Pham Ton’s Blog

Tháng Một 11, 2020

Chuyện một người cháu ngoại – Vườn anh đào (P2)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 1 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

4- Vườn Anh Đào (2)

7:30 sáng thứ ba 20/9 tôi cùng anh Đức Thi đi xe hơi sang Capri vàng đen do anh Phan Nguyen Duc ThiVăn Quyền, cháu gọi anh Phan Quang bằng cậu lái. Đi Cần Thơ. Qua phà Mỹ Thuận, nhiều người mời mua củ ấu là thứ tôi thích từ bé, nên mua một túi. Mời anh Đức Thi, anh không ăn, còn nói cậu này lạ, đàn ông không hút thuốc, không uống bia rượu, lại ăn vặt củ ấu như con gái. 12 giờ, ghé chợ ăn cơm, 2 đồng một đĩa mà có thịt đàng hoàng. 12:30 đến trường Đại học Cần Thơ, được sắp xếp ở nhà khách, trong dẫy nhà nhỏ, rất xinh xắn, kiểu Mỹ dành cho giáo sư nước ngoài thỉnh giảng. Vào cửa là phòng khách có bàn ăn to liền kề bếp nhỏ đủ tiện nghi. 13:30 làm việc với ban giám đốc. Không ngờ người tiếp khách lại là bác Bá thân thiết của tôi. Nay bác là bí thư đảng bộ kiêm hiệu phó nhà trường. Nghe tôi tự giới thiệu bác nhận ra ngay, tỏ rõ cảm tình nồng nhiệt. Hỏi thăm cả mẹ và em Nhàn. Bác nay 60 tuổi, vợ mất đã lâu, con cái đều lớn, con gái dạy học ở Sài Gòn. Hiện nay bác sống với một cô giáo 40 tuổi, dạy cấp I, gọi là “góp gạo thổi cơm chung”! Con người nhân hậu này từng là thầy dạy tôi môn triết học năm 1961 ở Học viện Nông Lâm, Hà Nội. Ông sống trong sạch đầy lòng tin và yêu mến con người. Anh Đức Thi rất ngạc nhiên trước tình thầy trò bền lâu, lại được nghe bác Bá khen mình rất nhiều nào là tiến bộ, thông minh, giàu nghị lực, tỏ rõ bác rất quí mến mình. Về cơ quan, anh Đức Thi còn nói mãi với mọi người là tôi nhờ ăn theo anh Thành mà được bí thư đảng bộ trường đại học Cần Thơ đãi một bữa thịt bò nhúng giấm thật ngon, chưa được ăn bao giờ.

Sáng 22/9, về Sài Gòn. Có anh Đỗ Trình ở trường Nguyễn Ái Quốc 7 về cùng xe, đến Thủ Đức thì xuống. Anh Đức Thi còn bảo ghé thăm nhà anh Phan Văn Quyền ở khu gia binh Gò Vấp. Anh Quyền có 6 con, đứa lớn 13 tuổi, đứa bé nhất chừng hơn một tuổi. Vợ bán đường ở chợ Bình Tây. Nhà khóa cửa, bố về mở cửa lũ trẻ rất vui.

Anh Quyền 37 tuổi, bằng tuổi tôi, cũng bằng tuổi Võ Tòng Xuân, anh chàng tiến sĩ du học Nhật Bản về, đêm hôm qua, thức đến 23:30 say sưa nói chuyện về cây lúc nước ta cho anh Đức Thi và tôi nghe.

Suy nghĩ nhiều về ba con người tuổi Canh Thìn. Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng cùng vất vả, gian nan mà xem ra ai cũng chịu chơi theo cách của mình, không đầu hàng số phận.

Cũng sáng nay, đoàn đại biểu chi bộ trong này lên đường ra Hà Nội dự đại hội đại biểu Đảng bộ báo Nhân Dân.Vo chong anh Dao Tien Ich.jpg

Buổi tối, tôi đến thăm vợ chồng anh Đào Tiến Ích thư ký công đoàn. Vợ chồng anh đều là công nhân báo vụ. Vợ anh, chị Nguyệt ốm đã hơn mười ngày. Chị chán nản nói: Người thì mệt mỏi, bước chân đến cơ quan lại càng thêm chán nản. Nói xấu, nói điêu nhiều quá. Tôi chỉ muốn làm cho ra nhẽ. Anh chồng thì nói: Qua thực tế sát sườn, tôi đã hiểu ra: Chỉ có một con đường là phải kiên trì bảo vệ chân lý.

Càng biết càng thương những con người hết lòng bảo vệ chân lý nay đang phải tạm thời im lặng mặc cho một lũ người khua môi múa mép dọa nạt… Thời gian im lặng này chắc chắn không thể kéo dài.

Hôm sau, mất cả một buổi tối để đọc xong 60 trang đánh máy Sơ thảo báo cáo hội nghị chi bộ (Chỉ có 12 đảng viên!) do anh Thép Mới viết. Lúng túng và mâu thuẫn. Chủ nghĩa Mác Lênin có bao giờ lại thành vũ khí cho kẻ muốn bảo vệ cái sai đâu. Về tổ phóng viên mới, nhà báo cỡ lớn chỉ viết rất ít và dè dặt: Sợ rồi chăng. Ngày 25/9, cô Băng Tâm vừa cho biết: Tại Đại hội Đảng bộ báo Nhân Dân ở Hà Nội, anh Thép Mới tham luận gần hết cả ngày. Tổng biên tập Hoàng Tùng phải yêu cầu cắt bớt, nhưng anh cứ nói tiếp… Cũng mong tự anh chứng tỏ cho mọi người biết bây giờ anh là người như thế nào… Có điều lạ là không hiểu sao cô bé Băng Tâm có tin nhanh đến thế. Vì mọi chuyện chỉ mới bắt đầu hôm qua.

Chủ nhật 26/9, hứa hẹn một ngày nắng to. Cả ngày hôm qua không  mưa. Đêm thứ bảy, ở nhà một mình đọc cho xong cuốn Chê Ghêvara. Khi rời Cuba, Chê có gửi lại cho 4 con một lá thứ được công bố sau khi ông mất:Bang Chau

Bố của các con là người hành động theo sự suy nghĩ của mình và dĩ nhiên là sống theo các quan điểm của mình… Các con hãy nhớ rằng cái chủ yếu nhất là cách mạng, rằng chỉ riêng mỗi người chúng ta thôi thì chẳng có nghĩa lý gì cả.

Thật giống như Ông Ngoại mình thường dặn, chỉ một cá nhân mình thôi thì chẳng có nghĩa lý gì.

Anh Lương vừa tạt qua chỗ mình làm việc cho biết: Trước khi anh Thép Mới ra Hà Nội anh có đến gặp và nói chuyện lâu. Nhưng cũng chẳng có gì khẩn cấp nên tôi không lại chú ngay. Anh cho biết: Thép Mới nói là mình có quá trình phấn đấu rèn luyện tốt, nhưng phải cái nói nhiều, chuyện gì cũng xía vào… Do đó, anh khuyên: Cứ mặc kệ, giữ khoảng cách cần thiết với Thép Mới, đừng nói gì cả… Như vậy là đối với những người có lương tri hiểu biết và có uy tín anh Thép Mới chưa nói xấu mình một câu nào, cũng không nói là minh sai chỗ nào. Tâm trạng anh chắc là hoang mang lắm, còn cõi lòng thì hẳn là tan nát rồi.

Tối hôm sau, anh Lương đến hai lần, lần sau mình mới về. Anh đọc kỹ mấy trang đầu bản báo cáo 60 trang, rồi lướt qua cả tập, rất chú ý đoạn đề cao dân Sài Gòn ở cơ quan, nói họ như tờ giấy trắng , v.v… Đọc rồi anh nói giọng buồn bã, chán nản: Thật không ngờ lại đến nỗi thế… Thừa thì giờ quá hay sao mà viết như vậy, cứ như là viết cho hàng vạn, hàng triệu người đọc ấy… Thật là sa sút, suy đồi đến mức không thể cứu vãn. Làm tất cả những cái này để rồi định đi đến đâu?… Ông ấy năm mươi mấy tuổi rồi còn gì nữa, thế này thì hết đời mất, còn làm được gì nữa… Anh nói rồi vội về để còn ghé thăm anh Văn Quang ông bạn nối khố vừa mổ cổ.

Trước khi về, anh còn dặn hôm sau là Tết trung thu  lại chơi. “Nếu không có bánh, thì ta uống với nhau ấm trà vậy”. Anh thật dễ thương, chân tình.

Bánh trung thu ở chợ Tân Định từ 3 đến 8 đồng một cái bánh nướng. Các cháu ở cơ quan mỗi cháu được một bánh nướng mua theo giá cung cấp và một ít bánh qui bé xinh như cái khuy áo mưa. Cháu Thiên Anh con đầu Cảnh Yên tám tháng tuổi nhấm nháp thú vị lắm. Còn các cháu Hùng con anh Đào Tiến Ích 9 tuổi, Trang con chị Nguyễn Thị Yến 7 tuổi đã bắt mình tắt đèn buồng, rồi kéo nhau ra lô gia đốt nến để rước đèn trong bóng tối om qua buồng đi xuống cầu thang cũng tối om… Quả là cuộc đời vẫn đẹp sao, chẳng phải vì tâm địa ai kia hắc ám mà đời mất tiếng cười trẻ em, mất niềm vui người lớn.

Trung thu. Mát dịu. Trăng lu sau làn mây xám nhẹ.Nguyen Huu Ly Pham Quang Tan Ton That thanh

Mệt mà cũng chẳng có tiền mua quà cho trẻ con nên không dám đến chơi nhà ai cả, mặc dù có dược mời. Phạm Quang Tấn, bạn cố tri từ thời Học viện Nông Lâm lội bộ đến chơi. Nhớ Lý, Chỉ quá. Gần hai mươi năm rồi mà các bạn chỉ có tốt hơn thôi, không có bạn nào lấm láp nhem nhuốc như bọn mình phải gặp hằng ngày. Tấn nay chuyển sang làm thanh tra bộ nông nghiệp, càng biết nhiều, hiểu đời, càng kiên định hơn.

Tấn về, lại lấy văn kiện 60 trang ra xem lại, cố hiểu cách nghĩ của anh Thép Mới, xem vì sao anh Lương đọc mà ghê sợ vậy. Thật là rối rắm, đen tối đến dễ sợ.

Đang đọc thì vợ chồng Vân Anh điếc câm lại nhờ giúp việc này việc nọ than đời sống khó khăn quá. Vừa thương hai vợ chồng vừa cảm thấy buồn cười vì cuộc sống của mình cũng đâu có dễ dàng gì. Đến khi tiễn các em về vui vẻ mình mới yên tâm. Mình đã cho các em tất cả những gì có thể cho được. Dù sao mình vẫn không khổ bằng gia đình các em.

Sau một ngày làm việc căng thẳng nhưng vui vì có kết quả tốt, cùng chú Vượng ở chung buồng dạo chơi chợ Tân Định. Các hàng bán bánh trung thu tối hôm trước còn nhiều như vậy mà hôm nay hoàn toàn biến mất. Khác hẳn Hà Nội, còn lai rai bán bánh ế. Về nhà, chú ấy lấy bộ ba tự truyện của Gorki ra đọc, mình thì tự học tiếng Anh. Học xong, tự thưởng cho đọc một bài tạp văn của Lỗ Tấn. Bài Chuyện phiếm cuối xuân này đã đọc vài lần, nhưng đúng lúc này, đọc mới thấy sợ lạ. Nó chính xác đến mức tàn nhẫn. Ngọn lửa đã lên xanh của văn Lỗ Tấn đủ sức thiêu cháy mọi bất công, tàn bạo. Tấm lòng Lỗ Tấn đối với những người bị áp bức thật ưu ái vô cùng.Le Xuan Vuong

Tối hôm sau, tự mình nấu hoàn toàn một bữa ăn rồi chờ chú Vượng làm muộn về cùng ăn rất sướng miệng. Sau lại đọc Lỗ Tấn. Càng ngày càng thấy chú em dễ thương cần cù và còn thông minh nữa. Mình may mắn được cấp trên cho sống cùng buồng với chú.

Ngày thứ bảy 1/10 hồi 10 giờ vừa bắt tay một đại biểu đi họp ở Hà Nội về vì… anh ta đến ngay bên cạnh chào và chìa tay ra. Tất nhiên mình vẫn ngồi bên bàn, rất bất lịch sự. Anh ta còn khoe đã hai lần đến nhà mình ở 16 Hàng Da. Lần sau có gặp em Thân. Nói rồi vội vã đi mất, như chỉ sợ bị hỏi.

Chiều thứ hai 3/10, cô Băng Tâm phấn khởi cho biết tin vui: Sẽ không có khủng bố đàn áp, trừng phạt gì nữa anh Thành ạ. Mọi việc sẽ lại như cũ, mọi người vẫn làm việc như trước. Nhưng có lẽ sẽ chỉ tập trung vào viết các vấn đề kinh tế thôi… Cô bé quả là tài về khoản tin nhanh thật… Thế là hết một màn bi-hài kịch. Nhưng những hậu quả của nó để lại trong lòng người từng phải chịu đựng, không biết còn dai dẳng đến bao giờ đây…

Chu LongHôm qua, chủ nhật, cùng em rể Nguyễn Thăng Long xuống chơi nhà anh Hải chị Xuân. Mình cho Long biết có thể sẽ lấy Đông em chị Xuân. Long tán thành ngay. Chỉ cốt là người tốt thôi, cái bệnh bướu cổ đã có nhà nước lo. Chỉ ngại kẻ Bắc, người Nam cách trở.

Cũng tối thứ hai, cán bộ, đảng viên, đoàn viên cơ quan nghe anh Đức Thi nói chuyện về Trung Quốc và chủ nghĩa Mao, Ngô Lê Dân đọc thông báo của Thành ủy về việc Khơ me đỏ quấy rối ở biên giới.

Bỗng đại biểu mới họp ở Hà Nội về ngồi tại chỗ nói: Xin các vị một phút… Để tiến tới đại hội vòng hai của chi bộ chúng tôi đề nghị ban kiểm tra ngày mai bắt đầu làm việc, kiểm tra trong hai ngày cho xong để chúng ta có thể trả lời,v.v… Cuộc họp đang sôi nổi bỗng trầm hẳn xuống. Cái bóng ma đen tối của tháng 9 như lại xuất hiện ám ảnh mọi người. Một cán bộ có tính hay ăn tắt mắt tỏ ý phản đối thì bị đại biểu nọ gạt đi ngay. Xem ra cần họp đại hội gấp trước khi tổ phóng viên Sài Gòn được bổ sung đảng viên để khỏi chia quyền lãnh đạo. Thư ký công đoàn Đào Tiến Ích vội báo Hồng Cảnh Yên họp bàn việc tiếp Dao Tien Ichtục kiểm tra sau khi tạm ngừng … 20 ngày.

Đoàn đại biểu ra Hà Nội về đã mấy ngày, mang cả quả bưởi “lấy ở vườn nhà Bác Hồ” bày ở hội trường, rồi đại biểu nọ mời anh em kỹ thuật ăn kẹo, hút thuốc… Trong hai ngày, hỏi thăm sức khỏe chú Lê Xuân Vượng… đến ba lần làm chú em ngạc nhiên… Nhưng quần chúng vẫn im lặng, xa lánh không một tiếng vang… Còn anh Thép Mới, một lần mình gặp đang lúc nói chuyện với anh Đức Thi, có vẻ ngượng ngùng. Ngay sau đó lại gặp lúc đang cho quà một tay chân tận tụy mà như cô gái Nha Trang nói với mình hôm đến thăm ở Vườn Anh Đào là y từng công khai nói trước mặt cô: Tôi chỉ ước ao được suốt đời hầu hạ cụ Thép. Mình dự đoán, cậu ta giờ cũng đang xin đi. Tẩu vi thượng sách mà.

Chiều 5/10, sau khi làm việc với nhau buổi cuối cùng trước lúc ra Hà Nội, anh Đức Thi có mấy điều nhận xét và khuyên mình nhân danh một người lớn tuổi, đồng nghiệp lại cùng cảnh không hề bị ảnh hưởng của anh Thép Mới hay ai khác, điều này anh Thành có thể xác minh được… khen mình rất nhiều về tinh thần làm việc, kiến thức tốt, có phương pháp làm việc, hơn hẳn những người cùng lứa tuổi,v.v… và nhận xét hai điều: Có vẻ cô độc, ít chan hòa, nhất là với anh chị em Sài Gòn. Có thể nhìn tình hình không toàn diện nên dễ bi quan.

Mình thành thật cảm ơn anh và cũng nói lại với anh là anh vào cơ quan này đúng lúc đang diễn ra “tình trạng khẩn cấp”, mọi người đều thủ thế, khiến anh khó thấy được sự thật. Mọi người e sợ sẽ phải trả giá vì đã lỡ thành thật, cả tin như trong những đợt góp ý cho Đảng những ngày 18/8 và 5/9.Nguyen Duc Thi

Đúng như chú Vượng nhận xét: Tưởng các vị đi đại hội ở Hà Nội về thì khá hơn, hóa ra lại càng điên hơn.

Sáng 9/10, Cảnh Yên kể là họp chi bộ, bị… khiển trách, tức là kỷ Hong Canh Yenluật nhẹ nhất. Lại không công khai, không

ghi lý lịch, không báo cáo cấp trên. Đúng là một việc phải làm dể chấm dứt cái vụ đình chỉ công tác hôm 12/9. Ngô Lê Dân được nghỉ ba ngày để viết báo cáo. Như vậy anh Thép Mới không ra mặt nữa. Báo cáo Ngô Lê Dân viết sẽ phải khác xa sơ thảo báo cáo 60 trang, vì Dân sẽ phải đọc, không thể giữ nguyên cái giọng bề trên như cũ.

Đáng tiếc là trong những ngày nhiều biến động này ông bạn Hữu Vân lại tỏ ra mềm yếu, co mình lại: Tôi chỉ lấy công việc làm nguồn vui. Cả việc côngNguyen Huu Van cũng như việc tư tôi đều không muốn dính vào. Ông thấy đấy biết bao nhiêu người là con dao hai lưỡi, tôi chẳng còn biết tin ai.

Ba hôm nay rồi, tối nào cũng lên nhà anh Đào Tiến Ích xem tivi đang chiếu bộ phim Liên Xô Mười bảy khoảnh khác của mùa xuân. Nhân vật Schilit hấp dẫn mình lạ lùng. Nhớ lại Richard Sorge, cũng thế . Bao giờ mình cũng quí mến những con người giàu nghị lực, biết hy sinh một cách âm thầm lặng lẽ vượt qua mọi thử thách, chịu đựng mọi đau khổ riêng tư, nhưng bao giờ cũng hết lòng lo cho đồng chí, bạn bè, bao giờ cũng một lòng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Phạm Quang Tấn lại vừa lội bộ đến chơi, tâm sự về những thử thách cùng chịu gần 20 năm trước ở Học viện Nông lâm, để càng thêm quí tình bạn hôm nay. Hạnh phúc lớn của mình là ở bất cứ đâu, bao giờ mình cũng được sống bên những người bạn chân tình, rất mực trung thực mà lại yêu thương mình. Dễ mấy ai được hạnh phúc như thế.Pham Thanh.png

Sáng thứ hai 17/10, đại hội chi bộ vòng hai họp. Anh Phạm Thanh vừa vào hôm qua được bầu làm thư ký. Anh Thép Mới vắng mặt vì phải ra Hà Nội gấp do Tòa án triệu tập về việc li dị vợ. Vẫn mới có 13 đảng viên. Đại hội nghe đọc thư của anh Thép Mới gửi đại hội, mở đầu bằng cơ quan đoàn kết hơn bao giờ hết … và kết thúc là Lời chào cộng sản và 1 giờ ngày 15/10/1977, kỷ niệm này anh Trỗi hy sinh, v.v… Đúng là trổ hết văn tài 30 năm tu luyện để ra sức che giấu sự thật…

Sáng 19/10, mình nói chuyện với anh Phạm Thanh tổ trưởng tổ phóng viên Sài Gòn, được biết là anh Thép Mới có bôi nhọ ba phóng viên ở đây. Nhưng ở Hà Nội chẳng ai tin cả. Mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy thôi. Cái thói yêu nên tốt, ghét nên xấu của ông ấy cơ quan đều đã biết, nên không ai lạ gì khi thấy anh nói xấu mình.

Như thế là tình hình tạm ổn.

Từ ngày mai có thể viết thêm được rồi, không phải mất nhiều thời giờ suy nghĩ về những việc lôi thôi như những ngày qua nữa. Mình sẽ ở Sài Gòn làm việc lâu dài, đi sâu vào giai cấp công nhân ở thành phố lớn và phức tạp ở miền Nam này.

Tối thứ sáu, 21/10, sau khi xem xong tập 10 bộ phim Liên Xô trên ti vi tại nhà anh Ích, Pham Thi Thanh Haomình mượn anh bản báo cáo 60 trang và đến chiều thứ bảy thì đưa anh Phạm Thanh theo yêu cầu của anh. Khi đưa, anh nhận ngay nhưng lại hỏi: Cậu nói là mượn cho tôi à… Biết anh còn do dự, ngại lôi thôi, tôi nói ngay là bản này hầu như đã công bố, vì ai trong cơ quan cũng đều biết cả. Anh cầm về buồng, cho đến 24/10 vẫn chưa trả, cũng chẳng nói gì về việc này cả. Dù sao, mấy ngày qua cũng giúp anh và chị Thanh Hảo phóng viên nhiếp ảnh là hai đảng viên mới vào hiểu được phần nào cách sống và làm việc ở trong này.

Hết giờ làm việc chiều, đại biểu đi Hà Nội về hẹn anh Phạm Thanh đi đâu đó. Nhưng khi anh bình thản nói: Được, tối mình sẽ đến nhà cậu thì anh ta vội nói ngay: Anh cứ đi thẳng, đến tôi làm gì! Anh vẫn nhắc lại; Tôi cứ đến ông đã… Có lẽ anh ta sợ anh Thanh đến nhà sẽ thấy sang trọng, trong khi đó lại bố trí cho anh ở một căn buồng nhỏ, không đủ tiện nghi, lại rất nóng.

Do soạn bản thảo cũ, tình cớ phát hiện ra mình đã bắt đầu nghi ngờ cô gái Sài Gòn từ sáng 21/10/1976 khi sáng sớm hôm ấy, đi làm tin thì gặp cô đèo anh Lê Thọ bằng xe PC từ 22 Tú Xương về đến cổng. Sáng sớm chủ nhật mà cô có mặt ở 22 Tú Xương?…

Sáng thứ tư 26/10, họp tổ Sài Gòn có mặt Phạm Thanh, Yên, Tâm và Thành: Mình được phân công theo dõi công nghiệp và giao thông vận tải, chủ yếu là theo dõi khu công nghiệp Biên Hòa. Anh Thanh cho biết, Hà Nội cố ngăn cản nên mới tránh được những quyết định nữa về tổ Sài Gòn mà nếu có sẽ còn mệt mới gỡ ra được. Hai anh em nói chuyện còn dè dặt, nhưng những điều nói ra đều thẳng thắn, chân thực, Anh Phạm Thanh nay là bí thư chi bộ cơ quan. Anh chân thành tha thiết nói với chúng tôi: Tôi tin và quí các đồng chí. Còn yêu thì phải trên thực tế công việc đã… Có thể quí mà không yêu!

Tối, anh Ích lên chơi, phấn khởi vì có anh Thanh vào và mong giúp anh Thanh sớm nắm được rõ mọi việc ở đây. Cuộc sống vừa qua ngột ngạt, nặng nề đến mức chị Nguyệt vợ anh đã bàn là hai vợ chồng nên bỏ cơ quan về làm bên bưu điện. Anh Thép Mới không hiểu những người lao động bình thường như vợ chồng chị Nguyệt đâu.

Tối hôm qua, xem xong tập cuối 17 khoảnh khắc của mùa xuân. Từ giã Ixaiép Schialít mà như đã tiếp thu được phần nào những đức tính của con người tuyệt diệu ấy: lòng nhân ái cao cả, trí óc sáng suốt, thông minh và sự bình tĩnh, lòng dũng cảm, gan dạ đến mức bình thản… Những lúc này, càng cần cảm thấy mình chính là Ixaiép vì dù sao mình cũng đang phải đương đầu với thế lực xấu xa của chủ nghĩa cá nhân trong một thời gian nữa. Đời Sài Gòn sống thật không đơn giản, không dễ chút nào. Đoàn Di đã đúng khi tiễn mình vào Sài Gòn bằng câu nói ngắn gọn, khô khăn như mọi khi: Đừng ảo tưởng.

Rất lạ là lâu rồi chưa nhận được thư của em Thân.

Chưa muốn viết gì cả, lại gặm Lỗ Tấn, tất nhiên là đọc tạp văn.

Sáng 27/10, anh Phạm Thanh công bố nền nếp làm việc mới, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của toàn cơ quan. Anh Thép Mới đã biên thư cho anh biết là nếu có vào sẽ làm việc khác, do đó anh Phạm Thanh cứ tiến hành mọi việc.

Buổi chiều, mình thấy mệt, nghỉ ở nhà. Chú Vượng làm đêm nên cũng ở nhà. Hai anh em nói chuyện với nhau khá lâu. Chú ta thương mình, không muốn thấy mình bị thiệt thòi nhiều, chịu nhiều bất công, bị hiểu lầm. Thật cảm động… Cũng như hơn 20 trước chính những con người lao động giản dị như chú đã nâng đỡ động viên mình vững tin vào chân lý, kiên trì phấn đấu không mệt mỏi cho chân lý sớm sáng tỏ ở Cảng Hà Nội.

Ăn cơm xong, một mình đi xem phim Liên Xô Khi tháng chín đến… Hiểu được ý nghĩa sâu xa của cuộc sống, thấy rõ bước đi lên tất yếu của nó thì dù ở đâu, và bất cứ lúc nào ta cũng có thể tìm thấy niềm vui và đưa niềm vui ấy đến cho mọi người. Một cuộc sống trong sạch giản dị lao động giữa những con người trung thực… đó vẫn là điều mình hằng ao ước bấy lâu nay.

Tiếp tục đọc Lỗ Tấn. Chưa muốn bắt tay vào viết gì cả, có lẽ vì cái tâm còn chưa ổn định. Cứ nghĩ đến những việc vừa qua lại giận anh Thép Mới hết sức.

Tối 29/10 đến nhà cậu Lê Đức Vượng chơi và ngủ lại đấy. Cậu bảo sao vẫn chưa chịu lấy ong vuongvợ. Mình nói thật, nhiều người giới thiệu, gán ghép, nhưng không hiểu sao đều không ưng. Vì cứ đem so với cô láng giềng ở nhà số 20 phố Hàng Da, và thấy họ không bằng. Cậu bảo, cứ ở đây mà nghĩ vớ vẩn rồi thằng khác nó ở Hà Nội nó lấy mất lại tiếc. Rồi cậu giục tôi viết thư ngay, xí phần trước. Sáng hôm sau, cùng cậu mợ đi ăn Phở Tàu Bay. Về nhà, chú Vượng trách: Sao bây giờ mới về… Sớm thế…

Mình về là lập tức viết thư sau:

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/10/77. Em Đông. Trong thư viết: Anh đã suy nghĩ kỹ và tự hỏi lòng mình nhiều lần, bây giờ anh muốn biết ý kiến Đông… Anh yêu em và muốn được cùng em chung sống đến trọn đời, đến thế kỷ 21… không biết em có thuận không?….

14:30 ngày 30/10 bỏ thư vào thùng ở đường Cách Mạng Tháng Tám trên đường đến nhà anh Nguyễn Tự, nói chuyện lâu với anh chị để góp phần hòa hợp gia đình anh.

Trưa 31/10, anh Thép Mới vào, chiều đến cơ quan. Lúc hết giờ làm việc, mình về, đi qua chỗ anh đang ngồi bàn việc với anh Phạm Thanh, mình không chào hỏi mà cứ lừ lừ đi qua ngay bên cạnh. Trước đó mấy phút, cô Băng Tâm cũng đi qua như thế, nhưng nhanh hơn. Chiều 1/11, anh Phạm Thanh lạnh nhạt báo: Sáng mai họp tổ, có anh Thép Mới dự. Ba anh em tổ Sài Gòn cũ bảo nhau: Chỉ nghe và ghi vào sổ thôi, không nói gì cả. Chỉ nghĩ đến phải gặp mặt anh mọi người đã chán rồi.

Tối 2/11, cùng chú Vượng đi xem phim Estonia Cây vĩ cầm đỏ. Phim này mình đã xem hai lần, thấy rất hay mới rủ chú đi. Vai chính là một nhạc sĩ, bị bệnh máu trắng, anh ta nói: Thế mà xưa nay, tôi vẫn nghĩ là máu mình bao giờ cũng đỏ.

Sáng 6/11, anh Phạm Thanh sang ở hẳn nhà 82. Buổi trưa, hai anh em mình mời anh cùng ăn cơm. Hữu Vân thấy vậy cũng mang nồi cơm nhỏ sang góp phần.

Rồi anh Lương đến chơi, hai anh em nói chuyện thẳng thắn, thành thật như mọi khi, Tue Quynhnhưng lần này chủ yếu lại xoay quanh Richard Sorge, vì dạo này mình đang đọc quyển sách của Hans Hellmut Kirst anh cho mượn: Voici qui est Sorge; l’espion du siècle (Đây là Sorge, điệp viên của thế kỷ này). Chiều 8/11, họp nghe Hồng Cảnh Yên báo cáo lại bản kiểm điểm đã trình bày trước chi bộ. Cả tổ Sài Gòn đều có mặt: Phạm Thanh, Tuệ Quỳnh, Thanh Hảo, Cảnh Yên, Băng Tâm, Thành và hai chi ủy viên là Ngô Lê Dân, Nguyễn Tấn Thọ cùng dự. Mọi người đều cố tém dẹp cho xong hẳn cái vụ này đi. Ngoài Thanh, Thọ, Dân không ai phát biểu gì cả.

Trần Truyền ở phòng thư ký Hà Nội trưa nay ra, khi chia tay, chúc mình vui vẻ.

Vừa nhận thư Đông gửi từ Hà Nội đề ngày 10/11: Kính gửi anh Thành, Nhận được thư anh trong những ngày đang tập trung học, bất ngờ quá. Em không thể trả lời ngay được, anh để em suy nghĩ, v.v…

Ngày 10/11 đúng là một ngày tuy mình ở Sài Gòn mà rất vui. Cơ quan họp phát động thi đua. Mình hát bài Ánh Đèn của Liên Xô ai cũng thích, Băng Tâm cũng hát, còn Cảnh Yên thì ngâm thơ, giọng xứ Nghệ rất truyền cảm. Mọi người nghe đều bất ngờ thấy tổ phóng viên vẫn có khí thế. Cả cơ quan đều vui. Anh Thép Mới có vẻ hốt hoảng khi thấy mình hát.

Chiều thứ hai 21/11/1977, ông Tố Hữu đến thăm 173 Hai Bà Trưng. Nói chuyện với toàn thể cơ quan. Từ 14:30 đến 16:30 anh Thép Mới ngồi gần tay phải ông. Chưa bao giờ anh Thép Mới bị sửa gáy cay độc, sâu xa và công khai như thế, cứ nói một câu là bị uốn nắn một câu. Anh Phan Quang cũng dự buổi nói chuyện này.

Sáng chủ nhật 20/10, đã sang Thanh Đa vì đọc thư em Thân mới biết chú Nguyễn Thọ Dực đã mất. Chú mất đã 5 tháng. Có lẽ sau những buổi trưa đạp xe đến nhà mình nói chuyện mà mồ hôi cứ vã ra đầm đìa. Nhà trống trải. Sách dọn hết. Trền tường còn đôi câu dối mà mình rất thích: Tọa đối hiền nhân tửu / Gia tàng thái sử thư. Trên tường còn treo hai chữ do một ông bạn đề tặng, mà chắc là chú tâm đắc mới cho treo lên chứ không cuộn lại cất đi như những câu đối người tặng đề cao tài đức chú rất nhiều. Hai chữ này mình cũng nguyện mãi mãi ghi nhớ: Giản Tố. Bên cạnh ba từ Cụ Hồ dạy Trung Thành, Dũng Cảm, Khiêm Tốn.

To Huu noi chuyen voi co quan

Ngẫu nhiên mà trưa nay, 3/12 được anh Phạm Thanh cho biết: Các anh (?) định đưa tôi đi xí nghiệp là để cải tạo tư tưởng. Còn anh đưa mình đi viết bài là có ý tốt. Anh Đức Thi quả là một con người rất đáng chú ý về tính đa dạng… Tóm lại là tình hình còn rất phức tạp, thậm chí nguy hiểm chừng nào anh Thép Mới còn ở đây và bọn xu nịnh còn hoạt động. Sáng nay, anh Phạm Thanh lại sang ở hẳn 173 Hai Bà Trưng. Anh ở 82 chưa đầy một tháng. Mình chưa bao giờ tự ý gặp anh để nói chuyện cả. Mình đau dạ dày, mỗi lần biết thêm một việc tàn bạo, ngu xuẩn trong lòng cảm thấy khó chịu, mệt mỏi là lại đau.

Mẹ lên chơi từ 14/12/1977 đến sáng 26/12 mới về Bạc Liêu. Chủ nhật 25/12 là kỷ niệm ngày cưới anh Hải chị Xuân, hai mẹ con xuống nhà anh chị ở cầu chữ Y ăn cơm. Có mặt cả Vinh, Đình và vợ chồng Dung là các em chị Xuân. Mọi người thân mật coi mình như người nhà. Chắc là Đông đã báo gì rồi, nhưng mình lờ đi, không nói gì cả.Dong va anh Hai chi Xuan.png

Thế là hết năm 1977, một năm đầy biến động ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống của mình. Mở đầu năm 1978 cũng chẳng vui vẻ gì. Số báo hôm 5/1 đăng bài mình viết về hợp tác xã đan len, gửi cách đây một tháng, lại bị cắt đến mức thê thảm, chỉ còn độ 300 chữ. Dưới tên Nguyễn Trung cũng chẳng có “phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh” như lệ thường. Nhớ lại cách đây hơn một tuần anh Phạm Thanh nói: Không hiểu sao hai bài của Nguyễn Trung mãi chưa thấy đăng nhỉ? Mình nói: Có lẽ tại không đạt… Anh Thanh bực mình nói ngay: Đạt chứ sao lại không đạt.

Rõ ràng anh cũng băn khoăn về hiện tượng này. Còn đối với mình, việc quan trọng là mình đã làm hết sức mình, còn chuyện đánh giá công việc ấy là việc của người khác, ít làm mình bận tâm. Hơn nữa, những bài viết bây giờ lại có người xem và đánh giá trước khi gửi ra, có dễ âm thầm ám hại như trước được đâu… Dù sao, bây giờ sống cũng dễ chịu hơn trước nhiều. Mặc dù dư chấn của năm 1977 đâu dễ một sớm một chiều tiêu tan.

Sáng chủ nhật 8/1 cùng chú Vượng đi chơi chợ Bến Thành, mua được cái gương hình mỏ neo, quanh gương là dòng chữ Pour notre souvenir (Vì kỷ niệm của chúng ta) để tặng Đông soi gương hằng ngày. Về nhà, chợt nghĩ là mình quá tự tin khi chưa nhận được lời chính thức yêu mình. Vừa may, nhận thư Đông: Em vẫn giận anh đấy, chỉ khi nào anh trả lời hết 10 vạn câu hỏi em mới hết giận, v.v… Thế là rõ rồi, mọi việc xong xuôi. Buổi chiều, anh Lê Hưng đến chơi. Theo Cảnh Yên thì anh ta có vẻ ngỡ ngàng khi được tiếp đãi chân tình, lịch sự, không như bọn xấu rêu rao là thù địch. Mấy lần mình nói thẳng với anh về những thói tật của anh Thép Mới, anh đều cười xòa bảo là cứ yên trí, bao giờ Thép Mới cũng trở về con đường đúng thôi. Mình nói chờ anh ấy quay về thì bao người đã bị hại rồi. Anh Hưng lại cười, phải biết chờ đợi thôi, không có cách nào khác đâu. Thật sự anh đã làm mình phát bực nhiều phen vì lối nói ấy. Nhưng anh em vẫn đối tốt với nhau.

Bắt đầu hôm nay, tối nào cũng làm việc nâng cao chất lượng, số lượng bài, tin. Đó là trung Le Hungtâm suy nghĩ của mình thời gian này. Vì theo mình đây chính là mấu chốt trong giải quyết mọi vấn đề thời gian qua và trong thời gian tới. Phải lấy cái lớn ấy trị những cái nhỏ, lặt vặt mà lôi thôi luôn gây nên phiền phức.

Từ ngày 18/1/1978, chuẩn bị ra Hà Nội nghỉ phép. Định đi cả Yên Bái thăm bà lần cuối. Không chắc gì bà sẽ qua được mùa xuân miền núi rét mướt này.

Tối chủ nhật, 15/1, Hữu Vân cho biết: Anh Thép Mới gặp Vân, hỏi rất nhiều về mình, cũng nói nhiều về mình, không còn có vẻ tự tin như trước khi đang thẳng tay đàn áp, mà nặng về thanh minh, giải thích, v.v… Đáng chú ý là hỏi Vân xem thằng này nó có ác không, có muốn trả thù đời không. Còn các ý kiến khác đều một giọng thảm hại như: Phải khôn chứ, cứ yên lặng rồi đâu khắc có đó… Tao đâu có để cho thằng nào bị thiệt. Mình nghe mà thấy buồn, vì đây mới chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa anh và mình trong quan niệm về con người và cuộc sống. Có lẽ anh không hiểu nên mới quá thắc mắc về lối sống của mình.

Anh khẳng định với Hữu Vân là: Phải công nhận là thằng này nó tinh, cái gì nó cũng biết hết. Nhưng cách giải quyết của nó không đúng. Tóm lại là phải thừa nhận sự thật tàn nhẫn mà anh muốn né tránh và bao che.

Ba giờ sáng ngày 22/1, lên tàu đi Hà Nội cùng chú Vượng và lái xe Trịnh Văn Bân. Một nhóm đột kích hoàn hảo. Mình đưa thẻ phóng viên vào Le Thi Dong.jpggặp trưởng ga. Bân to lớn, chen vào hàng người nhét Vượng bé nhỏ tiến gần cửa bán vé. Mình đưa giấy của trưởng ga ra, Vượng cầm lấy, chen lên mua vé ưu tiên. Một đi Thanh Hóa cho Vượng, hai đi Hà Nội cho Bân và mình. Còn mua thêm một vé nữa cho Ngân ở đài phát Thông tấn xã, bạn Vượng. Đến Thanh Hóa, Vượng xuống, chia cho mình nửa chục (6 quả) vú sữa làm quà. 8 giờ sáng 25/1, đến Hà Nội, về 16 Hàng Da. 26/1 sang 20 Hàng Da. 29/1 đến Cảng thăm vợ chồng Chung. Sau ba ngày, 31/1, lấy được bìa phiếu của hộ hai mẹ con đưa cho Thân. 1/2, 19:00 ăn cơm ở nhà dì Hỷ và em Đặng Vũ Tứ. Sáng 5/2, cả nhà cùng dì Hỷ ăn bữa cơm cuối năm tại nhà anh Đại ở khu tập thể Kim Liên. Ngày 6/2 cùng anh Đại đến nhà anh Sáu bạn anh, ăn lòng lợn. Tối, cùng Đông đi chơi giao thừa ở Hồ Gươm, bị trẻ con ném pháo nổ nhưng không trúng. Đông nói: Em chỉ sợ em không được tốt như anh nghĩ thôi.

22 giờ ngày 9/2, cùng anh Đại lên tàu đi Yên Bái. 15 giờ thì đi xe ca từ ga Phú Thọ đến Thác Bà. Gặp bà và cô Vũ Thị Bình, cả hai khỏe hơn mình tưởng.Bui Minh Son.jpg

12/2, chủ nhật, 10 giờ về đến nhà. Sau khi đi ca nô Thác Bà – Yên Bái KM15 rồi xe buýt KM15 – Yên Bái và tàu hỏa Yên Bái – Hà Nội. Ăn miến bò ở 16 Hàng Da em dâu Vũ Thị Trang nấu. Chiều, Thành Đông đến ăn cơm ở nhà anh Đại chị Thủy. Một bữa thật vui và rất ngon do chị dâu Thủy nấu mà, không ngon sao được.

13/2, đến cơ quan, gặp anh Phạm Thanh vừa ra. Minh Sơn phóng viên thường trú Hải Phòng, tiến đến trước mặt mình giơ tay chào Người chiến sĩ từ những trận chiến đấu ác liệt trở về (nói theo tên hồi ký của Nguyễn Đức Thuận do Trần Đĩnh ghi đăng trên báo Nhân Dân, sau in thành sách đổi nhan đề thành Bất Khuất. Không ngờ gặp anh Thép Mới vì tưởng anh đã vào Sài Gòn. Khi về, lại gặp anh đang nói chuyên với anh Hữu Thọ. Mình chảo hỏi, anh Hoa si Nguyen Thonói: Vẫn ở đằng bà cụ à? Tôi sẽ lại chơi…Gầy, hốt hoảng, cố làm ra vẻ không có chuyện gì với mình. Tối, anh Nguyễn Thọ lại chơi. Anh có gặp anh Thép Mới hôm 30 Tết. Kêu đau dạ dày. Ở Sài Gòn tốn tiền. Tết về nhà ở Nam Định, mồng 4 mới lên ở cơ quan.

Do có hẹn trước, đã đến nhà anh Phạm Thanh, chị Xuyên ở 53 Phố Huế. Nói thẳng là mình muốn ra Hà Nội. Anh cũng bảo là sẽ ra sớm hơn dự định. Rượu rom, mứt dừa.

Chiều 15/2, đến cơ quan, gặp cô Ký y tá, cảm ơn đã gửi thuốc, còn gặp các anh Lê Hưng, Trần Kiên. Nói chuyện nhiều với anh Hồ Quốc, bác Ngô Dư, anh Diệu Bình. Tối cùng Đông đến nhà một ông chú ở gần Quốc tử giám. Khi về gặp anh Đại chị Thủy, chị gặp riêng Đông nói chuyện. Sáng 16/2 đến thăm bạn Long bán báo rồi ngồi nhà Thầy Nguyên dạy pháp văn nói chuyện lâu. Sáng 17 thăm Lê Minh Khuê, tối tiếp khách. Sáng 18, đi một tua chợ Đồng Xuân, hàng Đào, hàng Ngang, ăn cháo lươn ở Hàng Gà và phở gà ở khách sạn Nguyên Sinh. Đều phải tự phục vụ. Vẫn cố chờ Đông để cùng vào Sài Gòn. Rất may là anh Hồ Quốc ban công nghiệp hẹn gặp vào sáng thứ hai. Có lý do để ở lại.

21/2, rằm tháng Giêng, lấy xe đạp của Đông đi lên Sơn Tây thăm Vũ Văn Chỉ. Chỉ đang làm nhà gạch. Gặp cụ Chuyển bố Chỉ lên giúp con làm nhà và con cái Chỉ: bé Hương ba tuổi, Hiền 10 tuổi. Hôm sau đi thăm đền Và thờ Sơn Tinh, đúng hôm chính tiệc, ba năm tế một lần. nghe nói đền dựng từ thời Hồng Bàng (?) 23/2, mái nhà Chỉ đã lợp xong phần lớn. Mình chia tay Chỉ lại đạp xe hơn 40km về Hà Nội. Hóa ra đúng hôm 21 ấy, chị Xuân ra đột ngột. Có lẽ chị biết tính cô em ngang như cua ương bướng như lừa, chỉ sợ lại làm hỏng chuyện lớn cả đời. Như vậy là vé tàu mua đã khó, nay lại phải mua đến ba vé ba chị em cùng về Sài Gòn.

Ngày 1/3, Xuân, Thành, Đông lên tàu tại ga Hàng Cỏ mà chỉ có một vé ngồi của Đông, lại bị trùng số với một người khác, đành nhường, ba chị em ngồi Vu Van Chi nhin ngangsàn, trước nhà vệ sinh của toa. Tăng bo ở Quảng Bình đi bộ mất hơn một cây số do tàu trước trật bánh. Cắt toa ở quá ga Tuy Hòa. Thay toa ở Nha Trang. Cuối cùng 12:30 chủ nhật 5/3 cũng về đến ga Sài Gòn. Anh Đạt Hải chồng chị Xuân, bà Dì Đông, em Thìn, cháu Nguyễn Lê Anh ra đón. Lâu lắm mình mới được có người nhà đón về Sài Gòn. Về nhà anh Hải ăn bánh tôm, nhậu vui.

Ngày 6/3, bắt đầu về cơ quan làm việc. Cùng anh Hải, chị Xuân, em Vinh và cháu Anh đến nhà cậu sinh ra Đông ở 302 An Dương Vương. Đông ở đây từ hôm trước, mặc áo vàng Đức như chị Xuân. Màn trình diện tốt đẹp. Đã đánh điện mong mẹ và em Nhàn lên. Cậu, dì rất vui lòng, các em cũng vậy. Đã gặp các em Đông là Đình, Dung và chồng là Phụng, Thìn, Hợi (tức Toàn). Chị Xuân bảo mình may hơn anh Hải vì được tất cả mọi người trong nhà tán thành. Ngày 7/3 công bố cho cả cơ quan biết chuyện sẽ cưới Đông.

Chủ nhật 12/3, mẹ cùng Đông và mình về Bạc Liêu thăm gia đình Nhàn. Ở số nhà 52 hẻm đường Võ Thị Sáu. 15/3, hai đứa về Sài Gòn. 16/3 đã tìm được bà Nguyễn Thị Sữa, cô của y tá Ký ở cơ quan Hà Nội. Anh cô ta mất tích từ 1970-1971.

5:00 ngày 23/3, cùng cậu và chị Xuân tiễn Đông ở Hãng hàng không Việt Nam đường Nguyễn Đình Chiểu. Đêm trước, mình ngủ lại 302 An Dương Vương.

P.T.

 (Còn nữa)

Số ăn mày – Phụ Lục

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 12:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 1 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

SỐ ĂN MÀY

Phạm Tôn

Tôi phải nhận là mình có số, số ăn mày. Mà tệ hơn ăn mày một chút. Ăn mày chỉ vì đói cơm rách áo hóa ra ăn mày như trong bài thơ hồi nhỏ tôi được học; còn tôi có làm ra cũng không được hưởng. Mà lỗi tại tôi mới đau chứ.

Chuyện đầu tiên là năm 1958, thi tốt nghiệp xong, việc làm tờ báo tường Bình Minh cuối khóa cũng xong, tôi chia tay chi đoàn 10 Chu Văn An về quê… một bạn học cấp hai ở Thẩm (Thái Bình). Lòng vui phơi phới, lại gặp trên xe một chuyện xúc động. Một cụ già rất yếu được một thanh niên còn trẻ nhưng mệt mỏi giúp đỡ mọi việc, họ cư xử với nhau như hai bố con suốt dọc đường. Về đến nhà là bắt tay ngay vào sáng tác truyện ngắn Hai bố con. Trong đó lặp lại đến mấy lần điệp khúc: “Ông cụ nhìn ra ngoài khung cửa sổ, hướng về phía xa xăm, như nhìn về quá khứ.” Tự cho là rất có nghệ thuật mà nghệ thuật cao nữa là khác! Do không học cấp một, nên tôi chữ xấu, phải nhờ em Thân chép lại cho rồi mới gửi báo Văn Nghệ. Dạo ấy báo có mở một mục nhan đề Cuộc sống mới, con người mới. Gửi xong tôi mua báo Văn Nghệ chăm chú đọc hằng tuần. Mãi chẳng thấy đăng tác phẩm yêu quí. Thế là bắt đầu suy nghĩ chê đoạn Ton That Thanh 1958.jpgnày không hay, chữ kia không chuẩn, cả cái câu rất nghệ thuật nhắc đi nhắc lại mấy lần cũng thấy vô duyên, cho là họ không đăng là phải, vì chất lượng kém, vấn đề nêu ra nhỏ bé quá. Rồi cũng chẳng mua hay xem ké báo Văn Nghệ nữa, quên hẳn tác phẩm văn học đầu đời đi.

Bỗng một hôm em Thân, người chép hộ tôi cái truyện ngắn đầu tay ấy đi đâu về, gọi tôi Le Dang Quang va Thanh Trunggấp và đưa ra tờ báo Văn Nghệ, trong mục Cuộc sống mới, con người mới có đăng truyện của tôi. Nhưng cái nhan đề tâm huyết của tôi Hai bố con thì được chuyển thành một cái nhan đề vô hồn là Trên một chuyến ô tô. Dưới vẫn có tên tác giả tôi đề là Lê Đăng Thành, vì hồi đó chúng tôi thân nhau như anh em, mà tôi kém Lê Đăng Quang hai tuổi. Tờ báo ấy tôi đem tặng Lê Đăng Quang. Nay Quang mất rồi, chắc tờ báo cũng mất theo. Và đến nay, tôi vẫn chưa nhận được nhuận bút, mặc dù cuối bài có ghi rõ địa chỉ liên lạc 16 Hàng Da và tên tôi Tôn Thất Thành. Hồi ấy, chị Thanh Vân là nhà nghiên cứu văn học mà tôi coi như chị, bảo phải đòi. Tôi thì không muốn nhận mình là tác giả truyện ngắn tuổi mới lớn đó. Nên không kiện cáo gì hết.

Hồi kiếm sống ở ven Sông Hồng tôi có nhiều bạn đi bộ đội. Các bạn bảo rất mong thư tôi, nhất là những thư có kèm mấy mẩu chuyện vui vui. Tôi viết thử mấy mẩu gửi các bạn Nguyễn Xuân An, Ngô Tiến Thái. An kể nhận thư mày, cả đơn vị vui, cùng đọc sau lại truyền nhau đọc. Cười vỡ bụng, hết cả mệt vì nắng gió thao trường, hành quân vất vả. Thế nào mà sau dó ít lâu anh Đại tôi bảo có bạn kể anh  nghe một chuyện họ cho là rất hay đăng trên báo Văn Nghệ. Hóa ra đó là chuyện Cái sân bay tôi viết lưu hành nội bộ, nên anh em trong nhà đều biết. Tất nhiên tôi có được xu nhuận bút nào đâu. Vì họ biết tác giả là ai mà trả…

Chuyện to nhất là năm 1978, tôi đọc báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh thấy đăng Ton That Thanh 1982trọn hai trang kỷ niệm cách mạng tháng mười Nga bài Hồi ức về Baben của Pautốpxki do tôi dịch, một bản cho Hà Khánh Linh, một bản cho Lê Minh Khuê coi như quà nghèo tiễn hai chị em ra chiến trường. Không hiểu sao nó lại đến báo này. Năm 1982, thành lập hội Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh ở Khách sạn Rex, tôi cũng được mời như phóng viên văn hóa văn nghệ các báo. Tình cờ gặp anh Hoài Anh thư ký tòa soạn báo Văn Nghệ thành phố hồi ấy, tôi hỏi vì sao anh có bản thảo ấy. Anh vò đầu bứt tai: tôi cũng chẳng biết nữa. Hôm đó đang bí bài kỷ niệm, tôi lục đống bài chưa Duoc La Dua.jpgdùng thì thấy bài này. Đọc thấy hay quá, tôi cho lên khuôn luôn. Anh Lê Điệp hồi ấy làm ở đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam II góp chuyện. Tôi đọc, thấy hay quá, lại biết là sếp tôi Lê Khánh Căn rất mê Pautốpxky chắc sẽ duyệt cho phát thôi. Và đúng như thế. Báo đăng, đài phát, ai cũng thấy hay, các cấp cũng chẳng ai có ý kiến gì. Mặc dù không ít người biết Baben chết trong trại tập trung của Stalin từ những năm 1930. Tôi nói với anh Hoài Anh không có nhuận bút cũng được, nhưng chí ít anh cũng cho tôi vài tờ báo chứ. Anh nhận lời rồi mấy hôm sau đến đưa cho tôi quyển Đuốc Lá Dừa anh viết về Nguyễn Đình Chiểu. Anh bảo lâu quá rồi, cả tòa soạn không còn lấy một bản, nếu còn một bản tôi cũng biếu anh. Bài này tặng bạn, tôi không ghi tên người dịch.

Xem đến đây, các bạn có thấy số tôi đúng là số tệ hơn ăn mày không?

Nhưng chưa hết, tôi xin kể một dẫn chứng nữa, ngoài văn chương.

Hồi 1968-1969 tôi đi Quảng Bình cùng 50 công nhân bốc xếp Cảng Hà Nội. Sắp đến Tết Kỷ Dậu. Trong khi ở Hà Nội, đội 5 nơi tôi làm kế toán kiêm thống kê – kiêm y tá chị Vương Thị Tửu vẫn chăm sóc con lợn tăng gia của văn phòng đội, cuối năm chia thịt, không ai quên người duy nhất trong đội đi xa là tôi. Thế là chia thịt. Cụ đội trưởng Nguyễn Văn Sán đạp xe năm sáu cây số lên nhà tôi 16 Hàng Da báo cho anh Đại tôi đến cảng lấy thịt Tết. Anh tôi nhận lời, rồi thu xếp đi ngay. Nhưng đến cảng mênh mông rộng lớn anh không biết gặp ai, cứ lúng túng rồi lại về. Đến trưa thì cụ Sán lại đạp xe đến nhà tôi, gọi anh tôi xuống, cụ cho anh một trận, rồi dỡ thúng thịt xương xuống đất bảo anh tôi nhận. Anh xin lỗi cụ là có đến cảng mà tìm không ra lại để cụ phải đưa đến tận nơi thế này phiền cho cụ quá. Anh lấy bút, giấy ra hỏi cụ cho biết thúng thịt xương này chia cho những ai để anh ghi lại rồi đưa đến tận nơi. Cụ Sán nổi nóng: Cái ông này chỉ hỏi vớ vẩn, tôi đã bảo của ông Thành thì là của ông Thành tất cả chứ còn chia cho ai nữa.

Nhà tôi chưa bao giờ Tết có nhiều thịt như thế.

Còn tôi, ở Quảng Bình …được đúng một lạng thịt lợn.

Các bạn đã thấy số tôi đúng là số … tệ hơn ăn mày chưa…

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5/11/2019

P.T.

Tháng Mười Hai 29, 2019

Chuyện một người cháu ngoại – Vườn Anh Đào (I)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 1 năm 2020

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Phạm Tôn

4- Vườn Anh Đào (I)

Căn buồng nhỏ trên gác hai tôi chọn thỉnh thoảng cũng có khách. Nhà báo Trần Minh Tân lên cầu thang, vừa vuốt tay vào vách tường lở vữa vừa nói:Tran Minh Tan cái cầu thang này giống hệt cầu thang hẹp lên căn gác của giáo khổ trường tư Thứ, nhân vật trong Sống mòn của Nam Cao. Bố con anh Tran DinhTrần Đĩnh vừa ra lô gia, cháu Mây đã vươn tay với mấy cành anh đào sà gần lấy được vài quả. Còn anh Đĩnh thì vừa vuốt tay trên lớp rêu xanh bám mặt lan can gạch, vừa nhìn khu vườn tối om trước mặt mà nói: Giá bây giờ có cô gái hồ ly hóa thân nào hiện ra đây thì cũng chẳng ai lạ!

Anh ngồi cạnh cái bàn con tròn quí báu của tôi cầm chén trà nóng tôi đưa, chưa uống đã vội đứng dậy bảo hình như trong vườn có bóng người. Tôi nhìn ra vườn, trong bóng tối loang loáng ánh điện đường phố và ánh đèn hắt ra từ các khung cửa sổ của khối nhà chính, thấy có một đôi nam nữ đang đi bên nhau rì rầm trò chuyện. Tôi hơi bất ngờ thấy Cô gái Nha Trang đang đi cạnh anh Tư, người nổi tiếng là ăn nói sỗ sàng và còn tự hào vì mình dám nói, không im lặng như những thằng hèn khác.

Nhà 82 Yên Đổ có khá nhiều phòng, nên phóng viên vào miền Nam công tác thường ghé lại ở tạm. Ăn bếp tập thể do bà cụ Năm nấu cùng chúng tôi ở cái bàn dài kê ngay tam cấp nhà chính xuống sân. Anh Tư là phóng viên ban nông nghiệp, người to chắc, da đen, lại có tửu lượng cao rất thích hợp với dân làm ruộng miền Tây. Cô gái Nha Trang xinh xắn lại  mềm mỏng dễ ưa nên nhiều anh muốn làm quen. Anh Đinh Bá Đào hồi ở đây còn leo cây trứng gà hái quả cho cô đứng ở gốc cây hứng, làm nên giai thoại kiểu thằng Quỳnh trèo cây cậy, v.v… Vì ở đây toàn dân văn hay cả mà… Một hôm, sau bữa chiều, anh Tư nhờ bà Năm luộc hộ cái chân giò đã gửi cụ mua ban sáng để mấy anh em nhậu. Tối ấy, anh lên buồng tôi mời tôi sang nhậu với anh em cho vui. Tôi từ chối vì rượu không được uống, vừa chảy máu dạ dày xong đang điều trị, mỡ cũng phải kiêng. Anh lại nói cứ sang Dao Vietcho vui với nhau. Tôi vẫn từ chối. Tối anh xuống bà Năm lấy chân giò luộc lại lên nhắc, kéo cả tay, ép tôi cùng xuống thang lên gác nhà chính. Tôi lên đến nơi, thấy đã đông đủ anh em đang ở Vườn Anh Đào có cả Đào Việt, Hữu Vân. Hữu Vân gầy nhom, nhưng ăn khỏe, rượu cũng hay. Còn Đào Việt thì uống say là bắt đầu hát liên tục. Anh em nâng chén. Tôi cũng được cho một chén nhưng xin lỗi không uống. Anh Tư chủ xị lên tiếng mời anh em cạn chén rồi bỗng nhìn sang tôi nói: Thế nào mày, cô gái Nha Trang nó yêu mày sao mày không nói gì… Tôi ngồi im, không ăn, không uống mà cũng chẳng nói gì. Anh ta lại hỏi to hơn khi đã có hơi men: Tao hỏi, sao mày không nói gì, mày sợ Thép Mới hả, nói đi chứ, anh em đang chờ xem mày nói gì… Vừa nói vừa dứ dứ cái chén về phía tôi. Mọi con mắt đổ dồn về tôi. Tôi đứng dậy, nói rõ ràng: Anh Tư ạ, anh bắt tôi phải nói thì tôi nói đây: Anh thô bỉ lắm. Tôi nói rồi, tôi xin phép anh em tôi về. Cả buồng im phăng phắc. Tôi hiểu anh Tư đã quá chu đáo tổ chức một bữa nhậu có “mồi kép” là cái chân giò lợn và tôi! Anh đem tôi ra để anh em vừa nhắm rượu vừa thưởng thức cách anh tra tấn tôi bằng những câu hỏi hóc hiểm về mối tình mà anh tưởng là đã phát hiện ra giữa tôi và cô gái Nha Trang. Mối tình mà chính cô cũng biết là không hề có. Mặc dù có chuyện hôm đi xem bảo tàng mỹ thuật ở Hà Nội, đứng trước bảo vật quốc gia thạp đồng Đào Thịnh cô có hỏi tôi: bốn cặp nam nữ trên nắp thạp đang làm gì thế thì tôi nghĩ con gái miền Nam táo bạo thật nên nói lảng là tôi cũng không biết. Chuyện tình chỉ có thế thôi.

*

*       *

Sau khi đi chuyến tàu hỏa khánh thành đường sắt Bắc – Nam thống nhất về thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều người hỏi bao giờ cưới. Hóa ra chuyện diễm tình của cô Dương đã loang rộng khắp.

Tôi nghĩ quẩn, đi nhờ cô gái Sài Gòn giúp. Cô này được anh Thép Mới xin về từ Tuyên huấn quận 1 thường đánh máy bài tin tôi viết, tính nết cũng dễ thương. Tôi tưởng như nhiều bạn gái tôi đã quen biết rất vô tư ở Hà Nội vẫn giúp đỡ nhau mà không hề có tình ý gì. Một hôm nhân đưa bản thảo cho cô, tôi kèm một mẩu giấy viết: Tối nay, 19:00 anh mời em lại đằng nhà anh một lát. Có việc cần lắm. Anh muốn cho mọi người biết là họ đã lầm. Cố gắng đến nhé. Nếu có thể kiếm luôn cho anh năm cái khuy sơ mi, loại nào cũng được. Dưới ký tên A. Cô ta đọc, mình hỏi thế nào. Cô ta trả lời vội: Bang ChauKhông! Và lắc đầu quầy quậy. Mình bảo: Thế thì đánh máy bài đi! Rồi vò mảnh giấy bỏ vào sọt, và ra nói chuyện vui với cô phóng viên Băng Châu.

Cuối giờ, chữa bản đánh máy thì thấy cô đánh máy tốt, ít lỗi. Hết giờ làm việc cô vẫn ở lại trò chuyện với một cô vẫn vun vào cho mình là cô Minh nấu ăn, em họ Trần Thăng.

Mình về ngay, rủ hai bạn đi xem phim, cốt sao lúc 19:00 không có mặt ở nhà là dược. Sau khi đi xem phim về cũng như bây giờ, cảm thấy khoan khoái lạ! Tự do, mình lại tự do rồi, không lệ thuộc ý muốn nguyện vọng của ai cả. Cuộc đời lại thoải mái, vô tư như trước.

Tâm trạng này mình đang rất cần dể tiến vào một năm mới với nhiệm vụ chủ yếu là viết ra hết những gì mình suy nghĩ từ hơn 20 năm nay. Việc tìm tài liệu và nghiên cứu về Ông Ngoại cố nhiên vẫn tiếp tục, nhưng có lẽ các chất liệu thu thập được và sẽ thu thập được ấy là để dành cho một trường thiên tiểu thuyết như Klim Sanguine sẽ được viết vào cuối đời mình, đầu thế kỷ 21. Mơ mộng vậy thôi, chắc gì đã làm được…

Đến nay, nhận thấy là người hiểu mình hoàn toàn không bao giờ có. Đành sống với những người hiểu mình một mảnh và cả những người hoàn toàn không hiểu mình gì hết, nhưng lương thiện. Càng ngày càng thấy là dù có cố gắng đến thế nào đi nữa mình cũng khác mọi người lắm. Số phận mình đặc biệt quá… Thật đáng thương cho một con người chất phác nhân hậu như mình.

Tôi định mời cô gái Sài Gòn đến nhà rồi nhờ đính cho năm cái khuy vào chiếc áo thứ phẩm xuất khẩu bị loại mua hồi ở khách sạn Đồng Lợi, ngành Đường sắt có nhã ý liên hệ các cơ sở sản xuất kiếm về bán rẻ cho phóng viên dự lễn khánh thành. Áo này to, không ai mua nên tôi mua. Có điều chưa đính khuy. Có lẽ vì bị loại sớm. Tôi muốn các bà nhiều chuyện ở khu Yên Đổ lan truyền hộ ra để phá tan cái chuyện diễm tình của cô Dương. Không ngờ gái Sài Gòn không như gái Hà Nội. Thất bại từ khi bắt đầu, tôi bèn kết thúc như sau. Ngày 30/1/1977, tôi viết thư cho cô gái Sài Gòn: Cái mảnh giấy nhỏ đã bị anh vò nát chiều 22/1, cô đừng xé nó nữa…mà nên giữ lại làm kỷ niệm. Ít nhất nó cũng chứng kiến sự kết thúc của một cái gì đó chưa thật sự bắt đầu… Anh chúc cô có một cuộc sống trong sạch và hạnh phúc… Khuy áo anh cũng mua rồi và sẽ không bao giờ phiền cô bất cứ việc gì nữa đâu… Một lần nữa, chúc cô sống trong sạch và hạnh phúc. 30/1/1977. A.

Tôi viết lúc 17 giờ và sẽ đưa tận tay cô vào chiều hôm sau. Phải chấm dứt ngay cái Nguyen Huu Vanchuyện này đi vì cô Minh cho biết là nếu anh tấn công là con nhỏ nó chịu ngay. Có lẽ cô chưa biết chuyện tôi mời cô ấy đến nhà. Ngoài ra còn một lý do nữa, nếu đúng như vậy thật thì tệ hại quá! Đó là lý do tôi chúc cô hai lần sống trong sạch.

Phải thú thật là ngày 31/1 tôi trì hoãn việc đưa cô lá thư vì bỗng thấy thương cô lạ, nhưng rồi cũng đưa ngay trước mặt mọi người mà chẳng ai để ý. Thư dán kín. Cô nhận rồi cất đi. Lúc về, mình thấy cô đang rủ rỉ nói chuyện với hai cô bạn thân là cô Minh nấu ăn và cô Tươi tạp vụ. Nhưng không ân hận, mình muốn cô biết suy nghĩ, đừng sống hời hợt mà hỏng cả cuộc đời.

Hôm sau, cô làm việc bình thường còn cười nói nữa. Nhưng khi chụp ảnh kỷ niệm với chị Nguyễn Thị Sâm vợ anh Lê Hưng thì quên bỏ kính trắng. Lần đầu tôi thấy cô không bỏ kính khi chụp ảnh. Cô vẫn đánh máy bài vở, cả bài của tôi… Hôm nay, cô Tươi vừa báo là cô nghỉ ốm rồi.

Ngày 3/2, cô gượng đi làm và dự mít tinh kỷ niệm ngày thành lập Đảng, mặc áo cánh nâu Dang Hacũ, tóc xõa, trông buồn và mệt mỏi. Ngày hôm sau lại nghỉ. Tối, Hữu Vân hỏi, mình kể lại tất cả, chỉ mong cô ta thoát khỏi nguy hiểm. Vân cho biết việc mình nghi là tệ hại theo nhiều người là có thật, nhưng mới ở dạng ý đồ… Cô ta hoàn toàn không biết gì.Cũng hôm nay, anh Đặng Ha bí thư Đảng phụ trách tổ chức cơ quan vào. Anh Hữu Thọ trưởng ban nông nghiệp cũng vào và mong gặp chú. Hữu Vân cho biết: Có dư luận ra đến Hà Nội là anh Thép Mới và mình cấn nhau. Thật chán quá, mình bao giờ chẳng bị hiểu lầm vì mình khác người quá, họ cứ suy bụng ta ra bụng người làm khổ mình nhiều phen rồi. Thây kệ dư luận.

Ngày 5/2, cô gái Sài Gòn kêu rất mệt nhưng vẫn đi làm đủ cả hai buổi. Lại mặc áo vàng và quần Âu màu rêu, từ ngày đến cơ quan làm việc chưa thấy cô mặc quần Âu lần nào, thường là mặc quần ta đen. Mình cảm thấy cô thật chịu chơi chỉ mong sáng suốt, nhạy bén một chút.

Đang ngủ trưa thì cháu Nguyễn Trung Tín con anh Nguyễn Tự đến mang cho mì sợi và một cuốn ký họa của Đức. Tâm hồn trong sáng của cháu bao giờ cũng khiến mình cảm động. Gần đây, Tín vẽ tranh lại ký tên là Nguyễn Thành. Tín phàn nàn về việc anh Thép Mới treo quá nhiều ảnh tươi mát thiếu vải trong buồng riêng và buồng tắm. Mình nhớ có lần anh buột miệng nói: Tao cách mạng thì cách mạng hết cỡ mà khi cần hiện sinh thì cũng hiện sinh tới nơi. Như mọi khi, tôi hỏi khi nào thì anh thấy cần hiện sinh thì anh lại ngớ ra im lặng. Cùng cháu Tín xem sách tranh Michel-Angelo vừa bàn với nhau cách giữ mình trong sạch và phấn đấu trở thành người nghệ sĩ cách mạng thứ thiệt. Người nghệ sĩ như thế ở nước ta mình chưa thấy xuất hiện. Khi được hỏi vì sao nhiều văn nghệ sĩ bê tha rượu chè, thuốc phiện lại viết được những tác phẩm hay đến thế thì Nguyễn Khải nói ngay họ đã rút hết cái tinh túy trong con người mình ra để sáng tác nên những tác phẩm lớn ấy, cái còn lại bê tha chỉ là cái bã.

Ngày 29/2, mồng hai Tết Đinh Tỵ, cô gái Sài Gòn chờ tôi để trả ba cuốn sách “cho hết nợ cuối năm”. Trong quyển Sửa đổi lối làm việc có một phong bì rỗng –cái phong bì mình đưa hôm nọ và một lá thư viết dở. Thư đề ngày 20/12/1976 gửi “Chi yêu dấu” chắc là một bạn gái. Đoạn cuối thư như sau: “Chi này, Nôen này mày có về Sài Gòn không, nếu không chắc tao buồn chết mày ơi (…) Tự nhiên tao có cảm giác là tất cả những gì đến với tao đều là tạm bợ, trong một giây phút nào đó nó đến và lại đi, từ những chuyện hạnh phúc nhất đến đau khổ nhất”.

Thứ sáu 25/12 cháu Tín cho một tập họa báo Trung Quốc có bài viếng Lỗ Tấn của vợ ông – bà Hứa Quảng Bình: Anh từng nói với em “Anh giống như một con bò, Ăn thì ăn cỏ, Mà vắt thì ra máu, sữa” / Anh chẳng biết nghỉ ngơi là gì / giải trí là gì / làm việc, Ton That Thanh 1970làm việc! Một hôm trước khi tắt thở, anh vẫn cầm bút”.

Ôi, làm sao tìm được Hứa Quảng Bình của mình đây…

Trước Tết, cô Minh nói là cô gái Sài Gòn không giận mình, nhưng không đến nhà vì mời đến vào buổi tối. Giá mời vào ban ngày thì đã khác. Trưa 29 Tết có mặt cô ta, cô Minh lại vun vào hết sức rõ ràng: Anh phải đến nhà nó, mang gói chè biếu ba, rồi nói, v.v… Rồi ba nó kêu nó ra, v.v… Em nói là để cô có chồng, anh có vợ, v.v… Cô ta chỉ cười, nói: Chị không phải nói nhiều, anh ấy lớn rồi, tự anh ấy biết. Mình nói cho qua chuyện. Rồi từ đó đến hết ba ngày Tết, không đến nhà, không gặp riêng mà chỉ làm việc miết. Sáng mồng bốn Tết đến cơ quan, thấy cô đang quét buồng. Chưa biết nên xử sự ra sao thì cô nói ngay: Năm mới, anh lì xì cho em cái gì nào? Một lát sau cô về bàn ngồi, tôi cũng ngồi gần đấy, đưa cho cái thư gửi Chi. Cô nhận không chút ngạc nhiên.

Mãi về sau, mình chỉ nói với cô khi có công việc. Còn cô thì làm việc, đọc báo, thỉnh thoảng biến đi một lúc, chắc lại đi gặp hai cô cố vấn. Một chiều mình về muộn, thấy cô và cô Tươi đứng dưới gốc cây cao su ở cổng cơ quan nhỏ to tâm sự. Không khí có vẻ nặng nề, trông cô buồn lắm. Hôm ấy cô lại mặc áo trắng quần đen hệt như con gái quê miền Bắc. Lặng lẽ làm việc.

Trưa 30 Tết, cô ngồi một mình trong phòng làm việc. Mình mời ra ghế đá ngay chỗ cửa để nói chuyện này. Cô vừa đọc báo vừa nói: Anh nói gì thì cứ nói ngay ở đây. Mình bảo ngay: Thế thì chịu thôi, đành vậy…

Không biết cô nghĩ sao mà nói thế. Sự thật mình chỉ muốn nói riêng với cô chuyện đi chơi Đà Lạt, ba người thanh toán tiền rồi, còn có cô là chưa thanh toán để anh Sơn lái xe phải bỏ tiền túi ra, anh ta bực lắm. Trả anh ta trước Tết cho xong, đừng để cho ai bao mà mang tiếng. Đi đã là dại lắm rồi. Mình thấy cô ta quá nông cạn, hời hợt, thậm chí nhẹ dạ. Đó là điều mình rất kỵ ở một cô gái.

Cả quí đầu năm 1977, đọc rất nhiều, nhưng không có mục tiêu gì rõ ràng cả. Cứ mặc cho các tác giả tự do phi ngựa trong đầu mình. Ngay thế sống bây giờ cũng rất kẹt, không rõ ràng như trước. Dư luận dai dẳng cho là mình sẽ sang hội nhà văn, hoặc lại về phòng tư liệu của báo, lâu lắm rồi mình và anh Thép Mới không nói chuyện riêng với nhau. Thật ra mình không bận tâm mấy vì những việc đó. Việc mình bận tâm nhiều là sống sao cho đúng, sát cuộc sống để viết cho tốt. Nhiều khi thèm đi Thanh niên xung phong. Say mê thật sự. Chỉ e sức khỏe kém. Nên đi kiểu nào cho lọt.

Nhiều nhà xuất bản, báo mời viết cũng lờ đi, không làm gì cả, chỉ nói chuyện phiếm… làm họ say mê! Thư từ cũng ít viết. Ngay nhật ký cũng nghỉ đến một tháng nay không viết chữ nào. Tạm thời thả nổi thêm mọt thời gian nữa để suy nghĩ…

Ngày 29/3, nhận thư Cà Mau của mẹ: bé Hùng chín tháng ho ỉa chảy xanh bủng xanh beo, Chu Longcháu Hải đau khớp đang vào tim, cháu Hà hen trở lại. Còn trụ cột là em rể Long thì nay suy sụp lắm, ốm nằm thẳng cẳng suốt ngày chẳng nói năng ăn uống gì, hôm sau khỏi lại đi công tác, đi luôn vừa hại sức vừa tốn tiền… người càng ngày càng gầy, thuốc men chả chịu uống, cứ im lặng nằm chán lại đi…Mình đọc thư mẹ mà mừng là bà cháu mẹ con thương yêu nhau và thương cả họ hàng nữa. Em Thân đã biết gửi quà lên Yên Bái, biết làm giỗ Bác Già. Mình đang chuẩn bị chi viện cho Cà Mau: mua thuốc men, nhịn ăn đường sữa, hết sức tiết kiệm còn đang tìm cách tăng thu nhập để giúp gia đình. Những lúc thế này càng muốn sống một mình để có thể làm được nhiều việc vì mọi người. Nhưng, vẫn thấy bế tắc thế nào ấy cho nên chưa viết được gì, buổi tối vẫn trò chuyện với bạn bè đến nhà, chỉ lo đọc sách và đi nghe nói chuyện như nghe mấy giáo sư Đức nói về kinh tế, nghe ông Đào Văn Tập cũng nói về kinh tế nhưng qua Đại hội Đảng lần thứ IV, nghe cả Trần Văn Khê nói về nghiên cứu âm nhạc phương Tây… Từ nay, ít nhất cũng phải ghi chép nhật ký, mà mình rất muốn đặt tên là Lịch sử tâm hồn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Biết bao biến động ở cái thành phố lớn sôi động này và quan trọng hơn nữa là tiếng dội của nó vào lòng người và lòng mình.

Chiều 6/4, lại đi nghe Trần Văn Khê nói chuyện, nhưng lần này là về âm nhạc dân tộc. Đây là lần thứ ba mình được nghe con người uyên bácTran Van Khe.png giản dị mà giàu nhiệt huyết này nói chuyện và nghĩ là sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của mình lâu dài. Vì mình vốn yêu mến văn học dân tộc, nhất là ca dao tục ngữ, các truyện cổ tích, tiếu lâm. Một điều thú vị là ông Khê cũng đã có mấy lần ốm suýt chất, nằm viện đến ba năm rưỡi, có thời giờ suy nghĩ về cuộc đời, về nghệ thuật quê nhà và từ đó, đã quyết định những việc cần làm trong quãng đời thừa kể từ sau khi khỏi ốm… Có lẽ đó cũng là một lý do khiến con người rất sâu sắc, thâm thúy này lại vô cùng chất phác, thoải mái đến mức hồn nhiên hết sức dễ thương, dễ gần.

Sáng hôm sau, tiễn anh Đinh Bá Đào ra Hà Nội ở ngay cổng nhà 82 Yên Đổ.

Từ 26/4 lên Đà Lạt dự hội nghị Thư viện các tỉnh miền Nam do Bộ Văn hóa triệu tập, gặp ông Thứ trưởng Nông Quốc Chấn, vẫn giản dị như một người dân thường. Phóng viên đều được ăn ở tại khách sạn Palace sang nhất Đà Lạt. Nhưng mình thì về nhà cô Giễm chú An, vẫn nhà cũ số 32A nhưng nay phố mang tên Nguyễn Thị Minh Khai. Mệt, dạ dày hơi khó chịu. Có lẽ vì vừa qua làm việc quá nhiều: Liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV, Liên hoan nghệ thuật quần chúng các tỉnh miền Nam nối tiếp nhau tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mình muốn làm cho tốt, còn muốn nhân cơ hội này nâng cao hơn hiểu biết về cả hai loại hình nghệ thuật này cho nên ngày nào cũng đi dự đủ ba buổi, trưa nào cũng ăn cơm muộn, chủ  nhật cũng làm việc như ngày thường. Mừng là mình được được làm những việc mình thích. Nhưng chính là vì được làm việc mình thích nên làm với tất cả trí óc, tâm hồn, thể xác thành ra mệt hơn người khác làm cho xong chuyện rất nhiều. Vẫn nhớ là năm ngoái, cũng bắt đầu suy yếu từ thời gian này, đến 11/6 mới đổ hẳn. Cho nên cũng có phòng bị. Chủ yếu là ăn. Nhưng vẫn bị mệt do cái tật khi lao vào công việc là quên tất cả. Cứ làm việc là quên mệt. Trước hôm lên Đà Lạt một ngày còn viết lời giới thiệu nghệ thuật quần chúng bốn tỉnh, viết một bài riêng về Hậu Giang và tối đó còn đi xem biểu diễn tổng kết đợt I, về nhà lại làm tin… Lên xe là đã mệt bã cả người, lại bị hành xác trong xe đò chật chội trên đường nắng gắt từ 8 giờ đến 17 giờ, xe nổ lốp hai lần, dọc đường ăn uống bẩn thỉu… Đến Đà Lạt đang lúc hạn hán. May được trận mưa to. Cây cối thì thích còn mình thì quá mệt.

Sáng 19/5 họp cơ quan về chấn chỉnh tổ chức. Anh Thép Mới hẹn sẽ họp riêng với tổ phóng viên Sài Gòn sau. Anh Tấn Thọ yêu cầu quản lý anh em cả khi ở nhà, ai đi đâu phải báo cáo tổ trưởng Đảng (?). Ngày 20, anh Thép Mới để cả hai buổi nghe Cảnh Yên, Băng Tâm và mình nói về bản qui định nhiệm vụ của tổ Sài Gòn do anh thảo. Ngày 21, anh Thép Mới nói liền 1 giờ 30 phút rồi đi vì có việc. Không giải đáp các vấn đề anh em nêu ra cũng không quyết định dứt khoát việc gì ngoài việc chị Nguyễn Thị Nghệ nên để ở văn phòng.

Tối 30/5, cùng Lê Cương phóng viên ảnh bên Thông tấn xã đến thăm Hà Phương tại 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa nói chuyện phiếm đến 22:30. Hóa ra Hà Phương và Phan Thị Thanh Nhàn, Lê Minh Khuê không quen nhau lâu như mình tưởng; chỉ mới quen dịp vào Sài Gòn thôi. Hiện Hà Phương ở cùng cô em học cao đẳng sư phạm.

Sáng 8/6 bắt đầu làm việc ở trụ sở mới của báo tại 173 Hai Bà Trưng, một tòa nhà quá đẹp và rộng rãi, vốn là nơi làm việc của Henry Lemaître khâm mạng Tòa thánh Vatican đã bị giáo dân tiến bộ đuổi đi sau ngày giải phóng. Cuộc họp sáng nay có anh Phan Quang dự. Chiều 13/6, anh Trần Thăng, tổ trưởng Đảng yêu cầu họp để góp ý vào quyết định của anh Hoàng Tùng về việc chuyển trụ sở. Anh Thăng nói bận, không dự. Yên, Tâm, Thành đọc lại quyết định chứ không họp vì chẳng ai lại đi góp ý về một quyết định đã được cấp trên ký bao giờ. Hơn nữa lại thiếu anh Thăng. Buổi tối đi mượn sách về lại được báo là hôm sau sẽ lại họp về việc đó. Đúng là rỗi hơi, vẽ chuyện.

Mấy hôm liền đọc The sun also rise (Mặt trời cũng mọc) của Hêminhuây và Mặt trời mù (Il sole écieco) của nhà văn Ý Curzio Malaparte. Cả chiều 19/6 chủ nhật đọc Paris-Match: Bài phỏng vấn Simenon thật lý thú. Được hỏi bản thân có đặc điểm gì, ông trả lời: Thích làm việc và luôn làm việc… Nhà ở có bao nhiêu buồng ông cũng chẳng biết.Le Hung

Hôm 20/6, báo đăng một bài của Băng Tâm dưới bút danh Băng Châu. Lần đầu tiên dưới tên phóng viên còn ghi “phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh”

Ngày 25/6, nhận thư anh Lê Hưng viết ngày 19/6, trả lời thư mình viết ngày 20/5: Có điều gì quá giản đơn đối với Thành mong Thành miễn thứ. Rất cảm ơn. Thư anh viết này 12/5 có câu: mình mong mọi sự đều tốt lành, nghĩ về nhau đều tốt đẹp. Đại khái ngày 20/5 mình viết: Anh yên tâm, tôi không nghĩ xấu về anh đâu. Còn tôi, chỉ mong anh nghĩ đúng về tôi. Mình biết anh là người tốt, nhưng lúc nào cũng muốn dĩ hòa vi quí cho nên nhiều khi bị kẻ xấu lợi dụng.

Cuối tháng 6, mấy tối liền, anh Lương theo kiểu dân Sài Gòn, thường mặc quần áo ngủ đạp xe đến chơi nhà mình. Anh ngồi đến khuya mới về. Lòng chân thành và nhiệt tình cách mạng của anh luôn khiến mình xúc động. Một hôm, anh có vẻ buồn, kể chuyện vợ không hiểu mình, gia đình phiền phức, rồi bất ngờ khuyên: Chính vì thế mà chú… nên lấy vợ đi! Có thế mới hiểu thế nào là nhân sinh hệ lụy…

Tối sau, lại thấy nói: Loại mình lấy vợ là phải lấy người biết chịu đựng. Thật nó thế. Nếu không, không làm việc được. Trước, tôi cũng định không lấy vợ, tôi chán, ghét đàn bà. Nhưng thấy mấy ông bạn lớn tuổi không có vợ nó đâm ra lẩm cẩm, tính nết kỳ lạ lắm, nó có những khủng hoảng tinh thần khổ lắm, không làm việc được.

Về cô gái Sài Gòn, nay ý chú đã rõ, tôi mới nói, nhìn cô ta tôi thấy ngay không phải là người nhân hậu. Con gái Sài Gòn giả dối lắm. Đã lớn thường hư. Anh có vẻ ủng hộ cô gái Long An mà anh Vân bạn anh Đại giới thiệu. Đừng sợ ít tuổi mà không biết lo toan đâu. Tóm lại, cần lấy vợ.

Mình thì, mấy hôm nay đọc một tập sách về Maiacốpxki của Hoàng Ngọc Hiến, thấm thía lạ lùng. Chợt thấy là hiện nay mình đang ở Sài Gòn mới giải phóng, có khác nào Maia sống thời kinh tế mới NEP. Thói dung tục tiểu tư sản phát triển và thể hiện đầy rẫy trong cuộc sống, đâu có gì là lạ. Vừa qua, mình nhẹ dạ, cả tin đã nôn nóng nhiều phen, hao tổn không ít sức lực tâm trí mà kết quả thu được có là bao. Maia mất đúng năm bằng tuổi mình bây giờ. Người như mình thì phải cố sống thật lâu mới không phí công học tập rèn luyện theo đuổi lý tưởng cao xa.

Chiều 15/7, gặp cô Băng Tâm mà biết là cô gái Sài Gòn nói với hầu hết người ở 22 Tú Xương là mình đã viết cho cô một bức thư tình rất dài, trong đó có câu Nếu em yêu anh thì đến nhà anh, v.v… Mình bảo Băng Tâm nên đòi cô ta cho xem ngay cái thư tình ấy xem nó dài đến thế nào và trong đó viết những gì. Anh Lương đã nói rất đúng về con gái Sài Gòn.

Từ 14/7 đã thấy cô chính thức làm người thường trực, giữ chìa khóa các buồng và phát báo cho cán bộ phóng viên làm ở đây. Dáng vẻ ấm ức mà cố cười nói vui vẻ. Mình đang sống giữa những nhân vật Đốt đầy dục vọng mù quáng đen tối. Hôm 15/7, sở Công an thành phố bắt giữ một vali toàn vải ngoại tốt, chở trên xe quân sự, đề tên người nhận là Thép Mới phó tổng biên tập báo Nhân Dân. Thật là một tin sét đánh! Kẻ nào cả gan lợi dụng danh nghĩa anh để làm vụ này. Không hiểu anh đã tỉnh ra chưa…

Từ 16/7 mình theo học lớp của Bộ Văn hóa mở nghiên cứu Nghị Quyết 4 kéo dài 12 ngày. Ở cơ quan thì nhiều việc mờ ám, nhiều thái độ cư xử khó hiểu, nhiều tin tức rối loạn không dễ xác minh, một tình trạng không rõ ràng về tổ chức, tổ phóng viên không còn, chỉ còn ba anh em bơ vơ trước công việc cứ ùn lên. Trong khi đó gạo thiếu phải ăn độn khoai rau mà vẫn đói. Khoai lại hà nhiều. Tránh dân kêu khoai hà, phường gọi các hộ mua lương thực ngay khi khoai về, dù là giữa đêm mưa cũng gọi. Phải hết sức cố gắng bình tĩnh, sáng suốt để nhận cho ra bản chất của tình hình mà có hành động đúng đắn. Đã thấy hàng loạt kẻ cơ hội chủ nghĩa đủ mọi màu sắc xuất đầu lộ diện.

Trưa 1/8, anh Thép Mới từ Hà Nội về kết thúc một chuyến đi hốt hoảng, sau loạt bài viết về Lào rất đặc trưng cho phong cách bay bướm của anh, trong dó có câu làm người đọc hết sức ngạc nhiên: hai ba hạt ngô bỏ vào đất, mọc lên 9,10 cây.

Xem ra sắp kết thúc quyển một của cuộc đời anh. Quyển hai sẽ bắt đầu thế nào…

Có lẽ anh nên rút lui về mà viết như một nhà văn, viết nốt phần hai Thời Dựng Đảng: Từ ngày 3/2 xốc tới, tư liệu mình đã chuẩn bị và anh đã đến nhà lấy rồi viết tiểu thuyết trường thiên bốn phần có tính chất tự truyện như đã định… sống vì lý tưởng của mình và bằng tài năng của mình. Tất nhiên cần dũng cảm và một nghị lực lớn. Mẹo vặt anh ưa dùng chẳng có ích gì lúc này, mà trái lại, chỉ có hại cho anh thôi. Năm nay, anh vừa 53 tuổi ta.

Mình cố hết sức giảm bớt sự tự hủy hoại của một tài năng… Nhưng, dù sao mình cũng chỉ có thể tác động bên ngoài- do đó, là thứ yếu.

Chiều thứ bảy, 6/8 gặp anh Nguyễn Tự biết cháu Trung Tín đã đỗ thứ hai trường Đại học Mỹ thuật. Anh buồn bã nói: Tình hình của anh Thép Mới là vô phương cứu chữa.

Đêm hôm qua, 9/8 chắc chắn là hai bông hoa quỳnh đã nở trắng đẹp, tỏa hương thơm tại cơ quan… trong sự thờ ơ vô tình của mọi người. Mình vừa ra xem hai bông hoa tàn, ngoẹo đầu rũ xuống chúm chím cái miệng trắng xinh đã khép lại… Một bông hoa quỳnh nữa đêm nay sẽ lại nở trong vô tình lạnh nhạt. Mình biết mà đành chịu. Đến ngắm thì không tiện mà mang hoa về thì không được. Đành lại để phí một đời hoa…

Tổ Sài Gòn chỉ còn ba anh em được mời họp với hai anh Thép Mới và Phan Quang. Mình chán ngán quá: người mình cứ sống trong cái cảnh cài thế nhau mãi như thế này, đến bao giờ nước mình mới cất cánh được. Thật là khổ, tài năng đã chẳng có được bao nhiêu lại cứ kìm hãm nhau mãi thế này thì rồi sẽ đi đến đâu…

Buổi họp sáng 16/8 chủ yếu để anh Thép Mới trút hết trách nhiệm về tổ Sài Gòn, từ nay sẽ thuộc phòng phóng viên thường trú Hà Nội. Mình đã lợi dụng thời cơ để gặp được anh trong đúng năm phút, nói đúng một câu cần thiết vạch mặt kẻ gây chia rẽ giữa anh và tổ Sài Gòn, đặc biệt giữa anh và mình. Sự thật đơn giản ấy làm anh hốt hoảng, vội vã thanh minh, còn hẹn sẽ đến nhà gặp mình. Mình sẽ góp phần làm sáng tỏ chân lý, đem lại công bằng và hạnh phúc cho số người của báo Nhân Dân ở Sài Gòn. Nhưng vẫn cần giữ vững nguyên tắc: Chỉ tiếp xúc với phần ưu tú nhất, có giá trị nhất trong con người anh mà thôi. Thay đổi cả một con người bản chất đã hình thành và được củng cố qua hơn nửa thế kỷ như anh, là việc lớn mà sức mình không làm nổi… Hãy vì nghĩa lớn mà tránh những đụng độ đáng tiếc.

19:00 ngày 17/8 Hồng Cảnh Yên đưa cho mình cái phong bì do cô gái Sài Gòn đưa anh hồi 14:30. Chữ anh Thép Mới viết trên một mảnh giấy như sau:Thu thep moi hen gap ton that thanh o tu xuong.jpg

Thành,

Sáng mai, 8 giờ, tôi đợi Thành ở nhà 22 Tú Xương. Sáng nay đến tổ Sài Gòn không có ai. TMới (ký)

Ngắn gọn, khô khan, lạnh lùng, khác hẳn những lá thư, thiếp nhắn anh gửi cho tôi nhiều năm qua.

Theo đúng kế sách đã nghĩ sẵn, sáng 18/8 mình đến gặp anh Thép Mới ở 22 Tú Xương muộn 15 phút. Gặp rồi thì chỉ nói chuyện thời tiết, hoặc vớ vẩn về sách vở, văn nghệ, công tác… Cứ thế, đến mức anh sốt ruột phải phủ đầu bằng một đòn mạnh: Việc mày nói hôm nọ, tao đã hỏi, nó nói là nó không nói (vụ Thép Mới và Thành cấn nhau vì cô gái Sài Gòn). Mà tại sao lại lôi tôi vào những chuyện này… Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng-Ai muốn lôi anh vào chuyện này, em à?!! Chẳng qua việc nó dính đến anh mà lại có hại cho việc chung, hại cho tờ báo, nên em mới phải nói… Anh xem, em có lợi gì trong việc này… Anh ta không nhận vì nếu nhận thì còn ra thế nào nữa… – Thế thì phải gọi nó đến, ba mặt một nhời … – Anh biết đấy, xưa nay em chưa hề sợ đối chất bao giờ. Anh cứ để em nói tuần tự, đây toàn là những sự thật không thể chối cãi… Buổi gặp mặt đã diễn ra kiểu như thế. Mình cương quyết không lùi một phân tấn công thẳng vào lương tâm, trí tuệ anh bằng những lập luận đanh thép, sắc bén, chặt chẽ và những dẫn chứng hùng hồn. Anh phải rút giấy trong cái cặp xanh ra ghi chép và chống đỡ yếu ớt bằng những lời đứt quãng, mơ hồ…Anh tuyên bố là không có chuyện gì với cô gái Sài Gòn, sẽ nói rõ về chuyến đi Đà Lạt, anh lấy cô ta về cơ quan là vì công tác, ai muốn yêu cô ta thì yêu, muốn lấy cô ta thì lấy, chúng nó buôn chuyện. Anh xác nhận: Không mượn gạo anh em tập thể Yên Đổ, không mua thịt quá tiêu chuẩn, v.v… Tóm lại là có một bọn người đã nhân danh anh làm những việc xằng bậy đó. Anh chăm chú nghe và ghi chép về số đảng viên thoái hóa, học đòi tư sản, móc ngoặc, ăn cắp, nói dối, mê gái… và hẹn là sẽ đưa ra cuộc họp Đảng bộ tới đây. Mỗi người phải tự kiểm điểm kỹ càng. Cũng ghi cả những hiện tượng sợ hãi phong trào quần chúng mạnh mẽ dưới ánh sáng nghị quyết IV, hiện tượng ngăn cản, trấn áp quần chúng làm chủ tập thể cơ quan. Nói chung, không khí cuộc gặp căng thẳng từ đầu đến cuối, nhưng mình vẫn giữ thái độ khiêm tốn. Những yêu cầu chính đạt được là: Nêu rõ tên kẻ chia rẽ. Chỉ ra bọn lợi dụng danh nghĩa Thép Mới để làm những việc ti tiện. Chỉ ra những người đang biến chất, thoái hóa. Nêu bật sức mạnh của quần chúng. Tóm lại là cắt đứt liên hệ của anh với bọn làm bậy và nêu ra con đường phải đi là hòa mình với quần chúng thực hiện nghiêm đường lối của cách mạng.

Buổi tối hôm ấy, thanh niên cơ quan họp, chỉ rõ bí thư chi đoàn một người thân tín của anh, bị tố cáo là tham ô, thoái hóa, biến chất. Sáng 17, anh Nguyễn Tư ra Hà Nội.

Như một phản ứng dây chuyền, sau cuộc gặp  ba giờ Thép Mới – Thành, đến cuộc gặp cũng ba giờ nữa giữa Thép Mới – Đào Tiến Ích công nhân báo vụ là thư ký công đoàn mới được bầu. Tối ấy, thanh niên họp… Còn các ban kiểm tra của công đoàn vẫn âm thầm lặng lẽ làm việc một cách hiệu quả. Cơ quan công an gặp người của báo và cử cán bộ đến chính thức gặp báo Nhân Dân. Quần chúng phấn khởi, khí thế mạnh mẽ đầy tự tin. Còn nhóm bê bối thì hoang mang lo sợ, mặt mũi cứ hầm hầm, buồn bã như nhà có tang. Rồi túm năm tụm ba hội họp nhỏ to bàn mưu tính kế chống lại tập thể đã bước đầu giác ngộ. Đúng khi ấy, chi bộ họp tối 19/8. Sáng hôm sau, mỗi tổ nhận được một Lời kêu gọi, mở đầu bằng câu: “Anh chị em trong cơ quan thân mến” và kết thúc bằng: “Hướng về Đại hội Đảng bộ, vì sự nghiệp của Đảng, vì chân lý, vì đoàn kết, toàn thể anh chị em ta hăng hái phấn khởi tiến lên”. Lời kêu gọi dài hơn ba trang đánh máy trên bốn trang giấy là của chi ủy, nhưng cuối lại đề: Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/8/197 Đại diện Ban biên tập và chi ủy Phòng liên lạc báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh”

Có lẽ là mong tăng thêm… trọng lượng cho Lời kêu gọi.

Bốn tờ giấy đánh máy ấy được dán cả trên tấm bảng đen chỗ đông người qua lại. Khi ấy, tác giả của nó đã ra máy bay chuyến sớm đi Hà Nội rồi. Nội dung có nhiều điều công tư to nhỏ. Tất nhiên càng nhiều văn chương. Đáng chú ý là đoạn: Chúng tôi hoan nghênh đại hội công đoàn vừa qua, anh chị em đã góp nhiều ý kiến đối với các công tác chung và một số đảng viên, cán bộ cũng được anh chị em nêu lên những việc làm hiện tượng tiêu cực. Bất kể đúng sai, sự đóng góp ý kiến là rất quí. Chúng tôi đã đặt vấn đề với ban chấp hành công đoàn tập hợp trung thành mọi ý kiến, một mặt gửi cho ban biên tập và Đảng ủy để cấp trên hoàn toàn nắm được tình hình bộ phận trong này, trên cơ sở đó đối với những chuyện nghi vấn tham ô, lãnh đạo hoàn toàn tin cậy ban kiểm tra tài chính và kinh tế của công đoàn tích cực làm việc và đề nghị ban biên tập cử đoàn cán bộ vào kiểm tra.”

Điều này cho biết anh đã hiểu và kiên quyết không bao che cho bọn lợi dụng danh nghĩa anh làm bậy. Hình như số này chưa hiểu được ý đó cho nên mới nhiệt tình phổ biến Lời kêu gọi như vậy.

Chiều 1/9, tổ chức quần chúng góp ý Đảng viên. Chia quần chúng theo từng tổ, có tổ chỉ có hai người ngoài Đảng, được tự do góp ý trước mặt các Đảng viên cùng tổ. Nói chung cách làm này thu được một sự im lặng nhiều ý nghĩa và vài lời phát biểu lấy lệ. Tổ tôi, biên bản ghi một ý kiến của cô Băng Tâm và một câu của tôi: Không có mặt anh Thép Mới, tôi không thể phát biểu vì thấy có những biểu hiện thiếu dân chủ, thiếu tự do và thiếu an toàn cho một số người.

Sáng 5/9, được báo sẽ họp tổ buổi chiều, có đồng chí Thép Mới dự. Hẹn 15 giờ mới bắt đầu họp mà mới 14:20 anh đã đến và yêu cầu họp ngay, giấy bút cầm tay. Anh thanh minh hôm trước không sang dự được vì cửa khóa, mà xe đạp cũng bị khóa mất, lại quên gọi điện thoại… Mình chỉ nêu một vấn đề Dân chủ bị hạn chế, người phát hiện vấn đề bị trấn áp, quần chúng không tin chi bộ này, chi bộ đi ngược lại tinh thần Nghị quyêt IV, đã đóng góp ý kiến nhiều thấy vô ích mà còn có hại cho bản thân những người trung thực nên từ chối góp ý. Rồi đề nghị mấy phương pháp để thật sự lấy được ý kiến quần chúng, kể cả cách bỏ phiếu kín.

Chỉ mấy ý kiến chung chung ấy thôi mà xem ra anh đã hoảng sợ thật sự. Tổng biên tập Dao Tien Ich.jpgHoàng Tùng vào mà anh cũng chỉ tiếp qua loa rồi lại vào nghe và ghi lời mình nói. Thép Mới sợ sự thật. Đấy là điều đau xót nhất, đáng buồn nhất mà cũng dễ thấy nhất.

Sáng 6/9, lại họp “quần chúng góp ý Đảng viên” nhưng không cho dân Sài Gòn mới vào cơ quan dự. Mình đi công tác, không dự, cũng biết cuộc họp diễn ra tẻ ngắt thế nào.

Tối 2/9, cùng chú Vượng công nhân thu phát telex đi xem vở Tình ca của Ngô Y Linh. Gọn. Sáng tạo mà sâu. Tối 3/9 xem TV vở Người con gái anh hùng cũng của Đoàn kịch nói Cửu Long Giang, chân thật, xúc động. Thế là do phân công theo dõi văn hóa nghệ thuật mà tự nhiên mình phải đi vào con đường phê bình nghệ thuật mới chết chứ. Thật lòng, không ham nên đã từ chối về Viện Văn Học theo lời khuyên của anh Phong Lê và chị Thanh Vân ngay thời còn bị hành khốn khổ ở Cảng Hà Nội.

Chủ nhật 4/9, anh Nguyễn Ngọc Lương rủ cùng anh Bảy Bá bạn anh đạp xe đến nhà ông Mai Đăng An là chú anh Bá ở Bình Đông, ở chơi đến chiều mới về. Ông giáo dạy văn này, mới ngoài 50 đã có 11 con, 5 trai. Nhà vườn Mai Thảo Trang của ông rất nhiều cây mãng cầu xiêm tháp gốc bình bát chịu được mặn. Lần đầu mình biết quả nhàu, ăn khỏi đau lưng, các người tù bị tra tấn, đánh đập ăn vào là đỡ đau ngay. Có điều vị nó khai như nước tiểu, phải ngâm vào hũ muối mấy ngày mới lấy ra ăn được. Gặp nhau ba anh trò chuyện tâm đắc, chân tình khiến mình hiểu những người hoạt động công khai ở Sài Gòn thời địch tạm chiếm, nay chưa được dánh giá và đối xử đúng mức.

Không khí thoáng đãng bên bờ sông nước lợ trong khu vườn cây cối xum xuê, lại sống giữa những con người giản dị, chân tình, mình cảm thấy thật là một ngày nghỉ tuyệt diệu, khó quên. Vì lành mạnh và chân tình. Khác xa bầu không khí ngột ngạt, nghi kị mình đang phải sống.

Tối tối vẫn đọc đều cuốn Chê Ghêvara dịch của I.Lavreski.

Hai ngày 9 và 10/9 cùng anh Đức Thi trưởng ban văn hóa dự họp Hội nghị tổng kết hai năm học của các trường đại học miền Nam. Rất phấn khởi khi nhận thấy suy nghĩ của mình lâu nay là đúng. Trọng tâm phải là công tác chính trị tư tưởng và công tác tổ chức. Tối 10/9 nghe anh Hoàng Tùng nói tại hội nghị về tình hình hiện nay ở nước ta, Trung Quốc và Căm pu chia. Buổi nói chuyện kéo dài đến 23 giờ mà người nghe vẫn chăm chú dường như còn muốn nghe nữa. Vì đây chính là những vấn đề thiết thân với cuộc sống của mọi người dân thành phố này, nhất là với những con người nhạy cảm như giới trí thức tập trung ở các trường đại học.

Sáng chủ nhật, mưa rả rích xuống đám cây cối của Vườn Anh Đào. Cô gái Nha Trang đến thăm tôi, thân mật, chân thành như ngày mới gặp tháng 8 năm 1975. Vẫn thon thả, mặn mà duyên dáng tươi tắn như ngày nào.

Cô học đại học Tổng hợp, rời Vườn Anh Đào đến khu dành cho khoa sinh học tại 227 Hoàng Văn Thụ. Giáo sư tiến sĩ Đặng Vũ Hồng Miên là em gái chồng dì tôi Giáo sư Đặng Vũ Hỷ cũng ở khu ấy. Sau những câu thăm hỏi về những người quen cũ, cô tỏ ý chân thành mong tôi giúp anh Thép Mới, góp phần đừng để hủy hoại một tài năng. Cô nhận xét rất đúng là anh ấy rất tốt, nhưng yếu ớt, dễ bị ảnh hưởng của những người bao quan. Cô nghĩ chỉ có tôi mới có thể giúp anh lúc này được thôi. Cô biết anh vốn tin cậy tôi.

Cô chia tay tôi như một người bạn thân thiết, tin cậy từ lâu.Quyet dinh to tu quan trang 1.jpg

Chi bộ vẫn tiếp tục họp đều đặn mỗi ngày hai buổi sáng và tối. Để… kiểm điểm Đảng viên. Không biết họ định dẫn dắt đợt học tập này đến đâu. Định thí mạng ai để trấn an tâm trạng quần chúng. Mình đã lầm khi cho là anh đã nhận ra sự thật và tách khỏi nhóm bê bối, lừa trên dối dưới. Cô gái Nha Trang đã nhận xét về anh rất đúng. Anh không mạnh mẽ như người đọc anh thường nghĩ.

Tối nào, tôi cũng đọc ít nhất một chương cuốn Chê Ghê va ra như uống thuốc tăng lực để có sức sống tiếp.

Sáng 12/9, ngay sau khi anh Hoàng Tùng ra Hà Nội, anh Thép Mới cho công bố quyết định do anh ký ngày 12/9/1977 “T.M Ban biên tập báo Nhân Dân Phó tổng biên tập. Số 88/ND-QĐ”. Đó là Quyết định về tổ phóng viên “tự quản” Sài Gòn. Trong đó ghi Đại diện Ban biên tập báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí minh quyết định:Quyet dinh to tu quan trang 2.jpg

Điều I là giải tán tổ “tự quản” của các phóng viên báo Nhân Dân hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh…

Tôi ở trong tổ đó, thấy nó có tự quản bao giờ đâu, mà chỉ thấy bơ vơ trên không chằng, dưới không rễ, mà việc thì nhiều, cứ việc ai nấy làm như đã được phân công từ trước.

Rồi điều 2 là: Đình chỉ công tác đồng chí Hồng Cảnh Yên để viết bản kiểm điểm cá nhân… Việc này thì thường thôi, anh Yên là Đảng viên cấp trên bảo kiểm điểm thì phải kiểm điểm, có sao nói vậy thôi. Rồi điều 3 là : Tạm thời trao đồng chí phóng viên chuyên trách văn hóa Tôn Thất Thành cho đồng chí Trưởng ban văn hóa hiện có mặt tại thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý và phân công công tác trong suốt thời gian đồng chí Trưởng ban Văn hóa công tác tại đây. Điều 4 là: Tạm thời điều đồng chí Phạm Thị Băng Tâm sang tổ xuất bản…

Chẳng biết ai đã khéo bày ra cái vụ Tổ phóng viên “tự quản” để anh Thép Mới phải ra tay đập tan! Cô gái Nha Trang rõ là người hiểu anh. Anh Thép Mới đã đi quá xa. Bọn tay sai của anh thì hí hửng, còn quần chúng thì lặng im căm giận.

Buồn cười là chính những ngày này tôi mới thấm thía lời anh dạy chúng tôi là làm báo nên có bút danh. Để khi người ta ngồi ngay trước mặt mình cũng không biết mình là ai, cứ việc khen, chê thoải mái. Tôi may mắn được dạy như thế từ năm 18 tuổi, lần đầu biết anh. Nhờ đó mà tôi biết nhiều chuyện lạ. Anh em bên Thông tấn xã rất thân với tôi kể cho tôi biết nhiều chuyện rất lạ…về tôi! Nhất là chuyện anh Thành được thủ trưởng yêu mến giúp đỡ rất nhiều, nay lại quay ra đâm sau lưng cụ, khiến cụ tức quá ngay giữa hội nghị chi bộ nói là nó háo danh, mê gái đến mức đi tàu hỏa ra Hà Nội còn nhờ người giữ hộ người yêu sợ người khác lấy mất. Cụ nói suốt một tiếng rưỡi về anh này. Các bạn hỏi tôi có biết tay này không. Tôi bảo có biết, thấy cũng bình thường, không có gì ghê gớm như chuyện các bạn nói. Các bạn còn bảo người kể cho các bạn còn nói là chính anh ta đã đề nghị đuổi anh Thành ra khỏi cơ quan. Nhưng, cụ nói xong bắt mọi người không được nói ra ngoài, nhất là nói cho thằng đó biết. Anh em bên thông tấn xã chỉ biết tôi là Nguyễn Trung không ai biết tôi tên là Thành. Tôi mang ơn anh Thép Mới mãi về việc này, nó giúp tôi biết được sự thật như anh đã dạy tôi.

Anh Nguyễn Ngọc Lương một người thật thiện lương. Nghe chuyện tôi kể anh cứ lấy làm lạ mãi. Anh mới gặp anh Thép Mới cách đây không đến một tuần. Hoàn toàn không có gì là căm thù mà lại còn khen chú nhiều nữa. Chỉ trách anh Lương là tại sao lại khuyên tôi hãy sống như những nhân vật của Tam Quốc, Sử ký để đến nỗi tôi nói sẽ tự tử nếu thấy đời này có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mà nhân dân cứ phải sống quì như vậy! Anh Lương cho là Thép Mới bây giờ nói trước quên sau, khủng hoảng tinh thần, suy thoái, muốn thoát thân nên mới làm như vậy. Anh nói thế nhưng cứ băn khoăn mãi về những nguyên nhân sự suy thoái này… Còn mình thì cho rằng nguyên nhân xuất hiện từ năm 1947, khi anh khoe với ông Lành quyển sổ tay phóng viên có ghi ở bìa phương châm HÃY SỐNG NHƯ ANH VIẾT. Trái ngược hẳn với Paven trong Thép đã tôi mà anh đã từ đó lẩy ra bút danh Thép Mới của mình.

Nghe nói anh Thép Mới đã viết một tham luận 60 trang đánh máy, một báo cáo hơn 40 trang…cho đại hội chi bộ 12 người. Văn chương ấy làm sao che lấp được sự thật. Mà có thật là còn có văn chương thứ thiệt ở một con người như vậy không… Những ngày tháng 9/1977 này mở đầu bằng lễ kỷ niệm tổ chức ngày 1/9, rồi liên tiếp các cuộc quần chúng góp ý Đảng viên: Chiều 1/9, 5/9 và sáng 6/9, v.v… cuộc học điều lệ mới… Cả một loạt hành động hoàn toàn xa lạ với các nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chắc chắn suốt đời toàn bộ 30 con người sống ở cơ quan này sẽ không bao giờ quên. Chỉ có trong hơn nửa tháng mà bản chất của hàng loạt con người đã được lột trần, hơn hẳn mấy chục năm trời sống bên nhau.

Tình cờ đọc Lời nói đầu trên báo Đoàn Kết của Hội Việt Kiều Pháp viết khi đăng Thời Dựng Đảng: Lịch sử của cái “thuở ban đầu dễ ai quên” ấy đã được ghi lại rất linh động dưới ngòi bút của nhà văn và nhà báo Thép Mới, đúc kết một công trình tìm tòi tư liệu công phu”.

Công trình tìm tòi tư liệu công phu ấy thật ra của ai? Anh Thép Mới là người hiểu rõ nhất.

Anh Nguyễn Tự, người bạn Trường Sơn chí cốt đã cho anh Thép Mới tá túc bí mật trong những ngày bị chị vợ oán thù căm giận truy lùng, đã buồn bã nói: Không ai có thể cứu được Thép Mới trừ chính bản thân anh ấy. Nay ông ấy chỉ thích nghe lời khen, mà không chịu nổi bất cứ lời phê phán nào… Hết rồi.

P.T.

Thành phố Hồ Chí Minh 2/12/2019 (còn nữa)

Ba thục nữ khuê các Hà Thành xưa và … tôi

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 12:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1 năm 2020

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

Ba thục nữ khuê các Hà Thành xưa và …tôi

Phạm Tôn

Tôi may mắn có được bức ảnh ba thiếu nữ xinh đẹp của Hà Nội xưa này. Mẹ tôi Phạm Thị Giá (bên trái) và chị dâu Nguyễn Thị Hy (ở giữa) đều tuổi quí sửu, còn dì tôi Phạm Thị Thức (bên phải) tuổi mão. Hai bà tuổi Sửu cùng tuổi vua Bảo Đại sinh năm 1913 suốt đời vất vả; chỉ có dì tôi tuổi mão là sung sướng. Ba bà là ba người đầu tiên tôi được gặp trên đời. Tất nhiên cũng là những người thấy mặt tôi đầu tiên. Trong đời mình, tôi cũng được ba bà thương yêu chăm sóc, giúp đỡ nhiều.

anh ba ba da chinh sua

Mẹ tôi kể, năm ấy là năm canh thìn (1940).

Ai cũng bảo: Đi lễ quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng. Thế là ba chị em mẹ tôi dì kế mẹ tôi và bà chị dâu cả rủ nhau đến nhà bố mẹ tôi ở số 5 phố Hàng Da ngủ để sáng hôm sau là đúng ngày rằm tháng giêng thì đi lễ, kẻo mẹ tôi bụng đã to lắm rồi, đẻ lúc nào không biết lại không đi lễ được. Ba chị em mà như là ba người bạn thân, hợp tính nhau lắm, cứ ai có chuyện gì là cũng nói cho nhau biết và cùng nhau giúp đỡ, chia vui, sẻ buồn bao giờ cũng có nhau.

Nói là đến nhà mẹ tôi ngủ nhưng có ai ngủ đâu chuyện trò râm ran suốt đêm. Thêm nữa, nằm trong bụng mẹ chắc là tôi hóng chuyện, khi vui, khi lo cho nên cựa quậy luôn làm mẹ tôi hay phải trở mình, được bác và dì tôi đỡ cho dễ nằm. Năm ấy, mẹ tôi mới 27 tuổi. Dì tôi kém mẹ hai tuổi.

Khoảng ba giờ sáng thì mẹ tôi đau bụng, bác và dì bảo có lẽ trở dạ, phải dậy chuẩn bị ngay kẻo không kịp. Nhưng mẹ tôi lên cơn đau dữ dội, cứ quặn cả bụng lại liên hồi không sao chịu nổi, phải cố lắm mới không kêu lên. Thế là ba bà lên xe nhà, tài xế lái ngay đến bệnh viện Đặng Vũ Lạc ở đường gần nhà ga Hàng Cỏ, sau này gọi là đường Trần Hưng Đạo, bệnh viện thì thành bệnh viện Việt Nam – Cu ba. Ba giờ rưỡi sáng, tôi ra đời. Cô y tá vui vẻ bế tôi lên xem xét và vui mừng báo với ba chị em, còn dứ dứ phần dưới thân tôi đến ngay trước mắt mẹ tôi như để khoe thành tích của cô ấy và nói to Con trai, ba ký rưỡi. Nhưng cô chưng hửng trước vẻ dửng dưng của mẹ tôi. Mẹ nói Giai gái gì cũng được cô ạ, cám ơn cô, rồi quay mặt vào trong. Dì tôi và bác tôi vội đón lấy đứa bé nựng và đưa mẹ tôi cho bú.

Cô y tá không biết nên có phật ý, nhưng dì và bác tôi thì biết rõ mẹ tôi nói thật lòng. Mẹ tôi cưới năm 18 tuổi, năm 19 có con gái đầu lòng, rồi sau đó lại hai con gái nữa. Ông bà ngoại không nói gì, chỉ có bên nội ở Huế thì có người lớn nói là thế này thì phải lấy vợ lẽ cho bố tôi, vì bố là con trưởng không thể không có con trai nối dõi. Mà lấy là lấy thôi, không sao đâu, lấy rồi thì chính mẹ tôi sẽ đẻ con trai ngay mà, không phải e ngại chi mô. Mẹ tôi nghe nói buồn lắm, chỉ biết chia sẻ nỗi lòng với dì và bác tôi, cùng nhau lên chùa, đi xem bói… Rồi nghe nói bố tôi cũng ngả theo ý bên nội, chấm một cô tân thời xinh xắn, cao mà lại biết đi xe đạp. Đó là cô Nga, thường gọi là Nga Thiên Hương, em vợ ông họa sĩ Nguyễn Cát Tường Lemur, nhà đối diện nhà chúng tôi, ông cùng dạy trường Thăng Long (Ngõ Trạm) với bố tôi, lại mở quán kem Thiên Hương, đề xướng lối sống Âu hóa, vì ông cũng là người trong nhóm Phong Hóa – Ngày nay.

Mẹ tôi buồn mất mấy năm, nhưng đến tháng 1 năm 1937 thì sinh anh tôi, cứu tinh đời mẹ. Ai cũng mừng. Không phải lấy vợ lẽ cho chồng mà vẫn sinh con trai. Bạn bè mừng có con trai tặng một cái chén bạc, kèm thìa bạc và đĩa bạc rất xinh, mẹ tôi bảo ai ngờ là bộ đồ mừng sinh con trai ấy chỉ để pha thuốc cho anh tôi uống từng thìa nhỏ. Vì anh ốm yếu từ khi sinh. Có lẽ do mẹ tôi quá lo âu khi mang thai anh.

Có anh, mẹ tôi trút được gánh nặng lần này không sinh con trai thì để anh ấy lấy vợ lẽ… Mọi tình thương yêu đều trút vào anh, đứa con đã cứu đời mẹ. Bac Dai luc 4 tuoi.jpgVì thế, mẹ tôi mới dửng dưng khi nghe cô y tá báo tin sinh con trai. Chỉ là sinh con trai thôi, không có ý nghĩa gì khác.

Nói thế, chứ không phải mẹ không yêu thương tôi.

Tôi còn nhớ phòng khách ở nhà số 5 phố Hàng Da có treo trên tường chỗ dễ thấy nhất một khung ảnh to, chụp tôi hồi sơ sinh đang nằm sấp, đầu ngẩng lên, mắt to đen láy, lông mi dày. Cho đến trước khi tản cư tháng 12/1946 vẫn còn. Chứng cớ nữa là tôi vừa được mấy ngày bộ ba (tức mẹ, dì và bác tôi) đã kéo nhau đi xem bói, thầy nói thế nào là làm đúng như thế. Mẹ cho tôi vào một cái khăn len, đặt trong cái làn mây, ra trước rạp chiếu bóng Olympia ngay trước chợ Hàng Da thì đặt xuống vệ hè rồi vội vã đi ngay về nhà để dì tôi đến  xách cái làn mây có tôi nằm ngơ ngác mà thích thú trong đó đem về nhà mẹ. Gặp mẹ thì dì nói là tôi tình cờ đi chợ Hàng Da, thấy có thằng bé bụ bẫm ai bỏ ở vệ hè, không khóc, chỉ cười đáng yêu quá, tôi xách về dây, chị có thích thì tôi biếu chị, không thì tôi đem về tôi nuôi. Sau đó, còn sợ tôi số khó nuôi, đem đi xin làm con Đức Thánh Trần xin cả bùa bắt tôi đeo. Tôi nhớ u Thành, vú nuôi tôi khi nào tắm tôi cũng nhấc cái bùa hình chữ nhật bằng đồng lên trước mặt tôi dặn là bao giờ cũng phải đeo mới mạnh khỏe và tránh được rủi ro. Chuyện bỏ giỏ mây và đeo bùa chứng tỏ mẹ tôi cũng yêu quí tôi, nhưng bà chỉ giữ trong lòng. Đến năm 1998, tôi đã 58 tuổi, sau một lần tôi chết hụt mẹ mới viết thư kể chuyện đem con bỏ giỏ này.

Đến bây giờ , gần 80 tuổi rồi, tôi vẫn không hiểu vì sao dì thương yêu tôi hơn các anh chị Ba noi be boem khác trong nhà tôi. Khi có tôi, dì đã sinh Tứ, Bính, một trai một gái vậy mà dì vẫn hay đến nhà, dẫn tôi đi chơi. Dạo nhỏ, mẹ tôi kể, tôi mới nói được vài tiếng, nhưng là những tiếng rất khôn . Đi chơi thấy cái gì hay hay cũng hỏi Chái gì, được dì trả lời thì lại nói ngay Cho Chành. Thế là dì mua cho. Tôi vẫn nhớ lần vào cửa hàng Vĩnh Long chuyên may y phục trẻ em ở phố Hàng Gai, tôi hỏi và xin thì dì mua cho một bộ áo sơ mi sa tanh trắng có nổi hình mặt trăng mặc với quần và gi lê sa tanh đen. Về nhà, ai cũng khen là đẹp quá. Dì bảo nó chọn nên tôi mới mua cho. Có lần đến nhà chơi, thế nào tôi bị mèo nhà dì cào đau phát khóc lên thì chú bỏ cả việc đang làm, ra dỗ, tiện tay lấy một quyển sổ nhỏ bìa đen cho tôi. Dì thì lo cho uống nước và xoa xoa vết xước. Sau này, tôi bị lao phổi, khi nằm bệnh viện Bạch Mai, chú xuống thăm, khi an dưỡng ở tận Quảng Bá chú cũng đạp xe lên thăm, còn dạy cho tôi cách vung hai tay theo kiểu người  Pháp phát cỏ để luyện phổi thở cho tốt. Động tác ấy, hằng sáng tôi vẫn thực hành.

Hồi tôi làm chuyên trách bổ túc văn hóa ở Cảng Hà Nội, dì đã dùng sổ mua hàng dành cho cấp bộ trưởng của chú rể tôi giúp tôi biến thù lao mọn của anh em giáo viên thành những món hàng sang trọng chỉ cấp bộ trưởng mới được cung cấp: nào là sô cô la, thuốc lá thơm, xà phòng ngoại… Cái tình dì cháu có lẽ bắt đầu từ khi dì ra chợ Hàng Da nhặt tôi về trong cái làn mây như mẹ tôi kể.

Còn bác Cả gái, thì tôi nhớ nhất là khi đầu tóc bác đã bạc phơ vẫn hay lên chơi nhà. Bác vừa cười vừa kể: Thằng con trai tôi nó cứ nhắc sao dạo này mẹ ít lên nhà cô thế. Tôi biết nó muốn lên chơi với con trai cô. Anh em chênh nhau đến hơn 10 tuổi mà cứ gặp nhau là không rời, không biết có chuyện gì mà nói lắm thế. Còn đưa sách cho nhau. Năm 1975, bác đến nhà chơi, bảo đưa ra ban công bác muốn hỏi cháu làm sao trồng nhài hoa nhiều và to thế. Ra tới nơi, bác nói nhỏ: con cả bác đi bộ đội Trường Sơn, vào Sài Gòn đầu tiên là đến sân bay Tân Sơn Nhất hỏi thăm có đại tá Đệ không thì được biết là đại tá Đệ đã lên chuyến trực thăng cuối rời sân bay, bị lính dưới quyền bắn chết rồi. Anh rể tôi cũng tên là Đệ, nhưng không phải người bị bắn chết. Lần bác vào Sài Gòn, đến thăm tôi tại 82 Lý Chính Thắng. Anh con cả bảo mẹ vào đấy cứ ở nhà em nó. Mặc dù hồi ấy tôi mới về đây ở, cái buồng trống không, quần áo sách đều để trong các thùng đựng mì ăn liền. Bác bảo vào đây, chị em bà con nhiều, ai cũng giành mời đến nhà, bác chỉ đến cháu chơi thôi. Hỏi sách của thầy (tức nhà văn Nguyễn Văn Ngọc) thì họ bảo sách thầy xưa rồi, ai đọc mà người ta in, chán quá. Tôi biếu bác ngay mấy cuốn Ca dao tục ngữ Cổ học tinh hoa của cụ. Bác cười, con cả bác nó nói đúng, ở với cháu mà hơn. Họ khác mình quá, mặc dù họ hàng thật. Cái mình quí, họ chẳng coi ra gì. Tôi vẫn nhớ mãi bác có gặp mắt rất tươi, khuôn mặt thật đẹp nền nã, nhưng dù cười vẫn đượm vẻ buồn.

Còn mẹ tôi, tôi biết nói thêm gì bây giờ khi đã viết cả một bài mấy trang Trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh. Mẹ tôi bảo u Thành nuôi tôi nói với mẹ là u nuôi em chỉ mong em sau này học hành giỏi giang em ra làm quan cho u được nhờ. Nhưng thấy em lớn lên chỉ thích có món nước rau muống luộc ăn với cà thì u buồn lắm. Mà cho ăn thế là em ăn rất nhiều cơm. Hồi đó tôi còn đeo cái bùa bằng đồng xin ở đền Trần tận Nam Định. Sau này mất lúc nào tôi cũng chẳng biết nữa. Có lẽ mê ăn nước rau muống và mất cái bùa đồng mà tôi thành ra thế này. Cả đời không có danh, cũng chẳng có lợi, phát hiện đái tháo đường hơn hai mươi năm, mổ ung thư vừa mười năm, kỳ khám thường kỳ năm 2019 bác sĩ Tương Anh vui vẻ bảo: thế này là coi như bác khỏi ung thư. Nhưng đấy là nói về con này mổ từ năm 2009, còn bao giờ nó mọc ra con khác thì ta lại tiếp tục điều trị. Tóm lại là bây giờ cứ vui đi…

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/7/2019

P.T.

Tháng Mười Hai 12, 2019

Vui sống giữa lòng Miền Nam giải phóng P4

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:28 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 12 năm 2019

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

3- Vui sống giữa lòng Miền Nam giải phóng

(Tiếp theo)

Mấy ngày gần cuối tháng 8/1976, bắt đầu đọc Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu Bia Sach Introduction Au Nam Phongtạp chí Nam Phong) xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn theo đúng nguyên bản bằng tiếng Pháp của bà Phạm Thị Ngoạn. Bản này, tôi được ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, chồng cô Tám em ruột bố tôi tặng khi đến thăm ông tại nhà ở khu cư xá Thanh Đa. Trong sách có nhiều chỗ ông ghi chú bằng bút chì để sau này ông viết một bài giới thiệu sách này trên tạp chí tiếng Pháp Études interdisciplinaire sur le Vietnam (Nghiên cứu liên ngành về Việt Nam) Sài Gòn 1974, trong đó ông tiết lộ hồi còn làm việc tại triều đình Huế, có được Phạm Quỳnh nhờ lấy số tử vi. Do đó ông đã khẳng định ông ngoại tôi sinh cuối năm Nhâm Thìn cho nên đã sinh vào ngày 30 tháng 1 năm 1893 chứ không phải năm 1892 như nhiều tài liệu trước đây vẫn ghi nhận. Rồi để giải lao, đọc một mạch hết thiên tình sử Tristan et Iseut (Tristan và Iseut). Hết ngày hôm nay cũng vừa hết 14 ngày bệnh viện cho nghỉ. Nhưng cái đơn thuốc bệnh viện cấp khi ra viện, đến nay vẫn chưa mua được một thứ nào. Mình đã tận dụng mọi nguồn thuốc xin mua và cả thuốc cơ quan nên ngày nào cũng có thuốc uống, dù chỉ bằng nửa liều quy định. Thực phẩm cũng khó khăn, may mà có gói tôm khô em Nhàn gửi cho, sáng nào cũng cho một nắm vào nồi nấu chung với mì ăn liền cho có chất, lại dễ làm.

Ngày hôm sau, nhận thư của bác sĩ Lê Văn Khoa (ở số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Cần Thơ). Ông cho biết đã có thuốc dành cho mình, mong có người xuống nhận. Thật là lạ, bác sĩ Khoa chỉ nằm bệnh viện có hơn một tuần mà vẫn sốt sắng giúp mình. Ông mở dưỡng đường tư Trường Thọ, tiếc là không thể giúp mình. Mình đến cơ quan, xin lại cái đơn thuốc bác sĩ Sơn Phát cho mà chẳng ai có thời giờ đi mua thuốc cả.

Chiều, mình sang cô Tôn Nữ Tuyết Lê, em họ bố, ăn cơm luôn ở đó. Tình cờ gặp lúc bác sĩ Pham Bieu TamPhạm Biểu Tâm là chồng cô về, cô bảo bệnh nhân Thành thế là may đó, ông ấy ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà, có về ăn cơm cũng cỡ sau 9 giờ tối. Chú Tâm nói thẳng: trước sau gì cũng phải mổ, nhưng cố giữ càng lâu càng tốt. Phải nhớ là đã bắt đầu thêm một bệnh rồi. Nên hết sức để ý. Lập một hồ sơ riêng về bệnh này, cất kỹ các phim chụp dạ dày. Khi cần mới kịp mà dùng. Thuốc gì cũng được. Tây ta đều được cả. Còn hơn là không có thuốc… Bằng mọi cách tăng cường sức khỏe lên. Trong khi chồng nói thì bà vợ lo lục các ngăn kéo, lấy ra các vỉ thuốc mẫu các hãng dược gửi để giới thiệu, lấy hết các thuốc dạ dày đưa cho tôi. Tóm lại, mình biết là một trở ngại lớn nữa đã xuất hiện. Phải cố gắng để vẫn sống mà làm việc được nhiều nhất.Nguyen Huu Van.jpg

Anh em trong cơ quan cũng mệt mỏi nhiều. Hôm nay, Nguyễn Hữu Vân bỏ cơm ăn cháo. Đinh Bá Đào kêu đau bụng, xem ra lại dạ dày. Nói chung sinh hoạt thất thường và căng thẳng của những ngày đầu báo Nhân Dân đứng chân trên thành phố sôi động khiến nhiều người mất thăng bằng. Anh Thép Mới vào, nhờ Hồng Cảnh Yên đưa cho mình thuốc cơ quan ở Hà Nội chi viện: Kavét, Mêlanin, B1 và hình như còn có cả mật ong nữa. Đó là thuốc chữa dạ dày tốt thời ấy ở miền Bắc. Cơ quan Hà Nội chắc xôn xao về vụ mình đổ lắm cho nên mới chi viện đến mức ấy. Tối đa rồi còn gì.

Chiều 28/8, anh Nguyễn Ngọc Lương vào bệnh viện Chợ Rẫy thăm…mình. Rồi lại đạp xe về Vườn Anh Đào. Anh mang cho mình một quyển Vang bóng một thời rất đẹp, in thời Sài Gòn cũ và khuyên nên bắt cóc ông Nguyễn Tuân ép ông ký cho một chữ… Anh chưa về thì anh Nguyễn Tự đến, lôi mình đi bắt ăn cho được…hai bát phở bò mới chịu! Cả hai anh đều kêu: Chết, chết, chiến hữu với nhau mà như thế này thì quá tệ. Tí nữa thì tụi tao đến không biết mà đi đưa ma mày mất!

Mình thật khó chết, thậm chí có vẻ không thể chết được. Có lẽ chỉ vì đi đâu cũng được nhiều người yêu mến, coi như ruột thịt…

Tối 31/8, tôi gặp Đinh Bá Đào vì bất ngờ, ban chiều, không hiểu vì sao anh Nguyễn Tư Dinh Ba Dao.png(thay tên thật) một phóng viên không thân thiết gì bỗng đến gặp chỉ để nói trong cuộc họp tới đây, đừng nhắc gì đến vụ xe đạp. Hóa ra vụ xe đạp là một vụ quan trọng. Nguyên do là hồi tôi nằm bệnh viện hai tháng thì cơ quan được phân phối một món hàng lớn: đến năm chiếc xe đạp. Tôi vắng mặt, nhưng khi anh Sơn thay mặt bốc thăm thì lại trúng số được mua xe Peugeot nam đẹp mà nhiều người mong muốn. Thương nghiệp bắt đầu phân phối hàng hóa cho cơ quan thường trực báo Nhân Dân như các cơ quan khác của thành phố. Đang lúc cái gì cũng khan hiếm, cơ quan phải lập ra một ban phân phối hàng cung cấp do một Đảng viên phụ trách. Anh này đâm ra có quyền hành, được không ít người xu phụ mong được ban phát lợi lộc. Từ những mối lợi nhỏ đó, cơ quan sinh ra bè phái, rối như canh hẹ. Cơ quan tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị, mà trước đó không ít người chuẩn bị những mưu đồ để bảo vệ lẫn nhau, bao che cho nhau, thậm chí đánh tiếng trước là chán ở Sài Gòn rồi, chỉ mong về Hà Nội; có người nói không thiết ở cơ quan nữa, sẽ đi nơi khác. Tóm lại là lình xình, rã rời. Từ ngày 3 đến 9/9, cả cơ quan họp, mọi lời phát biểu người nói phải xưng danh trước, sau mới nói để ghi âm lại. Nói phải có trách nhiệm, có tư liệu để lại làm chứng. Hơi căng thẳng, nhưng đa số cảm thấy nhẹ cả người khi xong đợt học tập, mọi việc vào nền nếp hơn. Chiếc xe đạp Peugeot phân cho tôi, nhưng lại chuyền tay đến mấy người, cuối cùng một cán bộ lãnh đạo cơ quan đã mua và đưa ra Hà Nội. Vì ở trong này, đi đâu ông cũng có xe hơi đưa đi rồi. Cuối cùng tôi được mua một xe đạp nữ, cặp phuốc trước bị lệch, không ai chịu mua. Tôi thì nằm bệnh viện, có biết gì đâu.

Tôi chỉ lo kiếm thuốc và cố làm việc vừa sức. May thay, dịp ấy cô Phạm Thị Giễm em mẹ Ba Giem.jpgvà chồng về Sài Gòn tổ chức đám cưới cho con gái. Tôi kể bệnh thì được cô chú nói cứ lên được Đà Lạt là sẽ có thuốc. Chú là dược sĩ lâu năm, có mở hiệu thuốc tây ở Đà Lạt.

May thay dạo đó Sài Gòn rất khan hiếm rau tươi, cơ quan lại nhận được giấy mời dự hội nghị bàn việc canh tác rau, bèn cho tôi đi. Thế là sau đám cưới cô em họ, tôi và cô chú lên Đà Lạt lúc 8:30 ngày 23/9 đến 15:30 thì đến Đà Lạt, lần đầu tôi lên đây. Đi và ở hoàn toàn được bao trọn. Nhà cô chú tôi ở khu Hòa Bình ngay cạnh chợ Đà Lạt. Vậy mà không nghe thấy tiếng ồn ào thường thấy ở các khu phố gần chợ Hà Nội, nhất là Sài Gòn. Từ cửa sổ nhà, tôi quan sát hai bà đang mua bán gạo. Bà mua bốc thêm một nắm, bà bán nắm tay bà ta lại, xa trông như hai bà bắt tay nhau, một lát sau buông tay nhau ra, bà mua trả tiền, bà bán nhận, còn nở nụ cười.Thuong chi van tap bo cu va moi

Món quà quí đầu tiên tôi được nhận khi đặt chân đến nhà cô chú ở Đà Lạt là bộ Thượng Chi văn tập  năm tập xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn và tập Bulletin de la Société Des Études Indochinoises – Nouvelle Série – Tome XLVIII – No2’ et 3’ Trimestres 1973 (Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương) Saigon 1973. Ngay trang đầu chú ghi Nguyễn Văn An 32A Khu Chợ Mới Dalat. Tôi có thêm một bản nữa sách này sau bản chú Tố nguyên Nguyễn Thọ Dực cho. Cộng với năm tập Thượng Chi Văn tập cậu Vượng cho, tôi có món quà quí tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở Hà Nội kiếm đâu ra những sách quí này.

Trời mát mẻ, dễ chịu, thỉnh thoảng lất phất mưa. Chú tôi lớn hơn cô tôi đến hơn 20 tuổi, nhưng gia đình sống rất êm ấm, hòa thuận, không khi nào có chuyện to tiếng. Chú là dược sĩ, nên phàn nàn với tôi là không hiểu sao số dược sĩ cùng nghề từ ngoài Bắc vào liên hệ, chú thấy rất khó tiếp xúc với họ, hai bên gần như không hiểu nhau. Tôi phải thưa với chú là chú thấy họ không hiểu là phải vì chú nói thì có đến bảy phần là tiếng Pháp, mà trí thức mới ngày nay ít biết tiếng Pháp lắm, tiếng nước ngoài họ học ở trường là tiếng Nga và tiếng Trung, một ít tiếng Anh, không ai học tiếng Pháp. Chú cười. Cô tôi nói thêm, cũng bằng tiếng Pháp: Chính chú dạy cô từng chút một, từ cuộc sống đến nghề nghiệp, chú vẫn nói với mọi người là tôi có 5 con, và cô chỉ vào ngực, nhấn mạnh trong đó có cả cô . Ông tỏ ra bao dung, suốt ngày chỉ ngồi hút thuốc lá và uống trà Tàu pha trong ấm tích ủ trong ấm giỏ trong khi đọc lại các tác phẩm cổ điển yêu thích của Pháp và Anh bằng nguyên văn bản ngữ. Ông hút thuốc đã lâu năm, nay chỉ thích thuốc Lao Động, gu Basto rất nặng. Sau giải phóng, kiểm kê, hiệu thuốc Barthe của ông nghỉ bán, niêm phong. Ông đọc cái đơn của tôi rồi nói chú có đủ thuốc cho cháu.

Ông thích nói chuyện với tôi bằng thứ tiếng 7/3 Pháp – Việt. Ông kể, sau khi niêm phong hiệu thuốc, chú được đi dự lớp học tập cùng nhiều đồng nghiệp và các nhà doanh nghiệp lớn khác ở Đà Lạt, hầu như quen mặt cả. Đà Lạt nhỏ mà. Ăn uống có hơi kham khổ, cô mua thịt bò băm với xả ớt làm món mặn cho vào lon Guigoz (lon sữa bột trẻ em) đưa vào cho chú ăn. Hết lớp học, các cán bộ tỉnh đến nói chuyện xong còn mời học viên phát biểu. Cả lớp nhìn chú, người họ cho là học cao có uy tín trong giới kinh doanh ở Đà Lạt. Ông cán bộ tỉnh tinh ý nhận ra ánh nhìn ấy đến bên chú nói: Xin mời đồng chí thay mặt anh em phát biểu. Thoát nạn, cả lớp vỗ tay. Chú dõng dạc đứng dậy nói: Xin mời anh em học viên đứng dậy, cùng tôi hô to: Đảng Lao động Việt Nam muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm. Cả lớp vỗ tay vang dội chia tay; vị lãnh đạo tỉnh cũng vui vẻ không kém những người sắp được về nhà sum họp với gia đình. Ai cũng cảm ơn chú.Thep da toi.png

Ngày 25/9, suốt ngày mưa tầm tã. Cơn mưa chiều xối xả, nước suối Cam Ly dâng lên nhanh chóng, đục ngầu. Tranh thủ những lúc ngớt mưa, mình ra chợ thăm rau, hoa, quả. Rau thì nhiều loại, nhưng quả thì dường như chỉ có hồng và chuối. Rau Sài Gòn rất đắt mà rau Đà Lạt thì rau ngon cũng thường phải bỏ thối vì không tiêu thụ kịp, vận chuyển xa thì kẹt xăng dầu, không có xe chạy chở hàng. Hàng đống cà rốt chất quanh chợ, chẳng ai mua.

Rồi đi thăm Rue Des Roses (phố hoa hồng) và tìm Rue Des Glaïeuls (phố hoa la dơn). Nhà số I đường này bé hơn mình tưởng tượng nhiều. Nơi đây từng là nhà cậu Bích em mẹ sống cùng bà ngoại trước khi bà dời ra ở nhà 16 Hàng Da với mẹ mình cho hợp tính, rồi năm 1953 mất tại đây. Đà Lạt chưa có gì hấp dẫn mình cả. Đêm đắp chăn bông nằm trên nệm êm cũng ngủ chập chờn, không ngon như ở Sài Gòn. Do dạ dày chăng… Trước hôm đi, đi cầu xong thấy có rớt ra một ít máu tươi. Chẳng qua vì không thể không đi nên cứ phải đi thôi. Không ai cứu mình thì phải tự cứu thôi. Giống như Paven đấy, công tác chiến đấu chán rồi khi thân tàn ma dại cũng về nhà cho mẹ già chăm thôi. Khỏe lại đi.

Sáng hôm nay lên ủy ban nhân dân tỉnh dự họp về sản xuất rau. Người trồng rau đến Ton That Thanh 1976 cam duhọp rất đông, vét tông, măng tô xanh đỏ vàng và mũ phớt trông cứ như tây đầm thuở nào. Nghĩ mà thương bà con trồng rau miền Bắc. Chủ nhật 26/9, đi quanh hồ Xuân Hương, được anh Châu một người thân tín của cô chú dẫn đi, vừa hướng dẫn,  vừa chụp ảnh bằng máy demi nửa phim. Vì mưa nên phần lớn ảnh chụp tay cầm dù. Mùa này Đà Lạt chỉ thích hợp với những đôi bạn tâm tình. Những ngọn đồi thấp, những khóm thông, những con đường nhỏ mang tên các loài hoa hai bên là những nhà vườn kiểu Pháp xưa dưới làn mưa lất phất dịu dàng… Tất cả tạo nên một khung cảnh thuận lợi nhất cho những tình cảm lắng sâu, cao xa… Chính trong những ngày này, chiến dịch sản xuất rau đông xuân trong các hợp tác xã mới lập được phát động. Một sự chuyển mình lớn từ nền tảng và bắt đầu từ đấy sẽ thay đổi cả cuộc sống và bộ mặt Đà Lạt. Cũng trong những ngày này, tỉnh đang tiến hành kê khai thuế lợi tức siêu ngạch và đăng ký nhà cửa. Có người có đến 51 ngôi nhà. Một đường mở ra, một đường chặn lại. Đà Lạt bắt đầu đi lên chủ nghĩa xã hội như thế đó.

Một sáng, chú tôi đưa tôi đến hiệu thuốc Barthe, đi thẳng vào kho thuốc đầy những kệ cao, đủ thuốc các loại, bật đèn, xem kỹ đơn thuốc của tôi rồi bắt đầu lấy thuốc, mồm luôn nói có bao nhiêu lấy hết bấy nhiêu. Tôi đứng cạnh, nhận thuốc cho vào thùng giấy, đến đầy thùng mới thôi. Sau đó chú ra bàn để máy chữ Remington to, tự tay đánh máy thành một hóa đơn dài đủ cả tên thuốc, số lượng, đơn giá, thành tiền. Tổng cộng là một món tiền gấp mấy lần lương tôi lúc bấy giờ. Xong, chú bảo bây giờ cái gì cũng cần giấy tờ, nhất là thuốc mặt hàng nhà nước quản lý. Chú nói rồi ký tên đóng dấu của hiệu thuốc.

Trong khi đó thì cô tôi ra chợ mua rau tươi, chia làm hai bị bằng nhau. Cô dặn, cháu một bị, hai em một bị. Sáng mai cô đưa cháu ra xe.

Sáng sau, tôi bắt tay chú rồi cùng cô ra bến xe. Cô mua vé và một ổ bánh mì, trong bánh cho chả quế thái, cô bảo ăn rau sống bẩn đau bụng thì khổ.Le Hung

Về đến Sài Gòn, tôi đưa anh Lê Hưng cái hóa đơn, anh rất mừng là tôi đã mua được thuốc, ký ngay để cơ quan thanh toán. Anh cười xòa rất dễ thương. Vừa may, về nhà là gặp cô Tôn Nữ Thị Vinh, vợ dượng Cầm từ Đà Nẵng vào thăm. Có hồi cô ra Hà Nội bế tôi hồi còn ở số 5 Hàng Da. Sau này em Nhàn ghé thăm cô ở Đà Nẵng cô cho hai cái ảnh mẹ bế tôi và ảnh tôi nằm một mình có chữ mẹ ghi rõ Thành 4 tháng, tức tháng 6/1940. Cô vẫn quí tôi lắm.

Hôm sau 28/9, họp công đoàn cơ quan. Người phân phối hàng làm loạn cơ quan đã ra Hà Nội từ 5:00 sáng. 9 giờ họp thì anh Lương ở nhà in cho biết anh ta ra Hà Nội đã mang theo cả phiếu xăng và thẻ xe máy của anh. Vội quá chăng… Cơ quan từ đấy yên ổn, không xì xào nhóm này, nhóm nọ.

Tối 30/9, tôi viết thư cho mẹ và anh Đại, gửi ảnh chụp ở Đà Lạt.

Gần một tháng sau đó sống và làm việc hoàn toàn như một người khỏe bình thường ngày Ton That Thanh 1976 o da latlàm ba buổi. Chủ nhật thì làm cả ngày hoặc làm hai buổi còn tối thì họp. Mấy hôm rồi lại nóng, ăn ít, ngủ cũng ít. Ngày họp hội nghị công đoàn thành phố vừa xa vừa căng thẳng. Tối lại đi xem biểu diễn văn nghệ quần chúng viết bài và làm tin. Đêm qua, mưa to. Hôm nay được nghỉ sang Gia Định thăm hai bà bạn thân của mẹ là bác Kỷ ngày nhỏ thường gọi là má như con bà ấy gọi và bà Tường, vợ họa sĩ Lemur, thường gọi là mợ. Mình tự thấy về việc công, còn tạm được, nhưng việc tư, thiếu sót quá, gần như không làm được gì. Có lẽ việc làm tốt chỉ là trận chảy máu dạ dày dữ dội vừa qua gia đình ở Hà Nội chỉ tưởng là bị dạ dày nhẹ. Người giúp giải quyết căn bản việc này là bác sĩ Phạm Biểu Tâm và vợ chồng cô Giễm, em mẹ mình.

Đã thế còn ham viết truyện. Định dùng chủ nhật và các buổi tối để viết những chuyện về miền Bắc cho người miền Nam hiểu và những chuyện về miền Nam cho người miền Bắc hiểu. Chủ yếu là viết cho thanh niên. Nhưng chưa làm được gì thì đã vào bệnh viện, gần thần chết. Đúng như tục ngữ Pháp Qui trop embrasse, mal étreint (Tạm dịch: ôm đồm nhiều thì không ôm chặt được).

Sáng 1/12, tỉnh dậy rất sớm vì nghe có tiếng ghi ta ai đàn một điệu buồn man mác cứ thánh thót ngân lên… Mệt, hay nói cho đúng hơn là muốn giữ sức, nên cứ nằm yên mà nghe, rồi suy nghĩ lan man. Cũng vì muốn giữ sức mà tối qua định viết rồi lại thôi, cố dành sức cho chuyến đi tới. Mình được cử đi theo đoàn tàu hỏa Thống Nhất đầu tiên sau 30 năm mới lại nối liền hai miền Nam Bắc, nối lại con đường tàu xuyên Việt. Sẽ phải đi, nghe, nhìn, nghĩ và viết ngay trên tàu, đến Hà Nội, chỉ còn lắp ráp lại mà thôi. Cảm thấy đây là một thử thách lớn, mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đời mình.

Sau đó, sẽ bắt tay vào viết tất cả những gì đã nung nấu trong lòng, từ những chuyện anh Nhừ, anh Phàn thương bình cùng nằm Chợ Rẫy kể mà còn nói: kể lại với nhau thôi, chứ kể lại với mọi người những gian khổ đói rách chết chóc mình cùng đồng đội trải qua mà làm gì… Có ai người ta tin, có khi còn cho là bịa ra cho nó li kỳ để ra oai. Bọn mình cần gì cái oai ấy. Bây giờ chiến tranh hết rồi, chỉ mong sống và làm việc được như một người bình thường thôi cũng đã là khó rồi, nói gì đến ra oai với ai… Thương nhớ và quí trọng các anh vô cùng, chỉ muốn viết về các anh và những người như các anh.

Sáng 13/12/1976 Ngô Lê Dân đến thăm, đưa cho mình một phong bì dầy, to bảo là có Ngo Le Dan 2người nhờ đưa tận tay. Ngoài bì đề tên người gửi là cô Dương (thay tên thật) một cô làm cùng cơ quan ở bộ phận xuất bản, mình chỉ biết chứ không quen. Cô này trước làm cùng Dân ở báo Giải Phóng sau này báo Nhân Dân có bộ phận thu và in lại mới về. Chưa bao giờ mình nhận một bức thư dài đến thế, hẳn một quyển vở, các trang viết kín chữ nắn nót dễ đọc, đóng ở giữa như quyển vở. Mình và Dân cùng đọc theo cách đọc xong tờ nào thì mình xé tờ ấy ra đưa Dân. Mở đầu thấy Anh Thành thân yêu. Đến giữa thư đã là Em đã yêu anh. Hai đứa cùng đọc và càng đọc càng ngạc nhiên về tài viết văn diễm tình của cô. Buổi tối, hai đứa cùng bàn bạc. Dân có ý vun vào, nêu rõ cô cũng người Bắc là cán sự I, lương và phụ cấp làm đêm cũng khá, lại có xe đạp. Cô cũng biết mình bị dạ dày, nhưng vẫn một lòng yêu… Nghe Dân thuyết phục một tràng, mình nhớ là có người đã tiết lộ là trong cuộc họp chi bộ đã yêu cầu Dân nói rõ về quan hệ với cô Dương, vì thấy hai người hay tâm sự thân thiết trên mức bình thường. Dân nói là do tôi lo cho tình yêu của Thành. Tôi nói Dân rõ là cô ta quá lãng mạn, đến mức bệnh hoạn, quá khứ cũng có không ít chuyện mờ ám, bạn cần giúp tôi dẹp yên ngay vụ này. Sau đó, tôi viết một lá thư ngắn chữ to bằng bút dạ, đưa cho Dân nhờ chuyển cho cô. Nội dung toàn văn như sau: 13/12/1976, / Chị Dương/ Như lời chị dặn, tôi gửi trả lại bức thư. Cảm ơn chị đã có lòng nghĩ đến tôi/ Mong rằng chúng ta sẽ coi nhau như những người bạn/ Chân thành chúc chị mạnh khỏe, công tác và học tập tiến bộ nhiều/ Bạn chị T.Thành.

Mấy hôm sau, tôi đi với Hữu Vân sang Trụ sở 290 Điện Biên Phủ. Vân bảo có căng tin mới vào xem đi. Tôi thấy cô bán hàng là Dương nên đến hỏi mua cái sơ mi. Sơ mi to bao giờ cũng bán rẻ, lại vừa cỡ người tôi. Không ngờ cô cầm cái áo đưa cho tôi mà tay cứ run bần bật, miệng nói lắp bắp không nên lời. Vân phải chú ý: Đúng là bệnh thật rồi. Tội nghiệp Ba Noiquá.

Từ ngày 7/12 mẹ vào ở với em Nhàn, có ghé mình. Anh Lê Hưng nghe nói có mẹ vào bảo Sơn lái xe đưa mình đi đón. Mẹ mát mặt quá, nhất là lại cho mẹ con một bà đi cùng quá giang về đường Huỳnh Tịnh Của gần nhà. Mẹ mở túi du lịch Le Thi Dong.jpglấy thư và quà, luôn miệng khen cô láng giềng Lê Thị Đông một tay thu xếp đồ mua bán quà cáp như người nhà. Còn tiễn ra tận hãng hàng không. Thảo nào năm 1978 mình viết thư cho mẹ biết là mình sẽ cưới cô ta là mẹ rất vui, lấy cả một bức ảnh nghệ thuật cỡ bưu ảnh to cô tặng bạn thân là em Nhàn gởi lên cho mình để thấy hình đỡ nhớ người.

17/12 em rể Long lên thì 18/12 đưa mẹ về Cà Mau sống với gia đình hai em.Chu Long.jpg

Ngày đưa mẹ sang Gia Định thăm bà bạn thân nhất là vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur), bà bạn mất trí đã cư xử rất khách khí với mẹ như một người lạ, khiến mẹ khóc rấm rứt, vai cứ rung lên, không nói gì. Còn nhớ hồi mới gặp lại mẹ sau mấy năm ba chị em sống nhờ bà ngoại đã khánh kiệt, được xem quyển an bom cũ có hình mẹ, bà Tường và một bà góa nữa đeo kính đen đứng bên bờ Ton That Thanh 1970.jpghồ, dưới có hai câu thơ chữ mẹ viết: Nhìn đời qua cặp kính đen / Ba bà hy vọng đàn con sau này.

Đúng như đã hứa trước Quốc hội, ngành đường sắt Việt Nam khánh thành tuyến đường sắt liên Việt trong năm 1976. Nhưng là ngày 31/12/1976 để…lấy ngày!

Năm giờ sáng, tôi được xe cơ quan đưa tới  khu ga Sài Gòn cũ, nay là công viên 23/9. Rét căm căm, mặc áo va rơ da, khăn len cuốn kín cổ, tay chìa một miếng bìa bé xíu được thủ trưởng Trần Y của Liên hiệp xí nghiệp số 4 cấp, rồi len qua khe cửa hẹp vào khu ga tối om, đi theo một cán bộ cầm đèn pin soi đường. Thế là tôi lên được một toa tàu sáng đèn, sạch sẽ. Cái miếng bìa bé xíu có giá trị thật lớn. Ve tau thong nhat bac nam.jpgMặt trước in logo của ngành đường sắt dưới là mấy chữ Khối tập thể đường sắt, mặt sau có viết một chữ A in kèm một chữ ký bằng bút bi. Ngoài ra, tôi còn được phát một phù hiệu có lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đoàn tàu hỏa và dòng chữ đỏ Lễ khánh thành đường sắt thống nhất, dưới đóng một con dấu hình quả trám Lễ thông xe đường sắt Thống Nhất. Toa tôi lên là toa số 8, dành riêng cho báo chí. Lần lượt gặp các anh Minh Trường và Lê Cương phóng viên ảnh của Thông Tấn Xã, anh Hoàng Mai bên báo Văn Nghệ thành phố, anh Triệu Xuân và mấy anh bên Đài Tiếng nói Việt Nam II, cô Tuyết bên báo Phụ Nữ thành phố và nhiều anh em nữa. To miệng và cũng nhiều lời nhất là anh Trần Mạnh Hảo lúc nào cũng nghe thấy tiếng anh… Đến lúc tàu chuyển bánh, tôi lẻn lên buồng lái hỏi chuyện mấy anh lái. Một bác lớn tuổi cho biết từng lái chuyến tàu năm 1963 Phu hieu tau thong nhat.jpgchống Diệm đàn áp Phật tử. Anh trẻ thì khoe đã được bầu là chiến sĩ thi đua, nhưng lần này được lái thì vừa vui mừng vừa lo sợ. Cấp trên đã nhắc nhở rất nhiều, không thể để xảy ra sai sót. Đến bây giờ, tôi mới biết ngoài hai lái tàu còn một vị điều khiển lái tàu, chỉ đạo từng cung đường, từng con cầu phải đi với tốc độ nào. Có những đoạn đường, tôi không nghe tiếng máy, chỉ nghe tiếng bánh xe rít ken két trên đường sắt. Nhìn ra thì vừa qua một cây cầu dưới kê toàn tà vẹt gỗ, chưa xây xong trụ cầu. Tàu như nín thở mà lướt qua an toàn. Không phải chỉ một cây cầu như thế. Tôi hiểu vì sao theo kế hoạch được thông báo trước thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ dẫn đầu đoàn tàu từ Bắc vào, còn đoàn từ Nam ra sẽ do phó Thủ tướng Phạm Hùng dẫn đầu, nay thì thay bằng hai vị bên mặt trận tổ quốc. Tuy thế, chuyến tàu chạy rất an toàn. Đến gần Huế mới có sự cố. Nhưng sự cố này chỉ toa phóng viên biết mà thôi. Ngành đường sắt ký hợp đồng với đài phát thanh là cứ đến địa phương nào thì có bài hát về địa phương đó kèm vài nét giới thiệu. Đến Huế, thì vang lên bài Chiếc nón bài thơ nhưng mở đầu lại là câu Anh gửi cho em chiếc nón bài thơ xứ Nghệ … làm anh em cười ồ lên, các bạn bên đài vò dấu bứt tai sao lại thế này. Mưa lất phất, ga Huế đón khách bằng nón xếp thành hình chữ Huế trắng to trên đầu nhà ga. Tàu dừng, nhiều anh em xuống cho biết chút Huế, tôi thì mệt, nằm im dưỡng sức. Chợt có tiếng gọi to, rồi nhiều người gọi tên tôi và xôn xao cả lên Đây rồi! O tìm ở đây là đúng rồi, chúng tôi đang gọi anh ấy ra. Họ gọi mãi, tôi phải ra, vừa đến cửa thì thấy Hà Khánh Linh phóng viên Đài Huế, mặc áo măng tô màu ô liu đang bị các bạn đẩy đến trước tôi. Hai anh em ôm nhau ngỡ ngàng. Rất vội vàng, nhưng Linh vẫn kịp hỏi một câu Anh với cô ấy thế nào? Tôi đáp ngay Vẫn là bạn tốt như xưa. Linh nói: Anh nói thế là em yên tâm rồi, rồi vội đi làm nhiệm vụ phóng viên. Mọi người chưng hửng. Chỉ có Trần Mạnh Hảo nói to: Thế là được một cái mở đầu truyện ngắn tuyệt vời rồi. Đó là sự cố ở Huế. Đến Huế, rỗi rãi, tôi lại lên hỏi chuyện mấy anh lái tàu mới biết là hóa ra đi trước đoàn tàu chúng tôi 15, 20 phút là một đoàn tàu rất ngắn, chỉ kéo hai toa, nhưng chăng đèn kết hoa mở loa ca nhạc ồn ào. Hai toa chở toàn đặc công dã chiến, trang bị vũ khí nặng, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, nhất là khi tàu qua Tây Nguyên nơi còn tàn dư Phun rô. Đến Huế đoàn tàu này được nghỉ chờ quay về Nam. Sau Huế là đến sự cố ở Quảng Bình. Đến Khe Nét thì tàu trật bánh. Lại trật đúng toa báo chí. Anh em được một mẻ cười, bao giờ lãnh đạo chẳng bảo báo chi là hay trật đường rầy lắm đó sao. Rồi mất tám tiếng, kê đi kích lại, tàu lại nhẹ nhàng lướt đi. Trong số anh chị em báo chí chỉ có anh Hoàng Ly ở báo Tin Sáng  là tờ báo tư nhân duy nhất còn tồn tại, gần như thu hút toàn bộ tinh hoa của báo giới Sài Gòn cũ. Anh luôn bám sát tôi, tôi thấy rõ quan hệ có đi có lại rất rõ. Tôi cho anh biết một thông tin, anh sẽ đáp lại bằng một thông tin tương ứng. Đến Nam Định thì trời mưa to. Đã lạnh lại mưa nữa nên nói chung các phóng viên đều ngủ say như chết. Chỉ có tôi, quen dậy sớm. Đã dậy thì phải đi kiếm cái gì chứ. Tôi mặc áo mưa xuống sân ga, ra phía đầu tàu, thấy các công nhân đang thay đầu tàu. Cái đầu máy dầu của Mỹ chạy suốt từ Nam ra được cho nghỉ, thay vào đó là đầu máy Tự Lực do nhà máy xe lửa Gia Lâm chế tạo, giữa trán và hai bên cửa đầu tàu đều có hình Nguyễn Văn Trỗi người thợ anh hùng của Sài Gòn. Tôi lên toa ngủ ngon lành. Yên tâm về việc mình được giao.

Qua Nam Định, trời mỗi lúc một rét. Sáng hôm sau, tôi đứng giữa toa, cất tiếng tuyên bố chắc chắn là khi tàu đến Hà Nội thì Hà Nội sẽ có Tuyết. Lấy danh dự của người trong dòng họ bốn đời ở Hà Nội bảo đảm như vậy. Anh chị em miền Nam thứ thiệt kêu thế thì nguy mất. Lê Cương, dân Bắc chính hiệu ghé tai tôi hỏi nhỏ, tôi cũng ri tai anh bạn một bí mật…Không ngờ chưa đến Hà Nội Lê Cương đã bật mí khi nói rằng Hà Nội sẽ có tuyết, nhưng không phải là tuyết trắng mà là Tuyết Đen. Mọi người cười ồ, khiến chị Tuyết ở báo Phụ Nữ Sài Gòn vốn thân thiết đã giận tôi mãi. Chẳng biết sau 43 năm , nay cụ bà còn giận không. Vì quả thật, chị rất có duyên, xinh xắn tuy không … trắng.

Bây giờ ai biết chắc cũng sẽ cười vì chúng tôi đi chuyến tàu khánh thành từ 5 giờ sáng ngày 31/12/1976 mà mãi đến 8:30 ngày 4/1/1977 mới đến ga Hà Nội. Cũng có nơi, đồng bào đổ ra đón chào, đoàn phải xuống đáp lễ cho phải lẽ, dù trời mưa lạnh. Nhưng đi tới nơi về đến chốn an toàn là quí rồi.

Tôi về ngay tòa soạn, gặp anh Hồ Quốc ban công nghiệp, anh bảo cậu chỉ viết 500 chữ thôi, bài anh Chính Yên từ Hà Nội vào mới là bài chính. Lúc tàu đỗ ở ga Đà Nẵng tôi có gặp anh Chính Yên, anh cùng tôi tìm anh Đặng Minh Phương thường trực ở Đà Nẵng. Anh Chính Yên trần lực ra viết để còn đưa anh Phương lo điện ra Hà Nội. Không thấy hai anh sai bảo gì, tôi đi kiếm nước mời hai anh uống. Vất vả là thế mà không hiểu sao sau này báo chỉ đăng có cái tin 500 chữ của tôi, còn bài từ Bắc vào thì lấy của Thông Tấn Xã.  Nghề báo khổ ở chỗ nhiều khi vất vả mà chỉ vì trục trặc ở một khâu nào đó, có ai biết là mình đã làm việc…

Đêm đầu ra Hà Nội, tôi thức suốt đêm kể chuyện lạ miền Nam cho cả nhà nghe, trả lời mọi câu hỏi… các cháu mệt ngủ gục ngay trên lòng bố mẹ. Thật đầm ấm, vui vẻ.

Đến Hà Nội, chúng tôi được ở khách sạn Đồng Lợi ngay trước ga, ăn uống như thượng khách cho đến khi về.

Biết là chiều 12/1/1977 mới lên tàu về Sài Gòn, đám phóng viên chính gốc miền Nam kéo Giay moi cua Uy ban nhan dan Ha Noi ve chuyen tau Thong Nhat.jpgnhau đi mua xe đạp giá ngoài. Tôi rất lạ, dân Bắc vào Nam ra ai cũng mang theo một cái khung xe đạp vác vai làm vốn. Đến sáng 12/1 lại thấy anh em bảo nhau đi bán xe. Tôi hỏi bán gấp thế này lỗ chết. Các anh cười, còn hơn thuê xe tính giờ mà đi mấy ngày ở Hà Nội dạo khắp phố phường. Quả là ta chưa hiểu kinh tế thị trường bằng bà con trong Nam. Chỉ ba bữa ăn và tối là họ có mặt ở khách sạn Đồng Lợi thôi.

Sáng hôm sau, anh em đọc báo bảo quái sao báo Nhân Dân lại có cái đầu tàu Nguyễn Văn Trỗi Tự Lực là thế nào.Anh Hoàng Ly nói to: Anh hỏi ngay phóng viên báo Nhân Dân có hơn không…Rồi nói nhỏ với tôi sao không gọi tôi. Tôi bảo thấy anh đang ngon giấc quá. Anh nói: Tôi biết anh rồi nhé … Rồi cười.

Một lần nữa tôi lại vào Lăng viếng Hồ Chủ tịch nhưng lần này với tư cách một đứa con của miền Nam ra thăm Lăng Bác.Vu Van Chi nhin ngang

Ngày 7/1 được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chiêu đãi tại khách sạn Thắng Lợi  bên Hồ Tây do Cu ba xây tặng năm 1975.

Ngày 9/1, Vũ Văn Chỉ nhận được điện, về thăm, ăn với mình một bữa cơm thật vui với cả hai gia đình anh Đại và em Thân.

Chiều 12/1, lên tàu về. 19:05 ngày 16 thì đến ga Sài Gòn.

Phạm Tôn

 

Số phận trớ trêu của một bài báo

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:05 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 12 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

SỐ PHẬN TRỚ TRÊU CỦA MỘT BÀI BÁO

Phạm Tôn

Đầu năm 1977, Đoàn Kịch nói Trung ương đã vào Thành phố Hồ Chí Minh, công diễn tại Nhà hát thành phố một chương trình kịch nói trên đất không phải là của kịch nói, mà là của cải lương, tạp kỹ, ca nhạc… Tôi đã cố đi xem tất cả các buổi diễn, chú ý sự thưởng thức của khán giả, và đã tìm ra chiều sâu của một thành công. Rồi bắt tay ngay vào viết một bài nhan đề Chiều sâu của một thành công. Viết xong, đưa ngay anh Thép Mới rồi hồi hộp chờ sự phán xét của anh. Cuối bài, tôi chỉ ghi hai chữ N.T. Thật không ngờ, anh duyệt ngay. Đáng chú ý là hai chữ N.T. của tôi cuối bài đã được sửa thành: Nguyễn Trung (phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh).

Anh còn nói: “Báo Nhân Dân lẽ ra phải có nhiều bài như thế này, có tầm cỡ”.

Tôi bàng hoàng vì chưa khi nào được khen đến như thế.

Anh bảo đưa đánh máy ngay còn kịp gửi ông Tùng (tổng biên tập báo) ra Hà Nội sáng mai. Thế là tôi nhờ đánh máy ngay rồi chỉnh lại, đưa luôn để anh đưa anh Hoàng Tùng.

Tổng biên tập ra đã mấy hôm mà vẫn chưa thấy đăng, tôi sốt ruột mà anh Thép Mới cũng hay nói tại sao lại chậm trễ thế này. Rồi mọi việc hằng ngày bận rộn, cũng quên cái bài được khen ấy đi. Thì bỗng một hôm chị Trần Thị Tích, vợ anh Tùng gọi điện cho tôi nói là nhân một hôm trời nắng, chị mang cái va li của anh Tùng ra phơi, chuẩn bị cho chuyến đi nước ngoài sắp tới, tình cờ thấy trong túi lót nắp va li có bài báo của tôi nên báo cho tôi biết là nó bị bỏ quên ở đó mấy tháng rồi. Thành ra bài báo tôi được khen đó có số phận thật trớ trêu. Nay tôi xin mời quí bạn đọc để chia buồn với tôi có số không may; chẳng ai cố ý gây ra sự cố này, chỉ trách vận tôi rủi mà thôi.

Nguyên văn bài đó như sau:

Qua đợt biểu diễn của Đoàn Kịch nói Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chiều sâu của một thành công

Rời Thủ Đô Hà Nội, vượt gần 2000 ki lô mét đường biển, vừa đặt chân lên Thành phố mang tên Bác, toàn thể Đoàn Kịch nói Trung ương nhập ngay vào giới văn nghệ sĩ ở đây, cùng tham gia lao động xã hội chủ nghĩa tại công trường Đầm Sen, chào mừng Ngày truyền thống của văn nghệ sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng sự thâm nhập đó đã để lại cảm tình nhiều.

Ngay sau buổi lao động, tối hôm ấy, 27/3, tại Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn khai mạc chương trình biểu diễn của mình với vở Đại đội trưởng của tôi (của Đào Hồng Cẩm). Rồi Ni la, Đôi Mắt, Tập nhật ký bỏ quên Câu chuyện tình yêu. Diễn ở Nhà hát thành phố, ở Câu lạc bộ Lao Động, ở rạp Quốc Thanh, lại diễn ở Liên hiệp Công đoàn quận 11, ở Nhà máy dệt Liên Phương, diễn phục vụ 11 nghìn thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh trước ngày xuất quân, diễn cả ở thị xã Biên Hòa phục vụ Đại hội Đảng bộ (vòng hai) tỉnh Đồng Nai… Riêng ba tối diễn ở Câu lạc bộ Lao Động có tới hơn 20 nghìn người xem.

Coi một đêm biểu diễn đầu tiên của Đoàn, đồng chí Võ Văn Kiệt, bí thư thành ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố, hào hứng phát biểu: “Kịch nói thế này mới thật là kịch nói…” Và có lẽ đó cũng là ý nghĩ của đông đảo người xem. Sau một tuần biểu diễn đầu tiên, một tờ báo xuất bản tại đây nhận xét: “Thật là một thiệt thòi lớn cho tất cả những người yêu nghệ thuật và khán giả ở Sài Gòn nào, cho đến nay, vẫn chưa đến với Đoàn Kịch nói Trung ương… Bạn chưa đi xem Đoàn kịch nói Trung ương biểu diễn? Bạn hãy đi xem đi! Bạn sẽ bị chinh phục và sẽ để bị chinh phục một cách thích thú!”

Phải chăng người ta chỉ bị chinh phục một cách thích thú vì một loại hình nghệ thuật mới?

Ta đều biết sau ngày giải phóng nhiều đoàn kịch nói từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã liên tiếp vào thành phố Hồ Chí Minh, nhiệt tình phục vụ đồng bào yêu nghệ thuật: Đoàn kịch nói Hà Nội, Đoàn kịch nói Hải Phòng, Đoàn kịch nói Nam Bộ (nay là Đoàn kịch nói Cửu Long Giang). Vở Chuông đồng hồ Điện Cơremlanh của Đoàn kịch nói Nam Bộ cũng đã từng để lại một dấu ấn tương đối sâu sắc…

Thế rồi, bằng đi hơn một năm… người xem ở Thành phố Hồ Chí Minh mới lại được thưởng thức kịch nói xã hội chủ nghĩa mà mình mới bước đầu làm quen, qua đợt biểu diễn đầu tiên của Đoàn kịch nói Trung ương tại thành phố với năm vở lớn, diễn liên tiếp 68 buổi trong hơn một tháng. Không phải ngẫu nhiên mà một tờ báo Sài Gòn nhận xét: “Với những ai chỉ quen thưởng thức các đoàn kịch nói Sài Gòn thì với đoàn kịch nói trung ương có thể nói là một khám phá”.

Một lớp người xem sẵn sàng đón chờ cái mới

Sự khám phá đó theo chúng tôi đến từ hai phía.

Hơn một năm qua đời sống thành phố Hồ Chí Minh đã có những biến đổi sâu xa, từ trong cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến sự hình thành ngày càng sâu rộng một công chúng mới, bao gồm những người xem từ trong nhân dân lao động vươn lên làm chủ, từ trong tầng lớp trí thức tiến bộ và nhất là trong lực lượng đoàn viên và thanh niên dứt khoát đi lên hết sức nhạy cảm với cái mới.

Như lãnh đạo của thành phố đã từng nhận định: Chủ nghĩa xã hội nghiêm nhiên bước vào đời sống. Thắng lợi của hơn một năm qua là nhân dân thành phố đã nhận thức tiềm năng cách mạng lớn của chính mình và ý thức ngày càng sâu sắc vinh quang thuộc về người lao động. Tư tưởng mới tình cảm mới đang mùa nảy nở. Đông đảo nhân dân ý thức được quyền làm chủ tập thể của mình, ý thức quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và tập thể, thái độ đối xử với nhau trong gia đình, nếp nghĩ nếp sống trong nhiều người đang trên đà thay đổi.

Những sinh hoạt chính trị lớn liên tục được phát động trong năm qua, những phong trào hành động cách mạng thiết thực hết đợt này đến đợt khác đã tạo nên chuyển biến có thể nói là căn bản đó.

Công tác văn hóa phát triển khá mạnh, nói lên cố gắng của ngành, vừa nói lên xu thế tinh thần mới của nhân dân. Họ đi xem kịch nói xã hội chủ nghĩa không phải chỉ để giải trí và thỏa mãn một mỹ cảm nào đó, mà còn để nhận thức rõ hơn cuộc sống mới và tìm ra lời giải đáp cho những câu hỏi mà cuộc sống hằng ngày xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thành phố đang đặt ra cho họ và bắt họ trả lời.

Ngành phát hành sách Thành phố Hồ Chí Minh với 185 nhà sách quốc doanh và đại lý bán sách, từ tháng 6/1975 đến tháng 9/1976 phát hành gần 5 triệu bản sách xã hội chủ nghĩa. Riêng năm 1976 phát hành gần hai triệu rưỡi bản. Hệ thống thư viện thành phố đến quận phường xã thường xuyên phục vụ người đọc. Và phong trào nghệ thuật quần chúng sôi nổi từ thành phố đến tận 342 phường xã thu hút hàng trăm nghìn người tham gia biểu diễn và hàng chục triệu lượt người xem.

58 rạp chiếu phim của thành phố, năm 1976 phục vụ gần 15 triệu lượt người xem phim ảnh xã hội chủ nghĩa. Tối tối đài truyền hình thu hút hàng triệu người xung quanh màn ảnh nhỏ xã hội chủ nghĩa. Một công chúng mới đã hình thành từ đó, tuy chưa phải là tất cả công chúng của sân khấu Sài Gòn hôm nay nhưng đó là lớp công chúng có ý thức nhất thành phố lớn này.

Chính trong một khung cảnh tinh thần của thành phố đã chuyển mình mà Đoàn kịch nói Trung ương vào và biểu diễn trên qui mô lớn những vở kịch xã hội chủ nghĩa có giá trị của mình. Đoàn đáp ứng đúng lòng mong mỏi của người xem, đem đến cho họ những câu trả lời lớn, đầy thẩm mỹ, góp phần giúp họ thay đổi, cải thiện thế giới tinh thần của mình, nâng cao mình lên.

Thành công của đợt biểu diễn là điều dễ hiểu. Thành công ấy càng lớn càng sâu khi nghệ thuật đưa ra câu trả lời mà quần chúng đang mong đợi càng cao, càng điêu luyện.

Và một đoàn kịch nói cũng đã trưởng thành

Đoàn kịch nói Trung ương xuất thân từ đoàn văn công Trung ương trong kháng chiến chống đế quốc Pháp. Năm 1954, lần đầu chuyên về kịch nói, mang tên Đoàn kịch nói nhân dân trung ương, rồi  1958: Nhà hát kịch nói quốc gia và năm 1973 mới mang tên hiện nay là: Đoàn kịch nói Trung ương. Trong 23 năm hoạt động, đoàn đã dàn dựng hơn 100 vở kịch dài, ngắn của các tác giả trong và ngoài nước… Đạo diễn diễn viên của đoàn giàu tài năng và kinh nghiệm. Năm vở đoàn diễn lần này đều mô tả con người xã hội chủ nghĩa trong những hoàn cảnh rất khác nhau: chiến đấu, lao động, sinh hoạt, tình yêu. Có vở đã đứng vững hàng 15 năm trên sân khấu Hà Nội, có hai vở đoàn trình diễn từ nhiều năm nay và hai vở mới dàn dựng cho đợt biểu diễn này. Nhờ tài năng nghệ thuật của đạo diễn và diễn viên trong đoàn, nhờ có kịch bản hay và tốt – có nhiều vở đã từng được thử thách qua nhiều năm biểu diễn, đợt biểu diễn của Đoàn kịch nói Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh là một bước tiến mới của kịch nói xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Các vở diễn của đoàn đều có kịch bản vững vàng, để cuộc đời tự nó nói, những số phận những cảnh ngộ tự nó nói lên chân lý của cuộc đời. Ở những mức độ khác nhau, năm kịch bản ấy là năm câu trả lời đích đáng, có thẩm mỹ, thỏa mãn yêu cầu về nhận thức, nâng cao thế giới tinh thần cho người xem. Hành động kịch hồn nhiên, chân chất, ngôn ngữ kịch giản dị, cô đọng mà sâu sắc, gắn liền máu thịt sân khấu cách mạng với cuộc đời. Một soạn giả cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh cho rằng Đào Hồng Cẩm đã có bút pháp và thủ pháp nghệ thuật cao nên cái đề tài tưởng là khô khan của vở “Đại đội trưởng của tôi” ai ngờ làm rơi nước mắt khán giả, mà lại rơi nước mắt trước hầu hết các nhân vật nam! Chọn được kịch bản tốt, phù hợp với sức biểu diễn của đoàn và phù hợp với đối tượng người xem là yếu tố đầu tiên đưa đến thành công của đợt biểu diễn. Tài năng và nhất là tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc của các đạo diễn, diễn viên Đoàn kịch nói Trung ương được người  xem thành phố Hồ Chí Minh đánh giá cao, giới nghệ sĩ cũng rút được nhiều kinh nghiệm quí qua các kịch bản có giá trị tư tưởng sâu sắc và trình độ nghệ thuật cao, qua nghệ thuật diễn xuất mới mẻ, lành mạnh, mở ra một con đường mới, một phương pháp góp phần cải tạo sân khấu kịch nói Sài Gòn, đưa vào nền nếp mới xã hội chủ nghĩa. Từ việc trung thành với kịch bản đến diễn xuất nhập vai, biểu diễn gây xúc động lớn mà không cần khoa trương, trang trí đúng mức, làm tôn các nhân vật trong kịch lên, các vai phụ  cũng được thể hiện rất chân thật, với nghệ thuật cao, tính chất tập thể gắn bó của các diễn viên, v.v… Tất cả những nguyên tắc thông thường nhất của nghệ thuật kịch nói theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đều được hoan nghênh, tán thưởng nhiệt tình. Nói chung phong cách diễn của Đoàn được đánh giá là chân thực, chững chạc, sáng tạo. Một nữ nghệ sĩ ở đây nói: “Quả thật kịch nói cách mạng như một đỉnh cao đang vẫy gọi chúng tôi vươn đến…” Chính sự vươn lên đó mới là đầy hứa hẹn vì chúng ta tin ở tiềm năng cách mạng và tài năng sáng tạo của lực lượng hoạt động nghệ thuật của thành phố Hồ Chí Minh.

Trách nhiệm nặng nề thuộc về Đoàn kịch nói Trung ương không ngừng vươn lên sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật mới.

Nguyễn Trung

(Phóng viên thường trú báo Nhân Dân

Tại thành phố Hồ Chí Minh)

Chieu sau cua mot thanh cong _ Phan Dau.jpg

Chieu sau cua mot thanh cong _ Phan Cuoi.jpg

Tháng Mười Một 28, 2019

Vui sống giữa lòng Miền Nam giải phóng (P3)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 12 năm 2019

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

3- Vui sống giữa lòng Miền Nam giải phóng

(Tiếp theo)

Anh Trần Thăng ở nhà riêng do người bà con di cư nay xuất cảnh để lại cho. Nhưng do công việc, anh gắn bó với nhóm 22 Tú Xương. Còn Nguyễn Văn Phú và Võ Ngũ Phong làm công tác xuất bản thì ở chung cư số 22 Đoàn Thị Điểm. Sau cuộc họp anh Thăng triệu tập, mọi việc rõ ràng, không còn những hiểu lầm, mọi việc dường như yên ả. Thì một hôm có cô gái từ Nha Trang đến nhà chúng tôi. Cô mặt tròn, thân hình cũng đầy đặn, da rám nắng mắt sáng vẻ chất phác thật thà. Tôi hỏi chuyện thì biết cô là em cô gái Nha Trang xinh đẹp của chúng tôi.

Cô lúng túng xách cái túi ni lông trong có hai con ốc to tôi chưa từng thấy bao giờ. Cô bảo Thep Moi chan dungquà quê mẹ bảo mang cho chị và các anh. Tôi hỏi ốc to thế này thì ăn thế nào. Cô bảo để cô làm cho, dễ thôi, luộc rồi xắt lát chấm muối tiêu chanh hoặc cuốn rau sống ăn rất ngon. Chờ cô chị đi khu kinh tế mới Lê Minh Xuân lấy tài liệu về, tôi bàn giao ngay để hai chị em ở chung buồng trên gác. Tối, cô chị lại đi có việc, cô em thấy chỉ có tôi thân thiện với mình, nên lại tìm tôi tâm sự. Cô nói mẹ bảo lần này lên Sài Gòn cố tìm hiểu xem anh rể tương lai là người thế nào. Tôi buột miệng hỏi là ai vậy. Thì cô nói nghe chị kể anh là nhà báo nổi tiếng, là cán bộ cao cấp, chị lấy anh cả nhà sẽ đổi đời. Tôi nhớ lại có lần cô gái Nha Trang hỏi tôi cán bộ cao cấp như anh Thép Mới thì được những tiêu chuẩn gì quyền lợi gì. Tôi bảo chuyện ấy thì phải hỏi bên hành chính, tôi chỉ biết việc viết của anh thôi. Tôi sợ có chuyện hiểu lầm nên nói cho cô em rõ là ở đây chỉ có một người như thế thôi, anh ấy lại có vợ hơn 20 năm rồi, hiện bà ấy vẫn ở Hà Nội. Cấp trên mà biết ông ấy lấy vợ hai thì bị kỷ luật nặng. Ở miền Bắc, pháp luật đã qui định chỉ được một vợ một chồng từ lâu.

Cô ở chơi với chị mấy hôm rồi về nhà. Sau đó, tôi nhận được một bức thư dài đến bốn trang giấy khổ lớn, chân thành cảm ơn tôi đã giúp gia đình tránh được đại họa. Chuyện này, có vẻ chẳng ai ở cơ quan biết, vì không có điều ong tiếng ve gì. Chỉ có chuyện là sau khi chúng tôi chuyển sang ở 82 Yên Đổ thì cô gái Nha Trang cũng sang ở một buồng bên ấy rồi sau vào đại học tổng hợp tiếp tục việc học dang dở.

Chủ nhật 11/4 tôi đến nhà chú Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, nguyên trưởng Ban cổ học thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách về Văn hóa chính quyền Sài Gòn. Mượn được tập bản thảo Đông Pương hiền triết gia ngôn, trong đó có mấy câu tôi đọc mà thấy sợ:

  • Lão Tử trong Khổng Tử gia ngữ viết: Người thông minh nhận xét sâu sắc ấy thế lại thường mang mình đến chỗ chết, là vì thích chê bai mà bàn tán việc người. Những kẻ học rộng biện luận thông suốt, mà thường hay bị nguy hiểm, bởi họ có tính hay phơi bày những việc xấu của người.
  • Trạng Nguyên Thần trong Thúc Thư Tử viết: Những người tư chất thông minh, quan sát sắc bén thâu lợi gấp bội người tầm thường, ngược lại cái hại cũng thế. Vì thế cho nên thông minh mà không khôn (triết) sẽ rước vạ về cho mình.

Đọc mà thấm thía. Càng thấy cần tập trung tinh lực thực hiện những mục tiêu căn bản, chủ yếu của đời mình, hết sức tránh mọi sự mất thời giờ vô ích. Không biết có làm được như vậy không… Chính Cụ Hồ cũng có lúc phải thốt lên Thế sự nan (Việc đời khó)

*

*         *

Báo Nhân Dân chuẩn bị in lại tại Sài Gòn. Nghe nói đó là do một cuộc họp nội bộ Đảng ở cơ quan thường trực báo Nhân Dân tại Sài Gòn, khi biểu quyết, chỉ vì hơn một phiếu mà quyết định in báo được thông qua.

Tối 13/4, tôi thức đến 3:00 sáng ở nhà in cùng anh em thu trang báo phát từ Hà Nội để in la-phieu-tren-que-huong-co-do-sao-vang.jpglại, nhưng không thành, đành bỏ dở. Hôm sau lại cùng anh em thu lần thứ hai. Không ngờ khi bản phát trang 3 báo Nhân Dân ra ngày 15/4, thì dần hiện ra bài Lá phiếu trên quê hương cờ đỏ sao vàng đăng hết hai phần ba trang báo. Mà như thế mới là đăng có một nửa, hôm sau sẽ đăng nốt. Bài ký tên Nguyễn Trung với ảnh của Trần Thăng. Anh Phan Quang trực hôm đó đến cạnh bắt tay tôi chúc mừng. Hạnh phúc tràn ngập trong lòng: Thế là Nguyễn Trung bắt đầu viết báo rồi. Cố lên.

6 giờ sáng ngày 17/4, tờ báo in thử thứ hai phát hànhPhan Quang.jpg cùng lúc với tờ in ở nhà in báo Nhân Dân  phố Tràng Tiền Hà Nội. Cách nhau 1800 cây số. Tôi cũng tham gia làm số này cùng các anh Lê Hưng, Văn Phú và các bạn ở Thông Tấn Xã mới chuyển sang, trong đó có Lê Xuân Vượng, Nguyễn Văn Khiêm, Trương Văn Thệ… Có cả anh Nguyễn Văn Tiến, con trai ông Tôn Thất Vỹ tức Nguyễn Minh Vỹ là cán bộ sang hỗ trợ.

Từ ngày 15/4, cơ quan được nhận thêm ngôi biệt thự số 82 đường Yên Đổ, sau này đổi tên thành Lý Chính Thắng tên một bí thư thành ủy Sài Gòn. Đây là một vi la kiểu Pháp, tư gia của một gia đình người Hoa quốc tịch Pháp, sau giải phóng mới đi Pháp định cư. Khuôn viên vuông vức, mặt tiền rộng có hai cổng. Một cổng ở bên trái xe hơi đi vào được tận hai ga ra phía trong. Một cổng lớn giữa mặt tiền chỉ mở khi đón khách sang. Khu nhà chính xây trên nền cao đá xanh. Vườn trong khuôn viên trồng hoa mẫu đơn, mé phải có hai cây trứng gà cao, phía trong là hai cây sơ ri cành là là chi chít quả. Xen kẽ là hàng chuối lá, quả to, khi ăn thì tước vỏ ngoài, ăn cả vỏ trong và thịt chuối rất ngọt. Tôi mơ mộng, gọi đây là Vườn Anh Đào theo tên một vở kịch của Txêkhốp. Nhà rộng, tha hồ chọn chỗ ở. Tôi đến đây ở chỉ sau vợ chồng anh Hồng Cảnh Yên, từng quen biết anh Thép Mới hồi ở rừng. Vợ anh Yên là chị Thanh có mang, anh chọn ở buồng dưới và lấy một buồng bên cạnh làm chỗ nấu nướng. Giữa hai buồng là cầu thang dẫn lên gác nhỏ. Tôi chọn buồng ở gác này. Bà cụ Năm là người làm cũ ở đây kể là buồng này chưa ai ở. Nhà dưới trước chỉ là nơi thờ Phật và gia tiên. Nhà chủ có cô con gái học nha khoa, tốt nghiệp, ông bà định bảo con về ở cùng nhà nên mới xây cái nhà nhỏ này ở góc vi la. Con gái về thấy nhà như vậy, không về nữa. Từ đó phòng trên bỏ hoang. Không điện, không nước. Nhưng tôi vẫn chọn ở đây vì riêng rẽ, đi khóa về mở, lại có cái lô gia to ngồi đấy với tay là hái được trái sơ ri. Tôi lại lên gác nhà giữa lấy được một cái bàn gỗ mặt tròn nguyên tấm chân quì rất đẹp, ngồi uống trà thì tuyệt. Đọc sách, viết lách cũng thuận lợi. Tạm thời quần áo và sách vở tôi đều để trong những thùng mì ăn liền rỗng. Thế là ổn.

Đúng ngày ra số báo đầu tiên chính thức in ở Sài Gòn, hai bạn Nguyễn Hữu Vân và Đinh Bá Đào vào làm thư ký xuất bản. Hữu Vân gặp mình là kể hồi Vân làm phòng thư ký ở Hà Nội thấy bài Lá phiếu trên quê hương cờ đỏ sao vàng ai cũng bảo là của Thép Mới, ghi cả trên ma két như thế. Anh Nguyễn Thọ chỉ cười, không nói gì. Mấy hôm trước, cô Băng Tâm mới vào cũng nói bài Dạo quanh Sài Gòn Tết Bính Thìn là của anh Thép Mới viết. Ban văn nghệ thì nổ ra tranh cãi. Số đông nói của Thép Mới, nhưng đề tên khác. Anh Trần Đĩnh ngồi đó cũng chẳng nói gì. Anh Chính Yên thì cương quyết phản bác, anh bảo không phải Thép Mới, vì văn Thép Mới là văn tri hô ôi cây lúa Việt Nam, ơi chàng trai Cà Mau. Đằng này là loại văn khác hẳn, lấy sự chính xác làm chính, thuyết phục người đọc bằng dữ kiện không phải bằng lời văn. Anh Nguyễn Thọ và anh Trần Đĩnh thừa biết Nguyễn Trung là tôi.

Ngay tối mới vào, Đinh Bá Đào lên ngủ với tôi ở cái giường sắt mới kê. Tâm sự một lát, Đào bảo lấy vợ đi, tao biết có đứa yêu mày đấy. Anh nói tên, tôi bảo đến mặt cô ấy tôi còn không nhớ, chỉ nhớ có người tên như thế. Đào bảo để tao kiếm ảnh cho mày. Cứ thế, anh quả là quá nhiệt tình với tôi như hồi đi chùa Hương năm 1959 vậy.

Tuy không phải trách nhiệm, nhưng cả hai số báo 20, 21/4 tôi đều thức ở nhà in cùng các bạn làm đến xong mới về ngủ.

Chiều 22/4 lại viết bài Chuyện kể về một cử tri vắng mặt viết về Lê Thị Hồng Gấm. Định viết một bài độc đáo cả về hình thức lẫn nội dung, gồm các tít nhỏ: Chuyện má Ba Quế kể; Chuyện Ba Một Phước kể; Ý kiến cô Tám Lê Thị Huyền Anh. Hí hửng đưa anh Thép Mới, mãi chẳng thấy anh nói gì, có lẽ vứt sọt rác rồi.

*

*       *

Sáng 24/4, nhảy ba chuyến xe đò, đi chuyền mới tới được Cà Mau lúc 17:00. Tìm ngay đến Ủy ban Nhân dân tỉnh gặp ban bầu cử nhận phù hiệu, hỏi kế hoạch rồi tìm về nhà em Nhàn.

Nhà toàn bằng tôn kể cả vách lẫn mái. Gần đầm đầy cỏ lác và bèo nên muỗi vo ve suốt, vơ tay là nắm được muỗi. Nhàn bảo vào màn mới nói chuyện được. Em đang mang bầu gần tháng sinh. Nhờ chuyến công tác này mà tôi đem được cho em toàn bộ tã lót Hà Nội gửi vào cho Nhàn, chủ yếu là của chị Thủy và em Trang

Sáng 25/4 đi bầu cử ở tổ 10 phường 5 cùng các vị lãnh đạo tỉnh. 12:00 gọi điện về anh Phu hieu can bo bau cu.pngThép Mới đọc bản tin đầu tiên. 20:00 lại bản tin thứ hai. Anh Thép Mới ở Sài Gòn nghe rõ nói Tốt! Tốt!. 26/4 ở lại lấy thêm tài liệu. Ăn cơm nhà em Nhàn được mấy bữa. Nhà em có giàn mướp đắng che kín lối vào, mướp rất sai quả mà lại ngọt, không đắng. Hai cháu Hải Hà có bác về líu lo nói đủ thứ chuyện, bé Hà ra chỗ người ta vét đầm mò được cái hộp điện thoại chống ngấm nướcTin Bau Cu.png cũng cho bác, đến nay tôi vẫn giữ, cảm cái tình của cháu. Sáng 27/4 về. Hôm sau viết bài về bầu cử, anh Thép Mới không thích bài đó. Anh khen bài Cai lậy đang mùa gặt rộ (đăng 19/4) là bài mình viết rất dễ dàng. Còn bài Lá phiếu trên quê hương cờ đỏ sao vàng mà mình rất tự hào thì anh phê là viết chưa chặt, khó nhớ. Thật thấm thía. Mình chưa quản được các bài lớn như thế.

Tổng kết cả tháng 4/1976, mình viết được bốn bài, làm một tin về triển lãm công nhân thành phố Hồ Chí Minh, gọi điện hai lần về tin bầu cử ở Cà Mau, đi công tác hai đợt 6 ngày ở Tiền Giang và 4 ngày ở Cà Mau. Tham gia in thử các số báo 15,17/4 và hai số đầu in tại thành phố Hồ Chí Minh 20, 21/4. Suốt một tháng như vậy, dù đi rất xa, vất vả vậy mà không ốm đau gì cả. Thật là mừng, niềm vui được làm việc đã đẩy lùi bệnh tật.

Đầu tháng 5 rất bận, nhưng gần như tối nào cũng cố đọc Le Vrai Sorge (Con người thật của Sorge) của Goliakov và Ponizovsky viết về nhà tính báo xô viết vĩ đại đã báo tin chiến tranh thế giới sẽ nổ ra ngày 22/6/1940. Đọc mà chú ý nhất đến Sorge với hai tư cách là con người bình thường và nhà báo. Thật là một con người quí như kim cương, cứng rắn vô cùng mà cũng đẹp đẽ vô cùng. Vinh dự cho anh bị kẻ thù xử tử đúng ngày chiến thắng tháng 7/1944 vĩ đại của Tổ quốc anh. Katia của anh cũng thật tuyệt diệu. Còn Katia của mình?… Theo Đinh Bá Đào thì đó là…

Ngày 8/5 Trần Duy Thăng chở mình trên honda đi Mỹ Tho, về Vĩnh Kim dự một đám cưới rồi đi công trường thủy lợi Xuân Hòa đào kênh Chợ Gạo. Trời nắng gắt. 12/5 lại dùng honda đi Hố Nai gặp chị Hai Liên chủ tịch huyện Thống Nhất Đồng Nai liên hệ trước để hôm sau đi xe hơi, cùng chị tìm đến chỗ toàn dân công giáo di cư ấp Bùi Chu đang gặt. Ô tô phải để lại, hai chúng tôi cùng chị lên máy cày đến chỗ đồng bào đang gặt lúa 73/2. Đoạn cuối phải đi bộ. Anh Thăng mang máy ảnh và đồ nghề nặng, lại đem theo khẩu K54 càng nặng, mồ hôi nhễ nhại. Anh bảo mang đi cho nó chắc ăn. Vụ Vinh Sơn đang còn dư âm, ai cũng cần cảnh giác nhất là khi đi vào vùng công giáo toàn tòng như thế này. Tôi thì nghĩ bọn xấu nấp kín, mình đi giữa đường, nó bắn lén thì cũng không đáp trả kịp. Bèn nói anh vác đồ nặng, đưa tôi giữ giùm khẩu súng cho vào ba lô cho chắc. Tôi nhắc anh khi chụp ảnh nên cố chụp rõ thánh giá bà con đeo và chú ý chụp chị Hai Liên tiếp xúc với bà con. Bữa trưa bà con cùng chúng tôi ăn ngay tại ruộng, dưới tấm bạt che nắng. Anh Thăng nói nhỏ anh cẩn thận đấy, tôi thấy ăn cuốn mà họ rửa rau sống ngay tại mương dẫn nước vào ruộng. Tôi nghe, nhưng chị chủ tịch ăn gì, tôi ăn nấy. Nhờ đó tôi được nghe chị kể rành rọt từng vụ trấn áp, bắt bớ bọn phản động mà tự nhiên giản dị như một phụ nữ kể chuyện mua rau mua cá ở chợ, không có gì là nghiêm trọng cả. Về đến nhà là tôi viết ngay bài, kèm ảnh của Trần Thăng. Bài gặt ở ấp Bùi Chu Hố Nai này tuy ngắn nhưng đầy chất tiểu thuyết, khác hẳn ở đồng bằng Bắc Bộ. Bài gửi ra là Hà Nội cho đăng ngay.

Cả buổi sáng chủ nhật 16/5, tôi ở nhà bác Tường gái, vợ họa sĩ Lemur. Vợ chồng Vân Anh – Phúc nhiệt tình chuẩn bị đồ trang trí chỗ ở mới của tôi, nào là tranh, phù điêu, tượng… Nghĩ mà thương các em quá, ba đứa trẻ, một bà già mất trí và hai vợ chồng điếc câm, sống nhờ vào tiền sửa xe của người đàn ông điếc câm. Cả nhà đều nhịn ăn sáng, chỉ có cháu út mới biết nói là được ăn cơm nguội để dành từ chiều hôm trước. Tôi mang cho em tất cả những gì mình có: bột xúp, đậu, đường, xà phòng và cả tượng Chúa Cứu thế mua được ở vỉa hè vì quá đẹp… Buổi chiều, hai vợ chồng cùng mình trang trí căn buồng nhỏ ở 82 Lý Chính Thắng. Bác Phương biết tin cũng đi xe buýt đến thăm xem thiếu cái gì thì cho cái ấy. Sau đó là em Như Ý con cô Bảy, hôm qua đã đến, hôm nay lại đến lau cả sàn buồng sạch bong. Xem em cong người lau đến sạch những chỗ bẩn lâu ngày, thấy rõ em có tinh thần tự lực, không như mẹ em, thấy khổ là bảo con cứ đưa mẹ về Sài Gòn, thằng Thành với con Nhàn nó không khi nào bỏ mẹ đâu, ở đây khổ quá.

Ngày 20/5 nhận thư cháu Nguyễn Hoàng Hải con đầu của Nhàn – Long báo tin mẹ vừa Me va co Nhan.jpgsinh em trai ngày 13/5, nặng 2 ký 700 gam, mới được tám tháng mười ngày nằm trong bụng mẹ. Ngày 21/5 xin nghỉ phép đi Cà Mau. Không còn vé Cà Mau, đành đi Bạc Liêu. Đến Bạc Liêu cũng hết vé đi Cà Mau đành liều lên xe đi Hộ Phòng, chẳng biết là đâu, chỉ biết dù sao cũng gần Cà Mau hơn. Đến bến xe Hộ Phòng, không còn xe đi Cà Mau, đang lo thì gặp một anh bạn ở cạnh nhà em Nhàn, bèn nhờ anh mang hộ cái túi du lịch đầy các cuộn giấy vệ sinh các lon sữa Ông Thọ và đủ thứ bánh kẹo có thể mua về cho hai đứa trẻ. Đang lúng túng sau khi xe anh bạn chạy, chưa biết đi cách nào thì gặp một nhóm lính Bắc, gặp nhau là mừng quá. Các bạn là một nhóm ba nam bốn nữ cần về Cà Mau mà chờ mãi xe bên quân đội chưa đến đón. Một anh xe lôi bảo có đi không, tôi nói có, anh bảo đi thì phải bao cả xe, mười người.  Tôi hỏi các bạn bộ đội có đi không, các bạn bảo muốn đi, nhưng kẹt là chúng em hết tiền rồi. Tôi hỏi giá rồi mời bảy bạn cùng đi, tôi bao hết. Cái xe máy khỏe, kéo sau một cái moóc dài như cái thuyền, thừa chỗ chở tám chúng tôi. Nhưng đi được một lát, đến đoạn đờng xấu quá, mới rải đá, đi thử vài phút anh lái xe bảo đi thế này, bể bánh thì hết vốn. Tôi không đi nữa, trả lại nửa tiền. Xin mời các cô chú xuống cho tôi quay về. Chúng tôi đành chiếu hướng Cà Mau mà đi. Tôi còn lành lặn chứ các anh chị thì có mấy thương binh đi rất chậm. Họ ái ngại bảo tôi có việc cứ đi trước đi, chúng em đi chậm may ra lại gặp xe quân đội thì sao… Tôi đành hăm hở đi một mình trong đêm tối. Yên tâm vì biết giờ này các em đã nhận được đồ anh bạn mang hộ về và cũng biết tôi sẽ về sau. Me con Huong Giang.pngHơn mười giờ đêm, tôi đến nhà, gặp cả hai vợ chồng em và  ba thằng cu xinh xắn. Cùng ăn với gia đình các em mấy bữa, hôm nào cũng đòi ăn mướp đắng mà ngọt của nhà. Sáng 24/5 lại về Sài Gòn. Thiếu xăng dầu quá nên xe cộ cũng khó khăn. Đi xe đò, xe lam, xe lôi và cuối cùng là đi bộ, thật vất vả nhưng lòng rộn ràng vui, nhớ mãi khuôn mặt ba đứa cháu trai xinh xắn. Tình cảm nhất vẫn là cháu Hà.

Tối 26/5 anh Nguyễn Ngọc Lương đến chơi báo sắp đi Hà Nội. Mình đem áo, vải, tấm ni lông trải bàn, giỏ nhựa đến nhờ anh mang ra cho gia đình. Xa gia đình có được người thân như anh chị Lương thật là may mắn, anh chị coi như em, lo cho mọi thứ, anh còn cho cả một áo sơ mi hoa rất nhã, vì thấy chú toàn đồ bộ đội, không phải đi đâu cũng tiện. Mình chưa đi bộ đội bao giờ, quần áo bộ đội đều do Thùy và Nguyễn Xuân An cho. Nhờ chuyến đi này mà anh Lương đem về cho cái ảnh anh chụp mẹ con Hương Giang ở ban công 16 Hàng Da thân thương của mình.

Sáng chủ nhật 30/5/1976 đến thăm cậu Vượng, nhưng không gặp, lại đến nhà các cô Chí, Ý, Trung. Buổi chiều, bác Phương, anh Phạm Vinh, Kim Anh và bốn con lại chơi. Anh Phạm Vinh là đích tôn của Ông ngoại. Anh bằng tuổi chị Việt An tôi, coi như một cặp anh em thân thiết từ nhỏ. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, anh vô tư đi thẳng vào nhà số 5 phố Hàng Da, không hề nghĩ rằng gia đình tôi có thể rời Hà Nội ra đi theo đợt di cư lớn Ngô Đình Diệm hồi đó kêu gọi. Anh được chỉ sang nhà số 16 ngay trước mặt. Gặp đủ mọi người trong gia đình tôi, kể cả chị Việt An thân thiết của anh. Anh dạy chúng tôi hát bài Giải phóng Điện Biên, nói rõ Trần Đình là bí danh của Điện Biên Phủ trong câu cuối phá tan Trần Đình. Mới hơn bốn mươi mà trông anh già quá, rất thương. Cả nhà trò chuyện gần hai giờ… Mắt anh vẫn đẹp, kiểu mắt bồ câu, nhưng đượm buồn.

Chiều 1/6, họp tổ Sài Gòn, anh Thép Mới nhắc mình nên xóa bỏ hết mặc cảm đi mà yên tâm lao vào viết. Mình nghe cũng chẳng mừng, chỉ biết vậy thôi. Những năm tháng qua, quả là nặng nề, nếu không có một niềm tin sâu xa vào tương lai dân tộc, không có một lòng tha thiết với tiếng ta, một niềm lạc quan bất trị, có lẽ cuộc sống mong manh của mình đã tắt ngóm từ lâu rồi.

Tối mưa rả rích. Đọc Hồ Hữu Tường 41 năm làm báo và François Sagan Một chút mặt trời trong nước lạnh. Đọc để biết người Sài Gòn đã đọc những gì để hiểu họ hơn thôi.

Hai hôm sau, suốt buổi tối không làm được việc gì. Vẫn mưa rả rích. Vợ chồng Vân Anh điếc câm lại đến nhờ xin việc làm. Bà Năm nấu cơm cho tập thể kéo tôi vào nhà nói chuyện. Cụ bảo ông chủ cũ đau bao tử, ăn uống kiêng khem, khổ lắm. Cậu cẩn thận đấy, dạo này thấy gầy quá. Cuối cùng lên phòng viết thư cho mẹ. Thư chẳng vui gì. Người có lòng sao mà ít. Suốt cả ngày hôm nay lo tường thuật Đại hội thống nhất công đoàn toàn quốc. Môi trường công nhân lao động bao giờ cũng thân thuộc với mình. Gặp ông Hoàng Quốc Việt chủ tịch tổng công đoàn cũng thấy ông thật giản dị, gần gũi, ông bảo chú không hút thuốc như thế là rất tốt, nghe nói nhiều nhà báo không có thuốc lá là không viết được, họ bảo, không có tí khói đầu óc không hoạt động. Bảy giờ tối mới vè ăn cơm. Bà Năm thương để cơm trên than hồng cho nóng. Thành ra mệt mà vui vì công việc chạy. Có điều ai gặp cũng kêu là gầy quá. Dượng Trần Hữu Cầm mới gặp hôm 29/5 cũng nói như vậy. Có lẽ do thiếu ngủ quá mà thôi. Bèn tự bồi dưỡng bằng ăn ya ua mỗi ngày. Mai lại sẽ là một ngày căng thẳng, mở đầu một tuần căng thẳng, bắt đầu Đại hội thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Cả ngày 10/6 khai mạc Hội nghị, mình làm việc liên tục, gặp bà Nguyễn Thị Định nữ tướng lừng danh kiêm chủ tịch hội, bà chỉ cho cách ăn chôm chôm thì không nên chọn quả to đỏ mà nên chọn quả nhỏ và đó mới là chôm chôm nhãn tróc, ăn ngon, không dính hột.

Cho đến khi phát xong bản tin cuối cùng ra Hà Nội mới về Vườn anh đào nghỉ. Bấy giờ mới cảm thấy mệt, phải xin lỗi anh bạn Nguyễn Văn Ngừ cùng nhà còn đang muốn tâm sự nhiều, để mình đi nằm sớm, mệt nhoài rồi không ngồi nổi nữa. Khoảng 1 giờ sáng ngày 11/6, trời lạnh lắm. Thế mà khắp thân mình toát mồ hôi, bụng đau dữ dội. Rồi đi tiêu như tháo, miệng thì nôn thốc. Đúng là miệng nôn trôn tháo. Nguy rồi. Biết vậy, mình pha một cốc nước đường thật ngọt uống, nếu do giun thì có ăn thế này là chúng sẽ nằm im. Nhưng lại tiếp tục miệng nôn trôn tháo dữ dội hơn, bụng cũng đau hơn. Lục tìm Phosphalugel thuốc trị acid bao tử trứ danh vẫn thủ sẵn mỗi khi đi công tác xa, không ngờ lại cứ 15 phút một đợt, bèn uống thuốc giảm đau, rồi Valium, rồi than hoạt tính chống ngộ độc thực phẩm… Áo quần ướt đẫm, thay đến mấy lần, người vẫn lạnh ngắt, mệt lả… Đang đêm lạnh, không thể nghĩ đến chuyện gọi ai lên cứu giúp. Vả lại cũng yếu quá rồi, không tin là đang đêm có thể gọi mà có người ngủ say nghe thấy lên giúp. Mình đành nằm cuộn chăn, thò đầu ra mé giường nôn liên tiếp vào cái chậu nhôm. Lúc ấy dưới ánh đèn điện bật suốt đêm thấy rõ có máu đen đóng thành cục bằng đầu ngón tay út, kèm đó là những vẩn máu đỏ. Biết là chảy máu dạ dày rồi. Đành nằm im chờ sáng.

Trời mờ sáng đã dậy mặc áo vệ sinh, quấn khăn cổ thật ấm rồi ra lô gia gọi to tên ông bạn Ngừ là người ở phòng gần nhất theo đường chim bay trong khối nhà chính. Anh ta ra cửa sổ, vẻ ngái ngủ, mình vứt chìa khóa buồng xuống chỗ cầu thang cố nói to lên ngay giúp tôi. Mệt lả vì việc làm này, mình lại vào buồng cuốn chăn nằm chờ Ngừ. Khoảng hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy anh bạn lên, biết là bạn ngái ngủ không hiểu ý mình, nhưng mệt quá, không thể ra gọi lần 2. Sáng bạch, mình thu toàn lực đứng dậy, ngã quay ra sàn, thâm tím cả ống chân. Cố ra gọi thật to, nói thật chậm. Anh bạn rụi mắt rồi đi vào. Lần này anh đã hiểu, rồi lên giúp mình. Anh cho biết lần trước đã xuống trước cửa cầu thang, nhặt chiếc chìa khóa, rồi để lên bàn ăn tập thể xong lại lên ngủ tiếp. Mình nhờ thay áo, lau mồ hôi, xoa dầu nóng. Anh kêu chân tay mình lạnh quá rồi cố lắm mới đi được đôi tất cho mình vào hai chân, buồn cười là hai cái gót chân đều ở trên mu bàn chân. Rồi đun nước nóng cho mình uống. Mình nằm lịm đi. Ngừ ngồi cạnh cứ chốc chốc lại hỏi có cần gì không. Mình chỉ lắc đầu, nằm im suy nghĩ. Một lát, các bạn khác lên, mình dặn các bạn lấy giấy tờ đi dự hội nghị thay mình và nhờ bà Năm nấu cháo. Vừa lúc đó anh Thép Mới đi xe đạp đến. Lần đầu anh đến Vườn Anh Đào, chỗ ở mới của bọn mình. Lại đến rất sớm. Anh nhìn quần áo vứt lộn xộn, thuốc men tung tóe, rồi nhìn kỹ cái thau nhôm mình nôn, hoàn toàn không thèm nghe một câu nào mình nói về công việc đã bàn giao cho các bạn, anh bảo Đưa đi bệnh viện ngay. Anh phải đi họp… Mình thiếp đi, chỉ biết các bạn lên ngày một đông hơn… Chín giờ sáng thì mình được đưa đến phòng cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy. Không hiểu sao, chính anh Trần Tiến, người đưa mình từ Cảng Hà Nội về báo Nhân Dân lại chính là người đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy. Rồi một chị người Bắc đỡ mình lên chiếc xe lăn đẩy vào thang máy, đưa lên lầu 9B3 nằm giường số 15 từ hôm ấy – 11/6/1976 đến chiều 12/8 thì được bạn Nguyễn Sơn và cô Băng Tâm đến đón về. Bệnh viện cho ra viện để bệnh nhân tự cứu vì bệnh viện hết thuốc. Mới vào ra máu nhiều, mỗi ngày sút một ký; sau đó khá hơn, đến khi hết thuốc, cứ một tuần sút một ký. Càng nằm bệnh viện càng sút. Ngày tiêm Atropin để giảm đau, tối cho uống thuốc ngủ. Ăn thì bệnh nhân bảo bọn Nhật thế mà ngu, làm cái khay ăn rõ to mà chỉ một ngăn đựng cơm, một ngăn đựng rau, một ngăn đựng miếng thịt bé tẹo, ngăn nữa để có một cây tăm. Ăn kiểu này chỉ khi thanh toán ra viện mới thấy sướng: Rẻ quá! Bà bác sĩ Nguyễn Thị Sơn Phát, một người hằng ngày hành thiền và ăn chay trường sống như một cư sĩ buồn bã nói với tôi là cho ra viện mà rất buồn vì bệnh này bà dư sức chữa khỏi nếu có đủ thuốc, cho nên khi tôi ra viện, bà sẽ cấp cho một đơn thuốc tốt nhất…

Chiều 12/8, mình về Vườn Anh Đào, lại lên căn buồng nhỏ thân yêu. Sách vở mình bị các bạn lục tung không tìm được sách muốn đọc nên bỏ lỏng chỏng, cái quạt bác Phương cho tuy kiểu cổ nhưng chạy rất êm cũng cháy rồi, có lẽ vì có người lên đọc sách, mở quạt rồi khi về quên tắt. Số phận các căn buồng bỏ hoang là thế. Cây xương rồng cảnh cũng chết khô.

Bà cụ Năm nhận thổi cơm nát riêng cho mình, các bạn biết mình ăn chậm cũng yêu cầu cụ dành riêng thức ăn. Thế là tạm sống được rồi. Có điều là vẫn chưa có thuốc.

Hai tháng nằm bệnh viện Chợ Rẫy mình thấy khoa 9B3 là một nơi được nhiều ưu đãi, bác sĩ giỏi, điều dưỡng tốt, vui vẻ, tận tình… Sau khi khám sơ bộ ở khoa cấp cứu, sáng hôm sau mình được đi nội soi. Vào năm 1976 này, đó là phương pháp điều trị hiện đại, chưa có ở miền Bắc. Bác sĩ xin lỗi mình trước khi bảo há miệng để bôi thuốc tê vào họng. Một số sinh viên chăm chú theo dõi. Chừng thuốc ngấm, ông cho một ống cao su đen, to như con rắn vào họng đến lúc mình ho mới tuồn sâu vào. Mình thấy chữ Canon, chắc là tên hãng chế tạo, rồi thấy con số 1m, chắc là vì mình cao cho nên từ đầu ống đến miệng vừa 1m. Bác sĩ nói bật đèn, người phụ tá bấm nút, sinh viên xì xào rõ hơn rồi kìa. Bác sĩ kéo ống Nguyen Van Son.pnglên, hạ xuống để khám khắp dạ dày xem thương tổn thế nào. Ông nói với phụ tá Bốn ổ loét. Chuẩn bị sinh thiết. Ông lại nói xin lỗi rồi tôi thấy đau nhói bốn lần, các cái kẹp cắt phần trong dạ dày tôi bốn chỗ xem có phải ung thư không. Tốt thôi. Bác sĩ lại xin lỗi lần nữa rồi nhẹ nhàng rút con rắn đen ra, nhưng tôi vẫn thấy đau. Có lẽ thuốc tê đã hết tác dụng. Tôi bao giờ cũng mừng khi bệnh được tìm ra. Trong phòng, tôi là người nằm lâu nhất, thành ra cuối cùng được bầu làm chủ tịch hội đồng bệnh nhân. Nhờ dó biết được bao cảnh đời, cũng biết thêm bao tấm lòng.

Anh Thép Mới đến thăm một lần, nhưng bảo Sơn thăm thường xuyên, lần nào cũng có quà. Sơn bảo anh cho tôi toàn bộ nhuận bút báo Giải phóng đăng Thời Dựng Đảng. Anh Nguyễn Đức Thi nay là trưởng ban Văn hóa văn nghệ vào thăm chỉ dặn bằng mọi cách tránh mổ, vì khoa học tiến bộ nhanh lắm, đừng dại mà khổ cả một đời. Bác Phương, cô Giễm ở Đà Lạt về cũng đến thăm, cho nhiều bánh, lúc đầu cô đi lại ngoài hành lang tìm trong phòng mọi người kháo nhau sao hôm nay lại có bà đầm đến đây. Cô Trung cậu Vượng đến thăm cô hỏi muốn ăn gì để cô mang vào, cậu Vượng thì cho pin nghe rađiô. Vợ chồng anh Vũ Trọng Bình cắp ô vào thăm, ai cũng buồn cười. Một niềm vui nữa là nhận thư nhà và thư Vũ Văn Chỉ. Bạn viết một lá thư ngắn hẳn hơn mọi khi nhưng đầy tâm sự: Thư và những bài báo anh gửi tôi đều nhận được cả. Đường đi và kết quả của anh đã rõ. Tôi tin anh còn đi xa và sẽ còn nở hoa hơn nữaVu Van Chi nhin ngang

Thư em Nhàn báo chồng và ba thằng cu đều ốm cả dặn mình mua men tiêu hóa và thuốc sốt cho bé sơ sinh. Thư me kể cháu Dô (Hương Giang) con vợ chồng em Thân bị kiết lị ác tính, đi cấp cứu ở bệnh viện sốt cao quá phải ướp nước đá mới cứu sống được. Mình nằm viện viết thư an ủi cả hai miền.

Trong thời gian nằm bệnh viện, hai lần mình chăm chú nghe đài Giải Phóng phát vở kịch nói Bài ca cuộc sống (dựng theo Thép đã tôi… Nhiều lần không cầm được nước mắt. Xúc động sâu xa. Trong mình bao giờ cũng có một thằng Paven. Còn anh Giukhơrai là ai? Là anh Thép Mới chứ ai. Kỳ này ốm, thật kỳ lạ, không ai báo mà anh từ 22 Tú Xương vội đạp xe đến rất sớm, nơi anh chưa từng đến bao giờ. Mình nhớ mãi câu anh nói với vẻ hốt hoảng Sao lại để đến nỗi này. Cũng chính anh bảo đưa đi bệnh viện ngay.

Cứ mỗi lần hút chết như thế này mình lại muốn sống gấp và làm việc học tập nhiều hơn. Thep da toi.pngĐây là lần thứ ba mình thật sự sắp lìa đời. Cũng là lần thứ ba, mình quyết tâm vẫn đi con đường đã chọn, đầy chông gai, nhưng tràn ngập ánh sáng hạnh phúc. Trên đời này có ai hiểu mình? Đến giờ này thì chưa thấy có ai cả. Chỉ có rất nhiều người hiểu từng mảnh cuộc đời mình thôi… Thế cũng đủ sống vui rồi…

Thời gian nằm bệnh viện Chợ Rẫy, tôi là tỷ phú thời gian nên dành rất nhiều thời gian để đọc sách, nhất là những quyền sách dầy cộp, ngày thường không dám đọc. Thành ra đọc một loạt tác phẩm của Đostoïevxky như Tội ác và trừng phạt, Những người bị quỉ ám, Anh em nhà Karamazov, Gã khờ (Thằng Ngốc)… Ban ngày thì nằm đọc thoải mái chờ khám bệnh. Sau khi đèn tắt trong buồng bệnh, thì ra hành lang có đèn sáng ngồi đọc, mỏi thì tự khắc vào ngủ, không phải nhắc. Đọc Đốt liền một mạch mới hiểu vì sao cô bạn mê ông ta đến thế.

Không nhớ đọc ở đâu đó rằng chính Đốtxtôiepxki sau khi viết quá nhiều tác phẩm nổi danh về những nhân vật đen tối, độc ác đã nảy ra ý muốn viết về một con người trong sáng, thánh thiện, chứa chan tình người để rồi cuối cùng khi viết xong một tác phẩm lớn, để đời thì không thể đặt cho tác phẩm cái tên nào khác là Thằng Ngốc. Với số phận bi thảm.

Mình biết cuộc đời này còn dành cho mình nhiều đau đớn, cay chua, nhưng không hề lo sợ, cũng không vì thế mà mất vui. Mình hiểu đời rồi. Có thể mình suốt đời vẫn là một thằng ngốc, nhưng sạch sẽ và có ích cho nhân dân cho Tổ quốc. Mình tin như thế và luôn sẵn sàng tiến lên phía ánh sáng mặt trời chân lý.

Ngày 29/9/2019

P.T.

(Còn nữa)

Lá phiếu trên quê hương cờ đỏ sao vàng (phần tiếp theo)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 12 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

la-phieu-tren-que-huong-co-do-sao-vang-1.jpg

 (Phần tiếp theo đăng trang 3 báo Nhân Dân ngày 16/4/1976)

Ở Long Hưng, chúng tôi đã được nghe các vị lão thành kể nhiều sự tích về lá cờ đỏ sao vàng. Đến Vĩnh Kim lá cờ càng được nhắc tới luôn. Chính tại chợ Giữa Vĩnh Kim này, trong cuộc tiến công lớn, đập tan chính quyền địch và tay sai, mở đầu cho khởi nghĩa Nam Kỳ, lần đầu tiên, lá cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện từ trong lòng quần chúng đấu tranh: 23/11/1940. Mẫu cờ ấy, có người nói là do đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta nghĩ ra. Còn lá cờ lớn Vinh Kim đó, theo đồng chí Nguyễn Thị Thập và một số đồng chí từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ, thật khó biết là ai đã mua vải, ai đã may thành cờ. Đồng chí Thập chỉ nhớ là lá cờ được mang ra từ trong rừng Ba U rậm rạp, hiểm hóc, nơi các chiến sĩ cách mạng bị truy lùng thời ấy thường ẩn nấp. Bà Ba Lạc ở Kim Sơn, bà Ba Hà ở Vĩnh Hòa nay đều đã ngoại 70 cũng là những người đã từng mua lén vải tây điều, may cờ đỏ sao vàng, chia cho Long Hưng, Vĩnh Kim 30 mét, còn 20 mét để lại xứ ủy hồi đó đóng ở xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành. Còn cờ vẽ trên giấy điều, cắm trên từng đám mạ, thì hầu như nhà nào ở đây cũng đều có người từng làm, từng cắm. Từ những tháng năm xa xưa ấy, ngôi sao vàng năm cánh rực rỡ đã in sâu vào trái tim đỏ của hàng thế hệ cách mạng ở đây.

Cùng vì bảo vệ lá cờ, nguyện đứng dưới bóng cờ đỏ sao vàng, mà sau mười ngày chính quyền cách mạng được lập và hoạt động ở một số xã, thực hiện được các quyền tự do dân chủ, trừng trị bọn tề ngụy, tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân cày, thì cả Vĩnh Kim và Long Hưng bị dìm trong bể máu. Sáng sớm ngày 5/11 âm lịch năm Canh Thìn ấy, hai chiếc máy bay bà già dã đến đúng lúc chợ Vĩnh Kim vừa họp đông, bắt đầu một ngày sinh hoạt hòa bình, ném bom xuống quần chúng tay không. Mấy chục đồng bào đã hy sinh. Bà cụ thân sinh đồng chí Nguyễn Văn Đại –thường vụ nông hội xã Vĩnh Kim- đi chợ sớm, cũng bị bom. Tối đó, bọn lê dương và tề ngụy bắt đào hố ngay giữa chợ hốt tất cả xuống chôn luôn. Ba bốn ngày sau mới cho đào lên để thân nhân nhận về mai táng. Số còn lại, không thành hình  người nên không sao nhận dạng được, chúng đem san ra và trút vào 11 cái hòm gỗ nhỏ, vùi thành 11 cái mả con ở ấp Vĩnh Thới. Không biết bao nhiêu đồng bào nằm đó, và người nằm đó là những ai. Cái tang ấy đè nặng lên mọi gia đình. Đồng chí Đại, năm nay đã 50 tuổi, cứ mùa rẫy mả là lại cùng các con lên làm cỏ cho cả 11 ngôi mộ…. Biết đâu dưới đó lại chẳng phải là người mẹ thân yêu của đồng chí… Ông Nguyễn Văn Phép, năm nay cũng ngoại 50 rồi, bị hỏng mắt vì hơi bom từ ngày ấy. Cả những người sáng mắt năm nào cũng đi làm cỏ cho 11 ngôi mộ lẫn người mù vì bom giặc, ai cũng biết rõ lần này bầu cử quốc hội chung của cả nước mình phải bỏ phiếu cho ai mới vĩnh viễn chấm dứt mọi tang tóc đau thương!

Căn nhà của đồng chí Hai Đại rất điển hình cho tinh thần bám trụ của cả xã. Nhà nhỏ, mái tôn và mái lá nhìn thấu trời. Nhưng, giữa nền nhà là một cái hầm lớn, bê tông cốt thép kiên cố. Vách phải, hướng về phía đồn quận Sầm Giang cũ (sau này là Châu Thành) là một lũy đất dầy, cao hơn 1 mét 50, trên có xếp gỗ xúc chắc chắn. Tất cả là để hứng đạn trên đồn bắn xuống. Hình như vì không làm gì được gia đình người đồng chí nhỏ nhắn, điềm đạm mà kiên quyết ấy, chúng cho moóc chiê bắn gãy cành lớn cây vú sữa lò rèn ngon có tiếng ngay trước cửa nhà! Đồng chí ngồi cạnh cái hầm bê tông kể cho tôi nghe cả cuộc chiến đấu thầm lặng suốt 30 năm trời đối mặt với địch, giữ vững phong trào, giữ đất. Kể cả chuyện Nguyễn Thành Long, con trai cả của đồng chí, trốn mãi đến năm 25 tuổi mới bị bắt lính mà năm nay, 29 tuổi, anh đã được Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam tặng bằng khen (Số 2318, ngày 15/1/76) và giấy khen (số 969QN/TƯ, ngày 17/11/1975) vì “đã lập được thành tích trong phong trào thanh niên, góp phần đánh bại bình định mùa khô năm 1974-1975, đạt danh hiệu hanh niên quyết thắng xuất sắc. Em anh, cô Năm – Nguyễn Thị Kim Anh, cử tri trẻ nhất nhà: vừa đúng 19 tuổi, cũng có 1 giấy khen (số 2317 ngày 15/1/76 và 1 bằng khen (số 1331QN/TƯ, ngày 17/11/1975) về thành tích tương tự như anh. Trong chiến đấu, cả gia đình đã sát cánh bên nhau. Tới đây, họ sẽ lại sát cánh bên nhau đi bầu cử quốc hội, khẳng định thành quả cách mạng mà cả gia đình đã góp phần xây dựng nên.

Giữ vững truyền thống của quê hương, giữ vững thanh danh cách mạng của dòng họ nhiều khi đòi hỏi người dân ở đây phải vượt quá bản thân mình. Cháu đồng chí Hai Đại lấy con gái một gia đình thuộc dòng họ nhà đồng chí Năm Giác. Anh chồng làm thợ hàn chì, đến tuổi quân dịch. Hai ông sui gặp nhau, cũng một ý: “Chưa đi theo giải phóng được thì cũng không thể cầm súng giặc” Ông bố, nói lại với con trai và thở dài. Anh con bàn bạc với vợ và em trai. Anh đặt bàn tay phải lên mặt cái đe và tha thiết nhìn em khẽ gật đầu. Nhát búa loạng choạng giáng xuống. Bàn tay chỉ giập có ba ngón. Anh yêu cầu đập lại. Nhát thứ hai, thành công. Ngón tay cái rời hẳn và 2 ngón kia gãy trẹo. Vợ anh và ông sui đưa anh lên xe hơi chờ sẵn, đến ngay bệnh viện. Bây giờ, anh vẫn là thợ hàn chì. Em anh cũng đã theo nghề. Kỳ này, tỉnh anh được bầu 11, chắc anh đã suy nghĩ sẽ bầu cho ai rồi. Bàn tay mất 1 ngón cái và nát hai ngón khác không thể bỏ phiếu lầm!

*

*       *

Sầm Giang đi dễ khó về,

Khi đi tàu sắt, khi về tàu cây

Theo ý đồng chí Hai Đại và đồng chí Lê Thanh Tùng, bí thư đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh xã Vĩnh Kim thì muốn kể tên những người đã làm nên cái kỳ tích diệt Mỹ – Ngụy đến mức chúng phát ngán mà phải thở ra như vậy, ngoài nhân dân ở dây, còn phải kể tên nhiều người khác. Đồng chí Hai Đại công tác nông hội kiêm luôn cả công tác thương binh xã hội. Nghe bà con phát hiện đồng chí đã tự ra mò ở cái hào sâu bọc quanh đồn Sầm Giang, tìm được hai bộ cốt kèm một cái khóa thắt lưng bằng đồng trên có hình ngôi sao và một băng đạn AK bắn dở. Đồng chí giữ lại 2 kỷ vật và tổ chức trọng thể lễ mai táng 2 liệt sĩ. Có nhạc, trống chầu và nhân dân đến tưởng niệm. Nhiều cô, bác khóc ròng vì biết chắc hai chiến sĩ đó không phải người quê vùng này. Đến nay, chưa xác định được tên các anh. Nhưng Thanh Tùng biết rõ việc các anh làm. Tháng 7 năm 1972, đợt đồng khởi giải phóng Vĩnh Kim lần thứ hai trong năm, Tùng làm biệt động của xã, có nhiệm vụ giúp một đơn vị đặc công từ miền Bắc chi viện đánh đồn quận Vĩnh Kim.Trận ấy, ở mũi phía Tây, 8 đồng chí đã hy sinh, trong khi vượt hào. Một đồng chí hy sinh ngay chỗ cửa trường cấp 1 Vĩnh Kim bây giờ. Bọn giặc tưới xăng lên người anh và thiêu cháy. Người chỉ huy đơn vị, theo đồng chí Tùng còn nhớ rõ, là đồng chí Tám Thổ. Năm ấy, Thanh Tùng mới 17 tuổi và cũng mới tham gia công tác được có 1 năm. Anh đã sớm hiểu thế nào là Tổ quốc thống nhất, và muốn giành thống nhất cho Tổ quốc, cái giá phải trả là như thế nào.

Nghĩa trang liệt sĩ của quê hương cờ đỏ sao vàng đón nhận trước hết hai chiến sĩ vô danh từ phía đầu Tổ quốc lại góp phần giải phóng đồng bào. Cái khóa thắt lưng xanh màu đồng hoen và băng đạn AK bắn dở tìm thấy trong hào sen nọ,đoàn Thanh niên xã xin giữ lấy để giáo dục cho lớp trẻ hiểu thế nào là đất nước thống nhất nghĩa tình Bắc Nam.

Cũng ở đây, ngay bên các bờ kênh, rạch, mương, xẻo hoặc dưới những tán vú sữa mát rượi trong các vườn trái bạt ngàn của Vĩnh Kim, chúng tôi được gặp những người con trai, rất trẻ, con em của quê lụa Hà Tây. Tất cả đều mặc áo màu lá. 20, 21 tuổi đời thôi, nhưng rời quê hương phương Bắc, ra đi vì nghĩa  cả bảo vệ Tổ quốc, bảo bệ Chủ nghĩa Xã hội, các anh đã góp phần không nhỏ giải phóng miền Nam. Các anh tự hào vì mình là con em của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Sinh ra và lớn lên trong cái nôi của Chủ nghĩa Xã hội. Nhưng, qua những tháng năm chiến đấu ác liệt, từ lối sống, ngôn ngữ đến tình cảm miền Nam đã tràn ngập trong các anh. Chính những tình nghĩa ấy giải thích nổi vì sao những năm qua, các anh thấy khó không lùi, trước hy sinh, không do dự… Đào Bá Khanh, năm nay 21 tuổi. Mới nhập ngũ năm 1973. Khanh từng làm bộ đội văn phòng, bộ đội vận tải, và cuối cùng tham gia trừng phạt bọn lấn chiếm, anh trở thành xạ thủ chuyên bắn B40, B41. Cậu con trai út ấy mồ côi cha từ nhỏ. Gia đình có 2 anh tham gia bộ đội. Ít ai tưởng có thể thấy cậu ở chiến trường. Vậy mà Tư Khanh (bà con ở đây quen gọi như vậy) đã đến tận Tây Ninh, Đồng Tháp. Cặp mắt rất tươi, cái miệng đỏ hay cười đùa, nước da trắng thân hình vạm vỡ khó ai tưởng được đó là 1 thương binh. Những mảnh đạn găm trên bụng và lưng. Trong phổi phải còn hẳn 1 viên đạn AR15 của bọn lấn chiếm. Những cử tri bộ đội này sẽ bỏ phiếu theo đơn vị bầu cử riêng. Nhưng vẫn là trên quê hương của cờ đỏ sao vàng. Với những mảnh đạn ở bụng và lưng, với cả cái viên AR15 trong phổi, Đào Bá Khanh cùng các bạn anh sẽ đi bầu cử quốc hội chung của cả nước kỳ này để một lần nữa khẳng định thắng lợi mà các anh đã hiến dâng tuổi trẻ và cả máu nóng của mình để giành lấy từ tay kẻ thù. 18 tuổi, các anh vào bộ đội. Thật ra, từ ngày ấy, các anh đã bỏ phiếu cho Tổ quốc thống nhất và Xã hội Chủ nghĩa rồi.

*

*       *

Xẩm tối hôm ấy, chúng tôi đến nhà cụ Ba Râu – Đặng Thanh Hiền. Râu tóc bạc phơ, nhưng lưng vãn thẳng và dáng đi chắc chắn, nhanh nhẹn. Cụ đốt cây đèn dầu hôi lớn, cho chúng tôi uống nước, rồi hỏi:

  • Thế những người ấy, bây giờ làm thế nào nhỉ? Cả đời chiến đấu cho cách mạng. Nay, danh sách cử tri không có tên, rồi thì thẻ cứ tri, chắc cũng không có. Người, cũng đâu có còn…

Cụ kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện cũ…

  • Cái miếu Long Hưng, những ngày khởi nghĩa Nam kỳ, chúng tôi kêu là Trung ương. Vì nó ở giữa. Trong khoảng 10 ngày ta giữ chính quyền, chúng tôi lập Ủy ban, đi các xã Thạnh Phú, Thới Sơn… tìm tề xã làng có tội đem về đấy xử. Sau vụ ném bom ở chợ Vĩnh Kim, xe bay còn tấn công cả vào khu miếu. Ném bom dữ lắm. Ông Bẩy Hương chết lần ấy. Lính đầu đỏ tấn công luôn. Tư Vĩnh, Năm Đại bị bắt đi tù. Ba Cò thì bị bắn chết ngay trên ngọn dừa. Tư Hiệp bị giặc bắt, nhảy xuống sông tự tử, không chịu chỉ chỗ các đồng chí ẩn nấp. Tụi tôi họp nhau lại ở nhà Bẩy Quới, giết con trâu của Bẩy Quới nhậu với nhau một bữa thật đã. Nhiều anh đòi tự tử để giữ khí tiết. Anh Hai Đẩu (tức đồng chí Thái Văn Đẩu, anh đồng chí Nguyễn Thị Thập) bảo: “Phải biết mai danh ẩn tích, cố gắng chờ đợi, có thời cơ, lại làm một cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thứ hai”. Nói rồi anh em chia tiền cho nhau và chia tay. Các anh Bẩy Ghè, Bẩy Quới, Năm Giác, v.v… kéo nhau vào rừng, ở một cái gò. Cứ thấy động, lại đi vào xa mãi. Giặc lùng không được. Chúng cho lính đầu đỏ bao vây Long Hưng, cho tên hương quản Công chọn một tiểu đội ác ôn toàn những tên có võ, dùng roi, xung phong vào gò me. Hết đường chạy. Anh em ta quyết không chịu để lọt vào tay giặc, bàn nhau cùng tự sát. Bẩy Quốc là người bạo tay nhất, xé áo làm giây buộc tay hai anh kia lại, để nằm kề cổ vào 1 cái rãnh nhỏ mới đào, rồi lấy mã tấu cắt cổ hai anh. Vừa khứa tới họng thì lũ lê dương và bọn ác ôn ập đến. Bẩy Quới vội quay mã tấu rạch ngay bụng mình rồi nhảy ra chém giặc. Anh bị 1 phát đạn, ngã hẳn. Hai anh Năm Giác và Bảy Ghè bị chúng bắt, tù, rồi năm 1941 cùng bị kết án tử hình một lần tại Sài Gòn.

Còn Đảng, còn dân, còn cách mạng. Ở trong tù anh Năm Giác anh ấy vẫn làm thơ…

Vừa lúc ấy, cô Út Mười Hai con cụ vào nhà, nhắc cụ đi họp ấp. Cụ lấy 1 nắm lá dừa khô, bó lại thành đuốc, châm vào ngọn đèn to lửa và đi đầu soi đường cho chúng tôi. Qua những cầu khỉ, cầu thân dừa, tới một chỗ cây cối rậm rạp. Cụ Ba Râu giơ cao bó đuốc huơ huơ cho sáng, chỉ cho chúng tôi di tích ngôi miếu cổ – nơi từng được gọi là Trung ương.

Và cứ theo ánh đuốc của người chiến sĩ từng tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm xưa, chúng tôi đến ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng để nghe công bố danh sách cử tri đợt 1 bầu cử quốc hội chung của cả nước.

Trong bóng tối lung linh của đêm cuối xuân miền Nam dịu dàng, chúng tôi thấy những ánh đuốc, những ngọn đèn vàng lấp lánh sau những dặng dừa, như những ngôi sao, cứ tụ hội lại càng ngày càng nhiều càng ngày càng sáng. Và bỗng tưởng như hiểu được vì lẽ gì cờ của chúng ta màu đỏ, mà sao của chúng ta lại vàng ngời ngời: Đó là ánh sáng trí tuệ của toàn dân ta kết tinh nơi Đảng!

Bài: Nguyễn Trung

Ảnh: Trần Duy Thăng

Tháng Mười 25, 2019

Vui sống giữa lòng Miền Nam giải phóng – chuyện một người cháu ngoại

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 11 năm 2019

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

3- Vui sống giữa lòng Miển Nam giải phóng

Mở đầu năm 1976 là cơ quan chuyển trụ sở sang nhà 290 Điện Biên Phủ quận 3 thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nhà ở của quan chức cao cáp công ty cao su của Pháp. Nhà nằm sâu trong một ngõ nhỏ trồng trúc kín hai bên. Phòng khách bày bàn nước là tấm ván lớn thân cây cao su cực lớn cưa ngang, đã lên nước màu nâu rất đẹp. Có một buồng nhỏ trang trí theo kiểu Nhật Bản, trải thảm tatami.

Cơ quan có bếp ăn hẳn hoi do một chị người miền Nam đảm đang lo cho cả cơ quan, luôn thay đổi món ăn, thứ bảy chủ nhật thường là các món ăn tươi như bún bò, phở… Anh Lê Mộng Đinh nay chuyên lái xe ba bánh Oét của anh đưa đón anh em công nhân ngoài Hà Nội mới vào hiện chung sống ở đường Đồng Khởi. Chúng tôi cũng được giải phóng khỏi việc nấu nướng. Hằng ngày, Sơn chở tôi xách cặp lồng sang đây lấy cơm canh về cho nhóm 22 Tú Xương ăn, nay chỉ còn anh Thép Mới, Sơn và tôi.

Anh em trẻ ở cơ quan có vẻ không vui.  Trưa 8/1, Nguyễn Văn Phú đang mê cái xe PC mới mua nhưng một đêm để ở sân trong ngõ ngay trước bàn thường trực vậy mà mất, cứ ngẩn ngơ cả người.

Mình thì có nhiều mối lo. Em Nhàn về Cà Mau đi thăm bà con bên chồng ai cũng khen con gái Hà Nội xinh quá, đến nhà nào cũng mời ăn uống vui vẻ và nói là vào đây là đúng lắm, chồng Nhàn là thứ chín, nhiều anh chị, dưới còn mấy em. Ai cũng làm ăn cả, mỗi nhà cho một ít thì thừa dùng, khỏi lo mua gì. Nhưng khi cả nhà biết nàng dâu xinh đẹp chỉ có hai bàn tay trắng, thì cách đối xử cũng khác. Em Nhàn buồn lắm, hai vợ chồng bàn nhau xin ra ở riêng. Em nhận công tác ở phòng mẫu giáo, trụ sở chính lại đóng tận Bạc Liêu cách 70 km.  Xin vay tiền mua cái nhà toàn bằng tôn cạnh một hồ lớn, vợ chồng và hai con về ở cho yên thân. Viết thư cho Nhàn, mình dặn đừng kể khổ làm mẹ buồn hai anh em cố gắng tự giải quyết. Nhân anh Trần Thăng phóng viên ảnh ra Hà Nội, nhờ mang ra cho mẹ một gói tôm khô rõ to em Nhàn gửi cô Trung vừa đưa cho tối qua. Thư mẹ viết ngày gần đây kể cả nhà yên vui, quá đầy đủ rồi ý mẹ nói đã nhận được cái quạt trần mơ ước bấy lâu, cái ra đi ô con và mấy thứ lặt vặt mình gửi ra. Thật tội nghiệp. Mẹ đã từng sống một cuộc sống thế nào mà nay chỉ với mấy thứ đó đã làm mẹ mãn nguyện. Có lẽ mẹ cũng muốn cho các con ở xa vui lòng nên mới viết thế…

Trưa 16/1/1976 nhận được hai lá thư. Một của anh Đào Năng An, trưởng phòng tư liệu khuyên mình mau lấy vợ đi, kẻo lại cha già con cọc như anh. Thư thứ hai là của cô bạn. Thư viết ngày 26/12/1975, đóng dấu bưu điện Hà Nội ngày 10/1/1976, chắc là lưỡng lự mãi rồi mới gửi. Quả tình trong thư có những câu thật xúc động không dễ viết: Tôi không còn tin vào sự thử thách của thời gian, vào lòng người, nhưng tôi nghĩ là với anh, tôi có thể tin vào những gì mà con người có được. Anh hãy sống bình thường, làm việc bình thường đi, rồi mọi việc sẽ đến. Nếu gặp sẽ nói với anh nhiều điều. Điều gì nhỉ…? Khoảng 25 Tết cô sẽ vào Sài Gòn, sau đó đi Tây Nguyên viết một số phóng sự.

Mình đọc lại thư cô viết ngày 1/12/1975 thấy có đoạn: Những con người ấy (nhân vật của Ramangne – nhà văn Đức) tỉnh táo, hành động quyết liệt tự giải thoát mình để sống và hướng tới tương lai. Như vậy là hơn cứ ngồi quẩn quanh với những triết lý mơ hồ mà không hành động gì cả… Giờ đây tôi thấy điều đó rõ lắm, không một cái gì tiêu diệt mình mau chóng bằng sự đầu hàng của mình.

Chủ nhật 18/1 đến nhà bác Thông bà chị họ của mẹ có con dâu làm quản gia cho dược sĩ Phạm Thị Hảo em ruột mẹ, tìm được khá nhiều ảnh cũ của gia đình từ ông ngoại đến bố mẹ mình, các cô các cậu, các bác, toàn là những ảnh kỷ niệm rất quý của đại gia đình. Mình gửi cho mẹ hai lần và dì Thức, cậu Tuyên mỗi người một lần đều gửi bảo đảm, chỉ sợ mất. Quà Tết Bính Thìn của mình như vậy cũng có thể đem lại niềm vui cho cả nhà và là món quà độc đáo không gì sánh nổi. Tiếc là gần đây, hỏi em trai là người cuối cùng ở nhà 16 Hàng Da yêu quí trước khi bán lại cho em trai vợ thì được biết là mất hết, không còn gì.. Tiếc vô cùng.

Đi mò sách, mua được từ điển Micro Robert (Robert tí xíu) và Tchékhov par lui-même (Txê-khốp tự thuật)

Tối 20 và 21 đều bám xe cậu Vượng đi nhậu rất ngon và vui vì cậu chân tình, yêu mến mình muốn cho mình được nếm món ngon Sài Gòn cho biết. Thậm chí còn cố nhét vào tay mình 20 đồng. Tết này, vợ chồng cậu và nhà cô Trung mở hai gian hàng bán quần áo ở bên ngoài chợ Bến Thành. Gian của vợ chồng cậu lấy tên là Thiên Ý, gian nhà cô Trung lấy tên Thu Trâm là tên con gái út. Đang có đồng vào, cậu mua bia và cả một đĩa tôm hùm thái lát chấm muối tiêu đãi ông cháu chưa bao giờ được ăn ngon.

Cho ben thanh

Mấy ngày nay bận quá vì vừa lo tư liệu cho bài báo Tết của anh Thép Mới lại lo các việc liên quan bài Xốc tới ngày 3-2 năm nào. Ngày 18/1, báo Giải Phóng tự ý đăng lại bài này mà không hỏi ý kiến anh Thép Mới cứ sao y bản cũ. Ngày hôm sau, anh Thép Mới gửi công văn phản đối, yêu cầu ngừng đăng và đăng lại theo bản đã chữa. 22/1, báo Giải Phóng thông báo hoãn đến 3-2 sẽ đăng lại, đồng thời đăng quảng cáo báo Xuân báo Nhân Dân. Trưa 21, mình và Sơn đến sân bay đón ông Thế Lữ để lấy báo Tết. Tờ báo xấu quá, nhỏ và lem nhem như báo Thiếu Niên tiền phong ngày thường. Bài của anh Thép Mới vừa bị cắt ngắn đến què quặt, vừa đầy lỗi chính xác. Anh Thép Mới viết ngay thư phản đối, phê bình ban báo Tết và ban thư ký rất nặng nề. Từ tờ lá cải chắp vá đến nhàu nát này, anh thấy một sự sa sút về tư tưởng của anh em ở Hà Nội trước tình hình mới, một sự xộc xệch nguy hiểm về tổ chức. Sáng 22/1 tổng biên tập Hoàng Tùng về Hà Nội đã quyết định không cho phát hành báo Tết Nhân Dân ở Sài Gòn, còn anh Thép Mới thì điện ra yêu cầu trả bản thảo Xuân Trường Sơn với Xuân Cà Mau để đăng toàn văn trên báo Sài Gòn giải phóng. Anh nói các đồng chí ở Hà Nội quả là đang muốn xả cản, tọa hưởng kỳ thành, trong khi thật ra cuộc chiến đấu đang còn tiếp diễn gay go phức tạp khó khăn hơn chiến đấu bằng súng đạn nhiều. Chính mình đã biết không ít người của ta đã hi sinh về mặt chính trị, đạo đức, một cái chết thật nhục nhã giữa thời bình.

Vừa nhận thư Vũ Văn Chỉ, rời quân ngũ về thấy buồn vì cuộc đời còn chưa tươi đẹp như mơ ước. Còn thư mẹ thì chỉ mong cậu Khuê vào trong ấy chắc con đã gặp và đối đãi thân mật với cậu như thường thì cậu sẽ hiểu mà nghĩ lại. Thật tội nghiệp mẹ khi nào cũng muốn gia đình êm ấm.

Mình đang ngồi viết những dòng này trong một căn buồng rộng, thoang thoảng hương dạ lan và thánh thót tiếng nhạc bài ca Nhật Bản Sakura tha thiết, thấm thía, trong sáng như những tình cảm chân thành sâu xa nhất.

*

*     *

Tranh thủ thời gian rảnh đọc Tchékhov, rồi lại đọc Tolstoï. Thật ra rất bận, toàn việc khẩn cấp, nóng bỏng, gắn mình với cuộc sống sôi động của Sài Gòn mới giải phóng. Sáng 27/1, nhận được một loạt thư của mẹ, chị An, anh Đại, chị Thủy, em Thân và hai cháu Ngọc, Hồng con anh Đại. Chị Thủy viết: Năm mới, chị chúc Thành tuy ở Sài Gòn nhưng bao giờ cũng là Thành như khi ở Hà Nội. Chị lo là đúng, nhiều người vào Sài Gòn là biến chất hẳn, chẳng học được cái gì hay mà học toàn thói xấu của Sài Gòn cũ mà lấy thế làm tự hào. Thư nhà bao giờ cũng là món ăn tinh thần bổ ích và yêu thích nhất của mình.

Buổi chiều, đi làm về thì thấy cô bạn đang vui vẻ ngồi trên cái võng mắc ở bụi tre ngà mé trái cổng vào nhà. Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đi cùng cô. Mình chờ theo hẹn từ ngày 25, nay hết mong thì lại gặp. Hai chị em hiện là khách của hội văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh nên ở ngay đầu đường Tú Xương mình ở. Cô có vẻ rất thích bụi tre này và cả cái võng cứ như ở Trường Sơn. Một lần họp cơ quan, anh em đưa ý kiến chặt bụi tre đi lấy cái làm chuồng gà, vừa lợi về kinh tế, vừa đỡ công quét lá. Mình xin giữ lại, nhận hằng ngày quét lá tre rụng. Vì thế mới còn cái bụi tre mà nhân viên CIA từng ở đây đã có con mắt nghệ thuật đem từ xa về trồng. Tôi cùng hai bạn về nơi ở tạm, thấy có đủ máy lạnh, tủ lạnh… Thế là tôi đi một lúc mang về cho vào ngăn đá hai vỉ kem đựng trong từng ô nhỏ, đủ các vị cam, chanh, bạc hà, sữa, xô cô la. Còn mang về một lô chai nước ngọt để ngăn mát. Như một người anh chăm sóc em gái. Ngày hôm sau anh Thép Mới ra Hà Nội, dặn lại tôi lo trông nom cơ quan và viết tường thuật Tết Sài Gòn gửi ra cho anh. Bấy giờ cơ quan chính là 290 Điện Biên Phủ. Ở 22 Tú Xương chỉ có Sơn, tôi và thêm một bạn mới là Nguyễn Quang Bình, cũng bộ đội, dân Nam Định như Trần Thăng nay về làm văn thư đánh máy như hồi còn tại ngũ. Bình còn vương sốt rét. Ông bố Sơn, chủ hãng sơn Đông Á đến thăm chúng tôi, mở tủ lạnh, thấy toàn nước lạnh. Chúng tôi khoe đã chuẩn bị hai thùng mì ăn liền loại ngon, cũng có một bó hành, ngò và ớt tươi để ở ngăn rau. Ông bảo Tết nhất cũng phải nhớ giữ bữa, đừng mải chơi mà lơ là. Rồi ông đi một lát, đem về cho vào tủ lạnh hai con vịt quay béo, bảo bận thì cứ xẻo thịt vịt cho lên vắt mì rồi giội nước sôi là xong. Chúng tôi mừng ra mặt, biết ông thương con trai phải đồng cam cộng khổ với lũ Việt Cộng quen khổ rồi.

Tôi lo nhất là việc tường thuật Tết nơi thành phố mình chưa quen biết. Tôi mời anh Nguyễn Ngọc Lương bạn anh Thép Mới lại vốn là chủ bút tạp chí Tin Văn tờ báo công khai duy nhất của ta ở Sài Gòn tạm chiếm, làm cố vấn, cùng tôi đi dạo quanh Sài Gòn đêm 30 Tết. Tôi sang hội văn nghệ mời hai bạn gái đi chơi 30 Tết, nói rõ là cùng đi có anh Lương, một nhà văn cũng dễ thương như anh Nguyễn Khải. Vừa nói thì đã bị hai bạn nhìn nhau bĩu môi cười. Cô bạn nói và được chị Thanh Nhàn ủng hộ ngay là đi chơi là đi chơi, không được nói đi chơi mà lo hành nghề là không được đâu. Tôi hứa với hai bạn là không mang bút giấy máy ảnh gì theo, Chua vinh nghiem.pngchỉ đưa hai bạn di chơi cho biết Tết Sài Gòn thôi. Nói thế, xong về nhà tôi phải bàn với Sơn là trót hứa rồi, nên Sơn có nhiệm vụ nhớ kỹ những nơi đi để khi tôi viết cần gì thì sẽ hỏi. Rồi ba chúng tôi xẻ thịt con vịt quay ăn mì ăn liền như ông bố Sơn bảo. Quang Bình ở nhà ôm súng AK bảo vệ cơ quan, tôi và Sơn lên đường đón anh Lương rồi đến đến hai bạn gái. Tôi ngỡ ngàng khi thấy hai chị em mặc áo dài màu sáng đẹp. Cô bạn mặc áo dài xanh, cũng duyên dáng đáo để. Qua chùa Xá Lợi xem cho biết, chúng tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm hai bạn gái vén áo dài quỳ lễ rất điệu nghệ, còn xóc thẻ xin xăm nữa. Ở chùa ra, chúng tôi tôi đi xuôi về Chợ Lớn, đến rạp hát Lệ Thanh…

Mấy ngày Tết hai chị em ở chơi Sài Gòn, tối nào chúng tôi cũng đưa đi thăm thú Sài Gòn về đêm và ăn uống những thức ngon vỉa hè Sài Gòn quanh khu chúng tôi ở. Bạn Sơn là thổ công nên biết nhiều ngóc ngách có món ngon mà rẻ. Sài Gòn có nhiều hẻm, chỗ các hẻm giao nhau thường là tụ điểm hàng ăn vặt. Một xe đỗ bán bánh đúc nóng hành mỡ, món lạ miệng với dân Hà Nội chuyên ăn bánh đúc nguội với tương Bần, rồi cạnh đó là hàng sâm bổ lượng, chè ngọt lại có mộc nhĩ thái chỉ, cũng là món lạ, tất nhiên bao giờ cũng có hàng trứng vịt lộn, trong này gọi là hột vịt lộn, đập giập một đầu vỏ trứng rồi lấy thìa nhỏ múc ăn, không bóc vỏ trứng cho nhân ra bát ăn như ở Hà Nội. Khách chọn một bàn làm trụ sở, gọi món của chủ bàn ấy xong lại gọi món của các xe khác, cứ ngồi một chỗ mà gọi đồ ăn thức uống, ăn xong chủ hàng nào đến tính tiền nấy. Sơn đứng ra thanh toán hết, theo giao ước, tôi chịu một nửa. Cậu ta cũng muốn có thêm bạn Hà Nội. Có hôm tôi đến đón hai chị em gặp cả chị Hà Phương ở báo Văn Nghệ, cũng mời đi luôn. Hồi ấy chị Hà Phương mới mua được cái mô by lét xanh, chạy khắp nơi. Còn nhớ chị ấy dặc biệt ưa ăn hột vịt lộn kiểu Sài Gòn.

Cũng có hôm, một mình tôi đến thăm hai chị em vào buổi trưa, gặp lúc đang cùng bạn bè trò chuyện, tôi cũng ngồi vào luôn, coi như chỗ quen biết cả. Thật ra tôi chỉ biết anh Thanh ở đài Giải Phóng và anh Sơn bên tuyên huấn. Các bạn đang sôi nổi trò chuyện về sách mới mua được. Tôi chỉ ngồi nghe, mãi đến khi thấy nói mãi về Cuốn theo chiều gió chỉ thấy khen lấy khen để tôi mới đề cập một chuyện chưa ai nói. Mọi người có vẻ tán thành điều tôi vừa nêu. Thì cô bạn bỗng nói làm sao mà cái gì người cũng biết mà lại còn hiểu sâu sắc thế… Tôi phải nói ngay, từ đầu đến giờ tôi ngồi im nghe chứ có nói gì đâu, vì những điều các bạn nói tôi không biết, hoặc biết rất lơ mơ. Đến chuyện này tôi mới nói, vì có biết, còn sâu sắc thì đó là tôi nói theo ý của George Sadoul nhà phê bình điện ảnh Pháp chứ có phải tôi nghĩ ra đâu…

Sau đêm 30 Tết phò nhị tẩu,  tôi và Sơn lại tiếp tục công việc được giao viết tường thuật Thao Cam VienSài Gòn Tết Bính Thìn. Sáng mồng một, chúng tôi đi xe máy qua sứ quán Mỹ cũ đến Thảo Cầm Viên xem thiên hạ vui chơi. Chiều để Sơn về nhà còn tôi cắm đầu viết bài rồi ăn mì ăn liền vịt quay với Quang Bình. Tôi cố viết hết những gì mình thấy, cảm và nghĩ. Cứ cho tất cả ra giấy đã, như đưa cho anh Thép Mới một khúc gỗ tốt, tùy anh đẽo gọt, cắt xén làm thành bức tượng như anh biết đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Hà Nội và miền Bắc muốn biết về Sài Gòn ngày Tết Thống Nhất đầu tiên thế nào. Vì thế tôi viết rất dài, đến sáu trang đánh máy, chỉ sợ quên mất chuyện gì hay thì phí quá. Cuối bài viết tôi ghi hai chữ PV mà không ghi tên mình. Một là vì giữ lời hứa với hai chị em nhà báo chỉ đi chơi, không hành nghề tối 30 Tết, hơn nữa bài này có phải mình tôi viết được đâu. Nếu không có anh Lương, một người Bắc rất hiểu và yêu Sài Gòn từng sống mấy chục năm ở đây và Sơn, anh bạn trẻ có trí nhớ rất tốt và luôn cố gắng giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Ngay tối mồng một Tết, chúng tôi hoàn thành bản thảo đánh máy bài Dạo quanh Sài Gòn Tết Bính Thìn để mồng bốn Tết, chị Hà Hoa ban công thương cùng Nguyễn Văn Phú ra Hà Nội sẽ mang cho anh Thép Mới.

Xong công việc, mồng hai Tết tôi mới đi thăm được bác Phương bị ốm, biếu bác cân đường tiêu chuẩn Tết vừa được phân phối, thăm chị Kim Anh, chở chị đến nhà bác Phương rồi đến nhà cô Trung, xuống nhà bà Cửu ăn cơm với cả nhà.

Tối, cô bạn đến rủ đi chơi, không biết có phải định nói riêng với nhau điều gì không, vì Pham Thi Gia viet thu.pngquả thật, mấy ngày qua chúng tôi gặp nhau nhiều nhưng bao giờ cũng có khá nhiều nhân chứng không có phút riêng tư nào. Tiếc là tối ấy là phiên tôi phải trực. Phải cho Sơn là con trưởng về nhà chứ. Còn Quang Bình suốt tối 30 Tết ở nhà một mình, giao thừa phấn khởi bắn một tràng AK vẫn thấy cô đơn, tối mồng một cũng cắm đầu đánh máy bài dài dằng dặc của tôi, cũng phải để cho đi tìm bạn bè đơn vị cũ chứ. Vì thế, tôi đành nói thật là phải trông nhà, chỉ có ba anh em, họ làm việc nhiều rồi, cũng phải để cho nghỉ chứ. Cô chỉ nói anh hãy sống như những người đàn ông khác, sống bình thường thôi.  Tôi nhớ như ý này cô đã viết trong thư gần đây…

Ngày 3/2, mồng bốn Tết, xong mọi nhiệm vụ công tư ba đứa chúng tôi Sơn, Bình và tôi đi xem phim Ba Lan Đại tá Vô-lô-đi-dốp-xki, bộ phim được dân Sài Gòn đang rất hâm mộ. Phim này tôi đã xem hai lần ở Hà Nội mà xem lại vẫn thấy hay. Có lẽ vì vừa qua một cái tết thật vui, đáng nhớ.

Này 6/2, nhận thư em Nhàn, buồn lắm, 29 Tết phải dọn nhà, đến sống ở căn nhà nhỏ toàn tôn tứ bề hai vợ chồng vay tiền mua để có chỗ ở độc lập tự do. Em kể là hôm mẹ con dắt díu nhau theo xe bố chở đồ đến nhà mới, còn bị mẹ chồng chạy theo đòi lại cái can nhựa đựng dầu hỏa. Em phải bảo chồng dừng xe lấy cái xô tôn đổ dầu hỏa ra để trả lại cái can. Thật không còn biết nói gì.

Chiều thứ ba ngày 10/2, anh Thép Mới vào đem cho thư của mẹ. Mẹ viết thư cho mình từ ngày 5 đến 10 Tết,  sáu trang đầy chữ mà mẹ viết là vài hàng thăm con rồng của mẹ (Tôi tuổi Canh Thìn). Xem ra mẹ vẫn hy vọng là mình có tài năng và sẽ có ngày phát huy. Bà mẹ nào cũng thấy con mình là hay là giỏi cả.

Cô bạn đang đi Đà Lạt, đọc báo Nhân Dân ngày 6/2 sẽ đọc được bài Dạo quanh Sài Gòn Tết Bình Thìn, dù không đề tên, chắc cũng biết là mình viết, và hiểu cho nhờ thế mà có xe con, có lái xe đưa hai chị em đi chơi Tết Sài Gòn, chứ cỡ mình bấy giờ thì đến cái xe đạp tàng cũng chưa có.

Ba anh em ở Tú Xương thì rất vui khi đọc bài này, vì đó là bài của chúng minh. Anh Thép Mới cắt đi một nửa nhưng không sửa chữ nào cả. May quá.

Tối 11/2, cùng Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Sơn và cô bạn ra chơi bến Bạch Đằng, ăn kem, uống bia, nói chuyện phiếm đến 23:00 mới về. Sáng 12 cô về Hà Nội.

*

*     *

Tối 10/4, nhận lời nhắn mình đến nhà Nguyễn Văn Sơn ở 290 Công Lý nghe nhạc Paganini, Chopin, Beethoven và tất nhiên là cả Johan Strauss nữa mà ai cũng hâm mộ. Có Phan Thi Thanh Nhan.pngcả Phan Thị Thanh Nhàn đến nghe. Bạn Sơn thật dễ mến, chu đáo, có đậu phộng da cá, bia và trà, trong căn buồng đèn vàng rèm màu hạt dẻ, dài che các cửa sổ lớn, bàn nước kính sạch sẽ mà chủ nhà vẫn luôn tay lau không để một giọt nước một hạt bụi vấy bẩn. Anh học sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1969 xung phong nhập ngũ đi B ngay sau khi xong huấn luyện. Nay là cán bộ của thành ủy Sài Gòn, trực thuộc tiểu ban Văn nghệ. Tòa nhà anh ở là cả một tập hợp những văn nghệ sĩ chiến khu về, trên tầng cao nhất là cặp nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang nổi tiếng.

Lúc về, chị Nhàn hỏi mình đối với cô bạn là thế nào, rồi không chờ trả lời, chị nói ngay là người yêu phải không nào. Còn nói là cô bạn hay nhắc đến mình lắm. Bị đột kích, nhưng mình bình tĩnh nói ngay: Chị hỏi tôi làm gì. Cô ấy biết rõ và cô ấy mới có quyền quyết định xem tôi là gì của cô ấy chứ.

Từ đấy tôi không có dịp nào gặp chị Nhàn nữa.

Tôi vốn muốn mọi việc trong đời mình đều rõ ràng, minh bạch, chính đại quang minh cho nên hơn 40 năm sau,  sáng 29/4/2019, tôi gọi điện thoại cho cô bạn. Bây giờ cô đã 70 tuổi và là bà ngoại của một bé gái. Còn tôi 79 tuổi, có hai thằng cháu nội, một con trai, một con dâu. Tôi nhắc chuyện cũ, sau hỏi có biết sau đó chị Nhàn gặp tôi nói gì không. Cô bảo không biết. Tôi kể lại cuộc trao đổi của chúng tôi tối 10/4/1975 ấy. Cô buột miệng: Thật là tiếc. Nếu lúc ấy anh nói thật ra, thì đã khác. Tôi nói ngay làm sao tôi dám cài mìn vào đời ai. Vừa bị loại ngay trước trận mở màn Buôn Ma Thuột… làm sao tôi quên được. Còn nếu như có ai đó vẫn cứ muốn cùng sống chết thì…xin mời…

Sáng sau lại cùng nói chuyện cũ. Mấy ngày sau đó, theo ý cô, chuyển sang nói chuyện buổi tối. Đủ mọi chuyện, rất vui vẻ và thật thà. Tình cờ chồng cô lại là người tôi biết hồi Tết Bính Thìn ấy. Tôi cưới năm 1978 nhưng đến 1983 mới có con trai đầu lòng sau một lần vợ bị sảy. Cũng năm ấy, cô sinh con gái … Cuối cùng tôi nhờ cô một chuyện là tìm cho tôi tung tích của Rosa người mà cô cũng quen từ rất lâu. Tôi nói là cho đến nay tôi vẫn thương Rosa lắm, muốn biết họ đã đem lại cho Rosa những gì đã hứa chưa, nay cô sống có hạnh phúc không…

Rồi tôi chờ hơn hai tháng, đến tối chủ nhật 2/7 mới lại gọi điện cho cô.

Cô bắt máy, hỏi có chuyện gì không anh. Nghe là tôi hiểu cô chưa giúp việc tôi nhờ. Nên tôi bảo hết chuyện rồi. Cô nói đúng là hết chuyện rồi… mà tôi xin phép anh, tôi có chút việc bận cần đi ngay…

TP Hồ Chí Minh 13/9/2019

P.T.

(Còn nữa)

Dạo quanh Sài Gòn Tết Bính Thìn

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 9:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 11 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

DẠO QUANH SÀI GÒN TẾT BÍNH THÌN

(Bài đăng trang cuối báo Nhân Dân ngày 6/2/1976. Ảnh minh họa là của Blog PhamTon thêm vào)

Chiều 30 Tết

Những gian bán hàng tết xinh xắn, đủ màu sắc, bao quanh chợ Bến Thành đang lần lượt được dỡ ra, như để chính thức chuyển hẳn cái tết chuẩn bị náo nhiệt ngoài đường phố, thành cái tết ấm cúng, sâu xa trong từng gia đình Sài Gòn.

Sài Gòn lên đèn

Bảng tin lớn chạy điện trước chợ Bến Thành lần lượt hiện lên dòng chữ nhắc đồng bào chú ý đón coi thư chúc tết Bính Thìn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Trước cửa các cơ quan và nhiều nhà đồng bào, trên nền đỏ hoặc xanh lá mạ, nổi bật các dòng chữ: Tết Việt Nam toàn thắng, độc lập, thống nhất, xã hội chủ nghĩa – Mừng xuân thống nhất, xã hội chủ nghĩa – hoặc ngắn gọn hơn: Mừng xuân đại thắng.

dai su quan My.png

Tòa đại sứ Mỹ, cái khu nhà có tường cao chắn quanh kín mít, còn cái mặt nhà to thì đầy những cửa sổ nhỏ ti hí như những con mắt lấm lét rình mò – hôm nay đã bị trám giữa cổng một tấm biển đỏ, chữ vàng mừng xuân. Dưới đó, một anh bộ đội trẻ đang nắm chắc tay súng, tươi cười ngắm các bạn trẻ và các em nhỏ vui vẻ kéo nhau tới Thảo Cầm Viên. Mấy ngày tết này, Thảo Cầm Viên mở cửa suốt từ 6 giừ sáng tới tận 12 giờ đêm.

Tối 30

Trời mát dịu. Đường phố Sài Gòn – Gia Định có vãn bớt người. Còn dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị cỗ bàn chứ!… Nhưng trước rạp Lệ Thanh ở Chợ Lớn thì mọi thứ xe đều dồn ứ lại. Nhiều đồng bào vẫn giữ thói quen đi coi hát tối 30 để về nhà vừa kịp đón giao thừa. Trong nhiều nhà hàng, nhiều quán ăn nhỏ trên lề đường, vẫn còn người ăn nhậu. Tại một tiệm uốn tóc nhỏ, anh thợ uốn tóc vẫn chăm chú làm đẹp cho một khách hàng phái đẹp. Còn vài ba chị nữa ngồi chờ… Trẻ em xúm lại từng nhóm, đốt pháo cái một. Lúc ấy, trên màn ảnh nhỏ vô tuyến truyền hình Giải Phóng, chị Ngọc dễ thương đang dịu dàng, rành rẽ kể cho các em nhỏ và mấy chú gấu, voi, mèo… ngộ nghĩnh nghe sự tích con rồng thần thoại kỳ lạ và cả chuyện những con rồng lửa Thăng Long oanh liệt đã từng hạ cả đàn diều hâu B52 của giặc Mỹ…

Năm Rồng – Bính Thìn đang đến dần.

Giao thừa

Pháo nổ. Pháo nổ rất nhiều, rất giòn giã. Nhưng vẫn chưa đến giao thừa. Người Sài Gòn không thể giữ mãi bánh pháo mong ước mà không đốt. Bao nhiêu năm bị cấm đốt pháo rồi. Vì “lý do an ninh”. Từ năm 1968, tết nào Thiệu cũng sợ lại là một tết Mậu Thân mới… Trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nơi từng là trụ sở Ủy Ban quân quản thành phố Hồ Chí Minh kết đèn màu, nổi lên lộng lẫy. Chân dung lớn Bác Hồ thật hiền, thật tươi. Trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhà hai bên đường bầy san sát những ban thờ đón giao thừa, đèn nến sáng chưng, hương khói nghi ngút. Ở bến Bạch Đằng, những con tàu đậu lại đều rực rỡ đèn hoa, hắt sáng nhiều màu xuống những khách hàng đang nhậu lai rai tại các bàn nhỏ bầy ngay bên bờ nước, quyết đón giao thừa ngay tại bến.

Từ khoảng hai mươi bốn giờ kém mười lăm, cả “kho” pháo của người Sài Gòn – như niềm vui chất chứa bấy lâu nay – bùng nổ. Nhiều người bỗng nhắc nhớ những ngày xuân Mậu Thân thân thiết của đời mình. Những dây pháo dòng từ lầu ba, lầu tư xuống sát ban thờ đón giao thừa. Pháo cối. Pháo đùng, Pháo chuột. Pháo toàn hồng, nở tung như hoa. Đặc biệt tết năm nay, Sài Gòn nổ nhiều pháo để dành từ hồi Tết Mậu Thân, và cả pháo Hà Nội, pháo Bình Đà do các cơ quan ở Thủ Đô gửi cho cán bộ xa nhà vui tết.

Đi qua Phú Nhuận, chúng tôi thấy một nhà trệt, mở rộng cửa. Hai anh chắc là con trai, bê cả cái ghế trên có một cụ già bại liệt râu tóc bạc phơ ra tận hè phố. Mắt ông cụ sáng lên, miệng nở nụ cười khoan khoái. Mọi năm, cúng giao thừa xong là phải dẹp vội ban thờ vào nhà, khóa cửa lại. Giới nghiêm mà. Vì “lý do an ninh”. Cúng ông bà ông vải một năm có một lần mà cũng phải cúng vội cúng vàng để còn dọn cho xong trước giờ giới nghiêm. Năm nay, cụ ngồi đấy mà dón chào năm mới, mát lòng mát ruột ngắm đám trẻ ùa ra đường, áo quần tinh tươm, tay cầm tay, tay cầm hoa, hớn hở ca hát trò chuyện đi trên con đường – năm mới của thành phố giải phóng. Cả niềm vui cũng được giải phóng.

Tôi bỗng nhớ bài hát tranh đấu năm nào của tuổi trẻ đô thị miền Nam, bài hát như được viết ra ngay trên mặt đường:

            Xuống đường, xuống đường

            Đập tan mọi xích xiềng

            Quyết đứng lên đấu tranh giành chính quyền

Và chợt hiểu vì sao các bạn trẻ muốn đón năm mới ngay trên mặt đường: mùa xuân lớn năm nay đâu có chịu gò bó trong bếp hẹp gia đình:

Sáng mùng một tết

Thật ra, chúng tôi đã cùng tuổi trẻ Sài Gòn bước vào năm mới ngay trên mặt đường. Nhưng, sau một giấc ngủ ngắn, thấy mặt trời tỏa những tia ấm đầu tiên trong sương sớm, người Sài Gòn mới thấy rõ ràng là năm mới đã đến thật. Cả Sài Gòn yên tĩnh, trời mát dịu. Không khí trong lành, thơm hương hoa và nhựa mới. Chúng tôi cùng các đồng chí phụ trách quận 1 – quận trung tâm của Sài Gòn – đến vườn hoa Chi Lăng đặt những vòng hoa tươi trước đài liệt sĩ quận nhà. Trong khói hương ngào ngạt tỏa ra từ một đỉnh đồng lớn đặt trước đài, hòa với tiếng nhạc Hồn tử sĩ lắng đọng sâu xa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh cho Tổ quốc, cho thành phố thân yêu. Ngay tại quận này trong những ngày xuân Mậu Thân, một tốp anh em biệt động ta đã tiến công vào dinh “độc lập” (mà dân Sài Gòn thường ưa gọi là dinh “Đập Lột”) rất đúng giờ quy định, làm chủ ngay được tình thế. Nhưng bọn địch hoàn hồn đã phản công dữ dội tụ tập đông cả bầy, dùng đến cả hơi độc. Anh em ta đã cố thủ đến hơi thở cuối cùng và hy sinh ngay trong phòng họp lớn, nơi vừa qua đã diễn ra hội nghị Hiệp thương giữa hai miền Nam – Bắc bàn việc thống nhất nước nhà.

Dinh doc lap

Buổi đầu năm mới, đồng bào, đồng chí đã dành để tưởng nhớ các anh.

Cũng vì không quên các anh mà quận I đã cố gắng tận dụng mọi khả năng của mình hết lòng chăm lo đời sống đồng bào mà các anh hằng yêu quý và bảo vệ. Dịp tết năm nay, mấy ngàn bà con Quận I đi xây dựng khu kinh tế mới Bù Đăng đã nhận được món quà đầy tình nghĩa gồm 800 bộ áo quần, một tấn rưỡi cá hộp và nhiều nước mắm, xì dầu… Trong quận, nhiều cơ quan và ban đại diện phường, khóm đã nhường nhà để 36 gia đình bà con – xưa nay chưa từng có nhà ở, cũng tức là chưa từng có cái tết thật sự bao giờ – được có đủ nơi ăn chốn ở trước tết Bính Thìn.

Cùng các đồng chí quận I, chúng tôi đến thăm trụ sở Hội phụ nữ quận. Ngôi nhà số 40 đường Phùng Khắc Khoan này là nơi ở của tên đại sứ hiếu chiến Mỹ cuối cùng Ma-tin, nó ăn thông với ngôi nhà số 38 từng là nhà của Ca-bốt Lốt. Tại đây, trước khi leo lên máy bay lên thẳng đậu trên nóc tòa đại sứ Mỹ để rồi được xốc nách mang xuống chiến hạm Huê Kỳ đậu ngoài khơi, chuồn thẳng, Ma-tin đã lén lút đốt cháy năm triệu đô la – quỹ đen, không thể mang theo. Nơi ở của quỹ dữ, nhờ phép lạ giải phóng, đã biến thành nơi ở của những người chị “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Trưa mồng một

Rời quận I chúng tôi theo dòng xe và người tấp nập đổ về một hướng lớn trên đường 30/4 lịch sử. Trên cổng lớn của Thảo Cầm Viên, hình Bác Hồ kính yêu đang tươi cười giơ tay vẫy gọi, in trên nền trời xnah ngắt, điểm mây trắng bông. Dưới hình Bác là câu thơ thân thiết với mọi tấm lòng Việt Nam: Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Thao Cam Vien.jpg

Mọi người đều hướng vào cái cửa Bắc Nam sum họp ấy mà tiến tới. Trẻ em, người lớn mặc những bộ áo quần ưa thích nhất của mình như muốn đua với muôn sắc hoa đang nở rộ trong vườn Bắc Nam sum họp hôm nay. Có những gia đình mang cả kẹo bánh, nước ngọt, hoa quả đến đây để vui chung trong nắng xuân mới. Có xe Hôn-đa hai bánh chạy thận trọng, chở đến sáu bảy người – cả một gia đình. Các đồng chí cảnh sát áo vàng mỉm cười. Mọi người đi sát bên nhau mà vào cửa. Không xô đẩy, chen lấn. Thậm chí, hầu như không nghe một tiếng pháo nào nổ trong khu vườn rộng 33 mẫu bên sông Thị Nghè này. Ở đây, tất cả đều hòa hợp, thống nhất, từ cỏ cây, chim muông, con người, đến bầu trời xanh dịu dàng, tiết trời ấm áp. Trẻ em có đường xe lửa ngộ nghĩnh mang tên Hà Nội – Huế – Sài Gòn, một đầu máy xinh kéo theo hai toa đẹp. Người lớn có phong lan của  rừng mọi miền Tổ quốc chăm trong nhà kính. Món ăn, có bún bò giò heo – Huế, thịt bò bảy món – Sài Gòn, phở – Hà Nội. Chú voi Tô-ly ba tuổi bị Thiệu chuồn bỏ rơi trong dinh “Đập Lột”, hôm nay cũng góp vui trong vườn xuân Bắc Nam này cùng ông cọp hiền khô, mà anh bộ đội Nguyễn Thế Giới đã nuôi từ nhỏ bằng phần cơm và lương khô chiến trường của mình.

Ra khỏi cổng vườn xuân Bắc Nam sum họp, tôi gặp một đồng chí công an áo vàng trực máy điện báo trên xe gíp. Đồng chí cho biết là ở đây mọi việc đều tốt đẹp, công an chưa phải can thiệp một vụ nào. Hình như bước qua cái cổng Bắc Nam sum họp này, không ai muốn lạc điệu cả. Đồng chí trẻ, người ở một huyện Hà Tây ấy, đã thức suốt đêm giao thừa để trông cho đồng bào ăn tết.

Trưa nay, anh vẫn ngồi đây. Sẵn sàng phục vụ như đã từ mười năm nay rời quê cầm súng đuổi giặc. Cấp trên đã hẹn sẽ để đồng chí ăn tết sau. Tại quê nhà.

Chiều mồng 1 tết Bính Thìn.

P.V.

Tháng Mười 10, 2019

Thư gưi cháu Vũ Hạnh Nhi ngày 19/4/2008

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 10 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

THƯ GỬI CHÁU VŨ HẠNH NHI NGÀY 19/4/2008

Lời dẫn của Phạm Tôn: Vũ Hạnh Nhi là con gái đầu của Tôn Ánh Hồng con gái thứ của anh tôi Tôn Thất Đại và chị Nguyễn Thị Thanh Thủy.

—o0o—

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19/4/2008,

Chắc đến hôm nay, giờ này, thì cháu đã hiểu thế nào là “mong chờ’… Có thể còn giận hờn nữa vì đã quá lâu mà ông chưa viết thư cho cháu như cháu mong. Thế là cháu đã phần nào thông cảm với tâm trạng của ông suốt mấy tháng (Lâu hơn cháu chờ lần này nhiều!) tin vào lời cháu hứa rồi cứ chờ, chờ mãi, rồi lại được hứa hẹn, và lại chờ để được đọc những bài cháu viết ở lớp!…Ông gợi ý cho cháu thế này nhé, muốn không bao giờ thất hứa thì…đừng bao giờ hứa cả! Nghe lạ phải không, nhưng chính ông đã làm như thế cho đến tuổi này (68) cho nên chưa bị ai trách là thất hứa cả. Vì ông chưa bao giờ hứa gì cả (Trừ khi vào Đoàn, hứa theo thủ tục!). Nhưng, khi nào định làm việc gì, định giúp ai cái gì, cho ai vật gì thì đều cố gắng hết mình, cốt để tâm hồn khi nào cũng thanh thản thôi. Thế đấy…

Thu gui Bup chi Hong dua FB

Đọc bài văn cháu viết về chiếc lá, ông thích thú với ý của cháu là để cho chiếc lá buồn rầu đã rụng rồi còn được một bé gái nhặt lên ép vào sách làm kỷ niệm ý đó thật lạ và hay, nâng hẳn giá bài văn lên, không như người ta đọc thì dễ đoán là rơi xuống đất thì sẽ bị người qua lại giẫm lên, rồi mưa làm mủn ra, rồi gió thổi bay đi và biến mất. Tất nhiên, cháu không phải là chiếc lá cho nên thật lòng, ông thích lá thư của cháu hơn. Vì ở đấy, cháu đúng là cháu, đích thị là cháu…

Nhưng nhờ bài về chiếc lá mà ông nhớ lại một chuyện cũ. Hồi ấy, ông cũng học lớp cỡ cháu bây giờ. Nhưng chắc là ít tuổi hơn. Vì ông mất cha sớm, lại sống xa mẹ, đi ở nhờ, cho nên thuở bé không đi học, chỉ học lỏm và tự học thôi. Năm 10 tuổi về lại với mẹ, mới đi học, nhưng “liều mình” vào học luôn lớp cuối cấp I, lại có học cả tiếng Pháp nữa; vì lúc ấy giữa năm học, chỉ có trường ấy (tư) lớp ấy nhận thôi. Thế là tối nào bà cố cũng dạy ông tiếng Pháp để không bị đuổi học. Coi như ông không học cấp I, không học tập đồ, tập viết gì cả, cho nên chữ xấu. Còn như cháu, được học nghiêm chỉnh, lại ở Hà Nội, nơi có phong trào vở sạch chữ đẹp và hiện có những lớp dạy viết đẹp chỉ trong ít giờ… mà viết chữ “trừu tượng” thì thật là đáng tiếc lắm đấy. Ông mong lần sau nhận thư cháu là nhận thư viết tay, vì chắc là dù sao, cô giáo cháu cũng chẳng bao giờ chịu chấm những bài viết bằng máy vi tính, vì cháu đã là sinh viên đại học đâu, phải không nào…

Một hôm, thầy giáo dạy Việt văn ra đề bài Hãy tưởng tượng em là một con chim nhỏ, kể chuyện hoạt động và suy nghĩ trong một ngày đẹp trời của mình. Nghe đọc đề là ông mê ngay và viết luôn một mạch kín hai trang giấy. Rồi đọc đi, đọc lại, đến khi chuông reo hết giờ mới nộp, vào loại chậm nhất lớp. Hôm trả bài, mãi không thấy thầy phát bài của mình, ông đã lo lo. Không ngờ, thầy giờ bài của ông ra và nói rất cảm động: “Bài này của em Tôn Thất Thành, tôi xin giữ lại làm kỷ niệm.” Rồi đến đầu bàn ông ngồi, đưa bài cho ông và bảo đọc cho cả lớp nghe. Các bạn ồn cả lên vì “chuyện lạ” sắp xảy ra. Mấy bạn cánh hẩu cùng bàn vỗ tay lẹt đẹt, nhưng không được ai hưởng ứng đành im lặng ngồi ngẩn ra. Mà thầy cũng không mắng mới lạ. Vì tội làm mất trật tự lớp. Còn ông thì đứng dậy, run run đọc khẽ trước cả lớp 100 người im phăng phắc (Hồi ấy, trường tư lấy nhiều học sinh lắm) Ông kể: Có một con chim sẻ nhỏ mới tập bay nên bay chậm nhất đàn. Chẳng may bị trẻ con bắn súng cao su, gãy chân, đau quá, cố vẫy cánh bay đến một cây rơm, thì rơi vào cái nồi đất vỡ úp trên đầu cây rơm. Nó nằm đấy cho đỡ mệt, và ngắm nhìn cái sân gạch rộng cạnh cây rơm. Gà, vịt, ngan nhiều vô kể, có cả đàn gà con, vịt con vàng tươi màu lông và mỏ đỏ rất xinh. Nhiều con còn bé xíu, đi chưa vững. Bỗng cả sân nhộn nhạo lên, chạy xô về một phía. Hóa ra có một bé gái đang vãi ngô và thóc cho cả sân ăn. Nghĩ lại phận mình, bay mỏi cả cánh mà có khi chẳng kiếm được hạt nào vào bụng. Tối lại đậu cành cây, mái nhà mà trú tạm. Đâu được như lũ dưới sân, ăn chán chơi chán lại được lùa vào chuồng ấm áp. Mệt quá, nó thiếp đi, mơ có ngày mình cũng được như bọn chúng, sống sung sướng một đời. Bỗng có tiếng kêu quang quác của bọn gà, tiếng quạc quạc của lũ vịt, rồi cả tiếng kêu kiu kiu khàn khàn của các bác ngan nữa. Chú chim non tỉnh dậy, nhìn xuống sân. Người ta đang cắt tiết hàng chục con gà, vịt và hai bác ngan to. Cô bé mà con chim non tưởng là thiên sứ đứng đó cười, xin đôi chân gà nhỏ. Con chim sẻ nhỏ bỗng hiểu ra tất cả: “Ở đời này, chẳng có ai tự dưng tốt với ai cả. Họ tốt với mình là để kiếm lợi. Cho mình ăn no là để vỗ cho béo rồi ăn thịt mình thôi”. Thế là, mặc dù vết thương còn đau hơn hôm trước, nhưng nó đã cố vỗ đôi cánh bé xíu, bay đi từng chặng, chuyền qua từng cây, cốt sao xa được nơi nó từng ngỡ là thiên đường.

Thầy giáo là nhà văn Nguyễn Xuân Huy, đậm người, để ria đậm, chẳng biết nay thầy còn hay mất. Ông đọc xong, mà mắt thầy thì ngấn lệ. Ông đưa bài tặng thầy, thầy nắm tay mãi. Lúc ấy, cả lớp vỗ tay, tất nhiên bắt đầu từ bàn ông ngồi có các bạn cánh hẩu.

Cháu nghĩ có thương ông không, bé như thế mà đã suy nghĩ đen tối như thế. Từ đó, ông may danh chu cua ong noi.pngluôn nghĩ là “Người ta không ai tốt như mình tưởng đâu”. Sau đó lại nghĩ là “Người ta không ai xấu như mình tưởng đâu”. Và ông sống yên ổn, vui vẻ với hai ý nghĩ đó, không bị lừa, cũng chẳng đổ oan cho ai, nghĩ mình là một người công bằng. Nhưng, từ năm 15 tuổi trở đi thì ông thấy nghĩ vậy là chưa đủ. Thật ra trên đời này có những người xấu hơn mình tưởng. Nhưng may mắn là cũng có những con người tốt hơn mình tưởng. Và ai cấm mình chỉ sống với cái phần còn tạm được của những người xấu và sống hết mình, quên mình với và vì những người tốt. Quan trọng nhất là phải biết nhìn cho ra và trân trọng những điều tốt đẹp ở những người ở ngay bên cạnh mình. Vì có những con người bình dị đáng quý vô cùng luôn ở ngay gần ta đến nỗi ta không để ý đến nữa, không biết quí họ nữa, chỉ đến khi họ không còn ở bên ta nữa thì ta mới thấy tiếc vô cùng. Họ như không khí, như nước, chẳng ai để ý đến cả, chỉ khi ngạt thở, khi sắp chết khát, mới thấy là quí biết bao, hơn hết mọi thứ trên đời.

Bup An Phi va Bo Me

Ông vẫn viết thư cho cháu bằng máy chữ nhưng ông mong nhận được thư cháu viết bằng tay. Chữ “trừu tượng” cũng được, rồi nó sẽ đẹp dần lên nếu…cháu muốn thế vì biết là ông mong thế. Cố cháu nhé, làm cho mọi cái thuộc về mình đẹp lên có gì là không nên.

Thư trước, cháu nói ông viết “đừng loăng quăng” (thật ra là loạng quạng-PT chú) với mẹ cháu, nay cháu đọc lại xem có phải ông viết ngớ ngẩn, ngu ngốc như thế không. Đọc cần hiểu điều người ta viết, đừng hiểu như mình…nghĩ nhé.

Ông mong nhận thư cháu. Cháu cho ông gửi lời hỏi thăm bố mẹ cháu, cả em Thiên Châu nữa. Nói với mẹ cháu là “thuốc dân tộc Côn Đảo” mẹ cho ông có vẻ tốt, ngày nào ông cũng uống và đường huyết có xuống.

Chúc cháu khỏe và vui vẻ.

Ông T.T.T.

Tháng Chín 27, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả – P4

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 9 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Thời dựng Đảng

(Tiếp theo)

Sáng chủ nhật 2/11 lại sang thăm bác Tường với Sơn, không gặp vợ chồng Vân Anh, đành về nhà Sơn ăn cỗ giỗ. 17:00 đến nhà cô Trung, rồi nhà cô Chí gặp bà và cậu Tuyên ở đó. Trò chuyện đến 21:30 mới về.

Sáng 3/11 nhận được thư mẹ và em Nhàn, biết là em rể Nguyễn Thăng Long sắp về Cà Mau. Chiều đánh điện cho Nhàn trả lời thư em nên vào chỗ chị Loan. Hà Hải khoan vào. Vì mình đã liên hệ và đưa hồ sơ của Nhàn cho chị Loan ở Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em thành phố.

Chiều hôm sau anh Phan Quang vào có thư anh Đào Năng An, anh buồn vì công tác tư liệu vẫn bị xem nhẹ.

Đến 6/11 thì lộ rõ là bị đau dạ dày, nôn thốc nôn tháo trên xe ô tô. Bụng sình. Sáng hôm sau đi ngoài toàn nước, có gì đó lợn cợn đen đen như bã chè. Chảy máu dạ dày chăng…?

Ngày 10/11 báo chí công bố hiệp thương thống nhất nước nhà. Hàng hóa Sài Gòn lập tức tăng giá dễ sợ. Có thư tăng gấp bốn lần. Nhiều thứ đắt hơn cả Hà Nội. 12/11, chiều nay bỗng mưa hai trận lớn. Đoàn đại biểu miền Bắc vào hiệp thương do Trường Chinh dẫn đầu đã tới Sài Gòn.

Trưa thứ bảy 15/11, anh Thép Mới đi công tác Cà Mau về. Tối, cùng anh Thanh Dương, Ut tra on.pngPhú, Phong đi xem diễn vở Phụng Nghi Đình tại rạp Hưng Đạo. Út Trà Ôn đóng vai Vương Tư đồ trong màn 1 và 2. Có 6 màn thì ba người đóng vai Đổng Trác, ba người đóng Lã Bố, ba người đóng Vương Tư Đồ và bốn người đóng vai Điêu Thuyền. Có lẽ để mọi người đều có cơm ăn hơn là muốn thi tài. Thật tội nghiệp kiếp cầm ca buổi giao thời.

Sáng chủ nhật 16/11, đến nhà chị Kim Anh gặp cậu Tuyên, nói cho cậu biết báo Tin Sáng viết bậy về cậu. Sau đó đưa cậu về gặp anh Thép Mới. Rồi cậu đi gặp nhạc sĩ Hồ Bắc để giải quyết ngay vấn đề này.

Khổ cho cậu. Muốn giúp cậu Vượng có công ăn việc làm, theo yêu cầu của cậu Vượng cậu Tuyên bằng lòng gặp Tin Sáng cho họ phỏng vấn. Hôm sau Tin Sáng tường thuật là nhạc sĩ Phạm Tuyên nói từ nay không viết nhạc đấu tranh nữa mà chỉ viết nhạc êm dịu về tình yêu quê hương đất nước, tình yêu lứa đôi. Sáng 17/11, cậu Tuyên đưa thư gửi Tin Sáng yêu cầu đính chính và viết ngay bài đưa báo Nhân Dân. Anh Thép Mới gặp cậu, cho biết đã báo người có trách nhiệm.

Sáng 18/11 nhờ Sơn chở xuống Chợ Lớn mua được cái máy tính nhỏ Monte Carlo giá 70 đồng tặng anh Đại thứ mà anh ao ước khi thấy một bạn cùng nghề có dùng rất tiện lợi. Hôm sau, tiếp tục đi Thư viện Quốc gia tìm tư liệu miền Nam cho anh Thép Mới viết bài.

Giá hàng hóa tăng dễ sợ bao nhiêu thì sách rẻ bấy nhiêu, rẻ đến bất ngờ. Tác phẩm của Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh… đều bán đồng giá một hào. Tagore cũng thế. Chỉ có Terre des Hommes của St Exupéry là ba hào. Có thấy một cuốn Thượng Chi Văn Tập (tập 1), xuất bản năm 1962, tái bản lần thứ nhất, xuất bản lần đầu năm 1943. Nhưng mình đã được cậu Vượng cho cả năm tập từ lần đầu tiên đến nhà cậu. Từ ngày mình gặp cậu, cậu đưa đi ăn các món ngon Sài Gòn như Phở Tàu bay, cơm gà xối mỡ Siu Siu, cũng có khi hai cậu cháu vừa đi thăm phố Sài Gòn vừa ăn vặt kiểu Sài Gòn: Mua ở một mẹt bán rong những miếng nhỏ tim, gan, lòng, dạ dày cắm vào tăm rồi rưới tương ớt lên. Quần áo cậu cũng lục tủ bảo mình mặc thử, cái nào mặc được cứ lấy. Nhưng mình cao hơn cậu nhiều, chỉ xin một cái quần bơi màu đỏ để đi tắm biển.

Ngày 21/11, gửi Tạ Ninh mang về cho anh Đại cái máy tính và thư. 22/11 gửi các anh Nguyễn Lương Hoàng, và Nguyễn Trọng Xuân phụ trách xuất bản báo mang ra Hà Nội thư gửi mẹ, anh Đào Năng An và gửi cô bạn quyển sách về các nhà văn nữ Sài Gòn và một quyển của Hêminhuê. Cũng gửi về nhà hai cái cặp lồng con đem cơm ăn trưa mà cả Nhàn lẫn Trang đều ao ước khi thấy các bạn có.

Chiều, nhận điện của chú Long em rể: Gửi ngay quyết định cho Nhàn, Long chờ.

Sáng chủ nhật đến cư xá Thanh Đa thăm chú Nguyễn Thọ Dực và gia đình em Nguyễn Thọ Tường ở khối nhà A.115. Sáng thứ ba 25/11, nhận thư hai em Nhàn Long đành gọi điện cho chị Loan ở Liên hiệp phụ nữ nói là nên để em Nhàn về Cà Mau quê chồng. Chiều, viết thư cho Nhàn, nhờ chuyển ảnh mình cho Trung thợ rèn. Gần trưa, 26/11, chị Xuân, anh Hải nhà láng giềng thân với nhà mình đến thăm, mang theo thư của mẹ, Thân, Hải. Buổi sáng thì nhận thư anh Đại, chị Thủy và Đoàn Di. Ai cũng nhắc mình giữ gìn sức khỏe. Buổi chiều chị Oanh con bác Bùi Đình Kỷ lại chơi, cũng kêu gầy hơn hồi ở Hà Nội nhiều. Cần chú ý sức khỏe. Tối nay phải nghĩ cho ra cách tốt nhất, lơ mơ là hết đời mất.

Chiều thứ bảy 29/11, đến nhà cô Trung, đưa cho cô tập bản thảo cậu Lê Thế Xương anh cả của cô viết từ năm 1948 khi sống với mẹ mình ở 47 Lò Sũ thời Pháp tạm chiếm. Mình tìm thấy tập này và cứ giữ để so sánh thanh niên thời xưa với thời nay khác nhau giống nhau chỗ nào. Cô cho mình một cái bút máy Đức hiệu Consul. Sau đó còn đưa sang nhà may cạnh nhà ở đường Lý Thái Tổ may đo một cái quần Âu màu xám kiểu quần loe Sài Gòn hồi ấy.

Ba Le Thi Trung va bac An

Mình hơi bất ngờ về sự hào phóng này. Lẽ nào đây là kết quả của việc cô nhận được tập bản thảo xưa của anh trai… Chí ít, mình cũng thuộc loại ngườiPham Bieu Tam.jpg Bắc vào Nam mà không xin xỏ họ hàng cái gì cả, như câu cửa miệng thời ấy thường nói Người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng. Thật đau xót  vì nó phản ánh đúng một thực trạng xã hội thời ấy. Hình như vì thế cô quí mình hơn.

Ngày chủ nhật cuối tháng 11 gần như suốt ngày rong rổi trên đường. Sáng đi đưa hộ một lá thư từ Nhật gửi cho một người tên là Đỗ Văn Luyến ở số 55 đường Nguyễn Huệ thế nào lại lọt vào nhà mình đang ở. Nhân thể, dạo phố một lát. Hàng hóa lên giá dữ dội. Định mua cho cháu Hương Giang con gái em Thân một cái mũ xinh, nhưng đắt quá, không dám mua. Rồi đến nhà cô Lê em họ bố mình, là vợ bác sĩ Phạm Biểu Tâm.  Cùng cô thăm vườn hoa cây cảnh cô trồng kinh doanh và trò chuyện thân mật với bác sĩ Tâm. Ông nói cháu chỉ biết Mỹ ném bom và lính Mỹ giết người Việt Nam chứ không biết người Mỹ thật sự như thế nào, rất nhiều người tốt, giỏi nữa. Tôi đã gặp rất nhiều người Mỹ và cùng làm việc với họ. Họ được lắm. Bọn đi xâm lược là bọn khác, giới khoa học lại là một loại khác, ưu tú hơn nhiều. Tối hôm ấy, còn được mời đến nhà dự buổi họp mặt toàn người Huế ăn toàn món Huế. Người Huế đến từ hai miền Nam Bắc cùng sum họp trong tình ruột thịt, bạn bè, đồng hương. Có mặt ông Hồ Đắc Ân và vợ, con trai là Hồ Đắc Khẩn (ở 82 Bùi Thị Xuân) và vợ, con gái là cô Vân xinh phép chơi mấy bản nhạc Sô panh và Tchai cốpxki, còn có con gái bác sĩ Tôn Thất Tùng học ngành dầu mỏ ở Liên Xô mới về ngồi bên bà vợ ông Hồ Đắc Điềm phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội từng phụ trách công tác bổ túc văn hóa hồi tôi còn làm cán bộ chuyên trách ở Cảng Hà Nội, có uy tín rất cao trong thành phố.

Bo ong Vuong ba Hoan va ong Chau tai nha ba Trung.png

Trưa, cậu Vượng đưa mình về nhà bà ăn giỗ rồi hai cậu cháu đi chơi, nói chuyện đời và văn học nghệ thuật. Thương cậu cho nên tôi cứ đi theo cậu cho cậu đỡ buồn. Thất nghiệp kéo dài quá, cậu hùn vốn cùng người bạn mua bán đồ điện tử cũ như máy ghi âm, quay đĩa, rađiô ở đường Huỳnh Thúc Kháng. Tôi có nhờ một người quen xin cho cậu vào làm ở xưởng thu băng, nhưng rồi không thành khi cậu nộp sơ yếu lý lịch có ghi rõ từng làm trưởng đầi Phát thanh Long An thời chế độ cũ. Cũng ở đây, cậu bị trúng một mảnh đạn ta pháo kích làm hỏng mắt trái, gây sẹo khó coi. Từ đấy bao giờ cũng đeo kính đen kín cả hai mắt. Chờ mong cậu Tuyên giúp vào làm ở báo Tin Sáng, chẳng những không được mà còn suýt đổ họa cho cậu Tuyên phải nhờ đến Thép Mới giải cứu mới thoát.

Thep moi va anh em len tau thuy.png

Suốt những ngày tháng sau giải phóng, vợ cậu đi làm lao động chân tay. Cô là con gái Long An khỏe mạnh thương chồng không quản khó nhọc sẵn sàng làm mọi việc để có thu nhập. Cậu Vượng là người tốt bạn. Cậu sống được còn vì nguồn bạn bè di tản chia nhau mỗi người một tháng gửi tặng cậu 50 đô còn thiếu hai tháng vợ chồng mới phải tự lo. Nay lỡ tất cả rồi, cậu đành chờ được sang định cư ở Mỹ diện những người đã làm cho chính quyền Sài Gòn

Thư mẹ viết ngày 25/11 cho biết cậu Tuyên đã đến đưa quà của mình cả nhà ai cũng thích vì hợp ý. Bé Dô (Hương Giang) được cái kính, Ánh Hồng được cái ô thích lắm. Hải nhường cho Hồng cái cặp, rất ngoan.

Tháng 12 mà nóng đến nỗi không thể mặc áo sơ mi, trong khi Hà Nội nghe nói rét lắm. Phóng viên Minh Sơn của báo được đi theo tàu thủy Thống Nhất to lớn chuyến đầu nối liền Hải Phòng với Sài Gòn đến Cảng Sài Gòn trưa 2/12, sáng hôm sau đã đến 22 Tú Xương. Anh Thép Mới đã cùng nhóm ở Sài Gòn lên thăm tàu.

Sáng hôm sau mới nhận thư mẹ gửi ngày 24/11. Trưa nhận thư thợ rèn Trung viết ngày 8/11, nhưng nhờ người đem vào. Trung vẫn chỉ xin có cái ảnh. Nó nhớ. Tội nghiệp ông em lực sĩ mà tâm hồn nhạy cảm quá. Chủ nhật, cùng Lương Văn Chuôn em họ Trung bộ đội pháo binh đến nhà bác Bùi Đình Kỷ  ăn cơm, nói chuyện với bác trai là chính, về thiền. Nhà bác có một cháu trai đi tu. Chuôn là bộ đội từ 1970, mỗi tháng chỉ có sáu đồng tiêu vặt.

Tối chủ nhật 7/12 nhờ Sơn chở đến số 2 Hùng Vương (Chợ Lớn) gặp hai cô Liễu, Huệ em chú Cầm, nhận được thư cô Vinh và em Tịnh là con thứ cô. Cô còn gửi cho bánh đậu xanh giòn đặc sản Đà Nẵng.

Chiều thứ hai, họp với anh Thép Mới, Trần Thăng phóng viên ảnh mới về cơ quan cũng dân Nam Định như anh, Nguyễn Sơn, cô gái Nha Trang và mình. Anh Thép Mới bao giờ cũng mơ mộng muốn lập một nhóm công tác chí cốt hoàn toàn kiểu mới để làm việc cho kỳ tốt, thật tốt. Không cần đông người.

Trưa thứ ba 9/12, nhận thư anh Đại, có cả thư Ánh Ngọc, còn thư Ánh Hồng thì tô theo nét bút chì viết trước. Chỉ có mấy câu mà xem ra người tô vất vả lắm. Thư chú Long, lại cho biết hai vợ chồng vẫn muốn ở Sài Gòn và sẽ vào trong tuần này. Thật lôi thôi, đã từ chối người ta rồi nay lại muốn ở Sài Gòn. Còn một thư của cô bạn nói sợ mình giận nên có đến nhà để tiễn… nhưng muộn mất một ngày. Rõ thật là…

Tối lại cùng anh Thép Mới lên xe Sơn lái đi gặp anh Nguyễn Tự đạo diễn phim tài liệu ở đường Lê Văn Duyệt. Sau đó đến nhà Huỳnh Thành Vy chủ bút báo Đồng Nai là nơi chủ xướng phong trào ký giả đi ăn mày thời Thiệu. Nói chuyện đến một giờ sáng mới về nhà nấu mì ăn với nhau.

Sáng hôm sau lại đi thư viện, trưa ăn luôn tại câu lạc bộ thư viện cho tiện. Chiều được anh Long hiệu phó trường anh Đại dạy, ghé đưa cho cuốn Khoa học lao động anh biết là mình rất thích nghiên cứu loại này. Thư anh nói rõ mẹ mổ mắt rồi, rất tốt, nhưng phải đeo cái kính dầy như đáy cốc mới nhìn rõ dược.

Sáng sớm, lo gửi ngay cho cậu Tuyên bài Tin Sáng đăng lại bài cậu viết đã đăng trên báo Nhân Dân coi như đính chính bài trước của họ. Đúng họ là nhà báo có nghề. Dù sao, vụ này cũng coi như kết thúc.

Chiều hôm sau, Nguyễn Tín, 19 tuổi, con anh Tự vừa tốt nghiệp trung cấp mỹ thuật đến xin làm chân bồng súng AK gác cơ quan. Em rất dễ thương. Sáng hôm sau, nhận thư cậu Tuyên. Chuyện cậu yêu cầu mình dã làm xong và gửi cho cậu rồi.

Ton That Thanh ngoi ghe.pngDạo này ở Sài Gòn an ninh không tốt lắm. Nhiều nhà cán bộ bị tấn công. Vì thế, cơ quan nào cũng cần tự bảo vệ. Trần Thăng có súng lục từ hồi ở bộ đội nay vẫn giữ. Sơn quen mấy anh cảnh vệ bên ông Mười Hương gần nhà, xin được một khẩu K54 đã cưa vòng chắn cò. Có lẽ của bọn cướp cưa để bắn cho nhanh. Tối thứ sáu 12/12 mình nằm trên giường, cầm súng hỏi Sơn nếu bắn thì làm thế nào. Sơn hướng dẫn. Mình tưởng không có đạn nên bấm cò. Một phát đạn nổ âm vang cả hai phòng thông nhau. Đạn K54 găm vào trần nhà bê tông. Anh Thép Mới đang họp với các anh Thanh Dương, Phan Quang hốt hoảng chạy xuống cầu thang. Thấy mình nằm cạnh Sơn đang ngồi trên giường, tay mình còn cầm súng nhả khói. Nghe mình trình bày ba anh lại lên gác họp tiếp. Mình nghĩ việc này mà xảy ra mấy năm trước thì chẳng biết sẽ ra sao. Việc này chỉ năm người hôm ấy biết. Sau này không thấy ai nhắc đến cả. Thú vị thật. Đời thay đổi rồi mà lại.

Chiều hôm sau, em Như Ý con cô Bảy ở Huế vào, cho nem và tré Huế. Em gầy gò, rất tội, tay xách cái máy ảnh nhỏ. Tối đến nhà Kim Anh, được chị cho một gói lạc rang bé xíu, nhưng là do Kim Anh thuê trồng ở rẫy.

Sáng hôm sau là chủ nhật, đạp xe đèo em Như Ý sang Thanh Đa, không gặp chú Nguyễn Thọ Dực chồng cô Tám em bố mình. Chỉ gặp Nguyễn Thọ Tường, ốm đau vàng võ, tóc dính bết vào hai má hóp, mới trông tưởng là một bà già. Tường uống rượu nhiều vì buồn chán, chỉ ở nhà. Tường hỏi có muốn xem số không, mình bảo xem cho em Ý đi. Tường hỏi ngày sinh, giờ sinh, rồi tính toán một lát, vào nhà lấy ra một quyển sách toàn chữ nho li ti. Tra sách rồi nhìn Ý nói như đinh dóng cột. Quẻ tốt, năm nay em tiểu nhậm là sẽ được lên một chức nhưng nhỏ thôi. Ý xác nhận là em vừa được cử làm trưởng một dây chuyền ở nhà máy dệt Huế. Nói chuyện vui một lúc, em Ý bảo mình ngồi ghế cho đàng hoàng em chụp cho cái ảnh bằng máy Canon demi, mỗi tấm chỉ mất nửa ô phim. Nhà chú Dực có đôi câu đối Tường nói là của Phùng Quốc Tài nhà thư họa nổi tiếng: Tọa đối hiền nhân tửu/ Gia tàng thái sử thư (tạm dịch là: Ngồi đối diện với người hiền mà uống rượu/ Nhà chứa toàn sách quí). Ở giữa hai câu đối là bức hoành Nhân trạch tăng huy (tạm dịch là Những việc mong muốn ngày càng tốt đẹp thêm).

Về nhà, nhận được điện em Nhàn báo là đi tàu liên vận ngày 13/12.

Tối 15/12 lại đến nhà cô Trung xin cho gia đình em Ha o Tu Xuong.pngNhàn ở tạm. Cô vui vẻ nhận lời. Nhận thư em Thân đúng lúc vừa mua được cho cháu Hương Giang cái mũ thật xinh. Em còn viết: Em tin rằng anh sẽ thu thập được rất nhiều tư liệu quí cho sau này. Một lời nhắc nhở mình, một thằng lười viết. Tối 17/12 mới gửi cho Chỉ lá thư viết từ lâu, nhưng người mình nhờ bỏ thư quên không gửi, may mà còn.

Hà Nội, Huế đều lạnh lắm, nơi năm độ, nơi tám độ. Chỉ lo hai thằng bé bị ốm dọc đường vào thì nguy.

Chiều 18/12, Nhàn Long Hải Hà vào đến Sài Gòn, ở tạm nhà cô Trung. Tối, Hà đến ngủ với bác Thành. Tối hôm sau, Hải đi ăn trứng vịt lộn rồi cũng về ngủ với bác. Sáng 20, cùng cậu Vượng đưa Long và hai cháu đi chơi Thảo Cầm Viên, cho đi ô tô điện. Chiều bác Phương mời cả bọn đến ăn. Sơn kiếm xe hai ngựa nhỏ, mui vải chờ mình và mẹ con Nhàn Hải Hà đi thương xá Tax. Hai thằng bé mặc áo len đỏ rất xinh, nhưng trời nóng quá, cởi ra để trong xe khóa cửa cẩn thận. Xem thương xá xong, về xe thì thấy mất áo len rồi. Người dân bảo xe chỉ khóa mà không gửi thì nó lấy cho là phải rồi. Ngày 25/12 Long điện cho biết dã về đến nhà ở Cà Mau lúc 16:00 ngày 22/12. Đêm Nô en cả nhà đi chơi đến 11:30. Chẳng có gì vui vì vừa mất của.

Pham Khue va Pham Thi Gia.png

Chủ nhật 28/12 sáng đến nhà anh Nguyễn Ngọc Lương và chị Phạm Ngọc Quyến (242 Phan Đình Phùng) ở lại ăn cơm đến 13:00 thì đi Gia Định thăm bác Tường rồi nhờ chồng Vân Anh đưa đến thăm họa sĩ Nguyễn Gia Trí họ hàng với bác Tường trai (Lemur). Bà vợ ông cho biết ông Trí đóng cửa không tiếp khách Bắc vào, vì gặp nhiều rồi mà nhạt như nước ốc. Có họa sĩ vào xin mua tranh cho bảo tàng nhà nước, nhưng khi ông bằng lòng bán cho mấy bức thì lại trả giá , như mua rau, mua cá ở chợ. Ông mời đi ngay không tiếp, để thời giờ còn làm việc.

Ngày 29/12 nhận thư anh Đào Năng An. Anh vừa mổ cả hai mắt, một mắt bị thiên đầu thống đau nhức lâu nay, một mắt đục thủy tinh thể. Anh cảm ơn mình đã viết cho anh một lá thư đến mấy trang bằng chữ rất to viết bằng bút dạ.

Buổi chiều, mượn xe máy đến nhà khách bộ y tế ở Sài Gòn đón cậu Phạm Khuê, chở cậu đến thăm bác Phương vợ bác cả Giao. Cậu thân mật với mình lắng nghe mình nói về những nét riêng của tâm lý người ở Sài Gòn dù là ruột thịt cũng cần chú ý đừng phạm phải khi giao tiếp. Mình cũng đưa cậu xem những bài báo và kể lại việc cậu Tuyên sơ ý để báo chí trong này lợi dụng. Cũng đưa biếu cậu những thứ cần dùng trong chuyến đi như xà phòng tắm, bàn chải và kem đánh răng, bột giặt Viso.

Hôm sau, đến nhà cô Trung thăm chú Thảo chồng cô vừa đi học tập về. Chú chỉ là một chuyên viên kinh tế, nhưng đi nhiều nước quá, lại khai thành khẩn nên phải học tập hơi lâu mới xác minh được mọi chuyện ông khai đều đúng và ông chẳng có hoạt động gì chống phá cả. Nhờ đến đây mà biết địa chỉ nhà em Nhàn là 45/12 Phạm Ngọc Hiển Cà Mau. Bèn viết thư thăm hỏi. Lại đến cậu Khuê hai lần đều không gặp. Hôm sau, đến cậu hai lẫn nữa, vẫn không gặp.

Sở dĩ tìm cậu nhiều là do mẹ viết thư nhắc đi nhắc lại mấy lần là nhân dịp cậu vào, hai cậu cháu nên trò chuyện với nhau, tránh hiểu lầm không đáng có. Ngày 3/10/1974, theo lời mẹ dặn, tôi đến nhà cậu ở Hà Nội để cậu khám cho sao dạo này gầy sút quá. Tôi đến, chưa kịp nói gì thì đã bị cậu mắng cho một trận phủ đầu trong đó có câu cậu nói đừng tưởng bây giờ là người của báo Nhân Dân là ghê lắm mà lên mặt ta đây, cuối cùng cũng chẳng ra gì đâu. Phải biết… Phải biết… Tôi thấy cậu khác hẳn người cậu điềm đạm, chí tình tôi vẫn quí. Lấy làm lạ, tôi chỉ ngồi nghe không nói gì. Độ một tiếng sau, cậu ngừng nói, tôi xin phép về thì cậu ra uống nước rồi bảo cậu chưa nói hết. Tôi ngồi lại nghe tiếp… Phải… Phải nhớ là … Rồi sau hai giờ chịu trận, tôi xin phép về. Mắt nhìn xuống sàn nhà chỗ cửa ra, thấy cái vạch sơn xanh da trời, tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ bước qua cái vạch xanh này nữa. Hôm ấy, em Phạm Thắng đang ngồi học ngay gần chỗ tôi nghe cậu độc thoại. Nhà chật, chỉ có hai buồng. Tôi thấy mọi việc cậu nói chẳng liên quan gì đến mình, chắc là cậu giận cá chém thớt thôi. Chẳng may hôm ấy tôi là cái thớt… Từ Sài Gòn, cậu đi đâu tôi không biết, hỏi nhân viên nhà khách cũng không ai biết, bà con cùng ở Sài Gòn càng không ai biết.Thanh tung.png

Cho mãi tới mấy chục năm sau, năm 2001 nhân việc viết bài  Người nặng lòng với nước tôi gửi cho Hà Khánh Linh ở Huế góp thêm ý kiến thì Linh lại đưa cho một đồng nghiệp là nhà báo Thanh Tùng thường trú báo Tiền Phong ở Huế. Anh này là cháu gọi một nhân chứng tôi viết trong bài là bác. Anh viết hộ tôi phần liên quan đến bác anh, sau này là thứ trưởng bộ Lương Thực Thực Phẩm của ta. Gặp anh, tôi được biết là ngay năm 1975, cậu Phạm Khuê tôi về Huế làm việc với sở Y tế. Xong việc, có nhờ chị anh Tùng là cán bộ sở đưa di thăm mộ cha.

Thế là cậu Khuê mới chính là người con đầu tiên sống và chiếu đấu ở miền Bắc vào thắp nhang trên mộ cha ngay sau ngày đất nước thống nhất. Trước nay, cứ tưởng người đó là cậu Phạm Tuyên, vào Huế được Hà Khánh Linh đưa đến mộ

Pham Tuyen ben mo cha.png

Cho đến khi mất, cậu Khuê chưa lần nào nói với ai về việc thăm mộ này.

Tính cậu vốn thế. Ít nói mà chỉ chú ý vào việc làm.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/8/2019

P.T.

 

 

THƯ THÉP MỚI GỬI TỪ SÀI GÒN NGÀY 11/6/1975

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 10 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ Lục

THƯ THÉP MỚI GỬI TỪ SÀI GÒN NGÀY 11/6/1975

Bia thu thep moi.png

Sài Gòn ngày 11-6-1975

Kính gửi anh Thành,

Từ khi tôi đi, tôi nhớ bạn nhiều và chắc bạn cũng nhớ những ngày cùng làm việc. Tôi cũng tiếc là giá như lúc này có bạn giúp tôi, chắc công việc của tôi cũng chạy hơn.

Tôi đang ngồi viết lia lịa tại một căn gác nên thơ hơn hết trong đời tôi. Một hàng hiên rộng, có lưới chống muỗi, nhưng chung quanh toàn lùm cây to, có bốn con sóc đuôi rất dài chạy mà lại ở giữa rốn Sài Gòn.

Từ chỗ này tôi sẽ suy nghĩ về một xã hội và những cuộc đời với bao vấn đề cũ mới. Lúc này, tôi khỏe, còn làm việc được.

Tình hình ở nhà ra sao. Riêng cậu làm gì? Gia đình trước thắng lợi cũng vui lắm chứ? Công việc của cậu đến tháng 5 tôi có biết. Giờ anh em phân công gì? Thôi việc gì cũng cứ làm. Hăng hái, cần mẫn, sáng tạo biết xử sự trong mọi trường hợp.

Ông Nguyễn Thọ giờ làm gì? Tôi xin có lời hỏi thăm bạn Thọ, bạn Dũng, bạn Đĩnh, bạn Chính Yên, bạn Mai Hân, xin lỗi họ là không viết thư cho tất cả được.

Bảo với Vũ Hạnh là tôi cũng nhớ nó lắm.

Giờ thì nhờ cậu hai việc.

  • Một là cậu nhặt đâu được ít sách miền Bắc, nhất là Thép đã tôiRuồi trâu, gửi vào hộ. Mình có nhiều người xin quá mà những người xin mình cũng có lòng muốn cho thật sự. Có thì thu xếp để rồi gửi Nguyễn Tự vào.
  • Hai là cuốn sách Thời Dựng Đảng ngoài chỗ Như Phong có in không, và in đến đâu rồi. Ôi lắm lúc nhớ đến sự viết nốt quá. Cậu cứ chuẩn bị tài liệu cho tớ nhé. Cậu viết thư ngay cho biết là số phận cuốn sách đó ra sao. Có phải viết gì cho Như Phong không. Hay mình cứ viết kèm theo đây một lá thư cậu mang đến hộ.

Còn một việc nữa là bài mình viết từ Sài Gòn, Hà Nội đọc thế nào. Cậu làm correspondant (tiếng Pháp: Thông tín viên) cho tôi báo tin   luôn luôn cho tôi nghe ngóng và rút kinh nghiệm. Viết mà xa người đọc cũng khó.

Ngoài ra có gì liên quan đến tôi mà cậu nghe được, cũng cho biết.

Thôi, sẽ còn gặp nhau và sẽ còn nhiều ngày làm việc vui nữa.

                                                                                                      Thân

                                                                                                      Thép Mới (ký)

T.B: Cậu xuống nhà cô Xuân bảo cô ấy bán hộ cái xe đạp để trả tiền bà cụ hộ. Tôi sợ để xe nhà nó, nó đánh hỏng mất. Bán đi, trả tiền bà cụ hộ.

Thu thep moi phan dau.png

Thu thep moi phan sau

 

Tháng Chín 10, 2019

Thư nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi Bộ biên tập báo Nhân Dân

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:07 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 10 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

Thư nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi Bộ biên tập báo Nhân Dân

Phạm Tuyên

Đài TNVN                                                                                                                  Hà Nội ngày 4/11/72

Kính gửi Bộ biên tập Báo Nhân Dân,

Được biết các đồng chí ở bên báo Nhân Dân đang tìm hiểu về anh Tôn Thất Thành để định chuyển về công tác tại tòa soạn, tôi xin phép được giới thiệu thêm với các đồng chí về anh Thành. Tôi là cậu ruột của Thành, biết được quá trình phấn đấu của Thành, nên cũng muốn Thành được về công tác ở một môi trường như bên báo, có điều kiện để rèn luyện và phát huy khả năng biên tập nhiều hơn.Chu chi chup ong Tuyen

  • Về phần lý lịch cụ thể, xin các đồng chí cứ tìm hiểu qua các cơ quan có trách nhiệm. Tôi chỉ xin bổ sung những nhận xét của mình về mặt tư tưởng và năng lực thôi.
  • Thành có xu hướng về văn học và ngoại ngữ từ bé. Học xong lớp 10 (loại giỏi) năm 1958, Thành xin tham gia vào Đội Thanh niên phát hành báo Nhân Dân, cùng với một số bạn cùng chí hướng, với ý thức rõ rệt là rèn luyện mình trong công tác thực tế trước khi nói đến chuyện viết lách. Trong công tác bí thư chi đoàn của Đội này, nói chung tôi thấy anh em rất mến và tín nhiệm. Tuy chỉ làm công việc này có một thời gian ngắn, nhưng tôi thấy Thành trưởng thành nhiều (rõ nhất là về ý thức chính trị). Sau một thời gian chuyển về làm nhân viên ở tòa soạn và sửa bài ở nhà in báo Nhân Dân, tuy công tác cũng không ổn định, nhưng tôi thấy ở đâu Thành cũng tỏ ra say mê, và đặc biệt là không hề lơi việc tự học (về văn học, ngoại ngữ) và tu dưỡng bản thân. Năm 1960, tòa soạn giới thiệu cho đi học ở Học viện Nông Lâm – tuy không hợp nguyện vọng, nhưng Thành cũng học rất tốt, và vẫn có ý tích lũy trong môi trường mới này để tập viết. Đáng tiếc là sức khỏe bị yếu quá, nên phải bỏ học dở dang. Hồi đó (1963) chúng tôi đã tưởng là khéo chết mất. Nghỉ học, Thành vừa điều trị, vừa học thêm ngoại ngữ, giúp đỡ công tác ở khu phố. Giai đoạn này là một thử thách lớn về mọi mặt (đời sống, tinh thần, sức khỏe…) Gia đình đã cố gắng chăm sóc, động viên nên đã vượt qua được tốt. Từ cuối 1965 tới nay, Thành xin được về phụ trách công tác văn hóa của Công đoàn ở Cảng Hà Nội. Công tác làm vất vả, nhưng tôi nhận thấy vẫn không lơi nguyện vọng viết. Tôi biết Thành vẫn tự học thêm ngoại ngữ, tích lũy cho mình vốn sống, và nhất là rèn luyện mình trong sinh hoạt với anh em công nhân ở đây. Qua những đợt đi phục vụ ở khu 4 cuối 68 đầu 69, Thành có trưởng thành thiêm nhiều.
  • Gần 14 năm-kể từ sau khi học hết lớp 10-tôi nhận thấy Thành là một thanh niên có chí. Trong hoàn cảnh gia đình có khó khăn về nhiều mặt, vẫn khắc phục được trở ngại để kiên trì rèn luyện ,và trên thực tế, đã tạo cho mình thêm nhiều khả năng, đảm đương được các nhiệm vụ đã được giao cho. Qua trao đổi, tôi thấy về nhận thức chính trị cũng chín chắn nhiều hơn trong những năm gần đây.
  • Là một Đảng viên công tác trong ngành tuyên huấn, tôi thấy có thể bảo đảm việc Thành về công tác ở bên báo sẽ làm được tốt nhiệm vụ mà các đồng chí sẽ giao cho. Công việc có thể có nhiều bỡ ngỡ khó khăn đối với Thành, nhưng tôi tin rằng Thành có thể phấn đấu và khắc phục được.

Vậy xin mạnh dạn giới thiệu với các đồng chí. Các đồng chí cần hỏi gì thêm, xin nhắn cho tôi được biết (gọi điện về Đài TNVN: 4134). Rất mong các đồng chí giúp đỡ cho Thành được sớm chuyển về môi trường thích hợp mà anh ấy rất tha thiết.

                                                                                                                  Kính thư,

 

Phạm Tuyên

Ban biên tập Văn nghệ

Đài TNVN

Phan dau thu Pham Tuyen gioi thieu Thanh vao bao nhan dan

Phan cuoi thu ong Tuyen gioi thieu Thanh vao bao nhan dan

Tháng Tám 28, 2019

Thép Mới người lao động khổ sai nghiệp báo

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 9 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ Lục

THÉP MỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG KHỔ SAI NGHIỆP BÁO

Phạm Tôn

Anh Thép Mới như sinh ra là để làm báo. Anh viết rất nhanh, đúng như lời anh thường nói là tao vừa lia xong bài này… Nhưng cái công việc anh làm sau đó để câu văn được như ý anh và say mê lòng người là cả một quá trình khổ sai. Viết đi viết lại, xóa chỗ này, thay chỗ khác bằng một cách diễn dạt trong sáng hơn, hấp dẫn hơn.

Xoc Toi Thoi Dung Dang bao giai phong

Anh rất kỹ lưỡng về chữ nghĩa. Lần anh viết tường thuật việc đón các chiến sĩ Côn Đảo Thep Moi chan dungtrở về sau khi đảo tù Côn Đảo được giải phóng năm 1975, có câu “Lê Quang Vịnh mỉm cười mắc cỡ”. Anh em ngoài Hà Nội không rành tiếng miền Nam cho là đánh máy nhầm sửa lại thành mắc mớ. Anh giận quá, gửi thư phê bình và yêu cầu xin lỗi Lê Quang Vịnh.

Khi làm việc, viết bài là anh quên hết mọi chuyện đời, kể cả ăn uống. Có thế anh mới sống và viết được trong những năm tình cảm riêng tan nát, bệnh tật nặng nề. Một lần anh hỏi tôi có thích làm việc không tôi đáp ngay là có và anh cười vui tao cũng thế, tao cứ vào việc là say mê quên hết mọi chuyện lôi thôi rắc rối, ăn gì cũng được, uống gì cũng được, miễn là để tao sống mà làm việc.

Ngày 20/1/1976 báo Giải Phóng bắt đầu đăng ở trang 2 loạt bài Nhờ thời dựng Đảng / Xốc tới ngày 3/2 / Từ ngày 3/2 xốc tới. Lời tòa soạn viết: Kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam, báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam, cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 1975 đã đăng trong nhiều kỳ báo, bài viết của đồng chí Thép Mới nhan đề Xốc tới ngày 3/2 nói về quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân, Việt Nam ta vì độc lập tự do, thời kỳ trước năm 1930, về sự hình thành và vai trò của Bác Hồ trong việc xây dựng Đảng.

Nhân dịp kỷ niệm ngày 3/2 năm nay, báo Giải Phóng đăng lại bài viết này mong góp phần giúp bạn đọc tìm hiểu về ngày lịch sử trọng đại 3/2, ngày mở đầu  cho kỷ nguyên độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa ở nước Việt Nam ta.

Biết được việc này, ngay ngày hôm sau anh Thép Mới gửi bức thư sau đây:

Sài Gòn ngày 21/1/1976

Kính gửi ban biên tập báo Giải PhóngThu thep moi gui bao Giai Phong de dinh chinh.png

Báo Giải Phóng mấy số gần đây có đăng lại loạt bài Xốc tới mùng 3/2 của Thép Mới đã đăng trên báo Nhân Dân.

Loạt bài đó trong quá trình đăng và sau khi đăng báo đã được các đồng chí lãnh đạo và cách mạng lão thành cũng như nhiều bạn đọc sốt sắng góp ý kiến. Tác giả cũng như ban biên tập chúng tôi đã tiếp thu những ý kiến đó trên báo. Căn cứ vào những ý kiến đó, tác giả đã sửa lại hoàn chỉnh.

Tiếc rằng báo Giải Phóng không nghiên cứu kỹ lưỡng và không hỏi ý kiến chúng tôi để việc giới thiệu Đảng ta trên báo ở vùng mới giải phóng được tốt hơn.

Chúng tôi đề nghị các đồng chí đăng lại loạt bài này theo bản đã sửa lại để giới thiệu Đảng ta được chu đáo hơn và để chúng tôi được tỏ lòng tôn trọng ý kiến các đồng chí lãnh đạo và các bạn đọc của chúng tôi đã góp ý kiến.

Mong các đồng chí vui lòng giúp chúng tôi.

     T/M Ban biên tập báo Nhân Dân

    Phó Tổng biên tập

       Thép Mới (ký)

Nhận thư, báo Giải Phóng đã gửi anh thông báo sẽ đăng như sau: Theo yêu cầu của tác giả muốn bổ sung một số tư liệu mới cho nên chúng tôi xin tạm đình việc đăng bài Xốc tới ngày 3/2.

                                                                                                                        Giải Phóng

Sau đó, báo Giải Phóng đăng Xốc tới ngày 3/2 theo đúng bản thảo đã sửa do cơ quan Thường trực báo Nhân Dân chuyển sang. Tất nhiên người chuẩn bị các bản thảo này là tôi.

9/8/2019.

P.T.

Tháng Tám 27, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả – Thời Dựng Đảng (P2)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 9 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Thời Dựng Đảng

(Tiếp theo)

Cả ngày hôm nay, thứ tư 26/3/1975, toàn cơ quan báo Nhân Dân và gia đình mình cứ sôi lên vì các tin vui đến từ Huế. Buổi trưa có tin Huế giải phóng. Tối đến Đài Tiếng nói Việt Nam chính thức loan tin đã giải phóng thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.

Suốt mấy hôm nay, mình vừa nghiên cứu thu thập tiếp những tư liệu về Đảng từ sau ngày thành lập phục vụ phần Từ ngày 3-2 xốc tới, vừa góp phần chuẩn bị cho anh Thép Mới đi B. Cả anh và mình đều tránh nói đến chuyện vì sao mình không được đi cùng anh. Cả hai anh em đều đã biết quá rõ đến mức không cần nói gì. Nhưng tình cờ mình bắt được trong buồng anh một mảnh giấy, không rõ chữ ai viết. Trên mảnh giấy ghi rõ: “I-Mũi vào Tây Nguyên và TW Cục: Thép Mới – Một thanh niên: chọn người viết được, chưa nên cho Tôn Thành đi ngay (chữ ngay này bị xóa). II – Mũi đi Quảng Trị, Huế…” Như vậy là hầu như ai cũng nghĩ đến chuyện đi của mình và đều thấy là chưa nên cho đi. Điều đau xót chính là ở chỗ đó. Trước tình hình mới phức tạp mình cần nhận thức rõ hoàn cảnh của mình để có thể luôn luôn xác định được đúng vị trí chiến đấu, sao cho trong bất kể tình huống nào cũng vẫn đóng góp được đến mức cao nhất cho nhân dân, cho Tổ quốc.

Cô bạn chắc đang ở Huế. Không hiểu cô có thấu nỗi lòng mình. Và Thùy, chú em lái xe tăng yêu quí của mình, hiện nay em ở đâu? Chắc là đang vui nổ trời với chiến thắng mới. Chú viết thư mong gặp mình bên bờ sông Hương quê nội. Bao giờ mình mới được đến bờ sông Hương, bao giờ mới đến lúc nên để Tôn Thành đi…?

Mới đọc báo Pháp Paris – Match nhặt được một câu trong bài của Jean Noli ngẫu nhiên hợp với tâm trạng mình lúc này: Trong những lúc thế này, hãy im miệng và làm việc đi

Thep Moi va Ton Thanh chan dung

Hôm qua, ngày 29/3 kỷ niệm hai năm tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi nước ta là một ngày căng thẳng đối với mình. Trưa hôm trước, cả ban văn hóa Văn Nghệ liên hoan tiễn anh Thép Mới  đi B. Ăn nem rán với bún và rau sống, uống rượu mơ, ăn mứt sấu. Mình ăn uống rất nhiệt tình, dạ dày lại đang đau, về đến nhà là đi tháo, nằm bẹp một chỗ.

Sáng hôm sau mình đến cơ quan sớm mong giúp anh Thép Mới được chút gì trước khi anh đi. Anh bỗng hỏi: Trong người mày thấy thế nào? Em mạnh khỏe bình thường thôi… Mày chuẩn bị đi với tao. Đến bây giờ mà thằng L. (người được cử đi với anh) chưa thấy lên, chậm hẹn hai ngày rồi… Đến phút cuối cùng, tao sẽ bảo là lấy mày đi thay thế… Sẵn sằng chứ?… Em bao giờ cũng sẵn sàng. Lần trước đi cũng thế, 10 giờ đêm quyết định là em ngủ lại cơ quan, sáng có mặt ngay. Cần mang gì đi anh nhỉ… Một bộ quần áo thường thôi, các thứ khác đã có cả rồi. Mấy giờ đi ạ? Sáu giờ chiều nay. Bây giờ mày đi mua một số hộp và túi ni lông để chuẩn bị…

Một lát sau, gặp anh Mạnh Hồng em rể anh Thép Mới là trưởng phòng hành chính. Anh cũng nói là L. chưa lên, còn bảo mình nên xin anh Thép Mới cho đi cùng. Mình kể là anh đã bảo chuẩn bị rồi và chỉ yêu cầu nên đi sớm. Chờ đợi thật là khổ. Có khi lại hỏng cả. Anh Mạnh Hồng tán thành, lên ngay buồng anh Thép Mới. Lúc mình gặp lại thì anh đang nói chuyện với anh Vũ Hải, một người Huế. Anh Mạnh Hồng vội ra nói nhỏ với mình: Cơ quan đã cho cậu T. vay tiền, chắc nó sẽ đi thay L…

Tôi bỗng thấy mệt và đói nữa. Từ hôm qua, có ăn gì đâu…

Về đến nhà, nhìn quần áo, đồ dùng cá nhân, cả sách tiếng Nhật và quyển từ điển tiếng Pháp bỏ túi… đã xếp gọn gàng trong túi nhỏ, càng buồn thấm thía.

Di chuc Ho Chi Minh

Chiều, mưa nặng hạt, mình đi lấy cho anh Thép Mới ba mươi tập Di chúc Bác Hồ để anh làm quà tặng miền Nam trong chuyến đi. Lúc mang lên căn buồng nhỏ của anh, nơi chứa đựng biết bao kỷ niệm đầm ấm giữa hai anh em những tháng ngày vui buồn có nhau mình bỗng gặp mấy vị tai to mặt lớn. Nào là Nguyễn Thành Lê, phó tổng biên tập, Thanh Dương nguyên tổng biên tập báo Tiền Phong thủ trưởng của Rosa tội nghiệp năm nào nay là ủy viên ban biên tập báo Nhân Dân và Trần Kiên, trưởng ban Miền Nam của báo. Họ chính là những người tham gia quyết định gạt bỏ mình. Mình đưa anh Thép Mới tập Di Chúc Bác Hồ rồi xuống ngay cầu thang… Đứng lại đấy mà làm gì. Chính anh cũng đang bị bao vây…

Nguyen Thanh Le Thanh Duong Tran Kien

Về lại ban văn hóa, ngồi đọc báo mà lòng đau xót. Hôm trước anh Mạnh Hồng kể là đêm Thep Moi chan dung 227/3 anh Thép Mới cùng anh và họa sĩ Việt Hải trực đêm ấy thức đến 3 giờ sáng nói chuyện. Anh Thép Mới kể là ban đầu anh đề nghị mình đi cùng anh, bị bác. Anh lại đề nghị Vũ Hạnh, một người trong đội báo, lại bị bác. Anh đề nghị Nguyễn Tuất, tức Mai Phong, cũng một đội viên đội báo, lại bị bác nốt. Mình biết, vào miền Nam mới giải phóng anh muốn đi cùng những thanh niên của Hà Nội giải phóng năm xưa, nhưng đều bị bác. Những người bác muốn anh chọn những người đảm bảo về chính trị để giúp việc. Anh bèn nói thế thì tôi chọn Thanh Đảo, người phụ trách hành chính nhưng là đảng viên. Mọi người ngạc nhiên:Manh Hong.jpg Anh ta có phải nhà báo đâu, viết lách gì được. Bấy giờ, anh chọn cậu L. bí thư thanh niên, đảng viên, lại là phóng viên. Lý do chọn L. là như vậy. Anh Mạnh Hồng kể, sau đó anh còn nói rất nhiều về mình, khen sự nhạy bén về chính trị, năng lực làm việc, và mấy lần nhắc là: Không có nó làm sao tôi viết được cái “Xốc tới”. Anh Mạnh Hồng còn nói là anh Thép Mới đã rơm rớm nước mắt khi nói về mình, anh buồn vi không làm được gì hơn để giúp mình. Anh Mạnh Hồng còn kể nhiều chuyện khác về tình cảm của anh Thép Mới với mình.

Pham Duy PhungSau đó, Phạm Duy Phùng đội trưởng đội báo năm xưa gọi mình ra sân dưới gốc đa nói là chính cậu ta đã gặp anh Thép Mới xin cho mình đi B cùng anh. Ông ấy mê mày lắm, nhưng đành chịu, vì quyết định còn nhiều người khác nữa. Mình nói: Tao vẫn sống trong vòng vây thành kiến nặng nề mày ạ. Điều trớ trêu là tới đây, chính họ sẽ phải ôm hôn những thằng mới tàn sát chiến sĩ đồng bào ta xong. Còn với những người yêu nước chân chính, một lòng với dân với nước thì lại nghi kỵ ra sức hành hạ…

Thế là hai năm, hai tháng 29 ngày chân tình cởi mở vui buồn có nhau cùng dốc sức phục vụ dân nước đã qua rồi. Thành quả lao động cả cơ quan, cả nước đều biết. Những kỷ niệm đẹp đẽ, ấm lòng còn mãi sẽ thành ngọn đuốc soi sáng trái tim mình trên bước đường đi tới, vượt qua mọi thử thách, khó khăn đem trọn cuộc đời trong sạch hiến dâng cho dân cho nước. Từ giờ, chỉ có làm việc và học tập rèn luyện để làm việc ngày một hiệu quả hơn. Một lần nữa cần nhắc lại: Ngậm miệng lại mà làm việc đi.

Đài Tiếng nói Việt Nam vừa đưa tin giải phóng Đà Nẵng trong tiếng reo vui bài hát mới của cậu Phạm Tuyên ca ngợi Đà Nẵng giải phóng. Trước tình hình mới, chắc cậu cũng nặng một bầu tâm sự như mình.

*

*        *

Từ 8:00 ngày thứ hai 7/4/1975 mình được bổ sung về Ban Miền Nam tăng cường lực lượng cho ban này, hiện chiếm gần hết mặt báo hằng ngày. Chinh YenThời sự miền Nam là vấn đề nóng hổi nhất tập trung sự chú ý của mọi người dân. Chiến thắng ở chiến trường làm thay đổi toàn bộ đời sống hậu phương, từ những hoạt động kinh tế, cho đến những ngóc ngách sâu kín nhất trong tâm tư người dân. Mình có điều kiện gắn chặt với vận mệnh đất nước. Có thể nói đó là cái may lớn cho mình trong lúc này.

Ban Miền Nam nay rất đông người, có nhiều rađiô và máy ghi âm. Cửa kính đóng kín, chỉ bên trong mới mở được. Nhưng ngoài cửa kính khi nào cũng có người lấp ló, ai cũng mong tin mới từ chiến trường. Khi chúng tôi hoa tay ra ý là chưa có gì mới thì họ lắc đầu rồi mới đi. Có tin mới chúng tôi hé mở cửa nói ngay, rồi còn quay vào làm việc. Rõ là quan trọng. Tối nào cũng vậy, gần như cả ban có mặt, không phải chỉ có người trực hôm ấy mới đến. Không ai muốn biết tin sau cả. Thật là vui. Cả anh Chính Yên cũng tăng cường. Anh quen viết văn nghệ, chữ nghĩa kỹ càng, phải làm tin, khổ như đánh vật. Nhưng cũng cứ làm.

Mấy hôm nay, mẹ hay nhắc đến cô bạn nhỏ. Mẹ bảo xem báo nhiều mà chưa thấy có bài của nó. Mẹ nói như thế chắc lại có ý gì về cô ấy với mình đây. Các bà mẹ khi nào cũng thế, chưa chi đã quí người thân của con mình… Trưa 25/4 nhận được thư cô từ Đà Nẵng. Đây là thư đầu cô viết cho mình

Anh Thành thân mến,

Nhân có người về Hà Nội, tôi gửi anh vài lời thăm sức khỏe. Đi xa như vậy cũng chưa lâu. Nhưng nhiều biến chuyển dữ dội đến với tôi, làm cho tôi cứ nghĩ là thời gian qua nhiều, nhiều lắm rồi. (…) nghe tin thành phố Huế giải phóng, tôi lập tức nghĩ đến anh vì tôi nghĩ anh yêu Huế lắm phải không? Hiện giờ không hiểu anh có được về Huế? Khi trở ra, nhất định tôi sẽ vào Huế. Có thể gặp anh ở Huế không? Anh viết thư cho tôi nhé. (…) Vội vài lời thăm anh… Tôi hầu như không có quê hương, nhưng anh có tin được rằng hiện giờ tôi nhớ Hà Nội vô cùng. Tại sao ở đấy cái gì cũng thân quen đối với tôi? Nhớ Hà Nội, nhớ bạn bè, trong đó có cả anh nữa, Anh có tin như vậy không?”

Cảm ơn cô bạn về những lời lẽ chân tình. Đúng là mình không được về Huế và điều mình có thể bây giờ là làm việc nhiều như cô mong. Lá thư này làm mình nhớ lại những điều Hà Khánh Linh nói hôm chủ nhật vừa qua.

Ha Khanh Linh 2Cô bạn đã có những buổi trò chuyện với Linh. Linh bảo là nên lấy chồng chậm nhất là vào tuổi 26, chớ để đến 27 như Linh, già quá. Cô bảo: Thế chị tìm cho em đi! Biết làm sao mà tìm được người em ưng ý, phải tự tìm lấy chứ! Chị bằng lòng em lấy ai là em bằng lòng lấy người đó. Linh kể là hiện có ba người đang rất yêu cô bạn mà không anh nào dám nghĩ là mình sẽ được cô yêu cả. Trong khi đó, nhắc đến anh cứ mỗi nhắc mỗi khen, cái gì về anh cô đều khen hết, mà nhắc anh hoài. Chẳng lẽ em mà không biết một đứa con gái đang yêu nó như thế nào à! Nhưng em không vun vào mà em cũng không phản đối. Mình hỏi lý do thì Linh đáp ngay chẳng vì lý do gì hết. Chê không xinh à? Không, cái đó không quan trọng. Cô ấy có đôi mắt đẹp chứ! Đây là anh chê đó thôiEm gái anh đẹp, em dâu anh đẹp mà lại…

Bấy giờ, mình cười và nghĩ bụng các cô thật là rắc rối. Mình với cô ấy bao giờ cũng là bạn tốt của nhau. Mình tin như vậy. Chúng mình bao giờ cũng thành thật với nhau, có ích cho nhau. Thật lòng, mình thương cô ấy lắm.

*

*     *

Sáng 30/4, chính mình và cô Thanh Trà ban quốc tế mới bổ sung về đã nghe và cùng ghi lại thông báo đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh mới nhậm chức tổng thống được hai ngày. Về ban, chúng mình mò rađiô Thanh Tra.jpgvà phát hiện ra đài phát thanh Sài Gòn phát liên tục suốt ngày xen kẽ các bản tin với các ca khúc cách mạng. Từ đó hai chúng tôi bám sát đài này, coi đó là nguồn tìm kiếm tin miền Nam chủ yếu. Chúng tôi tự hào vui mừng báo cho cả ban và tòa soạn biết tin nóng hổi này. Đêm ấy, cả ban đều tự nguyện trực, vì cả bốn trang báo Nhân Dân ngày 1/5 đều dành cho ban đưa tin giải phóng Sài Gòn, mặc dầu hôm đó là ngày Quốc Tế Lao Động.

Mình vừa làm xong cái tin về Đài phát thanh Sài Gòn giải phóng thì ở bờ hồ Hoàn Kiếm bắt đầu bắn pháo hoa. Bắn những nửa giờ, hơn hẳn mọi khi. Các công nhân Cuba đang xây dựng khách sạn Thắng Lợi vừa chạy xe tải to vừa đập tay mạnh vào cửa xe tạo tiếng động lớn rộn ràng. Tối ấy, tôi còn theo thông Hoang Tung chan dungbáo của đài phát thanh mà làm cái tin đài Truyền hình Sài Gòn giải phóng phát sóng buổi đầu tiên vào tối 1/5.

Báo Nhân Dân liên tục nhận được điện thoại, chủ yếu là của các báo bạn Quân đội nhân dân, Hà Nội… Các bạn hỏi đã đưa tin giải phóng miền Nam chưa, chúng tôi nói đang chờ ban quân sự Thông tấn xã Việt Nam, thì các bạn gặng lại, chúng tôi không hỏi Thông tấn xã, chúng tôi hỏi ngày mai, 1/5 báo các anh có đưa tin giải phóng miền Nam không. Sau tôi nghe các bạn ở phòng thư ký kể lại nhiều người hỏi quá, thông tấn xã lại vẫn bảo chờ, ông Tổng biên tập Hoàng Tùng bực mình nói to thế các anh đúng hay hàng triệu người dân đang hoan hô ở bờ hồ, vừa hô khẩu hiệu vừa hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng đúng… Về sau, mới biết là do chuyện ở các đảo Trường Sa còn đang giải quyết.

Đêm ấy nhà in báo Nhân Dân in một mạch đến 18 giờ ngày 1/5 mới được có một triệu rưởi số báo, lẽ ra muốn in đến hai triệu.

Nhân dân Hà Nội mấy hôm nay vui hơn Tết. Pháo đốt rất nhiều. Khắp thành phố rợp màu cờ đỏ sao vàng. Người người hớn hở, niềm vui vừa bộc lộ vừa ẩn kín sâu xa. Một cuộc đổi đời cho biết bao kiếp người đánh dấu từ ngày hôm qua, 30/4 Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Biết bao gia đình lại hòa hợp sum vầy. Biết bao con người được giải phóng khỏi những thành kiến hẹp hòi để thả sức tung cánh bay cao. Sự chuyển mình của cả một dân tộc. Sáng nay, 2/5 bà già ở nhà ngoài gặp mình bỗng nói: Ngày trước, tôi có hai ông bác đi du học Pháp. Bao giờ cũng cứ phải nhận là người Trung Quốc, sợ nhận là người Việt Nam bị họ khinh…

Bây giờ, ai cũng thèm được làm người Việt Nam. Mấy hôm nay, cố vấn an ninh của tổng thống Mỹ Kitxinhgiơ tức điên lên, lồng lộn, lúng túng ấp úng trước các nhà báo. Vị tiến sĩ lỗi lạc ấy của nền ngoại giao Mỹ đã hóa thành một kẻ ngớ ngẩn, ngu ngốc khi trả lời câu hỏi đơn giản: tại sao Mỹ thua.

Không có cách nào gửi thư chia vui cùng cô bạn. Chỉ còn biết làm việc làm việc thật nhiều, đúng như mong ước của cô.

Đêm nay, lại trực. Cái bệnh dạ dày và các cơn đau hành mình suốt tuần qua, mấy hôm nay hầu như biến mất, không cảm thấy gì khó chịu trong mình. Niềm vui lớn quá đã có tác dụng thật kỳ diệu…

*

*       *

Ba giờ sáng thứ năm 15/5/1975, mình và em Nhàn đã dậy chuẩn bị tham gia cuộc mít tinh Le Duanlớn chào mừng thắng lợi vĩ đại của dân tộc tổ phu-hieu-co-do.pngchức tại sân vận động Hàng Đẫy. Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đọc bài diễn văn về những sự kiện lớn mới xảy ra và những vấn đề vĩ đại nhất của Tổ quốc ngày nay và ngày mai… Vậy mà đó lại cũng là những lời thấm thía nhất đối với từng con người Việt Nam, gần gũi nhất với từng con người… Ai cũng nghĩ: Những ngày lớn đã bắt đầu. Cuộc đời mới cũng đã bắt đầu. Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh đã mở. Làm gì đây, để đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc, xứng đáng được làm một người Việt Nam thời đại này…

Buổi tối, một lần nữa pháo hoa lại rực rỡ nở khắp bầu trời Hà Nội. Lần trước, cô bạn chưa ra. Lần này, lại vội về Thanh Hóa thăm bà dì và cô em. Chưa lần nào chúng mình được cùng xem pháo hoa. Nhưng mình đã thấy pháo hoa sáng rực lên trong ánh mắt, nụ cười của cô trong lần gặp lại sáng thứ tư ngày 14/5. Hôm trước, mới về cô đã lại nhà, nhưng mình đi làm. Xem ra, chúng mình đã hiểu nhau khá nhiều. Nhất là những lúc không nói gì, chỉ nhìn nhau.

*

*     *

Ngày 17/6/1975, nhận thư anh Thép Mới gửi từ Sài Gòn ngày 11/6. Anh viết: Từ khi tôi đi, tôi nhớ bạn nhiều và chắc bạn cũng nhớ những ngày cùng làm việc. Tôi cũng tiếc là giá mà lúc này có bạn giúp tôi, chắc công việc của tôi cũng chạy hơn.

Thu thep moi gui Ton That thanh.png

(…) Công việc cụ thể của cậu đến tháng 5 tôi có biết. Giờ anh em phân công gì? Thôi, việc gì cũng cứ làm. Hăng hái, cần mẫn, sáng tạo, biết xử sự trong mọi trường hợp (…)  Thôi, sẽ còn gặp nhau và sẽ còn nhiều ngày làm việc vui nữa.

Mình hiểu lòng anh cũng tin là anh hiểu mình. Chỉ tiếc là những gì lớn lao, vĩ đại, sâu sắc nhất sẽ chẳng bao giờ diễn lại cho mình chứng kiến và tham gia đâu! Mình đã mất nhiều rồi, mình đang mất và sẽ còn mất nhiều nữa… Vì một lẽ giản đơn là ý thức xã hội bao giờ cũng biến chuyển chậm hơn tồn tại xã hội. Còn lâu mới thay đổi được cái  kiểu suy nghĩ hẹp hòi đã làm hại cách mạng nước ta trong nhiều năm nay. Những biến chuyển sôi động mau chóng của miền Nam sẽ có tác động rất lớn: Phải mau chóng thay đổi cách nghĩ, nếu không sẽ lại loại đến 9/10 lực lượng nhân dân yêu nước ra khỏi hàng ngũ cách mạng, làm hại Tổ quốc đến mức không sao lường hết được.Tran Van Tra

Mình còn nhớ rõ những lời nói sáng ngời chính nghĩa thắm tình dân tộc được nhân dân Nam Bắc hoan hô nhiệt liệt hồi lâu như thế nào khi Thượng tướng Trần Văn Trà nói với đồng bào hôm ra mắt Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định tại Sài Gòn và lời đồng chí Lê Duẩn nói trong lễ mừng chiến thắng tại Hà Nội.

Trí tuệ của các nhà cách mạng và sức mạnh của nhân dân to lớn mạnh mẽ cuối cùng nhất định sẽ thắng lợi, xây dựng nước ta thành một nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mỗi người lao động lương thiện, trung thực đều có quyền được hưởng hạnh phúc đầy đủ.

Vì hạnh phúc lớn lao đó của cả dân tộc, mình nguyện hiến dâng cả cuộc đời. Cũng vì thế, quyết không cho phép ai làm phí phạm cuộc đời mình, kể cả thời gian và sức khỏe.

Đúng như cụ Phan Đăng Tài, em ruột Tổng bí thư Phan Đăng Lưu, thân phụ nhạc sĩ Hồng Đăng tài hoa đã tiên doán từ lâu: Từ sáng thứ hai 23/6 mình lại trở về phòng tư liệu, ngập mình trong sách vở, báo chí. Cụ Tài đã về hưu, người thay cụ là anh Đào Năng An, một nhà cách mạng lão thành, to lớn vững vàng như một đô vật với vẻ mặt hiền hòa, giọng nói trầm ấm. Vừa đúng lúc mình bắt đầu củng cố tiếng Pháp, cố sức học tiếng Nhật, tăng cường đọc các sách lịch sử, triết học… Tóm lại là bắt đầu một sự chuẩn bị dài hơi, cơ bản có kế hoạch hẳn hoi.

Phong Tu Lieu bao nhan dan

Sau khi giải phóng Sài Gòn, hai miền Nam Bắc thông thương, thì người ở phòng tư liệu nhận được nhiều thư nhất, hầu như hằng ngày đều nhận thư từ miền Nam gửi ra là trưởng phòng Đào Năng An. Tôi nghe nói anh từng là người lãnh đạo nhiều nơi ở Miền Nam. Cho đến ngày tập kết ra Bắc, do có chuyện gì đó cần xác minh thêm, nên trong lúc chờ đợi, anh được về báo Nhân Dân. Hồi tôi đi bán báo, anh làm ở ban nông nghiệp. Nay thì về phụ trách phòng tư liệu. Rõ ràng là tuy chưa xác minh rõ kết luận dứt khoát, nhưng không ai phủ nhận tài đức của anh. Chị Bình Đình có con trai đi B đã lâu. Một hôm nhận được thư. Ngoài phong bì ghi rõ tên chị, chị cũng nhận ra đúng nét chữ con trai viết. Nhưng khi mở ra thì chị ôm mặt khóc. Thư do bạn đồng đội con chị báo tin không may, hẹn sẽ mang kỷ vật của bạn đến tận nhà. Hồi ấy bộ đội nhập ngũ, trước khi đi B, đơn vị đều bảo mỗi người viết sẵn địa chỉ, tên người nhận trên vài phong bì, phòng khi cần báo tin. Chỉ có chị Trần Hòa là vui mỗi khi nhận thư chồng là anh Hoàng Tuấn Nhã, đặc phái viên của báo tại Sài Gòn. Anh Phương Tần thì nhận được thư Sài Gòn gửi ra là xin đi ngay. Anh đang phụ trách giới thiệu Sài Gòn trên báo, định là sẽ đăng bốn sáng chủ nhật. Nhưng đến kỳ II, phải ngừng, vì… Sài Gòn đã giải phóng, chẳng ai quan tâm Sài Gòn xưa thế nào nữa. Thư anh nhận của người bạn chiến đấu năm xưa cho biết anh đi, chị vợ ở nhà để tránh khỏi bị quấy nhiễu vì xinh đẹp, chị xin cắt tóc vào chùa tá túc sống như một nữ tu. Sau này, anh tìm ra, đưa chị về nhà cơ quan phân cho ở đường Võ Thị Sáu.

Trưa 10/9, phòng tư liệu liên hoan tiễn mình đi Sài Gòn. Trời mưa nhẹ. Có rượu, lạc rang, mực nướng, bánh su kem. Chị Sáu nhà ăn còn phân cho một quả mít ngon cây nhà lá vườn cơ quan, tiễn chú Thành đi xa. Thân mật, vui vẻ. Chị Hoa Lý có nhã ý dẫn con trai là Huỳnh Dũng Nhân đang tập chụp ảnh đến chụp mấy kiểu. Cho nên mới có bức ảnh gần như đầy đủ toàn ban thế này.

Tối thứ năm, cả nhà quây quần bên rađiô nghe Đài Giải Phóng đọc Những ngôi sao xa xôi, truyện ngắn đầu tay của cô bạn.

Suốt đêm trằn trọc. Mình cũng phải viết một cái gì về những ngày cả nước đánh Mỹ chứ… Lại nhớ Quảng Bình khổ mà vui.

*

*       *

Qua thư anh Thép Mới và dư luận trong cơ quan, biết là sắp tới mình sẽ được vào Sài Gòn. Đúng tinh thần trong mảnh giấy chưa nên cho Tôn Thành đi ngay. Bây giờ sóng yên biển lặng rồi, có thể cho Tôn Thành đi. Mình nghĩ ngay đến chuyện phải lên Yên Bái một chuyến, cố đưa mẹ là người lớn tuổi nhất nhà và cháu Hoàng Hải là người nhỏ nhất, mới bảy tuổi, thằng bé cũng nhanh nhẹn, đỡ đần được những việc vặt trong chuyến đi. Mẹ thì cái gì cũng muốn mang lên cho bà và cô, cứ xách hai túi lên đặt xuống lại bảo được. Mình thử cầm lên xem, nghĩ là rồi thì tất cả sẽ lại đè lên vai mình thôi. Cháu Hải lo mang cái đèn bão Trung Quốc to, quà quí nhất của ba bà cháu.

Chiều 19/7 cùng mẹ và cháu Hải lên tàu đi Phú Thọ. Đúng nửa đêm thì ăn miến gà Phú Thọ rồi ra ngay bến xe chờ cho đến sáng mua vé ô tô, khoảng 10 giờ ngày 20/7 thì đến bến xe Thác Bà giữa rừng long não thơm phức. Nghỉ một lát rồi mình đeo ba lô, hai tay xách hai túi du lịch, còn cháu Hải tay xách cái đèn bão, tay dắt bà ngoại rất có trách nhiệm. Hai bà cháu đi chậm thành ra mình cũng được nghỉ để đợi cùng đi kẻo lạc. Đây có lẽ là lần cuối mẹ lên thăm bà. Lần đầu mẹ thăm bà là năm 1960, có em Nhàn đi cùng do bà nhờ ông lái xe Đạo con nuôi làm công trường về đón tận cửa nhà. Lần này, mẹ đã 62, dân thành phố có đi bộ xa bao giờ, lại đi đường núi, những dốc là dốc. Đến nhà bà, mẹ thở không ra hơi, vẫn cố đon đả hỏi thăm sức khỏe bà. Bà đã ngoài 80, bắt đầu lẫn… Mẹ con bà cháu cố lên đây chỉ để đem chút niềm vui đến cho tuổi già sống bên con gái luống tuổi không chồng không con.

Sáng 21/7, trời nắng gắt, mình đi hơn chục cây số cố tìm nhà bà chị Vũ Văn Chỉ. Chỉ vẫn ở trong Nam, làm kế toán trong đơn vị bộ đội. Đã có ba con gái Hiền, Hòa, Hương tên toàn bắt đầu bằng chữ H chữ đầu tên mẹ Chu Thị Thanh Hảo vẫn làm ở xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc Sơn Tây. Cuối năm 1974, Chỉ có ra Bắc mua máy tính, được về nhà dịp vợ sinh cô út. Địa chỉ không có chỉ có địa chỉ cô em Kiều Thị Vân, đành viết thư nhờ cô chuyển giúp. Cô này có lần viết thư về tòa soạn báo Nhân Dân nhân đọc thư mình gửi cho anh theo địa chỉ gia đình. Cô là sinh viên y năm thứ ba đúng tuổi ham viết thư.

Đang chờ thư Thùy, không hiểu sao chú em im hơi lặng tiếng lâu thế. Kỳ này phải viết thư ngay cho cô Tường vợ chú ta mới được. Còn Hoàng Sâm nữa. Lần cuối cùng gặp, chú ta gầy đến phát sợ, mắt như lòi ra ngoài mặt đen, mà lại đang lái một cái xe tải thật cao to mui vải. Sâm chỉ kịp chạy lên, anh em nắm tay nhau nhìn mặt nhau một cái là phải đi ngay kẻo đồng đội vẫn nổ máy xe chờ dưới đường.

Còn cô bạn nhỏ, cô nghĩ gì mình không biết. Mình chỉ muốn tài năng của cô được phát huy, có đóng góp cho đời. Không bao giờ mình muốn và có thể chịu đựng được khi để bất cứ ai bị hại vì mình. Mình chỉ thấy lòng thanh thản khi tin chắc là đang đem lại hạnh phúc cho người khác… Như những ngày này, biết là đang làm cho bà, cô, mẹ và cả cu Hải vui.

Cả ngày 23 tham gia dỡ một cái nhà công nhân công trường chuyển đi bán lại. Dạo này, hàng loạt nhà bán như vậy với giá rẻ như cho: 15 đồng, 20, 30 đồng một căn nhà hẳn hoi. Người mua nói là mua làm củi đun, nhưng thật ra còn nhiều cột, kèo dùng được. Cái nhà cô Bình mua, mình và ba anh Tình, Trụ, An và hai con anh Tình dỡ suốt một ngày mới hết. Cùng làm việc bọn mình trò chuyện rất vui. Qua Trụ và An mình biết những thanh niên đã tham gia đội quân diệt Mỹ nay về xây dựng quê hương, đã có vai trò tích cực trong xây dựng cuộc sống mới.

Cả ngày 24, giỗ ông thân sinh cô Bình, mời khách ăn uống suốt hai buổi, gần đủ mặt các loại người ở cái đất Vĩnh Kiên này từ dân sơn tràng mặt khô mũi lõ đến chị nông dân chân lấm tay bùn. Câu chuyện lộn xộn, úp mở, bóng gió, xem ra chẳng ăn nhập gì vào nhau cứ kéo dài suốt cho đến tối của khách đến ăn càng làm nổi rõ tính phức tạp của đất tứ chiếng quần cư này. Không nhân vật nào mờ nhạt, thiếu cá tính. Đến cả bà cụ Cương, hồi đền bù để xây đập bà  làm các cán bộ lúng túng khi nói là nhà tôi trồng toàn những chuối, dứa ăn chết người hay sao mà các ông không bồi thường, chỉ mít, vải mới trả tiền. Bây giờ bà đã già lắm rồi, từ đầu đến cuối bữa chẳng nói một câu nào, ăn uống nhỏ nhẻ, chậm rãi, lặng lẽ đưa cặp mắt sáng quắc lần lượt nhìn kỹ mặt từng người một.

Máu ham tiểu thuyết lại một phen bị kích động, mình chỉ mong có ngày viết được cái gì đó theo kiểu Sôlôkhốp.

Suốt sáng hôm nay đi mua được có 10 ký lương thực theo giấy chuyển lương thực mang từ Hà Nội lên gồm 3 ký gạo mùa, 3 ký gạo chiêm và 4 ký ngô xay. Vừa đủ đám giỗ đông người. Cô muốn làm giỗ rõ to cho xóm làng biết nhà có con cháu hiếu thảo. Cửa hàng lương thực thì toàn thấy người Kinh mua bán. Cửa hàng ăn uống lại toàn là Mán (nay gọi là Dao), già trẻ nam nữ kéo nhau vào ăn bánh cuốn, phở gà, bánh cắt, bánh xốp uống nước chanh. Cửa hàng bách hóa chẳng thiếu thứ gì, Hà Nội có gì ở đây cũng có. Đông khách nhất là chỗ bán thuốc lá, cũng như Hà Nội.

29/7 về đến nhà, nóng quá, gần như cả nhà đều ốm. Ba ký gà sống thiến kho gừng mang về vừa đúng lúc…

6/8 nhận được thư Kiều Thị Vân, vội viết thư trả lời. Cô thật thà viết chắc anh không lạ vì sao em họ Kiều. Một hoàn cảnh hơi khác thường. Nhưng rõ ràng là cô rất mến và quí trọng anh Chỉ. Những trí thức xã hội chủ nghĩa xuất thân từ nông dân thứ thiệt.

Tối hôm qua, hoa quỳnh nhà mình lại nở, lần thứ tư trong năm nay, chỉ có ba bông. Hai chú công nhân cảng Bùi Lê Nghiên và Nguyễn Tiến Trung đến chơi, thành khách thưởng hoa đêm nay. Mãi gần 12 giờ đêm mới về.

Cứ mỗi lần ngắm hoa quỳnh nở mình lại suy nghĩ nhiều về một cuộc đời trong sạch, Hoa Quynhkhiêm tốn, lặng lẽ cống hiến toàn bộ cho hạnh phúc nhân dân của ông ngoại. Không ai ngờ được là ở nách một chiếc lá xấu xí, vàng úa vì nắng, có chỗ đã nhăn nheo thậm chí cháy khô ấy lại có thể nở ra một bông hoa lớn đến thế, đẹp và thơm đến thế… Như  một nghệ sĩ vắt kiệt cả cuộc đời mình làm ra tác phẩm trong sáng, đẹp đẽ, mềm mại duyên dáng đến thế này. Mà chỉ đến sáng là hoa tàn, rũ xuống thê thảm. Ông ngoại mất năm mới 52 tuổi, đúng lúc trở lại với sự nghiệp văn chương đang độ tài hoa nở rộ nhất.

(Còn tiếp)

Thành phố Hồ Chí Minh 14/7/2019

P.T.

 

Tháng Tám 12, 2019

Thời Dựng Đảng

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Thời Dựng Đảng

Nhan đề phần 2 này to tát quá. Thật không xứng nằm trong cái blog cá nhân nhỏ nhoi Tong The Gia.pngcủa chúng tôi.

Năm 1985, anh Tống Thế Gia là bí thư chi bộ Đảng cơ quan Thường trực báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh đưa cho tôi một gói giấy báo, trên có hai dòng chữ anh Thép Mới viết Gửi Tôn Thất Thành (nhờ Tống Thế Gia chuyển giúp). Mở ra thì thấy đó là cuốn Thời Dựng Đảng của anh Thép Mới, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh cho in năm 1984. Ngay đầu trang có chữ anh Thép Mới Thân tặng Tôn Thất Thành. Cảm ơn sự cộng tác có hiệu quả cách đây vừa đúng 10 năm. 3/2/1985. Thép Mới (ký). Sách in 5.180 cuốn. 153 trang.

Tôi xin kể lại thời gian tôi giúp việc anh Thép Mới viết nên tác phẩm ấy đầu năm 1975.

*

*       *

Thoi Dung Dang.png

Cuối cùng thì cái năm 1975 mình hằng mong đợi và e ngại cũng đã đến. Cả ngày hôm qua và hôm nay đều đọc những bài viết về điện ảnh, môn nghệ thuật mình say mê. Mở chiếc rađiô chạy pin Hà Khánh Linh cho mượn nghe nhạc và tiếng Nhật, tiếng Pháp của đài Tiếng nói Việt Nam. Vẫn chưa viết gì cả. Càng nhận thấy rõ là ở nhà thì không thể nào viết được. Ngay lúc này, cái loa truyền thanh sau lưng cứ hết nói lại nhạc. cách chỗ mình ngồi một mét, bà cô em bố và cô Trang em dâu đang nói chuyện sôi nổi. Hai cháu bé trai Hải Hà con em Nhàn đùa chơi cách một bức tường mà vẫn nghe rõ tiếng hò hét cãi nhau. Còn dưới đường phố thì tiếng ô tô, xe đạp, một anh chàng huýt sáo vu vơ, tiếng dép loẹt quẹt, tiếng guốc cong cóc, vài người nói chuyện bô bô… Thật không sao tập trung tư tưởng được. Phải thay đổi chỗ làm việc thôi. Đến cơ quan hay ra thư viện, ít nhất cũng cầm chắc mỗi ngày có được mấy giờ làm việc mình yêu thích. Không thể buông trôi như năm ngoái. Bây giờ phải viết ra giấy tất cả những gì đã nghĩ, để làm việc một cách cụ thể, có số lượng hẳn hoi.

Tối 4/1, cô bạn nhỏ lại chơi trước khi đi B vào ngày 15. Nhớ ai thì lại nhà người ấy thôi, không đi nhiều nhà làm gì. Nhà có khách, tôi đưa cô ra vườn hoa Canh Nông sau nhà như mọi khi vẫn đưa các bạn trai thân mỗi khi cần tâm sự. Những mối lo, những việc định làm trong những ngày tới, còn kể cả hoàn cảnh nhà mình hiện nay đông người quá, nhà lại chật, chỉ học nhiều mà rất ít viết. Cô không ngạc nhiên chỉ tỏ ra thông cảm những nỗi đắng cay chua chát mình từng phải chịu. Cũng tỏ ra buồn về những việc đã xảy ra cho giới văn nghệ, cảm thấy chẳng muốn viết gì cả. Về chuyện Babel, khi mình hỏi đọc có khó chịu lắm không thì cô ngạc nhiên hỏi lại ngay: Tại sao lại có thể khó chịu được nhỉ?… Tôi nghe mà mừng trong lòng.

Mười giờ tối, chia tay, chúng tôi hẹn nhau hôm sau là chủ nhật sẽ xuống thăm Hà Khánh Linh.

Đúng hẹn 7:30 sáng hôm sau, mưa rơi mau hạt, tôi đến nhà thì đã thấy cô ăn mặc chỉnh Ha Khanh Linh 2tề đang đợi. Cô mặc cái áo lu dông xanh ngoài áo len đỏ. Song, có lẽ do thấy tôi chỉ mặc có cái áo vệ sinh xám thôi, nên cô vào thay áo, mặc lại cái áo len dệt xanh như tối hôm qua, rồi mặc ngoài thêm cái áo thanh niên xung phong màu rêu. Ôi những cô gái, bao giờ cũng vẫn là những cô gái…

Trời tạnh mưa là chúng tôi đến ngay nhà Linh. Linh mừng lắm vì không ngờ là cả tôi cũng xuống. Suốt sáng trời mát dịu gần như ngày Tết. Ba chúng tôi nói chuyện thân mật, thật thà như ba anh em trong một gia đình. Những chuyện thiết thân với cuộc sống và sáng tác của từng người mà có lẽ không bao giờ có thể nói được ở một nơi nào khác. Linh gọi cô bạn là em và xưng chị rất tự nhiên, thoải mái. Nhiều lúc cô bạn ngồi cạnh, áp má vào vai Linh, không nói gì… Xem ra hai cô còn muốn nói với nhau nhiều, mà có lẽ cũng đã nói với nhau nhiều trong những lần cô đến thăm Linh trước hôm đến nhà mình.

Tôi cảm thấy lòng thư thái, vui vui. Bọn trẻ chúng mình hiện nay càng cần gần gũi nhau, hỗ trợ nhau, động viên nhau làm việc, củng cố lòng tin vào tương lai đất nước và bản thân. Tôi biết là buổi sáng hôm nay cô bạn nhỏ sẽ chẳng bao giờ quên.

Về nhà được một lúc thi trời mưa cho đến tận tối vẫn chưa ngớt. Lại đau răng, lấy tay tự rứt ra một nửa cái răng hàm cho đỡ vướng. Ngồi trên giường viết thư cho Tường là vợ Thùy và Hường cô con nuôi cô Bình tôi mới biết mặt hôm lên Yên Bái với mẹ. Hai cô đều mới vào đời, một là thợ dệt, một là diễn viên chèo của tỉnh. Tự nhiên, càng ngày mình càng có thêm nhiều người thân. Họ mến và tin mình đến mức mình ngạc nhiên vì tự thấy mình có làm được gì cho họ đâu… Xem ra, mình cũng là con người hạnh phúc hiếm có trên đời đấy chứ nhỉ.

Hôm sau trời rét. Sáng đi làm và chiều về nhà đều bị mưa. Cả hai lần ấy đều đưa và đón bà cô vào bệnh viện mắt chăm sóc mẹ. Trông cô gầy guộc khô héo xơ xác đứng chờ trên hè phố lạnh mà thương. Một bà già không chồng không con ở bên như cô thì còn hy vọng gì. Cô ở Huế với chồng và con gái. Đúng hôm đi chợ xa, khi về thì đất nước chia đôi, không về nhà được nữa. Một thân một mình ở lại miền Bắc, mua đầu chợ bán cuối chợ đắp đổi sống lay lắt qua ngày. Tình cờ gặp một cán bộ góa vợ có con nhỏ nhờ trông con. Trả tiền, bà không nhận vì tự coi mình không phải người ở. Ông đành xin cho mở tại nhà cửa hàng nhỏ bán sách để bà có đồng vào đồng ra. Lại tình cờ gặp một cán bộ tòa án là em họ mê sách, mới biết đường mà ra gặp mẹ tôi rồi sống với gia đình tôi từ đó. Bà chỉ chờ ngày đất nước thống nhất. Đã 18 năm qua rồi. Cô vẫn chung sống dưới mái nhà ấm cúng nhưng thiếu thốn của gia đình tôi, chia nhau những bữa ăn đạm bạc. Chỉ cần có nước trà loại xoàng uống trong cốc lớn, thỉnh thoảng lại được tôi mua cho bao Trường Sơn bao bạc để phì phèo hút như mấy bà già Huế xưa là bà vui rồi. Nằm là ngủ ngay. Nhưng nghe tiếng soong nồi va chạm, biết là mẹ tôi đã dậy, cô bật dậy vội vàng ra ngay bếp. Em không thể dậy sau chị dâu. Dù em chồng lớn tuổi hơn chị dâu.

Về đến cơ quan thì anh Thép Mới gọi giật tôi lại. Anh bảo vừa được giao viết bài kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 1975. Đã gặp được một vài nhà cách mạng lão thành nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, nên viết như thế nào, anh bảo tôi tìm cho anh tư liệu về thời dựng Đảng, tức các năm 1929-1930 để anh hình dung được không khí xã hội thời ấy. Tôi hỏi tìm ở đâu, anh bảo mày cứ ra bib (nói tắt của tiếng Pháp bibliothèque) Tôi xin giấy giới thiệu cơ quan đưa anh ký rồi buổi chiều ra ngay Thư viện Trung ương, xin cấp thẻ nghiên cứu đặc biệt, xin cả thẻ đọc sách tiếng Pháp. Kỳ vào thư viện này càng cần học nhiều tiếng Pháp hơn vì hầu hết tài liệu mình cần đều bằng tiếng Pháp. Vì vậy tối nào trước khi ngủ cũng học tiếng Pháp. Lại lâm râm đau dạ dày.

The Thu Vien va Nghien Cuu.jpg

Thứ ba ngày 7/3 vừa nghe tin ta thắng lớn ở Phước Long, thu hồi tỉnh lỵ sau 25 ngày chiến đấu, bảy ngày vây hãm và 24 giờ pháo kích xung kích. Nghe nói có cả một tiểu đoàn xe tăng. Không biết vì sao lâu nay mình cứ nghĩ là Đào Văn Thùy có mặt trong trận mở màn này. Suốt ngày rét và mưa lâm râm mình vẫn đi thư viện, lục tìm các báo Đông Pháp, Thực Nghiệp Dân báo, Phụ nữ Tân Văn, Ngọ báo…tìm hiểu những năm tháng dân tộc ta quằn quại dưới gót giày đế quốc Pháp trước ngày có Đảng. Suốt mấy hôm nay, mình ngày hai buổi đến thư viện lục các tạp chí, báo cũ, kể cả những cuốn rất lạ như Niên lịch thông thư mỗi năm ra một quyển, ghi rõ từng ngày xấu tốt ra sao nên làm gì, đi hướng nào mới tốt. Đọc báo hằng ngày thì đọc kỹ các tin vắn, đọc cả các quảng cáo, cố gắng hiểu cho được xã hội nước ta những năm 1928 đến 1931. Ngoài ra phải tra cứu cả bộ từ điển Larousse lớn chất đầy một tủ có đến mấy chục tập lớn to dầy. Mỗi tập là một chữ. Xem cả sách kỷ yếu của sở mật thám Pháp, hồ sơ nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Tối tối lại đến kể cho anh Thép Mới nghe, cùng anh phân tích ý nghĩa các tài liệu thu thập được, nghe anh góp ý phương hướng tìm tòi mới.

Bấy giờ cơ quan dành cho anh một cái buồng bé xíu độ 9 mét vuông trên tầng hai khu hành chính, hoàn toàn yên tĩnh. Ăn, ngủ cũng tại buồng ấy luôn.

Trong khi ấy, anh vẫn bị cô vợ bé nhỏ truy lùng. Cả cơ quan giúp anh trốn để làm việc. Có tối chị ta đến cơ quan, vừa dựng xe đạp ở cổng đã có người báo cho anh biết để sẵn sàng trốn. Lái xe Trịnh Văn Bân được đặc phái làm phi vụ quen thuộc này. Anh Thép Mới kéo tôi lên xe, Bân lái ngay ra cổng, mở đèn pha sáng rực chiếu vào mắt chị ta, thế là vọt về nhà anh Nguyễn Tự ở Trần Hưng Đạo. Nghe báo yên, chúng tôi mới về làm việc tiếp.

Anh nói cho tôi biết ý đồ sáng tác Một giai cấp tiến bước soi hồn nước. Rồi theo chỗ tư liệu mình cung cấp và gợi ý, anh quyết định đưa thêm vào mấy nhân vật mà chắc chắn sẽ làm nhiều người ngạc nhiên, do đó càng làm nổi bật vai trò của những người lập Đảng và cái lớn cao của sự kiện Đảng ra đời. Nào là Phan Bội Châu, Bùi Quang Chiêu, chị em cô giáo Giang và anh em Nguyễn Thái Học. Bao giờ mình nói anh cũng chăm chú nghe, thỉnh thoảng gợi ý một câu rồi lại nói: Thế là mày làm cho tao thấy được cái chiều dầy của sự kiện rồi. Ba cái cha nghiên cứu lịch sử Đảng chỉ làm ra những cái khô khan đơn điệu, không làm ai xúc động. Phải biết ý nghĩa của các sự kiện mới làm bật lên được bản chất sự kiện. Phải biết tìm tòi, có con mắt của nhà báo mới được. Một sự kiện lớn lao đến như thế mà làm như chuyện bình thường… Anh có vẻ hài lòng về việc mình làm. Thật không ngờ. Mình thì đang lo sợ bị ngợp trong tài liệu, lo để sót mất cái chủ yếu…

De Tang sach THoi Dung dang cua Thep Moi

Có hôm làm việc xong, về thì cổng cơ quan đã khóa: 23:30. Một lần có người bạn anh cũng cùng ngồi nghe mình nói, lúc về, anh ta bảo: Ông có một trí nhớ thật tuyệt. Nói liền gần bốn giờ đồng hồ, lại rất nhiều chi tiết, số liệu. Tôi thèm quá… Trong khi đó, mình lại đang khổ vì cảm thấy bất lực, không sao nhớ nổi những cái cần nhớ. Đầu nhức, người như phát sốt, có đêm mất ngủ. Những sự kiện khiến mình xúc động sâu xa. Cả một lớp người trẻ trước sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù, trong một xã hội rối ren. Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh sẽ là những hình ảnh sáng ngời, nổi bật nhất.

Trong những ngày này, mình cố gắng phát hiện cho ra cái sáng tạo kiểu Thép Mới trong cách viết báo, viết văn. Đó là công việc chính của mình, vì có lẽ chỉ có mình mới biết được thực chất việc sáng tạo này mà thôi. Lịch sử đã trao cho mình sứ mệnh mà Eckermann đã làm khi giúp việc cho thi hào Gớt.

Sau mấy ngày đi thư viện lục tìm tư liệu, tối thứ năm 16/1 mình đến nhà cụ Nguyễn Văn Hoan (số 5 đường Dã Tượng) nhà lãnh đạo Đảng từng bị cầm tù hoạt động từ những năm 1928-1929. Một cụ già nhỏ nhắn trắng trẻo, nói năng nhỏ nhẹ. Ngay gần cửa vào phòng khách nhỏ treo bức ảnh đen trắng một khuôn mặt trai trẻ cổ bị đóng đai sắt vào cột gỗ. Nhìn kỹ cặp mắt sáng của người thanh niên dễ nhận ra đấy là chân dung cụ Hoan thời trẻ. Cụ nhớ rất rõ, kể cả những chi tiết nhỏ như hôm đó người ấy mặc áo gì, thời tiết thế nào. Mà toàn là những chuyện từ những năm 1928-1929. Cụ giúp cho anh Thép Mới những tư liệu rất quí, dựng lên được chân dung những người xưa như thật. Mình cố gắng nghe ghi lại những chi tiết đó, tăng thêm độ tin cậy cho những chuyện kể cách mạng thuở ban đầu.

Những việc nghiên cứu sách báo ở thư viện và gặp gỡ nhân chứng như thế này mình học tập được rất nhiều điều. Tối, lại đến anh Thép Mới cùng làm việc cho đến khuya. Kể lại cho anh nghe những gì mới tìm được trong ngày, chỉnh lý tư liệu đã thu thập, đọc lại những phần anh đã viết và kiến nghị sửa chữa. Một sáng, sau khi nghe báo cáo, anh nói: Xem ra đây phải là một tác phẩm lớn… Một lần khác anh lại nói: Một cuốn sách hẳn hoi, ít nhất cũng ba trăm trang… Bài anh viết mở đầu Xốc tới 3/2 và từ ngày 3/2 xốc tới mình nhận xét là hoa mỹ quá, không hợp, anh đã bỏ đi viết lại bài khác giản dị, chân chất hơn, thậm chí mộc. Theo anh, đó chính là cái giọng điệu chung cần có cho một tác phẩm như thế này…

Tối 17/1, Đỗ Đình Hưng công nhân bốc xếp đến chơi, cứ tha thiết khuyên mình nên chú ý hơn đến chuyện vợ con. Chú nói nên chọn người tốt, nhất là người nào họ yêu anh thầm kín, thế mới tốt anh ạ. Tôi biết chú rút kinh nghiệm bản thân từ việc lấy cô băng chuyền Tuệ. Ngắm Đỗ Đình Hưng, tôi lại nhớ tốp ca nam Đội Bóng ngày nào. Hồi ấy tôi còn phụ trách văn hóa quần chúng ở Cảng Hà Nội. Một buổi biểu diễn ở sân trước khu văn phòng, khi chương trình đang tiếp diễn thì Hưng gặp tôi, mặt đỏ hồng nói anh cho đội bóng chúng em hát một bài đi. Tôi hỏi chuẩn bị kỹ chưa. Hưng nói hôm nào trước và sau khi tập đá bóng tụi em đều hát nên thuộc lắm, biểu diễn cũng rất điệu nghệ. Thế là sau khi Trần Thị Phúc giới thiệu tốp ca nam Đội bóng Cảng sẽ diễn một tiết mục đặc biệt thì mười một chàng trai mạnh khỏe chạy ra hát hùng hồn bài Không cho chúng nó thoát, kết thúc bằng động tác đồng loạt giơ cao tay phải chỉ lên trời rồi lễ độ cúi chào người xem giữa tiếng hoan hô vang dậy. Trong đội, cao nhất mà cũng to nhất là hai anh em con chủ Quán bia Mụ Béo nổi tiếng gần Nhà Thủy Tạ. Sau này về ban văn hóa văn nghệ báo Nhân Dân, một hôm tôi lên phòng thư ký đưa bài của ban, tò mò ra xem anh em đang lên ma két số báo hôm sau, chợt thấy trên bàn có ảnh hai anh em nhà đó, cả Chính và Nhân.Xem tin, thì ra đó là ảnh minh hoạ về chuyện tai nạn giao thông không liên quan đến hai anh em mà là một vụ khác. Tôi nghĩ các em đã bị xử phạt, cũng chẳng cần bêu riếu làm gì, tội nghiệp hai ca sĩ trong Đội Bóng năm xưa, bèn thủ ngay hai cái ảnh. Đúng là tôi với Cảng dẫu lìa xa vẫn vương tơ lòng.

Nhớ thời dựng Đảng – Xốc tới ngày 3/2 cho đến cuối tháng 1/1975 vẫ thu hút người đọc. Thep Moi chan dung 2.pngDư luận trong cơ quan – vốn toàn là kiêu binh- xôn xao. Không ai dửng dưng trước việc làm có tầm vóc rộng lớn mà cả cơ quan đều biết chỉ có hai người làm ra tức là chưa đến 1% số người trong cơ quan, mỗi ngày chiếm gần nửa trang báo. Anh Thép Mới vui lắm kể là có người gặp anh nói: Viết thế này thì ông Thép Mới phải ngồi trên cả một núi sách báo. Khối lượng tư liệu đa dạng đã khiến nhiều người khâm phục. Còn anh Thép Mới thì nói là nhân dịp viết này, tao với mày mới hiểu ra nhiều điều, tìm ra cái lô gích của lịch sử. 29, 30 đã như thế này thì đến năm 45 nó thua là phải lắm rồi.

Anh bàn với mình cách viết từng bài, hỏi kỹ các sự kiện, chăm chú nghe mình báo cáo và gợi ý căn cứ vào những nghiên cứu riêng của mình, viết rồi đọc cho mình nghe, thậm chí viết xong, đưa bút bắt mình đọc và sửa. Tóm lại có vẻ là một kíp làm việc rất ăn ý. Anh hào hứng làm việc, vẻ hài lòng… Mỗi lần mình gõ cửa căn phòng nhỏ trên gác hai, anh vội mở ra, vui vẻ hỏi: Có gì mới không mày. Rồi hoặc anh đọc bài mới viết, hoặc nói về phản ứng của người đọc, hay trình bày dự định viết trong phần tới. Nhiều khi mình vừa phải chuẩn bị tư liệu cho phần tới, vừa trả lời ngay những điều anh hỏi để viết luôn vào bài. Căng thẳng mà vui vẻ. Một hôm anh nói: Được làm việc là một hạnh phúc lớn phải không mày? Làm việc thật là thú. Chính ở anh, mình thấy hội đủ hai đức tính nổi bật nhất của Lép Tônxtôi: Hăng say làm việc và chân thành mộc mạc. Có hôm mình đọc thư bạn đọc gửi đến, một số nhà cách mạng lão thành hỏi ông Thép Mới bao nhiêu tuổi mà nhớ được thời dựng Đảng… Anh nghe rồi cười thế mà tao không nghĩ ra. Từ đó đổi thành Thời dựng Đảng như tên sách in năm 1984.

Một chiều làm việc xong, anh bảo đi theo anh. Hai anh em tản bộ ven bờ Hồ Gươm, rẽ vào phố Tràng Tiền. Đến cửa hàng BODEGA tiệm ăn Tây nổi tiếng Hà Nội, anh hỏi mày có hay đến đây không? Phố Tràng Tiền thì em hay đến lắm. Đầu tiên là vào nhà sách ngoại văn xem có sách gì mới không, sau đó đi suốt phố đến nhà sách to nhất Hà Nội là tìm ngay vào khu bán sách cũ gặp ông Thuật chủ tiệm BOOKSTORE đường hàng Khay ngày xưa nay vào làm nhân viên mua bán sách cũ ở đây. Cửa hàng ăn này em biết đã lâu nhưng chỉ đi qua, chưa khi nào vào. Anh gọi món điểm tâm. Mỗi người một đĩa giăm bông hấp rưới nước sốt và một bánh mì. Uống si rô lựu đỏ. Ăn xong thả bộ đi về phía phố Huế. Anh bảo hôm nay Đào Hồng Cẩm cho hai vé xem vở mới của nó. Còn dặn xem xong phải góp ý đấy. Đến trước rạp Đại Nam sáng đèn thấy còn sớm, anh hỏi mày thích ăn ngô nướng không. Rồi hai anh em sang hè đường đối diện, anh ngồi xổm nói với bà cụ bán ngô bà cho con chọn mấy bắp ngô nhé. Rồi chúng tôi chăm chú xem bà già khéo léo nướng hai bắp ngô nếp rõ là ngon. Mùa rét, mặc áo bông mà ăn ngô nướng thật là thú. Chuông reo mấy đợt, đèn tắt hai anh em mới vào rạp. Vừa xem anh vừa xuýt xoa: Nó viết được quá, đề tài cách mạng mà viết được như thế này là giỏi quá rồi.

Đến chiều thứ bảy 11/2/1975, đợt I công việc của anh Thép Mới và mình tạm kết thúc. Bài Tết 1930 anh viết đăng số báo Tết đã xong. Hai anh em ngồi uống nước chè đường anh pha, cùng rút kinh nghiệm. Ông Trường Chinh đã gặp anh, góp cho một số ý kiến, cho thêm tư liệu, khuyến khích viết tiếp. Ông còn nói đùa đang lúc người ta xì xào tôi ngả theo Tàu, anh lại viết tôi gảy đàn Tàu trong buổi ca nhạc từ thiện giúp đồng bào bị bão năm Thìn. Sáng hôm trước, anh Hoàng Tùng cũng nói là nên làm tiếp, kéo dài vài tháng. Cụ Nguyễn Văn Hoan thì muốn cứ viết cho đến 1945. Bạn đọc hoan nghênh. Anh Thép Mới sẵn sàng lao vào làm việc quên mình, chuyên tâm sáng tạo… Chính trong thời gian đời tư gặp nhiều đau khổ, rắc rối, cứ làm việc là anh quên hết, cất lên tiếng ca ngợi cách mạng, ca ngợi con người Việt Nam. Anh giàu trí tuệ, nhưng cái lớn nhất ở anh là tấm lòng, tấm lòng hoàn toàn hiếng dâng cho Tổ quốc, nhân dân.

Anh khuyến khích mình rất nhiều, khen là đã đóng góp tích cực vào các bài anh viết, coi như là đã khẳng định được vai trò bằng chính những việc đã làm, những năm tháng đã sống. Được làm việc với anh mình thấy thật hạnh phúc, do đó càng thấy thêm nhiều trách nhiệm, muốn nâng cao trình độ mọi mặt hơn nữa để có thể làm việc được nhiều hơn, cống hiến nhiều hơn. Dù là vô danh. Người ngoài không ai biết. Gần như mình không muốn nghĩ đến điều Đỗ Đình Hưng nhắc, không muốn nghĩ đến hạnh phúc riêng, hạnh phúc lứa đôi. Mặc dù nhiều người nhắc tha thiết. Chẳng gì còn 20 ngày nữa là mình đã bắt đầu tuổi 35 rồi. May là người nhà không ai nhắc chuyện ấy, có lẽ vì quá biết tính mình. Mình nhiều bạn gái, nhưng chẳng có ai là người yêu. Cô thì cùng ham triết học, văn học, cô lại cùng ham toán học… Tất nhiên trừ Rosa, cô thanh niên xung phong thương binh nặng, mối tình đầu trong sáng bị vùi dập tàn bạo  năm 1972.

Còn mấy ngày nữa là Tết rồi, một ý nghĩ như vậy có ảm đạm quá chăng trước thềm xuân? Thật bụng, mình thây khó tìm được người hiểu mình để làm bạn đời. Thà cứ sống một mình suốt đời, vui cái vui chung của thiên hạ lại hơn. Mình chỉ sợ không được sống, làm việc và học tập như mình mong muốn.

Tết năm nay, không thể lên Yên Bái thăm bà và cô được, mình chẳng thiết gì Tết. Mình chưa hề bao giờ vui sướng khi kiếm được cái gì cho bản thân. Khi đi xem pháo hoa, cũng chỉ chú ý ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ vui sướng của những người đi xem mà ít nhìn lên ngắm chính những bông pháo hoa đang rực rỡ trên nền trời. Như anh Đào Anh Kha từng nhận xét: có cách nhìn rất khác. Có lẽ số khổ là ở đó. Luôn nhìn khác người thường.

*

*     *

Từ ngày 3/3 có lệnh bắt đầu làm việc thông tầm ở khu vực hành chính các cơ quan trung ương từ 8:00 đến 16:30.

Được nghỉ sớm, trong túi lại có sẵn mấy cái vé xem phim ở cơ quan, cho nên dù mưa nhỏ, tôi vẫn đến nhà cô bạn. Linh cảm là không gặp vì cô đã đi mà vẫn cứ đến. Quả nhiên chỉ gặp cô Huệ sống cùng phòng và con cô là cháu Hạnh Nguyên đang ốm. Cô bạn đã đi B từ cuối tháng 2 ngày 27, 28 gì đó. Vội quá, không kịp báo ai cả, chỉ kịp về Thanh Hóa hai hôm, để lại cái xe đạp cho chú em con bà dì dùng. Từ ngày mẹ mất, cô bạn vẫn sống với bà dì, coi như mẹ, đúng là sểnh mẹ bú dì. Tất nhiên cũng gặp cô em dạy học trong đó. Nói chuyện một lát rồi mình trông con cho Huệ rửa soong nồi bát đĩa còn bày cả ra sàn.

Được ngồi một mình, tôi ngắm bốn con cá đất nung quây quanh cái khánh hai mặt có chữ Phúc. Hôm mồng một Tết mình và cô bạn cùng ngắm, cô rung cái vòng nêu cho chúng va vào nhau kêu lanh canh, nay chỉ còn ba con, một con đã vỡ. Mình đung đưa cái khánh, tiếng lanh canh ngày nào lại ngân lên, nhưng rời rạc, tẻ nhạt sao đó. Chắc là trước khi đi cô bạn cũng chẳng vui gì. Mình không tin là bận đến nỗi không thể nói một lời từ biệt. Có lẽ cô ngại trong phút từ biệt sẽ không thể nói được lời muốn nói. Thà không gặp mà hơn…

Cả ngày hôm nay, 5/3 xem lại xong dòng cuối cùng bản đánh máy Chú thích và phụ lục làm cho tập Thời dựng Đảng của anh Thép Mới, mình mới thấy là đã dỡ được gánh nặng suốt hai tháng nay. Từ ngày giúp anh viết loạt bài này mình đã huy động toàn bộ trí óc, lòng dạ và sức lực để hoàn thành cho thật tốt công việc trọng đại anh đã tin cậy giao cho. Cố gắng tránh hết mọi sơ suất, bằng mọi cách góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, kể cả phần chính văn lẫn phần chú thích và phụ lục. Chính qua quá trình làm việc miệt mài này bản thân đã học tập được rất nhiều, trở thành người cộng tác đắc lực của anh, phần nào học được tầm nhìn tầm nghĩ cách viết của anh.

Chỉ có điều đáng ngại là: Mắt kém đi rõ rệt. Ngay viết nhật ký cũng nhìn không rõ chữ mình viết nữa.

Nhưng mình vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

(Còn nữa)

Ngày 7/8/2019

P.T.

 

Lưu Công Nhân ở Thác Bà

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

LƯU CÔNG NHÂN Ở THÁC BÀ

Phạm Tôn

Cô Vũ Thị Bình tôi rõ là không ưa gì anh Lưu Công Nhân. Cô là giáo viên trường tiểu học mở ở hợp tác xã Minh Bảo. Cô kể một hôm anh ta đến nhà, cúi khom người mới không chạm quang cửa, mặc áo quần bảo hộ lao động bạc phếch. Thấy vách nhà treo nhiều ảnh, anh ta nhìn rồi ngạc nhiên thốt lên Phạm Tuyên đây này. Cô tôi tự hào, anh tôi đó anh gọi mẹ tôi là dì ruột. Anh ta hỏi thế thằng Tuyên nó có hay lên thăm cụ nhà không. Cô tôi thấy hỗn hào quá, mà cũng chẳng biết trả lời làm sao, càng giận…

Tôi hay lên Thác Bà, cũng thường lê la các nhà quanh vùng hỏi chuyện biết được cái gì hay cái ấy. Thường đến các nhà giáo viên, vì họ có học lại gần dân biết nhiều chuyện. Hôm đến nhà một giáo viên cấp hai ở xã thì gặp anh Lưu Công Nhân. Cùng nhau ra bờ sông Chảy, chỗ dưới đập Thác Bà. Nhà bà tôi trước ở khu vực nay là lòng hồ, chỗ gần đầu con đập. Nay ngập trong nước rồi, chỉ còn thấy ngọn cây mít cao ló lên. Anh giới thiệu anh giáo viên miền núi này là người Việt Nam bỏ tiền túi ra mua tranh của tôi. Tôi chỉ tính tiền toan và sơn dầu, lấy có 50 đồng mà đến nay mới trả có một phần 10, không biết bao giờ mới xong đây. Anh giáo viên cười; anh tính lương giáo viên thì thấp tôi lại có ba con… Anh Nhân cắt ngay lời, anh chỉ kể khổ vì có ba con, sao anh không nói cho ông ấy biết khi cùng vợ tạo ra ba đứa con ấy anh đã sướng đến như thế nào…

Tháng 7/1973, tôi lại lên Thác Bà, đưa mẹ tôi lên dự ngày giỗ ông sinh ra cô Bình. Trong khi xếp hàng mua vé ô tô lên Thác Bà, tình cờ gặp anh Lưu Công Nhân, một tay xách cái túi du lịch xanh hỏng khóa rút, miệng cứ há toác ra, một tay xách cái túi lưới, lòng thòng mấy giây vạn niên thanh và mấy nhành phong lan. Anh bảo tôi ra ngồi với mẹ, để anh xếp hàng cho. Anh hẹn lần này gặp nhau phải nói với nhau nhiều chuyện, còn phải đưa ông đến thăm xưởng họa của tôi, ở với tôi hẳn một ngày để tôi mời ông xem tranh, đọc sách. Rồi cùng lên xe, nhưng ngồi khác ghế khá xa, xe lại đông khách nên chẳng nói với nhau câu nào. Đến Thác Bà chưa tới bến có rừng cây long não thơm phưng phức, anh xin xuống trước cho tiện bến đò sang ngang, còn hẹn sẽ đến nhà mời đến nhà chơi.

Mình lên Thác Bà ở đã ngót một tuần mà vẫn chưa thấy anh đến. Nhà anh khá xa nơi mình ở. Hỏi thì người anh em họ với anh ở gần nhà lại nói là anh thường đi vắng, có khi cả tuần, nên cũng chẳng nghĩ đến chuyện tìm đến nhà anh. Cho đến tận hôm 18/7, hai mẹ con chuẩn bị ra về thì anh mới tạt qua nhà vào chơi. Anh dẫn thằng bé con ông anh sang bệnh xá để khám cái tai, đã một tuần nay không rõ vì sao nó đâm ra điếc đặc. Bố nó mải làm cỏ cho lúa quá quên cả cái tai điếc của ông con. Trò chuyện một lát, mình cùng anh sang sông đưa thằng bé vào viện, rồi vào phòng kỹ thuật công trường thủy điện Thác Bà tìm một bạn của anh là Lý Trọng, kỹ sư 35 tuổi để anh này dẫn ra đập thủy điện. Nói chuyện vớ vẩn một lát, anh Nhân hỏi mình: Thế nào, đi xem công trường hay không nào… Tôi thì chẳng thú gì lắm… Ông Trọng lại càng chán quá rồi…

Mình buộc lòng phải nói thật: Tất nhiên là lên đây là muốn đi xem rồi. Song đi mà anh thì không thích, anh đây lại chán quá rồi thì có lẽ cũng chẳng nên đi làm gì…

Anh Nhân cười xòa. Thôi, thế thì đi. Ông này đi với tôi thì chẳng bao giờ là không vui đâu. Ta đi thôi!

Thế là cửa phòng kỹ thuật đóng lại, khóa hẳn hoi và ba chúng mình thả bộ đi thăm công trường dưới trời nắng gắt. Vừa đi vừa trò chuyện rất vui. Đến bên đập, cạnh thác nước trắng xóa chảy từ trên cao ào ào đổ xuống, anh Nhân chỉ mảng tường bê tông lớn phía bên kia thác nước nói: Nếu như tôi mà là một họa sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa thì tôi sẽ vẽ ở đây một bức tranh lớn. Còn những dãy núi kia và trời xanh biếc thế này thì cứ để nguyên mà làm nền… Đẹp phải biết nhá… Tiếc là tôi lại không phải là họa sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa… Và anh cười thoải mái, có chút ngạo mạn.

Đi qua hết những dãy cầu thang dài, luồn qua những mảng tưởng hư hại trần sụp đổ do bom Mỹ, anh nói với anh Lý Trọng: Thật tôi không ngờ là các ông khôi phục lại nhanh chóng đến như thế này. Thấy các ông làm, tôi càng thêm tin tưởng, tôi học được một bài học tin tưởng… Anh Lý Trọng cười: Thì chính tôi cũng vẫn nhớ cái khẩu hiệu ông ghi ở trên xà nhà CAN ĐẢM, HY VỌNG. Anh Nhân nói lảng ngay sang chuyện khác.

Thăm đập xong, hai chúng mình về nhà bà tôi ăn cơm do mẹ nấu. Đúng 12:30 trời vẫn nắng gắt, cùng về nhà anh. Đường đất đỏ. Trên đường đi anh luôn mồm ca ngợi phong cảnh ở đây là đẹp, nếu không đẹp đến thế này thì tôi vào đây sống làm gì. Chỗ nào cũng là tranh. Gần đến con suối, anh chỉ vào một xóm nhỏ. Đây, mình sinh hoạt chi bộ Đảng ở đây đây. Nhưng mấy năm rồi mình có đi họp lần nào đâu…

Luu Cong Nhan 2.jpg

Tôi nhắc chuyện anh Nguyễn Hữu Chỉnh ở ban quốc tế báo Nhân Dân kể là đi Pháp anh có đến nhà Picasso, không vào được, vì Picasso không có liên hệ gì với địa phương cả. Xem ra thì Đảng Pháp níu Picasso, chứ không phải là Picasso níu Đảng. Anh Nhân cười: Mình thì khác Picasso. Mình không níu Đảng mà Đảng cũng chẳng níu mình. Mình sống ở đây như một người nước ngoài vậy…

Đến nhà, anh đưa ngay tôi xuống nhà ngang chào bà chị dâu đã ngoài 60 cho nó phải phép, rồi cởi ngay bộ quần áo bảo hộ lao động ra, mặc quần soóc, cởi trần đi guốc mộc ra giếng tắm. Xong anh đưa tôi lên nhà đọc sách của anh. Một lát anh bưng thau nước và đem cho mình một cái khăn để rửa mặt, tay rồi đi về phía xưởng vẽ. Nhà toàn cột gỗ xoan không ngâm trắng nhẵn, có đôi chỗ nứt. Lưng nhà thưng nứa đan liếp kín, quay về phía xưởng vẽ. Cửa vào trông ra vườn, lệch sang một bên. Một đầu nhà nối với nửa mặt nhà có cửa sổ dài suốt, song cửa bằng gỗ, cao hơn một mét. Phía đầu nhà đối diện có một cửa sổ con, nhưng không mở, ngoài có chắn liếp nứa. Mái lợp lá gồi. Xung quanh nhà là hàng hiên. Nhà thoáng và thanh nhã. Xung quanh nhà cỏ mọc um tùm xen lẫn mấy cây chuối, dâm bụt, mẫu đơn… Đến đấy mình mới thấy là đã phạm một sai lầm rất lớn: quên mang giấy bút là hai thứ thông thường khi nào cũng mang theo. Nhà này lại có rất nhiều thứ cần ghi lại. Đành vào nhà tìm được một lọ còn chút mực tím cặn, bèn lấy cái que con, chấm mực ấy ghi vào mảnh báo cũ những dòng sau. Ở ngay quang cửa ra vào có hàng chữ nho viết ngay vào gỗ một câu thơ Đường: NHẤT PHIẾN BĂNG TÂM TẠI NGỌC HỒ (tạm dịch: một tấm lòng trong sáng như băng trong bình ngọc). Hai băng giấy nhỏ dán dọc cánh cửa phải, cũng hai câu thơ chữ nho; mặt trong cửa trái lại hai băng khác cũng viết hai câu thơ chữ nho, đều là thơ Đỗ Phủ. Khép hai cánh cửa lại, mặt trong có bốn chữ lớn viết bằng bút chì đỏ CHÍ NHÂN TÂM CHÍNH.

Vào đến trong nhà, nhìn lên quang cửa lại thấy Dans l’art, ce qui gagne perdra (Sartre) (tạm dịch: trong nghệ thuật, ai được sẽ mất) dưới có chữ ký của anh Nhân, nhưng lại có dấu xóa bằng vôi hoặc phấn trắng, trên chỗ xóa thấy ghi bằng chỉ đỏ Lưu Công Nhân3-1971. Nhà có hai gian, phần xà gian thứ nhất viết bốn chữ đen CAN ĐẢM HY VỌNG 1971, phần kia viết CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH.

Mình đang ngắm nghía và lúi húi ghi thì anh đến gần, đưa cho cuốn III bộ Chuyện làng nho rồi bảo ra giếng tắm, nghỉ ngơi sau đó mới lên xem tranh vì xem tranh thì phải thoải mái mới được. Tắm xong, anh mang cà phê đến nhà đọc sách pha bằng cái bình pha cà phê phun của Hung ga ri. Anh mời uống cà phê, hút thuốc, nói chuyện một lát. Biết là mình đọc cả bộ Chuyện làng nho rồi, anh lại về xưởng, đem cho một tập thơ Đường. Anh nói: Ở đây mà đọc thơ Đường nó có một cái thú vị riêng ông ạ… Anh về lại xưởng. Mình nằm trên giường con đọc tập thơ, cảm thấy đúng như lời anh nói. Đầu tập thơ có một trang trống. Anh Nhân viết mấy dòng chữ to, có lẽ bằng que nhúng vào mực xanh: Tôi có rất nhiều bạn. Đó là các thi sĩ đời Đường (14/4/72).

Tranh luu cong nhan.png

Căn nhà nhỏ cũng mang một tâm sự ấy… Kề ngay cửa vào là một giá áo mũ tự làm, chân là đầu cây gỗ, trên cắm cành cây, một quả bầu khô chụp lên đầu cành cây, cuống quả bầu cong lại làm chỗ treo mũ. Cái giường cá nhân kiểu thường thấy ở tập thể cơ quan kê ngay cạnh đó. Còn gian bên cạnh thì góc nhà kê một tấm ván chéo làm bàn kề ngay song cửa. Ghế là một cái đõ ong to làm bằng gốc cây đục rỗng, trên để một miếng cói đan tròn nhiều màu. Mặt bàn nhỏ, chỉ đặt một cái đáy  vại nhỏ vỡ dùng đựng bút, chìa khóa… Phía góc kia là một ghế đệm có chỗ dựa cao êm tự làm. Đối diện lại một ghế vải gấp được, để cạnh khúc gỗ thấp dùng làm chỗ gác chân khi ngồi ghế gấp. Giữa hai ghế là một bàn nhỏ thấp làm bằng một thớt gỗ tròn. Cạnh bàn là một tảng đá to trên đặt một mai rùa nhỏ, một vỏ ốc. Giáp vách nứa là một chĩnh sành đầy đất trồng cành đại to lơ thơ vài ba chiếc lá. Miệng chĩnh có chiếc lá khô, một tượng nhỏ tiều phu loại thường đặt ở non bộ. Phần vách nứa gian này chỉ treo tấm gỗ to bằng hai bàn tay có vân rất đẹp, làm thành hình chiếc lá. Phần kia phía có giường lại treo một chiếc lá thật có dính tổ ong nhỏ. Cuối giường lại là một cành cây dựng đứng treo một cái lồng con không có chim. Như để tăng thêm không khí cổ kính cho căn nhà, anh đặt một giá nến có cây nến trắng thắp dở ở cạnh bàn nước và hòn đá… Thanh ngang giữa các song cửa gỗ chi chít những chữ. Đọc thì thấy toàn là tên các danh hoạ bắt đầu bằng Tô Ngọc Vân và kết thúc bằng Van Gogh. Có cả Picasso lẫn Micheal Ange, Matisse và Raphael… Có lẽ đó là những người anh tôn làm thầy. Tiếp sau tên Van Gogh là ba chữ màu đen: LUXE-CALME – VOLUPTÉ (Tạm dịch: xa hoa – tĩnh lặng – thú vị) và bốn chữ đỏ: Độc Lập Tự Do

Mình nằm đọc thơ Đường và tự nhiên muốn đọc Vương Duy. Những bài thơ về những người ở ẩn thời xưa. Anh Nhân đến, mang lá chè tươi cho vào ấm đun trên bếp dầu hỏa bằng  đồng, vừa uống trà vừa nói với nhau vài câu về thơ Đường, rồi mời mình lên xem tranh.

Xưởng họa ở cách nhà đọc sách khoảng 15-20 mét, xây gạch lợp ngói do tỉnh ủy Yên Bái xây cho. Dáng nhà cũng xinh. Nhà có một buồng nhỏ đặt bàn viết, sách vở, một cái đi văng nhỏ, thấp. Anh kéo cái ghế con trên đặt tấm thổ cẩm, mời mình ngồi gần mé cửa ra vào và giới thiệu: Đây là chỗ tiếp khách… Tôi lấy mấy bức tranh mới vẽ ông xem. Anh chỉ một bức treo trên tường: Còn đây là vợ. Vợ anh là dược sĩ. Những lần đi nước ngoài chị tìm mua cho anh sách về hội họa. Còn bao nhiêu tiền, chị mua toile (vải để vẽ tranh) và sơn dầu đến hết.

Các tranh anh cho xem đều là tranh trừu tượng. Ngay bức đầu, anh dựng cho mình xem rồi có vẻ hơi lúng túng, anh đứng gần chỗ mình ngắm xem tranh có bị bóng không, xem có dễ không, bàn tay trái cứ khoa khoa như vờn, như xoa một vật gì êm êm, miệng thì lẩm bẩm: Đấy đấy…thế thế biết nói với ông thế nào nhỉ… Tôi đặt tên bức tranh này là Bản Concerto con nhái như thế…thế… Quả thật  ở góc phải có một con nhái xanh, đầu đội một vành hào quang như các thánh vậy. Còn lại toàn là những đám màu vân vân, có chỗ vết sơn bóp ở ống ra còn nguyên vẹn, nổi dầy lên, và khá nhiều vạch ngang dọc, tựa như lấy que mà vạch vào tranh sơn đang ướt làm trơ vải ra. Rồi Bản giao hưởng mùa đông Thác Bà số I, bức tranh mà anh tấm tắc khen là cái này tôi vẽ đẹp lắm, đẹp lắm ông ạ. Giao hưởng hoa mua (tặng vợ) và một bức tranh nữa màu sắc hòa hợp, có chỗ đậm đà đằm thắm, có chỗ trong sáng lóng lánh như nước suối dưới nắng sớm… Rồi Tặng De Bussy cuồn cuộn những đường nét dày vò người xem.

Chín bức cả thảy… Thế là đủ một phòng tranh ở Paris rồi. Tôi mà bày ở đấy thì phải biết là đông người xem… Mấy bức này không làm khung là để mang về Hà Nội. Tôi đã đưa cho hội một catalô 45 tranh. Họ xem không nói gì hết, rồi đưa cho vay một ít tiền… Thật là buồn cười… Trên bàn, anh để rất nhiều sách, chủ yếu là về hội họa. Có Van Gogh, Renoir, Cézane và nhiều nhất là Picasso và các họa sĩ Ý, Hà Lan thuộc trường phái hội họa trừu tượng rồi nói: Tôi ở đây, chỉ làm có một việc là vẽ rồi đem so với các bức tranh này và thường là cảm thấy được lắm, chẳng kém gì, Việt Nam ta được lắm, không sợ thua ai cả.

Nói rồi anh để hai cuốn sách có hai tranh in hai bên và đặt một bức tranh nhỏ do anh vẽ ở giữa vừa ngắm vừa khen đẹp, đẹp lắm. Rồi anh kể có lần Picasso được mời đến xem bố trí phòng tranh Tây Ban Nha ở Le Louvre (Bảo tàng Pháp nổi tiếng thế giới). Khi về nói: Tranh của mình xếp cạnh tranh Vélasquez và (quên) xem được lắm. Çava mieux … (Thế là tốt). Tôi, tôi cũng luôn thấy như thế. Còn đây (anh mở một tập về Picasso ra), lật bài báo Nhân Dân viết về Picasso anh cắt dán vào đó. Picasso chết thì người ta viết như thế này: Nghệ sĩ vĩ đại, v.v… trong khi đó ở ta có thằng nào làm như Picasso, làm hơn Picasso thì lại vùi dập đi, lại phản đối ngay. Cụ Hồ mấy lần bảo học Picasso, ông Trường Chinh cũng mấy lần bảo học Picasso… Hóa ra chỉ là học có một điều là xin vào Đảng mà thôi! Nước mình không có người tài vì nước mình không cần người tài… Anh mở cửa sang buồng bên cạnh, rộng hơn. Đây mới là xưởng họa. Ba bức tranh đang vẽ dở, cái đặt trên sàn, cái để trên giá, cái trừu tượng, cái hiện thực (Cày ruộng, Cô dân quân viết tin chiến thắng, tranh dân gian) một cuộn vải và rất nhiều ống sơn, môt pa lét to bết những màu sơn…

Tạm xong với xưởng họa, hai anh em lại về Chu Nam Sơn (tức là cái nhà đọc sách của anh). Song lần này, không vào nhà mà ngồi uống chè tươi ngay ở vườn. Bàn nước đặt cạnh gốc chuối và cây dâm bụt gồm có một tảng đá to làm bàn và bốn hòn đá làm ghế. Anh cẩn thận ấn sâu một hòn đá xuống đất làm chỗ đặt cái phích nước. Cách độ bốn mét, sau bụi chuối và trước hàng rào vườn lại một tảng đá nữa. Anh bảo đó là nơi thường ngồi một mình ngắm mặt trời lặn… Anh có vẻ đặc biệt yêu thích mặt trời lặn. Trong nhà đọc sách trông qua hàng song rộng ngắm mặt trời lặn cũng rất tuyệt. Anh nói tựa như tâm sự với bản thân: Tôi vẽ mà biết là bây giờ chẳng dùng làm gì, sau này cũng chẳng dùng làm gì…

Mình nhớ đến hai chữ HY VỌNG to, đỏ viết trên tường xưởng vẽ, và mấy chữ trên xà nhà nên gợi ý là chắc anh phải có hy vọng gì vào một ngày mai chứ. Anh cười: Tất nhiên! Nhưng có lẽ phải lâu, lâu lắm… Phải có một sự thay đổi lớn… Ông đã vào phòng tôi, ông thấy, tôi có kế hoạch và làm việc rất cẩn thận… Mặc dù biết có làm cũng bằng vô ích, mình ở đây, mình chết ở đây, rồi chôn ở cái vườn này, chẳng ai cần, chẳng hại gì cho ai…Tranh tôi bán cho nhà nước được độc có một cái, được 1000đ; có cái bán cho một cậu lấy 50 đ mà cho trả dần, đến bây giờ cũng chưa xong. Thành ra tôi đã nghèo lại phải gửi tiết kiệm. Tôi chỉ dám vẽ tranh nhỏ, dùng ít sơn, sợ khi cần vẽ lại hết mất sơn. Đời sống cũng phải rất tiết kiệm, nếu không, không làm được gì cả. Tôi không nghiện một thứ gì. Chè, thuốc lá, rượu, khi cần kích thích tôi chỉ dám dùng một tí thôi. Trong cái đõ ong để bên bàn viết chéo, tôi vẫn có rượu đấy…

Trời đã ngả chiều, tôi xin phép ra về. Anh tiễn và nói: Hôm nay, tôi không làm được gì. Nhưng cậu thì đã xem được cái đập Thác Bà, thế là đạt rồi. Tôi đành nói thật lòng: Còn anh lại phải cái phiền là đưa tranh ra cho một kẻ chẳng biết gì về hội họa xem.

Anh Nhân nói ngay: Cái đó không hề gì… Tranh mình bọn ở Hội có xem cũng chẳng hiểu gì… Mình rất ít khi muốn cho ai xem tranh…

Bà chị dâu anh nhất định không cho tôi về, cố giữ lại ăn cơm với gia đình. Anh cũng bảo ở lại, cơm xong sẽ cùng anh về nhà, nhân thể ghé nhà anh Lý Trọng kỹ sư công trình thủy điện. Mình ở lại lên phòng tiếp khách. Rồi anh Nhân xuống bếp, thái chỉ bó rau cải xanh giúp bà chị dâu nấu bát canh với tôm khô kiểu nhà quê đặc những rau là rau. Còn một mình lại sang nhà đọc sách, xem một tập về Picasso. Anh ghi ở nhiều chỗ Mình bằng tuổi này đã làm được gì đâu!… Ở phòng khách cũng như ở xưởng vẽ anh viết trên một tờ giấy treo trên tường 1976: 45 tuổi, 1991: 60 tuổi.

Danh Thiep luu cong nhan

Ngày nay thì tôi thấy báo chí, đài truyền hình quen gọi tên anh kèm hai từ danh họa: Danh họa Lưu Công Nhân. Rồi mở nhiều phòng tranh trưng bày tranh anh. Độc đáo nhất là triển lãm mới mở gần đây do họa sĩ Lê Thiết Cương tuyển chọn trưng bày ngay giữa Hà Nội các tranh của anh với tên gọi giản dị là Nét.

Không biết những người xem tranh anh và có thể cả người tổ chức triển lãm phòng tranh tuyệt vời này nữa có biết những chuyện tôi vừa kể về một Lưu Công Nhân ở ẩn nơi miền núi xa xôi nằm gai nếm mật, nung nấu quyết tâm mở ra một hướng mới cho nghệ thuật hội họa Việt Nam.

Tháng 8/2019.

P.T.

Tháng Bảy 30, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả (kỳ 2)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:04 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Bước đầu học nghề báo

(Tiếp theo)

Sáng 23/1/1974, mồng một Tết Giáp Dần, mình đi một lượt thăm tất cả những ai đã cùng Vu Tuan Hungmình sống những cái Tết chiến tranh, xa gia đình. Sáng mồng hai thì đến nhà Vũ Tuấn Hùng, ngày giỗ đầu của bạn. Thắp một nén nhang trước bức ảnh treo trên tường căn buồng dạo nào hai đứa mình thường ngồi nói chuyện với nhau say sưa hàng giờ. Trong ảnh, bạn tươi cười ngồi bên hai con gà lớn, cạnh một chuồng gà nhiều tầng. Hùng cố cải tiến cách nuôi gà, không theo cách của chuyên gia Hung ga ri hướng dẫn mà gà vẫn cho trứng to, thịt nhiều. Đó là mối quan tâm duy nhất những năm cuối đời của bạn. Theo yêu cầu của mình, cô em bạn mình chưa biết tên, cố tìm cho một tấm ảnh anh cô. Đây là kỷ niệm cuối cùng mình có về Hùng. Hùng chết ngay trong bữa sáng ngồi ăn bánh chưng nhà anh chị họ ở Sơn La. Vì bệnh tim.

Cuộc đời mình cũng có thể sẽ bất ngờ chấm dứt, vì Hoang Tungbệnh thì mình nhiều hơn bạn là cái chắc. Điều này nhắc mình càng phải khẩn trương, tranh thủ thời gian mà học tập và làm việc nhiều hơn. Chiều mồng hai Tết đã đi làm buổi đầu năm. Không ai muốn vắng mặt buổi này. Vì tổng biên tập Hoàng Tùng sẽ nói chuyện, tiết lộ nhiều điều cơ mật, chỉ những vị lãnh đạo cấp cao mới biết, nhưng cần chia sẻ cho các người làm báo để biết mà định hướng cho công tác của từng người. Mình cũng dự định làm nhiều việc trong năm tới này song chưa bắt tay vào làm việc chủ yếu là viết mà chỉ nặng về học và nghiên cứu, có chăng là dịch. Có lẽ những việc này có ích hơn. Thường những hôm không đi học tối nào cũng hơn 22:00 mới từ cơ quan về nhà. Mình đọc lại tất cả những tác phẩm của Lỗ Tấn và viết về Lỗ Tấn mình sưu tầm được khá nhiều để hiểu sâu hơn tư tưởng, phong cách của nhà văn mình kính yêu nhất. Cũng tự hẹn với bản thân sẽ ghi nhật ký thật đều đặn như Lỗ Tấn, cho đến ngày cuối đời mình. Cả năm 1973 chỉ ghi có một tập mỏng. Càng nhiều sự việc xảy ra, càng ít ghi, vì mệt và lười. Ít nhất cũng ghi đều đặn như những ngày chiến tranh một mình một bóng trong căn nhà lá nhỏ bên bờ sông Hồng đêm đêm đúng 12 giờ mới bắt đầu ghi những điều suy nghĩ, chứng kiến trong ngày.

Tối thứ hai 4/2, trời lạnh mưa nhỏ, lớp học tiếng Nhật do Bộ Nông nghiệp mở vẫn do anh Lê Văn Thức dạy chỉ còn 7 người. Đã phải bàn đến việc tăng học phí và giảm thù lao. Xem ra lớp này khó thọ cũng như các lớp ngoại ngữ mở ở cơ quan thời ấy. Lớp ở nhà mình thì anh em mỗi người đi mỗi nơi, còn có mình ở Hà Nội.

Nghe nói sắp học nghị quyết 22 của Trung ương, sẽ có chuyển biến lớn. Mấy hôm nay, đều làm việc với anh Thép Mới, chiều nào cũng về muộn từ nửa giờ đến một giờ. Khi làm việc, anh chỉ biết có công việc, chìm đắm trong công việc, không biết gì đến giờ giấc. Anh thuộc loại người không có ranh giới giữa đời công và đời tư. Chính vì lẽ đó mà mình vui vẻ làm ngoài giờ với anh. Thường có người nhắc anh mới chợt chú ý là đã muộn, vội bảo mình về còn anh bao giờ cũng về sau.

Hai sáng nay đều nghe Phó tổng  biên tập Nguyễn Thành Lê nói về Nghị quyết 22. Trời đã đỡ rét.

Buổi tối, vừa về nhà, ăn vội cơm xong thì Tường Văn Thành đến chơi. Bạn cùng làm chuyên trách bổ túc văn hóa, lại trùng tên thành ra hay nói chuyện với nhau những khi cùng dự họp ở khu hay thành phố. Nhà chật, bạn bè đến mình thường đưa ra vườn hoa Canh Nông sau nhà nói chuyện. Đúng như mình dự đoán, anh chàng đang yêu, còn do dự sợ lại như mấy lần trước không đi đến đâu nên cần người tâm sự. Vẫn cái vẻ ngậm ngùi tủi thân tủi phận thế nào ấy… Anh thẳng thắn, chân thành nói hết mọi suy nghĩ với mình, đúng kiểu một con người đang đi tìm chân lý như trong tiểu thuyết Nga. Bạn vẫn sẵn sàng tìm sách tiếng Nhật ông bố để lại từ thời Trương Anh Tự còn dạy tiếng Nhật những năm 1939-40 để giúp mình.

12/2 nhận được nhuận bút của báo Lao Động đăng bài Bí quyết độc đáo (số 2568). Thế là hầu hết tiểu phẩm gửi các báo đều đăng.

Tối, Bùi Lê Nghiên công nhân bốc xếp và Nguyễn Tiến Trung thợ rèn lại chơi. Nghiên xung phong đi công tác Đông Hà lắp máy. Chú ta tiếp tục truyền thống đi Quảng Bình ngày nào. 20:30 cùng Nhàn và Đông bạn em đi xem phim Kẻ thù không đội trời chung dựng theo tác phẩm Truyện sông Đông của M. Sôlôkhốp. Cái đẹp chân chính bao giờ cũng có ở những con người chân chất, giản dị. Mình không ngờ, bạn em gái , cô Lê Thị Đông cùng đi xem phim hôm ấy là một người như vậy, sau này lại là vợ mình.

Khuya về, đọc Diễn Văn Nôben của J.P.Sartre do cô bạn nhỏ cho mượn. Mình thấy chán quá… Nào là nghệ thuật vạn năng; độc tôn… Cứ cái kiểu này thì nhiều văn nghệ sĩ sẽ kiêu ngạo, tự cho mình là đứng trên hết. Tâm tư Sartre đen tối quá, không hợp kiểu sống mình mơ ước chút nào.

*

*      *

Sáng 15/2 anh Thép Mới ốm không đến cơ quan được, bảo mình đến nhà anh ở đường Nguyễn Lai Thạch gần Lò Lợn làm việc. Hai anh em trò chuyện suốt buổi sáng về những vấn đề xung quanh nghị quyết 22, nhất là vấn đề tầm nhìn xa, con người mới, văn nghệ mới… Anh tỏ ra hài lòng. Xong việc anh bảo mình ở lại cùng nấu cơm canh uống rượu dâu với lạc rang, vừa ăn cơm vừa bàn bạc tiếp… Cỏ vẻ anh không ngờ mình hiểu anh đến thế, cũng như hiểu cách mạng xã hội chủ nghĩa và các vấn đề hiện tại của hiện thực miền Bắc đến thế.

Đang lúc trò chuyện say sưa, anh cho biết anh sẽ thay đổi cương vị công tác. Xem ra anh muốn làm tổng kết thật tốt công tác năm 1973 để lại bài học quí cho báo Nhân Dân rồi ra đi, làm công việc mà anh cho là chủ yếu  nhất trong sự nghiệp của anh: Viết cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng… Nếu tao đi, tao sẽ đem mày cùng đi… Một năm qua, tao bận quá, biết là chưa sử dụng hợp lý năng lực của mày, mày hiểu biết nhiều… Nhưng đã đến lúc phải đi sâu vào một việc rồi…

Đối với mình, thật không còn hạnh phúc nào hơn. Buổi sáng hôm ấy là buổi sáng tuyệt diệu nhất – được có người hiểu mình… Nếu như không có chuyện vợ anh về cau có, dấm dẳn, lạnh lùng… Anh thật đáng thương…

Tối chủ nhật 17/2 đi xem đấu bóng bàn Việt Nam – Trung Quốc. Có mặt các vị lãnh đạo Hoàng Văn Hoan, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Trân… Trung Quốc thắng vì vận động viên luôn luôn chủ động tấn công. Ta thắng ít mà thua nhiều vì hầu như quá chú ý đến phòng ngự… Việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa mấy ngày gần đây có lẽ cùng vì như vậy chăng…

Sáng hôm trước, trên đường đến nhà anh Thép Mới gặp cô bạn nhỏ ở đầu đường Bà Triệu.  Cô cho biết sắp đi thực tập ở Quảng Ninh cùng các bạn dự lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ. Cô rủ mình cùng đi… Rõ là tùy hứng. Lại vẫn nói là chỉ muốn đi làm công nhân. Như mọi khi, mình cười và trả lời là nếu thật lòng muốn vậy thì có khó gì đâu, dễ quá… Xem ra cô vẫn chưa biết nhìn đời một cách nghiêm chỉnh.

Anh Thép Mới vẫn ốm, nằm ở đi văng một mình, không màn, nôn mửa bừa bãi ra sàn nhà… Chị vợ cũng ở nhà, nhưng buồng bên… Anh vẫn làm việc, chuyên chú vấn đề tổng kết. Mấy hôm trước, mình có đưa anh đọc Lénine et Gorki (Lê nin và Goócki) tạp văn Lỗ Tấn anh nói đọc thích lắm.

Ngày 18/2 anh nằm võng kể cho mình hồi ở Trường Sơn tao cũng bị một trận y như thế Thep Moi chan dungnày, kéo dài suốt một tháng, không hiểu sao nó không quật tao chết… Lần đi Lào vừa rồi cũng bị hai tối. Mày xem thế mà tao vẫn làm việc, ghi chép để về viết…

Tôi nhớ một hôm anh bảo tôi liên lạc với bộ phận nghiên cứu về Lào cố tìm tư liệu cho anh. Tôi tìm được một số ca dao, tục ngữ rất hay lạ. Hôm sau, anh bảo lên xe đi với anh, đến nhà nhà nghiên cứu lịch sử Lào Nguyễn Ngọc Lương, nói chuyện rồi mượn ông bộ sơ thảo lịch sử Lào bốn tập đánh máy dầy. Anh bảo tôi ghi địa chỉ để còn trả sách. Không ngờ anh không về cơ quan như tôi tưởng mà đi ngay ra sân bay. Anh thản nhiên bảo mày đọc qua xem có chuyện gì gây hấn giữa hai nước không rồi nói cho tao biết, tao đi thì đem sách trả người ta. Chưa bao giờ tôi gặp thử thách như thế này. Ngồi trên xe đang chạy đọc đã khó, lại toàn những vấn đề lạ lẫm. Anh hay cho tôi những quả như thế. Rất vui. Nhất là khi đọc loạt bài Chị và anh bộ đội Lào của anh, thấy có đóng góp của mình.

Anh Thép Mới vào nằm bệnh viện Việt Xô từ ngày 19/2. Vẫn nôn. Tiếp xê rom mà vẫn làm việc. Hằng ngày mình vào bệnh viện đưa cho anh các bản tin của Việt Nam thông tấn xã, bàn công việc và làm những việc anh yêu cầu. Có hôm gần hết cả buổi sáng. Anh hay giữ mình lại trò chuyện, hỏi han tình hình, nói về những điều anh đang suy nghĩ… Về quyển tiểu thuyết đầu tay của Hà Khánh Linh Thúy in lần đầu ở Hà Nội, hôm trước mới đọc một nửa anh nói chỗ đứng không vững. Hôm sau đọc xong, anh bảo xoàng.

Một hôm mình đưa anh Nguyễn Địch Dũng vào thăm. Anh Thép mới nói: Mấy hôm nay, có thời giờ suy nghĩ mới thấy là 20 năm qua mình làm ăn dở, chỉ mới biết thấy từng việc mà không thấy được cả một sự nghiệp. Sức nghĩ chỉ mới được đến thế… Vì thế, mỗi người có thể làm được nhiều hơn tốt hơn, không đến nỗi như thế này.

Mấy hôm nay trở trời rõ ràng là mình bị hen rồi. Lại thêm một bệnh. Hôm nọ gặp Trần Bình Thuận, bạn cũ tổ sửa bài nhà in Nhân Dân. Thuận nói một điều khiến mình suy nghĩ: Cần viết thường xuyên, thành thói quen đi. Anh còn hỏi mình có phác thảo một cuốn tiểu thuyết nào không, mình đáp là không mà chỉ có một số ghi chép làm nguyên liệu viết sau này. Có lẽ mình thuộc loại người mà anh Thép Mới thường nói đùa là tinh anh phát tiết ra ngoài cả, trong người chẳng còn gì thì lấy gì mà viết đây. Đêm nằm cứ suy nghĩ mãi, gần sáng hay tỉnh dậy thường nghĩ đến chuyến đi Quảng Bình, muốn viết một cái gì đó cho thanh niên. Song lại mệt – bao giờ mà chẳng mệt – lại thôi, chỉ đọc một tiểu thuyết của G.Sand và V Hugo Choses vues (Những điều trông thấy)

Không ngờ, gần một tháng nay không ghi nhật ký, cũng là thời gian anh Thép Mới nằm bệnh viện hơn một tháng. Hằng ngày, mình ghé cơ quan, báo cáo anh Thọ rồi lên buồng anh Thép Mới lấy bản tin, tài liệu đưa anh xem, cũng có khi đưa một vài bài cần anh duyệt. Có khi đưa cả ngời vào gặp anh giải quyết công việc. Một lần anh Đức Thi ban thư ký vào gặp anh nói chuyện rất lâu, về đủ mọi chuyện. Hai anh đi trên đê gần bệnh viện, anh Thép Mới mặc quần áo bệnh viện có áo khoác dài ấm màu xanh nước biển. Mình đi theo sau. Rất nhiều lúc anh Đức Thi nói toàn bằng tiếng Pháp cho đó là chuyện quan trọng chắc không muốn mình nghe. Sau này về ban, mình kể lại chuyện này, các anh đều cười, vì cả ban đều biết có bài lấy ở báo Pháp cần dịch đều giao cho mình, anh Chính Yên xem lại và sửa chữa.

Anh Thép Mới vào bệnh viện đến ba tuần mới biết là bị loét hành tá tràng, hẹp môn vị và yếu tim. Bệnh viện quá đông bệnh nhân. Buồng nào cũng kê thêm giường. Người ốm nặng cũng phải về, chỉ cấp cứu mới cho vào nằm tạm phòng lưu. Cụ Phan Đăng Tài, anh Hồng Hà em anh Thép Mới đến khám xong cũng phải về nhà điều trị ngoại trú. Hồi ấy cả thế giới chưa biết bệnh dạ dày là do vi khuẩn HP gây ra, nhưng bệnh viện thấy viêm lâu quá, cứ giã mạnh kháng sinh, hóa ra lại đúng, đỡ hẳn. Anh Thép Mới cương quyết xin ra viện, theo chế độ nội trú tại nhà (!) Một sáng anh đi dạo với mình đến một phố nhỏ, thấy có hàng phở treo một tảng thịt bò ngon. Anh hỏi mình có thích ăn phở không rồi hai anh em vào quán nhỏ ăn bát phở do anh đích thân chỉ chủ hiệu cắt miếng thịt chỗ nào, nhúng hành ra sao. Ăn xong, có vẻ mãn nguyện, anh bảo chủ quán tính tiền. Lúc ấy anh mới nhớ ra là mặc quần áo bệnh viện, làm gì có tiền. Anh nói nhỏ mày có tiền không, tôi lấy tiền ra trả, hôm sau đến viện đón anh về nhà, việc đầu tiên gặp tôi là anh trả tiền cả hai bát phở vì anh mời tôi ăn mà.

Thep moi va Ton That Thanh

Đón anh về nhà đường Nguyễn Lai Thạch, sáng sáng tôi lại đến đó làm việc với anh. Một tháng nay, mình hầu như không ghi nhật ký vì quá bận. Nhưng có thể nói mình đã hiểu anh, và qua anh đã hiểu cách mạng, hiểu đời nhiều hơn. Anh thật tốt bụng, yêu con người và hiến dâng cả cuộc đời cho nhân dân, cho cách mạng. Chưa khi nào anh nói tới những lợi ích riêng tư, cũng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để kiếm cái gì cho bản thân cả.

Tháng 3/1974, Hà Ninh em trai anh chuẩn bị đi B. Anh bảo tôi về phòng làm việc của anh mở ngăn kéo thứ hai lấy cái phong bì anh để tiền nhuận bút đi mua quà cho em anh, còn anh thì sẽ tặng cái túi có nắp dán thời ấy rất hiếm. Tôi mua cho Ninh một cái sơ mi màu hạt dẻ mỏng và bền vải Nhật. Anh đưa Ninh đến nhà anh Nguyễn Tự quay phim quân đội bạn anh ở đường Trần Hưng Đạo để anh ấy góp ý kiến kinh nghiệm đi B làm công tác vì tôi không có thực tế, tôi phải tìm thầy cho ông đấy. Anh vui vẻ bảo Ninh vậy. Hôm đó, tại nhà anh Tự, anh nói theo cái cách hài hước và sỗ quen thuộc khi nói với người thân về các vấn đề quan trọng, anh dặn Ninh: Ít nhất vào đấy cũng phải cố mà hiểu cho được hai điều này: Độc lập tự do là khó nhằn, cách mạng là khó nhằn, mà không thể nào làm khác được. Và thứ hai là: con người ta thật là nhiều vẻ, phức tạp.

Những lời nói kiểu như thế mình nghe hằng ngày. Chân tình mà sâu sắc. Ngoài ra còn rất nhiều những ý kiến, kinh nghiệm về nghề báo, văn học nghệ thuật, con người, nhất là giới trí thức nước ta. Mình cố gắng ghi lại càng nhiều càng tốt, xem đó là bài học của một người học nghề thành thật.

Từ ngày bắt đầu vào đội bán báo anh Thép Mới đã có những cảnh báo cho chúng tôi mà tôi nhớ đến suốt đời. Anh bảo tao biết tất cả chúng mày ở đây, mỗi đứa đều là một ông Trời-Vĩ –Đại trong cái vòm trời nhỏ vỏ trứng của mình. Hoặc muốn làm nhà báo thì từ khi bước vào nghề này phải biết là nhà báo chỉ chết vì cái danh, sau đó là gái đẹp và cuối cùng là tiền bạc. Tránh được ba cái đó mới làm người viết báo được. Chúng mày phải biết quí cái thời gian mình chưa nổi tiếng. Khi ấy mình sống thoải mái, hòa đồng với mọi người, dễ biết được sự thật dễ nghe được những lời nói thật. Còn khi mày nổi tiếng rồi thì người ta chỉ trỏ, khâm phục mày, nhưng không xem mày là người của họ nữa. Họ thường cảnh giác mỗi khi gặp mày, dè chừng với mày, nói năng cũng thận trọng hơn hành động cũng cân nhắc hơn khác hẳn khi họ ở giữa bạn bè, người thân. Vì thế, lấy bút danh là hơn ngay trước mặt mày họ có thể chê bai bài mày viết thoải mái, thành thật. Tất nhiên, khi bị lộ rồi, lại khác.

Hơn một tháng nay, Hà Nội lại thiếu điện, cắt điện khoảng nửa tuần. Mì sợi ăn hằng ngày mua rất khó. Nghe nói tháng sau sẽ không có dầu hỏa và tỷ lệ bột mì trong lương thực cũng tăng lên 70% mà không cung cấp mì sợi hay bánh mi vì thiếu chất đốt. Thành phố xôn xao. Những việc này tưởng như nhỏ nhưng đụng chạm đến bếp ăn các gia đình. Đúng là cách mạng là khó nhằn, độc lập tự do là khó nhằn, nhất là độc lập tự do về kinh tế nhưng không thể làm khác được. Quả có thế… Thắng lợi hạnh phúc đâu có từ trên trời rơi xuống…

Từ ngày 4/4 đến 7/4 đi với anh Thép Mới. Ở Nam Định, có thăm đền Nhà Trần và chùa Tháp. Đến Thanh Hóa, có ra hòn Độc Cước ở Sầm Sơn chơi với các anh Trợ, Hiệp ở báo Tue QuynhThanh Hóa và anh Thắng phụ trách chăn nuôi của tỉnh là bạn anh Thép Mới. Tại đây, lần duy nhất trong đời mình ảnh chụp anh Thép Mới có mặt mình (áo ca rô). Sau này, họ gửi về cơ quan hai tấm ảnh. Anh Thép Mới xem rồi đưa mình cả hai. Anh ít giữ những vật kỷ niệm lắm. Hồi chi đoàn báo Nhân Dân do chị Vũ Tuệ Quỳnh làm bí thư tổ chức thi đua, có báo với anh, anh cho ngay cái huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên duy nhất anh có để làm giải thưởng. Anh chỉ cốt làm việc thôi. Hơn 500km, một chuyến đi rất thú vị, anh em hiểu nhau càng thương nhau hơn. Từ nay về sau, những năm còn sống và làm việc anh đều có ý muốn mình luôn ở bên anh. Sau kênh Nhà Lê ở Thanh Hóa anh chia tay đi với Tướng Đinh Đức Thiện cha đẻ con đường Trường Sơn, bắt đầu viết về con đường huyền thoại này.

Chuyến đi này là chấm dứt 18 năm anh sống không thật là mình vì lỡ lấy phải cô vợ xinh xắn nhưng độc ác hiếu thắng đến ngông cuồng… Chị dâu tôi là học sinh miền Nam tập kết, đỗ ngành kiến trúc khóa I vào Đại học Bách Khoa ở nội trú cùng cô này. Có lần chị hỏi vì sao lại lấy ông Thép Mới. Cô cười đáp ngay không do dự: Vì anh ấy là Thép Mới, nhà báo nổi tiếng ai cũng khâm phục yêu mến.

Hồi cưới, anh em công nhân nhà in hỏi tôi đêm tân hôn thế nào mày, có phải làm cái giá đỡ ông ấy không, kẻo ông ấy đè chết bà ấy bé xíu.

Hồi ở số 10 Trần Quốc Toản năm chúng tôi mới đi bán báo còn thấy vợ chồng anh gọi nhau là cậu cậu, tớ tớ cùng làm cơm, cùng rửa bát. Đến khi về đường Nguyễn Lai Thạch tôi đi làm ở Cảng rồi thì thường trên đường về buổi trưa hay gặp anh mướt mồ hôi đạp cái xe tróc sơn, tay vừa cầm ghi đông vừa xách một cặp lồng mấy tầng. Sau về báo mới biết là anh đưa toàn bộ sổ cung cấp cho nhà bố mẹ vợ ở đường Đặng Tất tận phía bắc thành phố để trên ấy nấu nướng đến giờ làm về là lên lấy đem về phía nam thành phố hai vợ chồng ăn. Buổi trưa ăn ngay vì còn nóng, chiều thì hâm lại trong một buồng kho nhỏ nay dùng làm bếp. Có lần tôi có việc tòa soạn nhắn phải đến anh vào buổi chiều. Đến căn hộ của anh, nghe tiếng dao băm vào thớt, bèn gõ cửa buồng kho thì ra anh đang mặc áo ba lỗ quần đùi xanh làm món ăn trong đó. Tôi còn nghe người thân anh kể chuyện chị ta có tối lên cơn bực chuyện gì đó, lấy chổi đánh anh, rồi cầm cán chổi giải anh theo cầu thang nhỏ lên sân thượng nhốt anh vào cái buồng con đựng đồ vặt. Anh thủ sẵn một cuốn sách, bật đèn lên đọc, thì chị ta đứng ngoài phát hiện, tắt ngay. Có lần anh về muộn, đem theo một bộ com lê cơ quan cho may đo để chuẩn bị đi nước ngoài công tác, chị ta lấy kéo cắt nát ra. Người nhà và người ngoài đều chê anh nể vợ quá. Anh thì biết lỗi ở mình nên không phản kháng gì, chỉ tránh và cuối cùng là trốn chạy. Sau cách mạng Tháng Tám thành công, về Hà Nội anh bị một sự cố y khoa mất khả năng giao hợp. Các hành động tàn ác chị ta làm là để trả thù anh thôi. Chị đã sống với anh ở Hà Nội, đã vào cả chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, nhưng đến nay chị chịu hết nổi mặc dù anh vẫn thương yêu chị. Hồi chạy trốn tá túc ở nhà một người bạn anh còn bảo tôi cố đến nhà anh xin chị cho mang cái tượng pha lê đục cao độ 40cm tạc hình Đức Bà Maria giống hệt chị anh mua khi sang Cu ba.

Chuyến đi này là mở đầu cho một giai đoạn mới của đời anh, nhà báo và chủ yếu là nhà văn Thép Mới. Anh dự định sẽ dành tất cả những năm cuối đời để làm một tác phẩm văn học lớn – kiểu mới, có tính chất tự truyện, ít nhất gồm có bốn phần phù hợp với bốn giai đoạn cách mạng nước ta. Từ trước cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp, rồi hòa bình ở miền Bắc, chống Mỹ cứu nước. Đề cập hầu như đến mọi tầng lớp xã hội. Bối cảnh, địa bàn hầu khắp cả nước ta, có cả một số ở nước ngoài.

Vụ li dị anh đã chủ động đặt ra từ ngày 27/3/1974 vì quyền lợi của người phụ nữ, nhưng đến nay vẫn chưa xong. Về tinh thần, anh đã được tự do như vừa giải phẫu xong một khối u ác tính bấy lâu cản bước anh tiến lên. Mình cũng chuẩn bị cho những năm tháng hoạt động hăng say, hào hứng hết mình theo con đường đã chọn. Mình đang mong anh về.

*

*        *

Mới đây, gặp anh Đào Anh Kha. Anh vừa hoàn thành trường ca Hồ Chí Minh sự thật truyền kỳ. Cùng nhau trò chuyện về thơ, văn nghệ rồiDao Anh Kha về thế sự một lát bỗng anh nheo mắt, chăm chú nhìn mình nói với vẻ suy nghĩ: Ông phải viết đi ông Thành ạ. Ông giàu chất liệu tiểu thuyết lắm. Ông nhìn thấy những cái mà người thường không nhận ra được. Đó là một khả năng hiếm có lắm…

Mình nghe mà nghĩ là có lẽ vì hay nhìn ra những cái như thế mà khó sống quá, ít được người hiểu.

Anh Đào Anh Kha trước đây từng ở ban văn nghệ báo Nhân Dân. Mình từng đọc bài anh viết bình luận bộ phim Án mạng phố Đăngtơ của Liên Xô và rất mến phục. Nay nhờ tham gia hội Esperanto gặp lại anh, không ngờ nhà anh lại không xa nhà mình, đi bộ độ 15 phút là đến. Mình thường đến nhà anh chơi. Một tối cây hoa quỳnh nhỏ nhà mình sắp ra hoa, những 13 nụ. Mình đến mời anh tối đến cùng ngắm hoa thì anh cười: Chính tôi mới phải mời ông chứ, ra đây tôi cho xem vườn quỳnh của tôi, tối nay sẽ nở những 65 bông. Tối ấy anh bắc ghế, mắc đèn ra sân gần cái hầm to trên đắp đất dầy, chính là vườn quỳnh của anh. Có sôcôla, thuốc lá thơm và trà ngon. Mình được ngồi chung với các bạn anh thuộc giới văn nghệ. Một hôm anh ghé nhà báo trưa mai chủ nhật ở trường sư phạm có diễn vở Vòng phấn Cáp ca diễn theo đúng kiểu B Bretch. Rồi hôm sau hai anh em đạp xe giữa trưa nắng hơn 10km đến trường nọ. Lần đầu mình được xem và mê ngay kịch B.Bretch. Mình học hỏi được nhiều ở anh. Anh cũng có vẻ mến mình.

Sáng hôm sau, gặp Đinh Bá Đào. Cậu ta nói: Thật tôi không ngờ là ông không viết gì mà cũng không có dự kiến viết gì cả. Tôi cứ nghĩ ít ra ông cũng phải có một phác thảo tiểu thuyết… Đến tôi mà còn viết được nữa là… Mình chống chế là cũng định sửa tính lười cố hữu bằng cách bắt đầu bằng dịch thì lập tức bị phản đối ngay: không dịch gì cả. Phải viết thôi. Tôi và anh em ai cũng tin là ông viết được.

Đúng là ai ai cũng nghi ngờ mình và cực lực phản đối việc mình không chịu viết. Phải sửa thật thôi. Có điều là hễ cứ định hăng hái lên là lại xuất hiện một bệnh mới, càng ngày càng mệt mỏi, triệu chứng đau tim lộ rất rõ, nhiều lúc mệt đến không nói nên lời… Các bạn mình như Hà Khánh Linh, cô bạn nhỏ đã có nhiều tác phẩm, có cả tác phẩm tốt nữa. Còn mình thật thảm hại. Đến một dòng nhật ký mình viết chỉ để mình xem mà cũng còn ngại không muốn viết nữa. Hơn bốn tháng trời không viết nổi mười trang nhật ký rỗng tuếch như thế này. Nghiêm trọng lắm rồi: Mất thói quen lao động nghệ thuật rồi.

Nhận được cái thiếp của anh Thép Mới, sáng 8/5 mình đã về đến Nam Định nhà bà mẹ anh (Số 102 Trần Hưng Đạo). Cho đến khuya chỉ trò chuyện với anh về công việc, đời tư… Anh sôi nổi kể về chuyến đi vùng giải phóng Lào Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng và đặc biệt là Đại lộ Hồ Chí Minh trên đỉnh Trường Sơn, về con người vị tướng Đinh Đức Thiện cha đẻ của con đường kỳ lạ này… Hóa ra anh chỉ cần có người chia sẻ tâm sự, cùng anh suy nghĩ như anh thường nói.

19:00 10/5 mình và anh Mạnh Hồng em rể anh Thép Mới ra tàu hỏa về Hà Nội. Trên tàu, gặp một chú bé 15 tuổi người Xuân Hùng (Nam Định). Mắt rất buồn thiếu ngủ. Bỏ nhà ra đi đã hơn một tháng, lên tận Bắc Cạn. Hoàn toàn sống tự lập. Mất bố năm lên ba, mất mẹ năm lên bảy, ở với cậu có đến bảy đứa con. Chỉ mong đi làm công nhân. Tên em rất lạ Lê Văn Biển. Một nội tâm phong phú… Gặp là chú mến mình ngay, suốt đường cứ ngả vào tay mình mà ngủ ngon lành, tin cậy. Mình sẽ khó quên chú bé này. Tin là em sẽ nên người.

*

*      *

Về đến nhà là cả ngày hôm sau cùng ông em rể chí cốt Long lợp mái nhà trong một phần sân trên gác, thêm được một chút diện tích sinh tồn. Từ nay, ở nhà cũng có thể làm việc được. Không làm được gì thì chỉ là vì lười, chẳng còn lý do chính đáng nào hết. Thần kinh tọa lại giở quẻ đau âm ỉ. Lại uống rượu rắn, lại tiếp tục học tiếng Nhật

Tối thứ hai 13/5, mệt, phải bỏ học tiếng Nhật.  Ngủ li bì, rất đau vùng bụng, chưa rõ nguyên nhân.

Công việc chung ở cơ quan trì trệ, anh em chơi nhiều. Chỗ nào cũng tụ tập bàn tán. Báo liên tiếp có sai sót, cả về chính trị lẫn kỹ thuật. có phải ai cũng lo làm cho tờ báo hay đâu. Họ còn đang chờ đợi một cái gì đó mơ hồ sắp xảy ra… Đang khi ấy, buổi sáng cơ quan công bố thuyên chuyển cán bộ. Anh Nguyễn Thọ họa sĩ lên phòng thư ký để dùng bút bi chữa bài, không vẽ nữa. Phòng văn hóa không có người phụ trách. Một anh mới về cơ quan được giao một chức vụ mà anh Hữu Thọ ban nông nghiệp nói là về cơ bản là vô nghĩa. Tình hình rất căng, đòi hỏi một thay đổi lớn. Anh em ban văn hóa văn nghệ cũ mong anh Thép Mới về. Ở nhà mình, mẹ vẫn ốm, cháu Hà vẫn sốt 39 độ.

Giữa tháng 5, y tế cơ quan xác nhận mình đau vùng gan. Lại têtaxilin… Tối mệt, chơi cờ với cháu Hải rồi đọc bản tin. Bắt đầu có tin Chu Ân Lai yếu, Đặng Tiểu Bình mới được phục hồi đã lại lên như diều, hung hăng lắm…

Vừa mưa một trận, trời dịu hẳn đi. Tiếc là mệt, không làm việc được. Tối hôm sau, đi xem Ga Biêlôrútxia, kể chuyện những người bạn chiến đấu cũ gặp nhau. Thấm thía sâu xa: Cái đẹp thật sự là cái giản dị. Tất nhiên cũng là cái đẹp chân chất, cao cả trong sáng xem mà thấy dường như làm gì có phim, có diễn viên, đạo diễn… mà chỉ là cuộc sống thật, một mảng của cuộc sống thật cô đặc lại mà thôi. Bỗng nhớ các bạn quá chừng, những người nhớ nhất lại là những người chưa thể nào gặp được hoặc không bao giờ còn gặp được như Tấn, Chỉ, Hùng, Lý,… Lại vùi đầu vào học tiếng Nhật.

Tối 22/5 nằm đọc sách vô tình cứ phải nghe mẹ và em trai trò chuyện ngay tại ban công sát cửa sổ đầu giường. Em ca ngợi những người trí thức cũ là phụ huynh học sinh của em, cảm thấy rất thích thú được tiếp xúc với họ, những người lịch sự, thanh nhã, hiểu biết. Mẹ cũng tán thưởng những cảm xúc của em. Mười mấy năm nay, mình đã nghe em nói như thế, kể cả thời gian em còn ở Đông Anh ngoại thành Hà Nội, sống giữa lòng nhân dân lao động. Thật đáng buồn là em ít thay đổi quá. Anh em cùng mẹ cùng cha sống bao năm dưới cùng một mái nhà mà sao thấy em thật xa lạ. Mình chợt nhớ một trưa mẹ đưa cho xem một trang báo bảo có đăng ảnh em trai đang dạy học. Mình đã đọc tờ báo này nên chỉ mẹ xem ở trang 4 có đăng tin các giáo viên được giải thưởng của Bộ Giáo dục, trong đó có mình chuyên trách bổ túc văn hóa ở Cảng Sông Hà Nội làm thiết bị chiếu hình phục vụ giảng dạy. Anh em mình thật khác nhau. Một nổi bật, một chìm trong bóng tối.

Trưa 23 đi làm về, sau khi đón cháu Hải ở nhà trẻ, ghé xe đạp vào hè mua tờ báo tình cờ gặp cô Hằng con gái bác Thông. Cậu em đã về nhà, suýt chết mấy lần rồi. Tôi vội cùng cháu Hải lên nhà thăm. Ông nằm trên giường mặc cái áo ba lỗ sọc xanh, quần vải trắng. Đôi mắt nhắm nghiền, sâu hoắm, thâm quầng. Thái dương hai bên hóp lõm lại. Gò má nhô cao kì dị. Tay chân khẳng khiu xanh nhợt. Bà mẹ phúc hậu và một bà em ngồi cạnh luôn phảy quạt, đắp nước lên trán, thấm mồ hôi. Người ốm kêu nóng, đòi nằm nghiêng, chườm nước đá. Ung thư di căn, gia đình đã cho ra viện được khoảng nửa tháng nay. Ngay sau lần cuối mình vào thăm trước khi đi công tác. Lần ấy còn ra ghế đá nói chuyện với nhau. Bác rất vui kể chuyện được chính bác sĩ Tôn Thất Tùng đến khám và bác sĩ Tùng chê các bác sĩ điều trị là dở, người ta đã đau yếu cơ thể suy nhược còn cứ cấm ăn thứ này, thứ nọ, tốt nhất là cho họ ăn cái họ thích uống thứ họ muốn, như thế mới mong khá được chứ. Bác bao giờ cũng ngây thơ tin người như thế. Lần ấy tôi cũng gặp nhà văn Hữu Mai vào thăm ông anh. Nhân nói chuyện Duong Ho Chi Minh sang dinh truong sonanh Nguyễn Khải đăng trên báo Nhân Dân loạt bài Nếp sống nếp nghĩ đang gây xôn xao dư luận, anh Mai cười anh em văn nghệ người ta bảo ông ấy ngửa mặt lên trời mà nhổ nước bọt.

Lần ấy, bác Thông còn bảo mình mang tạp chí Tác phẩm mới cho bác đọc. Không ngờ suy sụp quá nhanh. Bác năm nay 53 tuổi mà đến cuối đời vẫn ngây thơ, luôn ngạc nhiên ngơ ngác trước mọi biến chuyển của cuộc đời, sự biến đổi của những người xung quanh và bao giờ cũng cam chịu khi tai họa xảy ra với mình. Bác chân thành quí mến song chưa khi nào tán thành lối nghĩ cách sống cũng như mọi quyết định của mình. Bác là con người mơ mộng, suy tư chứ chưa bao giờ là con người hành động. Cái chết đến vào lúc bác chưa biết nên sống như thế nào nhưng đã không còn muốn sống như những năm trước nữa. Thật tiếc thay cho một đời người lương thiện.

Cần bắt tay vào làm ngay những việc định làm. Ai biết được cái chết sẽ đến với mình lúc nào. Càng ngày càng thêm nhiều bệnh. Mà hoàn cảnh kinh tế gia đình thì…

Anh Thép Mới đã về từ 15/5. Đường Hồ Chí Minh sáng đỉnh Trường Sơn của anh đã đăng năm kỳ. Mọi tiếng xì xào về anh câm bặt. Việc ly hôn còn phải tiếp tục giải quyết. Song anh đã thật sự tự do về mặt tinh thần rồi. Anh luôn làm việc hào hứng say mê. Anh viết rất nhanh, đúng như anh thường nói tao vừa lia xong bài này, mày xem có được không. Ai cũng bảo văn anh hay, xúc tích lại bay bổng. Nhưng có xem anh viết bài mới thấy thật là một việc làm khổ sai, trời bắt tội. Sau khi lia thật nhanh xong bài viết anh bắt đầu chữa, thêm, bớt, đảo câu, đảo chữ, sửa mãi chừng nào còn có thời giờ. Những bài đã đăng, sau có ai đăng lại, anh lại sửa chữa rồi mới để đăng

Bác Trần Hữu Thông mất sáng 23/5/1974, tại nhà riêng 43 phố Hàng Bạc.Tôi đạp xe đến ngay Cảng. Thư ký công đoàn Hoàng Văn Bảo nói ngay: Thế là tớ mất hơn trăm bạc. Ông ấy bán cái xe cho mình, tiền nong chưa xong. Tôi nản quá, ra ngay sân báo tin cho anh em công nhân. Ai cũng thương bác ấy hiền lành, giận cách đối xử của Cảng với bác… Hôm sau đưa đám mình có nhắn một số anh em cùng đi.

Sáu giờ sáng đưa đám bác Thông. Sớm quá, cho nên một số anh em có lòng ở Thanh Trì không lên kịp. Xe tang đến Thủy Tạ thì trời đổ mưa lớn. Huyệt thế nào cũng ngập nước. Đến tận lúc nằm xuống đất bác cũng chẳng gặp may. Mình về tòa soạn gửi xe đạp, chạy thật nhanh ra xe tang nhưng không kịp, xe đã chuyển bánh đi khá xa. Ân hận là không đưa được bác đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Ít người thương yêu mình như bác.

Độ một giờ sau thì mưa tạnh, nắng gắt. Chẳng khác gì đời bác Thông, khi Cảng biết quan tâm đến thì bác đã qua đời.

Tối nay, lớp học tiếng Nhật lại hoãn, mình tìm đến nhà chú Cường thợ nguội ông Tá công đoàn và bác Tuân phó giám đốc cũ của Cảng định trò chuyện về bác Thông. Nhưng cả ba đều vắng nhà. Đành về, ngồi một mình trên giường viết mấy dòng. Trời nóng. Oi. Không một ngọn gió.

*

*       *

Một tháng qua, chỉ lo làm nhà, lợp thêm một cái mái tranh để có chốn “dung thân”. Chú thợ rèn Trung đã sáng kiến lấy sắt phế thải của xưởng cơ khí làm cho một cái bàn sắt nhỏ, đặt trên giường mà viết được thoải mái. Từ khi có bàn, chưa viết được chữ nào nhưng đọc sách đặt trên bàn ấy cũng rất thoải mái.

Ngày 26/6 đã đi chụp dạ dày. Cậu Phạm Khuê nghi bị loét thượng vị. Mình cũng muốn thanh toán cho xong bệnh tật rồi mới yên chí đi vào làm ăn: Viết thật nhiều, viết tất cả những gì đã nghĩ ra, đã định viết, muốn ra cái gì thì ra. Viết xong cứ để đấy đã, chưa nghĩ gì đến việc ra mắt người đời, chỉ lưu hành nội bộ gia đình, bạn bè. Nhiều truyện nhỏ mình viết rồi gửi cho lũ bạn đi bộ đội, thay vì viết thư, các bạn thích lắm bảo cả đơn vị mong thư có truyện Hà Nội của mình.

Đầu tháng 7 có chuyện gay go với giới báo chí văn nghệ. Ban tuyên huấn phê bình tám bài văn thơ đăng trên các báo Thanh Niên, Thiếu Niên, Tạp chí Tác phẩm mới, Văn Nghệ, Văn hóa nghệ thuật, cả báo Nhân Dân. Tô Hoài, Phạm Tiến Duật, Vũ Tú Nam, Lệ Đình Kỵ cũng bị phê bình. Ở báo Nhân Dân là bàiNha van Nguyen Khai của Nguyễn Khải Chúng ta chăm sóc những tài năng! Bài này, đọc xong bản thảo mình đã thấy nặng nề quá và sợ bị hiểu lầm nên đã gợi ý anh Thép Mới nên xem lại kỹ. Song không dám gạt vì sợ anh cho là hẹp hòi, bảo hoàng hơn cả nhà vua… Nay nghĩ lại, cảm thấy ân hận quá. Ông Hoàng Tùng đã tự phê bình là khi duyệt xem không kỹ thì tất nhiên anh Thép Mới cũng phải chịu phần trách nhiệm không nhỏ. Anh Nguyễn Khải rõ ràng là sẽ bị kiểm thảo thôi. Mình lo nhất là sẽ mất đi-hay chí ít cũng làm nhụt đi cái nhuệ khí của một nhà văn dũng cảm nhập cuộc, lại giàu tài năng…

Từ nay, mục Nếu sống nếp nghĩ do anh Thép Mới khởi xướng, anh Nguyễn Khải viết đăng đều kỳ trên báo Nhân Dân mỗi chủ nhật sẽ ngừng hẳn. Bọn hèn nhát, chuyên sống ở khoảng giữa tha hồ gièm pha, lên mặt dạy đời, trốn trách nhiệm. Vừa qua đã nghe người trong ban văn nghệ nói rồi: Tôi đã bảo từ đầu mà, không nên nêu tên Nguyễn Khải, càng không nên để một mình anh ta viết. Cái mục Nếp sống nếp nghĩ này cũng một mình ông Thép Mới đặt ra thôi, có bàn bạc với ai đâu. Đáng lẽ ra phải… Mình lợm giọng quá. Mới hôm nào biết bộ chính trị khen mấy bài của Nguyễn Khải chính người này đã hùa vào khen hào hứng sắc xảo biết bao.

Thứ tư 23/10/1974, cùng em Thân đi xem biểu diễn nhạc giao hưởng. Ăn mừng là rất Tran Dinhđúng: Đầu trang 3 báo Nhân Dân có đăng một bài hơn 1000 chữ ký tên Nguyễn Trung. Nhớ 15 năm trước, vô cớ mình phải lủi thủi ra đi. Hôm nay, Nguyễn Trung ra mắt bạn đọc. Đây là trận đầu. Cả viết và chép chưa mất đến nửa ngày. Chưa phải đã cố làm cho thật tốt. Các bài sau sẽ cẩn thận hơn, viết kỹ càng hơn để có chất lượng cao. Bài này viết xong, mình đưa anh Trần Đĩnh chữa. Anh làm bài nhẹ nhàng dễ đọc hơn. Lúc vui chuyện anh Đĩnh kể hồi học trường Thăng Long (Ngõ Trạm) ai cũng sợ thầy Bình – là bố tôi – dạy Pháp văn vì rất nghiêm. Nên khi thầy giảng thơ Vích to Huy gô thầy vừa đọc thơ vừa nghẹn ngào rơi nước mắt thì lạ lắm.

Đầu tháng 11, đọc tập kịch của Sếchxpia, thấy muốn ghi lại mấy dòng này trong lời giới thiệu của Nguyễn Nam. Có lẽ là do tâm trạng hiện nay: Dù ở những lúc đen tối nhất của cuộc đời, Sếchxpia vẫn giữ được lòng tin ở con người và ở tương lai của xã hội. Về mặt sự nghiệp, những con người tốt có thể thất bại, nhưng về mặt đạo đức, họ vẫn thắng, và chiến thắng của tư tưởng bao giờ cũng là điều bảo đảm cho một chiến thắng về hành động sau này…

*

*      *

Giữa tháng 11/1974, nhận được thư Đào Văn Thùy gửi từ Quảng Trị. Em báo tin mừng: Xe tăng mai phục bấy lâu, nhiều khi phải vùi dưới cát, đã sắp xuất trận. Ngày toàn thắng sắp đến rồi. Mừng nữa là chú em đã chăm học thay đổi hẳn nếp sống có phần buông thả xưa kia, cùng cả đơn vị sống có trách nhiệm, nền nếp hẳn lên.

Tối hôm trước, xem lại một số bài viết và giấy tờ ghi hồi học Học Viện Nông Lâm và trong chuyến đi Quảng Bình…cảm thấy tất cả những mảnh thực tế vụn vặt ấy dường như đã tạo nên con người mình như ngày nay. Nếu xâu chuỗi tất cả lại một cách hợp lý có thể hiện rõ lên một hình tượng nào đó của một thời chăng. Nhưng, chỉ là vật liệu, tư liệu, cứ để đấy đã. Chưa đến lúc dùng, sợ phí đi.

Cuối tháng 11/1974, đã đọc xong Cây thập tự thứ bảy của A.Dêgớc. Phục nhất là bà đã viết tác phẩm này vào năm 1939 khi đại chiến thế giới thứ II mới bắt đầu.  Lại đọc Trại ST 18 của Phan Tứ (Lê Khâm). Viết khá quá, chắc tay lắm rồi. Chỉ còn hai thiếu sót nhỏ về ngôn ngữ và cách thể hiện. Cũng đọc Đất Làng của Nguyễn Ngọc Tú. Đọc để biết hơn là bị lôi cuốn, nhiều phần rời hẳn ra khỏi mạch truyện, có lẽ là do được góp ý khi xét duyệt mới thêm vào cho lọt cửa. Mình suy nghĩ nhiều về những điều muốn viết, cứ viết ra giấy cái đã… Hằng ngày, cố tập luyện yoga theo sách, được một tháng rồi, cảm thấy dễ chịu trong người hơn trước nhiều.

Một tối cuối tháng 11, anh bạn mê thơ lại đi bộ đội từng chiến đấu và bị thương ở Lào nay xuất ngũ làm thợ điện đến nhà chơi. Cậu ta hỏi tình hình vì cho là mình ở báo thì biết nhiều tin tức mới hơn. Nghe xong, cậu ta, người mình vẫn yêu mến tin cậy, nói một câu làm mình nản quá: Đánh to ở trong ấy thì cũng được thôi. Tôi ngại là ngại nó lại ném bom ngoài này thì gay… Mình buồn vì hiện nay không ít người suy nghĩ như thế…

Chủ nhật đầu tháng 12, theo lệ đi họp Esperanto. Lúc về, anh Bùi Hạnh Cẩn ở Hội Nhà báo, bạn anh Thép Mới bảo: tôi tin là ít nhất đến năm 1980 anh cũng sẽ có thêm hai ngữ nữa. Nói không phải là để động viên đâu. Thế tất nó phải thế. Thanh  niên mà không có một cái gì tốt để mà say mê miệt mài là sẽ hỏng… Vả lại, với anh trí thức, anh làm báo thì ngoại ngữ là cần quá đi chứ…

Sau đó, tôi đến nhà cô bạn nhỏ. Cô sắp đi B một thời gian. Trông có vẻ khỏe ra, dịu dàng hơn và một điểm đáng mừng là bắt đầu say mê Lỗ Tấn. Con người có vẻ đi vào ổn định hơn, đi vào chiều sâu. Còn khá hơn mình là liên tiếp viết. Và đi.

Chủ nhật 8/12/1974 cả ngày gặm sách. Đọc hết những cuốn cô bạn nhỏ cho mượn như  Mitsurin (của Dovjenko), kịch bản Những nhà vật lý (của Phêđơrich Đuyrenmát) tập thơ Gửi người mai sau cô bạn muốn mình đọc bài Đêm cuối cùng của Bagơrítxki, nhưng mình thì lại thích toàn bộ những bài thơ của B.Bretch in trong này hơn. Đó là Gửi những người mai sau, Cái mặt nạ một tên độc ác, Ca ngợi người cách mạng, 1940, Bài ca chiếc guồng nước và dòng nước, Vợ người lính  nhận được gì. Đây chắc là của các anh bên hội cho mượn.

Tối 13/12 nhật ký ghi: Mấy hôm nay, dịch xong Sourvenirs sur Babel (Hồi ức về Ba ben) của Pautốpxki, hiện đang đánh máy thành ba bản. Một cho cô bạn nhỏ, coi như quà tiễn người đi B, một gửi Hà Khánh Linh, chắc Linh sẽ dễ tiếp nhận.

Càng đọc về Baben, càng muốn viết, như một cái nghiệp, một món nợ phải trả. Từ nay, mọi buổi tối đều dành cho nghệ thuật. Anh Trần Đĩnh cho biết thêm về sau Baben bị tình nghi rồi chết trong trại tập trung thời Stalin.

Dao Van Thuy va vo

Hôm sau lại nhận được thư Thùy. Anh em mình càng xa nhau lại càng gần nhau. Thùy còn nhờ mình viết thư cho vợ cậu ta là Tường, góp ý về học văn hóa. Anh chàng vô tư nay đã thấy cần suy nghĩ rồi. Có lần đi công tác Nam Định, Thep moi o Deo Hai Vanmình đã đến nhà máy dệt nơi vợ Thùy đang học nghề. Anh em gặp nhau mừng quá, dù anh chỉ cho em một gói kẹo thôi. Sau này em còn thường viết thư cho mình, tất nhiên nhận thư là có thư trả lời. Tường bé nhỏ, bẽn lẽn hôm mới cưới xong chồng đưa ra Hà Nội chụp ảnh và giới thiệu với ông anh kết nghĩa. Thùy tự nhiên nói cô ấy bé thế mà làm em mệt hơn cả lái xe tăng đấy anh ạ làm Tường xấu hổ quá, cứ che mặt.

Anh Thép Mới vừa đi Quảng Trị về. Hoàn cảnh riêng đâu khổ, sức khỏe cũng giảm sút vì vừa lên một cơn đau nặng ở Hà Tĩnh vậy mà thấy anh vui tươi hào hứng kể lại những gì đã thấy, đã nghe trong mấy ngày qua.

Sáng chủ nhật 15/12 đến 11 Ngô Văn Sở định nhờ gửi chuyển cho cô bạn tập bản dịch bài viết về Baben rồi đến nhà Linh. Không ngờ cô đi công tác vừa về, còn ngủ nướng, mới ra khỏi chăn… Một cuộc trò chuyện kỳ lạ. Lần đầu tiên chúng mình nói với nhau về những vấn đề cơ bản nhất như quan niệm sống và sáng tác nghệ thuật, những việc đã làm, đang làm và sẽ làm. Những điều lý luận cao xa nhất đều được nói lên một cách cụ thể nhất, vận vào thân từng người. Nổi bật nhất là sự tin cậy lẫn nhau đưa đến sự thẳng thắn chưa từng có. Cô cho xem ảnh hồi bé mới năm tuổi.

Chỉ có hai chị em, cô ấy làm cô giáo ở Thanh Hóa. Sống sung sướng đầy đủ đến năm bốn tuổi. Từ 1954 cải cách ruộng đất gia đình tan tác. Tất cả đều ra Hà Nội, không ai muốn về quê, dù ở đấy vẫn còn một bà cô. Cảm thấy như không có thời thơ ấu. Nghe bạn kể, mình càng xót xa thương cô gái nhỏ có nghị lực thông minh giàu tài năng. Chỉ mong bạn luôn sáng suốt. Biết là mình đã làm và sẽ còn làm bạn phải suy nghĩ nhiều. Mình muốn được góp phần hình thành một tài năng mới. Cứ mỗi lần gặp nhau chúng mình đều góp phần nâng cao nhau về tư tưởng, kiến thức, nghệ thuật. Một tình bạn như thế thật đáng quí. Trong tình hình hiện nay, lại càng đáng quí.

*

*     *

Sau một đêm thức trắng trên đường sắt rét mướt, rồi ngồi chờ năm tiếng dồng hồ trong một bến xe trống tuềnh trống toàng, trưa 18/12/1974 mình đã đến nhà bà ở Thác Bà Yên Bái và đang ngồi trước mặt bà yêu quí, vừa ghi những dòng nhật ký vừa nghe bà cụ 80 tuổi đau yếu nói đã hơi ngọng lưỡi líu lại, kể về quãng đời gian truân từ ngày mới 13 tuổi phải đi ở đợ để trừ nợ năm thùng lúa mẹ vay của người ta… Đêm qua, đã đắp một cái chăn đơn, lại phủ lên một cái áo da cừu Mông Cổ dài đến đầu gối mà vẫn thấy lạnh quá, phải dậy mặc thêm một cái áo cào vệ sinh, đi tất, xoa dầu nóng mới lại ngủ được. Nghĩ mà thương bà cũng chỉ có một cái chăn bông cũ đá dí dị lại nửa nằm nửa đắp. Trở sáng bà ho rất nhiều. Cô cũng chỉ có một cái chăn đơn mỏng, sáng vẫn dậy  rất sớm, nấu cám lợn cho gà vịt ăn quét dọn sân rồi mới đi họp ở trường tiểu học do hợp tác xã đài thọ tính công điểm như xã viên làm việc ngoài đồng. Nhà bà còn có chú Vân ở trọ. 13 tuổi, học lớp tám. Thổi lấy cơm mà ăn. Trưa hôm qua thấy chú ăn cơm nguội với nửa quả cà chua nấu trong nước muối. Cứ mỗi tuần đi bộ 14km về nhà một lần mang theo cái ruột tượng nhỏ đựng gạo. Nhà có tám anh em. Dưới chú còn năm em nữa. Chú ít nói, có nụ cười ngây thơ, cặp mắt đen lúc nào cũng như nhìn vào một chốn xa xôi. Vóc người nhỏ, hơi gù.

Cuộc sống công trường xây dựng đập thủy điện Thác Bà sôi nổi ngày nào nay lặng hẳn đi. Công nhân công trường phần lớn hoàn thành việc xây dựng, đang chuyển đi nơi khác. Người ta bán rẻ, thậm chí cho lại cả những căn nhà xinh xắn có bậc đá, từng là tổ ấm của bao cặp nam nữ công nhân mười mấy năm qua. Không có ai ở, nhà chỉ dỡ ra làm củi đun. Có lẽ chỉ mấy cái cột gỗ lõi là còn được dùng để dựng nhà mới. Điện nghe nói cũng sắp cắt. Việc này càng thúc giục những người chậm chân nhất mau chuyển về khu công trường còn lại. Cái cầu to nay xe cộ cũng không qua lại được nữa. Ngay người đi bộ cũng phải dè chừng vì ván gỗ mục, hổng từng mảng lớn, thấy rõ nước sông chảy qua đập Thác Bà réo xiết bên dưới xa hun hút. Nạn trộm chó, gà… nảy sinh, là sản phẩm xấu xa của những cuộc rút quân đang xảy ra. Một cuộc sống mới của Thác Bà sắp bắt đầu, giống như về sáng, trời càng lạnh. Người dân ở đây không còn sống với công trường thủy điện nữa mà sống ngay với bản thân nhà máy thủy điện Thác Bà. Đã thấy ban chủ nhiệm hợp tác xã Minh Bảo đi ghi tên những nhà muốn mắc điện.

Trưa hôm sau, đi đò bà Thắng từ bến cây đa Bảo sang khu thực phẩm bách hóa lương thực cửa hàng ăn uống. Bây giờ, khu này lại tập trung đông dân hơn khu trung tâm. Cửa hàng bách hóa, từ cái áo len dệt đến cái đàn pi a nô nhựa trẻ em chơi, Hà Nội có gì ở đây đều có. Đáng mừng nhất là miền núi đã đủ muối ăn và thừa hàng hóa. Riêng vùng gần nhà bà tôi đã có 50 nóc nhà mới do dân Nam Hà lên lập khu kinh tế mới. Đấy cũng là một nhân tố mới dẫn đến tương lai phồn thịnh của Thác Bà. Tất nhiên còn nhiều cái khó. Mà cái khó nhất vẫn là nằm trong nếp nghĩ của người dân ở đây. Sáng nay, đi chợ Cầu Treo về thấy một nhóm đang bừa ruộng. Mảnh ruộng nhỏ lại méo mó mà có đến ba con trâu đang kéo bừa. Cứ mắc vào nhau, tránh nhau là lại ngừng làm việc. Không ai tỏ vẻ khó chịu, sốt ruột cả. Họ thản nhiên cam chịu, cùng chờ. Thế thôi. Mảnh ruộng méo ở cách đập thủy điện Thác Bà có hơn một cây số, đường dây điện cao thế chạy ngay trên đầu. Cũng từ buổi tối, bà cô và mấy người hàng xóm đều lo vì hai con lợn nhà kém ăn. Việc đầu tiên mọi người nhắc nhau là phải đốt vía. Sau đó đánh gió bằng dầu hỏa và lá trầu không rồi mới cho uống thuốc cảm dạo ấy rất thịnh hành là Xê đa. May mà cả hai con đều đỡ. Sáng thứ sáu 20/12 ra bưu điện mua báo. Số mới nhất là ngày…15 muộn 4 ngày. Việc gì ở đây cũng trì trệ chậm chạp.

Hai hôm nay, mình ra tay cơm nước nấu nướng, bà vui lắm, ăn ngon miệng. Cô cũng vui vẻ, tuy có nói mấy câu màu mè: Lên kỳ này, tha hồ vất vả. Còn mình thì nghĩ bụng: Thế là đạt rồi. Mình lên chỉ để bà và cô vui, đem thêm một tấm lòng mong sưởi ấm hai nỗi lòng đang lạnh giá héo hắt nơi xa xôi. Cảm thấy một niềm vui bình dị mà sâu xa. Tối hôm qua, giúp chú Vân ở nhà cách học, giảng hẳn một bài hóa. Đêm, hai chú cháu nép vào nhau ngủ càng ấm áp. Thương thằng bé quá. Vất vả xa nhà mà học hành chẳng ra sao. Được mình hướng dẫn học, chú vui ra mặt. Lâu nay, có gì không hiểu cũng chẳng biết hỏi ai, thầy giáo thì hay cáu gắt, bạn bè cũng chẳng ai thiết gì học với hành.

Buổi chiều, anh Tình con nuôi bà mời ăn cơm. Đây là bữa ăn duy nhất có thịt trong đợt nghỉ phép này. Hằng ngày bà và cô sống chắc thiếu thốn, ăn uống kham khổ lắm. Sống tại một cơ sở xản xuất mà lại thiếu sức lao động thì không túng thiếu sao được…

Trưa 21/12 lo cơm nước xong thì ra bưu điện xin dấu xác nhận vào giấy nghỉ phép, mua được một tờ Nhân Dân, một tờ Quân đội nhân dân ngày hôm qua. Như vậy là chỉ chậm có một ngày. Bi quan như hôm trước là không đúng. Chiều thì có một cô ở cửa hàng thực phẩm, một bà cụ có con làm ở công trường đến chơi. Cả hai đều cho biết đã có lệnh lại đào hầm. Cô Bình cũng nói là mấy hôm nay đi họp cũng có nghe nói đến phải chuẩn bị đào hầm, bản thân cô cũng đã ngắm địa thế nên đào chỗ nào rồi. Nhìn bà, bà cụ và cô mình bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Bùi Minh Quốc:

Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc.

Chẳng ngờ bà cụ cũng thuộc những câu này. Ôi đất nước mình… Những bà mẹ anh hùng mà đau thương…

Bà Yên Bái lại đang nói chuyện xưa đau khổ tủi nhục cô đơn ly hương biệt quán… Giọng bà hơi ngọng, cụ cứ nói từ từ nhỏ nhẹ như chỉ để bản thân nhớ lại những ngày xưa…

Một giờ sáng 23/12 mình về đến nhà cùng hai chú lái xe trẻ dân Thác Bà chính gốc mới ra trường. Buổi chiều, cùng cháu Hà bốn tuổi vào thăm mẹ nằm bệnh viện mắt chờ mổ. Nghe kể về bà và cô trên Yên Bái mẹ thương lắm, và hài lòng về những việc mình làm trên ấy. Lúc kể chuyện khuyên cô Bình đừng nhận lời làm người trông nom đền Thác Bà sắp được xây dựng mà nên cứ tiếp tục dạy học, sau này có tuổi rồi thì nghỉ ở nhà trồng cây, nuôi lợn vịt gà, hằng tháng mình sẽ gửi thêm một ít tiền lên phụ giúp, mẹ cũng cho thế là phải. Mình vẫn sống với mẹ mà vẫn tận tình chăm sóc bà và cô có sao đâu…Thật lòng, mình bao giờ cũng cần yên ổn phần hồn hơn là phần xác.

Đấy là ý nghĩ vào đêm Nô en 1974. Mình còn dạo phố xem thiên hạ vui đêm Thiên Chúa giáng sinh như thế nào.

Hôm sau, đến nhà cậu Phạm Tuyên cùng cháu Hà. Ăn cơm nhà cậu xong thì hai bác cháu đến thăm Hà Khánh Linh. Linh bị chảy máu dạ dày vừa ở bệnh viện về. Con nhỏ nên không dám nằm viện lâu. Linh bảo đau có lẽ vì cố viết cho xong Khuôn mặt, một truyện viết theo yêu cầu mà Linh không tâm đắc lắm cho nên viết khá dài, có lẽ đến 500 trang, rất là tuyên truyền. Cúc, chồng Linh vừa di B. Linh chịu đựng mọi khó khăn một cách can đảm, vui vẻ, gần như là chẳng có chuyện gì cả…

Lâu nay, mình cứ luôn luôn cảm thấy bồn chồn, ân hận vì chưa viết được chút gì những cái định viết cả. Những mẩu ký ức Quảng Bình luôn luôn hiện lên trong trí óc mình, dường như chỉ thiếu một sợi dây là có thể xâu tất cả lại thành một toàn bộ có ý nghĩa… Em bé chết bom ở lò bánh mì cũng hiện lên cụ thể, hoàn chỉnh gần như chỉ còn có việc viết ra giấy thôi… Rồi con gà hoa mơ và chú bé là mình những năm xưa ở nhờ bà ngoại tản cư đã khánh kiệt, cũng luôn lởn vởn bên mình. Tất cả như thúc đẩy mình viết. Nhưng mình chần chừ phần lớn là do thể loại mình đang muốn thử nghiệm là thể truyện ngắn, trong khi đó gần như toàn bộ lại yêu cầu truyện vừa và truyện dài. Xem ta băn khoăn như thế về hình thức thì thật là dại dột. Cứ viết đi, muốn ra cái gì thì ra, cốt sao viết được những cái mình tha thiết, trút nó ra được cái nào hay cái ấy cho khỏi mang nặng trong mình, đến mức, nhiều khi như cứ bồn chồn, ngơ ngác lại luôn cảm thấy có lỗi, mặc dù mình tự biết đâu có lười biếng bao giờ.

Cuối năm 1974, mưa lất phất như mưa xuân. Sáng 26/12, kết hợp công tác dẫn hai cháu Hải, Hà con em Nhàn đi xem Bảo tàng Quân đội. Bao giờ thấy hình ảnh người chiến sĩ trẻ cầm bom ba càng chờ xe tăng địch đến mình cũng xúc động sâu xa. Anh còn trẻ lắm mà bình thản chờ cái chết của mình để đổi lấy cái sống cho Tổ Quốc.

Tối, ở nhà, nghe báo cáo của Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị về nhiệm vụ năm 1975. Mình cũng phải có kế hoạch năm 1975 chứ: Viết và học, thế thôi.

Hai năm 1973-1974 coi như cơ bản xong bước đầu học nghề báo.

Thành phố Hồ Chí Minh 21/7/2019.

P.T.

Tháng Bảy 14, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả (phần 1)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Bước đầu học nghề báo

Thep Moi BV BACH MAI

Ngày đầu năm 1973, vừa mở nhật ký ra, chưa viết được chữ nào thì Vũ Tuấn Hùng đến hỏi việc học tiếng Nhật ở nhà tiếp tục ra sao, rồi sau đó là các chú công nhân Cảng Bùi Lê Nghiên và Nguyễn Tiến Trung đến hỏi về đám cưới em Thân xem có việc gì cần giúp không… Thế là hết buổi tối. Hôm sau mới ghi được mấy chuyện này. Chiều 1/1, mình mang giấy thôi trả lương của Cảng đến báo Nhân Dân tìm phòng tổ chức nhưng không gặp ai cả. Ra sân, gần gốc đa thì gặp mấy bạn đội bán báo cũ. Đỗ Quảng hồ hởi đón mình. Còn Nguyễn Văn Bào thì chân thành hỏi mức lương, khi biết là chỉ có 45 đồng thì cười khẩy, vẻ ngao ngán, quá thấp. Còn Vũ Đình Hạnh chỉ nói mấy câu nhạt nhẽo cho qua chuyện.

Bao Quang Hanh.jpg

Sáng hôm sau đến sớm, vẫn không gặp. Mình ra bờ hồ chơi, xem triển lãm Chiến Thắng, Thep moi dungrồi triển lãm sách Liên Xô, lướt mấy hiệu sách… Một lát sau lại quay về tòa soạn. Gặp Phạm Duy Phùng, Phùng mừng lắm, tay bắt mặt mừng. Chưa nói gì với nhau thì không ngờ lại gặp anh Thép Mới. Anh kéo cả hai đứa vào cái buồng con bên trong rất lộn xộn mà cửa vẫn khóa… Có lẽ là buồng anh. Anh nói ngay vào chuyện, thật thà mộc mạc như mọi khi : Hai thằng ngồi đây… Thế này nhé… Anh quay sang mình. Thế là tao hết lòng với mày rồi đấy.  Bây giờ thì chỉ chú ý vào mà làm việc thôi, cái quyết định là làm việc cho tốt. Đứng dính dáng gì , suy nghĩ  gì về Pham Duy Phungnhững việc khác cả. Mày về đây là công an nó có làm rắc rối đấy. Thằng hộ tịch viên nó nói là mày hay giao du với phần tử xấu lắm. Chú ý đừng để phiền… Mày mà để xảy ra chuyện gì là chết tao đấy, mày hiểu chưa. Nói rồi anh giao ngay cho mình cuốn sách Le Journalisme en 30 leçons (Nghề báo qua 30 bài học) của Gilberte và Henry Cotton để về nhà dịch bao giờ xong thì đem đến cơ quan. Từ điển thì đến nhà anh lấy.

Thật không ngờ được làm đúng việc mình thích theo đúng cách mình muốn. Ngay sáng hôm sau, trời rét căm căm mình lo đọc sách, ghi chép đến quên cả mặc áo ấm, bị cảm lạnh…

Căn buồng duy nhất của cả nhà mình ở 16 Hàng Da đã được kê dọn trang trí lại thành phòng cô dâu đẹp và sang. Có cả một rađiô Liên Xô to, kèm máy quay đĩa ở trên, mượn của một bạn già của mẹ làm ở mặt trận Tổ Quốc. Mình làm việc ở nhà nên chuẩn bị được nhiều việc giúp đám cưới em Thân. Em đón Trang về xem, cả hai vui ra mặt. Cả nhà mình rút về sống ở nhà dì Hỷ. Vợ chồng em Nhàn cũng về, mang theo cả gà, gạo nếp, nấm mộc nhĩ. Em rể Long lo việc chăm gà cho béo để làm bữa cơm trong lễ cưới. Bà mang hết dao thớt và những đồ dùng nấu ăn khác đến nhà bà dì. Hôm làm cỗ phải chờ mãi mới thấy em rể mang gà làm sẵn đến. Hỏi ra mới biết chú phải lấy con dao rọc giấy của tôi để mổ bốn con gà, vì dao sắc bà mang đi hết rồi. Chú từng đi bộ đội, nay lại ở rừng nên mới tài thế. Còn tôi, xong việc trang trí thì rảnh, nhưng lấy đâu ra quần áo mà đi dón dâu đây. Cậu Tuyên bảo không phải lo, cậu có hai bộ com lê để nơi sơ tán, lấy về là hai cậu cháu diện được rồi vì vóc người gần như nhau. Đêm hôm trước, cậu đến báo bận việc quá không đi lấy com lê được, lại đành mặc lu dông đi đón dâu vậy. Thế là chết tôi rồi. Tôi lùng mãi mới tìm ra cái áo lu dông nhung kẻ, mua từ hồi giải phóng mới 14 tuổi, sau bạc màu quá lại nhuộm đen, lâu  nay không mặc vì ngắn quá, tay chỉ dài quá khuỷu, áo ngắn trên thắt lưng, có mặc cũng không cài khuy được, còn hở đến gang tay mà tôi lấy đâu ra sơ mi trắng. Cả nhà xúm vào lo cho phù rể là tôi. Cuối cùng theo phương án của mẹ và em Nhàn, lấy len xanh tháo ở mấy cái áo cũ ra, đan hai tay áo đáp vào áo lu dông, lại đan cái diềm khâu vào cho áo dài ra, cổ cũng đan len. Thành ra mặc được, chỉ có ngực bị hở. Chị dâu tôi có khiếu thẩm mỹ, lấy ngay cái khăn ông anh đi Liên Xô về cho vàng, xanh lá, sọc đen đỏ bảo tôi quàng vào cổ, kéo dài đến thắt lưng thì nhét vào. Kết quả là cậu cháu tôi bận lu dông cũng tháp tùng bà Thụy bạn mẹ tôi đi xe đạp đón được dâu. Về sau em Thân kể, bà dì bên nhà gái bảo, anh Thân anh ấy hiền lành chứ ông anh thì rõ là tay chơi, ăn mặc kiểu quá.

Đám cưới Thân Trang vui vẻ đã kết thúc những ngày yên ổn ngắn ngủi. Trời vẫn rét. Tình hình chính trị cũng còn rất phức tạp. Người Hà Nội lại tích cực sơ tán. Có cảm tưởng là thời gian tạm nghỉ đã hết. Ngay trong những ngày vui này mọi người vẫn không quên nhắc tới kẻ địch, không quên những người không còn nữa, những ngôi nhà đã sập… Còn giặc thì không gia đình nào êm ấm được, không niềm vui nào trọn vẹn.

Mình đọc qua cuốn sách một lượt, nhưng khi bắt tay vào dịch mới thấy nhiều khó khăn, nhất là các thành ngữ, tiếng lóng dân báo chí hay dùng. Mình hết sức cố gắng, tin là sẽ trưởng thành qua việc làm đầu tiên. Cuộc phiêu lưu của tin tức là một trận công đồn thì Nghề báo là cả một chiến dịch. Phải dịch cả một quyển sách mà hôm nay, mới được có hai trang. Trước đó đã mất bốn ngày chuẩn bị. Chất lượng là tiêu chuẩn mà. Ngày 10/1, dịch được năm trang.

Buổi trưa không ngủ lo chuẩn bị cho mẹ và cháu Hà hôm sau lên Mộc Châu. Người Hà Nội đang khẩn trương sơ tán. Mọi người theo dõi cuộc mật đàm Lê Đức Thọ – Kítxingiơ vừa được nối lại tại Paris. Tất nhiên là qua theo dõi đài BBC đưa tin bằng tiếng Việt. Một bà bán thịt ở chợ Hàng Da nói với tôi Cứ nghe cụ Thọ cụ ấy đập bàn một cái là mẹ con tôi lại đi ngay… Cụ ấy đi Paris thì mẹ con tôi lại về…

Buổi tối, mình và anh Đại đi xem phim ở câu lạc bộ điện ảnh. Phim Tội ác tột cùng, trừng trị đích đáng về những sự kiện từ 18/12/1972. Phim sản xuất năm 1973. Chỉ một chi tiết đó đủ làm người xem xúc động. Các nhà quay phim thời sự hết sức dũng cảm, tài giỏi, đã ghi lại tội ác của giặc và khí phách anh hùng của nhân dân Thủ đô ta. Mình cùng phải ghi lại bằng phương tiện của mình chứ. Ít dành thì giờ để ghi chép quá, không xứng là người thư ký của thời đại.

Có nên coi là chiến thắng không khi mà mình đã vượt qua một trận ốm không cần một viên thuốc, một mũi tiêm, mà vẫn làm việc, học tập và tập thể dục theo đúng qui định. Chỉ buồn là sáng 12/1, mẹ, Long, Hà đi Mộc Châu mình không đi tiễn được như mọi khi mà phải để mẹ đến bên màn từ biệt con. Việc này gây ấn tượng nặng nề khiến mẹ lo nghĩ.

Hà Nội vẫn yên ổn và vẫn sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược. Đợt 12 ngày Hà Nội – Điện Biên Phủ vừa qua, cậu Tuyên đã viết được những bài hát thỏa lòng mong nước của người Hà Nội thời ấy. Nào là Hà Nội  – Điện Biên Phủ, nào là Hà nội những đêm không ngủ.

Mình đã kê xong cái bàn làm việc giáp lưng vào tủ sách trên có treo bức tranh Rêpin vẽ Tônxtôi đi cày, bức tranh bắt nghĩ tới những điều thật cao xa mà gần gũi. Bàn ở đấy, có ánh sáng tự nhiên hắt qua cửa kính hoa từ bên trái. Cửa sổ đầy hoa, mỗi khe giữa hai song sắt là một cây hoa cúc tây vàng tím hồng trắng đỏ. Chỉ còn một điều chưa vừa ý: Năng suất làm việc còn thấp quá.

Tối hôm sau, dịch xong năm trang. Thế là khá, vì còn phải xông, tắm nước nóng và tiếp khách người nhà: Anh Đại chị Thủy về.

Tối 17/1, tập thể dục xong đặt mình lên giường là ngủ luôn. Một giấc ngủ thật ngon, hiếm có. Có lẽ nguyên do là đêm hôm trước, dịch một lèo từ trang 137 đến 22:20 thì xong trang 149. Chất lượng lại tốt. Một kỷ lục.

Hôm 16, đài BBC báo tin, rồi ngày 17, báo Nhân Dân đăng Mỹ ngừng ném bom toàn miền Bắc và ngừng thả mìn. Nhưng vẫn thấy mấy bay trinh sát bay qua Hà Nội.

Một cây hoa cúc tây mình trồng héo rũ, chết, có lẽ do úng nước. Thế đấy, không chăm sóc còn đỡ ân hận, đã chăm sóc mà không đến nơi đến chốn để làm hại cho cái mình chăm sóc thật hết sức đáng giận.

Đêm 24/1, nằm mãi không sao ngủ được lòng xốn xang tràn ngập niềm vui chứa chan hy vọng vào tương lai tươi sáng của mình và cả gia đình. Buổi trưa, đài công bố Hiệp định đình chiến và lập lại hòa bình ở nước ta đã được ký tắt tại Paris. Suốt đêm, tiếng loa khu phố rót vào tai toàn văn bản hiệp định.

Chúng ta đã thắng, đã thắng rất to.

Sáng 25/1, cơ quan tiễn anh Thành Tín đi nhận nhiệm vụ mới ở ủy ban liên hợp, một cái ủy ban mà chỉ hôm qua thôi, có ai biết nó là cái gì đâu. Tôi bắt tay anh Hoàng Tuấn Nhã trước khi anh đi làm phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại … Sài Gòn. Chị Trần Hòa, vợ anh, mặt cứ tươi như hoa. Rồi họp, nghe anh Thép Mới thay mặt ban biên tập thông báo tình hình mới và nêu lên nhiệm vụ mới. Không cái gì không làm mình phấn khởi, sung sướng. Niềm vui chiến thắng tràn ngập trong lòng. Thấy thèm làm việc lạ thường, muốn làm thật nhiều, thật tốt, muốn thương yêu tất cả mọi người….

Cuộc đời mình rồi sẽ ra sao nhỉ…Khó mà biết trước thật chính xác…Nhưng chắc chắn là sẽ tươi đẹp, sáng ngời và quí giá: được sống và chiến đấu liên tục, thật còn gì hạnh phúc hơn đây…

Sáng chủ nhật 28/1, loa khu phố vang vang đọc lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ ta: Hiệp định đã được ký chính thức. Hòa bình đã lập lại trên đất nước ta. Đây là một bước ngoặt lớn của cả dân tộc ta, cũng là bước ngoặt lớn của cả gia đình và bản thân mình. Mình xúc động, náo nức lắng nghe, ra sân vừa tập thể dục vừa nghe cho rõ hơn. Rồi lấy một xô nước, tưới cho tất cả các cây cối mình trồng, những cây đã từng nở hoa, những cây chưa ra hoa, cả những cây chưa biết khi nào mới nở hoa như cây hoa quỳnh còn rất bé nhỏ của mình… Mình muốn chia vui với tất cả, muốn chúng cũng hạnh phúc sung sướng như mình lúc này đang nghe lời tuyên bố…

Mình đã chuẩn bị là Tết này sẽ lên Yên Bái ăn Tết hòa bình với bà và cô yêu quí. Mình không chịu được cảnh mùa xuân này có người không có Tết, không vui Tết nổ trời trong niềm vui chung của dân tộc.

Tối hôm qua, đã ra ga Hà Nội, đèn ống sáng choang ngay bên cạnh khu nhà lớn trước đây có chân dung Bác, nay đã bị đánh sập hòa toàn. Có tàu đi tất cả các tuyến đường rồi. Tất nhiên là đi Hải Phòng thì phải qua Gia Lâm, còn đi Lao Cai Yên Bái thì phải sang ga Đông Anh mua vé lên tàu. Ta vẫn thiếu những cây cầu. Cầu Long Biên vẫn bị đứt mấy khúc. Chúng ta còn phải nhanh chóng lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam Bắc, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta. Loa đang vang lên bài ca hùng tráng Giải phóng miền Nam. Phải, còn phải giải phóng Miền Nam, thật sự giải phóng miền Nam

Hôm nay, bốn anh em mình Đại Thành Thân Nhàn và hai nàng dâu là chị Thủy và cô Trang, cháu Ánh Hồng sẽ liên hoan mừng chiến thắng, chiến thắng của cả dân tộc, cũng là chiến thắng của gia đình mình, kết quả của hai mươi năm phấn đấu không ngừng, rèn luyện không ngừng, càng ngày càng trong sạch hơn, cứng rắn hơn, sáng suốt hơn, tài trí hơn thật sự trở thành những công dân tiên tiến của đất nước Việt Nam anh hùng. Sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu mới gay go và gian khổ, cuộc chiến đấu mà trong đó bản thân và cả gia đình mình thật sự hạnh phúc được chính thức đứng trong hàng ngũ những người cách mạng. Không còn hạnh phúc nào lớn hơn được đem hết sức mình chiến đấu cho mục đích cao cả, lý tưởng là đem lại hạnh phúc cho từng người dân Việt nam. Hạnh phúc tràn ngập lòng mình. Cô bạn nhỏ nay đang ở đâu… Trường Sơn, Quảng Trị hay đã vào đến Huế quê hương mình rồi.

Quyết lên ăn Tết hòa bình với bà và cô ở Yên Bái, tôi điện cho chú em rể chí cốt đưa mẹ tôi về gấp 16 Hàng Da, gặp mẹ là 18:30 hai tám Tết tôi đạp xe qua cầu phao, sang Đông Anh, lên tàu lúc 3 giờ sáng, tăng bo ở Bạch Hạc Việt Trì đến 12:30 ngày 29 Tết thì đến ga Yên Bái, đạp xe 40 km đến Thác Bà, gặp  bà, cô lúc 16:30. Ở miền núi giờ ấy đã chập choạng tối. Bà và cô vui mừng quá, cô bảo bà nói chiều nay để cơm phần cháu, thế nào nó cũng lên. Cơm để trong liễn nhỏ, ủ chăn dạ. Tôi nghĩ thật sẽ có tội nếu tôi không lên. Ở lại ngày 30 Tết, cả ngày mồng 1, sáng mồng hai. Trưa mồng hai Tết là đạp xe về ga Phú Thọ, vừa lúc tàu sắp chạy mua vội vé ke rồi xách xe đạp chạy vội kịp toa chở xe, được anh em trên tàu giúp đỡ, lên toa xin mua vé bổ sung về Hà Nội.

Về đến nhà mới thấm thía việc hoạt động quá mứng trong chuyến về dã làm bệnh viêm thần kinh hông to bùng phát dữ dội, đi đứng rất ró khăn phải uống thuốc, châm cứu… nhưng trong lòng nhẹ nhõm, thanh thản vì đã thực hiện được việc tốt đẹp, đem lại niềm vui cho bà và cô.

17/2/1973, đến nhà thày dạy tiếng Nhật xong là ghé nhà Vũ Tuấn hùng đường Trần Quốc Toản định báo Hùng đến học thì biết Hùng đã mất sáng mồng 2 Tết Quý Sửu (4/2/1973) đang lúc ngồi ăn bánh chưng sáng với anh chị họ ở Sơn La. Cũng chôn ngay trên ấy. Thật là đau đớn. Mất Đỗ Mộng Hoàn rồi, nay lại mất Hùng nữa, hai bạn thân thiết của mình. Hai bạn đang hăng hái chuẩn bị cho tương lai của mình đúng lúc đất nước đang cần nhân tài nhất. Hoàn mất khi từ Thái Nguyên về làm thủ tục đi học nước ngoài ngành lắp máy. Hùng mất khi đang thực nghiệm thành công cách nuôi gà trong lồng nhiều tầng thi đua với các chuyên gia Hunggari cùng làm ở trại gà Cầu Diễn.

Mình còn sống và vẫn làm việc được, cố thu vào tâm hồn và trí óc cả tâm hồn cao đẹp và trí tuệ đang vươn cao của hai bạn. Nhớ rất rõ là hai bạn đã tin yêu và hy vọng ở mình như thế nào. Hoàn, Hùng ơi. Lần này, về báo Nhân Dân mình cảm thấy giống như Marie Curie hồi mới đến Trường Sorbonne Paris: Hoàn toàn lao vào học tập, làm việc… Đến mức không để ý gì đến các cô gái mà ở đây không ít cô xinh, các trò chơi giải trí mà chỉ chăm chú vào sách vở và gần gũi các ông già, nhưng người mình coi là thầy. Anh Thép Mới hoàn toàn ủng hộ cổ võ mình trong việc này. Bác Phan Đăng Tài, trưởng ban tư liệu cũng khuyến khích mình học rất nhiều, luôn động viên, ra nhưng câu hỏi tiếng Pháp bắt mình trả lời. Phòng tư liệu là một phòng lớn, nhiều kệ sách cao. Bàn mình kê ngay bên phải cửa to vào phòng. Một hôm, nhà báo Anh Vũ ban Khoa Giáo vào tìm tư liệu, mình nghe loáng thoáng anh hỏi bác Tài là muốn tìm xem angström là cái gì thì mình buột miệng nói là mười lũy thừa âm tám cm. Anh nhìn mình, rồi lục nhiều sách.

Trước khi về có hỏi cụ Tài mình là ai, cụ ghé tai nói nhỏ. Từ đấy anh có thiện cảm với mình, lần nào vào phòng cũng nói vài câu.

Một hôm bác Tài cho mình tự do lục kho sách. Quá phấn khởi, mình đến ngay các giá sách cao, thấy đủ mặt cả Gorki, Hemingway, Balzac, Maupassant, cả Dostoïevsky nữa với Journal d’un écrivain (Nhật ký một nhà văn). Phan Dang Tai.jpgVấn đề bây giờ là phải thật khéo sắp xếp thời giờ và có cách giữ gìn sức khỏe. Hiện giờ, các tối đi học ba buổi (2 Hán, 1 Nhật) Ngoài ra còn học Tây Ban Nha, Trung văn, Anh văn. Tất nhiên vẫn phải cày để đóng góp cho gia đình và có tiền mua sách. Lâu lắm rồi, không dám vào hiệu sách. Lương kể cả phụ cấp mới có 50đ. Đưa gia đình 40, còn 10 đồng thì để trả nợ. Năm tháng nữa mới hết, nếu như không phải vay thêm. Tiền kiếm thêm, trông vào viết báo lại rất bấp bênh, bao giờ cũng không kịp thời. Thật đau lòng khi để lỡ một cuốn sách hay, báo cũng chỉ mua lẻ từng số một.

Mất nhiều thời gian đi châm cứu quá.

Suốt tuần qua hoàn toàn không ngủ trưa, 11 giờ đêm mới đi ngủ, 5 giờ sáng đã dậy. Vậy mà vẫn chưa làm được những việc định làm. Bao giờ cũng ưu tiên cho học, thành ra học thì tạm ổn, nhưng viết, gặp gỡ nhiều người, kiếm tiền thì không làm được chút gì. Biết là bậy, nhưng chưa làm được gì thì đã mệt nhoài cần nghỉ. Như tối qua, chỉ làm đồ chơi cho cháu Hải con em Nhàn. Sáng nay, dưa cháu đi chợ Bắc Qua, Đồng Xuân, đi các hiệu sách chỉ xem cho biết thôi, không dám mua gì. Chiều thì sửa mấy cái bếp dầu. Tất nhiên, tranh thủ đọc Contes choisies de Guy de Maupassant ( Truyện ngắn chọn lọc của Guy đơ Môpatxăng). Càng đọc càng thèm viết, giận mình lười biếng. Sáng sau dậy rất sớm, suy nghĩ thoải mái, nhiều ý hay muốn viết ngay… Nhưng nghĩ lại, thấy những cái đó chẳng có ý nghĩa gì mấy, tài năng mình lại còn quá non nớt, viết làm gì vội. Thiếu gì việc cần làm hơn, thiếu gì cái cần học hơn… Rồi lại mệt, đầu nhức, chân đau… tha hồ là nhiều lí do để thoái lui. Thật nguy quá, chắc chắn là sai rồi, nhưng làm sao đây.

Suốt thời gian qua, làm việc học tập rất khẩn trương, hệt như một người khát đã lâu, nay gặp nguồn nước trong mát chỉ lo uống lấy uống để, không thiết gì đến hoa thơm bướm đẹp quả ngon bên dòng nước.

Hôm nay, chủ nhật 11/3/1973, nghỉ cả ngày. Sáng cả nhà xuống nhà anh Đại mừng anh chị cưới đã được 11 năm và cháu Ánh Ngọc vừa 10 tuổi. Mình không có tiền, nhưng cũng đủ quà cho anh, chị và hai cháu Ngọc, Hồng. Trưa sang nhà thăm gia đình Đinh Bá Đào (buồng 8_C12 Tập thể Kim Liên). Cậu ta mới chuyển từ tòa soạn về nhà in, nên có vẻ buồn, suy nghĩ nhiều. Rất thông cảm với bạn vì sự hụt hẫng này. Khác hẳn năm nào mình vui vẻ từ tòa soạn về nhà in bắt đầu những ngày hạnh phúc nhất đời. Chiều về nhà, khuân vác một lúc rồi lại đâm đầu vào gặm sách. Đọc Con đường dẫn tới tài năng… Rõ là mình đang đi trên con đường ấy. Có điều, đi quá chậm. Buổi tối, đến bác Trần Hữu Thông, người bạn vong niên, nhờ bác lấy hộ hồ sơ ở Cảng. Bác buồn chán lắm… Lại nhớ lời cụ Mỹ, một nhân viên già của cảng tận tụy với công việc ở kho vật tư. Cụ bảo chú không biết chứ cái cảng này là một cái lò luộc người. Luộc xong thì chỉ còn cái xác, vứt đi thôi.

Mình cùng bác Thông đi chơi, đến hơn mười giờ tối mới về nhà. Đầu tiên là đến phố Khâm Thiên thăm hai vợ chồng công nhân già ở cảng nhân dịp cưới con. Riêng một dãy phố Khâm Thiên đổ nát này còn chưa xây dựng lại được bao nhiêu đã có đến ba bốn đám cưới. Trò chuyện với các công nhân bốc xếp và công nhân cơ khí xe lửa ở đây thật vui. Chân thành thiết thực vững chắc, hầu như không có lời than vãn, chỉ có những cái đang làm và định làm mà chưa làm được thôi. Bản chất hành động của công nhân rất rõ rệt. Rồi cũng xuống tập thể Nam Đồng tới nhà anh Trần Hữu Mai, em anh Thông thằm bà cụ sinh ra hai anh. Khoảng hơn 20 giờ anh Mai mới về. Bà cụ bảo ngày nào cũng khoảng giờ này anh mới về nhà ăn cơm, mà ăn rất ít. Anh Mai nói chuyện rất cởi mở, chân tình như với người nhà. Chủ yếu nói về việc cải tiến báo chí trong thời đại mới, vấn đề làm nảy nở cái mới, thế hệ trẻ, nhất là việc tài liệu lịch sử rất thiếu thốn, gây trở ngại cho việc viết hồi ký, cụ thể là việc anh đang làm là chấp bút viết hồi ký cho đại tướng Võ Nguyên Giáp… Mình vẫn có tật ngu ngốc là còn nói nhiều. Bác Thông thì chỉ ngồi nghe, im lặng lắng nghe. Bác là một người chân thành, nhiệt tình đối với mình, mong điều tốt cho mình… tuy không sáng suốt bao giờ. Hơn 50 tuổi rồi, chẳng còn mong gì làm được những việc mơ ước từ hồi còn trẻ nữa nhưng bác vẫn cố gắng không rời bỏ những ước mơ xa xưa ấy…

Hôm nay, chủ nhật 8/4/1973 có lẽ cũng nên coi là một ngày dáng nhớ: Báo Nhân Dân đăng ở trang cuối một bài mình viết về Hoàng Diệu, khoảng 600 chữ thôi, không ký tên. Sau hiệp định Paris báo có cả một trang cuối số chủ nhật viết về các nhân vật đã làm nên lịch sử chống ngoại xâm thời chống Pháp và chống Mỹ. Số đầu đăng bài của anh Thép Mới, bac Phan Đăng Tài, bài của mình và nhiều bài khác. Thế là bài đầu tiên mình viết trên báo Đảng lại là về một vị quan triều Nguyễn. Do bác Tài chỉ định thôi.

Lại chơi suốt ngày, theo kiểu Đức như trong Pie Đệ nhất đế nhà anh Đại đèo mẹ ngồi sau và cháu Hoàng Hải ngồi gióng trước yên. Thăm cháu Ánh Hồng ốm. Sau đó lại xuống Đống Đa thăm Hà Khánh Linh. Linh có mang vẻ mệt mỏi, gặp cả chị họ Nguyễn Khoa Thị Nhuận con bà chị bố mình. Chị hơn 40 mà chưa chồng, khô héo, mắt cứ đau đáu trông mà thương. Chị đang chuẩn bị độ ngày 15 này sẽ về lại Huế. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của ta có biết bao người đã lặng lẽ hy sinh, âm thầm chịu đựng như chị, cô gái Huế làm y tá chăm sóc thương binh, cán bộ.

Tối thứ hai, được nghỉ, mình lại 11 Ngô Văn Sở, không gặp ai. Bèn viết một mảnh giấy, đại ý: Thân gửi hai bạn, tôi đến thăm, rất tiếc là không gặp. Xin chúc các vị vạn sự như ý. Từ trước đợt B52 ném bom Hà Nội, bây giờ mình mới lại đến đây… Hôm nay, thứ năm 12/4, đi làm về thì mẹ cho biết là cô bạn nhỏ có đến khi mình đi làm chiều, định viết giấy để lại. Song lại thôi, nói là sẽ đến gặp sau. Không hiểu là thế nào. Người nhà dưới đã cho biết là mình đi vắng, vẫn cứ lên. Kiểu như muốn tham quan nơi giam giữ cuối cùng chăng… Đây là lần đầu cô bạn đến nhà mình. Lần trước cô hẹn hẳn hoi, nhưng lại không đến làm mất công chờ cả buổi chiều không dám đi đâu.

Sau khi được phân công viết về Đinh Công Tráng, lại được phân công viết về Phan Châu Trinh mai là phải xong.

Chủ nhật, 15/4, mình dồn vào đọc lịch sử và tiếng Nhật là hai môn mình cần mà còn rất kém. Tối, vừa giở sách Nhật ra thì có người đến cho vé xem vở Đôi Mắt diễn ngay rạp Hồng Hà gần nhà. May mà vở kịch khá hay, sạch sẽ, mấy vai thứ yếu đều rất đạt. Trang cuối báo chủ nhật đăng bài Phan Chu Trinh mình viết. Đây là bài thứ hai đăng trên báo Nhân Dân. Cụ Tài bảo những bài báo đầu tay này nên cắt ra dán thành một tập làm kỷ niệm. Cụ là thủ trưởng, nhưng khi nào trao nhiệm vụ cho ai thì đến tận bên bàn người ấy, nói nhỏ nhưng rõ ràng nhiệm vụ rồi vỗ khẽ tay vào vai người đó động viên. Bình thường vào phòng tư liệu không ai thấy trưởng phòng đâu. Cụ vốn thấp, lại hay cúi xuống mà bàn cụ thì ba bề đều chất đầy sách và các bản tin che lấp hẳn cụ.

Ngày 19/4/1973, họp toàn ban tư liệu nghe công bố phân công cán bộ mới của Ban Biên tập. Tôi về ban văn hóa – văn nghệ do anh Thép Mới phó tổng biên tập làm trưởng ban. Cụ Tài ghé tai tôi nói nhỏ: Tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Nhưng, cái Pháp văn của anh là kiếm ăn được rồi đấy… Tôi, thế nào cũng tìm cách giúp anh học. Ngày hôm sau, về ban mới. Chiều họp ban mới xong, lại gặp cụ Tài, cụ cười: Nói riêng với anh nhá, điều này nói ra thì các ông ấy kỷ luật cho chết. Ông Thép Mới mà đi Nam là họ lại điều anh về Tư liệu thôi. Chân tình của cụ tôi nhớ mãi, một con người hiền hậu, nhân đức.

Mình gặp anh Thép Mới, hỏi về nhiệm vụ mới. Sau đó nói luôn là chỉ có một nguyện vọng: được đi B. Anh cười, nói ngay: Cứ làm việc đi, tao đi là tao sẽ lôi mày đi theo. Thế là ổn,  đó là điều mình mong mỏi nhất, mình vẫn muốn được thử thách, được rèn luyện nhiều hơn.

Tối thứ tư, được nghỉ học tiếng Tây Ban Nha, mình đến gặp cô bạn nhỏ. Cô gầy đi, bệch bạc, chán nản… Mình còn gặp ở đây một chị ở trường nhạc là chị Thúy, một anh ở đài Giải Phóng tên là Thanh… Xem ra, bao quanh cô bao giờ cũng có những người mến mộ, lại còn được một số anh bên hội đỡ đầu.. .Cho nên cô khó biết rõ bản thân là ai, còn cần học hỏi gì nữa. Chẳng biết mình có ích gì cho cô mà đến với cô.

Tối thứ ba 24/4 cùng em Nhàn đi Thư viện Nhân Dân Hà Nội nghe thầy Hoàng Thiếu Sơn nói chuyện về Chiến tranh và Hòa bình của Tônxtôi. Hai anh em đến sớm hơn giờ bắt đầu vậy mà đã hoàn toàn hết chỗ ngồi rồi, người nghe đứng ngồi ở các bậc thang, ngoài sân rất đông, không phải chỉ vì yêu kính hâm mộ Tônxtôi mà còn vì tín nhiệm diễn giả Hoàng Thiếu Sơn, một người tham gia nhóm dịch tác phẩm này, một diễn giả uyên bác, duyên dáng quen thuộc với người yêu văn học nghệ thuật Hà Nội. Đúng giờ, thầy bắt đầu nói thẳng ngay vào vấn đề chính, không chào hỏi rào đón, không mua hoặc xin một tràng pháo tay như nhiều diễn giả khác. Rồi cứ thế, cứ thế, không uống nước, không giải lao không cười theo người nghe cũng không để cho người nghe cười lâu, cứ vanh vách trình bày hết nhân vật này đến sự kiện kia, dẫn ra hết cách này đến tài liệu nọ, chủ động vững vàng dẫn dắt người nghe theo đúng con đường mĩnh đã định. Rồi kết thúc cũng giản dị như khi bắt đầu. Trừ một lần giở sách ra đọc nguyên văn một đoạn trích, không hề cần giấy tờ, tài liệu gì cả, hoàn toàn nhập thân vào tác phẩm, nói về tác phẩm mà như nói chuyện riêng của bản thân mình.

Mình đã say mê nghe thầy giảng từ năm 1955 hồi học trường tư Kiến Thiết góc đường Bà Triệu – Nguyễn Du do thầy Nguyễn Dương và Khuất Duy Các chủ trương mời nhiều thầy giáo dạy đại học giảng dạy. 18 năm qua, thầy chỉ chuyên nghiên cứu, giảng dạy. Không vợ con, toàn đi bộ, không biết cả đi xe đạp, chân vẫn đi đôi dép lốp cao su đen tay xách cái túi nhỏ may bằng những mảnh vải vụn tiết kiệm xếp thành hình ô trám. Mình thường hay gặp thầy ở hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền như thế. Hôm nay, thầy có hơi béo ra, cái béo của người già. Mái tóc đã bạc trắng cả, nhưng vẫn bờm ra một cách nghịch  ngợm, trẻ trung, che trên vầng tráng rộng. Cặp mắt nheo nheo lại rất tươi, bên trên hầu như không có lông mày. Thầy là một người trí thức hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, tổ quốc… Chắc chắn thầy không nhớ mình, nhưng, cho đến hôm nay, thầy vẫn là thầy mình, đã vừa dậy cho mình thêm một bài học mới mà chắc chắn thầy không hay biết.

Tối thứ ba, 1/5/1973, 20:30, vừa chấm dứt đợt bắn pháo hoa tuyệt đẹp kéo dài đến nửa giờ mừng ngày lễ Chiến Thắng của những người lao động Việt Nam anh hùng…Mình đang đau thần kinh tọa, viêm họng, lại sốt nữa, nên chỉ nằm ở nhà mà xem trên bầu trời đêm. Những bông hoa lửa đầu tiên vừa nở trên bầu trời Hà Nội mới đêm nào còn đỏ tím màu lửa máy bay B52 – pháo đài bay của Hoa Kỳ cháy rơi lả tả, mình chợt nghĩ: bản thân mình có góp phần gì vào chiến thắng mà cả dân tộc hôm nay nô nức mở hội mừng không nhỉ. Và tự hào trả lời ngay: Có, có một phần nhỏ. Giống như trong chùm pháo hoa đẹp đẽ kia mình đã góp một bông hoa lửa trắng sáng không màu mè, nhưng nó tôn lên cái đẹp rực rỡ của những pháo hoa màu kia. Pháo xanh pháo đỏ pháo vàng, sao mà nhớ những bông pháo hiệu bắn lên từ những tàu viện trợ của Cuba, Ba Lan, Liên Xô… những ngày chào mừng năm mới 1969 ở Cảng Gianh thế. Có bao giờ còn được xem một đêm pháo hoa giàu ý nghĩa làm xúc động lòng mình sâu xa đến thế không?… Không, không bao giờ… Vì bấy giờ mình còn trẻ và đang ở chiến trường…

Bỗng mình nhớ Đào Văn Thùy, nhớ Thùy quá, chàng công nhân lái cẩu lớn ở cảng, sau thành chiến sĩ xe tăng, lần gần đây nhất Thùy viết thư báo tin rất phấn khởi: xe tăng em sắp được xuất trận…. Thế đấy, thường những người làm nên chiến thắng có mấy khi lại được có mặt trong lễ mừng chiến thắng. Họ còn đang trên đường mở rộng chiến thắng cho to lớn hơn vẻ vang hơn, có ích lợi sâu xa hơn…

Pháo hoa, pháo hoa đủ màu sắc dệt long lanh trên nền trời chiến thắng Thủ Đô, của cả nước và có lẽ của cả loài người. Mình muốn góp thêm một bông hoa chiến thắng ở bầu trời phương Nam anh dũng kiên cường. Sao mà mong ngày lên đường làm vậy…

Sáng nay, cùng Đỗ Xuân Bảo về nhà Bảo, nơi mình nhiều ngày tá túc trước khi đi Quảng Bình. Trưa, ăn cơm với Tân và gia đình nhỏ của Bảo, trò chuyện với các bạn lái xe. Chiều nay, Ngô Tiến Thái bây giờ là thợ điện đến chơi, tâm sự mấy giờ liền về… cuộc đời.

Cả ngày 1/5 mình là khách của công nhân và cũng chỉ có khách là công nhân thôi. Bao năm nay, mình cố rèn luyện, học tập để biết nhìn đời bằng cặp mắt công nhân, cặp mắt của một người cách mạng Việt Nam.

Thật sung sướng biết bao mình có thể tự hào là một người lao động Việt Nam.

Ban văn hóa văn nghệ có hai bộ phận ngồi ở hai phòng. Một phòng văn hóa do họa sĩ Nguyễn Thọ đứng đầu, gồm: anh Trần Đĩnh, Vũ Công Thạo, chị Mai Hân và tôi… Phòng Hoa si Nguyen ThoVăn Nghệ do nhà văn Nguyễn Địch Dũng phụ trách, có anh Chính Yên, Trung Đông, Vũ Đình Hạnh, Nghiêm Thanh và chị Phong Lan. Tôi là thư ký ban, lo việc trả nhuận bút, lĩnh văn phòng phẩm cho cả ban. Trưởng ban Thép Mới thường trưng dụng tôi làm những việc cần thiết sau khi được sự đồng ý của anh Nguyễn Thọ. Anh Thọ là một người Hà Nội gốc, có đầy đủ phẩm chất của một người trí thức Hà Nội. Một hôm trò chuyện vớ vẩn, tôi nói cứ bảo di truyền là đúng lắm, nhưng tôi thấy như vào trường hợp tôi thì chẳng đúng tí nào. Mẹ chỉ hơn 1,5m, bố cũng khoảng 1,6m mà tôi thì thế này. Anh Thọ cười. Cậu giống ông ngoại, tôi đã thấy ông nhiều lần ở Thái Hà ấp, cụ cao như cậu. Anh có một nết ai cũng quí là hễ có việc gì giúp được ai là anh giúp ngay. Nghiêm Thanh có vợ ở Hải Phòng, anh Thọ đã viết thư giới thiệu với anh Vạnh Lịch là chánh văn phòng tổng cục đường sắt cấp cho cái giấy như người trong ngành đi miễn phí. Anh giới thiệu người bà con làm cho tôi cái răng cửa kịp lên tàu vào Sài Gòn sau giải phóng. Chính anh vẽ mẫu cái phù hiệu của Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân chúng tôi, và cả măng sét báo Nhân Dân với chữ Dân viết hoa

Ngày 9/7/1973, mình viết một bài báo sau khi được phân công đi dự hội nghị của Tổng cục Thông tin tổ chức ở Yên Bái. Anh Nguyễn Thọ bảo cậu phải ký tên dưới bài viết. Anh nhắc đi nhắc lại cậu phải chọn một cái tên đi, sẽ còn phải viết nhiều đấy… Thế là bắt đầu rồi đấy. Từ nay báo Nhân Dân sẽ có thêm một tác giả mới tên là Nguyễn Trung. Còn điều này thì chỉ một mình mình biết thôi, tác giả ấy chỉ thôi viết khi tim ngừng đập, khi trút hơi thở cuối cùng và hơi thở cuối cùng ấy cũng thuộc về nước về dân, trung với nước, hiếu với dân như trong hai chữ trung hiếu mà ông ngoại vẫn tôn thờ, lấy làm phương châm sống và làm việc suốt cả cuộc đời.

22:04 ngày 11/7, mình cùng mẹ lên tàu hỏa rời Hà Nội, đến Phú Thọ, vừa 3:30 ngày 12. Ô tô chạy lúc hơn 6:00, 8:30 thì đến Thác Bà.

Đúng là đi nghỉ, từ hôm lên nhà bà, chỉ có ăn, ngủ, đi chơi và nói chuyện phiếm. Đọc sách rất ít. Vì mình coi sách là đồ hộp, khi nào không có đồ tươi sống là cuộc sống thực mới gặm đến. Hôm 15/7 lại là giỗ chồng bà (16/6 âm lịch). Có mẹ con mình lên bà và cô vui lắm. Thật ra mẹ muốn đi thăm bà, mình cố chọn ngày đi gần ngày giỗ ông.

Hằng ngày ăn na mít, ăn dứa rồi ra sông Chảy tắm mát. Ăn no, ngủ kỹ, khỏe ra rõ rệt. Có một ngày đi chơi, đến nhà hoạ sĩ Lưu Công Nhân, Luu Cong Nhan.pngcó ấn tượng rất mạnh mẽ. Lần đầu mình gặp một nghệ sĩ như thế, một nghệ sĩ khác thường. Đêm mùa đông, anh thức dậy, mặc áo bông, đốt hai đèn đất để kịp vẽ tranh kẻo sáng ra mới vẽ thì mất tranh ấy. Hồi mở cho nước qua đập Thác Bà, anh đứng ngay cửa cống ai cũng sợ, anh bảo nếu không là mất cái ấn tượng nước về thế nào. Ai biết Lưu Công Nhân cũng biết anh chuyên vẽ tranh trừu tượng. Vậy mà ở Yên Bái quê hương dòng họ Lưu Công nhà anh tôi thấy rất nhiều nhà treo tranh anh vẽ chì đen chân dung các cụ gần như tranh truyền thần, có điều các huân huy chương các cụ đeo đều vẽ màu giống như thật. Tôi hỏi, anh cười, mình vẽ cho người ta mà người ta muốn mình vẽ thế.

Chủ nhật 5/8/1973, báo Nhân Dân đăng bài tiểu phẩm Kẻ cướp – nhà văn và nhà văn – kẻ cướp  viết về J.Steinbeck tác giả Chùm nho nổi giận nổi danh thế giới nay cầm súng tiểu liên M16 ngồi trực thăng Mỹ đi càn ở Nam Việt Nam. Đây mới là trận đầu đánh thắng vì tiểu phẩm mới là loại mình ưa thích. Bài lại ra đúng ngày 5/8 trận đầu ta đánh thắng không lực Huê Kỳ. Chủ nhật 12/8, lại đăng Số phận thần đồng Robertino Loretti viết về chú danh ca thần đồng khi hết xài, đành đi hát ở quán rượu nghèo. Các bài này đều đăng trang cuối, mục Trong thế giới tư bản. Bài mình viết chỉ ký tên TT, thậm chí còn ghi thêm hai chữ sưu tầm vô nghĩa. Phó tổng biên tập Nguyễn Thành Lê chuyên về các vấn đề quốc tế rất thích mục tiểu phẩm này. Có hôm ông gọi mình lên văn phòng nói bài vừa viết hay nhưng phải bỏ, ta đang có quan hệ tốt với Italia,. Nhưng tôi vẫn giữ cho cậu 200 chữ như mọi khi ở trang cuối số chủ nhật. Về lấy ngay bài khác đưa tôi duyệt cho kịp số ngày mai. May là tôi có dự trữ, rảnh là lại viết đưa anh Thọ duyệt sẵn.

Chiều 13/8, anh Thép Mới đi Đức về. Anh hơi gầy đi nhưng khỏe ra. Anh về đúng lúc mình đang cần có anh.

Hôm nay, thứ hai 17/9/1973, mình bắt đầu làm một việc là ghi lại lời các đàn anh ở tòa soạn bàn về nghiệp vụ báo chí và văn học nghệ thuật. Chủ yếu là anh Thép Mới. Và cố gắng cất giữ các bản thảo của anh để làm tài liệu học tập theo kiểu Lỗ Tấn đã làm. Những bản thảo đầu tiên này là do anh viết ngày 15/9 để đăng vào trang 3 báo Nhân Dân ra chủ nhật dưới tiêu đề chung Tinh thần Chilê – Văn hóa Chilê kỷ niệm sự kiện đau buồn mới xảy ra ở Chilê: phái quân sự Pi-nô-chê đã đảo chính lật đổ chính phủ dân cử Allende, đúng lúc Fidel vừa đặt chân lên đất Việt nam. Văn hóa – là cái vững chắc, bền lâu… Ba năm ấy không dễ gì xóa bỏ được…

Cuối tháng 9, cuối quí 3 bắt đầu vào mùa làm việc mình đã dự định nhiều việc cần làm thì lại gặp chuyện không may: viêm ống mật tái phát. Bốn ngày nay rồi, rất mệt. Mỗi ngày đều uống thuốc tẩy để thông mật, kèm theo là kháng sinh. Suốt ngày hôm qua, nằm đọc Kinh Thánh phúc âm Đức Chúa Giê su- cứ như ông Thánh Mát cô đã chép. Chẳng phải tin tưởng gì mà chỉ để thu nạp thêm kiến thức vì trong cuộc sống luôn tiếp xúc với những tín đồ Công giáo, mà nhiều người rất tốt, như bạn Ngô Thị Hòa, vợ Đoàn Di chẳng hạn là tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng bạn cũng là Đảng ủy viên bệnh viện Xanh Pôn. Gần 22:00 thì có chú Long đến chơi. Chú cận thị, người nhỏ bé chữa xe đạp ở đầu phố Hàng Điếu gần nhà mình, quen trong một lần xe đạp hỏng nhờ chú chữa. Một thanh niên đáng mến, nhiều suy nghĩ về cuộc đời có quyết tâm vươn lên nhưng đang đứng ở bước ngoặt cuộc đời, chú gặp mình mong có người trút bầu tâm sự… Gặp những con người như chú, cảm thấy bên mình còn nhiều người muốn làm cho cuộc đời đẹp hơn, thật là dễ chịu, muốn làm việc nhiều hơn.

Chiều 11/10, bắt đầu theo học lớp bổ túc quốc tế ngữ Esperanto của VPMA tại Klubo (câu lạc bộ). Lớp có 10 người, lớn tuổi nhất là bác sĩ Vũ Quang Tiệp, ít tuổi nhất là mình đã 33 tuổi. Chính anh Đào Anh Kha nhà thơ, tổng thư ký hội hướng dẫn. Lâu lâu lại thu một băng ghi âm gửi nước này nước nọ, tức là làm công tác đối ngoại. Học viên lớp đọc thơ, văn bằng esperanto, có khi hát nữa. Mình là lớp trưởng lớp esperanto trường Chu Văn An do thầy Bạch Năng Thi trực tiếp dạy từ 1956. Mình đăng bài giới thiệu hội trên báo Nhân Dân và tích cực tham gia mọi hoạt động của lớp, được hội trưởng cho bộ từ điển Nhật – Pháp Pháp – Nhật, có chữ ký của hội trưởng Nguyễn Văn Kỉnh.

Thời gian qua, nhiều  lúc mình nghĩ nếu không biết một chút ngoại ngữ thì không biết mình đọc gì vì sách của ta hồi ấy rất ít, những sách mình cần đọc càng ít hơn. Tối 22/11, vừa đọc kịch bản Le Feu Dompté (Chế ngự lửa). Phim này kể về nhà bác học sáng chế tên lửa đầu tiên của Liên Xô, mình đã xem hai lần, nay được đọc kịch bản, càng thấm thía: Muốn làm một con người sáng tạo, phải chịu nhiều thử thách hy sinh nhiều lắn… Song niềm vui lớn nhất của con người lại nằm chính trong bản thân quá trình sáng tạo gian khổ đó. Còn niềm vui nào to lớn hơn, cao quí hơn, trong sạch hơn…

Một tối thứ bảy, cho cháu Hà ăn mặc thật diện đưa đi xem  phim xiếc Liên Xô ở câu lạc bộ Lao Động mà thèm cái sức khỏe và phản ứng thần kinh nhanh nhạy của các diễn viên quá. Mình hầu như mất cả hai thứ đó mặc dù rất cố gắng rèn luyện. Cả ngày chủ nhật, cống hiến cho việc nhà sửa chữa lại ba cái bếp dầu hỏa và dọn dẹp cái phòng nhỏ mà bề bộn vì quá đông người. Tối lại đi câu lạc bộ Đoàn Kết xem phim tài liệu dù mệt, mình cũng muốn cố nhặt thêm một ít kiến thức về đời sống thật.

Mình là thư ký ban, chuyên điếu đóm cho cả ban, nhưng làm việc với anh Thép Mới nhiều. Thường mình là người đầu tiên đọc bản thảo anh viết, anh hỏi thì góp ý kiến, và cũng là người đọc bản anh sửa cuối cùng. Thường viết xong một bài, anh đưa mình và nói mày xem tao viết bài này có được không. Anh chú ý những lời nhận xét, rồi sửa. Anh còn thường hỏi ý kiến mình về nhiều việc nhiều người. Mình xem đây là một loại kiểm tra trình độ cho nên cố gắng đạt điểm cao, không khi nào đón ý anh rồi mới trả lời. Anh bắt buộc mình phải cố gắng học tập suy nghĩ. Bản thảo của anh, anh đưa mình tất cả. Có sáng anh gọi mình cho xem một bài mới viết đêm qua với vẻ hào hứng. Mình đọc, khen hay, nhưng nói thêm là bài này cho vào phần anh đang viết thì lạc lõng, như một miếng gấm thật đẹp đem khâu vào một bộ áo quần nâu giản dị, nền nã. Không ngờ anh đem gửi báo Văn Nghệ đăng thành một bài riêng: Cách mạng và những giọt máu tiên phong

Rõ ràng là cùng làm việc, năng suất cả hai anh em đều tăng lên rõ rệt. Nhiều việc làm cả cơ quan ngạc nhiên. Không ai tin một người, dù người đó là nhà báo Thép Mới có thể làm được những việc như vậy… Sau khi Bác Hồ mất, chỉ hơn một tuần, nhà báo Pháp Jean La Couture ra được hẳn một cuốn sách đến 700 trang. Mình khen ông tài thì anh Thép Mới thở dài: Nó làm theo kiểu công nghiệp, không thủ công như mình Một mình nó có đến 15-20 trợ lý. Tất cả ngồi quanh một bàn to. La Counture trình bày đề cương, phân công mỗi người một chương, rồi cứ đi quanh bàn mà nói, phần ai nấy ghi, cần thì hỏi, sau đó về nhà phần ai nấy viết rồi nó duyệt lại tất cả, bảo chỗ nào cần sửa cái gì, bớt chỗ nào, thêm cái gì rồi duyệt lại tất cả. Thế là xong quyển sách dầy cộp. Anh bảo ở Pháp làng báo gọi những trợ lý ấy là nègre tức tôi mọi, nô lệ cho nhà báo nổi tiếng.

Những lần nói chuyên riệng chân thành cởi mở với nhau, mình học được nhiều điều về chính trị, tư tưởng, nhất là về nghề, những điều không ai trong cơ quan được anh truyền nghề nhiều như mình… Mình cố gắng không phụ công anh dạy dỗ. Mọi việc đều phải gấp gáp lên. Mau chóng nâng cao tay nghề, bản lĩnh của người làm báo cách mạng Việt Nam. Thật lòng chỉ mong ngày được cùng anh lên đường tiến vào mặt trận mới, gay go gian khổ thức thách nhiều hơn.

Tối chủ nhật 2/12, đi xem phim tài liệu và mua sách hụt bèn đến thăm cô bạn nhỏ gặp cả Thanh và Huệ. Cô bạn vẫn buồn, chưa hòa mình vào cuộc sống mới, thật tội. Cô kém sáng suốt lắm. Hình như ở cô mọi cái đều dễ thay đổi. Cô hẹn mang sách đến nhà cho mượn, tiếc là đã mấy lần mang đến mà chẳng là nào gặp anh.

Sáng hôm nay, thứ ba 4/12/1973 dậy từ 5:00 đi bộ dẻo hông ra đến vườn hoa Canh Nông sau nhà thì bắt đầu tập chạy. Được một vòng đã mệt bở hơi tai. Tối qua, tập chống đẩy được 45 cái, vượt yêu cầu 50%. Tập thể dục rèn luyện thân thể là không tiếc thời giờ. Ngày nào cũng tắm nước lạnh một lần. Xét cho cùng đó cũng là để trở thành người làm báo thôi có thể sống và làm việc trong bất kỳ tình huống nào.

Chiều nay, anh Thép Mới cho gọi mình lên. Anh hỏi mày đã xem tin Nhà Bè chưa. Mình biết anh muốn nói vụi pháo kích kho xăng Nhà Bè báo đăng sáng nay. Anh bảo đi lấy giấy giới thiệu anh viết gửi cơ quan 103 Quán Thánh để lấy tài liệu. Mình đi ngay. Không ngờ đến  nơi lại gặp tài liệu sống là ba chiến sĩ miền Nam có biết kho xăng Nhà Bè đang chờ để mình khai thác tài liệu. Mình trấn tĩnh ngay và làm như đã có chuẩn bị kỹ càng. Tài liệu lấy được rất đặc sắc…

Trước khi đi, anh Thép Mới bảo tao làm thế này để bảo cho chúng nó biết làm báo là như thế nào. Trong tuần, thấy sự kiện gì nổi bật là phải chớp ngay lấy, tìm sẵn tư liệu, cần là có mà viết. Cứ lấy sẵn, hôm nào chúng nó cần, tao cho… Làm báo là phải như thế chứ!

Có lẽ anh không biết rằng chính bằng cái việc bắt đi đột ngột vào một lĩnh vực không quen biết thế này thì anh cũng đã bảo cho em biết làm báo là như thế nào.

Tối nay, cùng Nghiêm Thanh một bản trẻ cùng ban và hai em Thân Nhàn đi nghe nghệ sĩ Thái Thị Liên biểu diễn piano các tác phẩm của Bach, Mozart, Beethoven và Chopin… Tuyệt vời. Nghe mà thèm làm việc quá, muốn viết. Dân nghèo mà dám đi Nhà hát Lớn nghe nhạc cổ điển. Đó là do tôi làm thư ký ban văn hóa văn nghệ của báo, nhận được công văn đề nghị đăng thông báo biểu diễn nhạc cổ điển, kèm theo có bốn vé tặng báo. Tôi thủ luôn.

Ngày 5/12, dậy từ 4:30 chạy một vòng vườn hoa Canh Nông rồi về nhà, mồ hôi đầm đìa, dễ chịu. khi ra chỗ tập đã thấy có mấy người chạy rồi, phần lớn là trung niên, như mình là rất ít, trẻ hơn thì chẳng có ai.

Cả tuần chạy rất đều. Đến sáng thứ sáu, tập xong thì thấy đau kéo dài ở phía trên ngực trái. Càng về sau càng đau không sao hít thở căng ngực được. Chườm muốn rang. Xoa dầu nóng. Sáng hôm sau phải nghỉ tập, đau không chịu nổi.

Tối đưa hai cháu Hải, Hà đến cơ quan xem vô tuyến truyền hình. Cơ quan ngạc nhiên hóa ra ông Thành có hai tằng con xinh trai quá. Chỉ các cô gái là biết anh chỉ có hai con mắt. Tối về nhà, không làm gì được. Cho đến sáng thứ hai mới tập trở lại song không chạy mà chỉ đi bộ dẻo hông. Trời rất rét, nhưng áo lót ba lỗ có ướt đẫm mới về. Vẫn cố rèn sức dẻo dai chịu đựng được gian khổ.

Đọc xong Những linh hồn chết của N.Gôgôn (tập I) Tuyệt diệu. Ngoài ra chỉ đọc báo và học.

Ngày thứ hai 24/12/1973, không ngờ mà mình cũng có quà Nôen: Báo Tiền Phong gửi thư báo tin đã đăng bài tiểu phẩm mình viết, hết sức hoan nghênh và trông đợi sự công tác thường xuyên của đồng chí… rất hân hạnh nếu được gặp đồng chí tại tòa soạn… mong đồng chí thông cảm chưa đến thăm đồng chí tại nhà được. Thật là quá sức tưởng tượng, mình mới chỉ gửi cho họ một bài. Có nơi tiêu thụ thế này mới thúc đẩy sản xuất được.

Quanh quẩn thế nào mà đã sắp hết một năm. Nhật ký chưa viết xong một tập nhỏ. Học tập cũng chưa đi đến đâu. Có điều có thể yên tâm là đã không để phí một chút thời gian nào. Đáng trách có lẽ chỉ là chưa biết làm việc theo kế hoạch, chưa dám lao hẳn vào một dự án dài hơi, cứ chuẩn bị chuẩn bị mãi mà thiếu những bước tập luyện, thử thách ngòi bút của mình . Cái sai ấy phải sửa ngay từ tối mai. Sẽ viết tất cả các tối, hôm nào không viết thì phải dịch, không dịch thì ghi chép. Tất cả mọi sự ý nghĩ trong đầu phải hiện trên mặt giấy. Bản mình dịch Quan Ngự Sử báo Thống Nhất đã nhận đăng.

Từ tuần sau, mình sẽ lên làm việc hẳn ở buồng anh Thép Mới.

Bây giờ phải thực hiện kế hoạch nhỏ kiếm tiền cho gia đình và có tiền mua sách, xem phim là hai cái thú của mình.

(Còn tiếp)

P.T.

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.