rõ ràng sự tương phản nói trên. Về ông Phạm Quỳnh thì “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi tòa soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh… Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hòa nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”, còn về ông Nguyễn Văn Vĩnh thì “Tầng trên lầu là tòa soạn báo Trung Bắc Tân Văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong tòa soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”.(10)

Tương truyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trước một lò trầm và mặc khăn đen áo dài như đang cử hành một nghi lễ. Quốc phục khăn đen áo dài luôn luôn được ông mặc nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc nước nhà của Phạm tiên sinh. Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làm cho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi. Có người cho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất là với một thanh niên Tây học ta mới thấy quý một nếp nhà còn được gìn giữ và tự hào. Điều nhắc nhở chúng ta là trong hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo của các nước lớn trên thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Pháp,… đã hân hạnh được tặng và mặc bộ quốc phục như trên.

Khi mới hai mươi mấy tuổi đầu, ông đã tập hợp được những người lớn tuổi cùng cộng tác. Chính ông đồ Nguyễn Bá Học đã công khai khâm phục tài năng của người trai trẻ này qua câu nói “Bách tuế lão ô bất như sơ sinh phượng hoàng” (Con quạ già 100 tuổi cũng không bằng con phượng hoàng mới sinh). Khi khăn đen áo dài diễn thuyết trước Quốc hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hóa của Việt Nam, Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhưng ông đã làm trí thức Pháp kinh sợ với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nước nồng nàn hơn các trí thức Việt Nam Tây học khác tại Pháp có bằng cấp cao hơn nhiều. Giải thích việc tránh cuộc bút chiến về truyện Kiều với ông đồ Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh đã nói, “Bất luận tài học ông Nghè Ngô như thế nào, ông có điều hơn đứt tôi là ông đã vì nước mà phải tù tội… Nếu thành ra một cuộc cãi lộn thì tất phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ, ông mục cho tôi là văn sĩ lóp lép thì tôi nể gì ông mà không tặng ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá còn ra sự thể gì.”(11)

Không thích ông phải kể đến nhóm Phong Hóa. Họ đã làm vè như sau: Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai là sừ Uỳnh/ Một sừ béo núng rung rinh/ Một sừ lểu dểu như hình cò hương/ Không vốn liếng chẳng ruộng nương/ Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu… (Báo Phong Hóa số 14 ngày 22/07/1932). Phê bình một học giả từng diễn thuyết trước Nghị viện Pháp bằng thơ vè vớ vẩn như thế chỉ làm tăng thêm thế giá của ông Phạm Quỳnh.

Một người nữa không mấy thích ông Phạm Quỳnh là Đổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Khắc Hòe. Khi vua Bảo Đại sai ông soạn đạo Dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách nói chung thì ông Hòe lại thảo tờ Chỉ (thấp thua 2 cấp: Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Lại bộ Thượng thư Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên. Phạm Khắc Hòe viết: “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14/03/1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua Bộ Lại nói chuyện.”(12) Thâm nho như Phạm Thượng thư mà lại xử sự như thế thật là quá mã thượng.

Xét về hai mặt đức tài, ông Phạm Quỳnh đúng là một sĩ phu có thực học và công phu hàm dưỡng dẫu rằng ông thường tự khiêm tốn gọi mình là “một anh đồ nhà quê”. (un lettré compagnard).

  1. Nơi an nghỉ cuối cùng của Phạm Thượng Chi

Phạm Quỳnh mất năm 1945 khi ông mới 53 tuổi lúc đang mang trong lòng bao hoài vọng cống hiến cho nền văn hóa nước nhà sau khi rút khỏi vũ đài chính trị. Ông sống ở Huế khá lâu, 13 năm và cũng gởi nắm xương tàn trên đất Huế, chùa Vạn Phước.

Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) và bên hông phải của chùa Từ Đàm. Sinh tiền, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này lúc thư nhàn để đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hòa thượng trụ trì chùa lúc ấy. Chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông cũng rất thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn “Phật giáo lược khảo”. Âu cũng là một thiện duyên mà giờ đây giác linh Phạm Tiên sinh còn nghe được tiếng chuông và lời kinh của đấng Từ Phụ. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ biểu ở cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương câu nói lừng danh của ông “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Ở bình phong tiền có câu “Tiếng ta con, nước ta còn” viết bằng chữ Quốc ngữ. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (南 風 主 筆 范 瓊 尚 之 遺體 – Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi), bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật (乙 未 年 十 二 月 十 八 日 – Ngày 18/12, năm Ất Mùi, tức 09/02/1956) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền vào Huế (có tư liệu nói ông được đem vào từ rừng Hắc Thú, Quảng Trị). Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (男 范 璧 仝 弟 妹 等 恭 誌 – Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi). Vào năm 2016, con cháu của Phạm tiên sinh đã trùng tu lại mộ phần và dựng tượng cụ. Trong chùa Vạn Phước cũng còn nhiều di vật của ông. Ở nhà học của tăng sinh là hoành phi có câu Thổ nạp Âu Á, thủ bút của Phạm tiên sinh. Có tư liệu cho rằng có một hoành phi tương tự hiện tại nhà của người con trai áp út là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong hiên của điện thờ chính chùa Vạn Phước về phía trái khi đi vào còn có bức ảnh lớn hình Phạm tiên sinh đang làm việc tại văn phòng.

Biệt thự Hoa Đường thuộc đường Hải Triều (trước đây là đường Vạn Vạn) nhìn ra sông An Cựu và cách đường Hùng Vương về phía trái khoảng chừng 2km. Ngày xưa đây là một ngôi nhà 2 tầng xây theo kiểu Tây mà bây giờ chỉ còn lại cái tháp nước bên hông nhà trơ gan cùng tuế nguyệt. Cả khuôn viên đã bị lấn chiếm bởi những người không bà con gì với Phạm Thượng thư. Tất cả là những căn nhà tôn lụp xụp hoặc nhà trệt thấp, nhỏ như một xóm lao động nghèo khó. Khó ai có thể tưởng tượng được đây từng là một biệt thự xinh đẹp của một quan đầu triều ngày nào.

Dâu bể đã đổi thay nhưng lòng ngưỡng mộ Phạm Thượng Chi tiên sinh vẫn còn mãi trong lòng bao nhân sĩ Việt Nam.

N.P.V.B
(TCSH341/07-2017)

—————-

(1) Bà là con thứ 6 của Phạm Quỳnh và là vợ của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng là chủ  bút Nam Phong ở giai đoạn cuối 1933 – 1934. Ông Lãng về sau đã theo tướng Nguyễn Sơn và tiếp  tục các hoạt động văn hóa. Bà còn có bút hiệu là Liên Trang, đã từng viết một luận án tiến sĩ văn  chương về Những đóng góp của Nam Phong tạp chí trong buổi đầu của nền quốc học Việt Nam.

(2) Nam Phong tạp chí số 146, tháng 7/1931.

(3) Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ Tư, 19/7/1922.

(4) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, Quốc Học tùng thư, tập
III, tr. 149.

(5) Theo nhà báo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 05/11/2005.

(6) Phạm Thế Ngũ, sđd tr. 129.

(7) Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê, Nxb. Lá Bối, Sàigòn, 1968.

(8) Theo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 12/11/2005.

(9) Báo Nam Phong số 166, Octobre 1931, phần phụ lục tiếng Pháp.

(10) Phạm Thế Ngũ, sđd, tr. 127.

(11) Phạm Thế Ngũ, sđd tr. 154.

(12) Những ngày cuối cùng của triều Nguyễn, Trần Huy Liệu & Phạm Khắc Hòe, Nxb. Thuận  Hóa, Huế, 1992, tr. 15.

Advertisements

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 11 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp chí

NHẬN DIỆN LẠI NAM PHONG TẠP CHÍ

(Bài thu từ tapchisonghuong.com.vn lúc 10:04 ngày 19/7/2017)

Nam Phong tạp chí tồn tại qua 17 năm (1917 – 1934) với hơn 210 số, song dấu ấn của nó vang mãi, đến 100 năm sau vẫn còn nhiều giá trị được ghi nhận thêm cũng như cần đánh giá lại.

Từ lúc ra đời, Nam Phong đã khiến tầng lớp nhà văn, trí thức ở Việt Nam say sưa theo dõi. Người ta có thể học được trên mặt báo nền văn minh phương Đông, văn minh Pháp, tư tưởng nước Nhật, Tàu, và âm hưởng thi phú Hán ngữ đầy sinh khí thời cuộc. Giới phê bình đánh giá Nam Phong như một bách khoa toàn thư, giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm; các nhà biên tập của Nam Phong là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Chủ bút Phạm Quỳnh – một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây, qua Nam Phong tạp chí, cụ Phạm đã nêu cao tinh thần gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước, đồng thời xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Chuyên đề 100 năm Nam Phong tạp chí, qua góc nhìn chuyên sâu của các nhà nghiên cứu ở Huế và Hà Nội, Sông Hương hầu mong độc giả có được cái nhìn đầy đủ, xác thực hơn về nhà văn hóa kiệt xuất Phạm Quỳnh và tờ tạp chí đã không dễ dàng đứng vững trong thời kỳ biến động của đất nước; trong đó người chủ bút như vị thuyền trưởng đã chèo lái con thuyền ấy.

Nhận diện lại Nam Phong tạp chí   

PHẠM PHÚ PHONG

“Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học.”(1) (Thiếu Sơn)

  1. Số đầu Nam Phong tạp chí ra ngày 1/7/1917, tính đến nay đã tròn 100 năm. Đây là tờ báo bách khoa nguyệt san, khổ 19×27,5cm, gồm hai phần: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, mỗi phần có khoảng từ sáu mươi đến bảy mươi trang. Bắt đầu từ năm 1923 trở về sau, tạp chí có thêm phần phụ trương bằng chữ Pháp và từ số 195, ra ngày 1/5/1934, Nam Phong chuyển thành bán nguyệt san, nhưng chỉ tồn tại đến cuối năm thì đình bản. Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh chính trị của phủ Toàn quyền Đông Dương là người đứng ra sáng lập tạp chí, Phạm Quỳnh (hàn lâm viện trước tác) làm chủ bút phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (hàn lâm viện thị giảng) làm chủ bút phần chữ Hán và ông Lê Văn Phúc, chủ nhà in Đông Kinh làm quản lý kiêm luôn việc phát hành báo. Tòa soạn đóng tại số 80 phố Hàng Gai, Hà Nội. Qua 17 năm tồn tại, nhân sự của ban biên tập cũng có sự vận động thay đổi: Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng (1917 – 1922); Phạm Quỳnh, Lê Dư (phụ trách phần chữ Hán thay cho Nguyễn Bá Trác), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long (1922 – 1925), Nguyễn Trọng Thuật (thay Phạm Quỳnh), Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Kỷ, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, và một số văn nhân thi sĩ phương Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Văn Kiêm, Trúc Hà (1925 – 1932); Nguyễn Tiến Lãng, Lê Văn Phúc, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Đình Thạch.

Nam Phong được thành lập theo “chủ thuyết” của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, một người đã từng làm báo, từng là biên tập viên thường trực cho tờ La Depêche du Midi ở Toulouse, hiểu rất rõ về sức mạnh của báo chí, nên mục tiêu của tờ báo là quá rõ ràng, là nhằm “cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngỏ hầu họ quan niệm được cái vai trò của người Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết… Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh phục và nhóm người nầy lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gửi mua từ bên Tàu trước đây”(2). Ngay cả việc in câu nói của Tổng thống Mỹ Roosevelt lên trang bìa của tạp chí, cũng cho thấy dụng ý chính trị của thực dân: “Có đồng đẳng mới bình đẳng được”. Câu nói như một lời đề từ, vừa khuyến dụ, vừa có ý chê bai trình độ văn minh thấp kém của người An Nam. Cái tên Nam Phong bắt nguồn từ bài cổ thi của Trung Hoa dưới thời vua Thuấn (2.255 năm TCN) với cái nghĩa là ngọn gió khai hóa, cải tạo xứ An Nam.

Ngoài mục tiêu ca ngợi người Pháp, phổ biến nền văn minh Pháp, A.Sarraut và L.Marty còn muốn dùng Nam Phong cách ly sự ảnh hưởng của người Trung Hoa đối với nước ta, đồng thời chống lại sự tuyên truyền, nói xấu của người Đức đối với người Pháp ở các nước thuộc địa, khi ở bìa sau của tạp chí có in hình “rồng Nam phun lửa diệt Đức tặc”. Louis Marty cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tờ báo này nay tên là Nam Phong, viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Nho, nhằm mục đích gieo rắc một cách khéo léo và sâu đậm ảnh hưởng của nước Pháp vào giới sĩ phu ở khắp ba kỳ, kể luôn các tỉnh Trung Hoa giáp giới Bắc Kỳ”(3). Vì vậy, hàng tháng chính phủ thuộc địa đã trợ cấp cho tạp chí 400 đồng, nhằm hỗ trợ chi phí cho tòa soạn và ấn loát (4, tr.211).

  1. Về nội dung, những số đầu Nam Phong gồm có tám mục: luận thuyết, văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, văn tuyển, tạp trở, thời đàm và cuối cùng là tiểu thuyết. Về sau, tạp chí có thêm những mục như tùng đàm, hài văn kỷ yếu, tồn danh thần lục, yếu lược về kinh tế. Nhưng làm nên hồn cốt, diện mạo đặc sắc và khẳng định vị trí của Nam Phong là các chuyên mục văn học, triết học và khoa học. Về triết học, tạp chí chủ trương truyền bá tư tưởng triết học của phương Tây, nhằm cải biến nhận thức truyền thống của người Việt thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng triết học Nho giáo, dịch và đăng những công trình triết học của Déscartes, Bergson, Voltaire, Julessimon, J.Rousseau, Montesquieu…(Chẳng hạn, Phạm Quỳnh dịch và giới thiệu học thuyết của Voltaire in trên số 114, hoặc Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) dịch thuyết Tự do luận của Julessimon in trên số 121). Ngay trong Mấy lời nói đầu in ở số đầu tiên, ra ngày 1/7/1917, chủ bút Phạm Quỳnh đã nói rõ: “Trong những bài bình luận về triết học, chúng tôi lấy cái chiết trung chủ nghĩa làm cốt, nghĩa là không thiên về một học thuyết nào, cái nào hay cũng thâu nhặt lấy. Nhưng cái tôn chỉ của chúng tôi là giúp cho sự tiến bộ của quốc dân về đường tri thức, về đường đạo đức, thì tất khuynh hướng về cái “duy tâm chủ nghĩa” hơn là cái “duy kỹ chủ nghĩa”. Vậy về đường tư tưởng, chúng tôi thiên trọng cái triết học của nước Pháp, vì cái triết học Pháp thực là gồm cả bấy nhiêu cái khuynh hướng “duy tâm”, “duy tha” mà thực tế đáng làm mẫu cho cái lý tưởng mới của ta”. Về văn học, tạp chí dịch và giới thiệu văn học Hy La, các tác giả văn học Pháp như thơ của Charles Pierre Baudelaire, truyện ngắn của Guy de Maupassant… Văn học trong nước được giới thiệu ở mục văn tuyển, chọn đăng thơ của các tác giả thành danh trong quá khứ (Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khóc quan thượng thư Vân Đình Dương Khuê, Đùa ông bạn điếc của Nguyễn Khuyến…), thơ của các tác giả đương thời (Đông Dương tổng ca của Tôn Thất Pháp, Chơi chùa Ngũ Hành, Tới Ải Vân không gặp bạn của Trần Hữu Giương…), hoặc văn xuôi, mà chủ yếu là truyện ngắn (Lòng yêu nước của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Đồng tiền nói chuyện của Điếu Hoàng…). Về khoa học, tạp chí giới thiệu những phát minh/ kiến thức mới mẻ của phương Tây, như bài viết về kỹ thuật đóng tàu ngầm của kỹ sư người Pháp Laubeuf, bài Tâm lý học-định lệ của cảm giác (Nguyễn Triệu Luật dịch), hoặc các bài viết về khoa học thường thức như Mấy lời về phép vệ sinh (Phan Khôi dịch), Bệnh lao có chữa được không của Phạm Quỳnh, Cái hại thuốc lá của Mã Nhân… Nhìn chung, nội dung tạp chí đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của con người, xứng đáng với sự tôn vinh là bách khoa tạp chí đương thời. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Muốn hiểu biết những vấn đề tôn giáo hay văn học, những thơ văn Việt Nam từ xưa cho đến thế kỷ thứ XIX, để hiểu hơn lịch sử hay cuộc đời của những nhân vật lịch sử Việt Nam, những vấn đề chính trị hay xã hội Âu châu… chúng ta chỉ cần đọc theo dõi tạp chí này. Chỉ cần đọc tạp chí Nam Phong cũng có thể mở mang kiến thức được” (5, tr.210).

Về hình thức, tùy thuộc vào nội dung phản ánh và khuôn khổ của các chuyên mục mà các tác giả lựa chọn một thể tài để chuyển tải thông tin đến với người đọc, trong đó đáng chú ý là những bài bình luận hoặc những phản ánh có tính chất phóng sự, đã cung cấp một nội dung chuyên sâu về một vấn đề tư tưởng, văn hóa – xã hội. Tạp chí có đăng tải thể tài tin, nhưng thường nằm trong mục tạp trở hoặc thời đàm, phản ánh những sự kiện diễn ra trong tháng trước, về chính trị, văn hóa, ngoại giao của thế giới, mà chủ yếu là của nước Pháp. Về tin trong nước, tạp chí đăng tải những sự kiện liên quan đến các hoạt động và công việc của các chính khách Pháp ở nước ta và các quan lại triều Nguyễn. Tất nhiên, tin thời kỳ này còn hạn chế về kết cấu, thiếu sự cô đọng, súc tích, đôi khi tối nghĩa. Chẳng hạn, tin sau đây in trên số 19 (1919): “1 tháng 1 (năm 1919) – Điện Paris: Quan giám quốc Wilson từ Paris đi sang chơi bên Ý-đại-lợi (Italia) thăm vua Ý/ Tới thành Rome là kinh đô nước Ý, vua cùng hoàng hậu ra đón, nhân dân nghênh tiếp thật long trọng. Quan Wilson đến thăm điện Panthéon là nơi lăng tẩm các vua Ý. Ngài lại đến Capitole là thị sảnh thành Rome, dân tặng ngài chức công dân thành Rome. Ngài vào yết kiến đức Giáo Hoàng ở điện Vatican. Ngày 5 tháng 1 ngài từ Rome đi ra thành Gênes, quê ông Christophe Colomb là người đã tìm ra châu Mỹ trước nhất, năm 1692. Ngài mang một vòng hoa đến viếng mả ông, có đọc mấy lời, nhân dân nghe rất cảm động, có người muốn nắm lấy vạt áo, cầm lấy tay ngài mà hôn. Ngày 7 lại trở về Paris”. Bình luận là thể tài chiếm ưu thế trên tạp chí Nam Phong. Ít nhất có ba chuyên mục được đặt tên là bình luận: văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, và ngay cả các chuyên mục khác không gọi tên là bình luận, nhưng đều được viết dưới dạng bình luận: Tiếng dùng trong quốc văn (Nguyễn Văn Ngọc, số 19), Bàn về tiếng An Nam (Dương Quảng Hàm, số 22), Chữ Pháp có dùng quốc văn An Nam được không? (Thượng Chi, số 22), Đàn bà phương Đông (Nguyễn Đôn Phục, số 101)… Phần lớn những bài bình luận đều sử dụng phương pháp diễn dịch, chứ không phải quy nạp, nên thường diễn giải dài dòng, thiếu sự chặt chẽ trong kết cấu. Điều đáng chú ý là trên tạp chí này đã xuất hiện một số bài viết có tính chất phóng sự – du ký có giá trị bền vững, được coi là sự mở đầu cho phóng sự hiện đại trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta những năm đầu thế kỷ XX: Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khuê), hoặc các phóng sự dài kỳ Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)…

  1. Như đã nói, Nam Phong ra đời với mục tiêu chính trị rõ ràng nhưng, các nhà biên tập của nó là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.

Đương thời, nhà phê bình văn học Thiếu Sơn từng cho rằng, “có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Những học giả chỉ cần đọc tạp chí này cũng có được một kiến thức rộng rãi. Và trong khi đọc tờ Nam Phong người ta cũng có thể học hỏi được nền văn hóa phương Đông” (6, tr.176). Đăng tải những tác phẩm văn học nước ngoài, không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thành tựu, đánh thức và vun đắp thị hiếu và năng lực thẩm mỹ, mà còn mở ra môi trường giao lưu văn hóa, tiếp thu và phát triển các yếu tố văn hóa hiện đại. Những thành tựu nổi bật của nền văn học Pháp thế kỷ XIX lần đầu tiên được giới thiệu với độc giả nước ta, với nhiều trường phái, nhiều trào lưu, nhiều hệ thống quan niệm. Chỉ tính riêng tiểu thuyết, Nam Phong đã trình chánh nhiều tác giả tiêu biểu của văn học Pháp như Alfred Victor de Vigny, Henry Bordeaux, Paul Bourget, bên cạnh tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa, như Tuyết hồng lệ sử, Song phượng kỳ duyên, Lục mẫu đơn, Phong kiếm xuân thu… Về văn học trong nước, Nam Phong ủng hộ và tạo điều kiện cho nhiều khuynh hướng mới trong văn học ra đời và khẳng định vị trí trong lịch sử văn học nước ta. Những tác phẩm văn xuôi được coi là mở đầu cho dòng văn học hiện thực phê phán ở nước ta, đều xuất hiện trên tạp chí này: Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (in số 18/1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học (in số116/1920) hoặc bài thơ Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị làm thay lời vợ vua Thành Thái thương nhớ đến chồng (vua Thành Thái) con (vua Duy Tân) bị chính quyền thực dân đày sang châu Phi (in số 112/1919)… Là sự tiếp tục và thay thế cho Đông Dương tạp chí đã bị tàn lụi và “thay tên đổi họ”, nhưng Nam Phong còn làm được nhiều hơn thế, có tầm ảnh hưởng trong đời sống tinh thần tư tưởng, văn hóa – văn học cả nước, nơi thu hút và qui tụ nhiều học giả, nhiều gương mặt văn hóa của đất nước. Cũng chính từ văn học, đã thúc đẩy ý nghĩa văn hóa lấn át mục tiêu chính trị, mà nhà đương cục đề ra ban đầu làm mục tiêu cho tạp chí.

Cố nhiên, ở một mức độ nào đó, Nam Phong vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu, lối đặt câu bốn chữ, sáu chữ hoặc sử dụng quá nhiều điển tích, điển cố, trộn lẫn với những câu văn Pháp chưa thuần thục, không phù hợp với tư duy người Việt. Những hạn chế tất yếu này không làm che lấp tầm ảnh hưởng sâu rộng của Nam Phong trong đời sống văn học của đất nước, bởi lẽ, “trong khoảng 17 năm tạp chí Nam Phong đã xây dựng nên một nền văn học căn bản và vững chắc cho văn chương chữ quốc ngữ, bằng những bài báo hay, những bài khảo cứu văn học mà những nhà văn, những nhà trí thức Việt Nam ở Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ lúc bấy giờ đã say sưa theo dõi” (7, tr.120).

Về ngôn ngữ, trong quá trình hoàn thiện chữ quốc ngữ, Nam Phong đã góp phần “làm giàu thêm ngôn ngữ nước nhà bằng cách đặt nhiều danh từ mới có liên quan đến triết học, khoa học bằng cách mượn chữ Hán làm hoàn hảo tiếng Việt trong dịch thuật và diễn tả những tư tưởng và học thuyết triết học” (8, tr.97). Quan trọng hơn, những con chữ từ tạp chí đã trở nên sinh động và ngày càng thấm sâu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Bên cạnh tạp chí Nam Phong, ban biên tập còn thành lập nhà xuất bản Nam Phong tùng thư, cho in sách nhằm cung cấp tài liệu cần thiết giúp cho việc học chữ quốc ngữ được dễ dàng. Trong tạp chí Nam Phong, số 114 (1927), có nêu rõ mục đích của việc làm này: “Chữ quốc ngữ ngày nay đã phổ thông khắp trong nước, có thể dùng để làm cái lợi khí để truyền bá cái sự học trong nhân gian. Kể sách quốc ngữ gần đây xuất bản cũng nhiều, nhưng ngoài những sách giáo khoa để dùng trong các trường sơ học, phần nhiều là những sách thơ văn, tiểu thuyết, tuy cũng có quyển có giá trị, bổ ích cho quốc văn, song vẫn là sách văn chương “chơi” không giúp gì cho việc truyền bá sự học. Mà việc này chính là cần cấp ngày nay/ Nho học mỗi ngày một tàn, Tây học dẫu có lấn tới mà ngôn ngữ bất đồng, văn tự sai biệt, cũng khó lòng phổ cập trong dân gian. Phổ cập tri thức trong nước ta gần đây có phần sút kém cũng là bởi cái lẽ đó. Vậy ngày nay thể tất phải dùng chữ quốc ngữ làm cái lợi khí để giới thiệu các học thuật tư tưởng Đông Tây cho phần nhiều quốc dân được biết, ngõ hầu giúp cho cái trình độ trí thức trong nước ngày một lên cao/ Bộ phận Nam Phong tùng thư này mở ra là muốn theo đòi cái mục đích đó/ Cái chí chúng tôi là muốn giúp cho phần nhiều người Việt Nam ta, không cần phải đọc sách Tây, chỉ biết chữ quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được cái điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay/ Chúng tôi ao ước rằng sau này người An Nam chỉ học bằng tiếng An Nam có thể trở nên được người thông hiểu, chỉ đọc bằng sách quốc ngữ cũng đủ bổ ích được cho trí khôn, ngày ấy thời sự khai hóa trong nước mới thật là có kết quả vậy.”

  1. Nói đến Nam Phong không thể không nhắc Phạm Quỳnh (1892 – 1945), người được coi là linh hồn của tờ báo. Ông quê ở Bình Giang, Hải Dương, nhưng sinh ra ở phố Hàng Trống, Hà Nội. Chín tháng sau khi sinh, mẹ ông lâm bệnh qua đời; chín năm sau, bố ông cũng đột ngột qua đời ngay tại phòng thi khi dự kỳ thi Hương năm 1901. Ông được ông bà nội nuôi, cho đi học tại trường tiểu học Pháp Việt, rồi trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ đầu kỳ thi Thành chung năm 16 tuổi (1908), về làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, 1917 thành lập Nam Phong tạp chí, 1922 thành lập Hội Khai trí tiến đức, 1924 kiến nghị thành lập trường tiểu học học bằng tiếng Việt ở Đông Dương, từ 1924 – 1932 làm giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ, 1932 Bảo Đại về nước làm vua, ông được cử chức Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, sau đó là Thượng thư Bộ Lại, 1939 cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin trả lại Bắc Kỳ như Hiệp ước 1884 nhưng không thành. Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, chính phủ Trần Trong Kim thành lập, ông xin rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt và qua đời tại Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên Huế.

Phạm Quỳnh là người đề xướng thuyết quân chủ lập hiến, một chủ trương lỗi thời trong tình hình nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đó là sai lầm về chính trị. Nhưng đóng góp về văn học và báo chí của ông vào đầu thế kỷ XX thì không thể phủ nhận được. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây: văn học, triết học, khoa học, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… được người đương thời suy tôn đứng đầu trong “tứ trụ” là bốn nhà văn hóa tiêu biểu của đất nước: Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố. Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến trữ lượng văn hóa tích tụ từ Nam Phong. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Phạm Quỳnh có đủ khả năng để tranh luận thấu đáo và minh bạch bất cứ vấn đề nào: văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, xã hội. Trước khi đề cập đến một vấn đề, ông chịu khó nghiên cứu kỹ lưỡng. Nếu so sánh Nam Phong với các tạp chí xuất bản bên Pháp như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Françase, độc giả thấy các tạp chí Pháp cũng đề cập đến những vấn đề tương tự, nhưng không tờ nào chú ý đến vấn đề của Đông phương, thời xưa cũng như thời nay” (9, tr.127). Vì vậy, trước hết với tầm nhìn văn hóa sâu rộng, Phạm Quỳnh có khả năng xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.

Phạm Quỳnh là tác giả của một khối lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự… Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại. Sai lầm của ông là khi đề ra một học thuyết “Pháp Việt đề huề” và yên tâm với lý tưởng về một nền quân chủ lập hiến, mà “sự thực hiện lý thuyết này không ích lợi gì cho đồng bào, nó càng làm tổn thương cho văn nghiệp của ông. Bây giờ người ta không thấy hậu quả của việc làm ấy. Điều hiển nhiên là từ khi ông chủ nhiệm ra đi, ai nấy đều nhận rằng giá trị văn chương của Nam Phong trở nên sa sút”(10). Tất nhiên, ông có sai lầm về chính trị, và sai lầm khi thiếu trách nhiệm với cả Nam Phong, nhưng không thể nói rằng ông không yêu nước, không có tinh thần tự tôn dân tộc, khi ông kêu gọi gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước. Năm 1922, khi phát biểu tại Ban Luân lý và chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ông đã khẳng định nền văn hóa dân tộc với tất cả bầu nhiệt huyết: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ.” (11, tr.683).

Thời gian cứ trôi không ngừng nghỉ. Sừng sững trên nền vách của thời gian, những nguồn mạch nóng hổi nhiệt huyết của Phạm Quỳnh từ thuở Nam Phong vẫn còn tỏa bóng.

P.P.P
(TCSH341/07-2017)

…………………………….
(1),(6) Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, Nam Ký xuất bản, Hà Nội
(2),(3) Louis Marty (1917), Phúc trình về tạp chí Nam Phong, ngày 22,8.1917
(4),(7),(8) Huỳnh Văn Tòng (1973), Lịch sử báo chí Việt Nam – từ khởi thủy đến 1930, Trí Đăng xuất  bản, Sài Gòn.
(5),(9) Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
(10) Thiếu Sơn (1931), Phạm Quỳnh, báo Phụ nữ tân văn, số ra ngày 30.7
(11) Dẫn theo Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

Tháng Mười 31, 2017

TINH THẦN GIẢI THUỘC ĐỊA TRONG DIỄN NGÔN CỦA PHẠM QUỲNH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 11 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

TINH THẦN GIẢI THUỘC ĐỊA TRONG DIỄN NGÔN CỦA PHẠM QUỲNH

Lê Thị Vân Anh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân 100 năm ra đời Nam Phong tạp chí (1917 – 2017), Tạp chí Nghiên cứu Văn học đăng bốn bài nghiên cứu gồm : Nguồn văn bản chữ Hán trên Nam Phong tạp chí của Phạm Văn Khoái, Du hành và ảnh tượng dân tộc:  Dự án quốc gia qua thể tài du kí của chủ bút Nam Phong tạp chí của Lê Nguyên Long, Phạm Quỳnh với thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí của Trần Thị Ái Nhi và Trần Thị Tú Nhi, Tinh thần giải thuộc địa trong diễn ngôn của Phạm Quỳnh của Lê Thị Vân Anh..

Kỳ này Blog PhamTon chúng tôi xin giới thiệu phần trích bài cuối, là bài của Thạc sĩ nữ, công tác tại Trường Trung học Cơ sở Cầu Giấy, Hà Nội.

—o0o—

Phạm Quỳnh (1892- 1945) là một quan đại thần triều Nguyễn, một nhà báo, nhà văn hóa quan trọng của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Những cống hiến của Phạm Quỳnh trên lĩnh vực văn hóa, văn học trong một thời gian dài đã bị lãng quên hoặc thậm chí bị hiểu một cách thiên lệch. Tại sao lại như vậy? Một diễn giải khả quan theo chúng tôi chính là sự khác biệt trong quan điểm của Phạm Quỳnh với diễn ngôn truyền thống của người Việt về lòng yêu nước cũng như tinh thần giải thuộc địa và phương cách được đề ra để thực hiện công cuộc giải thuộc địa ấy.

(…)

Về mặt lý thuyết, các phương thức giải thực dân/thuộc địa có thể được kết hợp nhuẫn nhuyễn mà không hề mâu thuẫn nhau. Nhưng thực tế thì không phải lúc nào cũng vậy, nhất là khi các diễn ngôn được tạo lập luôn có xu thế loại trừ các diễn ngôn khác để chiếm vị trí thống trị, sản sinh ra quyền lực và tri thức. Điều đó đã dẫn đến sự ngộ nhận và phán xét phiến diện trong lịch sử khi đánh giá giải pháp  nào tối ưu.

Trở lại ngữ cảnh văn hóa thực dân/ giải thực dân tại Việt Nam thế kỷ trước, chúng ta có thể nhận thấy những gợi mở nghiên cứu hiện tượng Phạm Quỳnh. Vậy tinh thần giải thuộc địa đã được thể hiện thế nào qua các diễn ngôn của ông?

  1. Nỗ lực kiến tạo bản chất văn hóa Việt Nam của Phạm Quỳnh

Văn hóa của các nước thuộc địa là một nền văn hóa đứt gãy. “Bị thuộc địa hóa”, theo Walter Rodney có nghĩa là “bị tách rời khỏi lịch sử” hay “Tổn hại lớn nhất mà các nước thuộc địa phải chịu đựng là bị tách rời khỏi lịch sử” (Memmi)(1). Vì thế, các nước cựu thuộc địa sẽ phải mất rất nhiều thời gian và công sức để chống lại lịch sử được tạo lập bởi phương Tây. Quan trọng hơn là sau khi giành độc lập về chính trị thì bản sắc của các cựu thuộc địa lúc này là gì? Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh và với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử và bản sắc của thuộc địa vì thế vẫn đang trên quá trình tự định nghĩa. Mặc dầu vậy, quá trình kiến tạo bản chất văn hóa như một phương thức giải thuộc địa luôn luôn diễn ra song hành với những kiến tạo áp đặt mang tính chất thực dân. Và ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, giữa sự bộn về của thời cuộc, Phạm Quỳnh đã dày công khôi phục những mảnh ghép của lịch sử dân tộc của người Việt, để thoát khỏi “việc bắt buộc im lặng” của kẻ/cái/sự nhược tiểu đồng thời khơi dậy tinh thần dân tộc.

  • Văn hóa Việt nam – nền văn hóa đầy mâu thuẫn

Qua văn bản của Phạm Quỳnh, Việt Nam hiện lên vừa là một đất nước có chiều dài lịch sử lâu đời, văn hóa bản địa đặc sắc vừa là một đất nước có nhiều lệ thuộc với văn hóa Trung Hoa. Khôi phục văn hóa bản địa, Phạm Quỳnh dùng hai phương thức chủ yếu: qua những chuyến đi và qua khảo cứu các di sản văn hóa của dân tộc. Với các bút ký du lịch Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ… Phạm Quỳnh là một trong số những nhà văn hóa Việt Nam đầu tiên quan tâm đến “địa văn hóa”, giới thiệu rất nhiều vĩ tuyến văn hóa của đất nước. Văn hóa dân tộc trước hết là những nét đẹp cụ thể như vậy.

Phạm Quỳnh đã tự khảo cứu và biên dịch các sách khảo cứu về các di sản của dân tộc trên rất nhiều lĩnh vực. Chỉ riêng việc lược dịch sách “Cổ Nam Việt” của ông Khâm sứ Pasquier đã cho thấy một cái nhìn tổng thể về Việt Nam – như một thiên đại luận về các chế độ cổ của nước Nam ta từ trước khi nước Pháp sang bảo hộ. Cuốn sách đã chỉ ra đặc tính của dân nước Nam “Giống ta chỉ ưa những đất đồng bằng… ta ít có chí khí độc lập khoáng trương mà chỉ ham cái lạc cảnh làm ăn yên ổn” (2), những nét đặc sắc như trong cách hành binh, các công trình, di sản thi ca và đặc biệt là văn hóa làng xã.

Trong thời đại của Phạm Quỳnh, sự nghiệp văn học quốc ngữ phải đối mặt với một hiện thực khó khăn: không có truyền thống văn bản bằng loại chữ này. Tuy nhiên, với Phạm Quỳnh văn học quốc văn đã bắt đầu từ tục ngữ, ca dao của người lao động và văn chương chữ Nôm của cha ông.  Ông đặc biệt quan tâm tới việc sưu tầm, khảo cứu, giưới thiệu chi tiết về nguồn gốc, giá trị của tục ngữ, ca dao Việt Nam, Truyện Kiều, … Phạm Quỳnh cũng chính là người đầu tiên nêu vấn đề Nghiên cứu vốn cổ Hán Nôm (1924), Các môn cổ văn Hán Nôm (1928), Văn chương trong lối hát ả đào (1923),…

Các bài viết như Thơ nước Nam (1922), Người nông dân Bắc kỳ qua tiếng nói bình dân (1929) được diễn thuyết bằng tiếng Pháp đã chứng minh vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam kết tinh ở ca dao. Phạm Quỳnh còn so sánh khúc hát của những cô thợ cấy ở đồng bằng Bắc bộ, hoặc những cô lái đò trên sông xứ Huế với cái âm điệu buồn man mác kiểu Lamartine, so sánh Truyện Kiều với văn học Pháp và văn học Trung Hoa để khẳng định tài năng của Nguyễn Du; so sánh bài thơ tả cảnh Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với bài thơ tả cảnh Soir en montagne (Buổi chiều chơi núi) của Lêôngxơ Đơpông (Léonce Depont) để thấy cái tài tình của thi nhân mỗi nước (3). Đây không chỉ là một thao tác sớm vận dụng phương thức so sánh vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đầu thế kỷ XX mà còn có dụng ý về việc đặt văn hóa dân tộc ngang hàng với các nền văn hóa khác. Nền văn hóa nào cũng có những đặc sắc riêng và mỗi ngôn ngữ đều có những điểm mạnh trong việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người.

Văn hóa Việt Nam đặc sắc như vậy nhưng mâu thuẫn thay, nó là nền văn hóa có nhiều điểm lệ thuộc văn hóa Trung Hoa. Trong cuộc tiếp xúc với nước Pháp, người Việt hiểu rằng cuộc tiếp xúc với dân tộc Trung Hoa từ xưa đến nay đã đem đến nhiều thua thiệt. “Cuộc chiến đấu đó đúng là trứng chọi đá. Quả trứng nước Nam ắt phải bị đập vỡ tan tành, chẳng thể nào khác. Sự thật là nó đã không bao giờ bị đập vỡ, và cuộc chiến đấu chênh lệch đó cứ lặp đi lặp lại một cách thường kỳ trong suốt lịch sử, và nước Nam bao giờ cũng đã thóat ra nguyên vẹn” (4). Tuy nhiên, trong một tiểu luận khác, Phạm Quỳnh lại viết: “Rành rành là cái ách tinh thần của Trung Hoa đã đè nặng lên xứ sở này tới mức ngăn cản đầu óc người Nam tấn tới và phát triển theo nguồn mạch riêng của mình…” (5). Phạm Quỳnh đủ tỉnh táo để phân biệt cái gọi là độc lập chính trị và độc lập văn hóa. Ông cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng sự lệ thuộc của văn hóa Việt Nam vào văn hóa Trung Quốc có hai nguyên nhân: từ hoàn cảnh lịch sử và sự chấp nhận, tự ti của chính người Việt Nam không cố gắng hết sức trong quá trình tự định nghĩa bản sắc dân tộc.

1.2. Người Pháp và hấp lực văn hóa bản địa Việt Nam

Trong hành trình đặt chân đến xứ sở An Nam, người Pháp chắc đã không lường trước được những hấp lực từ phía bản địa. Nhưng hấp lực này có thực và Phạm Quỳnh đã đề cập đến nội dung này trong rất nhiều bài viết mang tính đối thoại với phương Tây. Chẳng hạn các giáo sĩ phương Tây đã tạo ra chữ quốc ngữ cho người Việt Nam để truyền đạo Thiên Chúa và truyền bá văn hóa phương Tây nhưng: “không hề ngờ tới một vận may to lớn đã khiến họ một ngày kia trở thành người làm ra chữ viết của cả một dân tộc”, là một phương tiện hữu ích trong công cuộc hiện đại hóa đất nước (6). Thậm chí, người Pháp còn nhận ra được sức sống và sự đồng hóa ngược của người Việt đối với nền văn hóa mà họ bị lệ thuộc: “chữ Nho mà đem dùng sang văn quốc ngữ là tiện thị thành tiếng Việt Nam rồi… các ông nhờ mượn chữ Tàu, mỗi ngày một giàu thêm ra, mà mượn chữ Tàu thời bao nhiêu cũng có thể tiêu hóa được. Không kể ngày nay nhiều người học tiếng Tây, một đôi khi cũng có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Như vậy thời văn quốc ngữ không bao lâu sẽ thành một nền quốc văn xứng đáng…” (7).

Một chính trị gia người Pháp đã cho rằng: “Nước Pháp sang cai trị xứ này, phải lấy sự tôn trọng cái thể chế mấy nghìn năm của người bản thổ làm phương châm, làm chính sách. Chắc rằng nghĩa vụ của nước Pháp là phải đưa dắt dân này lên cõi văn minh mới, nhưng văn minh mới ấy chỉ nên bổ vào những sự thiếu thốn, không được phá mất cái nền nếp cũ của dân tộc này” (8)

1.3. “Người nước Nam không thể coi nước Pháp là tổ quốc của mình, bởi vì người nước Nam đã từng có một tổ quốc” (9)

Phạm Quỳnh đã viết về bản sắc văn hóa Việt Nam với niềm tự hào của người “có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử” (10). Ông khẳng định: “Đấy là hình ảnh một dân tộc bền bỉ và kiên trì, đầy sức sống, có một sức bành trướng đáng kể, giàu một thứ năng lượng có phần hơi thụ động nhưng do vậy càng bền gan đến độ không có khó khăn, trở ngại nào làm cho nản lòng được, khát khao một nền độc lập mà họ chưa bao giờ có được đầy đủ và trọn vẹn, thường khi phải theo đuổi nó như một ảo ảnh, chẳng bao giờ chùn bước trong cuộc đeo đuổi nền độc lập ấy qua bao nhiêu thăng trầm và thất bại” (11); “Chúng tôi cũng đã từng là một dân tộc đi chinh phục, chúng tôi cũng đã từng là “đế quốc” theo cách của chúng tôi” (12). Qua đó, Phạm Quỳnh muốn đối thoại lại với thực dân Pháp: người Việt sinh ra không phải để làm nô lệ. Vị thế nhược tiểu mà người Việt đang phải chịu đựng không phải là “có sẵn” mà chỉ là bước trũng của lịch sử, hoàn toàn có thể khắc phục được.

Theo Phạm Quỳnh, kiến tạo lại diện mạo văn hóa Việt, thế hệ hậu sinh cũng gặp phải những áp lực vô cùng lớn lao: “Mang một niềm tin vào tương lai và tự hào nhớ lại một quá khứ không phải là không có vinh quang, chúng tôi có tham vọng cũng có một cuộc sống của cả dân tộc mình, và sống trọn vẹn, mãnh liệt cuộc sống đó dưới sự bảo hộ của nước Pháp…”; “Trên góc độ quốc gia, khủng hoảng này có thể được tóm tắt như sau: chúng tôi là một dân tộc đi kiếm tìm một Tổ quốc và chưa tìm thấy Tổ quốc đó” (13), Và dù rằng như vậy, Phạm Quỳnh cũng khẳng khái khẳng định: Tổ quốc này không thể là nước Pháp.

“Một dân tộc đang kiếm tìm một Tổ quốc”, điều đó không hoàn toàn chỉ đem đến những bất lợi. Người Việt Nam hãy lọc ra những gì phù hợp và cần thiết để từ đó tiếp tục hành trình tự định nghĩa, hoàn thành những phác thảo về dân tộc mình với một sức bật và tinh thần cầu thị mạnh mẽ nhất. Đó có lẽ chính là những mục đích quan trọng mà Phạm Quỳnh muốn hướng tới qua những trang viết kiến tạo bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trong nỗ lực kiến tạo bản sắc văn hóa Việt Nam, ở Phạm Quỳnh là những trạng thái trái ngược cùng tồn tại: rất tự hào về văn hóa dân tộc với lịch sử phát triển lâu dài, những dấu mốc vẻ vang nhưng cũng rất mặc cảm, tự ti do nhận ra được gốc rễ sự thiếu khuyết của lịch sử văn hóa dân tộc và bày tỏ mong muốn thoát ra khỏi cái bóng to lớn của văn hóa Trung Hoa. Dù trong nỗ lực có những bất lực vì chính số phận lịch sử của văn hóa Việt nhưng Phạm Quỳnh đã nhìn nhận được sâu sắc bản chất văn hóa, kiến tạo được phần nào thế giới văn hóa bản địa của người Việt – điều mà người Pháp đang muốn bỏ qua và người Việt thì thiếu sự hiểu biết sâu sắc và bài bản. Đây chính là nền tảng để Phạm Quỳnh phác thảo ra “hành trình kiếm tìm Tổ Quốc” cho dân tộc.

  1. Phác thảo hành trình kiếm tìm tổ quốc cho dân tộc Việt Nam

Chủ trương mà Phạm Quỳnh hướng đến là một nước Việt Nam quân chủ lập hiến dưới sự bảo hộ của Pháp. Quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh chỉ còn cái vỏ của chế độ truyền thống, còn thực chất đã biến đổi về chất. Triều đình sẽ lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua tầng lớp trí thức để từ đó có những quyết sách cho phù hợp. Quan điểm của Phạm Quỳnh có lý khi người trí thức và người dân An Nam đương thời vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Hơn thế, khi dân trí còn thấp thì hình thức quân chủ lập hiến là một lựa chọn có ưu thế bởi lẽ chính triều đình là người định hướng, nâng cao dân trí cho dân chúng.

Phạm Quỳnh đã có một bài viết riêng về vấn đề Bảo hộ hay trực trị. Quản lý theo lối trực trị là đặc thù của một chính sách đồng hóa. Chính sách này là phù hợp “nếu dân “An Nam” là một dân tộc mới, không quá khứ và không lịch sử, nếu họ chỉ là một bộ tộc tản mát không có những mối liên hệ tạo nên bất kỳ một sự thống nhất quốc gia nào, nếu những người “An Nam” đó chỉ có một tổ chức xã hội và chính trị sơ khai”. Nhưng nước Nam luôn là một “dân tộc” theo đúng nghĩa của từ này với bề dày văn hóa bản địa mà ngay cả người láng giềng luôn có ý định thôn tính – Trung Quốc cũng không thể đồng hóa được: “dân tộc này vẫn khác người Trung Quốc như nó khác người Pháp ở những khía cạnh nhất định” (14). Nếu như sự có mặt của người Pháp trên đất nước này là một định mệnh lịch sử, một tất yếu chính trị thì điều cần thiết nhất là : Việt Nam chấp nhận sự bảo hộ để đi lên theo con đường văn minh, hiện đại dựa trên nền tảng tinh hoa văn hóa sẵn có của chính mình.

  • Xin chủ trương từ người Pháp và thuyết phục người Việt Nam

Phạm Quỳnh đã cố gắng điều hòa mâu thuẫn nảy sinh do sự không thông hiểu giữa Pháp và Đông Dương và thuyết phục người Pháp – người Việt “xích lại gần nhau” để từ đó có cơ sở thực hiện chủ trương mà ông đặt ra.

Thuyết phục nước Pháp từ chính truyền thống nhân đạo của nước Pháp, Phạm Quỳnh đã chỉ ra cho người Pháp một phương cách tối ưu: “muốn thống trị bền thì chỉ có thể dựa trên sự đồng thuận lương tâm và ý nguyện con người” (15). Bởi căn bản, “người nước Nam không phải là một kẻ hoang dã, người nước Nam… có truyền thống ngàn năm văn hiến vô cùng đáng trân trọng: phong tục và tập quán của người nước Nam chỉ kỳ cục với các bạn bởi vì các bạn không hiểu”. Đây không chỉ là sự khác biệt về văn hóa hai nước mà còn là sự khác biệt về văn hóa Đông – Tây. Tuy nhiên, sự khác biệt không có nghĩa sẽ có thể phân thành thứ bậc mang tính chất kỳ thị: hạ đẳng và thượng đẳng.

Đối với người Việt, họ cần hiểu sự có mặt của người Pháp là một tất yếu do sự yếu kém và lạc hậu của nước Việt. “Sự đô hộ của Pháp là một thực tế mà chúng ta không thể làm gì chống lại nó và chúng ta phải coi nó là một yếu tố. Hãy chấp nhận nó với tất cả các hậu quả của nó, và hãy tìm cách rút ra từ đó cái khả năng có lợi nhất” (16). Phạm Quỳnh thuyết phục cho người Việt hiểu rằng: người Việt học tập người Pháp vì chính người Việt chứ không phải là vì người Pháp. Ông đã cùng lúc tìm hiểu hai đất nước có tầm ảnh hưởng của châu Á: Trung Quốc và Nhật Bản. Trung Quốc vốn là một cường quốc nhưng đã tụt hậu, còn Nhật Bản – một nước nhỏ đã vươn lên phát triển không thua kém các nước phương Tây, đó là bởi đã có tư tưởng “Thoát Á luận” đúng đắn – thoát khỏi những lạc hậu, sức ì của văn hóa phương Đông kìm hãm. Nhật Bản chính là một hình mẫu phát triển mà Phạm Quỳnh hướng đến.

  • “Làm mới” tinh hoa văn hóa phương Đông trong thực tế hiện thời

Phạm Quỳnh không chỉ giới thiệu mà còn ngợi khen những yếu tố tích cực của các học thuyết là tinh hoa văn hóa Phương Đông khi vẫn còn nguyên những “giá trị thời sự”. Đạo đức của Khổng Tử nếu “được khôi phục đúng với sự trong sáng nguyên thủy của nó, cho đến ngày nay nó vẫn còn có thể cung cấp cho chúng ta nhiều bài học bổ ích về cuộc sống và minh triết”, như việc “bất cứ ở đâu con người sống thành xã hội, cuộc sống chung đó phải dựa trên một trật tự được thiết lập và phát triển trong hòa bình” (17). Người học trò xuất sắc của Khổng Tử, Mạnh Tử bổ sung thêm những giá trị bền vững của Nho giáo: “Những ý tưởng gần như là bình đẳng và dân chủ khiến cho Mạnh Tử được những người Trung Hoa hiện đại coi như là một kiểu vị thần bản mệnh của dân chủ” (18). Phạm Quỳnh đã so sánh Mạnh Tử với các triết gia phương Tây hiện đại như Jean Jacques Rousseau. Sự gặp gỡ giữa các nền văn minh là hoàn toàn có thật không kể khoảng cách địa lý và thời gian. Đó như là một luận điểm khước từ cái nhìn “ban ơn”, “chiếu cố” của phương Tây dành cho phương Đông.

Phạm Quỳnh cũng đã dành những lời đánh giá rất cao cho một triết gia vốn thường bị lãng quên, đó là Mặc Địch. Lý thuyết “kiêm ái”, tinh thần phản đối chiến tranh của Mặc Địch chính là đường lối cai trị mà Phạm Quỳnh hướng đến “Hình ảnh vị tông đồ của hòa bình và hữu nghị từng làm vinh dự cho nước Trung Hoa cổ đại” (19) nhưng cũng là người bị lãng quên, thậm chí bị mỉa mai cay độc phải chăng vì tư tưởng của ông không phù hợp đối với một đất nước mà tư tưởng bá quyền, bành trướng đã quá khắc sâu trong lịch sử phát triển như Trung Hoa? Mặc Địch căm ghét chiến tranh, coi đó là tội ác lớn nhất, luận điểm này đã được Phạm Quỳnh nhắc lại khéo léo như một đối thoại cho hiện thực đau lòng mà phương Tây đã đem đến cho phương Đông thông qua những lời có cánh là “khai hóa văn minh” (20)

Nếu như Nho giáo là công cụ giúp con người trong lĩnh vực vĩ mô của cuộc sống thì Phật giáo lại quan tâm chủ yếu đến đời sống tinh thần của con người. Theo Phạm Quỳnh, cuộc khủng hoảng mà người An Nam đang phải trải qua là một cuộc khủng hoảng về tinh thần còn nhiều hơn là về xã hội và chính trị. Trong cuộc khủng hoảng ấy, con người sẽ tìm về với những nề nếp tôn giáo và đạo đức xưa suốt bao thế kỷ đã tạo nên nền tảng của đất nước này. Và sự bổ sung cho nhau giữa Khổng giáo và Phật giáo, theo Phạm Quỳnh, sẽ là một phương thuốc cho sự bất ổn về tinh thần của người dân An Nam (21)

Tác dụng của những tinh hoa văn hóa trên sẽ ngày càng được phát huy khi những giá trị mà phương Tây đạt dược cũng không hẳn là hoàn toàn ưu việt và đang phải tìm về với phương Đông để bù đắp những khiếm khuyết của mình: “Ngay cả ở châu Âu bây giờ, những bộ óc lớn chăm chú theo dõi những quy luật của tiến hóa, đã tố cáo những hiểm nguy và khuyết tật của nền văn minh cơ khí đang nhằm làm bá chủ thế giới đó… Thậm chí một đôi người đã quay lại nhìn về phương Đông, nơi họ lục tìm trong các nền triết học xưa để nhận ra những bài học về minh triết” (22). Lý tưởng hơn cả là có thể đi đến được sự hài hòa giữa phương Đông và phương Tây, giữa khoa học châu Âu và minh triết châu Á.

  • Học tập tư tưởng và học thuật phương Tây

Trong bài viết Bàn về quốc học (Nam Phong, số 163), Phạm Quỳnh đã bày tỏ quan điểm là ở Việt Nam không có một nền quốc học chân chính. Cũng chính vì vậy Phạm Quỳnh đã rất chú trọng dịch thuật nhiều tư tưởng học thuật mang tính chất bách khoa của phương Tây để nâng cao dân trí.

Phạm Quỳnh chủ trương giới thiệu những lý thuyết mang tính tri thức bách khoa cho người dân An Nam. Phạm Quỳnh là người Việt Nam đầu tiên dịch, giới thiệu và bàn luận về triết lý cổ Hi La, những học thuyết của Descartes, Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte,… Với một cách viết cẩn trọng, tỉ mỉ nhưng cũng rất rõ ràng, dễ đọc, dễ nhớ, Phạm Quỳnh đã đưa người đọc đến với tri thức của rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, từ triết học, xã hội học, luật học, sử học đến kinh tế học, văn học nghệ thuật… Phạm Quỳnh đặc biệt đề cao nền văn minh học thuật nước Pháp bởi “nhân đạo là đặc tính hiển nhiên, có thể gọi được là “linh tính” của cả văn minh học thuật nước Pháp” (23). Vậy mà dường như người Pháp với những gì đang thi hành tại Việt Nam lại đang đi ngược với truyền thống văn minh của mình. Nếu có cái gọi là sự tiến bộ, thượng đẳng của người Pháp như người Pháp tự xưng: “Tôi làm người Pháp bao nhiêu, là làm người bấy nhiêu” (24), thì người Pháp phải hành xử sao cho xứng đáng với cái địa vị thượng đẳng đó.

Phạm Quỳnh cũng chú ý giới thiệu chuyên sâu về lý luận văn học và thực hành phương pháp nghiên cứu văn học mới. Phạm Quỳnh đã khảo dịch về lịch sử văn chương Pháp, về nghề văn, về cách viết tiểu thuyết, về thơ, kịch nói, các tác phẩm nổi tiếng đương thời,…tất cả đều có tính gợi ý, định hướng cho bước hình thành và phát triển văn mới ở nước ta theo mẫu hình văn phương Tây. Có thể nói, Phạm Quỳnh luận về văn học với tư cách một nhà khai sáng, viết lí luận cho những người thực hành và vì thế là nhà thiết kế chi tiết và công phu cho văn học Việt nam hiện đại.

Phạm Quỳnh đã phê bình một số tác phẩm văn học khác như Giấc mộng con của Tản Đà (1917), Một tấm lòng của Đòng Như Khuê (1918), Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (1918),…theo lối cũ. Lời phê bình còn mang tính điểm bình, ước lệ và đôi chỗ vẫn còn dấu vết của văn biền ngẫu. Tiếp thu lý luận phương Tây, Phạm Quỳnh đã thực hành phương pháp phê bình mới trong bài viết về Truyện Kiều (1919). Đây cũng chính là cột mốc của phương pháp phê bình hiện đại Việt nam thế kỷ XX.

  • Xây dựng nền giáo dục phù hợp với người Việt

Con người luôn là yếu tố quan trọng nhất trong mọi kế hoạch, chiến lược, đặc biệt là trong chiến lược để giành được vị thế độc lập, bình đẳng cho dân tộc. Vì vậy, nâng cao dân trí luôn luôn là nhiệm vụ cấp bách. Giới thiệu tư tưởng học thuật phương Tây là nâng cao dân trí, nhắc lại hệ thống bài bản tinh hoa văn hóa phương Đông cũng là nâng cao dân trí. Nhưng nếu được đào tạo một cách bài bản, sức mạnh dân tộc được tạo ra từ thế hệ trí thức mới sẽ càng mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, theo Phạm Quỳnh, một lý do không thể bỏ qua trong việc xây dựng nền giáo dục phù hợp cho người Việt: đó là vì tầng lớp trí thức tinh hoa truyền thống đã không còn thể hiện được uy tín và vai trò quan trọng của mình (có lúc Phạm Quỳnh gọi là tầng lớp thượng lưu/tầng lớp lãnh đạo/ tầng lớp ưu tú, các khái niệm này không hoàn toàn trùng khít nhưng đều để chỉ tầng lớp có trí thức, có khả năng định hướng tương lai dân tộc). Ông cho rằng: các tầng lớp nhân dân lao động ở mọi quốc gia đều giống nhau không có vị thế, không có tiếng nói, không thể đại diện cho những giá trị phát triển của dân tộc, tiêu chí để phân biệt sự phát triển của các quốc gia là tầng lớp thượng lưu, Phạm Quỳnh quan niệm trước hết phải cải cách từ chính tầng lớp này (25). Lựa chọn được một nền giáo dục phù hợp sẽ giúp tầng lớp này thay đổi được diện mạo quốc gia.

Cấu trúc thích hợp cho nền quốc học chính là điều Phạm Quỳnh đang nỗ lực truyền bá: tích hợp được các lý tưởng của cả Đông và Tây, hấp thu khoa học và văn minh phương Tây nhưng vẫn gắn bó với ngôn ngữ, truyền thống lâu đời của chủng tộc mình. Phân tích bí quyết tạo ra sự thay đổi thần kỳ diện mạo nước Nhật, Phạm Quỳnh tin tưởng rằng với sự trợ giúp của người Pháp, nước Nam có thể làm được những điều mà nước Nhật làm được bằng cách học tập mô hình giáo dục của Nhật Bản. Ông đã lược thuật tỉ mỉ hệ thống giáo dục Nhật từ mẫu giáo cho đến đại học và hi vọng chúng có thể áp dụng được vào Việt Nam.

Vấn đề ngôn ngữ luôn được Phạm Quỳnh đề cao, đó là cơ sở để xây dựng một nền văn hóa dân tộc, thậm chí là một căn cứ để khẳng định sự tồn tại của đất nước: “Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành ra một dân một nước. Cho nên xưa nay nước nào dân nào cũng có một thứ tiếng riêng, có dân có nước bờ cõi đã mất, quốc thể không còn, mà còn giữ được quốc âm, cũng không đến nỗi tiêu diệt đi được” (26).

Thể hiện lòng tự hào về Tiếng Việt, trong bài Một vấn đề ngôn ngữ học (1930), tác giả viết: “Nếu tiếng nước chúng tôi thiếu vốn từ vựng khoa học và kĩ thuật do khi xưa cha ông chúng tôi chưa thấy cần thiết, thì mặt khác nó lại phong phú vô cùng các cách nói độc đáo, và xét về màu sắc, vẻ đẹp, sự hài hòa hay thậm chí tính thơ quyến rũ, thì nó không nhường bất cứ tiếng nào” (27). Đồng thời ông cũng kiên quyết chống lại thứ “tiếng lai”. Từ đó, tác giả dẫn ra ý kiến của Gandhi: “Không có gì bất hạnh hơn là không hiểu biết đầy đủ một thứ tiếng nào, bắt đầu từ tiếng nước mình” (28)

Hơn thế, quốc âm của ta đã được Latin hóa, giản ước cho việc giao tiếp là một thế mạnh của nước ta so với các nước đồng văn trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc. Giải quyết được vấn đề chữ quốc ngữ, dân trí sẽ nhanh chóng được mở mang, cuộc tiến hóa ngày càng phát triển. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Phạm Quỳnh loại trừ chữ Nho và chữ Pháp: “Chuộng chữ Pháp không tất nhiên là phải ruồng bỏ quốc âm; mến quốc âm không tất nhiên là phản đối chữ Pháp”; “Chuộng chữ Pháp là thứ văn tự cao thượng đời nay, mến quốc âm là cái tiếng nói giòng dõi của mình, không phải là hai sự phản trái nhau” (29). Người Nam cần phải biết chữ Pháp bởi đó là “cái lợi khí của văn minh” và quan trọng đó là ngôn ngữ của kẻ đang cai trị mình – biết tiếng Pháp để hiểu chính sách cai trị và có sự đàm phán, thương lượng, điều chỉnh có lợi cho dân tộc. Còn cần phải giữ chữ Nho bởi lẽ “muốn gây dựng cho thành một nền quốc văn xứng đáng, thì không thể nào đoạn tuyệt với cái cổ điển của ông cha được, mà cái cổ điển ấy, ngoài chữ Nho không kiếm đâu cho thấy được” (30).

Trên đây, chúng tôi đã tổng kết những phương thức chính mà Phạm Quỳnh đặt ra để thực hiện mục tiêu của mình, về cơ bản các giải pháp của Phạm Quỳnh đưa ra để loại trừ vị thế thuộc địa của mình tập trung phần lớn ở phương diện văn hóa và sự cải tổ chủ yếu là từ chính tư tưởng của bản thân người Việt. Dù học tập phương Tây hay dựa vào truyền thống cha ông thì chính việc nâng cao dân trí mới là chìa khóa để người Việt tự cứu chính mình.

  1. Diễn ngôn của Phạm Quỳnh và những ngã rẽ tiếp nhận

Phạm Quỳnh là một nhà văn khai sáng đặc trưng của thời hiện đại có niềm tin chắc chắn vào ngôn ngữ và các đại tự sự, tin rằng ngôn ngữ sẽ truyền tải được đúng ý định của mình đến với mọi người, thúc đẩy mọi người hành động. Tuy nhiên, ngôn ngữ thường có những ngã rẽ trong tiếp nhận mà người tạo lập văn bản không thể biết trước được, bởi lẽ đời sống của diễn ngôn phụ thuộc rất nhiều vào “tầm đón đợi” của người tiếp nhận. Phạm Quỳnh cũng không ngoại lệ. Vai trò của ông trong xã hội đương đại với cú hích lớn trong tiến trình nâng cao dân trí, cải tiến nền văn hóa thật khó có thể chối cãi. Những diễn ngôn của ông góp phần không nhỏ tạo nên công lao ấy nhưng chúng cũng làm cho ông phải chịu những oan trái và kết cục đau lòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải nói là “bất tất nhiên”.

Sự thật là có quá nhiều cách hiểu về các diễn ngôn của Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh đã thể hiện một niềm tin nhiệt thành vào diễn ngôn tiến bộ, khai sáng của người Pháp mà hầu như không nhắc đến những biện pháp cai trị khắc nghiệt của họ đối với người An Nam. Điều này khiến cho ông rơi vào trạng thái bị nghi kỵ là bồi bút thân Pháp, nhất là khi số người có tinh thần yêu nước theo kiểu bạo động truyền thống lại chiếm phần chủ lực trong làn sóng giải thực dân/thuộc địa và số dân trí thấp – không có khả năng hiểu sâu được những kiến nghị của Phạm Quỳnh lại là quá nhiều trong tỉ lệ phần trăm dân số An Nam lúc bấy giờ. Từ sự nghi kỵ đó những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với nền văn hóa dân tộc – vốn là có sự độc lập tương đối với chính trị cũng không còn được thừa nhận (như những nhận định của Ngô Đức Kế, Đặng Thai Mai…). Nhẹ nhàng hơn thì một vài nhà phê bình cho rằng phương pháp giải thuộc địa từ gốc văn hóa của Phạm Quỳnh quá trừu tượng, không thể phù hợp với thực tế thống trị thực dân. Quan điểm của Phạm Quỳnh còn là một sự thách thức với số đông dân chúng An Nam lúc bấy giờ khi ông đặt sứ mệnh lịch sử lên vai tầng lớp trí thức tinh hoa – một điều gần như ngược lại với truyền thống “văn hóa làng xã” của người Việt.

Tuy nhiên, cái khó đối với Phạm Quỳnh không phải chỉ là sự bất thông hiểu của những người đồng hương mà còn là sự nghi kỵ của người Pháp – chính những người mà ông đặt số mệnh dân tộc dưới sự bảo hộ của họ. Ngày 8/1/1945, trong báo cáo của Thống sứ (đúng ra là Khâm sứ – PT chú) Trung kỳ Healewyn gửi Đô đốc Decoux và Tổng Đại diện Mordant, có đoạn viết: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một Quốc gia Việt Nam. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng” (31)

Việc người Pháp đề phòng thận trọng trước Phạm Quỳnh là điều dễ hiểu. Các diễn ngôn của ông có thể thừa nhận sự bảo hộ, khuyến khích việc học tập tư tưởng và học thuật của người Pháp để cải tiến xã hội nhưng không bao giờ chấp nhận sự thống trị hoàn toàn của người Pháp, không bao giờ chấp nhận là bản sao của người Pháp. Đối với Phạm Quỳnh, quan trọng nhất là người Việt phải có tiếng nói riêng của mình – phải có quốc hồn của mình, từ đó có được cái bản sắc riêng và phải làm cho bản sắc ấy ngày càng có giá trị, nhận được sự tôn trọng của các nước, đặc biệt là những nước mà chúng ta đang phải dày công xích lại và học tập(32)

Tất cả làm cho bi kịch của Phạm Quỳnh đến từ cả hai phía người Pháp và người Việt.

Có quá nhiều điều để nói về Phạm Quỳnh. Có thể nhiều người cho rằng ông là một tay sai của người Pháp, trong khi Phạm Quỳnh tự nhận mình là một người yêu nước đầy mộng tưởng và một nhà cải cách xã hội. Phạm Quỳnh là sự tổng hợp của tài năng, uyên bác, tầm nhìn xa trông rộng, cống hiến, ảo tưởng, bất lực… Sự hợp tác với người Pháp là hành động nảy sinh hoàn toàn tự nhiên và trong hành động này, rõ ràng Phạm Quỳnh không chỉ tham gia vào việc tạo nên lợi ích của người Pháp mà còn hướng đến lợi ích của chính dân tộc mình. Qua việc khảo sát diễn ngôn của Phạm Quỳnh điều chúng tôi muốn chứng minh là: quyền lực chi phối việc tạo lập nên các diễn ngôn của ông chính là tinh thần giải thuộc địa- giải thuộc địa theo cách khác với các diễn ngôn truyền thống. Dù là kiến tạo lại bản chất văn hóa Việt hay phác thảo những con đường đi cho tương lai dân tộc thì cuối cùng cũng là để mong dân tộc thoát khỏi tình trạng “nhược tiểu” – đang bị ấn định trong những diễn ngôn thực dân đương thời. Tư tưởng của Phạm Quỳnh đến bây giờ vẫn còn tính ứng dụng khi chủ nghĩa thực dân diễn biến phức tạp với hình thức mới là chủ nghĩa thực dân  – thực dân về kinh tế, văn hóa, từ đó chi phối về quân sự, ngoại giao.

Về cơ bản Phạm Quỳnh là một nhà văn hóa hiện đại tin vào lí trí, diễn ngôn giải thuộc địa của ông vẫn mang tính chất đại tự sự của một nhà văn khai sáng. Từ một người đặt hết niềm tin vào ngôn ngữ, Phạm Quỳnh đã trở thành nạn nhân của chính các diễn ngôn của mình khi nó đi chệch ra khỏi tầm đón đợi của đại đa số người tiếp nhận. Hành trình giải thuộc địa của Phạm Quỳnh trên thực tế là hành trình không tới đích. Cho nên việc tìm hiểu diễn ngôn của ông là sự truy nguyên và tái tạo một hành trình dang dở nhưng đầy ý nghĩa đối với số phận một nhân vật lịch sử, văn hóa quan trọng.

———————

  • Georg M.Gugelberger: Postcolonial Cultural Studies: Origins to the 1980s, in The Johns Hopkins Guide to Literary Theory & Criticism (Michael Groden, Martin Kreiswirth, Imre Szeman ed.) The Johns Hopkins University Press, Baltimore, 2005
  • Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập, Tái bản, NXB. Văn học, H., 2007, tr.879-880.
  • Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, (Nguyễn Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quốc Chiến dịch), Nxb. Tri Thức, H.,2007,tr68-69.
  • (5), (6), (23), (24), (26), (29) Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp…, Sđd, tr.138, 456,440, 86, 3, 383, 283.

(7) , (8) Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập , Sđd., tr.889, 878-879.

(9) , (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (25), (27), (28) Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp…, Sđd, tr.39, 116, 136, 376, 378, 355, 331, 329, 184, 170, 209, 210, 217, 154, 284-285, 471-472, 273.

(30) Phạm Quỳnh: Luận giải văn học và triết học (Trịnh Bá Đĩnh biên soạn). Nxb. Văn hóa Thông tin, H., 2003, tr.59.

(31) Phạm Tôn: Phạm Quỳnh năm 1945. Nguồn: https://phamquynh.wordpress.com/2014/05/pham-quynh-nam-1945/

(32) Phạm Thị Nhung: Cô Kiều với Phạm Quỳnh Nguồn: https://phamquynh.wordpress.com/2010/09/03/co-kiều-với-phạm-quỳnh-phạm-thị-nhung/

 

Tháng Mười 14, 2017

Vài ý kiến trả lời ông Đinh Nho Hoan

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

VÀI Ý KIẾN TRẢ LỜI ÔNG ĐINH NHO HOAN

Đặng Minh Phương

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng ở cuối số báo Xưa và Nay số 487 tháng 9 năm 2017 trên các trang 65 và 66.

—o0o—

Trong bài “Đôi điêu suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh” trên tạp chí Xưa và Nay số 486 (8/2017), tác giả Đinh Nho Hoan có trích một đọan trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” của tôi đăng trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 447 ngày 27/4/2017.

Ông Đinh Nho Hoan viết:

Trước tiên tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rẳng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa”…

Điều quan trọng xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chi công khai thời thượng đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp.

Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!… Và ông Đinh Nho Hoan dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết”…

Tôi xin trả lời như sau:

Đúng là trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 447, tôi có trích lại một đoạn ngắn của ông Quản Văn Đàn đã đăng trên Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 438 ngày 23/2/2017, đoạn sau đây:

… “Năm 1931, dưới chiêu bài gửi thư cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp “xin lại Tổ quốc đã mất”, Phạm Quỳnh bày tỏ tư tưởng nô lệ, lòng trung thành với nước Pháp như thế này:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa!”…

Trong trích dẫn đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có khuyết điểm là không chú thích rõ xuất sứ bài của ông Phạm Quỳnh như ông Quản Văn Đàn đã ghi là (Tiểu luận… sđd, trang 334). Và bài ông Quản Văn Đàn đăng trên báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 439 mà tôi ghi nhầm là số báo 438 cho nên người đọc tìm không thấy trên số báo 438.

Ông Quản Văn Đàn cũng có nhầm lẫn là câu của ông Phạm Quỳnh viết trong Tiểu luậnSứ mệnh của nước Pháp” chứ không phải là trong Thư gửi cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp năm 1931.

Bài “Sứ mệnh của nước Pháp” của ông Phạm Quỳnh đã được in trong tập sách Phạm Quỳnh, Tiểu luận, viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, ESSAIS 1922 – 1932, do Nxb. Tri Thức, Hà Nội dịch in năm 2007 (bản tiếng Việt).

Trong bài “Sứ mệnh của nước Pháp” do Ngô Quốc Chiến dịch từ tiếng Pháp trong sách nói trên, có đầy đủ câu tôi trích dẫn và còn dài hơn, như sau:

… “Người nước Nam không còn phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó, như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ của Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn tiếc nuối Tổ quốc ấy nữa, như thế có lẽ là một đòi hỏi quá đáng. Nhưng chấp nhận nó như một thực tế cần phải kính cẩn nghiêng mình và cố gắng moi ra từ thực tế này phần lợi nhất có thể, đó là điều họ làm hằng ngày bằng một thiện chí không mệt mỏi.

Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử, đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu chính trị”…

Tôi không hề bịa đặt. Đề nghị báo Xưa và Nay đăng ý kiến của tôi để bạn đọc rõ, khỏi hiểu lầm.

 

Đôi điều suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM NHÂN ĐỌC HAI BÀI BÁO VỀ PHẠM QUỲNH

Đinh Nho Hoan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mục Tòa soạn và Bạn đọc, tạp chí Xưa và Nay đã đăng bài này trên các trang 53-55 số báo 486 tháng 8 năm 2017.

—o0o—

Bài báo “Những mối chân tình của cụ Thượng Chi”, tác giả Năm Châu Đốc và bài báo “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” tác giả Đặng Minh Phương cùng đăng trên Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh các số 398 và 447, đã đưa đến cho tôi một số ngẫm nghĩ. Tôi xin phép nên vài ý kiến nhỏ, góp thêm phần tìm hiểu một học giả thực sự đã đi vào lịch sử.

Trước tiên, tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp, năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ Quốc và không còn nuối tiếc Tổ Quốc ấy nữa”

Nếu ông Phạm Quỳnh có gửi bức thư như thế này cho Toàn quyền Đông Pháp thì ông ta quả là một tên phản quốc mạt hạng, đáng bị muôn đời phỉ nhổ. Nhưng tôi có những lập luận để tin rằng ông Phạm Quỳnh không hề viết bức thư này.

Điều rất quan trọng, xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn trích này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay, chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chí công khai thời thượng, đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp. Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!

Để rộng đường suy xét, ta đặt giả thiết, nếu có bức thư này thì việc gì sẽ xảy ra, ngay khi nó ra dời? Chắc chắn thực dân Pháp sẽ tìm mọi cách tung nó thật rộng rãi khắp cõi Đông Pháp, đầu tiên là trên chính tạp chí Nam Phong. Vì thời điểm này, cả ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ dang bùng nổ một phong trào chống Pháp dữ dội: Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh, nông dân Thái Bình, Quảng Ngãi, công nhân các nhà máy ở Trường Thi, Bến Thủy, ở đồn điền Dầu Tiếng… đang đồng loạt nổi dậy. Pháp đang phải dùng vừa bạo lực vừa lừa phỉnh để đàn áp, dập tắt phong trào. Nếu có thì bức thư này sẽ là một vũ khí tiếp sức cho Pháp lung lạc tinh thần của quần chúng nổi dậy. Nhưng đến hôm nay, ta không hề thấy dấu viết bức thư này trên các phương tiện truyền thông thời đó vẫn còn lưu trữ khá đầy đủ trong các văn khố nhà nước.

Còn thêm một suy luận nữa giúp ta khẳng định thêm, ông Phạm Quỳnh không viết bức thư này. Hầu hết các trước tác của ông Phạm Quỳnh thời còn làm báo, đến nay đã được tái bản, cả trong nước lẫn ngoài nước. Những bài viết này, đọc kỹ, ta đều thấy có mối liên hệ, như một mạch ngầm tư tưởng, kết nối các tác phẩm với nhau. Tuy nhiên, không có bài viết nào có chút liên hệ, dù chỉ thoáng qua, giữa bức thư ông Đặng Minh Phương đưa ra với những bài viết đã công bố.

Chúng ta đều biết, thông thường tư tưởng của một con người, trước sau rồi cũng sẽ biểu lộ ra hành động. Nhưng ở ông Phạm Quỳnh, khi làm báo, cũng như lúc làm quan to, không hề có một hành động nào chống phá cách mạng, hại dân, hại nước, cũng không hề có một hành động nào thể hiện tư tưởng sẵn sàng xóa bỏ Tổ quốc để được làm  nô lệ cho Thực dân.

Nhà sử học Văn Tạo nhận xét: “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đày các nhà yêu nước…

Đến đây, ta có thể dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết.

Một số tài liệu nữa, ông Đặng Minh Phương đưa ra, nhằm kết tội ông Phạm Quỳnh, cũng có tình trạng như tài liệu trên: Nó dựa vào trí nhớ, lời nói của những người đã xa lánh cõi trần từ rất lâu. Theo ông Phương cho biết, sinh thời, các cụ đã kể cho người này người nọ nghe. Các vị nghe kể lại, nay cũng đã qua đời. Nhưng thuở còn tại thế thì đã có lúc các cụ kể lại cho lớp người ngày nay cũng đã lên hàng lão. Như thế, câu chuyện đến tai ông Phương đã qua trí nhớ của ba thế hệ vào hàng đại lão. Nội dung những lời kể này không thấy lưu lại hôm nay bằng văn bản xưa. Đến một mẩu tin nhỏ trên báo chí thời thượng để kiểm chứng độ chính xác của nó đều không có. Vì thế, ta có sơ cở để tin là nó không có.

Có một tài liệu rất đáng tin cậy của thời đó đánh giá hoạt động chính trị của ông Phạm Quỳnh. Đó là bản báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Healewyn ngày 3/1/1945 (Đúng ra là ngày 8/1/1945 – PT chú) gửi Toàn quyền Decoux và trung tướng Mordant:

“Vị thượng thư ày vốn đã chiến đấu suốt cả đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, chống lại sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ và cho người An Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại chấp thuận một chế độ tư trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ, khước từ chế độ thuộc địa ở Nam kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài hòa nhã và thận trọng, con người đó đúng là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam, và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước và chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Khâm sứ Trung kỳ là viên quan thực dân đứng đầu xứ, kiểm soát cả triều đình Huế, quyền uy chỉ đứng sau Toàn quyền Đông Pháp. Trung tướng Mordant là tổng chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Pháp. Cả ba, Decoux, Healewyn và Mordant đều đầu sỏ, quyền lực bao trùm cả sáu xứ Đông Pháp. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của họ là trấn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng, bảo vệ xứ Đông Pháp cho nước Pháp.

Báo cáo của Healewyn về quan thượng thư Phạm Quỳnh là một văn bản nhà nước gửi đến tên cầm quyền tối cao của thực dân toàn cõi Đông Pháp. Nó mang tính chất tổng kết, đánh giá và gián tiếp đề ra hành động đối phó với Phạm Quỳnh nên Healewyn phải suy nghĩ, cân nhắc. Dứt khoát không thể báo cáo ẩu, có sự thiên vị bao che cho ông Phạm Quỳnh.

Ở đoạn trích này, ta thấy rõ, chính những bọn đầu sỏ thực dân đã phải thừa nhận ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước, không thể bị lung lạc bằng tiền tài, danh vọng. Phạm Quỳnh đã bền bỉ đấu tranh vì sự nghiệp giành lại quyền tự chủ cho người Việt không bằng con đường bạo động.

Về mặt logic hình thức, đoạn trích này đã bác bỏ toàn diện, triệt để nội dung đoạn trích dẫn không có nguồn gốc mà ông Phương đưa ra.

Với tất cả những lập luận trên, ta có thể kết luận ông Phạm Quỳnh, về mặt chính trị, không phải là người phản dân, hại nước. Ở một cái nhìn thoáng rộng, vượt ra ngoài những định kiến hẹp hòi, chúng ta có thể đánh giá ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước.

Tôi có cảm giác hai ông Nam Châu Đốc và Đặng Minh Phương mới khảo sát con người chính trị của ông Phạm Quỳnh. Còn hơn một nửa nữa là con người hoạt động văn hóa khiến ông trở thành một học giả, được lưu danh trong sử sách, thì hai vị đề cập quá nhạt.

Về sự nghiệp văn hóa của học giả Thượng Chi, cũng chính nhà sử học Văn Tạo đã nhận xét và đánh giá:

“… Nhưng mặt khác, ông có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Công lao đó đáng được ghi nhận”.

Nhà văn lão thành, nổi tiếng trung thực Nguyễn Công Hoan, sinh thời cũng có một đánh giá tương tự.

Chúng ta đồng ý với sự đánh giá của hai vị.

Xin bàn rộng thêm một chút. Khoảng hai thập niên đầu của thế kỷ XX, quốc ngữ đang được rất nhiều nhà văn hóa cả nước vun trồng, bồi đắp, để vươn lên thành một ngôn ngữ hoàn chỉnh, có thể chuyển tải được chính xác những nội dung tư tưởng, khoa học, triết học của nhân loại. Người Việt đương thời đang có ước mong Quốc ngữ sẽ thay chữ Hán và chuẩn bị sánh vai với tiếng Pháp trong mọi giao tiếp xã hội.

Một trong những người có công trong sự nghiệp này là học giả Phạm Quỳnh. Quao Đông Dương tạp chíNam Phong tạp chí, ông đã giới thiệu, diễn giảng một khối lượng rất lớn các nền văn hóa, các tư tưởng gia trong thế giới phương Tây. Từ đó, ông đã góp phần làm ngôn ngữ dân tộc trở nên chính xác, phong phú, uyển chuyển. Cũng từ đó, nền văn hóa dân tộc được bồi bổ, tầm mắt người Việt được rộng mở.

Thế hệ người Việt đầu tiên được tiếp xúc với văn hóa phương Tây là các nhà nho trong phong trào Duy Tân. Nhưng các cụ chỉ tìm hiểu cho chính mình và phải qua tân thư của Tàu. Chỉ đến thế hệ của học giải Thượng Chi, người Việt mới được tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Vì thế nó được quảng bá rộng rãi.

Về sau, đã có người coi những bài viết của học giả Thượng Chi trong hai tạp chí Đông DươngNam Phong như bộ bách khoa toàn thư cho các thế hệ người Việt những năm đầu thế kỷ XX. Đánh giá này có phần đã nói quá. Nhưng qua đó, ta có thể hình dung được khối lượng kiến thức lớn lao mà học giả Thượng Chi đã chuyển tài đến người đọc.

Từ những nhận xét trên ta có thể kết luận: Học giả Thượng Chi là một nhà văn hóa, có những đóng góp đáng trân trọng cho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, cho sự giao lưu văn hóa Đông – Tây, cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Đồng thời, quan thượng thư Phạm Quỳnh là một người yêu nước, có những hoạt động yêu nước theo cách thức của cụ.

Tháng Chín 30, 2017

Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

 Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Lời dẫn của Phạm Tôn: Cách đây hơn 20 năm, tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta đã xuất hiện một tập Truyện ngắn Nam Phong in một số truyện đã đăng trên 211 số báo Nam Phong. Nhưng lần này, mới là lần đầu tiên xuất bản toàn tập truyện ngắn đã đăng trên Nam Phong do Tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo sưu tầm và biên soạn,  Nhà xuất bản Văn học xuất bản với 540 trang sách khổ 15x23cm, in xong và nộp lưu chiểu năm 2012.

Sau đây là Lời mở đầu tập sách của Phó giáo sư Lê Chí Dũng nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Đà Lạt, giới thiệu tập sách này.

—o0o—

Vào đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, khi thành thị Việt Nam đang tư sản hóa cùng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân, khi văn hóa nước ta giao lưu mạnh mẽ với văn hóa phương Tây, chủ yếu là với văn hóa Pháp, và một tầng lớp trí thức Tây học ra đời thay thế cho tầng lớp trí thức Nho học đang tàn tạ, thì vấn đề đổi mới văn học, đưa văn học vào quỹ đạo chung của văn học thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách. Văn học Việt Nam lúc đó đứng trước hai khả năng phát triển: hoặc cách tân dần dần văn học truyền thống để đi đến văn học hiện đại; hoặc học tập văn học phương Tây, theo hệ thống thể loại văn học ấy để nhanh chóng xây dựng văn học hiện đại nước nhà.

Trong hoàn cảnh như vậy, việc phát triển truyện ngắn, đương nhiên cũng đứng trước hai khả năng: đổi mới dần dần truyện ngắn truyền thống; hoặc nương theo thể loại truyện ngắn phương Tây, mau chóng tạo ra truyện ngắn hiện đại Việt Nam.

Các nhà nho, như Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Hiếu, đã chọn khả năng thứ nhất. Phan Bội Châu dùng văn học để tuyên truyền, cổ động cho sự nghiệp cứu nước. Nhà chí sĩ đã cách tân nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó có thể loại truyện kể ngắn; đó là những sáng tác bằng văn xuôi chữ Hán, như các truyện Nguyễn  Hàm, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân, Nữ liệt sĩ Đinh phu nhân, Tái sinh sinh, Nhà sư ăn rau, Chân tướng quân, Phạm Hồng Thái truyện, và các truyện được viết bằng tiếng Việt, như Truyện ông Lý Hồ, Anh Khờ, Kểnh và Càng. Đọc những truyện này, độc giả cảm nhận rõ ảnh hưởng của liệt truyện – một thể loại được Tư Mã Thiên sử dụng để viết Sử ký, một thể loại rất thông dụng đối với nghệ sĩ ngôn từ ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thời trung đại. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đến với văn học nước nhà giữa lúc các thể loại văn học truyền thống bị “xuống giá” so với hệ thống thể loại văn học phương Tây tràn vào Việt Nam, “xuống giá” tới mức không chỉ khiến Nguyễn Bá Học nói một cách cực đoan rằng thơ, phú, lục của nhà nho “tô điểm sai cả cảnh thực”, “dù cho quỷ khốc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”, mà còn làm Ngô Đức Kế buộc lòng thú nhận văn học cũ “chỉ tả được những cảnh kiều sương, điếm nguyệt, mục thụ, tiều phu, không lấy gì cho lạ tai mới mắt, thêm tri thức, thêm học vấn”. Sáng tác văn chương, “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, trong đó có viết truyện, Tản Đà mong muốn thể hiện trên trang giấy “những điều ta nghe, mắt thấy”, “không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội”, “để nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh sau được nghe câu chuyện về thuở trước”. Đọc truyện của Tản Đà, như Thề non nước, Thần tiên, độc giả thấy ông kế thừa lối viết truyện của tác giả Truyền kỳ mạn lục.

Các nghệ sĩ ngôn từ thuộc tầng lớp trí thức Tây học, như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, đã chọn khả năng thứ hai. Ở Nguyễn Công Hoan truyện ngắn đã đạt tới hiện đại ở giáp ranh những năm cuối 1920 – đầu những năm 1930 và trong truyện ngắn của ông lối kể chuyện dân gian rất rõ. Nếu nói rằng truyện ngắn hiện đại là cuộc phiêu lưu vô tận của nhà văn vào thế giới tâm lý của nhân vật, thì truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao là truyện ngắn hiện đại loại đó.

Trong sự vận động và phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và của truyện ngắn nói riêng, độc giả có thể thấy Đặng Thai Mai viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, in trên các báo ở Hà Nội; Cung Giũ Nguyên viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Đây là một hiện tượng nhất thời trong văn học hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc trong những năm cuối 1910 và những năm 1920 viết văn chính luận, truyện ngắn, ký và tiểu phẩm báo chí, in trên báo ở Paris. Những văn phẩm này của Nguyễn Ái Quốc theo các chuyến tàu biển từ Pháp về Việt Nam, lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, và đến các nước thuộc địa và phụ thuộc khác của chủ nghĩa thực dân. Những sáng tác văn chương ấy của Người đã đặt nền móng cho văn học cách mạng của giai cấp vô sản Việt Nam và chắc chắn đã góp phần xây dựng nền văn học cách mạng ở các nước từng là thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Viết văn bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc hướng sự tuyên truyền, vận động và tổ chức cách mạng vào quần chúng nhân dân, nhưng thông qua cái cầu nối là những người yêu nước, đồng thời thông thạo tiếng Pháp, thích văn học Pháp và tiếng Pháp trong sáng, tinh tế. Đó là chỗ khác biệt căn bản giữa Nguyễn Ái Quốc và những người kể trên khi dùng tiếng Pháp sáng tác văn chương. Chỗ khác biệt nữa giữa Nguyễn Ái Quốc và những người ấy là: viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, như Les lamentations de Trung Trac (Những lời than của bà Trưng Trắc), Incognito (Vi hành), Turlupinades ou Varenne et Phan Boi Chau (Những trò lố hay Varenne và Phan Bội Châu), La tortue (Con rùa), L’enfume’ (Con người biết mùi hun khói), D’un commun accord (Đồng tâm nhất trí), Nguyễn Ái Quốc kế thừa truyền thống giáo dục bằng lịch sử, bằng các nhân vật anh hùng trong lịch sử, bằng người thật, việc thật, sử dụng nghệ thuật ngụ ngôn…của văn học trung đại Việt Nam.

Như vậy, người Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, dù với những mục đích khác nhau, chỉ là hiện tượng nhất thời, không tạo ra một dòng văn chương bằng tiếng Pháp bên cạnh dòng văn chương bằng tiếng Việt trong con sông văn học hiện đại Việt Nam.

Nhìn lại những điều đã được trình bày ở trên, có thể rút ra điều sau đây: những truyện ngắn của Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc, của Tản Đà, Thạch Lam và Nam Cao, tuy viết bằng chữ Hán, bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Việt, và theo đuổi những mục đích khác nhau, nhưng đều cho thấy thể loại đang sống trong hiện tại bao giờ cũng nhớ đến quá khứ của mình.

Các tác giả của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí đã chọn khả năng nào trong hai khả năng phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và những truyện ngắn đó có vị trí như thế nào trong tiến trình xây dựng và phát triển truyện ngắn hiện đại Việt Nam? Nhằm mục đích cung cấp tư liệu để các nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc có thể trả lời một cách xác đáng, cụ thể câu hỏi đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo đã sưu tập toàn bộ truyện ngắn – hơn 60 truyện đã được đăng tải trên tạp chí tồn tại từ 1917-1934 ấy. Đó là cống hiến tủa tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo.

Các tác giả của những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí  đã cố gắng kể lại cho hệt những điều tai nghe, mắt thấy hoặc nếm trải trong cuộc sống – xã hội đời thường, một cuộc sống – xã hội khiến cho nhiều người đương thời phải than thở:

Ngồi buồn nghĩ chuyện vẩn vơ,

Quái, con ngựa sắt bây giờ đi đâu?

Anh hùng vắng mặt từ lâu,

Trên đầu phành phạch chiếc tàu nó bay”;

một cuộc sống – xã hội đầy rẫy những thối nát, bất công, thù địch với con người… Thi thoảng thấy đôi đốm sáng về người tốt, việc tốt trong những truyện ngắn ấy, thì ở thuật giả cũng pha tạp cảm hứng ngợi ca với cảm hứng phê phán. Nghĩa là truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí né tránh những vấn đề quốc sự (đọc hơn 60 truyện ngắn trên tạp chí này, chỉ gặp được một dòng có quan hệ đến quốc sự ở cuối truyện Câu chuyện ra ở đời của Tam Phủ: “ […] thuật giả nghe nói một người bị bắt, vì việc cộng sản, dây dưa thế nào, thuật giả lấy làm lạ; còn người kia được tin thời nghe nói ngồi khóc, […]” ).

Một điều đáng chú ý ở những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí là: những truyện ngắn này đã lọc qua chủ trương “điều hòa tân cựu”, “thổ nạp Á- Âu”. Có thể thấy rõ điều này nơi những tác giả các truyện ngắn: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục là những người cựu học; những người cựu học chuyển sang tân học: Nguyễn Bá Học và Hoàng Ngọc Phách; những người tân học: Phạm Duy Tốn và Lê Đức Nhượng. Ở truyện của Đông Châu và Tùng Vân không có chút gì gọi là truyện ngắn. Ở truyện ngắn Nguyễn Bá Học là sự mô tả khách quan, nhưng không vượt thoát được quan niệm văn học cũ; vừa làm quen với lối kể chuyện, mô tả, đối thoại của truyện ngắn hiện đại, vừa sử dụng văn biền ngẫu và chưa ra khỏi cách xây dựng hình tượng của văn học trung đại. Lê Đức Nhượng, không chỉ viết được nhiều truyện ngắn hơn, mà còn viết khéo hơn so với Nguyễn Bá Học. Về Phạm Duy Tốn, có nhà nghiên cứu đánh giá rằng “[…] lấy một truyện của Phạm Duy Tốn đem đặt cạnh một truyện cổ điển, ta thấy có một sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” (Thanh Lãng). Quả là truyện ngắn của Phạm Duy Tốn là một bước tiến về phía trước so với truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, nhưng vẫn chưa thể nói đó là một “sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” so với “truyện cổ điển” được. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, kể cả truyện ngắn nổi tiếng của ông Sống chết mặc bay, vẫn chưa đạt tới truyện ngắn hiện đại.

Nói đến sự vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại nước nhà, không thể quên vị trí đi đầu của truyện ngắn Nam Bộ, trong đó có truyện Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu văn học coi là tác phẩm hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam – đã được xuất bản tại Sài Gòn năm 1887.

Truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí xuất hiện chậm hơn truyện ngắn Nam Bộ hai thập niên;nhưng cả truyện ngắn trên Nam Phong, cả truyện ngắn Nam Bộ đều ở bước đi đầu tiên của truyện ngắn hiện đại Việt Nam và đều nằm trong quỹ đạo của sự lựa chọn khả năng thứ hai cho sự phát triển của truyện ngắn nước nhà.

Năm 1965, ở miền Bắc, sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã soạn Mục lục tư liệu văn hóa, văn học trên Nam Phong tạp chí  theo sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Lộc; năm 1968, ở miền Nam, Nguyễn Khắc Xuyên soạn và ấn hành Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (công trình này được nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Đông Tây tái bản, Huế, 2002). Nhờ những công trình như thể, độc giả hôm nay vô cùng thuận lợi tìm “địa chỉ” của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí . Tuy nhiên để đọc được những sáng tác đó, độc giả phải vào thư viện, tiếp xúc với bụi và mọt, với microfilm dưới ánh đèn nhức mắt, ngày này qua ngày khác. Độc giả ở Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí Minh có thể đọc những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí theo cách này. Độc giả ở những nơi khác thì đành…chào thua!

Sưu tập toàn bộ những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí để ấn hành, trao tận tay bạn đọc, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo cũng tính đến những điều ấy…

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa Toàn tập truyện ngắn Nam Phong.

PGS.TS Lê Chí Dũng

Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn

Trường Đại học Đà Lạt

 

100 năm Nam Phong tạp chí – Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp Chí

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Nguyễn Hữu Sơn

(Bài thu tại www.tapchisonghuong.com.vn ngày 19/8/2017)

  1. Việc nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí (1917 – 1934) trước hết cần đặt tạp chí này trong bối cảnh lịch sử – văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam và xu thế thực dân hóa trên thế giới đã vượt qua cao trào và chuyển dần sang giai đoạn thoái trào. Thời điểm ra đời Nam phong tạp chí (1917) rơi vào khoảng lặng giữa hai cuộc khai thác thuộc địa của nhà nước thực dân Pháp, lần thứ nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929). Sự tồn tại qua 17 năm của Nam phong tạp chí hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thực dân Pháp đã căn bản dẹp xong các cuộc kháng cự, từng bước đạt được sự ổn định và phát triển. Trên nền tảng thực tại đời sống tư tưởng, kinh tế, xã hội đã tạo đà cho học thuật, văn chương nghệ thuật, báo chí, xuất bản phát triển lên một tầm mức mới. Ở đây cần đặc biệt coi trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nhận diện đúng các đặc điểm và xác định đúng mức giá trị, ý nghĩa tiến bộ của Nam phong tạp chí, hạn chế tối đa lối đánh giá cực đoan, quy kết một chiều như đã từng đối xử với tổ chức Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, tư trào văn học lãng mạn và các nhóm Tri tân, Thanh nghị, Xuân thu nhã tập, v.v…
  2. Việc xác định tương quan giữa chính trị và văn học trên Nam phong tạp chí cần được xem xét, khảo sát đồng bộ ở ba phương diện cơ bản: Vai trò đội ngũ tác giả – Định hướng sáng tác – Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình và dịch thuật.
    • Vấn đề cần nhận thức và đi sâu khảo sát trước hết là định hướng tổ chức chính trị và đội ngũ tác giả đã làm nên lịch sử của Nam phong tạp chí, tức là tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người chủ trương và những người thực thi, thực hiện…

Không có gì phải bàn cãi việc ngài Albert Pierre Sarraut (1872 – 1962), quan cai trị, chính khách đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương lần hai (1917 – 1919), đã chỉ đạo Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị Đông Dương làm người sáng lập Nam phong tạp chí cùng học giả 25 tuổi Phạm Quỳnh làm Chủ bút kiêm Chủ nhiệm… Không chỉ với Nam phong tạp chí, Phủ Toàn quyền và Nhà nước bảo hộ Pháp đương thời còn khai sinh, bảo trợ cho Viện Viễn Đông bác cổ (từ 1900) và các tờ Gia Định báo (1865 – 1910), Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Đại Việt tân báo (1905 – 1908), Lục tỉnh tân văn (1907 – 1944), Đông Dương tạp chí (1913 – 1939), Trung Bắc tân văn (1913 – 1941), kể cả tài trợ in sách Đại Nam quốc âm tự vị (hai tập, 1895 – 1896) của Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907), bảo trợ cho gánh hát cải lương Phụng Hảo (1936), v.v… Hãy xem các ông chóp bu của chế độ thực dân nửa phong kiến bấy giờ trực tiếp xác lập tư tưởng chính trị và định hướng tôn chỉ, mục đích bản chí: “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7/1917, tr.1)… Cứ bằng vào lời phi lộ này và thực chất thước đo hiệu quả “nói và làm” trong suốt 17 năm tồn tại có thể ghi nhận Nam phong tạp chí đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, đặc biệt trên phương diện văn hóa – văn học, trong khi mệnh đề thứ hai “cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế” dường như chỉ là những mỹ từ cho đẹp đường lối chung chứ tuyệt nhiên không ăn nhằm gì và cũng vượt ra ngoài khả năng của một tờ tạp chí chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Trên thực tế, tạp chí đã chú trọng xây dựng, duy trì, điều hòa tốt mối quan hệ Đông – Tây, dân tộc – quốc tế, truyền thống – hiện đại với việc xuất hiện các bài viết bằng cả ba loại hình ngôn ngữ Quốc ngữ – Hán ngữ – Pháp ngữ. Thêm nữa, trong bối cảnh dân chủ tư sản, tạp chí vẫn rộng đường thông tin, trao đổi nhiều vấn đề nhạy cảm, dễ thường không lợi cho xu thế tập quyền của nhà nước bảo hộ: Khảo luận về chính đảng (số 103), Chế độ lập hiến và chế độ đại nghị (số 154), Nhân quyền luận (số 133), Chủ nghĩa quốc gia ở Ấn Độ (số 103), Khảo về hiện tình nước Nga (số 121), Vấn đề độc lập của Phi Luật Tân (số 196), v.v. Chính nhờ tinh thần khảo cứu khách quan và thượng tôn tư liệu mà các trang viết trên Nam phong tạp chí được người đương thời đón nhận, đánh giá cao và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều phần giá trị.

Trên thực tế, làm nên thành công của Nam phong tạp chí, học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh (30/01/1893 – 6/9/1945) đã có được một ban biên tập và cộng tác viên hùng hậu, gắn bó trong hầu suốt 17 năm tạp chí tồn tại… Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên (1923 – 2005) trong công trình Mục lục phân tích tạp chí Nam phong (Tái bản. Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.10-22) từng nhấn mạnh vị thế mấy tác giả chính: Phạm Quỳnh – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và chia loại, tôn vinh theo hai nhóm chủ yếu là nhà văn và nhà thơ… Có thể nói họ đều là những trí thức yêu nước, những cây đại thụ văn hóa đã gắn bó chặt chẽ với Nam phong tạp chí và góp công kiến tạo nền quốc văn – văn học Việt Nam giai đoạn bản lề nửa đầu thế kỷ XX.

  • Qua 17 năm phát triển, mảng sáng tác đã ghi dấu ấn sắc nét trên Nam phong tạp chí, đặc biệt khi đặt trong tương quan đời sống văn học trên báo chí giai đoạn cùng thời (1917 – 1934). Thực tế cho thấy, mặc dù có hai năm tồn tại song song, giao thoa với phong trào Thơ mới (1932 – 1934) nhưng thơ ca trên Nam phong tạp chí chủ yếu thuộc dòng thơ cũ gắn với thể Đường luật và không để lại dấu ấn nào đáng kể.

Do tính chất phức tạp, phức hợp, nguyên hợp của các loại hình và thể loại văn học mà nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong đã phân loại bộ môn XII- VĂN HỌC theo sáu chủng mục cơ bản: Văn học, văn hóa, văn minh – Văn gia, thi gia – Văn phẩm – Văn thể – Văn học thế giới – Văn học Pháp – Văn học Trung Hoa… Trên thực tế, có thể xác định thành tựu sáng tác trên Nam phong tạp chí chủ yếu lại là văn xuôi với hai thể loại chính là du ký và truyện ngắn…

2.2.1. Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên… Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký (còn được ông gọi là du hành) là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

2.2.2. Như đã phân tích, bên cạnh thể tài du ký nổi trội, ở đây chúng tôi tiếp tục xem xét thành tựu sáng tác truyện ngắn trên Nam phong tạp chí.

Theo thống kê của Nguyễn Đức Thuận, Nam phong tạp chí đã in tổng cộng 73 truyện ngắn (bên cạnh cách duy danh thể loại đoản thiên tiểu thuyết) (Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu). Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr.257)… Sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hào đã in Toàn tập truyện ngắn Nam phong (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2012, 540 trang) với tổng cộng 64 truyện. Đối chiếu các tác phẩm truyện ngắn trên Nam phong tạp chí với định hướng tư tưởng chính trị thường được lược quy là “bán nước hại dân”, “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, “nằm trong mưu lược của thực dân Pháp” lại thấy một nội dung khác hẳn. Khác biệt với định hướng chính thống, có thể khẳng định tất cả các tác giả truyện ngắn của Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), Nguyễn Mạnh Bổng (1879 – 1951), Nguyễn Tiến Lãng (1909 – 1976)… đều nhằm đề cao tinh thần dân tộc, phản ánh hiện thực đời sống xã hội và con người giai đoạn đương thời, tuyệt nhiên không thấy đâu một chiều tâm thế tuyên truyền và phục tùng chế độ thực dân Pháp như một số ý kiến từng quy kết. Xin đơn cử truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in vào ngay năm thứ hai sau khi tạp chí ra đời, được định dạng trong mục “Một lối văn hay”, trong đó phản ánh thực trạng người nông dân khốn khổ vì lũ lụt và phê phán sâu sắc bọn quan lại ích kỷ, vô trách nhiệm (cho dù truyện có chịu ảnh hưởng và mô phỏng La partie de billard của nhà văn Pháp A. Daudet, 1840 – 1897). Cốt truyện cô đúc, ngắn gọn, phác vẽ một bên là cảnh người dân cơ cực chống lụt với một bên là tên quan phụ mẫu, “quan cha mẹ” và đồng đảng, mỗi bên hút theo một mối quan tâm, cho đến kết cuộc: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!” (Nam phong tạp chí, số 18, tháng 12/1918, tr.355-357)…

Điều đặc biệt là truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn đã được ông Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh trực tiếp viết lời dẫn, trong đó nhấn mạnh chiều sâu và sức mạnh nghệ thuật “Shakespeare hóa”: “Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”…

Có thể nói bản lĩnh nhà văn, tinh thần hướng về quốc gia, dân tộc, thượng tôn bản chất thực tại cuộc sống và ý nghĩa khách quan của hình tượng nghệ thuật đã tạo nên tính nhân dân trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng như thể loại truyện ngắn, mở rộng đến toàn bộ văn xuôi, kể cả tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và tất thảy thể tài du ký đã từng xuất hiện trên Nam phong tạp chí. Điều này thể hiện định hướng, dòng chủ lưu của tiếng nói nhân dân trong các sáng tác văn xuôi trên Nam phong tạp chí mà không một ai có thể cực đoan bao biện, quy kết, phủ nhận…

2.2.3. Đối với Nam phong tạp chí, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng chính trị và khoa học xã hội vốn là định hướng chủ yếu của tạp chí.

Đặt trong tương quan với định hướng tư tưởng chính trị cũng như xu thế chung của quá trình hội nhập, giao thoa Đông – Tây và quy luật canh tân, đổi mới, phát triển, hiện đại hóa “thổ nạp Á – Âu”, việc các tác giả Nam phong tạp chí quan tâm nhiều đến yêu cầu “điều hòa tân cựu”, “tồn cổ lục”, “tổ quốc túy ngôn”, tập trung bảo tồn di sản văn hóa – văn học truyền thống, đi sâu khảo cứu chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Việt, chữ quốc ngữ; khởi động tìm hiểu từ cội nguồn ngữ văn dân gian đến trung đại và hiện đại; tổ chức kỷ niệm và đề cao vị thế danh nhân tác gia văn học như Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Vũ Quỳnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Mạc Thiên Tích, Lý Văn Phức, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Tương Phố,…; dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm tiêu biểu mà con cháu ngày nay vẫn còn được thừa hưởng như thơ văn thời Lý – Trần (123 bài), Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân thi tập, Hà Tiên thập cảnh, Thượng kinh ký sự, Văn tế thập loại chúng sinh,

Điểm danh và kiểm định toàn bộ phần sáng tác cũng như khảo cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học trên Nam phong tạp chí, thật khó mà qui kết đơn giản, cực đoan một chiều về những âm mưu, tác hại, nọc độc phản dân tộc, ru ngủ thanh niên, xa rời cuộc đấu tranh, phục vụ cho mưu đồ cướp nước, làm lợi cho thực dân…

  1. Trên tinh thần Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có Đổi mới văn học, nhiều hiện tượng tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học quá khứ đã được đánh giá, tôn vinh, giới thiệu trở lại, trong đó có vấn đề Nam phong tạp chí và học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh…

Theo thống kê bước đầu, các công trình nghiên cứu, giới thiệu từ 1986 đến nay đã khẳng định vị thế Nam phong tạp chí và vai trò học giả Phạm Quỳnh trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, chuyên khảo, luận án, luận văn; đặc biệt nhiều tác phẩm quan trọng đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Truyện ngắn Nam phong (1989), Mười ngày ở Huế (2001), Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong (Tái bản, 2002), Luận giải văn học và triết học (2003. Tái bản, 2016), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917 – 1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu) (2008), Phạm Quỳnh – con người và thời gian (2010), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Toàn tập truyện ngắn Nam phong (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (2013. Tái bản, 2014), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (2013), Thượng Chi Phạm Quỳnh (2015), Phạm Quỳnh – những góc nhìn xứ Huế (2015), v.v.

Có lẽ không cần có thêm lời bình về xu thế Đổi mới, hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ, hướng đến sự đánh giá khoa học, khánh quan, toàn diện, công bằng trước hiện tượng Nam phong tạp chí và học giả Phạm Quỳnh.

  1. Lời kết mở

Việc khảo sát, nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí không chỉ nhằm xác định, lý giải những so le nhất định trong hoạt động thực tiễn giữa những người làm báo yêu nước với chủ trương của giới thực dân, giữa những cách thức lựa chọn biện pháp đấu tranh khác nhau và hoàn cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1917 – 1934 quy định, mà cao hơn thế, còn cần đánh giá tổng thể các lĩnh vực tư tưởng chính trị, khoa học xã hội và nhân văn qua 17 năm tồn tại của tạp chí. Đương nhiên việc đánh giá Nam phong tạp chí theo tinh thần Đổi mới trước hết cần dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu tư liệu cụ thể, nghiêm túc, xác định đúng mức những đặc điểm, hạn chế lịch sử, đồng thời khẳng định những giá trị đồng hành với tiến bộ xã hội, với xu thế hội nhập, phát triển, canh tân đất nước. Đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá đúng mức vị thế Nam phong tạp chí trong lịch sử báo chí và quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.

N.H.S
(TCSH341/07-2017)

 

Tháng Chín 14, 2017

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo đã nghỉ hưu Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, thành phố Huế, từng có bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007) từ trang 36 đến trang 47. Mới đây, ông có nhã ý gửi cho chúng tôi bài Văn tế Nam Phong Chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn để bạn đọc thưởng thức thêm một nét hoài cổ của người đương thời với chúng ta

Vinh Ba_Pham Tuyen

—o0o—

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam,[1]

Đất đã khóc người xứ Bắc.[2]

Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn,[3]

Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất.[4]

Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?

Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi,[5]

Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.

Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,

Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.

Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,

Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.

Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường,[6]

Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất.[7]

Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,

Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.

Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?

Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư ,

Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.

Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, Trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,

Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, Viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.

Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,

Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực

Chí đã quyết nâng cao văn hóa, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,

Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiển Hoàng triều chọn làm chiến lược.

Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường

Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.

Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,

Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.

Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,

Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức

Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,

Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.

Mộng Vị Thủy[8] phò trợ minh vương,

Giấc Nam Kha [9]viễn trình bắc khuyết.

Rời Nam Phong tạp chí, xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang

Nhận Lại bộ Thượng Thư, đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc.

Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân

Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hòa thương thuyết.

Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!

Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;

Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.

Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên

Vành khăn tang trùm kín một gia đình, mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt

Uy vũ bất năng khuất,[10] bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,

Lương mọc kỳ hoại hồ,[11] gươm Văn Khúc[12] cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,

Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ

Nhiều nuối tiếc, hóa ra toàn có thật.

Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,

Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!

Hồn có linh thiêng,

Niệm tình thượng hưởng

Tháng 3.2009

N.P.V.B.


[1] Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917-1932. Khi thôi tham chính, mùa hạ năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.

[2] Ông phạm Quỳnh quê ở tỉnh Hải Dương thuộc miền Bắc nước ta.

[3] Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

[4] Ông mất tại một vùng hoang vắng, làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.

[5] Phạm tiên sinh sinh năm 1893, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung Kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn, nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.

[6] Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân, nhưng mất sớm vào năm 1926

[7] Ông Nguyễn Thái Học (1904-1930) bị xử tử tại Yên Bái ngày 17/6/1930, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.

[8] Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.

[9] Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của  một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.

[10] Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.

[11] Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.

[12]Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hóa

Người nặng lòng với nước – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Các bạn đọc bài này có thể sẽ thắc mắc vì sao năm 2006, tháng 8, trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay lại đăng bài Người nặng lòng với nước đều của tác giả Phạm Tôn, mà sao hai bài không hoàn toàn giống hệt nhau và cũng chẳng có bài nào giống hệt bài chúng tôi đăng dưới đây. Lý do là như sau…

Năm 2006 ấy, với khí thế đổi mới sôi nổi khắp cả nước đón chào Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng tôi quyết tâm với tràn đầy lòng tin tưởng ở sự nghiệp đổi mới, hoàn chỉnh bài viết sơ thảo từ năm 2001. Bản đầu tiên tới tay nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, là người tôi cho là có ”con mắt xanh”. Anh nhận ra ngay đây là bài có thể ra đời trong thời cơ này. Trong khi là người viết, chúng tôi còn do dự, chỉ mong hai bài Người nặng lòng với tiếng ta (viết năm 1999) và Người nặng lòng với nhà (viết năm 2000) ra đời trót lọt mới tính đến chuyện cho bài này ra đời. Nhưng anh Trần Văn Chánh đã đưa tạp chí Công giáo và Dân tộc, lại được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đọc và viết cho bức thư hai trang ”bảo lãnh”, nên mới ra đời suôn sẻ như vậy, trước sự ngỡ ngàng của tác giả và không ít người hiểu biết.

Sau đó, do có thêm tư liệu mới, tôi đã viết thêm một hai đoạn. Cho nên bài đăng trên Công giáo và Dân tộc là đăng nguyên văn, không thêm không bớt một chữ nào, nhưng vẫn không có các đoạn mới thêm đó. Bài sau này đến tạp chí Xưa và Nay, lại có sự biên tập thêm bớt nữa, cho nên đã khác lại càng khác với bài trên Công giáo và Dân tộc.

Đến bản trên blog lần này, do có thêm tư liệu, xác định được chính xác hơn một số lời nói, tình tiết, chúng tôi lại sửa chút ít, để đảm bảo sự chính xác tối đa về tư liệu lịch sử, trước khi đưa đến bạn đọc, nên lại khác đi một chút nữa.

Có điều, nội dung cơ bản ba bài vẫn như nhau, cho nên chúng tôi để nguyên ở cuối bài ngày tháng hoàn thành.

Hơn nữa, như các bạn đã đọc blog chúng tôi thì biết, chúng tôi luôn đăng theo đúng bản thảo của tác giả mà không lấy những bản đã bị cắt xén, sửa chữa

Vài hàng mạo muội trình bày để bạn đọc thông cảm sao một bài của một tác giả mà lại có đến ba bản khác nhau.

—o0o—

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Hinh 1_NuocCòn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant.Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh,  một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4 Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng I. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được hơn chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ trước khi ông được ”mời ra làm việc” trưa 23/8/1945.

Một sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến-Huế được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời Phạm Quỳnh ra làm việc”5 Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6 Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Hinh 2_NuocKhi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7 bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lHinh 3_Nuocên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).8 Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.9

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt . Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Hinh 4_NuocTrong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn  Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”10

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tayHinh 5_Nuoc. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. SHinh 6_Nuocau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin  ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng  đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

Hinh 7_Nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để Hinh 8_Nuocrủ rỉ kể lại một chuyện xưa. Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị bắt. Sau đó ít lâu, lại được bạn bè từ Huế cho biết dân chúng đang rất xôn xao về vụ Cụ bị xử tử hình. Nhân một dịp được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.12Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch13

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.14

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ mười của Phạm Quỳnh Hinh 9_Nuocmay mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)15

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”17

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể .(Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh – Thượng Chi). Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá vào bình phong của mộ hàng chữ Quốc ngữ câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Hinh 10_Nuoc

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.18

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng19

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

P.T.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chíThế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.


1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo tập tư liệu viết tay 10 trang của thiếu tướng Phan Hàm viết chiều ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

9 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

10 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

12 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

13 Giáo sư  Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

14 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

15 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

16, 17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

18 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

19 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam(trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Tháng Tám 27, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí (1934

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:09 chiều

Blog PhanTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

 DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN

TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917-1934) (*)

Nguyễn Đức Thuận

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 485 tháng 7 năm 2017, trong trang 33 và các trang 36-39)

Những năm đầu thế kỉ XX, do những biến động về đời sống xã hội, do những đòi hỏi thẩm mỹ mới của đối tượng tiếp nhận văn chương, nền văn học của nước nhà đã từng bước được hiện đại hóa, chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, báo và tạp chí mở rộng khắp từ Nam chí Bắc. Báo chí ra đời là một sự kiện mới, tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội cận đại ở nước ta, và là một trong những thành quả tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam hiện đại… Ngoài những nội dung thông tin, các báo và tạp chí thời ấy đều có mục văn chương. Trên con đường phát triển của báo chí, thành tố văn chương ngày càng được mở rộng, gia tăng. Trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại, cũng như hiện nay, báo chí có quan hệ khăng khí máu thịt với văn chương theo hai chiều tương hỗ. Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương mà lôi cuốn người đọc và ngược lại, văn chương nhờ báo chí mà đến được người đọc một cách phổ biến rộng rãi. Khi nhìn nhận vè quá trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, nhiều ý kiến đã khẳng định vai trò của báo chí trong việc góp phần xây dựng nền văn học mới. Nghiên cứu diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí, bước đầu chúng tôi muốn góp phần khắc phục một “khoảng trống” trong việc nghiên cứu về văn chương trên các báo và tạp chí đã hiện diện trên văn đàn nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ XX.

Từ trước đến nay, Nam Phong tạp chí đã trở thành một đối tượng thể hiện sự khác biệt, mâu thuẫn về quan điểm nhìn nhận và đánh giá, thậm chí có những ý kiến trái ngược nhau. Đến nay, đi qua thời gian gần một trăm năm, vấn đề nhìn nhận đã khác. Bình tĩnh đọc lại với ý thức thực sự cầu thị, chắc chắn chúng ta sẽ rút ra được những kết luận khoa học và có ích.

Nhìn tổng quát, việc nghiên cứu Văn trên Nam Phong mới giới hạn ở một số vấn đề về tác giả và tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, ngay cả trong những vấn đề thuộc về Văn trên Nam Phong tạp chí đã được nghiên cứu, ở mỗi thời kỳ, ở mỗi khu vực, nhiều ý kiến cũng còn chưa thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, kể cả một số nhận định của các nhà nghiên cứu văn học ở nước ngoài (1)

Báo chí thời đó có thể xem “là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách xây dựng câu văn xuôi. Nó còn là nơi sưu tầm phổ biến vốn văn học cổ điển của nước nhà, giới thiệu văn học Pháp và Trung Quốc. Quan trọng hơn cả, nó là nơi hầu hết các nhà văn bấy giờ và về sau rèn luyện ngòi bút của mình”(2). Với Phạm Quỳnh, ông chủ trương canh tân đất nước bằng văn hóa, tiếp nhận văn hóa văn minh phương Tây, đồng thời bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, trên tinh thần “Thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”. Muốn vậy, ông chủ trương phải xây dựng cho được một nền quốc học, quốc văn, mở mang dân trí, đưa đất nước tới con đường thực hiện chủ trương chính trị quân chủ lập hiến của mình. Một tinh thần “Thổ nạp Á – Âu” mà thời điểm nước nhà không chỉ bị thực dân tấn công bằng văn hóa và giáo dục, là cần thiết. Ông đã dùng tờ tạp chí Nam Phong như một công cụ hợp lý và có hiệu quả để hành động, thực hiện ý đồ chính trị của mình. Đó là phương hướng cải cách văn hóa, văn học nước nhà trên lập trường dân tộc, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, bảo tồn tiếng nói, văn hóa, văn học của nước nhà.

Sự nghiệp của Nam Phong tạp chí phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tờ tạp chí ở vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, cũng là một hành trình khá dài, trí đã cùng và lực đã kiệt. Về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn (như cuộc cách mệnh thi ca mở đầu từ tháng 3/1932 và trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn 1933), Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học dân tộc.

Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng vẫn thuộc về sản phẩm của một thời kỳ văn hóa, văn học của Việt Nam, cần phải được nghiên cứu thật khách quan và công bằng.

Bước sang đầu thế kỷ XX, những yếu tố của một xã hội hiện đại đã xuất hiện ở nước ta. Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại – xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học. Nhưng bắt tay vào xây dựng một nền văn học mới quả là gặp muôn vàn khóa khăn. Bởi lẽ, “Có biến đổi được nhu cầu của nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ mới biến đổi được tính chất của văn học. Một thời đại văn học này phân biệt được với một thời đại văn học trước hoặc sau nó là ở chỗ khác nhau của lý tưởng thẩm mỹ và nhu cầu nghệ thuật” (3) Lực lượng nào có thể làm được việc ngày? Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra. Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học. Nhưng sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới (chữ quốc ngữ la-tinh) và tư duy sáng tạo mới (thi pháp sáng tác). Cần phải có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp và khắc phục sự đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu thé kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là nguyên thủ và giữ vai trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời. Thời gian khắc phục sự “đứt gãy” và chuyển đổi tư duy văn học trên văn đàn nước ta là khoảng hai mươi năm (từ đầu thập niên mười đến đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước). Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ. Đó là sự phát triển phong phú và đặc sắc về các thể loại văn học của giai đoạn 1930-1945. Và khi ấy, Nam Phong đã trở nên bất cập rồi bị bỏ lại ở phía sau trên con đường hiện đại hóa văn học của nước nhà.

Nam Phong tạp chí hoạt động từ tháng 7 năm 1917 đén tháng 12 năm 1934 thì đình bản. Văn trên Nam Phong tạp chí có vai trò và vị trí như thế nào trong tương quan với văn đương thời trên các báo và tạp chí khác trước và sau giai đoạn này? Đây là một vấn đề thú vị, nhưng phải có điều kiện nghiên cứu ở một công trình khác. Ở đây chỉ có thể nhìn nhận khái quát như sau: Một số thể loại văn học tuy xuất hiện ở báo chí Nam bộ trước Nam Phong tạp chí, nhưng thực sự lại chưa có thành tựu, chưa có lý luận định hướng sáng tác, do đó cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học trên phạm vi cả nước. Mặc dù sáng tác của Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Larazo Phiền (1887) ra đời từ rất sớm, nhưng chỉ như một đốm sáng lóe lên rồi vụt tắt trên bầu trời văn học cuối thể kỷ XIX. Nam Phong tạp chí đã bước đầu thành công trong mục đích “xây dựng một nền quốc học và quốc văn” mới cho nước ta, tạo nền móng khá vững chắc và chuẩn bị những điều kiện cần thiết, ban đầu cho sự phát triển của văn học nước nhà theo hướng hiện đại hóa. Văn trên Nam Phong tạp chí có cả cũ và mới và đã đạt được thành tựu cả về chất và lượng, trong đó đã có dấu hiệu của những hoa trái đầu mùa (4). Nam Phong tạp chí là một trong những nơi “đầu nguồn” của văn chương hiện đại. Trong tiến trình của lịch sử văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, vai trò của Nam Phong là vai trò mở đầu. Cùng với một số báo chí và tạp chí khác của đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí chủ yếu tựa như đã làm những công việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc sinh nở – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy sự nghiệp hơn 17 năm của Nam Phong không tạo ra được một cuộc “cách mệnh thi ca”, hay cũng không tạo ra được một trào lưu văn xuôi lãng mạn của Tự lực văn đoàn hoặc trào lưu hiện thực phê phán ở giai đoạn sau, nhưng Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì là cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học. Văn trên Nam Phong tạp chí đã kế thừa văn truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu những cái mới của văn phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, để xây dựng và phát triển thành một nền văn học bước đầu mang tính chất hiện đại, hiện đại từ ngôn ngữ, thể loại đển một số yếu tố mang tính thi pháp, như nhân vật, kết cấu và phong cách văn chương. Trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học của nước nhà, Nam Phong tạp chí đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại trên nhiều phương diện. Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác, thời đó, Nam Phong tạp chí  là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Nhìn từ góc độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật. Trong tiến trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong tạp chí như một dòng sông, có dòng trong dòng đục. Ở nơi dòng trong, hòa cùng với nhiều mạch nguồn trong khác của các báo chí đương thời, nó đã đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945. Còn nơi dòng đục, đó là một phần không nhỏ những tác hại về nội dung của văn chương trên Nam Phong tạp chí. Bên cạnh những bài của mục “Luận thuyết” thuộc về các vấn đề quan hệ với thời thế, chính trị của tờ tạp chí này, mà trong phạm vi của luận án không đặt ra việc nghiên cứu, ngay trong nhiều tác phẩm thuộc phần Văn ở đây, cũng có tác phẩm đã đề cao sự bảo hộ của “Đại Pháp”, tuyên truyền bằng văn học cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, vốn đã làm không ít người ngộ nhận và mắc sai lầm về tư tưởng chính trị, trên con đường đấu tranh cứu nước. Đó là điều cần nhận rõ và cần phê phán!

Khác với nhiều tờ báo và tạp chí khác, Nam Phong tạp chí kể từ khi mới xuất bản, đã có định hướng, có trình bày lý luận và lí thuyết một số thể loại mới của văn học, có tổ chức, có khích lệ, dìu dắt để các cây bút mở đầu trên cả nước ta sáng tác, làm văn theo hướng hiện đại hóa, ảnh hưởng của văn đàn Nam Phong là rất lớn. Nhiều người đã từ “trường học” Nam Phong mà trở thành các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học… Nam Phong tạp chí đóng vai trò “bà đỡ” cho nhiều cây bút văn chương, nhất là những cây bút văn xuôi xuất hiện và trưởng thành. Trong việc làm đó Nam Phong có định hướng, và có một ý thức rõ rệt; vừa bền bỉ, lại vừa cố gắng. Nhiều tác giả, tuy tác phẩm đến nay chỉ còn được coi như những “bài tập” mở đầu cho một nền văn học mới, nhưng tên tuổi và một số sáng tác của họ vẫn như những “cái đinh” đóng vững chắc vào trong lịch sử văn học của nước nhà. Thời kỳ này, một số báo và tạp chí khác ngoài Bắc cũng đã tham gia vào quá trình đổi mới, hiện đại hóa nền văn học. Nhưng Nam Phong tạp chí là một tạp chí tham gia một cách tự giác nhất và đầy đủ nhất trên cả hai phương diện: lý thuyết và thực tiễn sáng tác. Nam Phong đã chủ động mở “cửa sổ nghệ thuật” sang hướng phương Tây, đã tạo dựng được nhiều thể loại văn học mới. Các thể loại văn học của nền văn học hiện đại, chẳng hạn như tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch nói… đã xuất hiện trên Nam Phong. Thể loại văn xuôi thuộc loại hình tự sự ra đời và đã trưởng thành. Nó đã tiếp nhận hình thức kết cấu, nhân vật, hành văn, ngôn ngữ…của thi pháp hiện đại, như: kết cấu theo nội tâm nhân vật, mang đậm yếu tố bi kịch, nhân vật gần với cuộc sống thực, từ bỏ dần lối văn biền ngẫu, cú pháp thiếu chặt chẽ, dùng nhiều từ Hán – Việt nặng nề… góp phần tạo những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới và hiện đại hóa văn học những năm sau. Trên Nam Phong tạp chí đã xuất hiện những bài viết mang tính chất nghiên cứu, lý luận, phê bình sắc sảo, nghiêm túc và hiện đại. Đồng thời có nghĩa là, Nam Phong tạp chí cũng đã có những cây bút nghiên cứu, lý luận, phê bình của văn học quốc ngữ theo hướng hiện đại đầu tiên trên văn đàn nước nhà. Rồi đây, không lâu sau, ở giai đoạn 1930-1945, văn đàn sẽ xuất hiện những nhà văn – những cây bút phê bình, nghiên cứu, lý luận văn học nổi tiếng, như: Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Lê Thanh, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai… Nhưng một số cây bút nghiê cứu, lý luận không chuyên trên Nam Phong cũng đã đem đến một ngọn gió mới cho một thể văn vốn còn quá hiếm trong tiến trình hàng ngàn năm của nền văn chương dân tộc. Công việc nghiên cứu, phê bình văn học mang tính chất mở đầu ấy của Nam Phong là rất đáng ghi nhận. Việc phát triển và làm cho sâu sắc là công việc của những thế hệ tiếp sau! Bởi vì, xây dựng một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học cho có thành tựu, cũng không thể là công việc của mười, hai mươi năm, hay của một thế hệ!

Văn trên Nam Phong có cả cũ và mới. Cũ ở chỗ, Nam Phong tạp chí đã cho đăng một số lượng rất nhiều thơ làm theo thể thơ cổ điển, nhất là thể thất ngôn bát cú Đường luật của những tác giả cựu học cuối mùa. Trên Nam Phong cũng có cả thể biền văn: văn tế, câu đối, và những câu tản văn cân đối nhịp nhàng… Nhưng mới ở chỗ, Văn trên Nam Phong tạp chí cũng đã có những thể loại văn học mới mà trước đó chưa hiện diện ở văn đàn nước ta. Đó là văn xuôi, gồm: tiểu thuyết (có đoản thiên, có trường thiên), truyện ngắn, có các thể ký quốc ngữ la-tinh; có cả nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, là thể loại văn học mà gia tài ông cha ta chưa có, và nếu có để lại thì vốn quá mỏng manh. Lại còn có cả kịch nói, dịch thuật chữ Hán, chữ Nôm và chữ Tây… Những cây bút tân học đã đem đến cho Văn trên Nam Phong không chỉ là những tri thức mới. Những thể loại văn xuôi quốc ngữ mới của nước ta, đến Nam Phong mới bước đầu được định hình, hoặc nếu trước đây đã có cũng “chỉ như như một cánh chim lạ đáp xuống cánh đồng văn học của nước ta”, và chỉ đến Nam Phong, chúng mới được đẩy lên một cách có ý thức, đạt được sự hoàn thiện về thể loại, cả chất lượng cũng như số lượng của tác phẩm. Bấy nhiêu thể loại văn mới đó đã dần thay thế cho những thể loại văn học xưa cũ, và đó cũng là dấu hiệu cơ bản của một nền văn học hiện đại.

Số lượng các sáng tác, nghiên cứu, văn dịch… trên Nam Phong tạp chí là rất đáng ghi nhận, tạo nên một nền văn học quốc ngữ mới, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và đời sống văn chương từ giai đoạn đầu thế kỷ bấy giờ và nhiều năm sau… Nhiều cây bút “sáng giá” đã viết cho Nam Phong, thế nên Nam Phong tạp chí là tờ báo thu hút được số đông bạn đọc đương thời. Họ đã thực sự lấy sáng tác, nghiên cứu văn chương làm nghề nghiệp, mặc dù họ phải đối mặt với cuộc sống cực kỳ khó khăn. Nhưng qua thực tiễn sáng tác, nghiên cứu Nam Phong tạp chí cũng đã bồi dưỡng , dìu dắt, đào tạo được một lực lượng sáng tác văn xuôi mới, những cây bút mở đầu của nền văn chương hiện đại, trong đó có nhiều tác giả có vị trí, có tên tuổi trong thể loại văn học mới, thể loại đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Sáng tác của họ, nhìn khắt khe, có thể chỉ như là những “bài tập” cho một số thể loại của văn xuôi quốc ngữ, nhưng rõ ràng là cũng đã có thành tựu. Sau này, một lớp người cầm bút sáng tác thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản xuất hiện, khi đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy nghệ thuật mới, Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước đòi hỏi của đời sống văn chương và nhu cầu của đời sống xã hội.

Bên cạnh việc xây dựng một nền quốc học, Nam Phong tạp chí đồng thời đã gắn với việc xây dựng một nền quốc văn mới, trong đó dùng chữ quốc ngữ là văn tự chủ yếu để làm công cụ cho bạn đọc tiếp nhận văn chương. Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với một lớp công chúng tiếp nhận mới. Do tính chất phổ biến của chữ quốc ngữ, vì là kết quả của những cuộc vận động học tập của nhóm Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ XX, nên từ Nam Phong tạp chí,  nhiều người đã có thêm những tri thức mới trên nhiều phương diện của đời sống, trong đó văn học là phần tri thức quan trọng mà Nam Phong đã cung cấp cho độc giả.

Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với các hoạt động văn hóa và những quan điểm văn hóa. Xây dựng quốc học để làm nền móng xây dựng quốc văn, đó là mục tiêu của Nam Phong. Cùng với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Nam Phong tạp chí đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình sử dụng, hoàn thiện và sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ trong xã hội nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Nhiều ngôn từ mới trên mục “Từ Vựng” mà Nam Phong cung cấp cho độc giả và công chúng thời ấy, đến nay vẫn còn có giá trị sử dụng trong kho tàng ngôn từ tiếng Việt. Tiếng nói của nước nhà, dù sao cũng phải một lần chịu ơn những gì mà hàng ngàn bài thơ, bài văn của các nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật, phê bình… đã đăng trên Nam Phong tạp chí, góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn từ dân tộc.

Đề tài, nội dung các sáng tác của Văn trên Nam Phong đã gần với cuộc sống hiện thực, theo thời gian, xa dần tính chất “tải đạo” và khuôn mẫu của văn chương trung đại những thế kỷ trước. Tuy chưa thể xem là thành tựu cơ bản, nhưng Nam Phong tạp chí cũng đã góp phần làm đổi mới văn pháp của một số thể loại văn học, nhất là văn xuôi nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX.

Là tạp chí, báo chí, Nam Phong tạp chí đã tạo nên được sự gắn bó mật thiết giữa báo chí với sự phát triển của văn chương và ngôn ngữ văn chương. Tính chất “cộng sinh” này đã giúp cho văn chương và báo chí cùng song song tồn tại và phát triển dài lâu. Đây cũng là một trường hợp khá tiêu biểu để báo chí hiện đại ngày nay tham khảo.

Nam Phong tạp chí đã trang bị cho lớp thanh niên trí thức ở những năm đầu thế kỷ XX một “hành trang tri thức” khá phong phú về nhiều phương diện, nhất là về văn hóa, văn học để rồi từ đó họ sẽ kế thừa, phát triển nối tiếp tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đổi mới trong lĩnh vực văn học, là tiền đề cho ra đời những trào lưu văn học mới, tạo nên một nền văn học mới – văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 và những năm sau.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thành tựu và diện mạo phần Văn trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi nhận thức rằng: ở nơi “đầu nguồn” của văn học Việt Nam hiện đại, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nhiều năm qua, chúng ta còn chưa khai thác một cách đầy đủ vào gia tài còn rất bề bộn và giàu có của văn chương dân tộc hồi đầu thế kỷ XX. “Ở trong còn lắm điều hay” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Đi qua thời gian ngót một trăm năm, Nam Phong tạp chí nói riêng cũng như nhiều báo chí, tạp chí khác nói chung đã rách nát, hư hỏng. Chúng ta cảm thấy xót xa và tiếc! Nhiều người còn ngần ngại và né tránh đi vào khai thác và nghiên cứu khu vực văn học trên các báo chí, tạp chí của giai đoạn này. Nếu vượt qua được những rào cản tâm thức “vô hình” để đến với khu vực và giai đoạn văn học “đầu nguồn” này một cách khoa học và nghiêm túc, khách quan và công bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ còn nhận về được một di sản văn chương mà giá trị của nó có nhiều hơn chúng ta tưởng.

Từ đây, các nhà nghiên cứu văn học sẽ có đủ tư liệu và bằng chứng để khẳng định rõ ràng hơn về sự hình thành và phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời đó cũng là cơ sở để làm sáng tỏ và lí giải sâu sắc những thành tựu phong phú, đặc sắc của văn học giai đoạn sau – giai đoạn văn học 1930-1945.

——————

Chú thích:

(*) Xem Nguyễn Đức Thuận, Văn trên Nam Phong tạp chí ( Diện mạo và thành tựu), NXB. VH, HN, 2008.

(1) Nguyễn Đức Thuận, “Tình hình nghiên cứu phần Văn trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) từ 1975 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, Viện KHXH Việt Nam, năm 2005, tr.117-125.

(2) Nhóm Lê Quý Đôn, Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, NXB, Xây Dựng, Hà Nội, 1957, tr.132.

(3) Trương Tửu, Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam, NXB. Xây Dựng, Hà Nội, 1958, tr.229

(4) Xem Nguyễn Đức Thuận, Đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí, NXB. VH, HN, 2013.

(5) Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong , NXB. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

 

Tháng Tám 14, 2017

Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NAM PHONG TẠP CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

NGƯT. Vũ Thế Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này do Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Trong luận văn khoa học tổng kết 15 năm điền dã khảo cứu về Hướng Thiện hội đền Ngọc Sơn (hình thành trước 1836 và hoạt động trong suốt thế kỷ XIX) như một cơ sở văn hóa – xã hội sâu xa của phong trào Duy tân – Nghĩa thục, trên cơ sở 3 sơ đồ về sự truyền thừa tư tưởng giáo dục dân tộc, nhân bản và hướng Thiện (xem Phụ lục), chúng tôi đã đề xuất khái niệm “hậu Đông Kinh Nghĩa Thục”. Ngôi nghĩa thục trung ương trên phố Hàng Đào chỉ hoạt động được 7 tháng thì bị đàn áp, nhưng ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng thay vì bạo động non do các lãnh tụ Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục khởi xướng, vẫn tiếp tục tác động sâu rộng và dài lâu khắp Nam Bắc. Khắp đô thị và nông thôn vẫn ngầm tuôn chảy những mạch tư tưởng dân tộc và dân chủ mà ĐKNT đã kịp khai thông. Các tư thục của ông đồ làng – những cơ sở văn hoá – xã hội rộng khắp của tầng lớp “Nho sĩ bình dân” (thuật ngữ do nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện đề xuất, đối lập với “Nho sĩ quan lại”) – vẫn âm thầm hoạt động trong các làng xã, phường thôn. Từ đền Ngọc Sơn đến tận chùa Nhã Nam ở Cần Thơ người ta vẫn giảng những bài Đạo Nam kinh thấm đậm hồn Duy tân: Hợp đoàn thể, Khuyến nông, Khuyến công, khyuến thương, Khuyến nữ học[i]. Cư sĩ Thiều Chửu vẫn mở các lớp dạy chữ quốc ngữ, soạn và in sách quốc ngữ (mỏng, chỉ một tay sách 16 trang) truyền bá đạo lí dân tộc và khoa học thường thức, phát không cho dân nghèo[ii]. Tác động do đường lối “giáo dục quốc dân” của ĐKNT sở dĩ sâu rộng là vì nó thực sự mang tính cánh mạng, chứ không phải là “cải lương”, như quy kết của một số nhà nghiên cứu mang cái dớp của phái Proletkult mà Lenin đã phê phán. Gọi là “cách mạng” vì ĐKNT chủ trương thay hẳn nền giáo dục Nho học cổ hủ cốt đào luyện “thần dân bù nhìn chỉ biết làm theo lệnh trên”, bằng một sách lược tân học văn minh (“Văn minh tân học sách”) “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm đào tạo những công dân biết độc lập suy nghĩ và tự hành động[iii]. Để đạt mục tiêu đó các nhà Nho dứt khoát vứt bỏ thiên kinh địa nghĩa nghìn năm, thay nó bằng “tân thư” với những khái niệm hoàn toàn mới như quốc thể, quốc dân, dân chủ, nghị viện, lập hiến, xã hội, đoàn thể, công nghĩa, công ích, khoa học thực nghiệp v.v…

Nam Phong tạp chí không nằm ngoài sự ảnh hưởng của tư trào hậu ĐKNT, dẫu không thể không chịu sự tác động của quan Chánh mật thám Marty ở Phủ toàn quyền Đông Dương, người trực tiếp sáng lập và tài trợ cho tạp chí. Thì Quan Chánh đã chẳng cố công tác động đến cả Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp đấy thôi! Kết quả (và cả hậu quả) ra sao, ngày nay mọi người đều rõ.

Bất chấp việc danh tính Chánh mật thám Marty lù lù trên trang bìa, Nam Phong tạp chí vẫn trở thành diễn đàn uy tín dẫn đạo được quốc dân trong “buổi giao thời”. Ấy là nhờ vị Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có tinh thần tự chủ văn hóa đã tuyên ngôn rõ ràng, có học vấn thông kim bác cổ, có nhân cách kẻ sĩ đàng hoàng, lại có tài tổ chức, nên đã tập hợp được một đội ngũ trên trăm rưởi tác gỉả tài ba thuộc đủ khuynh hướng xã hội-chính trị, nhưng đều là những cây bút nghiêm túc và xuất sắc, từ các bậc đàn anh từng tham gia Đông Kinh nghĩa thục như Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, đến lớp hậu sinh có tư tưởng cấp tiến như sáng lập viên Việt Nam Quốc dân đảng Phạm Tuấn Tài và đảng viên Cộng sản tương lai Lê Mạnh Trinh.

Trong bài phát biểu năm 1922, kí giả Phạm Quỳnh, cố ý mặc quốc phục áo the đen và đóng khăn xếp, đã khôn ngoan mượn lời lẽ của một học giả Pháp để nói thẳng với chư vị viện sĩ Hàn lâm Đại Pháp rằng: “Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hoá kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hoà giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang” (VTK nhấn)[iv]. Trước đó 2 năm, trong bài viết “Độc thư cứu quốc (mừng các ông tân khoa trường đại học)”, hướng tới thế hệ trí thức trẻ nước Việt, ông đặt thẳng ra trước họ cái nhiệm vụ chính ông đang thực hiện bằng tờ báo của mình: “…Người ta học là vị chân lí, vị nhân loại, ta học nên vị nước trước nhất, sự học của ta phải là cái học cứu quốc vậy” (Nam Phong, số 36, tháng 6 – 1920).

Rõ ràng ông Chủ bút Nam Phong tạp chí không có ý định hạn chế trong phạm vị mấy điều cải lương nhỏ giọt của “mẫu quốc Đại Pháp” mà nuôi hoài bão “thể (tức thể theo, dựa theo – VTK) cái chủ nghĩa khai hoá” của chính quyền bảo hộ để làm đại sự –  kế tục khéo léo hơn, ôn hòa hơn trong tình thế mới đường lối “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm cứu nước của Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục. Vậy sao có thể quy kết chụp mũ là ông “chỉ phục vụ chính sách nô dịch của thực dân’, “làm tay sai, bán nước”?!

Phạm Quỳnh đã thực hiện đường lối giáo dục cứu nước trên hơn 2 vạn trang Nam Phong tạp chí như thế nào? Các bài vở bàn bạc về các vấn đề giáo dục, kể cả tranh luận giữa các ý kiến trái chiều, vô cùng phong phú. Trong phạm vi tham luận này xin phép chỉ đề cập một vấn đề, từng được Văn minh tân học sách của ĐKNT nêu lên hàng đầu trong đường lối giáo dục quốc dân của các nhà nho Duy tân:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,

Phải đem ra tính trước dân ta…

Vấn đề còn đặc biệt thời sự là vì người ta đang đua nhau dạy tiếng Anh cho cả trẻ mẫu giáo. Thậm chí có vị lãnh đạo nọ còn định biến tiếng Anh thành “ngôn ngữ thứ nhất” tại Việt Nam, khi bản thân chưa phân biệt nổi thế nào là “ngôn ngữ thứ nhất” (trong môi trường các nước đa ngữ, như Áo, Canada v.v…) và thế nào là “ngoại ngữ thứ nhất”!

Ông Phạm Quỳnh kiên trì đấu tranh thực sự cho việc dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ La tinh hóa làm công cụ chuyển tải tri thức phổ thông thay cho tiếng Pháp. Chuyện bây giờ tưởng như đương nhiên, hóa ra không hề dễ dàng trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ và chính quyền thực dân chủ trương biến dân Việt thành những con vẹt nói tiếng Pháp ngô ngọng như thổ dân ở các thuộc địa châu Phi của họ. Lại nữa, như các tiểu mục trên Nam Phong phản ánh, một bộ phận người Việt thăng tiến nhanh chóng nhờ “vào làng Tây”, tức trở thành những ông Tây An Nam, vì vụ lợi đòi dạy cho con em họ tiếng Pháp ngay từ ấu học, để chúng thành Tây con, nhanh chóng kiếm được vị trí “sáng rượu sâm-banh, tối sữa bò”. Ông chủ bút Nam Phong gọi chủ trương đó là “tư tưởng kì khôi”, là đem “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống cam tâm tự diệt vậy”. Kế thừa phương châm của ĐKNT, coi chữ quốc ngữ không phải là phương tiện làm nô bộc để vinh thân phì gia, mà là “hồn trong nước”, Chủ bút họ Phạm kiên trì gắn kết Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc học – Quốc hồn. Ngay từ bài đầu tiên trên Nam Phong bàn về giáo dục, lại là giáo dục cho phụ nữ, ông đã khẳng định: “Phàm phổ thông giáo dục mà dạy bằng tiếng ngoại quốc nhiều, là thất sách cả. Đối với con trai còn hại, huống chi là con gái” (NP, số 4/1917). Theo ông, chỉ quốc ngữ gắn liền với quốc văn, quốc học và quốc hồn mới xây dựng được nhân cách Việt vững vàng để tiếp thu văn minh Pháp và nhân loại. Hướng tới các quan thực dân định đoạt vận mệnh nền giáo dục ở thuộc địa, ông nhẹ nhàng than trách Học chính tổng quy-1917 của Toàn quyền Albert Sarraut là nó “chỉ để cho tiếng Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở bậc tiểu học”. Ông khéo léo gợi ý họ: “Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự (chúng tôi nhấn – VTK), sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ đầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp?”… Trích  đến dẫn đến đây, tôi phải tạm ngắt ngang, để lưu ý quý vị quan điểm quốc học toàn diện sâu sắc làm nền tảng cho quốc hồn của vi Thượng thư bộ học tương lai (10 năm sau, 1932!) – mà nền giáo dục XHCN của chúng ta, từ cuộc Cải cách giáo dục năm 1950 – 51 theo tả khuynh kiểu Proletcult, đã từ bỏ, do đó đã tạo nên “khoảng trống đáng sợ” như cả Bộ trưởng Giáo dục Dân chủ Vũ Đình Hòe[v] lẫn Thứ trưởng Giáo dục Cộng sản Nguyễn Cảnh Toàn[vi] đã chỉ ra. Trong bài diễn thuyết trích dẫn trên đây, kí giả Phạm Quỳnh gợi ý tiếp các quan Đại Pháp về phương hướng đặt cơ sở văn hóa của nền quốc học như sau: “…Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán với chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?”.

Học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra là một nhà giáo dục học uyên thâm và tiên tiến khi thuyết minh cho chư vị viện sĩ Hàn lâm Pháp về cứu cánh, tức mục đích cuối cùng, hay như thuật ngữ thời thường hiện nay – “mô hình đầu ra” của một nền giáo dục chân chính: “Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách con người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình”.[vii]

Rõ ràng không ngẫu nhiên ông “Vua tân thời” Bảo Đại chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư bộ Học.

Và cũng hoàn toàn có lí, khi vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”[viii].

[i] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Hội Hướng Thiện đền  Ngọc Sơn,  một cơ sở văn hoá – xã hội sâu  xa của phong trào Duy tân –  Đông Kinh nghĩa thục. – bản tiếng Pháp in trong sách Vietnam – le moment moderniste, Publications de l’Université de Provece 2009, tr. 79 – 93; toàn văn bản tiếng Việt có thể tìm đọc trên các mạng Talawas; dongtak.net (mục Đông tác giao lưu); lichsuvn.com; vanhien.vn; tóm  lược: Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đến trường Đông Kinh nghĩa thục. – Tạp chí Xưa và Nay, số 283, tháng 5 – 2007.

[ii] Tham khảo: VũThế Khôi – Cư sĩ Thiều Chửu với nền giáo dục bình dân. – Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 – 2002.

[iii] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Tính cách mạng trong đường lối “giáo dục quốc dân” của Đông Kinh nghĩa thục. -Bài đã công bố ở hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ” tổ chức ở Đại học Hoa Sen TP Hồ Chí Minh ngày 18 – 12 – 2008; đăng trong Kỷ yếu cùng tên, NXB Văn hóa Sài Gòn & Đại họa Hoa Sen – 2009, tr. 67 – 88; có thể tìm đọc toàn văn trên các trang mạng: hocthenao.vn; dongtac hncity. Org; event.hoasen.edu.vn

[iv] Phạm Quỳnh: Tiểu luận. Viết bằng  tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. Phạm Toàn giới thiệu và biên tập. – NXB Tri Thức, Hà Nội 2007, tr.410.

[v] Vũ Đình Hòe: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cuối 1945 – đầu 1946. – Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, N21/2003 và N1+2/2004; Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004.

[vi] Nguyễn Cảnh Toàn: Chữ Nho với nền văn hóa Việt Nam. – Tạp chí Hán Nôm, N4(59)/2003.

[vii] Tlđd ở chú thích 4., tr.408.

[viii] Vũ Đình Hoè: Nguồn gốc của Hội Truyền bá Quốc ngữ. – Tạp chí Xưa & Nay, số 51, tháng 5 – 1998.

Tháng Bảy 31, 2017

Dựng bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

DỰNG BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

(Bài đăng trang 9 báo Đại Đoàn Kết số 332 ngày 28/11/2014)

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyệBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongn Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa PHẠM QUỲNH (1893-1945);

Chủ bút báo Nam Phong hiệu Thượng Chi.

V.T.K.

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8năm 2017.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ ĐBia tuong niem nha van hoa Pham Quynhiển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế tại chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang QuynhTrên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho Pham Tuyen - Pham Dungmấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang QuynhTiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc. Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangBia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

 

Tháng Bảy 30, 2017

Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

BÀN PHIẾM VỀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên Tạp chí Nam Phong số 84 tháng 6 năm 1924. Tức là hai năm sau cuộc gặp gỡ tại Paris (Pháp) giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và nhiều người yêu nước khác. Khi viết bài báo tâm huyết, có tầm nhìn xa và đặc sắc này, Phạm Quỳnh mới 31 tuổi, đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

So sánh văn minh Đông phương với Tây phương, còn vấn đề nào to tát bằng! Những đọc đến đầu đề đã lấy làm sợ thay. Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau.

Trong một cõi Tây phương mà văn hóa nước Pháp không giống văn hóa nước Anh, văn hóa nước Anh lại khác văn hóa nước Đức; nay nói chung văn hóa Tây phương thời là chỉ văn hóa nước nào? Tức cũng như nói chung văn hóa Đông phương là chỉ văn hóa Ấn Độ, hay là văn hóa Nhật Bản, hay là văn hóa Trung Hoa? Vẫn biết rằng các nhà nghị luận là dùng phép tổng quát, chỉ gồm lấy những tính cách chung của văn hóa cả một phương mà không xét đến những sự đặc biệt trong văn hóa của từng nước, và cứ đại để mà xét như thế thời văn hóa nước Pháp dẫu khác với nước Đức, nhưng cũng là đại đồng tiểu dị, sánh với nhau còn gần hơn là sánh với văn hóa nước Tàu hay nước Nhật vậy. Song nhà nghị luận muốn khái quát cho đích đáng thời phàm những văn chương, triết học, mĩ thuật, tôn giáo, luân lí, chính trị của các nước Thái Đông, Thái Tây đời xưa đời nay, ít ra cũng phải thiệp liệp và lĩnh lược được hết, thời phán đoán mới khỏi sai lầm, nghị luận mới được xác đáng. Bậc thiên tài như thế, cổ kim đã được mấy người?

Hiện nay có nhà đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã từng đem một cái tư tưởng rất cao mà phê phán về văn minh Thái Tây. Nhưng ý kiến tiên sinh siêu việt quá, dẫu có cái đạo vị thâm trầm, cái mùi thơ ngào ngạt, mà tưởng không thiết cho sự yêu cầu của tâm trí người ta đương buổi Á, Âu xung đột này.

Lại mấy năm trước có một nhà làm sách Nhật Bản tên là Okakura Kakuzo, học vấn uyên bác, kiêm thông cả Hán học cùng Âu học, soạn một quyển sách nghĩa lí cũng sâu sắc, khám phá được nhiều điều, đều là “Lý tưởng Đông phương” (Les Idéaux de L’Orient, par Okakura Kakuzo, nguyên bản tiếng Anh, có dịch ra tiếng Pháp)  nhưng lập luận có ý thiên vì lòng ái quốc, cho rằng nước Nhật ngày nay là cái kho bảo tàng chung để chứa cả tinh hoa của thế giới.

Xem như thế thì so sánh văn minh Đông-Tây thật không phải là sự dễ. Các bậc tài cao học rộng còn chưa xét được đến nơi, tôi đây đâu dám tự phụ.

Song người nước ta bây giờ đương đứng giữa nơi hợp lưu hai cái văn hóa khác nhau, trước mắt có cái cảnh hai dòng nước đổ lộn, chưa biết rồi sau trong đục ra thế nào. Kẻ bi quan cho rằng nước càng xa nguồn tất càng đục; kẻ lạc quan cho rằng nước có đổ lộn sức mới to. Bi quan hay lạc quan, chẳng qua là theo cái ý riêng của mỗi phái mà dự tưởng sự kết quả về sau này. Còn hiện nay thời cũng chửa ai biết ra thế nào cả, lòng còn phân vân, trí còn bối rối, chửa hay nên đối phó với phong trào ra sao.

Cứ thực ra thì kẻ thức giả trong nước ta bây giờ, người nào cố ý không để tâm đến những chuyện xa xôi ấy thì chớ, còn những người còn biết trọng điều nghĩa lí ở đời, còn biết cho rằng ngoài sự danh lợi còn có những lẽ quan thiết cho nhân tâm thế đạo hơn, thời xem ra ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cho nên nhất là trong hạng thanh niên, kẻ không có chí bị đắm đuối trong cuộc ăn chơi phóng túng đã đành, kẻ có chí cũng đến hãm hại vào chốn sầu thảm chán chường.

Cái bi kịch về tinh thần đó, cái thảm trạng trong tâm trí đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, di truyền tự thượng cổ, tích lũy đã lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải chia sẻ ra lắm đường, nên giữ được cái vẻ thản nhiên yên ổn.

Kịp đến buổi phong hội mở mang, Á – Âu giao thiệp, thời sự xung đột hai cái văn hóa Đông-Tây bắt đầu từ đấy. Trong bấy lâu, tuy cứ bề ngoài mà xét tựa hồ như có bên thắng bên bại, bên tiến bên lùi, tình thế đã rõ ràng ra đó, nhưng cứ thực sự thời người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng dở dang, chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định. Bởi thế nên chí hướng phất phơ, tâm hồn phảng phất, thần trí không được thư xướng mà trong lòng như mang một nỗi áy náy không yên.

Cũng muốn nhắm mắt mà theo mới, nhưng theo mãi rồi đến đâu? Nếu kết quả chỉ gây ra một giống không Âu không Á, nửa Tây nửa Đông, tầm phơ tầm phất, lốc cốc lông bông, không nhà không nước, không cha không ông, thời cũng là uổng công vô ích mà lại để hại về sau. Cũng muốn khư khư mà giữ cũ, nhớ lấy câu “giấy rách giữ lề”, nhưng mà lại lắm nỗi dở dang, “bỏ thương vương tội”; những cái nguyên nhân tích nhược trong bấy lâu đeo đẳng mãi thật cũng khốn!

Ấy tình trạng những kẻ thức giả trong nước ta thuộc về vấn đề văn hóa có cái vẻ bối rối mà thảm thương như thế. Đối với tình trạng ấy, trách sao có lắm người sinh ra những tư tưởng chán đời. Không phải đời đáng chán, bởi lòng không yên, trí không định, nên sự nghiệp đến hững hờ, mà công danh đến đểnh đoảng. Mà lòng không yên, trí không định, là bởi cái vấn đề văn hóa chửa giải quyết xong.

Xét cho cùng, cái nguyên nhân của mọi sự chếch lệch trong xã hội, mọi nỗi bất bình trong lòng người không phải là thuộc về luân lí, không phải là thuộc về chính trị, chính là một cái vấn đề văn hóa ấy vậy.

Văn hóa là gì? Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần người ta thế nào cho được thập phần tốt đẹp, để nẩy nở ra những công trình to tát, sự nghiệp lớn lao mà đem tư cách một quốc dân đến tuyệt phẩm. Ví người ta như cái cây, thời văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, kết quả sinh hóa, để tô điểm cho cái vườn hoa của thế giới.

Nay mầm Hồng chồi Lạc của ta cũng không phải là giống cỏ hèn của Tạo vật; sao nỡ để cho đến khô héo mà úa tàn? Bởi vì ta bấy lâu lúng túng chưa biết cách vun xới cho phải đường. Cứ trồng theo lối cũ thời chỉ gây được một giống cây non bộ, coi nó nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nơi nắng cả gió to được mấy nả. Muốn trồng theo lối mới thời cũng chỉ mọc ra ngoài một loài tầm gửi giây leo, quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt đứng sao!

Nhân tài nước ta cũng như cái dây tầm gửi, cây non bộ đó, mong sao có ngày chiếm được địa vị vẻ vang trên thế giới?

Cho nên cái vấn đề văn hóa đối với nước ta là quan hệ lắm. Vấn đề này có giải quyết được phải đường, thời nước ta mới có được nhân tài xứng đáng; nước ta có nhân tài xứng đáng, thì mới mong sinh tồn tự lập được ở đời.

Tôi không dám tự phụ rằng đã tìm được cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng bấy lâu nay, từ khi khôn lớn biết tư tưởng đến giờ, vẫn lấy làm băn khoăn khắc khoải, lúc nào cũng như canh cánh trong lòng, tưởng như sự hạnh phúc cả một đời, sự vận mệnh cả một nước là quan hệ ở đó. Tôi không phải là người “đa tư đa cảm” như các bạn thanh niên đời nay; nhưng bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng biết khổ vì một cái lí tưởng suông. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng trong trí không có một cái lí tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình, thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lí riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi. Nhưng nói thế là để tỏ rằng, đối với cái vấn đề văn hóa này, thành thực và sốt sắng là dường nào.

Vẫn biết rằng một lòng thành thực sốt sắng thật chưa đủ giải quyết được một vấn đề quan trọng mà khó khăn, nhưng không có tư cách gì khác nữa thời thế cũng đủ để cùng các anh em đồng chí trong nước giãi bày chút ý kiến riêng.

Bọn ta sống giữa đời Đông-Tây giao thiệp, Âu-Á một nhà, đối với văn hóa Tây phương, đối với văn hóa Đông phương, đối với tinh thần Âu châu, đối với tinh thần Á châu, phải nên có một thái độ như thế nào? Ấy cả cái vấn đề là gồm trong một câu đó.

Gần đây đã thành một câu khẩu đầu hễ bàn đến văn minh Âu-Á thì nói nên phải điều hòa hai bên, giữ lấy cái hay mà bỏ cái dở. Tôi đây cũng tin ở sự điều hòa đó, vẫn lấy bốn chữ “Thổ nạp Âu-Á” làm lời cảnh huấn riêng. Song nói dễ mà làm khó; văn minh không phải là vị thuốc, có thể cứ đồng cân mà hòa lấy cho đúng liều được. Văn minh là một vật không hình thể, không trọng lượng; văn minh là thuộc về tinh thần vậy.

Muốn điều hòa hai cái tinh thần khác nhau, phải biết dùng trí tuệ một cách sáng suốt khôn ngoan, phải biết khảo sát: thương lượng, biện biệt, phán đoán, rồi mà châm chước cho thích trung. Khó lắm thay! Lại khó hơn nữa, là cách giáo dục trong nước tuyệt nhiên không giúp được tí gì cho sự điều hòa ấy, không những không giúp được tí gì mà lại hầu như ngăn trở cho không thành được. Vì rằng muốn điều hòa tất phải có hai bên, mà nay giáo dục chỉ chuyên về một bên, bên kia không biết đến, thì còn điều hòa cái gì? Hiện nay cái hiện tượng đã rõ rồi đấy: phần nhiều những bậc thiếu niên tuấn tú trong nước, từ thuở nhỏ chỉ theo về một đường Tây học, đối với văn học Đông phương, đối với lịch sử nước nhà, đang nhiên không biết một tí gì, như thế thời còn biết điều hòa là sự gì nữa? Muốn điều hòa, phải tham bác cả đôi bên, nghiền ngẫm cho thâm thúy, rồi mới châm chước cho vừa phải. Nếu chỉ độc chuyên một phương diện, thời thành ra thiên lệch rồi.

Cho nên cái vấn đề văn hóa ở nước ta càng xét ra lại càng thấy khó khăn phiền phức vô cùng.

Trước hết có một cách giải quyết cái vấn đề ấy, mới coi tựa hồ như giản dị ổn thỏa hơn cả, một số nhiều trong quốc dân ta ngày nay như mơ màng mà khuynh hướng về hết. Kể giản tiện thì cách này giản tiện thật, giản tiện quá! Là cứ thuận dòng nước mà chảy xuôi, không cần phải bận lòng đến sự gì nữa. Nghĩa là xóa hẳn cái vấn đề đi, cho là không cần phải đề khởi ra làm gì. Ngày nay các nước Âu Tây cường thịnh nhất trong thế giới, văn hóa của các nước ấy chắc là hay ho tốt đẹp vô cùng. Ta cứ việc nhắm mắt mà theo, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn cho phiền. Có ngày theo được đến nơi, rồi cũng sẽ được như người ta, có lo gì? Và văn hóa ấy ngày nay có thế lực rất mạnh, cơ hồ muốn tràn ngập cả thế giới. Dẫu ta không muốn theo, cái phong trào nó cũng lôi cuốn ta đi. Miễn cưỡng phải theo, thà rằng vui lòng mà theo còn hơn.

Nói rút là theo phái ấy thời vấn đề văn hóa ở nước ta là một câu chuyện hão huyền, bất tất phải bàn đến. Nghĩ cũng tiện thật, nhưng mà nghĩ kĩ có lẽ chưa tiện chút nào. Dẫu nay không muốn bàn đến mà rồi có ngày cũng phải bàn. Nếu không liệu sớm ngay từ giờ, rồi càng ngày càng thêm khó. Xưa nay không có nước nào bỏ căn bản mình mà thành lập được bao giờ. Phàm sự văn hóa là phải vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nếu bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái “dã tràng xe cát bể Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì!” Tự mình không có gốc sẵn mà đi mượn của người, thời như người vay lãi mà ăn, sớm trưa tất có ngày phá sản. Tình cảnh ấy rất là nguy ngập. Người Nam ta nếu túy tâm về Âu hóa mà không hồi cố đến căn bản mình, thời không khác gì người đi vay nợ mà ăn, tất có ngày vỡ nợ. Ví Âu hóa mà có cách nào hóa được hẳn như người Tây, thời còn hạnh phúc nào bằng, chúng ta xin sẵn lòng kí cả hai tay. Nhưng cái lẽ không thế được; cổ kim không có bao giờ có sức biến hóa đến căn bản như thế. Nếu trong khi biến hóa mà không khéo châm chước điều hòa, thời có cái nguy gây ra một giống dở dang bác tạp, căn bản cũ mất hết mà tính cách mới không thành, tức là một cái quái vật trong nhân quần, không biết liệt vào chủng loại nào. Giống quái vật ấy chỉ biết xuẩn động quấy rối, không biết sáng khởi kiến thiết bao giờ.

Giống quái vật ấy là cái ác ma của xã hội, càng ngày càng nhiều thời xã hội đến diệt vong. Nói thế không phải là nói quá, cái triệu chứng đã nghiệm thấy ngay quanh mình vậy.

Như vậy thời dẫu người nhiệt thành Âu hóa, vì có cái trí phán đoán sáng suốt, tất phải hiểu rằng sự điều hòa là sự cần. Cái thuyết thuận dòng xuôi chảy, nhắm mắt mà theo phong trào, là một cái thuyết sai lầm vậy. Nay đã biết điều hòa là sự cần, thời phải nên điều hòa ra làm sao? Như trên kia đã nói, sự này là thuộc về tinh thần, về trí tuệ, không thể cân nhắc đo lường được, không thể kê ra cân lượng như cái đơn thầy thuốc vậy. Phải tùy ở mỗi người biết khéo dụng trí khôn mà châm chước có thích nghi. Song cũng phải có mấy cái phàm lệ chung để định cái thái độ của người mình đối với hai văn hóa Đông, Tây như thế nào.

Trước hết hẳn phải định nghĩa văn hóa là gì. Như đã giải ở trên, văn hóa là gồm cách đoàn luyện tinh thần người ta. Văn hóa là dịch tiếng Tây culture, nghĩa đen là cách cấy trồng. Người ta ví như cái cây thì văn hóa là cách vun trồng cho nẩy nở được hết cái tinh hoa. Cây có trồng cây mới tốt, người có hóa người mới hay; văn minh với dã man khác nhau là một bên có văn hóa, một bên không. Như vậy thời văn hóa là một sự cần, một dân một nước không thể khuyết được. Nước ta xưa nay vẫn xưng là “văn hiến chi bang”, nghĩa là đời nào cũng có văn hóa, nên người thuần, tục tốt, xã hội chỉnh đốn, lịch sử vẻ vang. Nay gặp đời giao thông, thế không thể không ra tiếp thụ văn minh mới, thâu thái mà điều hòa với cái tinh thần cố hữu của mình. Ta phải tìm cách gây lấy một nền văn hóa riêng cho nước ta, tham bác cả hai tinh thần Âu, Á. Đó không phải là sự mơ tưởng viển vông, chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn vậy. Kẻ thức giả trong nước phải nhận chân lấy cái trách nhiệm đó mà ra sức đảm đương. Lại là việc lâu dài, không thể kể hàng tháng hàng năm, cũng không thể thành công kết quả ngay được. Nhưng phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, muốn tìm phương tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được, còn ngoại giả không có đường lối nào nữa. Xin quốc dân ta nhớ lấy cho rằng, cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hóa. Vấn đề văn hóa còn quan hệ hơn vấn đề chính trị vậy.

Đó là điều cốt yếu, mong những nhà có chí trong nước để tâm suy xét, vì trong bài này không thể nói cho hết ý được.

Nay đã biết sự văn hóa là quan hệ, việc điều hòa văn hóa là sự cần, thời phải biết cách đối đãi hai cái văn hóa Đông, Tây ra thế nào.

Ngày nay vì thời thế, quốc dân ta mỗi ngày một khuynh hướng về đường Tây học. Phần nhiều cũng là thuận dòng nước chảy xuôi, như trên kia đã nói có lẽ không mấy ai nghĩ đến cái tính cách, cái giá trị của Tây học thế nào. Hay là có, có nghĩ đến cái giá trị sự học, nghĩ đến nhiều, nhưng nghĩ rằng học hết tiểu học thì có thể làm được vài chục đồng một tháng, hết trung học thời được dăm chục đồng, mà hết cao đẳng thời được một trăm đồng, không kể còn những phẩm hàm chiếu đối, danh dự xóm làng là phụ thêm ở ngoài nữa. Cái giá
trị đó tuy cũng đáng trân trọng thật, nhưng quyết không phải là giá trị chân chính của sự Tây học. Nay bất luận vì cớ gì mà người nước ta xô theo Tây học, đã theo cũng phải biết rõ tính cách sự học thế nào. Tính cách ấy, muốn phân tích ra cho tường thì phiền phức lắm, nhưng có thể tóm tắt lại đại khái bằng một câu như sau này: học thuật của Thái Tây là học thuật về sự vật, văn hóa của Thái Tây là văn hóa về sự vật. Người Âu Tây từ xưa đến nay chỉ chuyên chủ khảo sát sự vật, mà làm thế là chỉ có một mục đích lợi dụng cho người ta được phú cường…(“…” là do bị kiểm duyệt xóa)

Các hiền triết phương Đông không thiết gì đến sự vật, chỉ chủ dạy người ta sửa mình theo Đạo đức, và ăn ở với nhau trong xã hội cho êm thấm. Ấy cái đặc sắc, cái giá trị của văn hóa Đông phương là thế. Nếu cứ biệt lập ra một thế giới, không can thiệp đến ngoài, thời Đạo đức cũng đủ làm cho xã hội hòa bình. Nhưng cái văn minh đạo nghĩa ấy nhất đán phải ra xung đột với cái văn minh công lợi của Tây phương kia, thời không sao địch nổi, chỉ thấy hết phen thất bại ấy đến phen thất bại khác, rồi mà càng ngày càng sút đi, hầu như không còn có cơ hưng thịnh lên được nữa.

Hai văn hóa đã có tính chất khác nhau như thế, thời đối với văn hóa Tây phương ta phải có cái chủ ý thâu thái, mà trong khi thâu thái phải biết khéo kén chọn; đối với văn hóa Đông phương ta phải có cái chủ ý bảo tồn, mà trong khi bảo tồn phải biết khéo phát huy.

Nói rằng thâu thái, lại nói rằng kén chọn, là không thể cứ toàn thể, cứ y nhiên mà thâu nhập được; phải biết phân tích, phải biện biệt các phần mà chỉ chọn lấy phần nào có bổ ích cho sự tăng tiến của ta mà thôi. Việc này là thuần ở cái tài khôn khéo của mỗi người, không thể định cách thức sẵn được. Nhưng có một điều cốt yếu, là rất không nên câu nệ. Học Tây mà câu nệ là hỏng.

Nói rằng bảo tồn, lại nói rằng phát huy, là cũng có cái ý phân biệt ở trong đó, phần nào là phần cốt yếu thì phải nên giữ gìn, mà lại tỏ rạng cho sáng sủa thêm ra. Vì rằng văn hóa Đông phương ta ngày nay đương qua một hồi yếm thế, không những ta cần phải bảo tồn lấy, mà ta lại cần phải biểu dương lên. Đối với văn hóa Âu Tây ta nên hoài nghi bao nhiêu, thời đối với văn hóa Á Đông ta lại phải nên đôn đốc bấy nhiêu. Người Âu mê tín ở khoa học, người Á mê tín ở đạo đức. Sự mê tín trên có lẽ không chính đáng, vì đối với sự vật mà mê tín. Sự mê tín dưới có thể thừa nhận được, vì đối với một cái lí tưởng mà mê tín. Lí tưởng ấy cho rằng có thể lấy đạo đức, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa người đời sửa sang phong tục, chỉnh đốn xã hội, mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình trong thiên hạ. Lí tưởng ấy ta phải nên trân trọng, vì là cái tinh túy của văn hóa Đông phương ta; ta phải nên giữ gìn cho khỏi bị những phong trào mới nó lay chuyển đến đổ nát đi mất. Ta phải nên phát huy ra để làm cái đuốc sáng soi con đường tiến hóa cho nước ta.

Như vậy thời văn hóa Tây phương là gồm ở khoa học; văn hóa Đông phương là gồm ở Đạo học. Đối với khoa học ta phải nên có lòng công lợi, đối với đạo học ta phải nên có bụng chân thành. Hai đàng là cần cả, không đàng nào khuyết được. Nếu có Khoa học mà không có Đạo học thời như có vỏ mà không có ruột, không có khoa học thời như có ruột mà không có vỏ, không thể xông pha được với đời. Cho nên hai bên phải điều hòa hai cái văn hóa Đông, Tây vậy.

Nói tóm lại, cả cái vấn đề văn hóa nước ta là ở sự phân biệt và điều hòa hai mối Đạo học và Khoa học vậy. Điều đó tựa hồ như tầm thường ai cũng biết, mà về phần riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu được hết lẽ. Nhưng đến khi hiểu được rồi thời thấy trong lòng được khoan khoái, trong trí được vững vàng, không còn băn khoăn khắc khoải như trước nữa. Điều đó tuy tầm thường như thế mà tôi hiểu được cho là một sự phát minh đáng kỉ niệm trong một đời. Còn sự phát minh nữa, cũng tầm thường cho thiên hạ mà cũng đáng kỉ niệm cho riêng tôi, là phát minh được một cái phương tiện để giúp cho sự điều hòa như trên kia. Sự tác dụng thiết yếu nhất của thần trí người ta là sự tư tưởng. Dẫu văn hóa phương nào nước nào cũng là phát nguyên ở một mối tư tưởng trong lòng người mà ra. Nhưng nếu cái tư tưởng ấy cứ u u âm âm ở trong lòng, thời như vô hình vô trạng, không biết đâu mà dò xét được. Tất phát biểu ra lời nói mới gọi là thành hình. Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng, mà tư tưởng tất phải do lời nói mới biểu lộ ra được, thời lời nói cũng tức là cái cơ quan “thực hiện” của tư tưởng, lời nói quan hệ vô cùng. Nay người trí thức ở nước ta – là nói người trí thức mà thôi, còn kẻ tầm thường thời có mấy khi dùng đến tư tưởng – từ xưa đến nay, tư tưởng bằng tiếng gì? Có thể nói rằng các nhà cựu học hầu hết tư tưởng bằng chữ Nho cả, mà các bậc tân học cũng phần nhiều tư tưởng bằng chữ Pháp hết. Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hồ nghĩ ra một cái lí tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn thành câu rõ ràng, hoặc diễn u âm trong trí. Như thế thời nhà Nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ Nho, mà nhà Tây học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng của mình bằng chữ Tây. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy. Huống nhiều khi lại là tư tưởng mượn!

Tôi lấy cái đó làm khổ tâm, bèn nghĩ ra một cách phương tiện để bổ cứu, cách phương tiện này chính là sự nghiệp tôi về đường quốc văn. Tôi nghĩ rằng: Cớ sao người nước ta không tư tưởng bằng tiếng ta? Hoặc cho tiếng ta còn non nớt, thời có tập đến dùng đến mới thành ra già dặn được. Vả lại lời nói già dặn là ở như tư tưởng già dặn. Chỉ sợ tư tưởng còn non nớt, không sợ lời nói non nớt. Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rằng: phàm tư tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả. Thí nghiệm trong bấy lâu, xem ra cũng hơi có kiến hiệu. Lại nhận ra rằng cách đó chính là một cách rất diệu để giúp cho sự điều hòa hai cái văn minh như trên kia, vì những tư tưởng trong sách Tây sách Tàu phải diễn ra tiếng ta cả, khác nào qua cái óc ta lọc đi một lần dễ cho sự “tiêu hóa” biết dường nào! Nếu cứ để trườn trườn như trong sách, cứ giữ nguyên chất của người ta, thời chỉ dùng đến sức kí ức để nhớ lấy và truyền đi lắm khi hãy còn sống sượng, trí não không thể dung nạp được, không thể “tiêu hóa” được, chỉ giao dịch ở ngoài cửa miệng mà thôi. Nay đem đàn diễn ra tiếng ta, tức là biến nhuyễn ra cho dễ dung hòa vào khí huyết tinh túy của ta, cho dễ cùng nhau điều hòa trong óc ta vậy. Mấy sự “phát minh” đó, thật là tầm thường, chẳng lấy gì làm lạ lùng cả. Nói ra đây, thật là lời “bàn phiếm”; nhưng có ai chưa kịp nghĩ tới thời cũng mong giúp được cho sự nghiên cứu về vấn đề văn hóa một đôi phần vậy.

 

 

Tạp chí Nam Phong – 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:42 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

TẠP CHÍ NAM PHONG, 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Theo nguồn tin riêng của Blog PhamTon chúng tôi: Sáng thứ bảy, ngày 15/7/2017, tại thư viện Trung ương – Hà nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Tạp chí Xưa và Nay tổ chức cuộc tọa đàm “Tạp chí Nam Phong, 100 năm nhìn lại (1917 – 2017)”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc chủ trì buổi tọa đàm.

Mở đầu, nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Cụ Phạm Quỳnh – chủ bút Nam Phong – lên giới thiệu bộ đĩa in lại đầy đủ 210 số tạp chí Nam Phong thêm số báo Tết Mậu Ngọ 1918 là số báo Tết đầu tiên của nước ta, tiểu luận Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bản tiếng Việt do Phạm Trọng Nhân dịch từ nguyên văn tiếng Pháp, và Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên, được những người bạn Việt kiều ở Mỹ in lại gửi về biếu Thư viện Quốc gia và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Sau đó, nhà sử học Dương Trung Quốc trân trọng giới thiệu người tham luận đầu tiên là Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú. Giáo sư đã 89 tuổi. Giáo sư nói đại ý: Tôi có món nợ là đã viết bài phê phán Phạm Quỳnh. Sau năm 1954, tôi viết phản đối Phạm Quỳnh trong bài “Thực chất cuộc tranh luận giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh”. Năm 1958, trong giáo trình giảng ở đại học, tôi xếp Phạm Quỳnh vào văn nô dịch với Nguyễn Văn Vĩnh. Đến 1960, tôi đã nhận ra vấn đề. Năm 1965, tôi được khen và cảm thấy xấu hổ đã có lỗi lầm với Cụ Phạm. – “Lịch sử không làm lại được, nhưng nhận thức lại lịch sử thì vẫn luôn có.

Tiếp đó nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, tham luận với đề tài “Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục”. Chủ bút họ Phạm đã kiên trì gắn kết  Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc hồn.

Kế đến Tiến sỹ Nguyễn Đức Thuận, người đã tự mình dày công sưu tầm được đủ 210 tập Nam Phong tạp chí và làm sao chụp toàn bộ. Năm 1986 ông đã làm luận án Tiến sỹ về Nam Phong, nhan đề “Văn trên Nam phong tạp chí”, đã xuất bản thành sách.

Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên điểm lại những phê phán của văn học mới với Phạm Quỳnh, từ nhóm Lê Quý Đôn năm 1960 đến những lời nặng nề nhất của Đặng Thai Mai trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, đến cuốn “Chủ đích Nam Phong” của Nguyễn Văn Trung…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn tham luận về cuốn sách Du ký của Phạm Quỳnh do ông biên soạn và giới thiệu. Sau đó, đến tham luận của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

Giáo sư Nguyễn Nhật Vượng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) dự kiến sẽ tổ chức một hội thảo quốc tế tại đại học Quốc gia Hà Nội vào cuối năm nay nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong.

Ông Phan Bá Hoành – chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Dương tham luận, giới thiệu Hải Dương có hơn 1000 nhân vật lịch sử, mong muốn giới trẻ nhìn lại lịch sử và tìm thấy những bài học.

Do thời gian chỉ giới hạn trong một buổi sáng, buổi tọa đàm đã diễn ra rất xúc tích.

Kết thúc buổi toạ đàm, nhà sử học Dương Trung Quốc tuyên bố bế mạc. Ông nói: “Thời gian là thuốc thử hiện hình, nhưng cũng là chất cường toan có thể xóa đi ký ức”.

Tháng Bảy 14, 2017

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

  • Thu từ Tạp chí Sông Hương online, 21/58 ngày 7/7/2017:

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Sáng ngày 1/7,  Hội đồng họ PhạmThừa Thiên Huế đã tổ chức lễ dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân  kỷ niệm 100 năm  Tạp chí Nam Phong.

Tại buổi lễ, ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên Huế đã khái quát lại quá trình hoạt động, những đóng góp, cống hiến của cụ Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn hóa Việt Nam.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892.  Cụ Phạm là dịch giả, nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại trường Viễn Đông bác cổ. Từ năm 1913, cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, lúc mới 25 tuổi, cụ đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí. Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Là một Nho sĩ Bắc Hà, quê ở Hải Dương, sinh trưởng ở Hà Nội nhưng cụ Phạm rất nặng lòng với Huế. Lần đầu tiên đến Huế, cụ đã xem Huế là quốc hồn của Việt Nam.

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Kênh quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ chính là thông tin đại chúng và văn học. Thời kỳ này, báo chí Quốc ngữ phát triển rất nhanh, nhưng vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ quốc ngữ của báo chí thực sự nở rộ khi Đông Dương Tạp chí và Nam Phong tạp chí ra đời. Hai tờ tạp chí này có cách viết, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng câu chuẩn hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ.

Tờ Nam Phong tạp chí kế tiếp sự nghiệp truyền bá Quốc ngữ nhưng phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các cây bút chủ lực của Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong văn bản hành chính, đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học.

Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hóa, chuẩn hóa kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Cuộc đời của Cụ Phạm gắn liền với Tạp chí Nam Phong. Sự nghiệp văn hóa lẫn chính trị của Cụ được thực hiện thông qua tờ tạp chí này với sự tham gia của các đông nghiệp cùng chí hướng trên suốt một chặng đường dài.

Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “ Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên Tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời ký đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…. Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới…Đối với nên văn hóa cũ của nước ta, ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân…Văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả”.

Phương Anh

 

 

Trả lại sự sáng trong cho Phạm Quỳnh – Hà Khánh Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017.

TRẢ LẠI SỰ SÁNG TRONG CHO PHẠM QUỲNH

Hà Khánh Linh, Nhà văn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Hà Khánh Linh, tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, sinh tại Huế, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại Thừa Thiên Huế. Hiện ở tại số 24/7 đường Chế Lan Viên, thành phố Huế.

Những tác phẩm đã xuất bản gồm có Thúy, tiểu thuyết, nhà xuất bản Văn Nghệ Giải Phóng, 1973; Nụ cười Ápxara, tập truyện, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 1983; Là bóng hay là hình, tập truyện, NXB Tác Phẩm Mới, 1986; Chiến tranh và sau chiến tranh, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 1989; Rừng và cái chết con thiên nga, tiểu thuyết, Hội văn nghệ Thừa Thiên-Huế, 1992; Góa phụ Paris, tập truyện, NXB Văn Học, 1993; Trăng cứu rỗi, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1995; Những bọt bóng màu, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Con gái người cung nữ, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 1999; Vũng Chân Mây, tập truyện, NXB Đà Nẵng, 1999; Ngày ấy, Trường Sơn…, Hồi ký, NXB Hội Nhà Văn, 2000; Vì người mà tôi làm vậy, tập truyện, NXB Hội Nhà Văn, 2001; Người cắm hoa nhà thờ, tiểu thuyết, NXB Văn Học, 2002; Người kinh đô cũ, tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, 2004; …Và đàn bà, tập truyện, NXB Văn Nghệ, 2007; Phùng Quán viết Trăng Hoàng Cung, tự truyện, NXB Thuận Hóa, 2007; Ôi trần gian, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 2008…

Từ lâu nhà văn Hà Khánh Linh đã quý mến học giả Phạm Quỳnh và coi  “Vấn đề Phạm Quỳnh là vấn đề của lương tâm thời đại”. Với tâm thức đó, bà đã viết bài báo này vào cuối năm 2006.

—-o0o—

Sinh ra và lớn lên tại Huế, sau chiến tranh được sống và được làm việc ở Huế, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều với các giới đồng bào, càng thêm hiểu tâm tình bà con với những ai đã từng yêu quý và sống hết mình với Huế, vì nước vì dân. Năm 1945, sau khi cùng phái đoàn chính phủ vào Huế tước ấn kiếm và dự lễ thoái vị của Bảo Đại, ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch, nhà thơ Huy Cận đã không quên nói lên tâm tình của dân Huế. Sau này, ở tuổi ngoài tám mươi, ông đã hai lần kể lại rành rọt cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh câu chuyện xưa mà ông không bao giờ quên: “Năm 1945, cuối tháng 8, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh Nông của chính phủ Cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện Cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “ĐÃ LỠ MẤT RỒI!”

Đầu năm 2005, tôi đã được đọc bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, đăng trên tạp chí Khoa học và Ứng dụng số 2-2005, và bài Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỉ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005 thì cuối năm đó lại được đọc loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Rồi đến năm 2006, tôi được đọc các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, và Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung Phạm Quỳnh người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Tôi còn được đọc bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Tôi cũng đã đọc bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12 tháng 6-2006. Và mới đây là bài trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005, Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh cũng của Vương Trí Nhàn. Còn mới nhất là bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục…Tôi cũng đọc các sách của Phạm Quỳnh mới tái bản ở nước ta như Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Luận giải văn học và triết học Thượng Chi văn tập của các nhà xuất bản Văn Học và Hội Nhà Văn. Càng đọc tôi càng thấm thía lời nhà thơ Huy Cận nói với nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Càng đọc kỹ những dòng chữ Cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của Cụ.” Và tôi càng thương tiếc vô hạn học giả Phạm Quỳnh, đau xót trước cái chết oan ức của ông. Vì thế tôi đặc biệt chú ý đến một bài báo mới đăng trên tạp chí Xưa và Nay.

Trong số 269, tháng 10/2006 tạp chí có đăng bài của Nhật Hoa Khanh: Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông. Do yêu mến Phạm Quỳnh tác giả đã nhiều năm cố công tìm hiểu về cái chết bí ẩn của ông, đã gặp nhiều người, tìm tòi nhiều tư liệu và cuối cùng đã tìm được hai tờ báo khổ nhỏ phát hành hẹp tại Huế năm 1945. Đó là nhật báo Quyết Chiến khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân Cách mạng Huế”. Số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945 có đăng bản tin: “Ba tên Việt Gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án Quân sự tỉnh Thuận Hóa” (tức là Huế), sau đó đăng trên tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số bốn trang, là “cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ.” Số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩ tỉnh Nguyễn Tri Phương”, mà không có ai đứng tên thay mặt ký cả.

Trong lời tòa soạn in chữ đậm,  cỡ lớn, chính tạp chí Xưa và Nay cũng thấy cần nhấn mạnh “ở đây vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn (Thật ra là ba – PT chú) tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (chúng tôi nhấn mạnh – HKL).

Lệ thường, khi cần xử tử một kẻ gây tội ác lớn, người ta thường thông báo càng rộng rãi, càng kịp thời, càng được nhiều người chú ý và vì thế tác dụng răn đe các kẻ xấu khác càng lớn. Hơn nữa, việc xử tử cũng thường tổ chức càng công khai, càng đông người tận mắt được thấy kẻ thủ ác phải bị trừng phạt, càng có tác dụng ngăn ngừa tội ác. Nhưng, trường hợp “xử tử ba tên Việt gian tối nguy hiểm” này lại diễn ra khác hẳn. Trong số 267 tháng 9/2006, tạp chí Xưa và Nay đăng bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn có đoạn: “Người canh gác xưởng (ép dầu tràm, nơi giam giữ Phạm Quỳnh cuối cùng-HKL chú) kể: Một đêm đầu tháng 8 ta, trăng lưỡi liềm, khoảng 11 giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra cho ăn cơm (…) Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò (…) gần 1 giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người”

“Xử tử” vào 1 giờ đêm, ở một nơi hoang vắng, giữa đêm trăng mờ. Thật lạ lùng cho cách “xử tử” này. Quả là có một không hai trên đời!…

Chắc hẳn là ba tháng sau khi thủ tiêu Phạm Quỳnh, người xưng là cấp trên có quyền sinh quyền sát trong tay ấy mới nghĩ ra được cách ra thông báo để hợp pháp hóa vụ giết hại mờ ám, lén lút và tàn bạo mình đã tự ý gây ra trong đêm trăng non nọ?…Để rồi suốt hơn 60 năm trời Cách mạng Việt Nam phải chịu tiếng đã giết oan một con người nặng lòng với nước với dân như Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh, con người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, đã sống 13 năm cuối đời tại Huế, đã viết những dòng tâm huyết cuối cùng tại Huế (tập Hoa Đường tùy bút: Kiến văn, cảm tưởng và 51 bài thơ Đỗ Phủ còn dịch dở dang). Và cũng đã gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên chùa Vạn Phước xứ Huế. Dân Huế yêu quý ông, đã tự nhiên bảo nhau gọi bến đò An Cựu trước biệt thự Hoa Đường xưa của ông là Bến Cụ Phạm. Và tôi tin là hình ảnh ông, tư tưởng của ông còn sống mãi trong lòng người dân xứ Huế, vốn nặng tình và trọng nghĩa.

Tôi tin là giống như mặt trời lên thì xua tan bóng tối, đất nước ta ngày càng tiến lên xã hội công bằng dân chủ văn minh thì những đám mây đen, bụi bẩn bấy lâu che mờ gương sáng của ông cũng sẽ tiêu tan cùng với các thế lực đen tối, cực tả một thời đã làm ô danh cách mạng Việt Nam.

Huế, những ngày mưa cuối năm 2006

H.K.L

Ghi thêm:

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác là cộng tác viên nhiệt thành của tạp chí Nam Phong rồi trở thành bạn tri âm tri kỷ từ lâu của học giả Phạm Quỳnh. Cho nên, sau khi từ quan về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên con sông nhỏ An Cựu để chuẩn bị quay trở lại với nghiệp văn của mình, Phạm Quỳnh đã bắt đầu “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ Trung Quốc đồng cảnh với ông. Dịch được 51 bài, ông tin cậy gửi cả nguyên văn chữ Hán do tay ông chép và các bản dịch thô của mình cho Đông Hồ, người mà ông tin cậy ở cả cái tâm và cái tài. Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đàu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó là nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Tháng Bảy 2, 2017

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

(Tin đăng trên www.tuoitre.vn lúc 15:33 ngày 01/07/2017)

Sáng 1-7, tại khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh (phường Trường An, TP Huế) đã diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí – một trong những ấn phẩm báo chí chữ quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam – ra đời.

Buổi lễ do đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế chủ trì. Tham dự buổi lễ gồm những nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa và cả những người dân sống gần khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh.

Trong không khí trang nghiêm, mọi người có mặt tại buổi lễ đều kính cẩn nghiêng mình để tưởng nhớ đến nhà chí sĩ Phạm Quỳnh – người có công tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để thay thế tiếng Hán và tiếng Pháp vào đầu thế kỷ 20.

Ông Phạm Hữu Thanh Tùng, đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế, cho biết hội đồng đã cùng nhiều nhà nghiên cứu Huế dày công sưu tập được hơn 40 tác phẩm của cụ Phạm Quỳnh và gần như trọn bộ hơn 200 ấn phẩm Nam Phong tạp chí.

“Đây đều là những tư liệu quý phục vụ trong việc nghiên cứu văn học, báo chí. Nếu có cơ hội chúng tôi sẽ phối hợp với các bên liên quan để mở một cuộc triển lãm về cụ Phạm Quỳnh” – ông Tùng nói.

Cụ Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu.

Cụ Phạm Quỳnh cũng là chủ bút và chủ biên của tờ nguyệt san Nam Phong tạp chí, xuất bản số đầu tiên vào ngày 1-7-1917.

Tờ nguyệt san này là một trong những ấn phẩm báo chí dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu – Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ nho.

Nhật Linh

  • Trần Biên Hòa 17:38 01/07/2017

Tôi ngưỡng mộ cụ Phạm Quỳnh từ năm học lớp 9 ở miền Nam (1973), khi thầy giáo dạy môn văn giới thiệu cụ và công lao phổ biến chữ quốc ngữ qua Nam Phong tạp chí.

  • hồng ngự 22:02 01/07/2017

chân lý cuối cùng vẫn là chân lý

  • dongle 21:17 01/07/2017

Sao ở Huế không có tên đường Phạm Quỳnh nhỉ?

  • Kim Dung 19:13 01/07/2017

Làm thế nào tiếp cận được những tư liệu hay những bài báo của cụ , về cụ . Ngưỡng mộ , thành kính Cụ , nhạc sỹ Phạm Tuyên và gia đình . Chúc hậu duệ của cụ bình yên ,

  • Trần Quang 20:19 01/07/2017

Cụ dưới suối vàng cũng yên lòng.

  • Vũ Vinh 09:48 02/07/2017

Tôi đã được đọc một số bài viết của Cụ Phạm Quỳnh và thấy Cụ thực là một người yêu nước, yêu văn hoá Việt. Tôi tin rằng sự công bằng của lịch sử sẽ trả lại chỗ đứng xứng đáng cho Cụ với tư cách nhà văn hoá, nhà khai phóng của Việt Nam.

  • Pham Han 08:31 02/07/2017

Nhà nước ta nên có 1 chương trình, dự án dài hạn 5 ,10 năm hoặc hơn nữa, về dịch thuật tất cả các văn bản chữ Nôm, Việt ngữ hóa tất cả các từ và văn bản Hán Nôm ra 1 hệ Việt ngữ thống nhất và lưu hành chính thống trong cả nước và thế giới, để các thế hệ mai sau dễ tiếp cận, đồng thời cắt các từ hán trong văn chương Việt Nam.

  • Nguyễn Ngọc Lanh 11:56 02/07/2017

Cụ Phạm được xếp đứng đầu Tứ Đại Học Giả nước ta khi cụ sống và hoạt động văn hóa (Quỳnh – Vĩnh – Tố – Tốn).

Qua hoạt động văn hóa, cụ còn đóng góp lớn cho việc phổ biến chữ quốc ngữ.

Tháng Bảy 1, 2017

Lễ tưởng niệm 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Lễ tưởng niệm nhân 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Sáng ngày 13-9-2015, nhằm ngày mồng 1-8 năm Ất Mùi, tại chùa Vạn Phước, thành phố Huế, Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và gia đình cụ Phạm Quỳnh tổ chức lễ dâng hương tại mộ phần và lễ cầu siêu tại chùa cho cụ Thượng Chi nhân tròn 70 năm ngày mất của cụ.

Nhân dịp này các nhà báo Hoàng Phước, Thanh Tùng (Phạm Hữu Thanh Tùng), Thuỷ Trường đã kịp hoàn thành và tổ chức ra mắt cuốn sách “Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế”. Tác phẩm được hình thành từ những bài viết đã in trên các báo in, báo điện tử, một số tham luận trong Pham Tuyen dang huong truoc mo Pham Quynhbuổi ra mắt cuốn “Phạm Quỳnh – một góc nhìn”, tập 2, do Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một nhà nghiên cứu người Huế, sinh sống ở Hà Nội, tổ chức bản thảo, NXB Công an nhân dân ấn hành. Buổi ra mắt và giới thiệu cuốn sách này do Thường trực Hội Đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và Trung tâm Du lịch Huế xưa Huế nay tổ chức (tại Huế) vào tháng 8-2012.

“Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế” do NXB Thuận Hoá ấn hành đầu tháng 9-2015. Sách dày 200 trang, khổ 13x19cm. Cuốn sách tiếp tục đưa ra những góc nhìn khác nhau, những góc nhìn mới, và cởi mở, nhằm tiếp tục nhận diện lại chân dung nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh một cách trung thực; góp phần thẩm thấu hơn nữa những giá trị văn hoá thuộc về học giả đa tài Phạm Quỳnh và những góc khuất lịch sử cần được làm sáng tỏ.

Chúng tôi xin giới thiệu bài phát biểu của nhà báo Phạm Hữu Thanh Tùng, Uỷ viên Thường trực Hội đồng Toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, và một số hành ảnh tại buổi lễ tưởng niệm cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân. Sinh thời, những lúc mỏi mệt, căng thẳng, sau giờ làm việc cụ Phạm thường lên đây thư giản, tĩnh tâm, tìm về nơi chốn thanh thản của tâm hồn.

Mộ phần cụ Phạm tựa lưng vào chùa Vạn Phước, phía trước là chùa Thiền Lâm.

Nơi đây từng là dinh phủ của Thái sư Bùi Đắc Tuyên và các công quán của triều Tây Sơn. Vì thế, ở dưới cửu tuyền chắc là ngày ngày cụ được đọc sách, bình thơ, ngẫm sự đời, luận bàn nhân sinh thế sự cùng các bậc trung thần và văn nhân như: Ngô Thời Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngọc Hân công chúa. v.v…

Sau một cuộc đời oan nghiệt, còn có gì đáng quý hơn là ngày ngày cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh được yên vui trong tiếng chuông chùa và tiếng gõ mõ, cầu kinh giải oan bạt độ.

Sinh thời cụ Phạm là dịch giả, nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ. Từ năm 1913 cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí. Năm 1922, với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức, cụ sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Macxây, rồi lên Paris diễn thuyết ở nhiều diễn đàn.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Le dang huong Pham QuynhNăm 1932, đang làm Chủ bút Nam Phong tạp chí, ở Hà Nội, thì cụ Phạm được triệu về kinh giữ chức Thượng thư Bộ Học, rồi Thượng thư Bộ Lại, kiêm quản Tổng lý Ngự tiền văn phòng. Thời kỳ dấn thân quan trường cụ Phạm kiên trì đấu tranh cho độc lập chủ quyền, tự trị của dân tộc; cụ thể là đòi khôi phục quyền hành của triều Nguyễn trên cả ba kỳ. Cụ đề xướng thiết lập nhà nước quân chủ lập hiến, được vận hành bằng hiến pháp, quy định rõ quyền của dân, quyền của vua quan, và của chính quyền bảo hộ. Nhưng chủ trương cải cách chính trị của cụ Phạm đã không thành trong bối cảnh Nhật Pháp đánh nhau, đồng thời là “đêm trước của cách mạng vô sản” ở Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nội các Trần Trọng Kim thành lập, cụ Phạm rút lui khỏi chính trường về làm dân, sống ở biệt thự Hoa Đường, bên bờ sông An Cựu.

Lễ giỗ lần thứ 70 của cụ Phạm được tổ tại Huế trong ngày hôm nay, 1-8, và tại Từ đường, ở Hà Nội, vào ngày mồng 4 tháng 8 năm Ất Mùi – 2015.

Hôm nay, các nhà sư ở Tổ đình Vạn Phước sẽ làm lễ cầu siêu, giải oan bạt độ cho cụ Phạm. Trước lễ cầu siêu Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế cùng con cháu nội ngoại tổ chức lễ dâng hương cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh tại mộ phần.

Đến dâng hương cụ Phạm Quỳnh, ngoài đại diện Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, nội thân, ngoại thân, còn có sự hiện diện của đoàn đại biểu Hội Đồng Họ Phạm Quảng Nam – Đà Nẵng, Hội Đồng Họ Phạm làng Thanh Thuỷ Thượng, thị xã Hương Thuỷ, dòng họ Phạm có gốc ở Phủ Hạ Hồng, tỉnh Hải Dương. Nhiều vị trí thức, văn nghệ sĩ tại cố đô Huế, những người kính trọng, ngưỡng mộ tài năng, nhân cách của cụ Thượng Chi; có sự ảnh hưởng tích cực của cụ trên con đường hoạt động văn hóa nghệ thuật của mình đã đến dâng hương và dự lễ cầu siêu.

Phạm Hữu Thanh Tùng

Một số hình ảnh tại lễ tưởng niệm

Ảnh: Anh Tú

 Hoi Dong Ho Pham dang huong le tuong niem pham quynh

Gio cu Pham Quynh

Dai dien ho Pham lang Thanh Thuy Thuong dang huongNha tho Nguyen Khoa Diem dang huongNha tho Ngo MinhNha bao Thanh Tung phat bieu tai le dang huongNhac si Pham Tuyen tam su chuyen doiNha su hoc Duong Trung Quoc phat bieu

 

 

 

 

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.