Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 14, 2018

Những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA PHAN CHÂU TRINH

Phan Thị Minh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 461, tháng 7 năm 2015 từ trang 19 đến trang 22. Tác giả, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh là cháu ngoại Phan Châu Trinh, từng là đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại I-ta-li-a và một số nước châu Âu khác như Luxemburg

—-o0o—-

Sau 14 năm hoạt động trên đất Pháp, ngày 28/6/1925 Phan Châu Trinh trở về Tổ quốc. Từ đó cho đến lúc qua đời (24/3/1926) chỉ trong vòng 9 tháng, mặc dầu đang bệnh nặng, Phan Châu Trinh vẫn tích cực không ngừng hoạt động trong phong trào yêu nước đang có cơ hội phát triển. Nội dung bài viết dưới đây trình bày về một số hoạt động trong những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh – đã biên soạn trên cơ sở tài liệu sao lục được tại Kho Lưu trữ hải ngoại của Pháp.

Thư khố Pháp còn lưu giữ hai bài báo tiếng Pháp (của tờ Mite) viết về cảnh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh về đến cảng Sài Gòn ngày 28/9/1925 và buổi tiệc mừng.

Tờ Indochine (Đông Dương) có bài của Dejean de la Bâtie viết: “Tàu cập bến vào 8h15, trời bắt đầu tối và mưa lâm thâm nhưng nhiều người, nhiều ô tô đợi trên bến tàu, vẫy khăn gọi tên…” Một số được lên tàu đón, vây quanh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh. Ai cũng muốn gặp Phan Châu Trinh; ông có vẻ gầy gò, má hóp, da đã nhăn nheo nhưng mắt rất sáng, nét mặt và cử chỉ rất kiên quyết dứt khoát.

Ngay trong buổi tiệc mừng tại nhà bà Chiêu Nam Lầu, cô ruột của ông Ninh, Phan Châu Trinh đã trả lời phỏng vấn và nói chuyện về quá trình của mấy ông mấy chục năm qua, phương hướng và nội dung cho cuộc vận động sắp tới. Ông vẫn nhấn mạnh cần giữ vững thế hợp pháp để đấu tranh lâu dài đòi cải cách dân chủ, mở mang dân trí và nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân.(các dòng chữ đậm, nhấn mạnh trong bài là của chúng tôi – PT)

Phan Châu Trinh tuyên bố thẳng với bọn cầm quyền sẽ ở lại Sài Gòn, lúc thì nói để chờ miền Trung bớt nóng nực mới về, lúc thì nói để chờ Toàn quyền Varenne sắp sang. Ông cũng tuyên bố sẽ sống  bằng nghề viết sách báo. Thực chất ông đã nhận định: ở Nam Kỳ bấy giờ chế độ cai trị của Pháp có phần dễ thở hơn, một phần luật pháp của Pháp được áp dụng, nhiều người đã tiếp xúc với phương Tây, đã sẵn có một phong trào đấu tranh công khai bằng báo chí dư luận, lại là vùng đất phì nhiêu, số người hằng tâm hằng sản khá đông, có thể dùng làm bàn đạp lâu dài của nhóm ông. Vì thế thâm tâm ông đã quyết định sẽ ở lại Sài Gòn, khi cần hoạt động mới ra Trung và Bắc.

Theo báo cáo của mật thám thì đến với Phan Châu Trinh ngay từ đầu có: Trần Quang Nghiêm, Lê Kim Ty, Phan Văn Trường, Lâm Hiệp Châu, Khánh Ký… phía người Pháp cánh tả có André Malraux, Paul Monin, Dejean de La Bâtie…

Mười hôm sau, Phan Châu Trinh đã đánh điện gọi người rể lớn (chồng bà Châu Liên – cha chúng tôi), Lê Ấm, dạy học ở Huế. Ngày 17/7/1925, ông Lê Ấm đã đưa bà Ngưu em gái út và Châu Lan con gái út Phan Châu Trinh (mẹ của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Phấn khởi trước tinh thần và khí thế của bà con, cảm động với niềm tin yêu tất cả dành cho mình, Phan Châu Trinh làm việc hết sức khẩn trương quên cả bệnh tật. Ông tập trung huy động lực lượng trong các tầng lớp trên mà thực dân có phần kiêng nể, đồng thời lo kiềm chế xu hướng nôn nóng manh động trong lớp trẻ tân học. Ông vừa lo ứng phó những sự kiện trước mắt vừa chuẩn bị cơ sở cho hoạt động lâu dài.

Ngày 3/8/1925, ông đi Trà Vinh cùng với ông Ninh, rể lớn Lê Ấm và con gái út Châu Lan. Ngày 7/8 lại đi Mỹ Tho… Ông đi gặp gỡ một số điền chủ và nhà kinh doanh ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Ba Động (có Nguyễn Phước Hượt, Nguyễn Huỳnh Điển, Trần Văn Kim…). Có những buổi họp kín dưới quyền ông Hợi (chồng bà Châu Lan, cha bà Nguyễn Thị Bình).

Ngày 28/8, ông mới trở về Sài Gòn, nói “dự định đi khắp Nam kỳ, nhưng sức khỏe không cho phép…”

Mục tiêu trước mắt của các lực lượng yêu nước là nhờ uy tín của Phan Châu Trinh để vận động tiền lập nhà in, ra sách báo và một số cơ sở hoạt động. Theo báo cáo của trùm mật thám Arnoux (số 3/74 ngày 24/9/1925) thì cuộc vận động của Phan Châu Trinh đạt kết quả khá lớn.

Ông khẩn trương biên soạn tài liệu diễn thuyết. Ông Ninh tích cực lo tổ chức cơ sở vật chất và làm thủ tục cần thiết, để chuẩn bị cho ông, trực tiếp cả với Sở mật thám.

Ngày 10/10/1925, ông cùng ông Ninh chủ trì cuộc họp với 5 người tại số 14 đường Martin des Pallieres, phần lớn là những nhân vật lớn, Ủy viên hội đồng như Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Nguyễn Tân Văn, Nguyễn Huỳnh Điển, các nhà điền chủ, nhà kinh doanh, trí thức và viên chức lớp trên. Có thêm Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển, Nguyễn Pho, Khánh Ký, Trương Cao Động… Họ bàn:

+ Lập một nhà hội để diễn thuyết.

+ Lập nhà in để ra một tờ báo song ngữ Việt – Pháp.

+ Xây dựng một trường văn hóa và dạy nghề.

+ Nguyễn Huỳnh Điển nhận việc lo lập nhà in để phục vụ ra báo. Ông Đốc phủ Lê Văn Mau sẽ hứa cho đất và 100.000 đồng để xây dựng trường học, nếu thiếu ông sẽ đi quyên thêm. Hội nghị trung tâm bàn  vấn đề tổ chức diễn thuyết đã cử Ủy ban 5 người gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Đốc phủ Nguyễn Tấn Sử và Nguyễn Tấn Văn. Ngày 15/10/1925, Ủy ban trên họp tại nhà Nguyễn Văn Long, có thêm ông Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển và một số người lo việc quyên góp…

Họ trao đổi những thông tin đáng mừng về những lời hứa quyên góp và quyết định sẽ thành lập một câu lạc bộ để tổ chức diễn thuyết và hội họp, giao cho ông Trường và ông Ninh nghiên cứu điều lệ và thủ tục, kể cả làm việc với Sở mật thám. Nếu “kẹt” sẽ xin Toàn quyền mới là Varenne (đảng viên Xã hội) can thiệp.

Ngày 7/11 ông đi nghỉ ở Vũng Tàu thì được tin Khải Định chết, ông đánh điện cho Khâm sứ Pasquier đề nghị lập Hội đồng xem xét nên tôn người kế vị hay chấm dứt chế độ quân chủ. Khi trao đổi với bạn bè ông cũng hiểu là khả năng đó còn xa vời như trong bài của Nguyễn Phan Long đăng báo Écho Annamite ngày 12/11/1925, “Để có chế độ cai trị trực tiếp ở Trung kỳ”. Nhưng ông cho đây là một trong những nhát búa để đánh thức dư luận về vấn đề này, tạo một khả năng mới cho tương lai.

Ngày 19/11/1925, Varenne tiếp khách tại Sài Gòn: Phan Châu Trinh đại diện Trung kỳ, Phan Văn Trường, Bắc kỳ, Nguyễn Phan Long, Nam kỳ. Đoàn gồm nhiều nhân vật quan trọng. Họ đưa thỉnh nguyện, ngoài nội dung dự kiến có thêm nội dung ưu tiên cho các hoạt động kinh doanh của người Việt.

Ngay tối hôm gặp Varenne (19/11/1925), Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết đầu tiên của ông với đề tài “Đạo đức và luân lý Đông Tây”, tại số nhà 13 và 15 đường Albert 1, có đơn xin phép chính quyền, có chủ tịch đoàn gồm Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Văn và Nguyễn Tấn Được đều là ủy viên Hội đồng. Theo báo cáo của mật thám Arnoux số 119B ngày 20/11 có khoảng 200 người nghe. Khoảng 120 người trong phòng 30 người chen chúc ở cửa và một số người ở phòng nhỏ có cửa thông sang.

Không có thủ tục giới thiệu diễn giả, Phan Châu Trinh bắt đầu nói vào 20 giờ 20 và kết thúc vào 21 giờ 30. Có 5, 6 lần vỗ tay:

Arnoux nhận xét: “Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam diễn thuyết bằng tiếng Việt ở một nơi công cộng (trước đó chỉ có vài cuộc ngắn ở Nhà Khuyến học), hơn nữa với tư cách riêng của diễn giả cần có báo cáo riêng” (có bảng tóm tắt nội dung kèm theo). Thực chất Phan Châu Trinh thông qua phân tích mặt mạnh yếu của hai nền đạo đức và luân lý, để chỉ rõ nhược điểm và tồn tại bấy giờ trong nhân dân ta, kêu gọi lòng yêu nước, ý chí tự lập tự cường, gìn giữ cái hay của mình, bỏ cái dở, học tập cái hay của người, biết đoàn kết tổ chức đoàn thể, biết truyền bá xã hội trong dân. Ông nêu gương Nhật Bản đã thành công và Trung Quốc, Triều Tiên đang mở cửa phấn đấu canh tân đất nước để kêu gọi học tập gương họ.

Lời lẽ của ông vừa hùng hồn, thiết tha chân thành, vừa đơn giản dễ hiểu, vừa chặt chẽ khôn khéo, đại diện Sở mật thám ngồi nghe cũng không bắt bẻ vào đâu được mà thính giả thì hết sức xúc động thấm thía và phấn khởi.

Diễn văn được in ra hoặc chép tay phân phát. Hiện nay chúng tôi có bản in của Tân Dân thư quán Hà Nội.

Ngày 20/11/1925, Phan Châu Trinh đã cùng hai ủy viên Hội đồng thuộc địa Nguyễn Phan Long và Nguyễn Tấn Dược gửi đơn đến chủ sở mật thám báo sẽ diễn thuyết vào ngày 27/11, cũng tại địa điểm cũ, về vấn đề “Quân chủ hay dân chủ”. Arnoux phản ánh Phủ Toàn quyền: “Lần trước chỉ nói vấn đề luân lý mà Phan Châu Trinh đã khéo léo xen vào đó nội dung đả kích triều đình Huế. Lần này chắc ông ta sẽ trực diện hơn. Xin cho biết có nên cho phép không vì kiểu nói rất Annam, khéo léo của ông ta được người bản xứ hiểu rất dễ dàng… Dù tôi cũng phải cho phái viên đặc biệt và chỉ điểm đến dự”.

Ngày 27/11, Phan Châu Trinh đã diễn thuyết về đề tài “Quân trị và dân trị” dưới sự chủ tọa của Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Dược và Trần Đình Minh, từ 20 giờ đến 21 giờ 40.

Theo báo cáo của Thanh tra Becrtin “thính giả đông hơn lần trước, khoảng 300 người, gồm đủ mặt các nhân vật cách đó mấy tiếng đã cùng Nguyễn Phan Long đến gặp Varenne. Diễn thuyết được chào mừng bằng vỗ tay nhiệt liệt”.

Phan Châu Trinh đang sốt cao, vẫn cố gắng nói rõ ràng mạnh mẽ. Ông lướt qua tệ hại của chế độ quân chủ với nạn áp bức quân chủ… Ông trình bày hình thức tổ chức chế độ cộng hòa, điển hình là Pháp, cùng với các chế độ quân chủ lập hiến mà vua cũng không khác tổng thống. So sánh các chế độ, ông đả kích các mưu đồ bảo vệ ngôi vua quân quyền, ông đặc biệt châm biếm ngôi vua dưới chế độ bảo hộ là tên đầy tớ số 1. Ông nhắc lại nền quân chủ của nước ta là sao chép từ Trung Quốc, nhân dân họ đã nhận thức được và tự giải thoát ách nô lệ. Dân Nam cần bắt chước.

Ông được vỗ tay nhiều lần, đặc biệt khi ông cầu mong Pháp sẽ thiết lập nền cộng hòa ở Đông Dương.

Sau buổi diễn thuyết này Phan Châu Trinh mệt nhiều, phổi đau. Ông phải vào điều trị ở bệnh viện Algil 15 ngày, ngày 22/12/1925 mới hơi khỏe ra viện. Ông Đào Trịnh Nhất báo tin được ông nhận làm thư ký. Được tin Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hà Nội ông đánh điện cho Toàn quyền xin ân xá.

Ngày 22/12/1925 được tin về thái độ Viện Cơ mật, Phan Châu Trinh gửi cho Khâm sứ Trung kỳ Pasquier một bức thư rất thẳng thắn.

“Ngài Khâm sứ,

Trong chuyến vào Nam kỳ cùng với ông Monguillot, Ngài đã mời tôi về Trung kỳ. Tôi đã vui vẻ nhận lời. Nhưng tình hình sức khỏe của tôi còn phải lưu lại Nam kỳ.

Nhưng ít lâu sau lời mời của Ngài, Viện Cơ mật đã mật tư cho các quan lại chức sắc trong nước để báo về việc sẽ trở về của tên Cộng sản Phan Châu Trinh, nguyên chính trị phạm, được Cộng sản giao về hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ ở Đông Dương”.

Ngài đã rõ chính kiến và tình cảm tôi đối với nước Pháp. Viện Cơ mật đã gửi lệnh đó đi khắp miền Trung thì thật lạ quá, một bên là Ngài Khâm sứ mời tôi về Trung kỳ và bên kia là lũ chó của Ngài lại chuẩn bị sẵn sàng để sủa tôi, thậm chí cắn tôi nữa.

Tôi xin Ngài vui lòng giải thích cho tôi mấy điều lạ lùng đó.

Xin kính chào Ngài.

Phan Châu Trinh – 49P Charner Sài Gòn”

Trong những ngày khỏe từ 22 đến 27/12/1925 Phan Châu Trinh tin là chỉ một tuần nữa sẽ đủ sức về Đà Nẵng thăm quê hương và con, “đổi không khí chắc sẽ khỏe hơn”. Báo cáo số 1305 viết “Phan Châu Trinh đã đủ giấy tờ, chỉ còn chờ con tàu thích hợp là đi. Có lúc ông nói định chờ Varenne vào sẽ cùng ra”.

Nhưng từ ngày 27/12 ông mệt lại, không ăn không ngủ được. Nguyên nhân do khí hậu thay đổi và làm việc quá nhiều.

Ông chuyển sang thuốc Nam, lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú ông Ninh) làng Trung Chánh (Gia Định).

Sang đầu tháng 2/1926 bệnh ông càng ngày càng nặng, phổi đau  lại thêm bệnh kiết lỵ “khi đó chưa có thuốc trị”. Bác sĩ Thinh và Đôn thấy còn ít hy vọng. Cử nhân Lê Văn Huân từ Huế vào thăm đi cùng với con gái lớn Phan Châu Trinh (bà Châu Liên có đem theo con gái nhỏ 4 tháng tuổi, chính là tôi). Ông An Cư vẫn tích cực lo tìm các thầy thuốc Nam có tiếng đến chữa cho ông. Bà Châu Liên cho biết trong thời kỳ này ông Sinh Huy (thân sinh Hồ Chủ tịch) luôn ở bên cạnh Phan Châu Trinh (thư khố lưu một báo cáo nói đến viên thầy thuốc người Trung kỳ từ Gò Công lên). Ông Trần Đình Phiên cũng từ Quảng Nam vào. Ông An Cư cho biết “đã điện mời thầy thuốc nổi tiếng Huỳnh Thúc Kháng vào sớm vì Phan Châu Trinh rất tin tưởng ông này”.

Bọn mật thám vẫn bám ông. Họ điện cho mật thám Đông Dương: “Sáng 28/2/1926, một chỉ điểm đã thăm Phan Châu Trinh tại nhà Nguyễn An Cư. Ông bị kiết lỵ đã bắt đầu phù thũng, người yếu mệt nhưng vẫn đọc báo nói chuyện”.

Khắp nơi trong nước điện về hỏi tình hình sức khỏe của ông, lo lắng và đau buồn. Thấy không còn hy vọng, ngày 18/3 ông được chuyển về 54 Pellerin để thực hiện tang lễ và các lực lượng yêu nước quyết tổ chức thật lớn. Mãi đến ngày đó mới có tin Huỳnh Thúc Kháng đã lấy đủ giấy tờ và đang trên đường vào.

Quanh Phan Châu Trinh luôn có các bạn cũ và mới, hai con gái và hai rể cùng túc trực. Lúc này ông không còn nói to được nữa nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Sáng 24/3, ngay trong ngày qua đời, khi bà Châu Liên hốt hoảng và báo tin ông Ninh bị bắt dẫn ngang quang nhà, ông vẫn bình tĩnh nói: “Đó là chuyện làm bình thường đối với người làm cách mạng”.

Niềm an ủi cuối cùng của ông là đã gặp lại người bạn chí thiết của những ngày đầu tiên dấn thân là Huỳnh Thúc Kháng, đã nói lên được lời trăng trối cuối cùng có tính tiên tri: “Độc lập dân tộc sau này sở cậy Nguyễn Ái Quốc”. Ông trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 30 ngày 24/3/1926.

Ban tang lễ gồm 16 người. Mọi việc chuẩn bị đã được lo trước cả tuần lễ: 1 hầm mộ bê tông cốt thép đã được xây tại nghĩa địa Gò Công tương tế, một quan tài kẽm đặc biệt đã được đặt làm để giữ thi hài ông 10 ngày đủ thời gian cho đại diện các tỉnh về viếng và dự tang lễ, cử hành ngày 4/4/1926.

Xinh trích dẫn đánh giá chung khá chính xác của mật thám Nam kỳ về sự kiện này: “Thật là một cuộc biểu tình vĩ đại đến nay chưa hề thấy (Manifestation grandiose inconnue jusqu’ici) không chỉ do tầm vóc của nhân vật, danh tiếng của ông ta làm cho dân chúng nô nức đến vậy, tuy mọi người đều muốn tỏ ra biết quý trọng người đã hy sinh cho lợi ích của nhân dân đất nước… Tang lễ Phan Châu Trinh còn dựa vào một phong trào quần chúng đã được đốt nóng chỉ tìm cơ hội để bùng lên. Dư luận người Nam đã nắm lấy cơ hội cái chết và tang lễ Phan Châu Trinh để thỏa mãn yêu cầu bộc lộ trạng thái tư tưởng mới của mình (son état d’esprit nouveau)”.

Chúng ta có thể nói: Bằng cả cuộc đời hoạt động không mệt mỏi ở khắp nơi và bằng cả cái chết của mình, trong lòng dân tộc, chí sĩ Phan Châu Trinh đã góp phần không nhỏ vào những bước phát triển tiếp theo của công cuộc giải phóng đất nước.

 

 

Advertisements

Xuân trong hầm pháo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

XUÂN TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN PHỦ – 1954

 

Xuan trong ham phaoTranh sơn dầu của họa sĩ Phạm Thanh Tâm

Kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ, trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam đã mở chương trình giao lưu đặc sắc, hùng tráng Điện Biên Phủ bản giao hưởng Hòa Bình với những nhân chứng từng tham gia trận đánh Điện Biên Phủ 1954 oai hùng. Bên cạnh những nhân vật lớn, cỡ tướng, tá, anh hùng kể lại những chiến công trời long đất lở… lại có một nhân vật kể lại câu chuyện “nhỏ” mình từng tham dự ở một “góc rất nhỏ”, nhưng đã khiến hàng triệu con tim Việt Nam và người nước ngoài ở cả trong và ngoài nước rung động khi nghe chính người trong cuộc, một nghệ sĩ múa 81 tuổi, kể tỉ mỉ, đầy xúc động về kỷ niệm thời mình là một cô gái 21 tuổi, được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ở đại đoàn pháo binh 351 và múa lượn tại hầm pháo số 2, ngay đêm đầu tiên pháo binh Việt Nam khai hỏa, trên trận địa Him Lam, mở đầu Đại thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, oanh liệt sau này. Các pháo thủ bắn một loạt thì văn công lại múa hát một bài cho đến khi có lệnh chuyển xuống phục vụ đơn vị pháo cao xạ phòng không

May thay, có họa sĩ Phạm Thanh Tâm người cùng đại đoàn, ký họa tại chỗ ngay, nên chúng ta đã có bức tranh sơn dầu quý báu này.

Sau chiến thắng, cô gái múa trở lại thăm những chàng lính trẻ nhớ mặt mà chưa biết tên của mình ở căn hầm số 2 thân thương, nhưng chỉ còn là tan hoang, đổ nát, máu rơi, thịt nát. Các chiến sĩ xem múa đêm ấy đều hy sinh khi đang đánh giặc bên cỗ pháo. Khi nghệ sĩ múa trẻ run rẩy không còn đứng vững được trước những đau thương quá sức chịu đựng như thế, cô tựa vào một bức vách hầm, thì có người mách nhỏ, “đừng bám vào, để các anh yên, trên vách còn dính nhiều máu, thịt của các anh để lại khi hầm pháo nổ tung…”

Tất cả chỉ còn là tan hoang, đổ nát, chan hòa nước mắt… Các cô gái xin đi thăm mộ các anh còn đắp sơ sài và cố tìm những đóa hoa mua tím còn sót lại sau những trận địch dội bom, đạn tơi bời, cố cắm mỗi mộ một, hai bông.

Cái giá trả cho chiến thắng vĩ đại thật là quá lớn, mà cũng rất giản dị…

Những người anh hùng ấy chỉ còn trong bức tranh của họa sĩ Phạm Thanh Tâm và trong trái tim cô gái trẻ, sáu mươi năm sau (khi đã là thiếu tá, chính trị viên phó Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) vẫn còn rung động trái tim lão cựu chiến binh hơn 80 tuổi…

Người múa họa sĩ vẽ trong tranh, trong hầm pháo số 2 đêm đó là chị Vũ Thị Lương, vợ của anh Phạm Vinh, người trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh. Và cũng chính chị đã kể cho hàng chục triệu khán giả truyền hình Việt Nam và quốc tế câu chuyện không thể quên ở Điện Biên Phủ năm 1954.

P.T.

 

Lịch sử một bức tranh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

LỊCH SỬ MỘT BỨC TRANH

Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Minh Tiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mùa sớm nắng chiều mưa Sài Gòn, chiều 22/9, giữa hai trận mưa, Họa sĩ , Nhà báo Phạm Thanh Tâm, một người Hà Nội, lại một lần nữa đi xe taxi, chống can inox bốn chân đến thăm một người bạn vong niên mới quen mà đã như thân thiết. Có lẽ vì cùng là người Hà Nội, lại cùng có chung những người thân thiết.

Xuan trong ham phaoSau mấy tuần trà ướp trong một bông sen do người Hà Nội tặng chủ nhà, và trò chuyện thân mật, tin cậy, chân thành về những chặng đường và những con người cả hai đều từng trải qua và quen biết, họa sĩ tặng chủ nhà một tập sách quí, bề thế của Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành nhân kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ nhan đề Trang sử vàng Điện Biên Phủ -Họa sĩ, Nhà báo Phạm Thanh Tâm- in song ngữ Việt Anh, khổ 33×26.5, do Richard di San Marzano thiết kế mỹ thuật.

Trong sách, chúng tôi may mắn thấy có hai điều mình muốn tìm hiểu lâu nay. Đó chính là bài Lịch sử một bức tranh (trang 76) viết về chính bức tranh chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ. (Tính đến ngày 5/10/2014 đã có 13.013 lượt người trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ truy cập.)

Trong bài có kể rõ trong đội văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy có cả vợ chồng đích tôn của Phạm Quỳnh là Phạm Vinh và Vũ Thị Lương “cô gái múa lượn” trong tranh, cả hai cùng chạc tuổi với họa sĩ mới 21, 22 tuổi.

Và một bài nữa viết về chính họa sĩ nhan đề Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa (trang 90).

60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi 60 năm Giải phóng Hà Nội, Blog PhamTon xin trân trọng giới thiệu với các bạn cả hai bài trên.

—o0o—

Nếu ai có dịp đến tham quan nhà Bảo tàng Quân đội, chắc chắn không thể nào bỏ qua gian phòng trưng bày những bảo vật về chiến dịch Điện Biên lịch sử.

Trong số những bảo vật lưu niệm về tranh và ảnh của gian phòng có một bức tranh của họa sĩ quân đội Phạm Thanh Tâm.

Không gian của bức tranh là một căn hầm pháo 105 ly. Nòng pháo vươn qua lỗ châu mai về phía Điện Biên. Hai càng pháo bám chắc hai bên vách hầm trong tư thế sẵn sàng nhả đạn – nổi lên giữa hai càng pháo là 4 cô gái mặc áo tứ thân đang uyển chuyển duyên dáng trong một điệu múa dân tộc. Chung quanh là những gương mặt các chiến sĩ pháo thủ đang say sưa thưởng thức điệu múa.

Năm 1954, năm thứ 9 của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp. Đội văn công Sư đoàn vừa ăn tết xong thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân đi Điện Biên. Lúc đó chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Sư đoàn gần cây số 14 trên đường Tuyên Quang đi Yên Bái. Đội đi Điện Biên gồm: Nguyễn Đức Phong đội trưởng, kiêm chính trị viên và các thành viên: Minh Tiến, Trọng Lanh, Hàn Đức Trọng, Xuân Sách, Phạm Vinh và các cô Vũ Thị Lương, cô Tý, cô Ngọc, cô Minh, tổ nhạc có: Nguyễn Bính (vi-ô-lông, ác-coóc-đê-ông), Ngọc Cương (nhạc sĩ kiêm đàn măng-đô-lin, Vương Cát Định (ghi-ta), Thịnh Đen (chẻo). Múa và nhạc kiêm ca hát và đóng kịch. Đoàn không có ca sĩ nổi danh như chị Kim Ngọc ở văn công Sư đoàn 312. Biết làm sao được, chiến sĩ thì nhiều nghệ sĩ thì hiếm phải tự lo lấy tất cả. Không có thầy, thầy cũng là trò, trò cũng là thầy. Múa xong là hát, hết hát thì sang đóng kịch. Kết thúc vai diễn, lại ngồi đốt những liều thuốc phụ (rơ-le) xin được của Pháo để có ánh sáng biểu diễn.

Đêm đầu tiên chúng tôi vượt bến Âu Lâu – Yên Bái. Ôi một đêm kỳ diệu! Cả đoạn sông Thao thượng nguồn vang lên bản Trang su vang Dien Bien Phutráng ca lịch sử. Quân ta như một con rồng khổng lồ bao gồm các sư đoàn chính quy, các đơn vị bộ đội địa phương, các đội dân công, nhân dân phục vụ thuyền bè. Tất cả đã theo lệnh của Bác Hồ và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiến vào Tây Bắc giải phóng Điện Biên. Dòng sông Thao sục sôi như nổi bão tố. Người qua sông, ngựa qua sông, xe đạp, xe thồ gồng gánh qua sông. Xe pháo rùng rùng chuyển động. Chân đất, chân giày, mũ lá, nón mê, đầu trần, thuyền nhỏ, thuyền to nhấp nhô chen nhau cắt ngang dòng sông lịch sử. Tất cả tiến vào Tây Bắc vượt “Núi vút ngàn trùng xa” trong nhịp bước “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ” mà vẫn tràn đầy lạc quan để đi đến ngày thắng lợi. Trong đoàn quân vĩ đại ấy có Đội văn công của Sư đoàn Côn, Pháo 351 với đội múa trẻ trung đang độ tuổi 18, đôi mươi.

Ban ngày chúng tôi tập lại các bài ca điệu múa. Khi mặt trời bắt đầu xuống núi, toàn bộ lại lên đường hòa vào dòng thác đại quân và dân công cùng chảy ra tiền tuyến. Chính trong lúc hành quân đêm, nhóm múa chúng tôi có thời gian để sáng tác điệu múa mới (chưa có ai học sáng tác bao giờ). Mỗi đêm hành quân là mỗi đêm có những sáng kiến mới để chuẩn bị cho ban ngày tập luyện. Những ngày gian khổ ấy sao mà thương nhau thế, vượt qua Pha Đin trong mây vờn đỉnh dốc, rét buốt thấu xương, vượt Lũng Lô trong lửa bom rừng cháy “Chân không giày rớm máu, thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành quân tới Điện Biên, tổ múa chúng tôi đã sáng tác xong điệu múa tạm đặt tên là Vui sản xuất. Ý nghĩa của điệu múa muốn động viên chiến sĩ yên tâm đánh giặc, vì đã có hậu phương yên vui sản xuất để tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Động tác múa chèo thì học ở cụ Năm Ngũ trước hết, nhạc cũng học truyền khẩu rồi về hát lại để Ngọc Cương ghi lại cho vi-ô-lông của Bính Kính và cho các nhạc cụ khác đệm theo. Biên soạn múa và lời ca thì làm tập thể, cuối cùng mọi người cũng vừa ý. Quần áo múa thì góp lại mỗi người một mảnh dù trắng (của chiến sĩ cho làm kỷ niệm) đem nhuộm xanh đỏ. Thợ may là bốn cô nữ chiến binh. Thế rồi điệu múa đã được diễn cho chiến sĩ xem đêm đầu tiên tại mặt trận Điện Biên như ở phần đầu chuyện kể.

Đội văn công Sư đoàn sau đêm diễn đã chuyển sang phục vụ đơn vị pháo cao xạ ở gần khu vực đồi Độc Lập. Ba ngày sau chúng tôi hành quân trở lại căn hầm pháo cũ để tiếp tục phục vụ đợt 2 của chiến dịch. Thật không ngờ, chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại các pháo thủ ở căn hầm số 2 đã bắn những viên đạn pháo đầu tiên vào Him Lam, mở đầu cho chiến thắng Điện Biên. Tất cả 7 chiến sĩ hy sinh. Máu của họ còn vương đầy vách hầm. Nơi biểu diễn điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” đầy những mảnh đạn.

Chúng tôi tìm đến những ngôi mộ còn đỏ màu đất như mới, viếng những người anh hùng và đặt lên nấm mồ một cành hoa sim tím của núi rừng Điện Biên giữa những tiếng khóc nức nở của 4 cô gái văn công Sư đoàn.

Những pháo thủ đang yên giấc ngàn thu và tất cả chúng tôi lúc bấy giờ không ai nghĩ rằng hình ảnh của họ và 4 cô gái văn công Sư đoàn trong điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” sẽ sống mãi trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ đại tá Phạm Thanh Tâm.

Hà Nội, tháng 5 năm 1998.

NSND Đ.M.T.

Tháng Tư 29, 2018

Phan Châu Trinh trong lịch sử dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:36 sáng

Blog PhamTon, năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

PHAN CHÂU TRINH TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

Nguyễn Văn Khánh*

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 488 tháng 10 năm 2017 từ trang 11 đến trang 17)

Phan Châu Trinh là nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động chính trị có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam, nhưng trên hết ông là một chí sĩ yêu nước lớn của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Từ sau khi ông mất (năm 1926) đã bắt đầu có những bài viết, công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông, với những quan điểm và cách nhìn nhận đánh giá khác nhau. Có ý kiến cho rằng Phan Châu Trinh là nhà chính trị cải lương, rằng ông “không tin ở lực lượng của nhân dân” và “ chủ trương lợi dụng Pháp để mở mang dân trí” “hoàn toàn là một ảo tưởng”1. Vì vậy, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh cũng rất hạn chế”. Cho đến trước thời kỳ Đổi mới ( năm 1986) quan điểm đánh giá về Phan Châu Trinh cũng vẫn chưa có sự thay đổi. Ngay trong công trình Lịch sử Việt Nam, Tập II, được coi là “chính sử “ do Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) biên soạn và xuất bản vào năm 1985 cũng viết: “ sai lầm lớn của Phan Châu Trinh là đã chống lại biện pháp vũ trang bạo động cứu nước, coi bạo động là chết…Bài xích đấu tranh vũ trang, Phan Châu Trinh đã tách mình ra khỏi một sức mạnh truyền thống lâu đời của ông cha trong đấu tranh chống ngoại xâm là vũ trang khởi nghĩa”2. Nhận xét về con đường cứu nước của Phan Châu Trinh, các tác gỉa cuốn sách cho rằng với việc yêu cầu thực dân Pháp tiến hành những biện pháp cải lương như: ‘kén chọn hiền tài’, ‘hưng lợi trừ hại’, ‘mở đường sinh nhai cho dân nghèo, rộng đường ăn nói cho thân sĩ’ để ‘dân được yên nghiệp làm ăn’, Phan Châu Trinh ‘đã sa vào con đường cải lương chủ nghĩa một cách không tự giác”3.

Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, bằng cách nhìn nhận và tư duy mới, cách đánh giá về Phan Châu Trinh cũng dần thay đổi theo quan điểm phát triển và khuynh hướng càng ngày càng toàn diện và khách quan hơn. Không chỉ có tư tưởng chính trị mà cả hoạt động văn chương cũng như toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh cũng đã được giới học thuật quan tâm nghiên cứu và được giới thiệu trong nhiều hội thảo khoa học, nhất là trong dịp kỷ niệm 80 ngày mất của Phan Châu Trinh (năm 2006) cũng như trong nhiều sự kiện được tổ chức liên quan đến Phong trào Duy tân ở Trung Kỳ hồi đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, vào các năm 2001 và 2003, tác giả Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), cháu ngoại của Phan Châu Trinh đã lần lượt cho xuất bản hai tập sách 4trong đó tập hợp giới thiệu nhiều tư liệu mới sưu tầm được trong văn khố Pháp, nhất là ở Aix-en-Provence về cuộc đời và hoạt động cứu nước của ông. Trên cơ sở đó, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã tổ chức và cho xuất bản bộ sách Phan Châu Trinh toàn tập gồm 3 tập5 giới thiệu khá đầy đủ và hệ thống toàn bộ các trước tác của Phan Châu Trinh, trong đó có nhiều tài liệu về ông hoặc do ông biên soạn trong thời kỳ sinh sống và hoạt động ở Pháp (từ 1911 đến 1925).

Những dấu mốc lớn trong cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ, Hy Mã; tự là Tử Cán. Cha ông là Phan Văn Bình, làm Quản cơ sơn phòng, sau có tham gia phong trào Cần Vương được giao đảm trách việc quân lương, nhưng do bị hiềm khích và hiểu lầm nên đã bị sát hại vào năm 1887. Mẹ ông là Lê Thị Trung, xuất thân trong một gia đình vọng tộc cũng ở huyện Tiên Phước, Quảng Nam.

Hồi nhỏ, Phan Châu Trinh theo cha đi học chữ Hán và học võ. Sau khi cha mất, ông về quê sống với người anh trai và tiếp tục đi học. Mãi đến năm 1900, Phan Châu Trinh mới đỗ Cử nhân ở trường thi Thừa Thiên. Năm sau, năm 1901, ông lại đi thi và đỗ Phó bảng, đồng khoa với Tiến sĩ Ngô Đức Kế và Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Với học vị Phó bảng Phan Châu Trinh được bổ làm Thừa biện – một chức quan nhỏ ở Bộ Lễ trong triều đình Huế. Nhưng cuộc đời làm quan dưới một triều đình hủ bại không mang lại tự do và niềm vui cho ông. Để bày tỏ nỗi chán chường, năm 1903,  ông có làm bài thơ “ Kinh thành nguyên đán” nói về cuộc sống vô vị, tẻ nhạt ở chốn kinh thành. Làm việc ở Bộ Lễ được khoảng hơn 2 năm6, đến năm 1904, ông từ quan về quê rồi sau đó đi chu du với bạn bè cùng chí hướng như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp…

Đầu năm 1905, khi đến tỉnh Bình Định, gặp đúng kỳ khảo hạch hàng năm, ba ông đã lẻn vào trường thi làm một bài thơ, một bài phú ký tên chung là Đào Mộng Giác. Trong bài thơ Chí thành thông thánh Phan Châu Trinh đã chất vấn các học trò rằng: “ Muôn dân làm tôi tớ dưới ách cường quyền mà sao các anh vẫn còn say sưa trong giấc mộng cử nghiệp? Nếu mãi trăm năm cam chịu sỉ nhục thì biết ngày nào mới thoát khỏi chỗ cũi lồng?”7. Khi tới Nha Trang, nghe tin đồn có tàu Nhật Bản đậu ở cảng Cam Ranh, các ông tìm đến, nhưng đến nơi mới biết đó là tàu Nga đang chờ tiếp ứng cho hạm đội Thái Bình Dương. Sau khi ở Phan Thiết một thời gian ngắn để chữa bệnh, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quí Cáp quyết định mở cuộc tuyên truyền vận động duy tân.

Đầu năm 1906, Phan Châu Trinh ra Hà Nội gặp gỡ một số sĩ phu tiến bộ rồi vào Trung Kỳ gặp Ngô Đức Kế, sau lại quay ra Hà Nội và lên Yên Thế để tiếp kiến Hoàng Hoa Thám. Trở lại từ căn cứ Yên Thế, Phan Châu Trinh đi xuống Hải Phòng rồi sang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để gặp Phan Bội Châu lúc bấy giờ đang trên đường sang Nhật Bản để thực hiện kế hoạch đông du. Trong cuộc nói chuyện, Phan Châu

Trinh ủng hộ hoạt động đưa du học sinh sang Nhật du học, nhưng lại kịch liệt phản đổi chủ trương cầu viện nước ngoài và con đường bạo động của Phan Bội Châu.

Trong khoảng 2 tháng trên đất Nhật Bản8 hai nhà chí sĩ họ Phan lại tiếp tục gặp gỡ, bàn thảo nhưng không đi đến kết quả. Sau khi về nước (vào khoảng tháng 5,6 năm 1906)9, ngày 15/8/1906, Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Bô (Paul Beau), gọi là Đầu Pháp chính phủ thư trong đó nêu các nguyên nhân khiến nước ta phải chịu ách đô hộ của ngoại bang chủ yếu là do sự hủ bại của triều đình nhà Nguyễn và chính sách bao che, thiển cận, coi thường người Việt Nam của Chính phủ thuộc địa. Nhằm thay đổi hiện trạng của đất nước, ông yêu cầu Chính phủ Pháp phải thực hiện cải cách tại Việt Nam, làm cho nước mạnh dân giàu.

Tháng 8 năm 1907, Phan Châu Trinh được Trường Đông Kinh Nghĩa thục mời ra diễn giảng tại Hà Nội. Ngoài các buổi diễn thuyết, ông còn viết bài cho tờ Đăng cổ tùng báo. Trong bài Hiện trạng vấn đề sau này được Huỳnh Thúc Kháng in lại trên báo Tiếng Dân số 613, ngày 9/8/1933, ông nêu phương châm: “Không nên trông người ngoài, trông người ngoài thì chắc ngu; không nên bạo động, bạo động thì chắc chết”.

Dưới ảnh hưởng tư tưởng của ông, phong trào duy tân cải cách từ tỉnh Quảng Nam bắt đầu phát triển mạnh và lan ra các tỉnh khác trên các lĩnh vực hoạt động chủ yếu: mở trường dạy chữ quốc ngữ và dạy học theo lối mới; mở hiệu buôn, dệt vải, trồng cây; cắt tóc ngắn, mặc quần áo theo kiểu Âu, bỏ hủ tục… Nhưng không dừng lại ở các phong trào đó, tư tưởng cải cách càng thâm nhập vào quần chúng thì càng biến thành hành động bạo lực. Từ tháng 3 năm 1908, phong trào Duy tân đã phát triển thành phong trào chống đi phu, giảm thuế với hình thức ngày càng quyết liệt. Hàng ngày xuất hiện hàng chục cuộc biểu tình của nông dân, trong đó có những cuộc biểu tình kéo dài nhiều ngày, thậm chí nông dân còn kéo đến bao vây cả phủ huyện đường (Tam Kỳ, Hòa Vang). Để chống lại phong trào nổi dậy của nông dân, chính quyền Pháp đã thẳng tay khủng bố, đàn áp các cuộc biểu tình, bắt bớ những người tham gia…

Mặc dù không có bằng chứng cụ thể, nhưng Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúi Cáp bị vu cho là đã xúi dục nông dân nổi dậy nên bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 3 năm 1908, Phan Châu Trinh bị đưa từ Hà Nội về Huế để triều đình xử tội, và ngay sau đó, ông bị đày ra Côn Đảo. Tháng 6 năm 1910, nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, Phan Châu Trinh được phóng thích nhưng lại bị quản thúc tại Mỹ Tho. Không chấp nhận cảnh một người tù giam lỏng, bị theo dõi thường  xuyên, ông xin đi Pháp. Tháng 3/1911, Phan Châu Trinh được đưa sang Pháp cùng  với người con trai tên là Phan Châu Dật, lúc đó mới 14 tuổi.

Trong 14 năm ở Pháp (từ năm 1911 đến năm 1925) Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục tuyên truyền tư tưởng cải cách, đồng thời tích cực hoạt động trong cộng đồng Việt kiều yêu nước.

Hoạt động đầu tiên của Phan Châu Trinh sau khi đến Pháp là kiến nghị Chính quyền Pháp sửa đổi lại việc xử án ở Việt Nam, nhất là ở Bắc và Trung Kỳ. Ngoài ra, Phan Châu Trinh còn viết báo, tổ chức diễn thuyết nhằm làm cho dư luận ở Pháp biết rõ ràng hơn về nguyên nhân biến cố năm 1908 tại Trung Kỳ. Cũng nhờ các ý kiến của ông mà chính quyền thực dân đã xem xét và can thiệp với chính quyền Nam triều để giảm án cho hàng chục người bị bắt sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ vào đầu năm 1908. Đặc biệt, trong những năm đầu ở Pháp, Phan Châu Trinh đã tập trung thời gian và sức lực để viết hai tác phẩm quan trọng, gồm Đông Dương chính trị luậnPháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam 10 .

Ngoài báo chí và viết sách, Phan Châu Trinh còn tổ chức nhiều buổi nói chuyện, diễn thuyết trước sự tham gia của đông đảo Việt kiều để nói lên nỗi thống khổ của người dân thuộc địa, thân phận lệ thuộc của đất nước dưới ách đô hộ của người Pháp nhằm phê phán chính sách bất công của chính quyền thực dân, khích lệ lòng yêu nước của những người Việt Nam xa xứ.

Một mảng hoạt động rất quan trọng nữa của Phan Châu Trinh trên đất Pháp là tham gia Hội ái hữu và các tổ chức yêu nước. Năm 1912 khi Hội đồng bào thân ái được thành lập, Phan Châu Trinh đã tham gia trong ban lãnh đạo hội. Trên cơ sở Hội này, đến năm 1914, Phan Châu Trinh cùng một số nhà cách mạng khác như Phan Văn Trường, Khánh Ký thành lập Hội những người yêu nước Nam. Về sau Hội này được trao lại cho Nguyễn Ái Quốc.

Trong những năm Đại chiến thế giới thứ Nhất, do có thái độ phản đối chính sách bắt lính của chính quyền Pháp ở Paris nên cùng với Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh bị khép tội làm gián điệp cho Đức và bị bắt giam ở nhà tù Santé (Prison de la Santé) từ tháng 9 năm 1914 đến mãi tháng 7 năm 1915 mới được thả. Sau khi ra tù, ông đã soạn tập thơ Santé thi tập với trên 200 bài thơ.

Đầu năm 1919, với sự giúp sức của Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, một bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam ký tên Nguyễn Ái Quốc đã được gửi đến Hội nghị Versaille nhằm đòi các quyền tự do dân chủ và quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam. Tháng 7 năm 1922, nhân vua Khải Định sang Pháp, Phan Châu Trinh viết Thất điều thư kể bẩy tội đáng chém của ông ta gồm: Tôn lập quân quyền, thưởng phạt không công bằng, thích sự quì lạy, xa xỉ vô độ, trang phục không đúng phép, sang Pháp làm việc ám muội.

Không chấp nhận chế độ cai trị của chính quyền thực dân phong kiến, trên đất Pháp Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục ngoan cường và kiên trì đấu tranh chống lại các chính sách hà khắc của Pháp và vua quan triều Nguyễn. Ông đã nhiều lần gửi kiến nghị đến Hội Nhân quyền, Nghị sĩ M.Moutet, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa A. Sarraut11 hay Quan ba Jules Roux… để phê phán chính sách thống trị của chính quyền thực dân ở Đông Dương, đồng thời bày tỏ ý kiến về các quyền tự do dân chủ mà nhân dân Việt Nam cần được hưởng.

Tuy nhiên, chán nản vì hoạt động nhiều năm ở Pháp nhưng không đạt kết quả, Phan Châu Trinh đã đề nghị Chính phủ Pháp cho về nước. Nhưng lẫn lữa mãi đến khi sức khỏe Phan Châu Trinh suy kiệt, Chính phủ Pháp mới chấp thuận để ông trở về Tổ quốc vào tháng 6 năm 1925. Sau khi về nước, mặc dù sức khỏe không tốt nhưng trước khi mất mấy tháng, Phan Châu Trinh vẫn cố gắng tổ chức hai bài diễn thuyết với tiêu đề: Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa, và Đạo đức và Luân lý Đông Tây. Hai bài diễn thuyết của ông đã có sức lay động rất lớn đối với các tầng lớp thanh niên ở Sài Gòn lúc đó.

Tư tưởng chính trị và con đường cứu nước của Phan Châu Trinh

Đầu thế kỷ XX, dưới tác động của các điều kiện lịch sử mới ở trong nước và quốc tế, trong phong trào dân tộc có tính chất tư sản ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại đồng thời hai khuynh hướng cứu nước: một khuynh hướng chủ trương bạo động khởi nghĩa chống Pháp để giành độc lập dân tộc mà người đại diện là Phan Bội Châu; còn một khuynh hướng khác do Phan Châu Trinh đề xướng lại chủ trương thực hiện cải cách đất nước, làm cho nước mạnh dân giàu, nhờ đó mà tránh được thân phận bị nước ngoài đô hộ. Khuynh hướng thứ hai có thể coi là sự tiếp nối và hiện thực hóa nhiều mục tiêu của phong trào duy tân do các sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng từ cuối  thế kỷ XIX , tiêu biểu như Phạm Phú Thứ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Lộ Trạch …và nhất là Nguyễn Trường Tộ.

Tuy nhiên, so với những người có tư tưởng duy tân vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh có một trường độ sâu rộng và một phạm vi ảnh hưởng rộng lớn hơn rất nhiều. Có thể nói, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đề xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ, dân quyền ở Việt Nam12. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến Phan Châu Trinh sớm hình thành tư tưởng dân chủ, cải cách? Có thể có nhiều nguyên nhân nhưng có thể nêu ra ba nguyên nhân chính: Thứ nhất là về mặt gia đình, Phan Châu Trinh tuy xuất thân là con nhà võ, cha ông có tham gia phong trào Cần vương nhưng lại bị chính những người cùng phái sát hại, và rốt cuộc con đường vũ trang chống Pháp cũng không tránh khỏi thất bại. Thứ hai, quê hương ông ở tỉnh Quảng Nam nằm rất gần hai thương cảng Đà Nẵng và Hội An, là cửa ngõ thông thương và có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc và tiếp thu các tư tưởng  mới từ bên ngoài. Thêm vào đó, Phan Châu Trinh có hơn hai năm sống và làm việc ở Kinh đô nên đã tận mắt chứng kiến bộ mặt hủ lậu và bản chất ươn hèn của vua quan triều đình Huế13. Chính những lý do đó đã thúc đẩy Phan Châu Trinh sớm đoạn tuyệt với tư tưởng phong kiến, kể cả tư tưởng bạo động chống Pháp để hướng đến các tư tưởng dân chủ, tiến bộ hơn.

Ngay trong khoảng thời gian làm việc ở triều đình Huế, Phan Châu Trinh đã tìm đọc các sách có chứa đựng những tư tưởng dân chủ của Phương Tây và thế giới qua các tân thư tân văn của Trung Quốc, Nhật Bản. Nhờ đó, ông hiểu rằng học khoa cử là lạc hậu, nhưng không biết phải khắc phục bằng cách nào. Đến khi được tiếp xúc với tư tưởng mới, ông mới tìm thấy lối thoát. Trong sách Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan Châu Trinh đã kể lại rằng, “năm 1902 (năm Nhâm Dần), tôi được đọc sách mới do ông Đào Nguyên Phổ tặng và lấy làm sướng quá và nói: Đây là lúc dùng cái khùng cái ngu này vậy”14. Từ đó, ông càng hăng hái tuyên truyền chống chế độ phong kiến, nhất là tập đoàn vua quan triều đình Huế, và cổ súy cho tư tưởng dân chủ. Quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh đã đạt đến độ tương đối chín muồi (hoàn thiện) sau mấy năm được đọc các sách mới (tân thư, tân văn), và nhất là được tiếp xúc với nhiều trí thức có tư tưởng tiến bộ ở cả trong và ngoài nước, trong đó có một khoảng thời gian ở Quảng Đông ( Trung Quốc) và Nhật Bản. Tư tưởng đó được thể hiện rất rõ trong thư gửi Toàn quyền Bô (Paul Beau) với tiêu đề Đầu Pháp Chính phủ thư. Trong Thư gửi Toàn quyền Đông Dương Phan Châu Trinh viết: “… một dân tộc đến 20 triệu người, kẻ có học thức cũng đến vài mươi vạn, mà tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn  hèn… đã bao năm nay người Nam ở dưới bóng cờ Bảo hộ, mà đến bây giờ ngày một yếu hèn…15. Sau khi nêu 3 nguyên nhân khiến bộ máy quan lại Nam triều hủ bại,  nhân dân khốn khổ do Chính phủ Bảo hộ dung túng cho quan lại Việt Nam, Chính  phủ khinh rẻ người dân Việt Nam, và Quan lại Việt Nam lợi dụng những kẽ hở ấy mà hà hiếp người dân, Phan Châu Trinh đề nghị chính quyền Pháp cải cách chính trị, thành thực khai hóa cho nhân dân Việt Nam. Ông nhấn mạnh: “ Nếu Chính phủ thật sẵn lòng đổi hết chính sách đi, kén chọn người hiền tài, trao quyền bính cho, lấy lễ mà tiếp, lấy thành mà đãi, cùng nhau lo toan việc lấy lợi trừ hại ở trong nước, mở đường sinh nhai cho dân nghèo, rộng đường ăn nói cho thân sĩ, báo quán cho mở rộng để thông đạt tình dân, thưởng phát cho nghiêm chỉnh để khuyên răn quan lại, còn đến những việc đổi pháp luật, bỏ khoa cử, mở trường học, đặt tòa tu thư, dạy lớp sư phạm, cho đến học công thương, học kỹ nghệ và các ngạch sưu thuế, đều cải lương dần dần, thế thì dân được yên nghiệp làm ăn, sĩ thì vui lòng giúp việc cho Chính phủ”16. Theo Phan Châu Trinh, để chống lại phong kiến Nam triều hủ bại và thực hành chế độ dân chủ ở Việt Nam thì phải tiến hành cải cách toàn diện nhằm vào ba mục tiêu: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Khai dân trí là chống lối học từ chương trích cú, bỏ khoa cử, bài trừ hủ tục; học chữ quốc ngữ; truyền bá những kiến thức khoa học thường thức. Ông chủ trương phải mở trường học, dùng thơ ca, sách vở, báo chí diễn thuyết để mở mang đầu óc con người. Phan Châu Trinh lên án gay gắt chủ nghĩa tôn quân; ông nghiêm khắc chỉ trích chủ nghĩa gia trưởng và những phong tục cổ hủ. Muốn xã hội phát triển thì cần phải phá bỏ mọi thói hư tật xấu. Vượt lên trên tầm nhận thức của nhiều nho sĩ cùng thời, Phan Châu Trinh cho rằng nguyên nhân sâu xa làm cho nước ta bị đế quốc nước ngoài đô hộ là vì dân ta vừa nghèo về kinh tế vừa thua kém về tri thức, hiểu biết. Bởi vậy,  để khắc phục tình trạng đó trước hết cần mở mang dân trí. Phải dùng chữ quốc để học những môn học, những kiến thức khoa học thực dụng, thiết thực đáp ứng yêu cầu của đời sống người dân chứ không phải học những thứ văn thơ phù phiếm của người xưa, nhất là văn chương cử nghiệp của các triều đại phong kiến phương Bắc. Phan Châu Trinh kêu gọi: “ Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quí báu tặng cho đồng bào, là “Chi bằng Học”17. Có thể nói, trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, tư tưởng khai dân trí của Phan Châu Trinh thực sự là một cuộc canh tân, “làm cho dân tộc thay đổi tư duy cũ kĩ để vươn lên tầm nhận thức mới cao hơn, phù hợp với sự phát triển của thời đại”18 .

Chấn dân khí là thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường của người dân, làm cho người dân giác ngộ được quyền và nghĩa vụ của mình để thoát khỏi mọi áp chế phong kiến. Tư tưởng về dân quyền của Phan Châu Trinh càng ngày càng phát triển hoàn thiện, nhất là trong những năm sinh sống và hoạt động ở Pháp nhờ được tiếp xúc nhiều hơn với các tư tưởng dân chủ tư sản. Trong Thất điều thư gửi vua Khải Đinh vào tháng 7 năm 1922, Phan Châu Trinh viết: “Theo các học thuyết Âu châu mà nói, sao gọi là nước? Là hiệp dân lại mà thành nước; sao gọi là triều đình? Là những người được ủy quyền cho, phải thuận theo ý kiến của dân mà làm những việc lợi dân ích nước” 19. Tư tưởng này bắt nguồn từ quan điểm của những nhà khai sáng Pháp như Montesquieu, JJ.Rousseau …khi cho rằng quyền lực không phải do Chúa trời hay Thần thành ban phát mà bắt nguồn từ ý chí của nhân dân. Theo Phan Châu Trinh, lịch sử được làm ra bởi nhân dân; dân chủ có được là do đấu tranh của người dân, bởi vậy phải làm cho dân ý thức được sức mạnh của mình. Có như vậy, nhân dân mới dám đấu tranh chống lại cường quyền và nạn lạm nhũng của chế độ phong kiến để tạo dựng một xã hội dân chủ, trong đó người dân nắm quyền lực tối cao.

Hậu dân sinh là mục tiêu sau cùng nhưng lại quan trọng nhất vì khai dân trí,  chấn dân khí là để vị nhân sinh nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Phan Châu Trinh, muốn thực hiện được mục tiêu này phải xóa bỏ mọi tàn dư, chướng ngại của chế độ phong kiến. Ông chủ trương phát triển công nghiệp, lập xưởng thợ, lập hội khai hoang, mở đồn điền; lập hiệu buôn, mở mang thương nghiệp. Ông đề xuất chương trình lập các hội trồng cây, dệt vải, hội buôn, sản xuất hàng nội hóa, chấn hưng kinh tế đất nước. Phan Châu Trinh nhận thức được rằng để tránh bị lệ thuộc vào ngoại bang, cần phải chấn hưng nghề nghiệp, nâng cao tiềm lực kinh tế, tài chính của đất nước. Để nâng cao đời sống nhân dân còn phải bài trừ các hủ tục, chống mê tín dị đoan, bỏ tệ nạn cờ bạc, rượu chè; xây dựng lối sống lành mạnh, tân tiến như cắt tóc ngắn, để răng trắng, ăn mặc quần áo kiểu Âu châu…Rõ ràng, quan điểm “Hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh đã làm thay đổi căn bản nhận thức của cả giới sĩ phu và người dân Việt Nam lúc bấy giờ về những yêu cầu (dân sinh) thiết thân của cuộc sống con người. Quan điểm đó đã thể hiện tinh thần “vị nhân sinh”, mang tính thực tiễn sâu sắc, thể hiện rõ “tinh thần đổi mới căn bản “ trong tư tưởng của nhà chí sĩ họ Phan.

Để thực hiện cải cách đất nước làm cho dân mạnh nước giàu, Phan Châu Trinh  cho rằng cần phải dựa vào Chính phủ Pháp theo phương châm “ỷ Pháp cầu tiến bộ”. Đã chủ trương dựa vào Pháp, tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ Pháp để duy tân thì không phải cầu viện nước ngoài, không cần bạo động chống Pháp. Quan điểm này  của Phan Châu Trinh khác căn bản so với quan điểm của Phan Bội Châu. Trong khi Phan Bội Châu chủ trương đi tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài (trước hết là Nhật Bản, rồi sau trông cậy vào sự giúp đỡ của Chinh phủ Trung Hoa dân quốc, thậm chí của cả Đức) để tiến hành bạo động đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp giành độc lập dân tộc thì Phan Châu Trinh lại nói: “Không bạo động, bạo động tất chết! Không  trông người ngoài, trông người ngoài thì tất ngu!”20. Giải thích về sự khác nhau này, trong cuộc đối thoại với Thống Đốc Nam Kỳ vào đầu năm 1910 tại nhà ngục Côn Đảo, Phan Châu Trinh đã nói: “Người nước Nam chui núp dưới chính thể chuyên chế đã trên ngàn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập, dẫu có cậy sức nước ngoài, chỉ diễn cái trò “ đổi chủ mà làm đầy tớ lần thứ hai”, không có ích gì. Vả lại, nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh cả hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo…Dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấy. Còn theo chính kiến “ cậy sức nước ngoài” thì nó quanh co khúc chiết, mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình, Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng, người Nhật chắc gì hơn người Pháp”21. Phan Châu Trinh quan niệm chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách đất nước chỉ là một “thủ đoạn” , nói cách khác là biện pháp tạm thời. Ông giãi bày: “Muốn cho quan Pháp tin nên tôi phải lấy thuyết “ý Pháp” để làm đất đứng” . Ông cũng bộc bạch thẳng thắn rằng: “ Tôi chủ trì thuyết “ỷ Pháp” nên thủ đoạn phải đến tự trị. Tự trị là việc lớn không phải chuyện dễ, việc không thành cũng chết…”22.

Như vây, trong hoàn cảnh nước ta ở thế yếu, kinh tế nghèo nàn, trình độ dân trí còn thấp thì không thể đòi độc lập được ngay, mà trước hết cần phải dựa vào Chính phủ Pháp để chống lại bộ máy cường quyền cùng vua quan phong kiến với biết bao thói hư tật xấu, các phong tục tập quán, lối sống cổ hủ, lạc hậu; đồng thời thực hiện đường lối cải cách với phương châm: Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh để phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, giáo dục, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường sức mạnh của đất nước. Đó là một con đường, một hướng đi mới nhằm thoát khỏi thân phận nô lệ của một nước bị đô hộ. Nhưng sai lầm của Phan Châu Trinh cũng như của Phan Bội Châu chính là ở chỗ các ông còn mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, muốn trông cậy vào sự giúp đỡ của nước ngoài và từ bên ngoài để cứu dân cứu nước. Nhận thức sai lầm ấy của hai nhà yêu nước họ Phan sau này đã bị Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh phê phán, và rốt cuộc cũng đều dẫn tới bế tắc và thất bại.

Phan Châu Trinh trong phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX

Phan Châu Trinh là nhà dân chủ đầu tiên, tiêu biểu nhất ở Việt nam đầu thế kỷ XX. Xuất phát từ nhận thức cho rằng tình trạng yếu kém và lệ thuộc Chính phủ Pháp của đất nước ta chủ yếu là do sự hủy hoại, kìm hãm của chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Chính vì vậy, ông đề xướng tư tưởng dân chủ, và kiên quyết chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, xóa bỏ các quan điểm, phong tục tập quán phong kiến hủ bại. Thái độ dám công khai “tuyên chiến” với tư tưởng phong kiến chuyên chế của Phan Châu Trinh là một thái độ dũng cảm, bất chấp mọi thế lực cường quyền. Ông đã từng nói: “Không phải tôi không biết quan Pháp nghi kỵ, quan Nam oán ghét…. Nhưng tôi không sợ hiềm nghi, không nề nguy hiểm chạy ra nước ngoài khi ca, khi khóc ở nước người, đứng giữa bốn bể đều thù địch, lấy sức mình để tranh đấu như sợi tóc ngàn cân, hy sinh tính mạng làm đích cho chúng bắn vào để cầm cái sống trong cái chết, gần đến chỗ chết cũng không hối hận”23. Về tư tưởng phản phong kiến, trước đây, không ít ý kiến cho rằng Phan Châu Trinh mới chỉ tuyên truyền chống lại những mặt xấu xa, hủ bại, lạc hậu của bộ máy quân quyền phong kiến chứ không chủ trương chống lại toàn bộ chính quyền phong kiến, càng không muốn xóa bỏ chế độ phong kiến24. Nhưng căn cứ vào những tài liệu mới thu thập được thì Phan Châu Trinh chủ trương chống phong kiến khá mạnh mẽ và toàn diện, và càng về sau, quan điểm phản phong của ông càng quyết liệt, triệt để hơn. Theo bức thư của viên mật thám Pháp tên là Jolin thì trong cuộc trao đổi giữa Phan Châu Trinh với Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh diễn ra tại Marseille vào tháng 5 năm 1922, “Phan Châu Trinh muốn lật đổ Nam triều để lập quốc hội nước Nam lãnh đạo đất nước cùng với Chính phủ Pháp, không cần có vua nữa, phải làm cho dân Nam hiểu quyền dân và luật pháp để có tự do như dân Pháp”25. Quan điểm dân chủ của Phan Châu Trinh đã có sự phát triển hoàn thiện thêm và được thể hiện rõ qua bài diễn thuyết của ông tại Sài Gòn vào tháng 11 năm 1925 dưới tiêu đề Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa. Theo ông, dân trị tức là pháp trị; muốn xây dựng nhà nước theo mô hình các nước tư bản Âu châu, thì phải thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập. Phan Châu Trinh quan niệm ba quyền đó là “ quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp đều riêng ra, không liên hiệp trong tay một người nào”26. Đã là nhà nước pháp trị, thì khi có điều gì phạm luật, “ người nào cũng như người nấy, từ ông Tổng thống cho đến một người dân nhà quê cũng đều chịu theo pháp luật như nhau”27. Tư tưởng của Phan Châu Trinh về nhà nước pháp quyền là sự phản ánh hình bóng của bộ máy đệ tam cộng hòa đại nghị của Pháp28 mà ông đã có nhiều năm tìm hiểu ngay tại chính quốc. Tư tưởng đó thực chất là tư tưởng dân chủ tư sản. Đánh giá về nội dung này trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, GS.Trần Văn Giàu đã viết: “Đường lối khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đường lối chống chủ nghĩa thực dân Pháp nhằm giành lại độc lập tự chủ, lập chế độ quân chủ lập hiến hay chế độ cộng hòa dân chủ, và nhằm đưa nước nhà phát triển theo Tây phương, thực chất là tư tưởng tư sản chớ không phải cái gì khác”29.

Vào đầu thế kỷ XX, đất nước ta đang chìm đắm giữa đêm trường nô lệ của chế độ thực dân phong kiến. Xuất phát từ tinh thần yêu nước, nhiều sĩ phu yêu nước Việt Nam đã cố gắng đi tìm kiếm các con đường cứu nước khác nhau. Phan Bội Châu và những sĩ phu có tư tưởng bạo động thì chủ trương tập hợp lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang để giành độc lập dân tộc. Còn Phan Châu Trinh lại cho rằng lúc bấy giờ, kinh tế nước ta còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp kém, nên không đủ sức giành lại độc lập từ tay người Pháp. Bởi vậy theo ông, kế sách tốt nhất là phát triển thực lực  làm cho dân giàu nước mạnh bằng cách thực hiện cải cách đất nước theo phương châm Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Ông nói: “Không mở mang dân trí, không để dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị và học hội, thương hội, diễn thuyết là một liều thuốc hay để trị bệnh”30. Bằng cách đó, Phan Châu Trinh đã khai mở một con đường, một hướng đi mới để mong đưa đất nước và nhân dân ta thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ. Để đạt được mục tiêu cải cách đất nước, đòi hỏi phải thay đổi một cách căn bản cả trong tư duy và hành động. Xét trên quan điểm phát triển, tư tưởng và các quan điểm về dân quyền, dân chủ, dân sinh của Phan Châu Trinh mang tính chất cách mạng, và là một bước tiến dài trên con đường tìm kiếm giải pháp cứu nước của các nhà chí sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Phan Châu Trinh nhận thức được rằng, mục đích cuối cùng của Việt Nam là phải giành được độc lập, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng để đạt đến mục đích ấy, trước hết cần phải thức tỉnh ý thức tự cường dân tộc, phải đưa nhân dân thoát khỏi sự chìm đắm, mê muội của chế độ quân chủ chuyên chế. Phan Châu Trinh đề xướng chủ trương “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” là để khẳng định ý thức tự cường dân tộc, rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể “tự khai hóa”31 . Đó cũng là một cách để đối lập và phản đối chính sách “khai hóa văn minh” mà thực dân Pháp và chính quyền thuộc địa ở Đông Dương thường rêu trao tuyên truyền và đầu độc các tầng lớp nhân dân Việt Nam.

Nếu đứng trên quan điểm bạo lực hoặc lấy chủ trương bạo động của Phan Bội Châu làm hệ qui chiếu thì có thể coi quan điểm của Phan Châu Trinh là cải lương32, là “hoạt đầu”. Nhưng đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ, dân quyền, dân sinh của Phan Châu Trinh thực sự có tính tích cực, tiến bộ và cách mạng. Bằng chứng cụ thể là các quan điểm cải cách của ông chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng thu phục được sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân từ sĩ phu tiến bộ đến giới công thương, viên chức, và đông đảo nông dân. Tư tưởng cải cách ấy từ hình thức ôn hòa lúc khởi đầu đã mau chóng biến thành sức mạnh vũ lực quật khởi của nhân dân, trước hết là nông dân chĩa mũi nhọn vào chính quyền thực dân phong kiến nhằm chống sưu, thuế và đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Nếu soi rọi vào thực tế đó thì không thể cho rằng Phan Châu Trinh là nhà cải lương, rằng ông “không tin tưởng ở quần chúng nhân dân”33.

*

Rõ ràng, Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệt thành, sâu sắc, một người có tư tưởng dân chủ cấp tiến nhất trong các sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Không sợ hy sinh, gian khổ, bất chấp mọi cường quyền, thủ đoạn, cũng giống như Phan Bộii Châu, Phan Châu Trinh đã suốt đời hoạt động và đấu tranh kiên trì cho mục đich vì dân vì nước. Ông đã từng nói về Phan Bội Châu nhưng cũng là những lời gan ruột tự nói về mình: “Phan Bội Châu là người rất phụ khí, dám làm việc lớn mà không tiếc thân, sức tự tin rất mạnh, bắt buộc chủ nghĩa nào đã làm dầu đến chết cũng không thay đổi” và ông thừa nhận rằng “Tôi  (tức Phan Châu Trinh – TG) cũng thế”34. Để  cho khách quan hơn, xin dẫn ra đây nhận định của nhà Việt Nam học hàng đầu của Pháp – GS. Daniel Hémery: “Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh theo tôi là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hóa và chính trị Việt Nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề (les problèmatiques) đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải và mãi mãi còn phải đảm nhận”35. Những nan đề ấy chính là các vấn đề dân chủ, dân trí, dân sinh. Có thể nói, mặc dù còn có những hạn chế, thậm chí sai lầm nhất định nhưng Phan Châu Trinh đã dành cả cuộc đời mình, một lòng một dạ dũng cảm dấn thân và kiên trì tranh đấu cho tương lai của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân bất chấp tù dày, gian khổ, cường bạo. Hình ảnh của Phan Châu Trinh với “ Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió đã gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói”36 như lời ca ngợi của Phan Bội Châu khi ông tạ thế, mãi mãi là tấm gương sáng chói trên con đường cải cách và phát triển đất nước, vì Tổ  quốc Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

————————-

  • GS,TS. Khoa Lịch sử , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.

1 Trần Văn Giàu (chủ biên) (1957): Lịch sử Việt Nam, Nxb. Xây Dưng, Hà Nội, tr.218.

2 Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) (1985): Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.121.

3 Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) (1985): Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.122.

4 Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh): Phan Châu Trinh qua giới thiệu những tài liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, Tập 1: 2001, Tập II: 2003.

5 Phan Châu Trinh (2005): Toàn tập, Nxb. Đà Nẵng.

6 Điều này ông viết trong Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Nxb.Đà Nẵng, tr.289.

7 Theo Lời giới thiệu Thơ văn Phan Châu Trinh trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập 1, Sđd, tr.16

8 Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà nẵng, Quyển 1 tập 1, tr.87, 88.

9 Đây là theo lời kể của Phan Châu Trinh do Huỳnh Thúc Kháng ghi lại. Xem Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Sđd, tr.154.

10 Xem Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Nxb. Văn Học. Tác phẩm Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam của Phan Châu Trinh được giới thiệu trong cuốn sách trên của Nguyễn Q Thắng từ trang 251 đến trang 285. Ngoài ra, có thể tham khảo thêm Phan Châu Trinh Toàn tập, Tập 1, Sđd, tr.28 và 30.

11 Albert Sarraut (1872-1962) đã hai lần làm Toàn quyền Đông Dương vào các năm 1911-1914 và 1917-1919.

12 Nguyễn Văn Xuân(1995): Phong trào Duy tân, Nxb. Đà Nẵng, tr.107

13 Trần Văn Giàu (chủ biên) Lịch sử Việt Nam, sđd, 1975, tr.215.

14 Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Nguyễn Q.Thắng,  Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, NXB Đà Nẵng, 1992, tr.269

15 Phan Châu Trinh toàn tập, tập II, NXB, Đà Nẵng, 2005, tr.53

16 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, Sđd, tr.64.

17 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, Sđd, tr. 69.

18 Trần Mai Ước (2013): Từ tư tưởng “ Khai dân trí” của Phan Châu Trinh suy nghĩ về đổi mới giáo dục ở

nước ta hiện nay trong Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 42, năm 2013, tr.115.

19 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập III: Nxb. Đà Nẵng, tr.

20 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, tr.69.

21 Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, Quyển 1 tập 1, Sđd, tr.153.

22 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.275.

23 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr. 271.

24 Trần Văn Giàu (chủ biên) (1957): Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.241.

25 Theo mật thư cuả mật thám Jolin gửi Guesde ngày 11/5/1922. Tài liệu 403, SPCE 373, CAOM trong Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2003): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Tập II, Nxb. Đà Nẵng, tr.284.

26 Nguyễn Văn Dương (1995): Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB. Đà Nẵng, tr. 817.

27 Nguyễn Văn Dương (1995): Tuyển tập Phan Châu Trinh, Sđd, tr.816.

28 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập I, Sđd, tr.41.

29 Trần Văn Giàu (1975): Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, Tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.120.

30 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.276.

31 Trần Mai Ước (2012): Tư tưởng chính trị của Phan Chau Trinh, Triết học, số 9 (256), tr.92.

32 Tôn Quang Phiệt (1958): Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhan dân Việt Nam, Nxb.Văn Hóa, Hà Nội, tr.70

33 Chương Thâu (1982): Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, Nxb.Hà Nội, tr.87.

34 Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.273.

35 Dẫn theo Nguyên Ngọc (2002): Kỷ yếu Tọa đàm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh, Tam Kỳ, Quảng Nam, tr.71.

36 Điếu văn của Phan Bội Châu trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập I, Sđd, tr.74, 75.

Kiến trúc nghề truyền thống của gia đình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

KIẾN TRÚC NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: KTS Tôn Đại là con trai cả của Trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình một hiệu trưởng của trường Thăng Long (Ngõ Trạm). Bài đăng trên tạp chí Kiến trúc (của Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam) số 274 tháng 2/2018 từ trang 37 đến trang 39.

—o0o—

Gia đình tôi có 5 người làm nghề kiến trúc. Đó là vợ chồng tôi: Tôn Đại và Nguyễn Thị Thanh Thủy, con gái út của tôi – Tôn Ánh Hồng, hai cháu ngoại là Nguyễn Phi Anh và Vũ Tôn Thiên Châu. Một cháu nữa cũng có năng khiếu hội họa, nhưng cháu lại thích nội thất hơn nên đã không học kiến trúc. Nhiều năm gắn bó với nghề, nhiều thế hệ gắn bó với nghề – nên có thể nói: Kiến trúc là nghề truyền thống của gia đình tôi.

Hai vợ chồng tôi cùng học lớp Kiến trúc Khoa xây dựng, trường Đại học Bách Khoa, khóa 1 (từ năm 1956-1961). Chúng tôi được học vẽ với những nghệ sĩ nổi tiếng của nước ta – Cô Nguyễn Thị Kim – Nhà điêu khắc nổi tiếng và thày – Giáo sư Ngô Huy Quỳnh dạy vẽ chúng tôi nhiều nhất. Thày Quỳnh đưa chúng tôi đi vẽ tại các địa điểm tham quan như: Chùa chiền, công trình cổ và các công trình kiến trúc Pháp tại Hà Nội… Sinh viên lớp chúng tôi được tập thói quen đi đâu cũng vẽ ký họa. Có lần đi thực tập ở Lào Cai, ra bờ sông vẽ ký họa chiếc cầu biên giới còn suýt bị công an biên phòng bắt.

Năm 1961, sau khi ra trường, tôi được làm việc tại Cục Thiết kế Dân dụng, Thanh Thủy làm tại Viện Quy hoạch. Tôi thiết kế các công trình kiến trúc dưới sự chỉ dẫn của KTS Đoàn Ngọ. Tôi và hai anh Trịnh Hồng Triển và Nguyễn Kim Chi thường được cơ quan giao vẽ những công trình để triển lãm ở trong nước hay đưa đi nước ngoài. Còn Thanh Thủy thì được giao làm Xưởng trưởng Xưởng Cây xanh, giải quyết vấn đề kiến trúc cảnh quan, thường xuyên đi công tác các tỉnh. Có lần thiết kế cảnh quan cho Lăng Bác Hồ, xưởng phải vào tận các tỉnh miền Nam mua cây và chở ra bằng 2 máy bay quân sự. Công trình này được tiến hành như một chiến dịch, từ khảo sát ở các tỉnh, mua cây, vận chuyển ra Hà Nội, thi công suốt, đêm vận chuyển cây từ sân bay về công trình và trồng cây lớn vào những hố đào sẵn theo thiết kế. Khi Thanh Thủy làm Giám đốc, Trung tâm Kiến trúc Phong cảnh của Hội KTS Việt Nam đã nhận đề tài khoa học “Tổ chức quản lý môi trường cảnh quan đô thị” (KC11-11). Đề tài được Hội đồng đánh giá xuất sắc. Có hai thực nghiệm của đề tài này là Làng Kiến trúc phong cảnh và Trà Hoa Viên: Làng kiến trúc phong cảnh được hoàn thành với 24 ngôi nhà 2 tầng, Trà Hoa Viên thì lần lượt được xây dựng ở Triển lãm Giảng Võ, Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng và ở Võng Thị bên bờ Hồ Tây. Ngoài ra, Thanh Thủy còn xây dựng Vườn Văn, một vườn cảnh lớn 1 ha ở quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Thủy cũng hay vẽ ký họa những cảnh, những cây mình thích, sưu tầm các đóa hoa, lá cây thành những bộ sưu tập để làm tài liệu thiết kế và dạy học. Là TS.KTS, bà cũng hướng dẫn một số luận văn thạc sỹ và phản biện những luận văn Cao học Kiến trúc. Hoạt động đoàn thể rất nhiệt tình, Thanh Thủy bao giờ cũng tích cực bênh vực quyền lợi phụ nữ, luôn luôn ở trong BCH Công đoàn bộ và đảm nhiệm nữ công. Bà cũng rất yêu nghề. Đi trong vườn cây, nâng niu từng đóa hoa, chăm sóc từng khóm cây, dường như đó là những giây phút hạnh phúc nhất vì tôi thấy nét mặt Thủy tươi vui rạng rỡ.

Thế hệ KTS thứ hai trong gia đình tôi là ThS.KTS Tôn Ánh Hồng. Theo nghề của mẹ Thủy, Ánh Hồng là một KTS phong cảnh. Hồng đã cùng mẹ viết cuốn sách Kiến trúc Phong cảnh Việt Nam. Được đào tạo ở đại học Xây dựng, Ánh Hồng cũng ham hội họa, vẽ nhiều tranh thuốc nước và ký họa. Hội họa cũng giúp nhiều cho việc sáng tác kiến trúc cảnh quan và cả thiết kế công trình. Hồng có năng khiếu âm nhạc, một KTS ham hội họa và âm nhạc thì tâm hồn sẽ phong phú, sáng tạo kiến trúc sẽ thuận lợi hơn. Cũng như bố và mẹ, Ánh Hồng cũng tham gia giảng dạy ở đại học, hướng dẫn đồ án cho sinh viên kiến trúc. Vì có vốn ngoại ngữ Nga, Anh, Pháp khá tốt nên Tôn Ánh Hồng còn có kế hoạch dịch một số tác phẩm kiến trúc cảnh quan nổi tiếng để làm tài liệu thiết kế và giảng dạy cho các KTS và sinh viên kiến trúc.

Thế hệ KTS thứ ba trong gia đình tôi là KTS Nguyễn Phi Anh, cháu ngoại tôi. Mẹ của Phi Anh là cô giáo Tôn Nữ Ánh Ngọc, chị gái của Ánh Hồng. Phi Anh học kiến trúc tại Đại học Xây dựng, tốt nghiệp năm 2011, đang làm việc tại Phòng Kỹ thuật Xây dựng Cục phục vụ ngoại giao đoàn – Bộ Ngoại giao. Phi Anh cũng say mê hội họa. Chồng là nhà tạo mẫu túi thời trang, Phi Anh giúp chồng trong việc tạo mẫu và vẽ những hoa văn, những hình trang trí lên mẫu rất rực rỡ và sinh động. Mỗi năm tết đến, Phi Anh lại vẽ tặng ông bà ngoại một hình con giáp của năm một cách ngộ nghĩnh, phản ánh óc hài hước của một nghệ sỹ.

Thế hệ thứ ba của gia đình còn có Vũ Tôn Thiên Châu, con gái của Ánh Hồng. Cháu Châu hiện đang học Khoa Kiến trúc trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Hồi nhỏ cháu thường vẽ những tranh ngộ nghĩnh tặng ông. Nay là một sinh viên kiến trúc, cháu say sưa vẽ ký họa bằng chì và bút sắt. Hồi nhỏ cháu đã tỉ mỉ làm mô hình những ngôi nhà bằng giấy cứng tặng ông, nay lại say sưa làm các mô hình thể hiện đồ án môn học.

Gia đình chúng tôi yêu nghề kiến trúc, nhiều thành viên của gia đình làm nghề nên có thể trao đổi nghiệp vụ cho nhau dễ dàng, trao đổi kinh nghiệm cho nhau thường xuyên. Các tài liệu sách báo có thể sử dụng chung, không lãng phí. Thêm vào đấy, hội họa, âm nhạc cũng là truyền thống, làm chúng tôi thêm gắn bó. Mỗi lần họp gia đình là ồn ào, tưng bừng. Yêu nghề kiến trúc đối với chúng tôi còn là yêu chính gia đình mình, cuộc sống thật thú vị và hạnh phúc.

Vợ chồng tôi và con gái Ánh Hồng đều là KTS nhưng cũng là những thày, cô giáo. Đó là truyền thống của ba tôi để lại, ông là một trong những Hiệu trưởng Trường Thăng Long nổi tiếng. Cái nghề thầy giáo đã truyền đến chúng tôi, cô con gái lớn Ánh Ngọc của tôi không là KTS nhưng là cô giáo giảng dạy Văn ở trường phổ thông. Nghề nghiệp của gia đình là một vốn quý giá. Chúng tôi may mắn có được nghề KTS và nghề giáo – Có lẽ, sẽ không dừng ở 3 thế hệ KTS, gia đình chúng tôi sẽ cố gắng gìn giữ truyền thống quý báu này.

PGS.TS. KTS Tôn Đại

Thăm biệt thự Hoa Đường

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

THĂM BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Ngày 14-4-2018 tức 29-2 Mậu Tuất, chúng tôi gồm cháu nội và cháu ngoại của cụ Phạm Quỳnh sau khi thắp nhang tương niệm ở khu mộ đã tìm về biệt thự Hoa Đường ở Huế , nơi ông chúng tôi  đã sống những ngày cuối cùng của đời mình. Chúng tôi đi dọc theo sông An Cựu, hỏi rất nhiều người về ngôi biệt thự xưa  nhưng không một ai biết. Chỉ có một chi tiết của ngôi biệt thự mà chúng tôi đã nghe nói là cái château d’eau (tháp nước) cũ, dấu tích duy nhất còn lại để chúng tôi tìm. Đi mãi, vòng đi vòng lại vẫn không thấy.

Cuối cùng, may mắn chúng tôi tìm được một bác xe ôm già có biết “ biệt thự của cụ Thượng”. Bác vui vẻ, tận tình đi trước dẫn đường cho xe chúng tôi theo. Cái tháp nước cổ đây rồi! Nhưng khung cảnh chung quanh hoàn toàn khác hẳn với trí tưởng tượng của chúng tôi Đó là những căn nhà nhếch nhác, luộm thuộm, không còn chút bóng dáng nào của ngôi biệt thự xưa. Hỏi những người sống ở đó cũng không ai biết đây là biệt thự Hoa Đường . Họ đều là những người ở nơi khác đến.

Còn một bến đò nhỏ trên bờ sông An Cựu trước biệt thự Hoa Đường, nhân dân quanh vùng quen gọi là “Bến Cụ Phạm” hoặc “Bến Cụ Thượng”.

Trong lòng chúng tôi trào lên một nỗi thương cảm, ngậm ngùi . Chỉ còn biết ghi lại vài tấm ảnh với cái château d’eau cổ, “chứng nhân” của một thời kỳ huy hoàng cho đến những ngày cuối đời của ông chúng tôi ở nơi ông đã viết nên những trang bất hủ trong “Hoa Đường tuỳ bút”!

Nhà giáo Nhân Dân

Tôn Thất Thân

Biết ơn những con người nhân hậu mà dũng cảm

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

 

 BIẾT ƠN

    NHỮNG CON NGƯỜI NHÂN HẬU MÀ DŨNG CẢM

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: “Quý II/2012, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân cho ra tập 2 sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan tuyển chọn và biên tập. Các trang 272 đến 284 có đăng bài trên đây của Phạm Tôn đã lên Blog PhamTon từ tuần 1 tháng 9 năm 2012.

—o0o—

Những người biết rõ về Thượng Chi – Phạm Quỳnh thì rất nhiều. Vì Ông là một nhân vật nổi bật hồi nửa đầu thế kỷ XX trong cả nước ta với những hoạt động đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ người Việt Nam. Nhưng, những ai dám lên tiếng nói rõ sự thật về Ông khi Ông đang bị chôn vùi cả thể xác lẫn danh dự hơn nửa thế kỷ qua thì chẳng được mấy người… Vì lẽ đó, con, cháu, chắt trong đại gia đình Phạm Quỳnh thật vô cùng biết ơn những Con Người nhân hậu mà dũng cảm đó. Và những người có lương tri cả nước đều vui mừng đón nhận mỗi bằng chứng quí giá, cũng như những đánh giá công bằng, xác đáng mà các vị dám đưa ra công luận và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc công bố đó trước nhân dân, lịch sử.

Chúng tôi vô cùng biết ơn giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, các nhà nghiên cứu Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Phạm Thị Nhung, Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Đầu, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Vương Trí Nhàn, giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Bá Đĩnh, Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Văn Chánh, Khúc Hà Linh các nhà văn, nhà thơ, dịch giả Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quốc Chiến, Trần Đăng Khoa, Khúc Hà Linh, Hà Khánh Linh, Xuân Ba, Lê Minh Khuê, Hồng Thanh Quang, Trần Chiến, các nhà giáo Nguyễn Thúc Chuyên, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Đức Thuận, Vũ Thế Khôi, nhà báo Thép Mới, Thanh Tùng, Lại Văn Sâm…

Chúng tôi biết ơn nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý (1900-1994). Ông là người bạn thân thiết, lại là người bà con với Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh thuộc họ bên ngoại nhà ông. Ngày 19/4/1991, ở tuổi đại thọ ông đã mời nhạc sĩ Phạm Tuyên đến nhà và vừa nói về thân phụ nhạc sĩ vừa cho xem các văn bản cổ và đọc cho nghe các bản do chính ông dịch ra quốc ngữ: Trích gia phả họ Hoàng Đạo, phụ bên ngoại (do Hoàng Đạo Thành biên soạn, viết), Phả ký học trò viết (do Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết) ghi lại thành một cuộn băng ghi âm đầy. Sau đó, ông còn cẩn thận viết ngày 16/7/1991 và gửi cho nhạc sĩ một bản Các việc tiếp theo. Nhờ đó mà gia đình biết rõ về hoàn cảnh gia đình và cuộc sống của Phạm Quỳnh từ nhỏ tới lớn. Ông còn cẩn thận vẽ cả sơ đồ căn nhà Phạm Quỳnh ở từ khi chào đời cho dến năm 1918. Là người bạn tâm giao, ông biết rõ và từng can dự vào các bước ngoặt trong cuộc đời Phạm Quỳnh, kể cả việc quyết định vào Huế tham chính và từ bỏ nghề báo. Chính Hoàng Đạo Thuý đã viết bản tham luận bảy trang sẽ đọc tại cuộc hội thảo do Viện Văn học dự định tổ chức năm 1992 tại Hà Nội.

Chúng tôi cũng biết ơn nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Đúng lúc đứng ở đỉnh cao danh vọng và uy tín lớn với hàng trăm tác phẩm nổi tiếng được nhân dân cả nước yêu mến, năm 1972 nhà văn lão thành cho ra mắt giữa thủ đô Hà Nội cuốn Đời viết văn của tôi (Nhà xuất bản Văn Học, in 3.200 cuốn) trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác nên truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Phần đó như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.” Sau khi phát hành ít lâu, cuốn sách ấy bỗng “biến mất” trên các giá sách cả ở các hiệu sách lẫn các thư viện, tủ sách phục vụ công chúng. Mãi đến năm 1996, mười năm sau đổi mới, mới lại thấy sách ấy được Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản, nhưng với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn! Nhưng, hai trang 181-182 vẫn còn nguyên phần nói về việc nhà văn đã viết Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Người “chịu trách nhiệm xuất bản” là Đinh Quang Nhã. Hồi Nhà xuất bản Văn Học in năm 1972 tại Hà Nội, chưa có “chức danh” này.

Con, cháu, chắt Phạm Quỳnh còn biết ơn Thiếu tướng Phan Hàm.

Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng viết ngày 8/11/1993, Tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận chiều 14/11/1993, xin trích đăng phần Thiếu tướng kể về việc đi bắt Phạm Quỳnh để bạn đọc có điều kiện biết được sự thật đã xảy ra như thế nào. Thiếu tướng Phan Hàm viết như sau:

“Tôi chỉ xin kể lại việc đi bắt Phạm Quỳnh. Còn các nơi khác không rõ chi tiết, chỉ biết chung chung:

“Tôi nhận lệnh, nghiên cứu thì được biết thêm là trong nhà Phạm Quỳnh cũng như nhà Ngô Đình Khôi đều có rất nhiều súng ống. Vì vậy buổi sáng hôm ấy, anh Hồ và tôi phải cải trang đi trinh sát địa hình trước. Kết quả chỉ biết được đích xác nhà (biệt thự Hoa Đường), sân, còn trong nhà không rõ. Đến trưa, ông Phan Tử Lăng trực tiếp chỉ thị cho tôi: đến trại Bảo An binh, ông ta sẽ phối thuộc cho hai tiểu đội lính Bảo An (một tiểu đội do tôi chỉ huy, một tiểu đội cho anh Việt chỉ huy) để giúp vào việc đi bắt hai tên Việt Gian đầu sỏ này. Ông ta còn nói thêm: “Bắt được rồi đem về lao Thừa Phủ, rồi báo xuống sân vận động Huế người ta biết, mở màn cuộc mít tinh.”

“Mệnh lệnh rất ngắn mà chúng tôi mang theo chỉ thấy nói “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Tôi được trang bị một khẩu súng lục St.Etienne 6.35. Khi xe của tôi vòng vào sân, thấy Nguyễn Tiến Lãng trong nhà chạy ra. Lúc bấy giờ trên áo tôi đã có cái băng cờ đỏ sao vàng nên Lãng biết, toan chạy. Tôi đưa súng lên bắn thì kẹt đạn, nên bắt lên xe luôn. Anh Hồ lên lầu bước vào phòng Quỳnh đang chuẩn bị nghỉ trưa. Đưa giấy “mời” ra ông ta thản nhiên đứng dậy mặc áo ra đi.

“Tôi lục soát khắp nhà (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) chẳng thấy súng đạn đâu cả ngoài khẩu súng săn cỡ 12 ly của con trai ông ta và ít đạn săn. Con trai của ông ta là Phạm Khuê cũng đi dự mít tinh, ở nhà chỉ còn hai cô con gái là học sinh trường Khải Định trước đây” (…) “Đây là ý kiến tôi muốn đóng góp với những bản tổng kết quân sự, Đảng, chính quyền của tỉnh nhà.

Nhớ đâu viết đấy. Miễn là nói lên sự thật (Chúng tôi nhấn mạnh-PT)”

Người thứ tư chúng tôi biết ơn là bà Phạm Thị Minh, tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Châu Trinh, nguyên đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại Ý và một số nước châu Âu như Luxembourg v.v…. Nhân sang Pháp tìm tư liệu về ông ngoại mình, bà đã tìm thấy và “tặng” lại cho tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn sống ở Pháp tờ sao chụp Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant là tư liệu chứng tỏ Phạm Quỳnh đã chống Pháp và yêu nước như thế nào.

Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…

Gặp hai con gái Phạm Quỳnh ở Pháp là Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn, bà đã kể lại chuyện gặp nhà văn Sơn Tùng, được nghe ông nói về tình thân giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh và còn cẩn thận viết tay một bản xác nhận chuyện đó, không e ngại gì. Toàn văn bản viết tay như sau:

GHI LẠI TẶNG CHỊ PHẠM NGOẠN VÀ PHẠM HOÀN

            Tôi là Lê Thị Kinh tức là Phan Thị Minh, trước khi đi qua Paris tôi có gặp ông Sơn Tùng là một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử đồng thời là thương binh loại nặng (co rút cả hai tay) đã vui lòng kể cho tôi một số chuyện ông được nghe qua cụ Đào Nhật Vinh (tức Bùi Di, tức Bùi Lâm) ngày xưa đã gần gũi cụ Hồ thời kỳ cụ Hồ còn tên là Tất Thành đi làm trên tàu thủy (cùng đi với nhau từ Argentine đến Terre de feu, được Tất Thành dạy học chữ quốc ngữ). Sau ông này về làm adjudant ở bệnh viện Val de Grâce, hay đến 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường (hai ông nghè ta và tây) và Nguyễn Ái Quốc… Ông Đào Nhật Vinh kể lại: lúc đó ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương – PT ghi chú) đưa bản án đề nghị “xử tử Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh” thì cụ Hồ đã bác(Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Ông Vinh ỷ thế là chỗ thân tình đã chạy vào phản đối: “Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân và những tên đã chống phá cách mạng?” Cụ Hồ đã trả lời nghiêm nghị: “Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú xồn xồn lên như vậy. Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới, tôi quyết định như vậy là đúng…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra, vào gặp cụ Hồ và báo “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… đó không phải là người xấu!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Tôi đi nghiên cứu ở Archives d’Outre Mer ở Aix-en-Provence có thấy được một số báo cáo của agents của mật thám Pháp báo là đầu tháng 5-1922 có một cuộc gặp của cụ Phan Châu Trinh với cụ Phạm Quỳnh và ông Nguyễn Văn Vĩnh mà nó không ghi được nội dung, chỉ nghe được ông Vĩnh kể lại nhưng chúng không tin và có tin hai người này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – PT ghi chú) có gặp ông Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) tại Paris hoặc ở Tours nhưng nó không ghi được nội dung. (Đó là năm 1922 khi hai người qua dự đấu xảo thuộc địa tại Marseille). Sau đó ông Nguyễn Văn Vĩnh ở lại mấy tháng, được ông Phan Văn Trường đưa đi Mayence, Berlin, Vienne rồi mới trở về Pháp và về Việt Nam.

                                                                                                                 Paris 20-1-1994

                                                                                                                  Phan Thị Minh

Người cuối cùng, chúng tôi biết ơn là Nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng. Biết nhà văn qua tư liệu của bà Phan Thị Minh và còn biết cả chuyện ông định công bố tư liệu động trời về việc Hồ Chủ tịch phản đối việc sát hại Phạm Quỳnh tại hội thảo về Phạm Quỳnh năm 1992 do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội, nhạc sĩ Phạm Tuyên và một người anh vợ, nguyên biên tập viên Nhà xuất bản Sự Thật, đã đến gặp. Nhưng không may, phải lúc nhà văn bệnh nặng, không tiếp được. Mãi sau này, đến năm 2008, nhà văn Sơn Tùng mới có sức khoẻ và có thời giờ viết hẳn 20 trang chép tay về “bậc danh nhân văn hoá” Thượng Chi – Phạm Quỳnh để “ký thác” cho nhạc sĩ Phạm Tuyên và đồng ý cho công bố trên Blog PhamTon.

Sau đó, chúng tôi đã chia làm bốn phần và tự đặt đầu đề để bạn đọc dễ theo dõi với lời dẫn và lời bình của chúng tôi. Bao gồm Phần I: “Bất tất nhiên”, Phần II: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? (…) đó không phải là người xấu!”, Phần III: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…”, Phần IV: Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chức “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc”.

MẤY LỜI KÝ THÁC

Thân gửi: Nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí.

Thưa Anh,

Đời cầm bút của tôi: viết báo, viết văn, chí thành với đề tài lịch sử và danh nhân Bác Hồ.

Sống trước viết.

Từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1970, tôi dấn thân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước; xông pha khắp ba miền Bắc-Trung-Nam tìm tòi, tích lũy vốn sử liệu về các nhân vật lịch sử ,sự kiện, khảo sát, khảo chứng,… Năm 1971, tôi bị thương nặng trong trận giặc Mỹ đánh phá quyết liệt vùng hậu cứ miền Đông Nam Bộ. Sau gần một năm cáng thương qua Trường Sơn, tôi được về lại Thủ đô Hà Nội.

Chiến tranh có kết thúc. Vết thương chiến tranh trên cơ thể chỉ khép lại khi người mang vết thương ấy tắt nghỉ! Gần 40 năm qua, vừa vật lộn với vết thương mỗi khi tái phát hành hạ, vừa moi cái vốn tích lũy được mà viết, viết cho vơi bớt nỗi đau! Cho đến ngày hôm nay, tôi mới viết được trên 20 đầu sách, đã xuất bản. Bản thảo còn đang viết tiếp, vốn có rồi mà chưa viết được bao nhiêu; một số bậc danh nhân trong đó có danh nhân văn hóa Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã chuẩn định mà chưa thực hiện được. Giờ đây, tôi đã ngoài tám mươi, liệu còn làm xong được những chuẩn định? Vì vậy tôi thành tâm chép lại những điều tôi sưu tầm được về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh, xin trân trọng ký thác tới gia đình bậc danh nhân văn hóa Phạm Quỳnh. Ngày 27/3/2011, biết tin nhà văn không được khoẻ, bệnh mới trở nặng, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã đến thăm. Bên giường bệnh, bà Mai vợ nhà văn cho biết ông vừa qua cơn bạo bệnh, nay đã tỉnh táo, nghe được mà chưa nói được, nhưng “tin là ông sẽ dần bình phục như đã từng vượt qua bao lần thập tử nhất sinh trong đời”.

Chúng tôi tin rằng vẫn còn nhiều Con Người nhân hậu, biết rõ về cuộc sống và cả cái chết “bí ẩn” của Thượng Chi – Phạm Quỳnh… Và mong rằng các vị có tấm lòng nhân hậu ấy có thêm chí dũng cảm như những vị trên đây, mạnh dạn nói ra điều mình biết rất rõ mà bao năm nay vẫn phải canh cánh giữ trong lòng, rấm rứt trong dạ, khi biết mà chưa nói ra để người hiền hàm oan hơn nửa thế kỷ. Nếu được như vậy thời sẽ làm sáng tỏ được mọi “uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong” (Tên một bài viết của nhà văn Xuân Ba trên báo Tiền Phong năm 2005) trả lại cho ông đúng vị trí của mình trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử văn học nước nhà, tránh cho thế hệ trẻ, tương lai của đất nước khỏi lầm lẫn và có thêm một tấm gương trung với nước, hiếu với dân ngời sáng để noi theo.

Con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh và tất cả những người dân Việt lương thiện, yêu nước thương nòi cũng sẽ biết ơn các vị đã có lòng nhân hậu, lại thêm cái chí dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, dám bảo vệ sự thật lịch sử về Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Đó cũng là một cách góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thật sự.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2011

(Bổ sung 26/2/2017)

P.T.

Tháng Tư 13, 2018

Diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018

Filed under: Ý kiến,Liên hệ — phamquynh @ 9:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 4 năm 2018

DIỄN TỪ GIẢI VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH 2018

NGUYÊN NGỌC

Lời dẫn của Pham Tôn: Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 đã được đưa tin trên các báo Tuổi Trẻ, Phụ Nữ Việt Nam, Thanh Niên, thesaigontimes.vn, laodong.vn, nangluongmoi.vn, thongtinvanhoa.vn, nguoidothi.net.vn… Trên Kinh tế Sài Gòn Online có đưa tin (Chủ nhật 25/3/2018) như sau:

“Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần XI – 2018 tổ chức vào tối 24-3 tại TPHCM đã tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại”. (…)

Nguyen Ngoc chup voi Pham Tuyen

“Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh mang tên nhà văn hóa lỗi lạc Phan Châu Trinh (1872-1926). Quỹ được thành lập với sứ mệnh “Góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”. Quỹ trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, do một nhóm các trí thức tâm huyết với văn hóa của nước nhà thành lập.

Việc trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh hàng năm là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng của quỹ nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng thường niên của Quỹ bao gồm 4 hạng mục: Giải Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục, Giải Nghiên cứu, Giải Dịch thuật, Giải Việt Nam học.

Hội đồng Khoa học Quỹ bao gồm 11 thành viên: Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc – Chủ tịch, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn – Phó chủ tịch; các ủy viên gồm: Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn, GS.TS Huỳnh Như Phương, GS.TS Nguyễn Văn Trọng, GS.TS Lê Ngọc Trà, GS.TS Nguyễn Kim Sơn, PGS.TS Trần Hữu Quang, Họa sỹ Lương Xuân Đoàn, TS. Vũ Thành Tự Anh, TS. Nguyễn Đức Thành.”

Sau đây là toàn văn diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 do nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyên Ngọc trình bày tại buổi lễ

—o0o—

Giữ lời hẹn đúng từ ngày này năm trước, chúng ta lại gặp nhau, cũng trong căn phòng ấm cúng này, để chào mừng những vị tân khoa của giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018, năm thứ 11 của Quỹ và của Giải. Cho đến giờ phút này, chúng tôi nghĩ đã có thể nói lần nữa chúng ta lại có được một mùa giải đẹp.

Trước hết xin nói về giải dịch thuật. Hẳn chúng ta còn nhớ Giải Phan Châu Trinh đã bắt đầu bằng một giải dịch thuật, rồi sau đó mới mở rộng thêm các hạng mục khác, và điều ấy không hề ngẫu nhiên. Ngay từ đầu, chúng ta đã coi việc chuyển cho được sang tiếng Việt, cho người Việt và xã hội Việt, từng bước mà khẩn trương, từng bước dần cho đến toàn bộ tài sản trí tuệ tinh hoa của nhân loại là công việc vô cùng quan trọng, tới mức có tính quyết định đối với phát triển của đất nước. Cũng là thực hiện tâm nguyện khai sáng từ hơn trăm năm trước của Phan Châu Trinh. Dịch giả Nguyễn Tùng, người nhận giải ở hạng mục này năm nay có một câu nói tôi xin phép nhắc lại ở đây. Ông nói: ‘’ … chừng nào Việt Nam chưa dịch được hàng trăm cuốn sách được xem là tinh hoa của thế giới về triết học, nhân học, xã hội học v.v. thì chừng đó Việt Nam chưa có được một nền đại học đúng nghĩa về xã hội và nhân văn …’’ Quả hoàn toàn đúng, và không chỉ đối với lĩnh vực xã hội nhân văn ở Việt Nam, cũng không chỉ đối với đại học ở nước ta. Hẳn là từ mối lo sâu xa và đầy trách nhiệm và một tâm thế như vậy mà Nguyễn Tùng đã bắt tay vào công việc dịch thuật vốn không phải là chức trách chính của ông, lại hết sức khó khăn, bởi ông luôn chọn dịch những tác phẩm quan trọng nhất nhưng cũng vào loại khó nhất của những tác giả kinh điển quan trọng nhất nhưng cũng khó nhất trong lĩnh vực dân tộc học, nhân học, xã hội học, kinh tế học. Những cuốn sách như vậy là thiết yếu để đặt nền tảng căn bản cho khoa học xã hội và nhân văn trong nước. Bắt đầu là cuốn ‘’Luận về biếu tặng. Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ’’ của Marcel Mauss, người được coi là cha đẻ của ngành nhân học ở Pháp và là một trong những người sáng lập ngành nhân học trên thế giới. Mauss nhận xét rằng hành vi biếu tặng và đáp tặng trong các xã hội cổ xưa là theo nguyên tắc tương hỗ, có đi có lại, chính là hình thức kinh tế thị trường thời cổ sơ, nó thay thế hoàn toàn hệ thống mua bán bằng sự biếu tặng lẫn nhau … Bằng nhận xét tinh tế và sâu sắc, Mauss phê phán và bác bỏ việc đề cao một cách máy móc những lô gích của nền kinh tế thị trường hiện đại … qui giản con người chỉ còn là những ‘’con vật kinh tế’’. Về thực tiễn, cuốn sách này đã đóng góp lớn giúp vượt qua quan niệm từ thiện và bố thí trong các chính sách xã hội, và góp phần hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại ở Pháp và các nước tiên tiến ngày nay. Bản dịch cuốn sách gối đầu giường của mọi nhà nhân học này được Nguyễn Tùng thực hiện hết sức nghiêm cẩn, đặc biệt với một lối văn trong sáng, dễ hiểu vốn là không hề đơn giản đối với lối viết của Mauss. Ấn bản được NXB Tri thức công bố còn bao gồm một bài Claude Lévy-Straus ‘’Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss’’ và bài ‘’Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường’’ của nhà nhân học Pháp Florence Weber, cũng do Nguyễn Tùng dịch.

Dịch phẩm tiếp theo của Nguyễn Tùng là cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ của Claude Lévy-Strauss, người sáng lập nổi tiếng của trường phái cấu trúc luận trong dân tộc học và nhân học. Trước khi đi vào bản dịch, Nguyễn Tùng còn viết một bài giới thiệu dài 52 trang trình bày súc tích những tư tưởng chính của tác giả và ảnh hưởng của thuyết cấu trúc luận và của cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ đối với giới khoa học xã hội nhân văn trong suốt nửa sau thế kỷ XX. Ngược với B. Malinovski hay Radcliffe-Brown thấy ở việc một tộc người chọn một con thú hay thảo mộc làm tô tem là vì chúng cung cấp cho họ thức ăn, Lévy-Strauss cho rằng họ chọn chúng làm tô tem ‘’không phải vì chúng có thể ‘dùng để ăn’ mà do chúng có thể ‘dùng để tư duy’.’’ Nghĩa là họ nhận ra ở con thú hay thực vật ấy của tự nhiên một cái mã phản ánh cấu trúc tư duy của chính họ. Vậy nên, theo nhà nghiên cứu Jean-Pierre Vernant, cuốn sách của Lévy-Strauss vượt ra ngoài câu chuyện về định chế tô tem và trở thành gần như một thứ nhập môn cho nghiên cứu nhân học, đòi hỏi nhân học ‘’trong các phương pháp tiếp cận và cả trong triết lý về con người, đi đến những quan niệm cấu trúc luận mới mẻ trong nhân học.’’

Nhân đây, xin tiết lộ: Nguyễn Tùng có tâm sự rằng ông dịch ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ là để làm quen thêm với lối viết của Lévy-Strauss, như một kiểu tập dượt, lấy sức, trước khi ‘’tấn công’’ vào một công việc to lớn, khó khăn hơn nhiều: chuyển được sang tiếng Việt cuốn sách thuộc số những tuyệt tác đỉnh cao và quan trọng nhất của Lévy-Strauss, cuốn ‘’Tư duy hoang dại’’ (La pensée sauvage), ‘’nếu tôi còn đủ sức và đủ can đảm’’ – ông nói. Chỉ một ví dụ này thôi chắc đã đủ để cho thấy rõ thái độ, quan niệm và cách làm việc của Nguyễn Tùng đối với dịch thuật khoa học, thật rất đáng để suy nghĩ.

 Dịch phẩm thứ ba quan trọng của ông là một tác phẩm cũng rất khó và khá lạ, cuốn ‘’Xã hội diễn cảnh’’ của Guy Debord, một tác giả phái tả, phê phán triệt để xu hướng bái vật hóa và sự thống trị của hàng hóa trong khuôn khổ của xã hội tiêu thụ tư bản chủ nghĩa hiện đại. Ngay đối với một tác phẩm rất khó đọc và khó hiểu như cuốn này, Nguyễn Tùng cũng đã tìm được cách chuyển ngữ sang tiếng Việt rất chuẩn xác, trong sáng và dễ tiếp cận. Ông còn góp phần quan trọng cùng một số người khác trong một số dịch phẩm lớn và kinh điển, trong đó có cuốn sách nổi tiếng ‘’Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản’’ của Max Weber …

Nói theo cách nào đó, những đóng góp và thành tựu dịch thuật của Nguyễn Tùng  vừa được lướt qua chỉ là một phần ở cạnh công vệc chính của ông. Nguyễn Tùng trước hết và chủ yếu là một nhà nghiên cứu dân tộc học và xã hội học. Ông đã làm việc 30 năm ở Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) với tư cách là nhà dân tộc học và xã hội học, đã giảng dạy ở đại học Sorbonne (Paris), đã tham gia trong hơn 20 năm chương trình nghiên cứu về làng xã ở châu thổ Sông Hồng, đã có những công trình quan trọng được công bố, như ‘’Mông Phụ, một làng ở châu thổ Sông Hồng’’, tham gia cuốn ‘’Làng ở châu thổ Sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ’, và nhiều công trình khác’’ … Như vậy, có thể nói cho đúng hơn, đối với Nguyễn Tùng, công việc nghiên cứu khoa học của ông gắn liền chặt chẽ với công việc dịch thuật của ông, sự gắn chặt này tạo cho ông khả năng và thẩm quyền đưa đến cho người đọc Việt Nam những dịch phẩm lớn, với chất lượng và độ tin cậy cao. Trường hợp Nguyễn Tùng còn đặt ra một vấn đề lớn và quan trọng đối với nền dịch thuật, và cả với khoa học Việt Nam: vấn đề sự xuất hiện mô hình những học giả-dịch giả, cho yêu cầu của một nền dịch thuật nghiêm túc và ngày càng cấp thiết, mà chúng tôi đã nhắc đến ở đầu diễn từ này.

Xin trân trọng cám ơn dịch giả Nguyễn Tùng vì cống hiến đặc sắc, và cả vì những vấn đề quan trọng ông đã nêu lên qua sự nghiệp dịch thuật của ông.

Thưa …

Giải Vì Sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay được trao cho một nghệ sĩ: nhạc sĩ Dương Thụ, và một tập thể những người làm sách: Nhóm Nhất nghệ tinh.

Dương Thụ là một nhạc sĩ nổi tiếng. Hãy thử nghe ca sĩ Hồng Nhung, được chính Dương Thụ coi là người hát hay nhất các bài hát của ông nói về ông: ‘’ … hai nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Dương Thụ viết nhạc rất khác nhau nhưng cùng xuất phát từ suối nguồn tình cảm của tâm hồn. Họ đều là những nhà trí thức với kiến thức văn hóa rộng và sâu sắc, có thể nói ít, hiểu nhiều, sức mạnh trong nhạc và lời mang nội lực đủ để lại trong lòng người nghe một cách sâu nặng mà không cần hình thức quá lộng lẫy hay gây choáng ngợp …’’ Thanh Lam thì nói thêm, như muốn cắt nghĩa: ‘’ … Tôi cho rằng đó là hồn Việt, triết lý Việt, tinh thần Việt  …’’  Quả vậy, có lẽ nét đặc sắc của Dương Thụ trong sáng tác của ông cũng như ở con người và hoạt động xã hội của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giản dị, nhẹ nhõm, gần gũi đời sống và văn hóa dân gian, với xu hướng tinh hoa, bài bản, sang trọng, thậm chí vươn tới hàn lâm. Là dân gian thì ông biết cách khai thác đến tận cái tinh hoa của dân gian, là bác học thì ông giỏi làm cho cái bác học đó trở nên gần gũi đến dễ tiếp nhận cho đại chúng và đi vào lòng người. Lại được cọng với một tài năng thật sự về tổ chức, rất khéo léo, tháo vát và hiệu lực. Dương Thụ cũng là người có lòng tin sâu sắc ở sức mạnh của nghệ thuật khi nó đi được vào đại chúng, và phải đi vào đại chúng ở dạng tinh hoa. Bởi nâng cao năng lực thẩm mỹ và tri thức của xã hội, tạo nên đời sống thẩm mỹ và tri thức ngày càng được nâng cao của xã hội là nghĩa vụ đạo đức của nghệ thuật và của người nghệ sĩ chân chính, của nhà văn hóa. Chính vì vậy mà là tác giả của hàng loạt ca khúc nổi tiếng với âm hưởng rất riêng tinh tế và sang trọng, không thể nhầm lẫn, ông còn dành nhiều thời gian, công sức và tài năng cho những chương trình âm nhạc lớn, là người tổ chức, biên tập và tổng đạo diễn Dự án Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam, một chương trình tầm cỡ quốc gia đầu tiên tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của đủ các dòng nhạc từ Tiền chiến, Lãng mạn, nhạc Sàigòn trước năm 1975, nhạc Cách mạng, nhạc Tình ca hiện đại …; tiếp đó, từ năm 2009, là Dự án đồ sộ Điều còn mãi, một concert âm nhạc thính phòng, bao gồm cả các tác phẩm khí nhạc và ca khúc, được dàn dựng rất công phu với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ hàng đầu cùng dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Việt Nam, diễn ra định kỳ hàng năm vào dịp 2/9 và kéo dài liên tục trong nhiều năm, gây tiếng vang và ảnh hưởng lớn … Tuy nhiên phải nói rằng, trong hoạt động văn hóa xã hội, đóng góp quan trọng nhất của Dương Thụ là những hoạt động nhằm kết nối giới tinh hoa văn hóa trong và ngoài nước với công chúng, đặc biệt với giới trẻ, giới thiệu những tư tưởng đổi mới, những ý tưởng sáng tạo độc đáo thông qua việc hình thành và tổ chức thành công, vượt qua vô vàn khó khăn, chương trình Cà phê thứ bảy, một chương trình sinh hoạt văn hóa cao cấp, một kiểu salon văn hóa, thu hút những người thực sự có quan tâm đến văn hóa, đến những tư tưởng mới, đến đối thoại, tôn trọng sự khác biệt để cùng suy nghĩ. Từ 2009 đến nay, Dương Thụ đã tổ chức được hơn 800 buổi sinh hoạt Cà phê thứ bảy ở Saigon và ở Hà Nội, với sự tham gia của nhiều nhà văn hóa, khoa học, nghệ sĩ nổi tiếng trong và ngoài nước, thuyết trình và trao đổi về nhiều chủ đề khoa học, nghệ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường … Quả là một đóng góp rất to lớn, một điểm sáng cho ta còn giữ niềm tin và hy vọng, đặc biệt trong tình hình văn hóa xã hội phức tạp và đáng lo hiện nay.

Chúng ta cám ơn Dương Thụ vì cống hiến văn hóa tâm huyết, kiên trì của ông, vì tư duy văn hóa và nghệ thuật đáng để suy nghĩ của ông, cả về một mô hình sống và tổ chức đời sống xã hội một cách có văn hóa, không ồn ào mà sâu sắc và hiệu quả ông đã gợi lên qua hoạt động năng nổ của mình.

Nhân vật thứ hai cùng nhận giải thưởng Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay rất đặc biệt, đó là một tập thể đông đảo gồm hàng trăm chuyên gia và kỹ sư từng du học ở CHLB Đức trước năm 1975, từ nhiều năm nay đã lặng lẽ làm một công việc rất cụ thể, thiết thực, mà vô cùng cần thiết cho đất nước. Chúng ta chưa được biết ai trong số họ ai là người nảy ra ý tưởng đầu tiên, họ đã liên lạc, tập họp, trao đổi cùng nhau như thế nào, tính toán tổ chức lực lượng và công việc ra sao … để đi đến quyết định thành lập một tủ sách lấy tên là ‘’Tủ sách Nhất nghệ tinh’’ nhằm chọn lọc những sách chuyên ngành có giá trị nhất của NXB Europa-Lehrmittiel, tổ chức dịch ra tiếng Việt và phổ biến sâu rộng trong giới đào tạo nghề cao cấp và các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam. Cùng lúc lại dày công biên soạn và liên tục cập nhật một Từ điển thuật ngữ khoa học kỹ thuật, đến nay đã được hơn 20.000 mục từ. Đến Nay, Tủ sách đã công bố các sách: Chuyên ngành cơ khí, Chuyên nghành Cơ-Điện tử, Chuyên ngành Điện-Điện tử, Chuyên ngành kỹ thuật ô tô và xe máy hiện đại. Đang và sắp in: Chuyên ngành chất dẻo, Chuyên ngành kỹ thuật hóa học, Chuyên ngành kỹ thuật sinh học, Chuyên ngành kỹ thuật xây dựng, Chuyên ngành kỹ thuật môi trường, Chuyên ngành kỹ thuật may mặc v.v.

Dày kinh nghiệm nghề nghiệp, Nhóm đã chọn lựa những sách chuyên ngành có chất lượng cao của CHLB Đức. Chất lượng dịch các sách cũng rất cao, thỏa ứng các yêu cầu khắc khe của sách chuyên ngành đa lĩnh vực. Nhóm vừa làm việc vừa phát triển, ngày càng tập họp đông đảo chuyên gia các lĩnh vực khác nhau để hộ trợ việc dạy nghề và du nhập phương pháp vừa học vừa làm rất hiệu quả của CHLB vào Việt Nam. Tất cả các thành viên của Nhóm đều hoạt động tự nguyên và vô vị lợi.

Cộng tác chặt chẽ với NXB Trẻ và Saigon Times Foundation, Tủ sách Nhất nghệ tinh đang có sức lan tỏa mạnh, được các nhà giáo và sinh viên nhiệt tình đón nhận. Không thể không có cảm giác chúng ta đang được sống lại không khí sôi nổi khuyến học và chuộng thực nghiệm do Phan Châu Trinh khởi xướng hơn trăm năm trước. Giải Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng chào mừng Tủ sách Nhất nghệ tinh, một góc thật đẹp của xã hội hôm nay.

Thưa …

Xin được nói tiếp đến Giải Nghiên cứu năm nay, được trao cho hai nhà nghiên cứu Lữ Phương và Phan Cẩm Thượng.

Trong những năm 1960 ở Sài Gòn, Lữ Phương là cây bút chủ lực của tạp chí TIN VĂN, một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang. Tác phẩm ‘’Mấy vấn đề văn nghệ’’ của ông viết năm 1967 sớm cho thấy rõ thái độ của một trí thức dấn thân mạnh mẽ mà trầm tĩnh trong những bối cảnh xã hội phức tạp. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến, giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau 1975  ông cho xuất bản ‘’Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam’’, một công trình nghiên cứu khách quan, sâu sắc, khác hẳn với những cuốn sách tuyên truyền minh họa dễ dãi trên cùng đề tài. Từ năm 1980 bắt đầu thời kỳ mà chính ông gọi là ‘’mười năm diện bích’’ để ‘’mọi chuyện trong quá khứ được nhìn lại tận nền móng’’, bắt tay đọc lại và nghiên cứu chủ nghĩa Marx một cách căn kẽ, có hệ thống, từ nền tảng triết học và nhận thức luận, đến các vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học mác-xít, từ đó nhận thức lại mối quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội hiện thực, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, các vấn đề của công cuộc ‘’đổi mới’’, đặc biệt là tác động văn hóa của ‘’đổi mới’’ xét như một mô thức phát triển, đồng thời tăng cường trao đổi, thảo luận với các học giả trong và ngoài nước.

Tìm hiểu một cách nghiêm túc sự hình thành, phát triển và tiến hóa của chủ nghĩa Marx qua từng giai đoạn lịch sử, ông nhìn nhận ‘’mô hình Stalin là nguyên nhân sâu xa của sự khủng hoảng hiện nay của chủ nghĩa xã hội hiện thực’’ và chỉ ra sự ‘’bất toàn của việc du nhập chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam.’’ Từ đó ông đề xuất mô hình mới về xây dựng đất nước trong thời bình bằng cách phải gác lại các kết luận của mô hình cũ để ‘’ưu tiên bảo vệ con người trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa xã hội.’’

Lữ Phương khẳng định: ‘’Sự phê phán quá khứ một cách nghiêm trang chẳng hề có ý nghĩa ‘dùng súng lục’ bắn vào cái gì cả, chẳng qua là thái độ cần thiết của con người trưởng thành …’’. Ông nói: ‘’Ngay cả sự ra đời của bản thân chủ nghĩa Marx và các trào lưu tư tưởng hiện đại cũng là nhờ có môi trường xã hội ‘nơi đó cái sai không hề bị gọi là tội, cái đúng không hề được gọi là ‘duy nhất đúng’. Và vì thế ‘’đối với một thế giới biết nhạy cảm từng phút từng giờ với những hứa hẹn đổi thay, mọi đường lối mệnh danh là ‘ổn định’ tinh thần cũng chỉ có ý nghĩa là tiêu diệt bản thân đời sống tinh thần.’’ Ông thẳng thắn kiến nghị: từ bỏ chính sách  đóng cửa, từ bỏ phương pháp cách mạng bạo lực, từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp, xây dựng nhà nước hiện đại bằng hiến pháp và pháp luât, thực hiện thể chế phân quyền, chính đảng cầm quyền giao lại nhà nước cho xã hội …

Trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh cho nhà nghiên cứu Lữ Phương, Quỹ của chúng ta muốn bày tỏ lòng kính trọng và sự tán đồng rõ ràng của mình đối với một người trí thức coi sự thẳng thắn đầy trách nhiệm, dũng cảm và trung chính của người trí thức, người cầm bút, nhất là trong giai đoạn hiện nay, là nghĩa vụ đạo đức hàng đầu của mình đối với xã hội và đất nước.

Người nhận giải ở cùng hạng mục với Lữ Phương là họa sĩ Phan Cẩm Thượng, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian uyên bác và độc đáo. Trong số những người làm văn học nghệ thuật, dường như những người làm nghệ thuật tạo hình thường quan tâm, gắn bó và hiểu biết sâu hơn cả với văn hóa dân gian và dân tộc. Có thể chăng là qua sáng tạo của dân gian, họ đi tìm và nhận ra hồn cốt của văn hóa Việt, con người Việt. Tôi có một chị bạn họa sĩ, đã bỏ mười năm liền, chăm chú đi đo kích cỡ các đình chùa Việt Nam, để tìm ra cái mà chị gọi là ‘’tỷ lệ vàng’’ ở các kiến trúc cổ ấy, nắm chắc được hằng số ấy rồi, chị bảo, thì vẽ gì cũng ra ngay Việt Nam, không thể nhầm. Phan Cẩm Thượng cũng vậy, ông tự tạo cho mình một lối sống rất đặc biệt, ông từng về sống hẳn trong chùa Bút Tháp hàng chục năm, gắn bó và am hiểu tới cặn kẽ vùng Thuận Thành Kinh Bắc vốn là một vùng đất cội nguồn của văn hóa Việt, thuộc lòng đến tỉ mỉ từng ngôi chùa cổ ở đấy, từng pho tượng cổ tuyệt đẹp đến lạ lùng trong bốn ngôi chùa Mây, Mưa, Sấm, Chớp là dấu tích xưa nhất của tín ngưỡng thuần Việt, khi chưa có ảnh hưởng của Phật giáo và của phương Bắc, cho đến các chùa nổi tiếng như Bút Tháp, Phật Tích, Bổ Đà v.v. Sau Bút Tháp, Thuận Thành, ông lại về sống hẳn nhiều năm ở vùng Mường, như một người ở ẩn, chìm đắm trong văn hóa Mường. Còn vùng văn hóa Sơn Tây nổi tiếng của Quang Dũng, thì Phan Cẩm Thượng vốn đã thuộc nằm lòng từ bé … Ông là người lang thang trong đời thường và trong văn hóa dân gian, say mê và đầy ý thức để cho sự sống ấy ngấm vào mình, thành máu thịt và thành trí tuệ. Có một số dịp được ông cho đi theo, tôi kinh ngạc và thú vị thấy các nhà sư ở các chùa vùng Kinh Bắc đều gọi ông là Thầy, thật sự kính trọng coi ông là Thầy. Tôi cũng kinh ngạc, thú vị khi thấy hầu như người dân nào gặp trên đường cũng là người quen thân của ông và cũng đều gọi ông là Thầy; còn ông thì có thể kể rành rọt với tôi lai lịch, tính cách của từng người … Ông đi nhiều, chăm chú nghe và nhin, hết sức tò mò, quan sát kỹ và tinh, ghi chép, tích lũy, nghiền ngẫm, và vẽ. Rồi viết. Đến nay, Phan Cẩm Thượng đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản, đương nhiên là về nghệ thuật tạo hình Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình cổ và nghệ thuật dân gian Việt Nam, song đều là để từ đó cho ta một góc nhìn và một cách nhìn độc đáo dắt dẫn đến hiểu biết căn cốt về văn hóa Việt. Trong các tác phẩm viết của ông nổi bật một bộ sách quan trọng, đến nay đã cho ra mắt hai cuốn, hai cuốn tiếp theo sẽ hòan thành trong khoảng 4 đến 5 năm tới. Ngay từ cuốn thứ nhất, có tên là ‘’Văn minh vật chất của người Việt”, đã cho thấy đây có thể là một bộ sử của người Việt viết theo một cách riêng, một cách khác, không phải là lịch sử ‘’lớn’’ của các triều đại, các ông vua, các cuộc chiến tranh và các vị tướng lừng danh, các cuộc cách mạng chính trị …, mà là lịch sử nhỏ, tầm thường, hằng ngày và trường kỳ của con người Việt, được kể qua nền văn minh vật chất của họ, hay nói giản dị hơn, qua ‘’lời kể’’ của các đồ vật do họ làm ra để mà sinh tồn và phát triển. Vâng, các đồ vật do con người làm ra không hề câm, chúng có tiếng nói và có thể nghe được tiếng nói, lời kể của chúng, và đó là lời kể khách quan, chân thật nhất. Chẳng hạn cái cày của người Việt, vật liệu để làm ra nó, hình thù và sự biến đổi hình thù các bộ phận của nó, từ thân cày, láng cày, bắp cày, guốc cày, diệp cày, cho đến lưỡi cày, vai cày, trỗi cày, thừng kéo của cày … ,chúng kể cho ta biết, cụ thể, rõ ràng, vô cùng thật, về môi trường sống người Việt suốt mấy nghìn năm, trời đất, thổ nhưỡng, nắng mưa, ấm lạnh, bão tố, cả cái cách những con người đó tổ chức cộng đồng của mình để ứng phó với tất cả những thách thức ấy của tự nhiên, khi từ trên những núi rừng rậm rạp và đất đá phía tây họ đổ xuống châu thổ sông Hồng, sông Mã bùn lầy nhão nhoẹt, rồi lại mấy nghìn năm nữa lặn lội suốt từ Bắc vào miền Trung khô cằn nắng gió, gặp gỡ đất mới, trời mới, người mới, học cày của người Chăm … rồi lại học cày của người Chân Lạp khi tràn tới được châu thổ sông Cửu Long màu mở phù sa … Cái cày biết nói. Đồ vật biết nói. Thậm chí chúng còn kể hết sức chính xác chẳng hạn về hình dáng, và cả cách chuyển động, đi đứng của con người Việt từng nơi, từng thời. Rất khó quên đoạn Phan Cẩm Thượng viết về cái nối đất nung các bà chị ở quê ta vẫn dùng để ra ao ra sông lấy nước. Ông bảo sở dĩ hình thù nó tròn hơi méo một chút, không thể khác, nó to bằng chừng ấy không thể hơn, cũng không nhỏ hơn, là vì nó vừa bằng và giống đúng cái bụng chửa của người đàn bà Việt. Người thợ gốm Việt đã nhìn cái bụng chửa ấy mà nặn ra cái nồi đất kia …

Tiếp sau ‘’Văn minh vật chất của người Việt’’ là cuốn ‘’Tập tục đời người’’ với một phụ đề: ‘’Văn hóa tập tục của người nông dân Việt Nam thế kỷ 19 và 20’’. Phan Cẩm Thượng khẳng định trong mỗi người Việt Nam, cho đến hiện đại nhất hôm nay, đều có một người nông dân; 36 phố phường Hà Nội là từ các làng nghề nông thôn đồng bằng Bắc bộ tụ hội lên mà thành. Ông cũng định nghĩa tập tục là cái có trước pháp luật, trước cả hương ước, tức cũng là một kiểu luật của làng, do cộng đồng làng lập nên, mọi người bắt buộc phâỉ tuân theo. Tập tục là cái có trước những quy đjnh có tính bắt buộc đó; nó là cái người ta theo thói quen mà làm, mọi người vẫn làm thế ta cũng làm thế, làm thế là ‘’phải’’ với mọi người và mình cũng cho là phải, người xưa đã quen, người nay chấp nhận, thấy phải chăng và tự nguyện. Nên nó  là cái từ trong mà ra, không phải từ ngoài áp vào, từ trên ban xuống như hương ước, như luật. Nó thật về con người hơn. Thì ra với cuốn thứ hai này, Phan Cẩm Thượng tiếp tục bộ sử thật về người Việt của mình. Con đường đi bằng văn hóa của ông.

Tuy nhiên cũng có điều Phan Cẩm Thượng tập trung hiểu biết sâu vào vùng đất bắc, chủ yếu với văn hóa sông Hồng thật phong phú, chúng ta mong ông sẽ có những nổ lực tương tự đối với con người và đời sống cũng rất giàu có phương Nam, thì mới thật sự là chân dung văn hóa Việt.

Cuốn thứ ba có cái tên lạ ‘’Mày là kẻ nào?’’. Cách đây mấy thế kỷ, mày tao là cách xưng hô thông thường của người Việt, các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo và con chiên của gọi nhau đều như vậy. ‘’Kẻ’’ có nghĩa là vùng đất. Kẻ Chợ là tên xưa của Hà Nội. ‘’Mày là kẻ nào?’’ có nghĩa là mày ở đâu (mà tới đây)? Cuốn sách viết về những cuộc di chuyển của các mảng lớn con người trong suốt lịch sử tạo nên diện mạo nước ta ngày nay. Cuốn thứ tư, cuối cùng trong bộ sách này có tên là ‘’Việt Nam, thế kỷ 19’’. Tại sao lại là thế kỷ 19? Mọi sự vật thường tự bộc lộ ra sâu sắc, toàn diện nhất ở thời điểm bản lề. Ở Việt Nam thế kỷ 19 là một thời điểm như vậy, khi đất nước và xã hội từ cổ truyền chuyển sang hiện đại, bị và được xới tung lên tận nền tảng. Phan Cẩm Thượng muốn chọn đúng một thời điểm như vậy để cố gắng cung cấp bức chân dung chân thật nhất của người Việt, kết thúc bộ sử đặc biệt của ông.

Giải Phan Châu Trinh chào mừng ở Phan Cẩm Thượng một nhà văn hóa độc đáo và sâu sắc. Xin trân trọng chúc ông thật nhiều thành tựu mới.

Tân khoa của Giải Việt Nam học năm nay là hai nhà sử học Pháp Pierre Brocheux và Daniel Hémery, thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa. Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng. Có thể kể, của Brocheux: các sách ‘’Hồ Chí Minh’’, in năm 2000; ‘’Hồ Chí Minh, từ nhà cách mạng đến bức tranh thánh’’, in năm 2003;  ‘’Một lịch sử kinh tế Viêt Nam – Cây đòn gánh và chiếc xe tải’’ (2009); ‘’Châu thổ sông Cửu Long, Sinh thái, Kinh tế và Cách mạng’’; ‘’Lịch sử Việt Nam. Quốc gia có sức chống chịu mạnh mẽ’’  (2011); ‘’Công cuộc giải thực dân thế kỷ 20’’ (2012); Lịch sử Đông Nam Á. Các cuộc nổi dây, các cuộc cải cách và các cuộc cách mạng’’(2002) …; của Hémery: ‘’Các nhà cách mạng Việt Nam và chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Cổng sản, Trokiste, Quốc gia chủ nghĩa ở Sài Gòn từ 1932 đến 1937’’ (1975); ‘’Hướng dẫn nghiên cứu Việt Nam. Thư mục. Tư liệu và Thư viện ở Pháp’’ (1983); ‘’Tình trạng nô lệ quyền năng. Một lịch sử về năng lượng’’; ‘’Tiến tới một lịch sử của phát triển. Các quốc gia, các xã hội, và phát triển’’ (1988); ‘’Hồ Chí Minh. Từ Đông Dương đến Việt Nam’’ … Đặc biệt Pierre Brochueux và Daniel Hémery có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung, ‘’Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954’’ (‘’Indochine, une colonisation ambiguë’’), như lời bình luận của nhà nghiên cứu Philippe Papin, là một cuốn sách ‘’được chín muồi một cách chậm rãi, phần cốt yếu đã được biên soạn từ 1987-1988, được viết lại hoàn toàn và bổ sung trước khi ra mắt (năm 1994)’’. Philippe Papin cũng nói rằng hai tác giả ‘’đặt lại thực tế thuộc địa mà tránh các con đường đã trở thành quen cũ của lối viết sử theo truyền thống chống thực dân, để tư duy về công cuộc thực dân hóa như là sự tiếp xúc – trong giao thoa, chồng chéo – giữa hai nền văn hóa theo những mối quan hệ bất bình đẳng song mọi sự về những mối quan hệ này còn chưa được nói đến hết …’’. Tôi có biết một bản dịch (còn chưa in) cuốn sách này lấy tên là ‘’Đông dương, một nền thực dân nước đôi’’. Trong tiếng Pháp còn có từ ambivalent có nghĩa là có tính hai chiều, hai mặt, lưỡng trị, tức nước đôi. Ở đây Brocheux và Hémery không nói ambivalent, hai ông nói ambiguë, nhập nhằng, nghĩa là còn nhiều chiều hơn, nhiều mặt hơn, phức tạp hơn, chồng chéo lên nhau, khi cùng hướng, khi trái ngược nhau, đan chen, ngập ngừng. Sự độc đáo, đặc sắc của tác phẩm này chính là ở chỗ nó cố lần ra cho hết các chiều khác nhau đó, phân tích cặn kẽ, khách quan, thực tế, với những cứ liệu chứng minh hết sức phong phú. Cả về phía những kẻ đi xâm lược và cai trị, động cơ kinh tế của chủ nghĩa tư bản ráo riết đi tìm thị trường, bóc lột, đàn áp, nô lệ hóa ‘’đến thảm khốc’’ như Hoàng Xuân Hãn từng nói …  chen lẫn chồng chéo, mò mẫm, lẫn lộn với nền văn minh mà nó truyền bá, có ý thức hay nằm ngoài, thậm chí chống lại chính ý thức đó, phức tạp, tinh tế, ở trong chính sách chung của chủ nghĩa thực dân và ở trong từng con người đi thực hiện nó; lẫn phía những người bị trị và xã hội của họ, bị bóc lột, đàn áp khốc liệt, tan vỡ và bị tha hóa … đồng thời cũng lại bước vào một quá trình hiện đại hóa đương nhiên là hạn chế, với sự hình thành một nền văn hóa mới và lớp tinh hoa hiện đại ở chính dân tộc bị trị, thậm chí như là để chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài của đất nước sau khi nền thực dân đã bị đánh đổ …

Chính trong ý nghĩa đó mà cuốn sách viết về một thời đã khá xa này vẫn nhiều ý nghĩa thời sự cho suy nghĩ của chúng ta hôm nay. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Pierre Brocheux và Daniel Hémery thật thành công trong tác phẩm trằn trọc và tâm huyết này. Trong một bức thư rất ngắn gửi đến chúng ta, Brocheux, người ‘’đã cống hiến 37 năm cuộc đời nhà giáo và nghiên cứu của mình cho lịch sử của dân tộc Việt Nam và số phận của quốc gia Việt Nam’’ viết: ‘’Tôi càng dễ nhạy cảm hơn trong thức nhận về các công trình chép sử của tôi khi nó bắt nguồn từ đất nước mà tôi gọi là đất mẹ của tôi trong khi tổ quốc tôi là đất nước của cha tôi. Nhà Brocheux vốn thuộc một dòng họ vùng Normandie còn mẹ tôi lại thuộc dòng họ Trương mà cái nôi sinh thành là Phan Thiết và sau đó đã di cư về Vĩnh Long.’’ Vậy là ông viết về chính số phận ‘’đất mẹ’’ của mình trong quan hệ lịch sử khó nhọc mà cũng giàu cả sinh sôi, với tổ quốc là đất nước của cha ông. Còn Hémery thì là người đã nói về vị tiền bối mà Quỹ chúng ta mang tên như sau: ”Phan Châu Trinh là khuôn mặt sáng giá nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX vì ông đã biểu đạt một cách mạnh mẽ và sáng rõ nhất những nan đề mà các thế hệ người Viêt Nam hôm nay còn phải tiếp tục đảm nhận.’’

Thật tiếc vì lý do sức khỏe và gia đình, hai nhà sử học đã cống hiến đặc sắc cho sự hiểu biết Việt Nam đã không thể có mặt cùng chúng ta. Xin gửi đến hai ông lời cám ơn chân thành của chúng ta.

  • ●●

Thưa …

Tiếp tục chương trình khởi đầu từ ba năm trước, năm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Chúng ta đều biết, thường vẫn vậy, có những điều ta vẫn làm hằng ngày, chừng đơn giản và vô tư, như viết một bức thư, đọc một bài báo, thảo một công văn …, sang hơn chút nữa, cao hứng viết một bút ký hay một truyện ngắn, càng sang và cao hơn viết một tiểu thuyết, soạn một luận văn hay biên soạn một cuốn sách uyên bác về xã hội học, kinh tế học, triết học hay vật lý học thậm chí đến vật lý thiên văn, trình bày một lý thuyết mới về toán học cao cấp … với công cụ biểu đạt là tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ, loại chữ mà con ta đang học ở lớp một …. và coi chuyện có cái công cụ đó là đương nhiên rồi … nếu còn đôi chút băn khoăn là nắn nót viết sao cho chính xác, cho hay …   Vậy mà hóa ra chuyện đó, cái công cụ rất tuyệt cho phép ta diễn đạt đến tận chùng những gì thâm sâu, phức tạp, uyên ảo nhất trong chính ta, trong xã hội và trong tự nhiên đó không hề là đương nhiên, và cũng chỉ là mới có được đây thôi, mặc dù tiếng Việt viết bằng vần chữ cái la-tinh mà ta gọi là chữ quốc ngữ đã được Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes chế ra từ cuối thế kỷ XVII, còn vô cùng khó khăn để tồn tại, thậm chí đã từng có thể bị xóa đi mất, nếu còn thì cũng chỉ các giáo sĩ dùng để giao tiếp với các con chiên một cách thô sơ bởi sức biểu đạt của nó còn rất nghèo nàn … Số phận của nó bấy giờ càng nguy nan hơn vì bị ép từ cả hai phía: sức phản kháng quyết liệt của cả một tầng lớp được coi là trí thức ưu đẳng và cũng là độc tôn của đất nước đã mấy nghìn năm sử dụng và coi chữ Hán là cao quý thiêng liêng của Thánh hiền, mất nó đi thì vị thế xã hội của họ cũng sụp đổ; bên kia là người Pháp thống trị, cho đến tận thời các Toàn quyền Paul Bert, Paul Doumer rồi Albert Sarraut, theo như nghiên cứu của Bernard Le Calloc’h, vẫn còn rất phân vân không biết nên chọn thứ chữ gì làm chữ chính thống cho thuộc đia này đây? Đã từng có chủ trương ưu tiên muốn dùng tiếng Pháp, chữ Pháp cho Việt Nam, như họ đã làm đối với các thuộc đia của họ ở châu Phi, cho đến tận ngày nay … Nhưng rồi khá tỉnh táo, từng người trong số họ dần hiểu làm như thế là ‘’không thể và không thực tế đối với một đất nước có lịch sử phong phú và một nền văn minh đáng nể như Việt Nam’’. Vả chăng họ cũng biết dùng chữ Pháp cho đất nước này thì chẳng qua chỉ là thay cho nó một ngoại ngữ này bằng một ngoại ngữ khác. Giữa chữ Hán và chữ Pháp, còn một thứ chữ: quốc ngữ. Và số phận đã thuộc về nó, nó đã được chọn. Chữ quốc ngữ đã sống sót như thế. Tuy nhiên vấn đề là sống, chứ không phải sống sót. Nó phải tự chứng tỏ cho kỳ được sức sống mạnh mẽ, vượt trội, đủ sức và đủ sức hơn cả, để cho Việt Nam tự biểu đạt mình trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, thử nghĩ lại mà xem, khó khăn, khốc liệt biết bao nhiêu của dân tộc và nước nhà vào đầu thế kỷ XX. Cho nên, chúng tôi nghĩ, quả có một cuộc đấu tranh mất còn về mặt ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam vào thời ấy, kiên định, quyết liệt, khôn khéo, thông minh, để hiện đại hóa tiếng Việt và lối viết bằng chữ quốc ngữ của nó, hoàn thiện nó thành vũ khí sắc bén của cuộc đấu tranh văn hóa, Và đã có những chiến sĩ tiên phong của cuộc đấu tranh đó, những Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi mà Quỹ chúng ta đã vinh danh trong mấy năm qua, và bao nhiêu người khác, trong đó nổi bật lên một người vào loại đặc sắc, có cống hiến rất quan trọng: người ấy là Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm. Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mũ chữ, nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, trong lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt. Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: ‘’… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm.’’

Cuối năm 1914, do làm việc với Viễn Đông Bác Cổ mà có dịp găp Nguyễn Bá Trác bấy giờ là chủ bút của Đông Dương Tạp chí, ông bắt đầu cộng tác với tạp chí này, nhận ra sức mạnh và sự lợi hại đặc biệt của báo chí, có thể là vũ khí đầy hiệu lực cho cuộc đấu tranh để hiện đại hóa tiếng Việt và chữ quốc ngữ mà ông thiết tha ôm ấp. Nên năm 1916 khi Đông Dương tạp chí đóng cửa, ông đã lập ra tạp chí Nam Phong vào tháng Bảy năm 1917. Ngay từ số đầu tiên ra mắt, qua Nam Phong Phạm Quỳnh đã nói rõ rằng vấn đề văn hóa thật sự của chúng ta không phải là chọn lựa giữa trung thành với truyền thống Trung Hoa hay ngã theo văn hóa Pháp, mà là phải khẳng định vị trí của một nhân tố thứ ba xưa nay vẫn bị coi thường là ngôn ngữ dân tộc, để bảo vệ và phát tiển văn hóa dân tộc. Duy có nghịch lý là ngay cả một tuyệt tác hàng đầu của văn học dân tộc là Truyện Kiều của Nguyễn Du lại cũng phải viết bằng chữ Nôm là một thứ chữ đặt theo mẫu hình chữ Hán, lại còn khó và rắc rối hơn. Vả chăng cho đến lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực. Phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại. Đấy là một công việc khổng lồ. Phải tạo ra nhưng từ mới và những cách diễn đạt mới, trong vài năm hàng trăm từ mới và cách diễn đạt mới phải và đã được đặt ra, phải biên tập một bộ từ điển, phải thống nhất các quy tắc ngữ pháp, cố định hệ thống từ vựng, mượn của tiếng Pháp các mẫu hình để tạo ra một ngôn ngữ khoa học, kỹ thuật, và cả pháp lý và triết học. Phải phổ cập các chuẩn mực chinh tả, biên soạn các sách giáo khoa, chuyển sang chữ quốc ngữ các văn bản chữ Nôm và chữ Hán, định dạng các truyện kể và dân ca của văn học dân gian, cuối cùng thực hiện cho được một cách hài hòa nhất sự hòa hợp giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ trí thức. Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó, thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập. Và ông đã chứng minh hùng hồn, đồng thời khẳng định sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ mà ông đã dày sức góp công xây dựng bằng những sáng tác nhiều loại với một lối văn đẹp đẽ và sang trọng của chính ông, đến nay đều đã được tái bản hầu hết.

Về con người chính trị của Phạm Quỳnh, hôm nay chúng tôi chỉ xin nhắc lại ở đây một báo cáo nói về ông của viên Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn ngày 8 tháng Một 1945 gửi Toàn quyên Đông Dương Decoux và Trung tướng Mordant, Tổng Đại diện và là Chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, nguyên văn như sau:

’Một lần nữa, viên Thượng thư Bộ Lại (tức Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản … Tôi đã lưu ý Hoàng Đế Bảo đại rằng viên Thương thư Bộ Lại của Ngài đã lơ là các chức vụ của mình để nằng nặc đòi hỏi mở rộng các quyền của Viện Cơ Mật … Ông đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự phát triển lũy tiến theo một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Pham Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay thế chế độ ‘’bảo hộ’’ bằng một thể chế ‘’Thịnh vượng chung’’ trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không thể lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một chức vụ danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp … Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài.’’

Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời Hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước ‘’không thể lay chuyển’’.

Thưa …

Lần nữa chúng tôi xin nhắc lại điều vẫn nói cùng nhau những dịp này: Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh luôn nhận thức chính sự nghiệp và uy tín của những người nhận giải làm nên uy tìn và độ tin cậy cao của Giải. Xin trân trọng cám ơn các vị tân khoa của Giải 2018 vì điều đó, xin cám ơn các nhà khoa học và các nhà văn hóa đã sáng suốt đề cử và phản biện giúp chúng tôi trong quá trình làm giải. Xin cám ơn và xin chúc sức khỏe tất cả quý vị có mặt hôm nay.

—o0o—

Dâng hương tưởng nhớ học giả Thượng Chi – Phạm Quỳnh nhân dịp Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vừa tôn vinh Cụ là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời kỳ hiện đại

Ngày 13-4-2018 tức 28-2 Mậu Tuất, nhân tiết thanh minh, gia đình học giả Phạm Quỳnh, danh nhân văn hoá Việt Nam thời kỳ hiện đại, đã tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ Cụ tại khu mộ Cụ ở thành phố Huế.

Tham gia buổi lễ có 14 cháu, chắt, chút nội ngoại của Cụ đến từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đến dự còn có ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên- Huế. (Tin và ảnh của Nhà giáo Nhân dân Tôn Thất Thân)

 

Tháng Ba 25, 2018

Thư của chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

Thư của Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên ngày 7/2/2018

GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH (LẦN XI, 2018)

 Anh Phạm Tuyên kính mến,

Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, do bà Nguyễn Thị Bình đứng đầu, thành lập và hoạt động đã hơn mười năm nay, hằng năm vẫn có một giải thưởng được trao cho những nhân vật có thành tựu đặc sắc trong các lĩnh vực Nghiên cứu, Dịch thuật, Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục, Việt Nam học (dành riêng cho người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam). Từ bốn năm nay, chúng tôi còn có thêm hạng mục Tôn vinh các danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại, mà chúng tôi giới hạn về mặt thời gian từ khi có chữ quốc ngữ – từ cuối thế kỹ 19 cho đến năm 1945 (trước đó thì đã được lịch sử khẳng định, sau đó thì đã do nhà nước xác nhận). Trong bốn năm qua, ngoài hai vị tiền bối là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, chúng tôi đã tôn vinh được các danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, được dư luận rộng rãi tán thành và hoan nghênh. Năm nay, chúng tôi mong muốn được tôn vinh Cụ Phạm Quỳnh mà chúng tôi luôn nghĩ là một nhân vật hết sức xứng đáng. Chúng tôi rất mong anh và gia đình vui lòng chấp nhận đề xuất chân thành này của chúng tôi.

Lễ trao giải và tôn vinh, như thường lệ, sẽ diễn ra vào ngày 24-3-2018, đúng ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh, vào lúc 18 giờ 30 tại khách sạn REX Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin kính mời anh và các vị trong gia đình có điều kiện đến dự buổi lễ trang trọng này. Chúng tôi cũng xin đề nghị anh thay mặt gia đình có một diễn từ phát biểu trong dịp này, tập trung chủ yếu nói về những đóng góp to lớn về văn hóa của Cụ Phạm, và tinh thần yêu nước sâu sắc của cụ. Vì nội dung phong phú và thời gian có hạn của buổi lễ, chúng tôi xin đề nghị diễn từ cố gắng cô đọng trọn vẹn trong khoảng trên dưới 1000 từ.

Theo đúng điều lệ Giải, mọi thông tin về Giải đều được giữ kín cho đến khi chính thức công bố.

Đã lâu không được gặp anh, tôi mong anh vẫn luôn mạnh khỏe và có nhiều sáng tạo mới.

Xin cám ơn anh rất nhiều,

Quý mến,

Ngày 7 tháng 2 năm 2018

Hội đồng khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh

Chủ tịch

(Đã ký)

      NGUYÊN NGỌC

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

  • Trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2018

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh vừa được xướng tên tại buổi lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đêm 24-3 ở nội dung Dự án tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên (phải) thay mặt cha là Phạm Quỳnh nhận tôn vinh từ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Ảnh: L.ĐIỀN

Như vậy là tiếp theo 5 vị danh nhân vừa được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh tại dự án nói trên gồm: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi; Phạm Quỳnh (1892-1945) được xếp tên vào “ngôi đền online” do Quỹ Phan Châu Trinh lập ra, nơi sẽ tập hợp các thông tin về tiểu sử của các nhà văn hóa được vinh danh, các tác phẩm, các bài viết nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu về các nhà văn hóa này.

Một người yêu nước không thể lay chuyển

Trong diễn từ vinh danh, nhà văn Nguyên Ngọc – chủ tịch hội đồng khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – đã dùng cụm từ “một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước không thể lay chuyển” dành cho Phạm Quỳnh.

Cũng trong phần nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đời Phạm Quỳnh, tài năng và những đóng góp lớn lao cho văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam được nhắc lại.

“Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa Trường Thành chung bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm.

Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mù chữ nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt.

Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: “… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm””.

Đặt Phạm Quỳnh trước sự lựa chọn chữ quốc ngữ Latin trước buổi đầu làm quen với phương tiện ngôn ngữ do “người Tây” chỉ dạy, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh cho rằng “lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực”.

Chính điều này đặt ra nhu cầu phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại.

Và đấy là một công việc khổng lồ. Phạm Quỳnh đã dành cả đời mình để dấn bước vào công việc ấy.

“Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập” – nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.

Ghi nhận đóng góp của Lữ Phương, Phan Cẩm Thượng, Dương Thụ

Năm nay, hạng mục Nghiên cứu của giải trao cho hai cá nhân: nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng và nhà nghiên cứu Lữ Phương.

Có lẽ điểm đặc biệt của Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần này là vinh danh Lữ Phương ở lý do “vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx”.

Giải văn hóa Phan Châu Trinh cũng ghi nhận những đóng góp của Lữ Phương từ những năm 1960 ở Sài Gòn, khi ông là cây bút chủ lực của tạp chí Tin Văn – một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang.

Cùng nhận giải Nghiên cứu năm nay là nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng “vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian”.

Giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh “vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công kỹ nghệ”, và trao cho nhạc sĩ Dương Thụ “vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa”.

Giải Dịch thuật trao cho dịch giả Nguyễn Tùng “vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học”.

Giải Việt Nam học được trao cho hai nhà nghiên cứu Daniel Hémery và Pierre Brocheux “vì thành tựu đặc sắc về Việt Nam học”. Đây là hai nhà sử học Pháp thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa.

Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng, đặc biệt là cả hai có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung: Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954 (Indochine, une colonisation ambiguë) từng được nhà nghiên cứu Philippe Papin đánh giá cao.

Từng bước canh tân văn hóa

Năm nay là lần thứ 11 Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng như một hoạt động thực hiện sứ mệnh “góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”, kế tục tinh thần canh tân mà nhà văn hóa Phan Châu Trinh khởi xướng từ 100 năm trước.

Sau 10 lần trao giải, các cá nhân được tôn vinh đều là những cá nhân xuất sắc trong học giới, là những người “không quản gánh nặng đường xa” đóng góp vào con đường khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh bằng chính những công trình thiết thực của mình.

LAM ĐIỀN

Nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động khi bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

NS Phạm Tuyên xúc động khi thay bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

(Bài thu từ Phunuonline.com.vn ngày 25/3/2018)

Với những cống hiến to lớn trong công tác giáo dục, cố học giả Phạm Quỳnh – cha ruột nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã trở thành nhân vật thứ 6 được vinh danh tại lễ trao giải Văn hoá Phan Châu Trinh 2018.

Tiếp nối sự thành công của 10 mùa giải trước, lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ XI -năm 2018 đã được long trọng diễn ra vào tối ngày 24/03 tại TP.HCM với sự tham dự của nhiều lãnh đạo các cấp, cơ quan ban ngành, đoàn thể và các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa…

Đây là hoạt động được tổ chức thường niên của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018 tôn vinh các cá nhân xuất sắc nhận giải thưởng ở 4 hạng mục giải thưởng gồm: Vì Sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục (giải thưởng trao cho những người Việt hoặc người nước ngoài có những công trình văn hóa xuất sắc hay những hoạt động văn hóa – giáo dục xuất sắc tại Việt Nam); Nghiên cứu (hạng mục này dành cho những người Việt, không kể quốc tịch, có những công trình nghiên cứu xuất sắc); Dịch thuật (trao cho những người có những công trình dịch thuật xuất sắc nhằm góp phần chấn hưng văn hóa, khoa học và giáo dục, được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt); Việt Nam học (trao cho những người nước ngoài có những công trình nghiên cứu xuất sắc về Việt Nam hoặc có những công trình dịch thuật xuất sắc, dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài). Đặc biệt, BTC còn vinh danh vị Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại, là cố học giả – nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Cố học giả Phạm Quỳnh (1893 -1945) là cha ruột của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lúc sinh thời ông là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và là quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Việc ông được vinh danh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại thứ 6 trong lịch sử giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh khiến không ít người có mặt tại buổi lễ trao giải xúc động. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn khi đọc quyết định công bố kết quả đã không kiềm được cảm xúc.

Thay mặt người cha quá cố lên nhận giải thưởng cao quý, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã không nén được sự xúc động trước tình cảm và sự kính trọng mà xã hội, đất nước đã dành cho cha ông. “Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20. Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam”, nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ.

Nhà văn Nguyên Ngọc Luôn dành sự kính trọng khi nhắc về Phạm Quỳnh, nhà nghiên cứu văn hóa kiêm Ủy viên HĐ quản lý Quỹ kiêm Chủ tịch HĐ khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Nguyên Ngọc chia sẻ: “Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước “không thể lay chuyển”.

Cố học giả Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng khi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ từ năm 16 tuổi, là viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng và tự học chữ Nho đến mức uyên thâm”.

Trước cố học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn hóa sau đã được vinh danh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại như: Danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Danh nhân văn hóa Phan Châu Trinh (1872 – 1926), Danh nhân văn hóa Phan Bội Châu (1867 – 1940), Danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Danh nhân văn hóa Phan Khôi (1887-1959).

Bài và ảnh Thanh Hương

—-o0o—

Giải thưởng Phan Châu Trinh 2018 tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

( Bài trang 8 báo Thanh Niên ngày 25/3/2018)

Tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 11 diễn ra tối 24.3 tại TP.HCM, nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1893 – 1945) đã được vinh danh là Danh nhân văn hóa VN thời hiện đại.

Năm danh nhân văn hóa từng được vinh danh trước đây là Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Khôi. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 90 tuổi, con trai nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã thay mặt gia đình lên nhận giải và đọc diễn từ.

Ngoài ra, các giải thưởng chính của năm nay gồm: giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục (2 giải) được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công – kỹ nghệ, và cho nhạc sĩ Dương Thụ vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa.

Giải Dịch thuật được trao cho dịch giả Nguyễn Tùng vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học. Giải Nghiên cứu (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Lữ Phương vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx, và cho nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian. Giải Việt Nam học (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Daniel Hémery và nhà nghiên cứu Piere Brocheux vì những thành tựu đặc sắc về Việt Nam học.

Lễ trao giải được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao hằng năm nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục VN.

Lucy Nguyễn

Bài phát biểu của Nhạc sĩ Phạm Tuyên tại lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh về Nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

TẠI LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH

VỀ NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.  Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, cuốn sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng khiêm tốn, nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh.

Sau đó 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên.

Trước đó 4 năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học  do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu.

Năm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh ,chính thức được bán và quảng bá tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3  năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932,. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước

            Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút.

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết  và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết.

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Giải thưởng Văn hóa Pham Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20.

Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam.

Tháng Ba 14, 2018

Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí trong từ điển bách khoa và từ điển văn học bộ mới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

 PHẠM QUỲNH VÀ NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA VIỆT NAM

  Lời dẫn của Phạm Tôn: Một trong những thành tựu đáng tự hào của công cuộc Đổi Mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là sự ra đời của bộ Từ Điển Bách Khoa Việt Nam đầu tiên, đồ sộ gồm tới hơn 4000 trang, chia làm bốn tập:

–          Tập 1, 964 trang do Trung Tâm Biên Soạn Từ Điển Bách Khoa xuất bản năm 1995,

–          Tập 2, 1040 trang do Trung Tâm Xuất Bản Từ Điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002,

–          Tập 3, 880 trang, cũng do trung tâm trên xuất bản năm 2003

–          Và tập 4, tập cuối, 1172 trang, cũng do trung tâm này xuất bản năm 2005.

Là một thành tựu của đổi mới, cho nên trong tập 3 (từ vần N đến vần S) đã có mục Phạm Quỳnh, và mục Nam Phong. Lại còn có mục Pháp Việt Đề Huề.

Chúng tôi xin sao y bản chính các mục đó ra sau đây để bạn đọc tiện tham khảo.

  1. Phạm Quỳnh (trang 398, tập 3)

Phạm Quỳnh (hiệu: Thượng Chi; bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân; 1892-1945), đại thần triều Nguyễn. Quê: làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tốt nghiệp Trường Thông Ngôn. Làm việc ở Trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội. Từ 1917, chủ bút Tạp chí“Nam Phong”(x. Nam Phong). Tuyên truyền chủ trương “Pháp-Việt đề huề” (x. Pháp Việt đề huề). Những năm 1924-32, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội. Cuối 1932, vào Huế phụ trách Văn Phòng của Bảo Đại, thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ Lại của triều đình Huế. Tác giả và dịch giả một số sách văn học, triết học và tùy bút của một số tạp chí.

  1. Nam Phong (trang 29, tập 3)

“Nam Phong”, tạp chí xuất bản hằng tháng ở Hà Nội những năm 1917-34. Thành lập theo chủ trương của Toàn quyền Pháp Anbe Xarô (Albert Sarraut). Phạm Quỳnh làm chủ bút, phụ trách phần tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ; phần chữ Hán do Nguyễn Bá Trác đảm nhận. Từ 1922 trở về sau có thêm phần tiếng Pháp.

Mục đích của tạp chí là tuyên truyền chính sách bảo hộ và đề cao công cuộc “khai hóa” của Pháp ở Việt Nam. Tạp chí mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội và văn hóa-văn minh của Việt Nam và thế giới. Về văn học, “NP” chuyên về biên khảo, dịch thuật và giới thiệu sáng tác mới. Có các mục Văn uyển, Tiểu thuyết, Văn học bình luận-cung cấp cho độc giả một số kiến thức khái quát về văn học, triết học, lịch sử, địa lí; bước đầu giới thiệu văn học cổ Việt Nam bằng chữ Hán qua các triều đại; dịch ra quốc văn một số tác phẩm văn học có giá trị như thơ văn thời Lý-Trần, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, “Thượng Kinh kí sự” của Lê Hữu Trác và nhiều tác phẩm thơ văn cổ khác. Trong xu thế đề cao tinh thần “bảo tồn cổ học”, “dung hòa Đông Tây”, tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hóa và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.

  1. Pháp Việt đề huề (trang 421, tập 3)

Pháp-Việt Đề Huề chủ trương chính trị do thực dân Pháp đưa ra trong Chiến tranh thế giới I. Mục đích chính nhằm kêu gọi sự hợp tác Pháp-Việt để bảo đảm sự ổn định chính trị và huy động sức người, sức của của Việt Nam phục vụ chiến tranh đế quốc. Một số cá nhân và tổ chức chính trị thân Pháp tuyên truyền ủng hộ chủ trương này. Báo “Nam Phong” của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”. Nguyễn Văn Vĩnh và Bùi Quang Chiêu cũng hoạt động theo tinh thần đó. Thực dân Pháp cử người sang Trung Quốc vận động Phan Bội Châu ủng hộ chủ trương nói trên. Tương kế tựu kế, Phan Bội Châu viết bài “Pháp Việt đề huề chính kiến thư” yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho Việt Nam, thực tâm giúp Việt Nam tiến bộ văn minh (Năm 1925 tạp chí Nam Phong đã đăng bài viết của Phan Bội Châu trong phần chữ Hán của tạp chí-PT chú). Toàn quyền Anbe Xarô (Albert Sarraut) đã bác bỏ những yêu cầu đó. Sau này, được hỏi về lý do viết bài nói trên, Phan Bội Châu trả lời:

“Đề huề chi mà đề huề

Oán thù ta hãy còn sâu

Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què”.

 *

*       *

PHẠM QUỲNH NHÓM NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Thành tựu lớn về văn hóa của nước ta sau đổi mới là việc xuất bản bộ Từ điển Bách Khoa đồ sộ 4 tập, gồm hơn 4.000 trang, ra mắt bạn đọc từ năm 1995 đến năm 2005. Trong đó, có hai mục Phạm Quỳnh (Trang 398, tập 3) và Nam Phong (Trang 29, tập 3).

Một thành tựu lớn nữa là sự ra đời của Từ điển Văn học (Bộ mới) không kém đồ sộ với 2.300 trang do Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản năm 2004. Trong Lời nói đầu,  Ban Chủ biên Từ điển Văn học (Bộ mới) đã viết:

LỜI NÓI ĐẦU

Vào khoảng đầu những năm 80 thế kỷ XX, nhằm đáp ứng yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới của đông đảo bạn đọc, bộ Từ điển Văn học (hai tập) được Nhà xuất bản Khoa học xã hội lần lượt cho ra mắt (tập I, 1983, tập II 1984). Bộ sách đã được sự đón nhận nồng nhiệt của dư luận rộng rãi trong và ngoài nước, ghi một dấu mốc cho loại sách công cụ chuyên ngành về khoa học xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả hơn bảy năm biên soạn của một tập thể 56 nhà khoa học ngữ văn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu. Giáo sư Chủ biên đã tổ chức một Ban Biên tập gồm chín người: Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Khắc Phi, Phùng Văn Tửu, Phương Lựu, Trần Hữu Tá, Trần Đình Việt, Hoàng Trường phụ trách từng bộ phận chuyên môn của từ điển, trong đó Nguyễn Huệ ChiPhùng Văn Tửu giữ vài trò thường trực.

Sau khi sách xuất bản được ít lâu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã đề xuất việc tái bản. Tuy vậy, Ban Biên tập trao đổi ý kiến, quyết định hoãn lại một thời gian để sưu tầm thêm tư liệu, bổ sung, sửa chữa, nâng cấp bộ sách lên một bước căn bản, phù hợp với hoàn cảnh đổi mới của đất nước và phục vụ bạn đọc tốt hơn. Bộ phận thường trực phân công bổ sung danh mục từ cho bộ sách, mời thêm người cộng tác, đồng thời thông báo đến toàn thể tác giả biên soạn từ điển để mỗi người xem xét, chỉnh lý lại phần đã viết của mình.

Đến nay, sau hơn mười năm làm việc, Từ điển văn học (bộ mới) đã hoàn thành. So với bộ sách cũ (1.117 trang) thì bộ mới có dung lượng lớn hơn nhiều (2.300 trang). Về kết cấu, tuy vẫn bao gồm bốn bộ phận: tác gia, tác phẩm, tổ chức và hoạt động văn học, thuật ngữ văn họcnhưng bộ phận nào, số lượng mục từ cũng phong phú hơn hẳn trước; nhiều mục từ cũ được chỉnh sửa hoặc viết lại theo những nguồn tư liệu mới. Ở từng mục từ, tính chuyên sâu và tính phổ cập cùng lúc được nâng cao (…)

Khi bắt tay tiến hành Từ điển văn học (bộ mới), do hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân, Ban Biên tập cũ không có điều kiện tiếp tục đảm nhiệm công việc. Mặt khác, do sức khỏe có phần suy giảm, Giáo sư Chủ biên đã chủ động đề nghị bổ sung ba Chủ biên mới là Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá để cùng ông tổ chức, điều hành việc biên soạn. Ban Chủ biên mời thêm hai tác giả Đặng Thị Hảo, Vũ Thanh làm Thư ký thường trực. Bộ sách được sự cộng tác nhiệt tình của 58 tác giả và 48 cộng tác viên; riêng phần ảnh, ngoài tác giả Nguyễn Du Chi còn có sự cộng tác của 18 vị; tổng cộng là 125 người- gồm tất cả những người góp mặt từ lần in trước và những người mới tham gia trong lần biên soạn này. Hầu hết họ là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành thuộc nhiều Trường đại học, Viện nghiên cứu trong cả nước và các nhiếp ảnh gia thuộc một số cơ quan báo chí. Thời gian biên soạn kéo dài nên có mười một tác giả đã từ trần mà không kịp nhìn thấy thành phẩm. (…) Ngay trong những ngày bộ sách đang hoàn chỉnh những trang cuối thì vị Chủ biên kỳ cựu, giáo sư Đỗ Đức Hiểu, cũng không chờ đợi được mà qua đời sau một cơn bệnh kéo dài. Việc công bố ấn phẩm Từ điển văn học (bộ mới) xin được xem như một kỷ niệm thiêng liêng để tập thể tác giả không quên công lao những thành viên đã đóng góp sức lực vào bộ sách cho đến hơi thở cuối cùng (…)

Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2003.

Ban Chủ biên

TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Đáng ghi nhận là trong Từ điển Văn học do Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, xuất bản năm 1984 chỉ có 1 mục từ Nhóm Nam Phong (từ trang 121 đến trang 123) do Nguyễn Phương Chi viết mà không có mục từ Phạm Quỳnh. Trong mục từ đó viết: “(…) Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác… là những kẻ bồi bút phản động” (PT nhấn mạnh). Từ điển Văn học (Bộ mới) có mục từ Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết, và còn có từ mục Nhóm Nam Phong, vẫn do Nguyễn Phương Chi viết, nhưng quan điểm đã đổi mới hẳn.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi sinh ngày 14/7/1938, quê ở làng Đông Thượng, huyện Can Lộc Hà Tĩnh, là giáo sư ngành ngữ văn và hội viên hội Nhà văn Việt Nam từ 1984. Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa I khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia hoạt động báo chí (1960-1961) và từ 1962 là cán bộ nghiên cứu tại Viện Văn học, làm trưởng ban Nghiên cứu văn học Cổ – Cận của viện.

Một số tác phẩm đã xuất bản: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam. Thời kỳ cổ-cận đại (tiểu luận, 1983), Hoàng Ngọc Phách-đường đời và đường văn (chuyên khảo, sưu tầm, tuyển chọn, 1966)… Viết chung trong các tập Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (nghiên cứu, 1967), Từ điển Văn học (nghiên cứu và biên soạn, hai tập, 1983, 1984)… Chủ biên: Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa của dân tộc (nghiên cứu, 1981), Thơ văn Lý-Trần (sưu tầm, nghiên cứu, dịch, nhiều tập, 1977 và 1989) Suy nghĩa mới về Nhật ký trong tù (Nghiên cứu, 1990-1993), Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ (Chuyên khảo, 1992 – 1994).

Sau đây, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn hai mục từ trong Từ điển văn học (Bộ mới): 1) Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và 2) Nhóm Nam Phong do Nguyễn Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272).

*

*       *

1. Phạm Quỳnh

(17.XII.1892-20.VIII.1945). Nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam, hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, sinh ở Hà-nội, quê quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Bố là nhà Nho dạy học. Mồi côi mẹ lúc chín tháng tuổi, lên chín tuổi lại mồ côi cha, được bà nội nuôi cho ăn học. Thuở nhỏ học Trường tiểu học Pháp Việt, sau đó vào học Trường trung học bảo hộ (tức Trường Bưởi) Hà Nội. 1908, đỗ đầu bằng Thành chung, được bổ làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ (Ecole Francaise d’Etrême Orient) ở Hà-nội. Từ 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, có nhiều bài báo được mọi người chú ý. 1917, nhận lời làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí do Macty (Louis Marty) sáng lập. 1922, được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức mà ông là sáng lập viên kiêm Tổng thư ký, dự Hội chợ triển lãm Macxây (Marseille). Đến Macxây rồi lên Paris ở ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả ở Ban Chính trị và Luân lý của Viện Hàn lâm Pháp. Trở về, tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924, bị Ngô Đức Kế phản ứng mạnh mẽ. Cổ xúy việc xây dựng một nền giáo dục quốc gia, đề nghị người Pháp thiết lập bậc tiểu học bằng tiếng Việt ở Đông Dương. 1924-32, được cử làm Giảng sư Khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại Trường Cao đẳng Hà Nội. 1925-28, làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. 1929, được cử vào Hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương. Đề xướng thuyết lập hiến, giữ lại chế độ phong kiến ở Bắc và Trung Kỳ, có sự quy định rõ ràng bằng hiến pháp quyền của dân, của vua quan và của bảo hộ. 1932, Pháp đem Bảo Đại (1913-1997)về nước thay Khải Định (1882-1925), dự định thay đổi ít nhiều hình thức cai trị, ông được cử giữ chức Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Giáo dục, sau đó là Thương thư Bộ Lại (1942). 1939, việc cải cách chính trị không thành, cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả lại Bắc Kỳ cho Triều đình Huế theo đúng hiệp ước 1884 nhưng không đạt kết quả. Tháng Ba 1945, Nhật đảo chính Pháp, tuyên bố trả chủ quyền cho Nam triều. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, Phạm Quỳnh rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt ở Huế ngày 23.VIII.1945 rồi vài ngày sau qua đời ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Phạm Quỳnh là một người gắn bó với các chủ trương chính trị của Pháp giai đoạn kết thúc Đại chiến I, với tờ Nam phong tạp chído Chánh mật thám Macty điều khiển. Cũng như Nguyễn Văn Vĩnh, ông không chấp nhận các phong trào bạo động chống Pháp của lực lượng yêu nước. Nhưng giọng ông không gay gắt như Nguyễn Văn Vĩnh mà ôn hòa hơn. Ông tuyên bố không làm chính trị, chỉ làm văn hóa. Về mặt chính kiến, do xuất thân từ một gia đình phong kiến nề nếp lâu đời, ông cũng không bài xích chết độ phong kiến, muốn giữ nó cùng với đạo Nho cổ truyền mà ông cho là có nhiều mặt tích cực và đã thấm vào linh hồn tư tưởng dân tộc. Tất nhiên, ông cũng nhìn thấy những lề thói cổ hủ do chế độ phong kiến để lại, nào là lối học hư văn, tầm chương trích cú, “cái học nhai lại những bã rác của cổ nhân, không sáng lập ra được tư tưởng gì mới, cái học đưa đến nước bại dân suy”, nào là sự suy vi về đạo đức, thói cúi luồn nịnh bợ trước kẻ thống trị nước ngoài, nào là tục thờ cúng nhảm nhí của dân chúng “hễ lạy được nhiều là được nhiều phúc, nên tranh nhau mà cầu lạy, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương”… Nhưng mặc dù thế, theo ông trong xã hội Việt Nam vẫn còn những phần đáng được bảo tồn, đó là quốc túy của đất nước. Trong bài văn điếu Nguyễn Bá Học ông có dịp nói rõ:” Nay xét thân thế cụ mới biết quốc túy chính là ở đó, quốc túy chính là cái đạo tu thân xử thế của các bậc hiền nhân quân tử nước nhà, quốc túy chính là cái cách căng trì cẩn thủ, sửa mình, ở đời, làm sao cho khỏi thẹn với người trước, làm sao cho thực hành được cái lý tưởng đạo đức của các bậc thánh hiền trong nước vậy”. Khi diễn thuyết trước Viện Hàn lâm Pháp, ông cũng nói dân tộc Việt-nam không phải là một tờ giấy trắng mà là một tờ giấy đã có chữ, không thể muốn viết lên đó bất cứ điều gì theo ý ai cũng được. Vì thế, ông chủ trương điều hòa bảo thủ với tiến hóa, bởi tiến hóa “là cái thế hiển nhiên” “cả cõi Á Châu như bị lôi cuốn vào trong làn sóng đó, muốn đi trái ngược lại thì thật là vô ý thức”, nhưng lại phải điều phối sao cho “giữ được tuần tự êm đềm, không đến nỗi nhất đán thay đổi cả những phong tục tập quán, tư tưởng chế độ, khiến cho cuộc sinh hoạt ở trong dân trong nước bị đảo điên nhiễu loạn cả”. Và đó là mục tiêu gầy dựng một chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh, nhằm lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại cái hồn dân tộc: “Cái nông nỗi mất nước của ta chính là một tấn kịch nhỏ trong cái đại bi kịch Đông Tây xung đột nhau. Tây phương đem lại cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại, những cơ khí tối tân, mà tràn ngập sang Đông phương trong khoảng một thế kỷ nay làm cho các dân tộc Đông phương thất điên bát đảo, bảy nổi ba chìm, đến nay còn tê mê chưa tỉnh sự đời.” Nhưng “cái nông nổi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi, lại kèm thêm một vấn đề văn hóa nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng. […] Xưa kia có nước mất song hồn hãy còn, mà hồn vẫn còn thời nước không đến nỗi mất hẳn, nay có khác là nước đã mất mà hồn cũng thoi thóp thời nguy hiểm ấy biết là dường nào”. Trên tạp chí Nam phong Phạm Quỳnh cố gắng làm công việc dịch thuật, truyền bá cho công chúng những tinh hoa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đồng thời cũng giới thiệu cả những di sản tinh thần của cha ông như đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, ca dao tục ngữ… cả những áng văn chương cổ điển quý giá mà các cộng sự của ông đã cố gắng chọn lựa và phiên âm ra tiếng Việt trong kho sách của Trường Viễn đông bác cổ. Chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh bao hàm các hệ tư tưởng nói trên mà theo ông có thể rút được những nét tinh túy, cũng bao hàm cả ngôn ngữ dân tộc, tiếng và chữ quốc ngữ, nó chính là tinh hoa của người Việt được nhiều đời vun đắp mà thành, trong đó có nền văn chương tiếng Việt với những tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều, là linh hồn của đất nước, phải ra công giữ gìn : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” . Phạm Quỳnh đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của tầng lớp sĩ phu cũng như nhiều thanh niên tân học yêu nước buổi ấy, cho rằng ông đã lái tầng lớp trí thức đi chệch khỏi đường ray chân chính là làm cách mạng chống Pháp để tự ru ngủ mình trong cái “hồn nuớc” mơ hồ do ông nêu ra. Chủ nghĩa lập hiến của ông muốn thay đổi bộ máy quan lại Nam triều già nua bằng một lớp quan lại tân tiến cũng không có cơ sở để đứng vững, bị Nguyễn Văn Vĩnh kịch liệt phản đối, gây nên một cuộc tranh luận náo nhiệt trên nhiều tờ báo, nhưng xét cho cùng, lập hiến hay trực trị đều không đi ra ngoài vòng tay của chế độ thuộc địa.

Trên 210 số báo Nam phong Phạm Quỳnh đã viết rất nhiều và về nhiều loại. Về dịch thuật có Phương pháp luận của Đêcac (Décartes), Sách cách ngôn của Êpitet (Épictete thế kỷ I), Mác-Ôrelơ (Marc Aurèle), Đời đạo lý  của Cactông (P.Carton), thơ của Bôđơle, truyện ngắn của Cuôctơlin (G. Courteline, 1860-1928), Môpaxăng, Lôti (Loti, 1850-1923), Tuồng Lôi xích (Le Cid) và Tuồng Hòa lạc (Horace) của Cornây, hài kịch Chàng ngốc hóa khôn vì tình  trong bộ kịch của Marivô. Về khảo luận có: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lý học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết của Ruxô, Môngtexkiơ, Vônte, Triết học Ôguyxtơ Côngtơ (Auguste Comte, 1798-1857), Triết học Becxông (H.Bergson,1859-1941), Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của Buôcgiê (P. Bourget,1852-1935), Borđô (H.Bordeaux,1870-1963), Môpaxăng, Vinhi… Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn… Về văn du ký có: Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam-kỳ, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật truyện du lịch Pari, du lịch xứ Lào. Những sách viết bằng tiếng Pháp: L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne (Lý tưởng người hiền trong triết học Khổng giáo, 1928), Le paysan tonkinois à travers le parler populaire (Người nông dân Bắc Kỳ qua lời ăn tiếng nói dân gian, 1930), Poésie annamite (Thơ An-nam, 1931), Essai Franco-annamites (Tiểu luận Pháp-Việt, 1937),… Nhiều bài viết của ông đã được tập hợp trong hai bộ Nam phong tùng thưThượng Chi văn tập 5 tập (NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943). Ngoài ra, ông còn góp phần xây dựng cuốn Việt Nam tự điển do Hội Khai Trí tiến đức biên soạn gồm 10 soạn giả, nhưng chỉ mới ra được tập I (1932).

Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dich thuật hay trước tác ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng như Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát, luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (chẳng hạn bài viết về Lễ tế Nam giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế, dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết…nói riêng. Những kiến giải của ông so với ngày nay phần nào đã tỏ ra đơn giản, ít còn ai chú ý, nhưng đương thời là những ý kiến  mới mẻ. Bàn về tiểu thuyết ông đi vào cả kết cấu thể loại và cố gắng đưa ra một bẳng phân loại thích hợp với cả tiểu thuyết Đông và Tây, kim và cổ. Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được những phạm trù trừu tượng như tư tưởng, tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng việt qua thời Nam phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông-dương tạp chí, nhưng chính là với trường đào luyện của Nam phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-45, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.

 Nguyễn Huệ Chi

­

2. Nhóm Nam Phong

Nhóm trí thức Việt Nam tập hợp xung quanh tờ Nam Phong tạp chí xuất bản trong thời gian 1917-1934 tại Hà Nội. Gọi là nhóm, nhưng thực tế số người cầm bút viết cho tờ Nam Phong rất đông. Tờ tạp chí do Phạm Quỳnh làm Chủ bút, thu hút được nhiều trí thức là do nhiều nguyên nhân: việc bãi bỏ chế độ khoa cử cũ (1919) đã gây ra không ít xáo trộn trong hàng ngũ các nhà Nho. Trí thức Việt Nam thời bấy giờ đa số được đào tạo từ cái lò Nho học; nhưng Nho học đang mạt vận, các nhà Nho không còn chỗ để thi thố tài năng. Khi Phạm Quỳnh đưa ra chủ trương “bảo tồn cổ học”, “quốc túy”, “dung hòa Đông Tây”, họ cảm thấy đây là nơi ít nhiều có thể giúp mình “thế thiên hành đạo”; “quốc hồn”, “quốc túy” cũng xoa dịu tính tự ái của những kẻ có đầu óc bài Tây nhưng bất lực, yếu đuối. Còn khẩu hiệu “làm văn hóa không làm chính trị” thì sẽ làm cho hoạt động chính trị của tờ báo bớt lộ liễu, và khiến Pháp bằng lòng. Chính vì vậy, hàng loạt cây bút Nho học đã đến với Nam Phong tạp chí, giữ các mục “Văn uyển”, “Tiểu thuyết”, “Văn học bình luận”… và đem lại cho tờ báo cái “phong vị ngôn ngữ” cũng như “tinh thần Hán học”: Dương Bá Trạc, Nguyên Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư…Về sau, một số người vừa có Tây học vừa có Hán học, hoặc chỉ có Tây học, cũng ra cộng tác với Nam Phong: Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng, Đồ Đình Thạch…Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, có một phần viết bằng chữ Hán, và từ 1922 trở đi còn thêm một phần chữ Pháp. Mục đích trực tiếp của tờ báo là thay chân Đông Dương tạp chí tuyên truyền, giải thích chính sách của Pháp ở Đông Dương sau Đại chiến I, cổ vũ công việc “khai hóa” của Pháp. Ba nhân vật quan trọng đóng vai trò sáng lập tờ báo là: Macty (Louis Marty), trùm mật thám Pháp ở Phủ Toàn quyền lúc ấy, rồi đến Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (?-1945). Hai người sau cũng chính là những cây bút chủ chốt của Nhóm Nam Phong. Phạm Quỳnh viết nhiều, dịch nhiều về tất cả các vấn đề chính trị, văn học, lịch sử, triết học…nhưng không chuyên sâu một vấn đề gì, mà gặp đâu bàn đấy, nhằm giới thiệu những kiến thức phổ quát của văn hóa văn minh “Thái Tây” cho công chúng độc giả đọc Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ. Phạm Quỳnh tán dương chính sách “khai hóa” của Pháp, nhưng cũng chủ trương “bảo tồn quốc túy”. “Quốc túy” mà ông quan niệm là tinh thần và đạo lý phương Đông đã tồn tại trên đất nước ta hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là Nho, Phật, Lão. Trong bài Nước Nam trong 50 năm nữa Phạm Quỳnh viết: “Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng cái đạo Khổng khôn ngoan kia, cái đạo Lão siêu việt kia… có ngày biến mất hẳn đi được”. Phạm Quỳnh cũng chủ trương bảo tồn tất cả các tôn giáo đã từng tồn tại trong đời sống tư tưởng tình cảm của người Việt và ông trách cứ các nhà Nho là quá thực tế, là “vô thần”. Trên tờ Nam Phong Phạm Quỳnh còn ra sức cổ động cho “chủ nghĩa quốc gia”. Theo ông muốn xây dựng quốc gia phải bắt đầu từ đấu tranh xây dựng văn hóa, việc này cần thiết hơn đấu tranh chính trị. Để xây dựng văn hóa, cần phải gia nhập vào văn hóa Âu Tây, vì vậy, tờ Nam Phong đã dịch nhiều tác phẩm cũng như luận văn về văn học, văn hóa phương Tây. Để xây dựng quốc gia, phải bảo tồn, phát triển tiếng Việt: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”. Để phục vụ “chủ nghĩa quốc gia” một cách hữu hiệu, Phạm Quỳnh hô hào xây dựng một nền văn học mới, xây dựng “quốc học”, phát triển “quốc văn”, vận động mọi người học tiếng Việt. Chủ trương này được Pháp ủng hộ. Nguyễn Bá Trác, nhân vật thứ hai, từng tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, sau trở về làm công chức cho Pháp. Ở thời kỳ đầu của tờ tạp chí, Nguyễn Bá Trác phụ trách bài vở phần Hán văn, nhưng sau đó, ông bỏ vào Huế nhận một chức vụ của Nam triều, trao phần chữ Hán lại cho Lê Dư. Một trong những trụ cột nữa của báo Nam Phong là Nguyễn Hữu Tiến. Ông viết bài ngay từ những số đầu và có mặt trong suốt 17 năm tồn tại của Nam Phong. Trong khi Phạm Quỳnh chuyên về học thuật Tây phương, thì Nguyễn Hữu Tiến lại chuyên về học thuật Đông phương. Ông đã dịch Vũ trung tùy bút  của Phạm Đình Hổ, Danh Thần học (lược dịch Đại Nam liệt truyện), Mạnh Tử quốc văn giải thíchLuận ngữ quốc văn giải thích (cùng với Nguyễn Đôn Phục); đã biên dịch Giai nhân di mặc (Nét mực còn lại của giai nhân), Việt văn hơp tuyển giảng nghĩa, Cổ xúy nguyên âm, và còn viết vở tuồng Đông A song phụng. Nguyễn Hữu Tiến cũng là người viết nhiều bài ký kể lại những cuộc du ngoạn danh lam thắng cảnh của một số người trong Nhóm Nam Phong, ngày nay còn giúp ích cho việc tìm hiểu những di tích nói trên. Bên cạnh Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật cũng là một cây bút biên khảo, dịch thuật thuộc phái cựu học. Ông từng cho công bố trên Nam Phong những bài khảo luận văn hóa phương Đông, những bản dịch văn học cổ của dân tộc như Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác. Sau Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục cũng là một cây bút trụ cột của tờ Nam Phong. Ông viết nhiều, dịch nhiều. Từ 1924 trở đi, ông chuyên viết ký. Cũng như Nguyễn Hữu Tiến, ông thường ghi chép những chuyến đi thăm danh lam thắng cảnh cùng bè bạn. Văn chương ký sự của ông có một phong vị cổ kính đặc biệt. Ngoài những người trên, nhóm Nam Phong còn có nhiều người cộng tác nhưng không thường xuyên, hoặc nửa đường bỏ dở, như Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Nguyễn Tiến Lãng…Phan Khôi và Tản Đà chỉ cộng tác ở thời kỳ đầu. Trần Trọng Kim viết ít và xây dựng các công trình biên khảo của mình độc lập với Nam Phong, Hoàng Ngọc Phách viết các mục “Văn uyển”, “Bình luận văn chương” từ thời kỳ còn ở Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Đông Hồ từ miền cực Nam gửi ra đăng trên Nam Phong những tài liệu quý về Thi xã Chiêu Anh Các, và cùng Tương Phố viết những bài văn sầu thảm khóc vợ, khóc chồng…ghi lại cho văn đàn công khai những giọt lệ héo hắt của người tiểu tư sản thành thị những năm 20 thế kỷ XX. Nguyễn Tiến Lãng, một cây bút Tây học và là con rể Phạm Quỳnh, nhận trông coi tờ tạp chí sau khi Phạm Quỳnh đi làm quan, nhưng cũng chỉ được thêm hai năm, là phải đình bản…

Tóm lại hoạt động của nhóm Nam Phong là sự thực thi một đề án cải lương xã hội trong khuôn khổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Muốn cho xã hội được canh tân nhưng vẫn giữ hình thức một xã hội phong kiến thì phải đổi mới tầng lớp quan lại, cả về học vấn cũng như tư cách cá nhân. Muốn cho xã hội ấy bớt dần ngu muội tối tăm thì phải cải lương những phong tục tập quán từ nghìn xưa để lại, nhất là những hủ tục ăn sâu trong làng xã. Nam Phong đã dành nhiều thì giờ, tâm huyết, nhắn nhủ, khuyên răn, cảnh tỉnh thế giới quan trường, cũng như kêu gọi chấn chỉnh hương tục, cải tạo bộ máy hào lý ở nông thôn… chính là vì lẽ ấy. Muốn cho xã hội này bước vào cuộc cạnh tranh tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ XX mà không bị đào thải thì phải cổ vũ con đường doanh nghiệp, chí làm giàu, tinh thần tiến thủ, học hỏi cái hay cái khéo của người, bỏ bớt cái hư cái hèn của mình, để dìu dắt nhau lên cõi văn minh. Nam Phong đã để nhiều trang ca ngợi tấm gương của các nhà tư bản dân tộc, bền bỉ vượt khó khăn giành thắng lợi trên đường thực nghiệp, như Bạch Thái Bưởi (1874-1932)…cũng vì lẽ ấy. Phải nói, trên nhiều vấn đề và ở một chừng mực nào đấy, tờ tạp chí dường như đã trở lại với những kiến nghị do Đông Kinh nghĩ thục và nhà ái quốc Phan Châu Trinh đề xuất hàng chục năm về trước.

Trừ một ít cá nhân có động cơ chính trị cụ thể, đa số các thành viên trong Nhóm Nam Phong đều đã theo đuổi mục tiêu của tờ báo với một nhận thức hồn nhiên về vai trò khai hóa của nó. Hơn nữa, với một khoảng thời gian 17 năm, với 210 số báo, và với một khối lượng cộng tác viên rộng rãi từ Nam đến Bắc, bản thân tờ báo cũng biến chuyên ít nhiều về phương thức qua mấy giai đoạn, cho nên tính chất không thuần nhất trong hàng ngũ các cây bút thành viên hoặc cộng tác viên và trong nội dung bài vở Nam Phong tạp chí  là dễ hiểu.

Nam Phong tạp chí nặng về biên khảo dịch thuật và sáng tác văn học, vì vậy đối với văn hóa và văn học dân tộc trong một giai đoạn hơn mười năm, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ. Đây là tờ báo gần như duy nhất trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ XX cung cấp cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa lý…phương Đông cũng như phương Tây, một cách hệ thống và liên tục. Phải qua Nam Phong, đạo Nho cổ truyền lần đầu tiên mới được trình bày hệ thống. Cũng phải qua Nam Phong, các áng văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên âm, phiên dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học thuở bấy giờ. Nam Phong cũng là nơi thử thách, rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôi nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận, trong bước chuyển mình của văn xuôi quốc ngữ nước ta. So với Đông Dương tạp chí rõ ràng câu văn Nam Phong thâm thúy hơn, khả năng tư duy trừu tượng cao hơn hẳn, thuật ngữ mới được du nhập và Việt hóa cũng nhiều hơn nhiều. Không phải ngẫu nhiên mà thế hệ trí thức một thời, kể cả những đại biểu xuất sắc của phong trào “Thơ mới” như Xuân Diệu, đã coi Nam Phong như một “trường đào tạo” văn chương quan trọng.

Nguyễn Phương Chi.

Phạm Quỳnh trong từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

PHẠM QUỲNH

trong Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Nguyễn Duy Quý

Lời dẫn cảu Phạm Tôn: Ngày 20/4/2011, nhạc sĩ Phạm Tuyên được Giáo sư Nguyễn Duy Quý đưa cho một trang bản in thử của Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới của Trung tâm dịch thuật (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam) dự kiến sẽ xuất bản trong năm nay. Trang này có mục từ Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) do chính giáo sư biên soạn.

Để cung cấp thêm cho các bạn một tư liệu tham khảo, chúng tôi mạn phép giáo sư đưa lên Blog PhamTon.

—o0o—

Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) (1893-1945): Nhà Văn hoá kỳ tài của Việt Nam, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Hiệu Thượng Chi; bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân. Quê làng Thượng Hồng, Phủ Bình Giang (nay là Làng Lương Ngọc, Xã Thúc Kháng, Huyện Bình Giang, Tỉnh Hải Dương).

Ông sinh ngày 30/1/1893 tại Phố Hàng Trống Hà Nội. Tuổi thơ cậu bé Quỳnh đã sớm mồ côi cha mẹ. Năm 1908, đổ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp trường Thông Ngôn; sau đó đi làm tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, giữ chân thủ thư và thông ngôn. Khi đi làm được hơn một năm, ông lập gia đình. Tháng 7/1917, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Tháng 5/1919, sáng lập và Tổng Thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Những năm 1924-1932, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội; trợ bút báo France Indochine. Năm 1930, đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến. Tháng 11/1932, vào Huế nhận chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng cho Vua Bảo Đại sau lại làm Thượng thư Bộ Học. Tháng 5/1942, chuyển sang làm Thượng thư Bộ Lại.

Tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông từ nhiệm về sống ẩn dật trong Biệt thự Hoa Đường bên sông đào Phủ Cam, vùng An Cựu, Huế. Ở đây, ông dành thời gian suy ngẫm thế cuộc sự đời, viết mấy bài tuỳ bút, chọn dịch lại thơ Đường và muốn trở lại “đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”.

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông bị chính quyền mới bắt ở Huế ngày 23/8/1945; rồi ít ngày sau bị giết ở Làng Hiền Sỹ, Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1917, Tạp chí Nam Phong ra đời “Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái Nho học cũ, cùng để xướng lên một cái tư trào mới, hợp với thời thế cùng trình độ dân ta” (Nam Phong – Số 1).

Phạm Quỳnh có nhiều bài khảo cứu, dịch thuật đăng trên Nam Phong đề cập nhiều lĩnh vực văn hoá: ngôn ngữ, lịch sử, văn học, triết học, giáo dục, chính trị… Về sau tập hợp thành sách Nam Phong tùng thư, Thượng Chi văn tập.

Trên 17 năm tồn tại, Tạp chí Nam Phong có ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội. Có nhiều lời tôn vinh, ngợi ca nhưng cũng không ít lời chê bai cho rằng Nam Phong là công cụ tuyên truyền cho chính sách “Pháp – Việt đề huề”, là tay sai cho thực dân Pháp.

Trong xu thế đề cao tinh thần” “bảo tồn cổ học”, “dung hoà Đông – Tây”, Tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hoá và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu Thế kỷ XX” (Từ điển Bách khoa Việt Nam– 2003).

Năm 1924, Phạm Quỳnh có bài diễn văn ca ngợi Truyện Kiều với câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” đã bị các chí sỹ yêu nước lúc bấy giờ công kích kịch liệt, cho rằng việc tán dương Truyện Kiều là có dụng ý xấu và đề cao quá đáng. Học giả Dương Quảng Hàm bấy giờ đã viết: “Phạm Quỳnh có công lao to lớn trong việc du nhập nhiều danh từ triết học, khoa học mới và luyện cho chữ Quốc ngữ thuần thục tới mức diễn đạt được thuật ngữ mới”.

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến, song không được hưởng ứng. Năm 1939, ông tháp tùng Vua Bảo Đại sang Pháp, đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884, song việc không thành.

Ngày 8/1/1945, trong báo cáo của Thống sứ Trung kỳ Healewyn gửi Đô đốc Decoux và Tổng Đại diện Mordant, có đoạn viết: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một Quốc gia Việt Nam.. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Tháng 9/1945, khi nghe tin Phạm Quỳnh mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh lặng ngắt một lúc, rồi Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”.

Nhiều thập kỷ trôi qua trên con tim đã thôi đập. Hôm nay tác phẩm của ông đang được tái bản. Lịch sử và người đời đã nhìn nhận lại và đánh giá ông một cách công bằng. Sinh thời ông đã viết:

Chúng ta hãy khép lại quá khứ. Và bởi vì chúng ta phải chung sống, nên chúng ta hãy tránh những cuộc va chạm vô ích và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới một khẩu hiệu, một cuộc sống thực sự tôn trọng lẫn nhau”.

Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã nhận định: “Phạm Quỳnh là người mở đầu cho Văn hoá Việt hiện đại. Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc. Đó chính là hạt nhân của Lý thuyết Hội nhập Hiện đại. Nhờ lý thuyết đó, Phạm Quỳnh không bị Văn hoá Phương Tây áp đảo, ông đã dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931: Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được, vì chúng tôi đã có một Tổ quốc”.

Vai trò và giá trị của Phạm Quỳnh trong tiến trình vận động Văn hoá nước nhà Thế kỷ XX cũng như về nguyên nhân cái chết của ông đã, đang và sẽ được những người trong ngoài giới văn học, sử học nghiên cứu trên cơ sở tính khách quan, khoa học.

Nguyễn Duy Quý

(Tổng hợp)

Phạm Quỳnh trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018..

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 15/8/2014 vừa đưa tin trên trang 19

“Kết thúc phiên họp ba ngày về phong trào Wikimedia tại London (Anh), đồng sáng lập trang thông tin Wikipedia Jimmy Wales tuyên bố người Anh tin tưởng trang này hơn báo chí truyền thông của nước này.

Người Anh tin tưởng Wikipedia hơn báo chí” – ông Wales tuyên bố trong tiếng vỗ tay của những khán giả tham dự hội nghị.

AFP cho biết một cuộc thăm dò gần 2.000 người trưởng thành Anh của YouGov nhận thấy có 64% người tin tưởng tác giả của các mục trong Wikipedia đang nói lên sự thật.

Trong khi đó chỉ 61% số người tham gia khảo sát bày tỏ sự tin tưởng đối với các nhà báo của đài truyền thông BBC, 45% tin tưởng các phóng viên của các tờ báo khổ lớn như The Times The Guardian và 13% cho các nhà báo của các tờ lá cải như The Sun.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của YouGov cũng cho thấy bộ bách khoa toàn thư truyền thống của nước này là Encyclopaedia Britannica vẫn nhận được nhiều sự tin tưởng nhất cho đến hiện nay. 83% người tham gia khảo sát tin tưởng vào bộ bách khoa này.

“Tôi sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi họ tin tưởng chúng tôi hơn họ tin tưởng vào thông tin trên Encyclopaedia Britannica” – ông Wales cam kết.”

Minh chứng cho điều nay, chúng tôi xin mời quí bạn đọc phần viết về Phạm Quỳnh trong từ điển này như sau:

—o0o—

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

 “…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Ngày sinh và mất viết:

Về ngày sinh của Phạm Quỳnh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, trưởng Ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, tức 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.

Về ngày mất của Phạm Quỳnh

  • Sách Từ điển Văn học bộ mới (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936) hiện định cư tại Hoa Kỳ được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, anh và cháu Ngô Đình Diệm để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh bị hạ sát vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.

 

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

“1917,NAM PHONG; 1932,PHONG HÓA-NGÀY NAY; 1945,CỜ GIẢI PHÓNG

 Thép Mới

Lời dẫn của Phạm Tôn: Quý II/2012, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân cho ra tập 2 sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan tuyển chọn và biên tập. Các trang 66 đến 73 có đăng bài trên đây của Thép Mới đã lên Blog PhamTon từ đầu năm 2009.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

 Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nhân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

 Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

 Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

 Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

 Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

 Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

 (…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân Việt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

 Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

 Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Tháng Ba 12, 2018

Trên quê hương yêu dấu kỳ 1 tháng 3 năm 2018

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:38 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/2/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Cần đặc biệt coi trọng ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế

Sáng 26-2, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm, làm việc, chỉ đạo công tác đối ngoại tại Bộ Ngoại giao. Cùng dự, có đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao.

Thủ tướng ân cần gửi lời thăm hỏi của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước tới toàn thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Bộ Ngoại giao và khẳng định, trong thành quả chung của đất nước có sự đóng góp quan trọng, trực tiếp, to lớn của Bộ Ngoại giao.

Thủ tướng nêu rõ, Bộ Ngoại giao cần thực hiện giữ gìn quốc phòng an ninh đất nước từ xa, từ sớm; thực hiện tốt chủ trương Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cần đưa mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, hiệu quả hơn nữa, chú ý các diễn biến thế giới, khu vực, các nước lớn. Xây dựng lòng tin, duy trì cục diện quan hệ với các nước bình đẳng, đan xen, các bên cùng có lợi.

Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh, coi trọng ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, do đó ngành cần quán triệt sâu rộng, linh hoạt, có chủ trương, cách làm sáng tạo trong công tác này. Các đại sứ, tổng lãnh sự, tham tán thương mại phải chuyển mạnh sang công tác kinh tế, nhất là phát triển thương mại, thu hút khách du lịch quốc tế. Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương cần phối hợp xây dựng đề án tăng nhanh kim ngạch thương mại. Các đại sứ quán phải tăng cường thu thập, cung cấp thông tin về thương mại, thị trường cho các bộ, ngành, doanh nghiệp trong nước; tăng cường thu hút vốn đầu tư FDI có chọn lọc. Công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo cần kịp thời, nhanh chóng, nhạy bén, mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; trước mắt cần nghiên cứu sâu một số chiến lược, chính sách của các nước lớn để tham mưu cho lãnh đạo Ðảng, Nhà nước.

Ngành ngoại giao cần hoạt động chuyên nghiệp, vững mạnh để đóng góp xứng đáng vào xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động vì người dân và doanh nghiệp; rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức “vừa hồng vừa chuyên”, là sứ giả kinh tế, văn hóa, làm tốt công tác bảo hộ công dân,… Ngoài ra, tái cơ cấu bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm phát triển nguồn nhân lực ngoại giao có sự kế thừa; thực hiện tốt chức năng ngoại giao kiến tạo phát triển…

Ðề cập các nhiệm vụ lớn thời gian tới, Thủ tướng nêu rõ, tình hình chính trị, kinh tế thế giới, các nước lớn đang thay đổi mạnh mẽ, phức tạp, biến động khó lường; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra sôi động… Tuy vậy, xu hướng hòa bình, hợp tác vẫn là chủ đạo. Do đó, việc nghiên cứu, vận dụng Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng, áp dụng Nghị quyết 01/2018/NQ-CP của Chính phủ đối với ngành ngoại giao cần cụ thể hơn nữa, quyết tâm trong hành động.

Thủ tướng đề nghị Bộ Ngoại giao siết chặt kỷ luật kỷ cương hành chính; đề cao trách nhiệm cá nhân; đi đầu trong thực hiện chủ trương, phương châm hành động của Chính phủ. Ðồng thời, đổi mới cách thức chỉ đạo, bám sát công việc, nêu cao tinh thần trách nhiệm với đất nước, nhân dân; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo điều kiện cho đất nước phát triển, nâng cao tiềm lực quốc gia. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại đa phương; kiên trì thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Ðông bằng biện pháp hòa bình, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; phát triển một nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế hiệu quả.

Với tinh thần đó, Thủ tướng mong muốn mỗi cán bộ, nhân viên ngoại giao sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận đối ngoại, luôn trung thành kiên định về đường lối, linh hoạt, sáng tạo trong hành động vì sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/12/2018:

Ban hành quy chế hoạt động của Tổ công tác 66

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Tổ công tác 66) đã ký Quyết định ban hành Quy chế hoạt động của Tổ.

Theo đó, Tổ công tác có quyền yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Ủy ban. Các bộ, cơ quan, địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của Ủy ban. Về chức năng, nhiệm vụ, Tổ công tác tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ chuẩn bị các nguồn lực về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản để Ủy ban đi vào hoạt động; chỉ đạo thực hiện việc bàn giao vốn và tài sản của doanh nghiệp về Ủy ban,…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 26/2/2018:

Giống lúa của Việt Nam chọn tạo làm lợi hơn 8.000 tỷ đồng/năm

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giống lúa do Việt Nam chọn tạo đã được chuyển giao và ứng dụng trên phạm vi cả nước đạt 4,6 triệu ha, chiếm 59% diện tích lúa cả nước.

Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa do nhà khoa học Việt Nam chọn tạo chiếm 77% diện tích cả vùng; trong đó, giống lúa chất lượng cao OM5451 đã được gieo trồng trên diện tích gần 1 triệu ha. Các giống lúa cho năng suất tăng trung bình 10% so với giống cũ, sản lượng thóc tăng thêm 1,65 triệu tấn, làm lợi cho sản xuất lúa hơn 8.000 tỷ đồng/năm.

Bên cạnh đó, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ: giống, vật nuôi, chế phẩm sinh học, quy trình công nghệ mới… của các viện, trường đã được chuyển giao, áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/2/2018:

Cả nước có gần 750 chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến nay cả nước đã xây dựng thành công 746 mô hình chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn.

Trong đó có 382 chuỗi đã được giám sát, xác nhận sản phẩm được kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi. Năm 2018, ngành nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực quốc gia, và sản phẩm chủ lực địa phương theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/2/2018:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang điện đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Đô-nan Trăm

Ngày 14-2, Chủ tịch nước Trần Đại Quang có cuộc điện đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Đô-nan Trăm.

Cuộc điện đàm diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước tiếp tục phát triển thực chất, hiệu quả, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Tổng thống Đô-nan Trăm gửi lời chúc mừng năm mới tới lãnh đạo và nhân dân Việt Nam nhân dịp Tết cổ truyền Mậu Tuất; bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong năm qua; cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, chu đáo mà lãnh đạo và nhân dân Việt Nam dành cho cá nhân ông và đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25; khẳng định Hoa Kỳ coi trọng quan hệ và vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực và sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện phát triển hơn nữa trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng những thành tựu mà Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đạt được trong năm đầu nhậm chức của Tổng thống Đô-nan Trăm; khẳng định chuyến thăm cấp nhà nước Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25 của Tổng thống Đô-nan Trăm ghi dấu ấn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển hiệu quả, ổn định của quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ; nhấn mạnh Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ và sẽ tích cực hợp tác cùng Hoa Kỳ để đưa quan hệ hai nước tiếp tục đạt những bước tiến mới và thực chất trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Đô-nan Trăm trao đổi về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, tập trung triển khai các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước; tiếp tục ưu tiên thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, coi đây là trọng tâm và động lực phát triển quan hệ hai bên. Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy các nội dung hợp tác song phương khác như giải quyết hậu quả chiến tranh, trong đó có việc triển khai dự án tẩy độc đi-ô-xin tại sân bay Biên Hòa (Đồng Nai).

Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế, trong đó khẳng định lại lập trường của hai bên về vấn đề Biển Đông; đồng thời nhất trí duy trì trao đổi, tiếp xúc, gặp gỡ cấp cao nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước ngày càng phát triển vì lợi ích của nhân dân hai quốc gia, góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/2/2018:

Ban Bí thư Họp đánh giá việc tổ chức Tết năm 2018

Sáng 23-2, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Ban Bí thư họp, đánh giá kết quả thực hiện Chỉ thị số 16 ngày 22-12- 2017 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết năm 2018. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì. Dự hội nghị, có các đồng chí Ủy viên Ban Bí thư; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư.

Sau khi nghe lãnh đạo Văn phòng T.Ư Đảng báo cáo tình hình và kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 16, ý kiến phát biểu của các đại biểu, Tổng Bí thư phát biểu ý kiến kết luận hội nghị nêu rõ, năm nay, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn sớm hơn so với mọi năm, tạo điều kiện cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản, đồng bộ, chu đáo, thiết thực và hiệu quả. Việc tổ chức đón Tết được gắn với hoạt động kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng, 50 năm Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, phát động thi đua mừng Đảng, mừng Xuân và triển khai kịp thời nhiệm vụ năm 2018.

Năm 2017, tình hình kinh tế – xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác đối ngoại thu được nhiều kết quả tích cực đáng mừng; thời tiết những ngày Tết lại rất đẹp. “Thiên thời địa lợi nhân hòa” đã tạo khí thế hào hứng, phấn khởi cho toàn dân đón Tết vui tươi với nhiều hoạt động phong phú. Công tác tổ chức Tết chu đáo, bảo đảm thiết thực, vui tươi, an toàn, tiết kiệm.

Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, đoàn thể chủ động huy động nguồn lực xã hội, có nhiều hình thức chăm lo Tết thiết thực đối với các đối tượng chính sách, người nghèo, công nhân, người lao động trực tiếp, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”; tổ chức thăm, tặng quà gia đình liệt sĩ, người có công, cán bộ lão thành cách mạng, các nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo, hộ gia đình bị thiên tai, bão lũ,… thắm đượm nghĩa Đảng tình dân và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Các địa phương kết hợp tổ chức Tết với tăng cường chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân,… Tất cả những việc làm đó đã tô đậm thêm nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tổng Bí thư cho rằng, các hoạt động lễ hội, vui chơi, giải trí bảo đảm vui tươi, an toàn, tiết kiệm, lành mạnh. Việc đi lại, an toàn giao thông có những chuyển biến tích cực so với năm trước. Các vụ việc phức tạp được quan tâm, xử lý kịp thời. Lãnh đạo địa phương về Trung ương chúc Tết các ban, bộ, ngành và cấp dưới chúc Tết cấp trên giảm mạnh so với Tết Đinh Dậu 2017. Không khí chung là các tầng lớp nhân dân vui Xuân, đón Tết phấn khởi, đầm ấm, an toàn, tiết kiệm, lành mạnh, tăng thêm niềm tin đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư lưu ý, trong dịp Tết vừa qua vẫn còn những vấn đề đáng quan tâm, rút kinh nghiệm, như tai nạn giao thông tuy giảm nhưng vẫn còn phức tạp, nhức nhối; tình trạng ùn, tắc giao thông nghiêm trọng chưa được khắc phục; ngộ độc rượu, thực phẩm; đốt pháo tại một số nơi; việc thực hiện nếp sống văn minh tại các lễ hội, khu du lịch có nơi chưa nghiêm,…

Tổng Bí thư đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo tập trung ngay cho sản xuất; tổ chức và quản lý tốt các hoạt động lễ hội, bảo đảm lành mạnh, văn minh, đúng thuần phong, mỹ tục; tổ chức thiết thực, hiệu quả phong trào Tết trồng cây. Tất cả các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, mọi cán bộ, đảng viên bắt tay ngay vào công việc với khí thế mới, động lực mới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/2/2018:

Kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Ngày 26-2, Bệnh viện Bạch Mai (Bộ Y tế) tổ chức kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2-1955 – 27-2-2018) và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhì (lần thứ hai). Chủ tịch nước Trần Ðại Quang dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo. Cùng dự, có lãnh đạo Bộ Y tế, một số bộ, ngành Trung ương và các địa phương.

Bệnh viện Bạch Mai tiền thân là nhà thương Cống Vọng được thành lập từ năm 1911, là một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước, có lịch sử vẻ vang gắn liền với lịch sử nền y học hiện đại Việt Nam. Các thầy thuốc của Bệnh viện Bạch Mai hiện đã thực hiện được nhiều công nghệ, kỹ thuật mới ngang tầm với các nước có nền y học tiên tiến trong khu vực và thế giới được ứng dụng trong khám, chữa bệnh.

Hơn 10 nghìn kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai đã được Bộ Y tế phê duyệt, trong đó có những kỹ thuật cao, chuyên sâu không chỉ được thực hiện ở Bệnh viện Bạch Mai mà còn chuyển giao cho các bệnh viện tuyến tỉnh thuộc hệ thống bệnh viện vệ tinh. Hằng năm, số lượng người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú lên đến 1,8 triệu lượt người, số người bệnh điều trị nội trú hơn 150 nghìn người. Không chỉ là địa chỉ tin cậy của người bệnh, Bệnh viện còn là cơ sở đào tạo thực hành cán bộ y tế toàn ngành và nhiều nước trên thế giới.

Chủ tịch nước Trần Ðại Quang đã trân trọng trao Huân chương Lao động hạng nhì tặng Bệnh viện Bạch Mai; trao Huân chương Lao động hạng nhất tặng Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Nhân dịp này, nhiều tập thể, cá nhân của Bệnh viện đã được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Y tế.

Phát biểu ý kiến tại lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang chúc mừng và bày tỏ sự trân trọng, tôn vinh những thành tích, đóng góp to lớn mà các thế hệ giáo sư, bác sĩ, thầy thuốc, nhân viên y tế, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành y tế nói chung, Bệnh viện Bạch Mai nói riêng đã đạt được trong thời gian qua.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng với những thời cơ, thuận lợi rất cơ bản, đồng thời cũng phải đối mặt với các nguy cơ về ô nhiễm môi trường, lây truyền các dịch bệnh nguy hiểm và những thách thức khác trong lĩnh vực y tế. Nhu cầu chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng cao và đa dạng, tạo sức ép ngày càng lớn đối với việc cung cấp dịch vụ y tế… Bối cảnh đó đòi hỏi đội ngũ giáo sư, bác sĩ, thầy thuốc, nhân viên y tế, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành y tế nói chung, Bệnh viện Bạch Mai nói riêng tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, tập trung đổi mới, thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm: Cấp cứu, khám, chữa bệnh tuyến cuối; đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng, chống dịch bệnh, hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế y tế với mục tiêu xuyên suốt là không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chủ tịch nước yêu cầu Bệnh viện cần phát triển kỹ thuật mũi nhọn chuyên sâu, nhất là về tim mạch, cấp cứu, hồi sức tích cực, chống độc, thần kinh, y học hạt nhân và ung bướu, chẩn đoán hình ảnh, hóa sinh, vi sinh… Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh; tăng cường đào tạo, luân phiên cán bộ y tế, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, từng bước khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện. Ðẩy mạnh kết hợp quân, dân y, chú trọng hỗ trợ y tế ở vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn. Triển khai sâu rộng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào tạo định hướng chuyên khoa, đào tạo chuyển giao kỹ thuật mới tiên tiến, đào tạo thông qua các chương trình hợp tác quốc tế…

Chủ tịch nước lưu ý, cán bộ, y, bác sĩ của Bệnh viện cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” và 12 điều y đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tình chăm sóc người bệnh. Tiếp tục tổ chức khám, chữa bệnh từ thiện, phát thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người bệnh có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang đề nghị Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội, Bộ Y tế và các bộ, ban, ngành địa phương liên quan quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để Bệnh viện Bạch Mai hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nỗ lực phấn đấu đưa Bệnh viện trở thành trung tâm y học và đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch nước tin tưởng, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước, Bệnh viện Bạch Mai sẽ phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, tiếp tục đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả, thành tích to lớn hơn nữa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/2/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương chiến công phá vụ án đặc biệt nghiêm trọng

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có thư khen gửi Bộ Công an, Thành ủy, UBND TP Hồ Chí Minh và Công an TP Hồ Chí Minh biểu dương chiến công phá vụ án đặc biệt nghiêm trọng làm chết 5 người trong cùng một gia đình.

Sau đây là toàn văn thư khen của Thủ tướng Chính phủ:

Vào sáng ngày 15/02/2018 (tức ngày 30 Tết Âm lịch), tại đường số 7, phường Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện vụ án đặc biệt nghiêm trọng làm chết 5 người trong cùng một gia đình.

Dưới sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Bộ Công an, Thành uỷ, UBND thành phố Hồ Chí Minh và sự phối hợp chặt chẽ của Công an các tỉnh Long An và An Giang, Tổng cục Cảnh sát, Công an thành phố Hồ Chí Minh và các lực lượng chức năng, không quản ngày đêm vào đúng dịp nghỉ tết Nguyên đán, đã khẩn trương điều tra, phá án và bắt được nghi phạm gây án.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương thành tích xuất sắc của các lực lượng chức năng, đặc biệt là các đơn vị nghiệp vụ của Tổng cục Cảnh sát và Công an thành phố Hồ Chí Minh. Chiến công này góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân, nâng cao hình ảnh của người chiến sĩ Công an nhân dân.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, tiếp tục giành được nhiều thành tích hơn nữa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 24/2/2018:

Lễ khai bút đầu Xuân và hội sách tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An

Sáng 23-2, tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An, thị xã Chí Linh (Hải Dương) diễn ra Lễ khai bút đầu Xuân và khai mạc Hội sách Xuân Mậu Tuất 2018. Tại buổi lễ, các đại biểu cùng ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của thầy giáo Chu Văn An (thế kỷ 13), cũng như ý nghĩa của tục khai bút đầu xuân.

Lễ khai bút đầu Xuân tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An từ lâu đã trở thành hoạt động giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo cho các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sự biết ơn với các bậc tiền nhân.

Nhân dịp này, Hội Khuyến học thị xã Chí Linh đã trao học bổng tặng 21 học sinh có kết quả thi đại học cao nhất trong năm học 2017 – 2018. Đồng thời, một số doanh nghiệp tỉnh Hải Dương cũng đã trao 100 triệu đồng ủng hộ Quỹ Khuyến học thị xã Chí Linh. Sở Thông tin và Truyền thông Hải Dương cùng các đơn vị tham gia Hội sách Xuân trao tặng tủ sách cho Trường Hoàng Hoa Thám (thị xã Chí Linh) nhằm khuyến khích phong trào xây dựng tủ sách trường học.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn

Ngày 22-2 (tức mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Tuất), trên cánh đồng thôn Đọi Tín, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tổ chức Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn năm 2018.

Đến dự, có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thào Xuân Sùng, Chủ tịch T.Ư Hội Nông dân Việt Nam; Nguyễn Đình Khang, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam; Bùi Thị Minh Hoài, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các đồng chí lãnh đạo đại diện bộ, ngành, các tỉnh bạn, bà con nhân dân.

Sự kiện mùa xuân năm 987, vua Lê Đại Hành xuống đồng thực hiện nghi lễ cày tịch điền động viên nhân dân sản xuất nông nghiệp. Kể từ đó, Lễ tịch điền trở thành lễ hội văn hóa truyền thống, được các triều đại chú trọng tổ chức, đề cao vai trò sản xuất nông nghiệp.

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn là lễ hội truyền thống xuống đồng cày ruộng, cầu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Nghi lễ mở đầu là rước chân nhang từ đền thờ vua Lê Đại Hành về chùa Đọi; tiếp đến là lễ cáo yết xin thành hoàng làng cho mở cửa đình Đọi Tam; rước nước; lễ tắm tượng; giải hạn cầu an trên chùa Đọi.

Hội thi trang trí trâu để chọn những con đẹp nhất cày tịch điền. Đặc biệt, lễ cày tịch điền được tiến hành trọng thể với nghi thức cổ truyền “nhập thế vua Lê”. Một cụ ông đức độ, thần thái uy nghiêm được chọn, khoác áo long bào, đeo mặt nạ thực hiện nghi lễ hóa thân thành hình tượng vua Lê Đại Hành, xuống mở những xá cày đầu tiên trên thửa ruộng phù sa màu mỡ. Sau đó, đến các lãnh đạo ban, ngành, lãnh đạo tỉnh Hà Nam và đại diện các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thực hiện nghi lễ.

Năm 2018 là năm thứ 10 tỉnh Hà Nam duy trì tổ chức Lễ hội với ý nghĩa rất lớn, vừa thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, vừa khuyến khích, động viên nhân dân phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Ngày hội hiến máu “Chào Xuân hồng 2018”

Ngày 22-2, hàng nghìn cán bộ, nhân viên y tế đã tham gia hiến máu cứu người tại Ngày hội hiến máu “Chào Xuân hồng 2018” do Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tổ chức.

TS Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện Huyết học, Truyền máu Trung ương cho biết, sự kiện hôm nay tại viện là mở màn cho chuỗi ngày hiến máu trước thềm Lễ hội Xuân hồng 2018. Thời gian qua, nhiều cán bộ của viện đã hàng chục lần hiến máu, tiêu biểu như TS Trần Ngọc Quế, Giám đốc Trung tâm Tế bào gốc (50 lần), ThS Hoàng Chí Chương (86 lần), TS Nguyễn Triệu Vân, TS Ngô Mạnh Quân (36 lần)…”.

Nhờ công tác truyền thông và vận động hiến máu trước Tết, hiện nay, lượng máu dự trữ của viện còn khoảng hơn 9.500 đơn vị máu, bảo đảm nhu cầu cấp cứu, điều trị cho các bệnh viện trong khoảng 10 ngày nữa, cho đến thời điểm diễn ra Lễ hội Xuân hồng.

Theo TS Bạch Quốc Khánh, năm nay, Lễ hội Xuân hồng sẽ được diễn ra trong suốt một tuần liên tục, từ ngày 4 đến 11-3 với các điểm hiến máu hưởng ứng của Hà Nội tại quận Hà Đông, huyện Thanh Oai, Sóc Sơn. Chính hội của Lễ hội Xuân hồng năm nay lần đầu tiên sẽ diễn ra trong hai ngày 10 và 11-3 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.

Việc hiến máu của các tình nguyện viên đầu Tết nguyên đán sẽ bảo đảm cung cấp máu điều trị cho hơn 150 bệnh viện khu vực phía bắc, khắc phục tình trạng khan hiếm máu dịp Tết.

Trong dịp Xuân Mậu Tuất, nhiều cơ sở y tế đã tích cực tham gia hiến máu như: ngành y tế Bắc Ninh (gần 1.000 đơn vị máu), ngành y tế Vĩnh Phúc (gần 400 đơn vị máu), Bệnh viện Bạch Mai (351 đơn vị máu), Bệnh viện Phụ sản Trung ương (698 đơn vị máu)…

Ngày mai, 23-2, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ phát động phong trào hiến máu tình nguyện, dự kiến tiếp nhận được 150 đơn vị máu. Đúng ngày 27-2, các bệnh viện như Bệnh viện Mắt Hà Nội 2, Bệnh viện Medlatec, Bệnh viện E… cũng sẽ tổ chức hiến máu cứu người.

Cứu sống bệnh nhi bị vỡ thanh quản

Ngày 22/2, Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, đã phẫu thuật thành công cho bệnh nhi N.H.K. (11 tuổi, quê Vĩnh Long) bị vỡ thanh quản. Trúc đó, cháu K. chơi xe trượt điện ở công viên với bạn thì bị ngã, đập vùng cổ vào tay lái xe rồi ngất xỉu. Bệnh nhi được các bác sĩ nẹp cố định cổ, hỗ trợ hô hấp, chụp CT scan, làm các xét nghiệm cần thiết và được chỉ định mổ cấp cứu với chẩn đoán: Chấn thương thanh quản kín gây suy hô hấp, tràn khí dưới da, tràn khí trung thất và tràn khí ngoài màng phổi hai bên. Các bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng TP Hồ Chí Minh đã khâu nối, cố định lại các tổn thương, vi phẫu chỉnh hình thanh quản và dẫn lưu tràn khí cho bệnh nhi. Dự kiến bệnh nhi xuất viện sau khoảng 10 ngày điều trị.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/2/2018:

Khai mạc Phố sách Xuân Mậu Tuất

Sáng 18-2, tại phố 19-12 (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đã tổ chức khai mạc Phố Sách Xuân Mậu Tuất.

Tổ chức Phố Sách dịp đón xuân là hoạt động thường niên của thành phố Hà Nội. Năm nay, lần đầu tiên Phố Sách xuân được tổ chức tại phố 19-12, nơi được tổ chức thành Phố Sách cố định của Hà Nội từ tháng 5-2017.

Ngoài các gian hàng của các đơn vị hoạt động thường xuyên tại Phố Sách, Phố Sách xuân năm nay còn có thêm một số đơn vị xuất bản tham gia trưng bày, giới thiệu sách tới bạn đọc các thể loại sách phong phú, đa dạng: Sách thiếu nhi, sách văn học, sách kinh tế, khoa học kỹ thuật, sách ngoại văn, sách điện tử và thiết bị số…

Tại Phố Sách Xuân Mậu Tuất có nhiều hoạt động giới thiệu, phổ biến văn hóa đọc, trong đó, đáng chú ý là chương trình: “Đầu năm nói chuyện Tết: Trò chuyện về văn hóa tập tục của người Việt” – độc giả sẽ được gặp gỡ, giao lưu với nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng; “Ô chữ xuân” giới thiệu về Tết cổ truyền Việt Nam dưới hình thức tổ chức trò chơi đoán ô chữ (Công ty CP Văn hóa Đông A); để bé nói tiếng Anh như phong thái Đội trưởng U23 Việt Nam (Công ty CP Văn hóa Huy Hoàng); giao lưu: “We love reading”: nói về thói quen đọc sách, ý nghĩa của việc tập đọc sách cho trẻ nhỏ (Nhà xuất bản Phụ nữ)…

Ngoài ra, còn có nhiều chương trình giải trí – khám phá hấp dẫn khác như “Chào Xuân Mậu Tuất – Âm hưởng Tết dân gian” (của Công ty TNHH MTV Thương mại & Dịch vụ Văn hóa Minh Long) độc giả sẽ được tham gia các trò chơi dân gian như đập niêu, cướp cờ… và thưởng thức một số tiết mục nghệ thuật đường phố; các chương trình văn nghệ chào xuân phục vụ bạn đọc. Trong suốt thời gian diễn ra Phố Sách Xuân Mậu Tuất, Ban Tổ chức còn bố trí người viết chữ tặng khách đến tham quan.

Hoạt động của Phố Sách Xuân Mậu Tuất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đọc của nhân dân, khẳng định truyền thống hiếu học, ham đọc sách của người Hà Nội, đồng thời là sự khởi đầu của chuỗi các chương trình, hoạt động tại Phố Sách Hà Nội trong năm mới 2018, góp phần đưa Phố Sách trở thành điểm đến văn hóa ngày càng gần gũi với nhân dân Thủ đô.

Phố Sách Xuân Mậu Tuất sẽ kết thúc vào ngày 25-2.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Thực hiện tiết kiệm, loại bỏ mê tín dị đoan tại nơi thờ tự Phật giáo

Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam vừa có Công văn số 31 gửi Ban Thường trực Ban Trị sự GHPG các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư về việc tăng cường nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc tại các cơ sở thờ tự Phật giáo.

Công văn nêu rõ: Nhằm tạo điều kiện cho các Chùa, Tổ đình, Tịnh xá, Thiền viện, Tu viện, Tịnh viện, Tịnh thất, Niệm Phật đường (gọi chung là Tự viện) phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trong các lễ hội, nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc Xuân Mậu Tuất 2018, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam đề nghị Ban Trị sự các địa phương hướng dẫn chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện, nhất là các tự viện là di tích lịch sử – văn hóa thực hiện tuyên truyền, vận động trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo. Ðề nghị chư Tôn đức Tăng Ni nêu cao tinh thần Bồ Tát đạo, hướng dẫn đồng bào phật tử và người dân loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong các bài giảng chú trọng việc gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục trong các lễ hội; lan tỏa giá trị từ bi, lòng bao dung, tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng tín ngưỡng…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/2/2018:

Đội Quảng Nam lần đầu đoạt Siêu cúp bóng đá quốc gia

Sau khi đoạt ngôi vô địch V-League 2017, đội Quảng Nam tiếp tục ghi dấu ấn với chiến thắng 1-0 trước đội Sông Lam Nghệ An, giành Siêu cúp bóng đá quốc gia 2017 tại trận đấu diễn ra trên sân Hàng Ðẫy chiều qua 24-2.

Trong trận đấu này, đội đương kim vô địch V-League không có sự góp mặt của chân sút ngoại binh Clau-đơ-xia, trong khi đó nhà vô địch Cúp quốc gia 2017 lại thiếu vắng thủ môn Nguyên Mạnh do chấn thương. Cả hai đội bước vào trận tranh Siêu cúp với quyết tâm cao và thi đấu khá cởi mở. Ðội Sông Lam Nghệ An chơi lấn sân, tạo ra nhiều cơ hội hơn hẳn đối thủ, song đáng tiếc những pha dứt điểm của họ thường thiếu chính xác hoặc bị hàng hậu vệ và thủ môn Văn Cường của đội Quảng Nam cản phá. Chủ động chơi phòng ngự, đội Quảng Nam tỏ ra sắc sảo trong các pha phản công. Ở phút thứ 42, trong một tình huống phối hợp đá phạt từ ngoài vòng 16 m 50, Phan Thanh Hưng treo bóng vào vòng cấm địa, cầu thủ Thi-a-gô đã băng xuống đệm bóng cận thành ghi bàn thắng cho đội Quảng Nam.

Trong suốt hiệp hai, đội Sông Lam Nghệ An đẩy cao đội hình để tìm kiếm bàn gỡ hòa, song các chân sút đội bóng này đã không thể dứt điểm thành công dù tạo ra nhiều cơ hội hơn hẳn. Trung thành với lối chơi phòng ngự phản công, đội Quảng Nam cũng bỏ lỡ một vài tình huống dứt điểm khá thuận lợi.

Ðoạt Siêu cúp quốc gia 2017 ở ngay lần đầu tham dự, đội Quảng Nam được xem như có sự khởi đầu thuận lợi hơn tại V-League 2018.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Cứu thành công cá heo dạt vào bờ

Ngày 27-2, Chi cục Thủy sản tỉnh Khánh Hòa phối hợp Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Khánh Hòa cứu thành công một cá thể cá heo trôi dạt vào vùng biển thôn Ngọc Diêm (xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa). Cá heo nặng khoảng 50 kg, có một số vết thương trên cơ thể, sức khỏe yếu, trôi dạt vào bờ được ngư dân báo cơ quan chức năng tiến hành cứu sống. Hiện, tình hình sức khỏe của cá heo đã dần ổn định, đang được chăm sóc, tiếp tục theo dõi tại Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Khánh Hòa.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Hội thảo “Thơ và những vấn đề thơ đương đại”

Sáng 27-2, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (Hà Nội) diễn ra hội thảo “Thơ và những vấn đề thơ đương đại”. Đây là hoạt động mở đầu cho Ngày thơ Việt Nam lần thứ 16 – năm 2018, sẽ được tổ chức tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám vào ngày Rằm tháng Giêng năm Mậu Tuất.

18 tham luận tại hội thảo đã tập trung vào ba chủ đề chính: Đánh giá thành tựu của thơ đương đại và những thách thức phải vượt qua; bàn về lý luận và phê bình thơ hiện nay; công chúng thơ và mối tương quan giữa thơ hàn lâm và thơ đại chúng. Một số tham luận đáng chú ý như “Thơ cách tân trong chuyển động thi ca Việt”, “Nhận diện thơ Việt từ sau đổi mới đến nay”, “Bây giờ thơ sống thế nào?”, “Thế hệ thơ đổi mới và câu hỏi thơ với công chúng”… thẳng thắn đề cập đến những thách thức của thơ đương đại, góp phần nhận diện và đưa ra những đề xuất, kiến nghị các hướng đi mang tầm vóc mới trong lao động sáng tạo thơ ca.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Lễ hội Lim, hát Quan họ Bắc Ninh

Sáng 27-2 (12 tháng Giêng năm Mậu Tuất), lễ hội vùng Lim, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, Bắc Ninh chính thức vào hội, thu hút hàng nghìn người dân và du khách về dâng hương, trảy hội, nghe hát Quan họ.

Hội Lim là lễ hội lớn, được tổ chức vào dịp đầu Xuân mới, mang đậm bản sắc văn hóa vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc và cũng là một trong những lễ hội Quan họ lớn nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Năm nay, theo kế hoạch, phần lễ được tổ chức từ sáng 12 tháng Giêng với các hoạt động dâng hương tại chùa Hồng Ân, lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn trên đồi Lim. Lễ rước diễn ra vào sáng 13 tháng Giêng, từ Trường tiểu học thị trấn Lim đến đình Lim. Ngoài ra, người dân địa phương còn tổ chức rước sắc từ làng Đình Cả sang đình làng Lộ Bao và tế lễ dâng hương theo nghi thức truyền thống tại các đình, đền, chùa. Bên cạnh đó, du khách cũng được hòa mình vào không gian văn hóa Quan họ do các nghệ nhân thể hiện cùng các trò chơi dân gian; trải nghiệm nghề làm gốm Phù Lãng, tranh dân gian Đông Hồ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 18/2/2018:

Thường trực bốn cấp, khám cấp cứu cho gần 95 nghìn người bệnh

Chiều 17-2, theo báo cáo của Bộ Y tế: Trong ba ngày nghỉ Tết, 1.300 cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc tổ chức thường trực bốn cấp đầy đủ, thực hiện khám cấp cứu cho 94.830 người bệnh, nhập viện điều trị nội trú 57.305 người bệnh; thực hiện 6.393 ca phẫu thuật, trong đó 215 trường hợp phẫu thuật chấn thương sọ não (do các nguyên nhân).

Các cơ sở y tế đỡ đẻ, mổ đẻ thành công, đón 8.648 trẻ chào đời và làm thủ tục xuất viện cho 60.141 người bệnh được điều trị khỏi về nhà ăn Tết. Tổng số khám, cấp cứu do tai nạn giao thông là 16.606 trường hợp, giảm 3,73% so với ba ngày Tết Đinh Dậu năm 2017 (tổng hợp số liệu ghi nhận tại khoa khám bệnh các bệnh viện, theo lời khai của người bệnh, bao gồm nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau, chưa loại trừ số liệu trùng lặp do trường hợp chuyển tuyến đến khám tại nhiều bệnh viện). Trong đó, 9.678 trường hợp nhẹ được xử trí và cho về trong ngày; 5.491 trường hợp phải nhập viện điều trị nội trú; chuyển tuyến trên điều trị 1.349 trường hợp. Tổng số trường hợp chết do tai nạn giao thông (bao gồm cả chết trước khi đến bệnh viện) là 83 người.

Đáng chú ý, có 190 trường hợp đến khám, cấp cứu do pháo nổ (106 trường hợp đã xác minh danh tính và địa chỉ cụ thể), tăng 67 trường hợp (54,4%); 53 trường hợp nhập viện do chất nổ khác, tăng 27 trường hợp (103,8%) so với ba ngày Tết 2017. Dịp này, các bệnh viện khám, cấp cứu 1.949 ca đánh nhau, trong đó 1.099 ca phải nhập viện điều trị nội trú; có sáu trường hợp chết…

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tình hình dịch bệnh ổn định, không ghi nhận ổ dịch bệnh truyền nhiễm nhóm A tại các địa phương. Thông tin từ hệ thống trực An toàn thực phẩm (tại toàn bộ 63 tỉnh/thành phố, năm Viện khu vực trên toàn quốc) và cả trên phương tiện thông tin đại chúng, đến cuối ngày 17-2, trên toàn quốc không ghi nhận xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào. Cục An toàn thực phẩm sẽ tiếp tục phối hợp các Viện khu vực, các Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương để theo dõi, nắm thông tin và xử lý kịp thời trong trường hợp xảy ra ngộ độc thực phẩm.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 26/2/2018:

Triệt phá đường dây vận chuyển 288 bánh hê-rô-in

Ngày 25-2, Cục CSÐT tội phạm về ma túy (C47, Bộ Công an) cho biết, vừa phát hiện đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy số lượng lớn từ Lào vào Việt Nam rồi mang sang Trung Quốc tiêu thụ, do đối tượng Trần Văn Bằng, SN 1987, trú tại xã Kim Xá, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) cầm đầu.

Theo đó, khoảng 22 giờ 10 phút ngày 23-2, tại km 14 quốc lộ 3, thuộc địa bàn xã Bạch Ðằng, huyện Hòa An (Cao Bằng), C47 phát hiện hai ô-tô do đối tượng Trần Văn Bằng và Trần Tiến Thành điều khiển mang theo hê-rô-in (Bằng và Thành là hai anh em họ) đã tổ chức chặn bắt. Ðối tượng Bằng không tuân thủ mà lái ô-tô đâm thẳng vào xe của Tổ công tác. Thấy đối tượng chống đối rất liều lĩnh, lực lượng chức năng phải nổ súng trấn áp và đã bắt giữ được Bằng, trên xe thu giữ được một lượng ma túy tổng hợp. Sau đó, truy đuổi 20km bắt được đối tượng Thành. Tại hiện trường, Bằng và Thành khai nhận, đang vận chuyển hê-rô-in. Qua kiểm đếm, Ban chuyên án thu giữ 288 bánh hê-rô-in (trọng lượng 100,8kg), trị giá khoảng 57 tỷ đồng và nhiều tài liệu liên quan. Ðấu tranh điều tra mở rộng vụ án, ngay trong đêm 23-2, C47 đã bắt thêm các đối tượng liên quan, gồm: Nông Văn Hoan (31 tuổi) và Nông Tài Kinh (28 tuổi), cùng trú tại huyện Trùng Khánh (Cao Bằng); Phan Văn Hiển (tức Ðiệp, 36 tuổi), trú tại xã Trấn Hưng, huyện Vĩnh Tường.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 9/1/2018:

Xử lý nghiêm các vi phạm của Công ty TNHH Khải Đức

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình – Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý các vi phạm pháp luật của Công ty TNHH Khải Đức (thương hiệu Khaisilk). Phó Thủ tướng giao Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan chỉ đạo các lực lượng chức năng xử lý nghiêm minh các vi phạm của Công ty TNHH Khải Đức theo đúng quy định của pháp luật.

Trúc đó, Bộ Công thương đã công bố hàng loạt sai phạm của công ty ngày có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật hình sự đối với tội buôn bán hàng giả về chất lượng. Kết quả giám định chất lượng sản phẩm dệt may đối với một số mẫu sản phẩm của công ty cho kết quả kiểm tra khác (không có thành phần silk (lụa)) so với các thông tin công bố (trên nhãn hàng hóa) về thành phần nguyên liệu trong sản phẩm (“100% silk”); có dấu hiệu vi phạm pháp luật vè quản lý thuế và quản lý hóa đơn; ghi nhãn hàng hóa; che giấu thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác cho người tiêu dùng…

Tháng Hai 28, 2018

Chuyện bây giờ mới kể

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:09 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Trước Tết Mậu Tuất năm nay, nhạc sĩ Phạm Tuyên có hai vị khách không mời và cũng không ngờ tới thăm tại nhà riêng. Đó là cụ Phạm Quang Tấn, sinh năm 1940 đến từ thị xã Dĩ An Bình Dương,, vốn là Thiếu sinh quân ở đại đội mà chính nhạc sĩ là đại đội trưởng hồi ở Khu học xá Trung ương bên Trung Quốc. Và người thứ hai là cụ Vũ Văn Chỉ, sinh năm 1942 đến từ thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Cụ Tấn thì “tóc bạc, cái râu bạc” dáng tiên phong đạo cốt; cụ Chỉ thì “mày râu nhẵn nhụi” vạm vỡ, có dáng lực điền, nông dân thứ thiệt. Hai cụ đến thăm nhạc sĩ là “thay mặt cho bạn thân của hai cụ cùng học ở Học viện Nông Lâm những năm 1960”. Mất liên lạc với nhau nửa thế kỷ, mới tìm được nhau, nhờ hai phóng viên của báo Nhân Dân.

Sau Tết, nhạc sĩ là người nổi tiếng, lại là trưởng họ Phạm nhà Phạm Quỳnh, cho nên khách đến thăm nhiều, khách gọi điện thăm hỏi lại càng nhiều hơn, khiến cho tôi, người cháu thứ thiệt ở Sài Gòn, gọi nhạc sĩ bằng cậu ruột, đành phải biết phận, chờ đến chiều mồng ba mới gọi điện được cho ông.

Không phải vì tôi định chúc Tết, mà là muốn cho ông biết một chuyện mà chỉ mới nói sơ qua, ông cũng đã ngạc nhiên, nói kể ngay đi, sao lại có chuyện thế. Chuyện tôi kể là: Ông có liên quan đến việc tìm ra nơi chôn thân phụ, nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Chuyện ấy như sau: Đầu năm 1930, một đồng liêu với học giả Phạm Quỳnh gửi một người con trai ra sống ở nhà số 5 phố Hàng Da, nhờ nhà báo Phạm Quỳnh chăm nom cho con theo học ở Hà Nội. Phạm Giao và Phạm Bích là con cả và con thứ của Phạm Quỳnh ra ga Hàng Cỏ đón, vừa giơ cao tấm bảng đề tên vừa gọi to “Hoàng Hùng, Hoàng Hùng, có người đón!” Đến nhà, lên cầu thang chàng trai miền Trung đã nghe thấy tiếng ru em tha thiết, trìu mến của cô gái 17 tuổi. Đó là trưởng nữ của nhà báo tên là Phạm Thị Giá, do trắng như giá đỗ mà thành tên. Anh Hoàng Hùng nghĩ: “Ai mà được làm chồng cô này thì thật là hạnh phúc, đã ra dáng một bà mẹ hiền rồi…” Đứa bé trong lòng cô say ngủ là nhạc sĩ Phạm Tuyên sau này. Ông Hoàng Hùng học ở Hà Nội xong liền du học Pháp, ngành kiến trúc và biết tin cô gái nọ đã làm vợ một chàng trai xứ Huế, dạy học ở trường Thăng Long. Rồi chàng kiến trúc sư cũng có gia đình riêng. Một kỷ niệm đẹp, một tình yêu thoảng qua, nhưng không bao giờ phai…

Rồi năm 1945, gia đình học giả Phạm Quỳnh gặp nạn, kéo theo gia đình bà Giá cũng gặp nạn.

Năm 1956, ông Hoàng Hùng hồi đó đang làm Bộ Trưởng Bộ Kiến thiết của chính quyền Sài Gòn, được giao trách nhiệm trang trí nội thất toàn bộ Dinh Tổng thống, hằng ngày làm việc với anh em Ngô Đình Diệm là tổng thống và em trai là cố vấn Ngô Đình Nhu. Tình cờ một hôm ông Hùng được biết tin gia đình họ Ngô chuẩn bị tìm nơi chôn bố con Ngô Đình Khôi là anh ruột ông Diệm. Ông Hùng nói rõ ơn cưu mang của gia đình Phạm Quỳnh đối với mình thời thanh niên và xin cho được báo đáp bằng cách báo cho bà Phạm Thị Hảo là con gái Phạm Quỳnh hiện là dược sĩ, mở hiệu thuốc Tây ở Sài Gòn. Và chuyện bà Hảo và em trai là Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh đã thực hiện được việc cải táng đưa Phạm Quỳnh về chùa Vạn Phước, một việc mà gia đình tự mình đã cố gắng nhiều năm nhưng không sao làm được.

Nhiều năm sau, đất nước giải phóng, Bắc Nam sum họp, tôi vào thành phố Hồ Chí Minh làm phóng viên thường trú, mẹ tôi cũng vào sống cùng. Một hôm, mẹ tôi nhận được một lá thư từ Pháp gửi về, bà rất bất ngờ vì đó là thư của ông Hoàng Hùng; nhờ đó tôi mới biết được chuyện tình đơn phương của ông Hùng. Ông Hùng có ông em còn ở trong nước là ông Hoàng Liệu, sống ở đường Lê Quang Định gần chợ Bà Chiểu. Lâu lâu, ông Liệu đến thăm mẹ tôi, đưa quà “của anh Hùng gửi chị”, nhiều lần còn mời tham quan lễ hội này, nọ như lễ hội Bà Chúa Xứ, đi về bằng xe riêng cùng mấy bà cùng trạc tuổi, chụp nhiều ảnh” để còn gửi cho anh Hùng tôi”. Cứ như thế cho đến khi em gái tôi sinh con, mẹ tôi về Bạc Liêu, quê chồng em.

Nay, me tôi cũng về cõi Phật tròn 18 năm, tro cốt để tại chùa Vĩnh Nghiêm thành phố Hồ Chí Minh. Không biết ông Hoàng Hùng sau này thì thế nào…

Cuộc sống vốn vô Thường, chỉ có tình người là còn mãi.

Nhân “khai… máy chữ” đầu năm, xin có vài hàng lòng thành tưởng nhớ mẹ và những người thương ông ngoại tôi mà thương cả lũ chúng tôi là con cháu chắt Người.

Thành phố Hồ Chí Minh mồng bốn Tết Mậu Tuất (19/2/2018)

Tôn Thất Thành

Blog PhamTon tròn chín tuổi, tự tin vững bước vào năm thứ mười

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

BLOG PHAMTON TRÒN CHÍN TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC VÀO  NĂM THỨ MƯỜI

Blog PhamTon

Blog PhamTon ra đời ngày 22/2/2009, đến mồng bảy Tết Mậu Ngọ này (22/2/2018) là vừa tròn chín tuổi, bắt đầu bước vào năm thứ mười với lòng tin tưởng vào tương lai tươi sáng, phấn khởi tiến bước vững mạnh trên con đường đã chọn.

Nhân dịp này, hãy điểm qua  những năm tháng phấn đấu trước đây.

—-o0o—-

Blog Phạm Tôn đầy năm (thôi nôi)

Ngày 22/2/2010 này là Blog Phạm Tôn vừa đầy năm (thôi nôi).

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, nhân đạo và đại đoàn kết toàn dân, tinh thần nghị quyết các đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ khóa VI, nhất là khóa X là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, chúng tôi thấy không thể để kéo dài mãi tình trạng mà giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Thanh Đạm đã chỉ rõ là: “Hơn 60 năm nay, ông (Phạm Quỳnh- BPT chú) là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của bao nhiêu người ở bên này, bên kia chiến tuyến. Giằng xé đó làm cho vấn đề Phạm Quỳnh càng trở nên rắc rối, phức tạp thêm. Cách mạng khó giải thích, thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác, lợi dụng (BPT nhấn mạnh). Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. (tạp chí Hồn Việt 18- tháng 9 – 2008, trang 54).

Một số người, đa số là những người Việt sống lưu vong, đã nấp sau tấm bia trong lòng dân Việt ghi công đức Ông dể thả sức bắn phá Tổ quốc mà Ông suốt đời yêu quí, bắn phá xã hội mà suốt đời Ông mong ước và đã cố gắng góp phần xây dựng trên đất nước mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chúng tôi đã đăng tải nhiều tư liệu đáng tin cậy và những ý kiến xác đáng của các nhà văn hóa, chính trị có uy tín cùng những người đương thời chứng kiến sự việc về cuộc đời và sự cống hiến của học giả, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh cho dân, cho nước. Đông đảo đồng bào ta ở cả trong và ngoài nước đã nhiệt tình ủng hộ. Chúng tôi vui mừng báo với các bạn là cho đến nay, ngày 29/1/2010 này, đã có 260,779 lượt người truy cập blog, ngày cao nhất là ngày 11/1/2010, có đến 4,470 lượt đồng bào truy cập. Các bài được truy cập nhiều nhất là bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn  (16.524), thứ hai là bài Người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn (6.714 ), bài thứ ba là Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh của Phạm Thị Ngoạn (6.524), thứ tư là Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh (6.514), thứ năm là Vô Duyên của Phạm Quỳnh (6.502), bài thứ sáu là Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Trong cái rủi có cái may của Hồng Thanh Quang (6.201), bài thứ bảy là Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi? của Dã Thảo (5.685), bài thứ tám là Phạm Quỳnh có quan hệ thế nào với Hoàng Đạo Thúy của Dã Thảo (5.542), bài thứ chín là Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh của Nguyễn Đình Chú (5.358), bài thứ mười là Bất tất nhiên của Sông Hương (5.343) và tiếp theo là Nơi táng mộ cụ Thượng Chi của Nguyễn Đắc Xuân (5.291), Tư tưởng Keyserling của Phạm Quỳnh (5.213), Có hay không vụ “Phạm Quỳnh hất cẳng Ngô Đình Diệm” của Dã Thảo (5.019)…

Blog Phạm Tôn sống được đến hôm nay là nhờ được sự hưởng ứng, giúp đỡ của đông đảo bạn đọc xa gần đóng góp bài vở, ý kiến, cung cấp tư liệu… Trong đó có nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, các nhà sử học Văn Tạo, Đinh Xuân Lâm, … các nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đình Chú, Trần Thanh Đạm…, các nhà văn Nguyên Ngọc, Hà Khánh Linh, Trần Chiến…. Đặc biệt là sự đóng góp lớn của nhà văn Sơn Tùng, người đã tin cậy giao cho chúng tôi các tư liệu quý giá về Mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi Phạm Quỳnh mà ông từng dự định công bố trong Hội thảo (bất thành) về Phạm Quỳnh năm 1992 do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội.

Ngày 22/2/2009, một thanh niên thuộc thế hệ 8x, là chắt của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã “mừng sinh nhật” cha mình bằng một tấm thiệp nhỏ, một bên in hình Phạm Quỳnh, một bên là mấy dòng đơn sơ: “Mừng sinh nhật bố 22/2/2009, mong bố khỏe để góp phần sớm giải oan cho Cụ. Biếu bố blog Phạm Quỳnh. Đây sẽ là kênh thông tin chính thức của Phạm Tôn: https://phamquynh.wordpress.com. Con (kí tên)”. Phạm Tôn có nghĩa là “Cháu của Cụ Phạm Quỳnh” (Chữ nho, Phạm: cụ Phạm, Tôn: cháu). Từ đó mà thành tên blog.

Hiện nay, thường trực thực hiện blog chỉ có năm người. Hai con trai của Phạm Quỳnh và một người bạn chí cốt là tiến sĩ sử học lo về nội dung, cháu ngoại Phạm Quỳnh làm thư ký, lo việc cho blog ra đều kỳ và chắt ngoại Phạm Quỳnh lo tư liệu và toàn bộ các vấn đề kỹ thuật của blog. Như các bạn đã biết, từ ngày ra đời cho đến tháng đầy năm (thôi nôi) này, blog Phạm Tôn chưa hề ngừng nghỉ, cứ đúng hẹn lại có mặt, quyết không phụ lòng yêu mến của các bạn. Những ngày đầu, chúng tôi có gì mới là cống hiến các bạn ngay, không theo bài bản nào cả. Sau đó, đã dần vào nền nếp, ra hằng tuần, sớm nhất là tối thứ sáu, muộn nhất là sáng chủ nhật, cứ mỗi tháng ra bốn đến năm kỳ.

Hồi đầu, blog chúng tôi còn ít được ai biết đến. Cho nên nay có nhiều bạn yêu cầu được đọc những tư liệu quan trọng nhất về học giả Phạm Quỳnh mà chúng tôi hồi ấy đã hăm hở đưa lên hết. Vậy, nay, trong tháng đầy năm (thôi nôi) này của Blog Phạm Tôn, chúng tôi sẽ đưa lại trước hết là bốn tư liệu đặc biệt quý giá của nhà văn Sơn Tùng, sau đó, sẽ là tư liệu của thiếu tướng Phan Hàm, người trực tiếp đi bắt Phạm Quỳnh ngày 23/8/1945, tư liệu về cái gọi là “bản án tử hình Phạm Quỳnh” công bố tháng 12/1945 và một bài độc đáo của giáo sư Nguyễn Văn Trung nói Phạm Quỳnh là Điệp viên đơn tuyến của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Thêm một tuổi, Blog Phạm Tôn đã lớn lên, càng mong được bạn đọc xa gần giúp sức hơn, đọc và gửi bài, ý kiến góp ý phê bình để Blog Phạm Tôn ngày càng phục vụ sát yêu cầu chính đáng của bạn đọc hơn nhằm tìm hiểu và đánh giá ngày càng xác đáng con người và sự nghiệp của học giả, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh yêu quí của chúng ta.

Cũng nhân dịp này, Blog Phạm Tôn xin chân thành cảm ơn sự giúp sức của quí bạn, nguồn gốc sức mạnh để blog sống và cống hiến trong năm qua.

*

*     *

BLOG PHAMTON TRÒN HAI TUỔI

Blog PhamTon

Đến ngày 22/2/2011, tức ngày 20 tháng giêng Tân Mão này, hoa đào đang khoe sắc thắm trong mưa lạnh xứ Bắc, hoa mai đang vàng rực trong nắng ấm miền Nam, Blog PhamTon chúng tôi vừa tròn hai tuổi (22/2/2009-22/2/2011). Blog PhamTon đã đến với bạn đọc yêu quí hơn một trăm tuần, cung cấp đều đặn mỗi tuần ít nhất hai bài về Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Hai năm qua, chúng tôi phát hơn 306 tư liệu và đã được 741.412 lượt người truy cập, có ngày lên đến 6924

Đó quả thật là một con số không nhỏ đối với một blog cá nhân chỉ chuyên viết về một con người. Mà người ấy lại là Phạm Quỳnh. Điều đó khiến chúng tôi vui mừng nhận thấy định hướng của blog đã đáp ứng đúng yêu cầu của đông đảo bạn đọc cả trong và ngoài nước.

Chúng tôi đã tìm gặp nhà sưu tầm tư liệu nổi tiếng Trần Thanh Phương, nguyên phó tổng biên tập tạp chí Đại Đoàn Kết. Ông là người quen biết cũ, nay lại là người đạt hai danh hiệu kỷ lục gia về tư liệu của nước ta. Vậy mà khi hỏi tư liệu về Phạm Quỳnh thì lại không có gì, kể cả tạp chí Văn Học của Sài Gòn cũ số đặc biệt về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, mà trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông đã từng cho chúng tôi mượn đọc tại Hà Nội, nay cũng nói là không còn. Vì thế, chúng tôi càng cố công đi sâu vào việc tìm kiếm tư liệu về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, có đến đâu là cung cấp ngay cho bạn đọc.

Vào việc, mới biết thật là khó kiếm tư liệu về Phạm Quỳnh, nhất là những tư liệu có giá trị thực sự.

Chúng tôi tin vào quan điểm đã ăn sâu trong xã hội ta gần ba mươi năm nay là nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Chỉ có như thế mới xóa được đám bụi mù che phủ cuộc đời và sự nghiệp Phạm Quỳnh mấy chục năm nay. Chúng tôi tin ở lương tâm, trí tuệ của Nhân Dân, Những Người Làm Nên Lịch Sử. Họ sẽ lên tiếng nói rõ sự thật và bảo vệ sự thật.

Hồi đầu, chúng tôi có bao nhiêu tư liệu sưu tầm dược là hăm hở đưa ngay lên blog bấy nhiêu, hầu như hằng ngày. Nhưng chẳng bao lâu, với cái đà cứ mỗi tuần một lần, ít nhất đưa lên hai bài, “kho tư liệu” gom góp suốt mấy chục năm nay của chúng tôi gần như cạn… Thì may thay, chúng tôi bắt đầu tiếp nhận được những tư liệu mới, thật quí giá như tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh, tư liệu về việc đi bắt Phạm Quỳnh ngày 23/8/1945 do chính tay Thiếu tướng Phan Hàm viết, rồi bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh của Phạm Quỳnh giáo sư Nguyễn Đình Chú mới tìm thấy và nhiều tư liệu từ nước ngoài như trường ca về Phạm Quỳnh của nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stinus do nhà thơ Phạm Tiến Duật đem về cho, tư liệu về các lễ kỷ niệm Phạm Quỳnh ở Pháp, Mỹ năm 1992, 1999 và những tư liệu về các cuộc tranh luận nảy lửa về Phạm Quỳnh thời chế độ cũ ở Sài Gòn những năm 1960, cả những tư liệu của mật thám Pháp những năm 1920, báo cáo mật của khâm sứ Trung Kỳ về  Phạm Quỳnh tháng 1/1945… Các nhà sử học, nhà văn, nhà nghiên cứu như giáo sư Văn Tạo, nhà văn Nguyên Ngọc, Hà Khánh Linh… cũng lên tiếng nói rõ sự thật về Phạm Quỳnh. Nhờ vốn liếng được Nhân Dân tài trợ như vậy mà Blog PhamTon chúng tôi đứng vững trong hai năm qua, mỗi tuần đều đặn đến với bạn đọc yêu quí, đưa đến cho bạn đọc một hình ảnh khác, ít được biết của Phạm Quỳnh: một con người trọn đời trung với nước, hiếu với dân, một “người khổng lồ” như nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc.

Nay chúng tôi đã có các mục thường xuyên như Tìm hiểu Phạm Quỳnh nói rõ mọi điều cơ bản về con người và sự nghiệp, mục Bạn hỏi, chúng tôi trả lời sẵn sàng trả lời ngay và thẳng thắn mọi thắc mắc về Phạm Quỳnh, còn có các bài kịp thời phê bình sách, báo, phim thể hiện sai lệch, bóp méo, bôi nhọ Phạm Quỳnh… Chủ yếu, Blog PhamTon vẫn là nơi cung cấp các tác phẩm của Phạm Quỳnh, nhất là những tác phẩm ít người biết đến, đặc biệt là 11 bài viết cuối đời của ông. Chúng tôi cũng đưa thêm nhiều bức ảnh quí hiếm, độc đáo của Phạm Quỳnh

Về những người trực tiếp làm việc thường xuyên cho blog, năm trước, chúng tôi có năm, nay đã có sáu người, vẫn gồm có hai con trai Phạm Quỳnh, một bạn chí cốt của nhạc sĩ Phạm Tuyên từ thời còn là học viên Trường Lục quân Việt Nam, một cháu ngoại, một chắt ngoại và nay, thêm một chắt dâu của Phạm Quỳnh. Hai người ngoài 80 tuổi, hai người trên 70 và hai bạn trẻ 8x. Chắt nam Phạm Quỳnh, một người trẻ 8x chính là người khai sinh ra blog này, chuyên lo toàn bộ công tác kỹ thuật và tư liệu của blog. Nay, anh đã có bạn đời cùng tuổi chia sẻ nhiệm vụ không hề nhẹ nhàng này. Hai người bị đái tháo đường vẫn làm việc. Người bị ung thư đã phẫu thuật, hóa trị xong tám đợt và nay đang chờ tái khám sau mỗi sáu tháng.

Sau hai năm đến với bạn đọc, chúng tôi vui mừng nhận thấy số bạn truy cập ngày càng tăng, có nhiều bài báo, trang sách, đọc là chúng tôi thấy ngay tư liệu của mình đã được sử dụng, có cả một cuốn sách về Phạm Quỳnh cũng sử dụng nhiều tư liệu của chúng tôi, rồi một cuộc hội thảo tổ chức ở Hải Dương, quê Phạm Quỳnh, cũng cho thấy nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà báo dùng tư liệu của chúng tôi. Đặc biệt là gần đây, mục Phạm Quỳnh trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã lên đến chín trang A4 và còn ghi nhận là “blog chuyên viết về Phạm Quỳnh(tức Blog PhamTon chúng tôi) cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến!”

Gần đây, ngoài việc viết về Phạm Quỳnh, blog chúng tôi còn giới thiệu với bạn đọc về vợ và các con, các cháu nội, ngoại, con dâu, cháu dâu, và cả chắt nội Phạm Quỳnh, trong đó một số là những người nổi tiếng, có người mở ra cả một ngành ở nước ta như ngành giáo dục mầm non, ngành kiến trúc phong cảnh, có người là biên đạo múa ba lê nổi tiếng thế giới.

Thêm một tuổi, thêm nhiều trách nhiệm, bước đi cũng vững vàng hơn. Chúng tôi mong được sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của bạn đọc xa gần, những người vốn yêu kính Thượng Chi – Phạm Quỳnh, không nỡ để Ông bị chôn vùi mãi khi di sản Ông để lại vẫn còn có ích cho đời mới, và không ít điều Ông nêu ra đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.

Nhân dịp này, chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã đọc và giới thiệu cho người quen biết đọc blog, giúp đỡ tư liệu, bài vở, khuyến khích chúng tôi vững bước trên con đường đã chọn mà hai năm qua tỏ rõ là con đường đúng đắn: nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Với niềm tin vững chắc là chân lý sẽ ngày càng sáng tỏ trong Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của chúng ta.

*

*    *

Blog PhamTon TRÒN BA TUỔI

Blog PhamTon

Tuần cuối tháng hai này, Blog PhamTon vừa tròn ba tuổi.

5:00 ngày 22/2/2009, chắt của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, một thanh niên thế hệ 8x đã tặng “quà sinh nhật” cho bố mình là cái Blog PhamTon này.

Từ khi biết nghĩ, chàng trai đã thấy bố mình chắt chiu sưu tầm từng chút tư liệu về Cụ trên sách, báo rồi ghi ghi chép chép, cắt cắt, dán dán, lâu lâu lại sắp xếp rồi cất giữ kỹ càng như “kho báu”.

Năm 1998, bố bị hôn mê vì cétone máu, phải đi cấp cứu, nằm bệnh viện mất mấy tháng, tưởng không qua khỏi… Ra viện là giở ngay “kho báu” ra đọc, sắp xếp lại và cặm cụi đánh máy một bài nhan đề Người nặng lòng với tiếng ta, đem đọc cho mẹ nghe, rồi sửa và sao chụp gửi cho bà con, anh em… đọc, chỉ thế thôi! Có người bà con đọc, khen và hỏi bố có muốn in bên Mỹ không thì họ sẽ giúp, nhưng bố từ chối, nói viết chỉ để người nhà đọc. Năm sau, thì viết bài Người nặng lòng với nhà.  Năm sau nữa, viết bài Người nặng lòng với nước ngay sau khi vừa mổ mắt, chỉ đọc được bằng một mắt.

Mãi đến năm 2006, mới có một tạp chí ở Sài Gòn, sau một tháng, lại có một tạp chí ở Hà Nội cùng in bài viết cuối. Rồi một tạp chí ở Huế đăng bài Người nặng lòng với nhà. Tạp chí ở Sài Gòn lại đăng bài bố viết đầu tiên: Người nặng lòng với tiếng ta.

Hai năm sau, một tạp chí nọ mở hội thảo về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Bố lại hăm hở viết ngay bốn bài, họ đăng hai bài và vội vã “kết thúc hội thảo”, nhưng không đăng toàn văn mà cắt đầu, cắt đuôi, sửa chữ này, thay chữ nọ, đổi cả tên bài. Bố đọc mà thở dài… Các bài viết về Cụ, bố đều nhận nhuận bút bằng báo, rồi gửi cho bà con và những ai xem ra có lòng với ông mình. Rồi bố lại ghi chép, cắt dán, lại viết bài khác. Cứ thế, nhiều năm trời…

Chàng thanh niên 8x thương bố, bàn với bạn bè, rồi cùng nhau làm ra món “quà sinh nhật đặc biệt” này. Và từ đó, anh tự mình lo toàn bộ những gì thuộc về kỹ thuật như lên mạng, tra cứu tư liệu. Sau này có vợ thì lại được thêm một trợ thủ đắc lực. Cũng là một 8x.Khi mới ra đời, Blog PhamTon phát liên tục, hằng ngày, tất cả những tư liệu gom góp hằng mấy chục năm. Vì nghe nói … mệnh các blog cá nhân thường yểu, chỉ sợ chưa nói được điều cần nói thì đã ra đi… Dần dần thấy không có ai ngăn cấm, yên tâm hơn mới đi vào nền nếp để người đọc dễ tìm đọc, bèn định ra thời hạn phát blog như một tờ báo ra định kỳ: cứ mỗi tuần ra một “số” vào ngày chủ nhật đầu tuần. Sớm nhất thì phát vào thứ sáu tuần trước. Thấm thoát đã tròn ba năm.

Đến ngày 22/2/2012 đã vượt xa con số một triệu lượt người truy cập…

Ngày cao nhất lên đến hơn 10 nghìn. Đến nay, bài trên Blog PhamTon đã lên báo Xuân tạp chí Thanh Tra (Cơ quan của Thanh Tra Chính Phủ và ngành Thanh Tra) Tân Mão và Nhâm Thìn, tạp chí Nguồn Sống (Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang), vào sách Vang mãi lời bác dặn, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (NXB Công An Nhân Dân) và Phạm Quỳnh – Hoa Đường Tùy Bút (NXB Hội Nhà Văn), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (NXB Thanh Niên). Từ điển quốc tế mở Wikipedia cũng dùng không ít tư liệu của Blog PhamTon và đánh giá là blog đã cung cấp nhiều tư liệu chính xác còn ít người biết đến.

Blog PhamTon đã được bạn đọc tin yêu và bảo vệ. Các bạn viết bài, gửi tư liệu cho Blog PhamTon, nhiều bạn đọc và phát lại trên blog của mình. Khi có những bài viết nói sai về Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà blog chúng tôi lên tiếng nói lại cho rõ sự thật, thì đều được bạn đọc ủng hộ, cung cấp thêm cho nhiều tư liệu mới. Và đáng mừng là các việc làm sai trái ấy đều được sửa chữa, nhiều khi rất nhanh chóng, có khi chỉ trong một tuần. Điều đó, chứng tỏ không ít người đọc Blog PhamTon.

Sự tin yêu và bảo vệ Blog PhamTon của quí bạn đọc khiến chúng tôi càng thêm cố gắng, tin tưởng ở công việc mình đã và đang làm là chính đáng, theo đúng phương châm đề ra từ đầu là Nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Tất nhiên là về Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Blog PhamTon chúng tôi có vinh dự được công bố lần đầu tiên một số bài của các nhà văn và nhà nghiên cứu trước khi các bài đó được in trên sách, báo. Đặc biệt vinh dự là được đăng Tư liệu về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh của nhà văn, Anh hùng lao động Sơn Tùng.

Chúng tôi chỉ phát những bài viết của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, những bài viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh hoặc liên quan đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Chúng tôi vinh dự là nơi cung cấp đầu tiên cho bạn đọc 11 bài viết cuối đời của Phạm QuỳnhGiới thiệu 51 bài thơ Đỗ Phủ do ông dịch nghĩa. Đến nay, chúng tôi còn có các mục Tìm hiểu Phạm Quỳnh, Bạn hỏi, chúng tôi trả lời, Cùng bạn đọc, v.v…

Không ít sách báo đã sử dụng tư liệu phát trên blog. Có báo còn trực tiếp liên hệ với chúng tôi để có tư liệu chính xác khi viết về Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong. Thế là Blog PhamTon đã có chỗ đứng trong xã hội và là một địa chỉ đáng tin cậy.

“Lực lượng” thực hiện Blog PhamTon hiện nay chỉ có hai anh em trai nhạc sĩ Phạm Tuyên, một bạn chí cốt của nhạc sĩ từ thời cùng học Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam, người cháu và vợ chồng người chắt đồng tuổi 8x. Về lứa tuổi thì có một 2x, hai 3x, một 4x và hai 8x. Vậy mà Blog PhamTon vẫn ra đều đặn, kể cả khi có người bị ung thư phải mổ, rồi hóa trị tám đợt, có hai người bị đái tháo đường trên dưới 15 năm mấy lần cận kề cái chết, lại có cả đám cưới 8x, có sự ra đời của bé Mèo thế hệ 1x của thế kỷ 21. Có buồn, có vui, nhưng Blog PhamTon vẫn ra đều đặn, hằng tuần, sớm thì thứ sáu tuần trước, muộn nhất cũng chủ nhật đầu tuần.

Vì sao có thể làm được như vậy?

Vì cả sáu con người này đều hết lòng yêu kính Phạm Quỳnh, hợp sức cùng các con cháu khác của Phạm Quỳnh cả trong và ngoài nước, lại được sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình của quí bạn đọc, mà nay số lượt người truy cập đã vượt xa con số một triệu… Có bài chúng tôi mới phát mấy tuần, đã có tới hơn 50 nghìn lượt người truy cập. Mà đó là bài chúng tôi nói rõ quan điểm của mình là phản đối tất cả những ai nấp sau tấm bia tưởng nhớ Thượng Chi – Phạm Quỳnh dựng trong lòng người dân Việt để chống lại Tổ quốc, nhân dân yêu quí của Con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Bạn đọc quả là công bằng.

Được sự tin yêu và bảo vệ của bạn đọc yêu quí, chúng tôi sẽ cố hết sức phục vụ bạn đọc được nhiều hơn nữa, làm sáng tỏ mọi mặt về con người và sự nghiệp của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, góp phần nhỏ vào việc xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nam nay là năm Nhâm thìn, năm tuổi của Phạm Quỳnh và vợ; nếu còn, hai vị đều 120 tuổi. Dịp Tết năm nay, có không ít báo đã đi tìm “ông tổ báo xuân” là ai như Nhân Dân (bài Những tờ báo Xuân đầu tiên ở Sài Gòn), Tuổi Trẻ cuối tuần (Tìm lại tờ báo Xuân đầu tiên), Công lý, cơ quan của Tòa án Nhân dân Tối cao, (Ai là ông tổ báo Xuân?), tạp chí Nghề báo của Thành phố Hồ Chí Minh (Đi tìm tờ báo Xuân đầu tiên ở Việt Nam), tạp chí Nhà báo Huế của hội nhà báo Thừa Thiên-Huế (Nam Phong, tạp chí đầu tiên khởi xướng “tục” làm báo Tết), v.v… Và tất cả đều tìm ra câu trả lời: “ông Tổ báo Xuân” chính là Phạm Quỳnh, người chủ bút mới 25 tuổi của Tạp chí Nam Phong đã cho ra số báo Xuân Mậu Ngọ 1918 ngay khi Tạp chí Nam Phong mới ra đời được sáu tháng. Và để lại một truyền thống tốt đẹp là ra báo xuân hằng năm, hiện đã có hơn 600 số báo xuân ở Hội báo Xuân Nhâm Thìn 2012.Chuyện nhỏ này thật có ý nghĩa: Người ta không còn ngại nhắc đến tên Phạm Quỳnh nữa bắt đầu khẳng định, công nhận và tôn vinh một việc ông đã làm từ thời trẻ tuổi.

Năm rồng hứa hẹn điều gì với người sinh năm rồng 120 năm trước…

*

*    *

Tròn bốn tuổi Blog PhamTon tự tin vững bước vào năm thứ năm!

Blog PhamTon

Cầm tập báo Thời Nay Xuân Quý Tỵ 2013, thấy ngay góc bên phải trang bìa có hàng chữ đỏ thắm Tổ quốc thiêng liêng, dưới đó là hàng chữ vàng rực Năm Tỵ đáng nhớ  và hàng cuối cùng lại màu đỏ thắm, chỉ có hai chữ Niềm tin, chúng tôi cảm thấy như những hàng chữ đó “vận” ngay vào cuộc đời của Blog PhamTon chúng tôi.

Năm Quý Tỵ này, Thượng Chi – Phạm Quỳnh, con người trọn đời Trung với Nước, Hiếu với Dân vừa tròn 120 tuổi. Chúng tôi có Niềm tin là năm nay, ánh sáng của Chân lý lịch sử sẽ soi rọi  vào cuộc đời vẻn vẹn 52 năm của mình mà ông đã dốc sức vì Dân, vì Nước làm được thật nhiều việc thiện.

“Nhâm Thìn vụt qua như bóng nhạn lướt ngoài khung cửa sổ” (Vũ Khoan, trang 6 báo Thời Nay Xuân Quý Tỵ). Thời gian qua đi thật nhanh. Nhưng, “thời gian ủng hộ chúng ta” như một văn hào Xô viết đã nói. Vì chúng ta có chính nghĩa có chân lý, với thời gian, chân lý ấy, chính nghĩa ấy sẽ ngày càng sáng tỏ, tỏa rộng.

Chúng ta đang xây dựng thành công một nước Việt Nam độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Chính nhờ dân chủ ngày càng mở rộng và đi vào thực chất hơn nên mới có sự ra đời Blog PhamTon, một tờ báo mạng nhỏ” ra đều đặn mỗi tuần một kỳ, mỗi kỳ từ ba đến sáu bảy bài, Blog PhamTon là một blog cá nhân chỉ chuyên viết về cuộc đời, sự nghiệp Thượng Chi – Phạm Quỳnh và những người, những việc liên quan đến ông. Blog PhamTon lại không viết giống như người ta thường viết ngót 70 năm qua. Vậy mà Blog PhamTon vẫn yên ổn ra mắt bạn đọc đều đặn, đúng hẹn. Lớp bụi dày che phủ cuộc đời và sự nghiệp Phạm Quỳnh được xua đi bao nhiêu thì con người thật và sự nghiệp thật của ông càng hiện lên rõ ràng trước mắt đông đảo bạn đọc. Blog PhamTon ra đời ngày 22/2/2009 mà đến nay đã có số lượt người trong và ngoài nước truy cập lên đến 1.235.344 lượt, ngày cao nhất lên đến 10.005 lượt, bài được truy cập nhiều nhất lên đến, 58.173 lượt

Một học giả có uy tín lớn, sinh năm 1920 mà nay vẫn đều đặn có bài trên báo, ra sách mới. Vốn ngưỡng mộ Phạm Quỳnh, cụ đã  tận tình theo dõi giúp đỡ chúng tôi, thường xuyên động viên, khuyến khích chúng tôi cố gắng “cháo nóng húp quanh”, kiên trì với con đường đã chọn là nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật về Phạm Quỳnh.

Xuân năm nào cụ cũng gửi thiếp Tết cho chúng tôi với những lời chí tình. Năm Canh Dần 2010, Blog PhamTon  vừa đầy năm, thì cụ chúc chúng tôi “Mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc và thành đạt theo gương thân tộc nội ngoại rất đáng kính.” Năm Tân Mão, 2011, cụ chúc “luôn mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc và thành đạt.” . Năm ngoái Nhâm Thìn, 2012 cụ cũng chúc tương tự. Nhưng năm nay, Quý Tỵ, cụ lại chúc: “An vui, hạnh phúc, hanh thông, thành đạt”. Cụ còn cẩn thận viết TB (tái bút): “Mừng chú đã thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của ông Cụ.” Chúng tôi đọc mà xúc động trước hai chữ “hanh thông”, có lẽ cụ mong chúng tôi nuôi Blog PhamTon được suôn sẻ, không gặp trở ngại gì trong năm thứ năm này. Cụ còn khen chúng tôi “thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của ông cụ” (tức Thượng Chi – Phạm Quỳnh). Chúng tôi biết mình không xứng với lời khen, nhưng hiểu điều cụ kỳ vọng ở mình mà càng thêm cố gắng. Quả là cụ đã thấu hiểu mục đích chủ yếu lập ra và tiến hành Blog PhamTon. Chúng tôi không mong gì hơn là Phạm Quỳnh được hiểu đúng như con người thật của ông, cũng như những việc thật mà ông đã làm trong suốt đời mình. Chỉ thế thôi, không đòi hỏi gì hơn, cũng không tô vẽ gì thêm, vì chính Phạm Quỳnh không cần như vậy. Chúng tôi theo đúng lời Phạm Quỳnh đã dạy là: “Nói thật, mất lòng. Nhưng nói thật vẫn hơn.”

Bốn năm qua, Blog PhamTon hoạt động đều đặn vẫn chỉ với lực lượng nhỏ nhoi: một 2x, hai 3x, một 4x và hai 8x của thế kỷ trước. Hai 8x chuyên lo về kỹ thuật và tư liệu. Vậy mà Blog PhamTon vẫn sống được là nhờ sự giúp sức của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước yêu quí Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Có cụ ông sinh năm 1930, từng vật lộn với cuộc sống ở Lào, Campuchia và Sài Gòn cũ, nhận sự gửi gắm của một người trong họ sắp lìa đời giữ gìn mấy “bảo vật” là ba số báo Nam Phong các năm 1924, 1925, 1926. Giữ gìn suốt hơn 40 năm trời, mãi đến năm Nhâm Thìn 2012, cụ mới tìm được cách liên lạc với nhạc sĩ Phạm Tuyên và chuyển đến gia đình những “bảo vật” ấy. Có vị giáo sư đại học ở Hà Nội được một bạn ở thành phố Hồ Chí Minh gửi cho bài báo có viết về Phạm Quỳnh đã gửi cho chúng tôi sử dụng trên Blog PhamTon. Có cả những bạn trẻ viết bình luận về bài trên Blog PhamTon, có bạn còn đề nghị sớm mở hội thảo về Phạm Quỳnh, mời cả khách là các nhà nghiên cứu người Pháp. Nhưng đóng góp đáng quí nhất cho chúng tôi trong bốn năm qua là nhà văn Khúc Hà Linh ở Hải Dương quê Phạm Quỳnh đã viết và xuất bản năm 2010 sách Phạm Quỳnh con người và thời gian; rồi năm 2012 lại bổ sung thật nhiều đến mức khi tái bản sách phải đổi nhan đề thành Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc, cũng ở Nhà xuất bản Thanh Niên Hà Nội. Nhà sử học Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan năm 2011 xuất bản  Phạm Quỳnh một góc nhìn, năm sau lại xuất bản Phạm Quỳnh một góc nhìn (tập 2), đều là ấn phẩm của Nhà xuất bản Công An Nhân Dân. Đặc biệt buổi ra mắt tập sách mới này đã thành cả một cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh tại Huế, nơi nhà văn hóa đã sống 13 năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên một ngôi chùa Huế. Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên-Huế đã có nhã ý gửi cho Blog PhamTon toàn bộ các bài phát biểu trong hội thảo, giúp bạn đọc có thêm nhiều thông tin mới về Phạm Quỳnh. Đến nỗi hiện nay đông đảo bạn đọc đang đòi hỏi tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan gấp rút cho ra mắt Phạm Quỳnh một góc nhìn (tập 3) hay nói đúng hơn là Phạm Quỳnh những góc nhìn từ Huế. Hội thảo Đề xuất đánh giá lại Phạm Quỳnh (báo Thanh Niên) đồng thời nêu lên câu hỏi: “Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?” (Nhà văn Tô Nhuận Vỹ) và kết luận đây “Không chỉ là chuyện của Cụ Phạm” (Nhà văn Nguyễn Khắc Phê).

Nhân dịp này, chúng tôi xin nhắc lại một chút về sự ra đời của Blog PhamTon. Đó là một nhu cầu tất yếu trong quá trình tìm cho ra con người thật và sự nghiệp thật của Phạm Quỳnh, một nhân vật nổi bật trong nửa đầu thế kỷ XX ở nước ta. Cũng là một nhân vật gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi khắp cả nước với những ý kiến đánh giá trái chiều nhau kéo dài từ những năm ông còn sống và làm việc, nhất là sau cái chết bi thảm của ông năm 1945. Việc làm trọng đại này chỉ có thể diễn ra khi đất nước ta tiến trên con đường dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh, tiếng nói của nhân dân được tôn trọng. Đáng chú ý là người đề xuất và trực tiếp cho ra đời Blog PhamTon không phải là một 2x, hoặc hai 3x, thậm chí cũng không phải là một 4x mà lại chính là một 8x của thế kỷ trước. Có lẽ đó là vì chỉ có người trẻ mới dám nghĩ lớn, làm lớn như vậy! Đó là “sáng kiến” của chàng trai chắt của Phạm Quỳnh, làm ra Blog PhamTon để làm “quà tặng sinh nhật” cho cha là cháu ngoại Phạm Quỳnh. Cho nên Blog PhamTon  mới ra đời vào sáng sớm ngày 22/2, đúng ngày mà 69 năm trước cha anh đã ra đời. Đến nỗi, nay ngày 22/2 đã trở thành ngày kỷ niệm sinh nhật của Blog PhamTon, người cha phải chuyển ngày kỷ niệm sinh nhật của mình sang ngày âm lịch năm Canh Thìn. May mà ngày đó lại là ngày rằm tháng giêng, cả nước cúng bái, sẵn cỗ bàn, không phải lo tổ chức sinh nhật như người khác. Đó là niềm vui lớn của người cha, khi nghĩ về cách báo hiếu của con mình, tuy “trẻ người” nhưng không “non dạ”.

Nhân ngày vui, mừng Blog PhamTon tròn bốn tuổi đầu đời, tự tin vững bước trên đường vào năm thứ năm, chúng tôi không khỏi có những suy nghĩ riêng tư như trên, mong được chia sẻ với bạn đọc yêu quý.

Chúng tôi mong được sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của các bạn trong và ngoài nước, nhất là những bạn đã tin yêu chúng tôi mấy năm nay, đã đọc và rủ bạn bè, người thân cùng đọc, đã gửi cho chúng tôi ý kiến, bài viết, hoặc báo cho chúng tôi biết những tin tức bài vở về Phạm Quỳnh rải rác trên sách báo xưa và nay ở trong và ngoài nước, cung cấp chất nuôi dưỡng Blog PhamTon ngày càng sát yêu cầu của bạn đọc, giải đáp được ngày càng nhiều những câu hỏi từ nhiều năm, qua nhiều thế hệ về Phạm Quỳnh… Chúng tôi có mục Tìm hiểu Phạm Quỳnh, có mục Thư bạn đọc và có cả mục Bạn hỏi, chúng tôi trả lời. Mong lắm thay những giúp đỡ của quý bạn có lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Chúng tôi tin là trong năm thứ năm này, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta như đã ủng hộ trong bốn năm qua.

“Đi đường mới biết gian lao /Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”. Chúng tôi luôn tự răn mình như thế. Nhưng cũng vững tin rằng “Núi cao lên đến tận cùng / Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”  (dịch thơ Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù)

Thành phố Hồ Chí Minh – mùng 3 Tết Quý Tỵ (12/1/2013)

B.P.T.

*

*    *

Năm GIÁP NGỌ – 2014

HY VỌNG BLOG PHAMTON “MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG”

Blog PhamTon

Năm Giáp Ngọ này khởi đầu từ ngày cuối tháng đầu năm 2014.

Năm 2014 lại mở đầu với một tin vui lớn, đem lại hy vọng cho hơn 90 triệu người dân Việtở trong và ngoài nước khi bước vào Kỷ Nguyên Vàng: Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Đây là bản Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội nước ta khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.

Tháng Giêng Giáp Ngọ cũng là tháng có ngày ra đời Blog PhamTon chúng tôi 22/2. Năm nay, Blog PhamTon bước sang tuổi thứ sáu.

Kể từ Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đến nay, cứ mỗi lần sửa đổi là mỗi lần Hiến pháp nhấn mạnh hơn đến quyền làm chủ của nhân dân, tư tưởng lấy dân làm gốc càng được khẳng định.  Cũng là mỗi lần mở đầu một thời kỳ thắng lợi mới của dân tộc ta ngày càng tiến lên dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh hơn.

“Hiến pháp sửa đổi đã thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền lực của nhân dân, phát huy dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa và bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp bổ sung một yêu cầu rất quan trọng của nhân dân đó là: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Hiến pháp lần này bổ sung vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Hiến pháp đã khẳng định nguyên tắc Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… (Báo Nhân Dân số ra ngày 10/12/2013)”

Con, cháu, chắt Phạm Quỳnh và tất cả những ai yêu kính Phạm Quỳnh bấy lâu nay càng mừng vui hơn khi trong bản Hiến pháp này ngay sau Chương I về Chế độ chính trị đã là Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (từ điều 14 đến điều 49)

Chúng tôi đặc biệt chú ý các điều sau:

“Điều 14:

  1. Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và Pháp luật.
  2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 18:                                

  1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
  2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 19: Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật

Điều 25: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin (Chúng tôi nhấn mạnh – PT), hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 40: Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó.

Điều 41:Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.”

Riêng Điều 25, chúng tôi thấy Blog PhamTon đã được hưởng trọn vẹn từ ngày đầu ra đời 22/2/2009. Đến nay, chúng tôi đang sống trong năm thứ 5, và đã có ngót một triệu rưỡi lượt người truy cập từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Cũng cần phải nhắc lại là Blog PhamTon chỉ là một blog cá nhân, lại chuyên về một đề tài là những gì liên quan đến chỉ một con người là Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Chúng tôi không nói cùng giọng với những gì vẫn thường được nói, viết trong ngót 70 năm qua ở trong nước và kiên trì nói rõ những gì chúng tôi cho là nói không đúng về Phạm Quỳnh.

Vậy mà chúng tôi chưa hề gặp khó khăn cản trở gì, thậm chí không ít tham luận tại các hội thảo, blog cá nhân và một số sách, báo còn sử dụng các tư liệu do chúng tôi công bố.

Nay, mọi người Việt vốn có lòng nhân hậu, lại đều dũng cảm, có điều kiện nói lên tâm ý thật của mình, tập trung trí tuệ toàn dân lại thì nhất định chân lý sẽ sáng tỏ, tấm gương sáng trung với nước, hiếu với dân của Thượng Chi – Phạm Quỳnh sẽ được nêu cao, góp phần đưa nước nhà rạng danh trên trái đất này.

Chính vì các lẽ đó mà chúng tôi tràn đầy hy vọng năm Giáp Ngọ – 2014 này, Blog PhamTon sẽ “mã đáo thành công”. Bởi mục đích chúng tôi đã định từ khi cho Blog PhamTon ra đời là chúng tôi không mong gì hơn Phạm Quỳnh được nhìn nhận đúng như con người và hành động thực trong cuộc đời vẻn vẹn 52 năm của ông, không bôi đen, cũng chẳng tô hồng.

Thời của Sự Thật đã đến vậy.

*

*    *

ĐÓN XUÂN ẤT MÙI – 2015, BLOG PHAMTON TRÒN SÁU TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC VÀO TUỔI THỨ BẢY

Blog PhamTon

Năm ngoái là năm nhuận, thành ra ngày Mồng một Tết Ất Mùi này là ngày 19 tháng 2 năm 2015 và chỉ sau ba ngày Tết đã là ngày 22 tháng 2, lại đúng sinh nhật Blog PhamTon chúng tôi (22/2/2009-22/2/2015). Mừng Xuân, cũng là mừng sinh nhật Blog PhamTon vậy.

Năm ngoái Giáp Ngọ – 2014, chúng tôi đã hào hứng đưa lên bài Hy vọng Blog PhamTon “mã đáo thành công”. Năm nay, một năm mùi, năm con dê, sẽ thế nào? “Hình ảnh con dê cũng là hình ảnh may mắn cho đất nước. Con dê có âm Hán Việt là Dương đồng âm với chữ Dương có nghĩa là khí thịnh. Khí thịnh tượng trưng cho điềm lành, sự phát triển của đất nước” (Trích bài Hình ảnh con dê dưới triều Nguyễn của Nguyễn Hy Khuyến, tạp chí Xưa và Nay Xuân 2015, số 456 tháng 2 năm 2015).

Hy vọng điềm lành và sự phát triển ấy cũng ứng vào Blog PhamTon chúng tôi năm nay.

Năm mới, xin nhắc lại một vài chuyện cũ…

Ngày 19 tháng chạp Giáp Ngọ, một người thân của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã “than” với nhạc sĩ là “bên này (ý nói Mỹ, nơi họ đang cư ngụ) có gửi một số bài đóng góp cho Blog PhamTon những ý kiến trái chiều, nhưng Blog PhamTon không thích nên không dùng.” Khiến chúng tôi phải lục lại những gì nhận được cuối năm 2014, hóa ra “một số bài” người đó muốn nói là nhắc đến số comment viết sau khi đọc mỗi bài, tin trên Blog PhamTon chúng tôi, mà trong kỳ trước chúng tôi đã gọi là “ném đá giấu tay”… Vì quả thực khó gọi đó là “bài đóng góp cho Blog PhamTon”, mà chỉ là những lời phỉ báng chê bai thô bạo… và không bao giờ có bút danh đàng hoàng, chỉ là những nickname kỳ quặc… Ví như trong email phát lúc 4:07 ngày 13/7/2014 vybui viết: “Phạm Tôn! Tin hai thằng CS gộc hay là tin vào người nghiên cứu chỉ căn cứ vào tư liệu, vào sự kiện lịch sử?” Hoặc nhiều email ký tên là Nặc Danh (10:55 ngày 21/12/2014 hoặc 10:48, ngày 21/12/2014). Còn trong email phát 4:49 sáng 22/12/2014 Nặc Danh có bình luận về bài Trường hợp Võ Phiến của tác giả Thu Tứ chúng tôi đưa lên Blog PhamTon tuần 4/10/2014 với giọng hằn học như sau: “Ở chế độ tự do, con người chỉ có trách nhiệm với việc mình làm. Ông Võ Phiến còn sống sờ sờ ra đó cớ sao thằng con có quyền gì nhảy xổ vào sự nghiệp viết lách của ông, có quyền định đoạt cho ông cuốn sách nào, bài nào được xuất bản, cuốn nào bài nào thì không? Phải chăng cái giòng máu đấu tố của cộng sản nó đã thấm vào thân xác thằng con trời đánh nầy! (?!) (Chúng tôi nhấn mạnh và thêm hai dấu ?!-PT chú) Lại thêm một Hổ Phụ sinh Cẩu tử!” Không lẽ đây “là bài đóng góp cho Blog PhamTon”!

8:16 chiều 23/7/2014, tác giả Thắng Dư bình luận về bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn lên Blog PhamTon tuần thứ 1 tháng 4 năm 2013 như sau: “Bài viết của ông Phạm Tôn có nhiều thông tin quý. Nhưng câu trả lời mà người đọc quan tâm là ai đã giết hại cụ Phạm Quỳnh thì ông Tôn lại quá ấu trĩ. Xin ông Tôn hãy sử dụng kiến thức về logic hình thức (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) để chỉ thẳng ra rằng, chính những người CS, cụ thể là những nhân vật chóp bu Việt minh lúc đó là thủ phạm hãm hại cụ Phạm Quỳnh.” Trong khi chúng tôi là con cháu và các nhà nghiên cứu văn học và lịch sử có lương tâm cả trong và ngoài nước đang cố công tìm cho ra tư liệu, sự kiện và những nhân chứng thực sự đã chứng kiến để tìm lại lịch sử đúng như nó đã diễn ra cách đây 70 năm trước, thì ông lại khuyên chúng tôi một câu … đơn giản, dễ dàng là “sử dụng kiến thức về logic hình thức” để kết án một cách thô bạo về một tội ác với văn hóa, lịch sử đất nước ta! Nếu không vâng lời ông thì sẽ là “quá ấu trĩ”. Không lẽ đây cũng là “bài đóng góp cho Blog PhamTon”!

Trong email phát lúc 10:48 sáng 21/12/014 Nặc Danh (lại Nặc Danh!) thực sự nổi đóa khi đọc bài Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta (Blog PhamTon 1/11/2014) như sau: “Cụ Phạm Quỳnh nếu có linh thiêng, đọc cái đề bài chắc cụ hết sức phẫn nộ! Nếu con cháu của cụ còn có chút lòng trọng thị cụ, thì họ phải viết là: “Phạm Quỳnh vẫn còn sống mãi trong lòng người Việt Nam ta” mới đúng. Nếu có ai viết Albert Einstein sống mãi trong lòng của Hitler thì cũng không khôi hài bằng”.

Chúng tôi hiểu là, đọc xong bài viết của chúng tôi liệt kê cụ thể, có kèm cả ảnh minh họa rõ ràng các sách của Phạm Quỳnh đã tái bản và xuất bản lần đầu, các cuộc hội thảo tổ chức ở Hải Dương quê gốc Phạm Quỳnh, và Huế nơi ông an nghỉ thì Nặc Danh căm giận mà không sao bác bỏ được một sự kiện nào, bèn… tức quá hóa khùng, chửi đổng vài câu… Nhưng, dù có sửa cái đề bài thành “sống mãi trong lòng người Việt Nam ta”, thì vẫn không tránh khỏi phải trả lời các câu hỏi: những người Việt Nam đó hiện sống ở đâu và mọi sách báo đó, hội thảo đó xuất bản, tổ chức ở đâu… Và rồi vẫn cứ phải trả lời là trong lòng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta mà thôi.

Nói chuyện cũ, chúng tôi lại nhớ năm 2011, mới ra mắt lần đầu sách Phạm Quỳnh Hoa đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ, nhạc sĩ Phạm Tuyên có gửi sang Mỹ cho người thân mấy bản. Sau đó, người thân này cho ông biết: Nhà báo lão thành Trần Thế Xương (bút danh Mạc Kinh, Người Luân Đôn) sau khi xem sách đã nói là rất cảm động thấy các bản thảo viết cuối đời của Phạm Quỳnh đã được xuất bản và thổ lộ “Anh em bên nhà làm tốt hơn mình”.

Và chúng tôi còn muốn nhắc lại với các bạn là ngày 22/11/2014, con cháu chắt Phạm Quỳnh ở trong nước đã về Hải Dương để dự khánh thành Bia tưởng niệm Nhà Văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc Hải Dương, mà dân địa phương quen gọi là “Lăng Quỳnh”, mặc dù ông được an táng tại Huế. Nên nói thêm là “Lăng Quỳnh” được xây dựng theo chủ trương của Đảng bộ và chính quyền địa phương. Xây dựng và khánh thành trong thời gian có đoàn cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hải Dương nghiên cứu tình hình để chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XII sắp tới, Hội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương cũng về đây làm việc với Tỉnh Ủy, Ủy ban Nhân dân, Ban Tuyên Giáo và Hội Văn học – Nghệ thuật Hải Dương . Nơi tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh xây dựng đàng hoàng bằng đá đen, “giữa thanh thiên bạch nhật” và sự đồng thuận của lòng người.

Ngay sau đó, báo Đại Đoàn Kết cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đăng bài và ảnh giới thiệu sự kiện này với đồng bào cả nước. Hai cột trước nhà bia tưởng niệm có viết hai hàng chữ Nôm và quốc ngữ câu nói nổi tiếng của Thượng Chi Phạm Quỳnh Truyện Kiều còn, Tiếng ta còn, Tiếng ta còn, Nước ta còn.

Sự thật thắng hùng biện, nữa là những lời chửi bới lèm nhèm trên mạng…

Năm Ất Mùi 2015 mong cũng là năm mang lại điều lành và sự phát triển hơn nữa cho Blog PhamTon chúng tôi vững bước sang tuổi thứ bảy trong lòng Tổ quốc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta.

*

*   *

BLOG PHAMTON TRÒN 7 TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO NĂM THỨ 8

Blog PhamTon

Ngày Blog PhamTon tròn bảy tuổi năm nay lại nhằm đúng ngày rằm tháng giêng, giống hệt như cách đây 76 năm, ngày 22/2/1940 cũng nhằm đúng ngày rằm tháng giêng năm Canh Thìn.

Ngày ấy, tại Hà Nội, trưởng nữ của nhá báo Phạm Quỳnh được bà chị dâu cả thân thiết như bạn tri kỷ và cô em kế đến ngủ nhà cô để sáng hôm sau cùng đi lễ ngày rằm. Nhưng phải đưa cô ngay đến bệnh viện Đặng Vũ Lạc lúc mờ sáng. Và cô đã sinh con trai thứ bụ bẫm, mắt to đen.

Cháu bé hiền lành lớn lên trong tình yêu thương của cả gia đình. Được năm tuổi thì thấy nhà mình bỗng đông hẳn lên. Bà Ngoại và cả các cậu, các cô ở Huế ra. Nhà đông mà không vui. Không thấy ông ngoại đâu, nhưng ai cũng thì thầm nói về ông. Kể cả khi gọi đồng chén các buổi chiều buồn sau bữa ăn hầu như yên lặng.

Bé thân với người cậu hơn mình 10 tuổi. Chính cậu dậy cho bé những chữ cái đầu đời. Rồi ngày khai trường năm bé tròn sáu tuổi, đi học ở trường Hoài Đức phố Hàng Trống, cả nhà bận rộn việc này việc nọ, chỉ có cậu khéo tay cố làm cho cháu một cái cặp bằng vỏ bao xi măng, có chỗ gài bút chì đen và xanh đỏ. Bé sướng quá. Đến trường, thấy các bạn cặp xanh, cặp đỏ, cặp da nâu, mới thấy tủi vì cái cặp vỏ bao xi măng xám của mình.

Năm chú 15 tuổi, thì người cậu dạy học ở Khu học xá trung ương bên Trung Quốc về nước họp hội nghị giáo dục. Bao giờ người đi đón cậu về và tiễn cậu đi cũng là chú. Hai cậu cháu vẫn thân thiết như xưa. Một đêm, trước khi cậu đi, bạn bè nhiều, nên khi cậu về đến nhà thì cháu đã ngủ say, giấc ngủ của tuổi đang lớn. Nhưng cậu vẫn lay cháu dậy, và cậu nói với cháu điều nhất thiết cháu phải biết là cháu sẽ lớn lên, hãy cứ tự tin sống theo lẽ phải, chỉ làm những gì mình tin là đúng, mặc cho người khác nhìn mình với cặp mắt kỳ thị, cứ lớn lên mạnh mẽ, xem như mình chẳng may sinh ra có một cái bớt đen trên mặt thế thôi… Nhiều người chê, nhưng cũng còn nhiều người nhận ra mình là người tốt. Cứ tin vào họ và sống với họ.

Từ đó, chú thường nghĩ về ông ngoại. Biết ông mình cùng lứa tuổi với người cao đẹp nhất đang lãnh đạo đất nước. Rồi cứ suy nghĩ mãi vì sao cùng lứa tuổi mà một người thì cứ ngày một lên cao, một người thì lên thật cao rồi bỗng sa chân, chôn vùi cả thân xác lẫn sự nghiệp. Chú cố sưu tầm tất cả những gì ít ỏi có dấu vết của ông ngoại còn sót lại trên miền Bắc đất nước chia cắt. Chủ yếu là nghe mẹ kể và những ký ức tuổi thơ những ngày sống ở Hoa Đường hồi từ hai đến bốn tuổi. May là chú có trí nhớ rất tốt, nhớ cả đến cảm xúc những ngày thơ bé đó, luôn mở to mắt mà nhìn đời. Mẹ kể một ông cậu đã làm hai câu thơ tả bé Mắt đen lay láy, đầu xiêu/ Gục đi lắc lại đáng yêu dường nào.

Năm 1960, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh tình cờ phát hiện ra cụ em vợ bà ngoại sống ở Yên Bình Yên Bái. Mẹ chú lên thăm, rồi hè năm ấy chàng sinh viên Học viện Nông Lâm cùng em trai lên nghỉ hè ở nhà bà. Không ngờ, bà cụ là cả một kho chuyện kể về thời trẻ, lúc Phạm Quỳnh 16 tuổi mới lấy cô chị cả đồng tuổi Nhâm Thìn. Thế là hai bà cháu cứ mải mê chuyện trò không dứt. Mà chỉ nói chuyện về một người. Cụ có trí nhớ tuyệt vời mà lại có tài kể chuyện. Những lúc kể, mắt cụ long lanh, miệng thiệt tươi như cô em ngày nào đang ngắm nhìn anh rể tài hoa mà khiêm nhường, bao dung.

Từ đó, năm nào anh cũng lên thăm bà Yên Bái. Kể cả sau Hiệp định Paris, phải đi qua cầu phao vượt sông Hồng, rồi đạp xe đến ga Đông Anh, chờ tàu đi Yên Bái, mờ sáng đến ga Yên Bái, còn đạp xe hơn 40km đến xóm nhỏ ở Thác Bà, ăn Tết với bà và cô. 11 cái Tết ảnh bỏ Hà Nội, lên miền núi.

Rồi đất nước thống nhất, anh vào Sài Gòn làm phóng viên thường trú. Cơ man nào là sách của ông ngoại, và viết về ông. Biết bao người ôm ấp nhiều chuyện về ông, sẵn sàng kể cho nghe.

Năm 1998, tình cờ anh bị cảm, nôn mửa suốt một ngày, lả đi, đến khi vợ con đi làm và luyện thi đại học về kịp nhờ người đưa đi cấp cứu, thì anh đã hôn mê do máu nhiễm xê tôn (cétonurie). Tỉnh dậy sau 15 ngày vật vã, anh nghĩ cuộc đời mình thật lãng nhách. Suốt đời vất vả ki cóp tư liệu về ông ngoại mà không dám viết. Vì sợ tư liệu còn thiếu. Còn tài năng thì làm gì có. Cứ chờ đã. Để đến bây giờ, sắp chết đến nơi rồi … Đúng là “sống để dạ, chết mang theo”. Trong khi những điều mình biết thì cả mẹ, cả các cậu, các cô đều không ai biết nhiều bằng mình. Mơ màng nghĩ vậy, rồi anh quyết định ngồi dậy được là sẽ bắt tay vào việc. Và “noi gương” Lê Quí Đôn khi viết Phủ Biên Tap Lục, luôn cho tư liệu tìm được vào các túi gấm, anh nghĩ nếu nói về ông ngoại thì nên nói những gì. Và nghĩ ngay ra là tư liệu ít nhất cũng phải chia thành ba “túi”: Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nhà Người nặng lòng với nước. Mà định khi “công bố”, thì cũng cứ theo thứ tự ấy mới mong lọt.

Sau hai tháng nằm viện, về nhà là bắt tay ngay vào việc. Ba bài lần lượt tràn ra mặt trang giấy. Mỗi năm một bài.

Năm 2006, bài cuối cùng lại đến tay một cộng tác viên của tạp chí Công giáo và Dân tộc, nhân người “dám” in sách Thượng Chi văn tập mời con trai học giả Phạm Quỳnh ngồi cùng bàn nhậu với anh. Và bài lên tạp chí. Một tháng sau, bài ấy lên tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội. Huế góp vào bằng bài Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Bài viết đầu tiên, lại ra mắt cuối cùng, cũng trên tạp chí Công Giáo và Dân Tộc.

Năm ấy, internet bắt đầu đến nước ta. Chắt ngoại của học giả Phạm Quỳnh thấy thương bố vất vả sưu tầm tư liệu, cặm cụi viết bài mà lâu lâu mới đăng được một bài; có bài còn bị đổi nhan đề, cắt đầu cắt đuôi, sửa chỗ này, thêm chỗ nọ, làm bố không vui. Bèn bàn với bạn, lập cho bố một trang mạng riêng. Chẳng những đưa lên các bài bố viết mà còn cả những bài bố cất công sưu tầm mấy chục năm qua. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm sinh nhật bố, người con mở Blog PhamTon làm quà mừng.

Từ đấy, 22/2 là sinh nhật Blog PhamTon. Ông bố đành lấy ngày rằm tháng giêng làm sinh nhật của mình.

Năm nay, vừa may, 22-2-2016 lại đúng ngày rằm tháng giêng năm Bính Tuất, “song hỷ lâm môn”, cả nhà cùng vui. Nhất là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII vừa thành công rất tốt đẹp. Mở ra một cuộc đổi mới lần thứ hai, tiếp tục và làm sâu sắc hơn tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, và lời nói đi đôi với việc làm.

Con, cháu, chắt, chút Phạm Quỳnh và những người có lương tri, thật lòng thương dân, yêu nước vốn quí trọng Ông chỉ mong mỏi có thế.

B.P.T.

22/2/2016 (Rằm tháng Giêng Bính Thân)

*

*    *

Trong không khí đầu xuân cả nước hăng hái tiến lên xây dựng cuộc đời mới dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Blog PhamTon cũng mong góp phần nhỏ của mình vào sự nghiệp chung, động viên con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh góp phần xứng đáng. Chặng đường trong chín năm qua đã cho thấy rõ sức mạnh của nhân dân khi mong muốn đem lại sự công bằng trong việc đánh giá mọi sự việc hành động của bất cứ con người nào đã vì dân vì nước mà dốc hết sức mình đem lại lợi ích về vật chất và tinh thần cho nhân dân, Tổ quốc. Trong số những người xả thân vì nghĩa cả đó, tất nhiên có Thượng Chi  Phạm Quỳnh, cha, ông, cụ của chúng tôi.

Chín năm qua, chúng tôi vui mừng nhận thấy Con người thật của Thượng Chi Phạm Quỳnh ngày càng hiện lên rỡ ràng trên các mặt báo, trong các trang sách, các chương trình phát thanh truyền hình ở CHXHCNVN ta. Trong đó, thấp thoáng dấu ấn của Blog PhamTon từ ngày và năm sinh đến những sự kiện bước ngoặt trong cuộc đời ông, trước đây viết, nói khác, nay đã chỉnh sửa lại theo đúng sự thật lịch sử. Chúng tôi chỉ mong có vậy và lúc nào cũng dốc sức phấn đấu để mong thực hiện phương châm nhìn thẳng vào sự thật, dánh giá đúng sự thật nói rõ sự thật.

Chúng tôi biết rằng chỉ có dựa vào trí tuệ của nhân dân ta cả trong và ngoài nước mới thực hiện được sự nghiệp lớn lao đó.

Vô cùng biết ơn nhân dân đã bảo vệ chúng tôi và giúp chúng tôi nói lên được sự thật về Con Người Thượng Chi Phạm Quỳnh yêu nước, thương dân. Hy vọng trong năm thứ mười này, Thượng Chi Phạm Quỳnh sẽ càng được đông đảo người dân lành Việt Nam hiểu rõ và càng yêu mến ông hơn, giúp ông thực hiện những hoài bão về tương lai rạng rỡ của nước nhà như suốt đời ông mong muốn và xả thân để thực hiện theo cách mà ông cho là đúng đắn.

Tp HCM 22/2/2018 mồng bảy Tết Mậu Tuất

B.P.T.

Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

 PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HỌC LÀM CHÍNH TRỊ

 Chi Điền Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc bạn đọc còn nhớ nhà nghiên cứu Chi Điền Hoàng Duy Từ, tác giả bài Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường: Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ đăng trên Blog PhamTon tuần thứ 5 tháng 8 năm 2009. Hôm nay, chúng tôi lại xin giới thiệu với các bạn một bài viết đặc sắc của ông nhan đề Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị. Chúng tôi chỉ lược bỏ hai đoạn thấy không cần thiết.

*

*   *

Nhân đọc tập di cảo Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng thấy ở hai bài Văn học, chính trị; Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường có những ý kiến, cảm nghĩ đáng để cho ta suy tư về vấn đề Nhà văn học làm chính trị, một vấn đề đã làm cho nhiều nhà trí thức chân chính băn khoăn không ít.

Trong thập niên đầu thế kỷ (XX – PT chú), một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lãnh vực văn học. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, sáng lập viên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Ngòi bút của ông đã gây một tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh đô Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo luận dịch thuật của ông mọi người đều biết. Văn học sử đã dành cho ông một cương vị rất quan trọng, nếu không nói là hàng đầu của thượng bán thế kỷ XX.

Những phê bình gia như Vũ Ngọc Phan (1942), Phạm Thế Ngũ (1965), Lê Văn Siêu (1974)… cũng như dư luận ở trong hay ngoài nước đều công nhận học giả Phạm Quỳnh là người công đầu và rất lớn trong việc xây dựng một nền văn học quốc gia tiến bộ trên căn bản tinh hoa của dân tộc.

Như mọi người đều biết Phạm Thượng Chi luôn luôn có một niềm tin sâu xa rằng “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần, và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị”.

Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự trị chính trị cần thiết cho sự xây dựng một nền văn hóa quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước Bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

Chính cái quyết định này đã đem đến cho nhà văn học họ Phạm nhiều suy tư, dằn vặt giữa hai tư cách “Nhà văn học” với “Chính trị gia”.

Để có thêm ý kiến vững chắc, Phạm tiên sinh đã nghiên cứu tư tưởng của một danh nhân thế giới trong thời cận đại. Đó là cố Tổng thống (1913-1920) Thomas Wilson (1856-1924) nước Mỹ. Tổng thống Thomas Wilson sáng lập viên Hộ Quốc Liên (ONU), đoạt giả Nobel về Hòa Bình, giáo sư Đại học về khoa học Chính trị, có một địa vị quan trọng hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918). Ông Wilson đã từng tán dương nhà chính trị kiêm văn học là một hạng người cao quí, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước.

Sau đây là nguyên văn của Phạm Thượng Chi đã viết trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng:


“Nhưng đại khái ông Wilson cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn Tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm ngay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…”

Trích đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ cái suy tư cảm nghĩ của Phạm Thượng Chi và đã xác định lập trường: “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”.

*

*    *

Một vấn đề thứ hai cũng làm cho nhà học giả tài hoa và uyên bác họ Phạm suy tư và băn khoăn không kém.

Đó là vấn đề “Xuất thế” hay là “Nhập thế”. Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn là “chỉ làm chính trị bằng ngòi bút” hay là “thật sự tham chính”.

Chúng ta thử nghiên cứu bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút, Kiến văn, Cảm tưởng nói trên.

Lão Hoa Đường là bút hiệu của Cụ Lập Trai Phạm Quí Thích (1760-1825) và Thiếu Hoa Đường là một trong những bút hiệu của ông Phạm Quỳnh (1892-1945).

Hai người ở cùng làng Lương Ngọc, nhưng dưới triều Lê tên làng là Hoa Đường.

Do đó hai nhà văn nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 đều lấy tên làng làm bút hiệu.

Ông Phạm Quí Thích đõ tiến sĩ năm 1779, làm quan lớn dưới triều Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn. Năm đầu đời Gia Long bị gọi ra làm quan, giữ chức Thị Trung Học sĩ, tước Thích An Hầu, ông từ chối mà không được. Năm 1811 làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Sau ông cáo bệnh xin về, Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) lại có chỉ triệu ra làm việc. Lần này ông đang có bệnh, viện cớ ấy từ chối. Chủ yếu cuộc đời ông không phải là làm quan mà dạy học. Ông là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò. Ông đã làm bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều đặt lên đầu đề truyện Kiều và cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du.

Văn nghiệp của ông gồm nhiều tác phẩm, chủ yếu có Thảo Đường- Thi nguyên tập, Lập Trai văn tập, Thiên Nam long thủ liệt truyện, Chu Dịch vấn đáp toát yếu, Phó Kinh Bắc…


Viết về Phạm Quí Thích, ông Phạm Quỳnh có những dòng sau đây:

“Tôi mộ cái tài hoa danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tôn cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm trí mình quá.”

THƯ HOÀI

Cố quốc sơn hà dĩ đại thù

Cố viên tùng cúc bán hoang vu

Mang mang thiên địa hoàn bô khách

Nhiễu nhiễu phong trần tụ hủ nho

Bệnh cốt bình phân thu lãnh sấu

Thần tâm nhưng bạn nguyệt luân cô

Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú

Vị vấn Tam Lư khẳng túy phần

Chi Điền tạm dịch:

Sông núi nước xưa đà khác hẳn

Cúc tùng vườn cũ nửa hoang tàn

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho

Cốt bệnh ví cùng thu núi lạnh

Lòng ta chỉ bạn mảnh trăng suông

Có người khuyên tớ vui chung rượu

Thử hỏi Tam Lư có chịu chăng?

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho.

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn sơ là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối ren, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ “tài” vậy.

Song chữ “tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.”

Mấy đoạn văn trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy các vấn đề “Xuất thế”, “Nhập thế”, “Xuất sử” không phải là đơn giản.

Xuất thế, tự đặt mình ra ngoài thế cuộc, đi tu, ẩn dật, hay sống bên lề xã hội, tuyệt đối không tham dự việc đời.

Nhập thế, trái lại, hăng say xông pha gánh vác việc đời.

Xuất sử: Ra làm quan hay là ở nhà.

Ba vấn đề tối quan trọng đối với lớp sĩ phu ngày trước.

Xã hội ta hay Trung Hoa ngày trước chỉ có hai giới chính yếu là giới làm quan và giới ở nhà, nói cách khác, giới ở trong chính quyền và giới ở ngoài dân gian. Vì thế mà sự quyết định chọn một con dường đi cho đời mình: xuất thế hay nhập thế đã làm cho giới sĩ phu băn khoăn, suy nghĩ trọn đời. Lắm lúc dấn thân rồi mà còn vẫn băn khoăn. Mấy đoạn văn trên đây của Phạm Thượng Chi rất tiêu biểu cho tâm lý chung của giới sĩ phu sinh trong thời loạn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp đặc biệt như ông Nguyễn Công Trứ.

Uy Viễn Tướng Công thì lập trường rất dứt khoát. Không chút do dự, ông nói rõ ràng trong bài “Chí Nam Nhi”:

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh mà đối với núi sông

……………..

Trót sinh ra thì phải có cái chi chi

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Hoặc như:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh)

Công danh, dưới mắt Nguyễn Công Trứ, là đường đưa tới sự nghiệp, và sự nghiệp là những tinh hoa tô điểm cho trời đất, đồng thời cũng là những món quà tặng lại cho tương lai. Vì thế tiên sinh viết:

Làm sao cho bách thế lưu phương.

Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Kẻ sĩ)

Đối với dân nước, kẻ sĩ có trách nhiệm “Thượng vi đức, hạ vi dân, sắp hai chữ quân thân mà gánh vác, Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự, xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân than”.

Đến như Đệ nhất thi hào Lý Bạch, thiên hạ cho là trích tiên, là xuất thế, mà lắm lúc vẫn thổ lộ những tư tưởng nhập thế:

Trường phong phá lãng hội hữu thi

Trực quài vân phàm tế thương hải

(Đạp sóng cưỡi mây rồi có lúc

Buồm giăng gió lớn vút trùng dương)  (Hành lộ Nam)

………………………….

Như phùng Vị xuyên hiệp

Do khả đế Vương sư

(Duyên may gặp khách sang sông Vị

Vương đế mưu thần có kém ai!

(Tặng Tiền Trung Quân Thiếu Dương)

…..

Rõ ràng hơn nữa, khi An Lộc Sơn khởi loạn, Lý Bạch đã 55 tuổi, theo Vĩnh Vương Lân (con Đường Minh Hoàng) dẹp giặc An Lộc Sơn. Cái chí lớn trị loạn an dân đã thúc đẩy ông có hành động ái quốc mạnh mẽ. Cho đến khi tạ thế, loạn An Lộc Sơn chưa dẹp, Lý Bạch thường nghĩ đến quốc sự và nói:

Trung dạ tứ ngũ than

Thường vị đại quốc ưu

(Nửa đêm than thở bốn năm lần

Thường lo về việc nước)

Xem thế, tự cổ chí kim kẻ sĩ khó có thể sống ở ngoài lề xã hội. Hơn thế nữa, châm ngôn có câu: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.

Thất phu còn có trách nhiệm thay, huống chi là sĩ phu! Cái lý tưởng sống nhàn nhã, tìm thú thanh tuyền, lánh xa trần thế, để giữ lấy cái tiết tháo thanh cao lỗi thời lắm rồi.

Trong thời cận đại này, người ta phải hăng say tích cực, phải làm mãi cho đến ngày kiệt sức.

Nhà thơ danh tiếng Robert Frost (1874-1963) giáo sư Harvard có hai câu thơ được truyền tụng như châm ngôn:

And miles to go before I sleep

And miles to go before I sleep

………………………

“Còn nhiều hải lý đường trần,

Phải đi đi nưa!, Chưa cần nghỉ ngơi”….

(Tô Giang Tử dịch)

Robert Frost muốn nói: Không bao giờ được coi là làm đầy đủ bổn phận dầu trên đường trần có khi đã đến mức cao nhất, ta vẫn phải tiến thêm nữa mới xứng đáng với thiên phú mà Ơn Trên đã ban cho.

Phạm Thượng chi ngày mới tròn 25 tuổi bước vào đời đã sáng lập một cơ quan ngôn luận lớn kiêm nhiệm luôn hai trọng trách chính yếu là chủ nhiệm và chủ bút. Như vậy, chí “nhập thế” quả là lớn lao và quyết liệt. Cái chí ấy đã đưa đến thành công. Mấy ngàn trang sách rất giá trị rải rác trên hai trăm số tạp chí Nam Phong ấn hành liên tục trên 17 năm từ 1917 đến 1934, tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và 5 quyển Thượng Chi Văn tập (1943, tái bản 1962) đã là một sự nghiệp văn học khá vĩ đại. Xét cho kỹ thì phần rất lớn của khối văn nghiệp này là một khối văn học chính trị nhằm mục đích kiến tạo một nền văn học quốc gia và một nền văn chương quốc ngữ (Việt Văn) cho tổ quốc đang vươn mình lột xác chứ không phải là một văn nghiệp thuần túy văn học hay văn chương.

Hơn nữa, dư luận đều biết Phạm Thượng Chi có một niềm tin sâu xa rằng: “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị” như đã nói ở đoạn đầu.

Rồi, từ một nhà đại ngôn luận với lập trường nói trên trở thành một chính trị gia, rồi tham chính là con đường tất yếu. Ý chí đã lập thì con đường tất yếu nhất định phải đi. Thành công hay không là một vấn đề khác.

Tôi thiển nghĩ sau ngày đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945, trong những ngày hưu hạ Phạm Thượng Chi viết tùy bút Văn học, Chính trị có thể là để giải tỏa nỗi lòng. Viết ra cho vơi bớt băn khoăn, dằn vặt, những ưu tư của lòng mình, đồng thời cũng muốn cho dư luận hiểu được phần nào cái thiện chí, cái hoài bão của mình: Đem tài năng thiên phú về văn chương phụng sự quốc gia dân tộc, dùng văn học làm phương tiện tranh đấu ôn hòa trên bình diện chính trị.

Do đó, Phạm tiên sinh đã mượn chủ trương, lập luận của Tổng thống Mỹ Thomas W.Wilson để bàn về nhà văn học làm chính trị, với chủ trương là nhà chính trị mà có văn học là có tư cách hoàn toàn. Tuy nhiên, liền ngay đó, trong đoạn phản thuyết bằng một khác biệt tinh vi là “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”. Với hai chữ “thuần túy”, Thượng Chi muốn nói “Nhà văn học mà bản sắc văn học rồi ngẫu nhiên làm chính trị thì không nên.”

Phạm Thượng Chi có ở trong trường hợp “ngẫu nhiên” làm chính trị không? Tôi thiển nghĩ là không. Đúng vậy, Ông đã làm chính trị từ ngày sáng lập Nam Phong tạp chí 1917 như trên đã nói.

Đọc tiểu sử và văn thơ của ông Tiến sĩ đồng hương Phạm Quí Thích (1760-1825) “Thiếu Hoa Đường “cảm phục” Lão Hoa Đường” về văn tài cũng như về khí tiết. Khen tiền bối đã xuất sử khôn ngoan, quyết chí từ quan về ẩn dật giữ lấy tiết tháo cao thanh.

Nhưng cũng vẫn nhận thấy sự nhập thế của Cụ Tiên Điền Nguyễn Du không phải là vô ích. Mặc dầu cuộc đời có phong ba hơn nhưng những năm lăn lóc trong hoạn trường há chẳng phải vì “đã đau đớn lòng” vì “những điều trông thấy” mới cấu tạo và sáng tác được một áng văn chương tuyệt diệu: Truyện Kiều để lưu truyền hậu thế.

Thượng Chi còn tiếp: “Như thế thì xuất sử cũng năm bẩy đường, vì có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ Tài vậy. Trong phút ấy, có lẽ Thượng Chi đã càm được đại nạn sẽ đến với mình, nên đã viết thêm một câu rất húy kỵ! “Song chữ Tài vẫn hay liền với chữ Tai một vần, chính Tiên Điền đã dậy thế!”.

Đáng tiêc thay! Và thật đáng thương thay!

(…) Giá không có cái tai nạn thảm khốc đó thì những kiến văn cảm nghĩ đã tích trữ trong 13 năm sẽ được khối óc thông minh kia sáng tạo biết bao nhiêu kiệt tác. Cố nhiên không phải là một đoạn trường tân thanh tuyệt diệu như Nguyễn Du mà là một pho sách văn học, chính trị, kinh tế, xã hội… rất quí giá cho nền văn học nước nhà trong thời kỳ canh tân kiến thiết…

C.Đ.H.D.T

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.