Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 12, 2019

Thời Dựng Đảng

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Thời Dựng Đảng

Nhan đề phần 2 này to tát quá. Thật không xứng nằm trong cái blog cá nhân nhỏ nhoi Tong The Gia.pngcủa chúng tôi.

Năm 1985, anh Tống Thế Gia là bí thư chi bộ Đảng cơ quan Thường trực báo Nhân Dân tại thành phố Hồ Chí Minh đưa cho tôi một gói giấy báo, trên có hai dòng chữ anh Thép Mới viết Gửi Tôn Thất Thành (nhờ Tống Thế Gia chuyển giúp). Mở ra thì thấy đó là cuốn Thời Dựng Đảng của anh Thép Mới, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh cho in năm 1984. Ngay đầu trang có chữ anh Thép Mới Thân tặng Tôn Thất Thành. Cảm ơn sự cộng tác có hiệu quả cách đây vừa đúng 10 năm. 3/2/1985. Thép Mới (ký). Sách in 5.180 cuốn. 153 trang.

Tôi xin kể lại thời gian tôi giúp việc anh Thép Mới viết nên tác phẩm ấy đầu năm 1975.

*

*       *

Thoi Dung Dang.png

Cuối cùng thì cái năm 1975 mình hằng mong đợi và e ngại cũng đã đến. Cả ngày hôm qua và hôm nay đều đọc những bài viết về điện ảnh, môn nghệ thuật mình say mê. Mở chiếc rađiô chạy pin Hà Khánh Linh cho mượn nghe nhạc và tiếng Nhật, tiếng Pháp của đài Tiếng nói Việt Nam. Vẫn chưa viết gì cả. Càng nhận thấy rõ là ở nhà thì không thể nào viết được. Ngay lúc này, cái loa truyền thanh sau lưng cứ hết nói lại nhạc. cách chỗ mình ngồi một mét, bà cô em bố và cô Trang em dâu đang nói chuyện sôi nổi. Hai cháu bé trai Hải Hà con em Nhàn đùa chơi cách một bức tường mà vẫn nghe rõ tiếng hò hét cãi nhau. Còn dưới đường phố thì tiếng ô tô, xe đạp, một anh chàng huýt sáo vu vơ, tiếng dép loẹt quẹt, tiếng guốc cong cóc, vài người nói chuyện bô bô… Thật không sao tập trung tư tưởng được. Phải thay đổi chỗ làm việc thôi. Đến cơ quan hay ra thư viện, ít nhất cũng cầm chắc mỗi ngày có được mấy giờ làm việc mình yêu thích. Không thể buông trôi như năm ngoái. Bây giờ phải viết ra giấy tất cả những gì đã nghĩ, để làm việc một cách cụ thể, có số lượng hẳn hoi.

Tối 4/1, cô bạn nhỏ lại chơi trước khi đi B vào ngày 15. Nhớ ai thì lại nhà người ấy thôi, không đi nhiều nhà làm gì. Nhà có khách, tôi đưa cô ra vườn hoa Canh Nông sau nhà như mọi khi vẫn đưa các bạn trai thân mỗi khi cần tâm sự. Những mối lo, những việc định làm trong những ngày tới, còn kể cả hoàn cảnh nhà mình hiện nay đông người quá, nhà lại chật, chỉ học nhiều mà rất ít viết. Cô không ngạc nhiên chỉ tỏ ra thông cảm những nỗi đắng cay chua chát mình từng phải chịu. Cũng tỏ ra buồn về những việc đã xảy ra cho giới văn nghệ, cảm thấy chẳng muốn viết gì cả. Về chuyện Babel, khi mình hỏi đọc có khó chịu lắm không thì cô ngạc nhiên hỏi lại ngay: Tại sao lại có thể khó chịu được nhỉ?… Tôi nghe mà mừng trong lòng.

Mười giờ tối, chia tay, chúng tôi hẹn nhau hôm sau là chủ nhật sẽ xuống thăm Hà Khánh Linh.

Đúng hẹn 7:30 sáng hôm sau, mưa rơi mau hạt, tôi đến nhà thì đã thấy cô ăn mặc chỉnh Ha Khanh Linh 2tề đang đợi. Cô mặc cái áo lu dông xanh ngoài áo len đỏ. Song, có lẽ do thấy tôi chỉ mặc có cái áo vệ sinh xám thôi, nên cô vào thay áo, mặc lại cái áo len dệt xanh như tối hôm qua, rồi mặc ngoài thêm cái áo thanh niên xung phong màu rêu. Ôi những cô gái, bao giờ cũng vẫn là những cô gái…

Trời tạnh mưa là chúng tôi đến ngay nhà Linh. Linh mừng lắm vì không ngờ là cả tôi cũng xuống. Suốt sáng trời mát dịu gần như ngày Tết. Ba chúng tôi nói chuyện thân mật, thật thà như ba anh em trong một gia đình. Những chuyện thiết thân với cuộc sống và sáng tác của từng người mà có lẽ không bao giờ có thể nói được ở một nơi nào khác. Linh gọi cô bạn là em và xưng chị rất tự nhiên, thoải mái. Nhiều lúc cô bạn ngồi cạnh, áp má vào vai Linh, không nói gì… Xem ra hai cô còn muốn nói với nhau nhiều, mà có lẽ cũng đã nói với nhau nhiều trong những lần cô đến thăm Linh trước hôm đến nhà mình.

Tôi cảm thấy lòng thư thái, vui vui. Bọn trẻ chúng mình hiện nay càng cần gần gũi nhau, hỗ trợ nhau, động viên nhau làm việc, củng cố lòng tin vào tương lai đất nước và bản thân. Tôi biết là buổi sáng hôm nay cô bạn nhỏ sẽ chẳng bao giờ quên.

Về nhà được một lúc thi trời mưa cho đến tận tối vẫn chưa ngớt. Lại đau răng, lấy tay tự rứt ra một nửa cái răng hàm cho đỡ vướng. Ngồi trên giường viết thư cho Tường là vợ Thùy và Hường cô con nuôi cô Bình tôi mới biết mặt hôm lên Yên Bái với mẹ. Hai cô đều mới vào đời, một là thợ dệt, một là diễn viên chèo của tỉnh. Tự nhiên, càng ngày mình càng có thêm nhiều người thân. Họ mến và tin mình đến mức mình ngạc nhiên vì tự thấy mình có làm được gì cho họ đâu… Xem ra, mình cũng là con người hạnh phúc hiếm có trên đời đấy chứ nhỉ.

Hôm sau trời rét. Sáng đi làm và chiều về nhà đều bị mưa. Cả hai lần ấy đều đưa và đón bà cô vào bệnh viện mắt chăm sóc mẹ. Trông cô gầy guộc khô héo xơ xác đứng chờ trên hè phố lạnh mà thương. Một bà già không chồng không con ở bên như cô thì còn hy vọng gì. Cô ở Huế với chồng và con gái. Đúng hôm đi chợ xa, khi về thì đất nước chia đôi, không về nhà được nữa. Một thân một mình ở lại miền Bắc, mua đầu chợ bán cuối chợ đắp đổi sống lay lắt qua ngày. Tình cờ gặp một cán bộ góa vợ có con nhỏ nhờ trông con. Trả tiền, bà không nhận vì tự coi mình không phải người ở. Ông đành xin cho mở tại nhà cửa hàng nhỏ bán sách để bà có đồng vào đồng ra. Lại tình cờ gặp một cán bộ tòa án là em họ mê sách, mới biết đường mà ra gặp mẹ tôi rồi sống với gia đình tôi từ đó. Bà chỉ chờ ngày đất nước thống nhất. Đã 18 năm qua rồi. Cô vẫn chung sống dưới mái nhà ấm cúng nhưng thiếu thốn của gia đình tôi, chia nhau những bữa ăn đạm bạc. Chỉ cần có nước trà loại xoàng uống trong cốc lớn, thỉnh thoảng lại được tôi mua cho bao Trường Sơn bao bạc để phì phèo hút như mấy bà già Huế xưa là bà vui rồi. Nằm là ngủ ngay. Nhưng nghe tiếng soong nồi va chạm, biết là mẹ tôi đã dậy, cô bật dậy vội vàng ra ngay bếp. Em không thể dậy sau chị dâu. Dù em chồng lớn tuổi hơn chị dâu.

Về đến cơ quan thì anh Thép Mới gọi giật tôi lại. Anh bảo vừa được giao viết bài kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 1975. Đã gặp được một vài nhà cách mạng lão thành nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, nên viết như thế nào, anh bảo tôi tìm cho anh tư liệu về thời dựng Đảng, tức các năm 1929-1930 để anh hình dung được không khí xã hội thời ấy. Tôi hỏi tìm ở đâu, anh bảo mày cứ ra bib (nói tắt của tiếng Pháp bibliothèque) Tôi xin giấy giới thiệu cơ quan đưa anh ký rồi buổi chiều ra ngay Thư viện Trung ương, xin cấp thẻ nghiên cứu đặc biệt, xin cả thẻ đọc sách tiếng Pháp. Kỳ vào thư viện này càng cần học nhiều tiếng Pháp hơn vì hầu hết tài liệu mình cần đều bằng tiếng Pháp. Vì vậy tối nào trước khi ngủ cũng học tiếng Pháp. Lại lâm râm đau dạ dày.

The Thu Vien va Nghien Cuu.jpg

Thứ ba ngày 7/3 vừa nghe tin ta thắng lớn ở Phước Long, thu hồi tỉnh lỵ sau 25 ngày chiến đấu, bảy ngày vây hãm và 24 giờ pháo kích xung kích. Nghe nói có cả một tiểu đoàn xe tăng. Không biết vì sao lâu nay mình cứ nghĩ là Đào Văn Thùy có mặt trong trận mở màn này. Suốt ngày rét và mưa lâm râm mình vẫn đi thư viện, lục tìm các báo Đông Pháp, Thực Nghiệp Dân báo, Phụ nữ Tân Văn, Ngọ báo…tìm hiểu những năm tháng dân tộc ta quằn quại dưới gót giày đế quốc Pháp trước ngày có Đảng. Suốt mấy hôm nay, mình ngày hai buổi đến thư viện lục các tạp chí, báo cũ, kể cả những cuốn rất lạ như Niên lịch thông thư mỗi năm ra một quyển, ghi rõ từng ngày xấu tốt ra sao nên làm gì, đi hướng nào mới tốt. Đọc báo hằng ngày thì đọc kỹ các tin vắn, đọc cả các quảng cáo, cố gắng hiểu cho được xã hội nước ta những năm 1928 đến 1931. Ngoài ra phải tra cứu cả bộ từ điển Larousse lớn chất đầy một tủ có đến mấy chục tập lớn to dầy. Mỗi tập là một chữ. Xem cả sách kỷ yếu của sở mật thám Pháp, hồ sơ nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Tối tối lại đến kể cho anh Thép Mới nghe, cùng anh phân tích ý nghĩa các tài liệu thu thập được, nghe anh góp ý phương hướng tìm tòi mới.

Bấy giờ cơ quan dành cho anh một cái buồng bé xíu độ 9 mét vuông trên tầng hai khu hành chính, hoàn toàn yên tĩnh. Ăn, ngủ cũng tại buồng ấy luôn.

Trong khi ấy, anh vẫn bị cô vợ bé nhỏ truy lùng. Cả cơ quan giúp anh trốn để làm việc. Có tối chị ta đến cơ quan, vừa dựng xe đạp ở cổng đã có người báo cho anh biết để sẵn sàng trốn. Lái xe Trịnh Văn Bân được đặc phái làm phi vụ quen thuộc này. Anh Thép Mới kéo tôi lên xe, Bân lái ngay ra cổng, mở đèn pha sáng rực chiếu vào mắt chị ta, thế là vọt về nhà anh Nguyễn Tự ở Trần Hưng Đạo. Nghe báo yên, chúng tôi mới về làm việc tiếp.

Anh nói cho tôi biết ý đồ sáng tác Một giai cấp tiến bước soi hồn nước. Rồi theo chỗ tư liệu mình cung cấp và gợi ý, anh quyết định đưa thêm vào mấy nhân vật mà chắc chắn sẽ làm nhiều người ngạc nhiên, do đó càng làm nổi bật vai trò của những người lập Đảng và cái lớn cao của sự kiện Đảng ra đời. Nào là Phan Bội Châu, Bùi Quang Chiêu, chị em cô giáo Giang và anh em Nguyễn Thái Học. Bao giờ mình nói anh cũng chăm chú nghe, thỉnh thoảng gợi ý một câu rồi lại nói: Thế là mày làm cho tao thấy được cái chiều dầy của sự kiện rồi. Ba cái cha nghiên cứu lịch sử Đảng chỉ làm ra những cái khô khan đơn điệu, không làm ai xúc động. Phải biết ý nghĩa của các sự kiện mới làm bật lên được bản chất sự kiện. Phải biết tìm tòi, có con mắt của nhà báo mới được. Một sự kiện lớn lao đến như thế mà làm như chuyện bình thường… Anh có vẻ hài lòng về việc mình làm. Thật không ngờ. Mình thì đang lo sợ bị ngợp trong tài liệu, lo để sót mất cái chủ yếu…

De Tang sach THoi Dung dang cua Thep Moi

Có hôm làm việc xong, về thì cổng cơ quan đã khóa: 23:30. Một lần có người bạn anh cũng cùng ngồi nghe mình nói, lúc về, anh ta bảo: Ông có một trí nhớ thật tuyệt. Nói liền gần bốn giờ đồng hồ, lại rất nhiều chi tiết, số liệu. Tôi thèm quá… Trong khi đó, mình lại đang khổ vì cảm thấy bất lực, không sao nhớ nổi những cái cần nhớ. Đầu nhức, người như phát sốt, có đêm mất ngủ. Những sự kiện khiến mình xúc động sâu xa. Cả một lớp người trẻ trước sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù, trong một xã hội rối ren. Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh sẽ là những hình ảnh sáng ngời, nổi bật nhất.

Trong những ngày này, mình cố gắng phát hiện cho ra cái sáng tạo kiểu Thép Mới trong cách viết báo, viết văn. Đó là công việc chính của mình, vì có lẽ chỉ có mình mới biết được thực chất việc sáng tạo này mà thôi. Lịch sử đã trao cho mình sứ mệnh mà Eckermann đã làm khi giúp việc cho thi hào Gớt.

Sau mấy ngày đi thư viện lục tìm tư liệu, tối thứ năm 16/1 mình đến nhà cụ Nguyễn Văn Hoan (số 5 đường Dã Tượng) nhà lãnh đạo Đảng từng bị cầm tù hoạt động từ những năm 1928-1929. Một cụ già nhỏ nhắn trắng trẻo, nói năng nhỏ nhẹ. Ngay gần cửa vào phòng khách nhỏ treo bức ảnh đen trắng một khuôn mặt trai trẻ cổ bị đóng đai sắt vào cột gỗ. Nhìn kỹ cặp mắt sáng của người thanh niên dễ nhận ra đấy là chân dung cụ Hoan thời trẻ. Cụ nhớ rất rõ, kể cả những chi tiết nhỏ như hôm đó người ấy mặc áo gì, thời tiết thế nào. Mà toàn là những chuyện từ những năm 1928-1929. Cụ giúp cho anh Thép Mới những tư liệu rất quí, dựng lên được chân dung những người xưa như thật. Mình cố gắng nghe ghi lại những chi tiết đó, tăng thêm độ tin cậy cho những chuyện kể cách mạng thuở ban đầu.

Những việc nghiên cứu sách báo ở thư viện và gặp gỡ nhân chứng như thế này mình học tập được rất nhiều điều. Tối, lại đến anh Thép Mới cùng làm việc cho đến khuya. Kể lại cho anh nghe những gì mới tìm được trong ngày, chỉnh lý tư liệu đã thu thập, đọc lại những phần anh đã viết và kiến nghị sửa chữa. Một sáng, sau khi nghe báo cáo, anh nói: Xem ra đây phải là một tác phẩm lớn… Một lần khác anh lại nói: Một cuốn sách hẳn hoi, ít nhất cũng ba trăm trang… Bài anh viết mở đầu Xốc tới 3/2 và từ ngày 3/2 xốc tới mình nhận xét là hoa mỹ quá, không hợp, anh đã bỏ đi viết lại bài khác giản dị, chân chất hơn, thậm chí mộc. Theo anh, đó chính là cái giọng điệu chung cần có cho một tác phẩm như thế này…

Tối 17/1, Đỗ Đình Hưng công nhân bốc xếp đến chơi, cứ tha thiết khuyên mình nên chú ý hơn đến chuyện vợ con. Chú nói nên chọn người tốt, nhất là người nào họ yêu anh thầm kín, thế mới tốt anh ạ. Tôi biết chú rút kinh nghiệm bản thân từ việc lấy cô băng chuyền Tuệ. Ngắm Đỗ Đình Hưng, tôi lại nhớ tốp ca nam Đội Bóng ngày nào. Hồi ấy tôi còn phụ trách văn hóa quần chúng ở Cảng Hà Nội. Một buổi biểu diễn ở sân trước khu văn phòng, khi chương trình đang tiếp diễn thì Hưng gặp tôi, mặt đỏ hồng nói anh cho đội bóng chúng em hát một bài đi. Tôi hỏi chuẩn bị kỹ chưa. Hưng nói hôm nào trước và sau khi tập đá bóng tụi em đều hát nên thuộc lắm, biểu diễn cũng rất điệu nghệ. Thế là sau khi Trần Thị Phúc giới thiệu tốp ca nam Đội bóng Cảng sẽ diễn một tiết mục đặc biệt thì mười một chàng trai mạnh khỏe chạy ra hát hùng hồn bài Không cho chúng nó thoát, kết thúc bằng động tác đồng loạt giơ cao tay phải chỉ lên trời rồi lễ độ cúi chào người xem giữa tiếng hoan hô vang dậy. Trong đội, cao nhất mà cũng to nhất là hai anh em con chủ Quán bia Mụ Béo nổi tiếng gần Nhà Thủy Tạ. Sau này về ban văn hóa văn nghệ báo Nhân Dân, một hôm tôi lên phòng thư ký đưa bài của ban, tò mò ra xem anh em đang lên ma két số báo hôm sau, chợt thấy trên bàn có ảnh hai anh em nhà đó, cả Chính và Nhân.Xem tin, thì ra đó là ảnh minh hoạ về chuyện tai nạn giao thông không liên quan đến hai anh em mà là một vụ khác. Tôi nghĩ các em đã bị xử phạt, cũng chẳng cần bêu riếu làm gì, tội nghiệp hai ca sĩ trong Đội Bóng năm xưa, bèn thủ ngay hai cái ảnh. Đúng là tôi với Cảng dẫu lìa xa vẫn vương tơ lòng.

Nhớ thời dựng Đảng – Xốc tới ngày 3/2 cho đến cuối tháng 1/1975 vẫ thu hút người đọc. Thep Moi chan dung 2.pngDư luận trong cơ quan – vốn toàn là kiêu binh- xôn xao. Không ai dửng dưng trước việc làm có tầm vóc rộng lớn mà cả cơ quan đều biết chỉ có hai người làm ra tức là chưa đến 1% số người trong cơ quan, mỗi ngày chiếm gần nửa trang báo. Anh Thép Mới vui lắm kể là có người gặp anh nói: Viết thế này thì ông Thép Mới phải ngồi trên cả một núi sách báo. Khối lượng tư liệu đa dạng đã khiến nhiều người khâm phục. Còn anh Thép Mới thì nói là nhân dịp viết này, tao với mày mới hiểu ra nhiều điều, tìm ra cái lô gích của lịch sử. 29, 30 đã như thế này thì đến năm 45 nó thua là phải lắm rồi.

Anh bàn với mình cách viết từng bài, hỏi kỹ các sự kiện, chăm chú nghe mình báo cáo và gợi ý căn cứ vào những nghiên cứu riêng của mình, viết rồi đọc cho mình nghe, thậm chí viết xong, đưa bút bắt mình đọc và sửa. Tóm lại có vẻ là một kíp làm việc rất ăn ý. Anh hào hứng làm việc, vẻ hài lòng… Mỗi lần mình gõ cửa căn phòng nhỏ trên gác hai, anh vội mở ra, vui vẻ hỏi: Có gì mới không mày. Rồi hoặc anh đọc bài mới viết, hoặc nói về phản ứng của người đọc, hay trình bày dự định viết trong phần tới. Nhiều khi mình vừa phải chuẩn bị tư liệu cho phần tới, vừa trả lời ngay những điều anh hỏi để viết luôn vào bài. Căng thẳng mà vui vẻ. Một hôm anh nói: Được làm việc là một hạnh phúc lớn phải không mày? Làm việc thật là thú. Chính ở anh, mình thấy hội đủ hai đức tính nổi bật nhất của Lép Tônxtôi: Hăng say làm việc và chân thành mộc mạc. Có hôm mình đọc thư bạn đọc gửi đến, một số nhà cách mạng lão thành hỏi ông Thép Mới bao nhiêu tuổi mà nhớ được thời dựng Đảng… Anh nghe rồi cười thế mà tao không nghĩ ra. Từ đó đổi thành Thời dựng Đảng như tên sách in năm 1984.

Một chiều làm việc xong, anh bảo đi theo anh. Hai anh em tản bộ ven bờ Hồ Gươm, rẽ vào phố Tràng Tiền. Đến cửa hàng BODEGA tiệm ăn Tây nổi tiếng Hà Nội, anh hỏi mày có hay đến đây không? Phố Tràng Tiền thì em hay đến lắm. Đầu tiên là vào nhà sách ngoại văn xem có sách gì mới không, sau đó đi suốt phố đến nhà sách to nhất Hà Nội là tìm ngay vào khu bán sách cũ gặp ông Thuật chủ tiệm BOOKSTORE đường hàng Khay ngày xưa nay vào làm nhân viên mua bán sách cũ ở đây. Cửa hàng ăn này em biết đã lâu nhưng chỉ đi qua, chưa khi nào vào. Anh gọi món điểm tâm. Mỗi người một đĩa giăm bông hấp rưới nước sốt và một bánh mì. Uống si rô lựu đỏ. Ăn xong thả bộ đi về phía phố Huế. Anh bảo hôm nay Đào Hồng Cẩm cho hai vé xem vở mới của nó. Còn dặn xem xong phải góp ý đấy. Đến trước rạp Đại Nam sáng đèn thấy còn sớm, anh hỏi mày thích ăn ngô nướng không. Rồi hai anh em sang hè đường đối diện, anh ngồi xổm nói với bà cụ bán ngô bà cho con chọn mấy bắp ngô nhé. Rồi chúng tôi chăm chú xem bà già khéo léo nướng hai bắp ngô nếp rõ là ngon. Mùa rét, mặc áo bông mà ăn ngô nướng thật là thú. Chuông reo mấy đợt, đèn tắt hai anh em mới vào rạp. Vừa xem anh vừa xuýt xoa: Nó viết được quá, đề tài cách mạng mà viết được như thế này là giỏi quá rồi.

Đến chiều thứ bảy 11/2/1975, đợt I công việc của anh Thép Mới và mình tạm kết thúc. Bài Tết 1930 anh viết đăng số báo Tết đã xong. Hai anh em ngồi uống nước chè đường anh pha, cùng rút kinh nghiệm. Ông Trường Chinh đã gặp anh, góp cho một số ý kiến, cho thêm tư liệu, khuyến khích viết tiếp. Ông còn nói đùa đang lúc người ta xì xào tôi ngả theo Tàu, anh lại viết tôi gảy đàn Tàu trong buổi ca nhạc từ thiện giúp đồng bào bị bão năm Thìn. Sáng hôm trước, anh Hoàng Tùng cũng nói là nên làm tiếp, kéo dài vài tháng. Cụ Nguyễn Văn Hoan thì muốn cứ viết cho đến 1945. Bạn đọc hoan nghênh. Anh Thép Mới sẵn sàng lao vào làm việc quên mình, chuyên tâm sáng tạo… Chính trong thời gian đời tư gặp nhiều đau khổ, rắc rối, cứ làm việc là anh quên hết, cất lên tiếng ca ngợi cách mạng, ca ngợi con người Việt Nam. Anh giàu trí tuệ, nhưng cái lớn nhất ở anh là tấm lòng, tấm lòng hoàn toàn hiếng dâng cho Tổ quốc, nhân dân.

Anh khuyến khích mình rất nhiều, khen là đã đóng góp tích cực vào các bài anh viết, coi như là đã khẳng định được vai trò bằng chính những việc đã làm, những năm tháng đã sống. Được làm việc với anh mình thấy thật hạnh phúc, do đó càng thấy thêm nhiều trách nhiệm, muốn nâng cao trình độ mọi mặt hơn nữa để có thể làm việc được nhiều hơn, cống hiến nhiều hơn. Dù là vô danh. Người ngoài không ai biết. Gần như mình không muốn nghĩ đến điều Đỗ Đình Hưng nhắc, không muốn nghĩ đến hạnh phúc riêng, hạnh phúc lứa đôi. Mặc dù nhiều người nhắc tha thiết. Chẳng gì còn 20 ngày nữa là mình đã bắt đầu tuổi 35 rồi. May là người nhà không ai nhắc chuyện ấy, có lẽ vì quá biết tính mình. Mình nhiều bạn gái, nhưng chẳng có ai là người yêu. Cô thì cùng ham triết học, văn học, cô lại cùng ham toán học… Tất nhiên trừ Rosa, cô thanh niên xung phong thương binh nặng, mối tình đầu trong sáng bị vùi dập tàn bạo  năm 1972.

Còn mấy ngày nữa là Tết rồi, một ý nghĩ như vậy có ảm đạm quá chăng trước thềm xuân? Thật bụng, mình thây khó tìm được người hiểu mình để làm bạn đời. Thà cứ sống một mình suốt đời, vui cái vui chung của thiên hạ lại hơn. Mình chỉ sợ không được sống, làm việc và học tập như mình mong muốn.

Tết năm nay, không thể lên Yên Bái thăm bà và cô được, mình chẳng thiết gì Tết. Mình chưa hề bao giờ vui sướng khi kiếm được cái gì cho bản thân. Khi đi xem pháo hoa, cũng chỉ chú ý ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ vui sướng của những người đi xem mà ít nhìn lên ngắm chính những bông pháo hoa đang rực rỡ trên nền trời. Như anh Đào Anh Kha từng nhận xét: có cách nhìn rất khác. Có lẽ số khổ là ở đó. Luôn nhìn khác người thường.

*

*     *

Từ ngày 3/3 có lệnh bắt đầu làm việc thông tầm ở khu vực hành chính các cơ quan trung ương từ 8:00 đến 16:30.

Được nghỉ sớm, trong túi lại có sẵn mấy cái vé xem phim ở cơ quan, cho nên dù mưa nhỏ, tôi vẫn đến nhà cô bạn. Linh cảm là không gặp vì cô đã đi mà vẫn cứ đến. Quả nhiên chỉ gặp cô Huệ sống cùng phòng và con cô là cháu Hạnh Nguyên đang ốm. Cô bạn đã đi B từ cuối tháng 2 ngày 27, 28 gì đó. Vội quá, không kịp báo ai cả, chỉ kịp về Thanh Hóa hai hôm, để lại cái xe đạp cho chú em con bà dì dùng. Từ ngày mẹ mất, cô bạn vẫn sống với bà dì, coi như mẹ, đúng là sểnh mẹ bú dì. Tất nhiên cũng gặp cô em dạy học trong đó. Nói chuyện một lát rồi mình trông con cho Huệ rửa soong nồi bát đĩa còn bày cả ra sàn.

Được ngồi một mình, tôi ngắm bốn con cá đất nung quây quanh cái khánh hai mặt có chữ Phúc. Hôm mồng một Tết mình và cô bạn cùng ngắm, cô rung cái vòng nêu cho chúng va vào nhau kêu lanh canh, nay chỉ còn ba con, một con đã vỡ. Mình đung đưa cái khánh, tiếng lanh canh ngày nào lại ngân lên, nhưng rời rạc, tẻ nhạt sao đó. Chắc là trước khi đi cô bạn cũng chẳng vui gì. Mình không tin là bận đến nỗi không thể nói một lời từ biệt. Có lẽ cô ngại trong phút từ biệt sẽ không thể nói được lời muốn nói. Thà không gặp mà hơn…

Cả ngày hôm nay, 5/3 xem lại xong dòng cuối cùng bản đánh máy Chú thích và phụ lục làm cho tập Thời dựng Đảng của anh Thép Mới, mình mới thấy là đã dỡ được gánh nặng suốt hai tháng nay. Từ ngày giúp anh viết loạt bài này mình đã huy động toàn bộ trí óc, lòng dạ và sức lực để hoàn thành cho thật tốt công việc trọng đại anh đã tin cậy giao cho. Cố gắng tránh hết mọi sơ suất, bằng mọi cách góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, kể cả phần chính văn lẫn phần chú thích và phụ lục. Chính qua quá trình làm việc miệt mài này bản thân đã học tập được rất nhiều, trở thành người cộng tác đắc lực của anh, phần nào học được tầm nhìn tầm nghĩ cách viết của anh.

Chỉ có điều đáng ngại là: Mắt kém đi rõ rệt. Ngay viết nhật ký cũng nhìn không rõ chữ mình viết nữa.

Nhưng mình vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

(Còn nữa)

Ngày 7/8/2019

P.T.

 

Advertisements

Lưu Công Nhân ở Thác Bà

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 10:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

LƯU CÔNG NHÂN Ở THÁC BÀ

Phạm Tôn

Cô Vũ Thị Bình tôi rõ là không ưa gì anh Lưu Công Nhân. Cô là giáo viên trường tiểu học mở ở hợp tác xã Minh Bảo. Cô kể một hôm anh ta đến nhà, cúi khom người mới không chạm quang cửa, mặc áo quần bảo hộ lao động bạc phếch. Thấy vách nhà treo nhiều ảnh, anh ta nhìn rồi ngạc nhiên thốt lên Phạm Tuyên đây này. Cô tôi tự hào, anh tôi đó anh gọi mẹ tôi là dì ruột. Anh ta hỏi thế thằng Tuyên nó có hay lên thăm cụ nhà không. Cô tôi thấy hỗn hào quá, mà cũng chẳng biết trả lời làm sao, càng giận…

Tôi hay lên Thác Bà, cũng thường lê la các nhà quanh vùng hỏi chuyện biết được cái gì hay cái ấy. Thường đến các nhà giáo viên, vì họ có học lại gần dân biết nhiều chuyện. Hôm đến nhà một giáo viên cấp hai ở xã thì gặp anh Lưu Công Nhân. Cùng nhau ra bờ sông Chảy, chỗ dưới đập Thác Bà. Nhà bà tôi trước ở khu vực nay là lòng hồ, chỗ gần đầu con đập. Nay ngập trong nước rồi, chỉ còn thấy ngọn cây mít cao ló lên. Anh giới thiệu anh giáo viên miền núi này là người Việt Nam bỏ tiền túi ra mua tranh của tôi. Tôi chỉ tính tiền toan và sơn dầu, lấy có 50 đồng mà đến nay mới trả có một phần 10, không biết bao giờ mới xong đây. Anh giáo viên cười; anh tính lương giáo viên thì thấp tôi lại có ba con… Anh Nhân cắt ngay lời, anh chỉ kể khổ vì có ba con, sao anh không nói cho ông ấy biết khi cùng vợ tạo ra ba đứa con ấy anh đã sướng đến như thế nào…

Tháng 7/1973, tôi lại lên Thác Bà, đưa mẹ tôi lên dự ngày giỗ ông sinh ra cô Bình. Trong khi xếp hàng mua vé ô tô lên Thác Bà, tình cờ gặp anh Lưu Công Nhân, một tay xách cái túi du lịch xanh hỏng khóa rút, miệng cứ há toác ra, một tay xách cái túi lưới, lòng thòng mấy giây vạn niên thanh và mấy nhành phong lan. Anh bảo tôi ra ngồi với mẹ, để anh xếp hàng cho. Anh hẹn lần này gặp nhau phải nói với nhau nhiều chuyện, còn phải đưa ông đến thăm xưởng họa của tôi, ở với tôi hẳn một ngày để tôi mời ông xem tranh, đọc sách. Rồi cùng lên xe, nhưng ngồi khác ghế khá xa, xe lại đông khách nên chẳng nói với nhau câu nào. Đến Thác Bà chưa tới bến có rừng cây long não thơm phưng phức, anh xin xuống trước cho tiện bến đò sang ngang, còn hẹn sẽ đến nhà mời đến nhà chơi.

Mình lên Thác Bà ở đã ngót một tuần mà vẫn chưa thấy anh đến. Nhà anh khá xa nơi mình ở. Hỏi thì người anh em họ với anh ở gần nhà lại nói là anh thường đi vắng, có khi cả tuần, nên cũng chẳng nghĩ đến chuyện tìm đến nhà anh. Cho đến tận hôm 18/7, hai mẹ con chuẩn bị ra về thì anh mới tạt qua nhà vào chơi. Anh dẫn thằng bé con ông anh sang bệnh xá để khám cái tai, đã một tuần nay không rõ vì sao nó đâm ra điếc đặc. Bố nó mải làm cỏ cho lúa quá quên cả cái tai điếc của ông con. Trò chuyện một lát, mình cùng anh sang sông đưa thằng bé vào viện, rồi vào phòng kỹ thuật công trường thủy điện Thác Bà tìm một bạn của anh là Lý Trọng, kỹ sư 35 tuổi để anh này dẫn ra đập thủy điện. Nói chuyện vớ vẩn một lát, anh Nhân hỏi mình: Thế nào, đi xem công trường hay không nào… Tôi thì chẳng thú gì lắm… Ông Trọng lại càng chán quá rồi…

Mình buộc lòng phải nói thật: Tất nhiên là lên đây là muốn đi xem rồi. Song đi mà anh thì không thích, anh đây lại chán quá rồi thì có lẽ cũng chẳng nên đi làm gì…

Anh Nhân cười xòa. Thôi, thế thì đi. Ông này đi với tôi thì chẳng bao giờ là không vui đâu. Ta đi thôi!

Thế là cửa phòng kỹ thuật đóng lại, khóa hẳn hoi và ba chúng mình thả bộ đi thăm công trường dưới trời nắng gắt. Vừa đi vừa trò chuyện rất vui. Đến bên đập, cạnh thác nước trắng xóa chảy từ trên cao ào ào đổ xuống, anh Nhân chỉ mảng tường bê tông lớn phía bên kia thác nước nói: Nếu như tôi mà là một họa sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa thì tôi sẽ vẽ ở đây một bức tranh lớn. Còn những dãy núi kia và trời xanh biếc thế này thì cứ để nguyên mà làm nền… Đẹp phải biết nhá… Tiếc là tôi lại không phải là họa sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa… Và anh cười thoải mái, có chút ngạo mạn.

Đi qua hết những dãy cầu thang dài, luồn qua những mảng tưởng hư hại trần sụp đổ do bom Mỹ, anh nói với anh Lý Trọng: Thật tôi không ngờ là các ông khôi phục lại nhanh chóng đến như thế này. Thấy các ông làm, tôi càng thêm tin tưởng, tôi học được một bài học tin tưởng… Anh Lý Trọng cười: Thì chính tôi cũng vẫn nhớ cái khẩu hiệu ông ghi ở trên xà nhà CAN ĐẢM, HY VỌNG. Anh Nhân nói lảng ngay sang chuyện khác.

Thăm đập xong, hai chúng mình về nhà bà tôi ăn cơm do mẹ nấu. Đúng 12:30 trời vẫn nắng gắt, cùng về nhà anh. Đường đất đỏ. Trên đường đi anh luôn mồm ca ngợi phong cảnh ở đây là đẹp, nếu không đẹp đến thế này thì tôi vào đây sống làm gì. Chỗ nào cũng là tranh. Gần đến con suối, anh chỉ vào một xóm nhỏ. Đây, mình sinh hoạt chi bộ Đảng ở đây đây. Nhưng mấy năm rồi mình có đi họp lần nào đâu…

Luu Cong Nhan 2.jpg

Tôi nhắc chuyện anh Nguyễn Hữu Chỉnh ở ban quốc tế báo Nhân Dân kể là đi Pháp anh có đến nhà Picasso, không vào được, vì Picasso không có liên hệ gì với địa phương cả. Xem ra thì Đảng Pháp níu Picasso, chứ không phải là Picasso níu Đảng. Anh Nhân cười: Mình thì khác Picasso. Mình không níu Đảng mà Đảng cũng chẳng níu mình. Mình sống ở đây như một người nước ngoài vậy…

Đến nhà, anh đưa ngay tôi xuống nhà ngang chào bà chị dâu đã ngoài 60 cho nó phải phép, rồi cởi ngay bộ quần áo bảo hộ lao động ra, mặc quần soóc, cởi trần đi guốc mộc ra giếng tắm. Xong anh đưa tôi lên nhà đọc sách của anh. Một lát anh bưng thau nước và đem cho mình một cái khăn để rửa mặt, tay rồi đi về phía xưởng vẽ. Nhà toàn cột gỗ xoan không ngâm trắng nhẵn, có đôi chỗ nứt. Lưng nhà thưng nứa đan liếp kín, quay về phía xưởng vẽ. Cửa vào trông ra vườn, lệch sang một bên. Một đầu nhà nối với nửa mặt nhà có cửa sổ dài suốt, song cửa bằng gỗ, cao hơn một mét. Phía đầu nhà đối diện có một cửa sổ con, nhưng không mở, ngoài có chắn liếp nứa. Mái lợp lá gồi. Xung quanh nhà là hàng hiên. Nhà thoáng và thanh nhã. Xung quanh nhà cỏ mọc um tùm xen lẫn mấy cây chuối, dâm bụt, mẫu đơn… Đến đấy mình mới thấy là đã phạm một sai lầm rất lớn: quên mang giấy bút là hai thứ thông thường khi nào cũng mang theo. Nhà này lại có rất nhiều thứ cần ghi lại. Đành vào nhà tìm được một lọ còn chút mực tím cặn, bèn lấy cái que con, chấm mực ấy ghi vào mảnh báo cũ những dòng sau. Ở ngay quang cửa ra vào có hàng chữ nho viết ngay vào gỗ một câu thơ Đường: NHẤT PHIẾN BĂNG TÂM TẠI NGỌC HỒ (tạm dịch: một tấm lòng trong sáng như băng trong bình ngọc). Hai băng giấy nhỏ dán dọc cánh cửa phải, cũng hai câu thơ chữ nho; mặt trong cửa trái lại hai băng khác cũng viết hai câu thơ chữ nho, đều là thơ Đỗ Phủ. Khép hai cánh cửa lại, mặt trong có bốn chữ lớn viết bằng bút chì đỏ CHÍ NHÂN TÂM CHÍNH.

Vào đến trong nhà, nhìn lên quang cửa lại thấy Dans l’art, ce qui gagne perdra (Sartre) (tạm dịch: trong nghệ thuật, ai được sẽ mất) dưới có chữ ký của anh Nhân, nhưng lại có dấu xóa bằng vôi hoặc phấn trắng, trên chỗ xóa thấy ghi bằng chỉ đỏ Lưu Công Nhân3-1971. Nhà có hai gian, phần xà gian thứ nhất viết bốn chữ đen CAN ĐẢM HY VỌNG 1971, phần kia viết CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH.

Mình đang ngắm nghía và lúi húi ghi thì anh đến gần, đưa cho cuốn III bộ Chuyện làng nho rồi bảo ra giếng tắm, nghỉ ngơi sau đó mới lên xem tranh vì xem tranh thì phải thoải mái mới được. Tắm xong, anh mang cà phê đến nhà đọc sách pha bằng cái bình pha cà phê phun của Hung ga ri. Anh mời uống cà phê, hút thuốc, nói chuyện một lát. Biết là mình đọc cả bộ Chuyện làng nho rồi, anh lại về xưởng, đem cho một tập thơ Đường. Anh nói: Ở đây mà đọc thơ Đường nó có một cái thú vị riêng ông ạ… Anh về lại xưởng. Mình nằm trên giường con đọc tập thơ, cảm thấy đúng như lời anh nói. Đầu tập thơ có một trang trống. Anh Nhân viết mấy dòng chữ to, có lẽ bằng que nhúng vào mực xanh: Tôi có rất nhiều bạn. Đó là các thi sĩ đời Đường (14/4/72).

Tranh luu cong nhan.png

Căn nhà nhỏ cũng mang một tâm sự ấy… Kề ngay cửa vào là một giá áo mũ tự làm, chân là đầu cây gỗ, trên cắm cành cây, một quả bầu khô chụp lên đầu cành cây, cuống quả bầu cong lại làm chỗ treo mũ. Cái giường cá nhân kiểu thường thấy ở tập thể cơ quan kê ngay cạnh đó. Còn gian bên cạnh thì góc nhà kê một tấm ván chéo làm bàn kề ngay song cửa. Ghế là một cái đõ ong to làm bằng gốc cây đục rỗng, trên để một miếng cói đan tròn nhiều màu. Mặt bàn nhỏ, chỉ đặt một cái đáy  vại nhỏ vỡ dùng đựng bút, chìa khóa… Phía góc kia là một ghế đệm có chỗ dựa cao êm tự làm. Đối diện lại một ghế vải gấp được, để cạnh khúc gỗ thấp dùng làm chỗ gác chân khi ngồi ghế gấp. Giữa hai ghế là một bàn nhỏ thấp làm bằng một thớt gỗ tròn. Cạnh bàn là một tảng đá to trên đặt một mai rùa nhỏ, một vỏ ốc. Giáp vách nứa là một chĩnh sành đầy đất trồng cành đại to lơ thơ vài ba chiếc lá. Miệng chĩnh có chiếc lá khô, một tượng nhỏ tiều phu loại thường đặt ở non bộ. Phần vách nứa gian này chỉ treo tấm gỗ to bằng hai bàn tay có vân rất đẹp, làm thành hình chiếc lá. Phần kia phía có giường lại treo một chiếc lá thật có dính tổ ong nhỏ. Cuối giường lại là một cành cây dựng đứng treo một cái lồng con không có chim. Như để tăng thêm không khí cổ kính cho căn nhà, anh đặt một giá nến có cây nến trắng thắp dở ở cạnh bàn nước và hòn đá… Thanh ngang giữa các song cửa gỗ chi chít những chữ. Đọc thì thấy toàn là tên các danh hoạ bắt đầu bằng Tô Ngọc Vân và kết thúc bằng Van Gogh. Có cả Picasso lẫn Micheal Ange, Matisse và Raphael… Có lẽ đó là những người anh tôn làm thầy. Tiếp sau tên Van Gogh là ba chữ màu đen: LUXE-CALME – VOLUPTÉ (Tạm dịch: xa hoa – tĩnh lặng – thú vị) và bốn chữ đỏ: Độc Lập Tự Do

Mình nằm đọc thơ Đường và tự nhiên muốn đọc Vương Duy. Những bài thơ về những người ở ẩn thời xưa. Anh Nhân đến, mang lá chè tươi cho vào ấm đun trên bếp dầu hỏa bằng  đồng, vừa uống trà vừa nói với nhau vài câu về thơ Đường, rồi mời mình lên xem tranh.

Xưởng họa ở cách nhà đọc sách khoảng 15-20 mét, xây gạch lợp ngói do tỉnh ủy Yên Bái xây cho. Dáng nhà cũng xinh. Nhà có một buồng nhỏ đặt bàn viết, sách vở, một cái đi văng nhỏ, thấp. Anh kéo cái ghế con trên đặt tấm thổ cẩm, mời mình ngồi gần mé cửa ra vào và giới thiệu: Đây là chỗ tiếp khách… Tôi lấy mấy bức tranh mới vẽ ông xem. Anh chỉ một bức treo trên tường: Còn đây là vợ. Vợ anh là dược sĩ. Những lần đi nước ngoài chị tìm mua cho anh sách về hội họa. Còn bao nhiêu tiền, chị mua toile (vải để vẽ tranh) và sơn dầu đến hết.

Các tranh anh cho xem đều là tranh trừu tượng. Ngay bức đầu, anh dựng cho mình xem rồi có vẻ hơi lúng túng, anh đứng gần chỗ mình ngắm xem tranh có bị bóng không, xem có dễ không, bàn tay trái cứ khoa khoa như vờn, như xoa một vật gì êm êm, miệng thì lẩm bẩm: Đấy đấy…thế thế biết nói với ông thế nào nhỉ… Tôi đặt tên bức tranh này là Bản Concerto con nhái như thế…thế… Quả thật  ở góc phải có một con nhái xanh, đầu đội một vành hào quang như các thánh vậy. Còn lại toàn là những đám màu vân vân, có chỗ vết sơn bóp ở ống ra còn nguyên vẹn, nổi dầy lên, và khá nhiều vạch ngang dọc, tựa như lấy que mà vạch vào tranh sơn đang ướt làm trơ vải ra. Rồi Bản giao hưởng mùa đông Thác Bà số I, bức tranh mà anh tấm tắc khen là cái này tôi vẽ đẹp lắm, đẹp lắm ông ạ. Giao hưởng hoa mua (tặng vợ) và một bức tranh nữa màu sắc hòa hợp, có chỗ đậm đà đằm thắm, có chỗ trong sáng lóng lánh như nước suối dưới nắng sớm… Rồi Tặng De Bussy cuồn cuộn những đường nét dày vò người xem.

Chín bức cả thảy… Thế là đủ một phòng tranh ở Paris rồi. Tôi mà bày ở đấy thì phải biết là đông người xem… Mấy bức này không làm khung là để mang về Hà Nội. Tôi đã đưa cho hội một catalô 45 tranh. Họ xem không nói gì hết, rồi đưa cho vay một ít tiền… Thật là buồn cười… Trên bàn, anh để rất nhiều sách, chủ yếu là về hội họa. Có Van Gogh, Renoir, Cézane và nhiều nhất là Picasso và các họa sĩ Ý, Hà Lan thuộc trường phái hội họa trừu tượng rồi nói: Tôi ở đây, chỉ làm có một việc là vẽ rồi đem so với các bức tranh này và thường là cảm thấy được lắm, chẳng kém gì, Việt Nam ta được lắm, không sợ thua ai cả.

Nói rồi anh để hai cuốn sách có hai tranh in hai bên và đặt một bức tranh nhỏ do anh vẽ ở giữa vừa ngắm vừa khen đẹp, đẹp lắm. Rồi anh kể có lần Picasso được mời đến xem bố trí phòng tranh Tây Ban Nha ở Le Louvre (Bảo tàng Pháp nổi tiếng thế giới). Khi về nói: Tranh của mình xếp cạnh tranh Vélasquez và (quên) xem được lắm. Çava mieux … (Thế là tốt). Tôi, tôi cũng luôn thấy như thế. Còn đây (anh mở một tập về Picasso ra), lật bài báo Nhân Dân viết về Picasso anh cắt dán vào đó. Picasso chết thì người ta viết như thế này: Nghệ sĩ vĩ đại, v.v… trong khi đó ở ta có thằng nào làm như Picasso, làm hơn Picasso thì lại vùi dập đi, lại phản đối ngay. Cụ Hồ mấy lần bảo học Picasso, ông Trường Chinh cũng mấy lần bảo học Picasso… Hóa ra chỉ là học có một điều là xin vào Đảng mà thôi! Nước mình không có người tài vì nước mình không cần người tài… Anh mở cửa sang buồng bên cạnh, rộng hơn. Đây mới là xưởng họa. Ba bức tranh đang vẽ dở, cái đặt trên sàn, cái để trên giá, cái trừu tượng, cái hiện thực (Cày ruộng, Cô dân quân viết tin chiến thắng, tranh dân gian) một cuộn vải và rất nhiều ống sơn, môt pa lét to bết những màu sơn…

Tạm xong với xưởng họa, hai anh em lại về Chu Nam Sơn (tức là cái nhà đọc sách của anh). Song lần này, không vào nhà mà ngồi uống chè tươi ngay ở vườn. Bàn nước đặt cạnh gốc chuối và cây dâm bụt gồm có một tảng đá to làm bàn và bốn hòn đá làm ghế. Anh cẩn thận ấn sâu một hòn đá xuống đất làm chỗ đặt cái phích nước. Cách độ bốn mét, sau bụi chuối và trước hàng rào vườn lại một tảng đá nữa. Anh bảo đó là nơi thường ngồi một mình ngắm mặt trời lặn… Anh có vẻ đặc biệt yêu thích mặt trời lặn. Trong nhà đọc sách trông qua hàng song rộng ngắm mặt trời lặn cũng rất tuyệt. Anh nói tựa như tâm sự với bản thân: Tôi vẽ mà biết là bây giờ chẳng dùng làm gì, sau này cũng chẳng dùng làm gì…

Mình nhớ đến hai chữ HY VỌNG to, đỏ viết trên tường xưởng vẽ, và mấy chữ trên xà nhà nên gợi ý là chắc anh phải có hy vọng gì vào một ngày mai chứ. Anh cười: Tất nhiên! Nhưng có lẽ phải lâu, lâu lắm… Phải có một sự thay đổi lớn… Ông đã vào phòng tôi, ông thấy, tôi có kế hoạch và làm việc rất cẩn thận… Mặc dù biết có làm cũng bằng vô ích, mình ở đây, mình chết ở đây, rồi chôn ở cái vườn này, chẳng ai cần, chẳng hại gì cho ai…Tranh tôi bán cho nhà nước được độc có một cái, được 1000đ; có cái bán cho một cậu lấy 50 đ mà cho trả dần, đến bây giờ cũng chưa xong. Thành ra tôi đã nghèo lại phải gửi tiết kiệm. Tôi chỉ dám vẽ tranh nhỏ, dùng ít sơn, sợ khi cần vẽ lại hết mất sơn. Đời sống cũng phải rất tiết kiệm, nếu không, không làm được gì cả. Tôi không nghiện một thứ gì. Chè, thuốc lá, rượu, khi cần kích thích tôi chỉ dám dùng một tí thôi. Trong cái đõ ong để bên bàn viết chéo, tôi vẫn có rượu đấy…

Trời đã ngả chiều, tôi xin phép ra về. Anh tiễn và nói: Hôm nay, tôi không làm được gì. Nhưng cậu thì đã xem được cái đập Thác Bà, thế là đạt rồi. Tôi đành nói thật lòng: Còn anh lại phải cái phiền là đưa tranh ra cho một kẻ chẳng biết gì về hội họa xem.

Anh Nhân nói ngay: Cái đó không hề gì… Tranh mình bọn ở Hội có xem cũng chẳng hiểu gì… Mình rất ít khi muốn cho ai xem tranh…

Bà chị dâu anh nhất định không cho tôi về, cố giữ lại ăn cơm với gia đình. Anh cũng bảo ở lại, cơm xong sẽ cùng anh về nhà, nhân thể ghé nhà anh Lý Trọng kỹ sư công trình thủy điện. Mình ở lại lên phòng tiếp khách. Rồi anh Nhân xuống bếp, thái chỉ bó rau cải xanh giúp bà chị dâu nấu bát canh với tôm khô kiểu nhà quê đặc những rau là rau. Còn một mình lại sang nhà đọc sách, xem một tập về Picasso. Anh ghi ở nhiều chỗ Mình bằng tuổi này đã làm được gì đâu!… Ở phòng khách cũng như ở xưởng vẽ anh viết trên một tờ giấy treo trên tường 1976: 45 tuổi, 1991: 60 tuổi.

Danh Thiep luu cong nhan

Ngày nay thì tôi thấy báo chí, đài truyền hình quen gọi tên anh kèm hai từ danh họa: Danh họa Lưu Công Nhân. Rồi mở nhiều phòng tranh trưng bày tranh anh. Độc đáo nhất là triển lãm mới mở gần đây do họa sĩ Lê Thiết Cương tuyển chọn trưng bày ngay giữa Hà Nội các tranh của anh với tên gọi giản dị là Nét.

Không biết những người xem tranh anh và có thể cả người tổ chức triển lãm phòng tranh tuyệt vời này nữa có biết những chuyện tôi vừa kể về một Lưu Công Nhân ở ẩn nơi miền núi xa xôi nằm gai nếm mật, nung nấu quyết tâm mở ra một hướng mới cho nghệ thuật hội họa Việt Nam.

Tháng 8/2019.

P.T.

Tháng Bảy 30, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả (kỳ 2)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:04 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 1 tháng 8 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Bước đầu học nghề báo

(Tiếp theo)

Sáng 23/1/1974, mồng một Tết Giáp Dần, mình đi một lượt thăm tất cả những ai đã cùng Vu Tuan Hungmình sống những cái Tết chiến tranh, xa gia đình. Sáng mồng hai thì đến nhà Vũ Tuấn Hùng, ngày giỗ đầu của bạn. Thắp một nén nhang trước bức ảnh treo trên tường căn buồng dạo nào hai đứa mình thường ngồi nói chuyện với nhau say sưa hàng giờ. Trong ảnh, bạn tươi cười ngồi bên hai con gà lớn, cạnh một chuồng gà nhiều tầng. Hùng cố cải tiến cách nuôi gà, không theo cách của chuyên gia Hung ga ri hướng dẫn mà gà vẫn cho trứng to, thịt nhiều. Đó là mối quan tâm duy nhất những năm cuối đời của bạn. Theo yêu cầu của mình, cô em bạn mình chưa biết tên, cố tìm cho một tấm ảnh anh cô. Đây là kỷ niệm cuối cùng mình có về Hùng. Hùng chết ngay trong bữa sáng ngồi ăn bánh chưng nhà anh chị họ ở Sơn La. Vì bệnh tim.

Cuộc đời mình cũng có thể sẽ bất ngờ chấm dứt, vì Hoang Tungbệnh thì mình nhiều hơn bạn là cái chắc. Điều này nhắc mình càng phải khẩn trương, tranh thủ thời gian mà học tập và làm việc nhiều hơn. Chiều mồng hai Tết đã đi làm buổi đầu năm. Không ai muốn vắng mặt buổi này. Vì tổng biên tập Hoàng Tùng sẽ nói chuyện, tiết lộ nhiều điều cơ mật, chỉ những vị lãnh đạo cấp cao mới biết, nhưng cần chia sẻ cho các người làm báo để biết mà định hướng cho công tác của từng người. Mình cũng dự định làm nhiều việc trong năm tới này song chưa bắt tay vào làm việc chủ yếu là viết mà chỉ nặng về học và nghiên cứu, có chăng là dịch. Có lẽ những việc này có ích hơn. Thường những hôm không đi học tối nào cũng hơn 22:00 mới từ cơ quan về nhà. Mình đọc lại tất cả những tác phẩm của Lỗ Tấn và viết về Lỗ Tấn mình sưu tầm được khá nhiều để hiểu sâu hơn tư tưởng, phong cách của nhà văn mình kính yêu nhất. Cũng tự hẹn với bản thân sẽ ghi nhật ký thật đều đặn như Lỗ Tấn, cho đến ngày cuối đời mình. Cả năm 1973 chỉ ghi có một tập mỏng. Càng nhiều sự việc xảy ra, càng ít ghi, vì mệt và lười. Ít nhất cũng ghi đều đặn như những ngày chiến tranh một mình một bóng trong căn nhà lá nhỏ bên bờ sông Hồng đêm đêm đúng 12 giờ mới bắt đầu ghi những điều suy nghĩ, chứng kiến trong ngày.

Tối thứ hai 4/2, trời lạnh mưa nhỏ, lớp học tiếng Nhật do Bộ Nông nghiệp mở vẫn do anh Lê Văn Thức dạy chỉ còn 7 người. Đã phải bàn đến việc tăng học phí và giảm thù lao. Xem ra lớp này khó thọ cũng như các lớp ngoại ngữ mở ở cơ quan thời ấy. Lớp ở nhà mình thì anh em mỗi người đi mỗi nơi, còn có mình ở Hà Nội.

Nghe nói sắp học nghị quyết 22 của Trung ương, sẽ có chuyển biến lớn. Mấy hôm nay, đều làm việc với anh Thép Mới, chiều nào cũng về muộn từ nửa giờ đến một giờ. Khi làm việc, anh chỉ biết có công việc, chìm đắm trong công việc, không biết gì đến giờ giấc. Anh thuộc loại người không có ranh giới giữa đời công và đời tư. Chính vì lẽ đó mà mình vui vẻ làm ngoài giờ với anh. Thường có người nhắc anh mới chợt chú ý là đã muộn, vội bảo mình về còn anh bao giờ cũng về sau.

Hai sáng nay đều nghe Phó tổng  biên tập Nguyễn Thành Lê nói về Nghị quyết 22. Trời đã đỡ rét.

Buổi tối, vừa về nhà, ăn vội cơm xong thì Tường Văn Thành đến chơi. Bạn cùng làm chuyên trách bổ túc văn hóa, lại trùng tên thành ra hay nói chuyện với nhau những khi cùng dự họp ở khu hay thành phố. Nhà chật, bạn bè đến mình thường đưa ra vườn hoa Canh Nông sau nhà nói chuyện. Đúng như mình dự đoán, anh chàng đang yêu, còn do dự sợ lại như mấy lần trước không đi đến đâu nên cần người tâm sự. Vẫn cái vẻ ngậm ngùi tủi thân tủi phận thế nào ấy… Anh thẳng thắn, chân thành nói hết mọi suy nghĩ với mình, đúng kiểu một con người đang đi tìm chân lý như trong tiểu thuyết Nga. Bạn vẫn sẵn sàng tìm sách tiếng Nhật ông bố để lại từ thời Trương Anh Tự còn dạy tiếng Nhật những năm 1939-40 để giúp mình.

12/2 nhận được nhuận bút của báo Lao Động đăng bài Bí quyết độc đáo (số 2568). Thế là hầu hết tiểu phẩm gửi các báo đều đăng.

Tối, Bùi Lê Nghiên công nhân bốc xếp và Nguyễn Tiến Trung thợ rèn lại chơi. Nghiên xung phong đi công tác Đông Hà lắp máy. Chú ta tiếp tục truyền thống đi Quảng Bình ngày nào. 20:30 cùng Nhàn và Đông bạn em đi xem phim Kẻ thù không đội trời chung dựng theo tác phẩm Truyện sông Đông của M. Sôlôkhốp. Cái đẹp chân chính bao giờ cũng có ở những con người chân chất, giản dị. Mình không ngờ, bạn em gái , cô Lê Thị Đông cùng đi xem phim hôm ấy là một người như vậy, sau này lại là vợ mình.

Khuya về, đọc Diễn Văn Nôben của J.P.Sartre do cô bạn nhỏ cho mượn. Mình thấy chán quá… Nào là nghệ thuật vạn năng; độc tôn… Cứ cái kiểu này thì nhiều văn nghệ sĩ sẽ kiêu ngạo, tự cho mình là đứng trên hết. Tâm tư Sartre đen tối quá, không hợp kiểu sống mình mơ ước chút nào.

*

*      *

Sáng 15/2 anh Thép Mới ốm không đến cơ quan được, bảo mình đến nhà anh ở đường Nguyễn Lai Thạch gần Lò Lợn làm việc. Hai anh em trò chuyện suốt buổi sáng về những vấn đề xung quanh nghị quyết 22, nhất là vấn đề tầm nhìn xa, con người mới, văn nghệ mới… Anh tỏ ra hài lòng. Xong việc anh bảo mình ở lại cùng nấu cơm canh uống rượu dâu với lạc rang, vừa ăn cơm vừa bàn bạc tiếp… Cỏ vẻ anh không ngờ mình hiểu anh đến thế, cũng như hiểu cách mạng xã hội chủ nghĩa và các vấn đề hiện tại của hiện thực miền Bắc đến thế.

Đang lúc trò chuyện say sưa, anh cho biết anh sẽ thay đổi cương vị công tác. Xem ra anh muốn làm tổng kết thật tốt công tác năm 1973 để lại bài học quí cho báo Nhân Dân rồi ra đi, làm công việc mà anh cho là chủ yếu  nhất trong sự nghiệp của anh: Viết cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng… Nếu tao đi, tao sẽ đem mày cùng đi… Một năm qua, tao bận quá, biết là chưa sử dụng hợp lý năng lực của mày, mày hiểu biết nhiều… Nhưng đã đến lúc phải đi sâu vào một việc rồi…

Đối với mình, thật không còn hạnh phúc nào hơn. Buổi sáng hôm ấy là buổi sáng tuyệt diệu nhất – được có người hiểu mình… Nếu như không có chuyện vợ anh về cau có, dấm dẳn, lạnh lùng… Anh thật đáng thương…

Tối chủ nhật 17/2 đi xem đấu bóng bàn Việt Nam – Trung Quốc. Có mặt các vị lãnh đạo Hoàng Văn Hoan, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Trân… Trung Quốc thắng vì vận động viên luôn luôn chủ động tấn công. Ta thắng ít mà thua nhiều vì hầu như quá chú ý đến phòng ngự… Việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa mấy ngày gần đây có lẽ cùng vì như vậy chăng…

Sáng hôm trước, trên đường đến nhà anh Thép Mới gặp cô bạn nhỏ ở đầu đường Bà Triệu.  Cô cho biết sắp đi thực tập ở Quảng Ninh cùng các bạn dự lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ. Cô rủ mình cùng đi… Rõ là tùy hứng. Lại vẫn nói là chỉ muốn đi làm công nhân. Như mọi khi, mình cười và trả lời là nếu thật lòng muốn vậy thì có khó gì đâu, dễ quá… Xem ra cô vẫn chưa biết nhìn đời một cách nghiêm chỉnh.

Anh Thép Mới vẫn ốm, nằm ở đi văng một mình, không màn, nôn mửa bừa bãi ra sàn nhà… Chị vợ cũng ở nhà, nhưng buồng bên… Anh vẫn làm việc, chuyên chú vấn đề tổng kết. Mấy hôm trước, mình có đưa anh đọc Lénine et Gorki (Lê nin và Goócki) tạp văn Lỗ Tấn anh nói đọc thích lắm.

Ngày 18/2 anh nằm võng kể cho mình hồi ở Trường Sơn tao cũng bị một trận y như thế Thep Moi chan dungnày, kéo dài suốt một tháng, không hiểu sao nó không quật tao chết… Lần đi Lào vừa rồi cũng bị hai tối. Mày xem thế mà tao vẫn làm việc, ghi chép để về viết…

Tôi nhớ một hôm anh bảo tôi liên lạc với bộ phận nghiên cứu về Lào cố tìm tư liệu cho anh. Tôi tìm được một số ca dao, tục ngữ rất hay lạ. Hôm sau, anh bảo lên xe đi với anh, đến nhà nhà nghiên cứu lịch sử Lào Nguyễn Ngọc Lương, nói chuyện rồi mượn ông bộ sơ thảo lịch sử Lào bốn tập đánh máy dầy. Anh bảo tôi ghi địa chỉ để còn trả sách. Không ngờ anh không về cơ quan như tôi tưởng mà đi ngay ra sân bay. Anh thản nhiên bảo mày đọc qua xem có chuyện gì gây hấn giữa hai nước không rồi nói cho tao biết, tao đi thì đem sách trả người ta. Chưa bao giờ tôi gặp thử thách như thế này. Ngồi trên xe đang chạy đọc đã khó, lại toàn những vấn đề lạ lẫm. Anh hay cho tôi những quả như thế. Rất vui. Nhất là khi đọc loạt bài Chị và anh bộ đội Lào của anh, thấy có đóng góp của mình.

Anh Thép Mới vào nằm bệnh viện Việt Xô từ ngày 19/2. Vẫn nôn. Tiếp xê rom mà vẫn làm việc. Hằng ngày mình vào bệnh viện đưa cho anh các bản tin của Việt Nam thông tấn xã, bàn công việc và làm những việc anh yêu cầu. Có hôm gần hết cả buổi sáng. Anh hay giữ mình lại trò chuyện, hỏi han tình hình, nói về những điều anh đang suy nghĩ… Về quyển tiểu thuyết đầu tay của Hà Khánh Linh Thúy in lần đầu ở Hà Nội, hôm trước mới đọc một nửa anh nói chỗ đứng không vững. Hôm sau đọc xong, anh bảo xoàng.

Một hôm mình đưa anh Nguyễn Địch Dũng vào thăm. Anh Thép mới nói: Mấy hôm nay, có thời giờ suy nghĩ mới thấy là 20 năm qua mình làm ăn dở, chỉ mới biết thấy từng việc mà không thấy được cả một sự nghiệp. Sức nghĩ chỉ mới được đến thế… Vì thế, mỗi người có thể làm được nhiều hơn tốt hơn, không đến nỗi như thế này.

Mấy hôm nay trở trời rõ ràng là mình bị hen rồi. Lại thêm một bệnh. Hôm nọ gặp Trần Bình Thuận, bạn cũ tổ sửa bài nhà in Nhân Dân. Thuận nói một điều khiến mình suy nghĩ: Cần viết thường xuyên, thành thói quen đi. Anh còn hỏi mình có phác thảo một cuốn tiểu thuyết nào không, mình đáp là không mà chỉ có một số ghi chép làm nguyên liệu viết sau này. Có lẽ mình thuộc loại người mà anh Thép Mới thường nói đùa là tinh anh phát tiết ra ngoài cả, trong người chẳng còn gì thì lấy gì mà viết đây. Đêm nằm cứ suy nghĩ mãi, gần sáng hay tỉnh dậy thường nghĩ đến chuyến đi Quảng Bình, muốn viết một cái gì đó cho thanh niên. Song lại mệt – bao giờ mà chẳng mệt – lại thôi, chỉ đọc một tiểu thuyết của G.Sand và V Hugo Choses vues (Những điều trông thấy)

Không ngờ, gần một tháng nay không ghi nhật ký, cũng là thời gian anh Thép Mới nằm bệnh viện hơn một tháng. Hằng ngày, mình ghé cơ quan, báo cáo anh Thọ rồi lên buồng anh Thép Mới lấy bản tin, tài liệu đưa anh xem, cũng có khi đưa một vài bài cần anh duyệt. Có khi đưa cả ngời vào gặp anh giải quyết công việc. Một lần anh Đức Thi ban thư ký vào gặp anh nói chuyện rất lâu, về đủ mọi chuyện. Hai anh đi trên đê gần bệnh viện, anh Thép Mới mặc quần áo bệnh viện có áo khoác dài ấm màu xanh nước biển. Mình đi theo sau. Rất nhiều lúc anh Đức Thi nói toàn bằng tiếng Pháp cho đó là chuyện quan trọng chắc không muốn mình nghe. Sau này về ban, mình kể lại chuyện này, các anh đều cười, vì cả ban đều biết có bài lấy ở báo Pháp cần dịch đều giao cho mình, anh Chính Yên xem lại và sửa chữa.

Anh Thép Mới vào bệnh viện đến ba tuần mới biết là bị loét hành tá tràng, hẹp môn vị và yếu tim. Bệnh viện quá đông bệnh nhân. Buồng nào cũng kê thêm giường. Người ốm nặng cũng phải về, chỉ cấp cứu mới cho vào nằm tạm phòng lưu. Cụ Phan Đăng Tài, anh Hồng Hà em anh Thép Mới đến khám xong cũng phải về nhà điều trị ngoại trú. Hồi ấy cả thế giới chưa biết bệnh dạ dày là do vi khuẩn HP gây ra, nhưng bệnh viện thấy viêm lâu quá, cứ giã mạnh kháng sinh, hóa ra lại đúng, đỡ hẳn. Anh Thép Mới cương quyết xin ra viện, theo chế độ nội trú tại nhà (!) Một sáng anh đi dạo với mình đến một phố nhỏ, thấy có hàng phở treo một tảng thịt bò ngon. Anh hỏi mình có thích ăn phở không rồi hai anh em vào quán nhỏ ăn bát phở do anh đích thân chỉ chủ hiệu cắt miếng thịt chỗ nào, nhúng hành ra sao. Ăn xong, có vẻ mãn nguyện, anh bảo chủ quán tính tiền. Lúc ấy anh mới nhớ ra là mặc quần áo bệnh viện, làm gì có tiền. Anh nói nhỏ mày có tiền không, tôi lấy tiền ra trả, hôm sau đến viện đón anh về nhà, việc đầu tiên gặp tôi là anh trả tiền cả hai bát phở vì anh mời tôi ăn mà.

Thep moi va Ton That Thanh

Đón anh về nhà đường Nguyễn Lai Thạch, sáng sáng tôi lại đến đó làm việc với anh. Một tháng nay, mình hầu như không ghi nhật ký vì quá bận. Nhưng có thể nói mình đã hiểu anh, và qua anh đã hiểu cách mạng, hiểu đời nhiều hơn. Anh thật tốt bụng, yêu con người và hiến dâng cả cuộc đời cho nhân dân, cho cách mạng. Chưa khi nào anh nói tới những lợi ích riêng tư, cũng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để kiếm cái gì cho bản thân cả.

Tháng 3/1974, Hà Ninh em trai anh chuẩn bị đi B. Anh bảo tôi về phòng làm việc của anh mở ngăn kéo thứ hai lấy cái phong bì anh để tiền nhuận bút đi mua quà cho em anh, còn anh thì sẽ tặng cái túi có nắp dán thời ấy rất hiếm. Tôi mua cho Ninh một cái sơ mi màu hạt dẻ mỏng và bền vải Nhật. Anh đưa Ninh đến nhà anh Nguyễn Tự quay phim quân đội bạn anh ở đường Trần Hưng Đạo để anh ấy góp ý kiến kinh nghiệm đi B làm công tác vì tôi không có thực tế, tôi phải tìm thầy cho ông đấy. Anh vui vẻ bảo Ninh vậy. Hôm đó, tại nhà anh Tự, anh nói theo cái cách hài hước và sỗ quen thuộc khi nói với người thân về các vấn đề quan trọng, anh dặn Ninh: Ít nhất vào đấy cũng phải cố mà hiểu cho được hai điều này: Độc lập tự do là khó nhằn, cách mạng là khó nhằn, mà không thể nào làm khác được. Và thứ hai là: con người ta thật là nhiều vẻ, phức tạp.

Những lời nói kiểu như thế mình nghe hằng ngày. Chân tình mà sâu sắc. Ngoài ra còn rất nhiều những ý kiến, kinh nghiệm về nghề báo, văn học nghệ thuật, con người, nhất là giới trí thức nước ta. Mình cố gắng ghi lại càng nhiều càng tốt, xem đó là bài học của một người học nghề thành thật.

Từ ngày bắt đầu vào đội bán báo anh Thép Mới đã có những cảnh báo cho chúng tôi mà tôi nhớ đến suốt đời. Anh bảo tao biết tất cả chúng mày ở đây, mỗi đứa đều là một ông Trời-Vĩ –Đại trong cái vòm trời nhỏ vỏ trứng của mình. Hoặc muốn làm nhà báo thì từ khi bước vào nghề này phải biết là nhà báo chỉ chết vì cái danh, sau đó là gái đẹp và cuối cùng là tiền bạc. Tránh được ba cái đó mới làm người viết báo được. Chúng mày phải biết quí cái thời gian mình chưa nổi tiếng. Khi ấy mình sống thoải mái, hòa đồng với mọi người, dễ biết được sự thật dễ nghe được những lời nói thật. Còn khi mày nổi tiếng rồi thì người ta chỉ trỏ, khâm phục mày, nhưng không xem mày là người của họ nữa. Họ thường cảnh giác mỗi khi gặp mày, dè chừng với mày, nói năng cũng thận trọng hơn hành động cũng cân nhắc hơn khác hẳn khi họ ở giữa bạn bè, người thân. Vì thế, lấy bút danh là hơn ngay trước mặt mày họ có thể chê bai bài mày viết thoải mái, thành thật. Tất nhiên, khi bị lộ rồi, lại khác.

Hơn một tháng nay, Hà Nội lại thiếu điện, cắt điện khoảng nửa tuần. Mì sợi ăn hằng ngày mua rất khó. Nghe nói tháng sau sẽ không có dầu hỏa và tỷ lệ bột mì trong lương thực cũng tăng lên 70% mà không cung cấp mì sợi hay bánh mi vì thiếu chất đốt. Thành phố xôn xao. Những việc này tưởng như nhỏ nhưng đụng chạm đến bếp ăn các gia đình. Đúng là cách mạng là khó nhằn, độc lập tự do là khó nhằn, nhất là độc lập tự do về kinh tế nhưng không thể làm khác được. Quả có thế… Thắng lợi hạnh phúc đâu có từ trên trời rơi xuống…

Từ ngày 4/4 đến 7/4 đi với anh Thép Mới. Ở Nam Định, có thăm đền Nhà Trần và chùa Tháp. Đến Thanh Hóa, có ra hòn Độc Cước ở Sầm Sơn chơi với các anh Trợ, Hiệp ở báo Tue QuynhThanh Hóa và anh Thắng phụ trách chăn nuôi của tỉnh là bạn anh Thép Mới. Tại đây, lần duy nhất trong đời mình ảnh chụp anh Thép Mới có mặt mình (áo ca rô). Sau này, họ gửi về cơ quan hai tấm ảnh. Anh Thép Mới xem rồi đưa mình cả hai. Anh ít giữ những vật kỷ niệm lắm. Hồi chi đoàn báo Nhân Dân do chị Vũ Tuệ Quỳnh làm bí thư tổ chức thi đua, có báo với anh, anh cho ngay cái huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên duy nhất anh có để làm giải thưởng. Anh chỉ cốt làm việc thôi. Hơn 500km, một chuyến đi rất thú vị, anh em hiểu nhau càng thương nhau hơn. Từ nay về sau, những năm còn sống và làm việc anh đều có ý muốn mình luôn ở bên anh. Sau kênh Nhà Lê ở Thanh Hóa anh chia tay đi với Tướng Đinh Đức Thiện cha đẻ con đường Trường Sơn, bắt đầu viết về con đường huyền thoại này.

Chuyến đi này là chấm dứt 18 năm anh sống không thật là mình vì lỡ lấy phải cô vợ xinh xắn nhưng độc ác hiếu thắng đến ngông cuồng… Chị dâu tôi là học sinh miền Nam tập kết, đỗ ngành kiến trúc khóa I vào Đại học Bách Khoa ở nội trú cùng cô này. Có lần chị hỏi vì sao lại lấy ông Thép Mới. Cô cười đáp ngay không do dự: Vì anh ấy là Thép Mới, nhà báo nổi tiếng ai cũng khâm phục yêu mến.

Hồi cưới, anh em công nhân nhà in hỏi tôi đêm tân hôn thế nào mày, có phải làm cái giá đỡ ông ấy không, kẻo ông ấy đè chết bà ấy bé xíu.

Hồi ở số 10 Trần Quốc Toản năm chúng tôi mới đi bán báo còn thấy vợ chồng anh gọi nhau là cậu cậu, tớ tớ cùng làm cơm, cùng rửa bát. Đến khi về đường Nguyễn Lai Thạch tôi đi làm ở Cảng rồi thì thường trên đường về buổi trưa hay gặp anh mướt mồ hôi đạp cái xe tróc sơn, tay vừa cầm ghi đông vừa xách một cặp lồng mấy tầng. Sau về báo mới biết là anh đưa toàn bộ sổ cung cấp cho nhà bố mẹ vợ ở đường Đặng Tất tận phía bắc thành phố để trên ấy nấu nướng đến giờ làm về là lên lấy đem về phía nam thành phố hai vợ chồng ăn. Buổi trưa ăn ngay vì còn nóng, chiều thì hâm lại trong một buồng kho nhỏ nay dùng làm bếp. Có lần tôi có việc tòa soạn nhắn phải đến anh vào buổi chiều. Đến căn hộ của anh, nghe tiếng dao băm vào thớt, bèn gõ cửa buồng kho thì ra anh đang mặc áo ba lỗ quần đùi xanh làm món ăn trong đó. Tôi còn nghe người thân anh kể chuyện chị ta có tối lên cơn bực chuyện gì đó, lấy chổi đánh anh, rồi cầm cán chổi giải anh theo cầu thang nhỏ lên sân thượng nhốt anh vào cái buồng con đựng đồ vặt. Anh thủ sẵn một cuốn sách, bật đèn lên đọc, thì chị ta đứng ngoài phát hiện, tắt ngay. Có lần anh về muộn, đem theo một bộ com lê cơ quan cho may đo để chuẩn bị đi nước ngoài công tác, chị ta lấy kéo cắt nát ra. Người nhà và người ngoài đều chê anh nể vợ quá. Anh thì biết lỗi ở mình nên không phản kháng gì, chỉ tránh và cuối cùng là trốn chạy. Sau cách mạng Tháng Tám thành công, về Hà Nội anh bị một sự cố y khoa mất khả năng giao hợp. Các hành động tàn ác chị ta làm là để trả thù anh thôi. Chị đã sống với anh ở Hà Nội, đã vào cả chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, nhưng đến nay chị chịu hết nổi mặc dù anh vẫn thương yêu chị. Hồi chạy trốn tá túc ở nhà một người bạn anh còn bảo tôi cố đến nhà anh xin chị cho mang cái tượng pha lê đục cao độ 40cm tạc hình Đức Bà Maria giống hệt chị anh mua khi sang Cu ba.

Chuyến đi này là mở đầu cho một giai đoạn mới của đời anh, nhà báo và chủ yếu là nhà văn Thép Mới. Anh dự định sẽ dành tất cả những năm cuối đời để làm một tác phẩm văn học lớn – kiểu mới, có tính chất tự truyện, ít nhất gồm có bốn phần phù hợp với bốn giai đoạn cách mạng nước ta. Từ trước cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp, rồi hòa bình ở miền Bắc, chống Mỹ cứu nước. Đề cập hầu như đến mọi tầng lớp xã hội. Bối cảnh, địa bàn hầu khắp cả nước ta, có cả một số ở nước ngoài.

Vụ li dị anh đã chủ động đặt ra từ ngày 27/3/1974 vì quyền lợi của người phụ nữ, nhưng đến nay vẫn chưa xong. Về tinh thần, anh đã được tự do như vừa giải phẫu xong một khối u ác tính bấy lâu cản bước anh tiến lên. Mình cũng chuẩn bị cho những năm tháng hoạt động hăng say, hào hứng hết mình theo con đường đã chọn. Mình đang mong anh về.

*

*        *

Mới đây, gặp anh Đào Anh Kha. Anh vừa hoàn thành trường ca Hồ Chí Minh sự thật truyền kỳ. Cùng nhau trò chuyện về thơ, văn nghệ rồiDao Anh Kha về thế sự một lát bỗng anh nheo mắt, chăm chú nhìn mình nói với vẻ suy nghĩ: Ông phải viết đi ông Thành ạ. Ông giàu chất liệu tiểu thuyết lắm. Ông nhìn thấy những cái mà người thường không nhận ra được. Đó là một khả năng hiếm có lắm…

Mình nghe mà nghĩ là có lẽ vì hay nhìn ra những cái như thế mà khó sống quá, ít được người hiểu.

Anh Đào Anh Kha trước đây từng ở ban văn nghệ báo Nhân Dân. Mình từng đọc bài anh viết bình luận bộ phim Án mạng phố Đăngtơ của Liên Xô và rất mến phục. Nay nhờ tham gia hội Esperanto gặp lại anh, không ngờ nhà anh lại không xa nhà mình, đi bộ độ 15 phút là đến. Mình thường đến nhà anh chơi. Một tối cây hoa quỳnh nhỏ nhà mình sắp ra hoa, những 13 nụ. Mình đến mời anh tối đến cùng ngắm hoa thì anh cười: Chính tôi mới phải mời ông chứ, ra đây tôi cho xem vườn quỳnh của tôi, tối nay sẽ nở những 65 bông. Tối ấy anh bắc ghế, mắc đèn ra sân gần cái hầm to trên đắp đất dầy, chính là vườn quỳnh của anh. Có sôcôla, thuốc lá thơm và trà ngon. Mình được ngồi chung với các bạn anh thuộc giới văn nghệ. Một hôm anh ghé nhà báo trưa mai chủ nhật ở trường sư phạm có diễn vở Vòng phấn Cáp ca diễn theo đúng kiểu B Bretch. Rồi hôm sau hai anh em đạp xe giữa trưa nắng hơn 10km đến trường nọ. Lần đầu mình được xem và mê ngay kịch B.Bretch. Mình học hỏi được nhiều ở anh. Anh cũng có vẻ mến mình.

Sáng hôm sau, gặp Đinh Bá Đào. Cậu ta nói: Thật tôi không ngờ là ông không viết gì mà cũng không có dự kiến viết gì cả. Tôi cứ nghĩ ít ra ông cũng phải có một phác thảo tiểu thuyết… Đến tôi mà còn viết được nữa là… Mình chống chế là cũng định sửa tính lười cố hữu bằng cách bắt đầu bằng dịch thì lập tức bị phản đối ngay: không dịch gì cả. Phải viết thôi. Tôi và anh em ai cũng tin là ông viết được.

Đúng là ai ai cũng nghi ngờ mình và cực lực phản đối việc mình không chịu viết. Phải sửa thật thôi. Có điều là hễ cứ định hăng hái lên là lại xuất hiện một bệnh mới, càng ngày càng mệt mỏi, triệu chứng đau tim lộ rất rõ, nhiều lúc mệt đến không nói nên lời… Các bạn mình như Hà Khánh Linh, cô bạn nhỏ đã có nhiều tác phẩm, có cả tác phẩm tốt nữa. Còn mình thật thảm hại. Đến một dòng nhật ký mình viết chỉ để mình xem mà cũng còn ngại không muốn viết nữa. Hơn bốn tháng trời không viết nổi mười trang nhật ký rỗng tuếch như thế này. Nghiêm trọng lắm rồi: Mất thói quen lao động nghệ thuật rồi.

Nhận được cái thiếp của anh Thép Mới, sáng 8/5 mình đã về đến Nam Định nhà bà mẹ anh (Số 102 Trần Hưng Đạo). Cho đến khuya chỉ trò chuyện với anh về công việc, đời tư… Anh sôi nổi kể về chuyến đi vùng giải phóng Lào Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng và đặc biệt là Đại lộ Hồ Chí Minh trên đỉnh Trường Sơn, về con người vị tướng Đinh Đức Thiện cha đẻ của con đường kỳ lạ này… Hóa ra anh chỉ cần có người chia sẻ tâm sự, cùng anh suy nghĩ như anh thường nói.

19:00 10/5 mình và anh Mạnh Hồng em rể anh Thép Mới ra tàu hỏa về Hà Nội. Trên tàu, gặp một chú bé 15 tuổi người Xuân Hùng (Nam Định). Mắt rất buồn thiếu ngủ. Bỏ nhà ra đi đã hơn một tháng, lên tận Bắc Cạn. Hoàn toàn sống tự lập. Mất bố năm lên ba, mất mẹ năm lên bảy, ở với cậu có đến bảy đứa con. Chỉ mong đi làm công nhân. Tên em rất lạ Lê Văn Biển. Một nội tâm phong phú… Gặp là chú mến mình ngay, suốt đường cứ ngả vào tay mình mà ngủ ngon lành, tin cậy. Mình sẽ khó quên chú bé này. Tin là em sẽ nên người.

*

*      *

Về đến nhà là cả ngày hôm sau cùng ông em rể chí cốt Long lợp mái nhà trong một phần sân trên gác, thêm được một chút diện tích sinh tồn. Từ nay, ở nhà cũng có thể làm việc được. Không làm được gì thì chỉ là vì lười, chẳng còn lý do chính đáng nào hết. Thần kinh tọa lại giở quẻ đau âm ỉ. Lại uống rượu rắn, lại tiếp tục học tiếng Nhật

Tối thứ hai 13/5, mệt, phải bỏ học tiếng Nhật.  Ngủ li bì, rất đau vùng bụng, chưa rõ nguyên nhân.

Công việc chung ở cơ quan trì trệ, anh em chơi nhiều. Chỗ nào cũng tụ tập bàn tán. Báo liên tiếp có sai sót, cả về chính trị lẫn kỹ thuật. có phải ai cũng lo làm cho tờ báo hay đâu. Họ còn đang chờ đợi một cái gì đó mơ hồ sắp xảy ra… Đang khi ấy, buổi sáng cơ quan công bố thuyên chuyển cán bộ. Anh Nguyễn Thọ họa sĩ lên phòng thư ký để dùng bút bi chữa bài, không vẽ nữa. Phòng văn hóa không có người phụ trách. Một anh mới về cơ quan được giao một chức vụ mà anh Hữu Thọ ban nông nghiệp nói là về cơ bản là vô nghĩa. Tình hình rất căng, đòi hỏi một thay đổi lớn. Anh em ban văn hóa văn nghệ cũ mong anh Thép Mới về. Ở nhà mình, mẹ vẫn ốm, cháu Hà vẫn sốt 39 độ.

Giữa tháng 5, y tế cơ quan xác nhận mình đau vùng gan. Lại têtaxilin… Tối mệt, chơi cờ với cháu Hải rồi đọc bản tin. Bắt đầu có tin Chu Ân Lai yếu, Đặng Tiểu Bình mới được phục hồi đã lại lên như diều, hung hăng lắm…

Vừa mưa một trận, trời dịu hẳn đi. Tiếc là mệt, không làm việc được. Tối hôm sau, đi xem Ga Biêlôrútxia, kể chuyện những người bạn chiến đấu cũ gặp nhau. Thấm thía sâu xa: Cái đẹp thật sự là cái giản dị. Tất nhiên cũng là cái đẹp chân chất, cao cả trong sáng xem mà thấy dường như làm gì có phim, có diễn viên, đạo diễn… mà chỉ là cuộc sống thật, một mảng của cuộc sống thật cô đặc lại mà thôi. Bỗng nhớ các bạn quá chừng, những người nhớ nhất lại là những người chưa thể nào gặp được hoặc không bao giờ còn gặp được như Tấn, Chỉ, Hùng, Lý,… Lại vùi đầu vào học tiếng Nhật.

Tối 22/5 nằm đọc sách vô tình cứ phải nghe mẹ và em trai trò chuyện ngay tại ban công sát cửa sổ đầu giường. Em ca ngợi những người trí thức cũ là phụ huynh học sinh của em, cảm thấy rất thích thú được tiếp xúc với họ, những người lịch sự, thanh nhã, hiểu biết. Mẹ cũng tán thưởng những cảm xúc của em. Mười mấy năm nay, mình đã nghe em nói như thế, kể cả thời gian em còn ở Đông Anh ngoại thành Hà Nội, sống giữa lòng nhân dân lao động. Thật đáng buồn là em ít thay đổi quá. Anh em cùng mẹ cùng cha sống bao năm dưới cùng một mái nhà mà sao thấy em thật xa lạ. Mình chợt nhớ một trưa mẹ đưa cho xem một trang báo bảo có đăng ảnh em trai đang dạy học. Mình đã đọc tờ báo này nên chỉ mẹ xem ở trang 4 có đăng tin các giáo viên được giải thưởng của Bộ Giáo dục, trong đó có mình chuyên trách bổ túc văn hóa ở Cảng Sông Hà Nội làm thiết bị chiếu hình phục vụ giảng dạy. Anh em mình thật khác nhau. Một nổi bật, một chìm trong bóng tối.

Trưa 23 đi làm về, sau khi đón cháu Hải ở nhà trẻ, ghé xe đạp vào hè mua tờ báo tình cờ gặp cô Hằng con gái bác Thông. Cậu em đã về nhà, suýt chết mấy lần rồi. Tôi vội cùng cháu Hải lên nhà thăm. Ông nằm trên giường mặc cái áo ba lỗ sọc xanh, quần vải trắng. Đôi mắt nhắm nghiền, sâu hoắm, thâm quầng. Thái dương hai bên hóp lõm lại. Gò má nhô cao kì dị. Tay chân khẳng khiu xanh nhợt. Bà mẹ phúc hậu và một bà em ngồi cạnh luôn phảy quạt, đắp nước lên trán, thấm mồ hôi. Người ốm kêu nóng, đòi nằm nghiêng, chườm nước đá. Ung thư di căn, gia đình đã cho ra viện được khoảng nửa tháng nay. Ngay sau lần cuối mình vào thăm trước khi đi công tác. Lần ấy còn ra ghế đá nói chuyện với nhau. Bác rất vui kể chuyện được chính bác sĩ Tôn Thất Tùng đến khám và bác sĩ Tùng chê các bác sĩ điều trị là dở, người ta đã đau yếu cơ thể suy nhược còn cứ cấm ăn thứ này, thứ nọ, tốt nhất là cho họ ăn cái họ thích uống thứ họ muốn, như thế mới mong khá được chứ. Bác bao giờ cũng ngây thơ tin người như thế. Lần ấy tôi cũng gặp nhà văn Hữu Mai vào thăm ông anh. Nhân nói chuyện Duong Ho Chi Minh sang dinh truong sonanh Nguyễn Khải đăng trên báo Nhân Dân loạt bài Nếp sống nếp nghĩ đang gây xôn xao dư luận, anh Mai cười anh em văn nghệ người ta bảo ông ấy ngửa mặt lên trời mà nhổ nước bọt.

Lần ấy, bác Thông còn bảo mình mang tạp chí Tác phẩm mới cho bác đọc. Không ngờ suy sụp quá nhanh. Bác năm nay 53 tuổi mà đến cuối đời vẫn ngây thơ, luôn ngạc nhiên ngơ ngác trước mọi biến chuyển của cuộc đời, sự biến đổi của những người xung quanh và bao giờ cũng cam chịu khi tai họa xảy ra với mình. Bác chân thành quí mến song chưa khi nào tán thành lối nghĩ cách sống cũng như mọi quyết định của mình. Bác là con người mơ mộng, suy tư chứ chưa bao giờ là con người hành động. Cái chết đến vào lúc bác chưa biết nên sống như thế nào nhưng đã không còn muốn sống như những năm trước nữa. Thật tiếc thay cho một đời người lương thiện.

Cần bắt tay vào làm ngay những việc định làm. Ai biết được cái chết sẽ đến với mình lúc nào. Càng ngày càng thêm nhiều bệnh. Mà hoàn cảnh kinh tế gia đình thì…

Anh Thép Mới đã về từ 15/5. Đường Hồ Chí Minh sáng đỉnh Trường Sơn của anh đã đăng năm kỳ. Mọi tiếng xì xào về anh câm bặt. Việc ly hôn còn phải tiếp tục giải quyết. Song anh đã thật sự tự do về mặt tinh thần rồi. Anh luôn làm việc hào hứng say mê. Anh viết rất nhanh, đúng như anh thường nói tao vừa lia xong bài này, mày xem có được không. Ai cũng bảo văn anh hay, xúc tích lại bay bổng. Nhưng có xem anh viết bài mới thấy thật là một việc làm khổ sai, trời bắt tội. Sau khi lia thật nhanh xong bài viết anh bắt đầu chữa, thêm, bớt, đảo câu, đảo chữ, sửa mãi chừng nào còn có thời giờ. Những bài đã đăng, sau có ai đăng lại, anh lại sửa chữa rồi mới để đăng

Bác Trần Hữu Thông mất sáng 23/5/1974, tại nhà riêng 43 phố Hàng Bạc.Tôi đạp xe đến ngay Cảng. Thư ký công đoàn Hoàng Văn Bảo nói ngay: Thế là tớ mất hơn trăm bạc. Ông ấy bán cái xe cho mình, tiền nong chưa xong. Tôi nản quá, ra ngay sân báo tin cho anh em công nhân. Ai cũng thương bác ấy hiền lành, giận cách đối xử của Cảng với bác… Hôm sau đưa đám mình có nhắn một số anh em cùng đi.

Sáu giờ sáng đưa đám bác Thông. Sớm quá, cho nên một số anh em có lòng ở Thanh Trì không lên kịp. Xe tang đến Thủy Tạ thì trời đổ mưa lớn. Huyệt thế nào cũng ngập nước. Đến tận lúc nằm xuống đất bác cũng chẳng gặp may. Mình về tòa soạn gửi xe đạp, chạy thật nhanh ra xe tang nhưng không kịp, xe đã chuyển bánh đi khá xa. Ân hận là không đưa được bác đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Ít người thương yêu mình như bác.

Độ một giờ sau thì mưa tạnh, nắng gắt. Chẳng khác gì đời bác Thông, khi Cảng biết quan tâm đến thì bác đã qua đời.

Tối nay, lớp học tiếng Nhật lại hoãn, mình tìm đến nhà chú Cường thợ nguội ông Tá công đoàn và bác Tuân phó giám đốc cũ của Cảng định trò chuyện về bác Thông. Nhưng cả ba đều vắng nhà. Đành về, ngồi một mình trên giường viết mấy dòng. Trời nóng. Oi. Không một ngọn gió.

*

*       *

Một tháng qua, chỉ lo làm nhà, lợp thêm một cái mái tranh để có chốn “dung thân”. Chú thợ rèn Trung đã sáng kiến lấy sắt phế thải của xưởng cơ khí làm cho một cái bàn sắt nhỏ, đặt trên giường mà viết được thoải mái. Từ khi có bàn, chưa viết được chữ nào nhưng đọc sách đặt trên bàn ấy cũng rất thoải mái.

Ngày 26/6 đã đi chụp dạ dày. Cậu Phạm Khuê nghi bị loét thượng vị. Mình cũng muốn thanh toán cho xong bệnh tật rồi mới yên chí đi vào làm ăn: Viết thật nhiều, viết tất cả những gì đã nghĩ ra, đã định viết, muốn ra cái gì thì ra. Viết xong cứ để đấy đã, chưa nghĩ gì đến việc ra mắt người đời, chỉ lưu hành nội bộ gia đình, bạn bè. Nhiều truyện nhỏ mình viết rồi gửi cho lũ bạn đi bộ đội, thay vì viết thư, các bạn thích lắm bảo cả đơn vị mong thư có truyện Hà Nội của mình.

Đầu tháng 7 có chuyện gay go với giới báo chí văn nghệ. Ban tuyên huấn phê bình tám bài văn thơ đăng trên các báo Thanh Niên, Thiếu Niên, Tạp chí Tác phẩm mới, Văn Nghệ, Văn hóa nghệ thuật, cả báo Nhân Dân. Tô Hoài, Phạm Tiến Duật, Vũ Tú Nam, Lệ Đình Kỵ cũng bị phê bình. Ở báo Nhân Dân là bàiNha van Nguyen Khai của Nguyễn Khải Chúng ta chăm sóc những tài năng! Bài này, đọc xong bản thảo mình đã thấy nặng nề quá và sợ bị hiểu lầm nên đã gợi ý anh Thép Mới nên xem lại kỹ. Song không dám gạt vì sợ anh cho là hẹp hòi, bảo hoàng hơn cả nhà vua… Nay nghĩ lại, cảm thấy ân hận quá. Ông Hoàng Tùng đã tự phê bình là khi duyệt xem không kỹ thì tất nhiên anh Thép Mới cũng phải chịu phần trách nhiệm không nhỏ. Anh Nguyễn Khải rõ ràng là sẽ bị kiểm thảo thôi. Mình lo nhất là sẽ mất đi-hay chí ít cũng làm nhụt đi cái nhuệ khí của một nhà văn dũng cảm nhập cuộc, lại giàu tài năng…

Từ nay, mục Nếu sống nếp nghĩ do anh Thép Mới khởi xướng, anh Nguyễn Khải viết đăng đều kỳ trên báo Nhân Dân mỗi chủ nhật sẽ ngừng hẳn. Bọn hèn nhát, chuyên sống ở khoảng giữa tha hồ gièm pha, lên mặt dạy đời, trốn trách nhiệm. Vừa qua đã nghe người trong ban văn nghệ nói rồi: Tôi đã bảo từ đầu mà, không nên nêu tên Nguyễn Khải, càng không nên để một mình anh ta viết. Cái mục Nếp sống nếp nghĩ này cũng một mình ông Thép Mới đặt ra thôi, có bàn bạc với ai đâu. Đáng lẽ ra phải… Mình lợm giọng quá. Mới hôm nào biết bộ chính trị khen mấy bài của Nguyễn Khải chính người này đã hùa vào khen hào hứng sắc xảo biết bao.

Thứ tư 23/10/1974, cùng em Thân đi xem biểu diễn nhạc giao hưởng. Ăn mừng là rất Tran Dinhđúng: Đầu trang 3 báo Nhân Dân có đăng một bài hơn 1000 chữ ký tên Nguyễn Trung. Nhớ 15 năm trước, vô cớ mình phải lủi thủi ra đi. Hôm nay, Nguyễn Trung ra mắt bạn đọc. Đây là trận đầu. Cả viết và chép chưa mất đến nửa ngày. Chưa phải đã cố làm cho thật tốt. Các bài sau sẽ cẩn thận hơn, viết kỹ càng hơn để có chất lượng cao. Bài này viết xong, mình đưa anh Trần Đĩnh chữa. Anh làm bài nhẹ nhàng dễ đọc hơn. Lúc vui chuyện anh Đĩnh kể hồi học trường Thăng Long (Ngõ Trạm) ai cũng sợ thầy Bình – là bố tôi – dạy Pháp văn vì rất nghiêm. Nên khi thầy giảng thơ Vích to Huy gô thầy vừa đọc thơ vừa nghẹn ngào rơi nước mắt thì lạ lắm.

Đầu tháng 11, đọc tập kịch của Sếchxpia, thấy muốn ghi lại mấy dòng này trong lời giới thiệu của Nguyễn Nam. Có lẽ là do tâm trạng hiện nay: Dù ở những lúc đen tối nhất của cuộc đời, Sếchxpia vẫn giữ được lòng tin ở con người và ở tương lai của xã hội. Về mặt sự nghiệp, những con người tốt có thể thất bại, nhưng về mặt đạo đức, họ vẫn thắng, và chiến thắng của tư tưởng bao giờ cũng là điều bảo đảm cho một chiến thắng về hành động sau này…

*

*      *

Giữa tháng 11/1974, nhận được thư Đào Văn Thùy gửi từ Quảng Trị. Em báo tin mừng: Xe tăng mai phục bấy lâu, nhiều khi phải vùi dưới cát, đã sắp xuất trận. Ngày toàn thắng sắp đến rồi. Mừng nữa là chú em đã chăm học thay đổi hẳn nếp sống có phần buông thả xưa kia, cùng cả đơn vị sống có trách nhiệm, nền nếp hẳn lên.

Tối hôm trước, xem lại một số bài viết và giấy tờ ghi hồi học Học Viện Nông Lâm và trong chuyến đi Quảng Bình…cảm thấy tất cả những mảnh thực tế vụn vặt ấy dường như đã tạo nên con người mình như ngày nay. Nếu xâu chuỗi tất cả lại một cách hợp lý có thể hiện rõ lên một hình tượng nào đó của một thời chăng. Nhưng, chỉ là vật liệu, tư liệu, cứ để đấy đã. Chưa đến lúc dùng, sợ phí đi.

Cuối tháng 11/1974, đã đọc xong Cây thập tự thứ bảy của A.Dêgớc. Phục nhất là bà đã viết tác phẩm này vào năm 1939 khi đại chiến thế giới thứ II mới bắt đầu.  Lại đọc Trại ST 18 của Phan Tứ (Lê Khâm). Viết khá quá, chắc tay lắm rồi. Chỉ còn hai thiếu sót nhỏ về ngôn ngữ và cách thể hiện. Cũng đọc Đất Làng của Nguyễn Ngọc Tú. Đọc để biết hơn là bị lôi cuốn, nhiều phần rời hẳn ra khỏi mạch truyện, có lẽ là do được góp ý khi xét duyệt mới thêm vào cho lọt cửa. Mình suy nghĩ nhiều về những điều muốn viết, cứ viết ra giấy cái đã… Hằng ngày, cố tập luyện yoga theo sách, được một tháng rồi, cảm thấy dễ chịu trong người hơn trước nhiều.

Một tối cuối tháng 11, anh bạn mê thơ lại đi bộ đội từng chiến đấu và bị thương ở Lào nay xuất ngũ làm thợ điện đến nhà chơi. Cậu ta hỏi tình hình vì cho là mình ở báo thì biết nhiều tin tức mới hơn. Nghe xong, cậu ta, người mình vẫn yêu mến tin cậy, nói một câu làm mình nản quá: Đánh to ở trong ấy thì cũng được thôi. Tôi ngại là ngại nó lại ném bom ngoài này thì gay… Mình buồn vì hiện nay không ít người suy nghĩ như thế…

Chủ nhật đầu tháng 12, theo lệ đi họp Esperanto. Lúc về, anh Bùi Hạnh Cẩn ở Hội Nhà báo, bạn anh Thép Mới bảo: tôi tin là ít nhất đến năm 1980 anh cũng sẽ có thêm hai ngữ nữa. Nói không phải là để động viên đâu. Thế tất nó phải thế. Thanh  niên mà không có một cái gì tốt để mà say mê miệt mài là sẽ hỏng… Vả lại, với anh trí thức, anh làm báo thì ngoại ngữ là cần quá đi chứ…

Sau đó, tôi đến nhà cô bạn nhỏ. Cô sắp đi B một thời gian. Trông có vẻ khỏe ra, dịu dàng hơn và một điểm đáng mừng là bắt đầu say mê Lỗ Tấn. Con người có vẻ đi vào ổn định hơn, đi vào chiều sâu. Còn khá hơn mình là liên tiếp viết. Và đi.

Chủ nhật 8/12/1974 cả ngày gặm sách. Đọc hết những cuốn cô bạn nhỏ cho mượn như  Mitsurin (của Dovjenko), kịch bản Những nhà vật lý (của Phêđơrich Đuyrenmát) tập thơ Gửi người mai sau cô bạn muốn mình đọc bài Đêm cuối cùng của Bagơrítxki, nhưng mình thì lại thích toàn bộ những bài thơ của B.Bretch in trong này hơn. Đó là Gửi những người mai sau, Cái mặt nạ một tên độc ác, Ca ngợi người cách mạng, 1940, Bài ca chiếc guồng nước và dòng nước, Vợ người lính  nhận được gì. Đây chắc là của các anh bên hội cho mượn.

Tối 13/12 nhật ký ghi: Mấy hôm nay, dịch xong Sourvenirs sur Babel (Hồi ức về Ba ben) của Pautốpxki, hiện đang đánh máy thành ba bản. Một cho cô bạn nhỏ, coi như quà tiễn người đi B, một gửi Hà Khánh Linh, chắc Linh sẽ dễ tiếp nhận.

Càng đọc về Baben, càng muốn viết, như một cái nghiệp, một món nợ phải trả. Từ nay, mọi buổi tối đều dành cho nghệ thuật. Anh Trần Đĩnh cho biết thêm về sau Baben bị tình nghi rồi chết trong trại tập trung thời Stalin.

Dao Van Thuy va vo

Hôm sau lại nhận được thư Thùy. Anh em mình càng xa nhau lại càng gần nhau. Thùy còn nhờ mình viết thư cho vợ cậu ta là Tường, góp ý về học văn hóa. Anh chàng vô tư nay đã thấy cần suy nghĩ rồi. Có lần đi công tác Nam Định, Thep moi o Deo Hai Vanmình đã đến nhà máy dệt nơi vợ Thùy đang học nghề. Anh em gặp nhau mừng quá, dù anh chỉ cho em một gói kẹo thôi. Sau này em còn thường viết thư cho mình, tất nhiên nhận thư là có thư trả lời. Tường bé nhỏ, bẽn lẽn hôm mới cưới xong chồng đưa ra Hà Nội chụp ảnh và giới thiệu với ông anh kết nghĩa. Thùy tự nhiên nói cô ấy bé thế mà làm em mệt hơn cả lái xe tăng đấy anh ạ làm Tường xấu hổ quá, cứ che mặt.

Anh Thép Mới vừa đi Quảng Trị về. Hoàn cảnh riêng đâu khổ, sức khỏe cũng giảm sút vì vừa lên một cơn đau nặng ở Hà Tĩnh vậy mà thấy anh vui tươi hào hứng kể lại những gì đã thấy, đã nghe trong mấy ngày qua.

Sáng chủ nhật 15/12 đến 11 Ngô Văn Sở định nhờ gửi chuyển cho cô bạn tập bản dịch bài viết về Baben rồi đến nhà Linh. Không ngờ cô đi công tác vừa về, còn ngủ nướng, mới ra khỏi chăn… Một cuộc trò chuyện kỳ lạ. Lần đầu tiên chúng mình nói với nhau về những vấn đề cơ bản nhất như quan niệm sống và sáng tác nghệ thuật, những việc đã làm, đang làm và sẽ làm. Những điều lý luận cao xa nhất đều được nói lên một cách cụ thể nhất, vận vào thân từng người. Nổi bật nhất là sự tin cậy lẫn nhau đưa đến sự thẳng thắn chưa từng có. Cô cho xem ảnh hồi bé mới năm tuổi.

Chỉ có hai chị em, cô ấy làm cô giáo ở Thanh Hóa. Sống sung sướng đầy đủ đến năm bốn tuổi. Từ 1954 cải cách ruộng đất gia đình tan tác. Tất cả đều ra Hà Nội, không ai muốn về quê, dù ở đấy vẫn còn một bà cô. Cảm thấy như không có thời thơ ấu. Nghe bạn kể, mình càng xót xa thương cô gái nhỏ có nghị lực thông minh giàu tài năng. Chỉ mong bạn luôn sáng suốt. Biết là mình đã làm và sẽ còn làm bạn phải suy nghĩ nhiều. Mình muốn được góp phần hình thành một tài năng mới. Cứ mỗi lần gặp nhau chúng mình đều góp phần nâng cao nhau về tư tưởng, kiến thức, nghệ thuật. Một tình bạn như thế thật đáng quí. Trong tình hình hiện nay, lại càng đáng quí.

*

*     *

Sau một đêm thức trắng trên đường sắt rét mướt, rồi ngồi chờ năm tiếng dồng hồ trong một bến xe trống tuềnh trống toàng, trưa 18/12/1974 mình đã đến nhà bà ở Thác Bà Yên Bái và đang ngồi trước mặt bà yêu quí, vừa ghi những dòng nhật ký vừa nghe bà cụ 80 tuổi đau yếu nói đã hơi ngọng lưỡi líu lại, kể về quãng đời gian truân từ ngày mới 13 tuổi phải đi ở đợ để trừ nợ năm thùng lúa mẹ vay của người ta… Đêm qua, đã đắp một cái chăn đơn, lại phủ lên một cái áo da cừu Mông Cổ dài đến đầu gối mà vẫn thấy lạnh quá, phải dậy mặc thêm một cái áo cào vệ sinh, đi tất, xoa dầu nóng mới lại ngủ được. Nghĩ mà thương bà cũng chỉ có một cái chăn bông cũ đá dí dị lại nửa nằm nửa đắp. Trở sáng bà ho rất nhiều. Cô cũng chỉ có một cái chăn đơn mỏng, sáng vẫn dậy  rất sớm, nấu cám lợn cho gà vịt ăn quét dọn sân rồi mới đi họp ở trường tiểu học do hợp tác xã đài thọ tính công điểm như xã viên làm việc ngoài đồng. Nhà bà còn có chú Vân ở trọ. 13 tuổi, học lớp tám. Thổi lấy cơm mà ăn. Trưa hôm qua thấy chú ăn cơm nguội với nửa quả cà chua nấu trong nước muối. Cứ mỗi tuần đi bộ 14km về nhà một lần mang theo cái ruột tượng nhỏ đựng gạo. Nhà có tám anh em. Dưới chú còn năm em nữa. Chú ít nói, có nụ cười ngây thơ, cặp mắt đen lúc nào cũng như nhìn vào một chốn xa xôi. Vóc người nhỏ, hơi gù.

Cuộc sống công trường xây dựng đập thủy điện Thác Bà sôi nổi ngày nào nay lặng hẳn đi. Công nhân công trường phần lớn hoàn thành việc xây dựng, đang chuyển đi nơi khác. Người ta bán rẻ, thậm chí cho lại cả những căn nhà xinh xắn có bậc đá, từng là tổ ấm của bao cặp nam nữ công nhân mười mấy năm qua. Không có ai ở, nhà chỉ dỡ ra làm củi đun. Có lẽ chỉ mấy cái cột gỗ lõi là còn được dùng để dựng nhà mới. Điện nghe nói cũng sắp cắt. Việc này càng thúc giục những người chậm chân nhất mau chuyển về khu công trường còn lại. Cái cầu to nay xe cộ cũng không qua lại được nữa. Ngay người đi bộ cũng phải dè chừng vì ván gỗ mục, hổng từng mảng lớn, thấy rõ nước sông chảy qua đập Thác Bà réo xiết bên dưới xa hun hút. Nạn trộm chó, gà… nảy sinh, là sản phẩm xấu xa của những cuộc rút quân đang xảy ra. Một cuộc sống mới của Thác Bà sắp bắt đầu, giống như về sáng, trời càng lạnh. Người dân ở đây không còn sống với công trường thủy điện nữa mà sống ngay với bản thân nhà máy thủy điện Thác Bà. Đã thấy ban chủ nhiệm hợp tác xã Minh Bảo đi ghi tên những nhà muốn mắc điện.

Trưa hôm sau, đi đò bà Thắng từ bến cây đa Bảo sang khu thực phẩm bách hóa lương thực cửa hàng ăn uống. Bây giờ, khu này lại tập trung đông dân hơn khu trung tâm. Cửa hàng bách hóa, từ cái áo len dệt đến cái đàn pi a nô nhựa trẻ em chơi, Hà Nội có gì ở đây đều có. Đáng mừng nhất là miền núi đã đủ muối ăn và thừa hàng hóa. Riêng vùng gần nhà bà tôi đã có 50 nóc nhà mới do dân Nam Hà lên lập khu kinh tế mới. Đấy cũng là một nhân tố mới dẫn đến tương lai phồn thịnh của Thác Bà. Tất nhiên còn nhiều cái khó. Mà cái khó nhất vẫn là nằm trong nếp nghĩ của người dân ở đây. Sáng nay, đi chợ Cầu Treo về thấy một nhóm đang bừa ruộng. Mảnh ruộng nhỏ lại méo mó mà có đến ba con trâu đang kéo bừa. Cứ mắc vào nhau, tránh nhau là lại ngừng làm việc. Không ai tỏ vẻ khó chịu, sốt ruột cả. Họ thản nhiên cam chịu, cùng chờ. Thế thôi. Mảnh ruộng méo ở cách đập thủy điện Thác Bà có hơn một cây số, đường dây điện cao thế chạy ngay trên đầu. Cũng từ buổi tối, bà cô và mấy người hàng xóm đều lo vì hai con lợn nhà kém ăn. Việc đầu tiên mọi người nhắc nhau là phải đốt vía. Sau đó đánh gió bằng dầu hỏa và lá trầu không rồi mới cho uống thuốc cảm dạo ấy rất thịnh hành là Xê đa. May mà cả hai con đều đỡ. Sáng thứ sáu 20/12 ra bưu điện mua báo. Số mới nhất là ngày…15 muộn 4 ngày. Việc gì ở đây cũng trì trệ chậm chạp.

Hai hôm nay, mình ra tay cơm nước nấu nướng, bà vui lắm, ăn ngon miệng. Cô cũng vui vẻ, tuy có nói mấy câu màu mè: Lên kỳ này, tha hồ vất vả. Còn mình thì nghĩ bụng: Thế là đạt rồi. Mình lên chỉ để bà và cô vui, đem thêm một tấm lòng mong sưởi ấm hai nỗi lòng đang lạnh giá héo hắt nơi xa xôi. Cảm thấy một niềm vui bình dị mà sâu xa. Tối hôm qua, giúp chú Vân ở nhà cách học, giảng hẳn một bài hóa. Đêm, hai chú cháu nép vào nhau ngủ càng ấm áp. Thương thằng bé quá. Vất vả xa nhà mà học hành chẳng ra sao. Được mình hướng dẫn học, chú vui ra mặt. Lâu nay, có gì không hiểu cũng chẳng biết hỏi ai, thầy giáo thì hay cáu gắt, bạn bè cũng chẳng ai thiết gì học với hành.

Buổi chiều, anh Tình con nuôi bà mời ăn cơm. Đây là bữa ăn duy nhất có thịt trong đợt nghỉ phép này. Hằng ngày bà và cô sống chắc thiếu thốn, ăn uống kham khổ lắm. Sống tại một cơ sở xản xuất mà lại thiếu sức lao động thì không túng thiếu sao được…

Trưa 21/12 lo cơm nước xong thì ra bưu điện xin dấu xác nhận vào giấy nghỉ phép, mua được một tờ Nhân Dân, một tờ Quân đội nhân dân ngày hôm qua. Như vậy là chỉ chậm có một ngày. Bi quan như hôm trước là không đúng. Chiều thì có một cô ở cửa hàng thực phẩm, một bà cụ có con làm ở công trường đến chơi. Cả hai đều cho biết đã có lệnh lại đào hầm. Cô Bình cũng nói là mấy hôm nay đi họp cũng có nghe nói đến phải chuẩn bị đào hầm, bản thân cô cũng đã ngắm địa thế nên đào chỗ nào rồi. Nhìn bà, bà cụ và cô mình bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Bùi Minh Quốc:

Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc.

Chẳng ngờ bà cụ cũng thuộc những câu này. Ôi đất nước mình… Những bà mẹ anh hùng mà đau thương…

Bà Yên Bái lại đang nói chuyện xưa đau khổ tủi nhục cô đơn ly hương biệt quán… Giọng bà hơi ngọng, cụ cứ nói từ từ nhỏ nhẹ như chỉ để bản thân nhớ lại những ngày xưa…

Một giờ sáng 23/12 mình về đến nhà cùng hai chú lái xe trẻ dân Thác Bà chính gốc mới ra trường. Buổi chiều, cùng cháu Hà bốn tuổi vào thăm mẹ nằm bệnh viện mắt chờ mổ. Nghe kể về bà và cô trên Yên Bái mẹ thương lắm, và hài lòng về những việc mình làm trên ấy. Lúc kể chuyện khuyên cô Bình đừng nhận lời làm người trông nom đền Thác Bà sắp được xây dựng mà nên cứ tiếp tục dạy học, sau này có tuổi rồi thì nghỉ ở nhà trồng cây, nuôi lợn vịt gà, hằng tháng mình sẽ gửi thêm một ít tiền lên phụ giúp, mẹ cũng cho thế là phải. Mình vẫn sống với mẹ mà vẫn tận tình chăm sóc bà và cô có sao đâu…Thật lòng, mình bao giờ cũng cần yên ổn phần hồn hơn là phần xác.

Đấy là ý nghĩ vào đêm Nô en 1974. Mình còn dạo phố xem thiên hạ vui đêm Thiên Chúa giáng sinh như thế nào.

Hôm sau, đến nhà cậu Phạm Tuyên cùng cháu Hà. Ăn cơm nhà cậu xong thì hai bác cháu đến thăm Hà Khánh Linh. Linh bị chảy máu dạ dày vừa ở bệnh viện về. Con nhỏ nên không dám nằm viện lâu. Linh bảo đau có lẽ vì cố viết cho xong Khuôn mặt, một truyện viết theo yêu cầu mà Linh không tâm đắc lắm cho nên viết khá dài, có lẽ đến 500 trang, rất là tuyên truyền. Cúc, chồng Linh vừa di B. Linh chịu đựng mọi khó khăn một cách can đảm, vui vẻ, gần như là chẳng có chuyện gì cả…

Lâu nay, mình cứ luôn luôn cảm thấy bồn chồn, ân hận vì chưa viết được chút gì những cái định viết cả. Những mẩu ký ức Quảng Bình luôn luôn hiện lên trong trí óc mình, dường như chỉ thiếu một sợi dây là có thể xâu tất cả lại thành một toàn bộ có ý nghĩa… Em bé chết bom ở lò bánh mì cũng hiện lên cụ thể, hoàn chỉnh gần như chỉ còn có việc viết ra giấy thôi… Rồi con gà hoa mơ và chú bé là mình những năm xưa ở nhờ bà ngoại tản cư đã khánh kiệt, cũng luôn lởn vởn bên mình. Tất cả như thúc đẩy mình viết. Nhưng mình chần chừ phần lớn là do thể loại mình đang muốn thử nghiệm là thể truyện ngắn, trong khi đó gần như toàn bộ lại yêu cầu truyện vừa và truyện dài. Xem ta băn khoăn như thế về hình thức thì thật là dại dột. Cứ viết đi, muốn ra cái gì thì ra, cốt sao viết được những cái mình tha thiết, trút nó ra được cái nào hay cái ấy cho khỏi mang nặng trong mình, đến mức, nhiều khi như cứ bồn chồn, ngơ ngác lại luôn cảm thấy có lỗi, mặc dù mình tự biết đâu có lười biếng bao giờ.

Cuối năm 1974, mưa lất phất như mưa xuân. Sáng 26/12, kết hợp công tác dẫn hai cháu Hải, Hà con em Nhàn đi xem Bảo tàng Quân đội. Bao giờ thấy hình ảnh người chiến sĩ trẻ cầm bom ba càng chờ xe tăng địch đến mình cũng xúc động sâu xa. Anh còn trẻ lắm mà bình thản chờ cái chết của mình để đổi lấy cái sống cho Tổ Quốc.

Tối, ở nhà, nghe báo cáo của Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị về nhiệm vụ năm 1975. Mình cũng phải có kế hoạch năm 1975 chứ: Viết và học, thế thôi.

Hai năm 1973-1974 coi như cơ bản xong bước đầu học nghề báo.

Thành phố Hồ Chí Minh 21/7/2019.

P.T.

Tháng Bảy 14, 2019

Sự cộng tác có hiệu quả (phần 1)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại

SỰ CỘNG TÁC CÓ HIỆU QUẢ

Phạm Tôn

  1. Bước đầu học nghề báo

Thep Moi BV BACH MAI

Ngày đầu năm 1973, vừa mở nhật ký ra, chưa viết được chữ nào thì Vũ Tuấn Hùng đến hỏi việc học tiếng Nhật ở nhà tiếp tục ra sao, rồi sau đó là các chú công nhân Cảng Bùi Lê Nghiên và Nguyễn Tiến Trung đến hỏi về đám cưới em Thân xem có việc gì cần giúp không… Thế là hết buổi tối. Hôm sau mới ghi được mấy chuyện này. Chiều 1/1, mình mang giấy thôi trả lương của Cảng đến báo Nhân Dân tìm phòng tổ chức nhưng không gặp ai cả. Ra sân, gần gốc đa thì gặp mấy bạn đội bán báo cũ. Đỗ Quảng hồ hởi đón mình. Còn Nguyễn Văn Bào thì chân thành hỏi mức lương, khi biết là chỉ có 45 đồng thì cười khẩy, vẻ ngao ngán, quá thấp. Còn Vũ Đình Hạnh chỉ nói mấy câu nhạt nhẽo cho qua chuyện.

Bao Quang Hanh.jpg

Sáng hôm sau đến sớm, vẫn không gặp. Mình ra bờ hồ chơi, xem triển lãm Chiến Thắng, Thep moi dungrồi triển lãm sách Liên Xô, lướt mấy hiệu sách… Một lát sau lại quay về tòa soạn. Gặp Phạm Duy Phùng, Phùng mừng lắm, tay bắt mặt mừng. Chưa nói gì với nhau thì không ngờ lại gặp anh Thép Mới. Anh kéo cả hai đứa vào cái buồng con bên trong rất lộn xộn mà cửa vẫn khóa… Có lẽ là buồng anh. Anh nói ngay vào chuyện, thật thà mộc mạc như mọi khi : Hai thằng ngồi đây… Thế này nhé… Anh quay sang mình. Thế là tao hết lòng với mày rồi đấy.  Bây giờ thì chỉ chú ý vào mà làm việc thôi, cái quyết định là làm việc cho tốt. Đứng dính dáng gì , suy nghĩ  gì về Pham Duy Phungnhững việc khác cả. Mày về đây là công an nó có làm rắc rối đấy. Thằng hộ tịch viên nó nói là mày hay giao du với phần tử xấu lắm. Chú ý đừng để phiền… Mày mà để xảy ra chuyện gì là chết tao đấy, mày hiểu chưa. Nói rồi anh giao ngay cho mình cuốn sách Le Journalisme en 30 leçons (Nghề báo qua 30 bài học) của Gilberte và Henry Cotton để về nhà dịch bao giờ xong thì đem đến cơ quan. Từ điển thì đến nhà anh lấy.

Thật không ngờ được làm đúng việc mình thích theo đúng cách mình muốn. Ngay sáng hôm sau, trời rét căm căm mình lo đọc sách, ghi chép đến quên cả mặc áo ấm, bị cảm lạnh…

Căn buồng duy nhất của cả nhà mình ở 16 Hàng Da đã được kê dọn trang trí lại thành phòng cô dâu đẹp và sang. Có cả một rađiô Liên Xô to, kèm máy quay đĩa ở trên, mượn của một bạn già của mẹ làm ở mặt trận Tổ Quốc. Mình làm việc ở nhà nên chuẩn bị được nhiều việc giúp đám cưới em Thân. Em đón Trang về xem, cả hai vui ra mặt. Cả nhà mình rút về sống ở nhà dì Hỷ. Vợ chồng em Nhàn cũng về, mang theo cả gà, gạo nếp, nấm mộc nhĩ. Em rể Long lo việc chăm gà cho béo để làm bữa cơm trong lễ cưới. Bà mang hết dao thớt và những đồ dùng nấu ăn khác đến nhà bà dì. Hôm làm cỗ phải chờ mãi mới thấy em rể mang gà làm sẵn đến. Hỏi ra mới biết chú phải lấy con dao rọc giấy của tôi để mổ bốn con gà, vì dao sắc bà mang đi hết rồi. Chú từng đi bộ đội, nay lại ở rừng nên mới tài thế. Còn tôi, xong việc trang trí thì rảnh, nhưng lấy đâu ra quần áo mà đi dón dâu đây. Cậu Tuyên bảo không phải lo, cậu có hai bộ com lê để nơi sơ tán, lấy về là hai cậu cháu diện được rồi vì vóc người gần như nhau. Đêm hôm trước, cậu đến báo bận việc quá không đi lấy com lê được, lại đành mặc lu dông đi đón dâu vậy. Thế là chết tôi rồi. Tôi lùng mãi mới tìm ra cái áo lu dông nhung kẻ, mua từ hồi giải phóng mới 14 tuổi, sau bạc màu quá lại nhuộm đen, lâu  nay không mặc vì ngắn quá, tay chỉ dài quá khuỷu, áo ngắn trên thắt lưng, có mặc cũng không cài khuy được, còn hở đến gang tay mà tôi lấy đâu ra sơ mi trắng. Cả nhà xúm vào lo cho phù rể là tôi. Cuối cùng theo phương án của mẹ và em Nhàn, lấy len xanh tháo ở mấy cái áo cũ ra, đan hai tay áo đáp vào áo lu dông, lại đan cái diềm khâu vào cho áo dài ra, cổ cũng đan len. Thành ra mặc được, chỉ có ngực bị hở. Chị dâu tôi có khiếu thẩm mỹ, lấy ngay cái khăn ông anh đi Liên Xô về cho vàng, xanh lá, sọc đen đỏ bảo tôi quàng vào cổ, kéo dài đến thắt lưng thì nhét vào. Kết quả là cậu cháu tôi bận lu dông cũng tháp tùng bà Thụy bạn mẹ tôi đi xe đạp đón được dâu. Về sau em Thân kể, bà dì bên nhà gái bảo, anh Thân anh ấy hiền lành chứ ông anh thì rõ là tay chơi, ăn mặc kiểu quá.

Đám cưới Thân Trang vui vẻ đã kết thúc những ngày yên ổn ngắn ngủi. Trời vẫn rét. Tình hình chính trị cũng còn rất phức tạp. Người Hà Nội lại tích cực sơ tán. Có cảm tưởng là thời gian tạm nghỉ đã hết. Ngay trong những ngày vui này mọi người vẫn không quên nhắc tới kẻ địch, không quên những người không còn nữa, những ngôi nhà đã sập… Còn giặc thì không gia đình nào êm ấm được, không niềm vui nào trọn vẹn.

Mình đọc qua cuốn sách một lượt, nhưng khi bắt tay vào dịch mới thấy nhiều khó khăn, nhất là các thành ngữ, tiếng lóng dân báo chí hay dùng. Mình hết sức cố gắng, tin là sẽ trưởng thành qua việc làm đầu tiên. Cuộc phiêu lưu của tin tức là một trận công đồn thì Nghề báo là cả một chiến dịch. Phải dịch cả một quyển sách mà hôm nay, mới được có hai trang. Trước đó đã mất bốn ngày chuẩn bị. Chất lượng là tiêu chuẩn mà. Ngày 10/1, dịch được năm trang.

Buổi trưa không ngủ lo chuẩn bị cho mẹ và cháu Hà hôm sau lên Mộc Châu. Người Hà Nội đang khẩn trương sơ tán. Mọi người theo dõi cuộc mật đàm Lê Đức Thọ – Kítxingiơ vừa được nối lại tại Paris. Tất nhiên là qua theo dõi đài BBC đưa tin bằng tiếng Việt. Một bà bán thịt ở chợ Hàng Da nói với tôi Cứ nghe cụ Thọ cụ ấy đập bàn một cái là mẹ con tôi lại đi ngay… Cụ ấy đi Paris thì mẹ con tôi lại về…

Buổi tối, mình và anh Đại đi xem phim ở câu lạc bộ điện ảnh. Phim Tội ác tột cùng, trừng trị đích đáng về những sự kiện từ 18/12/1972. Phim sản xuất năm 1973. Chỉ một chi tiết đó đủ làm người xem xúc động. Các nhà quay phim thời sự hết sức dũng cảm, tài giỏi, đã ghi lại tội ác của giặc và khí phách anh hùng của nhân dân Thủ đô ta. Mình cùng phải ghi lại bằng phương tiện của mình chứ. Ít dành thì giờ để ghi chép quá, không xứng là người thư ký của thời đại.

Có nên coi là chiến thắng không khi mà mình đã vượt qua một trận ốm không cần một viên thuốc, một mũi tiêm, mà vẫn làm việc, học tập và tập thể dục theo đúng qui định. Chỉ buồn là sáng 12/1, mẹ, Long, Hà đi Mộc Châu mình không đi tiễn được như mọi khi mà phải để mẹ đến bên màn từ biệt con. Việc này gây ấn tượng nặng nề khiến mẹ lo nghĩ.

Hà Nội vẫn yên ổn và vẫn sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược. Đợt 12 ngày Hà Nội – Điện Biên Phủ vừa qua, cậu Tuyên đã viết được những bài hát thỏa lòng mong nước của người Hà Nội thời ấy. Nào là Hà Nội  – Điện Biên Phủ, nào là Hà nội những đêm không ngủ.

Mình đã kê xong cái bàn làm việc giáp lưng vào tủ sách trên có treo bức tranh Rêpin vẽ Tônxtôi đi cày, bức tranh bắt nghĩ tới những điều thật cao xa mà gần gũi. Bàn ở đấy, có ánh sáng tự nhiên hắt qua cửa kính hoa từ bên trái. Cửa sổ đầy hoa, mỗi khe giữa hai song sắt là một cây hoa cúc tây vàng tím hồng trắng đỏ. Chỉ còn một điều chưa vừa ý: Năng suất làm việc còn thấp quá.

Tối hôm sau, dịch xong năm trang. Thế là khá, vì còn phải xông, tắm nước nóng và tiếp khách người nhà: Anh Đại chị Thủy về.

Tối 17/1, tập thể dục xong đặt mình lên giường là ngủ luôn. Một giấc ngủ thật ngon, hiếm có. Có lẽ nguyên do là đêm hôm trước, dịch một lèo từ trang 137 đến 22:20 thì xong trang 149. Chất lượng lại tốt. Một kỷ lục.

Hôm 16, đài BBC báo tin, rồi ngày 17, báo Nhân Dân đăng Mỹ ngừng ném bom toàn miền Bắc và ngừng thả mìn. Nhưng vẫn thấy mấy bay trinh sát bay qua Hà Nội.

Một cây hoa cúc tây mình trồng héo rũ, chết, có lẽ do úng nước. Thế đấy, không chăm sóc còn đỡ ân hận, đã chăm sóc mà không đến nơi đến chốn để làm hại cho cái mình chăm sóc thật hết sức đáng giận.

Đêm 24/1, nằm mãi không sao ngủ được lòng xốn xang tràn ngập niềm vui chứa chan hy vọng vào tương lai tươi sáng của mình và cả gia đình. Buổi trưa, đài công bố Hiệp định đình chiến và lập lại hòa bình ở nước ta đã được ký tắt tại Paris. Suốt đêm, tiếng loa khu phố rót vào tai toàn văn bản hiệp định.

Chúng ta đã thắng, đã thắng rất to.

Sáng 25/1, cơ quan tiễn anh Thành Tín đi nhận nhiệm vụ mới ở ủy ban liên hợp, một cái ủy ban mà chỉ hôm qua thôi, có ai biết nó là cái gì đâu. Tôi bắt tay anh Hoàng Tuấn Nhã trước khi anh đi làm phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại … Sài Gòn. Chị Trần Hòa, vợ anh, mặt cứ tươi như hoa. Rồi họp, nghe anh Thép Mới thay mặt ban biên tập thông báo tình hình mới và nêu lên nhiệm vụ mới. Không cái gì không làm mình phấn khởi, sung sướng. Niềm vui chiến thắng tràn ngập trong lòng. Thấy thèm làm việc lạ thường, muốn làm thật nhiều, thật tốt, muốn thương yêu tất cả mọi người….

Cuộc đời mình rồi sẽ ra sao nhỉ…Khó mà biết trước thật chính xác…Nhưng chắc chắn là sẽ tươi đẹp, sáng ngời và quí giá: được sống và chiến đấu liên tục, thật còn gì hạnh phúc hơn đây…

Sáng chủ nhật 28/1, loa khu phố vang vang đọc lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ ta: Hiệp định đã được ký chính thức. Hòa bình đã lập lại trên đất nước ta. Đây là một bước ngoặt lớn của cả dân tộc ta, cũng là bước ngoặt lớn của cả gia đình và bản thân mình. Mình xúc động, náo nức lắng nghe, ra sân vừa tập thể dục vừa nghe cho rõ hơn. Rồi lấy một xô nước, tưới cho tất cả các cây cối mình trồng, những cây đã từng nở hoa, những cây chưa ra hoa, cả những cây chưa biết khi nào mới nở hoa như cây hoa quỳnh còn rất bé nhỏ của mình… Mình muốn chia vui với tất cả, muốn chúng cũng hạnh phúc sung sướng như mình lúc này đang nghe lời tuyên bố…

Mình đã chuẩn bị là Tết này sẽ lên Yên Bái ăn Tết hòa bình với bà và cô yêu quí. Mình không chịu được cảnh mùa xuân này có người không có Tết, không vui Tết nổ trời trong niềm vui chung của dân tộc.

Tối hôm qua, đã ra ga Hà Nội, đèn ống sáng choang ngay bên cạnh khu nhà lớn trước đây có chân dung Bác, nay đã bị đánh sập hòa toàn. Có tàu đi tất cả các tuyến đường rồi. Tất nhiên là đi Hải Phòng thì phải qua Gia Lâm, còn đi Lao Cai Yên Bái thì phải sang ga Đông Anh mua vé lên tàu. Ta vẫn thiếu những cây cầu. Cầu Long Biên vẫn bị đứt mấy khúc. Chúng ta còn phải nhanh chóng lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam Bắc, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta. Loa đang vang lên bài ca hùng tráng Giải phóng miền Nam. Phải, còn phải giải phóng Miền Nam, thật sự giải phóng miền Nam

Hôm nay, bốn anh em mình Đại Thành Thân Nhàn và hai nàng dâu là chị Thủy và cô Trang, cháu Ánh Hồng sẽ liên hoan mừng chiến thắng, chiến thắng của cả dân tộc, cũng là chiến thắng của gia đình mình, kết quả của hai mươi năm phấn đấu không ngừng, rèn luyện không ngừng, càng ngày càng trong sạch hơn, cứng rắn hơn, sáng suốt hơn, tài trí hơn thật sự trở thành những công dân tiên tiến của đất nước Việt Nam anh hùng. Sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu mới gay go và gian khổ, cuộc chiến đấu mà trong đó bản thân và cả gia đình mình thật sự hạnh phúc được chính thức đứng trong hàng ngũ những người cách mạng. Không còn hạnh phúc nào lớn hơn được đem hết sức mình chiến đấu cho mục đích cao cả, lý tưởng là đem lại hạnh phúc cho từng người dân Việt nam. Hạnh phúc tràn ngập lòng mình. Cô bạn nhỏ nay đang ở đâu… Trường Sơn, Quảng Trị hay đã vào đến Huế quê hương mình rồi.

Quyết lên ăn Tết hòa bình với bà và cô ở Yên Bái, tôi điện cho chú em rể chí cốt đưa mẹ tôi về gấp 16 Hàng Da, gặp mẹ là 18:30 hai tám Tết tôi đạp xe qua cầu phao, sang Đông Anh, lên tàu lúc 3 giờ sáng, tăng bo ở Bạch Hạc Việt Trì đến 12:30 ngày 29 Tết thì đến ga Yên Bái, đạp xe 40 km đến Thác Bà, gặp  bà, cô lúc 16:30. Ở miền núi giờ ấy đã chập choạng tối. Bà và cô vui mừng quá, cô bảo bà nói chiều nay để cơm phần cháu, thế nào nó cũng lên. Cơm để trong liễn nhỏ, ủ chăn dạ. Tôi nghĩ thật sẽ có tội nếu tôi không lên. Ở lại ngày 30 Tết, cả ngày mồng 1, sáng mồng hai. Trưa mồng hai Tết là đạp xe về ga Phú Thọ, vừa lúc tàu sắp chạy mua vội vé ke rồi xách xe đạp chạy vội kịp toa chở xe, được anh em trên tàu giúp đỡ, lên toa xin mua vé bổ sung về Hà Nội.

Về đến nhà mới thấm thía việc hoạt động quá mứng trong chuyến về dã làm bệnh viêm thần kinh hông to bùng phát dữ dội, đi đứng rất ró khăn phải uống thuốc, châm cứu… nhưng trong lòng nhẹ nhõm, thanh thản vì đã thực hiện được việc tốt đẹp, đem lại niềm vui cho bà và cô.

17/2/1973, đến nhà thày dạy tiếng Nhật xong là ghé nhà Vũ Tuấn hùng đường Trần Quốc Toản định báo Hùng đến học thì biết Hùng đã mất sáng mồng 2 Tết Quý Sửu (4/2/1973) đang lúc ngồi ăn bánh chưng sáng với anh chị họ ở Sơn La. Cũng chôn ngay trên ấy. Thật là đau đớn. Mất Đỗ Mộng Hoàn rồi, nay lại mất Hùng nữa, hai bạn thân thiết của mình. Hai bạn đang hăng hái chuẩn bị cho tương lai của mình đúng lúc đất nước đang cần nhân tài nhất. Hoàn mất khi từ Thái Nguyên về làm thủ tục đi học nước ngoài ngành lắp máy. Hùng mất khi đang thực nghiệm thành công cách nuôi gà trong lồng nhiều tầng thi đua với các chuyên gia Hunggari cùng làm ở trại gà Cầu Diễn.

Mình còn sống và vẫn làm việc được, cố thu vào tâm hồn và trí óc cả tâm hồn cao đẹp và trí tuệ đang vươn cao của hai bạn. Nhớ rất rõ là hai bạn đã tin yêu và hy vọng ở mình như thế nào. Hoàn, Hùng ơi. Lần này, về báo Nhân Dân mình cảm thấy giống như Marie Curie hồi mới đến Trường Sorbonne Paris: Hoàn toàn lao vào học tập, làm việc… Đến mức không để ý gì đến các cô gái mà ở đây không ít cô xinh, các trò chơi giải trí mà chỉ chăm chú vào sách vở và gần gũi các ông già, nhưng người mình coi là thầy. Anh Thép Mới hoàn toàn ủng hộ cổ võ mình trong việc này. Bác Phan Đăng Tài, trưởng ban tư liệu cũng khuyến khích mình học rất nhiều, luôn động viên, ra nhưng câu hỏi tiếng Pháp bắt mình trả lời. Phòng tư liệu là một phòng lớn, nhiều kệ sách cao. Bàn mình kê ngay bên phải cửa to vào phòng. Một hôm, nhà báo Anh Vũ ban Khoa Giáo vào tìm tư liệu, mình nghe loáng thoáng anh hỏi bác Tài là muốn tìm xem angström là cái gì thì mình buột miệng nói là mười lũy thừa âm tám cm. Anh nhìn mình, rồi lục nhiều sách.

Trước khi về có hỏi cụ Tài mình là ai, cụ ghé tai nói nhỏ. Từ đấy anh có thiện cảm với mình, lần nào vào phòng cũng nói vài câu.

Một hôm bác Tài cho mình tự do lục kho sách. Quá phấn khởi, mình đến ngay các giá sách cao, thấy đủ mặt cả Gorki, Hemingway, Balzac, Maupassant, cả Dostoïevsky nữa với Journal d’un écrivain (Nhật ký một nhà văn). Phan Dang Tai.jpgVấn đề bây giờ là phải thật khéo sắp xếp thời giờ và có cách giữ gìn sức khỏe. Hiện giờ, các tối đi học ba buổi (2 Hán, 1 Nhật) Ngoài ra còn học Tây Ban Nha, Trung văn, Anh văn. Tất nhiên vẫn phải cày để đóng góp cho gia đình và có tiền mua sách. Lâu lắm rồi, không dám vào hiệu sách. Lương kể cả phụ cấp mới có 50đ. Đưa gia đình 40, còn 10 đồng thì để trả nợ. Năm tháng nữa mới hết, nếu như không phải vay thêm. Tiền kiếm thêm, trông vào viết báo lại rất bấp bênh, bao giờ cũng không kịp thời. Thật đau lòng khi để lỡ một cuốn sách hay, báo cũng chỉ mua lẻ từng số một.

Mất nhiều thời gian đi châm cứu quá.

Suốt tuần qua hoàn toàn không ngủ trưa, 11 giờ đêm mới đi ngủ, 5 giờ sáng đã dậy. Vậy mà vẫn chưa làm được những việc định làm. Bao giờ cũng ưu tiên cho học, thành ra học thì tạm ổn, nhưng viết, gặp gỡ nhiều người, kiếm tiền thì không làm được chút gì. Biết là bậy, nhưng chưa làm được gì thì đã mệt nhoài cần nghỉ. Như tối qua, chỉ làm đồ chơi cho cháu Hải con em Nhàn. Sáng nay, dưa cháu đi chợ Bắc Qua, Đồng Xuân, đi các hiệu sách chỉ xem cho biết thôi, không dám mua gì. Chiều thì sửa mấy cái bếp dầu. Tất nhiên, tranh thủ đọc Contes choisies de Guy de Maupassant ( Truyện ngắn chọn lọc của Guy đơ Môpatxăng). Càng đọc càng thèm viết, giận mình lười biếng. Sáng sau dậy rất sớm, suy nghĩ thoải mái, nhiều ý hay muốn viết ngay… Nhưng nghĩ lại, thấy những cái đó chẳng có ý nghĩa gì mấy, tài năng mình lại còn quá non nớt, viết làm gì vội. Thiếu gì việc cần làm hơn, thiếu gì cái cần học hơn… Rồi lại mệt, đầu nhức, chân đau… tha hồ là nhiều lí do để thoái lui. Thật nguy quá, chắc chắn là sai rồi, nhưng làm sao đây.

Suốt thời gian qua, làm việc học tập rất khẩn trương, hệt như một người khát đã lâu, nay gặp nguồn nước trong mát chỉ lo uống lấy uống để, không thiết gì đến hoa thơm bướm đẹp quả ngon bên dòng nước.

Hôm nay, chủ nhật 11/3/1973, nghỉ cả ngày. Sáng cả nhà xuống nhà anh Đại mừng anh chị cưới đã được 11 năm và cháu Ánh Ngọc vừa 10 tuổi. Mình không có tiền, nhưng cũng đủ quà cho anh, chị và hai cháu Ngọc, Hồng. Trưa sang nhà thăm gia đình Đinh Bá Đào (buồng 8_C12 Tập thể Kim Liên). Cậu ta mới chuyển từ tòa soạn về nhà in, nên có vẻ buồn, suy nghĩ nhiều. Rất thông cảm với bạn vì sự hụt hẫng này. Khác hẳn năm nào mình vui vẻ từ tòa soạn về nhà in bắt đầu những ngày hạnh phúc nhất đời. Chiều về nhà, khuân vác một lúc rồi lại đâm đầu vào gặm sách. Đọc Con đường dẫn tới tài năng… Rõ là mình đang đi trên con đường ấy. Có điều, đi quá chậm. Buổi tối, đến bác Trần Hữu Thông, người bạn vong niên, nhờ bác lấy hộ hồ sơ ở Cảng. Bác buồn chán lắm… Lại nhớ lời cụ Mỹ, một nhân viên già của cảng tận tụy với công việc ở kho vật tư. Cụ bảo chú không biết chứ cái cảng này là một cái lò luộc người. Luộc xong thì chỉ còn cái xác, vứt đi thôi.

Mình cùng bác Thông đi chơi, đến hơn mười giờ tối mới về nhà. Đầu tiên là đến phố Khâm Thiên thăm hai vợ chồng công nhân già ở cảng nhân dịp cưới con. Riêng một dãy phố Khâm Thiên đổ nát này còn chưa xây dựng lại được bao nhiêu đã có đến ba bốn đám cưới. Trò chuyện với các công nhân bốc xếp và công nhân cơ khí xe lửa ở đây thật vui. Chân thành thiết thực vững chắc, hầu như không có lời than vãn, chỉ có những cái đang làm và định làm mà chưa làm được thôi. Bản chất hành động của công nhân rất rõ rệt. Rồi cũng xuống tập thể Nam Đồng tới nhà anh Trần Hữu Mai, em anh Thông thằm bà cụ sinh ra hai anh. Khoảng hơn 20 giờ anh Mai mới về. Bà cụ bảo ngày nào cũng khoảng giờ này anh mới về nhà ăn cơm, mà ăn rất ít. Anh Mai nói chuyện rất cởi mở, chân tình như với người nhà. Chủ yếu nói về việc cải tiến báo chí trong thời đại mới, vấn đề làm nảy nở cái mới, thế hệ trẻ, nhất là việc tài liệu lịch sử rất thiếu thốn, gây trở ngại cho việc viết hồi ký, cụ thể là việc anh đang làm là chấp bút viết hồi ký cho đại tướng Võ Nguyên Giáp… Mình vẫn có tật ngu ngốc là còn nói nhiều. Bác Thông thì chỉ ngồi nghe, im lặng lắng nghe. Bác là một người chân thành, nhiệt tình đối với mình, mong điều tốt cho mình… tuy không sáng suốt bao giờ. Hơn 50 tuổi rồi, chẳng còn mong gì làm được những việc mơ ước từ hồi còn trẻ nữa nhưng bác vẫn cố gắng không rời bỏ những ước mơ xa xưa ấy…

Hôm nay, chủ nhật 8/4/1973 có lẽ cũng nên coi là một ngày dáng nhớ: Báo Nhân Dân đăng ở trang cuối một bài mình viết về Hoàng Diệu, khoảng 600 chữ thôi, không ký tên. Sau hiệp định Paris báo có cả một trang cuối số chủ nhật viết về các nhân vật đã làm nên lịch sử chống ngoại xâm thời chống Pháp và chống Mỹ. Số đầu đăng bài của anh Thép Mới, bac Phan Đăng Tài, bài của mình và nhiều bài khác. Thế là bài đầu tiên mình viết trên báo Đảng lại là về một vị quan triều Nguyễn. Do bác Tài chỉ định thôi.

Lại chơi suốt ngày, theo kiểu Đức như trong Pie Đệ nhất đế nhà anh Đại đèo mẹ ngồi sau và cháu Hoàng Hải ngồi gióng trước yên. Thăm cháu Ánh Hồng ốm. Sau đó lại xuống Đống Đa thăm Hà Khánh Linh. Linh có mang vẻ mệt mỏi, gặp cả chị họ Nguyễn Khoa Thị Nhuận con bà chị bố mình. Chị hơn 40 mà chưa chồng, khô héo, mắt cứ đau đáu trông mà thương. Chị đang chuẩn bị độ ngày 15 này sẽ về lại Huế. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của ta có biết bao người đã lặng lẽ hy sinh, âm thầm chịu đựng như chị, cô gái Huế làm y tá chăm sóc thương binh, cán bộ.

Tối thứ hai, được nghỉ, mình lại 11 Ngô Văn Sở, không gặp ai. Bèn viết một mảnh giấy, đại ý: Thân gửi hai bạn, tôi đến thăm, rất tiếc là không gặp. Xin chúc các vị vạn sự như ý. Từ trước đợt B52 ném bom Hà Nội, bây giờ mình mới lại đến đây… Hôm nay, thứ năm 12/4, đi làm về thì mẹ cho biết là cô bạn nhỏ có đến khi mình đi làm chiều, định viết giấy để lại. Song lại thôi, nói là sẽ đến gặp sau. Không hiểu là thế nào. Người nhà dưới đã cho biết là mình đi vắng, vẫn cứ lên. Kiểu như muốn tham quan nơi giam giữ cuối cùng chăng… Đây là lần đầu cô bạn đến nhà mình. Lần trước cô hẹn hẳn hoi, nhưng lại không đến làm mất công chờ cả buổi chiều không dám đi đâu.

Sau khi được phân công viết về Đinh Công Tráng, lại được phân công viết về Phan Châu Trinh mai là phải xong.

Chủ nhật, 15/4, mình dồn vào đọc lịch sử và tiếng Nhật là hai môn mình cần mà còn rất kém. Tối, vừa giở sách Nhật ra thì có người đến cho vé xem vở Đôi Mắt diễn ngay rạp Hồng Hà gần nhà. May mà vở kịch khá hay, sạch sẽ, mấy vai thứ yếu đều rất đạt. Trang cuối báo chủ nhật đăng bài Phan Chu Trinh mình viết. Đây là bài thứ hai đăng trên báo Nhân Dân. Cụ Tài bảo những bài báo đầu tay này nên cắt ra dán thành một tập làm kỷ niệm. Cụ là thủ trưởng, nhưng khi nào trao nhiệm vụ cho ai thì đến tận bên bàn người ấy, nói nhỏ nhưng rõ ràng nhiệm vụ rồi vỗ khẽ tay vào vai người đó động viên. Bình thường vào phòng tư liệu không ai thấy trưởng phòng đâu. Cụ vốn thấp, lại hay cúi xuống mà bàn cụ thì ba bề đều chất đầy sách và các bản tin che lấp hẳn cụ.

Ngày 19/4/1973, họp toàn ban tư liệu nghe công bố phân công cán bộ mới của Ban Biên tập. Tôi về ban văn hóa – văn nghệ do anh Thép Mới phó tổng biên tập làm trưởng ban. Cụ Tài ghé tai tôi nói nhỏ: Tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Nhưng, cái Pháp văn của anh là kiếm ăn được rồi đấy… Tôi, thế nào cũng tìm cách giúp anh học. Ngày hôm sau, về ban mới. Chiều họp ban mới xong, lại gặp cụ Tài, cụ cười: Nói riêng với anh nhá, điều này nói ra thì các ông ấy kỷ luật cho chết. Ông Thép Mới mà đi Nam là họ lại điều anh về Tư liệu thôi. Chân tình của cụ tôi nhớ mãi, một con người hiền hậu, nhân đức.

Mình gặp anh Thép Mới, hỏi về nhiệm vụ mới. Sau đó nói luôn là chỉ có một nguyện vọng: được đi B. Anh cười, nói ngay: Cứ làm việc đi, tao đi là tao sẽ lôi mày đi theo. Thế là ổn,  đó là điều mình mong mỏi nhất, mình vẫn muốn được thử thách, được rèn luyện nhiều hơn.

Tối thứ tư, được nghỉ học tiếng Tây Ban Nha, mình đến gặp cô bạn nhỏ. Cô gầy đi, bệch bạc, chán nản… Mình còn gặp ở đây một chị ở trường nhạc là chị Thúy, một anh ở đài Giải Phóng tên là Thanh… Xem ra, bao quanh cô bao giờ cũng có những người mến mộ, lại còn được một số anh bên hội đỡ đầu.. .Cho nên cô khó biết rõ bản thân là ai, còn cần học hỏi gì nữa. Chẳng biết mình có ích gì cho cô mà đến với cô.

Tối thứ ba 24/4 cùng em Nhàn đi Thư viện Nhân Dân Hà Nội nghe thầy Hoàng Thiếu Sơn nói chuyện về Chiến tranh và Hòa bình của Tônxtôi. Hai anh em đến sớm hơn giờ bắt đầu vậy mà đã hoàn toàn hết chỗ ngồi rồi, người nghe đứng ngồi ở các bậc thang, ngoài sân rất đông, không phải chỉ vì yêu kính hâm mộ Tônxtôi mà còn vì tín nhiệm diễn giả Hoàng Thiếu Sơn, một người tham gia nhóm dịch tác phẩm này, một diễn giả uyên bác, duyên dáng quen thuộc với người yêu văn học nghệ thuật Hà Nội. Đúng giờ, thầy bắt đầu nói thẳng ngay vào vấn đề chính, không chào hỏi rào đón, không mua hoặc xin một tràng pháo tay như nhiều diễn giả khác. Rồi cứ thế, cứ thế, không uống nước, không giải lao không cười theo người nghe cũng không để cho người nghe cười lâu, cứ vanh vách trình bày hết nhân vật này đến sự kiện kia, dẫn ra hết cách này đến tài liệu nọ, chủ động vững vàng dẫn dắt người nghe theo đúng con đường mĩnh đã định. Rồi kết thúc cũng giản dị như khi bắt đầu. Trừ một lần giở sách ra đọc nguyên văn một đoạn trích, không hề cần giấy tờ, tài liệu gì cả, hoàn toàn nhập thân vào tác phẩm, nói về tác phẩm mà như nói chuyện riêng của bản thân mình.

Mình đã say mê nghe thầy giảng từ năm 1955 hồi học trường tư Kiến Thiết góc đường Bà Triệu – Nguyễn Du do thầy Nguyễn Dương và Khuất Duy Các chủ trương mời nhiều thầy giáo dạy đại học giảng dạy. 18 năm qua, thầy chỉ chuyên nghiên cứu, giảng dạy. Không vợ con, toàn đi bộ, không biết cả đi xe đạp, chân vẫn đi đôi dép lốp cao su đen tay xách cái túi nhỏ may bằng những mảnh vải vụn tiết kiệm xếp thành hình ô trám. Mình thường hay gặp thầy ở hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền như thế. Hôm nay, thầy có hơi béo ra, cái béo của người già. Mái tóc đã bạc trắng cả, nhưng vẫn bờm ra một cách nghịch  ngợm, trẻ trung, che trên vầng tráng rộng. Cặp mắt nheo nheo lại rất tươi, bên trên hầu như không có lông mày. Thầy là một người trí thức hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, tổ quốc… Chắc chắn thầy không nhớ mình, nhưng, cho đến hôm nay, thầy vẫn là thầy mình, đã vừa dậy cho mình thêm một bài học mới mà chắc chắn thầy không hay biết.

Tối thứ ba, 1/5/1973, 20:30, vừa chấm dứt đợt bắn pháo hoa tuyệt đẹp kéo dài đến nửa giờ mừng ngày lễ Chiến Thắng của những người lao động Việt Nam anh hùng…Mình đang đau thần kinh tọa, viêm họng, lại sốt nữa, nên chỉ nằm ở nhà mà xem trên bầu trời đêm. Những bông hoa lửa đầu tiên vừa nở trên bầu trời Hà Nội mới đêm nào còn đỏ tím màu lửa máy bay B52 – pháo đài bay của Hoa Kỳ cháy rơi lả tả, mình chợt nghĩ: bản thân mình có góp phần gì vào chiến thắng mà cả dân tộc hôm nay nô nức mở hội mừng không nhỉ. Và tự hào trả lời ngay: Có, có một phần nhỏ. Giống như trong chùm pháo hoa đẹp đẽ kia mình đã góp một bông hoa lửa trắng sáng không màu mè, nhưng nó tôn lên cái đẹp rực rỡ của những pháo hoa màu kia. Pháo xanh pháo đỏ pháo vàng, sao mà nhớ những bông pháo hiệu bắn lên từ những tàu viện trợ của Cuba, Ba Lan, Liên Xô… những ngày chào mừng năm mới 1969 ở Cảng Gianh thế. Có bao giờ còn được xem một đêm pháo hoa giàu ý nghĩa làm xúc động lòng mình sâu xa đến thế không?… Không, không bao giờ… Vì bấy giờ mình còn trẻ và đang ở chiến trường…

Bỗng mình nhớ Đào Văn Thùy, nhớ Thùy quá, chàng công nhân lái cẩu lớn ở cảng, sau thành chiến sĩ xe tăng, lần gần đây nhất Thùy viết thư báo tin rất phấn khởi: xe tăng em sắp được xuất trận…. Thế đấy, thường những người làm nên chiến thắng có mấy khi lại được có mặt trong lễ mừng chiến thắng. Họ còn đang trên đường mở rộng chiến thắng cho to lớn hơn vẻ vang hơn, có ích lợi sâu xa hơn…

Pháo hoa, pháo hoa đủ màu sắc dệt long lanh trên nền trời chiến thắng Thủ Đô, của cả nước và có lẽ của cả loài người. Mình muốn góp thêm một bông hoa chiến thắng ở bầu trời phương Nam anh dũng kiên cường. Sao mà mong ngày lên đường làm vậy…

Sáng nay, cùng Đỗ Xuân Bảo về nhà Bảo, nơi mình nhiều ngày tá túc trước khi đi Quảng Bình. Trưa, ăn cơm với Tân và gia đình nhỏ của Bảo, trò chuyện với các bạn lái xe. Chiều nay, Ngô Tiến Thái bây giờ là thợ điện đến chơi, tâm sự mấy giờ liền về… cuộc đời.

Cả ngày 1/5 mình là khách của công nhân và cũng chỉ có khách là công nhân thôi. Bao năm nay, mình cố rèn luyện, học tập để biết nhìn đời bằng cặp mắt công nhân, cặp mắt của một người cách mạng Việt Nam.

Thật sung sướng biết bao mình có thể tự hào là một người lao động Việt Nam.

Ban văn hóa văn nghệ có hai bộ phận ngồi ở hai phòng. Một phòng văn hóa do họa sĩ Nguyễn Thọ đứng đầu, gồm: anh Trần Đĩnh, Vũ Công Thạo, chị Mai Hân và tôi… Phòng Hoa si Nguyen ThoVăn Nghệ do nhà văn Nguyễn Địch Dũng phụ trách, có anh Chính Yên, Trung Đông, Vũ Đình Hạnh, Nghiêm Thanh và chị Phong Lan. Tôi là thư ký ban, lo việc trả nhuận bút, lĩnh văn phòng phẩm cho cả ban. Trưởng ban Thép Mới thường trưng dụng tôi làm những việc cần thiết sau khi được sự đồng ý của anh Nguyễn Thọ. Anh Thọ là một người Hà Nội gốc, có đầy đủ phẩm chất của một người trí thức Hà Nội. Một hôm trò chuyện vớ vẩn, tôi nói cứ bảo di truyền là đúng lắm, nhưng tôi thấy như vào trường hợp tôi thì chẳng đúng tí nào. Mẹ chỉ hơn 1,5m, bố cũng khoảng 1,6m mà tôi thì thế này. Anh Thọ cười. Cậu giống ông ngoại, tôi đã thấy ông nhiều lần ở Thái Hà ấp, cụ cao như cậu. Anh có một nết ai cũng quí là hễ có việc gì giúp được ai là anh giúp ngay. Nghiêm Thanh có vợ ở Hải Phòng, anh Thọ đã viết thư giới thiệu với anh Vạnh Lịch là chánh văn phòng tổng cục đường sắt cấp cho cái giấy như người trong ngành đi miễn phí. Anh giới thiệu người bà con làm cho tôi cái răng cửa kịp lên tàu vào Sài Gòn sau giải phóng. Chính anh vẽ mẫu cái phù hiệu của Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân chúng tôi, và cả măng sét báo Nhân Dân với chữ Dân viết hoa

Ngày 9/7/1973, mình viết một bài báo sau khi được phân công đi dự hội nghị của Tổng cục Thông tin tổ chức ở Yên Bái. Anh Nguyễn Thọ bảo cậu phải ký tên dưới bài viết. Anh nhắc đi nhắc lại cậu phải chọn một cái tên đi, sẽ còn phải viết nhiều đấy… Thế là bắt đầu rồi đấy. Từ nay báo Nhân Dân sẽ có thêm một tác giả mới tên là Nguyễn Trung. Còn điều này thì chỉ một mình mình biết thôi, tác giả ấy chỉ thôi viết khi tim ngừng đập, khi trút hơi thở cuối cùng và hơi thở cuối cùng ấy cũng thuộc về nước về dân, trung với nước, hiếu với dân như trong hai chữ trung hiếu mà ông ngoại vẫn tôn thờ, lấy làm phương châm sống và làm việc suốt cả cuộc đời.

22:04 ngày 11/7, mình cùng mẹ lên tàu hỏa rời Hà Nội, đến Phú Thọ, vừa 3:30 ngày 12. Ô tô chạy lúc hơn 6:00, 8:30 thì đến Thác Bà.

Đúng là đi nghỉ, từ hôm lên nhà bà, chỉ có ăn, ngủ, đi chơi và nói chuyện phiếm. Đọc sách rất ít. Vì mình coi sách là đồ hộp, khi nào không có đồ tươi sống là cuộc sống thực mới gặm đến. Hôm 15/7 lại là giỗ chồng bà (16/6 âm lịch). Có mẹ con mình lên bà và cô vui lắm. Thật ra mẹ muốn đi thăm bà, mình cố chọn ngày đi gần ngày giỗ ông.

Hằng ngày ăn na mít, ăn dứa rồi ra sông Chảy tắm mát. Ăn no, ngủ kỹ, khỏe ra rõ rệt. Có một ngày đi chơi, đến nhà hoạ sĩ Lưu Công Nhân, Luu Cong Nhan.pngcó ấn tượng rất mạnh mẽ. Lần đầu mình gặp một nghệ sĩ như thế, một nghệ sĩ khác thường. Đêm mùa đông, anh thức dậy, mặc áo bông, đốt hai đèn đất để kịp vẽ tranh kẻo sáng ra mới vẽ thì mất tranh ấy. Hồi mở cho nước qua đập Thác Bà, anh đứng ngay cửa cống ai cũng sợ, anh bảo nếu không là mất cái ấn tượng nước về thế nào. Ai biết Lưu Công Nhân cũng biết anh chuyên vẽ tranh trừu tượng. Vậy mà ở Yên Bái quê hương dòng họ Lưu Công nhà anh tôi thấy rất nhiều nhà treo tranh anh vẽ chì đen chân dung các cụ gần như tranh truyền thần, có điều các huân huy chương các cụ đeo đều vẽ màu giống như thật. Tôi hỏi, anh cười, mình vẽ cho người ta mà người ta muốn mình vẽ thế.

Chủ nhật 5/8/1973, báo Nhân Dân đăng bài tiểu phẩm Kẻ cướp – nhà văn và nhà văn – kẻ cướp  viết về J.Steinbeck tác giả Chùm nho nổi giận nổi danh thế giới nay cầm súng tiểu liên M16 ngồi trực thăng Mỹ đi càn ở Nam Việt Nam. Đây mới là trận đầu đánh thắng vì tiểu phẩm mới là loại mình ưa thích. Bài lại ra đúng ngày 5/8 trận đầu ta đánh thắng không lực Huê Kỳ. Chủ nhật 12/8, lại đăng Số phận thần đồng Robertino Loretti viết về chú danh ca thần đồng khi hết xài, đành đi hát ở quán rượu nghèo. Các bài này đều đăng trang cuối, mục Trong thế giới tư bản. Bài mình viết chỉ ký tên TT, thậm chí còn ghi thêm hai chữ sưu tầm vô nghĩa. Phó tổng biên tập Nguyễn Thành Lê chuyên về các vấn đề quốc tế rất thích mục tiểu phẩm này. Có hôm ông gọi mình lên văn phòng nói bài vừa viết hay nhưng phải bỏ, ta đang có quan hệ tốt với Italia,. Nhưng tôi vẫn giữ cho cậu 200 chữ như mọi khi ở trang cuối số chủ nhật. Về lấy ngay bài khác đưa tôi duyệt cho kịp số ngày mai. May là tôi có dự trữ, rảnh là lại viết đưa anh Thọ duyệt sẵn.

Chiều 13/8, anh Thép Mới đi Đức về. Anh hơi gầy đi nhưng khỏe ra. Anh về đúng lúc mình đang cần có anh.

Hôm nay, thứ hai 17/9/1973, mình bắt đầu làm một việc là ghi lại lời các đàn anh ở tòa soạn bàn về nghiệp vụ báo chí và văn học nghệ thuật. Chủ yếu là anh Thép Mới. Và cố gắng cất giữ các bản thảo của anh để làm tài liệu học tập theo kiểu Lỗ Tấn đã làm. Những bản thảo đầu tiên này là do anh viết ngày 15/9 để đăng vào trang 3 báo Nhân Dân ra chủ nhật dưới tiêu đề chung Tinh thần Chilê – Văn hóa Chilê kỷ niệm sự kiện đau buồn mới xảy ra ở Chilê: phái quân sự Pi-nô-chê đã đảo chính lật đổ chính phủ dân cử Allende, đúng lúc Fidel vừa đặt chân lên đất Việt nam. Văn hóa – là cái vững chắc, bền lâu… Ba năm ấy không dễ gì xóa bỏ được…

Cuối tháng 9, cuối quí 3 bắt đầu vào mùa làm việc mình đã dự định nhiều việc cần làm thì lại gặp chuyện không may: viêm ống mật tái phát. Bốn ngày nay rồi, rất mệt. Mỗi ngày đều uống thuốc tẩy để thông mật, kèm theo là kháng sinh. Suốt ngày hôm qua, nằm đọc Kinh Thánh phúc âm Đức Chúa Giê su- cứ như ông Thánh Mát cô đã chép. Chẳng phải tin tưởng gì mà chỉ để thu nạp thêm kiến thức vì trong cuộc sống luôn tiếp xúc với những tín đồ Công giáo, mà nhiều người rất tốt, như bạn Ngô Thị Hòa, vợ Đoàn Di chẳng hạn là tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng bạn cũng là Đảng ủy viên bệnh viện Xanh Pôn. Gần 22:00 thì có chú Long đến chơi. Chú cận thị, người nhỏ bé chữa xe đạp ở đầu phố Hàng Điếu gần nhà mình, quen trong một lần xe đạp hỏng nhờ chú chữa. Một thanh niên đáng mến, nhiều suy nghĩ về cuộc đời có quyết tâm vươn lên nhưng đang đứng ở bước ngoặt cuộc đời, chú gặp mình mong có người trút bầu tâm sự… Gặp những con người như chú, cảm thấy bên mình còn nhiều người muốn làm cho cuộc đời đẹp hơn, thật là dễ chịu, muốn làm việc nhiều hơn.

Chiều 11/10, bắt đầu theo học lớp bổ túc quốc tế ngữ Esperanto của VPMA tại Klubo (câu lạc bộ). Lớp có 10 người, lớn tuổi nhất là bác sĩ Vũ Quang Tiệp, ít tuổi nhất là mình đã 33 tuổi. Chính anh Đào Anh Kha nhà thơ, tổng thư ký hội hướng dẫn. Lâu lâu lại thu một băng ghi âm gửi nước này nước nọ, tức là làm công tác đối ngoại. Học viên lớp đọc thơ, văn bằng esperanto, có khi hát nữa. Mình là lớp trưởng lớp esperanto trường Chu Văn An do thầy Bạch Năng Thi trực tiếp dạy từ 1956. Mình đăng bài giới thiệu hội trên báo Nhân Dân và tích cực tham gia mọi hoạt động của lớp, được hội trưởng cho bộ từ điển Nhật – Pháp Pháp – Nhật, có chữ ký của hội trưởng Nguyễn Văn Kỉnh.

Thời gian qua, nhiều  lúc mình nghĩ nếu không biết một chút ngoại ngữ thì không biết mình đọc gì vì sách của ta hồi ấy rất ít, những sách mình cần đọc càng ít hơn. Tối 22/11, vừa đọc kịch bản Le Feu Dompté (Chế ngự lửa). Phim này kể về nhà bác học sáng chế tên lửa đầu tiên của Liên Xô, mình đã xem hai lần, nay được đọc kịch bản, càng thấm thía: Muốn làm một con người sáng tạo, phải chịu nhiều thử thách hy sinh nhiều lắn… Song niềm vui lớn nhất của con người lại nằm chính trong bản thân quá trình sáng tạo gian khổ đó. Còn niềm vui nào to lớn hơn, cao quí hơn, trong sạch hơn…

Một tối thứ bảy, cho cháu Hà ăn mặc thật diện đưa đi xem  phim xiếc Liên Xô ở câu lạc bộ Lao Động mà thèm cái sức khỏe và phản ứng thần kinh nhanh nhạy của các diễn viên quá. Mình hầu như mất cả hai thứ đó mặc dù rất cố gắng rèn luyện. Cả ngày chủ nhật, cống hiến cho việc nhà sửa chữa lại ba cái bếp dầu hỏa và dọn dẹp cái phòng nhỏ mà bề bộn vì quá đông người. Tối lại đi câu lạc bộ Đoàn Kết xem phim tài liệu dù mệt, mình cũng muốn cố nhặt thêm một ít kiến thức về đời sống thật.

Mình là thư ký ban, chuyên điếu đóm cho cả ban, nhưng làm việc với anh Thép Mới nhiều. Thường mình là người đầu tiên đọc bản thảo anh viết, anh hỏi thì góp ý kiến, và cũng là người đọc bản anh sửa cuối cùng. Thường viết xong một bài, anh đưa mình và nói mày xem tao viết bài này có được không. Anh chú ý những lời nhận xét, rồi sửa. Anh còn thường hỏi ý kiến mình về nhiều việc nhiều người. Mình xem đây là một loại kiểm tra trình độ cho nên cố gắng đạt điểm cao, không khi nào đón ý anh rồi mới trả lời. Anh bắt buộc mình phải cố gắng học tập suy nghĩ. Bản thảo của anh, anh đưa mình tất cả. Có sáng anh gọi mình cho xem một bài mới viết đêm qua với vẻ hào hứng. Mình đọc, khen hay, nhưng nói thêm là bài này cho vào phần anh đang viết thì lạc lõng, như một miếng gấm thật đẹp đem khâu vào một bộ áo quần nâu giản dị, nền nã. Không ngờ anh đem gửi báo Văn Nghệ đăng thành một bài riêng: Cách mạng và những giọt máu tiên phong

Rõ ràng là cùng làm việc, năng suất cả hai anh em đều tăng lên rõ rệt. Nhiều việc làm cả cơ quan ngạc nhiên. Không ai tin một người, dù người đó là nhà báo Thép Mới có thể làm được những việc như vậy… Sau khi Bác Hồ mất, chỉ hơn một tuần, nhà báo Pháp Jean La Couture ra được hẳn một cuốn sách đến 700 trang. Mình khen ông tài thì anh Thép Mới thở dài: Nó làm theo kiểu công nghiệp, không thủ công như mình Một mình nó có đến 15-20 trợ lý. Tất cả ngồi quanh một bàn to. La Counture trình bày đề cương, phân công mỗi người một chương, rồi cứ đi quanh bàn mà nói, phần ai nấy ghi, cần thì hỏi, sau đó về nhà phần ai nấy viết rồi nó duyệt lại tất cả, bảo chỗ nào cần sửa cái gì, bớt chỗ nào, thêm cái gì rồi duyệt lại tất cả. Thế là xong quyển sách dầy cộp. Anh bảo ở Pháp làng báo gọi những trợ lý ấy là nègre tức tôi mọi, nô lệ cho nhà báo nổi tiếng.

Những lần nói chuyên riệng chân thành cởi mở với nhau, mình học được nhiều điều về chính trị, tư tưởng, nhất là về nghề, những điều không ai trong cơ quan được anh truyền nghề nhiều như mình… Mình cố gắng không phụ công anh dạy dỗ. Mọi việc đều phải gấp gáp lên. Mau chóng nâng cao tay nghề, bản lĩnh của người làm báo cách mạng Việt Nam. Thật lòng chỉ mong ngày được cùng anh lên đường tiến vào mặt trận mới, gay go gian khổ thức thách nhiều hơn.

Tối chủ nhật 2/12, đi xem phim tài liệu và mua sách hụt bèn đến thăm cô bạn nhỏ gặp cả Thanh và Huệ. Cô bạn vẫn buồn, chưa hòa mình vào cuộc sống mới, thật tội. Cô kém sáng suốt lắm. Hình như ở cô mọi cái đều dễ thay đổi. Cô hẹn mang sách đến nhà cho mượn, tiếc là đã mấy lần mang đến mà chẳng là nào gặp anh.

Sáng hôm nay, thứ ba 4/12/1973 dậy từ 5:00 đi bộ dẻo hông ra đến vườn hoa Canh Nông sau nhà thì bắt đầu tập chạy. Được một vòng đã mệt bở hơi tai. Tối qua, tập chống đẩy được 45 cái, vượt yêu cầu 50%. Tập thể dục rèn luyện thân thể là không tiếc thời giờ. Ngày nào cũng tắm nước lạnh một lần. Xét cho cùng đó cũng là để trở thành người làm báo thôi có thể sống và làm việc trong bất kỳ tình huống nào.

Chiều nay, anh Thép Mới cho gọi mình lên. Anh hỏi mày đã xem tin Nhà Bè chưa. Mình biết anh muốn nói vụi pháo kích kho xăng Nhà Bè báo đăng sáng nay. Anh bảo đi lấy giấy giới thiệu anh viết gửi cơ quan 103 Quán Thánh để lấy tài liệu. Mình đi ngay. Không ngờ đến  nơi lại gặp tài liệu sống là ba chiến sĩ miền Nam có biết kho xăng Nhà Bè đang chờ để mình khai thác tài liệu. Mình trấn tĩnh ngay và làm như đã có chuẩn bị kỹ càng. Tài liệu lấy được rất đặc sắc…

Trước khi đi, anh Thép Mới bảo tao làm thế này để bảo cho chúng nó biết làm báo là như thế nào. Trong tuần, thấy sự kiện gì nổi bật là phải chớp ngay lấy, tìm sẵn tư liệu, cần là có mà viết. Cứ lấy sẵn, hôm nào chúng nó cần, tao cho… Làm báo là phải như thế chứ!

Có lẽ anh không biết rằng chính bằng cái việc bắt đi đột ngột vào một lĩnh vực không quen biết thế này thì anh cũng đã bảo cho em biết làm báo là như thế nào.

Tối nay, cùng Nghiêm Thanh một bản trẻ cùng ban và hai em Thân Nhàn đi nghe nghệ sĩ Thái Thị Liên biểu diễn piano các tác phẩm của Bach, Mozart, Beethoven và Chopin… Tuyệt vời. Nghe mà thèm làm việc quá, muốn viết. Dân nghèo mà dám đi Nhà hát Lớn nghe nhạc cổ điển. Đó là do tôi làm thư ký ban văn hóa văn nghệ của báo, nhận được công văn đề nghị đăng thông báo biểu diễn nhạc cổ điển, kèm theo có bốn vé tặng báo. Tôi thủ luôn.

Ngày 5/12, dậy từ 4:30 chạy một vòng vườn hoa Canh Nông rồi về nhà, mồ hôi đầm đìa, dễ chịu. khi ra chỗ tập đã thấy có mấy người chạy rồi, phần lớn là trung niên, như mình là rất ít, trẻ hơn thì chẳng có ai.

Cả tuần chạy rất đều. Đến sáng thứ sáu, tập xong thì thấy đau kéo dài ở phía trên ngực trái. Càng về sau càng đau không sao hít thở căng ngực được. Chườm muốn rang. Xoa dầu nóng. Sáng hôm sau phải nghỉ tập, đau không chịu nổi.

Tối đưa hai cháu Hải, Hà đến cơ quan xem vô tuyến truyền hình. Cơ quan ngạc nhiên hóa ra ông Thành có hai tằng con xinh trai quá. Chỉ các cô gái là biết anh chỉ có hai con mắt. Tối về nhà, không làm gì được. Cho đến sáng thứ hai mới tập trở lại song không chạy mà chỉ đi bộ dẻo hông. Trời rất rét, nhưng áo lót ba lỗ có ướt đẫm mới về. Vẫn cố rèn sức dẻo dai chịu đựng được gian khổ.

Đọc xong Những linh hồn chết của N.Gôgôn (tập I) Tuyệt diệu. Ngoài ra chỉ đọc báo và học.

Ngày thứ hai 24/12/1973, không ngờ mà mình cũng có quà Nôen: Báo Tiền Phong gửi thư báo tin đã đăng bài tiểu phẩm mình viết, hết sức hoan nghênh và trông đợi sự công tác thường xuyên của đồng chí… rất hân hạnh nếu được gặp đồng chí tại tòa soạn… mong đồng chí thông cảm chưa đến thăm đồng chí tại nhà được. Thật là quá sức tưởng tượng, mình mới chỉ gửi cho họ một bài. Có nơi tiêu thụ thế này mới thúc đẩy sản xuất được.

Quanh quẩn thế nào mà đã sắp hết một năm. Nhật ký chưa viết xong một tập nhỏ. Học tập cũng chưa đi đến đâu. Có điều có thể yên tâm là đã không để phí một chút thời gian nào. Đáng trách có lẽ chỉ là chưa biết làm việc theo kế hoạch, chưa dám lao hẳn vào một dự án dài hơi, cứ chuẩn bị chuẩn bị mãi mà thiếu những bước tập luyện, thử thách ngòi bút của mình . Cái sai ấy phải sửa ngay từ tối mai. Sẽ viết tất cả các tối, hôm nào không viết thì phải dịch, không dịch thì ghi chép. Tất cả mọi sự ý nghĩ trong đầu phải hiện trên mặt giấy. Bản mình dịch Quan Ngự Sử báo Thống Nhất đã nhận đăng.

Từ tuần sau, mình sẽ lên làm việc hẳn ở buồng anh Thép Mới.

Bây giờ phải thực hiện kế hoạch nhỏ kiếm tiền cho gia đình và có tiền mua sách, xem phim là hai cái thú của mình.

(Còn tiếp)

P.T.

Các con càng hiểu và thương yêu cha mẹ hơn

Filed under: Ý kiến,Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười hai, kỳ 2 tháng 7 năm 2019.

Chuyện một người cháu ngoại – Phụ lục

CÁC CON CÀNG HIỂU VÀ THƯƠNG YÊU CHA MẸ HƠN

Cụ bà Ngô Thị Hòa mất, được các con thực hiện đúng theo nguyện ước của bà trước khi xa rời gia đình là làm theo đúng nghi lễ Thiên Chúa giáo cũng chôn cất ở chính nơi bà chọn. Sau khi cụ Hòa mất, cụ Đoàn Di có vào Nam thăm gia đình tôi, tháp tùng là cháu đích tôn đẹp trai, cao lớn và một phụ nữ mà cụ giới thiệu là con nuôi, tôi nhặt được. Cô này lo mọi việc cho cụ Di như một người con gái ruột. Tất nhiên, dẫn đường là con rể Binh, chồng cháu Minh con gái quí báu của hai cụ. Sau đó, năm 2019, cụ Di còn vào nhà tôi một lần nữa, đi cùng con út Đoàn Minh Tâm.

Gia Dinh anh Binh Chi Minh.jpg

Gần đây, Blog PhamTon chúng tôi có đưa lên Thư gửi bạn Ngô Thị Hòa do tôi viết từ ngày 12/8/2008. Bạn Di tôi không liên lạc thư từ, cũng không gọi và nghe điện thoại. Tôi đành bảo con trai in bài đó ra rồi gửi cho như những lần trước. Nhưng nghĩ lại, thời đại 4.0 rồi mà cứ làm như thế mãi thì khổ con tôi quá, tôi bèn nhắn tin cho cháu Binh là con rể, xin email của con cả Di là cháu Hùng và em út là Tâm. Cháu Binh tế nhị và tinh ý không gửi cho tôi hai địa chỉ email mà viết như sau: 15:09 ngày 7/7/2019, Cháu có gửi bài chú viết hôm trước cho anh Hùng và em Tâm rồi chú ạ. Vợ cháu khen chú viết hay và rất chi tiết, cháu cám ơn chú ạ.

Thấy thế, tôi bảo con gởi luôn cho Tâm và Minh bài Vượt Ngục đưa lên blog khá lâu. 16:17, Tâm lại gửi tin nhắn: Giờ cháu mới đọc hết bài. Xúc động quá tình cảm của thế hệ chú và bố cháu. Cháu cũng đã nghe bố cháu nói nhiều chuyện về chú. Chú vất vả quá, hiện tại vẫn thế, nhưng cháu thấy chú luôn lạc quan. Học tập chú, cháu thấy mình phải cố gắng nhiều hơn nữa ạ.

21:07 cùng ngày, cháu lại gửi: Cháu theo gương chú học tiếng Nhật, có thể nói tiếng Nhật thành thạo, có thể đi dịch những chuyên ngành quen thuộc, dịch ca bin, nhưng chưa dịch truyện, sách như chú được. Chú giữ gìn sức khỏe để chăm sóc cô bị bệnh nặng. Năm tới, cháu cố gắng động viên bố cháu vào TP Hồ Chí Minh chơi và thăm chú. Bố cháu giờ cũng yếu rồi. Khi còn nhỏ cháu hay cùng bố vật tay, khi bố cho thắng thì rất vui mà nay, thắng được bố thì lại buồn, vì bố mình không còn khỏe nữa như thời thanh niên.

Tôi thật mừng vì các cháu đọc blog của mình mà càng hiểu và thương yêu cha mẹ hơn. Suốt dời tôi chỉ mong sao làm được việc như thế.

Tất nhiên, những việc này tôi không thể làm được nếu thiếu sự giúp đỡ về kỹ thuật của con trai. Mà tôi chỉ có một con thôi.

8/7/2019.

P.T.

Blog tại WordPress.com.