Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 6, 2020

Chuyện một người cháu ngoại- Cuộc chiến thầm lặng (P4)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

5- Cuộc chiến thầm lặng (P4)

Trưa chủ nhật 11/12, em gái lên nhà. Chiều thứ ba 13, cậu Tuyên từ Hà Nội vào. Chiều thứ tư, nhà mình mời cả cậu và cô Giễm cùng cô em vàCau Tuyen Co Giem tai nha co Giem con cả cô ăn cơm. Cô, cậu đều rất vui vẻ. Mẹ càng vui vì sự sum họp hiếm hoi này.

Ba noi (anh co chu Long)Em gái lên kỳ này kêu ca nhiều, than khổ, nên sáng thứ tư, mẹ lấy 10.000 đồng cô gửi biếu mẹ dạo nào, đưa lại cho cô. Cô nhận ngay trước mặt mình. Sáng thứ năm 15 cô về Bạc Liêu.

 Tối chủ nhật 17, con cả cô về, mình cho cháu biết chuyện này. Còn kể cả chuyện mẹ cháu đòi chú Vượng trả 70.000 đồng cô em chú cùng ở Bạc Liêu bị giật hụi làm cô em tôi gửi 200.000 cũng bị mất. Cô em chú Vượng đã trả 130.000 đền số bị mất. Chú Vượng nói ngay tôi không tán thành việc em tôi chơi hụi, bị giật hụi thì ai chơi nấy chịu sao lại đòi tôi.

19/12, đơn thuốc mới có sáu vị: mạch môn đông, tang bạch bì, mẫu đơn bì, bạc hà, bán hạ chế, can khương.

26/12, đơn thuốc mới gần như trước, chỉ bớt bạc hà vàTruong thin va bo thêm  ngưu tất. Sáu vị tất cả.

Ngày 1/1/1990, đơn mới như  trên nhưng bớt ngưu tất.

Chủ nhật 31/12/1989 đã nói với con cả cô em gái là khi nào mẹ cháu không gửi tiền lên thì mỗi tháng bác sẽ đưa cháu 30-35.000 đồng. Từ ngày nói thẳng nói thật hết, thấy cháu vui hẳn lên, bà cũng vui. Chuyện đòi chú Vượng tiền hụi làm mẹ bất ngờ, càng hiểu con gái. Cháu nói là đã hiểu từ lâu rồi, em cháu cũng giận lắm về nhiều chuyện.

Sáng chủ nhật 11/2 đã đưa Trương Thìn xem thư cậu Tuyên viết về việc phục hồi Ông về mặt văn học. Thìn sắp đi Liên Xô ba tuần cho nên cấp thuốc luôn 15 thang: Tang bạch bì, mạch môn đông, bạc hà, mẫu đơn bì, ngưu tất, cam thảo. Kèm thuốc viên Hương sa lục quân. Toàn nam dược.

Từ 20/2, bắt đầu học tiếng Nhật tại Trung tâm Văn hóa Việt – Nhật (Betonamu Nihon the hoc tieng nhatbunka senta) ở số 8 đường Nguyễn Trung Trực quận 1. Giáo viên Nhật dạy một tuần ba buổi thứ ba, năm, bảy từ 13:30-15:15 học lớp cùng nhân viên trung tâm cố tránh học tối hay bị mưa. Giáo viên nam là Makoto 24 tuổi nữ là Baba Yumiko 26 tuổi, cộng lại vừa bằng tuổi mình 50.

Cho đến thứ sáu 2/3, vẫn còn theo học thầy Fuji, thành ra dạo này ngày nào cũng học tiếng Nhật với người Nhật, lại nghe ca xét nhiều nên tiến bộ trông thấy.

Hôm qua, cô em lên học nghiệp vụ một tuần, đưa mình 100.000đ trả cô Giễm tiền mua tivi và tủ ngăn của cô

Ngày 2/4, đơn thuốc mới: Mạch môn đông, tang bạch bì, mẫu đơn bì, ngưu tất, xuyên khung. Năm vị và một lọ hương sa lục quân.

10/4, đơn thuốc mới bảy vị thêm bạch truật, trần bì và một lọ hương sa lục quân 30 viên x 3 lần/ngày. 15/4, đơn thuốc như cũ. Hai tuần qua, không có hương sa lục quân.Tu dien tieng nhat duoc tang

Thứ bảy 21/4, trả kết quả kiểm tra tiếng Nhật: nói được 45 điểm, viết được 49 điểm, cộng là 94/100, nhất lớp, được miễn học phí cả khóa và tặng một từ điển Nhật – Việt.

Ngày 7/5, đơn thuốc mới sáu vị vẫn thiếu hương sa lục quân. Toàn nam dược.

Anh Thép Mới đi Liên Xô về gửi cho ba lọ pantokrin, thường gọi là nhung Liên Xô. Sau gặp anh ở cơ quan, Đông đã cảm ơn.

16/5, đơn mới: lại bảy vị. Từ 8/5, uống pantokrin 20 giọt x 3 lần/ngày.

Tối 16/5, theo thư mợ Đỗ Thị An vợ cậu Khuê nhắn đã đến nhà anh Cường chồng cháu mợ là chị Hằng tại số 6 Công trường Quốc tế phòng D36 để cùngMo Do Thi An anh về nhà cô Giễm hiện do chị Mùi Con quản lý, đem hai tượng đồng ông bà ngoại về nhà anh để anh chở ra Bắc. Anh Cường đi xe honda nữ, mình đi xe đạp chở Ti. Sau khi anh cùng mình đem hai pho tượng xuống đường, thuê xe xích lô chở hai bọc đựng tượng, thì anh bảo: để tôi chở cháu về nhà trước, chuẩn bị đón anh. Ti ngoan ngoãn lên xe anh. Mình đi cạnh xe xích lô, vừa đi ba noi ben tuong 2 cuvừa nói chuyện vớ vẩn nhưng trong đầu đã đặt ra tình huống đêm chở đồ bị khám xét thì sao. Hồi ấy, nạn buôn đồng đen mà có người nói là quí như vàng, đang bị truy bắt ráo riết. Nếu bị khám thì mình sẽ cho họ xem và nói đây là tượng ông bà ngoại tôi, tôi đem đi nhờ người mang ra cho cậu tôi là nhạc sĩ Phạm Tuyên là con cụ chắc họ biết. Bản thân tôi là phóng viên báo Nhân Dân, thường trú ở Sài Gòn. Cứ thế, cho xem thẻ xong, chắc sẽ ổn. Mải nghĩ như thế thì nghe tiếng anh Cường gọi, rồi tiếng Ti kêu bố ơi rõ to. Gặp bố, con mừng quá. Con không chịu lên nhà mà đòi đứng dưới đường chờ bố. Sau đó, hai anh em mang hai tượng lên nhà vợ chồng Cường – Hằng. Tôi nghẹ cả người.

Hồi 1975, tôi mới vào đã có người anh họ là Vũ Trọng Bình (Bằng) đến bảo chú đã vào để tôi dẫn chú đến chùa rồi tìm cách đưa hai bức tượng về, để mãi trên chùa người ta dòm ngó. Tôi chỉ còn cách lên Đà Lạt, bàn với chú An – cô Giễm rồi đưa hai tượng về nhà cô chú ở Sài Gòn. Hiện hai tượng đặt ở nhà em Phạm Thắng con trai cậu Phạm Khuê ở phố Vạn Bảo Ba Đình Hà Nội, nơi tập trung bà con mỗi khi giỗ cụ Phạm Quỳnh.Tuti 1990

Ngày 17/5, cùng Ti đi dự giỗ đầu Trần Văn Cảnh. Anh Trung là em rể Cảnh làm việc ở Ủy ban sông Mê Kông-một cơ quan của Liên Hiệp Quốc- đến muộn. Mang cúng 10 lon bia. Mà Cảnh cả đời không uống bia bao giờ.

Ngày thứ sáu, nhận tiền chị An gửi cho 200 đô la.

Trong thời gian nghỉ học tiếng Nhật chờ khóa mới, mình đọc toàn sách về Nhật Bản của các tác giả Nhật nổi tiếng: Tiểu thuyết của Yuki Nishima: Kim Các Tự, Khát vọng yêu đương, Sóng tình,  của Kuwabata: Ngàn cánh hạc, Kyoto. Sách của một tác giả Liên Xô Cành sakura, tập truyện cổ Nhật Bản. Một dân tộc kỳ lạ, có sức sống mãnh liệt.

Trưa 4/6, bắt đầu học lớp trung cấp 2.

18/6/1990, đọc thêm Người đàn bà trong cồn cát của Kôbê, và đọc lại Xứ tuyết của Kuwabata.

Đơn thuốc mới 18/6 có bảy vị hầu như toàn nam dược. Từ hôm qua đã dùng sang lọ pantokrin thứ hai. Tuti thì ăn gói cao ban long thứ ba, mỗi gói 40 gam. Từ ngày ăn cao này Ti khá hẳn ra, ăn khỏe, ngủ khỏe, đỡ hẳn tật nói mê, trời lạnh vẫn đi bơi bình thường.

28/6, đơn thuốc mới tám vị, kèm hương sa lục quân. Vẫn uống pantokrin. 30 giọt x 3 lần/ ngày.

Đọc gần hết tập 3 trong 4 tập Tướng quân của một tác giả Mỹ. Thật là một bộ bách khoa thư về đời sống Nhật Bản cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là linh hồn Nhật Bản (Yamato Damashi) bí quyết thành công của người Nhật xưa và cả nay.

Ti sang gói cao thứ tư, dùng duy trì, bằng 1/3 lượng mọi khi. Khỏe mạnh và ham xem bóng đá Italia 90. 22:00 còn đòi ăn và ăn ngon lành đến hai bát cơm nguội với cá kèo mẹ kho.

27/6, đơn thuốc mới, gần như trước, toàn nam dược kèm hương sa lục quân 20 viên x 3 lần /ngày. Ngày 10 và 23/7 cũng đơn như vậy. Riêng 23/7 có thêm sa nhân, đẳng sâm.

Trưa chủ nhật, cháu Ánh Hồng vào cùng bảy bạn. Đưa đi chơi thảo cầm viên, chùa Vĩnh Anh HongNghiêm, trưa 22/7, mời cả nhóm ăn tươi ở nhà, phải kê cái đi văng làm bàn, khách ngồi trên sàn, có một bạn đau chân ngồi mà chân cứ phải duỗi thẳng ra ngoài, rất khó ăn. Nhưng ai cũng vui. Hôm thết các cháu ăn bún bò Yên Đổ nổi tiếng Sài Gòn, sắp ăn thì có cậu Cận, em chị Thủy làm ở Công đoàn thành phố đi xe hơi đến cơ quan lướt qua, gọi Ánh Hồng, mời cậu nhập tiệc luôn.

Tối thứ ba 24/7, mình mệt quay lơ ra và người lạnh ngắt. Nghĩ mãi mới ra nguyên nhân là quá vui, tiếp khách quí quá nhiệt tình, quên là mình ốm nặng, bác sĩ Đặng Văn Chung đã sẵn sàng giới thiệu đi chữa bệnh ở nước ngoài… nếu có đủ tiêu chuẩn, ngoài tiêu chuẩn ốm rất nặng. Hay quên thế mới sống vui được.

Ngày 31/7, đơn thuốc mới gần như cũ, nhưng thêm huỳnh kỳ.

Chị Xuân cho mượn máy và băng có bốn buổi chữa bệnh (1-2-3-6) của Anatolie Mikhailovitch Kaspirovsky. Đã xem hai lần. Lần đầu cả bốn tập. Lần sau mỗi ngày một buổi. Đúng là có bệnh thì vái tứ phương, hết Tây lại Đông rồi lại Tây. Nhất là cách chữa mới bên nhà vợ mách là phải chấp nhận ngay, kẻo lại như muốn làm khổ con nhà người ta. Ngày 7/8, Thìn đi họp, gửi dơn thuốc mới ở phòng thường trực. Vẫn có huỳnh kỳ.

12/8, kết quả thi tiếng Nhật tháng 7: viết 48, hội thoại 46, cao nhất lớp. Mặc dù nghỉ rất nhiều, nhất là trước khi thi, đã mệt, trời lại hay mưa.

14/8, đơn mới không có huỳnh kỳ, chỉ có đẳng sâm. 10/9, thuốc mới lại có huỳnh kỳ và chín vị nữa. 17/9, đơn mới ghi tên bệnh là Giãn phế quản – tì vị hư hàn vẫn có huỳnh kỳ và tám vị nữa. Chủ yếu là bệnh giãn phế quản. Mình biết rõ bệnh này dễ ho ra máu lắm nên rất cẩn thận giữ gìn.

Bắt đầu học Nhật ngữ khóa mới trung cấp 2. Sáng 16 đã lại thăm thầy Fuji ở lầu 3, phòng 4.A số 1 Phạm Ngọc Thạch cơ sở sinh hoạt của Thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố. Thầy là dân Hirôsima, bị bệnh tim từ lâu, không chữa được. Thầy sang nước ta liên hệ với đoàn thanh niên và hiện vẫn tiếp tục dạy miễn phí cho độ bảy tám thanh niên tự nguyện theo học kiểu câu lạc bộ, tùy hứng giữa thầy trò. Thầy ở một phòng nhỏ, có một ca xét và nhiều băng sách học tiếng Nhật đem từ Nhật sang, còn có một máy chữ điện, hai bảng trắng viết bút dạ. Một con người kỳ lạ, tội nghiệp, hằng tuần tôi học ca trưa ở trung tâm thường thấy thầy đến Trung tâm văn hóa Việt Nhật, lên câu lạc bộ, chỉ dể ăn trưa một món duy nhất thầy thích là chyazưkê tức cơm nóng chan nước trà với đồ giầm. Cốt cho nguôi nỗi nhớ quê hương. Hằng ngày, thầy ăn bánh mì với cà phê sữa ở câu lạc bộ thanh niên. Mình cố ghé thăm thầy hằng tuần trước khi đi đến viện để châm cứu và lấy đơn thuốc mới.

Sáng 17/9, Ti mệt, suốt đêm sốt và ói. Con rất mừng khi nghe nói bố đi lấy thuốc về sẽ mua bánh bông lan ở cửa hàng Givral là món con hằng ao ước. Nhưng, khi về, con thấy bánh thì mừng, rồi chỉ ăn một miếng nhỏ. Mẹ cũng chiều con, mua cho bánh mì nhồi chà bông, con cũng chỉ ăn chút xíu. Đo nhiệt độ lúc 11:30 là 39o7, mình nhét ngay một viên febrectol vào hậu môn. Đỡ sốt liền. 14:15, chỉ còn 38o3. Con vui vẻ, vừa nói chuyện vừa ăn thêm một ít bánh mì. Sau đó ngủ một lát, nhưng mê mệt. 16:30, đo lại, đã lên đến 40o7. Mình nhét thêm một viên thuốc nữa vào hậu môn rồi hai vợ chồng đưa con đi bệnh viện Nhi Đồng 2, mẹ ôm con ngồi xích lô, bố đi xe đạp kèm bên. 15:00 bắt đầu khám mất 1.000 đồng. Sau đó thử máu, 2.000đ. Có kết quả là 19:00 con nhập viện, cân nặng chỉ còn 22kg, sút mất 1.5kg. Nhiệt độ vẫn 39o4. Hình như máu con có tới hơn 22.000 bạch cầu, và đó chính là lý do cho nhập viện ngay. Có thể là sốt xuất huyết, nhưng do mới sốt hơn một ngày nên xét nghiệm chưa thể cho kết quả chính xác. Mẹ ở lại viện với con, bố về nhà chuẩn bị mọi thứ hôm sau mang đi rồi yên tâm đi ngủ. Dự định là sáng sẽ vào viện thay Đông về nhà lo cơm nước rồi trưa chờ Đông vào thay sẽ về nhà ăn cơm, sắc thuốc rồi đi học tiếng Nhật. Chiều thứ tư 19/9, con được ra viện, hết sốt cũng không còn nghi sốt xuất huyết nữa. Nhưng vẫn phải uống kháng sinh, chống viêm nên con vẫn còn nghỉ. Đến khi con đi học lại, cô giáo bẹo má khen sao con nghỉ bệnh mà mập lên mau thế, đẹp trai quá. Đó là kết quả của việc dùng cortisol chống viêm liên tục khiến khuôn trăng đầy đặn đó thôi.

Thuốc lĩnh ở viện vẫn thế, nam dược trị nam nhân mà. Đơn cho ngày 1/10 mới thay hoàng kỳ bằng sa nhân, gồm chín vị.

Sáng 5/10, cô Nguyễn Thị Hiền vợ Trần Văn Cảnh đến báo tin vui: Cháu Tú đã đỗ vào đại học nha khoa kế nghiệp mẹ.

16/10, cậu Tuyên vào ghé nhà chơi cho biết mấy thông tin về Ông Ngoại đặc biệt là nhật ký của ông năm 1922 có ghi rõ: ngày 13/7 được Nguyễn Nhat ky 1922 tai phapÁi Quốc mời ăn cơm với Phan Văn Trường và ngày 15/7 mời lại Nguyễn Ái Quốc. Có một kiều bào lớn tuổi biết rõ ông đã đưa cậu đi tất cả những nơi Ông Ngoại đã đến năm đó và chụp ảnh cậu, nhưng từ chối chụp chung với cậu, tránh phiền cho cậu. Cũng nhận được thư cô Phạm Thị Hảo viết về cải táng ông năm 1956.

Chủ nhật, 4/11, Ti lại sốt. 5/11 khám bệnh, viêm amiđan có mủ. Cho thuốc uống, con vẫn đi học. Con thật ngoan, chịu khó uống sữa, ăn cháo cho đỡ đau họng.

Sáng thứ sáu 9/11, hai bố con đi xem triển lãm tranh Trương Thìn – Thân Trọng Ninh và Trần Hoài. Thìn trưng bày 20 bức Hốt nhiên 1-20. Đã có người đặt mua 12 bức. Toàn tranh siêu thực, mình chưa quen nên chưa thích. Sáng chủ nhật 11/11, sau hai tuần mới lại đến thăm thầy Fuji, và cũng như mọi khi, mình là người đến sớm nhất mà cũng về sớm nhất, vì còn sang viện lấy thuốc.

Sau ba tuần nghỉ thuốc, lại đến viện ngày 12/11, 19/11, 26/11, 3/12 đơn nào cũng chín, mười vị, hầu như toàn Nam dược. 23/12, Thìn khám lại, đo thấy huyết áp thấp 10/7, cho đơn mới tám vị, có đẳng sâm, sa nhân.

Tối 23/12, gia đình mình mời các cháu nhà 82 đem đồ chơi lên chơi chung với nhau. ti va cac ban xom 82Tường nhà treo đầy tranh các cháu vẽ suốt mấy tuần qua. Bà nội Ti làm bánh quế đãi các cháu. Vui chơi suốt một giờ, Tuti vui và tự hào vì được các bạn yêu quí, gia đình thương yêu.

Đầu năm 1991, tiếp tục sắc thuốc uống theo đơn cũ, áp huyết đã lên 125 trên 85. Đánh liều ghi tên tham gia phiên dịch đón đoàn khách Nhật trên tàu Peaceboat 91 đi hai ngày. Ngày 6/1, hoàn thành nhiệm vụ phiên dịch và hướng dẫn viên đưa đoàn khách Nhật Bản đến bệnh viện Từ Dũ thăm hai cháu Việt Đức được Trần Đông A mổ tách dạo nào, thăm địa đạo Củ Chi,chui hầm dài 50 mét chật hẹp và tham gia tuần hành cùng các bạn Nhật. Xong việc, cảm thấy mệt quá. Được 100.000 đồng, trừ lệ phí, còn 83.000 đồng. Lâu lắm mình mới lại kiếm được tiền đây. Cũng vui. May mà không đổ.the tour guide

Mẹ ốm từ 1/1- đến 12/1 vẫn nằm. Ngày 8/1, ông ngoại Ti từ Mỹ về hẳn. 15:00 hai bố con đến thăm, thì 18:00 ông bà ngoại đến thăm bà nội.

Chiều 10/1, bà Năm (Phạm Thị Thu, năm sinh 1914) hôn mê. Gia đình Cảnh Yên đưa vào bệnh viện Nguyễn Tri Phương và 24:00 thì mất. Trưa 11/1 đã đưa đi hỏa táng ở Bình Hưng Hòa. Nhà mình chỉ có một mình Đông đi đưa cụ thôi.

Ngày 13/1, áp huyết 11/7.5. Thìn cho đơn tám vị có đảng sâm, sa nhân, 20/1, huyết áp 11/7, đơn như cũ. 27/1, huyết áp 12/7, đơn như cũ.

Chiều 26/1, Đông mang về thư của Quốc Vinh viết trên giấy có tiêu đề báo Nhân Dân. Ngoài phong bì có chữ Tấn Thọ ghi K/chuyển anh Tôn Thất Thành. Thư đề ngày 25/1/1991, từ Hà Nội. Tóm tắt như sau: – Ban biên tập cho nghỉ mất sức theo chế độ hiện hành, từ 1/4/91- Ban biên tập sẽ có trợ cấp với khả năng cho phép.

Thế là từ 1/4/91, mình sẽ được tự do… như một công dân Việt Nam. Vợ chồng mình chủ trương rút êm, cho nên Đông thản nhiên nhận và xem trước sự ngạc nhiên của mọi người trong cơ quan.

Một giai đoạn mới mà có khả năng là giai đoạn có ý nghĩa nhất trong cuộc đời mình sắp bắt đầu.

Các đơn thuốc cho ngày 3/2 và 10/2 đều chín vị, có đẳng sâm, sa nhân. Hôm 10/2 đến viện, tặng Trương Thìn hai con mèo tam thể và vàng đúng Ton That Thanh va Ton That Dai o san bay tan son nhatlúc viện đang khổ vì chuột. Nhà mình từ ngày ở Hà Nội bao giờ cũng nuôi mèo, hồi nuôi nhiều nhất đến chín con. Mèo đẻ là nuôi, ai xin mới cho, không bán bao giờ. Thìn thích quá, hai con đều sinh ngày 1/1/1990.

Suốt thời gian Tết, không uống thuốc sắc, ngày 24/2 vẫn còn một thang. Bắt đầu tạm nghỉ thuốc cho khỏi lờn thuốc. Tạm uống bát vị hoàn do viện sản xuất. Ngày hai lần, mỗi lần 15 viên. Cả mẹ, Đông và mình đều dùng thuốc này.

Thư em Thân gửi ngày 6/2 cho biết anh Đại đã về ngày 5/2. Gần hai chục ngày, chưa thấy anh và gia đình nói gì về chuyện này. Thật lạ. Trưa 25/2, anh vào. Sáng nay 28/2, cả nhà dậy từ 4 giờ để tiễn anh. Mình dùng solex chở anh ra sân bay Tân Sơn Nhất đúng 4:50 và 6:00 thì chia tay, kịp nói hết những việc cần nói để anh hiểu mọi chuyện gia đình. Trong thời gian ngắn ngủi anh ở Sài Gòn, Đông đã gọi điện về Bạc Liêu và chiều 26 Nhàn lên, rồi tối đó đi báo cho Hải. Trưa 27 anh Đại cùng bố con mình đi chơi về thì gặp cả Hải và người yêu. Dùng máy Hàn Quốc của anh Đại chụp ảnh mẹ, mẹ anh và gia đình Nhàn, gia đình mình. Khoảng 10 tấm. Mẹ thích chụp ảnh nên rất vui.

Đang mệt vì chuyển mùa, thì ngày 31/3 lại phải cùng Đông, Ti dự cưới cháu Thủy con gái Bích – Hải đóng vai long trọng viên nhà gái. Mệt cả ngày.

Sáng ngày 2/4, cháu Tân đích tôn của cụ Sán sang báo là cụ đã mất. Vội đạp solex (vì xe hỏng) sang Thủ Đức, ói mửa ở cuối cầu Sài Gòn, dừng lại uống thuốc dạ dày số 8 đem theo, đến 11:25 thì đến nhà cụ. Cụ nằm trên giường như một lão tướng nghỉ ngơi sau chiến trận. Các con mặc cho cụ quần áo của vị tướng, lưng thắt đai đỏ, quần chẽn đi hia đen. Đầu chít khăn đen. Thế này mới đúng là cụ Nguyễn Văn Sán, bao giờ cũng là người chỉ huy, ra lệnh. Oai phong lẫm liệt. Tôi chụp ảnh cụ, chụp cả lúc chưa nhập quan đến lúc nhập quan, chiều mới về. Sáng 4/4 lại cùng Ti đi xe buýt sang dự lễ tang, chị Yên xé cho hai bố con khăn trắng, bố con tôi để mặc họ chít khăn cho mình như mọi con cháu trong nhà. Chiều, hai bố con đi nhờ honda khách dự đám đưa về. Chụp hơn 20 tấm, được 18 tấm đẹp.

Thế là lại mất một người thân. Cụ Nguyễn Văn Sán, tuổi thân, thọ 73 tuổi mất hồi 18:23 ngày thứ hai 1/4 (17/2 Tân Mùi). Chôn tại nghĩa trang chùa Phúc Tường gần Chợ Nhỏ Thủ Đức hồi 14:00 ngày 4/4/1991 (tức 20/2 Tân Mùi). Tối 9/4, con rể cụ là Thắng và đích tôn Tân đã sang nhà mình nhận hết phim ảnh mình chụp.

Sáng chủ nhật 14/4, Trương Thìn cùng một lương y trong ban học thuật của viện cùng xem mạch kỹ cả hai tay, thảo luận rồi cho đơn mới, chỉ uống trong ba ngày, vẻn vẹn có ba vị: Bạch thược, sài hồ, đỗ trọng bắc. Mình là người ngoại đạo, chỉ nghe lõm bõm mấy từ quan mở, thận không nạp. Ngày 19/4, Thìn khám lại nói tốt. Cho đơn như cũ, nhưng sáu thang. Mình đã tặng Thìn một quyển sách về Kinh Dịch.

Đơn thuốc mới ngày 28/4 gồm bảy vị: Ngoài ba vị cũ, thêm: Trần bì, sa nhân, hương phụ và đẳng sâm. Tặng luôn Trương Thìn quyển nữa về Kinh Dịch. Mấy quyển này mình có là do em Nguyễn Thọ Tường đưa cho sau khi chú Nguyễn Thọ Dực mất ít lâu.

Tối 30/4, mình bị một cơn lạnh ngắt khá lâu, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa cạo gió không me Dong dang nau anlên gì mấy, nhưng chóng mặt hơn hẳn mọi lần, Đông phải lấy máy sấy tóc hơ ấm một số huyệt, xoa cồn A.T. thì người có ấm lên nhưng vẫn không hết chóng mặt, phải nằm im, nhắm nghiền mắt lại mới dễ chịu. Không ăn gì hết, chỉ uống sữa. Sáng hôm sau, thấy trong người dễ chịu, bụng đói cồn cào. Đông cho ăn bát cháo thịt băm và mấy lát bánh mì.

Chiều 27/4, nhận thư chị dâu trả lời thư mình hỏi đã nhận được tiền chị An gửi cho chưa mà không báo cho chị ấy biết. Mình viết thư ngay cho em trai, nói gửi cho chị dâu tiền chị An cho chị hồi Tết (100 đô). Ngày 28, gửi thư chị dâu và ảnh cả gia đình cho chị An, báo luôn đã gửi thư nhắc em trai. Cứ đụng đến tiền là lại có chuyện lôi thôi.Chu long va Dung

Đơn thuốc ngày 6/5 có tám vị. Một vị mới là phục linh.

Ngày 5/5, Đông nấu cháo gà ngon quá, cả nhà ăn suốt cả ngày. Chiều, có cô Trung đến chơi cùng ăn.

Thứ bảy 11/5, nhận thư em trai nói đã đưa tiền chị An gửi cho chị dâu. Chiều 10/5, chú Long và con gái út là Dung từ Bạc Liêu lên, cùng Nhàn và lái xe tên Hùng ăn cơm chiều rồi ngủ lại nhà mình để sáng hôm sau về Bạc Liêu. Nhà mình ở đâu cũng là cái trạm mà, quen quá rồi, thành nghề.

Từ 6 đến 11/5, tập trung đọc tập bản thảo của cụ Nguyễn Hiến Lê do Trương Thìn cho mượn: Dịch học- đạo của người quân tử. Từ sau 1975, cụ Lê viết sáu tập về triết học Trung Quốc, quyển này là cuối cùng. Viết xong năm 1979. Tất cả đều chưa in. Bản này Thìn chỉ cho mượn được một tuần. Đọc mà nhớ tiếc chú Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực. Hầu như mình chẳng học được gì từ chú cả. Chỉ vì sức khỏe quá kém, dưới mức bình thường, đảm nhiệm công việc được giao và lo việc nhà là đã oải rồi.

Đơn thuốc ngày 27/5 gồm chín vị. Ngoài những vị thường thấy trong các đơn trước, có hà thủ ô, ngũ vị tử và thương truật. Đơn thuốc ngày 10/6 tương tự kỳ trước, thêm hai chai Mộc hà thủy chống tiêu chảy ngày 3 lần x 20 giọt

11/6 Nguyễn Văn Chiên một bạn cùng sinh năm 1940 như mình, cùng học từ tiểu học ở trường tư Dũng Lạc cạnh nhà thờ lớn, đã chuyển công tác vào đây, dạo này hay lại chơi. Mừng là thêm một bạn đáng tin cậy. Chủ nhật trước, đi cùng Chiên đến cô Hiền vợ Cảnh chữa răng. Chiên bảo cần đi đâu cứ bảo tớ đưa đi, có xe mới tốt. Chiên vừa li dị vợ đã cùng có 2 con trai. May mà tính Chiên vô tư, việc xong thì thôi, không nghĩ nhiều.

Sau hai tuần chỉ dùng bát vị hoàn và Envin, lại lấy thuốc hai kỳ giống như trước. Vẫn chủ trương dùng nam dược trị nam nhân mà thấy dễ chịu. Kèm chai bát vị hoàn, ngày ba lần, mỗi lần 15 viên.

Nguyen Hoang HaiNgày 7/7, cháu Hải về báo đã đỗ tốt nghiệp.

5/8, thuốc mới tương tự, có chín vị và một chai bát vị. Ngày 12/8, mới nhận thư cháu Ngọc báo thì hai hôm sau đã có người bạn cháu Nhân đưa đến cho nhung và cao hổ cốt. Hai cháu thương mình quá, biết là chú hỏng từ căn bản vì là người lớn nhỏ nhất trong tập thể 20 người bà nội cưu mang thời tản cư năm 1946. Cho nên phải bồi bổ toàn bộ cơ thể thôi. Từ tối 11/8, bắt đầu uống cao hổ cốt (40 gam trong 1.000cc rượu). mong lần này là cao hổ cốt thật. Cứ uống tăng dần theo từng liều nhỏ. Con trai thứ ba của Nhàn lên chơi đã một tuần. Sau Hải đến đón về theo xe quen, cả gia đình mình nhẹ cả người. Cháu khác kiểu quá.

Đang ở viện thì nghe tin Goocbachốp đổ. Về nhà, mở rađiô buổi 17:30 đài thành phố Hồ Chí Minh có đưa tin nhưng không bình luận.

19/8, thuốc vẫn theo đơn như cũ Envina sẽ uống trước bữa ăn, thay vì trong bữa ăn như trước. Thìn nhận xét: Thượng tiêu nóng, còn trung tiêu, hạ tiêu đều lạnh. Sự phân nóng lạnh rất rõ ràng. Nhớ hồi đi thầy Tư Sấm, đã ấm đến đầu gối, nay lại lùi lên trên bụng.

Dạo này, sáng uống 10cc rượu sâm. trưa, chiều trước bữa cơm uống 10-15cc cao hổ. Đã ăn thử mấy lát nhung cho vào cháo, có vẻ ấm người lên. Sẽ dùng tiếp mấy lát nữa xem sao.

Thứ tư 21/8, bắt đầu học buổi đầu tiên lớp Trung cấp 4. Giáo viên là Yoiichi Hiruma và Phạm Hùng Sơn ở công ty du lịch.

Chiều nay, bắt đầu ăn cháo với 5 lát nhung, theo dõi một tuần xem sao. Chẳng ai dám chỉ bảo cách dùng, ngay cả Trương Thìn cũng ngại nói cụ thể. Đành tự dùng thử, tự chịu hậu quả thôi.

Sáng 22/8, đài Việt Nam đưa tin nhóm đảo chính ở Liên Xô có dấu hiệu thất bại. 9:45, tivi Liên Xô đưa tin vụ này, có cả những cảnh quay từ 19/8. 21:30, mọi sự đã rõ ràng. Tivi Việt Nam phát hình ảnh Goócbachốp đáp máy bay tới Matxcơva và trả lời phỏng vấn. Sáng 26, xem tivi Liên Xô, có cảnh hạ tượng Lênin, niêm phong trụ sở Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ chiều 26, không thu được tivi Liên Xô nữa.

Mẹ bị cảm, chóng mặt, không muốn ăn gì cả. Đông lại lo.

Đã một tuần nay, sáng nào hai bố con cũng ra công viên Lê Văn Tám gần nhà đi bộ và đánh cầu lông. Năm nay con tám tuổi rồi, phải cố Ti judogiúp con không phải trải qua những ngày sống khổ sở như bố chỉ vì không có sức khỏe, mấy lần thay đổi cả cuộc đời, bắt đầu lại từ con số không, thậm chí từ con số âm, khi sa sút nhất dưới cả mức người bình thường. Dạo này, tôi lo chữa bệnh lại cũng bận việc nhà cho nên nghe nói anh Thép Mới được cấp nhà cũng chẳng để ý. Thực lòng tôi không muốn đến nhà anh vì bọn người lúc nào cũng muốn hầu hạ cụ Thép vẫn thường lui tới đấy, có khi về còn khoe là cụ nói thế này thế nọ tôi cũng mặc. Thật ra trong lòng tôi dù thương anh tôi cũng vẫn còn giận anh về các điều anh nói về tôi trong các cuộc họp chi bộ. Thời ấy có một khái niệm rất lạ: những người là đảng viên nhưng mà tốt. Chính những người ấy đã nói cho tôi biết tất cả những gì anh nói trong chi bộ về tôi mà họ không tin, để tôi biết mà đề phòng. Tôi tự đặt ra một qui định là hễ gặp anh, dù ở đâu cũng không chào trước. Tôi chỉ chào sau khi nghe anh nói: Chào ông bạn, hoặc thấy tôi dắt theo con trai thì đến gần, cúi xuống giơ tay nói: Chào ông Thành con. Thành ra nhà anh ở đâu tôi cũng không biết. Gần đây, khoảng giữa tháng 4/2020 định viết về anh tôi mới gặp chú Vượng hỏi cho biết.

Tôi định khi nào anh hết chức tước, chỉ còn là nhà báo, tôi sẽ thăm anh, gần gũi anh như xưa.

Không ngờ…

11:00 ngày 28/8/1991, Đông vừa báo tin khủng khiếp: ANH THÉP MỚI ĐÃ MẤT.

Trưa hôm trước, ở cơ quan, anh nói chuyện với Tống Thế Gia. 21:00 còn trò chuyện với Dang Thi Thanh Hienem rể Mạnh Hồng và em gái Hà Thị Xuân ở 22 Tú Xương. Chị Đặng Thị Thanh Hiền vợ anh kể: 23:00 còn vui vẻ trò chuyện với vợ và hai con. Đến 8 giờ ngày hôm sau, 28/8, chị bảo con trai lên mời bố xuống ăn sáng. Cháu Quang gọi, không thấy bố trả lời. Lên tận nơi thì thấy bố mặc quần đùi, áo ba lỗ nằm trên cái võng Trường Sơn quen thuộc, nhưng đã mất rồi. Tối hôm trước, trời rất nóng, anh lên gác nằm võng ngủ rồi ra đi khi nào không ai biết.

Chú Lê Xuân Vượng đi làm ở nhà in về thường ghé nhà anh ở phường 7 quận 3 gần chợ Vườn Chuối. Khi thì giúp sửa chữa những đồ điện khi thì ngồi chơi uống nước, nói chuyện chân tình, tiện đâu nói đó. Chú Vượng thân thiết với tôi hơn anh em ruột, cho nên anh Thép Mới cũng cảm tình với chú. Hôm ấy, chú Vượng ghé nhà để xin lỗi đã hẹn từ trước mà hôm qua bận, không ghé được. Không ngờ không còn được trò chuyện với anh nữa. Chị Hiền kể với chú mọi chuyện tôi vừa thuật. Anh Thép Mới mãi đến gần đây mới được cấp nhà riêng. Nhà đất thành phố thấy khu biệt thự 173 Hai Bà Trưng nay chỉ còn là nơi một số gia đình cán bộ nhân viên công nhân ở, vì không còn ban đại diện báo Nhân Dân nữa, nên mới lấy lại và thu xếp cho những người ở đó có nơi ở mới. Lê Xuân Vượng và gia đình về lại 82 Lý Chính Thắng, Nguyễn Phan Toàn về quận 5 và anh Thép Mới và gia đình về nhà nơi anh sau này ra đi. Nhà ba tầng, trước là tiệm kim hoàn buôn bán và chế tác đồ trang sức. Trước khi anh dọn đến, phường tổ chức tổng vệ sinh. Những người đến dọn dẹp đều khỏe mạnh, tình nguyện làm không công. Chỉ xin khi quét dọn được phép mang hết đất mùn quét dọn được về nhà mình. Biết đâu có bụi vàng, làm được bông hồng vàng như Pauxốpxki kể trong truyện Bông Hồng Vàng nổi tiếng của ông.

Trước khi mất ít lâu, anh Thép Mới như trong cơn khủng hoảng tinh thần, nhiều khi ăn nói những điều rất lạ, không ai hiểu nổi. Rồi lại bình thường trở lại. Cái chết của anh khiến không ít người thắc mắc

Tối 29/8, truyền hình Việt Nam loan tin thông báo anh Thép Mới đã mất, sẽ an táng ngày 31/8 tại nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh. 12:00 ngày 30/8, tôi cùng chú Vượng đến viếng anh Thép Mới quàn tại trụ sở Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Tôi gặp các anh Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng và Phạm Duy Phùng đội trưởng đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân năm xưa, nay là phó bí thư đảng bộ báo Nhân Dân. Anh Hồng Hà, em ruột anh Thép Mới, là bí thư Trung ương Đảng tiến đến bắt tay và hỏi thăm sức khỏe tôi. Anh nói: Nghe nói bệnh nặng… còn đứng vững được như thế này là tốt rồi. Những người khác không hỏi, tôi cũng không bắt tay, sợ thấy sang bắt quàng làm họ.

Ngày 31/8, đúng 9:00 tôi đến dự lễ truy điệu. Anh Hà Đăng đọc điếu văn. Tiếp đó, anh Hồng Hà thay mặt gia đình lên phát biểu, đại ý nói: Còn nhiều điều anh muốn làm mà chưa làm được. Còn nhiều điều anh muốn viết mà chưa viết được. Còn nhiều điều anh muốn nói mà chưa nói được. Đó là điều đau buồn của gia đình chúng tôi.

Chị Hiền vợ anh mặc quần áo đen sụp lạy trước quan tài anh, xin tha cho những lỗi lầm, thiếu sót khi chung sống….

Hong Ha Huu Tho Dang Ha Duy Phung

Tham dự lễ viếng, ban tổ chức đọc tên từng đoàn theo thứ tự vào đứng viếng trước linh cữu anh. Anh Trần Đĩnh viếng hai lượt, một trong nhóm công tác trong ban văn hóa văn nghệ báo Nhân Dân, một trong nhóm những người bạn Thep Moi khung xamvới các anh Lửa Mới, Ngô Văn Quỹ, Nguyễn Ngọc Lương… Anh bảo, tay này đáng phải nghiêng mình trước hắn hai lần. Rồi có nhóm những đội viên bán báo năm xưa. Tôi không tham gia nhóm nào trong buổi viếng nghi thức đó. Tôi ngồi bên Anh ngay cạnh cô trang điểm thi thể Anh, nhìn rõ Anh như đang ngủ qua khung kính hình chữ nhật ngay chỗ mặt anh hiền hậu, bình thản. Tôi giúp cô mở cửa kính để thấm hơi nước đang rịn ra và trang điểm lại những chỗ bị lem. Tôi hỏi cô cứ để thế này thì bao lâu thi thể anh mới rã được. Cô bảo ít ra cũng 15 năm, vì phải giữ thật tốt để pháp y còn làm việc được chính xác. Nhưng nghe nói chỉ là cái chết bình thường vì bệnh tật gì đó thôi, không phải án mạng. Tôi biết rõ nếp sống thói quen của anh còn biết là những người ngủ hay ngáy, lại hút thuốc nhiều thì dễ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, rất dễ chết khi đang ngủ vì khó được cấp cứu kịp thời. Anh có đủ hai yếu tố ấy nên dẫn đến cái chết bất ngờ. Đúng 12:00 mới hạ huyệt. Chị Hiền khóc và nói là: Tôi phải nói lời cuối cùng… Những người có trách  nhiệm tại buổi lễ tang phải can nhưng chị vẫn nói: Tôi phải nói, vì đây là lời cuối cùng anh Thép Mới nói không phải lời của tôi. Anh ấy bảo tôi là phải cẩn thận, nhiều người quanh em nha van Nguyen Nguyenkhông trung hậu đâu, chúng ích kỷ lắm… Chị ta nói đi nói lại câu ấy ít nhất ba lần.

Trưa 2/9, anh Nguyễn Ngọc Lương lại nhà tôi, cho nửa cân giò lụa Cô Tấm, uống một chén rượu rồi đi. Chiều, vợ chồng Chính- Phương và hai con trai Trỉnh, Nam và em Chính là Dũng đến chơi. Có lẽ nhớ kỷ niệm ngày cưới vợ chồng mình. Đến chiều 3/9, Chính đón cả đoàn về lại Biên Hòa.

Đã ăn cháo nấu với nhung lần thứ tư, còn hai lần nữa là hết một cái huyết nhung đầu tiên Ánh Ngọc gửi cho. Cơ thể chấp nhận có vẻ tốt.

25/9, mãi hôm nay mới đến viện được, lu bu nhiều chuyện quá. Hai bố con đến đúng lúc Thìn đang tự châm cứu, vừa châm vừa theo dõi huyết áp cao quá: 18/11. Một lát sau, còn 17/11, mới nói chuyện được. Cấp thuốc như ngày 5/8, mười thang liền.

Chiều 28/9 Đông mang về công văn của vụ tổ chức báo Nhân Dân số 26 TCND ngày 26/9/091 gửi cơ quan trong này và minh. Vừa đúng một tháng sau khi anh Thép Mới mất. Nội dung yêu cầu mình chọn: 1/ về mất sức- tức là phải qua hội đồng giám định y khoa. Mà ở đó làm gì có ai giỏi hơn giáo sư Đặng Văn Chung- 2/ xin thôi việc. “Quá hạn một tháng mà đ/c Tôn Thất Thành không báo cáo thì ban biên tập sẽ ra quyết định cho đồng chí thôi việc từ 1/11/1991, giải quyết theo cách thứ hai nói trên.”Don xin thoi viec cua bo

Đọc công văn này thấy chẳng còn chút tình nào nữa, mình bèn đọc cho mẹ và vợ nghe. Nhận được sự đồng thuận của mẹ và vợ, tôi viết ngay báo cáo. Toàn văn như sau:

Kính gửi vụ tổ chức báo Nhân Dân,

Tôi xin tôi việc.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 tháng 9 năm 1991.

     (Ký tên)

Tôn Thất Thành

Bản này viết tay, nhưng có lưu một bản cacbon để làm kỷ niệm. Thế là xong một việc lớn, nhẹ cả người.

Từ nay có thể bình tâm tập trung nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Ông Ngoại Phạm Quỳnh. Kiếm sống thì đã có nghề chính là dạy tiếng Nhật và nghề phụ là nghề viết báo đã quen tay và cũng có đầu ra khá ổn định. Chỉ có điều, vẫn không thể xem nhẹ vấn đề sức khỏe đến nay vẫn còn là một ẩn số, ngay đến tên gọi chính xác của bệnh cũng chưa ai xác định được, chỉ thống nhất một nhận định là rất nặng, rất khó điều trị.

Thành phố Hồ Chí Minh mùa Covid

Tháng 4/2020.

P.T.

Tấm Thiếp Thép Mới gửi tháng 6 năm 1975

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

TẤM THIẾP THÉP MỚI GỬI THÁNG 6 NĂM 1975

Phạm Tôn

Tháng 6 năm 1975, đạo diễn Nguyễn Tự ở xưởng phim Quân đội đến nhà tôi ở số 16 phố Hàng Da Hà Nội, đưa cho một tấm thiếp đựng trong phong bì.

Phong bi thiep anh Thep Moi

Thiep Thep Moi mat truoc

Thiep Thep Moi mat sau

Trong thiếp, Anh Thép Mới viết như sau:

Thep Moi chan dungK/g bạn Tôn Thất Thành,

Tôi đề nghị bạn gửi giúp hộ bản đánh máy lại bài tựa giới thiệu cuốn Thép đã tôi năm 1954 của Thép Mới vào đây ngay.Thep da toi

Và có gặp bạn Như Phong, xin lại toàn bộ tập Xốc tới 3-2 bảo quản cẩn thận, gửi người chắc chắn vào cho tôi.

Nhà xuất bản Văn học không đăng thì thôi.

Tôi bận nhiều việc vặt quá.Thoi Dung Dang

Nhớ cậu vô cùng.

Đáng lẽ có thể làm nhiều hơn nữa.

Gửi lời thăm bà cụ Hàng Da và xin cảm ơn cụ đã đọc bài tôi viết về Đà Lạt

Cảm ơn những nhận xét về các bài viết của tôi

                                                                             Thân

(Thép Mới ký)

Anh không còn nữa. Tôi trân trọng giữ gìn những dòng chữ anh viết cho mình như báu vật.

Ghi chú:

  • Thép đã tôi là cuốn Thép đã tôi thế đấy do Thép Mới rút gọn và lược dịch xuất bản năm 1954, sau ngày Hà Nội giải phóng có bán khắp các hiệu sách.
  • Như Phong là giám đốc Nhà xuất bản Văn học đã đề nghị anh Thép Mới dành cho quyền xuất bản Thời dựng Đảng. Sau này, năm 1984 sách này xuất bản lần đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Bà cụ Hàng Da là mẹ tôi, năm ấy ngoài 60 vẫn rất ham đọc báo, rất ham thích các bài anh Thép Mới viết từ miền Nam gửi ra.

Le Thi Dong ben mo Thep Moi

Trên đường Thép Mới

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

Tren duong thep moi

Bài và ảnh: Tùng Lâm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên số báo Nhân Dân  ngày 19/3/2001.

—o0o—

Từ ngã tư Bảy Hiền, thành phố Hồ Chí Minh, qua ngã ba Hoàng Hoa Thám rẽ tay phải vài chục mét, chúng ta thấy một con đường vừa được thành phố đặt tên mới: Đường Thép Mới

Duong Thep Moi

Nhà báo Thép Mới, Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, Tổng Biên tập báo Giải Phóng, đã gắn một phần quan trọng cuộc đời mình với thành phố mang tên Bác và miền nam yêu quý. Anh đã dự cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn. Anh sống, làm việc và chiến đấu trong rừng Nam Bộ một số năm thời chống Mỹ, cứu nước. Anh cũng đã đi theo các đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn năm 1975. Sau ngày giải phóng miền nam, anh công tác tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày anh từ trần cách đây đúng 10 năm.

Ngày giải phóng Sài Gòn, anh viết trên báo Nhân Dân: “Nhìn tòa nhà sứ quán Mỹ ở góc đường Thống Nhất – Mạc Đĩnh Chi năm nay sao thấy thấp nhỏ hơn lần tôi thấy trước năm 1968 nhiều. Ơi, các anh biệt động năm xưa, nhớ các anh nhiều…”

Đấy là những ngày giáp Tết Mậu Thân 1968. Anh Thép Mới đi theo cơ quan chỉ huy mặt trận Đông Nam Sài Gòn trên những chiếc ghe rời căn cứ um tùm sậy lau và dứa dại. Rồi tất cả tập hợp ngoài kinh lớn, phóng về hướng Sài Gòn. Rạng sáng 30 Tết, các ghe chui vào một rừng dừa nước. Bên ngoài trời đã sáng rõ mà trong lùm cây vẫn tối. Đại bác địch từ căn cứ Bến Lức bắn tới như thường lệ. Anh Thép Mới đếm dược năm mươi sáu trái đạn nổ inh tai. Các tàu dừa đổ soàn soạt. Máy bay lên thẳng địch quần đảo trên đầu. Mọi người di chuyển, lao lên vượt sình thật nhanh, tới một căn cứ mới có hầm. Xẩm tối, 30 Tết, anh Thép Mới rời cứ, xuống đò sang sông, lên làng Tân Bửu. Về đêm, anh đã ở trên mặt đường nhựa của con lộ 4. Bỗng nhiên, cùng một lúc, các đồn địch chung quanh thi nhau bắn đại liên. Chúng đón giao thừa. Anh Thép Mới tranh thủ vượt qua lộ 4 ở quãng giữa cầu Bến Lức và cầu Bình Điền. Anh rẽ vào một làng có cổng chào phấp phới cờ Mặt trận. Trên con đường đi vào thành phố, nhiều đoàn dân công tải đạn rầm rập cất bước. Nhiều cánh quân khác của ta cũng đã ém sẵn quanh Sài Gòn.

Sáng mồng một Tết, anh Thép Mới khoác ba-lô đứng chờ ở đầu một bờ ruộng. Một đồng chí phụ trách cơ sở nội thành, qua ám hiệu, đến đón anh, cải trang rất nhanh cho anh rồi đưa anh xuống xuồng máy theo đồng bào đi lễ Tết. Anh lên một con lộ đá, đáp xe thổ mộ chạy qua các đồn địch, ra tới lộ 4, lên xe lam chạy về nội thành Sài Gòn. Anh được đưa về ở trong một gia đình cơ sở kháng chiến tại đường Trần Hoàng Quân, quận 5, thời Diệm gọi là đường Nhân Vị, ngày nay là đường Nguyễn Chí Thanh. Anh hiểu Sài Gòn. Hiểu con người Sài Gòn đáng yêu, đáng quý biết chừng nào, bắt đầu từ mái ấm nhà đồng bào, đồng chí mà anh được phân công đến ở.

Do yêu cầu công tác, anh Thép Mới được sự giúp đỡ của gia đình cơ sở cách mạng, đi coi những mục tiêu địch mà ta sẽ đánh trong đêm. Một cuộc sơ kiến Sài Gòn kỳ lạ đối với anh. Anh cảm thụ sâu sắc và sinh động về khái niệm thế trận chiến tranh nhân dân, về ý chí Việt Nam. Tối đó, trước tòa nhà sứ quán Mỹ, anh tìm cách đứng lâu một chút, nhìn kỹ người lính Mỹ gác cổng mặc bộ đồ trắng, đeo kính cận. Khoảng hai giờ đêm mồng một Tết rạng mồng hai Tết, một chiếc xe ô-tô Đô-phin màu trắng và một chiếc xe vận tải cỡ nhỏ chở các chiến sĩ biệt động ta xuất hiện ở phía nhà bưu điện thành phố. Phía dinh Độc Lập có tiếng súng nổ. Thế là xe lao vút đến Đại sứ quán Mỹ. Chiến sĩ ta nhảy xuống. Bộc phá nổ phá toang tường bê-tông cốt sắt cùng lúc với tiếng súng nổ ran khắp thành phố.

Nhiều ngày và nhiều tuần sau đó, anh Thép Mới làm việc trong nội thành Sài Gòn. Anh đã thấy cuộc chiến đấu của quân ta ở ngã tư Bảy Hiền. Anh đã ôm hôn giữa đường Trần Hoàng Quân một chiến sĩ giải phóng quân quen biết từ trên rừng miền Đông, bị thương cả hai chân mà vẫn bắn trả quân địch. Anh chạy đi chạy lại giữa quận 5 và quận Tân Bình để nắm tình hình. Anh đã quen từng đường phố của hai quận này. Rồi anh lại đội bom và đạn đại bác địch rút khỏi Sài Gòn, trở về căn cứ kháng chiến, tiếp tục làm báo Giải Phóng.

Hôm nay, trong dịp kỷ niệm lần thứ 50 Ngày báo Nhân Dân ra số đầu, chúng tôi đến thăm con đường mang tên anh Thép Mới giữa thành phố Hồ Chí Minh. Con đường dài khoảng bốn trăm mét, từng in dấu chân anh Tết Mậu Thân, bình dị như cuộc sống của anh. Tấm lòng nhân dân thành phố đối với anh luôn nồng hậu như trong những ngày Tết năm đó.

T.L.

Tháng Bảy 31, 2020

Chuyện một người cháu ngoại- Phụ lục: Phim màu và tình người

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 6:21 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

PHIM MÀU VÀ TÌNH NGƯỜI

Phạm Tôn

Đầu những năm 1980 Mỹ cấm vận nước ta rất ngặt nghèo, những hàng xa xỉ như phim chụp ảnh màu rất đắt mà cũng khó mua. Mỗi đám cưới, một đời mới có một lần, nhà trai cũng bấm bụng thuê một thợ chuyên chụp ảnh cưới hẳn hoi nhưng cũng chỉ dám chụp một cuộn phim màu đủ 36 kiểu thôi.

Bác Thụy là bạn thân của mẹ tôi từ thời hai ông chồng cùng dạy học ở trường Thăng Ba noi be Tuti chu Su chupLong Hà Nội. Bà vào trông con gái út để rồi ở luôn Sài Gòn đường Lê Quí Đôn cũng gần nhà tôi. Hai cụ thường gặp nhau mõi khi bà rảnh sang thăm mẹ tôi. Mẹ tôi bấy giờ chỉ lo chăm cháu đích tôn, vừa bận vừa vui, chẳng thiết đi đâu.

Một buổi trưa, hai bà cháu đang ôm nhau ngủ, thì bà Thụy đến nói: dậy ngay, tôi bảo cháu Sự (là dược sĩ con rể bà) đến, hôm nay nó đi chụp ảnh đám cưới, cháu bảo có thể chụp thêm được ba bốn kiểu ảnh. Mà ảnh màu đấy bà ạ. Tôi nghĩ ngay đến hai bà cháu nên bảo nó đưa đi ngay. Chụp xong còn kịp rửa ảnh trả cho khách thuê chụp đám cưới. Thế là mẹ tôi dậy ngay, Tuti được bà nội bế dậy cũng ngơ ngác mở cặp mắt còn ngái ngủ. Tôi bế con để bà ngồi chụp ảnh. Chú Sự chụp ảnh bà xong nói bà bế cháu để con chụp ảnh hai bà cháu ngay ở logia nhà dưới nắng trưa. Rồi một cái nữa chụp cháu nội một mình. Nhờ thế mới có ba bức ảnh màu, Tuti được có mặt trong hai bức. Hồi ấy, bà 70 còn cháu hơn năm tháng.

Cùng sống ở Vườn Anh Đào với gia đình tôi còn có phóng viên nhiếp ảnh chuyên nghiệp, chị Thanh Hảo người rất thích chụp trẻ em và từng được giải thưởng về nhiếp ảnh nghệ thuật. Một sớm, chị chạy vội lên căn gác gia đình tôi bảo: nắng đang đẹp, lại có phim màu, ra ngay sân chụp ảnh đi bà. Mẹ tôi bế Tuti sơ sinh, kéo cả Hương Giang mười tuổi vừa ở Hà Nội vào chơi ra chụp luôn. Thế là được tấm ảnh đẹp, sinh động. Bà và hai cháu nội, nam nữ. Còn chụp ảnh bà bế cháu và cháu một mình tựa ghế.

Ba noi be tuti - ba tuti huong giang- tuti

Buồng gia đình bác Hảo lại ở ngay lối ra cổng lớn, cho nên trẻ con hay ra con đường rộng dẫn ra cổng chơi. Một hôm, chị Hảo ngồi ở tam cấp nhà quan sát, thấy có hình ảnh đẹp lại vào nhà lấy máy ra chụp. Mà toàn chụp phim màu chị được Hội nhiếp ảnh cấp, để sáng tác. Hồi ấy, chị đang chuẩn bị gửi tác phẩm dự thi cuộc thi gì tôi không rõ. Nhưng chỉ nhớ là con tôi may mắn được chị chụp cho ba bức ảnh: một bức được bác gọi thì giơ tay lên, một bức cầm cái kẹo mút bác vừa cho để trả công người mẫu, một bức các anh bế cho ngồi lên xe đạp ba bánh giả vờ đang đạp xe.

Sau nghe nói bác Hảo đưa tấm ảnh giơ tay đi dự thi, chẳng biết có được giải gì không, chỉ Tuti anh chan dungbiết thi xong ban tổ chức cho mua lại bức ảnh đã phóng to, giá chỉ có năm đồng, nhưng bác không có tiền, về bảo nhà tôi cũng không có… Chẳng biết nay bức ảnh phóng to của con tôi dự triển lãm năm ấy trôi dạt nơi nao.

Nhớ lại một thời nghèo tiền của nhưng giàu tình người, càng nhớ bác Thụy bạn mẹ, chị Thanh Hảo bạn tôi nay đều không còn. Nhưng cái tình của bác và chị vợ chồng tôi vẫn nhớ mãi và muốn con cháu tôi cũng đừng bao giờ quên.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/6/2020

Covid-19 trong trạng thái bình thường mới

P.T.

Tháng Bảy 27, 2020

Chuyện một người cháu ngoại-Cuộc chiến thầm lặng (P3)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

5- Cuộc chiến thầm lặng (P3)

Chiều 22/2, đến viện Y Dược học dân tộc nói chuyện rất lâu với Trương Thìn về đủ mọi chuyện. Thìn bảo: Nói thì buồn cười chứ thật ra tôi Truong thin va bođam mê y học từ khi đọc chưởng Kim Dung có những cao nhân y thuật cao siêu giúp đời được rất nhiều. Mình tham gia phong trào sinh viên yêu nước từ buổi đầu, nhất là tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ hát cho đồng bào tôi nghe, tiếng hát những đêm không ngủ. Sau giải phóng khá lâu, có cán bộ thành ủy gợi ý việc kết nạp Đảng. Mình nói thẳng, tôi bây giờ nghĩ nhiều đến công việc, ít nghĩ đến việc đó, giống như một thanh niên đã qua thời mơ mộng yêu đương mà không được đáp ứng, nay không muốn nhắc lại chuyện cũ. Chỉ lo làm việc và học tập. Vợ cũng hỏi, Thìn bảo có nói em cũng không hiểu đâu, đừng bao giờ hỏi nữa.

Tối Đông bảo Ti mang gói bánh Nhật bơ mừng sinh nhật bố. Rồi cả nhà xem trên tivi phim của Pháp – Nam Tư Mùa hòa bình ở Paris. Hay quá.

Sáng 23 đưa đi phô tô và chiều, đưa cho Thìn tư liệu của cụ Trần Văn Giáp về danh y Tuệ Kieu caTĩnh: đính chính Tuệ Tĩnh là người của thế kỷ 17 như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, không phải là thế kỷ 14 như các sách trước nay vẫn lưu truyền. Thìn và anh Lang thích thú hết sức. Thìn bảo cần nghiên cứu kỹ về Tuệ Tĩnh, nhất là cái phương châm Nam dược trị Nam nhân của cụ có ý nghĩa khoa học thật sâu xa, con người và môi trường phải là một thể thống nhất hài hòa.

Mình nói xa xôi mong bạn không nên phân tán sức, đừng tự hào là người đa tài mà nên tập trung nghiên cứu Đông y. Thìn làm thơ, vẽ tranh trừu tượng, thổi được xắc xô phôn có cả cái kèn đồng để ngay văn phòng. Bạn bè văn nghệ rất đông. Trương Thìn đã viết liên khúc Kiều Ca: Một xe trong cõi hồng trần gồm 12 khúc phổ nhạc thơ Nguyễn Du hoặc lấy ý thơ Nguyễn Du là Trải qua một cuộc bể dâu – Ngọc ngà – Trong như tiếng hạc bay qua – Nấm đất bên đường – Người đâu gặp gỡ làm chi – Mai sau dù có bao giờ – Một xe trong cõi hồng trần – Bên trời góc biển bơ vơ – Vầng trăng ai xẻ làm đôi – Cùng trong một tiếng tơ đồng – Một cung gió thảm mưa sầu – Tình nhân lại gặp tình nhân. Liên khúc này đã từng trình diễn trong một ngày Hội Tết Y học Dân tộc tại viện, được đông đảo lương y tham dự hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau khi lấy thuốc ở viện, tôi ghé nhà anh Ngô Văn Quỹ gần đó. Gặp ở nhà anh các anh Lửa Mới báo Cứu Quốc, đạo diễn kịch Bích Lâm, nói chuyện với nhau nhiều về anh Chính Yên (cũng tuổi Thìn), mới mất. Anh Lửa Mới nói: cái ông Thép Mới này càng già càng tệ, louche (tiếng Pháp: mập mờ) nhất là vụ thằng Chính Yên…

Tối 24, đi học lớp tiếng Nhật, nhưng họ chưa mở. Đành về nhà xem tivi phim Ănggiêlích, hay quá. Tình cờ ghé hiệu sách mua được Thám tử buồn (Axta-phiép-260 đồng), có thấy Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp quyển sách đang được nhiều người tìm đọc, nhưng bán giá đen, cao quá, chưa mua được vì mới mua thuốc buổi chiều mất 1.500 đồng.

25/2, đi sửa solex, Ti đi theo, chờ sửa xe xong hai bố con đi xem Thủy thủ Sinh Bá. Lại Ha va Tutimất 2 vé x 80đ: 160+30đ kem, gần 200 đồng rồi còn gì. Ti thích quá. Ngay đầu năm, cả xóm Vườn Anh Dào đều lo gấp giấy cho nhà in.

Sáng 25, vừa cùng Ti ra khỏi nhà thì gặp Hải, Hà chở nhau bằng xe đạp đến. Rủ cả hai cháu đi xem phim thần thoại đang quảng cáo. Vào rạp, hóa ra họ thay phim mới Platoon (Trung đội) của Mỹ, 4 osca. Như mọi phim đoạt giải này, khó hiểu và dài lại về đề tài chiến tranh Việt Nam, xem rất mệt, bọn trẻ không hiểu, càng chán. Mất đứt 400 đồng tiền vé.

Cơm tối xong, cùng Ti đưa hai cháu đến chào bà Giễm.

Trưa 26, Hà đi học về, mình cho Hà biết là chú Bắc rất lo ngại về tình hình Hà học thi mà không tập trung tư tưởng. Từ nay, không làm việc gì ở nhà nữa, chỉ học thật tập trung và giặt quần áo của bản thân thôi. Mình cũng trả lại bộ pigiama Hà bảo là Nhàn biếu. Mình không ưa kiểu có đi có lại như thế, trái với thư mình đã viết cho hai vợ chồng Long – Nhàn là Hà ở đây, chỉ lấy đúng 15 kg gạo thôi. Mọi thứ đưa thêm đều không nhận.Ba noi doc tap chi kien thuc ngay nay

Chiều 27 nhận thư mẹ, anh Đại mất honda đã sửa xe đạp cũ để đi làm. Mẹ đã hiểu tình hình, không bảo mình mua gì nữa, cũng không cần gửi tiền.

Tối chủ nhật, 28/2, vợ Hùng Cường và con gái đến đưa cho 140.000 đồng chị An nhờ chuyển. Sáng 29, gửi ngay 40.000 để anh Đại mua xe đạp mới. Tại bưu điện, viết ngay thư cho chị An, lá thư đầu tiên từ 1955, nói rõ đã nhận tiền chị gửi cho mẹ và mình đang ốm nặng cũng có tiền thuốc thang. Một lạng vàng chị cho riêng mình mua honda, mình đã mua cái solex cũ thôi cho nên vẫn còn nguyên, chỉ để khi mẹ cần và cần cho mẹ mới dùng. Mình cũng gửi chị tấm thiếp chị mời dự đám cưới chị gửi hơn ba mươi năm trước.

Vàng đã 93.000-100.000 một chỉ. Có lẽ do Nhà nước mới ra Luật đầu tư đối với nước ngoài. Tính theo vàng, mọi thứ rẻ kỳ lạ Tivi Vietronic gia đình mình và em Thân mua 4,5 chỉ. Nay Sanyo cùng cỡ, chỉ có 1,5 chỉ thôi. Gửi tiền xong, chỉ giữ đúng tiền gửi mẹ tiêu tháng 3 và tiền thuốc Thầy Tư, còn là mua vàng ngay, kẻo lại mất trắng. Những ngày này sống thật khó khăn.

Sáng 4/3, mình dậy từ 2:30. 4:00 thì Hà dậy. Mình đưa cháu ra xa cảng Miền Tây để cháu lên xe đò về Bạc Liêu làm hồ sơ thi đại học. Hà không nghĩ là được bác đưa đi cho nên dậy sớm quá, đi được chuyến xe đầu rời bến.

Mấy ngày nay, cả Sài Gòn như điên lên vì có tin đổi tiền, hàng hóa lại rục rịch đồng loạt tăng giá, người nào cũng cố đi mua được cái gì hay cái nấy kẻo tiền lại sắp hóa thành giấy lộn như năm 1985. Vườn Anh Đào nghèo nàn mà cũng cuống lên đi vét hàng. Nhà Kha mua cái quạt trần 15 nghìn đồng, trước chê đắt không mua. Nhà Hữu Vân cũng mua đến hai cái rađiô mỗi cái những 33.000 đồng. Ngay nhà mình cũng mua thêm một máy sạc pin các loại 13.000 đồng, hai cặp săm lốp xe đạp cho Đông và vội đi lấy 15 ngày thuốc của Thầy Tư cho cả hai vợ chồng, sợ thầy cũng lại tăng giá theo thị trường. Hôm sau sẽ đi mua Từ điển Nga-Việt.

Sớm 4/3 này, đài phát tin đã phát hành tiền mới 1.000, 2.000 và 5.000 đồng.

Mình dự định mua một cuộn băng caxét tốt để thu các bài thơ, bài hát của Ti và bạn bè trình bày tặng bà nội nhân sinh nhật lần thứ 75 của bà (1913-1988) nhưng không mua nổi vì quá đắt. Đành thu vào băng cũ, Ti mời các bạn Bít, Trường thay nhau hát, mình dẫn chuyện. Ti nghe giọng mình và các bạn hát do máy phát ra thích thú quá. Sau này, bà viết thư vào cũng khen cháu hát hay và coi đó là quà sinh nhật quí nhất năm ấy.

Chiều 11/3, chị Xuân và cô Dung đột ngột đến nhà, bắt cóc cả nhà đi Vũng Tàu, có lẽ vì biết nhà mình không có tiền nên không đăng ký đi chơi với anh chị em. Cháu Hà thấy vậy, bảo là phải đưa đồ gia đình gửi cho bạn. 18:00 ngày 13 mới từ Vũng Tàu về nhà. Đông và Ti được xe đưa về tận 82 Lý Chính Thắng. Mình ghé nhà bà ngoại lấy xe solex gửi trước khi đi. Về đến nhà, nhận thư anh Đại, mẹ, bác Võ Đằng anh rể mẹ. Và một thư của Hà, không đề ngày giờ gì cả, toàn văn như sau: Bác Thành và Cô Đông yêu quí! Tất cả bạn cháu đều ở ký túc xá. Vậy cháu xin phép hai bác cho cháu được đến ở ký túc xá/ Lúc nào rảnh rỗi cháu sẽ về chơi với Tuti/ Cháu rất cám ơn sự chăm sóc nhiệt tình của hai bác trong suốt học kỳ vừa qua. / Cháu chào hai bác/ Cháu Hà (ký)

Kèm một mảnh giấy bằng mảnh viết thư trên, có ghi: Cháu đưa gạo cho chị Trinh và một dòng bị xóa ghi: cháu không biết còn gì.

Thư này để cùng phong bì với thư Nhàn viết ngày 4/11 và 30/12/1987.

Ngày 20/3/1988, Hải về nhà cùng bạn là Dự. Mình bảo Hải ghi lại địa chỉ của Hà để có ai hỏi còn biết đường trả lời. Hải ghi: Nguyễn Minh Tuấn (Minh Hải) Trường cán bộ quản lý giáo dục – buồng 221, trước Sở Thú.

Như vậy là Hà không phải ở ký túc xá.

Từ thứ năm 17/3/1988 tiếp tục học tiếng Nhật, nhưng là học với những người đã học xong một khóa 6 tháng. Mình theo kịp, đỡ được nửa năm học.dot xtoi ep xki

Chiều 22/3, đến viện, tình cờ gặp nhà thơ Hải Như anh ruột anh Như Đàm ở báo Nhân Dân. Mình biết anh rất ít, chưa đến nhà anh bao giờ, chỉ mê đọc thơ anh thôi. Anh có vẻ mến mình và cứ tỏ ra tiếc là mình làm báo mà không làm văn nghệ. Trần Thanh Phương cũng hay đến viện vì suy nhược thần kinh. Vẫn ham sưu tầm tư liệu để viết địa dư chí cho các tỉnh. Mình hỏi tư liệu về ông ngoại mà hồi ở Hà Nội Phương đã cho mượn đọc thì cứ khất lần, chưa tìm ra. Thành ra dạo này gặp nhau thì nhiều nhưng chẳng có gì để nói với nhau. Chỉ cười.

Tối thứ bảy, đi học tiếng Nhật về, ghé hiệu sách gần nhà mua được Những kẻ tủi nhục (Những kẻ bị sỉ nhục và lăng mạ) của Đốt. Tối ấy và tối thứ hai 28/3 đã đọc một mạch hết 576 trang văn tuyệt vời. Quyển này, Đốt viết năm 1861 ngay sau khi vừa qua 10 năm lưu đầy. Đầu óc không tỉnh táo, sáng suốt, nhưng tấm lòng thật bao la. Mình hầu như bỏ hết mọi việc để cắm đầu đọc vì bị cuốn hút từ trang này đến trang kế tiếp, chương này sang chương sau… Dường như qua nhân vật nhà văn trẻ dẫn chuyện Đốt đã thể hiện bản thân khá rõ nét, khi mới vào nghề viết…

Chiều 3/4, cô Thìn đến báo Đông hôm sau xuống nhà bà ngoại. Cô kể, tự nhiên nhận được tiền từ nước ngoài gửi về thông qua Công ty lương thực Tây Ninh. Xem sổ điện báo thấy đề tên và địa chỉ nhà cô nhưng còn mở ngoặc ghi: Lê Thị Đông. Cô cho là của Cậu, gửi về cho Đông, nên mang xuống bà. Bà bảo chia hai, cho Thu một nửa. Nhưng chính cô Thìn cho biết tên người gửi lạ lắm, là An Đoàn Tôn Nữ gì đó, chắc là bồ của em Cường. Đông bảo Thìn, có lẽ là chị An nhà anh Thành. Ăn cơm tối xong, Đông vội xuống nhà bà. Bà bảo đã đưa chị Xuân một nửa gửi cho Thu. Bà cũng cho là Đông nói có lý. Vì cậu rất cẩn thận về chuyện tiền nong, khi nào gửi cũng có thư nói rõ. Bà bảo cứ để Đông nhận cả. Nhưng Đồng đề nghị bà mua hộ vàng, chờ khi nào rõ hẵng hay. Đông lên chị Xuân nói chuyện này. May mà Đông nhanh trí chứ chia đôi rồi lấy lại là phiền phức lắm. Mình chỉ không ngờ làm sao mọi việc lại nhanh chóng đến thế. Thư chị gửi cùng ngày 29/2 mình gửi tiền anh Đại mua xe đạp.

29/6, Nhàn ra Hà Nội. Tối 7/7, Hà đến chào đi Minh Hải. Tối 17/7, Hải cũng chào về Minh Hải. 21/7/1988, 20:15 cả nhà mình ra ga Sài Gòn đón Ba Noi va Co Nhan o Bac Lieumẹ và em Nhàn từ Hà Nội vào. Ti mới nhổ răng cũng đòi đi đón bà. 22/7, Nhàn về Bạc Liêu. 23, cô Giễm đến thăm mẹ, mời mẹ và gia đình mình, ngày 25/7 đến nhà cô ăn sinh nhật em Lệ Thu 32 tuổi. Mưa cực lớn. Ngày 5/8, chị Nguyễn Khoa Thị Nhuận và con gái là Ý Nhi từ Huế vào thăm, gặp mẹ, rồi gặp cả Nhàn và con là Dung mới lên. 5:00 ngày 7/8 mẹ, Nhàn và Dung về Bạc Liêu. Ngày 8/8, mình đã viết thư báo cho anh Đại, chị Thủy biết là mẹ đã vào đến Bạc Liêu và Nhàn nói là: mẹ muốn chết cũng chết ở Bạc Liêu, chôn ở vườn nhà Nhàn.

Tối 18/8 cháu Nguyễn Khánh Nhân bạn của Ánh Ngọc vào nhà, sáng hôm sau đi Bạc Liêu.

Chiều chủ nhật 21/8 mưa, Nghiêm Thanh và Minh Sơn vào họp phóng viên thường trú tổ chức tại Sài Gòn đến nhà thăm. Mình đưa cho các bạn xem bản thông báo anh Quốc Vinh gửi để các bạn biết tình hình của mình hiện nay, đang nghỉ để chữa bệnh chưa biết đến khi nào.

Nghiem Thanh - Minh Son - Vu Hai

Chủ nhật 28/8, cả nhà đi Gò Vấp thăm gia đình Hải – Bích và con gái là Thủy. Cô Bích là em gái anh Đoàn Văn Đệ chồng chị An mình. Đáp lễ trưa chủ nhật 21/8 hai mẹ con cô đến nhà thăm lần đầu.

Nguyễn Khánh Nhân từ Bạc Liêu lên, ghé nhà ngày 27, đến sáng 28 thì ra Hà Nội, mình đã tranh thủ gửi cho anh Đại nửa chỉ vàng.

Ngày 5/9, gửi bưu điện cho mẹ 10.000 đồng. Sáng hôm trước, anh Vũ Hải, cùng cơ quan ở Hà Nội, ghé thăm, nói chuyện rôm rả vui vẻ, cho Ti 5.000 đồng, có lẽ vì tình đồng hương, anh cũng người Huế.

Ngày 25/9, nhờ chú Cường chồng cô Phú em Đông mua hộ cái tivi NEC màu và bán luôn cái tivi Vietronic đen trắng. Mới nhờ lúc sáng mà 10 giờ đã có tivi màu Nhật Bản để xem rồi. Ghé nhà cậu Vinh lại được tặng một họp bánh Trung Thu hai nướng hai dẻo loại ngon. Giá tivi mới tính theo vàng là bốn chỉ rưỡi vừa bằng giá khi mua tivi đen trắng trước đây. Chính chú Cường lại nhờ bạn cùng đến nhà mắc cho cái ăng ten to. Cường là anh em cột chèo với mình, rất hay trò chuyện với nhau .

Sáng 29/9, nhận thư mẹ báo đã nhận được tiền. Không ngờ mẹ rất phấn khởi vì nhận tiền con trai gửi, cơ quan con rể Long biết là bà không phải về đây ở là phải sống nhờ con rể và con gái. Đây là điều mình chưa bao giờ nghĩ đến… Tội nghiệp mẹ buồn, chán, đau lưng, đau chân, mà viết thư vẫn cố nói là vui vẻ: Cúp điện suốt thì nhà đã có ắc qui, nhà đầy một hồ (bể) nước. Đúng như chú Luân nói hôm đến nhà: sao lại đem bác giam xuống Bạc Liêu. Hà vẫn ở nhà chờ mẹ nó quyết định số phận, ít nói mà làm việc rất nhiều. Mẹ nó có ý cho đi học trung cấp dược, sợ nhất là đi nghĩa vụ quân sự. Mình đọc thư mẹ, buồn nhưng biết làm sao. Ai sống hộ ai được.

12/11, nhận thư mẹ ngày 8/11, Hà đã lên Sài Gòn học ở ký túc xá hệ chính qui mở rộng, phải đóng tiền học. Bà viết: Hải, Hà mỗi tháng nhà gửi mỗi người 15 ký gạo và 15.000 đồng.bai viet ong mai ca

Tối thứ hai 14/11, Nhàn cùng Hải đến nhà mình. Ăn cơm xong, Hải về trường, Nhàn ở lại, cho ổi và táo. 16/11, Nhàn cho Ti hai gói đậu phọng chiên tôm và 5.000 đồng. Tối Hải và bạn về xem tivi và lấy solex Hà mua. 22:00 Nhàn mới đưa mình một thư dài chữ mẹ viết. Thư cho là vì buồng mình ở trước là điện thờ cho nên gia đình mình bị bệnh tật và gặp nhiều khó khăn. Mẹ cũng vì ở nhà mình mà bị cái papillome corné và phải mổ. Mình đọc qua và chỉ chú ý là : Thêm một trở ngại nữa trong việc chuyển mẹ lên đây. Qua thư trước mẹ gửi và Nhàn nói hở ra mình biết là mẹ bị đau thần kinh tọa và lo cơm nước cho cả nhà. Còn Hà lên đây là luyện thi đại học lần thứ ba, tức lần cuối, không đỗ sẽ đi học trung cấp.

Sáng 17/11, dậy từ 4:30 và hơn 6 giờ thì Nhàn về Bạc Liêu. Mẹ con Tuti tiễn tận cổng. Thời gian ở đây, hai anh em nói chuyện rất nhiều, nhưng chỉ nói về văn nghệ. Có vẻ em có nhiều điều muốn nói nhưng chưa tiện nói ra. Mấy giờ liền sáng 15/11, Nhàn nằm trong nhà nghe rõ mình nói chuyện với Phạm Duy Phùng rất gay gắt, càng là bạn thân càng cần thẳng thắn với nhau. Nói ngay trước mặt họa sĩ Nam quân của Phùng. Cuối cùng mình nói: Chấm dứt hết cả rồi. Thất đức là nguy hiểm lắm. Đừng cố biện hộ cho cái sai, cái xấu của anh Thép Mới.

Chiều 26, cậu Tuyên vào đưa cho cái ấm điện nhôm Liên Xô chị Thủy tặng. Chiều 27, chị Vương Thị Tửu vào cho trà Bắc và bột sắn, vẫn vui vẻ dễ thương như ngày nào. Sáng 28, cơm xong đưa chị ra bến xe Văn Thánh đi Biên Hòa nơi cháu Chính đang đóng quân. Thật là người dưng mà thân hơn ruột thịt, thật thà nói hết với nhau mọi điều.

27/11 Sài Gòn giải phóng đăng nguyên văn bài “Ông Mai-ca” của Nguyễn Chung. Phải cố có bài tiếp theo chứ… Đông đi lấy nhuận bút được 6.000 đồng. Sau hơn hai tháng không gặp nhau, chiều 30/11 mình đến viện để Trương Thìn khám lại. Đo huyết áp hai lần đều 94, thấp. Cho đơn mới 9 vị, bốn thang sắc uống ngày hai lần. Quế, gừng bỏ vào sau. Đây là lần đầu tiên Thìn cho mình đơn thuốc có phụ tử. Hiện tượng huyết áp thấp làm anh lo ngại. Hôm nay chụp phổi lại vì Thìn nghe có tiếng ran. Ngoài ra mình còn ăn tiêu lốc, uống quế và các thứ nóng khác.

Chiều 9/12, sau khi uống đủ tám thang thuốc như trên thì mặt đỏ, đặc biệt nổi sần lên ở mũi và hai gò má. Phân nhão hơn. Nhưng người vẫn lạnh, ra nhiều mồ hôi lạnh, người càng mệt và lạnh. Trương Thìn khám và rất ngạc nhiên lẽ ra phải ấm, hết mồ hôi và phân bón lại. Mặt xị ra, như phù. Thìn muốn mình nằm viện, nhưng mình từ chối, nhà neo người quá không sao nằm viện được.

Thật ra, mình không tin viện chăm sóc tốt hơn Đông, ngay việc sắc thuốc làm sao kỹ bằng mình tự sắc. Hơn nữa còn những nhu cầu tinh thần như tivi, rađiô, sách báo sao bằng ở nhà. Còn Tuti nữa, bố con nhớ nhau đến chết mất. Tóm lại, tổ ba người của mình bao giờ cũng dựa vào nhau mà chiến đấu, trụ vững trên cuộc đời này, lại còn phải viết và để đấy những cái đã định.

Thìn cho chụp phim vì còn nghi bệnh lao trở lại. Bạn thật chí tình. Sau mấy ngày chuẩn bị, bác sĩ Lê Hùng (em ruột Lê Hành) sáng 19/12 khám lại lần cuối cùng để chuẩn bị báo cáo về ca của mình vào buổi chiều trước các bác sĩ toàn viện, có Giáo sư Đặng Văn Chung chuyên gia đầu ngành khoa nội cùng tham gia hội chẩn. Ông đã từng chăm sóc sức khỏe Bác Hồ. Rồi mình được mời vào để ông trực tiếp khám. Giao su Dang Van ChungMình nằm như con thỏ thí nghiệm để mặc các bác sĩ lương y thăm khám, hỏi gì đáp nấy. Sau hơn hai giờ khám kỹ càng, ông Chung không tin là mình đã bị lao, cũng không tin là từng bị hen. Không kết luận được, nhưng tin là bệnh nặng, một ca khó, yêu cầu xét nghiệm chiếu, chụp rất nhiều. Đặc biệt yêu cầu chụp phế quản là việc mình rất ngại, sợ tai nạn khi chụp, tắc thở chết ngay. Tạm thời ông định tên bệnh là Gián phế quản bội nhiễm. Nghi là có ổ vi trùng ở đáy phổi phải. Mình đã nhập viện và được viện trưởng Trương Thìn cho bệnh nhân về nhà. Thuộc khoa châm cứu.

Chiều 26/11, giáo sư Đặng Văn Chung và tập thể bác sĩ, lương y của viện Y Dược học dân nha van Nguyen Nguyentộc thành phố Hồ Chí Minh lại tiếp tục thảo luận cách điều trị cho mình. Ông Chung cố ép chụp phế quản và có ý muốn mổ cắt phần cuối phổi phải. Mình nghĩ làm như vậy sao khỏi hẳn được, chỉ bớt một phần vì còn bao nhiêu biểu hiện cụ thể của bệnh không liên quan gì đến phổi cả. Giáo sư nói sẵn sàng xác nhận là bệnh rất nặng để để nghị cho đi chữa bệnh nước ngoài. Sau buổi họp Trương Thìn và mình thống nhất là tạm hoãn việc xét nghiệm lại. Mình đã kể Thìn nghe chuyện anh Nguyễn Ngọc Lương kể hồi nằm bệnh viện Gralle có một bệnh nhân mới bơm thuốc cản quang vào phổi đã tím tái, suýt tắc thở. Bác sĩ Pháp to lớn vội nắm hai chân anh ta giốc lên cho đến khi chất cản quang ra hết mới phục hồi được. Anh Lương bảo bệnh nhân gầy, nhỏ, bác sĩ Tây cao to, chứ như chú thì bác sĩ ta nào nắm chân giốc ngược lên được. Dễ chết lắm. Thìn nói giọng trầm trầm: Dù sao chúng tôi cũng quyết chữa cho ông đến khỏi.

Từ 30/12/1988 bắt đầu uống thang thuốc mới Bổ âm Hỏa. Chiều 2/1/1989 thì Trương Thìn châm, từ sáng hôm sau, bác sĩ Lê Hùng châm hằng ngày. Sáng 6 giờ là đến viện để châm cứu. Bác sĩ Lê Hùng nói rõ là chân nhiệt giả hàn. Có lẽ đúng như thế. Hôm 9/1, trời nóng dữ dội, tắm nước lạnh. Trưa hôm sau cũng tắm nước lạnh, không bị sao cả.

Từ 7/1, Ti sốt liên tục hai ngày 39o8. Đến ngày 10/1, vẫn còn sốt nhẹ, ho khúc khắc phải Nguyen Hoang Hainghỉ. Cả nhà mệt lử.

Sáng chủ nhật, Hải về nhà. Đang ăn cơm thì cho biết: Nhàn định cho Hà sang Úc học, ở nhà Út Thành em chú Long. Tối ngày 3/1, 27 Tết, hai mẹ con Bích – Thủy lên thăm, cho bánh in Thủy làm ở xưởng. Đông tặng lại 2 ký thịt, một ký đậu xanh vừa được cơ quan phân cho ăn Tết Kỷ Tỵ. Cái đèn tọa đăng vợ chồng mình cho dạo nào cô Bích nói đã mua đầy phao dầu, nhưng chưa dám xài, để Tết, vì hao dầu lắm tuy đèn rất sáng.

Đêm 30 Tết, Ti cũng thức đón giao thừa cùng bố mẹ. Pháo nổ nhiều chưa từng thấy. Đông cũng làm hai bàn thờ, chỉ khi cúng thì không biết nói gì, mình gợi ý cứ xin các vị cho được sống bình an là được.

Sáng mồng 1 Kỷ Tị đến nhà bà ngoại, bác Xuân. Rồi hai bố con Thành Ti đến nhà cô Giễm, biết 19/1/1989, Chính phủ Pháp đã cho cô và mẹ con Thu Linh nhập cư, độ trong mùa hè là đi.

Theo lệ từ mấy năm nay, trước hôm 23 Tết, gia đình mình sang Thủ Đức thăm cụ Sán. Cụ nói: Thôi, cứ còn sống là còn thăm nom nhau. Thật chí tình.

Ba Giem chup voi gia dinh Thanh Dong Tuti

Đến 20/2, dã dùng máy chữa biện ION tám ngày, xoa Naja-tox bốn ngày và sắc thuốc theo đơn mới uống đã 5 ngày mà các khớp vẫn đau nhức quá. Thuốc mới có 6 vị: Hà thủ ô đỏ, tang bạch bì, mạch môn đông, bạc hà, đỗ trọng, xuyên khung. Cứ chiều thứ hai là đến viện khám lại lấy đơn thuốc mới.

Từ 2/3, ngày hai lần sáng tối uống cao trăn chị cả Yên con cụ Sán cho một gói như mọi thành viên trong nhà cụ. Từ 22/2 còn uống Tam tế phương rượu trị thấp hàn của viện chế, cũng ngày hai lần trước bữa ăn. Đúng là có bệnh thì vái tứ phương, miễn sao dùng không tệ hơn là dùng.

Ngày 7/3, anh Thép Mới sẽ mổ dạ dày vì hẹp môn vị, thổ huyết, phải đi cấp cứu từ tuần trước. Biết tin, sáng chủ nhật 5/3 anh Nguyễn Ngọc Lương và mình đến thăm tại bệnh viện Thống Nhất. Nhưng đến phòng anh nằm thì không thấy đâu. Hóa ra chưa mổ anh đã nằm phòng hậu phẫu. Minh biết anh sợ nóng, và sợ đau nữa nên mổ là việc anh rất ngại. Tiêm anh cũng khó.

Em gái tôi đột ngột đưa mẹ lên từ hôm 19, không nói lí do. 22/3 thì em về Bạc Liêu, 9/4 Hải về nhà mình, cho biết Hà cũng lên, nhờ đưa quà cho Ti là gói bánh hột gà.

Trưa 1/5, hai mẹ con Bích – Thủy lên chơi, đưa cho xem thư gửi chung Bích – Hải, Đông-chi Thuy con co BichThành gửi về nhà cô Bích ở Gò Vấp, báo sắp gửi 200 đô, hai nhà cưa đôi. Cũng nói rõ đã gửi cho Đại, Thân, Nhàn và mẹ thì gửi về Bạc Liêu, mọi người đã nhận đủ. Thư chị viết ngày 5/4 gửi express. 20/4 thì nhận được.

Tối 26/4, mưa to độ một tiếng đồng hồ mình lên một cơn lạnh, phải cạo gió, xoa dầu nóng, uống quế, ói mệt kéo dài đến mức không muốn làm gì. không muốn đi đâu, chỉ muốn đi mổ phổi cho xong chuyện. Tối ấy, Ti cố thức bên bố. Bà thương bảo ngủ đi. Con nói con còn phải thức để săn sóc bố. Bà hỏi cháu định làm gì. Cháu nói: cháu lau mồ hôi cho bố, đi tất cho bố. Bà ôm cháu xoa đầu cháu.

Chiều 2/5, Thìn khám lại: phổi trên trong, dưới ran nhiều, da lạnh. Đơn thuốc mới lại thấy có hà thủ ô đỏ, bạc hà, quế chi, xuyên khung, bên cạnh mạch môn đông, tang bạch bì.

Tối chủ nhật 14/5, em gái đột ngột lên, Hải đèo về nhà mình. Em yêu cầu mẹ cùng nằm ở sàn, thì thâm to nhỏ đến khuya, sáng sau thì mẹ bảo đưa Nhàn một cây vàng để cho vay lấy lãi mỗi tháng một chỉ.

Mình từ chối, em vùng vằng ra về sáng 15/5. Mẹ nằm suốt ngày như ốm. Tối 26/5, cháu Hải về báo là hai tháng nữa nhà sẽ xây xong thì mẹ bảo: Xây xong nhà bà sẽ về xem…

Tối 25/5, cô Thìn đưa cho bức thư chị An nói rõ mọi việc. Mình đưa mẹ xem với vẻ thản nhiên, như không có chuyện gì cả. Chị nói rõ cho Thành một lạng mua xe honda, nhưng Thành muốn để dùng khi mẹ cần và cần cho mẹ. Đáng sợ thật cái vẻ thản nhiên này. Ngay như Tuti còn nhỏ thế mà cũng biết là bà đối với bố mẹ nó khác với gia đình cô chú.

Sáng 26/5, khoảng 10 giờ, mình từ viện về thì mưa to. Có một chú bé đi xe đạp đến báo: Trần Văn Cảnh sắp chết. 11 giờ hai vợ chồng mình đến bệnh viện Thống Nhất mang theo bánh mì, một cây giò, hai chai nước. Vào phòng hồi sức, gặp vợ Cảnh là cô Nguyễn Thị Hiền và hai con gái Tú, Trang. Cô Hiền kể: Tối hôm ấy, hai vợ chồng ngồi bên nhau trên sàn nhà để Cảnh dạy cô tiếng Anh, viết phấn lên sàn sẫm màu. Bọn trẻ trong xóm đi xem phim truyền hình về nói ông bà già mà còn tình cảm ghê rồi cùng cười. Đến 2 giờ sáng thứ năm 25/5 Cảnh ói, đi xích lô 15 phút đến bệnh viện thì đã xuất huyết não nặng, dịch tủy có nhiều máu. Chỉ còn sống đời sống thực vật. Cảnh nằm đấy, mắt nhắm nghiền. Đang tiếp glucoza 5%. Thở máy. Gắn máy đo điện tim. Hết cách chữa. Cảnh sinh năm 1938, vừa có quyết định của Tổng cụ Đường sắt bổ nhiệm làm phó giám đốc kỹ thuật Xí nghiệp Đường sắt Chí Hòa. Cảnh nằm như ngủ, trán mát rượi. Hiền khô như cuộc đời cậu ta vẫn thế.

Chiều thứ sáu, mẹ đưa thư Bạc Liêu gửi lên cho mẹ để Hải xem. Sáng thứ bảy, lại bảo mình em gái xây nhà, nên cho mượn năm chỉ. Đến nước này, mình phải nói rõ: không được, và yêu cầu từ nay không nói chuyện này nữa, khi mẹ đổ bệnh nằm đấy thì lấy gì lo cho mẹ. Hải có mặt, nghe rõ tất cả những điều mình nói.

10:00, hai vợ chồng mình lại đến thăm Cảnh. Cơ thể vốn lành mạnh, không bia rượu, không thuốc lá, tim khỏe, còn cấp ốc xy là còn sống. Cô Hiền là nha sĩ, cô cũng dần hiểu rõ đây là điều không tránh khỏi. Cô chỉ mong chồng đừng ngừng tim vào ngày 27/5 là 23 lịch âm, ngày xấu, không dám hy vọng sẽ qua khỏi nữa. Ba mẹ con đang bình tĩnh dần. Tú là chị nhưng mềm yếu hơn em Trang.

Sáng chủ nhật, mình mệt quá. Chiều lại mưa, mãi 16 giờ mới ngớt. Đành để Đông đi một mình, mãi muộn mới thấy về. Trần Văn Cảnh ngừng tim hồi 23:35 thứ bảy. Trưa chủ nhật, nhập quan. Sáng thứ hai 28/5, mình đến nhà xác. Sáng 29/5 vợ chồng mình cùng đưa Cảnh đến lò hỏa táng Bình Hưng Hòa rồi cùng gia đình Cảnh về nhà ở 485C Cách Mạng Tháng Tám, lập bàn thờ bạn. Cô Bản em Cảnh vào từ trưa 27/5. Đang khi chẳng vui vẻ gì lại mất một bạn tốt.

Trần Văn Cảnh (sinh 20/12/1938 – mất 27/5/1989 tức 24/4 Kỷ Tỵ, giờ Tý 23:35).

Ngày 31/5, đã viết ngay thư gửi anh Đại – chị Thủy và Thân – Trang thông báo chuyện em gái xử sự vừa qua. Ngày 1/6, viết thư gửi chị An cũng nói rõ về chuyện này và báo cho chị  biết là chưa nhận được quà chị gửi, nhưng vẫn thay chị phụng dưỡng mẹ như trước nay. Mẹ lại viết thư về Bạc Liêu, ngày mệt mỏi, đêm lại lên cơn hen.

Chủ nhật 4/6, cô Bích và cháu Thủy lại đến nhà, báo tin chưa nhận được tiền còn cho chôm chôm. Tội nghiệp, nhà cô rất nghèo, chồng lại hay say xỉn. Đúng là đò nát đụng nhau. Gặp nhau càng thương và buồn.

Ngày 6/6, đơn thuốc mới: Mạch môn đông, tang bạch bì, bạc hà, quế chi, sinh khương, ngưu tất, xuyên khung. Bảy vị cả thảy.

Đơn ngày 17/6, như trên nhưng thêm bốn vị là: Mộc hương, trần bì, sa nhân bán hạ chế.

Chủ nhật 25/6, mẹ con Bích – Thủy lên báo tin buồn một lần nữa, lại cho bánh in do Thủy làm. May thay 30/6, vợ chồng Bích – Hải đến báo tin vui.

Suốt ngày chủ nhật 2/7, mẹ ôm chõ xôi và trong tủ lạnh đầy chè đậu đãi bà làm chờ hai cháu yêu con em gái mà chẳng cháu nào về mặc dù đã hẹn. Thứ hai Hải, Hà cùng về, nhà thết xủi cảo, xíu mại, ăn cơm trưa xong, ngủ một giấc rồi hai anh em về trường. Tối Hải về báo tin hôm sau Hà về Bạc Liêu. Cũng tối ấy, đang mưa, Hải lại đến đưa thư em gái tôi cho mẹ. Mẹ đọc thư ấy đến mấy lần, không nói gì ngoài tin em vay ngân hàng lãi suất 10.5%. Có lẽ mẹ đã hiểu, cho nên không yêu cầu mình gì cả.

Chiều 6/7 cô Giễm lại chơi, cho hộp bánh, biếu mẹ 10.000 đồng và rủ cả nhà đi ăn bánh Ba Giembèo. Ngon quá, nào bánh bèo tôm chấy, bánh bột lọc nhân tôm thịt ngon mắt mà cũng ngon miệng, bánh nậm mỏng như cái phong bì, lại còn ăn chè hạt sen nữa. Ti sướng quá, ăn như máy. Chấm cả nước mắm có ớt. Buồn cười là cô mời cả nhà ăn ở ngay trước mặt nhà mình, cách có một con đường mà nhà mình chưa bao giờ dám bước vào đấy ăn. Toàn ăn món nhà làm. Mẹ nói: ở Sài Gòn mới sướng, về Bạc Liêu chả có gì vui.

Sáng thứ sáu, đến viện lấy thuốc theo lệ. Khoa không cấp thuốc vì bác sĩ Lê Hùng đã ghi rõ: Tạm ngưng điều trị. Trực tiếp hỏi thì anh nói: đã điều trị hơn năm tháng, tiền thuốc, tiền giường (?) tiền phòng (?) lên hơn nửa triệu, khoa thắc mắc nhiều, sợ bệnh nhân không có tiền trả, v.v… Thật đơn giản, mình lên báo ngay cho Trương Thìn, Thìn bảo: cái thằng nó dại

Đến chiều thứ bảy thì ghi đơn mới, viết rất rõ: Đồng chí Tôn Thất Thành thuộc diện nghiên cứu đặc biệt. Đề nghị cấp không. Thìn nói: Tôi làm thủ trưởng, tôi không giải quyết được việc này thì còn làm được gì nữa. Đơn mới có tám vị: Mạch môn đông, tang bạch bì, bạc hà, quế chi, xuyên khung, sa nhân, mộc hương, sinh khương. Chiều 15/8 cùng Ti đến viện đúng lúc Trương Thìn đang bận tiếp khách, chờ khá lâu. Ti rất thích đến đây, có nhiều cây cỏ đẹp, lại có con cầy hương đi qua chuồng nó cũng thấy thơm. Thìn khám, chê phổi ran nhiều quá. 16/8, Thìn khám lại lần nữa, cho đơn mới có bảy vị: Mạch môn đông, tang bạch bì, bạc hà, can khương, sa nhân và hai vị mới là: hậu phác, hương phụ.

Ngày nọ, Trương Thìn ghi đơn cấp cho tôi thuốc ba tuần liền, nói có việc phải ra Hà Nội. Anh em trong viện nói nhỏ với tôi kỳ này Hà Nội mời ra để lĩnh cái bằng tiến sĩ đấy. Thấy chuẩn bị tư liệu nhiều lắm, lại cả mớ xlai nữa. Nhưng không ngờ anh ra Hà Nội vài hôm đã về. Anh bảo tưởng cần việc gì, ra các ông chỉ yêu cầu hướng dẫn thao tác châm cứu cắt cơn nghiện ma túy. Tôi bảo sao các anh không nói rõ, nếu vậy, tôi cử một kỹ thuật viên trung cấp ra là được rồi, việc gì tôi phải bỏ công bỏ việc ra đây. Rồi tôi về. Nghe anh nói thế, nhiều bạn anh nói với tôi: Tụi tôi bảo ông thiền gì thì cũng thiền vừa thôi chứ, như vậy ai người ta chịu nổi. Anh trả lời là tôi chỉ sợ mất thời giờ. Còn luận văn về cai nghiện ma túy tôi đã làm xong từ lâu rồi. Tôi nghiên cứu từ trước ngày giải phóng, sau lại thực hành rất nhiều ở các cơ sở cai sau giải phóng. Nên cả lý thuyết lẫn thực hành đều rất phong phú. Chỉ in ra là xong. Cho nên cho đến khi mất bác sĩ Trương Thìn nổi tiếng trong nước và được nước ngoài biết đến, mời sang nước họ giảng dạy, vẫn chỉ là bác sĩ. Không có một học hàm nào cao hơn cả. Anh là người như thế.

Ngày 16/9 cho đơn mới: Mạch môn đông, tang bạch bì, bạc hà, hậu phác, sa nhân, can khương kèm một lọ Viên dạ dày số 8 uống 2-3 viên 3 lần / ngày.

Thứ tư, 11/10/1989, Tuti đi học về vui vẻ đưa sổ liên lạc báo cho cả nhà biết: Con đứng nhất lớp, điểm trung bình là 8,8 cô giáo Duyên nhận xét Ti lop 3 chup voi sung dai bacrất tốt. Thế là chiều ấy, bố đưa con ra cửa hàng đồ chơi trẻ con trước công viên Lê Văn Tám mua ngay cái máy nhìn hình nổi View Master (23.000+6.000 tiền phim: 29.000 đồng). Con vui quá. Cứ cười mãi. Về nhà là cứ dùng máy xem mãi, luôn miệng khen đẹp quá. Ăn cơm xong, đến giờ mở tivi, con để bà và bố mẹ xem, còn con thì tự động lấy vở cũ ra tập viết.

Khi hai bố con đi mua quà về thì gặp Hải và mẹ đang ngồi ghế đá ở sân. Mẹ nói vội có thư Long. Lên đến gác lại tự đọc cho nghe, sau đó còn đưa cho Đông đọc. Đến tối lại đưa mình đọc. Thư chữ Long viết nhưng là lời lẽ của em gái tôi, kể tình hình gia đình, nhà đã xây xong, mời mẹ và anh chị cùng cháu khi nào rảnh thì xuống chơi.

Đây là tóm tắt bản thanh toán của viện  trước khi cho mình xuất viện mặc dù có nằm viện ngày nào đâu. 15/2-9/10/89: 417.230 đồng/ Thuốc 89.000/ Chi phí lâm sàng điều trị 235.000 (157 x 1500)/ Hành chính 88.500 (177 x 500)/ Chi phí cận lâm sàng xét nghiệm: 4.200 đồng.

Từ nay tiếp tục điều trị ngoại trú. Sáng chủ nhật hằng tuần đến viện để Thìn khám và cho đơn. Còn về bản thanh toán dài dòng trên thì đưa Trương Thìn ghi mấy chữ là xong: Bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu khoa học. Viện miễn tất cả.

Đơn mới định bệnh là: Giãn phế quản – vị hư hàn. Thìn tin lời giáo sư Đặng Văn Chung.

Ngày 15/10, nhận thư chị An. Chị báo đã gửi 200 đô cho hai anh em ở Hà Nội. Cả sáng 16, cô Giễm lại chơi với mẹ, sợ sau này có muốn gặp cũng không được, cứ trò chuyện mãi, chủ yếu là nhắc chuyện xưa ở Huế, tản cư ở làng Tràng Cát Thanh Oai Hà Đông, khổ mà vui ghê.

Sáng 23/10, cô Giễm lại nhờ cô Mùi Con đến nhà đón mẹ về chơi nhà cô, ngủ lại hôm sau mới về.

Chủ nhật, bác sĩ Trương Thìn cho đơn mới, tên bệnh hơi khác: Giãn phế quản – Rối loạn tiêu hóa.

Do mình tính toán xác minh lại sinh nhật của mẹ là ngày 27/10/1913. Trước lấy ngày 28/9 là ngày âm lịch, năm quí sửu. Thế là năm nay, lần đầu tổ chức sinh nhật mẹ tại nhà mình theo ngày này. Sáng, Đông nấu sủi cảo là món mẹ thích để cả nhà lót dạ. Ti mừng bà bằng một cái hộp có chữ Ti viết xanh đỏ thật to ở trên nắp Cháu chúc bà nội vui vẻ, mạnh khỏe, sống lâu. 27/10/1989, đích tôn của bà. Trong hộp đựng một gương tròn to, một lọ nước hoa, một vỉ cặp tóc và hai khăn tay. Toàn thứ bà đang cần và thích. Sau đó, bà cùng Đông bàn làm bữa ăn trưa: nem rán và bún. Ăn xong lại có món tráng miệng bà vẫn thích nhất là bánh su kem. Thật tình vợ chồng mình chỉ muốn gia đình sống với nhau thật vui vẻ.

Sinh nhat ba noi 78 tuoi

Trưa 4/11, hai bố con mình đi dự lễ 100 ngày chú Nguyễn Văn An mất tại Pháp. Mẹ bị huyết áp cao từ 2/11, uống lasix rồi mà vẫn đo được 160.

dam tang ong an

Mẹ mệt thì người lo nhất là Đông, vì bà ốm là khó tính, kêu ca nhiều, khó chiều. Lo cho mẹ, trong khi mình đau bụng liên tục, có khi tưởng phải đi mổ ruột thừa, đã có kế hoạch dự phòng: không ngủ với Ti để sẵn sàng đi khi cần và chỉ đi khi cấp cứu tránh để Đông quá vất vả lo việc nhà, nhất là về mẹ.

Rất mừng là nhận được tin Đại hội nhà văn đã thành công mà thắng lợi thuộc về phía đổi mới.

Sáng 7/11, Trương Thìn cho đơn gần như cũ, nhưng ở phần thuốc thang bớt đi ba vị xuyên khung, hương phụ và can khương. Có lẽ cho bớt nóng.

Tối 8/11, cháu Hải đột ngột về khác hẳn lệ thường. Hai bà cháu thì thầm nói chuyện rất lâu. Rồi cả ngày hôm sau mẹ nằm im lặng, mệt mỏi, trong khi do mình chịu khó thuốc thang chăm sóc bệnh đã thuyên giảm hẳn. Mình đã phải đi nhiều nơi, sau phải đển một chùa nọ có vườn thuốc Nam mới tìm được lá lẻ bạn (tức lão bạng, sò huyết, tía gan) về nấu nước mẹ uống cho khỏi bị phỏng dộp, ngứa ngáy. Hằng ngày đều dùng vitamin B1, lục vị hoàn, morinda (cao rễ nhàu), lẻ bạn nấu, sêđuxen hoặc diazepam. Mỗi ngày, Đông bôi thuốc chống bỏng vergeturine vào chỗ kín cho mẹ.

Thấy mẹ mệt, mình nói với mẹ là chăm sóc thuốc thang đúng, mọi bệnh đã giảm sao lại tệ đi. Hay là mẹ có điều gì bận tâm suy nghĩ. Mẹ bảo là chẳng có chuyện gì cả. Và, như một chuyện thần kỳ, sau đó bệnh bớt dần, mẹ không nằm nữa mà đi lại, đun nước, làm tương và khỏe hẳn ra. Khổ thế, cứ có chuyện gì làm mẹ suy nghĩ là mất ngủ, ốm ngay. Cho nên làm cho mẹ suy nghĩ, lo âu là rất độc ác. Hèn hạ nữa. Đáng khinh hết sức.

Hằng ngày, trong lúc sắc thuốc, mình học tiếng Nhật. Đó là thời giờ có ý nghĩa nhất trong đời mình lúc này. Ngoài ra còn đọc các báo Đông mượn ở cơ quan về buổi trưa để chiều còn kịp trả. Mấy hôm nay mệt, tạm ngưng đọc sách là cái thú lớn nhất đời mình.

Từ 14/11 theo thang thuốc gần như trước, nhưng kèm thuốc hoàn Hương sa lục quân.

Am XamovaTrương Thìn không mấy khi trưng bày đồ vật quí mà hôm đó tôi đến phòng anh thấy trên tủ nhỏ sát tường bày đến ba chiếc xamôva ấm đun nước cổ truyền của Nga. Một chiếc trắng bạc, hai chiếc vàng. Thì ra thủy thủ và khách du lịch Nga biết tiếng anh đã tìm đến xin châm cứu chữa bệnh. Khỏi bệnh họ cảm ơn và tặng quà. Thấy tôi ngắm nghía, anh bảo ông cứ chọn cái nào ông thích. Tôi tặng ông. Tôi bèn chọn cái trắng bạc. Vì mạ vàng đẹp nhưng dễ phai. Sau dó tôi tặng lại Thìn một chiếc ấm sứ, đúng kiểu đặt trên xamôva. Đến nay 2020, tôi vẫn giữ quà bạn tặng.

Sáng 28/11, đã dự lớp Nhật ngữ do Nhà văn hóa Thanh niên mở. Người dạy là một giáo sư người Osaka Fuji Kajiasu thường gọi là thầy Fuji, phụ giảng là Hà Thiên Vạn, người của Công ty OSC dịch vụ phục vụ dầu khí Vũng Tàu- Côn Đảo. Mình ghi tên học lớp trung cấp, thành ra chưa được học vì chỉ có ba người dự khai giảng. Nghe nói ghi tên cũng chỉ được năm sáu người.Ton That Thanh o nha

Đơn thuốc mới như cũ chỉ thêm can khương, bán hạ chế.

Sáng 3/12, Trương Thìn khám lại thấy chỗ giãn phế quản vẫn ran nhiều đã buột miệng nói: Hay là ta cứ cắt quách đi cho xong… Mình nói ngay. Tùy ông xem khi nào thích hợp thì ta làm luôn…

Trước mặt một bác sĩ thân trong viện, Thìn bảo mình cởi áo ra, kéo quần trễ xuống rồi nói với bác sĩ kia: ông xem, thân thể người ta đang đẹp thế này, sao lại đem mổ cắt ra, làm thế coi sao được. Nói rồi anh lại kê đơn như cũ và bảo tôi: Ta cứ cố giữ thêm ít nữa xem sao

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/4/2020. Mùa Covid-19

P.T.

“Ông Mai-Ca”

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 8 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

ong mai ca

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này tôi ký tên Nguyễn Chung đăng trang 2 báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 27/11/1988.

—o0o—

-VÂNG, đúng là “ông Mai-ca” chớ không phải là “Cô bé Mai-ca” đâu; cả cơ quan tôi đều gọi ông như vậy mà… Bởi lẽ khi nào ông cũng có vẻ ngơ ngác, như là “từ trên trời rơi xuống” vậy. Nhất là khi có anh em đến gặp ông để yêu cầu giải quyết việc này, vụ nọ đang cản trở công việc hoặc gây khó khăn cho đời sống anh, em, thì ông lại càng tỏ ra ngơ ngác, đúng là người mới “từ trên trời rơi xuống”. Vừa lắc đầu, cười dễ dãi, ông vừa nói câu cửa miệng: “Đến thế cơ à, sao mình chẳng biết nhỉ...”. Nếu được nhắc là công văn, đơn từ, đề nghị yêu cầu giải quyết đã được gửi đến, hoặc trao tận tay ông từ lâu, thì ông Mai-ca lại càng ngơ ngác, tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên và nói câu cửa miệng thứ hai của ông là: “Thế thì lạ thật để mình xem lại xem sao…” (ông Mai-ca ưa xưng “mình” cả với các cấp dưới, vì vốn là người rất bình dân mà). Nhưng, rồi việc đâu vẫn tắc đó.bai viet ong mai ca

Thế mà ông Mai-ca cứ lần lần leo lên, công việc càng nhiều phạm vi hoạt động càng lớn, quyền hành và trách nhiệm càng to thì ông lại càng có vẻ ngơ ngác hơn, càng hay dùng hai câu cửa miệng “Đến thế cơ à, sao mình chẳng biết nhỉ…” và “Thế thì lạ thật, để mình xem lại xem sao…”. Và tất nhiên, vẫn tiếp tục xưng “mình” với bất cứ cấp dưới nào, vì tính ông vốn bình dân, không quan cách như ai. Và, cũng tất nhiên, việc đâu vẫn tắc đó.

Cán bộ thuộc quyền ông, nhất là các cán bộ phải đi cơ sở nhiều, nắm được tình hình thực tế đã lắm, đời sống riêng lại gặp quá nhiều khó khăn, quyết mạnh dạn yêu cầu chính thức “được làm việc trực tiếp” với ông hẳn một buổi, bắt ông phải đối mặt với tất cả anh em, đối mặt với tất cả các vấn đề cấp bách cần được giải quyết. Đề nghị gay gắt như thế nhưng lại được ông Mai-ca chấp nhận ngon lành. Ngày gặp cũng hẹn sớm, vì “mình nghe nói có nhiều việc cấp bách”.

Anh em tụ tập đông đủ, bàn tán sôi nổi, thì ông Mai-ca đến, vui vẻ bắt tay tất cả mọi người, mời vào phòng họp, mặc dù còn chưa đến giờ. Và tiếp tục xưng “mình” với bất cứ ai.

Ông mang theo một cuốn sổ to, hai cây bút bi tốt, và anh em chờ đợi những lời ông mở đầu cuộc họp. Những tưởng rằng ông sẽ trình bày, và giải đáp giải quyết các vấn đề đã dược nêu từ bao năm, tháng nay. Ai ngờ, ông mở đầu bằng một câu xanh rờn, kèm một nụ cười tươi, với cặp mắt ngơ ngác nhìn khắp lượt anh em dưới quyền ông. Ông nói: “Hôm nay, tôi rất mừng được gặp đông đủ anh em. Anh em có muốn nói gì, cứ nói cho hết. Tôi sẽ nghe và ghi lại tất cả... Tôi không có ý định, cũng không chuẩn bị nói gì hôm nay cả…” Rồi mở sổ, cầm bút, ông nghiêng đầu lắng nghe anh em nói. Thái độ rất hòa nhã, chân tình, thỉnh thoảng gật gật đầu hoặc hỏi lại những điều nghe chưa rõ và ghi chép chăm chú. Cuối cùng, cuộc họp cũng chấm dứt, ông ra cửa, thân ái bắt tay từng người một, thậm chí còn vỗ vai vài người trẻ đã có những ý kiến sắc sảo phát biểu trong cuộc họp.

Thế rồi, mọi việc đâu vẫn lại vào đó, tức là tắc vẫn hoàn tắc.

Ai cũng thắc mắc là một người như thế làm sao lại được giữ chức vụ như thế! Mà nghe nói còn đang đà tiến nữa cơ chứ. Lúc nào cũng cứ như mới “từ trên trời rơi xuống”, ngơ ngác trước mọi người, mọi việc, không làm được một việc gì cả, mà lúc nào cũng tất bật cứ như không việc gì không làm. Vì sao thế nhỉ?

Mãi sau này, anh em cơ quan mới biết cái bí quyết sống của ông Mai-ca. Không phải việc gì ông cũng ngơ ngác, không biết và không tích cực giải quyết đâu. Ông chỉ ngơ ngác không biết, không giải quyết đối với cấp dưới của mình mà thôi, còn với cấp trên, thì ông biết rất rõ các nhu cầu về việc công, cũng như việc tư. Và phải nói thật là ông rất rành nắm bắt và giải quyết nhạy bén, tháo vát các nhu cầu loại sau, coi việc tư của cấp trên như việc quan trọng nhất của đời mình vậy. Ông càng làm cấp trên vui lòng, cấp bậc ông càng cao, thì số người ông phải quan tâm và phục vụ lại càng ít, cho nên càng dễ chiều, dễ thỏa mãn mọi yêu cầu của họ, nhất là các yêu cầu sau: việc riêng, lợi ích riêng…Cứ thế, “chất lượng phục vụ” của ông Mai-ca càng ngày càng cao, các thủ trưởng ngày càng yêu mến ông hơn.

Còn việc ông Mai-ca lên chức cao, trách nhiệm phải nhận càng lớn, số người dưới quyền ngày càng đông, cả đời công và đời tư của họ đều phụ thuộc vào ông, thì… chẳng có gì phải lo: Cứ hai câu cửa miệng (đã được thử thách nhiều năm rồi) mà dùng, cứ cái vẻ ngơ ngác, thân mật (gặp ai cũng cười và bắt tay), thái độ khiêm tốn (tiếp tục xưng “mình”) rồi lắng nghe, ghi chép và để đó, thế là được rồi! Còn có ai mạnh dạn hơn nữa, thì cứ khiếu nại lên cấp trên. Cấp trên nào mà chẳng yêu mến Mai-ca. Không khen thưởng thì thôi chứ phê phán, trừng phạt sao được. Đánh Mai-ca khác gì đánh mình. Ai lại ngu vậy.

Anh bạn kể cho tôi chuyện này buồn rầu nói: “Hình như không phải chỉ có một mình cơ quan tôi có ông Mai-ca đâu… Tôi đi nhiều, nghe nhiều, tôi biết. Giống này sống dai lắm, khó đánh lắm, mà tác hại thì thật khó lường được, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay. Các ông Mai-ca này góp phần đắc lực làm cho mỗi cuộc đổi mới, dù nhỏ như một sáng kiến, cải tiến ở cơ sở, đến lớn như thay đổi cả một cơ chế, đều giống như hòn đất, tảng đá ném xuống cái ao tù đầy bèo tấm. Chỉ ít phút sau, bèo lại phủ kín ao như chưa hề có lúc nào phải rung rinh, hoặc nổi sóng vì hòn đất nhỏ, tảng đá to nọ”.

N.C.

Tháng Bảy 10, 2020

Chuyện một người cháu ngoại_Cuộc chiến thầm lặng P2

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

5- Cuộc chiến thầm lặng (P2)

Cơ quan chuyển trụ sở về 40 Phạm Ngọc Thạch từ 14/10. Mình mệt, nghỉ từ 15/10, hôm sau lại đi khám ở bệnh viện Nguyễn Trãi, xa nhưng đúng tuyến. Dạo này đọc nhiều sách, vì đi khám bao giờ cũng phải chờ, về thì chỉ nghỉ. Đã đọc xong Cánh đồng mẹ (Aimatốp), Thằng Cười (V.Hugô). Tiếp đó đọc Aivanhô (W.Scốt), xong Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) viết năm 1982, in năm 1985, hoàn toàn trong điều kiện chưa thể viết hay được. Cũng như gần đây xem phim Hy vọng cuối cùng, sản xuất năm 1985, tác giả lúng túng không biết nên kết thúc như thế nào, cũng không thể hay được.

Hôm nay, bắt đầu khai mạc Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, tiến tới đại hội toàn quốc lần thứ 6. Như vậy là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, tức là hết năm 1986 này, mọi cách nhìn đều rõ ràng, tiêu chuẩn cũng được xác định rõ mới có thể viết hay được. Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu trở lại với chủ nghĩa Mác- Lênin.

Chiều 21/11, đi chữa răng về thì nhận được thư mẹ viết ngày 8/11. Cuối thư bà viết: “Tuti ơi, bà nhớ cháu lắm lắm, năm nay bà ăn Tết ở nhà bác Đại, có lập bàn thờ chu đáo… Giá vé máy bay tăng gấp 10 lần 2.700 đồng một lượt, bà khó vào với cháu lắm.

Xem ra bà sẽ ở lại Hà Nội lâu dài. Vợ chồng mình đã chuẩn bị gửi ra cho bà áo bông đỏ mặc Tết, cặp chân nến bằng đồng dạo nọ mua Tuti 4 tuoi truoc buu diencho bà khiến bà rất vui. Có cả ống nghe tim phổi. Cũng báo bà biết tình hình mới về bệnh của mình: Sau lần rét lạnh hút chết đêm 4/11/1986, bác sĩ Trương Thìn đã khám kỹ càng và kết luận: Thận hư hàn nặng, cho uống toàn thuốc nóng: quế, gừng, ngải cứu, đỗ trọng, hà thủ ô đỏ, kèm uống mỗi ngày 4 viên Tráng Niên cũng có những vị như trên lại khuyên uống cả cao hổ cốt nữa. Mình xưa nay kiêng nóng, mà dùng thuốc nóng như vậy lại thấy dễ chịu. Thế là vào tuổi 46, mình đã phản tạng. Rất rõ rệt. Mà theo lương y lỗi lạc Định Ninh Lê Đức Thiếp viết trong sách thì: Phản tạng sẽ chết sớm. Nếu chữa được, trở về tạng cũ thì sống thêm nhiều lắm là năm, mười năm.

Trương Thìn còn bảo chính do thận suy mà các bệnh về xương phát triển: viêm xoang, đau răng liên miên. Mình tin ngay, vì cũng đang chán chữa xoang theo tây y, đục rửa mổ hơn một năm nay rồi mà có khỏi đâu, người thì cứ gầy rạc đi, càng ngày càng yếu. Từ đấy mình chữa ở viện Y Dược học dân tộc do chính viện trưởng Trương Thìn trực tiếp điều trị. Đại hội Đảng lần thứ 6 cận kề, cơ quan trong này càng mất đoàn kết hơn bao giờ hết.

Tối 24/11/1986, Trần Văn Cảnh vào nhà đã cho biết ngay là được chuyển hẳn vào trong này, công tác ở Đoạn đầu máy Chí Hòa đường Cách mạng Tháng Tám. Tạm thời làm trợ lý kỹ thuật cho giám đốc, chờ nhận chức trưởng phòng kỹ thuật hoặc phó giám đốc kỹ thuật. Vì phó giám đốc kỹ thuật sắp bị truy tố vì tham ô, còn trưởng phòng kỹ thuật thì nghỉ ốm liên miên. Tổng cục đường sắt ban đầu định biệt phái, sau mới quyết định cho vào hẳn. Vợ con sẽ vào sau. Tóc Cảnh bạc trắng gần hết đầu. Cảnh trạc tuổi mình, hơn độ một hai tuổi, học với nhau từ năm lớp nhất tiểu học. Có bạn vào đây, mình mừng quá.

Sáng thứ hai 1/12/1986, nghỉ vừa một tháng, chưa khỏe, nhưng đến cơ quan để nghe thông báo tình hình mới về Đại hội Đảng lần thứ 6. Điều kỳ lạ là đúng tháng mình nằm bẹp ở nhà và chỉ ra khỏi nhà dể đi bệnh viện thì báo đăng tin mình viết về hợp tác xác cơ khí Quê Hương, hai bài quan trọng về hợp tác xã hóa chất Ngọc Thắng và trường đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. Bài nào cũng có vấn đề gây cấn theo tư duy đổi mới. Tựa hồ như mình đang xông xáo lắm. Nghĩ lại hồi nào viết thư gay gắt với anh Hà Đăng, hóa ra mình đã lầm. Báo Nhân Dân là cái mồm, sao cái mồm dám nói điều mà cái đầu chưa muốn. Anh thật là nhà báo có tài, có cả tâm. Anh không trả lời đàn em, nhưng đâu có vứt tàn nhẫn mà giữ để chờ thời cơ đến là cho lên mặt báo ngay. Mình nằm nhà đọc báo, nghe rađiô, xem tivi, thèm làm việc quá. Cơ thể suy yếu nhưng nhà báo trong mình đâu có ốm đau gì, nó đâu có chịu nghỉ.

Cuối tháng 11, họa sĩ Kông Ngoạn ra Hà Nội. Mình biết em từ ngày còn ở phòng tư liệu. Hồi ấy đang hội đàm hiệp định Pari, báo ta cử nhiều cán bộ có trình độ sang giúp đoàn đàm phán hai miền Bắc Nam, cho nên các anh mua về cho phòng nhiều sách có giá trị, đặc biệt là bộ Tự điển Larousse ba tập khổ lớn in màu có rất nhiều tranh của các họa sĩ nổi tiếng thế giới. Tối nào trực Kông Ngoạn cũng vào phòng trò chuyện để tôi lấy cho xem các bức tranh danh tiếng và thuyết minh sơ qua về tác giả. Em vào Sài Gòn, đến nhà, tôi nhờ ngay mang cho mẹ hai chân cắm nến bằng đồng, khá nặng và 2.000 đồng. Vợ tôi mua tàu hũ ky để mẹ nấu cỗ chay ở chùa Cao Đài. Chúng tôi ở xa chỉ mong mẹ khỏe và vui vẻ những năm cuối đời. Mẹ vất vả quá rồi khi nuôi cho bầy con ăn học đến nơi đến chốn.

Ngày 2/12, báo ta đăng tin buồn cụ Phạm Thiều nhà Hán Nôm học nổi tiếng tham gia cách mạng từ đầu kháng chiến chống Pháp bị bệnh lâu rồi mất. Chú Tất Cường, con trai nhà báo Lửa Mới cho biết là cụ tự tử vì không chịu nổi cảnh có quá ít tiền chi cho việc chợ búa, bữa ăn nào hai cụ cũng phải nhường nhau từng miếng ăn đã bao lâu nay rồi… Cụ rất tự trọng, không kêu xin ai thương mình, cũng không than thở với ai nỗi khổ của mình… Suốt cuộc đời thanh bạch, chỉ một lòng vì nước vì dân.

Tuần trước đạo diễn Nguyễn Tự lại thăm. Anh nói: dù thế nào, anh em đã biết nhau không khi nào bỏ nhau. Anh muốn giúp vợ chồng mình kiếm việc làm thêm để sống đỡ khó khăn. Anh hẹn rõ: 17:00 thứ ba đến nhà anh ở 472 Cách mạng Tháng Tám để gặp cả nhà anh nói chuyện. Đúng ngày giờ, vợ chồng mình đến thì thấy người ở đó bảo anh đang ở 39 Chiêu Anh Các. Cũng là nhà anh mà mình không biết, họ không nói là anh có nhắn gì vợ chồng mình không. Lại theo lời anh Đạt Hải hẹn, lên nhà chị Xuân, chị bảo anh đi ăn cưới. Lạ thật, cả hai ông anh đều hẹn rồi đều không có mặt, không nhắn gì cả. Sáng thứ hai, anh Thép Mới hẹn gặp toàn thể phóng viên có mặt ở Sài Gòn rồi cũng không thấy đến. Hôm sau anh ra Hà Nội. Đã có thông báo là Đại hội lần thứ 6 của Đảng sẽ khai mạc ngày 15/12/1986.

Đại hội lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc sáng 15/12 sau một tuần họp trù Ton That Thanh 1986bị. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không có mặt trên Đoàn Chủ tịch đại hội như nhân dân mong đợi. Đài truyền hình hai lần đưa cận cảnh hình ảnh đại tướng thật rõ, to, ngồi lẫn trong những đại biểu quân đội ngay khoảng giữa hội trường. Báo Nhân Dân ngày 16/12, anh Thép Mới theo lệ viết một bài dài, nhưng không ký tên như các đại hội trước mà chỉ đề Nhóm phóng viên báo Nhân Dân tại Đại hội lần thứ 6.

Đúng dịp này chị Thanh Thủy vào công tác, sáng 17 lại ra Hà Nội, giúp mình hiểu thêm tình hình. Mẹ ở hẳn Hà Nội với anh chị là ổn.

Mình vẫn uống thuốc ta và cao hổ. Cao này có vẽ hình con hổ rõ ràng và chữ Thái Lan ngoằn ngoèo do anh Đại mua khi đi Ănggôla hay quá cảnh Thái Lan. Hổ cốt thật hay không có trời biết, nhưng phải mua bằng đô la thật. Trước kia anh cho một hai lạng, sau cứ gửi dần, có lẽ cho mình tất cả, vì cả nhà chẳng ai dám dùng. Vậy mà vẫn mệt mỏi, nhất là lạnh chân.

Sáng chủ nhật 21/12/1986, cụ Nguyễn Văn Sán cụ bạn 70 tuổi của mình từ Thủ Đức sang chơi cùng cháu Tân (sinh năm 1970) hai cụ nuôi từ lúc mới hai tháng. Cụ mời vợ chồng mình và con trai sang ăn cỗ ngày 23 tháng chạp tiễn ông táo chầu trời. Cụ mừng tuổi cho Ti 100 đồng. Đi phải chống gậy, có cháu đỡ, nhưng da dẻ hồng hào, đầu óc sáng suốt, ăn nói vẫn sắc xảo như xưa. Có điều lạ là khi nói, cứ hay phải ngừng lại để nuốt nước bọt ứa ra đầy miệng, như người bị bệnh ở thực quản. Cụ đối với mình chân tình quá.

Tối thứ bảy, xem tivi vở Chuyện bên bờ Sông Thu của Lưu Quang Vũ do đoàn dân ca kịch Quảng Nam – Đà Nẵng diễn, một vở thật hay, có lẽ khá nhất của anh. Nhân vật lớn lao thể hiện trong những tình tiết nổi bật lôi cuốn.

Sau đại hội 6, các phóng viên báo bạn bảo xem phóng viên Nguyễn Trung báo Nhân Dân có gì đổi mới không. Tất cả đều thống nhất là: chững chạc hơn trước. Bao giờ cũng mặc áo sơ mi dài tay cài khuy tay áo, bỏ trong quần dài, lại còn đi giày da đen nữa. Chỉ thiếu cái cà vạt là đúng lễ phục. Gần như không ai biết lý do thật sự của sự đổi mới ấy. Những năm tháng ấy bao giờ tôi cũng thấy lạnh, nhất là lạnh chân. Nhưng thân mình hay toát mồ hôi lạnh, cho nên sợ nhất họp ở những nơi mở máy lạnh. Bao giờ cũng mang theo một cái xắc kiểu quân đội to, đựng khăn mặt và áo lót. Vào hội trường một lúc là phải vào toa lét cởi hết áo ra, lau khô mình rồi thay áo lót khác mới mặc sơ mi cài cúc tay áo vào. Chân luôn đi tất và mang giầy da. Các bạn nhận xét tôi đổi mới thật đúng. Đầu năm 1987, vẫn tiếp tục châm cứu ở Viện Y Dược học dân tộc thành phố. Theo nữ bác sĩ Biền thì tôi bị dương thủy suy. Vì thế hỏa bốc, mồ hôi ra mà sợ lạnh. Tiếp tục uống thuốc nam, ăn thuốc tễ và uống rượu hổ cốt. Đi công tác xa bằng xe solex, có hơi mệt, nhưng làm việc và sinh hoạt trở lại như bình thường.

Tối 31/12/1986, Nguyễn Hùng Cường là bạn cũ cùng học trường Chu Văn An có người nhà ở Pháp sang nhà đưa quà chị An ở Mỹ gửi chị Cường chuyển về cho nhà mình. Thật may, Tuti va ba Truong Thinvừa hết cả tiền, chưa biết lấy gì gửi cho mẹ. Chị gửi ít một, nhưng có còn hơn không. Vì mới gửi, không biết có thuận tiện không. Hồi đang chiến tranh chồng chị có nhờ một người quen ở Hồng Công gửi về cho mẹ tôi mỗi kỳ 60 đô la Hồng Công, nhưng gia đình không dám nhận, ngân hàng phải cho người đến nhà giải thích, mới dám nhận, sau khi nhờ ông bạn mẹ làm một bản khai trình báo với cấp trên ở Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.

Tôi lo cho bệnh mình một thì bạn Trương Thìn còn lo cho bệnh tôi gấp mấy lần. Còn vì lòng tự trọng của một thầy thuốc chưa chữa được bệnh ngay cả cho bạn mình. Sau nhiều lần suy nghĩ cân nhắc, anh quyết định chẩn bệnh lại và có nhận định mới: Thấp hàn, trước là Thận hư hàn. Thuốc cũng thay đổi, toàn vị mát cả như: phục linh, ý dĩ, bạch thược. Nhưng uống vào lại thấy dễ chịu, người ấm và bớt ra mồ hôi. Bác sĩ nữ Biền châm cứu cũng phối hợp thay đổi nhận định và cách châm cứu từ đó. Ngày 12/2/1987, Trương Thìn nói: Trước đây tôi thấy ông lạnh, cứ phải cho thuốc nóng lên. Nhưng tôi nghĩ: Nóng mãi thì nhất định ông phải chết. Tôi phân tích lại, thấy chẩn đoán trước đây là sai, nên mạnh dạn sửa lại. Được như thế này là rất mừng. Ông là một trường hợp bệnh cực kỳ hiếm. Tôi chưa thấy bao giờ, cũng chưa đọc được ở đâu có viết. Hồ sơ bệnh án của ông rất là quí. Tôi nghe Thìn nói cảm động vô cùng.

Nhớ lần cuối uống thuốc nóng cho cả phụ tử chế. Tôi uống một thang, thấy mặt nóng bừng, soi gương thấy mũi đỏ sần lên, bèn đến ngay Thìn, cho ngừng ngay.

Vừa lúc cụ Chương vừa ra Hà Nội về, cụ bảo mẹ tôi khỏe và trẻ ra. Mừng.

Đến giữa tháng 4/1987, đang mùa khô mà vẫn thấy thoải mái, đã tưởng bệnh cũ kinh niên khỏi hẳn. Đưa cả vợ con đi Hội chợ Quang Trung tận Hóc Môn. Tất nhiên bằng xe solex. Rồi tháng 5/1987, đi xem Triển lãm các dânHo Duong gap Ton That Thanh tộc Việt Nam tới hai lần, từng hàng mấy giờ liền chờ xem pháo bông giữa biển người đông như nêm cối. Nhưng, mùa mưa đến là sức khỏe giảm hẳn, lại thêm bệnh hen, phải dùng cả bơm hen khi không thở được. Đêm lại ngủ ngồi. Trương Thìn lại thay đơn mới đối phó với thời tiết thấp hàn. Cho thêm can khương, nhục quế vào đơn cũ có tăng 6 gam bạch thược. Tên bệnh là: Thấp tỳ vị thể hàn. Chiều nào mình cũng đến viện để Thìn trực tiếp châm cứu bằng máy điện pin nhãn hiệu Tesla. Càng ngày chúng mình càng thân nhau hơn. Thường có con đi cùng những chiều đón con về là cùng ra chơi bác Thìn. Trương Thìn thông minh, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm đến cùng. Từ tuần sau mới theo đơn mới.

Ngày 31/7, mình viết thư cho anh Hồ Dưỡng phó tổng biên tập, bí thư Đảng ủy đề nghị xem xét cho thanh toán tiền thuốc mỗi tuần hơn 1.000 đồng. Thư này do anh Thép Mới tự tay đem ra Hà Nội.

Ngày 29/8, họp tổ phóng viên, anh Tấn Thọ công bố toàn văn, sau đó Tống Thế Gia đưa cho mình bản thông báo của vụ tổ chức (ngày 25/8/1987, số 733 ND) do quyền vụ trường Trần Quốc Vinh ký tên. Thông báo viết: “Ý kiến của ban biên tập là: rất thông cảm, nhưng không được thanh toán theo đơn và : “trợ cấp khó khăn đột xuất cho đồng chí 1.000 đồng ngoài 500 đồng đồng chí Hồ Dưỡng đã giải quyết trước ở trong đó.

1.500 đồng vừa đủ tiền thuốc một tuần.

Còn điều 2 là: đồng ý để đồng chí Tôn Thất Thành tạm nghỉ công tác trong thời gian chữa bệnh. Đề nghị cơ quan thường trực chưa bố trí công tác cho đồng chí Tôn Thất Thành để đồng chí yên tâm điều trị”. Anh Tấn Thọ công bố xong, không ai tỏ vẻ gì ngạc nhiên cả, hóa ra mọi người đã biết việc này từ lâu. Anh Tấn Thọ nói thêm: “Đồng chí Thành có ý kiến gì khác thì xin để về sau. Trước mắt, tôi thấy cứ nên chấp hành.” Anh không hiểu tôi nên quá lo xa. Tôi lặng lẽ nhận bản thông báo rồi xếp lại cất vào túi. Không nói một lời.

Sáng 2/9, kỷ niệm lần thứ 9 ngày cưới vợ chồng mình, Đông phải trực ở cơ quan. Vợ chồng mình và con trai mặc quần áo đẹp mang trà, bánh, mứt, giò sang cơ quan mời bác Nguyễn Thị Yến là người trực trước và gia đình bác và bác Nguyễn Thị Sơn là người trực sau cùng chung vui với gia đình mình. Đông phấn khởi ra mặt. Ti hết sức vui vẻ nhảy tung tăng. Riêng mình, biết là đang đi vào bước ngoặt của cuộc đời, phải hết sức sáng suốt trong từng bước đi, nước bước.

Từ 24/9/1987, lại theo một đơn thuốc mới, đủ các vị nóng như: hà thủ ô, nhục quế, can khương, hạ bán chế, xuyên khung. Tên bệnh cũng xác định lại là: Phế – Tâm – Vị – Đởm – Đại trường hư hàn. Thìn thay đơn vì mình thấy quá mệt, mồ hôi lạnh ra thật nhiều đẫm áo lót thấm ra cả sơ mi mặc ngoài. Sáng 25/9, cho con ăn mì xong, con hỏi: Bố ơi, sao người ta ốm mau lành mà bố thì ốm lâu thế hở bố. Nghe con nói mà thương quá. Mấy hôm nay, tối nào cũng chờ mẹ để đi ngủ, nhưng mẹ còn phải cạo gió cho bố đã rồi mới đi ngủ với con được. Hai mẹ con thiệt thòi vì mình quá nhiều.

Ngày 20/10/1987, lấy đơn thuốc mới Thìn đưa hôm trước. Đơn này vốn là do một bác sĩ có tiếng ở viện châm cứu Hà Nội vào công tác, Trương Thìn nhờ bắt mạch cho mình và xin cho đơn. Có tới 15 vị. Ông về rồi Thìn xem đơn đã kêu lên: Đắt thế này, làm sao ông mua được. Rồi tìm cách đỡ cho mình, chưa biết cách nào,… Đơn thuốc được tinh giản còn 7 vị. Tên bệnh là Thận – Tỳ – Vị – Phế hư hàn. Thìn cẩn thận ghi như đơn trước Cấp trọn. Nhưng cũng như lần trước, ghi cấp trọn, nhưng viện vẫn thiếu bốn vị, đi mua ngoài mất 850 đồng.Tuti mac ao len

Ngày 10/11, sau khi châm cứu cho mình, Trương Thìn nói là họp hành nhiều căng thẳng mệt mỏi, huyết áp tăng, người anh cứ như mụ đi. Và thành thật nói là vẫn chưa tìm ra cái gốc bệnh của ông, nên chưa có chuyển biến quyết định. Vẫn chỉ là cố giữ sao cho không xấu hơn. Vẫn phải chú ý săn sóc hằng ngày thôi.

Nghỉ uống thuốc một tuần nay, chỉ uống rượu nhân sâm, thấy rõ có bốn củ sâm trong chai và uống nước quế sắc. Nhưng cứ ngày tắt nắng là chân lạnh, tay lạnh, mồ hôi lạnh toát ra, hắt hơi dễ trúng gió, người suy yếu ngay.

Cháu Hà tức Nguyễn Minh Tuấn con thứ hai của Nhàn lên học từ cuối tháng 10/1987, ở luôn nhà mình, các buổi chiều cùng đi đến viện để mình châm cứu, đèo theo Ti. Hai anh em gắn bó yêu thương nhau. Hà như con trai lớn trong nhà, giúp đỡ vợ chồng mình mọi việc nặng. Cháu thấy nước trong buồng tắm hay tràn ra sàn buồng, đã kiếm gạch, mua xi măng xây gờ ngăn chắc chắn, đến nay, 2020 vẫn còn. Tự tay làm một cái cối đúc bằng xi măng to như cối đá, giã vừng rất tốt. Cháu thường nói cháu đầu óc ngu xi, tứ chi phát triển mỗi khi có ai khen khéo tay.

Sau nửa tháng nghỉ thuốc, chỉ uống sâm và quế, từ đầu tháng 12 bắt đầu dùng tễ Bổ trung ích khí do Viện Y Dược học sản xuất có các vị hoàng kỳ, đẳng sâm, cam thảo, bạch truật, trần bì, đương qui, thăng ma, sài hồ, can khương, đại táo. 16/12, dự hội nghị tổng kết của viện, Trương Thìn viện trưởng mở đầu bằng báHa va bo Thanho cáo đổi mới mọi mặt của Viện.

Không phải chỉ có Trương Thìn lo cho bệnh của mình mà đến chủ nhiệm hợp tác xã cơ khí Lý Thường Kiệt anh Lê Văn Ban cũng lo chở mình đến tận nhà thầy Tư Sấm điều trị thử từ 19/12/1987, tại phường 1 quận Tân Bình. Thầy Tư là công nhân người Hoa, bằng tuổi mình, làm tại xí nghiệp may Việt Tiến, ngoài giờ thì chữa bệnh theo kiểu gia truyền bằng thuốc tán và cứu bằng điếu ngải hơ trên giấy bạc ngay trên huyệt vị. Mấy ngày mà chuyển biến rõ rệt lắm: ấm áp, ngủ ngon, dễ thở, một tuần liền không phải nhỏ mũi. Có ngày tắm nước lạnh vẫn không sao.

Dạo này, mình lại dậy từ 3 giờ sáng, tập dưỡng sinh và suy nghĩ. Tự cứu lấy huyệt mệnh môn sau lưng và bách hội ở đỉnh đầu bằng nhang. Có thật đã gặp thầy gặp thuốc không?

Ngày 1/1/1988, cưới chú Sinh con trai cụ Nguyễn Văn Sán. Cả nhà mình, nay có đến bốn người kể cả con trai lớn Hà, đều sang Thủ Đức theo lời hai cụ mời từ 31/12/1987, đúng là người nhà. Đến trưa 1/1/1988 mới về. Bao giờ sống trong môi trường công nhân như thế này vợ chồng mình cũng cảm thấy dễ chịu. Đông từ nhỏ đã đi gánh gạch, cát xi măng ở công trường 3 Bộ Xây Dựng, sau mới được đi học kế toán rồi làm việc luôn ở đó. Cũng quá quen với môi trường công nhân như mình. Cả Hà cũng vậy, không quen kiểu cách, khách xáo. Nhà cụ Sán là một tập thể công nhân lao động từ ông bà già 70 đến con cháu đều là công nhân. Gia đình cụ rất quý mến gia đình mình, coi như người nhà, không giấu giếm điều gì hết, có gì cứ nói thẳng, mọi người chỉ tuân theo lẽ phải, không cứ điều ấy do ai nói ra, đưa ra. Ti rất sung sướng mõi khi được đi sang nhà ông Sán.

Từ hôm 4/1/1988, lại một lần nữa đi học tiếng Nhật. Thầy là cụ Trần Đức Ruật, học tiếng Nhật từ 1940 năm sinh mình và sống ở Nhật một thời gian. Mới gặp xin học, cụ đã tỏ ra cảm tình với mình: Tôi mong có thêm một người bạn. Cụ rành Anh, Pháp, Nhật, Hán Nôm, từng dạy đại học văn khoa Sài Gòn, cụ là dân Bắc, huyện Kiến Xương Thái Bình. Học lại từ đầu, quá dễ, nhưng mình cần học nói cho tốt để sau này còn tiếp tục học lên mở thêm một mũi tiến công mới khi sức khỏe giảm sút. Mình bao giờ cũng thèm học và làm việc lạ lùng. Được nghỉ mà hôm nào cũng dậy từ 2, 3 giờ sáng, hầu như không ngủ trưa, bao giờ cũng bận. Giống như Tào Tuyết Cần tả Giả Bảo Ngọc là con người không làm gì cả mà bao giờ cùng bận rộn. Dạo này, vừa điều trị ở viện, vừa uống thuốc bột và cứu huyệt ở nhà Thầy Tư Sấm.

Sáng thứ bảy 16/1 mình được mời đến cơ quan học nghị quyết IV của thành phố. Các anh em mới về tổ như Vũ Hạnh, Kháng, Nam đều có mặt, nhưng còn chưa phân công Vũ Hạnh. Về mình, anh Tấn Thọ nói: Đồng chí Thành tạm nghỉ để điều trị, khi nào đỡ, thì báo cho cơ quan biết để tiếp tục công tác. Không ai nói gì, mình cũng không nói gì, cứ theo ý kiến ban biên tập yên tâm điều trị cho đến khỏi.

Nhân dịp nghỉ dài hiếm có, mình hoàn chỉnh bộ đồ nghề làm báo: Một cát xét mi ni National Panasonic (4 pin) và một máy chữ Remington cô Giễm để cho với giá cực rẻ 10.000 đồng.

Dạo này, cứ sáng thứ năm là hai bố con lại nhà cô Giễm. Cô và em Lệ Thu mừng lắm. Hai mẹ con và cháu Hoàng Linh chờ xuất cảnh, nhàn quá hóa buồn. Thậm chí Lệ Thu (Muôi) còn xin làm việc ở nhà mình, trong những dịp cần gấp đóng sách nhà in thuê. Nhà mình mới có thêm nghề phụ này.

Lâu nay, Trương Thìn mượn đọc Tạp văn Lỗ Tấn của mình, luôn miệng khen là vừa mê vừa sợ Lỗ Tấn. Đi đâu cũng mang theo để tranh thủ đọc. Sợ là phải vì Thìn là người có bề rộng mà hơi thiếu chiều sâu. Đó lại chính là thế mạnh nhất của Lỗ Tấn.

Sáng 22/1, chị Ngô Thị Bình nữ tu ở Thánh thất Cao Đài Hà Nội đến thăm. Chính chị đã gửi quà cưới là hai tấm khăn mặt to cho vợ chồng mình năm 1978. Chị vào, xem xét nhà gia dinh va ong tuyen chup o nha ba Giemcửa bếp núc rồi kết luận: chẳng có gì mới. Có tiền chị An gửi về, mình gửi ngay 30.000 đồng để mẹ tiêu Tết, cùng cái vòng Liên Xô hạ huyết áp ai cũng khen là tốt và vài thứ mẹ thường thích trong mùa Tết như hồng tàu. Hơn 10 giờ thì cùng Ti lại nhà cô Giễm, mượn sách Anh Pháp và băng nhạc ngoại. Hơn 12 giờ mới về. Một lát thì em Nhàn và cháu Dung lên, vừa lúc hai cháu Hải, Hà đều có mặt ở nhà. Sắp ăn cơm tối thì cậu Tuyên đến, nói với cậu về tình hình nhà cô Giễm rồi sau đó cậu, em Nhàn và vợ chồng mình cùng đến thăm gia đình cô. Cô và em Lệ Thu cảm động lắm. sau đó bàn bạc và cơ bản đã thống nhất là khi nào cô đi Pháp sẽ mang hai bức tượng đồng ông bà ngoại đi theo đường thủy. Xong mọi việc, anh em thông cảm nhau, cô mừng ra mặt. Cậu Tuyên nói nhiều về ông ngoại, nhắc chuyện các ông Thanh Tịnh, Cù Huy Cận mấy lần gặp cậu đều có ý muốn đánh giá lại vai trò của ông và báo Nam Phong với văn hóa nước nhà, đặc biệt là trong việc xây đắp nền quốc ngữ nước ta. Cuối cùng, cô Giễm mời tất cả hôm sau lại nhà cô ăn cơm trưa. Có cậu Tuyên nhà Nhàn bốn người, nhà mình ba người. Cô và em Lệ Thu đặc biệt chú ý những món ăn kiêng riêng cho mình. Hai mẹ con biết nhờ mình mà gia đình cô được cả gia đình lớn trong nước ngoài nước thông cảm thương yêu.

Đang cơn đau dạ dày, mệt, nhưng vui. Sáng hôm sau lại dậy từ hơn 2 giờ học tiếng Nhật, tập dưỡng sinh xong lại đọc Lỗ Tấn.

Trưa 23/1, cô Giễm làm bún thang mời cậu Tuyên, em Nhàn, cháu Dung , Hà và gia đình mình đủ mặt. Có chụp ảnh hai bên bức tượng. Mọi người đều rất vui vẻ, nhất là mẹ con cô Giễm. Lệ Thu đưa giấy tờ cô gửi cậu Tuyên.

Buổi tối, vợ chồng Bắc – Chi và con gái Việt Anh đến thăm rất chân tình. Chi khen mình có vẻ khỏe, tuy gầy đen hơn trước. Cho đó là do Thầy Tư Sấm chữa giỏi. Sáng chủ nhật 24/1, em Nhàn và cháu Dung về Bạc Liêu. Chiều 25/1, mưa kiểu bão rớt, hai vợ chồng vẫn đến Thầy Tư, 19 giờ mới về đến nhà, ăn vội cơm là mình đi học tiếng Nhật. Tối về, ăn thêm cơm nguội với muối vừng. Sáng sau đến viện, Trương Thìn viết cho phòng cấp thuốc Tôi muốn cấp cho anh Tôn Thất Thành để gây áp lực buộc họ cấp cho mình 4 gói thuốc, vì có lẽ đắt.

Trưa nắng ngày 26/1, đi một vòng chở cậu Tuyên đi mua quà cho vợ, con cậu. Mình cũng mua hai lạng bánh dừa núm (400 đồng) gửi mang cho mẹ. Còn 10 ký gạo cậu được địa phương tặng sẽ lại bắt cháu Chính mang ra sau cùng hoa nhựa cho mẹ chưng Tết.

13 giờ ngày 26, cậu Tuyên đi xe hơi ra Đà Nẵng cùng Bộ trưởng Bộ Văn hóa Trần Hoàn rồi lên tàu bay ra Hà Nội. Ngay cán bộ cao cấp cũng khó đi máy bay vì ít chuyến quá. Vé ra Hà Nội 28.000 một chuyến, mà giá vàng một lạng đã là 62.000 rồi.

Sáng 28/1, đến nhà má Kỷ xin dầu gió. Má đang rất túng, bán dần bát đĩa để chi tiêu. Gần Tết, ngoài phố không nhộn nhịp gì cả. Vàng Nhà To roi sac lonước mua 60 bán 62 thì bên ngoài đã hơn 70 rồi. Sau đó, đưa Ti đến nhà bà Giễm, được cho ăn kem, cho kẹo và súng Võ sĩ. Cả cô, em Thu và cháu Ấu (Linh) con Thu đều mong bố con mình đến, giúp gia đình gần hơn với cuộc đời thực của Sài Gòn. Chiều, hai vợ chồng đi Thầy Tư lấy thuốc. Tối, cả nhà bắt đầu đợt gấp giấy đóng sách mới. Ti ham phụ bố mẹ làm lắm. Hà rất muốn cùng làm, nhưng Đông không cho, bắt phải ngồi học. Sáng nay, 29/1, chỉ ở nhà nghe nhạc và tập đánh máy chữ remington các bài tiếng Nhật viết bằng rômagi, chưa học chữ Nhật thật sự như hồi ở Hà Nội. Nhân dịp gần Tết, mình cũng viết thư cho mẹ, mong mẹ nhớ gì ghi nấy về ông ngoại, từ việc uống trà đến đọc sách, viết lách, lo cho các con. Nhờ thế sau này mình đã viết dược mấy bài về ông ngoại ai đọc cũng cảm động như Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nhà, Người nặng lòng với nước đăng trên tạp chí xuất bản ở Hà Nội như Xưa và Nay, Huế như Nghiên cứu và  phát triển, và Sài Gòn như Công Giáo và Dân Tộc.

Từ hơn một năm nay, đêm 31/1 mới được ngủ một giấc ngon lành. 10 giờ tối lên giường là ngủ ngay, trước 11 giờ đêm. Rồi 12:50 dậy, đọc Lỗ Tấn đến 1:30, lại ngủ tiếp đến hẳn 5 giờ sáng.

Sáng hôm ấy, Hà đi học, mình đưa mẹ con Ti đi xem phim Sáclô Ánh sáng đô thị qua viđêô 100 inch ở rạp Thắng Lợi cạnh chợ Tân Định. Hai mẹ con sướng mê. Còn mình xem từ năm 10 tuổi, nay xem lại mới hiểu hơn thiên tài cỡ thế giới này. Phim câm mà nói được rất nhiều, không như phim ngày nay, nói nhiều mà nói lên rất ít.

Chiều, sửa quạt, vì đọc sách thấy buồn ngủ. Tệ thật. Suy quá rồi.

Đầu tháng 2, Đông cho biết đám phóng viên đi họp ở Hà Nội về nói là Tổng biên tập Hà Đăng than là báo không có những người làm báo đổi mới. Theo mình, không phải thế mà là cơ chế chưa khuyến khích những người muốn đổi mới.

Chiều 3/2, mang tặng Trương Thìn Tạp văn Lỗ Tấn tập 11 do Trương Chính dịch kèm mấy bản phô tô chân dung Lỗ Tấn khắc gỗ rất đẹp. Đây chính là sách Thìn đang cần khi định đưa ra một cuốn sách anh viết về Đông y xybécnêtích, một cách nhìn đổi mới thật sự.

Mới nhận thư mẹ. Thì ra hai gia đình ở Hà Nội sống đầy đủ hơn nhà mình nhiều. Mẹ đã nhận được quà và chiếc nhẫn mình gửi chị Bình mang ra.

Mình nói đùa với vợ là Đang đi theo con đường của anh Chính Yên được ba đoạn rồi: Tây y chê – Đông y chữa mãi không khỏi – chạy sang một thầy Tầu nghiệp dư. Về hình thức thì đúng là như thế.

Suốt buổi tối, cả nhà gấp sách cho nhà in, rồi ngủ ngon sau khi nghe nhạc êm dịu.

Tối thứ bảy, cả ngày chủ nhật đều lo gấp sách cho nhà in. Sáng thứ hai, họp mặt lương y toàn thành phố, tranh thủ thông báo với Lương y Cao Đài là cụ Nhàn về bệnh đại tràng của anh Tô Văn Pho ở Thánh thất Hà Nội. Nói chuyện rất vui với hai anh Phạm Văn Bảy kỹ sư phó chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật thành phố và bác sĩ Nguyễn Định ở bệnh viện Thống Nhất. Tối, cả nhà dự Hội Tết Y học dân tộc thành phố đến kết thúc mới về. Có cả các màn biểu diễn lân sư độc đáo như lân mẫu sinh lân nhi và các võ sư biểu diễn công phu nổi tiếng như Châu Chí Hùng. Và ăn bánh chưng.

Ngày 10/2 tức 23 tháng chạp, Hà phải kiểm tra học kỳ, còn gia đình ba người mình đi solex sang Thủ Đức, dự giỗ cụ thân sinh ra cụ Sán, trước cụ chỉ bảo là làm cỗ tiễn ông táo về chầu trời. Đông mua chục vú sữa, đến nơi là vào ngay bếp cùng chị em làm cỗ.

Sáng 11/2, đưa Hà, Ti đi chụp ảnh kỷ niệm, mua báo Tết rồi xem phim Các hiệp sĩ bàn tròn. Chiều, Hà mua dưa hấu, cả nhà ăn vui vẻ trò chuyện. Vợ chồng mình coi cháu như con, Hà cũng đáp lại như đứa con lớn trong nhà. Cũng buổi chiều này, nhận thư mẹ: anh Đại mất xe honda và túng bấn vì lương chỉ có vậy mà cả chị Thủy và Ánh Hồng đều học tiếng Pháp với học phí cao.

Sáng 12/2, dậy từ 4:30 đưa cháu Hà ra xe đò về Bạc Liêu.

Về nhà là viết ngay thư gửi mẹ và anh chị Đại. Thư mẹ viết bình tĩnh dông dài nữa, chứng tỏ anh chị túng thiếu, mất của to nhưng cố tự lo không kêu ca gì. Mẹ hay nhận được quà gửi ra tưởng trong này sống dư dả lắm nên hay yêu cầu chi viện. Sẽ cố chi viện, nhưng chỉ dưới một nửa yêu cầu. Có gửi ảnh chụp với tượng đồng ông bà ở nhà cô Giễm.

Đi gửi thư xong lại đến viện, Trương Thìn viết ngay giấy cấp cho loại thuốc đặc biệt của nha van Nguyen Nguyenviện Bổ trung ích khí, rất hợp với bệnh mình. Thuốc này rất đắt, có hoàng kỳ, chỉ cấp rất hạn chế cho trường hợp đặc biệt. Ghé trường Tuổi Thơ đón Ti về ngay nhà cô Giễm. Cô nói cả nhà cô cứ mong chờ suốt ngày thứ năm không thấy đến, sợ có chuyện gì không may, gặp thế này là mừng quá. Cô đã nhận được giấy khai sinh từ năm 1931 cậu Tuyên sao lục ở Hà Nội, mừng quá, thế là đủ thủ tục xuất cảnh sum họp với chồng con. Cô cho một ký lạp xưởng, một gói bánh, một gói kẹo. Thết ăn kem cây, bánh quế, sữa đậu nành, nước trà sen và mời cả nhà chiều mồng một lại ăn cơm.

Chủ nhật 14/2 chờ mãi không thấy cháu Chính ra, cũng chẳng còn biết nhờ ai, hai bố con lại ra bưu điện Tân Định gửi 5.000 đồng để mẹ đi xe Tết, muộn còn hơn không. Sau đó đi xem chợ hoa Nguyễn Huệ, chỉ xem thôi. Suốt ngày hôm nay, Đông và phòng hành chính ở cơ quan suốt ngày để chia hàng Tết. Hai bố con lang thang đến các bạn quen trong công tác, rồi ghé nhà cô Chí được ăn dưa hấu, ô mai. Sang cậu Vượng ăn cơm nói chuyện văn nghệ đến 15:30 mới về. Cậu cho chuối sấy, tiếc là mình không ăn được. Tình cờ đọc báo Công An số Tết, có cả bài của hai anh Thép Mới và Nguyễn Nguyên (tức anh Lương) đều không hay, chỉ là mài cái tên ra mà ăn thôi. Chiều về nhà mình, mới thật là vui. Mẹ Đông sẵn hàng mới được chia, làm cho hai bố con một bữa thật ngon, cả mì xào và mì ăn liền tuyệt ngon. Suốt đêm không ngủ được vì… trà và cà phê ngon của nhà cậu Vượng.

16/2, 30 Tết Đông trực ở cơ quan từ 16:00 đến sẩm tối. Hai bố con ở nhà dọn dẹp. Có Cường ở xưởng điện tử quận 10 cùng con trai lại chơi trả cái rađiô một pin và ca xét mini đã chữa một bước, còn tặng hai gói trà hương gia đình tự chế, nói chuyện chân thành, tâm sự nhiều điều của con một gia đình gốc Kiến Xương Thái Bình sinh năm 1954. Lầu đầu, Ti thức đón giao thừa, sau đó phải bắt buộc mới chịu đi ngủ với bố. Thật lòng con muốn thức và đốt pháo chuột. Đỡ nhát hơn rồi. Mồng một Tết, theo bài bản mấy năm nay, 8 giờ đến nhà chị Xuân, sau đó sang nhà bà ngoại Ti ăn cơm, 13 giờ thì sang nhà cô Chí rồi gặp cả cô và gia đình cậu Vượng tại nhà cậu, thắp nhang bàn thờ gia tiên. Đến khu tập thể báo Sài Gòn giải phóng chỉ gặp bà mẹ vợ Thái, cụ cho ăn mứt quất, dứa. Sang nhà Bắc – Chi ở ngay gần, nói chuyện lâu với Bắc và một giáo viên sử, cùng em trai Bắc là kỹ sư luyện kim mới thấy sự hoài nghi đổi mới còn quá nặng, ngay trong lớp trẻ. Đông và con trò chuyện thân mật với cô Chi và con gái Việt Anh. Trời mưa cho nên ngủ lại nhà Bắc lâu rồi mới quay lại nhà Thái, vẫn chưa thấy Thái về. Gia đình mình lại về nhà anh Lương,  gặp cả anh, chị và cháu gái. Anh Lương nói có không ít người không hài lòng với việc đồng chí Nguyễn Văn Linh tổng bí thư mới của Đảng gặp 100 văn nghệ sĩ ở Hà Nội. Họ nói: sao không gặp toàn thể văn nghệ sĩ? Anh rất vất vả và tự hào khi viết được bài Vật lộn đăng trên báo Tết Nhân Dân. Tôi nhắc chuyện cụ Nguyễn Tuân khuyên anh viết hồi ký hoạt động báo chí ở Sài Gòn thời kỳ Mỹ chiếm đóng để cụ đề tựa. Anh nói buồn buồn Cụ ấy mất rồi, làm tôi cũng mất cả hứng… Có ý thoái thác.

Như đã hẹn, cơm chiều mồng 1 cả nhà mình ăn ở nhà cô Giễm. Tẻ nhạt, chán nản, mặc dù mẹ con cô hết sức chăm lo mời mọc tiếp đãi. Cháu Ấu (Thái Thúc Hoàng Linh) bị mẹ kiềm chế quá nghiêm khắc, chỉ được ăn những gì mẹ gắp cho. Có lần bị đánh, ngã mấy tầng cầu thang. Hai vợ chồng li dị vì chồng vũ phu, nay vợ đâm ra ác với con. Thảo nào, mỗi lần mình đến cháu đều mừng rỡ, lấy bài vở được điểm cao cho xem, rất thích nói chuyện. Nhà hiện không thiếu thốn gì ngoài hạnh phúc.

Về đến nhà, mệt bã người, cả nhà ăn dưa hấu mỗi ngày một quả. Đông thức còn mình nằm nghe tivi và nghe Ti cùng bạn Bim trong xóm đốt pháo tép.

Mồng 2 Tết, kiên quyết… ở nhà nghỉ ngơi. Không ngờ lại được đón khách quí là cô Vinh- chú Cầm từ Đà Nẵng vào chơi. Chân tình, thân thiết, yêu thương. Cô Vinh là em ruột bố, năm mẹ sinh mình cô đã ra Hà Nội để chăm sóc tại nhà số 5 phố Hàng Da Hà Nội. Cô chú cho biết ở Đà Nẵng còn nhiều ảnh mình và gia đình ngày xưa. Sau này, em Nhàn đi công tác có ghé cô và được cô cho những bức ảnh xưa rất quí tôi giữ mãi đến nay vẫn còn tốt như của quí trong đời.

Anh Ba be bo bac dai va bo luc 1 tuoi

Buổi tối, xem tivi một chương trình thật hay: giọng ca Bạch Tuyết và vở kịch hay về đổi mới ở một nhà máy dệt, dựa theo kinh nghiệm ở xí nghiệp dệt Thành Công thành phố Hồ Chí Minh.

Chiều, lại mưa tuy không to như hôm mồng I nhưng kéo dài, ẩm ướt, người mệt mỏi rã rời. Ti vẫn hào hứng đốt pháo tép.

Những ngày trước Tết đều lo dọn dẹp nhà và chỉ đọc tạp chí Sông Hương của Huế, một tạp chí chững chạc, vững vàng có chủ kiến nghệ thuật rất rõ. Đúng 30 Tết thì nhận được thư Hà Khánh Linh, báo đã nhận được quà Tết và tâm sự nhiều, chủ yếu là về nghề viết. Đọc thư, tuy Linh không nói ra, biết là em sống nghèo mà trong sạch, lúc nào cũng làm việc hoặc học một cái gì đó. Chú Cầm rất thương Linh, nói với mình: Vợ chồng nó li thân, thằng nớ  làm giám đốc đài phát thanh Huế, khô khan quá.

Chiều 19/2, sau khi tiếp khách, cả nhà mình trốn đến nhà bác Xuân, ăn và xem viđêô phim Thái Bình công chúa đến 23 giờ mới về đến nhà. Hai bố con còn được mẹ cho ăn mì ăn liền rồi mới đi ngủ. 9 giờ hôm sau Ti còn chưa dậy. Ngủ là lớn nhanh nên cứ để cho con ngủ.

Từ chập tối đã mưa nhỏ, rồi mau hạt dần, mưa tầm tã suốt mấy giờ liền. Cậu Vinh muốn đi với bạn gái cũng lúng túng mãi vì mưa. Cậu Đình và vợ muốn đi nhảy cũng phải chờ đợi mãi. 12 năm sống ở Sài Gòn, năm nay mới thấy ba ngày Tết có mưa, mà mưa suốt ba ngày. Mồng 3 là ngày Vũ thủy (ẩm ướt), còn hai ngày kia… Lạ thật cho cái năm Mậu Thìn mình có nhiều dự định này…Tuti choi con roi

20/2 mãi 9:30 Ti mới dậy đã đòi làm mì cho ăn. Chưa ăn xong thì Đông về. Cả nhà lại chuẩn bị đi xuống bà ngoại hóa vàng. Ăn xong lại ghé nhà bác Xuân, lấy măng khô bác hẹn cho trước Tết. Khi về, định ghé nhà cô Giễm lấy cà rốt Đà Lạt, nhưng lỡ đường rẽ, về nhà luôn. Đến nhà thì biết em Lệ Thu đã mang cà rốt đến rồi.

Chủ nhật 21/2, cả nhà đi xem phim Dũng sĩ Jack diệt ác quỉ, thần thoại Anh, hai mẹ con đều thích. Ti reo lên mỗi khi dũng sĩ giết được một quỉ ác.

Thế là hết Tết Mậu Thìn. Sáng 22/2 đã viết thư cho mẹ kể chuyện Tết của gia đình. Gửi cả hai nhà luôn, vì thư đánh máy mà. Đã lâu có viết tay được dài đâu. Tay run, chữ xấu rất khó đọc.

Tranh thủ đọc báo dồn ứ lại mấy ngày Tết chỉ lo chơi. Từ ngày mai, bắt đầu làm việc nghiêm chỉnh. Có chắc làm được thật không? Thật tình, cũng chẳng biết nữa. Ngộ nhỡ lại… đổ!

(Còn nữa)

Thời cách li vì Covid-19, ngày 5/4/2020

P.T.

Chuyện một người cháu ngoại-Phụ lục: Sao con dám đánh nó

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

SAO CON DÁM ĐÁNH NÓ

Phạm Tôn

Sáng mồng một Tết nào cũng vậy, gia dình vợ tôi tập hợp cả 14 gia đình anh chị em, con cháu tại nhà hai cụ ở 302 Trần Bình Trọng. Nhà quá đông nên màn lì xì con cháu mong đợi diễn ra theo lối công nghiệp hóa. Hai cụ ngồi hai ghế, các con gái trai dâu rể lần lượt đến chúc Tết và được lì xì trong phong bao đỏ đẹp. Sau đó mỗi nhà cử ra một người, thường là vợ, đứng xếp thành hàng bên nhau. Màn lì xì cho các cháu bắt đầu. Các cháu Ba Noi va Tuti 2nối đuôi nhau lần lượt đi qua hàng dài các bà vợ đang sẵn sàng chỉ chìa tay ra là nhận tiền lì xì. Ban đầu, còn cho tiền vào phong bao đẹp đẽ, xong thấy lũ trẻ thời nay thiết thực hơn xưa, cứ có bao là móc tiền ra, vứt bao xuống sàn chỉ tổ khổ người quét dọn. Sau, cứ cầm một xấp tiền ra, nhiều ít tùy theo khả năng tài chính của từng gia đình. Cốt là ở cái tình, ít nhiều gì cũng có để chia vui với nhau. Nhà có hai mặt tiền, thành ra các cháu ngày càng đông, rồng rắn ngày càng dài ra cả hè đường. Cực kỳ náo nhiệt. Dân phố thì không lạ gì cảnh nhà ấy tốt phúc, con cháu đầy đàn, nhưng khách nước ngoài đi chơi Tết, thì thấy lạ đều dừng lại ngắm và quay phim chụp ảnh. Khi vỡ nhẽ, họ cười, nói thật là một tục lệ tốt đẹp, ai cũng vui.

Đến màn ăn uống, càng náo nhiệt, nhất là ở dãy bàn các bà các cô. Trong một dịp như vậy, vợ tôi buột miệng kể ra chuyện con trai tôi gần một tuổi cứ hay tát đôm đốp vào mặt bà nội, còn cố dứt cái kính nặng bà đeo chực vứt đi. Bà dì nhẹ nhàng nói thế này là không được rồi. Ai đời có cháu đích tôn lại đi tát bà nội thế. Phải dạy thôi. Tất cả các cô cùng đồng thanh phải đánh thôi. Vợ tôi kể lại với tôi như thế.

Sau khi tôi vừa chúc Tết hai cụ xong định xin hai cụ về nhà ăn cơm với mẹ, thì bà dì bảo anh Thành ạ, anh phải đánh thằng con trai anh đi, phải dạy nó chứ cứ đánh bà như thế là không được đâu.Ong ba Ngoai Tu ti

Vợ chồng tôi vẫn tự hào là chưa bao giờ đánh hay quát mắng con. Nghe bà nói vậy, tôi phải thưa là chuyện cháu đánh bà nội là có thật. Cứ mỗi lần ngoài đường Lý Chính Thắng có xe đẩy bán đồ chơi đi qua, nghe tiếng tùng chèng họ đánh trống và đập chũm chọe là con tôi đòi ra xem ngay và bao giờ cũng được bà bế ra tận cổng biệt thự cho bám vào cái cửa sắt để đu đưa ngắm xe cộ xem họ đánh tùng chèng. Khi bà chưa kịp xỏ dép là có chuyện đó. Nhưng những khi ấy, mẹ tôi chỉ cười, nắm chặt cổ tay nhỏ xíu của con mà nói bà đưa đi ngay mà. Không bao giờ bà đánh cháu, dù chỉ là phát nhẹ vào mông. Bà không bao giờ đánh nó thì sao con dám dánh nó.

Bà dì cười. Người như mẹ anh là quí lắm. Bà nào không thương cháu, nhưng thương cháu như mẹ anh là hiếm đấy. Bực mình lên là phát ngay cho cháu một cái, các cụ chẳng bảo yêu cho roi cho vọt hay sao. Có ai trách đâu. Tôi phải thú thật là nhiều khi tôi cũng bực lắm, nhưng biết sao được khi chính mẹ là người bị con tôi tát mà còn không đánh thì tôi làm sao dám đánh nó.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/6/2020.

P.T.

Niềm tin yêu của nhân dân

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:46 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 7 năm 2020.

NIỀM TIN YÊU CỦA NHÂN DÂN

Nguyễn Trung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng báo Sài Gòn giải phóng ngày 26/4/1987.

—o0o—

Không hiểu vì sao, càng gần đến ngày 30/4/1987, thì tôi lại càng hay nghĩ tới câu chuyện nhỏ này…

Cuối buổi làm việc sáng một ngày tháng 3/1984, chúng tôi được Bệnh viện Nhi đồng 2 gọi điện cho biết có một ca mổ lạ. Chỉ ít phút sau, bác sĩ Trần Đông A, trưởng Khoa Ngoại của bệnh viện, đã giới thiệu với chúng tôi tỉ mỉ về ca mổ anh vừa thực hiện. Trưa hôm đó, bản tin của chúng tôi đã được gửi ra Hà Nội, một bản tin ngắn gọn, nhưng đầy đủ và chính xác, với những số liệu tỉ mỉ.

Sáng 23/3/1984, ngay trên trang tư, trang thời sự của báo, báo Nhân Dân đã đăng bản tin đó dưới tiêu đề Thành phố Hồ Chí Minh: Mổ lấy bào thai trong bụng em gái bốn tuổi”. Kèm theo là hai bức ảnh do anh Trần Thăng chụp bác sĩ Trần Đông A với cái thai đã thành hình người, nặng 450 gam và hình em gái đó sau khi mổ một tuần.

Mãi đến đầu năm nay, nhân đi dự Hội nghị khoa học – kỹ thuật lần thứ hai của thành phố vào trước Tết Đinh Mão, tôi mới gặp lại Trần Đông A. Anh vừa trình bày một bản báo cáo đặc sắc về ngành y, đặc biệt là chuyên ngành phẫu thuật của anh. Tôi đón anh ngay ở hành lang. Vì muốn báo với anh một tin vui là báo TháNiem Tin Yeu Cua Nhan Dani Bình của kiều bào yêu nước ta tại Mỹ đã đăng lại nguyên văn bản tin viết về ca mổ kỳ lạ của anh năm nào. Đăng lại không thiếu một chữ, kể cả chữ in sai, chỉ tiếc là không có ảnh đi kèm. Không ngờ, chính anh còn biết hơn tôi. Anh bảo là chính những người bạn cùng học với anh trước đây, nay sang Mỹ ở đã viết thư về cho anh, nói rõ báo Mỹ cũng đăng lại tin này và có kèm theo cả ảnh chụp lại ảnh đăng trên báo Nhân Dân. Họ còn viết “tếu” là “Mày ghê thật, chúng tao đã sang tận đây, mà mày còn đuổi theo sát nút”. Rồi họ nói là mặc dù sang đấy, họ vẫn nghiên cứu khoa học và làm việc, “không chịu kém” gì anh cả. Để chứng minh, những người bạn anh đã gửi về mấy bài báo Mỹ viết về các công trình khoa học của họ. Tưa như họ muốn “thi đua”, không muốn anh nghĩ không tốt về họ.

Câu chuyện của chúng tôi thật rôm rả, khiến một số nhà khoa học nhân giờ nghỉ cũng góp chuyện. Một người nói với tôi:

  • Thế là Mỹ họ đăng tin của anh mà không trả cho anh đô-la nào cả nhé!
  • Tôi thiệt ít thôi, vì người làm nên nội dung “bản tin của tôi” lại chính là Trần Đông A và em bé gái bốn tuổi kia…-Tôi nói.
  • Chính tôi cũng chẳng được…đô-la nào cả!-Anh A vui vẻ nói.

Và tất cả cùng cười, đi vào phòng họp lớn tiếp tục bàn về những giải pháp khoa học – kỹ thuật nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ 6 của Đảng, chủ yếu đi sâu vào các biện pháp thực hiện ba chương trình mục tiêu kinh tế.

Nhìn Trần Đông A và các bạn anh cùng đi vào phòng họp lớn, có người từ chiến khu về, có người từ Hà Nội vào, từ các nước XHCN ề và đông đảo vẫn là những bạn đã cùng anh sống, học tập và làm việc từ nhiều năm ngay trên thành phố thân yêu mang tên Bác, tôi bỗng nảy ra ý nghĩ:

  • Đúng là không có đô-la, mà các anh vẫn vui, vì các anh đang có được cái mà các bạn anh ở Mỹ đang thèm muốn, đang có cái quí hơn đô-la và cuộc sống vật chất đầy đủ tiện nghi nhiều: Được sống trong sự tin yêu của nhân dân, được trực tiếp góp phần mình xây dựng tương lai tươi đẹp cho Tổ quốc ngay trong lúc còn nhiều khó khăn, gian khổ nhất, để trở thành người chủ chớ không phải “người khách được mời đến” khi công trình đã hoàn thành…

Và 30/4, không còn là cái mốc để phân biệt người này với người khác nữa, mà chỉ còn là cái mốc để mỗi người tự phân biệt bản thân mình với chính mình ngày trước mà thôi.

N.T.

Tháng Sáu 26, 2020

Chuyện một người cháu ngoại_Phụ lục: Sữa bột và chị em sữa

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 7 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

SỮA BỘT VÀ CHỊ EM SỮA

Phạm Tôn

Chúng tôi cưới từ năm 1978; nhưng ở cách xa nhau gần 1800km, mỗi năm may mắn gặp ba noi be tutinhau một vài ngày. Sau lần vợ có mang hai tháng bị sảy vì thai chết lưu tại Hà Nội, năm 1982 tôi mới đưa được nàng về dinh cùng chung sống tại Sài Gòn. Năm 1983, có mang hai tháng lại động thai, nhờ có bác sĩ Trương Thìn với bài thuốc dân tộc độc vị ngải cứu mà chúng tôi có được con đầu lòng, mẹ tôi được làm bà nội, có đích tôn. Nhưng năm ấy vợ tôi đã 39 tuổi rồi, đẻ con ra mà mẹ quá ít sữa. Bác sĩ Phạm Biểu Tâm hỏi thăm tình hình rồi phái đến nhà tôi một chuyên gia trị mẹ ít sữa: cô Hồng, dân gốc Huế, người giúp việc thân tín của gia đình. Cô nói phải cho bé bú sữa mẹ chứ, bú sữa bò rồi ngu như bò sao được. Cô đã nhiều lần được đưa tới bệnh viện Bình Dân nơi bác sĩ Tâm làm việc giúp ông giải quyết tốt đẹp nhiều ca bà mẹ tắc sữa phải chở từ Cần Thơ lên để mổ. Cô bảo tôi nấu cơm nếp nát và chuẩn bị cho một cái lược răng không sắc. Cô chườm cơm nếp nóng rồi xoa bầu vú vợ tôi và lấy lược chải theo chiều từ trong ra núm vú. Mấy hôm như thế, con trai tôi sung sướng tóp tép bú mẹ thoải mái. Vợ tôi mừng quá. Nhưng chỉ được ít hôm, sau dù ăn chân giò ninh bắp chuối, mít non sữa vẫn quá ít. Có hôm Tuti hóp cả má cố mút mà chẳng được tí sữa nào, giận đẩy mẹ ra và khóc.

Dẫn vợ đi khám để lĩnh phiếu mua sữa, họ chỉ cho 4 hộp sữa Ông Thọ một tháng vì dù sữa ít nhưng nặn vẫn ra vài giọt, không phải hoàn toàn không có sữa để được 10 hộp. Dạo ấy tôi dù bận công tác gì, đi đâu trong lòng chỉ nhớ một mục tiêu phải tìm kiếm cho được là sữa.  Các bạn phóng viên đều biết tôi cần sữa nên cố giúp. Hai vợ chồng Trần Đăng Thái và Nguyễn Thị Oanh, người lo cho con tôi từ khi chưa ra đời đã dành tiêu chuẩn sữa báo Sài Gòn giải phóng phân phối mua cho tôi hai hộp. Hồi ấy thịnh nhất là sữa bột Liên Xô có vẽ hình con bò sau chữ Nga Moloko. Mỗi lon nửa ký sữa bột. Bạn Nguyễn Cương ở Thông tấn xã hay đi công tác với tôi lại có cách khác. Một hôm chúng tôi đến làm việc lấy tư liệu ở xưởng đóng tàu nọ, làm việc xong, giám đốc xin lỗi là lẽ ra chúng tôi phải đãi các anh một bữa sau khi các anh vất vả làm việc cả buổi sáng, nhưng vì quá bận, mong các anh thông cảm, cầm lấy phong bì này tự giải quyết giúp. Anh Cương cầm ngay phong bì, mở ra xem thấy có 500 đồng, anh cười bảo ông theo tôi, thế là có sữa cho bé rồi. Tôi theo anh đi mua sữa, nhưng anh lại dẫn đến đường Đồng Khởi, khu chỉ bán những mặt hàng xa xỉ bạc vàng và đồ thêu cao cấp vì ở gần cảng Sài Gòn, thủy thủ tàu viễn dương và du khách thường đến mua. Tôi theo bạn vào một cửa hàng chung quanh toàn là gương dưới đèn sáng, bán đồ mỹ nghệ vàng bạc và sơn mài. Anh đi thẳng vào nhà trong, một lát ra đưa cho tôi hai hộp sữa bột Con Bò mới toanh. Anh bảo cánh thủy thủ không có nhiều tiền, thường mua lại sữa tiêu chuẩn của bạn bè rồi đem bán lấy tiền mua đồ mỹ nghệ. Mỗi chuyến đi như vậy họ vừa có quà cho người thân, vừa kiếm được khá tiền. Hàng mỹ nghệ Việt Nam người Nga chuộng lắm. Tôi định trả tiền bạn, nhưng Cương bảo của trời cho thì tôi lại cho con anh thôi.

Thế Thanh ở báo Phụ Nữ thành phố cũng lo sữa cho con tôi. Bà mẹ cô làm ở khoa dược bệnh viện Nhi Đồng I có thể mua lại sữa bồi dưỡng của nhân viên bệnh viện muốn bán lấy tiền lo bữa ăn gia đình. Bà bảo có loại sữa toàn phần, nếu cháu ăn béo được thì mau lớn lắm. Sữa từ thùng lớn, chia thành từng túi nửa ký, thơm phức. Tôi đến viện nhờ bà, bà bảo Thế Thanh mang sữa đến tận nhà.

Mặc dù được nhiều người giúp, tôi đi đâu vẫn lo tìm sữa cho con, kể cả khi đi các tỉnh. Tôi không bao giờ quên một trưa mưa to gió lớn tôi đạp xe từ Bình Dương về, qua một hẻm hẹp thấy có hàng tạp hóa nhỏ bầy sau tấm lưới mắt cáo một hộp sữa Con Bò giữa những hàng hóa linh tinh khác, tôi vội ghé xe vào hỏi mua. Một lão già trời đánh, có lẽ thấy mưa gió thế này mà đi mua sữa chắc là con khóc hết hơi rồi nên hét giá trên trời. Tôi biết rẻ nhất là 250, cao thì 300, 320 đồng. Chứ đến 450 thì tôi chào thua. Lão gọi theo, sao không trả giá đã đi thế!co chi va viet hung

May mà con tôi dễ tính, ăn sữa toàn phần, sữa dành cho thủy thủ mà bụng vẫn êm, lớn lên trông thấy, mà xem ra không phải cứ ăn sừa bò thì ngu như bò, con tôi bình thường như những trẻ khác.

Thật tình, con tôi vẫn thích bú mẹ, một chút cũng bú trước khi ăn sữa bò. May hơn nữa là con tôi lại có hai nguồn sữa thứ thiệt mà lại miễn phí. Bé Thúy Hằng sinh đúng ngày kỷ niệm Nam Kỳ khởi nghĩa, hơn con tôi gần sáu tháng. Cô Hoa mẹ cháu vốn là thanh niên xung phong mạnh khỏe, cứ lên thăm bà nội là lại cho con bú. Con tôi ai bế cũng được, cho bú lại càng thích ôm cô như ôm mẹ. Còn bé Việt Anh thì mẹ Chi của bé nhiều khi đi làm, căng sữa lại ghé thăm bà cho con tôi bú no, còn vắt cả vào chai, bà để tủ lạnh cho Me Thuy Hang va Tuticháu bú sau. Việt Anh nhỏ hơn Thúy Hằng, sinh vào cuối năm Tuất giữa tiếng pháo nổ ran. Thành ra con tôi chỉ có một cha nhưng có tới ba mẹ. Chỉ có mẹ đẻ là ít sữa, còn hai mẹ kia lúc nào cũng dồi dào. Nói theo kiểu người Pháp thì Thúy Hằng, Việt Anh tuổi Tuất và con tôi tuổi Hợi là ba chị em sữa. Nhưng chỉ vì ở cùng Vườn Anh Đào, cùng lớn lên bên nhau, thành ra Thúy Hằng và con trai tôi thành một đôi thanh mai trúc mã. Cũng như những đôi khác, suốt đời chỉ là bạn tốt của nhau, trên tình bạn vô tư hồn nhiên. Có chồng có vợ có con rồi vẫn gọi nhau bằng tên, lại còn xưng hô mày tao nữa. Bây giờ thì cháu con tôi và con trai Thúy Hằng cũng thương yêu bênh vực nhau.

Nhắc lại những chuyện cũ này tôi chỉ mong con tôi luôn biết ơn những ai đã giúp bố mẹ nuôi con lớn khôn

Tp Hồ Chí Minh ngày 12/6/2020

Những ngày bắt đầu cuộc sống bình thường mới, sau Covid-19.

P.T.

Chuyện một người cháu ngoại_Phụ lục: Bắt đầu từ lời xưng hô

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 7 năm 2020.

BẮT ĐẦU TỪ LỜI XƯNG HÔ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trong mục Phong cách sống mới trên trang 3 chủ nhật ngày 12/8/1984 báo Nhân Dân

—o0o—

Một xí nghiệp thuộc Sở Y tế một thành phố lớn đã có hai Huân chương Lao động hạng ba, năm nay lại được tặng Huân chương Lao Động hạng nhì, cho nên lễ đón nhận tổ chức trọng thể. Giấy mời ghi: “Đúng chín giờ khai mạc”.bat dau tu loi xung ho

Nhưng, chín giờ hai mươi phút, khi đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố đến, buổi lễ mới có thể khai mạc được. Khi lên phát biểu, sau những ý kiến chỉ đạo sâu sắc, mạnh bạo, đồng chí Chủ tịch chuyển giọng thân mật:

  • Sáng hôm nay, tôi có việc bận, phải làm việc ở một đơn vị ngành xây dựng, cho nên đến chỗ các đồng chí muộn mất hai mươi phút. Tôi cứ tưởng các đồng chí cứ y chương trình mà làm, tôi đến sẽ kịp phần tôi phải làm, không ảnh hưởng gì đến ai. Không dè, các đồng chí chờ tôi đến mới khai mạc. Tôi đã thành thật xin lỗi, nhưng lại được hoan nghênh. Đây thật là đặc quyền không đáng có của một “ông” chủ tịch. Rồi các đồng chí lại còn giới thiệu tôi có đến ba bốn chức, mà thật ra, chẳng cần giới thiệu, ở đây ai cũng biết cả rồi. Cứ nói tên tôi cũng được. Còn nếu muốn “bận đồ lớn”, thì nói: đồng chí chủ tịch. Phải giảm bớt những cách xưng hô không cần thiết đi. Đảng ta nay là đảng cầm quyền, dễ làm nảy sinh trong cán bộ, đảng viên tâm lý quyền bính. Thành ủy vừa ra một chỉ thị về việc này. Phải bằng mọi cách làm giảm bớt đi tâm lý quyền bính, nếu không, công tác cách mạng của chúng ta sẽ bị cản trở.

Cả hội trường hơn nghìn con người xôn xao rồi biến thành làn sóng vỗ tay dồn dập, hoan hô.

Vẫn theo lệ, đồng chí giám đốc trẻ của xí nghiệp thay mặt anh chị em lên tiếp nhận ý kiến chỉ đạo. Một việc làm hết sức bình thường thôi, nhưng lần này, anh có vẻ hồi hộp khác thường. Mà thật thế, hơn ba nghìn con mắt, cả khách lẫn người nhà, đều chăm chú nhìn anh một cách khác thường, như đang chờ đợi điều gì đó.

Anh nói nhanh mà rõ mấy tiếng mở đầu: “Thưa anh Năm…,” Rồi phải ngừng lại, chưa thể nói tiếp được ngay, vì cả hội trường đã lại rộn lên những tiếng vỗ tay và tiếng cười vui vẻ. Bỗng nhiên, có một phút im lặng. Nhờ đó, nghe rõ tiếng một cô gái nói nhẹ như hơi gió: “Thân mà quý, thì kêu bằng thứ như vậy là đúng rồi. Ai dè ông giám đốc nhà mình mà lanh trí ghê hả!”.

Nguyễn Trung.

Chuyện một người cháu ngoại: Cuộc chiến thầm lặng (P2) (kỳ 1 tháng 7 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 7 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

5- Cuộc chiến thầm lặng (P2)

Sáng thứ hai 22/4, sau một tuần nghỉ ở nhà vì thai hành, mình đèo solex đưa Đông đi Bo va Tuti sua solexlàm. Được một đoạn thì xe không nổ máy nữa, phải về. Những xe này đều sản xuất từ những năm 1950, nay tân trang dùng tạm nên hay giở chứng lắm. Đông lại lấy xe đạp Phượng Hoàng đen đi làm, còn minh ra ông cụ sửa xe quen ở đầu đường Trần Quốc Toản.

Chiều thì thấy xí nghiệp cho xe hơi chở cả người và xe đạp về. Đông mệt lả cả người đi, đau lưng dữ dội. Mình chờ lúc ngớt cơn mưa mới chở vợ đến Nhà hộ sinh quận 3 trên đường Lý Chính Thắng, thì chỉ được tiêm cho hai ống atrôpin cho giảm đau.

Tôi về nhà lấy cơm chiều cho vợ. Trong khi vợ ăn cơm, tôi hỏi cô y tác trực là tối nay bác sĩ nào trực, thì biết là bác sĩ đã về, cho giấy mai chuyển vợ tôi đi bệnh viện phụ sản. Tôi bèn đưa vợ về, sau khi ký giấy cam đoan.

Sáng hôm sau, tại bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, ca trực do một bác sĩ nữ trẻ mới ra trường kết luận là thai bình thường nhưng nghi đau thận nên chảy máu nhiều, lại làm giấy chuyển về bệnh viện Nguyễn Trãi cho đúng tuyến. Tôi sợ vợ mệt, lại đau nhiều hơn, nên không đi nữa. Từ tối thứ ba, bắt đầu xuất huyết nhiều như khi hành kinh. Sáng 24 tiêm Vitamin B12 và sáng 25 tiêm một ống vitamin K của Pháp mua mất 150 đồng giữa lúc mưa to. Sáng 26, đi họp ở Sở Y tế, nhờ tiến sĩ Phan Ánh quen khi viết về dầu cá viên của ta, và anh Trương Vinh phó giám đốc sở mới đi mua được 10 ống vitamin K 10mg. Hằng ngày đều tiêm 20mg. Đến sáng 27 thì tôi phải đến bệnh viện Phụ sản gặp chị Hai Trung bí thư Đảng ủy và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, phó giám đốc. 11 giờ thì đưa vợ đến cho bà Phượng khám. Lại ghi: Thai ba tháng, sỏi niệu quản . Dọa sảy. Cho đơn 20 viên ampixin và nghỉ ba ngày.

Các đêm lại tiếp tục xuất huyết, càng ngày càng trầm trọng hơn. Sáng 29/4, phải gọi điện trực tiếp nói chuyện với bà Phượng. Bà hẹn sẽ khám ngay khi đưa đến bệnh viện . Đèo solex đưa vợ đến viện, bác sĩ khám xong cho nhập viện ngay. Bà nghi có khối u.

Thế là sau một tuần căng thẳng cứ đang đêm nghe vợ nói khẽ anh ơi là dậy ngay, bật đèn, biết là lại xuất huyết. Mặc dù đã tiêm mỗi ngày 20mg vit K và cách ngày 2000 gama B.12. 6:30 ngày 29/4/1985, đưa được Đông vào bệnh viện mình thấy nhẹ cả người. Trong khi đi đâu cũng thấy cờ hoa nhạc rộn ràng bài Thành phố mười mùa hoa của cậu Tuyên mừng mười năm giải phóng mà mình chỉ lo chuyện nhà không xong. May mà có mẹ đỡ đần, con lại đi nhà trẻ ngoan ngoãn. Xe solex cũng tốt.

Chiều, chưa ngớt cơn mưa mình đã vào viện đem cho Đông áo, chăn, nước, ca… Có cả thịt băm, trứng và rau cải luộc là những món mẹ biết Đông thích. Bà ngoại Ti, các cô Phú, Thìn và cả cô Oanh vợ Thái báo Sài Gòn biết tin là đến thăm ngay. Đông có vẻ yên tâm, đòi mang len đến để đan vì rỗi rãi quá sợ buồn. Chưa chi đã nhớ con trai lắm. Cả nhà yên tâm, nhất là mình đã trút được gánh nặng lo lắng cả tuần nay, tin là vợ đã được nằm trong những bàn tay chuyên môn đáng tin cậy. Đêm ngủ ngon trước cả con và mẹ.

Tối anh Lương đến chơi, định xin nhờ bà nấu cho một bữa mọc ăn cho đỡ nhớ xứ Bắc. nha van Nguyen NguyenBiết chuyện, anh uống với mình một ly rượu rồi về, vẻ ái ngại.

Đến 16/5, Đông đã nằm viện sang tuần thứ ba. Sau một tuần tiêm vit K nhiều mà vẫn không cầm được máu, bệnh viện hội chẩn, cho siêu âm. Kết luận là bị thai trứng, ngay hôm sau cho hút bỏ. Bốn ngày sau thì nạo. Thứ ba 11/5 đưa Ti đến đón mẹ về nhà bác Xuân, cho hai mẹ con ngủ với nhau một đêm, chơi với nhau một ngày. Chiều chủ nhật, bố đón con về, mẹ đi xích lô trở lại bệnh viện. hình như họ còn ngờ có khối u nữa. May là Đông bình tĩnh, can đảm chịu đựng tất cả chỉ thương chồng quá vất vả. Mà vất vả thật. Đến chơi với mẹ về là Ti bo be Tuti o Ho Con Ruasốt rồi luôn miệng kêu đau bụng. Mẹ mình thì từ bốn hôm nay, đêm nào cũng lên cơn hen. Có đêm lên cơn, không thở được, cứ ngồi trên giường. Ti thì đêm ỉa ba lần, đái 5, 6 lần. Mệt phờ cả người. Phải tranh thủ thời gian lắm mới đọc được xong quyển Thao Thức nổi tiếng của A.Krôn mượn được một tháng rồi mà mãi không có thời giờ đọc.

Sáng nào cũng ra ba chị em bán bánh mì gà xào ở đầu đường Trần Quang Khải mua vào cho Đông và càng ngày càng nhiều bạn cùng phòng nhờ mua. Ai cũng khen ngon, lại có người mua và mang vào từ sớm khi bánh còn nóng. Đông rất vui. Trưa lại đem xúp mẹ nấu bằng nồi áp suất ăn với cơm. Mưa cũng mặc, cứ đến bữa là có món ngon mẹ chồng nấu. Các cô Ba noi va Tuti o lan cancùng phòng ghen tị nhất là cô Chi. Chồng em tệ lắm, chỉ mải chơi.

Sáng chủ nhật mồng 5 và tối chủ nhật 12/5 anh Thép Mới hẹn gặp mình trên tình thân ái, tin cậy, như chưa từng có chuyện gì không hay xảy ra. Vợ anh lịch sự mang ra tận bàn ngoài sân thượng hai tách cà phê nghi ngút khói. Bàn chuyện cơ quan. Hỏi cả chuyện đời sống của mình. Khi biết nhà chật, mẹ vừa đi mổ về, vợ nằm bệnh viện, đun nấu ngay trong buồng khói mù mịt rồi khi mình gợi ý, thì giải quyết ngay cho mua lại của cơ quan 10 tấm fibrô xi măng còn dư để lợp cái bếp ngoài sân. Tối thứ sáu 10/5, Tống Thế Gia, bí thư Tong The Giachi bộ mới được bầu, mang 500 đồng đến nhà thăm hỏi và nói chuyện rất lâu về chấn chỉnh cơ quan, cũng tin cậy, thân mật như anh Thép Mới.

Từ 15/5, mình rời tổ phóng viên sang nhóm nghiên cứu tổng kết, một nhóm lập ra để nghiên cứu việc tuyên truyền về thành phố Hồ Chí Minh của tổ phóng viên thường trú thành phố Hồ Chí Minh.

Đông mổ chiều 10/6, kéo dài ba giờ. Bà dì, các chị Xuân, Thu phải Nguyen Anh Ngocchờ đề vào săn sóc. Còn mình chờ bác sĩ Phương Mai con gái anh Quỹ để hỏi cho kỹ. Sáng hôm sau, vẫn còn phải chờ hơn một tiếng nữa mới được thấy mặt Đông. Vì còn đang ở phòng săn sóc đặc biệt, chưa về phòng bệnh. Tối hôm trước, mẹ, cháu Ngọc và mình đều thức khuya vậy mà sáng nay ai cũng dậy sớm. Mình thức dậy có lẽ cỡ ba giờ sáng, chắc là lúc Đông tỉnh dậy sau khi thuốc mê hết tác dụng. Mình thương nên cứ nghĩ như thế.

Thật ra theo Phương Mai cho biết, ca mổ chỉ trong 30 phút, nhưng do chờ đợi nên mới thành ba giờ. Theo dự đoán, có lẽ nay mai sẽ cho ra viện. Lẽ ra đã cho ra viện từ 4/7, nhưng phòng xét nghiệm đưa ra một kết quả quá xấu, có thể do nhầm lẫn, cho nên bác sĩ chưa dám cho ra viện. Rất may là tối ấy Ánh Ngọc lên. Cháu sẽ cùng đi đón cô trước khi ra Hà Nội hẳn. Lại bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc đời,chưa rõ sẽ ra sao. Thương cháu vì thấy cháu ngây thơ, yếu ớt quá, chưa chi đã chuyển hai nơi làm việc rồi.

bo me ba noi co nhan giang diz tai 82

Dịp này, hai chị em Hương Giang, Thu Giang vào chơi Sài Gòn đến hai tuần, đi về bằng máy bay quân đội. Mấy hôm ở nhà mình, chị em bảo thích ăn phở Sài Gòn xem có bằng phở Hà Nội không. Thu Giang nói cháu sẽ ăn ít nhất hai tô, cháu thích ăn phở lắm. Hôm sau, mình đèo cả hai chị em và Tuti bằng xe solex đến quán đường Trương Minh Ký trên vỉa hè rộng có mái che. Tô phở ở đây to lạ thường, thịt cũng rất nhiều. Em Ti rất thích ăn, nhưng chỉ ăn tô thịt thôi. Hai chị em ăn rất hào hứng, Hương Giang nói Dỉn hứa ăn hai tô đấy nhé trong khi cô em đang lè cả lưỡi trợn cả mắt lắc đầu vì mãi chưa ăn nổi một tô. 3/7, hai chị em về, chắc không thể quên tô phở các bác đãi.

Đón Đông về ngày 6/7/1985, định bệnh chorio lòng tử cung. Hậu thai trứng lành tính. Việc này chỉ vợ chồng mình biết, cơ quan không Phieu xet nghiem cua me Dongai hay. Thế rồi, hằng tuần vẫn phải đưa nước tiểu đến bệnh viện để thử fullthorpe, nếu trên 500 đv/l thì vào nằm viện lại.

Trong khi đó, anh Thép Mới giao nhiệm vụ cho một người thân tín xin Đông về cơ quan sau khi đã nhận được sự đồng thuận của cả hai vợ chồng.Không ngờ anh ta làm việc khẩn trương quá, cũng gặp lúc xí nghiệp cũ không còn muốn giữ một cán bộ tuy có năng lực nhưng bệnh tật như Đông, cho nên việc chuyển chỗ làm diễn ra thuận lợi. Ngày 27/8, Đông bắt đầu làm việc tại cơ quan với chức vụ kế toán trưởng.

Người lo việc cho Đông lại chính là người đứng đầu tổ nghiên cứu có Tống Thế Gia nghe nói là tiến sĩ xã hội học và mình không có bằng đại học. Lần đầu gặp anh tổ trưởng tổ nghiên cứu ba người, tôi hỏi tổ nghiên cứu ta làm việc gì thì anh nói ngay: Ta nghiên cứu, nghiên cứu… Rồi nhìn tôi. Tôi không còn biết nói sao. Thì ra anh và anh Gia là hai người anh Thép Mới bảo hôm mình đến nhà đưa guốc chị Thanh Hảo tặng. Mình là người lép vế nhất, chẳng biết sẽ làm việc thế nào mà anh bảo tăng cường cho hai người để làm việc tốt hơn. Đành vậy. Sao cũng được. Quen rồi. Tổ trưởng hơn tôi đến 13 tuổi, anh Gia thua tôi 7 tuổi. Gia gần gũi tôi hơn.

Tổ trưởng sống ngay tại cơ quan, tự nấu ăn lấy, có một cái soong đồng bé xíu, cán nhựa đen, như cái chén uống cà phê, anh bảo để luộc trứng Ton That Thanhvừa một quả đủ một bữa, chỉ cần thêm rau là xong. Anh uống trà đậm và luôn miệng hút thuốc lá như anh Thép Mới, môi đen lai. Hồi tôi được phân công làm thanh tra nhân dân kiểm tra việc sử dụng xăng ở cơ quan để báo cáo trước đại hội công đoàn họp ngày 24/8/1985, khi đánh máy báo cáo, anh cứ luẩn quẩn quanh tôi, khi trước mặt, thường là sau lưng, nhòm ngó, thỉnh thoảng chỉ bảo thế này, thế nọ, tôi rất khó làm việc. Tôi ngừng lại thì anh bảo cứ làm việc đi. Rồi ngày 31/8, anh ra Hà Nội, mang theo báo cáo tôi làm đã được anh Thép Mới duyệt. Lần đại hội ấy, tôi báo cáo xong thì được bầu vào ban chấp hành công đoàn.

Sáng 12/10, tôi đánh máy gửi anh Hồng Hà một báo cáo ngắn về phản ứng gay gắt của một số tỉnh miền Tây Nam Bộ về việc báo Nhân Dân đề cao và trích đăng tiểu thuyết Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn. Từ hồi tôi đi với anh Lê Khánh Căn về Bến Tre kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu, kết hợp với những ý kiến đạo diễn Nguyễn Đảnh ở xưởng phim Thời sự – Tài liệu thành phố Hồ Chí Minh, và anh Nguyễn Đạt Hải, Xưởng Sài Gòn video, tôi thấy có vấn đề phân biệt Nam – Bắc rất rõ. Tôi đưa tổ trưởng xem, anh rất bực mình, bảo Trung ương ta ủng hộ Nguyễn Mạnh Tuấn, có một số người ghen ghét anh ta nên chống phá. Sắp tới, Hà Xuân Trường trưởng ban Văn hóa – Văn nghệ trung ương và cả bộ sậu sẽ vào đây, nhà xuất bản Văn Học sẽ in lại với số lượng lớn, vì thế tôi sẽ không gửi báo cáo này ra, anh Hồng Hà không muốn đọc những cái đó, cái ông ấy cần bây giờ là những báo cáo về giá lương tiền.

Không hiểu sao anh biết rõ anh Hồng Hà hiện nay muốn đọc gì thế…

Muốn nghiên cứu thì phải có tài liệu mới nghiên cứu được, tôi đề nghị và được anh Thép Mới chấp nhận ký công văn xin báo của tất cả các tỉnh miền Nam. Có tài liệu, thường kỳ tôi đọc và tổng hợp những vấn đề nổi bật gửi ra Hà Nội. Tưởng là tổ trưởng sẽ để yên cho tôi làm việc, không ngờ sáng thứ bảy 19/10, anh lại làm tôi phát bực. Vì lại như hồi trước, tôi đánh máy mà anh cứ lại gần, nói nói, xem xem rồi góp ý này nọ khiến tôi phải ngừng để tiếp anh. Lại hệt như hồi tôi viết báo cáo thanh tra. Anh góp đủ ý kiến vừa chợt nghĩ ra, hàng giờ liền, giọng nói nhỏ, đều đều và rất rõ ràng. Chỉ có điều không rõ là anh định nói gì thôi. Cuối cùng đành để mặc tôi làm theo ý mình.

Từ 18/9, tôi phải đi chữa tai mũi họng ở bệnh viện Nguyễn Trãi, nhức đầu không chịu nổi. Uống kháng sinh, thuốc chống dị ứng và chọc rửa xoang suốt vẫn không đỡ. Nay cho chụp phim, có lẽ sẽ mổ vì viêm xoang sàn hai bên và xoang hàm trái.Vu Hanh

Tổ trưởng nói: Đi viện và nghỉ ốm cần có giấy bác sĩ. Ông Thép Mới ông ấy muốn thế. Thật khổ thân mình trước sau gì cũng phải sống với những người như thế. Mình bảo thẳng: Chuyện đó, trẻ con nó cũng biết, cần gì phải ông Thép Mới bảo mới biết. Sống tình nghĩa biết điều với nhau thì khó chứ sống kiểu hành chính như thế thì khó gì, muốn giấy gì có giấy ấy thôi. Anh không nói gì nữa.

Sau tôi hỏi Vũ Hạnh bạn biết rõ về anh hơn tôi xem anh có ưu điểm gì mà anh Thép Mới trọng dụng, Hạnh bảo: anh ta trung thành với anh Thép Mới và chữ viết rất đẹp, khi cần sao chép cái gì anh đều chép rất nhanh và rõ ràng.

Thứ bảy 9/11, tôi gửi một báo cáo hằng tuần theo lệ điểm báo Nam Bộ, viết thành hẳn một bài Nam Bộ không uống rượu?. Không tham khảo gì ý kiến chỉ đạo của tổ trưởng cả.

Tôi chỉ mong lần này mổ sẽ thoát khỏi cái khổ triền miên nhức đầu kéo dài, lúc nào cũng hâm hấp sốt. Trong khi đó, mẹ tôi lại mọc một cái u mới, tương tự như cái u năm ngoái. Thì mình mổ xong sẽ lại đưa mẹ đi mổ thôi. May là mẹ bình tĩnh, không quá lo lắng như lần trước, mặc dù lần này cái u mọc ngay gò má. Không ngờ chuyện tầy trời như thế mà cũng quen được. Không chỉ có mình, mà cả mẹ nữa cũng quen lì rồi. Cứ sự thật là chấp nhận, không lo âu, than vãn. Còn nhớ hồi mẹ còn ở với em Nhàn ở Bạc Liêu, một hôm hai mẹ con viết thư cho mình, nêu cùng một ý kiến: Gia đình mình hiện ở chỗ ngày trước nhà chủ dùng làm nơi thờ tự gia tiên, họ lại là người Tầu, có lẽ vì thế mà sinh ra ốm đau bệnh tật liên miên, hết người này đến người khác. May mà hồi này hai mẹ con không nghĩ như vậy nữa, nếu không chắc còn đau khổ lo lắng đến như thế nào. Hầu hết cái khổ của con người là do mình tạo ra. Mình vững vàng thì mọi sự sẽ qua.

Từ 13 đến 26/11/1985, nằm bệnh viện Nguyễn Trãi mổ và nạo hai xoang sàn cách nhau ba ngày, cả hai lần đều ngất khi đang mổ, huyết áp nay chỉ còn 110/70. Mất máu nhiều quá. Cùng nằm một phòng bệnh với Nguyễn Xuân Thoại (công ty Vật tư Bưu điện, nhà ở 70 Nguyễn Bỉnh Khiêm) và Nguyễn Văn Hùng, thợ máy xí nghiệp in quận 5, một dân Bắc, một Nam, đều rất tốt và có cuộc đời li kỳ đầy chất tiểu thuyết. 30/11 đến khám lại, vẫn còn nhức, sưng, đau, còn xoang hàm chưa mổ.

Ngày 3/12 làm đơn xin nghỉ phép cả ba năm 1983-1985, anh Thép Mới ký. Nói chuyện với anh hai buổi sáng 2 và 3/12, nội dung như đã nói ngày 16/8/1977. Nhưng lần này thái độ anh khác hẳn: chăm chú lắng nghe và khi thầy cần lắm mới thanh minh.Me va co Nghia

Đông về làm kế toán trưởng cả cơ quan đều mừng. Vì vừa đúng lúc có vụ đổi tiền nổi tiếng trong lịch sử nước ta đảo lộn cả xã hội và nền kinh tế. Một ngàn đồng tiền đang lưu hành đổi lấy một đồng tiền mới. Thủ tục phức tạp, không ít cơ quan không có tiền chi tiêu vì nghiệp vụ kế toán tài chính yếu kém làm thủ tục không kịp. Báo Nhân Dân vững vàng nhờ có kế toán mới rành nghiệp vụ. Tất nhiên là Đông rất mệt, mà mình thì lo. Vì cứ mỗi tuần lại thử, nếu chỉ số fullthorpe trên 500 là lại phải nằm viện. May mà toàn dưới  500. Chuyện này chỉ hai vợ chồng biết. Đúng là những ngày căng thẳng. Như đi trên dây.

Lại có một chuyện lạ. Cô Nghĩa thường trực cơ quan ghi: Thứ hai, 16/12/1985, 14:45 Một đồng chí nữ nói là ở cơ quan công an hình sự báo với cơ quan là anh Thành có liên Hong Canh Yenquan đến một vụ phạm pháp. Đã báo lại anh Quang Bình. Đông còn kể thêm Nghĩa nói là trước đó, chính người nữ đó đã gọi điện đến hỏi mình có ở 82 Lý Chính Thắng không, khi nghe nói là nghỉ phép thì cúp máy. Tối 1/1/1986, khi báo cho mình tin này, Hồng Cảnh Yên nói là bọn xấu lại gây hoang mang, nghi ngờ, ai tin công an hình sự gì mà lại dại dột thế.

Mình nhớ là hôm đổi tiền, hộ tập thể 82 bây giờ chỉ còn gia đình mình và gia dình chú Vượng. Tiền hai gia đình chẳng có là bao. Mình làm một tờ khai và ký tên đại diện. Khi đến lượt lĩnh tiền, mình từ chối lĩnh vì số tiền mới các cô làm thủ tục tính nhầm lên tới gấp mười lần. Các cô bắt lĩnh. Mình hiểu gần 12:00 rồi, các cô đói, muốn nghỉ. Đôi co một lúc, tổ trưởng tổ đổi tiền mời mình vào làm việc. Tính lại. Mình lĩnh tiền ra về. Có gặp vợ chồng nhà nọ hay soi mói ở cùng khu tập thể. Không ngờ chỉ có thế mà thành to chuyện. Vừa ăn cơm trưa xong, đã có ngay phóng viên báo Tuổi Trẻ đến xin gặp. Tôi nhận ra ngay cháu Nhân con anh Hùng Lý và chị Hoa Lý cùng cơ quan, nhưng có lẽ cháu không nhận ra vì chỉ gặp một lần hồi tiễn tôi đi Sài Gòn, chị Lý bảo con đến chụp ảnh kỷ niệm với cả tổ. Anh bảo trên quận 3 cho biết chỉ có chú là trả lại tiền tính nhầm đến mấy nghìn đồng cho nên xin đến phỏng vấn tin đổi tiền nóng hổi. Tôi nói là có gì đâu, tôi không trả lại mà không nhận từ đầu mới sinh đôi co tổ trưởng ra tay can thiệp mới xong. Vả lại chuyện tôi chẳng có gì hay, người ta nghèo khổ, vợ đau, con yếu mà trả lại tiền nhầm như báo các anh viết mới hay. Còn vợ chồng tôi đi làm, chỉ có một con có gì mà lo. Vả lại chắc làm báo anh cũng biết, nhà báo chê nhau đã là không hay, khen nhau cũng vô duyên. Anh xin viết giấu tên, chỉ nói một cán bộ ở nhà  này thôi. Tôi nói cũng không được. Nói nhà này ai cũng biết toàn người báo Nhân Dân thôi. Sau này xảy ra vụ công an hình sự, tôi cứ tiếc mãi, giá cứ để cho cháu Nhân viết có phải là hay không… Buồn cười là sau này, tôi chẳng nói gì bỗng anh hay soi mói đến gặp tôi nói là nghe tôi bệnh nặng lên thăm. Rồi cứ nài ép tôi phải nằm để anh ta day bấm huyệt cho vì hồi học ở Trung Quốc có học được môn day bấm huyệt chữa bệnh rất hay. Tôi đành chịu trận. Anh hẹn sẽ lên làm tiếp cho đến khỏe, tôi bảo thế này là cảm ơn anh nhiều rồi, tôi vẫn chữa trị ở chỗ anh Trương Thìn. Anh mới chịu. Sau đó chị vợ còn gửi cho tôi một bao kẹo sâm Hàn Quốc để tẩm bổ.Nguyen Huu Van

Trưa 17/2 mồng 9 Tết Bính Dần anh Đại vào và sáng 20/2 cùng cháu Hải đi Bạc Liêu. 3:30 sáng 4/3 (24 Tết Bính Thìn) gia đình mình và mẹ con Nhàn, Hải tiễn mẹ và anh Đại ra Hà Nội. Trưa 25, nhận điện: Mẹ đã về đến nhà, mạnh khỏe. Cùng ngày, anh Thép Mới từ Hà Nội vào cho biết trời đã ấm, không phải mặc áo len. May quá.

Chiều thứ bảy, 22/3/1986, cơ quan nhận được thông báo của ban biên tập giải thể cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh. Hữu Vân nghe Tấn Thọ đọc cho nghe, tối về nói lại cho vợ chồng mình. Mình sẽ trở lại tổ phóng viên. Còn Đông, chưa biết sẽ ra sao… Đối với vợ chồng mình các chuyện này chẳng có gì là quan trọng. Mình là một trong mấy người đầu tiên xây dựng cơ quan này và chuẩn bị ra những số báo Nhân Dân đầu tiên tại miền Nam. Việc lớn cần làm đã làm xong, nay sao cũng được.

Bác sĩ Phượng ở bệnh viện Nguyễn Trãi thật đúng là một lương y. Sau tám tháng điều trị Pham Bieu Tamcho mình, thấy bệnh vẫn không thuyên giảm, bà đã gợi ý cho mình tìm bác sĩ Võ Tấn bậc thầy ngành tai mũi họng hiện vào giảng dạy ở Sài Gòn. Mình đến cầu cứu chú Phạm Biểu Tâm. Ông nghĩ ra cách nhờ bác sĩ Lê Hành, ca sĩ nổi tiếng, cũng là đệ tử của Võ Tấn giúp. Lê Hành thực hiện ngay lời thầy Tâm. Bác sĩ Võ Tấn căn cứ vào phim của bệnh viện Nguyễn Trãi đã phát hiện ra cần chữa tới… bốn xoang, kể cả xoang trán chưa được biết đến. Ông tự tay khoan hai lỗ ở hai chân mày, xoáy vào đó hai ống thép không gỉ, gắn đinh ốc vào. Hằng ngày mình đến viện rửa và bơm thuốc kháng sinh đời mới. 15 ngày sau, đến 17/4 cơ bản xong lại về bệnh viện Nguyễn Trãi điều trị tiếp.

Sáng 21/8, cơ quan họp nghe anh Hồ Dưỡng bí thư Đảng ủy, phó tổng biên tập báo Nhân Dân nói về tổ chức cơ quan. Từ nay đến đại hội Đảng lần thứ 6, cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại, nhưng chỉ làm hai nhiệm vụ: Phóng viên thường trú và xuất bản báo tại Thành phố Hồ Chí Minh. Không còn chức năng đại diện nữa.

Anh Nguyễn Tấn Thọ vừa được bầu làm bí thư chi bộ đồng thời làm người phụ trách cơ quan luôn. Mọi việc khác sẽ từng bước giải quyết. Ban biên tập có trách nhiệm và đủ sức lo cho mọi người trong cơ quan có việc làm phù họp. Anh Hồ Dưỡng nói thế và mọi người yên tâm làm việc tốt thật chỉnh tề như lời anh.

Trưa hôm ấy, nhận thư cháu Hà (Minh Tuấn) con thứ hai của em Nhàn. Sau hơn hai tháng ở nhà mình học hè, 13/8 Hà về Bạc Liêu Ha va Tutimang theo xe solex mới mua. Cháu viết là không bao giờ quên những ngày tháng sống bên hai bác. Cháu ngoan, có nhiều nết tốt học được ở ba cháu. Vợ chồng mình coi cháu như con, và cháu cũng đối lại như thế. Tình cảm anh em giữa Hà và Ti rất thắm thiết, mọi chủ nhật hai anh em đều được mình đưa đi chơi thảo cầm viên mang theo cơm nắm muối vừng và chuối làm bữa ăn trưa. Có hôm đến sớm, được thấy cả công nhân cho voi ăn cả sọt bí đỏ, chuối xanh. Còn ra quận 8 đi thuyền sang bên kia sông cho biết nông thôn.

Thứ bảy 23/8, Ti sốt, phải cho nghỉ, đến chiều thì cho uống kháng sinh vì ho quá nhiều. Tuy vậy, tối vẫn xem tivi vở cải lương Kim Đồng rất vui vẻ. Sáng chủ nhật, còn ho sốt nhưng vui vẻ đi cắt tóc lần đầu trong đời. Mấy lần trước, bác Bốn không chịu cắt vì bảo Cả đầu không quyến nổi một điếu thuốc lá, lấy gì mà hớt.

Hớt tóc xong cả nhà xuống bà ngoại dự một bữa liên hoan do nhà mình chủ chi. Anh Đại từ Ănggôla gửi về cho một honda cup 70 đỏ, bán để chia cho mẹ, Thành, Thân, Nhàn và hai em chị Thủy. Phải nhờ bên ngoại đi lĩnh hộ rồi mang về Bo be Tuti o bo songnhà và bán hộ luôn. Xong việc, để nửa chỉ làm bữa nhậu đãi cả nhà. Gia đình mình không sao làm nổi những việc như vậy.

13:30 thi về vì Ti mệt, biếng ăn, ít chơi. Đến nhà là cho nằm ngay, vẫn mệt, chỉ ăn một mẩu bánh mì batê. Đến 18:00 thì sốt đến 39o6. Vợ chồng lo sát chanh, đắp nước lã lên trán, mãi mới xuống 38o8. Cho uống hai gói căn cơ tán thuốc hạ nhiệt có tín nhiệm vẫn không kết quả. Lại phải cho uống kháng sinh Eritrazon. Con thật ngoan. Thấy ói ra viên thuốc là hỏi: Có phải uống lại thuốc dài không mẹ? Và bằng lòng uống lại viên thuốc vừa ói ra.

Cuối cùng, sau 5 viên Eritrazon con đã khỏi, vui vẻ đi nhà trẻ. Ngày 30 tháng 8, dự lễ Chuyển các cháu ra mẫu giáo, kết thúc những ngày ở nhà trẻ phường 8 quận 3. Ti khóc ôm chặt bố khi các cô mời ăn bữa cơm cuối cùng.

Sáng thứ ba 26/8, mình chính thức về lại tổ phóng viên. Ba hôm sau, Tấn Thọ gặp riêng lại phân công theo dõi tiểu thủ công nghiệp. Mình nhận xong là liên hệ ngay với liên hiệp xã thành phố, họ mừng vui đón mình như đón người nhà.

Trông Tuti gầy quắt, thương quá. Đời sống ngày càng khó khăn, ai cũng phải đắp đổi qua ngày, sống hôm nay mà không biết làm thế nào để sống được đến cuối tháng. Chỉ có nghĩ là mọi người sống được thì mình cũng sống được. Khó khăn chung sẽ có cách giải quyết, chẳng việc gì phải lo. Chỉ sợ bi kịch cá nhân, tách khỏi cộng đồng mới không có lối thoát.bac dai be tuti chup cung ngua

Thư mẹ vừa nhận cho biết anh đi Ănggôla về kiếm được số tiền lo chia cho gia đình, bây giờ bán cái nhẫn vàng cuối cùng được 10.000 đồng lo cho vợ đi Hunggari nghiên cứu kiến trúc. Mình đã viết thư cho mẹ rồi ra bưu điện gửi ngay cho mẹ và anh mỗi người 1.000đ, sợ gửi cả sẽ tiêu hết, nên mỗi tháng cứ gửi 1.000đ thôi. Chị Thanh ở nhà dưới 16 Hàng Da vào chơi có nói chú Đại kiếm ra tiền nhưng rồi sẽ lại nghèo túng như xưa thôi. Ngồi ăn núi lở mà. Không ngờ chuyện chị Thanh dự báo diễn ra sớm quá.

1/9, lại gửi Hồng Cảnh Yên đem ra Hà Nội 5.000 đồng, đưa mẹ 1.000 và anh 4.000. Coi như xong mọi khoản. Mình gửi cả số tiền anh cho vì nghĩ rằng lúc này anh cần tiền, vì không tiết kiệm như mình. Sáng 8/9, Tấn Thọ ra mình lại gửi cho mẹ máy đo huyết áp, phấn hoa, hai con dao bào mà bà yêu cầu vả gửi ảnh mình chụp hôm 2/9/1986 cả gia đình. Chỉ mong làm mẹ vui.

Ngày 23/9 đón con ở trường Mẫu giáo Tuổi Thơ 13A về. Con ở đó từ 7:30 mà bao giờ về nhà con cũng kêu đói lắm. Hôm nay, mẹ đã lo mua cho con một bát xôi lúa, con ăn ngon lành. Mẹ thương vì hôm trước về thấy bố cho con ăn cơm nguội chiên với trứng, cơm khô mà con ăn vui vẻ. Sau mẹ làm phở bò cho ăn thêm luôn, đến nỗi ói ra vì… quá no! Khổ. Con tôi mới ba tuổi đầu đã gặp thời quá khó khăn thiếu thốn. Bố mẹ cố hết sức lo cho con không bị thiếu thốn, ảnh hưởng đến sức khỏe, khổ cả một đời như bố con mới sáu tuổi đầu đã là người lớn nhỏ nhất trong tập thể 20 con người bà nội con cưu mang dắt díu nhau đi tản cư năm 1946.

Cũng hôm nay, nhận thư mẹ. Mẹ viết anh Đại bảo là mình cẩn thận quá, số tiền 5.000 đồng đó anh coi như cho rồi. Nhưng đã gửi ra thì anh cũng nhận vì đúng lúc này anh hết cả vàng lẫn tiền. Thế là xong mọi việc nhà, có thể tập trung vào công tác và học tập.

Vừa qua, đọc khá nhiều, trong đó đáng chú ý là Trò chơi (I.Bônđarép), Vĩnh biệt Gunxarư (Aimatốp) và Trăm năm cô đơn (Máckét). Cảm thấy các nhà văn lớn luôn luôn dũng cảm, khi đã có danh tiếng lại càng dũng cảm, sáng tạo, mở đường đi tới, không sợ sệt, lo mất ghế như phần lớn nhà văn Việt Nam hiện đang sống, lúc nào cũng lo né tránh, hầu như không viết gì cả… Đọc sách thì phấn khởi vì thấy con người mình mạnh mẽ hơn, được nâng cao hơn, nhưng rồi lại buồn khi nghĩ về văn học nước mình. Ngày 3/10, đang đọc Tuyết bỏng (I.Bônđarép), thì thấy Đông cũng đang đọc sách. Đã đọc xong Vĩnh biệt Gunxarư và đang đọc  Trò chơi. Khá quá.

Mùa này hai vợ chồng mình hay đau yếu quá. Đông vẫn chưa thoát khỏi cái vụ thai trứng, đến cuối năm 1986 vẫn còn phải đi thử hằng tháng. May mà đều dưới 500 đơn vị/lít. Ăn uống hoàn toàn thiếu chất. Cố cứu lấy Tuti thôi, còn bố mẹ coi như hỏng rồi, chỉ cốt sống qua ngày nuôi con. Đúng khi ấy, tình cờ phát hiện ra toàn bộ xà nhà, trần nhà đều đang bị mối xông. Trước đây chỉ giận là chúng ăn mất khá nhiều sách, trong đó có cả Tạp văn Lỗ Tấn nay thì cả cái trầme lam ke toann nhà trên đầu cũng sắp đổ xụp. Lại thêm việc. Mỗi lần leo lên trần nhà tìm phương cứu chữa lại càng thêm mệt. Tuy vậy không quên viết thư cho mẹ, chỉ mong sao mẹ đừng quá đau buồn trong những ngày cả nước tưng bừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Cố nhấn mạnh ngày 2/9 là ngày cưới của vợ chồng mình.

Càng khó khăn, thiếu thốn, khổ sở mới càng thấy Đông của mình thật là tốt, rất chịu thương chịu khó, nhường nhịn từng chút một cho con và cả cho chồng. Cuộc sống gia đình mình những ngày tháng này gần như chỉ là cuộc sống tinh thần, tình cảm. Vậy mà không thiếu niềm vui nho nhỏ mỗi ngày, mỗi khi nhìn thấy nhau.

Cơ quan tiếp tục giải thể, mình vẫn làm phóng viên, còn Đông, chưa biết sẽ ra sao… Chắc chắn sẽ vất vả hơn thôi, việc nhiều với nhiều chuyện khó xử mới, vì dù sao cũng mang nghiệp kế toán, mà kế toán trong thời buổi này, luật lệ, chính sách chưa thật rõ ràng làm thế nào tránh khỏi chuyện này chuyện nọ. Thật tội nghiệp.

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh 31/3/2020

P.T.

Tháng Sáu 14, 2020

Chuyện một người cháu ngoại- P5: Cuộc chiến thầm lặng

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:50 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

5- Cuộc chiến thầm lặng (I)

Sáng nay, tôi nhờ chuyển qua đường ống riêng của cơ quan cho anh Hà Đăng bản thảo Dang Hacác bài bị tòa soạn bỏ kèm lá thư ngắn: 15/3/1984, Kính gửi anh Hà Đăng,/ Xin gửi anh một số bài viết đã gửi báo ta nhưng không được dùng và cũng không được biết ý kiến của các anh./ Đây chỉ là một vài bài còn giữ được bản lưu./ Thật không dám làm mất thời giờ của anh, vì anh cũng biết em rất quí trọng thời giờ và tôn trọng sức lao động./ Nhưng nếu cứ viết chỉ để mà vứt đi thì thật là…tàn nhẫn quá./ Rất mong được biết ý kiến anh. Em Thành (ký)

Trong số bản thảo này có cả bài Ơgien Pôchiê-Nguyễn Ái Quốc và Bài ca Quốc tế. Tất nhiên, đến nay vẫn chưa có câu trả lời.Ba Noi va Tuti

Mẹ đi Bạc Liêu từ ngày 8/3. Hằng ngày, Đông nghỉ ở nhà buổi sáng trông con, còn mình thì buổi chiều. Mọi việc đọc, viết đều bắt đầu khi con ngủ. May mà tối nào con cũng ngủ sớm.

Mẹ lên lúc 22:00 ngày 24/3. Trưa 25, mình đèo mẹ đi ăn giỗ ở nhà cậu Vượng. Từ 27/3, Đông lại đi làm như bình thường. Có bà nội, Tuti vui hẳn lên, bà chiều cháu lắm, cứ chiều nào cũng bế xuống nhà cho ra cổng xem xe cộ qua lại. Ngày nào bà cũng dùng cái cối xay nhỏ bác Xuân cho xay khoai lang vàng cho cháu ăn. Ai cũng tưởng là cho ăn thứ gì quí hóa lắm. Thức ăn hằng ngày thì chia vào bốn cái lon sữa bò, một nấu với rau muống thái chỉ, một với cà rốt, một củ dền đỏ, một rau dền. Lon thứ năm là chè đậu xanh nguyên vỏ. Tất cả nấu trong một nồi áp suất Liên Xô, đủ ăn cả ngày. Nước dùng để nấu cháo là chân gà ninh nhừ. Bố được bốn cái chân gà công nghiệp to nhắm rượu. Sau bà thương tình bảo mẹ nó mua thêm cho một cái đầu gà có cổ dài. Sau con  cũng thích gặm chân gà. Chiều nào hai bà cháu cũng xuống dưới sân ngồi trên ghế xi măng trước cửa lên nhà, ai cũng khen cháu xinh, bà khéo chăm.

Vo Sau va ton that thanhEm Nhàn lên học nghiệp vụ ở Thủ Đức ba tuần nay, chủ nhật nào cũng về nhà, thăm bà và chơi với cháu.

Chiều và tối 28/3 bắt đầu những trận mưa đầu mùa. Tối cũng mát dù không mưa.

Thấy Nhàn bắt đầu dùng đồng hồ pin Toyota, ngày 26/4, mình cũng mua đồng hồ Casio dùng pin. Nước ta khai thác được mỏ dầu đầu tiên rồi.

Ngày 24/3, báo Nhân Dân đăng trang nhất bài Ngành tiểu thủ công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh: Cải tạo và tổ chức lại sản xuất. Ban biên tập khen. Thành phố Hồ Chí Minh khen và tỏ ra rất phấn khởi. Mình cũng phấn khởi. Bài này mình viết xong nhờ Hữu Vân mang ra Hà Nội, đưa tận tay anh Hà Đăng một bản, anh Lê Giang phòng thường Le Chuctrú một bản. Thứ tư, 11/7 là vừa một tuần gửi bài Từ một đốm lửa nhỏ. Vẫn chờ. Lâu lắm rồi mới được viết một bài hào hứng như vậy. Nhân vật hiện lên rất rõ. Mình xem đây như một đề cương tiểu thuyết. Rõ ràng cuộc đời anh Võ Sáu là một quyển tiểu thuyết hay. Tổ trưởng phóng viên Lê Chúc đọc xong bản thảo nói ngay: Tay ấy vĩ đại thật. Cả bài anh không sửa chữ nào. Nhưng cái nhan đề, anh thêm một chữ Từ thật đắt thành Từ một đốm lửa nhỏ, nâng hẳn ý nghĩa bài viết lên mà chính người viết chưa nghĩ đến. Bài mình viết về tuyển quân ở quận 3, anh cũng ghi: K/g anh Thành Tín, mong được anh cho dùng sớm.

Ngày 5/7, nhận thùng quà đầu tiên anh Đại gửi cho từ Ănggôla, chủ yếu là mấy thùng to sữa NAN của hãng Nestlé và bột hoa quả, anh thương đứa cháu chưa biết mặt quá. Hải quan tính toán làm bản kê rồi bảo mình ký: Miễn thuế. Thế là con mình được cứu rồi, đúng lúc bệnh viện bắt con uống rimifon bốn hôm đầu mỗi ngày nửa viên, từ 8/7 mỗi ngày một viên kèm dầu cá ôlêca.

Ngày 19/7, buổi sáng âm u sau một đêm oi bức. Vừa đọc xong tập I Nhật ký Diên An (của P.P.Vlađimirốp) do Hữu Vân mượn của bố vợ làm Nguyen Huu Vanở sân bay. Tác giả viết: Tôi không thể dễ dãi với bản thân mình. Tôi phải viết sự thật. Tôi không lừa dối mình, để tìm những biện pháp thỏa hiệp. Những bài báo tôi gửi về có được đăng hay không, và Matxcơva đối với những báo cáo của tôi như thế nào-tôi không được băn khoăn về điều đó. Nghĩa vụ của tôi là viết sự thật. Tôi mang nợ hàng nghìn người đang bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít (8/1/1943). Dù cho ở Matxcơva công việc của tôi được dánh giá như thế nào đi nữa tôi sẽ vẫn cứ viết những gì tôi nhìn thấy. Nói cho cùng, đó đâu phải là việc riêng của tôi (25/10/1943). Tôi không dám nghĩ đến việc ai ở đâu sẽ tiếp nhận những báo cáo và thư từ của tôi như thế nào. Tôi phải nhớ đến những người đang chiến đấu và những người đã hy sinh. Nhớ đến họ, cần phải viết như thể không phải bằng mực mà bằng máu những con người bị hành hạ và đã chết. (…) Ai đấu tranh người đó không thể cô độc được. Điều quan trọng là sao cho lao động của anh có ích cho mọi người, sao cho lao động của anh làm giảm đi tai họa. (19/6/1944)

Tối thứ sáu 27/7, mưa rả rích. Đọc xong Nhật ký Diên An tập 2. Vô cùng cảm phục tác giả cả về đức lẫn tài.

Tuti sốt, ho nhiều từ 25/7. Con mọc hai răng hàm dưới và hai nanh trên. Từ 26 đã phải cho uống Vêgaxilin. Gần như không chịu ăn gì cả.

Trưa 26, đã đưa anh Lương một bản Từ một đóm lửa nhỏ để đăng ở Văn Nghệ thành nha van Nguyen Nguyenphố. Trưa 27, anh đến nhà, cho biết quá trình hoạt động cách mạng của anh từ 1945 đến nay đã được xác minh và kết luận là : trong sáng, kiên cường. Nghe anh kể chuyện này anh Thép Mới nói: Mười năm qua mà ông còn cầm bút mà viết được thì thật là lạ. Anh trả lời: Nếu không viết thì tôi biết làm gì… Anh Thép Mới không hiểu những người như anh Lương.

Sáng 27/7 Vũ Hạnh cho biết: anh Chính Yên liệt giường mấy hôm nay rồi, có lẽ sắp chết vì đái tháo đường. Mình nhớ hôm gặp anh ở nhà một người bạn trong con hẻm nhỏ Sài Gòn, có hàng kem que, anh bảo gọi, tôi can, anh bảo tao thèm lắm, chỉ ăn một que nhỏ thôi. Rồi anh nhờ tôi kiếm cho cái máy chữ để anh nhờ người đánh bài trả nợ bọn bộ đội quá tốt đã cưu Do Tat Loimang anh suốt mấy tháng qua. Tôi mời anh và cả người nhận đánh máy bài cho anh về nhà, đánh bài do anh đọc. Mẹ tôi làm món bún riêu cua rau ngót mà tôi hỏi dược sĩ Đỗ Tất Lợi nói là tốt cho người tiểu đường. Nhằm lúc các anh nghỉ việc, mẹ múc đưa tôi bưng ra cho hai anh mỗi anh một tô bún nóng hổi thơm phức. Mẹ hỏi anh ăn có vừa miệng không thì anh Chính Yên húp nốt bát bún, chìa ra cho mẹ nói: thay vì khen, con xin cụ cho bát nữa. Tôi mừng thấy anh vui vẻ, có khí thế rồi. Hồi làm cùng ban với anh, có hôm anh gọi tôi ra hỏi nhỏ có một đồng hai không cho anh mượn. Tao phải ăn bát vằn thắn mới viết được. Hôm chủ nhật ở nhà định viết bài cứ đi ra đi vào mãi không biết bắt đầu thế nào, nhìn thấy thùng mì mới nghĩ ra, luộc một rá con ăn với xì dầu, ăn đến đâu, nghĩ ra đến đấy. Ăn xong chỉ có viết ra là xong. Anh Chính Yên còn có biệt danh là Lính Tẩy. Một hôm đi công tác, xe của báo bị kẹt giữa cầu phao. Anh đội mũ sắt, đi giày xăng đá, áo lính vẻ dữ dằn, nhảy xuống trước xe quát to: Xe này sao không lách ra mà đi đi, bắt mọi người phía sau chờ là thế nào. Lái xe ta hiểu ý, lách ra thoát nút cổ chai. Người ngoài thấy anh có uy tưởng người ở ban bảo đảm giao thông nên nể.

Thế mà hôm nay… Chỉ một tuần sau khi anh tin là sẽ khỏi, lại bắt đầu làm việc được rồi. Nghe tin này, trưa nay anh Nguyễn Ngọc Lương bảo tôi đây là Chinh Yenmột bài học cho anh. Anh Chính Yên là một nhà báo có tài, say mê với nghiệp viết, có vốn kiến thức sách vở và thực tế dồi dào mà sắp ra đi không để lại được cái gì xứng đáng với tầm vóc của anh ấy. Thật là đau đớn. Tôi nghĩ đây cũng là bài học cảnh tỉnh tôi. Không bắt tay ngay vào làm những việc cần làm, định làm thì có nguy cơ sẽ không làm kịp hoặc tệ hơn nữa là không làm được gì có ý nghĩa hết. Phải biết gạt bỏ rất nhiều cái mình vẫn tưởng là quan trọng.

Tuti đang ngủ ngon. Đầu to mặt nhỏ quắt lại sau mấy ngày mệt không chịu ăn gì.

bat dau tu loi xung hoVừa bán lứa gà hoa mơ công nghiệp nuôi từ tháng 5/1984. Chỉ để lại một con cho đại lễ 2/9 của gia đình mình. Nhiều lần mình nói với bạn bè: Nhà báo muốn sống trong sạch thì phải biết … hót cứt gà.

Câu nói thật lòng đó xuất phát từ thực tế tôi nuôi đến 20 gà hoa mơ trong cái chuồng anh Võ Sáu thiết kế và  chỉ đạo xã viên làm tặng nhà báo, cho chở đến tận nhà, để vừa gầm cầu thang.

Sáng 31/7, cơ quan mua vé máy bay cho vợ chồng anh Chính Yên ra Hà Nội. Báo Nhân Dân ngày 8/8 dăng ở góc trang 4 hai cột tin buồn báo tin anh đã mất hồi 16:40 ngày 7/8 tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô Hà Nội, lễ tang sẽ tổ chức vào 9:00 ngày 9/8.

Trưa thứ sáu 10/8, anh Lương đến cho tờ Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh có đăng Từ một đốm lửa nhỏ, đưa cho nhuận bút 200 đồng. Không sửa chữ nào. Hóa ra bài Đường thêu Cẩm Tú là bài lần đầu mình đưa anh anh cẩn thận đến tận nơi xem viết có đúng không, rồi viết lại cho hay hơn. Còn lần này, đọc rồi anh để nguyên văn. Như ngày nào anh Thép Mới bảo: thằng này viết không chữa được rồi cho đăng nguyên văn bài Lá phiếu trên quê hương cờ đỏ sao vàng sau khi chỉ sửa có cái tít mộc mạc của tôi là Những cử tri trên quê hương cờ đỏ sao vàng.

Hai anh em uống với nhau li rượu, nói với nhau vài câu về anh Chính Yên cùng thấy là phải làm việc khẩn trương hơn, nếu không sẽ không kịp.

Báo Nhân Dân số chủ nhật 12/8 đăng bài Thưa anh Năm của mình với nhan đề mới Bắt đầu từ lời xưng hô và có sửa chút ít để không chỉ rõ là chuyện xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh. Dù sao dám đăng cũng là một chuyển biến của báo ta. Chính anh Hồng Hà hai năm trước đã kể chuyện một vị lãnh đạo cấp cao của Đảng đã gọi điện hỏi báo Nhân Dân: Ai cách chức tôi thế khi báo không đăng đủ các chức của ông. Khi nghe trả lời là theo chỉ thị mới của Ban Bí thư Trung ương thì ông trả lời: chỉ thị đó thi hành với ai chứ không thi hành với tôi.

Tối thứ ba 21/8/1984, gần 22:00 thì tắt điện, bỗng Vũ Văn Tá cán bộ công đoàn Cảng Hà Nội đến chơi. Tối thứ bảy 25/8 Lê Văn Thát bạn cũ cùng lo tổ chức học bổ túc văn hóa năm nào ở Cảng cũng đến, sau đó Tá lại đến. Ba bạn cũ tâm tình đến gần 22:00 mới dừng. Cảng vẫn buồn như xưa. Ê kíp trẻ lại có những tệ hại mới, tàn nhẫn hơn lớp già. Công nhân nhân viên vẫn thương yêu đùm bọc nhau. Hai bạn cho biết họ vẫn nhắc đến mình với lòng quí mến. Lê Văn Chà anh chàng bộ đội lém lỉnh hiếu học nay đã thành kỹ sư vẫn không quên người đã tận tình giúp đỡ động viên anh học tập đến thành tài.

Mình rời Cảng năm 1972 khi cảng vừa hết khói bom đạn Mỹ, vừa tròn một con giáp. Ngô Tiến Thái đọc những bài mình viết trên báo Nhân Dân bảo anh có phần nhờ được rèn luyện ở cảng. Đúng là chưa khi nào mình không nghĩ đến những người lao động nặng nhọc, thông minh, giàu lòng nhân ái đã cùng sống gần chục năm thời trai trẻ. Trong con người mình như vẫn có một công nhân bốc vác lực lưỡng trung thực chịu chơi. Đó là điều ai tiếp xúc với mình cũng lấy làm lạ: Mình ít vẻ trí thức quá.

Từ ngày 4/9, cháu Nguyễn Hoàng Hải con trai cả của em Nhàn lên học lớp 12 ở Trường Nguyen Hoang HaiĐại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, sống nội trú ở ký túc xá đường Hòa Hảo gần trường, do tỉnh góp vốn xây dựng để đào tạo thế hệ tương lai cho tỉnh nhà Minh Hải. Mấy hôm chưa vào học, Hải về nhà luôn. Cháu vui vẻ, ngoan nhưng gầy quá. Tuti có anh rất thích. Mới ngày nào đưa Hải đi nhà trẻ Mầm Non ở đường Quang Trung Hà Nội, nay đã sắp vào đại học. Sau em Hà cũng về Hà Nội, cái xe vĩnh cửu nam của mình chở Hà đằng sau, Hải là bac si Ngo Van Quyanh phải ngồi trên gióng xe trước mặt bác. Trời mưa, che áo tùm lum kín cả hai anh em và bác ở giữa, Hải bảo nếu có cái cửa sổ ni lông trong thì hay quá. Tối thứ bảy, lại đèo hai anh em đi xem vô tuyến truyền hình ở hội trường cơ quan báo Nhân Dân. Ai cũng khen chú Thành tẩm ngẩm thế mà có hai thằng con trai xinh quá. Các cô thì bĩu môi, đến vợ còn chưa có lấy đâu ra con mà các bà khen. Thời gian qua thật nhanh. Bây giờ con bác gọi cả hai em họ là anh Hải anh Hà. Mừng là hai anh đều thương em.

Chiều thứ sáu 23/11, bác sĩ Ngô Văn Quỹ, nhận lời mình mời buổi sáng đạp xe đến nhà Pham Thi Gia viet thukhám cho mẹ. Gần nửa tháng nay mẹ mới cho mình biết là ở chỗ thái dương phải, ẩn trong tóc mai cách đây mấy tháng có nổi lên một khối u to bằng hạt ngô. Nay thì to ra…Mình xem và giật mình khối u đã lớn thành một tảng dầy, to đen như hạt gấc, nhăn nheo, sần sùi. Anh Quỹ khám và nói riêng với mình: Nguy đấy! Rồi anh hẹn tuần này sẽ khám để mổ cho mẹ tại bệnh viện ung thư của anh.

Tối 22/11, mẹ ngồi cặm cụi viết thư ra Đà Nẵng khuyên cô Vinh em bố bình tĩnh chờ ngày mổ mắt đục thủy tinh thể. Theo ý mẹ, sáng 25/11, cháu Hải cùng gia đình mình đưa mẹ đi Thảo Cầm Viên chơi từ 8 giờ đến 11 giờ mới ra về, ghé thăm nhà bác Kỷ, tiếc là bác gái bạn mẹ đi vắng. Chiều mẹ gội đầu cẩn thận bằng nước gội do anh Đại gửi về vừa thơm vừa mượt tóc.

Chiều chủ nhật, anh Quỹ báo mình sáng thứ hai 3/12 đưa mẹ đến bệnh viện ung thư thành phố khám. Mẹ dậy sớm, ăn bánh mì ba tê cùng cả nhà. Món này, thời gian gần đây mẹ thích nhất. Mẹ bảo đêm qua hồi hộp, ngủ chập chờn, thức dậy đến mấy lần…

Mẹ đi mang theo cái túi đen quen dùng. Trong đó, có một ly nhựa nhỏ, một khăn mặt trong túi ni lông, mấy chiếc túi ni lông không, một khăn quàng và một… ống son. Mẹ sẵn sàng nhập viện ngay hôm nay. Khăn quàng và ống son là để khi ra về sau mổ cũng tươm tất, kín đáo.

Thứ bảy 8/12, anh Quỹ đưa mẹ đi khám xong viết thư giới thiệu với bác sĩ Lâm Ngọc Ấn viện trưởng Viện Răng – Hàm – Mặt nhờ mổ hộ. Bác sĩ Ấn xem thư, xác nhận chẩn đoán của Bệnh viện Ung thư là đúng: Papillome Corné và cũng tán thành cách xử lý : mổ sâu rộng, không có dấu hiệu gì là malignité. Ông hẹn chiều thứ hai (10/12) đến khám và lập hồ sơ.

Nhân viết thư trả lời chị Thủy về chuyện cháu Ngọc tôi có báo cho chị việc mẹ đi mổ.

Suốt cả ngày 12/12, hai mẹ con mình cứ luẩn quẩn ở bệnh viện răng – hàm – mặt và bệnh viện Chợ Rẫy. Hai bệnh viện này thông nhau, cùng trên đường Nguyễn Chí Thanh. Chiều thứ hai đến làm hồ sơ, hẹn sáng thứ tư nhập viện. Hai mẹ con lo thân đi sớm, nộp tiền gạo thức ăn (240 đồng/10 ngày) rồi chờ, chờ chán chê đến 9:30 mới đo huyết áp. 200/140, quá cao, không nhập viện được. Bèn ra ngoài ăn uống qua loa, chờ bác sĩ Ấn mổ xong một ca phức tạp, đến 13:45 mới gặp được. Bác sĩ giới thiệu sang  khoa nội bệnh viện Chợ Rẫy. Khám tim, đo lại huyết áp. 210/140, còn cao hơn trước. Không mổ được. Bác sĩ Hữu ở Chợ Rẫy cho đơn. Mua thuốc nội bệnh viện, thiếu, phải đi mua thuốc ngoại. Ba viên aldomet 0.25 x 20đ, 10 viên lasix 19đ. Vừa hết 250 đồng mẹ mang theo. Mà đơn thì mỗi thứ những 20 viên.

Tội nghiệp mẹ lo lắng mệt mỏi vì đi lại quá nhiều, chờ đợi cũng nhiều. Từ nay lại phải kiêng mỡ, kiêng mặn, trái hẳn với thói quen của mẹ. May mà mẹ không biết là giấy tờ nào các bác sĩ cũng ghi maligné? (Ác tính). Cái án nặng nề đó chưa xóa được. Còn bao đau khổ rắc rối bắt đầu từ chuyện này mẹ sẽ phải chịu đựng. May mà bác sĩ Ấn tốt bụng rất ôn tồn bình tĩnh không khiến mẹ lo thêm.

Sau một tuần uống thuốc hạ huyết áp, ăn kiêng nghiêm ngặt, cách ngày lại đo huyết áp Le Thi Dong chup luc Tuti 2 tuoimột lần. Sáng 19/12 mẹ đã được nhập viện. Sáng hôm sau bác sĩ Ấn đến khám. Huyết áp lại lên do ngừng thuốc, một tay 170, một tay 180.

Vắng bà Tuti nhớ lắm. Chiều 19 cho vào thăm bà, lúc về bị mưa to phải ghé nhà cậu Vượng mượn áo mưa che cho hai mẹ con, bố ướt như chuột lột. Sáng hôm sau, con lại đòi mua xôi gấc để đưa cho bà và đòi đi tìm bà nội. Sáng 21, cũng đòi đi tìm bà nội.

Chiều 19 cháu Hải cũng vào. Trưa 20 lại vào thăm rồi cùng mình về nhà mang màn và đồ dùng cá nhân cho bà. May mà có Hải ở gần bệnh viện. Tối cô Thìn cũng lại hỏi chỗ bà nằm để bà ngoại vào thăm. Đối với mọi người mẹ chỉ nói là bị huyết áp cao bệnh viện giữ lại theo dõi thôi, không muốn nói gì đến mổ xẻ. Hằng này, mình vào trưa, Đông vào chiều, đến khi mẹ mổ thì Đông nghỉ làm vào trông nom bà.

Mấy hôm nay, gia đình mình sống thật kỳ lạ. Hoàn toàn ăn ở bệnh viện: Hải thổi cơm và tráng trứng ở ký túc xá mỗi ngày mang sang bệnh viện hai bữa trưa chiều. Cháu biết nghĩ và chịu khó. Tối 24, thanh niên đua nhau đi chơi Nôen, thì Hải nhận lệnh của bác Thành mang thuốc hạ huyết áp vào cho bà uống kịp mổ an toàn. Tối ấy, viện Răng – Hàm – Mặt đóng cửa cả trong lẫn ngoài. Hải phải chui cửa sau, leo cây lên mái hiên, lẻn vào buồng lay bà dậy buộc bà uống thuốc ngay trước mắt cháu theo lệnh bác. Sớm 26, bà sắp mổ, cháu lại mang thuốc vào theo lệnh vì sợ đưa trước bà uống lầm thì nguy.

25/12 Nhàn từ Bạc Liêu lên. Sáng 26 Đông dẫn Nhàn vào bệnh viện. Đúng sáng bà được Ton Nu Thi Thanh Nhan (gan day)mổ. Bác sĩ Lâm Ngọc Ấn mệt mỏi, nhưng giữ đúng lời hứa với bác sĩ Quỹ, đã đến mổ đúng một ca của bà rồi về nghỉ. Ca mổ chỉ mất 20 phút, gây tê. Mổ xong, bà khỏe bình thường, vui vẻ. Tối ấy, Nhàn ngủ lại viện với mẹ, sáng sau về ngay Bạc Liêu. Đông ở với bà, tối về với con. Từ chủ nhật 30, Đông ở luôn cả đêm. Tuti cũng cùng ngủ lại với mẹ. Bà bị cảm, nôn, không muốn ăn gì cả. Đêm mới ăn một ít. Sáng 1/1/1985 cảm thấy dễ chịu, mới ăn một lát bánh mì với nước đường. Phải tiêm thuốc chống nôn. Giá đắt kỳ lạ: 80 đồng một ống Spasmavérine tiêm mông. Nhưng tiêm vào là đỡ ngay mà còn kéo dài. Đành mua hai ống. Từ 29/12/1984 đã viết thư cho anh Đại, chị Thủy báo về tình hình mổ của mẹ. Chị viết thư báo tin em trai chị là Viễn đã mất. Bệnh thần kinh làm cuộc sống của Viễn quá khổ sở, không ra người nữa. Mặc dù Viễn vẫn là con người rất tốt. Chị cũng báo sẽ gửi 1.000 đồng lo cho mẹ và 1.000 đồng lo cho Ngọc lên ăn ở nhà mình. Tin là sẽ có tiền, mình mạnh tay chi cho sức khỏe mẹ mau phục hồi.

Sáng 1/1/1985, 6:30 mình đã có mặt ở viện mang theo bánh mì nóng, thịt kho trứng, táo Thiện Phiến Hà Nội, áo cho mẹ và Tuti, rồi đường… Và cả rađiô nữa. Dù sao cũng là Tết Tây.

Ngày 6/1, mẹ phải khâu vết mổ bằng chỉ kim loại vì vết mổ nhiễm trùng. Pênixilin tăng, prednisolonc cũng uống gấp đôi. Cậu Tuyên vào, mình đưa cậu đến thăm mẹ đúng lúc vừa khâu chỉ thép trông rất thương, mệt mỏi, nhợt nhạt. Chiều 5/1, Tuti vào nằm ngủ với bà và mẹ. Sớm 6/1 mình dậy sớm nấu cơm nồi áp suất và thịt kho trứng đủ ăn cả ngày, kèm đó là dưa chua. Toàn món hợp khẩu vị mẹ, Mẹ  ăn đã ngon miệng. Thèm ăn đậu cô ve luộc, mình lại đi mua rồi Đông mang sang ký túc xá cho Hải luộc. Tối cơm xong mới về nhà. Tuti ấm đầu phải cho uống thuốc giảm sốt ngay. Vì con mà nghỉ ở nhà là mọi việc hỏng hết. Ai lo cho mẹ đây.

Tuti sốt, ở nhà từ thứ hai đến hôm nay là thứ năm 18/1/1985. Mình cũng cảm sốt, chỉ đi họp có một buổi, còn ở nhà trông con. Sáng nay mới đi họp lần nữa. Chiều vào viện thì biết bà sẽ phải khâu lại một vài mũi vì bị sút. Có lẽ vì kháng sinh ít tác dụng làm bở các mép vết mổ. Cháu Hải thương bà cũng không về nhà ăn Tết như đã định, mặc dù đã chuẩn bị xong đồ đem về và có xe của tỉnh đến tận ký túc xá đón con em tỉnh về tận nhà. Cháu bảo mồng hai về cũng được. Từ tối hôm qua cháu vào ngủ tại bệnh viện.

Đông là kế toán trưởng công ty, nhưng giám đốc Khanh quá tốt cho làm việc tại…bệnh viện! Có giấy tờ gì cần ký, hoặc nhân viên cần hướng dẫn thì đến giải quyết tại chỗ. Chỉ vì kế toán trưởng đã nói rõ với giám đốc: Tôi bỏ việc thì được, chứ không bỏ mẹ tôi được. May là mọi việc trôi chảy. Hằng này, tôi đem quần áo về ngâm xà phòng, 4:00 là dậy, giũ và phơi quần áo. Xong lo nấu cơm bằng nồi áp suất ăn cả ngày. Món ăn đơn giản nhưng là những món hợp khẩu vị mẹ. Vợ chồng tôi thì sao cũng được. Từ khi mẹ mổ, Đông ở hẳn trong viện. Sau đem con vào luôn. Sợ nằm trên giường đêm bà có chuyện cần giúp, thì con dễ lăn xuống sàn bị thương nên hai mẹ con trải chiếu, chăn nằm ngủ ngay trên sàn cho chắc ăn. Chủ nhật, bao giờ cũng vui. Mẹ thích ăn miến, tôi làm một con gà hầm nồi áp suất, đem nguyên nồi và miến, hành mùi rau cải xanh, hạt tiêu đến viện. Cái bếp dầu đặt ngay chỗ cầu thang lên khu mẹ nằm. Bếp nổi lửa, miến nóng hổi ngon lành có dận ít rau cải xanh mẹ thích cùng thịt gà mềm, nước dùng cực ngon mẹ ăn ngon lành lắm. Mẹ không ngờ con trai mẹ tay nghề cũng khá. Ngày thường đâu có được làm, chỉ nhìn hỏi và ăn mà nay có nghề. Tôi muốn, chủ nhật phải khác ngày thường và gia đình bao giờ cũng phải vui vẻ.

Tối 12/1, em Nhàn lên. Sáng 15 cháu Hải về. Tối 17, em Thân từ Hà Nội vào mang theo Ton That Thanthuốc và 3.000 đồng cậu Khuê gửi. Em cũng biếu mẹ 3.000 đồng. Em may mắn gặp mẹ tại nhà, đang cuốn nem rán, món ăn cả nhà thích nhất trong những dịp Tết sum họp cả nhà. Mình đưa mẹ về từ 16/1. Vết mổ còn lộ rõ to bằng cái mặt đồng hồ đeo tay vì da chưa lên kín, người ngoài trông rất thương. Nhưng mẹ vẫn chăm chú cuốn nem rán, vì không thấy vết mổ tận thái dương, lại không còn đau đớn gì nhiều nên vui cũng quên đi.

Ngày 25/1, mẹ lại phải vào viện. Sáng sớm 25/1 em Thân ra Hà Nội. Tối 27 cháu Hải lên. Sáng 29 em Nhàn về Bạc Liêu. Hằng ngày, Hải ở bệnh viện với bà từ 18:00 đến 11 giờ hôm sau. Trưa, chiều đều ăn ở nhà với mình. Ngày 30/1, dì Hỷ gửi biếu mẹ 3.000 đồng và hoa hòe trị huyết áp cao.

Cứ tưởng mọi việc xui xẻo đến thế là đủ rồi, ai ngờ lần này tai họa lại giáng xuống đầu mình một cách quá bất ngờ. Hai bố con nằm chơi trên giường lúc chiều tà chờ mẹ đi làm về thì có tiếng tùng chèng của xe đẩy bán đồ chơi trẻ em đi qua ngõ. Họ đánh trống và đập chũm chọe. Con quen được bà nội chiều, cứ có tiếng tùng chèng như thế là bà bế ra cổng sắt khu tập thể, bám vào cánh cửa vừa đu đưa vừa xem xe cộ qua lại. Biết tính con, tôi cũng bế con ra. Khi đi, con với tay lấy một cái thước kẻ vẫn dùng đập đập gây ra tiếng động mới thích. Không ngờ con vung tay mạnh thế nào, chọc ngay cái góc thước vào đúng mắt phải tôi. Đau quá. Tôi vội bế con về nhà. Con giận, đánh tôi dữ dội. Tôi bế ngay lên gác, con càng đánh dữ, vừa đánh vừa khóc. Tôi đặt con lên giường, rồi nằm phía ngoài để ngăn con ngã xuống sàn. Con vừa la hét, vừa khóc và đánh tôi dữ dội. Tất nhiên bằng hai nắm tay bé xíu. Lúc ấy tôi mới thấy câu Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng là đúng. Đau không thể tả được. Tôi cố nằm im, tay che mắt, sợ bị động chạm thì chết mất. Vợ tôi về, hốt hoảng thấy cửa mở toang, lại thấy con khóc, bố nằm im như khúc gỗ. Tôi nói vợ nấu cơm cho hai bố con ăn, rồi lấy trong ngăn thuốc ra cho tôi cái hộp nhỏ có đựng thuốc ngủ, để tôi ăn rồi uống thuốc, ngủ một giấc, sáng sẽ đi bệnh viện. Vợ lặng lẽ làm theo yêu cầu. Sau đó tôi chìm vào giấc ngủ, chỉ có ngủ mới chịu được cơn đau thứ nhất này.

Sáng hôm sau, đưa con đi nhà trẻ phường rồi vợ đi xe đạp Phượng Hoàng đen bảo bối chở tôi đi. Tôi ngồi sau lưng vợ, đeo kính đen lót chặt cái khăn tay chèn cho mắt đỡ đau, miệng luôn hỏi đến đâu rồi để còn chỉ đường. Vũ Hạnh sau này gặp tôi kể là lấy làm lạ sao cậu lại để vợ đèo ì à ì ạch mãi mới đi được một đoạn lại ngừng lại hội  ý rồi mới đi tiếp. Đến bệnh viện, bác sĩ khoa mắt khám qua loa rồi cho về bảo mua thuốc mà nhỏ. Các cô còn bận bàn chuyện nhà máy điện nguyên tử Trécnôbưn ở Liên Xô nổ, có lẽ sẽ ảnh thưởng đến nước ta không chừng. Chúng tôi lại ì ạch về trạm y tế quận 3 ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Cô y sĩ thật tốt đã gửi tôi lên bệnh viện Nguyễn Trãi bực mình nói: Thấy người ta thế này mà còn cho về… Rồi cô nhỏ mắt cho tôi mấy lần bằng những thuốc khác nhau xong dặn mua thuốc uống theo đơn, về cứ một giờ nhỏ một lần. Ngày hôm sau lại đến. Vợ tôi nghĩ chỉ còn cách nhờ cô Thìn là em gái ở ngay đầu phố. Cô Thìn đúng 8 giờ sáng hôm sau đi xe máy đến đón tôi, chờ làm thuốc xong lại đưa về. Sáng sau, chú Ninh chồng cô đến sớm hơn, tôi chưa kịp ăn sáng. Chú bảo em đưa anh đi ăn sáng. Rồi cứ thế Co Thin chu Ninhmỗi sáng mỗi quán, món nào cũng ngon. Hóa ra quanh chỗ tôi ở bao nhiêu quán ngon mà chúng tôi đâu có biết, chỉ ăn ở nhà, hết mì lại cơm. Hơn nửa tháng trời cứ như thế đến khi tôi khỏi hẳn. Sau tôi hỏi cô Thìn vì sao lại lo cho tôi quá như thế. Cô kể có một chú giúp việc xay thuốc nam bị một hạt sạn bắn vào mắt, cứ dụi mãi, sau nhiễm trùng phải múc con mắt. Em sợ anh bị như thế. Mọi người ở Vườn Anh Đào đều biết tôi đau mắt vì chiều ấy bế con ra cổng chơi, bị cành cây hoa giấy phạt nhọn đâm phải mắt. Sau này, năm 2010, con trai đưa tôi đi mổ đục thủy tinh thể thấy phải ba bác sĩ mới đặt được thủy tinh thể vì màng treo bị rách, không lắp được thủy tinh thể plastic phải chuyển sang loại thủy tinh thường. Con hỏi, tôi mới kể chuyện cũ hơn 25 năm trước. Hồi ấy mẹ ở viện, nghe tin tôi đau mắt, đòi về đỡ việc nhà cho vợ tôi.

Đông đi làm được mấy ngày lại phải xin nghỉ phép mỗi ngày một buổi. Buổi sáng làm việc xong, ăn cơm mang theo rồi vào viện, thường 14:00 hoặc trễ hơn mới về đến nhà, còn đón con, làm cơm. Mẹ vẫn huyết áp cao 190, 200. Vết mổ thì đang lành dần với điều kiện để hở hoàn toàn. Nếu băng kín sẽ lại mưng mủ. Vẫn chưa có tin gì về kết quả thử nghiệm. Hình như mất mẫu thử rồi. Mổ vào Nôen nó khổ đủ đường. Như vậy là rất khó điều trị. Hằng ngày mình căn cứ vào số đo huyết áp của mẹ mà bốc thuốc rồi đưa Đông mang vào bệnh viện. Thuốc mua cũng khó. Mỹ cấm vận mà. Có 6 viên alđômê mà hai bố con đi suốt ba quận dưới trời nắng mới mua được. Đúng là đùa với Thần Chết. May là mẹ không biết gì hết về những lo toan của vợ chồng mình nên vui vẻ lắm. Bà còn có nhiều bạn mới ở viện.

Chủ nhật 17/2 mẹ về nhà chơi. Sáng thứ hai, xin cho mẹ ra viện. Vừa may bệnh viện cho biết đã có kết quả sinh thiết: Hồ sơ 3665 U nhú hắc tố Pigmented papillome – bác sĩ Hạnh gửi – Phòng xét nghiệm – Ngày 5/1/1985. Như vậy là họ đánh mất giấy tờ, nay mới tìm ra. Chứ nơi xét nghiệm làm không chậm. Mổ 26/12/1984 mà 5/1/1985 đã trả lời. Tuy vậy, bác sĩ Lâm Ngọc Ấn vẫn nói: Bọn nó làm ẩu lắm, chưa chắc đã đúng, nên cẩn thận.

Chiều 18 đã đánh điện cho em Thân: U lành, mẹ ra viện 18, khỏe. Sẽ còn gửi thư nói cho rõ hơn.

Cả ngày 26/2 dẫn nhà báo Đức Bernd Fineis xuống hợp tác xã may Đại Thành, xí nghiệp đánh cá thành phố và Tòa soạn báo Sài Gòn Giải Phóng. Đi cùng Lê Thấu, bạn từ cấp II, nay làm phiên dịch Nga văn. Thấu rất ngạc nhiên thấy mình nói với khách bằng tiếng Đức. Tiếc là cái vốn tiếng Đức đã ít ỏi lại rơi rụng khá nhiều sau năm năm không rờ tới còn gì.

Rất lạ là mùa này mà một ngày mưa tới ba trận. Sáng và nhất là tối mưa khá lớn. Dễ ốm lắm.

Ngày 27, em Thân gửi thư rất mừng vì đã nhận được điện. Mình cũng đã gửi bản tin cuối về sức khỏe mẹ.

Sáng chủ nhật 3/3 hai bố con vất vả đi mua được 17 ký gạo tiêu chuẩn … tháng 1/1985. Thành phố đang hô hào nhân dân gửi tiền tiết kiệm để mua lương thực. Cái ăn hằng ngày để sống còn là mối lo lâu dài của người Việt Nam mình. Đau xót nhất là chính giới trí thức càng bị ảnh hưởng đậm. Cái tên bà Ba Thi giám đốc công ty lương thực thành phố nổi lên như vị cứu tinh của nhân dân lúc này.

*

*       *

Tối hôm 3/3 ấy, Đông hỏi: Anh thích con trai hay con gái. Và báo tin có lẽ đã có mang.

Anh Danh chi ThaiMình và mẹ đều phấn khởi. Bàn cả chuyện mua xe solex chở Đông đi làm cho đỡ mệt, mẹ dặn Đông giữ gìn sức khỏe. Hóa ra cả nhà mình và me đều tin là rồi cuộc sống sẽ khá hơn, không lẽ cứ khổ mãi như thế này sao. Sợ vất vả lúc này, sau muốn có con thêm cũng muộn mất rồi…Người ngoài ai cũng cho là mình liều.

Chiều chủ nhật 24/3 anh Nguyễn Đảnh và vợ là chị Vũ Bích Thái dẫn đi mua xe solex, cũng là xe máy, nhưng máy ở Xe solexđầu xe, có rulô đè lên bánh trước làm xe chạy. Vừa may, tối đó em Nhàn, cháu Ngọc và Hùng từ Minh Hải lên. Chị Thủy cũng vào hai hôm trước. Sáng 29, nhóm Bạc Liêu về. Hôm sau, chị Thủy cũng về Hà Nội. Solex đã chở các cháu Hải, Hùng, Ngọc, chị Thủy, Đông, Tuti và mẹ. Ai cũng thích.

Khoảng giữa tháng 4/1985, Đông phải nghỉ hai ngày vì thai hành. Bà Phạm Lệ Hằng, vợ cụ Nguyễn Hữu Chương bạn vong niên của mình đến khám và bốc cho mấy thang Pham Le Hangan thai, bắt đầu uống từ 15/4. Bà xem mạch và phán: Có lẽ con gái. Đối với vợ chồng mình thì gái hay trai đều thích cả. Chỉ có mẹ là thật lòng vẫn mong kỳ này lại sinh cháu trai. Bà bảo: Sinh con trai cho chúng nó chơi với nhau. Nhưng mình thì hiểu bà sốt ruột với hai ông con trai là anh em mình cưới trước mà chỉ đẻ rặt con gái, mãi đến mình 38 tuổi mới cưới, lại đến 43 tuổi mới có đích tôn cho bà, bà vui nhưng vẫn chưa yên tâm. Bà muốn có thêm một cháu trai nữa cho nó chắc. Các cụ xưa nay vẫn cẩn thận thế. Mẹ mình năm ấy cũng đã 75 tuổi rồi còn gì.

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/3/2020

Đang trong kỳ cách ly vì dịch Covid-19

P.T.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục: Tam đại đồng đường ở Vườn Anh Đào

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:58 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 6 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

TAM ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG Ở VƯỜN ANH ĐÀO

Phạm Tôn

Từ trước khi vợ tôi sinh con, mẹ đã lên sống với chúng tôi tại căn gác nhỏ một buồng  ở Vườn Anh Đào. Sau khi có con, gia đình chúng tôi bận rộn hơn, nhưng cũng vui hơn trước. Anh em ở xa tận Hà Nội và Minh Hải, nhưng bạn bè mới quen sau 1975 ở Sài Gòn cũng không ít. Nhà nhỏ, chỉ có nước trà, nhưng thường được khách đến chơi.

Ngay từ sơ sinh, con tôi may mắn được chị Thanh Hảo phóng viên báo Nhân Dân cùng ở Ba Ti va Huong GiangVườn Anh Đào lên nhà, bảo có phìm màu, ra sân chụp ngay tấm ảnh. May thay hôm đó cháu Hương Giang con em Thân tôi vào chơi, thành ra có cái ảnh rất đẹp, màu sắc hài hòa, bà nội phải cố giữ cho đích tôn có tư thế ngay ngắn, cái đầu to giống bố cứ ngặt về sau.

Hương Giang bấy giờ đã có em, nhưng là em gái. Nay vào thăm bà nội nhà có em trai, rất yêu em. Được bà giao nhiệm vụ trông em và trao cho lọ nước thần còn dặn kỹ cách thấy em cựa quậy thế nào thì đưa lọ ra hứng, em sẽ không tè ra giường. Phải nhớ là em bao giờ cũng tè ba đợt liên tiếp. Hết ba đợt mới cất lọ nước thần đi. Cháu làm rất đúng lời bà dặn. Mọi việc đều thuận lợi. Nhưng có một lần, thấy có dấu hiệu mà mãi em chưa tè. Chị buồn ngủ quá, ngủ gục ngay bên đùi em. May không xảy ra việc gì. Chuyện này thuộc loại chuyện mật của gia đình. Không ngờ sau này cùng chồng (cưới năm 2009) Hương Giang vào thăm nhà bác, trước mặt cả em trai, chính thạc sĩ y khoa Hương Giang đã vô tư hồn nhiên kể lại chuyện này làm cả nhà bật cười.

Ba be Ti - Bo me ti va ba

Sáng mồng bốn Tết Giáp Tý (5/2/1984) con trai tôi sắp đầy năm thì bạn Lê Cương đến chơi. Anh là phóng viên Việt Nam thông tấn xã  từng đi với tôi chuyến tàu hoả đầu tiên khởi hành cuối năm 1976 nối liền Sài Gòn với Hà Nội sau 30 năm bị chiến tranh phá hoại chia cắt. Gặp mặt toàn gia tam đại đồng đường, anh chụp cho hai bức ảnh: mẹ tôi bế cháu đích tôn dưới nắng xuân và toàn gia bốn nhân mạng tại nơi sinh sống là căn buồng nhỏ nhếch nhác nhưng ấm cúng. Con trai hiếu động không thể ngồi yên, Lê Cương đành bấm máy khi đa số đã sẵn sàng để anh chụp, mặc cho thiểu số tự do hành động. Năm ấy, mẹ tôi 71 tuổi tôi 44 và vợ tôi tròn 40. Cưới từ 1978 nhưng đến 1983 vợ tôi 39 tuổi mới chịu sinh cho mẹ chồng cháu đích tôn. Ngày 2/9 cũng năm ấy, theo lệ hằng năm chúng tôi kỷ niệm ngày cưới rồi ra Hồ Con Rùa thuê chụp một bức toàn gia. Năm nào cũng chụp ở đây, chỉ vì gần nhà, đi bộ ra rất tiện.Bo Me Ba Noi va Ti o ho con rua

Chúng tôi sống những năm đầu cuộc sống gia đình trong tình hình khó khăn chung của cả nước sau chiến thắng nhưng vẫn bị cấm vận, nền kinh tế chưa chuyển đổi kịp với tình hình mới, đang ở thế cùng chờ ngày tắc biến hai năm sau đó. Nhưng có nhau là chúng tôi vui. Mùa Trung thu, nhà tôi ăn Tết cả tuần liền. Mỗi chiều đi làm về, tôi ghé quầy bánh trên đường Hai Bà Trưng mua một cái bánh. Mỗi hôm một loại khác nhau, đủ thứ bánh dẻo, bánh nướng, thứ nào ngon mới mua, nhưng chỉ mua một chiếc. Về nhà thì cả nhà sum họp, mẹ pha trà, tôi cắt bánh, mỗi bánh chia thành bốn miếng đủ cho nam phụ lão ấu tam đại đồng đường. Kiểu ăn này tôi học theo cách bán bánh cho khách uống bia của quán Đô Thành ở phố Hàng Hành Hà Nội năm xưa, cứ đến mùa Trung Thu là bánh đều cắt làm bốn cho khách ít tiền cũng được thưởng thức đủ món ngon.

Tết Nguyên đán, ít nhất cả nhà cũng đi chơi khu chợ Tết Bến Thành hai lượt. Chủ yếu để xem chợ Tết và người Sài Gòn sắm Tết thế nào, còn mua thì phải chờ sau khi cơ quan phân phối những hàng Tết theo tiêu chuẩn cán bộ loại E được những gì, rồi thiếu thứ nào mới mua. Khi đi thì tôi đạp một xe đèo con trai ngồi trước mặt, trên ghế nhỏ. Vợ chở mẹ ngồi sau trên xe Phượng Hoàng đen vững chắc hơn. Nhưng vợ khỏe mạnh mà lại nhát. Đến gần chợ đông người đi xe nhanh thì luống cuống kêu cứu. Tôi phải đỗ xe, đưa mẹ sang ngồi sau lưng xe tôi còn con trai vẫn đằng trước để còn chỉ trỏ. Xem chợ chán rồi mua nước mẹ uống, kem con ăn, rồi thong thả ra về. Bỗng con trai ngoặt đầu, hóa ra anh cu buồn ngủ rũ ra rồi. Đành vòng tay phải ôm con trai, tay trái lái xe. May mà xe đã được thay ghi đông và pô tăng toàn bằng sắt, nên không bị gãy như năm nào mang quà Bắc vào nhà bà dì mà bị gãy ngã đau, dì phải cho mật gấu uống mãi mới đỡ.

Mẹ tôi vẫn dùng bốn cái lon vỏ hộp sữa bò nấu bốn bữa cháo có rau củ khác nhau hầm với nước ninh chân gà và một lon chè đậu xanh đường phèn, cho vào nồi áp suất Liên Xô Ba me va ti chup cung canh daoanh Đại mua hộ, nấu một lượt là cháu ăn đủ cả ngày ngon lành. Có bà chăm cháu lớn lên trông thấy ai cũng yêu. Bác Nguyễn Thị Yến bế con ra ngã tư đầu hẻm 62, mấy bà bán bún bán chè khen cháu đẹp , nhưng lại  bảo thằng bé giống Tây quá. Bác Yến cười thì bố nó là người Pháp sao nó lại chẳng giống Tây. Con chẳng biết sao mọi người cứ nhìn mình cười, cũng cười theo.

Gia đình vợ tôi có đến 14 chị em. Cho nên buổi họp mặt sáng mồng I Tết không gia đình nào vắng mặt, cuộc họp mặt ấy thay các cuộc chúc Tết nhau. Ông bà ngoại ngồi giữa con cháu đông đúc vui vẻ. Sáng mồng I, gia đình tôi dậy sớm, mẹ tôi đã áo dài tóc tai gọn ghẽ đứng sau cành đào nở rộ do trời miền Nam nóng. Từ nhiều năm, chị Tửu năm nào cũng gửi cho chậu quất hoặc cành đào do các con đi tàu hỏa Bắc – Nam đem đến tận nhà. Tôi chụp ảnh mẹ và vợ con xong thì xin phép về bên ngoại. Ở đấy, chúc Tết hai cụ và chào hỏi vui vẻ anh chị em và các cháu xong, tôi xin phép hai cụ về nhà ăn cơm với mẹ. Cụ ông bảo làm con phải thế và bảo các em gái chọn quả ngon gửi biếu mẹ tôi. Mẹ thấy tôi về mới thắp nhang trên bàn thờ. Đêm giao thừa nào đúng lúc chuyển giao năm cũ sang năm mới, chỉ còn hai mẹ con, tôi cũng thay mặt gia đình chúc mẹ mạnh khỏe, nhiều may mắn trong năm mới. Mẹ cũng nắm tay chúc tôi khỏe hơn và gia đình hạnh phúc. Không bao giờ ngày Tết mẹ phải ăn cơm, cúng bái một mình.Bac Dai va Ba noi

Chúng tôi sống vui vẻ với nhau như thế cho đến cuối năm 1984. Mẹ tôi bị u nhú hắc tố to như hạt gấc ở ngay thái dương phải. Vào bệnh viện mổ với chỉ dịnh mổ sâu, rộng. Gia đình tôi có hồi sum họp trong bệnh viện. Vợ nghỉ làm vào chăm mẹ, con còn nhỏ cũng vào nằm sàn cho khỏi ngã. Chồng nấu nướng, giặt giũ, đem vào bệnh viện. Mẹ ra viện thì vợ tôi tưởng có thai, không ngờ bị thai trứng, xuất huyết như hành kinh, lại phải vào viện, nằm đến mấy tháng, nạo, mổ. Con ở nhà, may có bà chứ một mình tôi biết xoay xở ra sao. Rồi cũng qua cả. Gia đình tôi lại êm ấm sum họp trong căn buồng nhỏ ở Vườn Anh Đào, sống giữa tình thân ái của bạn bè trong khu tập thể. Bạn bè anh em ở xa cũng thường thăm hỏi giúp đỡ chi viện.Trung Dung (Meo) va ba co

Chúng tôi cứ sống với nhau như thế trải qua nhiều vui buồn cho đến ngày 22/2/1992, đúng sinh nhật tôi lần thứ 52, mẹ tôi về Bạc Liêu cùng cháu Hải rồi ở đó đến cuối đời tại nhà em gái tôi với chồng và bốn con ba trai một gái. Đến năm 2000, nhờ em Phạm Thanh Tuyền lúc đó đã là cán bộ có xe hơi đưa đón riêng, mới đưa được gia đình tôi xuống Bạc Liêu thăm mẹ. Lúc đó mẹ tôi đã nằm bệnh viện Bạc Liêu đang lúc bệnh viện xây dựng lại, nhếch nhác, vôi vữa bẩn thỉu. Tối hôm đó bệnh viện bảo gia đình đưa mẹ về nhà. 11:20 đêm ấy mẹ tôi qua đời ở tuổi 88. Dạo ấy, tôi đang mệt nặng, nhờ em Tuyền mà cả nhà tôi được gặp mẹ. Đấy là lần gia đình tôi sum họp với mẹ lần cuối. Năm 2006 mới cải táng đưa tro cốt mẹ về chùa Vĩnh Nghiêm, chỉ cách nhà tôi 500 mét.

Cứ nhớ mãi tam đại đồng đường sum họp ở Vườn Anh Đào những năm xưa.

Thành phố Hồ Chí Minh 2/5/2020 mùa Covid-19

P.T.

Tháng Năm 30, 2020

Chuyện một người cháu ngoại_Vườn Anh Đào (P11)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 6 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

4- Vườn Anh Đào (11)

Sáng 12/1/1983, một bài báo của mình đăng trên Sài Gòn giải phóng đã làm sôi nổi cả hội nghị tổng kết ngành tiểu thủ công nghiệp bốn quận lớn nhất thành phố Hồ Chí Minh là quận 5, 6, 11 và Tân Bình. Khi tổng kết hội nghị, chủ tọa đã nhắc đầu tiên đến bài báo Suy nghĩ về trường hợp của Hợp tác xã Cơ khí Sài Gòn II, nhiệt liệt hoan nghênh bài báo đã chỉ ra con đường sống cho nhiều hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Đây là bài thứ hai về công nghiệp mình gửi báo này. Bài thứ nhất đăng ngày 29/12/1982: Nhân một mặt hàng mới, bàn về tổ chức bảo đảm chất lượng sản phẩm. Cả hai bài đều gửi báo Nhân Dân từ lâu nhưng không dùng. Từ nay, bài nào cũng gửi Sài Gòn Giải Phóng một bản, kẻo phí, vì bài báo nào cũng có tính thời sự, quá thời điểm là coi như bỏ. Riêng bài Ơ gien Pốchiê – Nguyễn Ái quốc và Bài ca Quốc tế, một bài ấp ủ đã lâu ít ra cũng từ 1972, một bài mình hào hứng viết từ đầu đến cuối, thì chỉ gửi cho Sài Gòn Giải Phóng. Tối chủ nhật 9/1 đã đến tận nhà, đọc cho vợ chồng Tuất Việt – Tuệ Quỳnh nghe. Việt nhận để đăng dịp 3/2 kỷ niệm thành lập Đảng.

Đến nay, mình đã nhận viết cho Sài Gòn Giải Phóng, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Vui Học (của Trường Cao Đẳng sư phạm). Có lẽ chỉ còn viết cho Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh nữa là hết hơi! Thế mà Trần Đăng Thái (Minh Đăng Khánh) còn đang nhiệt tình cổ động dịch sách cho Nhà xuất bản Măng Non.

Tất cả những việc làm này là để chuẩn bị đón Cu Xếch, con trai yêu quí của bố Thành mẹ Đông đó.

Đông đã mang bầu khá lớn, có lẽ sau Tết sẽ sinh. Đông bảo mình đưa đi thăm Bắc – Chi vì Chi cũng sắp đẻ, lâu nay bận ít thăm nom nhau. Đèo vợ đến nhà ở đầu đường Minh Khai thì được người cùng nhà cho biết là chú Bắc đã đưa vợ đi đẻ rồi. Thành phố đã bắt đầu đốt pháo mừng Tết. Đang chưa biết làm thế nào thì Việt Bắc hớt hải về. Chi đã sinh, Bắc về nhà lấy đồ. May quá, chúng tôi theo luôn. Đến Bệnh viện phụ sản Hùng Vương, Bắc dẫn xe đạp vào trước, bảo chúng tôi theo. Ông thường trực bảo không cho vào thăm. Tôi chỉ bụng vợ nói: không phải thăm mà vào đẻ. Thế là được vào sau nụ cười nhận lỗi của ông thường trực. Con bé mới ra đời đã nghe khắp nơi pháo nổ, cứ ngơ ngác nhìn quanh rồi toét miệng cười. Tôi nghĩ con bé này chắc lớn sẽ dạn dĩ lắm.

Từ ngày 15/1, tôi cảm sốt rồi trở lại đau thần kinh tọa, phải nghỉ làm việc suốt. Vừa châm cứu, vừa uống thuốc tân dược. Thế là sau 20 năm, bệnh cũ tái phát. Chính trong những ngày này mình có một tin mừng: Đông được công ty thưởng 700 đồng vừa lúc chị Xuân làm bên thương nghiệp báo cửa hàng có bán thanh lý hàng tồn kho trong đó có máy chữ là thứ chị biết mình đang ao ước có để hành nghề lâu dài. Mình nằm rồi, lại nhờ chú Vượng. Chú xem xét rồi mua một cái máy vỡ hộp nhựa, nhưng máy đựng bên trong thì rất tốt. Cũng hệt như hồi 1979 đi mua rađiô để nghe tin Cămpuchia, chú cũng chọn mua cái Sony vỡ nát, nhưng nghe hay vì có hai loa và máy còn tốt. Chú không trọng hình thức mà cốt ở thực chất. Với người , chú cũng vậy. Thế là lần đầu tiên trong đời tôi có cái máy chữ riêng xinh xắn nhãn hiệu Olympia loại Traveller của Tây Đức sản xuất. Tặng mình máy chữ này, Đông đã chính thức phát động cuộc tổng tiến công của mình trên mặt trận báo chí, văn học. Một cuộc tiến công chỉ chấm dứt khi mình thở hơi cuối cùng, không còn sử dụng máy chữ được nữa. Sau Tết, Đông sẽ sinh cho mình đứa con đầu tiên. Còn những đứa con tinh thần của mình, bao giờ mới ra đời đây. Máy chữ đã có rồi. Còn chần chừ gì nữa. Phải viết, viết và viết. Đó là khẩu hiệu hiện nay.

Ngày 30/1/1983, báo Sài Gòn Giải Phóng đăng bài ƠgienPốchiê – Nguyễn Ái Quốc và Bài ca Quốc tế. Có chuyện buồn cười là tên tác giả lại in lầm là Nguyễn Trang. Tất nhiên Nguyễn Trung vẫn được lĩnh 60 đồng, bằng lương vợ một tháng. Mình không ham danh nên việc không có tên cũng chẳng sao. Miễn là bài báo ra mắt bạn đọc.

Sau mổ dạ dày thành công, anh Lê Khánh Căn ra Hà Nội tĩnh dưỡng tại nhà. Ngày 20/2 anh vào lại Sài Gòn, 22/2 thì họp tổ phóng viên. Anh làm tôi kinh ngạc thật sự khi lời đầu tiên là anh cảm ơn chi bộ và các đồng chí đảng viên đã tận tình cấp cứu anh qua khỏi cái chết. Vì tôi nhớ rõ hôm đó: chị Nguyễn Thị Sơn, một người dân Sài Gòn báo cho tôi. Rồi tôi và anh Bùi Thượng Nghiễn, một nhân viên văn thư bộ ngoại giao Việt Nam cộng hòa lo báo xe cấp cứu. Sau đó anh Phan Văn Quyền, một cựu binh quân đội Sài Gòn chở chúng tôi đi theo xe cấp cứu do anh Nghiễn gọi. Rõ là anh Căn chưa bình tâm hẳn nên hoang tưởng như vậy.

Hồi ở 173 Hai Bà Trưng, anh hay đọc câu thơ Mong manh áo vải hồn muôn trượng như bản thân anh ăn mặc rất giản dị, sơ mi dài tay không cài tay áo mà bỏ ngoài quần dài vẻ nho nhã. Trên sân con cạnh nơi anh ở trên tầng hai, anh đem đất lên làm luống nhỏ trồng rau sâm, hái rau nấu canh ăn cho mát. Lại còn xuống vườn sau tìm ốc sên làm món ăn theo kiểu Pháp. Anh người Huế nên nấu nướng cũng khéo tự phục vụ được, không cần nhờ ai. Mổ xong bác sĩ bảo phải ăn ngày sáu bữa, mỗi bữa một chút thôi, cho vừa với dạ dày anh nay chỉ còn một phần ba. Anh bảo tôi chỉ theo một ít ngày, sau đó ăn như người thường đỡ phiền cả nhà. Nhưng, chẳng bao lâu sau, nghe tin anh mất. Anh là người giàu ý chí, có nghị lực.

Từ ngày có máy chữ tôi làm việc có hiệu quả hơn hẳn trước. Các tin bài đều dánh máy thẳng, không phải đưa đánh máy như trước. Bài vở viết cho Vui học, Phụ nữ đúng là viết nhanh như máy.

Hơn mười ngày cuối tháng 2, Đông sụt bụng nhiều, có thể sẽ sinh sớm hơn dự định. Mình lo việc chợ búa, đến chợ rất sớm từ khi các xe lam chở rau củ quả thịt cá từ ngoại thành vào chợ. Dạo này cả hai vợ chồng đều thích ăn rau tập tàng, thứ rau nhiều loại mọc trên bờ ruộng, chủ yếu là dền cơm mảnh bát. Món mặn chủ yếu là cá lóc. Nghe nói ăn cá lóc con sẽ khỏe. Tất nhiên tôi vẫn đi châm cứu vì chưa khỏi hẳn đau thần kinh tọa. Mệt nhưng vui vì đọc sách, nghiên cứu rất thú vị. Ở chợ cũng lắm chuyện vui.

May mà từ sáng 28/2, mình và má Kỷ bạn mẹ đã đi lĩnh gói hàng đầu tiên chị An từ Mỹ gửi về. Phải đề tên người nhận là má Kỷ để tránh phiền cho anh em mình là có liên lạc và nhận này nọ từ người ở nước ngoài. Chị gửi cho một chiếc ca xét Panasonic nhỏ, cũ. Nghe nhạc thú quá.

Mẹ và em Nhàn lên từ 21/3, nhưng sáng 24/3 Nhàn về Bạc Liêu đem hết các thứ chị gửi về.

Không ngờ, trưa hôm ấy 10:10 nhận điện thoại anh Đại báo đã tới sân bay Tân Sơn Nhất mà 11:00 anh đã ở nhà mình. Ăn bánh mì với cá, uống trà cùng vợ chồng mình và mẹ. Anh quá vui, không ngờ được gặp mẹ. 11:50 mình đã lại cùng anh ở phòng quá cảnh sân bay. 12:30 thì chia tay để anh đi làm thủ tục rồi vào phòng cách ly. Anh sẽ đến Pari trưa mai, ở đó một tuần chờ máy bay đi Ănggôla dạy Đại học kiến trúc ở Luanda, thật mệt mà mừng quá. Chỉ có 50 phút gặp gỡ mà cả nhà vui. Chắc Cu Xếch cũng vui nên cựa quậy nhiều.

Khi bụng đã khá lớn, tôi có đưa vợ đến bệnh viện Từ Dũ học lớp đẻ không đau, chủ yếu bằng các bài tập và chuẩn bị tâm lý. Các bữa cơm chiều đều có thêm 100 gam giò lụa mua ở cửa hàng Phú Hương trên đường Võ Thị Sáu tiện ghé khi đi làm về. Cô bán hàng nhớ mặt, cứ thấy ghé xe là cắt ngay cho 100 gam, không hơn không kém. Đúng là chuyên nghiệp. Cơm xong vợ lại muốn sang nhà cô Hoa – chú Vượng thăm bé Hằng. Ra khỏi ngã ba, rẽ phải là đến đường Hai Bà Trưng, lại ghé một hẻm nhỏ có ông Tàu bán sữa đậu nành nóng hổi, mua hai bịch, mỗi bịch nửa lít, một đem cho mẹ bé Hằng một đem về nhà. Cái lệ ấy kéo dài cho đến kỳ đi xem kịch và tạp kỹ.

Thấy bụng vợ to,  mình lo sau  này sinh con bận bịu còn đi chơi đâu được. Cho nên tận dụng nghề nghiệp văn hóa của mình, tôi lấy vé đưa vợ đi xem biểu diễn kịch và tạp kỹ. Trời mưa to, rạp lại ở khu trũng cho nên nước ngập hơn nửa bánh xe đạp, nhưng vợ chồng tôi vẫn vui vẻ đèo nhau đi. Mà vất vả cũng đáng: vở kịch là Rômêô và Giuliét của Sếchxpia. Kịch hay nhạc êm dịu, hai mẹ con và cả tôi nữa đều thích. Hôm sau không mưa, đi đến nơi dễ dàng sạch sẽ, vào rạp lại chọn được chỗ tốt. Nhưng mới được hai tiết mục thì xảy ra sự cố. Mấy màn tung hứng, các nhạc công chơi kèn, trống dồn dập gây tiếng vang mạnh, anh Cu Xếch trong bụng mẹ phấn khích, đạp dữ dội. Vợ tôi ghé tai nói nhỏ: anh đưa em đi vào nhà vệ sinh mau, con nó đạp dữ quá đến vãi… ra quần mất. Tôi phải đưa nàng khẩn cấp rời chỗ, chen giữa hai hàng ghế, luôn mồm xin lỗi khán giả đang hào hứng xem mấy tiết mục nhào lộn.

Lúc về, chúng tôi ghé nhà chị Xuân xin chị góp ý trên cơ sở người thật việc thật. Chị ngắm kỹ cô em mới gặp mà đã xồ xề nhanh quá, nên bảo: đẻ đến nơi rồi, ngày mai chú đưa cô ấy đến nhà tôi, ở ngay gần bệnh viện Từ Dũ có gì còn dễ xoay xở chứ ở chỗ chú, nhỡ đêm hôm kiếm đâu ra xe mà đi. Anh chị ở đường Huỳnh Quang Tiên đi ra Cống Quỳnh chẳng mấy chốc là đến bệnh viện. Tôi về thưa với mẹ. Mẹ cũng bảo anh chị ấy chu đáo quá, lo cho từ việc cưới đến sinh con. Mãi đến sáng 19/4 ở cơ quan tôi mới bình tâm ghi lại được mấy nét về sự kiện cực kỳ trọng đại của đời mình và gia đình mình.

23:50 ngày 6/4, Nguyễn Thành Trung (tức Cu Xếch) con trai của vợ chồng mình đã ra đời. Cân nặng 2,900kg. Mẹ dặn hết hơi, bác sĩ phải dùng kẹp mới kéo con ra được. Mới thò cái đầu ra đã mở mắt xanh biếc. Các cô đỡ đều cười, nhỏ này ngộ ta, chưa chi đã mở mắt nhìn đời. (Giờ tý, ngày 23/2 năm Quý Hợi, con heo vàng bao người mong ước). Đông kể: Em rặn hết cả hơi con vẫn chưa ra. Rồi nghe các cô đỡ nói phoóc xét. Và có tiếng reo to vui vẻ: Ra rồi. Em mở mắt, thấy một cô bế con, nhưng sợ quá: Ở bụng nó có một cái dây to dài, em nghĩ ngay đến những quái thai mà dạo này anh hay theo bác sĩ Trần Đông A ở bệnh viện Nhi Đồng II đi viết về những ca mổ lạ thai trong thai, sinh đôi dính nhau Việt – Đức. Về sau mới biết là con mới ra chưa kịp cắt rốn. Vì phải dùng kẹp mà suốt một năm đầu đời tháng nào bố cũng phải đưa đến bệnh viện cân, đo, khám mọi chỉ tiêu đều vượt mức. Thêm nữa, hằng tuần phải đến viện lĩnh thuốc nhỏ mắt ácgirôn vì mở mắt sớm, nhiễm trùng.

Vợ chồng Thái – Oanh ở báo Sài Gòn Giải Phóng sống trong khu tập thể trông sang bệnh viện, đảm nhiệm việc nấu thức ăn cho bà đẻ vì có nồi áp suất Liên Xô, lại có kinh nghiệm vì đã…sinh một con trai. Chính Oanh đã đỡ Đông đau đẻ từ 16:00 đi lại hành lang cho đến tối mới đưa về phòng nghỉ. Ngày nào cũng nấu xúp đủ cả thịt rau, tôi chỉ việc đem sang cho vợ ăn.

Biết tin, sáng hôm sau 7/4 mình đèo em Nhàn mới lên hôm trước đến bệnh viện. Mình lên trước, vào ngay phòng đẻ, mở tung các màn, các bà các cô kêu í ới, chẳng thấy vợ con đâu. Sau hỏi mới biết đẻ đêm đã cho về phòng rồi. Trời lạnh, tôi vào phòng được chỉ, thấy vợ mặt tái mét, mặc cái áo xám chấm đen mà tôi vẫn chê xấu, bên cạnh là con tôi, sao đầu nó dài như quả bầu thế, không xinh như mình mong. Gọi em Nhàn lên, cô khen mũi cao, lông mày đẹp. Cô bế con và lấy mật ong gơ lưỡi cho con. Con tóp tép thú vị, đưa mắt xanh nhìn quanh. Rồi bà ngoại đến thăm và trông hai mẹ con đêm ấy. Đêm sau là cô Dung rồi bác Xuân trông bốn đêm liền. Còn bà nội thì cố khâu và thêu cho con trai hai cái áo vàng và hai mũ vàng, một mũ gái, một mũ trai để kịp chiều 7/4 mang vào cho con. Ba ngày liền bà đều vào chăm con tại bệnh viện Từ Dũ từ 14:30 đến 19 giờ, mang theo đủ thứ thức ăn bà làm suốt sáng để mẹ con chóng khỏe, có sữa cho con bú. Chính tên con là do bà nội đặt vì bà rất quí mến phi công Nguyễn Thành Trung đã ném bom dinh Độc Lập năm 1975. Biết sinh con trai, bà bảo lấy ngay tên ấy. Chú Vượng vào thăm con hai lần. Cả vợ chồng bác Nguyễn Ngọc Lương và Phạm Ngọc Quyến cũng lại thăm. Hai bác Thái – Oanh thì giúp bố chăm sóc mẹ con rất tận tình. Các cô Dung, Phú, Thìn và vợ chồng cậu ĐÌnh đều vào thăm con. Ai cũng khen con xinh và già dặn. Mẹ 39, bố 43 mà không già sao được. Sáng 13/4, bố và bà nội đón hai mẹ con về. Con được bà nội bế, che nón cho kín gió, còn mẹ ngồi một xe xích lô khác.

Về đến nhà càng nhiều người thăm hơn. Bác Lương và vợ chồng chú Vân gửi cho giò heo để mẹ ăn cho có nhiều sữa. Bà Cửu, ông Vượng, bà ngoại, các cô, chú đều thăm nom, cho hai mẹ con nhiều quà. Ai cũng thương con, khen con giống bố… Mẹ về là có bà Hồng ở nhà bác sĩ Tâm đến xoa chườm vú mẹ bằng xôi nếp ba buổi chiều liền để mẹ có sữa cho con. Hai ông bà Nguyễn Hữu Chương Phạm Lệ Hằng là lương y đến cho thịt dê và đương qui để bố nấu cho mẹ con ăn bổ huyết. Ai cũng lo con thiếu sữa. Mà con ăn thật khỏe. Mới mươi ngày mà đã sắp hết hộp sữa bột Nestlé to bác Xuân cho. 19/4, bắt đầu cho ăn pha với sữa bột Liên Xô do hai bác Thái – Oanh mua hộ theo tiêu chuẩn cơ quan phân cho hai bác. Con thích bú mẹ nhất, nhưng ít quá, chưa đủ no. Chú Vượng cho con một hộp sữa, cô Hoa vợ chú cho con bú tí luôn, bé Hằng cho mượn bình sữa. Ai cũng thương con mong con ăn nhiều, mau lớn, khỏe mạnh. Cô Chi chú Bắc do kinh nghiệm mấy tháng nuôi con gái đầu lòng hay ăn chóng lớn đã quyết định đem tặng con trai bố một cái mũ và một cái áo con gái từng mặc, mong con lấy khước của bạn mà cũng hay ăn chóng lớn mạnh khỏe như bạn.

Này 6/5, đầy tháng con. Bà và mẹ làm miến gà, có thịt gà luộc để nhắm rượu cam và món nộm bà làm rất ngon. Khách mời thì giao cho bố. Phải cân nhắc, mời ai để tránh phật lòng những người tương đồng không được mời. Rút cuộc, chỉ mời hai khách là cụ Năm và chú Định. Cụ Năm thì khỏi phải nói ai chẳng biết cụ gắn bó với vợ chồng mình thế nào, lo cho việc sinh nở mẹ con Tuti ra sao. Còn chú Định, một người ngang tàng, lắm tài nhiều tật, nhưng đối với nhà mình thì có ý nể, nhờ gì cũng làm. Nhưng lý do chính để mời chú là khi Đông có mang, số đông tin là sẽ đẻ con gái, chỉ có chú kiến quyết cược hẳn một bữa nhậu ra trò rằng nhất định đẻ con trai. Chú bảo: bụng nhọn như thế này, nhất định là con trai.

Đúng lúc nâng cốc chúc mừng cháu đầy tháng thì có khách không mời mà đến. Không thể ngờ được người đến muộn nhất này lại là Lê Đăng Quang, người anh em thân thiết của mình từ ngày còn học trường Chu Văn An, cùng chia vui sẻ buồn đã mấy chục năm trời. Chính hôm ấy, Quang báo tin vợ đã có mang hai tháng. Quang lấy vợ cùng lớp ngay sau khi tốt nghiệp đại học bách khoa đầu những năm 1960 nhưng mãi không có con. Họ hàng hai bên mách đủ kế lên rừng xuống biển, thuốc Tây thuốc ta đều không công hiệu. Bạn thân với nhau, năm trước, cùng ngủ tỉ tê tâm sự Quang bảo ai mách gì cũng nghe kẻo bà con nói vô trách nhiệm, nhưng tự mình biết vấn đề là ở vợ mình, cô ấy tốt mọi nết, nhưng yếu, lãnh cảm, không muốn ai đụng vào mình. Hồi ấy, tôi thân với cụ Nguyễn Hữu Chương một cán bộ cách mạng lão thành có vợ là lương y Phạm Lệ Hằng thừa kế bài thuốc đại bổ của lương y Nguyễn Kiều làm ra thuốc tễ Nguyên dương đại bổ giúp bổ khí huyết vợ chồng tôi thấy dùng hợp, người khỏe ra. Sẵn có trong nhà ba gói ba chục viên tôi đưa ngay cho Quang. Không biết có phải Quang cho vợ dùng không mà hôm nay có tin vui này. Thế là con tôi đầy tháng thì con Quang mới hai tháng trong bụng mẹ. Như vậy là bảy tháng nữa mới ra đời, thua con tôi tám tháng. Sau này, hai bố cố cho hai con thân thiết với nhau, tặng quà cho nhau, thư từ thăm hỏi nhau, nhưng rồi xa cách, cuộc đời cũng có nhiều khác biệt, hai chàng trai chưa gặp nhau một lần. Chỉ có hai bố là không quên nhau bao giờ, như sống trong nhau. Rồi gần đây, Quang cũng ra đi vì ung thư. Sau đó ít lâu, vợ cũng mất. Không ai ngờ trong nhóm bốn đứa bạn thân Di, Quang, Cường, Thành thì Quang người lành mạnh thăng tiến thuận lợi nhất lại là người ra đi đầu tiên. May mắn tôi có bức ảnh khổ lớn bọc plát tích con bạn tặng con tôi  hai bố con Quang ăn mặc chỉnh tề, khuôn mặt tươi rói, chắc là chụp vào dịp Tết.

Hồi con được ba tháng, bà bế vác, con cứ chồm lên vai bà. Một sáng bố thấy áo trắng bà mặc có vết máu. Xem kỹ thì máu từ rốn con dính vào áo bà. Bế con ra chỗ sáng, thấy giữa rốn con có một phần thịt dư như cái gương sen nhỏ. Gốc nhỏ dính ở bụng sau to dần lên. Chính chỗ mặt gương sen có máu rỉ ra. Bố bảo mẹ cứ đi làm, vì con khỏe mạnh bình thường, có sao đâu. Để bố đưa bà bế con đến bệnh viện Nhi Đồng I nhờ bác sĩ Trần Thành Trai xem cho. Đến viện, bà bế cháu, ai cũng khen cháu bé xinh quá. Quả tình dạo này cháu lớn hơn, cái đầu không dài lên như quả bí đao, mà bắt đầu to phần sọ, trán thì nhỏ hơn, chỉ thêm cái cuống vào giữa trán thì thành đầu đu đủ đúng nhãn hiệu bố Thành rồi. Con lại trắng, mắt vẫn xanh, tuy con ngươi đen láy. Miệng đỏ, xinh như vẽ. Bà bảo bố cháu có việc đến viện, cho cháu đi chơi thôi, bệnh tật gì đâu. Bà không muốn ai biết đích tôn của bà có tật. Bác sĩ xem xong bảo cái này không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Có đứa đến mười mấy tuổi , vẫn còn tật, chỉ khó chịu và phải giữ vệ sinh thôi. Cháu còn nhỏ quá, để độ vài tháng nữa cứng cáp hơn hãy mổ. Đây là tiểu phẫu, không có gì khó.

Đưa con về nhà bà lại bế vác, được lời bác sĩ là yên tâm. Rồi một hôm bà bảo dạo này bế vác nó cứ nảy người lên mà không thấy dây máu ra áo. Xem kỹ thì cái gương sen đã rụng từ bao giờ, để lại đáy rốn bằng phẳng, không sâu như những trẻ khác. Hóa ra gia đình tôi gặp may.

Ngày 2/9 năm nay, kỷ niệm lần thứ năm ngày cưới của vợ chồng, ngày thành lập gia đình nhỏ bé của mình, nay đã có ba thành viên: bố Thành, mẹ Đông và con trai Thành Trung mới gần năm tháng.

Sáng ăn bún bò, bất ngờ có bác Lê Đoàn (tức Đoàn Quang Vinh) một cán bộ lão thành cách mạng, thư ký tòa soạn báo Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đến chung vui. Có chút hơi men, nhà thơ bảo lấy giấy bút, viết tặng ngay bài thơ Ngày vui nhất, lại còn đề ở đầu bài: Thân yêu tặng hai bạn Lê Thị Đông + Tôn Thất Thành. Cuối bài ghi: 82 Lý Chính Thắng ngày 2/9/1983. Lê Đoàn, Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Và ký tên.

Trưa, bà nội đi ăn giỗ. Chiều Đông nấu phở, mời em Thanh Tuyền và bạn trai là Trần Hà đến chơi chung vui. Buổi tối, vợ chồng đưa con đi chơi quanh chợ Tân Định cốt để con xem chăng đèn kết hoa. Nhưng con chẳng để ý gì đến đèn trung thu, bóng bay trang trí mà chỉ thích nhìn những gì chuyển động như ô tô, xe máy, xe đạp và người đi bộ. Đặc biệt thích thú ngắm những ngọn lửa do trẻ em nghịch ngợm đốt trên mặt đường. Xem ra bố mẹ chưa hiểu con.

Ngày 3/9 thì đến nhà chú Phạm Biểu Tâm và cô Tôn Nữ Tuyết Lê. Cô bắt cả nhà cân. Thật buồn cười: Con được 7kg40, thì bà nội sụt ngót 3kg. Bố mẹ mỗi người sụt 2k500. Chú bảo: Thế là coi như … huề. Ai cũng cười…

Sau đó, đến nhà anh Hải chị Xuân, gặp cậu Vinh đang học chụp ảnh, cậu chụp cho mấy tấm.

Ngày 4/9, ngoài Tuti khỏe mạnh, cả nhà ốm. Bà ăn cháo giải cảm và kêu đau tay, có lẽ do ham bế cháu nội. Mẹ Đông thì ọ ọe, sợ mùi thịt bò. Bố sốt, đau khắp cả người. Không biết có phải mẹ nó sắp có em Dũng không…Bố đã đặt sẵn tên ba anh chị em: Trung, Dũng, Khiêm. Con gái thì đặt tên Khiêm .

Tuti bắt đầu thích gặm chân gà hầm. Cả ngày ở với bà rất ngoan. Bố mẹ có mệt cũng vẫn đi làm. Bà mệt vẫn chơi với cháu, đích tôn của bà mà.

Sáng 9/9/1983, đọc trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh mấy dòng sau không sao quên dược: Prem Chan (1880-1936)… Mồ côi, nghèo khổ cô độc suốt ấu thời và những năm tuổi trẻ. Tên tuổi ông chỉ được biết đến sau khi ông đã chết âm thầm, tay trắng, vô danh… Ông được xem như một nhà văn hiện đại lớn nhất của Ấn Độ.

Chiều 21/11, em rể Nguyễn Thăng Long được xe hơi cơ quan chở lên để mổ dạ dày ở bệnh viện Chợ Rẫy. Tối 21, tôi đi liên hệ cố tìm bác sĩ giỏi. Sáng 22, chờ xe hơi cơ quan Long mãi không thấy đến đón, đành chở chú đi xe đạp đến khám cho đúng giờ hẹn. 11/12, em Nhàn và con gái Thu Dung lên. Ngày 12, Nhàn vào bệnh viện chăm sóc. 14/12 thì mổ dạ dày.

Ngày 2/12, em họ Nguyễn Thọ Tường mất lúc sáng sớm, hấp hối từ 6/11. Hôm ấy, biết tin mẹ con mình đã đến thăm, thấy Tường mê sảng, nói luôn mồm toàn những con số hàng triệu, trăm triệu, mắt sáng long lanh. Hai mẹ con về kể cho chú Tâm nghe, chú bảo như thế thì chưa đi ngay được đâu. Mà đúng thế. Mãi gần một tháng sau mới mất, thọ 49 tuổi.

Con trai chin tháng tuổi, theo đúng lịch, tôi đạp xe đưa con đến bệnh viện phụ sản Từ Dũ chích ngừa bệnh sởi. Chích xong, con vẫn nằm trong vòng tay bố, không khóc một tiếng. Tôi khen con trai bố giỏi quá. Mấy bà ngồi bên cười bảo chưa biết đâu, một lát nữa là khóc to ngay mà. Nhưng con trai tôi vẫn không khóc. Tôi bế con ra sân, chỗ bán đồ chơi hỏi con muốn cái gì bố cũng thưởng. Con chỉ tay: hóa ra con chỉ thích một quả bóng màu vàng. Tội con tôi quá, bố vẫn chưa hiểu con. Hai bố con vui vẻ ra về.

Không ngờ… Suốt từ sáng chủ nhật đến hơn mười giờ đêm thứ hai 9/1/1984, mẹ và vợ chồng mình lo lắng chăm sóc con. Ói, mửa, tiêu chảy, sốt cao. 2:30 sáng thì ói lần cuối rồi ngừng. Cả ngày tiêu chảy đến 9 lần. Lần cuối là 18:15, con mệt mà ngoan quá, ai cũng thương. Chiều lại sốt cao, 21:30 mà vẫn 38,8o mặc dù đã đắp nước đá lạnh ở trán, dùng đủ mọi cách giảm nhiệt. Mình đang chờ đo lần cuối trước khi đi nằm thì thấy con vẫn nằm yên, thờ đều hòa bên mẹ Đông. Trán vẫn đắp khăn mặt lạnh. Đầu vẫn nóng mà tay chân lại vẫn lạnh. Mới có hơn một hôm mà trông con gầy xọp hẳn, hai mắt càng sâu hơn. Chiều nay, có vẻ mệt, bú mẹ cũng không thiết. Nước chanh là món con hâm mộ xưa nay, cũng gạt tay, không uống. 22:20: 3806 . Vẫn còn sốt cao, cho con uống một gói Kim Sơn căn cơ tán cô Thìn cho.

1:25 ngày hôm sau, 10/1, lại ỉa tóe ra. Nhiệt độ hoàn toàn không giảm. Phải cho uống 1 phần 4 viên ganiđăng. Cả nhà bốn người sum họp trên giường Tuti. Con xinh quá, mắt xanh mà sâu. Môi đỏ. Nhưng gầy quá. 2:15 lại ói, ướt cả áo quần. Bà và mẹ lau khô cho con. Tuti của bố dũng cảm quá không kêu la khóc lóc gì cả.

Đến sáng thì đi bệnh viện. Tuti đi xích lô với mẹ đến Bệnh viện Nhi Đồng I, bố đi xe đạp kèm bên. Bà đã chuẩn bị đủ đồ dùng để cho con nằm viện. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, người bố đã gặp phỏng vấn nhiều lần, khám kỹ rồi tuyên bố: đây là do phản ứng vì tiêm phòng sởi, không phải thuốc men gì, chỉ cần cho uống thật nhiều nước. Anh bày cho tôi cách pha một lít nước với tám thìa đường và một thìa muối. Còn nhắc phải nhớ là thìa cà phê đấy (Hồi ấy chưa có ôrêdôn như bây giờ). Nghe anh nói, tôi nhẹ cả người. Anh còn dặn chớ ham cho con nằm viện, lây nhiễm thêm bệnh khác còn khổ hơn. Thế là bố đèo xe chở mẹ ôm con về. Chưa thuốc men gì mà bệnh đã như thuyên giảm đến một nửa. Về nhà, bà nội mừng quá. Pha ngay nước theo hướng dẫn cho cháu. Tuti thấy bầu nước là mắt sáng long lanh, vồ lấy uống lấy uống để. Hoàn toàn không chịu ăn gì cả, chỉ đòi uống. Nhiệt độ giảm hẳn, khỏe ra mặc dù vẫn ói và ỉa chảy rất nhiều. Từ 21:40, ỉa toàn nước như đái. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tài thật, đúng là người có tâm có tầm. Cả nhà lại thêm một đêm thức trắng.

Hôm sau, ỉa lỏng rất nhiều. Rồi bắt đầu đái nhiều. Nhiệt độ chỉ còn 37, 38. 13 giờ, trước khi bố đi làm, Tuti ỉa đến 3, 4 lần, toàn nước vàng. Cho đến 20:05, không ỉa cũng chẳng ói, chỉ còn đái rất nhiều. Ngủ ngoan, thoải mái, đái cả ra quần cũng không biết. 19 giờ: 36o5. Phải đo lại. Vì mừng đến nỗi không dám tin đó là sự thật. Thật sự là như thế, mừng quá rồi. Mặc dù con vẫn chưa chịu ăn gì, chỉ bú mẹ, mà mẹ thì ít sữa quá. Ép ăn gì thì rồi lại ỉa ra cái ấy. Phân sống.

Nghe kể chuyện con, các bác ở Xí nghiệp dược số 25 mà hôm ấy bố đến lấy tài liệu viết bài cũng tặng con khá nhiều thuốc bổ: Hemocalcium B12, Oléca và cả thuốc tiêu chảy Terminal. Về đã cho con thử uống một thìa nhỏ Terminal… Con gầy và xanh quá. Thật tội nghiệp…

Tối thứ tư 11/1 lúc 21:30 và 23:00 con tiêu chảy, vọt ra toàn mùi nước gạo rang. Lại cho uống thêm một thìa con Terminal. Suốt đêm con vật vã nhưng nhiệt độ hạ dần. 1:30 còn 37 độ. 7 giờ sáng 12 thì phân vàng, nhớt. 14:25 cũng vậy. Cho uống Terminal ba lần. Con ngủ ngon nhiều giờ. 18:30 cả nhà mừng thấy con đòi ăn mấy thìa cháo thịt mẹ Đông nấu cho bà nội. Bà mệt vì quá lo cho cháu nên cố làm mọi việc nhà để bố mẹ lo cho con. Từ tối 10 bà đã mệt, cả ngày 11 và 12 chỉ nằm ói, không chịu ăn gì vì chóng mặt, lúc nào cũng chực nôn. Trưa 12 mới xơi một mẩu bánh mì và chiều nay ăn được một tô cháo thịt băm.

Thế là từ buổi chiều, mọi lo lắng mấy hôm nay đã được giải tỏa, có thể thở dài nhẹ nhõm. Cả nhà mệt mà vui. Từ ngày mai, sẽ có thể tập trung vào viết những bài và tin không thể không viết trong dịp trước Tết này. 18:00 chiều 13/1, Tuti đã ăn hết nửa lon nhôm khuôn làm nước đá đựng cháo với ruốc (chà bông). Tối, ngủ ngon. 18 giờ hôm sau ỉa phân vàng, có khuôn, cả nhà mừng.

Sáng mình họp tổ phóng viên từ 8:30 đến 13 giờ. Dạ dày đau dữ. Trước cả tổ, mình nói thẳng: Tôi chán nản với cách sử dụng bài vở của cơ quan ta. Rất lạ là nghe nói thế, cả tổ đều ủng hộ mình, không ai phê phán gì cả.

Tuti lại vừa qua một trận sốt cao chưa từng thấy. Ngày 21/2: 40o3, 40o1. Ngày 22/2: 40o, 40o6. Đến nước này thì bố Thành hết phép đành đưa đến bác sĩ tư gần nhà, ngay đường Huỳnh Tịnh Của, trong một hẻm nhỏ, nhưng luôn đông khách đưa con đến chữa. Ông là bác sĩ Phương, cùng làm việc với vợ. Bệnh nhi đến, bà vợ cân rồi đo huyết áp. Thuốc cho theo cân nặng nên rất chóng khỏi bệnh. Tuti được cho uống 2 viên pênixilin 400.000 UI và 3 viên axpêrin 300mg. Thu tiền 50 đồng. Gần bằng lương mẹ một tháng. 24/2 con đỡ. 25: bố bắt đàu cho uống lá giẻ quạt với mật ong chữa ho. Chỉ còn ho rất ít. Hình như con vừa viêm họng vừa mọc răng nanh. Nay con có 4 răng trên, 3 răng dưới rồi. Tuti và cả nhà đang phục hồi dần.

Bác Đại gửi thiếp chúc Tết từ Ănggôla ngày 26/12/1983 đến 23/2/1984 mới đến. Anh viết: Chúc hai em Thành Đông và cháu Tuti mạnh khỏe luôn. Trời không bao giờ phụ kẻ có nhân. Chủ nghĩa xã hội không bao giờ phụ những người lao động chân chính. Gia đình bé nhỏ của em chắc sẽ phải được sống trong hạnh phúc trọn vẹn.”

Đọc mà thương nhớ anh quá.

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/3/2020.

P.T.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ Lục: Suy nghĩ tới về Pa-ven

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 6 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

SUY NGHĨ TỚI VỀ PA-VEN

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài Suy nghĩ tới về Pa-ven của nhà báo Thép Mới đăng trên trang 2 báo Nhân Dân số ra ngày 29/9/1979.

—o0o—

Năm nay, thế giới văn học, tuổi trẻ thế giới kỷ niệm thân thiết lần thứ 75 Ngày sinh của tác giả Thép đã tôi thế đấy.

Cách đây 75 năm, vào một ngày thu, 29/9/1904, tại một làng quê heo hút của xứ U-cra-i-na – làng Vi-li-a, 500 gia đình nông dân, phần đông đói dài mỗi năm chín tháng – sinh ra một cậu bé trai con một bác công nhân xưởng rượu và một người đàn bà làm nghề hầu hạ mấy nhà quý tộc. Gia đình A-xtơ-rốp-xki năm 1915 dọn ra Sê-pê-tốp-ca sinh sống. Sê-pê-tốp-ca là thị trấn đầu mối đường sắt quan trọng biên thùy, công nghiệp so với thời bấy giờ có đôi chút phát triển. Không lớn lên từ tuổi mười một ở môi trường mới ấy, nghĩ cũng khó mà A-xtơ-rốp-xki có thể trở thành tiền thân của Pa-ven. Và chắc chắn là nếu không có Cách mạng Tháng Mười, làm sao mà có được con người ấy, người chiến sĩ ấy, nhà văn ấy và kết tinh của một cuộc cách mạng – nhân vật tiểu thuyết ấy.

Người đọc nói chung dễ có cảm tưởng là N.A-xtơ-rốp-xki với nhân vật Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin chỉ là một. Viết như mình sống đich thực quả là tăng thêm sức thuyết phục cho tác phẩm rất nhiều. Song càng được tìm hiểu về công việc của nhà văn, càng thấy tác giả đúng là phải ở một tầm cao hơn nhân vật (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú).

Những chương sách cuối cùng của Thép đã tôi thế đấy quá ngắn ngủi, thuật lại phần đời Pa-ven chuẩn bị làm văn học và làm văn học, vì cấu trúc và nhịp điệu của toàn bộ tác phẩm, không thể dài dòng. Thật ra, cuộc chiến đấu mới ấy chiếm một quãng đời hoạt động dài nhất của N.A-xtơ-rốp-xki, từ năm anh hai mươi tuổi đã bị tàn phế rồi, cho đến khi anh qua đời, năm ba mươi hai tuổi, đúng vào lúc tác phẩm thứ hai Ra đời trong bão táp đã in xong, chỉ chờ phát hành. Nếu kể riêng từ khi có ý định viết Thép đã tôi thế đấy cho đến khi tác phẩm đầu tay ra đời trọn vẹn – tám năm có lẻ – quả là dài hơn quãng thời gian từ khi anh giác ngộ và tham gia cách mạng đến khi bại liệt. Đọc trong Thép đã tôi thế đấy, người đọc có phần dễ xúc động hơn bởi những đau đớn thuộc về thể xác hình hài của người chiến sĩ rất đỗi ngoan cường, tự đặt cho mình một mục tiêu chiến đấu mới, đúng là năm ăn, năm thua, dễ thất bại nhất. Ngay cả trường hợp tác giả không bại liệt và mù, sáng tạo vẫn là cực kỳ gian khổ.

Gan góc phấn đấu để trở lại bằng được với đội ngũ, với công tác, đối với người cộng sản tuổi hai mươi, vào những năm hai mươi ấy, lẽ tất nhiên không phải là để cố bám lấy một cái gì. Chọn con đường viết văn đối với anh cũng không vì “phải có danh gì với núi sông”, hay vì  một sự khẳng định mình, theo cách nói mới. Trong các di bút của tác giả, người ta thấy N.A-xtơ-rốp-xki luôn luôn ngại nhất tác phẩm của mình chỉ là một tiểu thuyết tự sự. Thép đã tôi thế đấy hoàn toàn không phải là hồi ký biến dạng của N.A-xtơ-rốp-xki. Nếu anh chỉ làm công việc đơn giản sống làm sao kể cho hay làm vậy, với ít nhiều trung thực, hoặc cũng có điểm tô đôi chút trong phạm vi lương tâm còn cho phép được, thì đâu có hao tổn mấy về tinh lực. Đi vào văn học một cách tự giác trọn vẹn, N.A-xtơ-rốp-xki khẳng định từ đầu không muốn tác phẩm của mình chỉ là câu chuyện một người thanh niên cộng sản và chỉ một mà thôi.

“Pa-ven là con tôi, đứa con của trái tim và khối óc của tôi”, N.A-xtơ-rốp-xki có lần tự nhận là mẹ của Pa-ven với ý nghĩa mang nặng đẻ đau với ấp ủ biết bao tình yêu dấu.

Tự đâu mà N.A-xtơ-rốp-xki có ý định viết Thép đã tôi thế đấy? Con người hoạt động sôi nổi ấy vốn có máu tuyên truyền viên nồng nhiệt cho chủ nghĩa cộng sản. Khái niệm tuyên truyền viên này có phần nào chưa thật rõ lắm với nhiều người trong chúng ta ở nước ta. Xã hội mới đang xác lập ở Liên Xô, thời kỳ đó, cần và có rất nhiều người thật tâm tuyên truyền bằng lời nói về việc làm cho nó. N.A-xtơ-rốp-xki sống trong không khí tinh thần và truyền thống ấy. Cho nên, đến năm 1925, vào tuổi hai mươi mốt tràn đầy nhiệt huyết, tại bệnh viện Khác-cốp, anh nằm liệt trên giường vẫn say sưa tuyên truyền cách mạng bằng kể lại những tháng năm rực lửa của mình đã trải. Nhiều người được nghe anh, khuyến khích thật lòng: “Viết đi anh!”. Ý định viết nảy trong đầu. Có lần, anh tâm sự với vợ là chị Rai-a:

  • Anh nghĩ chín rồi. Anh phải viết em ạ. Mỗi lần anh kể chuyện bây giờ, anh nhìn kỹ nét mặt những người nghe anh để thử xem anh đã nên bắt đầu công việc được chưa.

Với ý chí quyết thắng sẵn có, anh hiểu là không thể viết được nếu không tự nâng trình độ mình lên một cách đầy đủ. Từ năm 1925 đến 1930 là thời kỳ chuẩn bị cho chiến trường mới. Anh miệt mài đọc từ Pu-xkin, Gô-gôn đến Tôn-xtôi, Sê-khốp, Kô-rô-len-cô và Goóc-ki. Từ bé, anh đã có tính ham đọc. Nhưng đọc một cách tự giác khác hơn nhiều. Anh dần dần khám phá ra sức mạnh của nghệ thuật. Đó là tầm khái quát. Đó là mức điển hình.

Theo di bút của N.A-xtơ-rốp-xki, những bài báo kinh nghiệm của Goóc-ki đã giúp anh nhiều nhất. Có vốn sống sâu và dày không đủ. Văn học, nghệ thuật dựng những tính cách và sáng tạo những điển hình – Goóc-ki nhắc nhở – đòi hỏi cả trí tưởng tượng, óc tinh tế và tinh thần sáng tạo. Trong bút ký đọc sách của anh, ta thấy N.A-xtơ-rốp-xki có lần tự mỉa mai mình: “Viết như quay gà cả lông, đâu có được. Phải chịu khó học cách “làm lông” các sự kiện, tước bỏ bộ mã bề ngoài, những cái bám vào phù phiếm. Phải biết rút ra ý nghĩa mỗi sự kiện”. Cũng trong bút ký đọc sách của anh, anh nhận chân ra sự cần thiết vận dụng các sự kiện một cách thoải mái hơn, chấp nhận cho mình được bốc, bốc trên cơ sở cái lõi đã nắm được của sự vật.

Không thể nắm được cái lõi của sự vật sục sôi cách mạng, chưa ai khám phá bao giờ, một cách bản năng được. Đi đôi với tự tu dưỡng về văn học kết hợp với nghiền ngẫm trong đầu về Thép đã tôi thế đấy, N.A-xtơ-rốp-xki đã làm hết chương trình học hàm thụ của Trường đại học cộng sản mang tên Xvéc-lốp. Nằm trên giường bệnh, anh sống với một thư viện cá nhân có đến 3.000 cuốn sách. Mùa hè năm 1930, nhà văn I.Phê-đê-ép có gặp và nói chuyện lâu với N.A-xtơ-rốp-xki lúc đó chưa ai biết đến. Phê-đê-ép ghi lại trong nhật ký của mình: “Đó là một tuyên truyền viên nồng cháy, đã trải qua trường học khắc nghiệt của cuộc sống, nay lại tích lũy được một vốn hiểu biết giàu có. Người thanh niên ấy đã tự nâng mình lên đến trình độ một trí thức xô-viết, một trí thức bôn-sê-vích”.

Chính vào lúc đó, N.A-xtơ-rốp-xki cảm thấy đã đủ chín để bắt tay vào việc. Mùa đông năm 1930, anh bắt đầu viết. Không thể chậm hơn nữa vì anh đã nghe thấy trong mình sức lực ngày một suy nhanh. Không những bại liệt hoàn toàn, mắt cũng không còn trông thấy gì được nữa. Viết không nhìn sổ tay, viết không có bản nháp, không đọc lại được những dòng đã viết, không dừng được mắt trên từng chữ chưa ưng, từng câu chưa chuẩn, để mà gọt, gọt, rũa, rũa… Có lẽ không một người cầm bút nào đã trải như anh con đường khổ ải của sáng tạo. Nhà thơ lớn nước Đức thế kỷ 19 Hen-rích Hai-nơ cũng từng bị bại liệt và mù, nhưng bệnh tật chỉ tàn phá có mười năm cuối cùng của một cuộc đời năm mươi tuổi, trong đó có ba mươi năm hoạt động văn học lẫy lừng. Đối với N.A-xtơ-rốp-xki, trận đầu mới gai góc làm sao. Thành công nghệ thuật đòi hỏi không phải chỉ có nội dung chính xác, phong phú, mà hình thức cũng phải hài hòa, tác động sâu mạnh, ngấm thật lòng người.

Mấy năm ròng, N.A-xtơ-rốp-xki sống trong băn khoăn, thấp thỏm. Anh dò hỏi chung quanh:

  • Sao anh, liệu người ta có thương được chú Pa-ven của tôi không? Liệu người ta có yêu mến chú ta không? Có yêu tất cả những người con trai và con gái mà tôi đã dựng lên không?

Ngay từ khi tạp chí Thanh niên cận vệ số tháng 4 năm 1932 bắt đầu đăng Thép đã tôi thế đấy, hàng nghìn bức thư bạn đọc say mê chào mừng tác giả đã nườm nượp gửi về Xô-si cho N.A-xtơ-rốp-xki. Trong biết bao nhiêu vinh dự mà xã hổi xô –viết dành cho nhà văn con đẻ của mình, có lẽ không gì làm N.A-xtơ-rốp-xki vui sướng bằng vinh dự này: Quân đội xô – viết, sau khi Thép đã tôi thế đấy ra đời, lại ghi tên người tàn phế hoàn toàn ấy lên danh sách sĩ quan trù bị, coi anh là chính ủy binh đoàn danh dự. Nhà văn thực tế là chính ủy của binh đoàn vô tận những chiến sĩ trẻ yêu mến Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin. Ngay sau khi nhận Huân chương Lê-nin, N.A-xtơ-rốp-xki, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười năm 1935, được mời phát biểu qua băng ghi âm với quần chúng tham gia diễu hành ở Hồng trường. Bài phát biểu làm náo nức cả đất nước xô – viết năm đó: “Các bạn thân mến tôi không nói sai. Tôi tin mỗi bậc làm cha, làm mẹ đều chia sẻ những điều tôi đang cảm thấy trong lòng. Tôi sung sướng vì con tôi, Pa-ven, thế là sống được. Con tôi đem lại nguồn vui cho các bạn, và cho tôi, mẹ của cháu”.

Nhận xét của A.Pha-đê-ép ngay lúc đó về Thép đã tôi thế đấy: “Tôi thích cuốn sách trước hết vì tính đảng của nó, rất sâu và cảm thụ rất rõ, chân thật hết sức, tự nhiên hết sức. Tôi thích cuốn sách vì cách nhìn và cách cảm cuộc đời này rất mới, thể hiện ở nhân vật Pa-ven rất đỗi điển hình tuy cuộc đời kết thúc không giống một ai. Cốt cách Pa-ven đối lập hẳn với hình ảnh người thanh niên thế kỷ 19 đã được mô tả đến mức điêu luyện trong hàng loạt tác phẩm văn học Nga và nước ngoài. Hơn thế nữa, tôi nghĩ trong toàn bộ văn học xô-viết chưa có nhân vật nào dễ mến đến nhường ấy, bởi tâm hồn trong trẻo và tính chân thật”.

Không phải chỉ bằng tư tưởng mà bằng cả nghệ thuật nữa mà người con yêu của N.A-xtơ-rốp-xki đã đến rất nhanh và thân ngay lập tức với lớp thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh, tự nhận mình là thế hệ thứ tư của cách mạng Việt Nam, khơi dậy bao nguồn đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Thép đã tôi thế đấy là sách mà thanh niên ta đọc nhiều nhất ở Hà Nội, ngay sau giải phóng năm 1954, và ở Sài Gòn, ngay sau giải phóng năm 1975. Chúng ta đã đọc nó trong hầm Điện Biên Phủ và trên võng Trường Sơn. Pa-ven hôm nay, tôi tin, sẽ còn khơi gợi nhiều rung cảm và suy nghĩ đậm hơn, thắm hơn, về cuộc chiến đấu mới của chúng ta, bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, bảo vệ và phát triển tất cả những gì mà chúng ta yêu quý.

Pa-ven phải chăng là một điển hình về một tinh thần làm chủ tập thể, gần gũi, hấp dẫn, nếu không phải là đạt đến một mức cao hoàn chỉnh. Khi vấn đề chủ động xây dựng con người mới Việt Nam đã đặt ra trực tiếp lắm rồi, Thép đã tôi thế đáy có thể cho ta một khái niệm tin cậy về tư tưởng đúng và tình cảm đẹp. Trước những cơn chồm lên của những tàn dư khá là dai dẳng của con người cũ với xã hội cũ, thật đáng ngẫm nghĩ về dũng khí chống tiêu cực bốp chát của Pa-ven, có tình thương đúng và lẽ phải kiên cố (chúng tôi nhấn mạnh – PT). Tôi nghĩ lúc nào con người từ sản xuất nhỏ gian khổ đi lên cũng cần bồi bổ mãi cho mình sức tin yêu con người, cuộc sống. tính lạc quan chiến đấu thuộc về bản chất của giai cấp mới. Có nhiều điều rất đáng suy nghĩ về những điều kiện xã hội khách quan và chủ quan cho quá trình “thép đã tôi thế đấy”. Song, qua bài học về cuộc đời N.A-xtơ-rốp-xki và hình tượng Pa-ven, điều chủ yếu  làm người chính là ngọn lửa bên trong, sức đẩy bên trong của mỗi người trẻ tuổi giác ngộ sống cho ra sống. Đại văn hào Rô-manh Rô-lăng gặp N.A-xtô-rốp-xki bại liệt và mù, nằm bẹp trên giường bệnh kinh niên mà vẫn gọi anh là “bó đuốc rực lửa về tính năng động”. Làm chủ bản thân đâu có phải là cái thói khắc kỷ đạo đức giả áp đặt từ ngoài theo lối thầy Khổng. Làm chủ bản thân phải chăng là một sự giải phóng chính mình.

Càng cảm thấy cái chất con người Pa-ven, càng không thể thưởng được kiểu người máy, hôm qua hành động tụng theo sách đỏ, hôm nay bị khiển bằng những khẩu hiệu thay xoành xoạch của một tập đoàn lãnh đạo mà chính bạn lòng của họ – Kít-xinh-giơ – gần đây cũng phải suy tôn họ là vua ngụy biện. Thép không trí tuệ, thép liệt tư duy, thép mặt sắt đen sì, phản nhân văn và thui chột tính người, tình người, chỉ tạo ra giống hồng vệ binh “xoăn-xa-ốc” thạo giết người như ngóe cho cái gọi là “ăng-ca” của mồ ma Pôn Pốt.

Thép Mới

Tháng Năm 11, 2020

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục: Chị Tửu tôi

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 6:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 5 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

Chị Tửu tôi

Phạm Tôn

Năm 1998 ấy, mới nhập hội tiểu đường, tôi chưa rành luật lệ, đã để bị hạ đường huyết đến mức máu nhiễm xêtôn, vào bệnh viện Nguyễn Trãi thử máu làm cả phòng xét nghiệm thơm phức. Ông anh rể Nguyễn Đạt Hải là một trong mấy anh em đưa tôi đi cấp cứu kể lại là anh khen phòng xét nghiệm thơm quá thì bác sĩ ở đây bảo là do ông em ông đấy. Tôi hôn mê khoảng nửa tháng, ăn bằng ống xông chuyền thức ăn qua đường ống xuyên mũi vào thẳng dạ dày. Tiêu tiểu phải có người giúp. Tôi trở thành gánh nặng cho mọi người thân. Vất vả nhất và cũng lo lắng nhiều nhất là vợ tôi Lê Thị Đông, cô không dám rời tôi dù chỉ là để về nhà tắm rửa, sợ khi đi vắng thì tôi cũng đi sang thế giới bên kia.

Một tối, chị Vương Thị Tửu từ Hà Nội gọi điện vào thăm hỏi như thường lệ giữa chị em với nhau. Nhưng lúc chị hỏi cô chú dạo này thế nào thì vợ tôi buột miệng nói em chết mất chị ơi, anh Thành em sắp chết rồi. Không ngờ chỉ  vì câu nói buột miệng ấy mà mấy hôm sau, chị đã có mặt bên giường tôi tại bệnh viện, cùng vợ tôi chăm sóc tôi như một người ruột thịt. Có lúc khát nước, tôi nói Đông ơi lấy cho bố li nước, thì chị mắng ngay, không được nói với vợ như thế, khiến vợ tôi phải giải thích là từ khi có con chúng tôi gọi nhau bằng tên hoặc xưng hô bằng bố mẹ kiểu: Mẹ định thể này, bố thấy sao. Chị mới cười tha thứ cho tôi. Chị ở bệnh viện chăm sóc cho đến khi tôi ra viện, ở đến hơn một tháng trời. Mà chị ở đây thì đều kỳ các con trai gái dâu rể và nhiều cháu cũng ghé thăm tôi, có khi còn đem theo cả con nhỏ một hai tuổi. Tôi nhớ mãi cháu Kim Anh bé xíu, ngồi trên ngực tôi dùng ống nghe đồ chơi trẻ con khám bệnh cho tôi. Tôi lấy làm lạ là tôi gầy trơ xương, mặt mũi hốc hác tóc tai bờm xờm chắc trông dễ sợ lắm mà sao cháu bé vẫn tươi tỉnh khám bệnh, không sợ hãi gì hết. Có lẽ vì nó yêu bà Tửu của nó, yêu luôn cả người bà nó quí. Ở Sài Gòn mà tôi có đủ thứ quà Hà Nội, vì nhà chị có mấy cháu chạy tàu hỏa Bắc – Nam, cứ thay nhau vào thăm mẹ, thăm tôi luôn. Dạo ấy, tôi bị cấm đoán nhiều chuyện, nhất là ăn uống. Bấy giờ các hàng quà còn được tự do đi vào phòng bệnh những giờ không cấm, tôi nghe tiếng rao bánh chưng bánh giò đã thèm thì chị biết ý mua cho mỗi thứ một chiếc và lấy thìa xúc cho ăn. Tất nhiên là tránh để bác sỹ, y tá phát hiện. Tôi chưa bao giờ thấy hai món quà quen này lại ngon đến thế. Gần hai tháng cấm vận rồi còn gì, ăn qua đường mũi thì còn biết mùi vị gì nữa.bac dai bo me bac xuan va bac hai

Tôi ra viện, chị Xuân đưa về nhà chị dành hẳn một buồng nhỏ có máy lạnh cho hai vợ chồng. Còn chị Tửu, chị Xuân nghĩ ra cách trả ơn thật hay, đưa chị đi lễ các chùa nổi tiếng ở Sài Gòn như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Hoằng Pháp… Chị Tửu mặc áo dài, đeo tràng hạt đi chùa cùng chị Xuân rất vui vẻ. Thật khó ai ngờ người chị hết lòng thương tôi như vậy lại không phải máu mủ ruột rà gì với tôi, cũng chưa được tôi giúp cho công việc gì đáng để phải mang ơn.

Tôi gặp chị lần đầu tiên khi về công tác ở Đội 5, một đội tuyển toàn các nhân vật không được lãnh đạo Cảng Hà Nội yêu mến, đứng đầu là cụ đội trưởng Nguyễn Văn Sán, người mà các vị lãnh đạo ở đây chỉ muốn đào đất đổ đi. Tiện thể đổ đi luôn cả các loại ngang bướng, có vấn đề, hoặc chẳng tội tình gì nhưng già yếu như chị Tửu, đội than mấy chục năm, nay cho về làm tạp vụ chuẩn bị về hưu. Chị lo đun nước uống cho mọi người trong đội và phục vụ văn phòng. Văn phòng gồm đội trưởng Nguyễn Văn Sán, đội phó Nguyễn Khánh Chước người khu năm, chị Tửu và tôi kế toán kiêm thống kê kiêm y tá. Nhân đun nước cho cả đội, chị kiêm luôn lo bữa ăn trưa cho hai chị em và những ai muốn cùng ăn trưa. Ngoài hai chị em, có hôm có cả đội trưởng, đội phó cần họp vội cũng ăn cùng một số công nhân quên không đem đồ ăn. Chị ứng tiền túi ra đi chợ rồi nấu ăn. Ăn xong, chị tính đâu ra đấy từng món rồi chia ra giá thành một suất ăn. Tôi hai suất, vì chiều tôi cũng ăn ở đội, nhà đi sơ tán và công tác xa hết cả, ở Hà Nội chỉ còn mình tôi. Sức khỏe tôi khá hẳn lên nhờ hai bữa ăn chị lo cho. Trước khi về, chị rấm lò than, nhưng đút vào dưới lò soong cơm và thức ăn chiều cho tôi được ăn nóng. Ăn do chị nấu, tôi được biết thêm nhiều món ăn quê, kể cả món rau cần sống bóp muối ăn rất sướng  trong những ngày nắng nóng.  Mỗi lần lễ Tết, được phân phối nhiều thịt lòng hơn thì càng thấy rõ vai trò đảm đang của chị lo cho tập thể, trong đó có tôi. Chị chia phần rất công bằng, còn mớ mỡ chài, chị đem rán, rồi cho mỗi người trong văn phòng một chai mỡ nước, tha hồ xào rán. Những khi liên hoan cần đóng góp thêm tiền, chị đều thay mặt tôi giải quyết hết. Chị bảo tôi biết tính chú ấy, ai đóng thế nào, chú thế ấy, không uống rượu cũng đóng như mọi người, cốt sao cùng vui là được. Sau chị mới thanh toán riêng với tôi. Chị không ghi chép gì cả nhưng nhớ rất rõ, tính chi li không ai bị thiệt bao giờ. Chị học lớp bổ túc văn hóa tôi mở ở Cảng, năm nào cũng được giấy khen kèm bức tranh Bác Hồ thăm lớp bình dân học vụ dán ở vách ngay bên phải cửa vào nhà. Chị học chăm, chữ viết nắn nót rõ ràng và giỏi toán. Chị giỏi toán là phải. Chị tráng bánh cuốn Thanh Trì rồi đội thúng đi bán nhiều nơi, nhất là khu phố cổ Hà Nội. Toán không giỏi mới lạ. Chị làm ở Đội 5 đến trưa, chiều và các ngày lễ, chủ nhật chị đi bán bánh cuốn.

Chị xay bột, đắp lò tráng bánh rồi tự đi bán. Cứ thế mà cùng chồng nuôi được cả đàn con bốn trai, ba gái. Hồi bao cấp thời chiến tranh có chính Trung va Bac Tuusách quản lý lương thực chặt chẽ, thỉnh thoảng anh chồng là công nhân lái cẩu đi họp tối về lại nói nhỏ mẹ nó làm thế nào chứ tôi họp cứ bị chi bộ phê là gia đình vi phạm chính sách lương thực, vợ bán bánh cuốn. Thế là chị phải đi tàu điện và đi bộ đội thúng lên bán tận khu chợ Hàng Da gần nhà tôi, không dám bán gần khu vực có đông người của cảng sinh sống. Chị thấp nhỏ, nhưng nhanh nhẹn, đi đâu cũng đến. Chị phải giữ lấy nghề, nếu không thì lấy gì cho con ăn mà đi học. Hồi dân phải mua bột mì trong tiêu chuẩn lương thực, nhiều người không muốn ăn, đem bán đong gạo ngoài. Chị nghĩ ra cách làm bánh cuốn Thanh Trì bằng bột mì mà vẫn ngon dai. Chị cho bột mì vào nước, bóp kỹ, lấy ra được một nắm đen đen như cao su. Rồi lọc bột còn lại mà tráng như bánh làm bằng gạo. Còn cái nắm đen đen như cao su không ngấm nước thì chị đem nhào với một ít muối tiêu đem rán lên, không hao mỡ mà lại thành một món mới thơm ngon như giò lụa. Các con chị thích lắm, thường cùng chị nhào bột để lấy cái nắm đen đen. Ăn với cơm đã ngon, ăn với bánh cuốn càng ngon. Món ngon ấy chị chỉ để nhà dùng, bán cho khách vẫn là giò, chả thịt thật.

Có hôm tôi đang đọc sách dưới đèn thì thấy cháu Nguyễn Đức Chính con trai thứ của chị chạy bộ hơn sáu cây số lên nhà, tôi bảo cháu ngồi xem truyện trẻ con rồi lại tiếp tục đọc . Tối ấy hai chú cháu ngủ với nhau, nói đủ thứ chuyện. Tôi không hỏi vì sao tối mà cháu còn lên nhà tôi. Sáng dậy, sau khi cho cháu ăn sáng, tôi lấy sách cho cháu đọc rồi đi làm. Đến đội 5, chị Tửu cười hỏi: thằng Chính tối qua lên nhà chú phải không. Rồi lại bảo chiều chú đi làm, đưa cháu đến cho tôi. Hóa ra Chính sợ bố phạt, trốn. Anh Thuận rất nghiêm khắc, ở nhà anh phân công mỗi con mỗi việc. Trung, Chính lớn thì làm việc lớn. Chính phải lo quét dọn lau nhà sạch sẽ, ngại nhất là cái sân gạch hay có nhiều lá rụng vì nhà ven hồ, gió lùa lá về đây. Có hôm Chính đã ngủ, nghe tiếng bố gọi anh Chính là bật dậy ngay. Anh ra xem cái sân. Chính ra thấy sân đầy lá. Mặc dù ngái ngủ cũng cố quét cho sạch, chờ bố uống trà xong kiểm tra, mới lại được vào ngủ. Anh Thuận hay làm ca đêm, nhưng về là soi đèn kiểm tra hết ngoài sân trong nhà, chỗ nào chưa sạch thì dựng cổ người phụ trách dậy làm cho đến sạch. Chính tính lơ đãng, mải chơi hay bị cảnh này nhất. Nhưng không hiểu hôm nay có chuyện gì mà mới tối đã đi lánh nạn. Có lẽ làm vỡ cái gì chăng… Tôi không hỏi chuyện gì người ta chưa muốn nói.

Chị Tửu là người hay nói, nhưng càng nghe chị nói càng thấy tấm lòng của chị thật nhân hậu. Chị còn là một kho tục ngữ ca dao khiến tôi mê say nghe chị nói. Có khi chị muốn đưa ra một ý kiến thì lại diễn tả bằng cả một loạt ca dao tục ngữ khiến khó ai cãi nổi vì lời chị đã được chân lý ngàn đời chung đúc trong ca dao tục ngữ đảm bảo rồi. Có những lúc rỗi rãi, tôi thường được chị tâm sự. Đến nỗi, gần đây, cháu Nguyễn Tiến Dũng con trai út chị vào chơi, tôi dám nói với hai vợ chồng cháu là chú biết về bố mẹ cháu hơn tất cả các cháu và kể lại một chuyện cũ. Chuyện là chị nhỏ bé nhưng hơn anh mấy tuổi. Thuở cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, không hiểu thế nào anh chị được ghép thành một đôi. Anh trai cao lớn mà nhát, cưới xin xong xuôi cả rồi mà vẫn không dám vào giường với vợ. Chị thương anh lắm. Vì mỗi tối như thế là anh bị bố đánh. Một tối, chị ra nói nhỏ với anh: nhà vào đi, kẻo lại bị bố đánh tôi xót lắm. Năn nỉ mãi anh mới chịu vào. Từ đó, họ nằm cùng giường và đi với nhau suốt cả cuộc đời. Sau này cả nước đổiNguyen Tien Dung mới, tôi nghe chị kể: tôi vẫn đi bán bánh cuốn Thanh Trì, nhưng muốn đi đâu thì đi, lại đỡ mệt, vì ông ấy đèo xe đạp, đến nơi đỡ cho thúng bánh xuống còn hỏi khoảng mấy giờ thì đón ở đâu để còn đưa về.

Từ ngày tôi đưa nàng về dinh rồi cùng hợp tác sản xuất ra con trai đích tôn cho mẹ tôi, tôi chưa từng ra Hà Nội, ngót 40 năm rồi.

Có lần, chị theo con gái chạy tàu vào chơi nhà tôi, nói muốn đi xem Dinh Thống Nhất, vợ chồng tôi đưa Bac Tuu va Bochị đi suốt một buổi sáng, tôi lẽo đẽo theo sau chị chụp ảnh như chụp một bà mẹ Việt Nam Anh Hùng. Có cả ảnh chụp chị ngồi ghế tổng thống. Nhân viên quản lý dinh thấy chị được kính trọng như vậy, cũng không ngăn cản, chỉ cười lễ độ. Tôi chụp đến 40 kiểu ảnh. Biếu chị hẳn một an bom

Rồi năm 2005 con trai tôi có việc ra Hà Nội, cũng báo với cháu Dũng. Thế là ngày 31/3/2005 được đón về Thanh Trì dự buổi họp mặt cả gia đình. Anh chị đón cháu và giới thiệu từng gia đình ngồi quanh sân chung ngay trước hai tòa nhà. Con tôi được chụp ảnh với anh chị và từng gia đình con anh chị. Hai tòa nhà ba tầng giống nhau như lột có lẽ cùng một mẫu thiết kế. Một nhà ông ở với con trưởng, một nhà bà ở với trai út. Tất cả đều từ những thúng bánh cuốn do người phụ nữ bé nhỏ Vương Thị Tửu tần tảo nắng mưa tự tay làm và tự đem bán khắp phố phường Hà Nội. Chị nhìn con tôi vui vầy giữa các con cháu chị mà mỉm cười. Mỗi gia đình đem đồ ăn thức uống đến chung vui.

Dai gia dinh bac Tuu

Vợ tôi ra Hà Nội năm 2010 kỷ niệm 59 năm ngày báo Nhân Dân ra số báo đầu và nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tôi cho Co do ky niem bao nhan dansố điện thoại cháu Nguyễn Tiến Dũng và bảo cố đến thăm anh chị. Nghe tin vợ tôi ra, các cháu nói cô muốn đi xe hơi thì đã có anh Vĩnh chồng chị Chinh lái tắc xi, còn muốn xe ôm thì có nhiều tay lái lắm. Vợ tôi chọn đi xe ôm do Nguyễn Đức Chính lái, vì Chính gắn bó với chúng tôi từ những năm còn ở miền Nam, biết tính nết nhau hơn . Nhờ thế vợ tôi đến thăm được cả nhà bạn cố tri của tôi là Đoàn Di và vợ Ngô Thị Hòa.

Rồi ngày 24/10/2010, sau khi mổ ung thư đại tràng được một thời gian, tôi cùng gia đình Hai Ngoi nha cua gia dinhtổ chức đám cưới cho con trai duy nhất. Con tôi và con dâu tương lai khéo chọn nơi tổ chức đám cưới ngay khách sạn Tân Sơn Nhất, sát bên sân bay. Phòng cưới đông nghịt khách có đến 350 người. Riêng nhà tôi có đủ cả anh cùng các cháu Ánh Ngọc, Ánh Hồng và vợ chồng em trai, em gái từ Bạc Liêu lên và cháu Hoàng Anh con anh Phong Lê và chị Thanh Vân thân thiết với tôi từ thời trẻ, bạn Hùng Cường cùng học Chu Văn An xưa… Lớn tuổi nhất là cậu Phạm Tuyên cũng vào . Khi mọi thủ tục đã xong, mọi người bắt đầu nâng cốc thì từ sân bay ngay cạnh, mẹ con bạn tâm giào từ thời niên thiếu Nguyễn Thị Bạch Kim và con gái tiến vào. Nhưng đông hơn cả là đoàn khách Hà Nội do chị Vương Thị Tửu dẫn đầu. Trước ngày cưới, con trai tôi đã vui mừng báo cho tôi Bac Tuu va anh Chinhlà nhà bác Tửu đã mua đủ vé tàu đi một đoàn rất đông chuẩn bị lên đường. Rồi nghe tin mưa bão, tắc đường, tàu hỏa ngừng chạy nhiều tuyến, con tôi lo lắng. Tôi bảo con chưa biết người nhà bác ấy đâu. Sau này, Nguyễn Đức Chính vào dự đám cưới, được làm chân chủ trì việc dựng rạp và tiếp khách tại Vườn Anh Đào, đã kể rõ: đường sắt không thông, tổng thống tức là bố cháu triệu tập khẩn đại gia đình họp tuyên bố là đám cưới nhà chú Thành không phải như các nhà khác mà bảo lần này không đi thì để lần sau. Chú ấy chỉ có một con. Vì thế nhất định nhà ta phải đi. Vé tàu hỏa coi như bỏ, phải đi máy bay, nên ít người hơn. Mỗi nhà cử một người đi, một ở nhà. Vé máy bay, bố mẹ cho.

Sáng hôm đón dâu, nhạc sĩ Phạm Tuyên xin làm chân giữ chùa ở nhà tiếp khách. Tôi đề cử chị Tửu đẫn đầu đoàn. Cháu dâu út Dương Hải Yến lo không đúng lệ, vì mẹ cháu không phải người nhà. Tôi cười, cháu nói rõ nực cười, chị chú mà không phải người nhà thì ai mới là người nhà. Chị Tửu cười, mọi người cùng cười theo. Cháu chưa biết quan hệ của chị em tôi sâu sắc gắn bó đến thế nào. Năm 2020 vợ chồng cháu Dũng vào chơi lại đến thăm, cháu nói trước mặt vợ là bố mẹ cháu bao giờ cũng coi chú như em ruột.

Mùa cách li Covid – 19

TPHCM 28/4/2020

P.T.

Tháng Tư 29, 2020

Chuyện một người cháu ngoại: Vườn Anh Đào (P9)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:58 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 5 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

4- Vườn Anh Đào (9)

Chiều 8/4/1981, tôi đến nhà cụ bà Thành là mẹ bạn Long, gặp bà và cả em trai anh. Bà cụ 76 tuổi, gầy nhỏ nhưng minh mẫn, bình tĩnh nghe kể về con trai tật nguyền xa mẹ. Long vừa định tự tử một lần nữa vào đầu tháng 3. Anh rủ một bạn thân ra bờ hồ Hoàn Kiếm đãi bạn một bữa nhậu thịnh soạn rồi cùng nhau lên cầu Thê Húc, bạn tưởng cùng ngắm cảnh mặt trời lặn như mọi khi, không ngờ anh ghé tai bạn nói nhỏ: Mình chán sống rồi, cậu đỡ mình lên thành cầu rồi thả mình xuống hồ. Anh bạn vội đưa Long về nhà ở ngõ Hội Vũ khu Hoàn Kiếm. Anh còn ở lại chăm sóc bạn đến khi Long ngủ yên mới về. Đó là sau khi Long bị lấy mất số tiền dành dụm để dưỡng già. Đây là lần thứ hai anh định tự tử. Bà mẹ quyết định hằng tháng gửi cho 200 đồng, 150 để ăn cơm hàng, 50 để ăn quà. Tôi biết bà là vợ cả một ông tham, chồng đi kháng chiến, bà ở vùng Sài Gòn Pháp tạm chiếm nuôi con. Bà hai cũng ở vùng tạm chiếm nuôi hai con, nhưng tại Hà Nội. Nói chuyện một lúc bà quyết định hè này đưa Long vào Sài Gòn nghỉ ngơi may ra tâm thần thay đổi phần nào rồi sau sẽ liệu. Cậu em trai đã tốt nghiệp đại học chuyển từ Hà Nội vào, vẫn làm việc nhà nước, do tinh ý đã học thêm được nghề châm cứu, có liên lạc cộng tác với bác sĩ Trương Thìn trong hoạt động khoa học.

Năm ấy, bạn Thế Long vừa đúng 49 tuổiNhung nguoi viet cho tre em

Nhớ hồi còn ở Hà Nội, một lần tôi ghé nhà, Thế Long hỏi có bận gì không, rồi bảo tôi đèo đi đằng này. Loanh quanh mãi ra tới ven đô, đến một ngõ nhỏ thì anh chỉ vào một xóm nhà lá. Vừa dừng xe đã nghe có tiếng trẻ con reo chú Long mẹ ơi. Mấy mẹ con gầy gò vui vẻ đón khách. Lúc Long nói chuyện với người mẹ, tôi bắt chuyện làm quen với lũ trẻ đang ngồi quanh cái nồi lấy ốc luộc ra nhể. Tôi hỏi ăn ốc sao không có nước mắm gừng. Cả lũ cười. Con bé lớn hơn cả nói: Nước ốc để nấu canh (tôi nhớ câu nhạt như nước ốc, quả tình chưa thấy ai nấu canh bằng nước ốc!) còn thịt ốc để xào với giá làm món ăn trưa nay. Long ôm một cậu bé gầy gò, mắt to, bảo: Con trai tôi đây… Tôi nhớ có lần anh nhờ tôi đề hộ vào trang đầu cuốn sách của Nga xuất bản bằng tiếng Pháp. Những người viết cho trẻ em một dòng chữ: Tặng con trai của tôi, Thế Long. Anh đã nghĩ đến tuổi già, đã lo có người cùng sống với mình lúc đau yếu và bồi đắp cho người ấy từ tấm bé. Vì thế, khi mất số tiền dưỡng già, anh không muốn sống nữa. Long viết truyện thiếu nhi, viết bài cho báo nhi đồng, còn viết cả nhạc. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là cậu tôi cũng biết và có lần đưa lên sóng đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam một hai bài. Thế Long có một số cộng tác viên chuyên chép bài viết hoặc nhạc của anh.

Ton That Thanh 1981Dạo này, tôi đi hội nghị giao thông vận tải, đến các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, đi xí nghiệp 2/9 xem làm than tự thiêu kết để sản xuất đất đèn và công ty sửa chữa nhà cửa, cố đi nhiều để phát hiện ra cái mới và viết. Năng suất làm việc khá cao, số lượng chất lượng đều bảo đảm. Có điều lạ là ai gặp cũng khen là mập ra, trẻ khỏe có lẽ do vợ… khéo nuôi! Mặc dù vợ tôi vẫn ở Hà Nội. Tự mình thì biết là còn mệt, vẫn hết sức cố gắng để không đổ trong thời giao mùa vào tháng 6 tới.

Sáng chủ nhật 12/4 cùng chú Vượng đến thăm Trần Đăng Thái. Không ngờ bạn đang nằm bệnh viện Trưng Vương. Gặp cả mẹ, chị, vợ và con Thái. Chú Vượng hen mệt về, còn mình vào bệnh viện thăm bạn, mang theo món ăn vợ Thái gửi. Gặp lại một vài người cùng nằm viện cũ, càng nhắc mình phải chú ý giữ gìn sức khỏe hơn.

Chiều 16/4, vợ chồng Nguyễn Trường Phú và Bạch Thị Cúc đến thăm. Cúc sắp sinh con. Cuộc đời thật thú vị, ít ai ngờ hai bạn trẻ ấy lại gặp gỡ và khi mỗi người mỗi ngả thì lại yêu nhau, lấy nhau và bây giờ sắp có một gia đình hạnh phúc. Cúc là cháu anh Hữu Thọ. Phú là thanh niên xung phong chuyển sang báo Nhân Dân làm giao liên.Nguyen Huu Van

Buổi tối, mất điện nhưng trăng rất sáng. Hữu Vân vừa sang nhà thì Việt Bắc đến, nói chuyện rất thú vị về cuộc sống và con người, củng cố ở nhau niềm tin tất thắng vào chân lý. Hữu Vân đặc biệt xúc động, cứ khen Việt Bắc mãi, khen từ giọng nói đến dáng người, cử chỉ. Chính vì thế mà mình say mê cuộc sống hơn bất kỳ cuốn sách nổi tiếng nào. Thật sung sướng khi được sống trong tình bạn trong sáng thương yêu nhau chân thành của những con người hết sức khác nhau.

Tối 15/4, nghe đài BBC về sự xuất hiện của Hoa Quốc Phong tại lễ an táng một nhân sĩ Le Khanh Canmới biết là Mao Thuẫn đã mất. Cái tên Mao Thuẫn biến mất từ hồi cách mạng văn hóa mà chỉ còn Thẩm Nhạn Băng luôn đứng đầu các nhân sĩ nổi tiếng trong các cuộc họp long trọng. Không nhiều người biết Thẩm Nhạn Băng chính là Mao Thuẫn. Lỗ Tấn mất từ năm 1936, là người chưa bao giờ vào Đảng Cộng sản Trung Quốc nhưng vẫn được chính Mao Chủ tịch gọi là người cộng sản vĩ đại nhất Trung Quốc. Có ai ngờ, bạn ông lại phải sống thừa đến mấy chục năm như thế này.

Họp tổ phóng viên, càng thấy rõ anh Lê Khánh Căn là người thật lòng mong muốn tập thể tiến bộ. Hôm 18/4, kỷ niệm năm năm báo Nhân Dân ra số đầu tại thành phố Hồ Chí Minh, họp cơ quan, anh kêu gọi đoàn kết, đại dồng tiểu dị và nói: Tôi tuy có rất nhiều khuyết điểm, nhưng tôi chưa bao giờ cố ý hại ai, dù chỉ là rất nhỏ. Không phải ai cũng có thể nói được một câu đơn giản như thế.

28-29/4 đi Tây Ninh, dự khởi công công trình thủy lợi Dầu Tiếng – Tây Ninh lớn nhất nước ta.Vu Van Chi nhin ngang

Tối thứ bảy 2/5 đi đón Vũ Văn Chỉ về nhà. Sáng chủ nhật, cùng đi Thảo Cầm Viên. Buồn cười là hôm Chỉ đến cơ quan 28/4, mới biết là thư Tết mình gửi không đến tay, vì ghi sai địa chỉ: nay Sơn Tây đã thuộc Hà Nội rồi! Hiện chỉ là phó giám đốc Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc Văn Miếu thị xã Sơn Tây Hà Nội. Vẫn còn ham đọc sách lắm.

Nhận thư Đông, vẫn chưa mổ bướu cổ, mới đi xét nghiệm thôi, mọi việc chữa trị đều theo ý kiến cậu Khuê.

Từ buổi họp tổ chiều 4/5, mình lại được phân công theo dõi thêm hai ngành văn hóa và giáo dục ngoài ngành tiểu thủ công nghiệp. Đúng là điều mình mong muốn.

Chị Tửu vào từ 20/4 thăm Chính. Sáng 7/5 lên tàu cùng cháu Nguyễn Thị Chinh về Hà Nội. Mình gởi cho Đông mấy cái bút bi, và hai tập sách Tự học nấu ăn. Muốn gửi cho Đông một ký muối bột để súc họng buổi sáng, bà chị tưởng là nói đùa nên không nhận.

Buổi tối, mưa một trận khá lớn. Trưa hôm sau, lại mưa một trận nữa. Thế là mùa mưa bắt đầu rồi. Hai hôm liền rất mệt, đêm ho nhiều mặc dù đã uống 4 viên đêcadôn. Sáng dậy đo nhiệt độ thấy lại sốt, bèn lấy streptô tự tiêm vào mông 1/2g. Chiều tiêm nốt, mặc dù biết làm như vậy là đi vào con đường sai lầm rồi đấy, sử dụng kháng sinh bừa bãi, nhưng biết làm sao. Hôm sau sẽ đi khám cho rõ bệnh trạng. Bài tuần này đã viết xong, chỉ còn chép lại. Hai tháng 5, 6 là hai tháng dễ đổ nhất. Mình định viết 6 bài, thật ra không khó, chỉ lo ốm thôi. Sức khỏe bình thường thì xong ngay, toàn là những vấn đề mình nắm vững trong tay. Các buổi tối nay đến hết tháng 6 chủ yếu chỉ nghỉ ngơi, gặp gỡ chuyện trò với bạn bè và đọc linh tinh, không nghiên cứu học hành gì nặng nề. Sáng 9/5, đi khám bệnh, bác sĩ kê đơn đúng như mình đã thực hành hôm trước: streptô, đêcadôn… Có điều tới 6 lọ streptô  vì cho là nặng hơn lần trước, tuy vẫn là viêm phế quản. Chính chị bác sĩ cũng sợ là bị lờn thuốc do dùng nhỏ giọt thế này. Lại tự tiêm vào mông. Hôm nay thấy đau nóng hơi đỏ. Sợ lại áp xe, mất thời giờ….

Mình muốn viết một bài về vở kịch Vụ án Êrôxtrát. Tên bài phải là Đả đảo Êrôxtrát đập lại lời y mấy lần hô to Êrôxtrát muôn năm. Dù báo đăng hay không đăng, một bài như thế cũng nên viết lắm, ít nhất cũng trút được hết sự khinh bỉ, căm giận đối với loại người chuyên sống và phất lên nhờ những nhược điểm, thiếu sót của người khác. Suốt đời mình muốn Đả đảo Êrôxtrát.Nguyen hung Cuong

Suốt ngày 17/5 mình dậy sớm viết bài. Chú Vượng biết ý đi chơi một mình, không nói lời nào. Cái bài này, phải nghĩ mãi mới tìm được đúng cái giọng để viết cho hấp dẫn một vấn đề quá khó về đấu tranh  tư tưởng trên mặt trận văn hóa. Tên bài là Một cuộc tổng vệ sinh lớn trên thành phố mang tên Bác. Vừa viết xong câu cuối thì Vượng về. Mình bảo làm cơm ăn đi, đói quá rồi. Vượng hỏi ăn bữa trưa hay bữa tối? Mình nói ngay tất nhiên là bữa trưa, sáng đã nhịn rồi. Vượng cười tối rồi ông ạ. Và hai anh em cùng  làm cùng ăn cơm tối. Thế ra hôm nay mình ăn có một bữa…

Tối 17, Hùng Cường trong nhóm bạn cố tri Di, Quang, Cường, Thành đến chơi. Ba con rồi, một trai hai gái. Dạy học và ở luôn trường đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức.

Tối ấy đọc cho Hùng Cường, Hữu Vân và chú Vượng nghe bài mới viết; ba bạn đều thích. Vân bảo: Bài này trúng gu báo mình quá rồi. Nhưng mình nói ngay: Chưa biết có đăng không… Sáng hôm sau, đưa ngay anh Lê Khánh Căn. Rồi đi họp góp ý cho Đảng viên cả hai buổi, hết cả ngày.Dong va anh Hai chi Xuan

Trưa 18/5, nhận thư Đông: Hình như em có mang thì phải… Nếu đúng thế, thật tuyệt diệu. Đời mình sẽ sang một trang mới, sống nghiêm chỉnh và có trách nhiệm hơn… Bắt đầu viết báo ngoài đi là vừa.

Mới qua khỏi một cơn tiêu chảy, có lẽ do ăn thịt bò nhúng giấm hôm bế mạc hội nghị bảo vệ vận tải đường sông. Mệt, nhưng không có gì nghiêm trọng cả. Như vậy là mới kháng cự Giay ra vien Le Thi Dongđược có 22 ngày vẫn còn 40 ngày nữa mới thoát cái lệ đổ vào thời giao mùa.

Chiều thứ bảy 23/5 đến 302 Thành Thái (nay là Trần Bình Trọng) quận 5 thăm dì và các em, được biết anh Hải đã ra Hà Nội. Chờ anh vào sẽ biết kết quả việc hình như em có mang. Một tuần sau, anh Hải vào, báo một tin buồn: Sau khi ra Hà Nội được một hôm, anh đèo xe đạp chở Đông xuống nhà chị Thu thì Đông bị sảy thai, thai chết lưu, ra ngay tại nhà Thu. Đông gầy và xanh xao lắm, cứ bắt anh phải giấu mình chuyện này. Mình viết thư cảm ơn vợ chồng chị Thu đã săn sóc, giúp đỡ Đông, cũng báo tin ngay cho anh Đại chị Thủy. Có thư Đông, nhưng còn để ở nhà anh Hải, cũng chẳng vội đi lấy, vì việc cấp bách lúc này là gửi thuốc bổ cho Đông. Không ngờ mình kết thúc một tuần làm việc cật lực đầy hy vọng như thế này.

Sáng 6/6 đã gửi Nguyễn Văn Thành bạn Chu Văn An mang ra 20 ống Vitamin B12 1.000gama và 100 đồng. 8/6, cháu Chinh con chị Tửu ra, gửi thêm được một ký đường. Chinh mang cho mình hai giỏ sách to Đông gửi và cho biết Đông gầy lắm. Chị Tửu cũng từng bị tương tự hồi 1970, lên cho cả một bu gà giò. Chị khuyên Co Hiennhiều ý kiến xác đáng của người từng trải. Cũng viết thư cho Trần Văn Cảnh, nhờ vợ Cảnh là nha sĩ Nguyễn Thị Hiền đến thăm, viết cho em Nhàn báo tin buồn.

Từ tháng 6 này, bắt đầu thi hành chế độ phụ cấp lương 90-110%. Mình thuộc loại 105%. Nhân viên cán bộ thành phố Hồ Chí Minh nói chung không ai phấn khởi, vì nói chung, lương thấp, thu  nhập bị hụt so với trước đây chỉ phụ cấp 15% 20% nhưng ai cũng có bữa ăn trưa 60 đồng. Thành phố hứa tìm nguồn bù số bị hụt. Phải nói rằng tấm lòng thương dân của lãnh đạo thành phố này như các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ người dân rất biết ơn.

Tối thứ năm 11/6, Ánh Ngọc từ Đà Lạt về. Chân đau sây sát mưng mủ mấy chỗ. Lại đau răng, mang theo một lọ vỏ cây hoa đại ngâm rượu. Ngay chiều hôm sau mình đưa cháu đến bệnh viện Điện Biên Phủ nhờ bác sĩ trưởng khoa Trịnh Công Khởi khám cho: Ba răng hàm bị sâu và một mọc lẫy. Chắc cháu đau lắm. Sáng 13, đến chụp phim xong nhổ ngay một cái. Hôm sau, chữa mấy răng còn lại.

Mình đi làm, Ngọc ở nhà tha hồ đọc Gorki, Tônxtôi, Gabrilôvich. Sau, còn cho đọc thư em Nguyen Anh NgocNhàn hồi mới vào đời lên nông trường Mộc Châu từ 1960, vừa để học theo cô vừa chuẩn bị cho sau này còn về Bạc Liêu sống với cô. Ngọc đọc say mê, luôn thấy ghi vào một quyển sổ bìa đen. Mình cũng nói với cháu về tấm gương Phạm Hồng Sơn và tìm tài liệu cho cháu đọc về người anh thân thiết của mình. Mình bắt đầu nói với cháu những điều nghiêm chỉnh, vì thấy cháu đã bắt đầu trưởng thành qua một năm dạy ở vùng núi Tà In Đơn Dương Lâm Đồng. Hơn nữa, hôm mới về, khi rửa vết thương và băng bó cho cháu, thấy rõ cháu có nghị lực, chịu đau mà không kêu một lời. Thế là tốt rồi, có thể tạm yên tâm.

Thứ bảy 13/6, đúng ngày kỉ niệm một năm mình đổ phải nằm viện, báo đăng bMot dot dau tranh ve van hoa cua thanh pho ho chi minhài về quét sạch văn hóa đồi trụy phản động ở thành phố, nhưng cắt xén đến què cụt, không nhận ra bài mình viết nữa. Anh Lê Khánh Căn cũng tỏ ra không hài lòng về việc làm này mà anh cho là tùy tiện. Anh cho biết đã ghi vào bài mình viết, nhận xét: Bài này viết hoàn toàn đúng  tình hình rất khẩn trương đang diễn ra tại thành phố. Đây là lần thứ ba bài mình viết hăng say tâm huyết bị lâm vào cảnh này.

Vẫn cảm liên miên, mệt mỏi quá, thật là phiền. Dạ dày lại muốn giở quẻ phải uống thuốc trấn áp ngay. Bản thân mệt rã rời, lại còn lo chữa răng cho cháu Ngọc. Thương con bé quá, chịu đau bao ngày rồi.

20/6, em Nhàn lên, trưa 24/6 thì đưa Ngọc về Bạc Ton Nu Thi Thanh NhanLiêu, việc này do vợ chồng anh Đại bàn với Nhàn quyết định. Chiều tối, 23/6 mình và cháu Chính ra ga Hòa Hưng đón tàu Chinh đưa sách vào và nhận thư Đông bảo gửi ra cho 200 đồng, mình gửi Chinh đem tiền ra ngay và viết thư nhắn bán hết chỗ sách tiếng Nga lấy tiền bồi dưỡng. Chiều 24/6 chị Thu và con trai là Sơn vào, Dong ho long chimnói là Đông đã mập hơn hồi Tết. Trưa 25/6, gặp anh Đạt Hải, anh bảo nên đưa Đông vào Công ty cấp thoát nước số II. 30/6, Chính về đơn vị chuẩn bị 2/7 lên tàu ra Hà Nội. Gửi cháu mang ra cho Đông cái đồng hồ lồng chim, hai gói Nguyên Dương Đại Bổ, một gói hạt tiêu, một gói mì chính. Đó là tất cả những gì mình có.

Anh Nguyễn Ngọc Lương đến chơi, nhắc mình viết bài kiếm ít chục tiêu. Anh buồn về tình hình chung lắm.

Trưa 17/7, nhận thư mẹ, anh chị bảo vay tiền cho Ngọc ra Hà Nội chơi. Mẹ viết: Anh chị ấy như sống trên cung trăng.

28/7, Nhàn, Ngọc và Hùng con Nhàn từ Minh Hải lên. Sáng sớm 2/8, Ngọc đi Đà Lạt. Sáng 7/8 Nhàn, Hùng về Bạc Liêu.

Đã gửi thư cho anh Đại yêu cầu tham gia chi viện cô Bảy ở Huế. Mỗi người gửi một quí 100 đồng. Em Nhàn quí 3, mình quí 4. Rồi đến anh và Thân. Cô già yếu lại nghèo quá. Lo được việc này, nhẹ cả người.

Nhàn lên từ 19/8 đến sáng 22 thì về Bạc Liêu.

Từ sáng chủ nhật 23, không biết sao chú Vượng không nói một câu nào. Sáng 26, ăn cơm mình rang rồi mang gạo và nước mắm đi làm. Mang theo cả nắm đậu giải nữa. Không cùng làm cơm ăn cả ngày như những hôm mất điện mọi khi nữa. Hóa ra là do Nhàn yêu cầu Vượng thanh toán tiền ăn của em gái ở nhà Nhàn một năm nay mà Vượng vẫn chưa ý kiến gì. Mình biết khi em Vượng xuống Bạc Liêu đúng lúc mẹ ốm nhà Nhàn đang neo người nên hai bên đều vui vẻ cả. Sau lâu ngày, mới sinh chuyện. Vì thế, việc hai người cứ để hai người tự giải quyết, không can dự thêm lôi thôi, mình đành cứ im lặng đọc sách. Sáng chủ nhật 30/8 đến nhà Trần Đăng Thái, cô Oanh vợ Thái giữ lại ăn trưa, chẳng mấy khi dân Hà Nội gặp nhau. Rồi sang nhà chị Xuân nhậu với anh Hải. Về ghé nhà Văn Thảo Nguyên ở 150 Trần Hưng Đạo nói chuyện đến 17 giờ mới về thì gặp Ngọc từ Đà Lạt về. Khi Vượng về, hai chú cháu mình đang nấu cơm cà ri.

Sáng 2/9, cùng nhau ăn mì Hung do Đông gửi cho. Ăn xong, Vượng đi ngay đến 17:00 mới về. Hai chú cháu nấu xúp gà ăn với bánh mì, biếu cụ Năm một tô lớn, gọi là quà kỷ niệm lần thứ ba ngày cưới của vợ chồng mình. Sáng 3/9, ăn sáng xong Vượng cũng đi luôn. Khoảng 9:00 nấu nướng cơm trưa xong hai chú cháu xuống quận 5 thăm nhà chị Loan vợ anh Vân ở 556 Nguyễn Chí Thanh. Chồng chị mất ngày 5/11/1980 sau 15 ngày nằm bệnh viện vì bị ngã khi xách nước lên nhà cho vợ con. Ánh Ngọc quen biết gia đình anh chị từ hồi cùng ở khu Kim Liên Hà Nội. Đám cưới mình năm 1978, anh đến mang một gói giấy báo nhưng nói nhỏ gói xấu xí nhưng quà đẹp lắm đấy: một bộ sáu tách đĩa thủy tinh trắng đục nổi hình rất đẹp. Con trai lớn là Hà 17 tuổi đi học ở Tiệp, còn một gái ba trai sống cùng mẹ. Chị và bốn cháu vui mừng đón chú cháu minh. Tha hương gặp đồng hương mời ở lại ăn mì xào giá thật chân tình. Không biết chị và các cháu sống bằng cách nào. Chiếc xe máy của anh Vân đã biến mất rồi… Rời nhà chị Loan, hai chú cháu lại đến bệnh viện Chợ Rẫy thăm anh Nguyễn Văn Sứ làm cùng cơ quan, lại cùng ở Vườn Anh Đào. Anh bị ung thư gan do uống quá nhiều rượu. Người gầy rộc, mặt vêu vao, toàn thân vàng ệch. Bụng dã trướng to, hai chân bắt đầu phù. Hằng ngày đều tiếp glucô. Anh thều thào bảo vào thăm là quí rồi, mang hoa quả vào làm gì, có ăn được đâu. Mọi người và bệnh viện đều giấu anh bệnh trạng, nhưng xem ra anh cũng biết mình chỉ nằm chờ chết. Anh có vợ và con hai trai hai gái. Năm nay, anh Sứ cũng 49 tuổi như anh Vân.Bui Thuong Nghien anh moi nhat

Hơn 11:00 hai chú cháu về thì chú Vượng đã ngủ. Chiều, cùng ăn cơm, chú chẳng nói chẳng rằng mang ra một bát muối lạc. Hai chú cháu không ăn muối lạc, cũng chẳng thấy chú nói gì. Buổi trưa, chú có một cô bạn tên là Đào và ai cô nữa đến chơi. Mình mời các cô ngồi rồi xuống nhà cụ Năm. Ngọc mắc lại đành ra sân ngồi.

Ngày 5/9, đúng bốn giờ sáng đèo xe đạp đưa Ánh Ngọc ra bến xe đi Bạc Liêu, lại bắt đầu một đoạn đời mới của cháu sống cùng bà nội và gia đình cô Nhàn

Chú Vượng giữ im lặng vừa được hai tuần. Mình chịu đựng sự việc này chẳng khó khăn gì. Mình chỉ nghĩ đến chuyện viết cái gì đó cho các báo ngoài. Sáng chủ nhật 6/9, đến nhà anh Lương rồi mắc lại đó luôn cố làm cho chị vợ hiểu, nhịn anh ấy một chút vì dạo này anh  lo nghĩ nhiều chuyện đời, lại bận viết sinh ra hay cáu gắt vô lý với vợ con. Mãi 10 giờ mới đến được nhà anh Bùi Thượng Nghiễn. Nói chuyện cởi mở chân tình, nghe nhạc giao hưởng của Grieg, cả giao hưởng số 9 của Bêtôven, ăn cơm với canh chua, thịt kho mắm. Cái cảnh gia đình êm ấm nền nếp nhà anh bao giờ cũng khiến mình thoải mái.

Sáng thứ ba 8/9 mãi 8 giờ mới phải họp ở trụ sở Công đoàn trung ương, mình ung dung thì chú Vượng lại khẩn trương, dậy là lo làm cơm ngay. Hóa ra ăn xong, chẳng biết làm gì… Vậy là sau hơn hai tuần, mọi việc lại như cũ. Chiều 13, cháu Chính từ Hà Nội vào ở lại đến trưa 14 thì về doanh trại Biên Hòa. Không tải được sách vì đến nhà không gặp Đông. Chính kể tóc Đông bạc nhiều lắm. Trưa 15/9, nói với Vượng mấy câu chuyện tầm phào. Chiều, hai anh em đến bệnh viện Chợ Rẫy viếng anh Nguyễn Văn Sứ tại nhà xác bệnh viện.

Sáng chủ nhật 27/9 cùng ba anh em Thạch, Nghiên, Du và anh Nghiễn đến Nghĩa trang Bà Quẹo thăm mộ mẹ ba anh em mất hôm 11/9. Nghiên cho biết Đông bảo chỉ còn chờ quyết định của bộ là vào. Cũng cuối năm rồi. chắc cũng sắp vào thôi.

Sáng 29/9, tính cả tháng đã gửi 1 bài, 14 tin, 5 báo cáo, đã đăng 7 tin (4 trang nhất) gần gấp hai chỉ tiêu: Quan trọng là vẫn không ốm. Bao giờ mới hết phải lo về sức khỏe đây. Chiều chủ nhật mưa 4/10, nhận thư Đông. Viết thư ngay cho Đông và anh Đại, báo là Ngọc đã về Bạc Liêu, và viết thư về Bạc Liêu hỏi tình hình cháu về đấy thế nào. Trưa 6/10, Hữu Vân cùng cô cháu Hằng đi tàu hỏa ra Hà Nội, mình gửi bánh xốp cho các cháu và xì dầu Con Mèo cho Đông.

9/10, họp cơ quan, anh Lê Khánh Căn thông báo là anh Nguyễn Thọ trở lại làm phó ban Quang Thai Hoang Tuan Nhathư ký, anh Quang Thái về phụ trách phòng tư liệu, anh Phạm Thanh làm phó ban Công thương, anh Hoàng Tuấn Nhã làm phó ban văn hóa- văn nghệ, anh Thành Tín (đại tá) từ báo Quân đội nhân dân về làm trưởng ban quốc phòng – an ninh. Đây là bước đầu cải tiến tổ chức, sẽ còn tiếp tục…

13/10, nhận thư mẹ và cháu Ngọc. Cả nhà khỏe, tiến bộ. Ngọc dạy ở trường bổ túc công nông. Bé Hùng đã đi học lớp I. Chuyện buồn chỉ là… heo ốm và đẻ rồi thi heo con chết làm cả nhà bận rộn, lo lắng.Chuyen nha chuyen ap chi O

15/10, báo đăng một bài mình viết mà rất chán, còn hai bài rất thích thì chưa đăng. Vừa gửi một bài không thích nữa, chưa biết thế nào. Mình cố gò viết theo kiểu khô khan, cụt lủn chung chung của ban công thương mà không quen được. Cuối cùng, đành cứ viết theo cách mình thích rồi tùy Hà Nội cắt gọt sau. Các bài đều viết trực tiếp bằng máy chữ, chỉ viết văn ở nhà mới dùng bút bi. Vừa gửi một bài cho Công nhân giải phóng và một cho Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, dều là bài đã gửi báo Nhân Dân cả, nhưng vì sợ bị cắt xén hoặc bỏ không đăng.

Chủ nhật 18/10, nhận thư Đông viết ngày 13. Đông rủ Ánh Hồng sang nhà ngủ để cô cháu cùng ăn cơm sáng còn đi học. Hồng chỉ mong về sống với bố mẹ, con bé tình cảm lắm.

Sáng nay ghé thăm bà dì Đông thấy cậu Đình em Đông đang tổ chức sản xuất lốp xe đạp, lấy nhãn hiệu là Công Bằng.

Tối 24/10, đi xem Đoàn Bông Sen biểu diễn tại rạp Bến Thành. Tình cờ ngồi hàng ghế sau lưng Thế Thanh ở báo Phụ nữ thành phố. Thanh ngoái lại đưa cho một phong bì đựng 20 đồng nhuận bút bài Chuyện nhà, chuyện ấp chị O. Đây là nhuận bút đầu tiên nhận tại Sài Gòn, những bài viết cho báo này đều ký tên Nguyễn Thị Trung. Cùng lúc chuẩn bị viết trên các báo Sài Gòn một số tạp văn cho Sài Gòn giải phóngVăn nghệ thành phố. Cũng là một cách tập dần nếp sống bằng nghề viết chuyên nghiệp. Vì dù sao thì cuối cùng mình và gia đình cũng phải sống bằng nghê viết mà thôi. Bây giờ mới quyết định vào nghề kiếm sống không phải là sớm, chẳng qua nay mới có thời cơ…

Ngày 30/10, nhận thư Đông: Em cố gắng vào với anh trước Tết.

Tối 2/11, viết thư cho mẹ, báo tin cả bốn anh em cùng giúp cô Bảy ở Huế. Cũng viết thư cho anh Đại nói con bé Hồng chỉ mong được về sống với bố mẹ ở Kim Liên thôi.

Dạo này, tổ phóng viên bàn bạc nhiều về việc chỉ đạo viết của tổ. Anh Lê Khánh Căn như muốn né tránh việc chỉ đạo cụ thể, chỉ nói chung chung. Hay anh lại sắp ra chăng…

Trưa 6/11, đưa bài Hạnh phúc tuyệt vời cho Thế Thanh. Bài viết về ca mổ hai bé sinh đôi dính xương chậu và chỉ có ba chân. Mới gặp, Thanh đã hỏi: Anh cho em bài phải không. Khi đọc xong lại nói: Báo phụ nữ thành phố phải có những bài như thế này mới được. Còn hỏi mình có viết gì cho báo Tết không.Ton Anh Hong

Trưa 16/11, đi làm về nhận thư mẹ và chị Thủy. Mẹ khỏe. Ngọc dạy học nhiều gầy sút hẳn đi. Ánh Hồng được về nhà sống với bố mẹ rất mừng. Đông đã nghỉ để học thi tốt nghiệp. Việc vào Nam bên Bộ Xây dựng không có trở ngại gì.

Trưa cũng sang gặp Hữu Vân mới từ Hà Nội vào. Các anh ở Hà Nội khen mình làm việc tốt, thưởng cho khoảng 90 đồng. Bài về hai cháu sinh đôi anh Hồng Hà duyệt rồi, đặt ở phòng thư ký. Ban biên tập nhận xét là đã có thiếu sót trong bồi dưỡng và sử dụng số phóng viên lứa tuổi 40 – là bọn mình – bây giờ phải đặc biệt chú ý những người viết được.

Ngày 19/11, báo đăng một tin khoa học ở trang 3 và bài hai cháu song sinh ở trang 4. Vậy là 6 tin 1 bài, vượt mức xa. Trưa nhận thư Đông: Vẫn báo sẽ vào trước Tết.

Đọc một bài về Ilya Êrenbua của Liên Xô đăng trên Văn Nghệ thành phố thật là thú vị: Một nhà văn + nhà báo, khiến mình thêm yêu mên nghề mình đã chọn từ năm 18 tuổi.

Vừa may, bài hai cháu song sinh đăng ở báo Phụ nữ thành phố ngày 20/11, sau báo Nhân Dân  vừa đúng một ngày. Đọc nguyên văn bài này thú vị hơn bài ở báo ta. Từ tuần sau, các tối đều viết bài cho báo bạn. Hết tối nay là uống hết chỗ mật gấu còn lại pha một chén rượu. Cốt sao không để khi vợ vào thì chồng đang ốm nằm bệnh viện.Pham Bieu Tam

22/11, em Nhàn lên, phải chờ khá lâu vì mình đến bác sĩ Phạm Biểu Tâm nói chuyện đến hơn 11 giờ trưa mới về. Cả nhà ở Bạc Liêu đều mạnh khỏe. Báo hôm nay đăng tin về thương binh xã hội Sông Bé và một tin khác. Thế là tháng này 9 tin rồi, khá quá.

Tối 25/11 đi xem Đoàn ca múa Đắc Lắc biểu diễn. Độc đáo, mới lạ, mạnh khỏe, nổi bật lên trên cái nền ê a rên rỉ, não tình tỉa tót tình cảm Nhac si Nguyen Cuongcá nhân đang rất thịnh ở thành phố Sài Gòn hiện nay. Cả 1.247 tác phẩm dự giải thi ca khúc đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1981 mà chỉ có vài ba bản tươi sáng, sảng khoái, mạnh khỏe. Còn đây là cả một chương trình ngồn ngộn sức sống mãnh liệt của Tây Nguyên. Lần đầu được nghe ca sĩ Rơ Chăm Pheng hát bài Hơ den lên rẫy của Nguyễn Cường tươi tắn, trong sáng, mạnh mẽ. Nghe nói nhạc sĩ và biên đạo múa của đoàn này đều trẻ và là người Hà Nội, trong đó chủ yếu là nhạc sĩ Nguyễn Cường, một người con Hà Nội gốc, chính tông dân phố cổ Hàng Bạc, thấm nhuần khí vị Tây Nguyên đến mức không ít người tưởng anh là người Tây Nguyên. Mình tự hào lây được là người Hà Nội.

Sáng nay, đã báo cho Đông biết mình sẽ ra Hà Nội họp vào trước Tết. Rồi sẽ đưa nàng về dinh.

Các tối 26, 27 và sáng 27 đều đi xem hội diễn. Các tác phẩm dân ca, nhạc cụ dân tộc được người xem hoan nghênh nhiệt liệt. Nghe nói nhạc sĩ Lư Nhất Vũ sưu tầm được nhiều dân Lu Nhat Vuca Nam Bộ, tập đầu sắp xuất bản đã 40 bài rồi.

Mấy hôm dự hội nghị, nói chuyện nhiều với một bạn trẻ đáng mến có bút danh Công Nhân, tên thật là Cát Vũ phóng viên báo Tuổi Trẻ. Tụi em thèm lắm mà không có thời giờ dọc sách. Chỉ có ăn, ngủ, đi và viết mà vẫn không kịp mức mỗi tuần hai bài, còn tin nữa. Em ho đã một tháng nay mà chưa đi khám bệnh được, vì đi là mất hết một buổi….

Sáng 30/11, mưa nhỏ, nối tiếp trận mưa suốt đêm qua. Đọc báo, đăng tin bài thứ 11 mình viết tháng này. Khá quá. Viết cho báo bạn được rồi.

Chiều sơ kết liên hoan ca múa độc tấu tại nhà hát lớn. Họp về thì nhận được giấy mời dự hội nghị khoa học kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp thành phố ngay sáng hôm sau. Thế là phải đến cơ quan làm tin để sáng hôm sau không phải vội. Cứ đà này thì chẳng đi sâu vào lĩnh vực nào được cả. Gần như không còn cả thời giờ để suy nghĩ. Báo hằng ngày quả là vắt kiệt sức con người ta.

Hai hôm nay, đều cùng họp ở nhà hát lớn cùng Trần Thanh Phương, nay vẫn ở báo Giải Tran Thanh PhuongPhóng. Chiều qua và trưa nay đều nghỉ ngơi ở nhà anh ta và cùng trò chuyện. Phương say mê sưu tầm tư liệu và có xu hướng trở thành nhà biên khảo, đã viết cho công ty du lịch mấy tập giới thiệu thành phố Hồ Chí Minh. Còn nhận viết cho Kiên Giang và đang cùng mấy người nữa làm một tập danh nhân Miền Nam, trong đó Phương viết phần từ 1930. Mình cũng ham hiểu biết, thích đọc sách tư liệu, nhưng chưa bao giờ thích làm những việc như biên khảo mà chỉ thích đến say mê viết truyện ngắn, càng ngắn càng thích. Mình nhớ mãi một lời Txê-khốp nói với bạn được một báo ta trích dẫn: Nếu tôi có 1.000 đô la thì tôi sẽ chỉ viết những truyện ngắn đầy một lòng bàn tay. Ông đã viết hơn 700 truyện ngắn để kiếm tiền nuôi bảy miệng ăn trong gia đình. Ông lấy của người bệnh đến khám ở phòng mạch riêng thay cho thù lao chủ yếu là những chuyện họ kể cho ông về đời mình,Vi sao Gooc Ki viet thanh cong chuyen vui ay gia đình, bà con và hàng xóm láng giềng vùng quê nghèo. Tất nhiên mình cũng rất ham viết tiểu phẩm, tạp văn kiểu Lỗ Tấn. Có điều, ham đọc, học hỏi, ham nghe, nhìn, nhưng lại lười ghi chép. Mất mát khá nhiều. Có những điều mình nói, người nghe còn nhớ hàng chục năm mà mình thì lại quên mất.

Ngày 4/12 coi như thắng lớn. Báo ta đăng bài của mình ngay đầu trang 2. Tòa soạn gửi vào thưởng 135 dồng, cao nhất tổ. Sáng làm hai tin về hội nghị khoa học kỹ thuật. Chiều đánh máy bài mới dịch tối qua gửi Phụ Nữ thành phố: Vì sao Goóc-ki viết thành công chuyện vui ấy. Rồi tiện máy, làm luôn hai tin, một báo cáo. Trận mưa tin đã khiến tòa soạn chú ý. Nắm được vấn đề rồi, viết rất dễ và nhanh.

Đọc bài viết về E.Littré, kinh ngạc thấy ông làm việc từ 8 giờ sáng đến 3 giờ sáng hôm sau. Nhiều ngày ông làm luôn đến hết sáng hôm sau. Tuyệt vời. Littré chỉ giải lao vào đúng nửa đêm lúc vợ con đã ngủ. Gia đình thật hiếm có.

Đầu tuần, nhận thư Đông: đang xin giấy tờ chuyển vào, mong mình ra lắm.

Trong này, mình cũng đang cố làm cho xong những việc được giao để xin ra sớm, cùng Đông lo cho xong giấy tờ trước Tết. Sau Tết chỉ còn đưa vợ vào thôi. Phải cố giữ sức khỏe cho thật tốt, không là hỏng việc lớn. Sau khi dã nhờ chú Vượng đưa cho Tuất Việt hai bài vui Chịu, chịu rồi Tiếng thét trong tiệm cà phê (viết từ 1967, may mà còn), sáng 9/12 lại đánh máy gửi Một chuyện xếp hàng ở Hà Nội (viết từ 1969). Và táo bạo hơn nữa, gửi cho anh Hoàng Tuấn Nhã phó ban Văn hóa – văn nghệ báo Nhân Dân truyện ngắn Độ pH (viết từ 1962 chữa lại năm 1969). Cứ thử liều xem sao, cùng lắm là rơi vào sự im lặng đáng sợ thôi. Dù sao, cũng đến lúc xuất đầu lộ diện rồi.

Hai hôm sau, Tuất Việt viết thư trả lời, khen hai bài Chịu, chịu rồi Một chuyện xếp hàng ở Hà Nội là hay và tốt. Còn bài Tiếng thét, có lẽ đọc vội quá nên không hiểu định viết gì. Dù sao cũng mời cộng tác rồi.  Thế là thắng trận đầu.

Sáng thứ bảy 12/12, đưa Apôxtôlốp nhà báo Bun ga ri thăm Trường cai ma túy Binh Vu Tuat VietTriệu, rồi Viện Y Dược học dân tộc, gặp cả viện trưởng Trương Thìn. Tối đưa đi xem biểu diễn ở Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, nghe Bùi Công Thành solo violon và Quốc Trụ đơn ca nam trầm từng học ở Bungari. Nghe Bùi Công Thành đàn Moda, Bach và Paganini mà liên tưởng đến thiên tài trẻ Đặng Thái Sơn, nghĩ đến những truyện ngắn mình mơ ước viết. Thấy cần làm việc nghiêm túc, cẩn thận đều đặn và kiên trì hơn nữa. Phải suy nghĩ và viết thường xuyên, hằng ngày, bỏ qua tất cả những gì không liên quan đến việc viết.

Cả ngày chủ nhật 13, chỉ nghỉ ngơi, đọc linh tinh để phục hồi sức khỏe sau mấy ngày tiêu hao do việc cơ quan giao dẫn khách, cũng như mình mở đợt tiến công mới trong việc viết cho báo bạn.

15/12 anh Cung Văn ở Sài Gòn giải phóng gọi điện báo đã nhận được mấy bài sẽ dùng ngay và dùng vào số Tết, yêu cầu gửi thêm, cần lắm. Cung Văn rõ ra là người thông minh, hiểu ra ngay ẩn ý trong các bài cũng như nhiệt tình mong mình cộng tác. Tiếc là chưa gặp mặt anh ta lần nào, chỉ mới văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình.Truyen Tinh

18/12, đã gửi Truyện Tình hết sức là vui. Bắt đầu ghi thêm Nguyễn Chung kể, để rộng đường viết lách hơn. Lo thân, nên tìm đọc lại Lỗ Tấn viết về châm biếm và humour. Quả là khó khăn, nguy hiểm, nhưng mình lại rất mê thể loại tiểu phẩm này.

Ngày 20/12, Sài Gòn giải phóng đăng Chịu, chịu rồi với tên mới là Từ xì đô la đến mi đồ phá trong mục Sài Gòn muôn mặt. Trận đầu đã mở. 21/12, lại thăm Thế Thanh, báo Phụ nữ thành phố nhận đăng tới ba cái mình gửi lại còn yêu cầu viết tiếp. Xem ra Nguyễn Chung trình làng không đến nỗi xoàng. 20:30 ngày hôm sau, Cung Văn báo đã nhận bài sẽ đăng ngay Truyện Tình, Cùng vui… mà đâm ra lo: Làm sao mỗi tuần đều có một cái gì vui nhộn đây…

Trưa 22/12, em Thanh Tuyền con cả cậu Tuyên dẫn bạn trai tên là Hà đến nhà. Em đã 23 tuổi, công tác ở Vụ Kế hoạch Tổng cục dầu khí, tạm ở 7 Mạc Đĩnh Chi. Hôm sau lại đến đưa hộp thịt anh Đại gửi cho và thư anh.

Trưa 24/12, nhận thư Đông (viết 16/12) mong mình ra lắm rồi. Lạ là chẳng nói gì về chuyện chuyển vào cả. Cuối thư có viết về vợ chồng ông em. “Em có cảm giác ngày càng tệ hơn… kiểu sống ấy lại đang phù hợp với hoàn cảnh hiện nay…” Thật ai ngờ hòn đất mà cũng biết nói năng, hiền lành như Lê Thị Đông mà cũng có nhận xét thật đúng và sắc xảo. Họ diễn tài quá, đến mức chính họ cũng không biết là mình đang diễn nữa, tưởng vai họ diễn chính là bản thân, những con người đạo cao đức cả. Thật tội nghiệp…

Chính Bêtôven cũng có một ông em. Và Lỗ Tấn cũng có một ông em. Xem ra chính những ông em đó đã khiến cho những ông anh càng thêm quyết tâm đi theo con đường đã chọn để trở thành những con người chân chính vì thấy rõ con đường ngược lại sẽ dẫn người ta đi đến đâu.

25/12, em Nhàn lên, mang cho thịt, bánh tét để ăn đường. Bột ngọt, hạt tiêu làm quà cho Hà Nội dùng trong ngày Tết.Cu Nam va be Thien Anh

Tối Nôen, mình làm việc một lúc rồi xuống cụ Năm không con cháu nói chuyện vớ vẩn và đưa thằmg cu Long ba tuổi đi chơi quanh quẩn mé bên kia đường. Bố mẹ nó bỏ nhau. Bà ngoại cùng mẹ và cậu nó đi chơi từ chiều bỏ nó ở nhà cho cụ Năm. Nó thấy bóng mình là chạy ra gọi. Tội quá. Mình đưa nó vào hàng bánh kẹo, mua cho gói kẹo bi, nó bảo không ăn, thích ăn bánh xốp kem kia, mình đâm lao đành theo lao mua bánh xốp kem cho nó, rồi dẫn về trả bà Năm kẻo nó lại đòi nữa.

Chắc là Đông đang mong lắm. Lại ngồi dẩu mỏ ra mà thêu trên cái khung gỗ tròn đòi mình mua gửi ra dạo nào để thêu carô như mấy cô bạn.

(Còn nữa)

Ngày 23/2/20202

P.T.

“Truyện Tình” / “Vì sao Goóc-ki viết thành công chuyện vui ấy”

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 5 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

“TRUYỆN TÌNH”

(Không phải là tác phẩm của Ê-rích Xê-gan, mặc dù, bản tiếng Anh,

chưa xuất bản, cũng có tên là Love Story)

Nguyễn Chung

Đã bốn tối rồi, chàng ôm đàn ghi-ta gảy mãi cái bài Truyện tình nổi tiếng một thời ấy mà vẫn chưa thấy có một dấu hiệu gì chứng tỏ cho chàng biết là tiếng đàn của chàng đã dến tai nàng. Chàng chờ tối đến, là lại leo lên gác cao, hướng về phía nhà người đẹp, đúng chỗ cửa sổ ngay giường nàng nằm, mà tiếp tục mãi cái điệu “Tính tình tình tính tính, tình tình tính tính”.

Tối hôm thứ sáu, chờ nàng đi học bổ túc văn hóa về, chàng mới cất giọng đàn, và chỉ ngừng khi hai tay đã mỏi rã rời. Nhưng, vẫn không thấy động tĩnh gì. Cánh cửa sổ nhà người dẹp vẫn khép kín.

Tối thứ bảy, chàng bắt đầu đàn ngay từ lúc đường phố lên đèn, và chỉ ngừng khi chính chàng cũng không sao còn ngồi ngay ngắn được nữa, buồn ngủ quá rồi. Bỗng có tiếng lách cách nơi cửa sổ bên kia, chàng hồi hộp nhìn sang, lắng nghe, tỉnh như sáo. Cửa vẫn đóng im ỉm; có tiếng đóng cửa kính bên trong. Chàng nghe rõ tiếng đóng cửa kính mà thấy thương nàng lạ. “Con gái, chịu lạnh đâu có bằng con trai…” – Chàng thầm nghĩ vậy.

Hôm nay, chủ nhật. Chàng được mấy em bé “cộng tác viên” của chàng cho biết là nàng đi lao động, làm thủy lợi ở ngoại thành cùng với cơ quan. Chàng vạch một phương án tấn công mới. Suốt ngày chàng ngủ; tỉnh lúc nào là lại luyện ngón đàn lúc ấy: cứ “tính tình tình tính tính..” mà chơi, đúng như một thằng bạn “quân sư” đã dặn. Rồi lại ngủ. Tỉnh dậy lại đàn. Cho đến lúc tự mình cũng thấy cảm động vì tiếng đàn mùi mẫn của mình, chàng mới chịu thôi. Cơm chiều xong lại nằm chờ tối đến…

Tối ấy, trăng sáng mờ, trời hơi se lạnh… Chàng vác đàn lên sân thượng, lại leo ra tận mái hiên mà ngồi cho gần nàng hơn. (Nguyên cái chuyện dám mạo hiểm ngồi cheo leo như vậy, cũng đã nói lên lòng chàng sẵn sàng hy sinh vì nàng nhiều lắm chớ!). Chàng bắt đầu bằng ngón clát-xích, rồi đột ngột chuyển sang Phla-men-cô- đúng như lời “quân sư” dặn: “Có đột ngột như thế, nó mới có tác động mạnh, hiểu không?” Quả nhiên, tác động mạnh thật. Vừa chuyển điệu được năm phút – đúng hai mươi hai giờ ba mươi lăm, theo đồng hồ của chàng – cửa sổ hé mở. Rồi hai bàn tay trắng muốt đẩy rộng hai cánh cửa ra. Và nàng, chính nàng, con người đã làm chàng bao đêm ngày thao thức, chính nàng hiện ra rõ mồn một trong khuôn cửa, lộng lẫy dưới ánh trăng mơ màng… Chàng nhắm mắt lại, tận hưởng những giây phút thần tiên bấy lâu mong đợi. Nhắm mắt lại để thấm lấy từng lời thốt ra từ cái miệng xinh xắn của nàng…

Và sau đây, chúng tôi xin chép lại nguyên văn những lời chàng đã được nghe đúng lúc hai mươi hai giờ ba mươi lăm phút đêm trăng ấy:

  • Suốt cả tuần, làm khổ lỗ tai người ta, người ta đã không nói gì thì thôi. Tối chủ nhật, lại vác đàn, ghé tận giường người ta mà gảy, không để cho ai ngủ nữa hay sao? Người ta còn đi làm, đi học, chớ bộ lông bông hoài như mấy người sao. Thanh niên gì mà biếng nhác, không biết mắc cỡ gì cả… Nói cho anh hay, tối mai mà còn vác đàn lên mà quấy phá bà con như tuần rồi, là tôi kêu an ninh liền, cho anh tập rèn luyện trong lao động để nên người…

Và, tất nhiên, “truyện tình” của chàng – Vâng, chỉ của một mình chàng thôi! – đến đây là kết thúc. Kể cũng hơi bi thảm đấy, nhưng không đến nỗi có ai chết chóc gì như trong truyện của Xê-gan.

N.C. (kể)

—-o0o—-

VÌ SAO GOÓC-KI VIẾT THÀNH CÔNG CHUYỆN VUI ẤY?

Nguyễn Thị Trung

Năm 28 tuổi, văn hào Nga Mắc-xim Goóc-ki cho đăng báo một truyện ngắn hài hước rất được bạn đọc ham thích vì đã chân thật, lại dí dỏm, hấp dẫn. Đó là truyện Cần phải tổ chức công việc nội trợ như thế nào?Mac xim gooc ki thoi tre

Người đọc, không mấy ai ngờ rằng truyện ngắn đó lại ra đời trong một hoàn cảnh kỳ lạ như thế này…

Vi sao Gooc Ki viet thanh cong chuyen vui ayTháng 8 năm ấy, Goóc-ki cưới Ê-ca-tê-ri-na Vôn-gi-na, một nữ nhân viên của báo Xa-ma-ra. Đôi vợ chồng trẻ cùng về Nhi-giơ-nhi Nốp-gô-rốt, là quê hương Goóc-ki, để hưởng “tuần trăng mật” và bắt đầu xây dựng “tổ ấm gia dình”. Họ thuê một căn buồng nhỏ, sắm ít đồ đạc cần thiết nhất và sống trong… giấc mơ tình yêu. Cho đến một hôm, bỗng cả chàng và nàng cùng “phát hiện” ra là … trong nhà không còn gì có thể… ăn được cả, mà trong túi thì lại chẳng còn một đồng xu nào. Lấy gì đi chợ đây? Nàng lo âu, chưa biết nên giải quyết cách nào, thì chàng đã vừa cười, vừa nói lớn: “Yên chí, cứ yên chí, có tiền ngay thôi!” Và chàng ngồi ngay vào bàn, cắm đầu viết lia lịa. Chẳng mấy chốc, một truyện ngắn sinh động, vui nhộn, đầy tinh thần tự phê bình chân thật đ

ã ra đời. Goóc-ki mang ngay đến tòa soạn báo Nhi-gi-gô-rốt. Một lát sau, anh trở về, chìa tay cho vợ: “Thế là lại có tiền đi chợ rồi!” Thì ra, tòa soạn đọc bản thảo, cười chảy nước mắt, đành ứng trước tiền nhuận bút cho Goóc-ki, ông chồng giàu tài văn chương nhưng kém tài … tham gia quản lý gia dình.

N.T.T. (kể)

Tháng Tư 13, 2020

Chuyện một người cháu ngoại_Vườn Anh Đào (P8)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 4 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

4- Vườn Anh Đào (8)

Do cháu Nguyễn Thị Chinh con chị Vương Thị Tửu làm nhân viên đường sắt Bắc – Nam lo vé cho mà mình đã lên được tàu sáng 16/1. Lần này đi phép vừa lo việc nhà vừa họp phóng viên thường trú nên sẽ kéo dài. Chú Vượng bảo phải Le Xuan Vuongchuẩn bị gạo kha khá, không thể để bà chị phải lo. Chú mua suất gạo cả hai anh em, để anh đem đi, ở nhà lo sau. Vượng lại nghĩ ra cách làm sao mang được nhiều gạo mà không lôi thôi. Chú bảo mở va li ra cho bao vào một bên xong mới trút gạo vào. Đầy thì gần hết gạo. Bên kia để quần áo, quà cáp. Đóng lại gọn gàng, lịch sự, không ai ngờ thực chất là một …bị gạo to. Lúc lên tàu, thấy tôi xách khó khăn, mấy bạn trẻ bảo anh cứ lên toa, chúng em đưa va li qua cửa sổ cho. Khi vác mấy cậu mới than sao mà nặng thế, anh đựng sắt thép à. Rồi cũng xong. Nhờ chỗ gạo ấy mà vợ chồng gặp nhau không đến nỗi chạy gạo từng ngày. Chú Vượng tinh ý chu đáo lo cho mình như em lo cho anh, như vợ lo cho chồng. Chú bảo anh em mình cứ sống với nhau, đố đứa nào làm gì được. Một biết nhìn xa, một biết nhìn gần. Cái gì cũng biết. Việc gì cũng xong.

Đến Hà Nội trưa 19/1. Từ 23 đến 28/1 họp phóng viên thường trú. Các bạn đã có ngay bài Le Dang QuangĐầu năm trú họp thường kỳ… Song song với bài vè cứ dài ra mãi không biết làm từ năm nào: Trần Quỳnh mà lấy Lan Hương/ Thì ra Đào Việt Nguyễn Tương chưa già… Gần cuối bài có nhắc đến cả tên Nguyễn Trung (tức là tôi) kèm tình tiết li kỳ chiều nào cũng lảng qua Ngõ Huyện là nơi có nhà cô bạn Đinh Bá Đào nhắm cho tôi. Nói li kỳ vì tôi hoàn toàn không biết có chuyện này và cũng chưa lần nào nhìn rõ mặt cô bạn! Sáng 31/1, tôi cùng Đoàn Di đạp xe sang Yên Viên thăm vợ chồng Lê Đăng Quang. Kéo nhau về nhà Di, sau đó lại về ăn chiều ở nhà tôi 20 Hàng Da. Rồi một hôm nữa lại ăn trưa ở nhà tôi. Di kể là Quang cứ nói là: nếu như trước kia, tao đã sang ở với thằng Thành suốt những ngày nó ở Hà Nội. Quả tình Quang với mình cũng hơi đặc biệt. Nhà Di ở phố Đường Thành, ngay gần nhà mình, còn Quang ở gần Cột Đồng Hồ tận bờ sông Hồng. Vậy mà tối nào Quang đến chơi nhà mình hai đứa cũng lang thang khắp các phố, khi về đến nhà mình, Quang bảo về, thì mình lại tiễn Quang đến tận… nhà Quang, rồi Quang lại phải đưa mình về. Rõ là không muốn rời nhau. Quang cưới vợ từ năm 1963, hôm cưới không mời mình mà đưa cho một vé xem phim ở rạp Tháng Tám. Phim gì cũng chẳng nhớ. Vì khi chiếu phim, Quang ngồi giữa vợ mới cưới và mình mà chỉ quay sang mình nói chuyện suốt buổi. Quang từ chối việc được thăng chức vì còn lo học. Bạn vẫn sống như xưa, giản dị chân thành và chăm chỉ. Ba thằng bạn lại như hồi xưa, mỗi người mỗi tính nết nhưng kính yêu nhau và tin nhau thật lòng.

Có gặp em Thân mấy phút, em đã hỏi ngay việc mẹ bảo sẽ ra vào đầu năm là thế nào. Mình nói thật không biết gì. Sau đó, có một tối cả vợ chồng Thân và hai con gái sang nhà đúng lúc mình đang tiếp Di, Quang, anh của Di và hai chú Chung, Nghiên thân nhau từ hồi ở Cảng Hà Nội, cùng đi Quảng Bình năm 1968-1969. Đành nói chuyện chung chung. Mà mình cũng chỉ mong có như thế.

Tối 30 Tết, ăn bánh chưng, uống rượu ở nhà Đoàn Di, có đĩa chè kho đắp cao trên đĩa và nồi thịt đông nấu cả nhiều xương ống, ai ăn thì múc bằng muôi, đúng là cỗ quê. Ăn xong, hai vợ chồng theo hẹn đến nhà Việt Bắc đón Bắc – Chi, rồi cùng Bắc – Chi, Cương – Thiết đi chơi đón giao thừa. Ba đôi: vợ chồng mình mới cưới, Bắc – Chi sẽ cưới sau Tết, còn Cương – Thiết chưa biết khi nào. Để vui vẻ chờ giao thừa, mình kể chuyện vụ đón dâu li kỳ, chú rể bộ đội Nguyễn Xuân An lái xe đưa cả mẹ vợ, bạn xuống … con mương gần Hải Hậu. Không ai nhịn được cười. Ba cặp đôi đón giao thừa tại Bờ Hồ. Bắc – Chi cứ nói mãi: Thật vui quá. Không biết bao giờ mới lại được vui như hôm nay. Tôi biết các bạn đang đầy niềm vui trong lòng, câu chuyện tôi kể chỉ là cái duyên cớ để niềm vui bộc lộ ra ngoài dễ dàng hơn.

Có điều này chắc là cô Chi chưa biết. Ngay trước khi tôi vào nằm bệnh viện Trưng Vương vì bệnh viêm phổi rồi phải qua Viện điều dưỡng nằm mấy tháng, thì tối hôm trước Việt Bắc đến chơi, nói chuyện đến khuya rồi nói: em ngủ lại được không. Tôi bảo có giường đó vì Vượng đi Đà Nẵng mà. Hóa ra chú có chuyện lớn muốn nói với tôi. Chính tối đó chú thổ lộ tình yêu kỳ lạ với một cô học sinh của mình từ ngày mới gặp mặt. Tôi bảo lâu thế rồi, sao không cưới đi, cô ấy cũng đã tốt nghiệp đại học. Để lâu quá không hay đâu. Sáng hôm sau, tôi dậy trước còn chú trút được bầu tâm sự, vẫn ngủ ngon lành. Khi chú dậy tôi đã nấu xong nồi cháo giò sống với hành tiêu thơm phức. Chú ngạc nhiên, thấy tôi  ăn sang như vậy. Từ ngày biết bị bệnh nặng, dùng hết hai viên contac bảo bối không thuyên giảm, tôi đã nhờ cụ Năm mua cho giò sống hành hoa rau mùi để nấu cháo ăn cho đỡ mệt. Chú không ngờ khi tiễn chú về là tôi đi ngay đến bệnh viện … Tôi cũng có công với chú như cậu Vượng có công với tôi trong việc nhân duyên tế nhị.

Sáng mồng I Tết, vợ chồng tôi sang Đường Thành thăm bà mẹ Di, thăm một bà bác nhà chi thuy anh daiĐông, thăm lại nhà 16 Hàng Da biết bao kỷ niệmPham Khue mot minh o bac lieu vui buồn đau khổ sung sướng thời trẻ rồi xuống nhà anh Sâm- chị Thu nhà Đông. Ăn xong lại sang nhà anh Đại – chị Thủy trò chuyện nghỉ ngơi rồi ăn chiều ở đó cùng với gia đình em Thân. Cả ba gia đình kéo nhau đến thăm cậu Khuê, gặp cả mợ An và em Hùng. Cả đoàn lại sang thăm nhà cậu Tuyên, xem tivi ở đấy cho đến 11 giờ đêm. Cậu hiện ở có một mình.

Mồng hai, bạn Nguyễn Văn Chiên lại chơi. Chiên học với mình từ tiểu pham tuyen anh mot minhhọc sau vào học ngành chế biến thủy sản. Nhưng do ham học ngoại ngữ, giỏi tiếng Anh, Pháp nên được trọng dụng. Chiên vừa đi Pháp, Ấn Độ, Liên Xô, Thụy Điển về. Vẫn thật thà, sôi nổi dễ thương như 30 năm trước.

Ăn cơm trưa ở nhà bà bác Đông bên Đường Thành.

Sáng mồng ba đến cơ quan họp mặt đầu năm. Anh Hoàng Tùng sẽ thôi làm báo, anh Hồng Hà lên thay. Còn anh Thép Mới sang làm phó ban văn hóa. Gặp bạn Trịnh Bân, nay lái xe ở Đại sứ quán Liên Xô. Kéo luôn Bân về nhà vừa lúc ba bố con Di đến chơi, mời tất cả vào mâm cơm Tết ngon lành vợ đã nhanh trí bày ngay ra. Tết làm sao mời ai ăn được. Thật may và vui. Trưa mồng bốn Tết, cháu Chinh mang đến nhà quà bà gửi từ Bạc Liêu: Cá lạc, cá trích khô, đậu xanh, lạc và nếp. Mình chia ba anh em mỗi nhà một ít. Chiều đi dự đám cưới Việt Bắc và Kim Chi tổ chức ngay tại nhà Bắc số 174 Triệu Việt Vương, Hà Nội. Chi và Đông gặp nhau lần đầu đêm 30 Tết mà như thân quen nhau đã lâu, quí mến như chị em ruột.

Sau đám cưới Bắc – Chi, vợ chồng mình đến thăm thánh thất Cao Đài Hà Nội, gặp anh Tô Văn Pho, chị Miên và cụ bà Hiền. Cháu Thu Giang, con Thân, tự nhận là con trai bác Thành, theo chúng mình trong suốt cuộc đi ngày Tết vui vẻ này.

Cả nhà mình chỉ có mẹ và cụ Hạt là theo đạo Cao Đài. Mẹ theo đạo sau khi chị Tôn Nữ Tuyết Mỹ mất năm 1949 mới 15 tuổi. Bà vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã giới thiệu mẹ đến đây, nơi mọi người coi nhau là anh em trong một gia đình, chia sẻ nỗi đau của mẹ. Từ đấy, các đạo hữu trong thánh thất Cao Đài Hà Nội như người thân của gia đình mình, vui buồn cùng chia sẻ. Vì thế hai vợ chồng mình có dịp là đến thăm. Cưới năm 1978 tận Sài Gòn cũng nhận được quà của họ.

9/2 vẫn còn một vị khách cuối cùng đến nhà vào dịp Tết, đó là cô Chung bạn chí thân của Đông, cố đến để biết mặt… chồng cái Đông! Vợ mình làm xôi xéo, măng ninh chân giò thết khách.

Thật không thể ngờ được là cho đến ngày 23/2 mình vẫn còn ở Hà Nội. Mà ở một cách đàng hoàng mới hay chứ… Sau cuộc họp phóng viên thường trú, Phan Quangmình xin nghỉ phép. Tiếp đó lại được anh Phan Quang phụ trách phóng viên thường trú đồng ý cho ở lại dự sinh hoạt nghiệp vụ trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 30 báo Nhân Dân ra số đầu tiên (11/3/1951). Mỗi tuần lại chỉ tổ chức có hai buổi vào sáng thứ sáu và thứ bảy. Thành ra mình đành viết một bài về hợp tác xã cơ khí Đồng Tâm quận Gò Vấp vì có mang theo tư liệu và định sẽ viết một số Huu Thomẩu nhỏ cho ban văn hóa kẻo… lương tâm cắn rứt…

Thật ra trong đời mình quen bị xa lánh, kỳ thị, cho nên cảm thấy ngỡ ngàng khi đi đâu cũng lọt, muốn xin gì cũng được như hồi này. Lý do cũng hơi khó hiểu. Vụ trưởng vụ tổ chức kiêm phó bí thư Đảng ủy khi nào gặp mình cũng nheo mắt cười, còn mọi người đều rất ưu ái sẵn lòng giúp đỡ. Kỳ lạ thật. Đợt sinh hoạt nghiệp vụ này chắc chắn là sẽ rất bổ ích, lý thú. Vì mới nghe hai báo cáo của các anh Phan Quang và Hữu Thọ về phóng sự điều tra và công tác phóng viên đã thấy rất hấp dẫn, toàn những vấn đề cần suy nghĩ sâu xa. Mình mong chóng được đưa những suy nghĩ mới mẻ ấy vào các trang viết về thành phố sôi động nay đã trở thành thân thiết yêu mến với mình.

Sau mấy hôm nắng ráo, tưởng như đã sang mùa hè thì mấy hôm nay lại hơi lạnh, ẩm ướt vì mưa xuân. Những ngày như thế này, đọc Lịch Thiên Nhiên và Bốn Mùa của Prisơvin thật là thú. Tất nhiên cũng còn vì đắm chìm trong hạnh phúc tình yêu chân thành mộc mạc của Lê Thị Đông, vợ yêu của mình.

Vấn đề là phải tổ chức lại cách sống, nếp làm việc, nhất là chống lại cái bệnh lười cố hữu của mình đã làm mất đi biết bao nhiêu tư liệu quí, ý nghĩ hay… Phải viết hằng ngày, ghi chép tất cả những gì quan sát và suy nghĩ thật kịp thời. Không để trí tuệ lãng phí vào những chuyện tào lao chỉ có ích cho người khác mà làm mất quá nhiều thời giờ và sức lực của mình. Sáng 24/2, viết thư cho mẹ nói rõ là  nên ở lại Minh Hải một thời gian nữa sau sẽ ra hẳn. Hiện nay ngoài này xem ra chưa sẵn sàng. Cũng viết thư cho bác sĩ Đặng Vũ Tứ con trai dì Hỷ (HTKP 407 TP HCM) hẹn gặp ở Sài Gòn khi Tứ từ Campuchia về.

Mãi 28/2 mới chính thức được phép ở lại dự Lễ kỷ niệm 11/3 ra số báo đầu tiên. Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức kỷ niệm tại chỗ; phóng viên không ai ra.

Mấy hôm nay chỉ chăm chú đọc Nguyễn Trãi – Thăng Long – Hà Nội một tập sách sắc xảo của Sở Thông tin Văn hóa Hà Nội xuất bản năm 1986.Thang Long Nguyen Trai Ha Noi

  • Gian nan nhiều, tư lự sâu.
  • Lo phiền mới đúc nên tài
  • Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc

Nhà ngặt đèn xanh, con mắt xanh

  • Cúi ngửa theo người chịu chẳng đương.
  • Phú quí lòng hơn phú quý danh.
  • Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái.
  • Một cày, một cuốc thú nhà quê,

Ánh cúc, lan chen vãi đậu, kê.

Thỉnh thoảng lại đọc Chuông nguyện hồn ai của Hêminhuê cho Đông nghe từng đoạn. Mình tự nhận là Rôbert. Còn Đông tất nhiên là Maria rồi. Thật thú vị, chân tình mộc mạc mà dư âm sâu xa

Sáng chủ nhật 1/3 Đông ở nhà học thi, mình đến nhà anh Đại, đưa anh xem thư mẹ, thư em Nhàn rồi ở lại ăn bún với mắm tôm chưng thịt, món ngon đất Quảng chị Thủy ăn hồi nhỏ ở đấy, may mà còn nhớ cách làm. Ngon quá. Mẹ đã nhổ hết hai hàm răng, chuẩn bị lắp hai hàm giả. Tết, Ngọc về Sài Gòn hôm 27 và về lại Đà Lạt ngày 8 tháng giêng. Có thể xin được cho Ngọc về chỗ Nhàn.

Ngày 8/3/1981 vợ chồng mình đã sống với nhau suốt một ngày vui. Mình tổ chức một bữa tiệc thật ngon kiểu Tây để đãi thượng khách là quí bà Lê Thị Đông. Buổi chiều dì Hỷ lại chơi và đến tối thì có chị Thủy , Ánh Hồng. Anh Đại phải đi công tác một tuần từ sáng 8/3 nên chiều 6/3 gia đình anh cùng vợ chồng mình đã xem phim, ăn uống và trò chuyện đến 21 giờ ở nhà anh kỷ niệm 8/3 cũng là kỷ niệm ngày cưới của anh chị và ngày sinh cháu Ánh Ngọc. Mình tặng chị Thủy món quà lạ là bốn lá thư cũ từ 1958: Một thư mẹ, hai thư mình gửi anh Đại và một thư chị gửi mình. Chị chăm chú đọc, vẻ xúc động lắm. Quà 8/3 của mình chỉ có thế.

Sáng 10/3, lễ kỷ niệm 30 năm báo Nhân Dân tổ chức trọng thể, vui vẻ tại tòa soạn 71 phố Nguyen Trong Dinh va Phu hieu thanh nien phat hanh baoHàng Trống Hà Nội. Ông Trường Chinh đến thăm, đọc một bài chuẩn bị sẵn. Cụ vui và xem ra còn khỏe lắm. Tổng biên tập Hoàng Tùng nhấn mạnh: Báo đúng đắn nhưng chưa hay và chưa chú ý đào tạo đội ngũ. Trong phòng truyền thống của báo có trưng bày phù hiệu của Đội thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân trong một tủ kính. Trên tường có treo ảnh Nguyễn Trọng Định (1942-1968), mặc quân phục, đeo súng. Định là em Nguyễn Thị Bạch Kim bạn tâm giao chung thủy của mình từ năm chúng mình cùng 15 tuổi (1955). Bach kim va Thanh DongHồi Định học đại học, Kim đã nhờ mình kiếm chỗ cho Định dạy bổ túc văn hóa, mình lại phải nhờ Phạm Duy Phùng. Hồi Bạch Kim học Trường Âm nhạc Việt Nam, mình nhờ cô Bảy nhận thêm len cho Kim đan đỡ tiền ăn học hằng tháng. Kim đan giỏi, cô cũng vui vì nộp đúng hạn, năng suất lại cao, được tổ len khen. Mình giao len và đưa tiền công tận tay Kim ở trường tận Cầu Giấy.

Liên hoan xong, mình và Phạm Thị Sửu (Phạm Hồ Thu) đến trụ sở báo Hà Nội thăm Lê Minh Khuê đang ốm. Tình cờ gặp nhà thơ Xuân Quỳnh đi chiếc xe sô lếch mù đạp chân đến thăm, mang theo một cái xô, bảo là nghe nói bên hội nó quét vôi, tranh thủ đến xin một ít về quét tường nhà bẩn quá. Xem ra mọi việc lớn nhỏ trong gia đình đều một tay chị lo. Lê Minh Khuê buồn bã dù vẫn giữ cái giọng bỡn cợt hài hước cốt để che giấu nỗi buồn chán của mình. Tất nhiên, không vui còn vì đang ốm nữa.

Xuan Quynh Le Minh Khue Pham Thi Suu

Tối 11/3, hai vợ chồng đi xem vở kịch Bungari Đêm cuối cùng ở Tây Ban Nha của Đoàn Kịch Hà Nội ở rạp Công Nhân Tràng Tiền do tòa soạn mời. Sáng 12/3 đã nhờ Nguyễn Văn Phú xin được cái giấy mua vé tàu, không lẽ cứ phiền anh Nguyễn Thọ mãi dù anh không từ chối bao giờ. Sáng 23/3 đã mua được vé đi vào trưa 28/3. Tuyệt vời, dự được tất cả các buổi báo cáo nghiệp vụ quan trọng nhất.

Trên đường từ ga về, gặp anh bạn Thế Long tật nguyền dễ thương của mình đang đứng bên một cái cân có biển bìa viết Cân sức khỏe. Ai cân thì trả một hào. Mình đứng lại nói chuyện và thu tiền hộ Long. Một số người nhìn mình nghi ngại, rõ ràng lành lặn mà làm cái nghề này…Bạn già yếu quá, mắt đỏ quạch rơm rơm ướt khi kể là bị anh rể ở cùng nhà lấy hết tiền cậu ta để dành dưỡng già. Mình hỏi địa chỉ mẹ Long ở Sài Gòn hứa vào là sẽ đến nhà nói cho gia đình biết sự thật. Sau này, mẹ và em trai đã đón Long vào Sài Gòn sống cùng, mình đã đến nhà thăm. Long được nghỉ ngơi và được cậu em châm cứu hằng ngày.

Chỉ một tuần qua mà vợ chồng mình đã xem đến ba lần, lại còn mời anh Đại chị Thủy, rồi cả Nghiên, Chung đi xem vở kịch Liên Xô Vụ án Êrôxơtrát. Chuyện xảy ra ở Hy Lạp 300 năm trước công nguyên về vụ đốt đền thờ nữ thần Áctêmít, một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Mà tính thời sự vẫn còn nóng hổi: Tội ác nếu không bị ngăn chặn, sẽ giống như quả bóng tuyết, càng lăn càng lớn và cuối cùng biến thành tảng đá. Êrôxơtrát là kẻ đốt đền, điển hình cho loại người khôn ngoan, xảo quyệt, chuyên đi guốc vào bụng thiên hạ, sống bằng những nhược điểm khuyết điểm của người đời.Nhà hát kịch nói dựng, diễn tại nhà hát lớn, mỗi ngày ba buổi, toàn bán vé theo hợp đồng, chưa bán tự do buổi nào. Vé chợ đen 15-50 đồng mà muốn mua cũng khó. Cơ quan báo Nhân Dân mời các vị cộng tác viên và toàn bộ cán bộ phụ trách xem vở này vào đêm kỷ niệm báo ra số đầu. Cả cơ quan sôi nổi bàn tán về vở kịch, đua nhau tìm vé đi xem. Người xem rồi ai cũng cố xem lại một hai lần vì chưa thuộc. Đúng dịp này, đoàn kịch Hải Phòng mang vở tủ của mình lên Hà Nội. Không có khách xem, chạy từ rạp Hồng Hà sang rạp Công Nhân, rồi biến mất. Mặc dù vở Con cáo và chùm nho của họ đâu có kém. Cũng của LLe Khanh Caniên Xô, lại viết về Êdốp lỗi lạc.

26/3, anh Đại chị Thủy và ánh Hồng đến nhà chia tay mình. Ăn lạc rang, bánh phồng tôm và chè đậu xanh. Nói chuyện về vở kịch. Đọc báo Văn Nghệ mới biết tác giả vở kịch là Grigôri Gôrin.

Trước khi lên tàu vào Sài Gòn có đến nhà Lê Đăng Quang, nhưng không gặp. Người nhà cho biết Quang đi học cả ngày. Cậu ta vừa ho ra máu cách có nửa tháng, bệnh lao cũ lại muốn quay về hay sao… Trưa 28/3 Đông và Đoàn Di tiễn tận cửa sổ tàu. Sáng 31/3 thì về đến Sài Gòn.

Sáng 1/4 đã đến trình diện anh Lê Khánh Căn tổ trưởng mới và anh chị em trong tổ phóng viên. Chiều, ở nhà soạn báo và làm cơm ngon hai anh em ăn. Mình chỉ mệt, còn Vượng thì đang ốm, chính thức lên cơn xuyễn rồi, thở khò khè suốt đêm, có lúc phải ngủ ngồi.

Hai anh em định tối đến nhà anh Lương thì anh lại đến. Quyển Nguyễn Trãi – Thăng Long – Hà Nội mình tặng làm anh vui quá. Anh khuyên mình viết ký để anh cho đăng ở báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, anh còn nhận là mỗi lần ra Hà Nội sẽ cố tải sách của mình vào cho..

Sáng 3/4 đã viết thư cho mẹ, Đông và Ánh Ngọc. Cũng đã đưa quà gia đình Băng Tâm gửi cho cô. Tối thì Trần Văn Vĩnh đến, khỏe mạnh, tươi tỉnh. Mình đưa bản thảo những bài Nguyễn Khải viết năm 1974 và Nguyễn Đình Thi viết năm 1980 đăng trên báo Nhân Dân cho em. Vĩnh ngồi ngay trước mặt mình chăm chú đọc, vẻ xúc động lộ rõ trên nét mặt.

Mình vẫn ho và tức ngực quá…

Suốt cả ngày 4/4 đi họp về giao thông vận tải của các quận huyện Sài Gòn. Bao giờ cái không khí căng thẳng gay go quyết liệt trong các hội nghị về giao thông vận tải cũng hấp dẫn mình, thậm chí khiến mình say mê. Cả bên tích cực lẫn tiêu cực đều dữ dằn, không khoan nhượng. Mình tự biết, bản thân cũng là thứ dữ, chỉ có cái vẻ bề ngoài hiền lành mà thôi. Thật lòng, chưa mấy khi thấy sợ ai.

Tiếc rằng, vẫn ho và sổ mũi…

Sáng chủ nhật 5/4, hai anh em dọn dẹp nhà và lên nhà chính dự lễ thôi nôi anh cu Trường con Hữu Vân.Nguyen Dinh Thi va Nguyen Tuan

Buổi chiều đọc được bài của anh Nguyễn Ngọc Lương trên báo Tết Văn Nghệ thành phố. Anh viết hay, có điều giống Nguyễn Tuân quá! Nhớ lời anh nói mà cảm động: Cho đến bài này, tôi mới tin là tôi viết văn được. Và anh còn nói: Nhà văn hiện nay, chân chính thì chỉ còn có Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi.  Anh Chế Lan Viên, đọc xong cái Thư cuối năm của anh ấy, tôi chán quá…

Cả buổi tối đều đọc, cắt và sắp xếp tư liệu, chuẩn bị cho một tuần mới làm việc tốt.

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/4/2020

P.T.

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.