Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 11, 2022

Giã từ cảng thân yêu(P1)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 5 năm 2022.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

GIÃ TỪ CẢNG THÂN YÊU

Phạm Tôn

I – Bạn cũ vẫn nhớ thương

Trời trở rét, cái rét ở ven sông Hồng như chỗ tôi làm việc bây giờ lại càng thấm thía hơn. Vì không khí quanh thân mình vừa được chính thân mình sưởi ấm lên một chút thì dã bị gió sông thổi đi mất và lùa khí lạnh khác đến. Mai đã là tròn mười năm rồi mà mình chưa dám đặt bút viết gì về những tháng ngày bán báo từ 16/11/1958. Mình sợ làm hỏng chất liệu quí, vì biết là tay nghề còn non lắm, sức nghĩ còn hời hợt lắm. Nhưng đến năm 1968 này, mình dám nói là văn xuôi không còn xa lạ gì với mình, mình viết được văn xuôi. Nghĩ thế thôi, chứ vẫn chưa dám viết gì cả…

Chung minh thu doan vien ton that thanh

Không ngờ là trưa nay Nguyễn Văn Bào đã tìm đến được tận chỗ mình để kéo đến dự họp mặt đội tổ chức ở nhà vợ Bào. Mình vui sướng gặp lại các bạn Nguyễn Văn Tuất, Phạm Duy Phùng, Ngô Lê Dân rồi Phạm Bình Thanh… cùng ăn uống, trò chuyện vui nhộn, nói năng thẳng thắn toàn những lời thốt ra từ trong lòng, không kiêng nể gì cả. Mười năm đã qua. Cùng một vạch xuất phátnguyen van bao nhưng nay đã đi theo nhiều con đường khác nhau. Phần lớn đã về báo Nhân Dân, làm phóng viên, làm công tác biên tập ở ban thư ký, hoặc công tác bạn đọc, có người vẫn công tác phát hành bên Bưu điện. Ngay những vụ việc xảy ra cách đây mười năm, những nhận định, đánh giá của mỗi người cũng rất khác nhau. Hầu như mọi người đều giữ nguyên ý kiến của mình cách đây mười năm. Còn có người đòi xét lại việc lập đội báo nữa. Chỉ có một điều không ai chối cãi là trong thời gian bán báo ngắn ngủi đó mỗi người đã tự lột trần bản thân mình, bộc lộ hết chỗ mạnh chỗ yếu của bản thân ra trước mặt tập thể. Điều mình khó chịu hơn cả là phải nghe ở đây cả những lời lẽ thể hiện tâm lý nóng vội, muốn ăn xổi, lòng ham danh vọng một cách tuyệt vọng. Thậm chí tức tối vì tham vọng cá nhân không được thỏa mãn. Các bạn đều có lòng yêu văn học, có tài cả nhưng sao mà ít thấy có lòng dũng cảm một cách trung thực lịch sử, dám vượt qua những thành kiến hẹp hòi, nhỏ nhen, dám coi thường những danh lợi trước mắt… Tôi nói rất ít chỉ ăn và nghe các bạn nói, vì thật lòng chưa có gì muốn nói. Nhiều điều phải nghe đã gây cho mình một cảm giác xa lạ lạc lõng ngay giữa bạn bè, đồng đội năm xưa. Nhưng vẫn không được buông tha. Một bạn nói rất nhiều, có hơi bia vào càng đỏ mặt tía tai tố khổ. Cuối cùng, bỗng nhìn vào tôi mà nói mày thì khác, mày muốn làm việc lớn (?) mày có nghị lực. Còn tao, tao bao giờ cũng  chịu ảnh hưởng của xung quanh. Tao không thể chịu được những sự bất công như thế. Bạn ấy ức vì chưa có được một địa vị như các bạn đã về báo Nhân Dân, chưa được như bạn ấy mong muốn.

Năm 1958 ấy, chúng tôi vui mừng khi được thành đoàn thông báo là báo Nhân Dân do đích thân nhà báo nổi tiếng Thép Mới đã phối hợp với Thành đoàn tổ chức tuyển sinh lớp đào tạo phóng viên cho báo. Dạo ấy chưa thi đại học nhiều bạn trường tôi đã ghi tên tham dự. Chờ mãi, sau Thành đoàn cho biết sẽ tổ chức tuyển sau khi có kết quả thi đại học. Ai muốn dự thì chờ.

Ngày tuyển, chúng tôi tụ tập ở Thành Đoàn được gặp chính anh Thép Mới nói chuyện về việc tuyển sinh. Việc đầu tiên chúng tôi được giao là bán báo Nhân Dân, khâu cuối cùng củaThep Moi chan dung việc làm báo: Viết bài – in báo – bán báo. Bảy mươi anh em tụ họp ở đấy hỏi thêm nhiều chi tiết cụ thể, đến khi anh Thép Mới nói rõ là sẽ được cấp túi bạt đựng báo để đeo vào xe đạp, đã có tiếng ồ kéo dài, đến khi anh nói còn được cấp loa tay để rao báo mà bán, nhiều tiếng xì xào hỏi lại, anh Thép Mới nói thêm là các bạn sẽ có loa sắt cầm tay còn nói rõ thêm bằng tiếng Pháp là micro portatif thì tiếng xì xào càng to và bắt đầu có người đứng dậy ra về. Mới giải phóng có bốn năm, tú tài còn hiếm lắm, tại sao lại cầm loa sắt tây đi rao bán báo lẻ. Còn lại 12 người như 12 tông đồ của Chúa, trong đó một nửa là bọn tôi, dân Chu Văn An, hầu hết là phóng viên báo tường Bình Minh chi đoàn. Ban tổ chức hội ý một lát trong phòng riêng. Rồi chính anh Thép Mới ra tuyên bố việc tuyển sinh đã kết thúc, xin mời các bạn ghi tên.

Thế là mấy hôm sau chúng tôi được Tổng biên tập Hoàng Tùng tiếp cả một buổi tối. Phần đầu là tự giới thiệu. Đến lượt mình, tôi đứng lên nói ngay tên, tuổi 18 và kết thúc tự giới thiệu là cháu ngoại Phạm Quỳnh.

Ngay sau buổi họp ở Thành đoàn, anh Thép Mới gặp riêng nhóm học sinh Chu Văn An. Anh bảo định tổ chức Đội thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân theo kiểu quân đội. Một người là đội trưởng lo mọi việc cụ thể, một là bí thư chuyên về công tác tư tưởng. Anh em đưa mắt nhìn nhau. Rồi Phạm Duy Phùng thay mặt đề nghị tôi làm bí thư và anh nhận làm đội trưởng. Tôi vốn là người phụ trách báo Bình Minh của chi đoàn. Anh em vỗ tay tán thành. Anh Thép Mới chào anh em rồi gặp riêng Phùng và tôi. Anh cho biết sở dĩ chọn dân Chu Văn An làm nòng cốt vì vừa là đa số vừa cùng là một nhóm báo tường với nhau có lòng yêu nghề. Anh còn cho biết, có một người đã viết thư riêng cho anh, kể thành tích, tự giới thiệu và xin nhận chức chịu trách nhiệm về đội này. Chuyện này, chỉ có tôi và anh Phùng biết, nay anh Phùng không còn, tôi xin nói cho rõ là có chuyện này. Và người không được mời về báo Nhân Dân nên hậm hực chính là tác giả lá thư tự giới thiệu. Sau thống nhất đất nước, anh có đến cơ quan thường trực báo tại 173 Hai Bà Trưng, gặp tôi, nói xin gặp anh Thép Mới. Tôi có nói, nhưng anh Thép Mới từ chối gặp.

Con dau phu hieu doi ban bao va bo thanh

Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân tất nhiên có một tờ báo tên Paven. Thật ra tôi đề nghị lấy tên Theo bước Paven, nhưng anh em không ai chịu. Trong đó có đủ thơ  của Vũ Đình Hạnh, Phạm Bình Thanh và văn của Phạm Duy Phùng, Đỗ Quảng, Nguyễn Văn Thành, thường gọi là Thành Kịch vì anh ham mê kịch và là đệ tử thân thiết của nhà viết kịch Lộng Chương hồi ấy có vở Quẫn nổi như cồn. Tôi cũng viết bài Những người mua báo của chúng ta. Tôi còn đặt lời cho một bài hát Liên Xô vui nhộn kể chuyện Một hôm đang ra sức loa, Gặp ngay cô bạn bên nhà, Nàng rằng nay anh đang công tác, Thế anh công tác gì, Cô bạn của tôi ơi, báo Nhân Dân mà thôi. Sau  này, anh Ngô Lê Dân hát trong một buổi liên hoan ở cơ quan báo Nhân Dân được mọi người hoan hô cười bò cả ra. Đó là sau khi tôi sang nhà in.

Năm 1998, 40 năm sau  ngày thành lập Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân, tôi bị xê tôn máu cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Trãi thành phố Hồ Chí Minh. Sau cơn hôn mê 15 ngày đang lúc người chẳng ra người, ma chửa hóa ma thì có khách Hà Nội vào thăm tận giường ở khoa săn sóc đặc biệt. Anh gPham Duy Phungặp tôi thì vồn vã nói tao nghe nói mày sắp chết, vội bỏ hết mọi việc đến thăm ngay. May còn gặp được mày, tao mừng quá. Anh nắm chặt tay tôi, tóc cứng bờm xờm cặp mắt ưu tư sáng lên. Tôi không nhận ra anh là ai, nhưng nghe cách xưng hô thì biết đây là một bạn rất thân của mình.  Nếu bây giờ hỏi tên chắc sẽ mếch lòng anh. Cho nên tôi chỉ nghe và ừ ào cho qua chuyện. Rồi anh đưa cho tôi tờ tạp chí nội bộ của báo Nhân Dân trong đó có bài anh viết về Đội bán báo chúng tôi. Anh bảo mày xem xem có gì cần sửa  chữa không. Tôi đọc cả bài, chỉ chú ý một điều là bài không nêu tên một người nào cả. Có lẽ để tránh va chạm. Anh tặng tôi tập nội san kèm một phong bì. Anh siết tay tôi thật chặt, mong mày qua khỏi và chóng bình phục. Anh về rồi tôi xem trên phong bì, mới biết anh là Phạm Duy Phùng, bạn thân từ thời học Chu Văn An, Đội trưởng Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân, sát cánh bên tôi hằng ngày. Nhiều tối anh về nhà tôi ăn cơm, ngủ luôn tại nhà tôi để 4 giờ sáng hôm sau hai đứa cùng đến Nhà in Nhân Dân nhận báo cho đội đi bán trong ngày. Anh Phùng mất ngày 24/6/2015 sau thời gian giữ chức trưởng Tran Ngoc PhuongBan bạn đọc báo. Lạ hơn nữa là chuyện Tết năm 2018, anh Ngô Lê Dân dự buổi họp mặt xuân hằng năm của nhóm học sinh Chu Văn An tốt nghiệp phổ thông năm 1958 tại TP Hồ Chí Minh. Nhân nhắc chuyện cũ thế nào có ai nhắc đến Đội. Anh Dân, nói ngay với các bạn chính anh là bí thư chi đoàn đội này. Nói ngay trước mặt tôi và Ngô Đình Tâm bạn 10E với tôi. Tôi nghĩ ông bạn này hơn mình có ba tuổi mà xem ra lẩn thẩn rồi. Anh Dân mất sau Tết ngày 25/3/2018 vì ung thư. Báo đăng cáo phó anh là nguyên phóng viên cao cấp của báo Nhân Dân.

Chúng tôi đi bán báo được độ bốn tháng thì anh Ngô Lê Dân con liệt sĩ cách mạng quản lý báo Le Travail (Lao Động)Rassemblement (Đoàn kết) cơ quan công khai của Đảng thời 1935-1936 được gọi về Tòa soạn báo đầu tiên. Ba tháng sau thì tôi về làm nhân viên ở tổ Nhân Dân Nông Thôn do anh Thanh Đạm phụ trách. Ở tòa soạn quen gọi là báo con vì tờ báo chỉ nhỏ bằng nửa tờ Nhân Dân. Bài xã luận rút ngắn bài ở báo to, nhưng in chữ đậm, to cho bà con dễ đọc. Những hôm in báo con, tôi đi nhà in cho đến khi xong bản vẽ cuối cùng. Tôi lên ma két làm theo chỉ đạo của họa sĩ Giang Tô, làm bản tin Trên toàn miền Bắc lấy ở báo to viết ngắn lại. Tôi khá thân với mấy anh trong tổ sửa bài bên nhà in, nên khi một anh cho biết là tôi sẽ sang làm với các anh, tôi thích lắm. Đến khi có lệnh chính thức là tôi sang ngay. Chính ở đây tôi quen biết anh Nguyễn Việt Quốc. Thời Bao La Patrie Annamitegian sống ở nhà in báo Nhân Dân là thời gian hạnh phúc nhất trong đời tôi.

Ngày đầu đi bán báo, chúng tôi được tham quan nơi in ra tờ báo. Đến tổ sửa bài, anh Trần Ngọc Phương phó giám đốc nhà in giới thiệu đây là bộ phận trí thức của chúng tôi. Sáu cái bàn kê khít nhau thành một cái bàn to, mọi người ngồi xung quanh. Hầu hết đều đeo kính, đều là nam giới. Phòng sáng và yên tĩnh. Chỉ thông với nhà chữ bằng một cái cửa chữ nhật nhỏ để công nhân sắp chữ xong thì in ra giấy gọi là ê prơ đưa cho sửa, xong lại đến lấy bản đã sửa để làm lại. Tôi không ngờ lại được vào làm việc ở chính tổ này. Tổ trưởng Trần Vỵ, các anh Trần Bình Thuận, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Việt Quốc, anh Trần Thanh Giao sau thành nhà văn, Đỗ Các Tôn, Nguyễn Văn Thịnh, Dinh Ba DaoNguyễn Thế Phiệt,… đều hơn tuổi tôi, chỉ có chú Định là nhỏ hơn. Chúng tôi lặng lẽ làm việc, thỉnh thoảng nói với nhau vài câu thật cần thiết. Tôi ham thích khoa học về hoạt động của não. Một hôm nói với mấy anh là làm ca ba thì dễ sai sót nhất là từ 1 đến 3 giờ sáng. Một đêm đông, trời lạnh căm căm, ai cũng áo bông khăn len xù xụ. Đúng giờ ấy, tôi bảo chú Định ra tắt hộ cái quạt trần, chú ấy ra và bật quạt. Cả tổ ca ấy cười vang. Từ ấy về sau, chú Định chỉ làm từ 10 giờ đêm đến 1 giờ sáng là được cho ngủ thoải mái. Nhưng sung sướng nhất là điều này: Anh Phương gọi tôi lên văn phòng, thân mật bảo ngồi, rồi nói anh từng làm nhà in báo La Patrie Annamite  của bố tôi. Anh cười hiền, răng chìa ra, vuốt vuốt mái đầu húi cua hoa râm rồi nói nhỏ: có chuyện này, tôi muốn nói riêng với cậu, để khỏi phiền phức cậu nên lấy một cái họ khác, chẳng hạn như Nguyễn Văn Thành. Tôi thưa anh em còn ít tuổi, nhưng bạn bè không ít, người quen cũng lắm, nay làm thế lại sợ người ta chú ý hơn, coi là có gì khuất tất mà phải đổi họ. Anh cười hiền, chẳng qua chúng tôi thương cậu thôi, cứ thế này cũng được. Chúng tôi biết cả rồi, không có chuyện gì đâu, cứ yên tâm.

Bộ phận sửa bài chúng tôi xong việc, trang báo đã lên khuôn là đến việc nhà đúc. Thời ấy in trục cuốn đúc Ton That Thanh thi dai hoc ynhư vậy là tiên tiến lắm. Máy quay hai trục to, giấy in báo chạy ở giữa cho ra tờ báo hai mặt rõ ràng. Chúng tôi xong việc khoảng 1 giờ sáng, tôi lên nhà đúc, mò vào giường Lê Đức Đạt ngủ. Nếu ca ấy Đạt làm thì tôi ngủ một mình, nếu nghỉ thì hai anh em ôm nhau ngủ. Đạt rất yêu mến tôi và có cái lạ là hai anh em nhang nhác giống nhau, Đạt bảo với mọi người tôi là anh ruột chú, làm người sắc sảo như anh Việt Quốc ban đầu nghi ngại vì thấy mặt mũi giống nhưng tính nết khác nhau quá. Em buông thả hơn tôi. Nhưng cuối cùng bắt gặp tôi vá quần cho Đạt, mới tin là anh em thật. Các anh khác cũng có lòng với tôi. Anh Trần Thanh Giao còn khen tôi viết báo tường chuyện chương hồi Chuyện 104 anh hùng Nhân Dân Tự kể chuyện Lý Sắp Sỹ làm nhà chữ phiêu lưu ký khá lắm.

Chính ở đây, tôi được đi Chùa Hương lần đầu mà cũng là lần cuối trong đời. Tôi làm ca ba, định không đi vì sợ mệt. Nhưng lên nhà đúc ngủ thì anh em chuẩn bị đi làm ca giầy đinh cứ lộp cộp, rồi lại rủ nhau đi chùa Hương ồn ào, Đạt lại bảo đi với em đi, thế là đi với Đinh Bá Đào béo trắng và Đạt. Đạt nhận mang túi đồ ăn công đoàn cấp cho hai anh. Tôi và Đinh Bá Đào cùng tuổi, trò chuyện tâm đắc, bỏ rơi chú em chỗ nào không biết, chắc lại rơi vào tay bọn con gái. Vì Đạt tuy giống tôi nhưng đẹp giai hơn. Thôi, kệ nó. Chúng tôi leo xuống địa ngục, rồi lại lên thiên đàng ở hang chính. Lên cao nhìn xuống thấy khói hương nghi ngút, người lễ bé xíu mà đông nghìn nghịt. Chúng tôi đều đi giày vải, không ngờ leo núi kị nhất là đi giày này, trơn trượt chết tươi. Đúng lúc tôi nghĩ thế thì Đinh Bá Đào nói thành lời: bây giờ mà mình trượt chân rơi xuống thì người ta sẽ bảo là báng bổ gì đó cho nên bị thánh vật chết. Tôi cố giữ bình tĩnh leo xuống. Lên bao giờ cũng dễ hơn xuống, vì không có chỗ bấu víu. Xuống đến sàn hang, mệt rã rời, lúc hai chúng tôi hoàn hồn mới thấy là đói, từ sáng đến giờ chưa ăn gì, nhìn quanh chẳng thấy Đạt đâu. Mãi khi lên xe về, mới thấy chú, tươi cười trách hai anh sao bỏ rơi em. Đói lắm phải không. Rồi đưa cho chúng tôi bánh mì, có cả giò chả khá nhiều, chắc bọn con gái cho thêm. Sau này anh Quốc sang làm ở báo Lao Động, anh hay đến đội 5 nhờ tôi giúp học Pháp văn, anh học chăm chỉ, hỏi cặn kẽ, ghi kỹ càng. Một hôm anh đến nói với tôi là thấy anh cả tuần không về nơi sơ tán, chị vợ sinh nghi, theo dõi. Thành ra bây giờ một tuần phải về một tối, thứ bảy chủ nhật cũng về nữa. Anh bảo tớ đã bảo cậu nhiều lần, cậu không nghe, còn cãi. Muốn làm việc lớn thì đừng lấy vợ. Lấy vợ thì đừng làm việc lớn. Đấy, mất đứt đi hai ngày rưỡi chỉ để chơi. Tuần sau anh đưa vợ đến chào đi sơ tán theo cơ quan. Cụ Sán khen mãi hai vợ chồng đẹp đôi, có tình nghĩa với bạn bè. Anh Quốc rỉ tai tôi bà ấy muốn điều tra, chứ chưa tin lời tôi nói ra bờ sông học đâu. Sau này vào Sài Gòn giải phóng, chúng tôi còn gặp nhau luôn, không quên nhau được.

Một hôm anh Thép Mới đi xe đạp cà tàng tạt qua nhà tôi nói mày chuẩn bị học ôn để thi vào đại học Y, tao học ở trường Nguyễn Ái Quốc gặp tay bí thư đảng ủy trường y, nói với nó về trường hợp của mày nó bảo làm đơn rồi đưa nó, chuẩn bị dự thi. Bất ngờ quá. Tôi xem báo, chỉ còn 15 ngày nữa là đến kỳ thi. Tôi làm đơn đưa anh Thép Mới rồi tìm sách học. Những môn sinh học, di truyền, lâu nay tôi không chú ý, chỉ có hóa là còn tạm được. Đang lo thì trời nóng quá, nổi ban khắp người ngứa ngáy và sốt. Bị ruy bê ôn, sốt phát ban. Đành nằm mà học vậy, ăn cháo mẹ nấu. Uống thuốc. Rồi cũng đi thi.

Giay chung nhan dang ky nghia vu quan su

Mẹ tôi sốt ruột vì nghe các bà bạn cùng làm hợp tác xã may khoe con đỗ vào trường này, trường nọ, còn con mình thì vẫn nằm nhà, nghỉ làm nhà in rồi. Toàn nằm đọc sách. Trừ anh Đại tôi là anh cả đỗ đại học bách khoa khóa I vì trường mới mở lấy đâu ra người học. Còn sau đó, anh em tôi cứ thi đại học là trượt. Đến lượt em gái út tôi không thi đại học nữa mà xung phong đi khai thác miền núi lên nông trường Mộc Châu chăn cừu. Sắp đến ngày đi thì được kết nạp vào đoàn Thanh niên lao động. Mẹ tôi buồn lắm chỉ khóc thầm khi thấy con trai vẫn vui vẻ đọc sách, luôn mồm bảo mẹ cứ yên chí, lần này phải khác chứ. Ngày 15/10/1960 tôi được nhập học. Nhưng không phải trường Y mà là Học viện Nông lâm. Vì hai trường thi các môn giống nhau. Tôi thi trường Y nhưng là thành phần xấu, nể có giới thiệu này nọ, cho vào Học viện Nông lâm là tốt rồi.Nguyen Huu Ly Pham Quang Tan Ton That thanh

Học viện Nông lâm tôi nhập học là những dãy nhà cao tầng nằm giữa vùng nông thôn thuộc xã Cổ Bi cách Hà Nội 13km. Trường được ngành đường sắt cho một đặc ân là 13:00 ngày thứ bảy hằng tuần thì cho chuyến tàu Hải Phòng-Hà Nội đỗ ở ga xép Cô Bi đúng một phút. Ngược lại, chuyến trưa chủ nhật Hà Nội-Hải Phòng cũng cho dừng đúng một phút để sinh viên học viện về Hà Nội và trở lại trường học. Trường có nông trường học viện để sinh viên thực tập. Ở đấy hằng ngày đều bán sữa bò tươi giá có một hào một bát men Trung Quốc to. Nhưng bọn sinh viên chúng tôi thường lại chọn món ngô bung, cũng một hào một bát, mà no hơn nhiều. Đang tuổi ăn tuổi lớn, chúng tôi gần như bao giờ cũng đói. Cho nên thường chọn lượng hơn chất, chỉ khi mệt quá mới chịu uống sữa tươi. Tôi học khóa chăn nuôi 5, thời gian học năm năm rút ngắn chỉ còn bốn năm, có ngày học đến 9 tiết, đúng là nhồi nhét. Mỗi tổ một buồng có 7 giường tầng. Tôi ở tổ 5, nằm cùng giường Pham Tuyen AccordeonNguyễn Hữu Lý nhưng tầng trên vì tôi luôn muốn được yên tĩnh để đọc sách. Học được một thời gian, quen tính biết mặt,bắt đầu ổn định tổ chức, thế nào anh em bầu tôi làm tổ trưởng, bạn Hiền làm tổ phó. Giờ nghỉ chúng tôi khoác vai nhau bàn bạc việc của tổ đúng là một đôi đũa lệch. Tôi hơi cao mà Hiền thì đậm người hơi thấp cứ cố khoác vai tôi. Chúng tôi rất thân nhau, cùng lo việc của tổ. Một là con em nông dân, cái gì về nông thôn đều biết, một con nhà thành thị chỉ giỏi về sách vở. Chúng tôi kết hợp với nhau thành một cặp đôi hoàn hảo, bổ sung cho nhau đưa tổ 5 thành tổ tiên tiến cả về học tập lẫn lao động. Tôi được báo cáo kinh nghiệm trong toàn phân hội, nhiều bạn nữ bảo tôi chỉ mong được về tổ 5. Rồi được bình bầu cấp toàn trường, thế nào tôi lại được bầu. Và đến ngày tuyên dương, tôi hơi bất ngờ khi người được tuyên dương không phải là tôi, cũng chẳng phải anh Hiền, mà là ông Nguyễn Xuân Lai, gần 40 tuổi, bí thư chi bộ phân hội. Về sau, đúng 46 năm sau tôi mới biết khi gặp Phạm Quang Tấn đến thăm tại nhà ở TP Hồ Chí Minh. Tấn là con em cán bộ kháng chiến, được cho vào Trường Thiếu sinh quân sang Trung Quốc học ở khu học xá Trung ương, cho nên khi vào Pham Quang Tan va chau no anh riengiHọc viện Nông Lâm Tấn được vào diện cảm tình Đảng, thường được sinh hoạt với chi bộ. Một hôm Tấn dự được nghe bí thư chi bộ cho biết một tin động trời là phân hội ta có một phần tử con nhà phản động lọt vào. Khi nghe tên tôi, lại nói rõ là cháu ngoại Phạm Quỳnh đã bị ta xử tử năm 1945 thì Tấn đứng lên nói điều cậu chưa nói ai biết cậu là Thiếu sinh quân từ năm học lớp hai, thuộc đại đội 3 mà anh Phạm Tuyên là đại đội trưởng. Anh Tuyên là con trai Phạm Quỳnh mà cả ban lãnh đạo khu học xá đều tín nhiệm, coi trọng. Vì sao anh này chỉ là cháu, lại là cháu ngoại, mới 5 tuổi ông ngoại đã mất tại Huế, thì có gì mà quan trọng. Mọi người nhìn nhau, nhìn bí thư, không ai nói gì. Từ đấy, Phạm Quang Tấn bị loại khỏi diện cảm tình Đảng. Tấn vào Đảng trên chiến trường, mới đây nhận Huy hiệu 50 tuổi Đảng, được cả 500 ngàn đồng, đem lì xì cho tôi vào dịp Tết. Chuyện này, gần 50 năm sau anh mới kể cho tôi khi râu tóc đã bạc trắng.

Nhờ Tấn, tôi có số điện thoại của Vũ Văn Chỉ, một người anh em nữa của tôi những ngày ở học viện nông Vu Van Chilâm. Tôi phải tìm cho được Vũ Văn Chỉ để thanh minh về một hành động làm bạn phật lòng và thắc mắc gần 50 năm trước. Dạo ấy, tôi bị o ép về tinh thần và khốn khổ về vật chật đã dẫn đến bị lao phổi. Ho ra máu rất nhiều, phải lên trạm xá nằm phòng cách ly. Bà cấp dưỡng bưng lên cho tôi một bát cháo hành, có hai lòng đỏ trứng, mùi tiêu thơm ngát, bà bảo chú cố ăn cho nóng. Khi bà lên mở cái đĩa đậy ra thấy bát cháo nguội ngắt, còn nguyên, bà ôm mặt khóc. Tôi không sao dậy được mà không gây nên những tràng ho và kèm ho là thổ huyết. Buồng cách ly nóng quá, tôi khi nào cũng đeo khẩu trang, nữ y sĩ Khanh cho tôi ra phòng chung, nhưng nằm cạnh cửa cho thoáng. Bệnh xá có quy định rất hay là sinh viên nằm bệnh xá được hưởng thức ăn gấp đôi người thường. Có nghĩa là ngoài món mặn, tôi được hai suất rau muống ống to do thầy Lương Định Của sáng tạo ra muối chua. Còn sống là may. Bạn bè thương, giờ nghỉ nào cũng có bạn đến thăm, cho quà. Không hiểu sao hồi ấy nhiều mận chua thế. Tôi mệt, ăn chua cũng thích, thỉnh thoảng nhấm nháp một miếng. Có bạn còn cho bia hơi pha si rô đỏ. Lúc các bạn về hết, tôi lén uống một chút. Không ngờ uổng khỏi họng đã cảm thấy như cả người sôi sục và ho dữ dội, thấy cay cả lên mũi, tôi bịt miệng chạy vội vào buồng tắm, vừa khép cửa lại thì có tiếng Chỉ gọi to tên tôi. Tôi vội khóa chặt cửa, bịt miệng, cố nhịn ho. Không ngờ vì thế mà máu phun qua mũi, chảy ra cả hai bên như tháo cống. Chỉ càng gọi, càng đập cửa, tôi càng cố nhịn ho, kiên quyết không mở cửa, tôi muốn tránh cho bạn phải thấy cảnh ghê sợ này, không muốn khi bạn nghĩ đến mình thì lại nhớ đến hình ảnh đó. Còn Nguyễn Hữu Lý người Nghệ An nay không còn. Lý thật như một người anh em ruột thịt của tôi. Lý lĩnh học bổng của cả hai đứa, mỗi đứa 22 đồng, nộp tiền ăn 15 đồng, còn thì Lý chi cho tiền xôi ăn sáng, mua một gói ba hào chia cho hai đứa, bao giờ Lý cũng cố ý chia cho tôi phần nhiều hơn. Mỗi lần ông bố chở nước mắm từ Nghệ An ra ghé thăm là mỗi lần chúng tôi vui nhất. Lý kéo tôi ra nhà hàng mậu dịch ăn uống Cổ Bi, mua phở áp chảo nước ăn no nê mà ngon quá. Ông cụ còn viết thư cho tôi. Khi tôi nằm bệnh viện Bạch Mai rồi lên khu an dưỡng ở Quảng Bá, chỉ có Nguyễn Hữu Lý là không khi nào không đến thăm vào ngày nghỉ, thường xuyên cùng người yêu mang quà, thư từ các bạn gửi và cả họcVu Tuan Hung bổng hằng tháng.

Vũ Tuấn Hùng người Hà Nội, nay cũng không còn, nhưng tôi không quên cảnh Hùng đứng ngoài đường Bạch Mai gọi to cho tôi ra đầu san L12A để bạn nhảy qua cái hào ngăn cách chúng tôi với cuộc sống lành mạnh bên ngoài. Hùng bám vào cái cọc chăng giây thép gai, đứng mép lạch nói chuyện với tôi. Có vẻ Rô mê ô và Giu li ét lắm… Sau này, ra trường, về làm ở trại gà Hung ga ri Cầu Diễn, Hùng còn tìm đến Cảng nhắn tôi đến thăm trại. Hai chúng tôi ăn trưa và chiều toàn bằng gà kho và trứng tráng. Một chị hỏi sao thứ bảy mà chú chưa về nhà, Hùng chỉ tôi và nói có người yêu đến ở cùng đến chiều chủ nhật, tôi về nhà sao được. Các cô rúc rích cười anh ấy cứ bảo thứ bảy này đón người yêu, tưởng ai hóa ra người yêu đực rựa. Hùng đẹp trai nhất trong các bạn tôi. Hai đứa trò chuyện đến 12 giờ đêm mới đi ngủ. 4 giờ sáng, lạnh, tỉnh dậy thấy Hùng cũng thức giấc, hai đứa lại nằm bên nhau tâm sự đến sáng như hồi ở trường những tối thứ bảy không về nhà. Mình nói vẫn mộng được sống trong một căn nhà tranh ở nông thôn yên tĩnh, nuôi gà và đọc sách. Hùng bảo thế thì được rồi, tao xin một miếng đất nhỏ, rào lại làm cái nhà con hai đứa ở với nhau. Đó là tối mồng 7 rạng mồng 8/8/1971. Tết năm đó Hùng lên Sơn La ăn Tết với gia đình bà chị. Sáng mồng một chị bảo ngồi ở bàn chờ chị rán bánh chưng theo đúng kiểu Hà Nội mà em thích đây. Khi bánh xong, chị gọi, không thấy thưa. Thì ra Hùng gục xuống bàn chết từ lúc nào. Tôi chỉ biết chuyện này khi đến thăm nhà Hùng ở phố Quang Trung và được chính chị gái kể cho nghe. Hùng vốn bị bệnh tim, khám nghĩa vụ quân sự năm nào cũng bảo thế, rồi chẳng ai để ý.  Kể cả Hùng. Ở lớp chăn nuôi 5, thế nào chi đoàn do chị Hoàng Thị Lan con gái ông Hoàng Đạo Thúy làm bí thư lại giao cho tôi phụ trách tờ Thảo Nguyên. Các người cùng phụ trách là Võ Hồng Huê, Nguyễn Ân… Về trình bày thì có Nguyễn Nguyên Oánh và tôi. Tôi có viết bài Phân hội ta có “vấn đề” ý muốn nói xem ra vậy Selfie Giang Van Anh Ton That Thanhchứ trong lớp ta có nhiều mầm non đang rục rịch vươn lên sắp đơm hoa kết trái. Thì bị bí thư chi bộ đem ra cuộc họp nội bộ phân tích là phân hội ta chẳng có vấn đề gì hết. Thế là cái ngoặc kép duyên dáng, dí dỏm của tôi vô hiệu, lòi mặt phản động. Vũ Văn Chỉ cũng năng viết bài như Cũng vào lứa tuổi ấy ca ngợi Phạm Hùng, Lê Văn Lương thời trẻ.

Tôi còn tổ chức tốp ca nam, hát bài của Trần Hoàn ca ngợi người cộng sản trẻ tuổi đất Hải Phòng Nguyễn Đức Cảnh. Tôi cùng hát với Vũ Tuấn Hùng và Nguyễn Nguyên Oánh, nhưng hát bè hai đệm cho hai bạn. Còn bài Năm cô gái chăn nuôi, cũng do tôi đặt lời theo một bài hát vui của Nga. Năm 2017, vợ chồng bạn cùng lớp Vũ Duy Giảng, sau làm phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I và Ngô Thị Vân Anh vào thăm vợ chồng tôi ở Sài Gòn, trên đường đi từ cổng vào nhà tôi, chị vợ còn hát Tập thể nông trường ấy có một bà vắt sữa chăm làm ăn… Tôi cười, lạ thật, trong khi người ta bàn cách diệt tôi thì tôi lại hát và dạy các bạn hát.

Chính sau khi hai bài tốp ca nam và tốp ca nam nữ được hoan nghênh thì tôi bị triệu tập đến cuộc họp kiểm điểm vì có khuyết điểm về tư tưởng và tổ chức. Từ đấy không ít người xa lánh tôi. Dám công khai thân thiết với tôi chỉ còn Nguyễn Hữu Lý, Phạm Quang Tấn, Vũ Văn Chỉ, Vũ Tuấn Hùng…

Nhớ lại một bạn cũ nữa cũng đã mất. Đỗ Mộng Hoàn, sau đi làm đổi thành Đỗ Mạnh Hoàn nhưng vẫn trắng trẻo mắt đen, môi chúm chím như con gái. Chúng mình học với nhau từ cấp hai, cấp ba vẫn học với nhau. Sau khi ra trường Bách Khoa, Hoàn về đội lắp máy công ty gang thép Thái Nguyên. Làm việc được mấy năm thì được về Hà Nội chuẩn bị đi học nước ngoài. Trên đường về Hà nội bị bom Mỹ. Một tối thứ tư tháng 12 năm 1970, mình đi học Hán văn về thì gặp Hoàn. Hoàn trách mình lúc nào cũng học, học nhiều quá. Con người không ôm được cả vũ trụ đâu. Hoàn không biết mình học nhiều vì lười và thiếu tự tin, thích mà chưa dám viết. Nhớ lại hôm họp mặt mười năm thành lập đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân một anh bạn say bia đã nói vào mặt mình là mày thì khác, mày muốn làm việc lớn. Rồi anh Việt Quốc bảo muốn làm việc lớn thì đừng lấy vợ. Không biết có khi nào mình tỏ ra như thế không mà ai cũng bảo mình muốn làm việc lớn, trong khi ngay những việc nhỏ nhặt nhất như lo cho sức khỏe bản thân, lo cho gia đình yên ổn, cũng loay hoay mãi chưa làm được. Thì một buổi sáng tháng 5/1968, mẹ mình kể là mẹ có hỏi cậu Tuyên nhận xét về mình, không hiểu nó lúc nào cũng cứ loay hoay viết lách, cặm cụi đọc sách vở mãi thế này rồi thì liệu có ra cái gì không, hay lại dở dang cả một đời. Thì cậu cười và nói là chị cứ yên chí, cháu nó có ý chí, có quyết tâm và đủ sáng suốt để một là thắng lợi vẻ vang, hai là không có gì cả, chứ không chịu khi nào lại để dở dang cả cuộc đời. Riêng mình mình biết chọn đúng đường đi rồi, nhưng còn phải trải qua bao gian nan thử thách nữa thì chưa biết được, nhưng sẵn sàng đối phó để vượt qua. Nhiều người tin cậy và sẵn sàng giúp đỡ quá rồi, không thể để họ thất vọng. Ít nhất cũng có một cuộc đời trong sáng, sạch sẽ, không một vết nhơ, không có việc gì nên làm và làm được mà không làm. Tóm lại là chết lúc nào cũng được, không có gì phải ân hận. Thế thôi. Mình có tâm, còn tài thì hình như không có… hoặc chưa phát lộ! Nói thế để an ủi thôi.

TP Hồ Chí Minh ngày 9/4/2019.

P.T.

Chớ để mất thứ quý hơn nhiều

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 5 năm 2022

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

CHỚ ĐỂ MẤT THỨ QUÝ HƠN NHIỀU!

Phạm Tôn

Người nhỏ tuổi nhất đến giúp tôi tổ chức đám cưới tôi năm 1978 là cháu Nguyễn Minh Tuấn (thường gọi là , vì là em anh hai tên Hải) con em gái tôi. Cháu giúp lau bàn ghế sạch boong và đi lấy những vật dụng người lớn yêu cầu

Ha o Tu Xuong

.

Trong khi lau dọn cháu thấy bác có một món đồ hay hay. Tôi kể cháu nghe: đó là chiếc kiếm sản phẩm mỹ nghệ do Nhật Bản chế tạo, nhỏ và chỉ dài một gang tay, bao kiếm bằng gỗ, cán cũng bằng gỗ, sơn đỏ và vàng có hoa văn kim nhũ. Nhưng lưỡi kiếm thì bằng thép, rất sắc bén. Là đồ mỹ nghệ, nhưng dùng gọt quả táo, bổ quả cam đều được. Hồi bác nằm bệnh viện Chợ Rẫy năm 1976 vì chảy máu dạ dày, thấy chsu Lương Hoàng Tân công an Đồng Nai dùng, đẹp và dùng tiện quá mới nhờ mua hộ khi chủ nhật chú ấy về nhà. Thành ra nó cũng là kỷ niệm của bác vừa về thời nằm viện, vừa về chú ấy. Cháu Hà chăm chú lắng nghe và cứ thỉnh thoảng lại rút kiếm ra xem vẻ thích thú lắm.

Một hôm cháu đi chơi, không hiểu sao về đến nhà là khóc như mưa, khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mát to đen lông mi dài ướt đẫm nước mắt. Ai hỏi gì cũng không nói, cứ ôm mặt khóc. Tôi ôm cháu hỏi có việc gì vậy, cháu có bị làm sao không, đau chỗ nào. Sau khi rửa mặt cho cháu, cố giữ cho cháu bình tĩnh lại, cháu vẫn nức nở mãi, vừa khóc vừa kể: Cái kiếm Nhật của bác mất rồi. Cháu đem đi chơi, rút ra cho các bạn trong khu tập thể xem, ai cũng khen đẹp và muốn tự cầm kiếm, rút kiếm xem. Đang lúc ấy thì có một anh lớn hơn, chen vào đòi xem, rồi bất ngờ lấy kiếm chạy đi mất. Các bạn chạy theo đòi lại chau cháu, nhưng anh ấy chạy nhanh quá, không ai đuổi kịp. Cháu đánh mất kiếm của bác rồi.

Tôi bảo cháu: mất thì thôi, cháu không việc gì là được rồi. Uông nước rồi xuống sân dưới nhà chơi với các bạn đi. Nghe tôi nói, cháu nguôi dần rồi đi chơi với các bạn.

Năm ấy, tôi đã 38 tuổi, trong đời đã thầy nhiều chuyện trẻ con vụng về làm hỏng cái này, đánh vỡ cái nọ. Tiếp sau đó là truy tìm thủ phạm, phạt người có lỗi. Sau đó, đồ vật đã hỏng vẫn hỏng, đã vỡ vẫn vỡ, nhưng trong gia đình có thêm một người đau khổ, buồn bã là người vô tình gây ra sự cố và cả những người thương xót người bị trừng phạt, gia đình mất hòa khí, trẻ em mang chấn thương tâm lý rất nặng, có khi suốt đời.

Anh Cuoi Ton That Thanh Le Thi Dong (bo me) tai 82 ly chinh thang

Năm nay, tôi đã 82 tổi, có con dâu và cả đích tôn nữa. Tôi yêu quý cả hai mẹ con, có điều cả hai đều có lối đi giống nhau. Chỉ là nhìn về phía trước nhằm đích đến mà thường không chú ý xem chân mình đặt vào đâu và trên đường đi, cũng ít chú ý hai bên có vướng víu gì không, cứ đi cho nhanh. Thành ra thỉnh thoảng lại nghe xoảng một tiếng, vật gì đó như xoong vung thau ca kim loại rơi xuống sàn. Không sao… Có khi lại choang một tiếng, đồ sứ gốm hay thủy tinh rơi vỡ! Lúc ấy, tôi nghe tiếng nói: Đừng ai đi qua đây, để dọn miểng đã, kẻo giẫm phải đó!

Tôi biết, gia đình mình đã có một nếp tốt, con tôi đã truyền lại cho vợ con : Mất rồi, chớ để mất thêm thứ quí hơn! Là sự yên vui êm ấm trong gia đình. Tất nhiên có rút kinh nghiệm để những sự việc không may ít xảy ra hơn. Nhưng không có trừng phạt kết tội ai cả.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/4/2022.

P.T.

Tháng Tư 22, 2022

Rosa tội nghiệp (Chúng tôi đi Quảng Bình)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:49 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 1 tháng 5 năm 2022.

Năm mươi năm trước

CHÚNG TÔI ĐI QUẢNG BÌNH

Phạm Tôn

4-2: Rosa tội nghiệp

Các ngày 8/10 và 18/10/1969 tôi đều đi khám bệnh, chiếu điện. Kết quả không ngoài dự đoán: Tràn dịch màng phổi, viêm phế quản mạn tính, viêm dây thần kinh hông to hai bên, thấp khớp cột sống. Đơn thuốc ghi rõ Streptomycine 15 lọ, Rimifon 400 viên và Prednisolonc 60 viên cho một đợt điều trị 15 ngày. Đó là hậu quả của chuyến đi Quảng Bình. Theo đúng lệ của đời mình: Xong việc mới đổ bệnh. Như một qui luật. Kiểu của những con người chuyên đi bằng đầu. Lấy ý chí hòng khắc phục mọi trở ngại.

Từ ngày ở Quảng Bình về, tôi được chuyển làm cán bộ chuyên trách công đoàn, lúc đầu phụ trách văn hóa quần chúng, để kịp tham gia hội diễn toàn Cục Đường sông. Bản thân tôi còn hát và biểu diễn… ảo thuật nữa. Sau đó, trở về nhận nhiệm vụ chuyên trách bổ túc văn hóa như khi mới về cảng năm 1965. Tóm lại là trở về điểm xuất phát. Được mua một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu. Theo dư luận công nhân cảng thì kỳ này không phân phối xe đạp cho chú thì chẳng ai được nữa.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)

Đời có vẻ lên hương, nhưng sức khỏe thì ngày một đi xuống, có lúc ho ra máu.

Tối thứ bảy 27/10, Rosa mang đến cho nửa ký bơ. Chiều hôm sau lại đến. Trông thì gầy, nhưng lại nói cân nặng tới 55kg. Rất may là em đã khỏe hẳn. Rosa đều đặn mỗi tuần đến thăm một lần.

Trưa 7/11, nhận được thư của chú thợ điện gửi từ Trường Sơn ngày 29/10. Cuối thư vẫn nhờ hỏi thăm Rosa và gia đình.

Thứ sáu 12/11/1969, bệnh viện cho mình mỗi ngày chỉ làm việc bốn giờ. Tối, đến chỗ Rosa ở lấy lại sách cho mượn, chỉ được một cuốn của Trần Dân Tiên. Gặp Trung cùng làm ở cảng đến thăm cô Huệ ở cùng. Mình đến một lúc thì Rosa về. Cô Huệ nói: hay là có hẹn. Lúc sắp về, mình đùa hứa sẽ lo vợ cho Trung. Cô Huệ lập tức nói còn anh thì để cô Rosa lo cho.

Ngày 17/11, sau nhiều ngày tìm kiếm, sáng hôm qua mới mua được cho Rosa một chiếc áo vệ sinh mỏng, Bui Le Nghien chan dungmàu hạt dẻ. Tội nghiệp em, trời rét mà không có lấy một cái áo ấm. Hôm nay lạnh, mang áo cho Rosa. Rất may là áo Rosa mặc vừa như in. Tôi nghĩ, em mặc áo này bó sát người em thì cũng như anh đang ôm em vậy. Không biết Rosa có nghĩ lãng mạn như tôi không, nhưng rõ ràng là rất thích cái áo ấy. Một hôm Rosa đến cho anh em tôi năm vé xem phim ở Câu lạc bộ Đoàn Kết do báo Tiền Phong đăng cai tổ chức. Anh em tôi đến, Rosa mặc áo ấy đứng đón từ bao giờ. Em Thân khen trông có vẻ vận động viên thể thao quá.

Không rõ vì sao Rosa lại đau chân, chỗ gần cổ chân, không phải vết thương cũ. Cô Huệ muốn gán Rosa cho mình, em bảo thế.

Tối thứ tư, 3/12, Rosa đến, rất vui khi mình báo đã thi được vào lớp 5/6 Pháp văn học buổi tốt. Thứ tư, 10/12: Mấy hôm nay, mình ho hơi nhiều rất mệt, nhưng không nói cho Rosa biết sợ lại cho là viện cớ ốm đau để xa em. Chủ nhật, sáng đi xem Bảo tàng Lịch sử với Bùi Lê Nghiên, chiều và tối đều đọc Phê bình văn học của Như Phong. Nhớ Rosa lạ lùng. Có xe là đến tìm Rosa rồi.

Thứ hai, 23/2/1970, Rosa bị ốm, tôi đến thăm hai lần, đều đi tay không. Túi chẳng còn xu nào. Hơn nữa Rosa vẫn yêu cầu giữ bí mật.

Ngày thứ năm mua được cuốn Tuổi trẻ Các Mác, 274 trang, đọc một mạch, còn một phần nữa, để dành ngày mai đọc nốt. Càng đọc, càng nghĩ nhiều đến Rosa, cô Jenny tội nghiệp và can đảm của mình. Thứ hai, 13/4 đến 62 Bà Triệu đón Rosa về nhà ăn cơm cá, thì biết là em đã về nhà từ thứ sáu.pham tuyen choi dan

Thứ tư ngày 22/4 ghi: Lần cuối gặp Rosa lâu là ở nhà anh Đại ngày 15/3. Đã hơn một tháng rồi. Một lần gặp giữa đường, không nói gì. Một lần đến tận cơ quan thì Rosa họp chi đoàn. Chủ nhật 13 và 19/4 đến 62 Bà Triệu đều không gặp. Trong khi đó, Rosa có đến nhà anh Đại tận Kim Liên đưa nhuận bút. Nhất định là có vấn đề rồi…

Tối cùng em Thân đi xem phim Ở đầu thế kỷ thấy hình ảnh Krúp-xkai-a lại nhớ Rosa. Chủ nhật 26/4 xem phim Appasionata tiếc là không có Rosa cùng xem… Nhưng, chưa gặp Rosa thì chưa rõ sự im lặng và biến mất này thật ra có ý nghĩa gì.

Rosa làm văn thư ở cơ quan báo Tiền Phong, có quen một anh phóng viên nhiếp ảnh. Anh đưa cả em vào phòng tối dạy rửa ảnh. Còn làm cho một kiểu ảnh có khuôn mặt hiện lên trong một khuôn mờ hình bầu dục rất đẹp. Em cho tôi một bức. Em kể có lần cậu Phạm Tuyên đến tòa soạn. Rosa nhận xét là cũng cao như anh, nhưng không gầy như anh. Em khoe nhạc sĩ là cậu của người em yêu! Anh nhiếp ảnh bảo em yêu cháu nhạc sĩ Phạm Tuyên tức em biết là em yêu cháu ngoại ai rồi chứ… Các anh đang bàn kết nạp Đảng, còn dự định cho em đi học thủy sản ở Liên Xô, tương lai em đang rộng mở, em hãy suy nghĩ, đừng vì một tình yêu vô nghĩa mà hủy hoại cả cuộc đời mình… Tôi lắng nghe em nói mà xót xa trong lòng.

bang khen quang binh 4

Tôi bận công tác phong trào ở Cảng, lại ham đọc sách nên đến hôm anh Tôn Thất Đại tôi hỏi lâu nay em với Rosa thế nào, tôi mới ngớ ra…

Thứ tư, 6/5 tôi đến 62 Bà Triệu và toà soạn đều không gặp. Sắp đến Phật đản rồi, đã một năm chúng mình yêu nhau, xem ra những trở ngại bắt đầu xuất hiện.

Tối 8/5, khoảng 20:30 tôi lại đến 62 Bà Triệu. Hơi nản, vì đến đã nhiều lần lắm rồi mà không gặp. Không ngờ đến nơi lại chỉ có một mình Rosa ở nhà. Hai đứa về nhà tôi và tôi hiểu ra điều không hay đã xảy ra tệ hại hơn là tôi tưởng: Rosa cho biết có nói mấy cán bộ lãnh đạo Đảng ở cơ quan em biết về quan hệ của em với tôi thì họ ngăn cản, nói là tôi thuộc thành phần xấu, v.v… Rồi Rosa kể cho nghe cách đối xử thô bạo, khá là tệ của một số cán bộ, các lời xì xào bàn tán sau lưng bịa đặt của một số người, thêu dệt về người mà họ cho là đã bị lãnh đạo đặt vấn đề.

Tôi nói cho Rosa biết tôi không cho phép mình làm khổ Rosa, vì thế đã dặn dò Rosa nhiều, nhưng Rosa đã sơ xuất để sự việc tệ đến thế này, thì tôi phải quyết định Xa Rosa để Rosa khỏi khổ, phải chịu những hậu quả không đáng phải chịu. Tôi yêu lần đầu mà cũng là yêu lần cuối. Chỉ mong rằng những kẻ nghi ngờ tôi sẽ sống lâu hơn để được tận mắt chứng kiến cái chết của tôi, do đó có thể hiểu toàn bộ cuộc đời tôi. Điều đó sẽ có ích cho họ. Còn Rosa, nếu hiểu thì tốt, không cũng không sao. Rồi có ngày sẽ hiểu. Mình bình tĩnh nhẹ nhàng nói tất cả những điều tất yếu đó, hoàn toàn không có ý định sẽ làm khác. Nhưng Rosa bỗng nắm lấy tay mình, nép vào vai mình. Và lần đầu tiên, từ ngày biết nhau mình thấy Rosa rấm rứt khóc, khóc không ra tiếng mà nước mắt chan hòa, môi run lên bần bật… Không một lời nói mà mình hiểu tất cả… Rosa muốn chung thủy đến cùng với tình yêu. Thế là bắt đầu một giai đoạn mới, đầy gian khổ và kỳ lạ trong cuộc đời chúng mình. Cảm thấy gần gụi và yêu Rosa hơn bao giờ hết.

Sáng chủ nhật 10/5 đến chị dâu Thanh Thủy, kể chị nghe chuyện Rosa, Chị cho biết chị đã bảo Rosa ngay từ đầu là phải chuẩn bị tinh thần khi những việc xấu xảy ra. Đáng tiếc là Rosa ngây thơ quá, dại dột quá…

Thứ ba, ngày 12/5, Phật đản, đưa cháu Hải con trai em Nhàn đi chơi. Dốc hết tiền mua quà cho cháu và cho gia đình những thứ cần dùng như dép, xẻng… Về nhà, đọc Le Petit Chose (Chú nhóc) của A Đô-đê, làm các việc vặt cho hết ngày. Một năm qua mau chóng thật. Còn bao nhiêu lần ngày Phật đản sẽ phải qua đi tẻ nhạt như thế này. Mình còn phải làm bao nhiêu việc vớ vẩn, không định trước để những ngày Phật đản đừng thành quá dài với mình. Tình cờ, hôm 13 cháu Ánh Ngọc lên chơi kể là hôm Phật đản, cô Rosa đến nhà chơi, đem theo rất nhiều vải, ăn mãi không hết. Thì ra Rosa cũng có ý kỷ niệm ngày Phật Đản.

Tội nghiệp lạ… Nhưng mình không tiếc đã không có mặt ở nhà chị hôm đó. Mọi thử thách mới bắt đầu thôi. Cái mình cần là hiểu rõ thực chất của tình yêu và của người mình yêu.Chi Thuy Anh Ngoc

Chị dâu tôi yêu mến Rosa trong tình chị em bạn dâu. Sau này có kể hôm 1/6 sau khi chúng tôi chia tay ít lâu, Rosa lên nhà anh chị chơi suốt một ngày, cùng nhau đi chợ nấu nướng ăn uống vui ngày Tết Thiếu Nhi với cháu gái Ánh Ngọc. Chị kể là Rosa chân tình, vui vẻ, nhưng suốt ngày ấy, lúc nào cũng như mong ngóng ai. Rosa biết là năm nào tôi cũng vui 1/6 với cháu gái đầu lòng. Nhưng hôm ấy tôi vùi đầu vào đọc sách để quên đi mối tình đầu lãng mạn, trong sáng, nên thơ… Tối đó, trước khi vào dạy bổ túc văn hóa cho công nhân Cảng, tôi ghé xóm Phà Đến thăm ba em gái Rosa. Các em rất thích những món quà nhỏ tôi tặng. Không biết các em có hay được nhận quà 1/6 như thế không…

Sáng 8/7, thật là lạ: Lần đầu tiên bà mẹ Rosa đến nhà tôi thăm tôi ốm. Chiều thì Rosa đến, hơi gầy, nhưng khỏe. Vừa đi công tác về, được nghỉ đến 16/7. Vì đau chân, nhưng không có gì là nghiêm trọng, Rosa nói thế. Thẻ thương binh cũng lĩnh rồi, cuối tháng sẽ được đi học bổ túc văn hóa công nông. May ra thoát khỏi những lào già ác độc.

Ngày 9/7/1970, tôi lại sốt 39 độ 5. Cả nhà rất lo. Em Thân bỏ cả làm việc, đi Kim Liên báo mẹ ở nhà anh Đại và tìm cậu Khuê là bác sĩ đến thăm. Thân gặp Rosa ở Kim Liên.

Câu Phạm Khuê cùng em Thân về đến nhà là lên khám ngay cho tôi hệt như một bác sĩ quân y tận tụy săn Pham Khue mot minh o bac lieusóc đồng đội của mình từ chiến trường chiến thắng trở về. Cậu nhìn tôi đầy thương yêu và chúm môi lại, nói rất khẽ vào tai tôi: Đến nước này thì phải dùng strepto thôi. Cậu dặn, cố hết sức tiết kiệm sức khỏe, chỉ làm những việc thật cần làm.

Ngày 10/7, vẫn còn sốt, lại nhận được một bức thư ngoài bì đề tên người gửi là chú thợ điện, nhưng mở ra thì là do một người khác viết. Anh này nằm cùng đội điều trị. Thư viết hiện nay chú thợ điện bị thương nặng, bị sức ép nên tê liệt toàn thân, đầu óc khó phân biệt được. Chú nhắn anh sang chơi, hai năm xa cách chú ấy nhớ anh lắm.

Sáng 12/7, em Thân đèo xe đạp, đưa mình còn chống gậy vì hai chân đau buốt do viêm thần kinh hông to cả hai bên, sang tận Phù Đổng hỏi Đội điều trị số 12. Đến nơi thì người bạn nói chú bị tâm thần nặng, điên dại nên đã được cho xuất ngũ. Anh dẫn tôi ra sân đầy bùn đất sau trận mưa đêm. Đến một cái tựa như cầu khỉ, chỉ lên một người gầy gò, bùn đất đầy người, tóc tai bờm xờm, mắt láo liêng, bảo đó là chú ấy. Tôi kéo chú xuống, cố nói thật rõ cho chú biết vì sao Rosa nay lại yêu tôi, chỉ cốt sao cho mọi việc đều rõ ràng. Chú có vẻ lắng nghe, nhưng bỗng lại leo lên cầu khỉ. Anh bạn bảo xem ra chẳng hiểu anh nói gì đâu… Nhưng còn may, thấy chú lành lặn, đi lại tốt. Và sau đó, hoàn toàn không có vẻ gì là bị bệnh tâm thần nặng cả. Cách điều trị cũng đơn giản, mỗi ngày 12 viên A-mê-na-din và vài viên thuốc bổ. Có điều, mắt có vẻ kém và quên khá nhiều, da vàng, hơi phù.. Theo em Thân nhận xét thì người đi thăm là tôi mới chính là người thảm hại nhất trong số những người gặp ở đây. Tệ hơn tất cả các bệnh nhân. Tôi thì vui, chú ta không bi đát như tôi tưởng khi đọc thư. Rõ ràng thăm như thế động viên được chú ta.

13/7, Rosa đến nhà. Cũng như lần trước, định nói gì nhưng lại thôi. Ai hỏi gì đáp nấy. Tôi cho xem thư anh bạn và kể chuyện đi thăm chú em thì Rosa chăm chú nghe. Nhưng khi tôi kể là đã nói cho chú biết chúng tôi yêu nhau thì Rosa có vẻ khó chịu, bảo là Tại sao anh lại đi nói như thế… Tôi nói thật, phải nói vì chỉ có việc ấy làm tôi bận tâm thôi, chứ còn dư luận này nọ thì tôi không đếm xỉa. Tôi còn bảo bây giờ muốn công khai cũng được rồi thì Rosa lại bảo không nên, cơ quan đang gây khó khăn, chưa nên…

Chiều 15/7, Rosa đến, cho biết đã đi thăm chú em, thấy anh ta bình thường, tin là sẽ khỏe hẳn

Thì ra hôm nọ, do anh em tôi bất ngờ đến nên được xem chú diễn màn leo cầu khỉ, diễn như hằng ngày vẫn diễn làm ai cũng tin là bị tâm thần nặng.

Rosa lại nói anh ấy rất quí anh, quí anh nhất trên đời, thành ra em cũng khó xử. Anh ấy là em anh, thì em cũng chỉ là em anh thôi…

Rosa nói nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, như đọc lại một bài đã học thuộc lòng, hoặc nói những điều mình đã suy nghĩ kỹ, khác hẳn ngày thường gặp nhau, tiện đâu nói đấy toàn là lời chân thật.

Nhưng, chỉ được một lúc như vậy, rồi như không kìm nén được trước cái nhìn chân tình và sự lắng nghe thành khẩn của tôi, Rosa nói ra tất cả những gì chất chứa trong lòng.

Ở cơ quan, các anh ấy cứ bảo là, chỉ có hai con đường, em phải chọn một. Theo Đảng, theo cách mạng, tương lai rộng lớn hay theo tình yêu của riêng mình. Họ hỏi một câu ngu như thế mà em lại dại dột Xin cho suy nghĩ một tuần rổi sẽ trả lời. Ở cơ quan họ cứ giày vò em mãi, em khổ lắm.

Tôi thật sự phát cáu, đã bảo dứt khoát từ mấy tháng trước, thì lại thút thít khóc, đến nay lại vẫn cứ lằng nhằng. Sự thật chỉ có một con đường, con đường cách mạng, mà chính anh cũng đang đi còn đường ấy. Kẻ nào muốn cản thì cứ cản, nhưng đừng hòng làm anh đi chệch con đường đã chọn. Thôi, thế là xong, chúng mình là những con người trong sạch, nên sống cho rõ ràng. Hôm nay là ngày 15/7/1970, nhớ lấy.

Rồi chúng tôi hôn nhau một lần cuối. Nhưng đôi môi cứ gắn lấy nhau xoay đi xoay lại mãi không thôi. Bốn cánh tay siết lấy eo nhau, không muốn rời, mà không muốn rời thật… Bỗng như có sét đánh, chúng tôi buông nhau ra, chùi môi, chỉnh lại áo quần, rồi cùng vào nhà.

Bấy giờ khoảng 18 giờ. Tôi bảo Rosa về đi… về đi…về đi thôi. Rosa bảo anh đuổi em đấy à… Tôi bảo tối rồi đấy, về đi kẻo bị mưa, đường lại xa.

Rosa im lặng, rồi đứng dậy, tôi lại bảo về ngay đi. Thì Rosa bảo em xuống nhà cất xe kẻo ướt. Rồi cùng cả nhà ăn cơm tối. Trời mưa to. Cả nhà không ai biết chúng tôi nói gì với nhau. 21:20, Rosa ra về, mặc áo mưa mượn của em Thân. 21:30 mưa tạnh.

bang khen quang binh 2

Chiều 16/7, Rosa đến nhà trả áo mưa. Nhà đông người, ngồi khá lâu mà Rosa không nói một lời. Tôi trả Rosa tấm ảnh nghệ thuật em tặng tôi dạo nào kèm một câu tiếng Ý ghi ở sau ảnh, lấy từ Ruồi Trâu: Finita la commedia (Kịch đã hạ màn) kèm chữ ký A2, tự nhận mình là người thứ hai. Cuối cùng Rosa cũng xin phép về. Tôi đi theo, định nói Từ nay đừng đến đây nữa. Nhưng may thay chân đau, đi theo không kịp. Thành ra xuống tới sân khi Rosa chào, tôi chỉ ậm ừ, rồi múc nước rửa chân.

Tôi muốn Rosa khỏi băn khoăn do dự mà khổ cả một đời. Hơn nữa thử thách ban đầu nhỏ bé thế mà Rosa đã dao động quá nhiều. Rosa tất nhiên không giống Jenny của Mác, cũng không giống Krúp-xkai-a của Lê nin. Nhưng, còn xa mới kiên định bằng mợ Đỗ Thị An vợ cậu Khuê, cô Anh  Tuyết vợ cậu Tuyên và còn lâu mới theo kịp chị Thanh Thủy vợ anh Đại. Cho nên quyết định: 1/Cắt đứt với Rosa và 2/ Săn sóc chú thợ điện, vun vào với Rosa.

23/7, nghĩ về Rosa, thấy thương nhiều hơn là giận. 27/7, cùng em Nhàn đi thăm Đoàn Di. Trước khi đi, Doan Di deo kinhmình nói với em Nhàn ngày 27/7 có cái gì cho cái Rosa thì hay quá. Qua phố Bà Triệu, tôi chỉ nhà số 62 trong ngõ tối này là nơi Rosa đang ở. Tôi nói với Di bọn họ hành cô bé tệ quá; bảo là chỉ có hai con đường, phải chọn, một là tình yêu một là Đảng, cách mạng. Di lắc đầu, bọn nó tệ quá nhỉ. Tôi kể là đã dặn trước từ lâu rồi Rosa lại dại dột xin cho suy nghĩ một tuần rồi sẽ trả lời. Di nói hay là bảo cô ấy một chút. Nhưng thôi, bảo mà làm gì, phải tự biết lấy chứ.

Thế là rõ, tôi vẫn chỉ yêu có Rosa, rất yêu Rosa và vẫn cứ nghĩ đến Rosa. Nhưng không để cho Rosa biết, chỉ để bảo vệ Rosa.

Chủ nhật 13/12/1970 ghi: Thứ năm có đến nhà và gặp Rosa, gầy, buồn, mới nghỉ một tuần, thương tật được nâng lên một bậc. Trường giải tán, hiện không học ở đâu cả. Mắt lờ đờ, môi mỏng, héo. Vẫn mặc cái áo mình cho. Gần đây Rosa có đến nhà, nhưng mình đi vắng. Mình chỉ nói về chú thợ điện bệnh đã đỡ, vẫn an dưỡng ở Phù Đổng. Gần đây có đến thăm mình, do một bạn đèo đến nhà.

Ngày thứ tư, 30/12/1970 ghi: Trưa thứ hai về nhà, không hiểu thế nào lại đi qua con đường mé giáp sông, có nhiều đống đá dăm. Trên những đống đá này, dạo nào chúng mình từng ngồi bên nhau nói những lời chân thật hoặc chỉ ngồi bên nhau thôi, thật lâu và sung sướng nhìn nhau. Tối, có chút thời giờ giữa hai tiết dạy bổ túc văn hóa lại đến nhà Rosa. Em Minh mở liếp cho tôi vào. Hỏi chị Rosa có gửi gì cho anh không thì em Hải cho biết em đưa mấy cái giấy anh gửi đã lâu, nhưng không thấy chị đưa cho em cái gì cả. Em nói chị ấy dạo này hay quên lắm, bảo mua cho mấy cái nhãn vở mà mãi vẫn không mua. Chị ấy kêu là dạo này bận lắm. Nhớ lại lần cuối gặp Rosa ở nhà, gầy buồn, ngơ ngác, vẫn mặc cái cáo vệ sinh màu hạt dẻ mình cho. Lẽ nào suy sụp nhanh thế.

Thứ bảy, Ngô Tiến Thái rồi chú thợ điện cũng ra Cảng, phục viên rồi. Phòng tổ chức Cảng không nhận lại. Vì đủ người rồi.

Mình và vợ chồng Đỗ Xuân Bảo lái cẩu mời hai vị khách không may… ăn cơm. Sau đó mình với tư cách là chuyên trách công đoàn Cảng phụ trách văn hóa, đưa hai bạn đến gặp bác Nguyễn Văn Tuân phó giám đốc có tiếng là ngay thẳng, liêm khiết, nhờ giúp đỡ. Cũng gặp cán bộ công đoàn, đoàn thanh niên nhắc lời hứa nhận lại khi tiễn anh em ra trận.

Hôm sau, vội đến 62 Bà Triệu báo tin. Thì ra Rosa gặp chú thợ điện từ hôm qua, ngay sau khi chú cùng đi với mình và Thái. Thứ tư 6/1/1971, Thái đi chuyến tàu 21:00 về đơn vị. Sớm mai, chú thợ điện cũng về trại an dưỡng.

Tối chủ nhật 31/1/1971, đi mua sách xong là đến chú thợ điện như đã hẹn. Một cuộc gặp gỡ, trò chuyện thân mật, thẳng thắn đến kỳ dị. Hai anh em rất thương nhau đang bàn bạc về một cô gái mà cả hai cùng yêu. Đó là bề ngoài. Thực ra chú ta rất yêu Rosa và cố tìm hết cách để đến được với Rosa. Giờ đây, chú sẵn sàng nhận mọi sai lầm về tư tưởng, tình cảm, đối xử với Rosa trong suốt mấy năm qua, nhất là từ khi Rosa bị nạn.

Chủ nhật, 14/2/1971, đi suốt ngày, mua sách, giới thiệu em Thân dạy con nhà Nguyễn Khánh Toàn, về thì mẹ bảo chú thợ điện đến chờ khá lâu, trời lạnh mà chú mặc rất phong phanh, chú nói với mẹ là ở Cảng, ai là không yêu, không quí anh ấy, cháu với anh ấy còn thân thiết hơn anh em ruột. Tôi nghĩ, mình cũng đang lo công ăn việc làm cho chú.

Thứ năm, 25/2/1971, chú thợ điện ăn hỏi Rosa. Thứ sáu mình mới vào được nhà Rosa ở xóm Phà Đen. Cả nhà đi vắng, anh Quý người lái cẩu ở trọ nói là chú thợ điện đưa Rosa và gia đình về quê.

Thứ tư, 17/3, trước khi đi học Hán Ngữ, ghé 62 Bà Triệu trả cô bạn cùng mê sách như mình cuốn Thơ Ét-xê-nhin và tiểu thuyết Hê-minh-uây. Chỉ gặp Rosa và một cô bạn, bèn gửi sách nhờ Rosa trả hộ. Suốt thời gian mình ở đây, Rosa chỉ đưa mắt nhìn kín đáo. Lúc mình về thì đi theo ra tận cửa buồng, còn nói là sớm, chưa đến giờ học… Mình thản nhiên chào hai cô và đi thẳng, không muốn “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, chẳng ra thế nào cả. Cô bạn mê sách là phóng viên báo Tiền Phong, có lần rủ mình về làm ở báo, vì bên này đang cần người viết được. Mình đáp ngay, tôi về thế nào được, ở đấy nhiều người thù ghét tôi lắm. Cô bạn mở to mắt ngạc nhiên nhưng không nói gì, chỉ nhìn lạ lẫm.

Thứ tư 7/4/1971, trước giờ học, đến nhà 62, được cô Huệ cho biết là Rosa và chú thợ điện chuẩn bị cưới, có lẽ cuối tháng này. Mình gửi một tút thuốc lá Tam Đảo, nhờ đưa Rosa.

Sáng thứ bảy, chú thợ điện đến Cảng. Không ai có thể tin là mình và chú đã nói với nhau rất thẳng thắn về tất cả mọi chuyện khó nói một cách giản dị nhất, như sự thật vậy. Có lẽ Rosa cũng không dám tin như vậy cho nên không gặp mặt mình suốt thời gian này.

Thứ tư, ngày 14/4/1971, toàn cảng râm ran về chuyện cử người đi Công trường 71, đi B, đi C… Trưa 15/4, đang ăn cơm thì Ngô Tiến Thái đến theo hẹn khi gặp giữa đường. Gầy, bơ phờ, râu ria lởm chởm, da bệch bạc, đang lo chạy hộ khẩu Hà Nội.

Sáng thứ năm 24/4 nhận được giấy mời tới 15 Hồ Xuân Hương dự đám cưới. Thế là Rosa đã tìm cho bản thân một lối thoát về chính trị hơn là tìm một tình yêu. Nhưng biết làm sao khi bị o ép, chính Rosa đã chọn như vậy, muốn như vậy.

Thứ bảy ngày 24/4/1971, vừa đi dự cưới về. Cả nhà đi vắng, mình bật đèn nhỏ, viết mấy dòng này. .. Ông chủ hôn, một người của tòa soạn báo Tiền Phong, chắc chắn là một trong những “đạo diễn” đám cưới này, đã phải xuất tướng để đưa “tác phẩm” của họ đến kết quả mong muốn là bảo vệ Rosa, đem lại hạnh phúc cho Rosa.

Ông anh hờ của chú rể, một giáo viên và có lẽ là hầu hết người dự đều cảm thấy là một mối tình chung thủy, tuyệt đẹp. Vì việc nước mà ngừng hôn nhân. Xong việc nước mới tổ chức đám cưới. Tình yêu nảy nở trong lao động củng cố và càng thêm vững chắc trong chiến đấu, v.v… mọi người đều xúc động, cảm thấy học tập được rất nhiều ở đôi bạn trẻ này. Thật giống hệt như các bài viết trên báo chí quá đi mất. Nhân dân vốn quen đọc, học và làm theo báo chí. Vì dân vốn tin tưởng cách mạng mà. Hôm nay, dự đám cưới này, tôi những mong được trải nghiệm một cảm xúc độc đáo: Một thanh niên dự đám cưới của người mình từng yêu và cũng yêu mình tha thiết. Tôi hụt hẫng, tiếc nuối đau đớn như một nghệ sĩ điêu khắc đá thấy người ta đang hủy hoại tác phẩm tâm huyết, để đời của mình đang từng bước hoàn thiện. Thế mới biết, tôi là kẻ mơ mộng, muốn tạo ra chung quanh mình một tập thể những con người biết thương yêu nhau nên luôn luôn nhìn con người cao hơn chính bản thân con người ấy. Rosa lấy chồng, không phải tôi mất đi con người minh yêu mà là mất đi con người đang vươn tới con người lý tưởng tôi yêu. Tôi lý tưởng hóa Rosa thành con người tôi hằng yêu mến. Chứng cớ hùng hồn nhất cho việc đó là trong nhật ký tôi đã gọi em là Rosa, có ý mong em sẽ noi gương, thậm chí giống như Rosa Luxembourg, một nữ chiến sĩ cách mạng Đức, bạn chiến đấu của Các Liếp-nếch. Trong khi sự thật, hai người chỉ giống nhau ở chỗ… cùng có tật ở chân.

bang khen quang binh 1

Suốt đám cưới, Rosa không một lần nhìn tôi. Đám cưới tổ chức ở toà soạn báo Tiền Phong, khách ngồi trên những chiếc ghế nhỏ nước bạn viện trợ, căng vải hoa trên hai khung sắt chéo. Khách cũng không đông.

Bác Hữu Thông, anh ruột nhà văn Hữu Mai, cũng dự. Hai hôm sau vẫn cứ nhắc đi nhắc lại mãi cái nhận xét này:  Lâu nay không gặp cô Rosa. Lần này gặp, tôi thấy cô ấy khác quá, giống như một thiếu phụ chứ không có vẻ gì là một cô gái nữa… Có vẻ suy nghĩ, lo lắng nhiều mà lại còn uể oải, chán nản nữa… Hình như cô miễn cưỡng phải làm một việc chẳng thích thú gì, chẳng vui vẻ gì. Trông cô già đi nhiều quá. Không hiểu tại sao…

Tôi thì biết rõ những ai đã giày vò em suốt mấy năm qua đến nỗi tàn tạ như hôm nay. Càng thương Rosa hơn.

Sáng thứ ba, 27/4 tôi đến nhà Thái, rồi hai đứa cùng đến thăm chú rể thợ điện. Chú thợ điện có vẻ mệt mỏi lắm rồi, xa thực tế đến mức ngớ ngẩn, chỉ muốn mọi người phải lo cho mình đủ mọi thứ. Ngại đi xin việc. Nhất là sau khi Thái nói đi xin việc nhục lắm anh ạ, họ coi bọn lính trở về như kẻ ăn mày…

Chủ nhật 9/5/1971: 9:00 tôi đến nhà chú thợ điện, chỉ gặp Rosa, vừa gội đầu xong, buồn, không biết nói gì. Nhưng tôi không hỏi, cứ nói chuyện với một bà cùng nhà và chị em họ của chú thợ điện… Trong đống sách chất táp nham đủ loại trên tủ tôi tìm thấy Thơ Aragon Tốt lắm thơ của Mai-a tôi cho mượn cách đây hơn một năm. Cả hai cuốn đều nhàu nát, trang in ảnh Aragon thì mất. Lúc về, Rosa cũng tiễn ra đến cửa, không nói gì.

Tối thứ tư, 12/5 theo lời khuyên của tôi, chú thợ điện ra Cảng nhận việc. Vẫn làm thợ điện.

Hôm nay, lại thêm mấy thanh niên nữa ở Cảng tuyên bố: Nếu anh đi đường 9 thì em cũng đi. Nguyễn Tiến Chung thợ rèn bảo với Phạm Văn Lân là anh ấy ốm nặng, lại đi Quảng Bình rồi. Kỳ này, tao với mày đi, nếu yêu cầu xung phong đi là cả hai đứa đều xung phong, hiểu chưa? Thật cảm động. Anh em hiểu mình. Chuyến này khó hơn chuyến đi Quảng Bình nhiều. Mình chưa nghĩ ra được mẹo gì để lại được đi và đi được.

Dạo này ngủ kém lại hay nằm mơ vớ vẩn. Tối thứ năm 20/5/1971, nằm mơ thấy Rosa, buồn hết sức, chỉ nhìn mình rồi cúi đầu, không nói gì hết. Thật không dễ gì quên…

Tối thứ bảy, 27/5, Thái đến nhà, cùng nhau ra quảng trường Ba Đình dạo chơi. Thái báo tin đang xin việc ở nơi khác. Trò chuyện một lúc mới biết Thái đến là có chuyện to. Đỗ Đình Hưng một công nhân bốc vác rất thân với mình, từng ngủ chung giường một thời gian ở Cảng, nói là chú thợ điện đã nói với chú ta là trong thời gian anh ta đi bộ đội, ở nhà anh Thành đã tấn công Rosa rất dữ dội, nhưng cô ta cương quyết chống lại, và bây giờ, anh ta về, hai người lại yêu nhau vã đã lấy nhau. Hưng không tin, hết sức bực mình, cảm thấy khinh ghét chú thợ điện hết sức.

Sáng hôm sau là chủ nhật, tôi đến ngay nhà chú thợ điện. Hơn 7:30 mà chú ta vẫn nằm ườn trên giường. Tôi bảo Rosa gọi, chú ta mới dậy. Rosa pha nước trà. Không ai uống. Tôi nói ngay có người nói là chú nói những điều không đúng về tôi, và dẫn ra lời Hưng. Chú ta nói loanh quanh, luẩn quẩn hết chuyện bệnh tật, lại an dưỡng, người này, người nọ… Tôi yêu cầu trả lời có nói hay không. Chú ta đáp, có nói, nhưng theo ý khác.chỉ nói với Quang, không nói với Hưng. Cũng biết nói thế là không phải rồi.

Như vậy là không phải chỉ nói với một người…

Tôi về, sau khi yêu cầu chú suy nghĩ kỹ. Chừng nào chưa nói thật được thì đừng gặp tôi.

Từ đấy, cùng làm ở Cảng mà tôi không thấy mặt chú lần nào. Tiếc là cũng không thấy mặt Rosa luôn.

Nhân chuyện nhìn con người cao hơn con người thật của họ, tôi lại nhớ một chuyện vui. Chiều 1/1/1971, trên đường đi về nhà, tình cờ có người gọi to tên tôi giữa phố. Hóa ra Nguyễn Văn Vọng cây hò đối đáp số một đội Cảng Hà Nội ở Quảng Bình. Em rất mừng là không ngờ được may mắn gặp anh. Vọng kể hồi ở Quảng Bình, em có a dua với một nhóm thanh niên xấu, làm nhiều việc không tốt. Sau đó lại phạm thêm một số khuyết điểm nữa mà anh biết, nhưng vẫn bỏ qua. Về nhà, em trốn gia đình đi bộ đội đã được một năm. Làm đặc công. Học trường sĩ quan, lại là tiểu đội trưởng, ra trường rồi, trên đường đi nhận nhiệm vụ.

Thật tình tôi chỉ nhớ giọng hò tuyệt hay của chú mà chẳng nhớ một tội nào của chú. Có lẽ chú thuộc diện bị tôi dùng tâm công, đánh vào lòng bằng cách tặng bao Điện Biên bao bạc dạo nào. Thật vui là chú còn nhớ tôi và mến tôi.

Lại chuyện Đỗ Trọng Phẩm, cậu ta luôn làm tôi ngạc nhiên vì trí thông minh và sự tế nhị. Hôm tôi đứng ở chỗ cần cẩu cổng, thì một số thanh niên xúm quanh hỏi chuyện đi đường 9. Tự nhiên Phẩm xuất hiện. Thế nào anh cũng phải về quê em một chuyến, đến ở nhà em anh muốn gì cũng có. Một bạn lém lỉnh nói chen: nó mới lấy vợ xinh muốn khoe anh đó. Một cậu khác muốn dồn Phẩm vào chỗ bí mới nói với cái nháy mắt rất đểu: Có thật anh muốn gì ở nhà em em cũng xin mời anh không.

Tôi choáng khi Đỗ Trọng Phẩm thản nhiên trả lời trong tiếng cười và cặp mắt cũng cười: Thi tôi cũng muốn có đứa con thông minh chứ, có phải không các bạn.

Đến đây, tôi xin chấm dứt những trang viết về chuyến đi Quảng Bình. Những kỷ niệm đẹp vẫn sống mãi trong tôi. Ước ao gặp lại bất cứ bạn nào cùng sống ở Quảng Bình những ngày tháng ấy, như tình cờ gặp Nguyễn Văn Vọng giữa đường làm tôi vui suốt cả một tuần.

Bây giờ 78 tuổi rồi, tiểu đường phát hiện và chung sống đã 20 năm lại còn ung thư, mổ cũng được 10 năm.

Còn sống còn nhớ mãi những ngày Quảng Bình, trong sáng, ấm áp tình người.

TP  Hồ Chí Minh ngày 19/12/2018

P.T.

Viết thêm

Có cô nhiều chuyện biết một chuyện động trời. Một hôm không chịu nổi nữa đã nói với cô láng giềng kín miệng là anh ấy thế mà tệ. Có người em kết nghĩa đi bộ đội là ở nhà cướp người yêu của em.

Cô láng giềng ấy là bạn em gái tôi, biết tôi từ thuở tôi lên 10 còn cô lên 6. Duy nhất một lần cô gọi tên tôi là thế này. Cả hai nhà đều đi sơ tán, chỉ tôi và cô mỗi người ở một nhà. Một hôm tôi đi trên gác xuống thì cô đi lên gác nhà cô, cách nhau cỡ hai mét. Cô gọi, bảo sao dạo này anh hốc hác thế. Tôi bảo bận quá, lại ít ngủ thôi. Rồi sau đó mấy hôm cô đưa sang cho tôi một lạng cao gấu cô nhờ mua hộ. Tôi trả tám đồng. Rồi mua rượu ngâm cao gấu uống mùa rét, thấy khỏe ra.

Sau này, tôi vào Sài Gòn giải phóng, nhiều người gán ghép tôi với cô này cô nọ, tôi đều lờ đi. Một ông cậu, em họ cậu Tuyên hỏi tại sao. Tôi nói thật, vì cô nào tôi cũng cứ đem so sánh với cô láng giềng kín miệng, và đều thấy là không được. Thì ông này bảo cậu cứ như thế thì có đứa ở Hà Nội nó lấy mất đó. Tôi vội viết thư nói là nên về chung một nhà. Và năm 1978, đúng 10 năm đi Quảng Bình về, tôi ra Hà Nội ăn Tết lần cuối. Đầu tháng 9, chọn ngày mồng 2 làm ngày cưới nàng tại Sài Gòn. Rồi nàng ra Hà Nội học cho xong khóa đại học tại chức. Đến 1982 tôi mới đưa nàng về dinh tại 82 Lý Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh và ở với nhau cho đến nay.

Nàng theo dõi việc tôi với Rosa từ lâu, và hay trách tôi quá cứng nhắc, đâm ra tàn nhẫn với Rosa. Tôi nói thật, đó không phải ý tôi muốn mà do tình thế lúc ấy, ốc không mang nổi mình ốc còn cứu được ai. Tôi thương Rosa lắm, nhưng đành bó tay. Mọi việc tôi theo ý Rosa định đoạt. Tôi sống vốn không phải để làm cho ai khổ cả. Năm 1983, chúng tôi sinh một heo vàng. Sau khi tôi mổ ung thư xong, năm 2010, heo vàng lại cưới heo vàng cùng lớp. 2011, sinh một bé Mèo trai, 2015 lại sinh một bé Dê trai nữa.

Cứ nhớ mãi hồi tôi mới có Heo vàng, mẹ tôi vừa bế cháu đích tôn vừa cười. Tôi hỏi có gì mà mẹ vui thế, bà nói mẹ không nghĩ là con sống được, còn có vợ, bây giờ lại sinh đích tôn cho bà bế. Bà vui lắm. Mẹ tôi sinh ba con trai, tôi là con thứ hai, anh và em đều cưới trước tôi nhưng sinh toàn con gái. Thành ra con trai tôi sinh sau, có đến bốn chị, chị nào cũng yêu em.

Nhiều khi tôi vẫn nghĩ không biết gia đình Rosa nay thế nào, có bình an không. Mong rằng những ngày trong sáng tươi đẹp chân thành bên nhau năm xưa sẽ giúp em đứng vững trong cuộc đời còn nhiều khó khăn này. Nhưng hoàn toàn không có tin tức gì. Mấy lần ra Hà Nội, về Cảng Hà Nội, gặp nhiều người quen cũ, tuyệt nhiên không ai biết gì về Rosa. Đám cưới con trai tôi có một đoàn khách đông nhất đến từ Hà Nội là nhà chị Vương Thị Tửu công nhân cảng, từ Thanh Trì cùng các con đi máy bay vào.

P.T.

Viết thêm nữa

Đến năm nay, 78 tuổi rồi tôi mới nói với anh Nguyễn Đạt Hải, anh em đồng hao là người dẫn tôi đến ra mắt gia đình vợ tương lai: Tôi chưa bao giờ nói ba chữ Anh yêu em chàng trai nào cũng nói. Mà chính vợ tôi lại nói đến bốn chữ Em yêu anh quá dịp chúng tôi đi nghỉ ở Nha Trang sau 35 năm cưới.

Anh Hải kể, cả nhà lo vì còn một em gái chưa chồng, anh đã mất công giới thiệu những bạn thân thiết nhất, những đàn em yêu quí, tin cậy nhất nhưng cô đều từ chối ngay sau lần gặp mặt. Cả nhà lo. Khi cưới cô dâu đã 34 tuổi, chú rể 38 tuổi. Năm sinh đích tôn cho mẹ tôi, nàng 39, chàng 43. Đến nỗi khi được tin này, bà Phạm Thị Hoàn, chị nhạc sĩ Phạm Tuyên, em bác sĩ Phạm Khuê định cư tại Pháp phải gửi thiếp Hoan hô Lê Thị Đông. Hồi tôi ốm nặng, nằm ở bệnh viện Nguyễn Trãi, vợ tôi không rời tôi. Chú em nhà gần bệnh viện bảo chị về nhà em tắm rửa cho khỏe người thì cô ấy bảo không đi, sợ chị vắng mặt đúng lúc anh ấy qua đời. Chỉ chúng tôi biết chúng tôi yêu nhau thế nào, người ngoài không ai hiểu đâu. Gần đây, một chị phê bình văn học rất thân với tôi từ thời tôi còn đôi mươi, vẫn còn gọi điện hỏi thăm, mà không quên nói việc em lấy cô ấy là một bất ngờ với nhiều người đấy. Như tôi đã nói trên, người ngoài không hiểu đâu.

Lại viết thêm nữa

Có một nhà văn đọc một bài của tôi đã viết là: Bài này nếu sửa một chút là thành một truyện ngắn hay, nhưng đọc buồn quá. Tôi nhắn tin lại là Sự thật nó vốn buồn thì tôi viết đúng như thế. Tôi không phải nhà văn. Cho nên thuật nhi bất tác. Cố gắng hết sức viết cho thật đúng sự thật, càng gần sự thật càng tốt. Cuộc đời thật bao giờ cũng to hơn trang sách. Chỉ cốt để người sau có cái mà hiểu và phán xét, rút ra bài học cho mình.

Mong lắm thay….

TP Hồ Chí Minh ngày 19/12/2018.

P.T.

——————-

Mấy lời viết thêm thời Covid

Mấy năm ở nhà thời Covid (2019-2022), có nhiều thời gian duyệt lại đời mình, tôi thấy chuyện tình đầu với Rosa kết thúc có vẻ như: Đem bục công an đặt giữa trái tim người/ Bắt tình cảm ngược xuôi theo chiều Nhà nước! Nhưng, nay 20/4/2022 nghĩ kỹ lại thì thấy có gì đó không thỏa đáng.

Trước khi kết thúc không lâu, chúng tôi cùng nhau đi chơi. Chán những chỗ cũ rồi, tôi rủ đến Văn Miếu Quốc Tử Giám xem sao. Ban ngày tôi đến đây đã nhiều, thường đi với anh Đại tôi hay mang theo bút vẽ. Không ngờ lần đầu đến đây buổi tối thấy lạ quá. Tối om. Dắt xe đạp vào tìm chỗ ngồi thì thấy hóa ra rất đông người, nhưng chỉ rủ rỉ rù rì cho nên cứ tưởng chưa có ai . Cuối cùng tìm ra một chỗ gần gốc cây, ngồi được. Chỉ vì có ánh đèn rọi vào. Vừa yên vị thì nghe lũ trẻ con tinh quái thích thú soi đèn pin vào các cặp đôi, rồi còn nói to: Em ơi, ta làm một cái nào! Tôi đùa: Có nghe trẻ con nó bảo gì không, thì Rosa nói ngay: Mình cứ chờ đến sau khi cưới đi… Tôi bảo đi ra chỗ khác thôi, không ngồi nói chuyện ở đây được. Xem ra áp lực của cấp trên ở cơ quan cũng chẳng có gì ghê gớm.

Nhưng có lần Rosa nói: em thấy em khác với gia đình anh quá. Rồi sau một lần em lỡ phạm một lỗi bột phát từ tật xấu ngày xưa khiến Rosa càng xa lạ với gia đình và cả với tôi hơn. Vì thế mới có hành động đột ngột rời bỏ tôi. Cho nên sau lại có những hành động tiếc nuối, né tránh tôi và buồn bã ngay cả trong ngày cưới mà ai cũng nhận thấy. Quả là mọi biến chuyển của sự vật đều do nguyên nhân nội tại quyết định. Áp lực khách quan dù có lớn đến đâu cũng chỉ là tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình diễn ra sớm hơn mà thôi.

Từ mấy chục năm nay, tôi vẫn mong có dịp gặp lại Rosa. Vì cô Rosa trong trắng, chất phác, kiên cường, giản dị vẫn sống trong tôi. Nhất là vợ tôi, ngay sau khi cưới đã luôn trách tôi quá cứng nhắc, nên tàn nhẫn với Rosa. Tôi vẫn mong đời em được an lành, không dám mong em hạnh phúc. Nhưng chỉ một lần tôi gặp chú thợ điện ở nhà mẹ vợ. Vì vẫn giữ đúng lời tôi dặn là: khi nào chưa nói thật về chuyện tôi và Rosa thì không được đến trước mặt tôi. Lần ấy tôi đến thăm bà mẹ Rosa mà gặp con rể thôi. Tôi biết có hỏi chú ta cũng chẳng biết điều mình cần biết.

Gần đây, tìm được Bùi Lê Nghiên và Nguyễn Tiến Chung là hai bạn thân cùng làm ở Cảng. Nhưng hai bạn này lại không hề quen biết gì những người biết Rosa. Tôi có hỏi cô bạn nhỏ từng làm phóng viên báo Tiền Phong và nhiều lần sống cùng Rosa, nhưng không có hồi âm.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/4/2022,

 khi cả thành phố đang tiêm vaccine cho trẻ em từ 5 đến 11 tuổi,

bắt đầu cuộc sống bình thường mới thích nghi an toàn, linh hoạt

để chiến thắng đại dịch đưa thành phố tiến lên mạnh mẽ.

P.T.

Tháng Tư 10, 2022

Rosa sống lại (Chúng tôi đi Quảng Bình)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 4 năm 2022

Năm mươi năm trước

CHÚNG TÔI ĐI QUẢNG BÌNH

Phạm Tôn

4-1: Rosa sống lại

Đến lúc này, không thể không viết về Rosa. Cái tên ấy đã xuất hiện đến bốn lần trong Sau Tết Kỷ Dậu. Nào là tôi được hai cô gái lạ thơm trong mưa rét, nào là khi tôi hát đến bài Yêu bết mấy những con đường thì lại nhớ Rosa. Rồi khi thăm các cô gái Đội I Sông Gianh thì bỗng các cô nhắc đến Rosa khen là can đảm, còn xinh nữa… Cuối cùng là khi từ Quảng Bình về, tôi ghé nhà Rosa ở xóm Phà Đen, được nghe câu Em cũng định gửi quà cho anh, nhưng sợ mọi người biết, nên lại thôi.

Chuyện đã qua hơn nửa thế kỷ rồi. Nhưng viết về Rosa không khó. Em bao giờ cũng ở trong trái tim tôi. Và những gì ghi chép về em theo đúng thời gian đang diễn ra sự việc ấy, vẫn được giữ kỹ. Năm nay, tôi 82 tuổi rồi, nhưng Rosa của tôi mãi mãi vẫn là cô gái tôi biết, tôi yêu năm xưa…

Chuyện của chúng tôi thế này…

Tôi mê đọc sách từ bé. Cậu Phạm Tuyên dạy tôi biết đọc, rồi cậu đi. Tôi tự tìm sách và tất cả những gì có chữ để đọc. Không đi học vì hồi ấy tản cư, chưa có trường cho bọn nhỏ vỡ lòng như tôi. Tôi tìm thấy một cái bồ to ở góc buồng thờ của nhà chủ. Giấu dưới cái chăn bông cũ nát là cơ man nào là sách. Sau này mới biết đó là di vật của con trai chủ nhà chúng tôi ở nhờ. Anh bị ho lao, sống những ngày cuối đời ở căn buồng ấy, đọc những sách ấy. Đầu óc non nớt của tôi khi ấy còn ghi nhớ mãi tên một cuốn sách nhỏ là Lá thư rơi tôi đọc mà cảm động lắm. Vì hồi ấy mẹ đưa chị thứ tôi ra Hà Nội để mong cứu mạng con gái 14 tuổi đã mắc bệnh lao phổi nặng. Tôi và chị cả cùng anh sống với bà ngoại đã khánh kiệt. Đọc sách, thấy hay mà không để ý tác giả là ai…

Năm 1954, Hà Nội giải phóng. Cuốn sách đầu đời tôi mua là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, bìa màu tím nhạt. Sau đó là các sách về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Nhất là các tiểu thuyết của Liên Xô. Đặc biệt là cuốn Thép đã tôi mà thoạt đầu tôi tưởng là sách về luyện thép, hóa ra đó là sách rèn đúc, tôi luyện nên những con người chân chính. Từ đó, tôi mơ ước được sống trong một tập thể những con người biết thương yêu nhau, cùng nhau chia vui sẻ buồn. Tôi vào đời bằng nghề bán báo lẻ, rồi ghé qua toà soạn và nhà in một tờ báo lớn, đi học ở Học viện Nông Lâm, đành bỏ dở việc học vì bệnh lao phổi như người thanh niên chủ nhân bồ sách tôi đọc ngấu nghiến hồi nhỏ ở làng Vạn Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)

Thế là khi về Cảng Hà Nội năm 25 tuổi tôi đã có hẳn một học thuyết về xây dựng một tập thể yêu thương chia sẻ.

Hồi ấy, Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc. Cả thành phố sơ tán về nông thôn. Nhà tôi chỉ còn mình tôi ở Hà Nội vì làm ở Cảng, thuộc ngành giao thông vận tải, có nhiệm vụ phục vụ sản xuất và chiến đấu. Tôi lo việc học bổ túc văn hóa cho hơn một nghìn người ở đây. Ăn cơm tập thể. Những tối dạy học về muộn thì ngủ lại với anh em công nhân, quen biết hầu hết công nhân, nhất là thanh niên.

Có một nhóm thanh niên, chủ yếu là người Thường Tín thường xuyên đến nhà tôi vào chủ nhật và ngày nghỉ. Nhiều khi đến cả tối, rủ nhau đi bộ từ bến Phà Đen đến nhà tôi tận 16 Hàng Da có đến hơn năm cây số. Đặc biệt là từ khi Mỹ ném bom dữ dội, nhà tôi càng đông khách. Khách đến, tôi phải nói ngay là nhà không có hầm trú ẩn. Hố cá nhân hè đường thì người qua đường và những người ở tầng dưới dùng rồi. Thì các bạn cười: chúng em lên đây cốt có anh, có anh là yên tâm rồi. Hôm có máy bay rơi, anh em tôi ra ban công xem tất rõ. Trong số đến thường xuyên có khoảng mười bạn Thường Tin. Lọt vào đó là một cặp dân Hà Nội. Chàng là thợ điện, nhà ở phố Huế, phòng giáp mặt đường lớn. Còn nàng là công nhân bốc vác, nhà ở xóm lao động Phà Đen phía trong đê, đối diện với Cảng sông Hà Nội.

Điều các bạn thanh niên này gắn bó với tôi chính là vì tôi bao giờ cũng nhìn các bạn ấy cao hơn con người thật của bạn ấy hiện tại, bao giờ cũng hướng các bạn vươn lên, theo hướng tương lai tươi sáng hơn. Bao giờ tôi cũng khuyên và tạo điều kiện cho các bạn học và hằng ngày đọc sách, còn cho họ mượn cả sách. Chúng tôi gặp nhau bao giờ cũng vui vẻ vì cùng hướng đến tương lai tươi đẹp hơn của mỗi người. Bàn bạc, đám thanh niên nói rất hăng, cãi cũng dữ. Còn Rosa chỉ im lặng ngồi nghe, mắt chăm chú nhìn từng người đang nói. Trong khi đó, tay vẫn nhặt rau, rửa cá chuẩn bị bữa cơm anh em. Tất nhiên, Rosa cũng là người chủ chốt trong việc đi chợ, có một hai chàng phụ tá. Ai góp bao nhiêu tiền cũng được, Rosa liệu mà mua đồ ăn. Hôm nào ai có món gì đem từ nhà đến,  thì cũng góp luôn vào bữa cơm chung. Rosa là em út của tất cả chúng tôi, mặc dù là người yêu của riêng chú thợ điện.

Năm ấy, Rosa gây ra một vụ động trời, làm loạn cả xí nghiệp Cảng sông Hà Nội suốt một ngày. Rosa muốn đi Thanh niên Xung phong. Gia đình không đồng ý vì Rosa là con gái lớn, cùng mẹ là lao động chính trong nhà, còn ba em gái không hiểu sao lai kém Rosa đến mười tuổi, chỉ học, và làm việc nhà. Rosa giả chữ ký của mẹ, rồi nhờ cô bạn văn thư là cô Sửu, mượn cho con dấu của xí nghiệp đóng dấu và chữ ký tên chủ nhiệm là xong cái giấy giới thiệu Rosa đi Thanh niên Xung phong. Con dấu, thì sợ không dám đem trả, đem vứt ở chuồng lợn. Sau cô Sửu khai ra, tìm dược dấu mới thôi rắc rối. Chẳng ai nỡ kỷ luật cô văn thư giúp bạn đi làm việc nước. Đi mới được vài tháng thì Rosa bị máy bay Mỹ bắn một phát đạn 12,7mm xuyên qua ngực em, chạy suốt từ vai xuống bụng rồi tiếp tục xuyên qua đùi phá gãy xương đùi. Em bị bắn khi cố che cho một đồng đội. Vào nằm bệnh viện Xanh Pôn. Bệnh viện gần nhà. Tôi lại thấy mình có trách nhiệm trong việc Rosa muốn thoát cuộc sống tăm tối cũ để đi xây dựng tương lai tươi đẹp, cho nên coi săn sóc Rosa ở bệnh viện là nghĩa vụ của mình, người đã xui Rosa ra đi tự lập, lao vào thử thách bản thân. Sau một tháng điều trị mặt em vẫn võ vàng, mắt thâm quầng, da tái xanh nhưng em không khóc không rên không than vãn một lời nào, miệng em luôn cười, mắt em rất sáng… Em đã lấy được cái giấy chứng nhận vào đời rất đẹp… Thương em mà không biết làm gì để giúp em đỡ đau. Tôi mua một loạt phong bì, dán sẵn tem một hào hai, còn đề cả địa chỉ chú thợ điện gửi cho trong các thư viết cho tôi nhờ việc này việc nọ, có lần nhờ cả xin bà mẹ mua cho cái đồng hồ, tất nhiên là thất bại. Một lần tôi hỏi thư từ thế nào, Rosa bảo em viết năm lá thư, nói rõ mình bị bắn gẫy chân, hiện tại đang nằm viện, cho cả đia chỉ, số giường nằm nhưng không có thư trả lời, cũng không thấy bưu điện trả lại, nên em không viết nữa. Tôi an ủi em là chiến trường nhiều chuyện mình không biết được đâu, đừng vội trách người đi xa.

Những buổi được thăm trong tuần, thứ năm và chủ nhật, tôi đều vào thăm em. Lần nào cũng có quà, chủ yếu mua ở chợ Hàng Da. Mẹ con bà Mắt Trố ở chợ này bán quà ngon, không cho trả giá, lỡ trả giá là bị mắng liền. Thường chỉ mua hai quả đào, muỗm thật ngon, Rosa thích lắm. Còn chủ yếu là nói chuyện và cho mượn sách. Vào đây thường xuyên, tôi còn quen với chị Hảo, một giáo viên, cũng bị Mỹ bắn, đang tham gia tuyên truyền tố cáo giặc Mỹ với thế giới. Chị rât thương Rosa. Coi như em gái, ngày nghỉ còn đưa về nhà sống với gia đình.

Tối 20/10/1967, tôi và chú thợ điện đi mua quà để ngày hôm sau đi thăm Rosa. Chú ngủ lại nhà tôi. Sáng hôm sau hai anh em lên đường đi Hà Tây, nơi trạm an dưỡng sơ tán ở nhà dân. Ba giờ sáng, đã dậy rồi đi luôn. Hai anh em hăng hái quá, vừa đi vừa chuyện trò, mới năm giờ sáng đã tới nơi, xóm làng còn yên ngủ trong sương mờ. Tìm được nhà, tôi vào trước. Rosa còn mệt, đang nằm trong màn. Em thấy tôi, nhưng chắc là không dám tin đã thấy tôi ở nơi này, vào giờ này, một ngày thứ bảy. Nhưng em cứ gọi, tôi quay lại, Rosa mừng quá, hai má ửng hồng, đôi mắt xanh biếc sáng long lanh, tươi cười, ngỡ ngàng. Anh đến sớm thế, em thật không ngờ. Nhưng em thấy giống anh quá. Em cứ gọi liều. Em bảo đúng là anh rồi. Tôi nhắc khéo: Nhưng anh không đi một mình. Rồi chỉ ra sân. Rosa nhìn ra, một thoáng bối rối… A, anh đấy à. Rồi lại quay mặt đi. Hai ba lần Rosa phàn nàn là mặc cái quần của nhà an dưỡng dài quá, lại rộng nữa, trông chẳng ra làm sao cả. Tôi rất mừng thấy Rosa hồng hào hơn kỳ về nhà vừa rồi.

Hai em cứ nhìn nhau, nói ít, toàn những câu thăm hỏi thông thường, Rosa còn cho tôi xem tất cả thư từ nhận được gần đây của bạn bè, đồng chí cùng đơn vị. Có cả thư của một người chỉ gặp dọc đường. Thư của đại đội phó Nguyễn Văn Học có nhắc đến anh Phạm Hồng Sơn thân thiết của tôi, anh Học có liên hệ thư từ từ lâu. Tôi đã gặp anh một lần. Mắt đen, nhỏ, sâu mà rất sắc, anh Học đã cử một Thanh niên Xung phong là cô Hảo đến chăm sóc Rosa. Nhưng sau đó trạm an dưỡng không cho, đành về.

Tôi lánh đi để hai em tự nhiên thì chú thợ điện lại đi tìm tôi ngay. Chỉ mấy phút đã thấy Rosa mặc chiếc quần xanh thẫm gọn gàng. Ở đây chăm sóc quá kém. Rosa còn đau chân, phải chống nạng mà vẫn phải tự đi ăn cơm, tự giặt quần áo ở… ao. Y sĩ chưa thăm khám một lần nào. Anh ta có vẻ ngại vì Rosa bệnh nặng quá, muốn trả về bệnh viện. Rosa nức nở kể cho chúng tôi: Đêm qua, em khóc mãi, đau thì có đau, nhưng tủi thân nhiều hơn.

Ngày 23/10: Một mình đến bệnh viện Xanh Pôn, Rosa đang buồn thiu, đứng nép vào tường chờ người  vào thăm. Chiều, ăn cơm xong, tôi đến nhà chị Hảo, thấy Rosa đang cùng ông bố Hảo xem an bom gia đình ông. Hỏi vài câu rồi tôi về ngay xóm Phà Đen, gặp bà mẹ Rosa đang hớt hải đi tìm con, đâu cũng không thấy, định bụng lại đi làm. Tôi chở ngay bà đến nhà Hảo cho mẹ con gặp nhau.

Ngày 9/11/1967, chiều vào bệnh viện, thấy Rosa trắng bệch ra, nhưng tươi tắn, không gầy. Đưa cho Rosa bac Thuythuốc Quotivit người ta cho hôm trước. Ra cửa bệnh viện, thấy cam ngon, lại rẻ, tiếc là không có tiền. Về nhà, ăn cơm rau với chị Thủy, kể chị nghe chuyện Rosa, chị cho ba đồng. Tội bà chị dâu quí quá.

Ngày 10/12/1967: Chiều nay, vào thăm Rosa. Mổ rồi. Gầy, xanh nhưng bình tĩnh. Cho em mượn Ruồi Trâu để em đọc lại. 31/12, buổi chiều, mình và anh Đại vào thăm Rosa. Em đi không cần nạng được gần hai mét rồi. Béo ra nhiều. Trên bàn nhỏ đầu giường có một cốc nhỏ cắm mấy nụ hồng chưa nở. Chân còn bị dò. Mấy hôm rồi anh không vào làm em lo quá, vì có tin cầu phao bị bom, mấy Thanh niên Xung phong bị, em sợ, vì anh làm việc ở đội 5 ngay đầu cầu phao. Hôm ấy, chính mình đã cùng cứu số thanh niên xung phong bị thương, vì nghĩ đến Rosa.

Ngày 5/1/1968, cả buổi chiều vào thăm Rosa sắp mổ lần thứ 3. 15/1: Sáng thứ hai sẽ mổ. Em can đảm và ngoan, lúc nào cũng nói em cần học. 17/1, chị Thủy cho một gói bánh, anh ĐạiTon That Dai tre có viết mấy chữ bỏ vào gói bánh, không biết viết gì. 19/1, 15 giờ đi thăm Rosa, mổ rồi. Gầy nhưng tinh thần tốt lắm. Mồng hai Tết, 30/2/1968, thăm Rosa, tặng quà, tí nữa thì không có ai vào thăm em cả. Nhớ lời một bác sĩ quen nói với mẹ hôm nọ: Bác có muốn có một cô con dâu què không. 10/2, thăm Rosa, vết mổ lại sưng đau. Đem cho em mượn Anh Phạm Hồng Sơn (Phần I: Nhật ký về một con người) bản thảo viết tay của mình. Và Từ điển chính tả. Rosa buồn nói trước em cứ bảo bọn bạn là Thống nhất thì em khỏi… Bây giờ, thống nhất đén nơi rồi, mà chưa chắc em đã khỏi anh ạ… Em gầy đi nhiều, nhưng ngoan lắm. 19/2, thăm Rosa thấy em đã khá, béo ra và không nhức nhối như trước. Cho em mượn một cuốn về Krúp-xkai-a vợ Lênin và một cuốn về vợ Các Mác. Hỏi bản thảo về anh Sơn thì bảo chưa đọc xong. Vì đọc rồi, còn phải đọc lại nhiều lần. Có nhiều trang em phải suy nghĩ rất nhiều. Mang cho em một bức họa chân dung Paven và một cái Huy hiệu Cờ Đỏ Liên Xô. Rồi còn ra lệnh “Cấm em không bao giờ dược buồn”. Hỏi em có cần gì không thì bảo là không cần gì. Mở ngăn kéo ra chỉ thấy chẳng có gì ngoài một ít đường dính ở đáy cái lọ. Nhưng thật ra, tất cả những gì có thể cho em mình đã cho em hết rồi.

Chiều 22/2, về sớm để vào thăm Rosa, ghé nhà thấy trước tủ gương có một gói giấy đề Kỷ niệm 22/2, biết ngay là quà chị Thủy cho, bèn xé gói giấy ra, lấy một hộp sữa và lá thư. Vào viện mới đọc thư.

Ngày 24/2, vào xóm Phà Đen, thăm Rosa đã ra viện, chuẩn bị lại sang khu an dưỡng, quần áo Thanh niên xung phong mới toanh, một đôi nạng dựng cạnh giường. Trời lạnh, mẹ đốt lửa sưởi cho em, bàn chân đã cử động được. Hôm nay là chủ nhật, đem cho em mấy ống vitamin B12 mình mới được cấp kèm mấy bắp ngô nếp.

Chiều 29/2, đến nhà chị Hảo nhờ lấy giấy ra viện cho Rosa. Nhớ hôm nọ hẹn rồi, nhưng bận, đến nhà Rosa muộn quá, cả nhà ăn cơm rồi, đành ăn một mình. Đèn điện tắt, bên ngọn lửa bập bùng, trong gian nhà rách nát ấy, gió lạnh lùa vào, làm mình nhớ lại ngày mới bảy tám tuổi, sống xa mẹ ở với bà ngoại đã khánh kiệt nuôi một lũ cháu nội, ngoại tản cư, nếm đủ mùi đói, rét, thèm được yêu thương, vỗ về, thèm được học hành. Thế là tự nhiên kể một vài chuyện chợt nhớ ra về ba chị em mình hồi ấy. Rosa chăm chú nghe, còn u Rosa thì cứ than Ra cả anh cũng có lúc cơ cực như vậy. Dạo ấy mới bảy tám tuổi chứ mấy… Như lũ nhóc nhà này thì biết cái gì, rõ khổ…

Rosa không nói gì, nhưng mắt ánh lên những tia sáng bí ẩn, sâu xa, cuồng nhiệt,… khiến mình im bặt, không dám nói nữa. Mình thấy thương Rosa quá, nếu sống không có mình, chắc em sẽ khổ lắm, sẽ không trở thành con người mà em hoàn toàn có khả năng vươn tới, con người mà mình mong em sẽ trở thành.

Mình thành thật quyết định: Sau này nước nhà thống nhất, nếu chú thợ điện không còn trung thành và thật sự yêu em như trước nữa, thì mình sẽ sống với em trọn đời, quyết không để em tuyệt vọng, quyết giành cho em hạnh phúc mà em đáng được hưởng… Nhưng, trước khi đó… thì tuyệt đối, không được có một ý nghĩ, hành động nào sai trái, không cho phép ai được quyền thương hại em để rồi sau này làm khổ em. Mình thề như vậy. Và thấy không có gì sai trái trong quyết định này. Mình bao giờ cũng chỉ muốn sống để làm cho cuộc sống của người khác càng thêm tươi đẹp mà thôi.

Ngày 1/4  ghi: Hôm qua, nhận thư chú thợ điện, vẫn nhớ Rosa nhưng với thái độ dè dặt, bạn bè.

Ngày 7/4, đạp xe lên trạm xá Sơn Tây, Rosa đã về Hà Nội mổ lần thứ năm. 11/4, mổ rồi. Chưa bao giờ em bị đau như lần này.

Về nhà, nói cho chị Thủy biết về “quyết định”, chị không ngạc nhiên gì cả.

Chiều 18/4, thăm Rosa đang tự học, nói thích vô tuyến điện, mong học hết lớp chín để thi đại học vô tuyến điện. Cháu Ngọc con chị Thủy viết một lá thư cho em, Rosa rất cảm động. Rosa gửi tặng Ngọc một bức ảnh. Đưa cho em thư chú thợ điện thì em không muốn đọc. Ngày 29/4, anh Đại về, nói với anh về Anh ngoc 3 tuoiRosa, anh cũng khuyên là nên giữ thái độ như hiện nay.

Chiều 2/5, vào bệnh viện, ra ghế đá đọc cho Rosa nghe Khúc ca chiến thắng, một truyện ngắn mình viết về anh Phạm Hồng Sơn. Rosa chăm chú nghe, khen hay, khác hẳn Nhật ký về một con người là nhật ký mình ghi các lần đến thăm anh. Rosa kêu khó hiểu lắm. Rosa còn yêu cầu mua cho sách học. Trên bàn nhỏ đầu giường bệnh bao giờ cũng có một lọ hoa. Lọ là lọ thuốc, hoa thì hái trộm vườn bệnh viện. Ngày 13/5, mình cùng chị Thủy và cháu Ánh Ngọc vào thăm. Rosa vui quá, còn hẹn sẽ đến nhà chơi, đưa Ánh Ngọc đi chụp ảnh, dịp ra viện chờ đi an dưỡng.

Ngày 16/5, cả ngày Ánh Ngọc ở nhà Rosa. Mình cũng ăn hai bữa cơm. 20 giờ hai chú cháu mới về 16 Hàng Da. Suốt ngày Rosa vui vẻ, làm đủ mọi việc . Còn đọc cho mình nghe mấy đoạn nhật ký mới viết, toàn bằng thơ, ý tứ kín đáo.

Ngày 3/7, Nguyễn Thị Bạch Kim cô bạn thân từ năm 1955 đến chơi. Kim bảo là không biết mình đi Quảng Bình, nếu biết đã đến ở với mẹ cho mẹ vui. Kim tự nhiên như người nhà. Một lát thì Rosa được một bạn cùng đơn vị đèo xe đạp đến. Rosa gầy đi, báo cho biết đã đi làm. Bệnh viện cho đi an dưỡng, nhưng Rosa sợ nhà an dưỡng lắm rồi, nên không đi Sơn Tây, mà về đơn vị, nơi có nhiều người yêu thương mình, xin làm việc nhẹ như văn thư, trực điện thoại. Một bữa trưa ngon do mẹ làm mời hai cô bạn thân của mình. Đưa Rosa về, mình còn ghé đơn vị thanh niên xung phong đầu cầu phao Đồn Thủy. Chiều 18/7, đi làm về, mình ghé 19 Hòa Mã nơi Rosa đang ở, đón về nhà ăn cơm. Khi đưa Rosa về, mình hỏi sách cho mượn dạo nọ thì đáp mất đâu ấy, chưa tìm ra. Mình bảo mất thì chết, nhất là mấy cuốn viết tay. Không ngờ, Rosa nói giọng rất buồn Em đang muốn chết đây mà chưa chết được. Không hiểu vì sao. Trong khi lên xe để đưa về, Rosa nói rất nhiều và chắc chắn về việc học thi, phấn đấu sau này, không có vẻ gì buồn bã cả.

Tối 26/7, chú thợ điện lại nhà mình nói chuyện đến khuya. Buồn, thừa nhận là thật ra vấn đề quan hệ hai đứa đã dứt khoát từ khi Rosa mới đi thanh niên xung phong

Ngày 6/8: Trưa ăn cơm, chiều ăn bánh tôm ở nhà Rosa. Rosa nhờ xem và góp ý viết lý lịch để kết nạp Đảng. Mình đọc và sửa một cách thuần chuyên môn, nên cho đến bây giờ cũng không biết Rosa sinh năm nào, ông bố là người thế nào. Xong chuyện, đèo Rosa về trụ sở Đội thanh niên xung phong, chờ phân công tác thật nhẹ. Đi đường, nhân một chuyện nói đùa, Rosa nói một câu rất lạ, rõ không phải là đùa: Què như em ai người ta lấy.

Sáng 15/9, bất ngờ nhận thư Rosa, không ghi địa chỉ, trong khi mình đang cần để gửi cho Rosa thư chú thợ điện. Rosa báo sắp được đi học dự bị đại học. Ngày 5/10, về nhà Rosa lấy sách và tập ghi chép về anh Phạm Hồng Sơn. Nói chuyện với mẹ Rosa và ba em gái nhỏ. Tối, về nhà, đột ngột chú thợ điện xuất hiện, quân phục mới toanh, rộng thùng thình. Hai anh em ra sân sáng trăng nói chuyện đến 23 giờ, chú vẫn rất yêu Rosa nhưng lại không mong gì được đáp lại. Tuyệt vọng. Không dám nói thật với Rosa một lần cuối cùng, sợ bị cự tuyệt lạnh lùng. Mình tiễn em, sáng mai đi B vào Nam chiến đấu. Mong em không rơi nước mắt như ngày tòng quân.

Tối 6/10/1968, đi làm về thì Rosa đã chờ ở nhà từ bao giờ. Áo ca ki đã bạc gần như trắng, quần xanh, tóc rẽ giữa, cặp đằng sau, trông Rosa thật giản dị dễ thương. Có vẻ hơi gầy đi, nhưng không còn trắng xanh như ở bệnh viện nữa. Hai anh em nói chuyện, ăn cơm với cả nhà rồi lại nói chuyện rất lâu. Biết bao vấn đề cần giải quyết đối với một cô gái con nhà lao động, khổ cực từ tấm bé, lại bị thương tật, nay đang chuẩn bị  bước chân vào con đường lao động trí óc. Đây là bước đầu của cuộc đời ít nhất cũng kéo dài 6,7 năm, gian khổ nhiều, bỡ ngỡ cũng không ít.

Rồi nói chuyện về chú thợ điện. Mình nói lại trung thành tâm tư và mong ước của chú ta. Rosa lắng nghe chăm chú nhưng không nói gì. Vì cho mượn xe đạp nên đành đi bộ đưa Rosa về. Chỉ vì vô tình mà bắt em phải đi khá xa với cái chân đau tập tễnh, thân thể đang mệt mỏi. Gần đến  Cảng thì gặp một bạn thanh niên xung phong cùng đơn vị đang vội vã đạp xe đi mượn sách. Gần 22 giờ, cả ba vào nhà Rosa uống nước vối nguội, nói chuyện. Anh bạn này ham văn học, còn hẹn là sẻ rủ một bạn nữa – người một lúc đã viết liền mười cái truyện ngắn!

Ngày 6/11, trưa gặp Rosa thì chiều lại gặp chú thợ điện. Sốt rét, gầy. Trả lời một bạn gái Cảng mời năng về chơi, chú ta nói xẵng có ý đùa: Cái cảng của các bà thì báu lắm đấy mà bảo tôi phải năng về thăm. Tôi về, chẳng qua là có ông anh tôi đây mà thôi.

Ngày 7/11, Rosa rất vui vẻ, sắp đi học rồi. Ngày 12/11, chủ nhật, cả nhà mình tụ họp vui vẻ, có cả Rosa và Đặng Vũ Minh em họ mình học ở Liên Xô mới về. Trưa, Rosa mời đến nhà ăn bún canh cá với anh Quý lái cẩu P9 ở đội 3 Cảng trọ ở nhà Rosa, cũng là người Huế. Trưa 12, không hiểu sao Rosa lại ra chỗ mình ở cùng chú Bảo lái cẩu ở Cảng, ở lại rất lâu. Vẫn cái lối im lặng rất kỳ lạ. Tối 21/11, đến nhà Rosa lấy xe đạp về nhà, được xem giấy hẹn đến Xanh Pôn mổ lần thứ sáu. Chỗ xương gẫy đã liền, nhưng vẫn bị dò. Rosa nói các buổi trưa vẫn học văn hóa.

Chiều 1/5/1969, Rosa đã mổ rồi, thiếu thốn hết sức. Ăn ít quá, chưa hết nửa suất. Vẫn có vẻ buồn. Đông người vào thăm, không nói được gì với nhau.

Chiều 18/5, nói với Rosa “quyết định” của mình, hỏi ý kiến và nói trước là “chỉ nói một lần, sẽ không nói lại lần thứ hai”. Mình nói mà không hồi hộp gì cả. Lạ hơn nữa là chính Rosa cũng không lúng túng gì. Không nhìn mình, Rosa nói rất dịu dàng, chân thành hồi nhỏ ở nhà bị bố tàn ác đánh đập rất khổ sở, rồi đi thanh niên xung phong, vừa để góp phần chống Mỹ cứu nước, nhưng cũng là để giải thoát cho cuộc đời mình. Thế rồi chưa được bao lâu thì bị đạn Mỹ bắn. Những ngày đau đớn nằm trên giường bệnh, có lúc em không thiết sống làm gì nữa. Rosa kể lại từng ngày, tựa như muốn kiểm điểm bản thân xem đã nỗ lực hết sức chưa.

Thế là mình đã nói lên một điều mà Rosa đã hiểu và tán thành từ lâu. Rosa không thể sống thiếu mình, đó là điều em nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi kể chuyện cũ. Bản thân mình cũng cảm thấy không thể sống thiếu Rosa, mình cần có một tâm hồn trong sáng tin yêu lại hiểu mình.

Tối 19/5, đến Đoàn Di, anh bạn đã đưa mình đến Cảng Hà Nội, nói với Di về Rosa. Di cười, chỉ vợ và hai con, nói vui Hết cả thì giờ vì cái món ấy đấy. Tối 20/5, tan lớp học bổ tDoan Di Ngo Thi Hoaúc văn hóa, tình cờ gặp anh Nguyễn Hữu Quang, cán bộ phòng tổ chức đón vợ đi học về. Anh nói Rosa nó cắt là đúng, vì chú thợ điện đã do dự, tính toán khi biết Rosa bị nạn. Hứa sẽ đến thăm Rosa.

Ngày 23/5 là ngày Phật đản, lẽ ra được nghỉ, nhưng lớp công đoàn về Bảo tàng mình dự lại học dồn hai buổi làm một để hôm sau nghỉ cả ngày, thành ra về muộn. Trưa nắng, mình về ngay nhà Rosa vì nghe tin em đã về. Rồi đón em về nhà. Các cháu Ánh Ngọc và chị họ cháu Hoàng Anh dễ thương quá, biểu diễn cả một chương trình ca múa rất nhiệt tình đón cô Rosa. Ngọc còn hát một bài “Cộ Hằng ơi, cô Hằng ơi xuống chơi với cháu…” Rosa rất xúc động. Chị Thủy cho ăn một bữa thật ngon. Cơm xong, mình đưa Rosa đi mượn tiền mua xe đạp. Không mượn được. Hai đứa tìm chỗ ngồi nói chuyện một lát. Vườn hoa nào cũng đông những người là người, ghế nào cũng có người ngồi, đành đến cửa vào nhà bảo tàng lịch sử, ngồi dưới một ngọn đèn thật sáng. Mình nói Rosa rõ hoàn cảnh gia đình mình bị kỳ thị, nên yêu cầu Rosa “Bất cứ khi nào thấy không thể yêu nữa thì cứ nói” Rosa im lặng nắm lấy tay mình, mân mê mãi những ngón tay, không nói gì. Mãi một lúc em mới nói chuyện… Em vất vả từ tấm bé. Chín tuổi đầu đã phải đi đẩy xe ba gác kiếm miếng ăn. 15 tuổi thì đi xúc than, đội than ở Cảng Hà Nội. Tiền lương mẹ lĩnh tất để chi dùng cho cả nhà. Có những hôm em phải nghỉ làm vì bị bố đánh đòn đau quá. Nói thật, đời em chưa được sung sướng một ngày nào. Ở cổ em có một vết sẹo. Không phải do giặc Mỹ gây ra. Mà là do bố em ném một cái bát vỡ vào. Chỉ vì không muốn cho em đi họp thanh niên tối đó. Em mong làm nên một việc gì trong đời mình. Vì thế, em đã từ chối biết bao người đặt vấn đề yêu đương với em. Em sợ họ làm hỏng tương lai của em, ngăn không cho em học. Em tự biết sẽ không làm được đủ những nhiệm vụ của một người yêu, một người vợ. Nghe em nói mà thấy thương lạ. Nhưng rồi lại bật cười: Đúng em là người mà mình muốn tìm rồi. Như Sê-khốp nói, tôi sẽ cưới vợ, nhưng với một điều kiện là không có gì thay đổi trong nếp sống của tôi. Vợ tôi sẽ giống như vầng trăng không soi sáng bầu trời của tôi tất cả mọi ngày.

Tối 29/5, cùng Rosa đi xem phim Chàng Chapin trẻ. Tình cờ nhắc đến cái thư viết từ tháng 3/1968, sau đợt đi công tác về nhà thì nhận thư Rosa. Anh cứ tin ở người em tàn phế này, là sẽ vượt được mọi thử thách còn đang tiếp tục diễn ra đối với em. Hôm sau, mình đã viết cho Rosa một bức thư dài, trích cả một trang nhật ký ghi năm 1962, cái năm mình gần đất xa trời, đồng thời thấy là cần thiết, nên đã viết một câu như thế này: Rosa ạ, anh tin em và em cũng nên tin là :Nếu anh còn ở trên đời này thì anh sẽ không để em phải khổ. Một câu mà chính mình cũng không rõ lắm ý nghĩa của nó. Nhưng quả là lúc ấy mình nghĩ đúng như thế.

9/6, Rosa đến trả Nhật ký từ 1967 mình cho mượn tối 10/5, rồi cùng nhau đi chơi. Em muốn đến anh lắm, nhưng sợ anh bận. Cả nhà anh đều làm việc, mà em lại đến chơi. Khi nào anh rảnh, anh đến em nhé. Em khổ từ bé, không khi nào em lại nũng nịu, đòi hỏi gì anh đâu. Em sẽ hết sức cố gắng, sống xa anh, sống một mình cũng được. Nhưng bao giờ em cũng nhớ đến anh, chờ đến bao giờ cũng được, em chờ anh, anh cứ việc anh anh làm. Chính anh đã cứu sống em, không có anh em không sống nổi. Em chỉ sợ lấy em anh sẽ khổ thôi.

Ngày 13/6: Mệt, bận, lại còn cứ muốn gặp Rosa. Nhớ quá. Tối 22/6, gặp Rosa, yêu cầu kể chuyện thời nhỏ. Rosa lảng đi, nói cũng như anh thôi, ý nói chẳng sung sướng gì. Sau đó lại nói Em khác hẳn mọi người trong nhà anh. Em không biết, chính mình cũng còn thấy là mình không giống những người trong nhà lắm

Tối 2/9, Rosa đến sớm, nhưng mình có nhiều khách quá, cho nên chờ mãi mới trốn đi với nhau được một lát. Đông quá, đi đâu cũng chẳng còn chỗ mà ngồi, đành vừa đi bên nhau vừa nhẩn nha nói chuyện. Mình nói về lá thư gần đây chú thợ điện gửi cho mình. Rosa nói là đã nói rõ về quan hệ hai đứa từ trước khi chú ta đi bộ đội. Không hiểu nhau thì làm sao mà yêu nhau được. Bấy giờ, tầm suy nghĩ của hai bạn trẻ đã quá chênh lệch: Chàng trai chỉ nghĩ đến tình yêu, trong khi cô gái đi thanh niên xung phong là để giải thoát cho cuộc đời nghiệt ngã của mình.

Rosa bao giờ cũng rất đúng giờ. Hẹn gặp nhau lúc sáu giờ chiều là tôi ra ban công nhìn xuống đã thấy ngồi chờ trên xe đạp bên kia đường. Chúng tôi chẳng bao giờ đi ăn, uống ở đâu cả mà chỉ tìm một chỗ vắng để ngồi bên nhau. Đầu tiên là hôn nhau cho thỏa nỗi nhớ. Sau đó là bạ chuyện gì nói chuyện ấy mà vẫn cứ vui, chỉ vì ngồi bên nhau, nhìn thấy nhau, nghe được những lời thành thật từ miệng người mình yêu. Không ai gặng hỏi gì khi người kia không muốn nói. Thế rồi ai về nhà ấy, kẻo gia đình mong.

Có lần Rosa đến mà không hẹn trước, cả nhà tôi đi xem phim Đô đốc U-sa-cốp của Nga. Cả nhà ăn cơm vội vàng mới đi bộ ra rạp Hòa Bình kịp xem phim cho nên bát, đĩa, nồi, soong còn bày ra đầy cả sàn. Về đến nhà, thấy Rosa chờ từ bao giờ, nhà sạch tinh tươm, đồ dùng ăn khi nãy đã dọn, rửa sạch sẽ, cất vào đúng chổ ở bếp. Mẹ tôi vui quá ôm lấy Rosa. Thật như có cô Tấm trong quả thị hiện ra lo việc nhà.

Lần khác, cả nhà ngồi đông đủ sau bữa cơm chiều, Rosa đến, mang biếu một … cái đùi sau thịt chó thui. Nhà tôi không làm thịt chó bao giờ, khi nào thèm ăn thì mua một đĩa, một bát ăn chung  cho biết. Chưa khi nào có nhiều thịt chó như thế này. Mẹ tôi nói cám ơn cháu, nhưng việc này bác không thạo. Rosa lại bảo thế bác cứ để cháu, rồi cầm dao định … ra tay. Mẹ tôi phải bảo, cháu chỉ dẫn cho bác thôi, bác sẽ tự nấu.

Tính nết Rosa tự nhiên, dễ thương, cả nhà đều mến. Nhất là khi Rosa có gì vui, cất tiếng cười giòn.

(Còn nữa)

PT.

Người có “Số Sướng”

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 4 năm 2022.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC:

NGƯỜI CÓ “SỐ SƯỚNG

Phạm Tôn

Tôi biết, rồi quen và thân thiết với Bùi Lê Thạch là do em anh là Bùi Lê Nghiên cùng làm việc, cùng trải nghiệm thử thách trong chuyến đi Quảng Bình phục vụ chiến trường cuối 1968 đầu 1969. Thân nhau như anh em, tin nhau như ruột thịt. Lần đầu cầm thư Nghiên đến đơn vị gặp Thạch, tôi đã ngạc nhiên. Là anh, hơn Nghiên ba tuổi, lại vào Nam chiến đấu từ 1966 mà trông Thạch trắng trẻo, trẻ hơn Nghiên nhiều. Trò chuyện với anh, tôi thấy anh luôn tươi cười và hay nói câu: Số mình thế mà sướng. Rồi anh kể cho tôi nghe nhiều chuyện để chứng minh.

Sáng 24/9/1975, tôi đặt chân lên đất Sài Gòn làm phóng viên thường trú thì sáng 28/9, tôi đã tìm đến Bùi Lê Thạch, đang phụ trách an ninh khu Đoàn Thị Điểm, gần đường Tú Xương nơi cơ quan tôi đóng. Tôi đưa thư Nghiên và tặng anh món quà tôi cho là quí báu lắm: bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do Trung Quốc dệt. Anh thản nhiên nhận cả hai thứ tôi đưa và vui vẻ tin cậy trò chuyện ngay. Anh ở miền Nam đã tám năm. Vào Sài Gòn từ tháng 6/1975, có nghĩa anh thuộc lực lượng tiếp quản Sài Gòn. Tối 27/10, Bùi Lê Thạch đến cơ quan trao đổi với tôi về việc xin cho anh họ là Bùi Thượng Nghiễn vào làm việc tại cơ quan, rồi đưa cho tôi các giấy tờ cần thiết, tất nhiên trong đó có sơ yếu lý lịch có sự xác nhận của cán bộ an ninh Bùi Lê Thạch như hôm trước gặp nhau đã bàn bạc.

Đêm trước hôm tôi lên tàu hỏa liên vận vào Sài Gòn, Bùi Lê Nghiên và bạn chí cốt Nguyễn Tiến Chung thợ rèn lên nhà ngủ với tôi tâm sự gần suốt đêm. Vậy mà lúc tàu chuyển bánh, tôi nghe tiếng ai gọi thất thanh tên mình, mở cửa kính nhìn ra đã thấy hai bạn trẻ cố vứt xe đạp đang chạy đuổi theo đoàn tàu Tôi giơ tay ra kịp nắm tay hai em, nhìn vào mắt hai em. Rồi thấy hai em xa dần, tàu ra khỏi khu ga…

Từ đấy, đến 2020, con tôi cố tìm cho tôi tin tức của Nghiên, đã nghĩ cách tìm đến người có quan hệ thân thiết với anh Bùi Thượng Nghiễn hồi cùng làm tại phòng tài vụ cơ quan tôi. Từ đấy, anh em tôi gặp nhau qua điện thoại, rồi gọi Zalo cho nhau, biết đủ mọi chuyện về nhau. Tôi tóm tắt sự việc từ ngày xa nhau, nào là cưới vợ, sinh con trai, nay đã có hai cháu nội. Không ngờ Nghiên còn đi xa hơn thế. Em kể: Cao hoàng tổ Bùi Lê Toản từng là Thượng thư bộ Lễ triều Lê sơ (thế kỷ 16), đến đời ông nội em là lụi dần. Em thuộc đời thứ 9. Có lẽ đó là nguyên nhân gia đình có số ruộng đất  bố em quản lý. Nhưng rồi thấy làm nông chậm phát triển, anh trai chị gái mẹ rủ bố mẹ em ra Hà Nội học và kinh doanh nghề thêu từ năm 1941. Bùi Lê Thạch sinh năm 1943 (Quí Mùi) ở đấy. Bố em cũng thuê người quản lý số ruộng đất tổ tiên để lại. Ông nội và bố em bị Tây bắn chết trong trận càn quét vào thôn khoảng 1949-1950 khi về thăm quê.

Mùa đông 1955, cải cách ruộng đất đợt 5, mẹ em bị qui địa chủ. Gia đình gặp nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần. Mẹ và chị cả Mật lo chạy vạy buôn bán lặt vặt kéo dài được đến tháng 4/1956 thì mẹ liên lạc được với người quen ở Hà Nội nhận lại công việc thêu, hai mẹ con cùng cố gắng khiến cuộc sống gia đình đỡ khó khăn. Năm 1960 mới được sửa sai, xuống thành phần, chỉ là trung nông. Gia đình vào hợp tác xã Quất Động, có hai lao động chính và ba người ăn theo là anh Thạch, em và em Du.

Nhớ hồi ở Cảng, có lần Nguyễn Tiến Chung thợ rèn buồn bã nói với tôi: Em thấy thằng Nghiên nó nghe anh, chịu học mà em thương. Rễ thối rồi, ai cho nó học lên. Nhưng chẳng lẽ cứ bốc vác mãi sao… Nó có chí lắm. Em càng thương…

Năm 1965, Mỹ bày ra vụ Vịnh Bắc Bộ để lấy cớ bắn phá miền Bắc, cả nước lên đường diệt Mỹ. Năm 1966, chàng trai vui tính Bùi Lê Thạch 23 tuổi học xong phổ thông nhập ngũ, rồi vào Miền Nam.

Chẳng bao lâu tin dữ loan nhanh đến quê nhà Quất Động: Bùi Lê Thạch theo lệnh hành quân vào Nam chiến đấu đã chiêu hồi, đầu hàng địch rồi, không còn trong quân đội nhân dân ta nữa.

Đã là gia đình địa chủ, dù đã được sửa sai, nay lại thêm cái án có con theo địch, thì sống sao nổi. Bà mẹ không được thêu thùa mưa không đến mặt nắng chẳng đến lưng nữa mà phải cùng xã viên hợp tác xã hai sương một nắng. Bấy giờ Bùi Lê Nghiên đã trưởng thành, là người đàn ông duy nhất trong gia đình, thân thể doi doi, da rám nắng, người bao giờ cũng nóng, dễ đau ốm trong mùa hè nếu không uống bột sắn đều. Bùi Lê Nghiên học xong phổ thông năm 1966, về làm xã viên hợp tác xã, lo việc sổ sách. Không được học lên, năm 1967 em quyết định ghi tên ngay khi Xí nghiệp Cảng sông Hà Nội cho người về Thường Tín tuyển công nhân bốc vác. Có lẽ cái nét khắc khổ và tính kiên trì không sợ khó sợ khổ đã hiện rõ trong chàng thanh niên này.

Bùi Lê Thạch không hề biết đến những nỗi khổ này mà em anh phải chịu đựng. Một phần nỗi khổ đó chính là do việc anh bị báo tin từ mặt trận Miền Nam về là đã theo địch, đã chiêu hồi, một tội phản quốc hiện hành, không như chuyện gia đình bị quy là địa chủ rồi đã được sửa sai. Đó có lẽ vì sao em anh trông khắc khổ và già hơn anh dù kém anh ba tuổi.

1975, đất nước thống nhất. Bùi Lê Thạch được về phép. Cả gia đình và họ hàng Quất Động đều phấn khởi, tự hào. Cơ quan an ninh đã giải tỏa vụ Bùi Lê Thạch hồi chánh năm xưa. Bùi Lê Nghiên được vào học khóa 9 tại chức Trường Kinh tế – Kế hoạch (khóa 1975-1980) rồi về công tác tại phòng tài vụ Cảng Hà Nội do cô bí thư Chim Chích ngày nào làm trưởng phòng.

Năm 1968, chị cả Mật mất. Nhà cũng bị cháy chẳng còn gì. Ngay trước khi Bùi Lê Nghiên lên đường vào Quảng Bình phục vụ chiến dịch VT5, chỉ có bạn Nguyễn Văn Cầm biết.

30/1/1979, kết thúc Tết Kỷ Mùi, Bùi Lê Thạch vừa 36 tuổi, anh nhắn tôi đến nhà. Tôi được ăn cỗ ngon do bà mẹ và em gái anh nấu, nói chuyện vui mà cứ được bà mẹ cảm ơn mãi. Bà bảo tôi nên đưa vợ vào sống trong này. Hồi ở Cảng Hà Nội, tôi đã có lần đến thăm bà tại nhà.

Ngày 20/1/1982, Bùi Lê Nghiên ăn bữa Tết cuối cùng tại Hà Nội của vợ chồng tôi trước khi vào định cư ở Sài Gòn nay đã là Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan tôi cho mỗi người 100 đồng, còn công trường số 3 của vợ tôi thì vẫn như năm ngoái: không có gì! Nhưng họ đã cho tôi Tất cả. Vì từ nay Lê Thị Đông vợ tôi sẽ mãi ở bên tôi.

Nhớ sáng chủ nhật 4/1/1981, tôi và chú Lê Xuân Vượng người sống cùng phòng với tôi từ nhiều năm nay mà tôi coi như em, ăn sáng xong là sang ngay quận 4 thăm gia đình Bùi Lê Thạch. Mục đích là để xem mặt cô em gái Bùi Thị Du. Anh không ở trong doanh trại nữa mà ra với gia đình. Một ngôi nhà nhỏ hai tầng, trông ra sông. Chúng tôi đến sớm cốt để về trước bữa ăn trưa, khỏi làm phiền gia đình, nay ai cũng thiếu trước hụt sau. Trên đường về, chúng tôi sẽ mua của ngon vật lạ quận tư, vừa tươi ngon vừa rẻ. Thạch hồ hởi đón chúng tôi. Anh định gầy độ nhậu. Tôi từ chối vì vừa chảy máu dạ dày. Anh bày bàn trà, vui vẻ trò chuyện với chúng tôi. Bà mẹ hiền từ chỉ cười buồn. Còn em Du thì đon đả tiếp khách. Tôi hỏi ngay: Sao bao giờ anh cũng bảo số mình thế mà sướng. Kể tôi nghe anh sướng thế nào đi. Thạch cười rạng rỡ: Tôi là con thứ hai. Trên tôi là chị Mật, hơn tôi ba tuổi, nhưng là con gái đầu lòng, các cụ chẳng bảo ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng sao, mọi việc nhà chị ấy lo hết làm hết, tôi chỉ chơi rồi học và chơi. Bố yêu trưởng nam, mẹ quí con trai. Bố đặt tên tôi là Thạch, mong tôi vững vàng như đá. Hồi cải cách, tôi 12 tuổi, thấy cũng chẳng có chuyện gì, vẫn sinh hoạt thiếu nhi, làm việc nhà phụ mẹ và chị. Em Nghiên còn bé vẫn sinh hoạt nhi đồng, tập đi một hai, tập hát cùng bạn bè. Khi biết bố đặt tên em là Nghiên tôi chưa hiểu ý tứ sâu xa của bố là còn muốn chúng tôi noi gương tổ tiên, theo đòi cả nghiệp bút nghiên nữa. Hai anh em tôi là thạch nghiên nghĩa là cái nghiên đá, các cụ vẫn dùng mài mực viết chữ nho ngày xưa! Khi bố và ông còn, tôi chưa hiểu ý này. Càng lớn càng hiểu hơn nên cố gắng học hành chăm chỉ. Năm trước, giặc Mỹ đánh phá ra miền Bắc thì năm sau tôi nhập ngũ, tập luyện xong là vào chiến trường Miền Nam ngay. Tôi lại thuộc đơn vị thọc sâu, áp sát Sài Gòn, trung tâm chính quyền Việt Nam cộng hòa. Rồi từ bộ đội chuyển sang an ninh, vào nằm hầm Củ Chi… Tôi cắt ngang hỏi Thạch: Ở Củ Chi thời ấy, nằm địa đạo mà anh vẫn bảo sướng được ư? Anh cười: Sướng lắm chứ. Ngày nằm hầm rộng rãi, thông thoáng chỉ có nghỉ ngơi và đọc sách báo. Lại được các o dân quân dễ thương tranh nhau quà cáp chăm sóc chú miền Bắc xa nhà. Mùa nào thức ấy, mà trái cây nào cũng ngon, nhưng tôi thích nhất là hai thứ ngoài ta không có là măng cụt và mãng cầu xiêm, chua chua lại ngòn ngọt, ăn là khỏe người. Còn xoài thì to mà ngọt lịm, nhưng ăn lại nóng. Đó là ban ngày phải nằm hầm. Đêm đến lên mặt đất là đến lượt các bác các chú gầy độ nhậu, bồi dưỡng chú em xa xứ vất vả chi viện miền Nam đánh Mỹ. Tất nhiên, còn những lần thâm nhập nội thành, vào ngay trong lòng địch để điều tra nghiên cứu thì lại được các o giao liên o bế, được cơ sở nội thành đùm bọc chở che. Toàn sống trong tình thương yêu của đồng đội và đồng bào như thế, anh bảo không sướng sao được? Rồi chưa chi thì Mỹ đã cút, ngụy nhào, quân ta tiến công bằng xe tăng nhanh quá đến nỗi chúng tôi khó khăn lắm mới theo kịp được tốc độ hành quân thần tốc để đón đầu tiếp quản thành phố đầu não của chính quyền Sài Gòn. Năm nay, có nhà riêng rồi, tôi đón mẹ vào. Qua thư em Nghiên tôi mới biết mẹ và các em khổ sở vì tôi thế nào. Tôi đón cả em gái út đang công tác tại Lâm Đồng vào. Tội nghiệp con bé không biết mặt cha, lại khổ từ tấm bé.

Chia tay Bùi Lê Thạch con người có số sướng, bao giờ cũng vui vẻ, chúng tôi ra về, bỗng cả hai tôi đều dừng lại một gánh hàng bên đường thơm phức mùi chả cá thác lác tươi nạo ra cho ngay vào chảo dầu sôi tạo ra những giải cá nâu vàng thơm phức ngon lành. Khách ngồi trên những ghế nhựa nhỏ, ăn ngay những chiếc bánh mì giòn thơm kẹp chả cá rưới tương ớt và nước tương độ đạm cao. Chúng tôi mua chả cá rưới tương ớt rồi ghé hàng mua rau muống non về nhà là có bữa trưa ngon lành rồi.

Sáng 27/9/1981, tôi cùng anh Bùi Thượng Nghiễn và ba anh em Bùi Lê Thạch, Bùi Lê Nghiên, Bùi Thị Du đến thăm mộ bà mẹ ba anh em, mất từ 11/9/1981.

Thế rồi bẵng đi nhiều năm, tôi bệnh tật liên miên, hầu như ngày nào cũng đến bệnh viện, hết Tây y lại Đông y, người cứ ngày một suy yếu. Tôi trở thành bệnh nhân đặc biệt diện nghiên cứu của Viện Y Dược học dân tộc do bác sĩ Trương Thìn làm viện trưởng. Trong khi đó, mẹ tôi bị ung thư u nhú hắc tố phải mổ năm 1984, rồi năm 1985 vợ tôi bị ung thư thai trứng phải nạo bỏ. Cho nên anh Thạch bị bệnh nặng, rồi mất tôi không hề biết. Sau này, Bùi Lê Nghiên kể tôi mới biết.

Đêm ông Táo chầu trời năm Nhâm Dần này, hai bố con tôi chầu chực chăm sóc vợ bị păckinson từ 2013 đến nay bỗng trở nặng, chúng tôi không biết bà ra đi lúc nào, cả hai bố con cùng canh chừng, con săn sóc trực tiếp, định cho mẹ ăn uống gì, dùng thuốc nào thì bàn với bố, nhất trí mới làm. Vi con tin tưởng bố là một bệnh nhân chuyên nghiệp mấy lần cận kê cái chết rôi. May mắn là qua rằm tháng giêng rồi đến nay, mồng 4 tháng ba bà vẫn còn với chúng tôi. Coi Nghiên như em nên mọi chuyện này tôi đều cập nhật cho em kèm hình ảnh, nhiều khi là hình ảnh động. Một tối, biết tin mới, em nhắn tin cho tôi: Thật lòng rất thương chị Đông. Chị đáng được hưởng ấm êm của gia đình mà chị đã dầy công xây dựng. Nay chị lại chịu cảnh quá khổ.

 Em đã trông coi bác Thạch anh trai em bị ung thư dạ dày, nhìn anh thương quá mà chỉ biết ứa lệ, không làm gì được anh ạ! Em thấy bệnh viện tiếp đạm cho anh em rất nhiều, nhưng hình như đạm ấy tiếp vào chỉ làm tế bào ung thư phát triển mạnh hơn, anh em cứ ngày một teo tóp.

Bùi Lê Thạch sinh ngày 12/10/1943 (Quí Mùi) Mất ngày 12/10/1988 (Mậu Thìn) Vợ anh cũng tuổi Mùi, nhưng thua anh vừa một giáp. Anh ra đi ở tuổi 45.

Thượng úy Công an Bùi Lê Thạch được an táng trọng thể tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, cách quê nhà Quất Động Thường Tín Hà Nội gần 2.000km, nhưng gần gia đình em và các con anh. Cũng gần mẹ, bà mất tại thành phố này khi đã vào sống với anh và nay, con cháu gửi di cốt tại Đình Giác Nguyên, quận Tư. Và cô em út Bùi Thị Du và các con anh thường xuyên thăm viếng, thắp nhang tưởng nhớ.

Sau khi anh mất, Bùi Lê Nghiên và chị dâu đã lên Sở Công an Thành phố xin cho bốn con anh được hưởng trợ cấp cho đến năm 18 tuổi… Nay 2022, vợ chồng anh đã qua đời. Bốn con thì ba đã lập gia đình.

Liệu có mấy người Việt Nam mình hy sinh vì dân vì nước mà bao giờ cũng cảm thấy số mình thế mà sướng như Bùi Lê Thạch bạn tôi.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 4/4/2022,

cả thành phố vào cuộc sống bình thường mới

 thích ứng an toàn linh hoạt quyết thắng đại dịch Covid-19.

P.T.

Tháng Ba 26, 2022

Chúng tôi đi Quảng Binh – Sau Tết Kỷ Dậu (kỳ 1 tháng 4 năm 2022)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:19 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 1 tháng 4 năm 2022.

Năm mươi năm trước

CHÚNG TÔI ĐI QUẢNG BÌNH

Phạm Tôn

  1. Sau Tết Kỷ Dậu

Trước Tết, Phạm Văn Cường cùng đội đi làm về có chuyện gì vui là lại kể cho nghe nên tôi nổi hứng viết một cái thư hết sức là dài, kể đủ chuyện anh chị em làm việc nguy hiểm như thế nào và sống khổ cực thiếu thốn ra sao, nhưng viết đặc giọng hài hước, tếu táo vốn có của dân Cảng Hà Nội tức là giọng của những người lao động nặng vất vả, khi nghỉ chỉ muốn nghe những chuyện vui. Thư đề rõ Gửi má Phùng Thị Thất và con gái Trần Thị Cát, đội băng chuyền Cảng Hà Nội. Chắc hai má con và cả tập thể sẽ được một phen cười vỡ bụng. Cuối thư còn có Tái bút, nhờ hai má con đem trả lại hộ cho bức thư của bí thư Chim Chích. Người gửi ghi rõ: Ba- B1.ĐS5.BT4 Quảng Bình.

Nguyên là chúng tôi nhận được một bức thư dài kín bốn trang giấy năm hào hai (là giá một xấp giấy 20 tờ khổ lớn. Bí thư Đoàn Cảng hồi ấy là cô kế toán Chim Chích lời văn thật là lôi cuốn, hơi văn thật dồi dào, tuôn chảy đến nỗi viết đến gần hết trang tư cô mới nhớ ra là đang viết thư cho chúng tôi mà chỉ toàn kể thành tích anh chị em ở nhà nên đã cho chúng tôi lời chúc Tết thật lạ lùng là: Chúc các đồng chí cố gắng phấn đấu để xứng đáng với đoàn viên ở Cảng. Đọc xong tôi đưa ngay cho bí thư chi bộ Nguyễn Văn Hoành đọc. Ông trả lại tôi kèm câu Viết tầm bậy hết sức, đúng giọng một ông già Bến Ngự.

Mồng bốn Tết, đội đi làm rồi mà đoàn đại biểu Cảng Hà Nội hẹn vào ăn tết với anh em vẫn chưa thấy đâu, làm nhiều người nản chí, mất tin tưởng và xấu hổ với bà con Quảng Bình vì đã lỡ khoe Tết này ban giám đốc vào thăm, có cả quà cho bà con.

Trời nắng gắt, ngồi trong nhà, mặc áo lót ba lỗ mà vẫn mồ hôi ròng ròng. Nghe nói có thể sắp có gió Lào. Máy bay Mỹ vẫn ầm ỳ suốt ngày. Công nhân lại nghỉ. Tối qua hai tổ đi làm phải về không vì không có việc. Trong đội có nhiều chuyện lôi thôi. Một cô gái đoàn Nghệ An đi chơi tối, bị dứt đứt ba cái khuy áo, kèm lời nói Thanh niên khu ba là như thế, đã chơi là chơi đến cùng. Có hiện tượng cờ bạc ăn tiền, có kẻ rút dao ra dọa, nếu tố cáo sẽ xin tí huyết. Tối tối thanh niên tụ tập bàn tán nhỏ to nhiều chuyện. Nào là bọn Hà Nội mình dại. Bọn Hà Bắc đi đứa nào cũng được bố mẹ đút túi cho một cuộn tiền, để có cái mà chuồn về nhà nếu có chuyện đáng lo ngại. Bảo đi nhiều nhất là một tháng, nay đã hơn hai tháng. Nào là thằng Giôn-xơn ác, nghe nói thằng Ních-xơn còn dữ hơn nhiều.

Cuối cùng hai xe tải Cảng Hà Nội cũng vào đến Quảng Bình. Sáng mồng sáu Tết. Đoàn do anh Mai Văn Sính trưởng phòng tổ chức dẫn đầu, không phải vào thăm mà là vào đón anh em về. Biết được tin ấy, anh em càng nôn nóng, không thiết gì làm việc nữa, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc về nhà.

Tôi là kế toán trưởng của ĐS5, nhưng việc đó không làm tôi mệt bằng làm phó bí thư chi đoàn. Gần như công việc ở ĐS5 của tôi dạo này là cùng anh Mận, trưởng đoàn đi liên hệ các nơi có liên quan để giải quyết dứt khoát các vấn đề về tiền nong, lương thực, và xin lệnh của tỉnh ủy cho rút quân. Tôi càng đi, càng thấy rõ là anh Mận cũng muốn tôi sẽ cùng anh là những người cuối cùng rút quân, vì có tôi thì mọi việc sẽ giải quyết nhanh chóng hơn. Một chuyện đơn giản là thanh toán tiền nong. Nói thì đơn giản. Nhưng ở đây, chứng từ có khi là một nửa vỏ bao thuốc lá, một mảnh xé ra từ một tờ báo, hoặc một giấy gói chè màu hồng. Ở dưới hàng số có chữ ký loằng ngoằng bút mực, bút chì. Mà cái tài vụ binh trạm phải trả lại chính là tiền, tiền thật 100 phần trăm. Nhưng tôi đã có tình anh em với các anh Tỏ, anh Khánh lại có bạn thân thiết là Mỹ, Học, Chắt, o Lựu… những bạn sẵn sàng làm mọi việc giúp tôi chỉ mong sao Khi về Hà Nội, anh đừng mang theo kỷ niệm xấu nào về Quảng Bình.

Thành ra biết việc ở thanh niên trong đội có vấn đề, nhưng lúc này không thể mở cuộc điều tra như hồi mất trộm được, tôi bèn nghĩ ra một cái mẹo, gặp Bùi Lê Nghiên và nhóm anh em trung kiên hỏi xem trong đám Thường Tín, ai là người có uy tín hơn cả, rồi nhờ Nghiên nhắn người ấy tối hôm nay, tôi đi họp về sẽ gặp cậu ấy ở nhà tôi. Nhớ là chỉ đi một mình. Tôi biết, nhàn cư vi bất thiện, cấp trên lại lỗi hẹn, làm anh em mất niềm tin, anh em không xấu, đã đem thân vào đây hơn hai tháng trời thì hầu như không ai xấu cả, nhưng cần để mỗi người tự suy nghĩ, mỗi nhóm tự thảo luận tìm ra những gì chưa đúng của mình


để sửa chữa thì tốt nhất. Cũng không còn hơi sức và thời giờ đâu để giải quyết từng việc nữa. Thế là sáng ấy, tôi đi, anh em Chúc anh đi hội nghị Pa-ri thành công nhé. Nhưng, mọi việc đều giải quyết xong, có lúc gay gắt, nhưng rút cuộc ổn cả. Chỉ có việc rút quân là chưa xong. Vì vẫn chưa có lệnh của tỉnh ủy.

Chiều qua, lúc còn ở Binh Trạm 4, nghe có tin bộ đội kéo về bảo vệ Cảng Gianh, họ cử người lên xin bao tải làm công sự. Lúc về, gặp đồng chí điều độ, được biết có lệnh sẵn sàng chiến đấu, Mỹ thua to ở Miền Nam rất có thể sẽ điên cuồng bắn phá Miền Bắc. Và Vĩnh Linh, Quảng Bình sẽ lại chịu những đòn đầu tiên.

Tôi ghé xin đại tá Luận cái phiếu để xuống căng tin mua một bao thuốc lá loại gì cũng được, thì ông cười, Xin biếu đồng hương bao Điện Biên. Tôi cảm ơn rối rít, vội ra về theo lời hẹn với Đàm Văn Đống. Gần đến nhà đã thấy các đốm lửa thuốc lá lập lòe trong đêm và tiếng chào anh lễ độ. Tôi hỏi có anh Đống đây không, thì một tiếng ho khan của người hút thuốc nhiều kèm tiếng dạ ngoan hiền. Tôi rủ em vào nhà, đốt đèn lên rồi hỏi chú có gì muốn cho anh biết không. Chú ngần ngừ rồi nói là suốt ngày hôm nay chúng em bàn bạc nhiều lắm, anh em mong em được lên gặp anh thế này thì nói hết những điều anh em đã bàn, nào là chúng em buồn nên nghĩ quẩn, nói bậy, làm xằng nhưng không có ý gì chống đối, phá hoại đâu, mong anh thông cảm. Xin anh cho biết hôm nay anh cho gọi em lên là có việc gì vậy, còn những việc vừa qua, chúng em xin hứa sẽ không để xảy ra một lần nào nữa… Tôi nói nhỏ mà rõ: dạo này không có việc, nghỉ nhiều, thiếu thuốc chắc các chú buồn lắm. Anh đi họp cố kiếm mua cho các chú một tút nhưng không mua được, chỉ xin được có một bao, đành đưa chú cùng anh em hút tạm. Tôi đưa ra bao Điện Biên bao bạc. Mắt Đống sáng lên. Tay cầm bao thuốc mà miệng vẫn cứ hỏi mãi là có điều gì nữa không rồi mới chịu chia tay. Tôi nghe tiếng cả bọn chờ ngoài cửa mừng rỡ kéo nhau ra về. Hôm sau, Nghiên cho biết bọn chúng bảo nghe gọi lên gặp riêng phó bí thư, tưởng có chuyện gì, cả bọn bàn nhau xem có lỗi gì thì xin nhận hết, từ nay không phạm lại nữa… Không ngờ, ông ấy thương anh em mình thiếu thuốc, đi tìm thuốc cho anh em mình. Còn cho cả một bao Điện Biên, lại là bao bạc trứ danh. Thế là sống được rồi, có ông ấy là an toàn rồi. Cường nghe Nghiên kể, cười khẩy Rõ là lũ ngu, bây giờ mới biết sao.

Từ đấy mọi việc lại êm.

Dạo này, tôi hay dầm mưa, lội nước trong gió rét, đi nhiều, hết Thanh Trạch lại Bắc Trạch, Quảng Trạch mà toàn là đi bộ, lội ngầm. Tôi bị đau thần kinh tọa, kỵ nhất là bị lạnh và ăn uống


kém. Mà nay thì hội đủ cả hai yếu tố này. Hầu như suốt đêm ấy tôi không ngủ được. Mờ sáng, trái với lệ thường, tôi gọi Cường dậy, bảo đi luộc sắn ăn còn đi làm. Chú ngạc nhiên, nhưng thấy tôi nói thật rõ và thản nhiên thì bật dậy, mò mẫm kiếm củi, rửa nồi, nhóm lửa. Trời rét, tôi cũng thấy thương, nhưng cứ mặc cho chú ta làm một mình. Em là một cậu bé tốt nhưng không kiên định và có khi lười… Lúc ăn sắn, tôi cười, nói với Cường: Ta ăn mừng thắng lợi. Cường hiểu, có vẻ vui. Mặc dù ở đáy nồi thì sắn nát bét, còn những củ ở trên lại sống.

Hôm nay là chủ nhật, nhưng biết chắc là tôi sẽ chạy long tóc gáy lên đây. Việc đoàn ĐS5 và đội chất lên thân mình nhiều quá. Nhưng biết làm thế nào một khi lịch sử đã trao cho sứ mệnh như thế.

Chuyến xe Cảng Hà Nội vào mang cho chúng tôi mỗi người một cái bánh chưng to. Nhưng sau Tết, trời trở nồm, đường xa, thùng xe nóng, bánh chưng lại gói kiểu cho cả hành vào nhân cho ngon hơn, đâm ra thiu hết cả mấy chục cái. Mỗi người một cái, nhưng có ai nhận đâu, vì không ăn được. Bữa trưa, chúng tôi mừng rơn vì mỗi người một tô xúp khoai tây to, giữa nền vàng đẹp của khoai tây còn có những miếng màu nâu nâu, chắc là thịt bò. Hóa ra khoai tây thì là thật, nhưng miếng màu nâu lại là… vỏ khoai. Khoai nhỏ, gọt vỏ xong thì hết cả, chị em đành rửa sạch, chà thật mạnh vào rổ, làm ra món súp bò này. Thôi, dù sao cũng còn hơn canh toàn quốc chúng tôi ăn lâu nay.

Chiến dịch VT5 chấm dứt, Thương nghiệp cũng chấm dứt luôn việc bán củi cho chúng tôi. Nếu có giấy giới thiệu của Binh Trạm 4 thì được mua 10 ký muối. Thế thôi. Chúng tôi đành chia anh em ở nhà nào thì góp gạo với nhà ấy mà ăn cơm Đoàn kết trước khi chia tay. Chúng tôi đưa nhà chủ toàn gạo, nhưng vẫn ăn cơm độn sắn mịn cùng cả nhà.

Cục Đường sông có xe con đưa cán bộ về Hà Nội. Chúng tôi xin cho cô Lê Thị Chúc bị bỏng về cùng. Hôm Chúc sang nhà tôi chào và khoe mua được những gì về làm quà cho gia đình, nói cười ríu rít với mấy bạn thì o Ái từ nơi khai hoang về lấy đồ trong hầm ra hỏi tôi có việc gì mà mấy o vui rứa. Tôi bảo cô ấy sắp được về nhà, thì o Ái nói gọn lỏn: Bày tui mà bị như vậy là tụi tui khóc đó. O Ái 18 tuổi đã có người yêu vào Nam chiến đấu.

Mấy hôm nay, vẫn ăn cơm với gia đình chủ nhà, hầu như không bữa nào không đủ mặt cả nhà. Hai bác, rồi Ái, Ân, Luyến, Hùng và bé Mai. Phan Văn Ân hết sức tích cực đánh cua bể để đãi các chú. Hùng, Mai một mực không cho các chú đi. Gia đình coi hai anh em tôi như con em trong nhà, cố gắng tìm mọi món ngon cho ăn, hết cua lại cá. Bữa cơm nào cũng vui, rôm rả truyện trò.

Trời lạnh, lại mưa, không bốc hàng được, công nhân ở nhà nhiều. Vốn là con em nông dân chính tông, một số anh em Thường Tín có sáng kiến hai người ngủ chung một màn, cái màn cá nhân còn lại cắt ra làm thành tám cái vó nhỏ, để cất vó bắt tép. Mưa là tép nổi lên rất nhiều. Có cậu kiếm được hàng ký tép một ngày. Đưa cho chủ nhà góp vào bữa ăn đại đoàn kết trước lúc chia tay. Còn dư, chú phơi khô, bỏ lọ mang về quê làm kỷ niệm, cốt có hiện vật để kể chuyện Quảng Bình cho thêm sinh động. Chi đoàn thấy hay, gợi ý cho cả ba tổ cùng thực hiện, cải thiện bữa ăn tình nghĩa rất tốt. Đêm nằm chung hai người một màn, đắp chung hai chăn ấm ngủ lại càng ngon hơn. Cán bộ chẳng cần vắt óc, chỉ cần bám sát anh em, thấy việc làm tốt thì nói cho mọi người cùng làm thế là thành phong trào, vừa ấm no, vừa vui.

Ngày 27/2 mưa nhỏ và bắt đầu trở lạnh, mặc áo bông suốt ngày. Lại cùng anh Mận đi Bắc Trạch thảo luận vấn đề cho đơn vị rút. Hai xe IFA của Hà Nội vào từ 21/2, Xe của Hà Bắc cũng vào hai chiếc chiều 25. Mọi việc đều thuận lợi trừ việc rút quân. Ban chỉ huy đoàn ĐS5 thì yêu cầu tôi giải quyết xong mọi việc rắc rối về tiền nong của đơn vị mới được về. May mà các bạn trẻ Quảng Bình hết lòng giúp sức nên cuối cùng mọi việc cũng hoàn thành.

Tối hôm họp toàn thể cán bộ nhân viên ĐS5 để tổng kết chiến dịch, chúng tôi gặp anh Võ Văn Đại, cán bộ của cục trực tiếp chỉ đạo đoàn chúng tôi. Anh đeo cặp kính trắng dầy, khuôn mặt vuông, trắng, cương nghị, là dân Hàng Bạc, gần chợ Đồng Xuân. Anh cho biết là theo lệnh của cục, ĐS5 sẽ rút quân. Đơn vị rút đầu tiên là Đội Hà Nội. Anh vừa kể thành tích của Đội Hà Nội thì có tiếng con gái kêu thất thanh. Thế thì chết em rồi. Anh ôn tồn hỏi vì sao. Em Hồng tôi đáp ngay là nếu đội Hà Nội về kế toán trưởng là anh Thành cũng về thì em chết mất. Mọi người cười ồ. Anh Đại lại hỏi to. Tại sao chuyện lớn như thế mà không báo cáo tổ chức để được giúp đỡ, làm thế này là lỡ mất cả chuyện riêng của cô rồi. Tiếng Hồng quầy quậy chối là không phải thế đâu, em chỉ nói là nếu không có anh ấy thì em chết mất thôi chứ có nói gì đâu. Mọi người lại được một phen cười nghiêng ngả. Em Hồng cứ đỏ cả mặt, chỉ biết lắc đầu quầy quậy.

Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao hai cái xe IFA to kềnh của Hà Nội cứ đỗ chềnh ềnh mãi ở đầu dốc mấy hôm nay. Nhưng có người đã biết rõ từ lâu đó là xe đón chúng tôi về. Anh y tá Tạ C. đem treo khắp thành xe những mảnh nhôm máy bay rơi, nhiều đến mức không ai nghĩ là chỉ để làm kỷ niệm chuyến đi. Bọn trẻ đội tôi ngứa mắt cứ thấy là tháo ra vứt đi, anh ta lại nhặt treo lại, cuối cùng bọn trẻ chán, mặc xác anh ta. Về Hà Nội thế là được một món hời, dễ gì ai có được.

Sắp xa Quảng Bình, tôi nhớ mãi những lời mộc mạc học được ở đây:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu / Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Và Phải trái phân minh / Nghĩa tình trọn vẹn. Thấm thía mãi những chân lý ấy học từ Quảng Bình.

Trên đường về, suốt dọc miền Trung có nhiều đoạn đường bộ và đường sắt song song với nhau, một bên là biển, một bên là núi. Những lúc ấy chúng tôi thấy thú vị nhất. Tàu vào Nam, bộ đội, thanh niên xung phong quần áo mới tinh, mặt tươi roi rói, vừa nhìn phong cảnh vừa hát vang, cười đùa vui vẻ. Tàu ra Bắc thì những bộ quân phục bạc màu, những mái tóc xơ xác, những cặp mắt mệt mỏi, cái nhìn thăm thẳm của người từng trải lặng lẽ nhìn đàn em tiếp bước mình ra trận. Còn bọn chúng tôi thì vui quá trời. Lúc nào cũng đùa, cũng hò hát được. Đêm qua một con ngầm có hai hàng thanh niên xung phong đeo khăn quàng dù pháo sáng trắng đứng hai bên mép ngầm dẫn lối cho xe chúng tôi đi luôn có những tiếng con gái hỏi trong bóng tối Đồng hương quê ở đâu vậy thì đã có tiếng một anh trai Thường Tín đáp lại ngay Cứ yên chí lớn, về đến quê là anh cùng thầy mẹ sẽ sang ngay nhà em hỏi xin em về làm dâu. Tiếp đó là những tràng cười trong trẻo, tiếng chào chia tay vội vã. Bọn chúng tôi vui lắm. Nhiệm vụ đã hoàn thành, lại sắp về nhà. Chúng tôi muốn chia vui với khắp cả đất nước này.

Trên đường về Hà Nội, chúng tôi như một lũ điên. Hễ thấy có người gánh rau là đập đùng đùng vào nóc ca bin bắt xe đỗ lại, nhảy xuống mua. Mãi sau mới tỉnh ra là đang trở về vùng rau xanh tươi bốn mùa. Hai bên đường ruộng cải bắp san sát. Nhớ hôm cùng chị Luyện Thị Lư đi mua rau nhà dân Quảng Bình, toàn những ruộng đánh thành luống cao, trồng khoai lang ăn độn, loe hoe mấy ngọn rau lang tím ngắt. Hai bên sườn luống mới trồng xen lưa thưa mấy cây cải. Chủ nhà ra giá, chị Lư bằng lòng mua, chủ nhà còn nói sẽ nhổ bán cho cả vườn. Tôi hơi quen tiếng Quảng Bình nên hỏi lại. Thì ra chị Lư trả giá hai đồng một cưn tức một cân, chủ nhà nghe là hai đồng một cơn tức một cây, nên mới quyết định bán hết cả vườn. May mà chưa nhổ rau, việc không thành cũng chỉ cùng cười xí xóa.

Tối 2/3 ngủ lại Ninh Bình. Trong một khách sạn du lịch. Lại hoàn toàn không mất tiền. Vì khách sạn mất hết… giường, nệm, tấm trải giường, đến cái chiếu cũng không có. Chúng tôi ai nằm chiếu người ấy, ngay trên sàn gạch hoa lạnh, đắp chăn đơn của mình. Xe đỗ trước cửa hàng mậu dịch ăn uống Nam Định, chúng tôi như một lũ ma đói, ùa vào, mỗi chú Thường Tín gọi hai bát, ba bát, toàn là mì không người lái làm gì có thịt, chỉ có nước dùng và ít hành ngò. Có người no phè, lè cả lưỡi, hai tay buông thõng ra sau ghế, mặt đỏ bừng vì ăn cố…

Xe vào đường Minh Khai, đến gần dốc Cảng, đã thấy khá đông người đứng đón. Bố Hoành bảo tôi lát nữa có họp mừng công, cậu phải lên báo cáo, có tôi hỗ trợ. Tôi nói sẵn sàng nhưng tôi rách rưới quá, lên không tiện. Mấy tháng gió biển mặn, giặt cũng nước mặn, quần áo tôi chỉ có hai bộ rách nát hết cả, vá víu mặc tạm. Vì khi đi, tôi có được về nhà lấy đồ như anh em đâu.

May thay, đến nơi, anh Nguyễn Văn Ngọc, cán bộ chuyên trách Đoàn làm bí thư thanh niên Cảng nhận ngay giải quyết việc đó thật mau chóng. Anh đi lấy ở kho bảo hộ lao động một bộ thật dài, rộng, chắc chắn là tôi mặc vừa. Mặc vừa thật, nhưng giữa cái áo không cổ và cái quần giải rút còn hở độ … mười phân! Lỗi tại tôi thôi, cao quá. Chị Lư bảo, cứ để đấy tôi lo. Mà chị lo hay thật, cho quần trễ dưới rốn, áo thì kéo xuống, rồi chị lấy ra từ trong áo bốn cái ghim băng to, cài vào. Thế là xong bộ áo liền quần kiểu phi công. Cán bộ Ngọc khen đẹp và nhắc nhớ báo cáo xong thì tối ngày 7/3/1969 sang văn phòng đoàn, có việc.

Tôi hào hứng kể cho anh em công nhân nghe chúng tôi đã sống và làm việc như thế nào ở Quảng Bình hơn hai tháng qua. Tất nhiên bằng cái giọng và điệu bộ của công nhân bốc vác Cảng Hà Nội, công nhân nghe mà cứ vỗ tay lia lịa, nhất là khi tôi kể những chuyện gây cười mà có thật, tên người cũng thật nốt, mà tôi tích đầy một bụng trong suốt chuyến đi. Rời cuộc họp sôi nổi, tôi ghé xóm Phà Đen thăm Rosa tại nhà, chỉ kịp chào hỏi bà mẹ cùng ba em gái nhỏ và nghe em nói một câu: Em biết có chuyến xe vào trong đó, định gửi quà cho anh, nhưng sợ mọi người biết nên lại thôi

Tối 7/3 theo lời hẹn, tôi vào văn phòng Đoàn để làm việc với ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Cảng Hà Nội thì đã thấy bí thư chi bộ Nguyễn Văn Hoành và bí thư chi đoàn Lã Thị Vân có mặt ở đó rồi. Cùng dự có hai ủy viên là Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Văn Lượng đều là công nhân lái xe tải, Bí thư Đoàn Cảng anh Nguyễn Văn Ngọc đen, gầy giọng nói vang và rõ ràng chủ trì cuộc họp. Anh Ngọc hoan nghênh đoàn viên thanh niên Cảng đi Quảng Bình, nói là học tập được nhiều và cho biết chúng tôi đã được đề nghị Quận đoàn và Thành đoàn khen. Cả tôi cũng được khen ở hai cấp như thế và yêu cầu chi đoàn Quảng Bình làm bản thành tích của chi đoàn, làm lý lịch các đồng chí Vũ Khánh Thịnh và Trịnh Thanh Thiệp để làm thủ tục kết nạp các đồng chí ấy.

Rồi hạ giọng, thậm chí mai mỉa khi nhắc lại chuyện đoàn cấp trên đã có lòng gửi thư thăm hỏi động viên mà chúng tôi lại gửi trả. Tệ hại nhất là cái cách gửi trả. Nhờ chị em công nhân băng chuyền là cái ổ chuyên buôn chuyện, lan truyền nhanh chóng mọi tin tức giật gân, còn gì là thể thống, ý thức tổ chức, uy tín của Đoàn. Tôi không ngờ cái việc trả lại thư như thế làm các vị tức tối đến mất cả lý trí, cứ nói đi nói lại mãi…. Tôi đang nghĩ, chắc chắn là vị này chưa đọc Suối Thép. Nếu không đã biết những chỉ thị quan liêu bao giờ cũng bị các chỉ huy đạo quân Kojouk vò nát, vứt đi rồi được bộ đội nhặt lên, vuốt thẳng ra chia nhau làm giấy cuốn thuốc lá. Đằng này chúng tôi gửi trả còn nguyên nếp gấp như khi các vị gửi cho. Tóm lại là tôi chỉ nghĩ vớ vẩn chưa biết trả lời ra sao thì bố Hoành đã đứng lên kề cà nói: chú ấy có báo cáo cho tôi và tôi đọc nguyên văn cả bức thư Hà Nội gửi vào, tôi thấy tầm bậy hết sức: Làm sao bắt đứa đang chịu cực phục vụ tiền tuyến phải cố xứng đáng với những đứa không dám xung phong đi, ở nhà hưởng thái bình. Chính tui và cô Vân biểu gửi về đấy. Các đồng chí tự đọc lại mà suy nghĩ xem mình làm như thế có đúng không. Tôi thật bất ngờ trước phần nói thêm của bố. Bố thương chúng tôi quá, và cũng thương tôi nữa. Bố là trưởng ban bảo vệ của Cảng, lại là dân Huế, sao bố không biết tôi là cháu ngoại ai

Chiều thứ hai 17/3/1969, họp ban chấp hành chi đoàn Quảng Bình mở rộng có ba phân đoàn trưởng tham gia. Chính thức khai trừ đoàn viên Nguyễn Minh T. và khai trừ nữ đoàn viên Trần Thị L. nhưng cho lưu sáu tháng.

Chính thức đề nghị Thành đoàn khen các đồng chí Trịnh Thị Thành, Bùi Lê Nghiên, Tôn Thất Thành, Lã Thị Vân, Trịnh Thị Tíu.

Đề nghị khu đoàn khen các đồng chí Vũ Thị Nhã, Trịnh Thanh Thiệp, Phạm Thị Sáu, Lê Thị Chúc, Nguyễn Thị Ất, Hoàng Thị Dần, Trần Đình Tộ.

Đề nghị Thành đoàn khen Chi đoàn Quảng Bình.

Chiều 18/3, anh Võ Văn Đại và các anh lãnh đạo ĐS5 đến Cảng. Anh em gặp nhau vui hết sức, các anh còn chu đáo đưa cho tôi tấm Giấy khen của Quảng Bình mới gửi cho Cục. Giấy khen ghi rõ tôi là cán bộ Cảng sông Hà Nội đã có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch VT5 / Vào sổ khen thưởng số 070 ngày 13/3/1969. Tôi gửi anh Đại cuộn báo Tiến Lên số Tết Kỷ Dậu để trưng bày ở Phòng Truyền Thống của cục Đường Sông.

Chuyện xảy ra vào tối mồng 3 Tết Kỷ Dậu(18/2/1969) như sau: Nguyễn Minh T. đi chơi với Lê Văn M. và một cô gái người Nghệ An tên là L. Ngày 19/2/1969, bí thư Nguyễn Văn Hoành gọi Nguyễn Minh T. lên gặp riêng.

Tối 20/2/1969, họp chi đoàn. Phân công người vào hai ban văn nghệ và báo liếp. Rồi nghe báo cáo về một số vấn đề về tổ chức, kỷ luật Đoàn, cùng bàn về một số trường hợp vi phạm kỷ luật Đoàn. Đồng chí Đỗ Trọng Phẩm yêu cầu đừng nói chung chung nữa mà nên vạch mặt chỉ tên rõ ai là người vi phạm. Nghe nói thế, Nguyễn Minh T. đứng ngay dậy yêu cầu: Phải bảo đảm tự do phát biểu ý kiến. Cả chi đoàn nhất trí tán thành ngay và giải tán vì thấy chẳng còn gì phải thảo luận. Tổ Đảng họp, ban chỉ huy B và ban chấp hành chi đoàn đều thống nhất quyết nghị: Đưa vấn đề vi phạm của Nguyễn Minh T. ra ánh sáng ngay ngày 21/2/1969. Đồng chí Nguyễn Văn Tứ, bí thư chi đoàn Nghệ An đến gặp cho biết rõ việc điều tra o L. O L. nói không quan tâm nhưng vẫn bị anh Nguyễn Minh T. cưỡng ép.

Tối 21/2/1969, chấp hành chi đoàn họp với phân đoàn I nơi Nguyễn Minh T. công tác, có sự tham dự của cán bộ B, ba phân đoàn trưởng và tổ Đảng. Khi kiểm điểm Nguyễn Minh T. chối quanh, nói tất cả chỉ là vu khống. Đồng chí Nguyễn Văn Hoành là B trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Cầm là phó bí thư chi đoàn đã gặp chi đoàn Nghệ An điều tra, gặp cả o L. nữa, cùng đồng chí Bùi Lê Nghiên ở cùng nhà đều khẳng định có hành động sai trái, nhưng Nguyễn Minh T. vẫn giữ thái độ rất láo xược, vu khống phó bí thư Nguyễn Văn Câm rất trắng trợn, coi tổ chức Đảng, Đoàn không ra gì, cực lực phản đối việc bắt phải tự kiểm điểm, nhưng có thừa nhận một số sự việc như: có ghen với anh Lê Văn M. trong quan hệ với o L. – có kéo tay o L. vào nhà tối mồng ba Tết nhưng o ấy không bằng lòng, mới làm đứt ba cái khuy áo o ấy. Còn nói có bị bóc huy hiệu Đoàn cũng chẳng cần, và sẽ đổ máu để giữ danh dự, cũng có nói những câu thô bỉ như: tại quần thắt giải rút chặt quá, bằng không thì đã…

Như vậy là khi xuất quân từ Cảng Hà Nội, có mặt 44 đoàn viên thanh niên, trong 24 đoàn viên thì 23 đông chí trực tiếp sản xuất kể cả đồng chí nữ bí thư chi đoàn. Duy nhất một đồng chí phó bí thư làm gián tiếp, đảm nhiệm công tác thống kê kế toán của B ta và là kế toán phụ trách tiền lương cả đơn vị ĐS5 gồm năm tỉnh Hà Nội, Nam Hà, Tuyên Quang, Hà Bắc, Hải Dương.

Khi kết thúc chiến dịch VT5 về Hà Nội, tổng số đoàn viên thanh niên còn 43, tổng số đoàn viên đã là 25. Có một đoàn viên bị khai trừ và hai thanh niên mới được kết nạp ngay tại Quảng Bình trong chiến dịch vận tải phục vụ chiến trường miền Nam trên trận địa Cảng Gianh. Hai đoàn viên được kết nạp trong hầm dưới ánh sáng đèn bão, trước cờ Đoàn vẽ bằng phấn màu trên vỏ bao xi măng là đồng chí Vũ Khánh Thịnh và đồng chí Trịnh Thanh Thiệp. Một đoàn viên bị khai trừ là Nguyễn Minh T. Còn thanh niên Nguyễn Văn B. do ăn cắp của đồng đội sống cùng nhà đã bị đuổi về Hà Nội ngay tối 22/2/1969 sau cuộc họp toàn đơn vị ĐS5 có đầy đủ đoàn viên thanh niên tham dự vạch trần thủ đoạn của kẻ trộm ngay trong buổi họp mà không để nhân dân địa phương biết. B. đã lấy cắp quần áo tốt và vải của đồng đội, còn làm hiện trường giả, làm dấu chân đi ngược từ ngoài đường đất vào rồi trèo qua cửa sổ gây hiểu lầm là người dân địa phương lấy cắp. B còn lấy cắp một bao u rê và ba đôi dép bị dân địa phương phát hiện báo với đơn vị.

Đến nay (2022) sau hơn nửa thế kỷ, tôi thành thật nói rằng việc đuổi Nguyễn Văn B. về Hà Nội, vì ở nơi tuyến đầu đất lửa Quảng Bình phục vụ chiến trường Miền Nam này không thể chấp nhận một con người sa đọa như thế. Dong dỏng cao, có mái tóc đẹp luôn được anh chăm sóc, ăn nói lưu loát, ấm áp rất được các cô Hà Nội, các o Quảng Bình và Nghệ An để ý, lại ăn uống sành điệu, rượu thuốc đều hay. Chính anh ta là nguyên mẫu khiến tôi gợi ý cho nhà thơ của báo liếp Tiến Lên Phạm Văn Cường viết nên bài thơ đình đám lan truyền trong cả các đội bốn tỉnh bạn Đã là quân tử… Còn với đoàn viên Nguyễn Minh T., tôi thật lòng tiếc cho một thanh niên trắng trẻo môi đỏ ưa nhìn, ham viết, đã có những bài ký bút danh Pênixilin trên Tiến Lên hấp dẫn và có tác dụng trong đơn vị như Dạ dày biểu tìnhBà y tác ấy ở đội nào? mà đã bị đối tượng bị phê phán bực tức xé, nhưng đội ngăn cản vẫn bị bí thư Đảng bộ Cảng Hà Nội bêu trong bài Vì sao báo rách? Tiếc là anh ham thơ, chịu ảnh hưởng thơ lãng mạn, chép cả một sổ tay toàn thơ của các nhà thơ tiền chiến nổi tiếng, nhưng chỉ hấp thụ được phần tiêu cực, dẫn đến hành động sàm sỡ phụ nữ, lại là cô gái xứ Nghệ dễ thương nhưng đoan trang. Thật sự tiếc cho một tài năng. Nhưng vì kỷ luật chiến trường, lại ảnh hưởng đến đoàn kết với đơn vị bạn và làm xấu mặt thanh niên Hà Nội. Tôi nhớ rõ tối họp xét kỷ luật hai bạn trẻ ấy, dưới ánh đèn bão mờ mờ, chính tôi đã được phân công chủ trì cuộc họp này có đông đảo cả đơn vị tham gia.

Cuộc họp tổ chức trong nhà kho của hợp tác xã. Bí thư chi đoàn Lã Thị Vân giới thiệu phó bí thư là tôi lên điều khiển việc kiểm điểm tình hình thực hiện kỷ luật trong đoàn viên thanh niên thời gian qua. Tôi lên đứng trước bức tường đầu hồi, sau một ghế đẩu cao, trên có đặt một đèn dầu ma dút mất bóng, khói đen bốc lên trên ngọn lửa chập chờn vì gió đông lùa vào. Bóng tôi in to, đen trên vách tường ngoằn ngoèo chắc là trông dễ sợ lắm. Nhất là đêm nay thực chất là buổi xét xử hai vụ vi phạm kỷ luật nổi bật trong đơn vị. Vụ anh Nguyễn Văn B. lấy trộm đồ của đông đội và vụ đoàn viên Nguyễn Minh T. có hành vi cưỡng ép một cô gái đơn vị bạn Nghệ An. Một phiên xét xử mọi người đòi hỏi chờ đợi từ lâu trong tình hình chiến tranh ác liệt, việc làm không có, đã quá thời hạn thực hiện nghĩa vụ từ lâu mà chưa có lệnh cho về. Quan hệ với địa phương dễ bị sứt mẻ nếu xử sự không khéo

Thế là nhà thơ châm biếm có tài của Tiến Lên, dưới bút danh Tiểu Nhân – chỉ dành riêng cho bài Đã là quân tử… dù đã vận dụng hết sức tưởng tượng cũng chỉ hạ được câu: Hết tiền, quân tử đi vay nợ… Chẳng dè sau phiên xét xử, thi thấy thật ra đã có thể viết: Hết tiền quân tử đi ăn trộm. ĂN TRỘM! Đúng là như vậy, sự thật trần trụi và tàn nhẫn hơn ta vẫn tưởng…

Vậy là, anh công an khu vực hàng xóm nhà tôi ở Hà Nội tên là Tín, đã xác nhận rất đúng tôi là cháu ngoại của Phạm Quỳnh, đã bị ta xử bắn năm 1945. Chưa có hành động phá hoại.

(Còn nữa)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4/12/2018.

Sửa lại và bổ sung ngày 21/3/2022 thời sống chung với Covid-19,

tiếp tục sản xuất và học tập tiến lên mạnh mẽ

P.T.

“Nghe tiếng, vẫn cứ phải thấy hình mới chắc!”

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 1 tháng 4 năm 2022.

“NGHE TIẾNG, VẪN CỨ PHẢI THẤY HÌNH MỚI CHẮC!”

Phạm Tôn

Tết năm 2015 nhóm bạn Chu Văn An khu vực thành phố Hồ Chí Minh họp mặt thường niên. Nguyễn Hùng Cường bảo tôi có muốn nói chuyện với Nguyễn Văn Long, bạn cùng lớp 10E, lại cùng tổ và hợp nhau ở chỗ cả hai đều mê hát. Thế là tôi hát một câu hát cũ, Long hát tiếp ngay. Tôi lại hát một câu bài hát Mông Cổ chúng tôi hay hát hồi đó, nhất là hát đến câu mà cả bọn tôi đều hay hát to: Nếu cô chưa ở riêng, hấy, xin chớ lấy ai cùng, tôi thế nào cũng lấy cô mà. Rồi một hôm sáng tinh mơ này đánh theo xe ngựa hồng. Tôi đến tận nơi đón cô em về. Một lần, trước giờ chào cờ đầu tuần, chúng tôi đang say sưa hát to thì thầy hiệu phó mới ở Khu học xá trung ương Trung Quốc về, nghe thấy liền lên bục quát to: Ai dậy các anh hát bài này, ai cho phép hát bài này.  Tôi nghĩ thầm trong bụng:chẳng lẽ lại nói bài đó có trong tập nhạc ban Văn Thể Mỹ của Khu học xá tặng giáo viên ra trường.

Sau này, hai tôi đều được con trai mua cho smartphone. Bao giờ Long gọi cho tôi cũng gọi vidéo. Long bảo thấy mặt cho nó chắc là bạn mình vẫn sống và đang nói chuyện với mình. Nghe tiếng vẫn cứ phải thấy hình mới chắc!

Đúng ý tôi quá. Từ hồi học trường Kiến Thiết ở góc Bà Triệu – Nguyễn Du Hà Nội, cùng tham gia công tác hiệu đoàn trường, tôi thân với anh Lê Ngọc Thọ, trò chuyện với nhau cứ cậu cậu, tớ tớ không hề biết là anh hơn mình đến 5 tuổi, mặc dù biết anh hơn hai lớp! Rồi sau đó, mỗi người một ngả. Anh vào đại học bách khoa lứa với anh Đại tôi, nhưng học ngành cầu đường. Tôi bắt đầu học làm báo ngược, mở đầu bằng việc đi bán báo. Khi anh đi thực tập, tôi tặng anh một quyển sổ tay, bìa có hình Paven tôi lấy ở một ấn phẩm do Liên Xô xuất bản tặng các đại biểu tham gia liên hoan thanh niên sinh viên quốc tế tổ chức lại Matxcơva năm 1956. Hồi ấy thanh niên tiến bộ chúng tôi ai cũng có một quyển sổ tự tu, tức là nhật ký, ghi lại mọi việc mình làm và xảy ra với mình để tự rèn luyện. Từ đấy, chúng tôi không gặp nhau.

Tháng 10/2008, anh Tôn Thất Đại gọi điện kể cho tôi một chuyện vui: Trời mùa đông mưa rét, anh cùng một bạn kiến trúc sư đi xem triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Rất ít người xem. Anh và bạn đang sôi nổi bình luận về những bức tranh đang xem thì có một người lại gần bắt chuyện, hỏi anh có họ hàng gì với Tôn Thất Thành không. Anh Đại đáp tôi là anh ruột. Nhưng sao anh lại hỏi vậy thì người lạ nói tôi là Lê Ngọc Thọ bạn thân của Tôn Thất Thành. Tôi nghe tiếng anh nói chuyện mà tưởng như nghe Tôn Thất Thành nói. Rồi anh Đại cho anh số điện thoại của tôi.Từ đấy tôi với anh mới nối lại liên lạc.

20:50 ngày 3/10 anh Thọ gọi báo: sau ngày 10/10/2008 anh sẽ vào Sài Gòn, cố ghé nhà em rồi đi chơi Campuchia.

Cuối năm 1959, ra trường là đi ngay Trốp (tiếng Khơ Me: Khu làng) Tuyên Hóa – Quảng Bình. Lần ấy phải tìm Làng Ho, Làng Mo trên bản đồ quân sự 1/100k. Anh có ghé nhà 16 Hàng Da, nhưng không gặp.

10:05 ngày 5/10, anh Đại gọi báo tin anh Thọ sẽ vào Sài Gòn thăm em và nói thêm anh ấy tốt quá.

Ngày 10/10, trước 8 giờ và 10 giờ tôi đều gọi về nhà anh Thọ ở Hà Nội. Sau đó thì gọi điện thoại di động, đều không có ai bắt máy. Như vậy là anh đã lên đường. Lê Thị Đông vợ tôi lo đi siêu thị, cố thết anh một bữa đặc kiểu Sài Gòn.  Mãi 20:15 anh Thọ mới đi bộ đến nhà xuôi đường Lý Chính Thắng một chiều. Thành Trung con trai tôi chở bác đi vòng đến nhà khách T78 của trung ương ở đầu đường Lý Chính Thắng để anh lấy đồ tối ấy ngủ lại nhà. Anh bảo hơi mệt, muốn nghỉ ngay. Sáng hôm sau, thứ bảy 11/10, đẹp trời. Ăn sáng xong cháu lại đưa anh đi đến nhà cháu anh ở khu K300. Chiều anh mới về ăn ở nhà mình. Tặng anh số báo Hồn Việt số 15 có bài Ông Phạm Quỳnh quả là người nặng lòng với nước của Phạm Tôn tôi viết tham gia cuộc thảo luận về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh do báo tổ chức. Cũng gửi một bản cho Nhữ Quí Anh, bạn cùng khối 10 Chu Văn An, kết nạp vào đoàn Thanh niên lao động cùng ngày 1/3/1957 với minh và Long trong tập thể tám bạn. Nay Anh là láng giềng của anh Thọ tại Hà Nội.

Đêm 10/10, hai anh em trò chuyện đến 12 giờ đêm, mệt quá mới ngủ. Nhưng 4 giờ sáng anh đã dậy kể tiếp chuyện 1956 đến 2008 vừa chuẩn bị đi thi bơi của Hội người cao tuổi tổ chức ở Tây Ninh, được Huy chương đồng. Lần này vào, anh cho tôi bức ảnh chụp quyển sổ tay có hình Paven và lời Paven tôi chép tặng anh ngay đầu sổ. Thật chí tình. 19:00 con trai lại đưa anh về trạm T78 tập trung với các cụ thi bơi. Anh tặng Đông đến mấy cái bấm móng tay đẹp. Tặng con tôi một áo thun cánh sen có chữ Campuchia loằng ngoằng. Chiều Đông đãi anh món lẩu nắm và canh khoai mỡ. Lạ miệng anh ăn rất hào hứng. Hóa ra anh định tặng tôi nhiều cái bấm móng tay kiêm mở chai bia, nhưng khi ăn, anh biết tôi không uống bia nên để lại mà không nói gì.

Ngày 15/10, anh Lê Ngọc Thọ gọi điện chia tay, sáng hôm sau về Hà Nội.

Ngày 20/8/2011, anh Lê Ngọc Thọ lại vào thăm. Lần này ung dung lắm, vì là khách của thành phố, đại biểu của Hội Cầu đường được mời dự khánh thành thông hầm ngầm Thủ Thiêm dưới lòng sông Sài Gòn. Gần cả buổi sáng anh ở nhà tôi, uống trà, ăn cam, còn cho tôi một triệu đồng. Lần đầu, anh lên thăm con trai tôi mới lấy vợ. Anh cũng khoe có con rể, năm nay sẽ có cháu ngoại. Anh chụp ảnh tôi và vợ chồng con trai.

Trong lúc uống trà, tôi kể anh nghe nhiều chuyện đời mình anh chưa biết. Cuối cùng giãi bày tâm sự sâu lắng nhất: mọi suy nghĩ về ông ngoại Phạm Quỳnh và sự ra đời của Blog PhamTon. Từ ngày Blog PhamTon ra đời, em thấy khỏe hẳn, gia đình vui vẻ sống động hẳn lên. Anh Thọ hỏi thu  nhập có khá không. Chắc là nghe nói lên mạng làm blog cá nhân anh liên tưởng ngay đến những người anh quen kiếm ăn trên mạng. Phải trình bày để anh biết là viết báo thì lĩnh nhuận bút bằng báo rồi ra bưu điện gửi cho bà con bạn bè. Blog làm xong cũng thế, in ra rồi gửi cho những ai quan tâm đến Thượng Chi Phạm Quỳnh. Không thu được lợi ích kinh tế gì mà chỉ chi ra thôi. Cái điều quan trọng thu hoạch được là nhận thức của xã hội mỗi ngày một biến chuyển theo hướng ngày càng gần với con người thật của ông hơn, không còn đơn giản chỉ gọn trong hai câu ngắn gọn ác độc: Phạm Quỳnh bán nước. Phạm Quỳnh là tay sai của thực dân Pháp.

Tối cuối năm âm lịch 3.2.2011 cả nhà bốn người vợ chồng tôi và vợ chồng con trai ra chùa Vĩnh Nghiêm thắp nhang cho mẹ. Cả nhà chụp  ảnh với mẹ.

Sau giao thừa, anh Lê Ngọc Thọ từ Hà Nội gọi điện thoại chúc mừng năm mới. Tôi báo cho anh sắp lên chức ông nội.

Từ đấy, chúng tôi thường xuyên trao đổi tin nhắn, điện thoại, cố cập nhật cho nhau những khoảng thời gian xa cách, không biết gì về nhau. Hiểu rõ cuộc sống của nhau hơn, tình anh em càng bền chặt. Tôi ra Blog PhamTon số nào là báo anh ngay để anh xem và nhận được những chia sẻ chân tình. Ngày 30/10/2021, tôi nhắn tin cho anh: Anh em mình gắn bó từ 1956 ở trường Kiến Thiết nhỉ? Trước khi vào học trường Kiến Thiết trong năm đầu mở trường, anh Lê Ngọc Thọ học và làm công tác hiệu đoàn ở trường Phụ Huynh Học Sinh, chỉ học các buổi tối, để ban ngày học sinh còn lao động kiếm sống. Nhà nghèo, bố yếu lại là trưởng nam của năm anh chị em còn lại nên anh học trường ấy. Năm 1955, thành đoàn Hà Nội tổ chức cho học sinh tham quan cải cách ruộng đất đợt 5 ở ngoại thành Hà Nội. Gia đình tôi bắt đầu sa sút, nhưng tôi vẫn có thể tham gia đợt tham quan đóng 15 đồng  và 7.5 ký gạo. Đợt tham quan cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội, anh cũng được mời tham dự. Nhưng các cảnh đấu tố anh tận mắt thấy không làm anh tin tưởng vì giả tạo, thậm chí kệch cỡm thế nào ấy, rất lộ liễu. Bấy giờ, anh thanh niên Lê Ngọc Thọ 20 tuổi rồi, anh không dám nói gì, vì thời ấy ai chẳng biết câu “Nhất Đội  (cải cách ruộng đất) nhì Trời!” Sau đó anh lấy lý do gia đình không có điều kiện, thoái thác không tham gia như tôi, còn trẻ con mới 15 tuổi đầu!

Anh Hồng Kỳ là cán bộ thành đoàn phụ trách đội học sinh đi tham quan cải cách ruộng đất biết rõ lũ chúng tôi đang tuổi ăn tuổi ngủ, ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với nông dân thật khó khăn. Tối nào nông dân cũng ôn nghèo kể khổ  đến khuya, có khi hơn một hai giờ sáng mới ngừng. Vậy mà ba giờ đã dậy thổi cơm ăn vội còn đi làm. Thấy chúng tôi say sưa ngủ bà con cũng thương không gọi. Thé là ba cùng hỏng mất cái quan trọng nhất là cùng làm! Đêm tố khổ nhiều bạn ngủ gục làm bà con đưa mắt nhìn nhau chẳng ai dám cười. Anh Hồng Kỳ bày cho chúng tôi hai mẹo quan trọng: Bôi dầu  Nhị Thiên Đường vào đầu mắt và mỗi tối trước khi đi ngủ, uống một gáo nước to. Đó là đồng hồ báo thức đấy!

Sau khi trường Phụ Huynh Học Sinh giải tán, anh tìm về học lớp đệ nhất chuyên khoa ở trường Kiến Thiết mới mở, do đó gặp tôi và nhóm bạn thân chuyển từ trường Hà Huy Tập mở năm 1954 nay cũng tan rã vì các nhân vật chủ chốt của trường đều di cư vào Nam như bên trường Phụ Huynh Học Sinh.

Nhà anh là căn nhà ống nhỏ, mặt tiền trông ngay ra chợ Hàng Bè. Nhà tối dù có giếng trời nhỏ. Ngày 30/10/2021, tôi nhắn tin cho anh: Anh em mình gắn bó từ 1956 ở trường Kiến Thiết nhỉ? Mới đấy mà đã 65 năm… Anh đáp: Đúng rồi, thầy Khuất Duy Các làm hiệu trưởng, thầy Hoàng Phương dạy toán, thầy Hoàng Thiếu Sơn dạy văn, địa… Anh kể tên các thầy dạy anh lớp đệ nhất. Tôi thua anh hai lớp mới đệ tam nhưng cũng học thầy Các, thầy Sơn. Anh lại nhắn: 1956, đúng năm cuối chuyên khoa A thi cái bacavét ở Hội đồng Chu Văn An rồi thi vào đại học bách khoa khóa I năm 1956. Mải đi mít tinh, xem bảng vào đại học muộn. Mê mải Cái Mới ấu trĩ thế đấy… Tôi kể chuyện anh thi bơi và gặp gia đình năm 2008, anh nói: Em nhớ nhỉ… Đó là dịp câu lạc bộ Ba Đình vào thi bơi ở Hội bơi Thành phố Hồ Chí Minh đăng cai 10/10/2008. Sau 2010 anh có đủ màu huy chương đấy. Đến 70 tuổi anh thôi không thi nữa, vì phải thi với tuổi 65 thì không chơi được. Nguy hiểm. Mình bơi chỉ cốt đẹp và khỏe. Cũng vui!

Một lần, anh viết: Anh đã đọc những Paven bán báo (tức bài Nội san Paven) với lời nhắn của tôi: Anh đọc bài này thì hiểu thời em vào đời. Anh có nhận ra cái bìa quyển sổ em tặng anh khi đi thực tập.

Anh gửi qua zalo cho tôi bức ảnh anh đội mũ tai bèo ở Kontum năm 1972.

Sau khi đọc bài Giải phóng miền Nam giữa lòng Hà Nội  trên Blog PhamTon, anh cảm hứng liên hệ: 30/4 tái tạo ra mình, để mình có được một gia đình, 7 năm sau mới ra được một mụn gái. Cũng may 5, 7 năm chiến tranh, súng đạn, ác liệt bố con vẫn lành lặn, một gia đình đầy đủ, nhờ trời, may cho mình. Chấp nhận vui với cái mình có, quan trọng là thấy mình cũng có phần đóng góp trong đó, dù không lớn lao gì nhưng cũng là có. Tất nhiên cái mình có cũng chẳng tròn trĩnh gì đâu. Kết chúc chiến tranh, mình còn cái gáo (cái đầu, từ thường dùng trong chiến tranh, sau mỗi trận bom ai cũng giơ tay ôm đầu xem… còn gáo không) và một gia đinh 6 anh chị em còn có ba anh em trai với một đàn con cháu, chưa có chắt! Chị cả, anh hai hơn Lê Ngọc Thọ 5 tuổi (sinh năm 1930) đi học, đã tham gia Thanh niên tuyên truyền giải phóng quân; ông bố phát hiện trong cặp anh dùng đựng sách vở đi học có giấy do ông Khuất Duy Tiến ký. Anh đã hai lần đến Bắc Bộ phủ và Trại bảo an binh phố Hàng Bài. Năm 1946, dân Hà Nội rục rịch chuản bị tản cư thì anh làm quân báo. Gia đình vắng anh từ đó. Năm 1958, gia đình mới nhận giấy báo tử. Sau đúng một con giáp 12 năm đằng đẵng đợi chờ…

Một thời gian, tôi vẫn gửi, Blog PhamTon nhưng không nhận được chia sẻ. Hóa ra anh phải nằm bệnh viện. Chiều 1/11/2021 anh nhắn tin, đưa cả ảnh: Em chưa biết anh vừa phải mổ. Phát hiện thoát vị bẹn hôm 13 thì 21/10 mổ . Hôm nay xong xuôi rồi. Ảnh là khi anh nằm giường bệnh viện sau mổ ngày 22/10. Hiện đang ở nhà con một ở Hà Đông đây. Tớ đang đọc Blog PhamTon

21:01 ngày 26/12/2021 anh nhắn:… phát hiện! rồi 21:58 mới nhắn tiếp :… cái rất bất lợi cho mình lâu rồi nay mới biết!!! Tôi đùa: Anh cũng NGU LÂU như em: 82 tuổi mới hiểu những chuyện trẻ con cũng biết như: con cần có CHA! (tôi viết bài NGU LÂU trên blog PhamTon tự trào về cuộc đời kỳ quặc của mình) Rồi lại nhắn: Niềm vui nhân đôi, nỗi buồn sẻ nửa… Chỉ có chia sẻ với người thân mới có được… Không thấy anh thổ lộ gì, tôi hơi chạnh lòng.

Rồi 10:56 ngày 6/3/2022, tôi chuyển cho anh bài Thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt giới thiệu tình bạn thanh mai trước mã giữa cô tuổi Mão và tôi tuổi Thìn, thân và tin nhau từ ngày 6,7 tuổi cho đến khi nước nhà chia cắt bạn 15 và tôi 14 chia tay nhau kẻ Nam người Bắc. Nay 2022 bạn nhờ người chuyển cho tôi bài thơ Nhớ bạn và mong được nghe tiếng tôi nói chuyện với bạn hiện ở một nhà dưỡng lão sau khi chồng qua đời, các con hai gái năm trai mỗi đứa một gia đình riêng ở nhiều nơi trên đất khách dù đó có là nước Mỹ mà nhiều người còn ao ước, nhưng với bạn, đời sống không tri kỷ sống bằng không. 18:30 cùng ngày, anh Lê Ngọc Thọ viết cho tôi: Thành ơi! Những ngày này mà có được những lời thư xa xứ của người thân như máu mủ thi nói sao cho hết nỗi lòng thân thương quí báu!… Chúc mừng vô cùng!…. Tôi gọi điện thoại cho anh, nhắc là tình bạn của anh và em có kém gì. Bỗng nhiên tôi hỏi năm nay anh bao nhiêu tuổi. Anh bảo sinh năm 1935 hơn tuổi anh Tôn Thất Đại em sinh năm 1937. Tôi viết: Còn không nhiều thời gian sống với những người yêu thương mình mà mình cũng yêu thương họ. Nên quý từng ngày còn lại này. Anh bảo: vậy mà vẫn có chuyện không biết thì thôi nay đã biết mà không làm cho ra nhẽ thì không chịu được. Mấy năm nay, có thời giờ ngẫm lại các bước thăng trầm suốt cuộc đời mình, suốt đời mình chỉ muốn và cố làm mọi việc tốt đẹp, không bao giờ có ý hại ai. Vậy mà bây giờ, nhìn lại toàn bộ cuộc đời thì thấy rõ là bao giờ mình gặp khó khăn, gặp những bước gian nan, đều có bàn tay của con người đó, những cơ hội tốt đẹp đến với mình như đi học nước ngoài đều bị lỡ vào phút chót cũng đều có bàn tay con người đó. Thời chống Mỹ, anh đã Nam tiến. Cả nước hòa bình rồi anh lại vẫn Nam tiến về khu 5 quen thuộc năm xưa vẫn do con người đó. Mà nào phải ai xa lạ, một người rất gần với mình, cùng học đối đãi với nhau chưa bao giờ có gì là không tốt nếu không nói là mình giúp đỡ anh ta nhiều. Tất cả những đợt đề bạt, nâng lương mình đều bị lỡ. Là lứa kỹ sư cầu đường đầu tiên nước ta đào tạo mà ở cấp bậc như mình thì quá tệ. Xưa nay mình không thắc mắc gì, vì thấy cũng đủ sống như mọi người. Nhưng nay, nhìn lại toàn bộ thì thấy rõ ràng không phải định mệnh hay số phận mà đứng sau tất cả bao giờ cũng có bàn tay con người đó. Một người không thù không oán với mình. Thật bất công quá… Tôi hỏi lại anh năm nay bao nhiêu tuổi. Và còn hỏi anh định phanh phui vụ này ra để làm gì, anh có cần làm thế không.

Và tôi kể anh nghe chuyện đã xảy ra với tôi hồi mới 25, 26 tuổi. Tôi dạy bổ túc văn hóa ở Cảng Hà Nội, gia đình lại đi sơ tán hết, tôi ở có một mình nhà 16 phố Hàng Da khá xa cảng Phà Đen. Một tối mưa, tôi vào chỗ các bạn lái xe trẻ sống tập thể. Các bạn đang tranh cãi gay gắt. Anh em biết lão kế toán già của đội đã báo cáo láo với lãnh đạo xí nghiệp hồi ấy gồm nhiều đảng viên thoái hóa biến chất để hãm hại tôi, vu cáo tôi tuyên truyền văn hóa đồi trụy trong tổ xe. Anh em hầu hết học lớp tôi dạy biết rõ tối ấy chúng tôi xúm nhau cùng đọc Tarax Bunba của văn hào Nga Gô gôn ca ngợi khí phách anh hùng của người Nga trước quân xâm lược. Anh em bàn tối ấy sẽ rình lão đi qua là trùm mền đánh đá túi bụi kèm lời cảnh cáo nhiều người cùng nói cho không biết giọng ai mà tố cáo. Tôi cảm ơn anh em và xin đừng làm thế. Vì lên kế hoạch cho chuẩn cũng rất mất thời gian. Thuyết phục những ai cùng thực hiện kế hoạch trả thủ cũng rất khó. Sau nữa, còn phải nghĩ cách sao cho những người ra tay giúp mình không bị trả thù, bị lôi thôi. Hơn nữa tôi rút cái chứng minh thư ra, giơ mặt sau cho anh em xem: cao 1 mét 76. do công an thành phố Hà Nội xác nhận ngày… Rồi nói: Tôi cao 1 mét 76, có công an xác nhận. Ai bảo tôi lùn mét mốt thì bị người nghe nói cười chứ tôi có lùn đi dem nào đâu. Cái chính không nên trả thù là vì nó mất thời giờ lắm mà chẳng ích lợi gì. Anh em lái xe đều cười và không làm chuyện đó nữa. Sau này, cả lãnh đạo xí nghiệp và lão già độc ác đều bị pháp luật trừng trị vì họ vẫn giữ nguyên tính xấu và làm những việc xấu khác.

Anh Lê Ngọc Thọ cười. Tôi nhắc lại là: vụ việc của anh lại quá lâu rồi, ai chịu làm nhân chứng, còn vật chứng thì tất nhiên là không còn. Chi bằng dùng thời gian còn lại quí báu của anh để sống với những người anh yêu quí mà họ cũng yêu quí anh. Vả lại trước những việc Quốc Gia đại sự hiện nay thì ai có thì giờ giúp anh làm sáng tỏ những việc xấu cũ của một thời chỉ với một người

Anh cười: Em nói cũng phải… Ta còn ít thời gian lắm, càng cần trân quí.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/3/2022

 thời chung sống bình thường thích nghi khôn khéo

với Covid để duy trì và phát triển xã hội.

P.T.

Tháng Ba 9, 2022

Viết tiếp Thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 8:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 3 năm 2022.

Viết tiếp Thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt

Phạm Tôn

Sáng 6/3/2022, bài Thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt lên mạng rồi, với những dòng cuối như sau: bạn tôi Nguyễn Cát Minh Nguyệt ấy đã là bà cụ 83 tuổi rồi. Tôi không dám phá giấc ngủ của bà lão Minh Nguyệt. Chỉ viết thế này thôi. Tùy con cháu xử lý.

Tôi lại ngồi chỗ cũ xem tivi. Không ngờ con tôi Thành Trung liên lạc ngay với chị họ Thu Hương và đưa điện thoại của tôi cho tôi. Con nói: Bố gọi điện cho bác Nguyệt đi, 10 giờ ở ta là 7 giờ tối bên ấy.

Tôi gọi thì có tiếng phụ nữ trẻ trung hỏi: Ai đấy? Tôi đáp: Tôn Thất Thành đây! Thế là một tràng cười càng trẻ trung hơn vì niềm vui vỡ òa. Thế là tôi biết hiện nay Minh Nguyệt đang ở nhà dưỡng lão với những người cao tuổi sức khỏe ổn định, mỗi người một phòng riêng. Và biết một sự việc quan trọng là báo Khởi Hành gửi cho tôi nhuận bút 40 đô, nhưng không hề đăng bài nào của tôi cả! Họ sợ. Còn nghĩ đến chuyện về nước, bị phiền. Tôi hỏi ngay bài Hái rau khúc của Minh Nguyệt gửi tôi tôi rất thích và cả Dương Bích Hồng cũng thích vì gắn với tuổi thơ 5 6 7 tuổi ba chúng tôi ở làng Tràng Cát thì Minh Nguyệt bảo chồng mất, thu dọn nhà cửa mệt quá, rồi chuyển về nhà dưỡng lão, không làm sao nhớ được bài đó để ở đâu. Tôi bảo bài này đã đăng báo Khởi Hành, hỏi họ xem. Minh Nguyệt bảo ông ấy già quá rồi, cũng không làm báo nữa và có ý rời Cali đi nơi khác. Thế là đành chịu.

Hai tôi trò chuyện qua viđêô, cho nên thấy rất rõ mặt nhau. Minh Nguyệt trẻ hơn tuổi nhiều, vì bạn vẫn vô tư, thẳng thắn nghĩ sao nói vậy, không để bụng bao giờ, yêu người và ít nghĩ đến bản thân.

Sài Gòn đang trưa nắng, tôi cởi trần, nói chuyện vui vẻ khiến bạn khen trông khỏe quá. Còn đòi trò chuyện với vợ tôi Lê Thị Đông. Tôi cho xem vợ tôi bị packinxơn 9 năm đang nằm cạnh chỗ tôi ngồi. Thấy tình trạng hiện nay của vợ tôi, Minh Nguyệt sụt sịt muốn khóc… Tôi chuyển sang gửi cho bạn một số cảnh sinh hoạt của gia đình tôi Tết năm ngoái và năm nay, nhất là giới thiệu hai thằng cháu nội sáu tuổi và 11 tuổi. Trước kia hai tôi hay thư từ, gọi điện cho nhau, nay nhờ viđêô chúng tôi tưởng như đang gặp nhau thật.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/3/2022.

P.T.

Tháng Ba 6, 2022

Chúng tôi đi Quảng Bình – Sống giữa lòng dân

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:03 sáng

 Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 3 năm 2022.

Năm mươi năm trước

CHÚNG TÔI ĐI QUẢNG BÌNH

2.SỐNG GIỮA LÒNG DÂN

Phạm Tôn

Đại tá Luận là con người lịch thiệp. Thấy khách đến là rót trà nóng từ phích  nước và đưa mời bao thuốc lá Điện Biên bao bạc. Tôi xin chén trà và nói là chưa hút thuốc lá bao giờ. Ông cười, nói vài chuyện vui về Hà Nội, nơi vợ con ông đang sống. Từ đó coi như đồng hương. Có vẻ mừng mỗi khi tôi ghé binh trạm 4.

Cùng nhóm tài vụ với tôi có cô Hồng thủ quỹ người Tuyên Quang xinh xắn, đậm người, hơi thấp một chút. Tội nghiệp cô bé khổ vì giữ tiền cho cả đơn vị năm tỉnh. Cô không bao giờ dám di xem phim hay biểu diễn văn nghệ vì sợ mất tiền. Tôi hỏi nếu cô giữ tiền mà có kẻ vào cướp thì sao, cô trả lời ngay là em sẽ đánh đến cùng, cào, cấu, cắn, không để lấy mất tiền. Em có chết thì tiền mới mất.

Mỗi lần đi lĩnh tiền cho đơn vị, tôi phải đến tận nhà, dặn kỹ cô từ tối hôm trước là mặc cho thật ấm, nhưng không được đi giày vải, vì sẽ phải lội qua mấy con ngầm. Tôi cao, chân dài, cô thấp, chân ngắn, cứ đi một đoạn tôi lại phải dừng chờ cô. Đến gần một con ngầm, bỗng nghe tiếng cô la hốt hoảng, tưởng chuyện gì, hóa ra em lỡ di giày vải rồi. Tôi nhìn quanh hai đầu ngầm tìm được hai khúc gỗ, bèn đặt gần bờ nước một khúc, kế đó là khúc còn lại. Tôi bảo em cứ bước lên khúc này rồi bước sang khúc kia, chờ tôi chuyển xong, lại bước tiếp. Cứ thế cũng đi qua con ngầm mà giày vải vẫn khô ráo.

Đến tài vụ binh trạm cũng toàn những cô gái trẻ, Hồng vui lắm Tôi thường nghe các chàng trai đến giao dịch chọc ghẹo các cô bằng tiếng Quảng Bình. Chẳng hạn như nộp tiền xong thì hỏi các o đụ chưa đầy ẩn ý. Các o cũng đâu có vừa, đáp ngay, tụi tui thừa biết các anh rồi và chỉ chờ các anh trúng kế hỏi lại các o biết tụi tui thừa là thừa cái chi thì phang ngay các anh thừa một khúc chớ thừa cái chi. Tiếp đó là những tràng cười trong sáng trẻ trung, trong đó có cả tiếng cười vô tư của em Hồng và tôi.

Một hôm lên binh trạm tôi đi băng trảng cát cho gần, không đi ven biển như mọi khi thong thả. Đang vừa đi vừa nghĩ thì va phải một chú lính mới quần áo đậm màu, còn nếp đang đứng ngẩn tò te giữa con đường mòn nhỏ dẫn đến một hố bom lớn. Chú bảo, em hãi quá anh ạ, anh xem, toàn là con gái cởi trần đang tắm. Có mỗi cái cầu ván nhỏ hẹp thì các o lại lấy làm bàn giặt quần áo. Cầu dài đến hơn 10 mét. Hai bên hai hàng tiên nữ cười đùa vui vẻ, vỗ tay vào lưng nhau, kỳ cọ. Tôi sợ muộn giờ họp nên bảo chú lính cứ đi theo tôi rồi đánh tiếng: các o ơi, cho chúng tôi đi qua nhé. Thì liền có nhiều tiếng đon đả xin mời cứ tự nhiên và cả đám tiên nữ rời xa cầu một gang tay cho chúng tôi đi qua. Qua cầu, tôi còn ngoái lại nói một câu các o thanh niên xung phong dũng cảm quá. Thì các cô cười vang thằng Mỵ tụi tui còn nỏ sợ, sợ chi các anh. Chú lính mới vừa lau mồ hôi trên mặt vừa nói em chỉ sợ ngã thì chết mất. Thật ra tôi cũng sợ như chú thôi. Nhưng chưa sợ bằng lần sau này.

Hôm ấy mưa rét, từ văn phòng binh trạm ấm áp ra, tôi vội trùm ngay cái áo mưa không tay trùm đầu thì bị hai cô gái mặc quân phục áp sát xin đi nhờ. Tôi căng áo to ra, mỗi cô một bên, cứ thế mà đi trong mưa rét. Khi đến bưu điện, tôi hỏi các o có vô không thì hai cô bỗng ôm chặt lấy tôi, mỗi cô hôn chùn chụt vào một bên má, rồi vùng ra, cùng bỏ chạy kèm lời nguýt dài não nuột rõ chán anh quá, con trai chi mà nhát thế.

Thật ra, các cô làm tôi nhớ Rosa, giờ này chắc đang mong tôi về.

Bỗng nhớ lại sáng 16/12/1968 xe rời Cảng Hà Nội. Trưa qua Phủ Lý, các cừa hàng ăn đều hết cơm, nhịn đến tối, ăn cơm và ngủ ở Thanh Hóa trên hè một nhà ăn có mái hiên lợp rạ. Ngày 17, ăn cơm ở Diễn Châu Nghệ An có cả cà phê bơ nhưng không phải là cà phê rang bơ mà là cà phê bán mỗi suất bốn hào một bơ sữa bò. Cơm chiều ăn ở Bến Thủy, cũng sáu hào một suất như ở Diễn Châu. Tối ngủ ở Hà Tĩnh trong một khu nhà lớn nhưng đã bị bom Mỹ đánh sập. Sáng 18 ăn ở Kỳ Anh Hà Tĩnh. Khoảng hai giờ chiều thì đến bờ Bắc sông Gianh. Đoàn thổi cơm ăn ngay trên bờ sông, trong gió lộng. Tối ngủ trong một lớp học, mái ngói mới lợp, vách phía trên thưng rạ, phía dưới đắp đất thành tường mỏng. Cả đoàn 50 người cùng ngủ ở đấy. Suốt ngày 19/12 được nghỉ cùng nhau ra tắm ở một hố bom to, tắm xong, cùng nhau ra biển ngắm trời mây và biển yên bình, thư thái.

Sáng 20, tiếp tục nghỉ, viết thư về nhà cho hai em trai, gái và cháu Ngọc, đứa cháu đầu tiên của mẹ mình và chúng mình. Rồi cùng anh em ra khu trồng phi lao chắn cát kiếm củi, gặp rất nhiều bom chưa nổ. Mấy hôm trước, ở đây bà con cho biết thỉnh thoảng vẫn có bom nổ, cũng nhiều lần thấy máy bay Mỹ ào ào bay qua. Nhân dân cảnh giác, chạy đi ẩn nấp.

Tối 19/12 họp chi đoàn để ổn định tổ chức, tôi được bổ sung vào ban chấp hành làm phó bí thư. Đồng chí Vân là đảng viên làm bí thư. Đang họp thì máy bay Mỹ bay qua thả pháo sáng, sáng rực như đèn pha, nhưng chúng tôi vẫn họp.

Đêm 20, nằm ngủ ở một nhà bờ Nam sông Gianh. Nhà mái rạ. Nói chung kèo cột đều buộc lạt và mây, không có mộng. Sàn nhà là bãi cát, lổn nhổn những mẩu tre, gạch. Có cả một tảng gạch vuông to như cái bàn ở ngay chỗ nằm. 21/12, trời vẫn nắng đẹp. Đêm và sáng sớm còn lạnh lắm. Nhà cửa ở khu cảng này đều đã bị phá hủy. Chúng tôi ở ngay cạnh một nhà thờ chỉ còn mấy bức tường bao quanh và một ngôi chùa chỉ còn trơ cái tam quan.

Hai hôm nay, cứ tối đến là anh chị em lại hò đối đáp nhau thật vui. Hò Phú Thọ hay nhất là chú Vọng còn rất trẻ.

Tối 22/12 tập trung cả đội Hà Nội nghe Đài Tiếng Nói Việt Nam, tiết mục văn nghệ diễn một vở kể chuyện mấy cụ già bắn rơi máy bay. Khoảng 21, giờ số đông đã ngủ thì có tiếng gọi to. Hóa ra đơn vị bạn gọi đi xem phim. Trời tối, rét, mà cũng có một số khá đông anh chị em đội mình tung chăn, vén màn đi xem phim. Độ hơn 12 giờ đêm mới về. Tôi mệt, ngủ nhưng dễ tỉnh lắm.

Mờ sáng thì gió mùa đông Bắc về. Nhà trống, gió lùa, lốc, bốc tung bụi mù. Rồi mưa, rét buốt. Nhưng chỉ một lát sau khi khua được anh chị em dậy, mỗi người mỗi việc thì căn nhà thay đổi hẳn. Bạt giải ở sàn cát được kéo lên chắn gió hai đầu, phía thứ ba che một tấm ni lông lớn màu xanh. Sàn nhà cũng san lại, khối gạch vuông đặt giữa nhà thành cái bàn trà đẹp. Hôm nay gió vẫn lạnh suốt ngày. Cậu Đỗ Trọng Phẩm nhỏ người có cặp mắt đượm buồn bị ốm hôm qua, nay đã ăn cơm được rồi. Mình cùng y tá Tạ C. ra ngoài chơi, vào một nhà nhỏ, ăn một bát bún một đồng. Chỉ có ớt cay là ngon thôi. Sau đó lại ăn bánh bột lọc luộc nhân tôm, bé như cái lưỡi mèo mà một đồng bảy một cái. Đắt, không ngon, nhưng ai đi qua cũng ăn, vì ngoài ra chẳng còn cái gì khác. Cơm của đội thì vẫn như mọi hôm, không độn, ăn với cá kho, hoặc cá khô và mắm tôm. Thèm ăn rau quá.

Chiều 23/12 là bữa ăn cuối cùng tạm bợ trước khi đưa toàn đội vào ở nhà dân. Đã hết gió lớn, ăn cơm ở ngoài nhà được rồi. Tối, ra bến cảng chơi, đèn sáng, gió mát trai gái cùng nhau tâm sự có vẻ đi chơi công viên lắm. Đài Cảng Gianh hoạt động rất đều. Mở đầu bao giờ cũng bằng bài Chiến thắng Quảng Bình (tên chính thức là Bám Biển Quê Hương) của cậu Phạm Tuyên. Bom nổ chậm thỉnh thoảng lại nổ ục một tiếng, một cột khói, cát nâu nâu bốc lên. Từ sáng đến giờ đã bốn năm lần nổ như thế. Sáng nay ăn cơm sớm rồi một số anh em đi ra cửa sông. Sóng biển, bờ cát, hệt như bãi biển rồi. Suốt dọc đường đi vẫn rất nhiều hố bom, không một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn, cột điện cao thế đổ gục và thủng lỗ chỗ… Trời sáng, ấm áp. Đội mình cũng như các đội bạn đều chưa bắt tay vào việc. Sức trai đang lớn mà ngồi không thì chịu sao nổi. Thành ra anh em vật nhau loạn xạ. Cảng Hà Nội vật có kỹ thuật, rất hay. Cánh thanh niên thèm thuốc lá thì bảo nhau đi tìm bố Dần, bố có cả một kho Trường Sơn. Mỗi bao bố mua ở Cảng Hà Nội hôm xuất quân ba hào hai chục điếu, nay bố nhường lại cho các con một hào hai điếu. Còn cánh thèm thuốc lào thì đã có bố Hoành, để lại mỗi gói vẫn hai hào như mua ở mậu dịch Hà Nội. Cánh nữ thì thích hát hò, rất nhiệt tình say sưa hát các bài như Trước ngày hội bắn có nam nữ hát đối rất duyên.

Tối 23, lại thêm một đêm nằm đất nữa vì đã đưa vào nhà dân ở nhưng chưa kịp bố trí rõ ràng. Khá lạnh mình vào một nhà dân, lỡ miệng hỏi xin nước. Một cụ ông ngoại 60 tung chăn dậy, đun nước nóng cho. Anh Võ Văn Đại cao to cán bộ Cục Đường Sông chỉ đạo chiến dịch này của năm tỉnh được cụ nhường cho nằm trên giường, ba anh khác cũng thế. Còn cụ, cụ nằm trên nền đất như anh em tôi đến sau. Nhà này chỉ nhận chứa hai công nhân mà bọn mình tối mới đến lại có những bảy người.

24/12 cán bộ gián tiếp bắt đầu làm việc. Mình và anh Thịnh ở đoàn Hà Bắc đi Đức Trạch gặp ban chỉ huy binh trạm 4. Còn gặp cả anh Như cán bộ Cục Đường Sông cùng đoàn công tác. Anh Khanh phụ trách hành chính quản trị binh trạm hòa nhã, chân tình khẩn trương giải quyết mọi việc thật nhanh. Binh trạm mới thành lập tháng 10 năm 1968. Việc gì cũng gấp, lại nhiều, dồn dập… Người đến gặp anh đều là những người thiếu ngủ, mệt mỏi vì đi xa nên dễ nổi nóng. Họ đến là để yêu cầu, đòi hỏi anh. Còn anh, anh chỉ có một tấm lòng ưu ái, thông cảm tận tụy và cái miệng rất tươi, nhưng thâm lại vì hút thuốc nhiều, đôi mắt nheo quầng thâm, mệt mỏi đầm ấm, dịu dàng. Cũng trong khu ấy, mình gặp một người trẻ, mắt kính trắng dẹp dẹp, da trắng, môi đỏ. Anh ta nhìn mình, lắc đầu quầy quậy và nói ở đây, họ không biết quản lý gì cả, anh ạ. Tôi đang phải hướng dẫn từng ly từng tí một. Anh ta cười rất đểu rồi nói Binh trạm chỉ biết a la xô thôi.

Tối, cùng anh em đi xem văn công xung kích của Bộ Giao thông vận tải. Người xem đông đến nỗi ban tổ chức phải gọi loa kêu gọi mọi người trật tự, có trẻ em đã bị nghẹt thở vì chen lấn. Bài hát Vui mở đường của Đỗ Nhuận mở đầu chương trình, có cả ảo thuật gươm đâm xuyên thùng mà người nằm trong vẫn sống, trứng hóa ra từ tay không, có cả múa ba lê Phá bom nổ chậm mà quả bom lại có chữ A to tướng. Tối sau, anh em lại rủ đi xem đêm diễn cuối cùng. Hóa ra vẫn diễn mấy tiết mục đó, người đi xem đông hơn hôm trước. Tôi bỏ về nhà.

Vào đây, mới thấy hầu như nhà nào cũng có khăn tang nâu. Các chị, các mẹ cứ chít khăn trắng trên đầu suốt ngày để không quên người đã khuất mà thành ra nâu như vậy. Hầu như nhà nào cũng đổ nát do bom, đạn. Nếu chưa, thì chủ nhà thường cũng dỡ đi, làm lại một túp nhà con lọt thỏm giữa bốn bức tường cao cũ, còn vật liệu chủ yếu để làm hầm chữ A. Hầm ở đây quan trọng hơn nhà nhiều. Có người đi công tác cần ở nhờ là dân sẵn sàng nhường nhà cho ở, còn mình thì vào hầm.

Ở đây, số bom chưa nổ còn nhiều lắm. Nhiều đến nỗi người ta không để ý gì đến chúng nữa, cứ làm ăn, đi lại quanh quả bom. Lý do là lẽ vì sợ nó nổ mà không dám sống nữa sao? không mần thì sống răng nổi? Máy bay ngày nào cũng lẻ tẻ một hai chiếc bay qua… Hắn coi bà con ta làm ăn tấp nập bộ hắn tức lắm chớ. Có tối máy bay bay qua rất thấp. Một cuộc họp tắt đèn để phòng không. Sau đó liền bị cấp trên phê bình là hữu khuynh, không biết tính thằng Mỹ, mình càng đàng hoàng, hắn càng sợ, mình e sợ hắn càng lấn tới.

Quảng Bình là thế đấy.

25 tháng 12, Đội Hà Nội xuất quân trận đầu trên sông Gianh. Kết quả khá lắm. Riêng tôi thì bận quá. Vì cán bộ gián tiếp của bốn đội bạn cứ ỳ ra, anh nào cũng chỉ lo việc của đội mình thôi, còn việc chung thì đã có các ông ấy lo. Các ông ấy đây là nói anh Mận, giám đốc cảng Tuyên Quang và tôi, tự nhiên thành kế toán trưởng của đoàn ĐS5. Anh Mận là trưởng đoàn, tất nhiên có anh Võ Văn Đại chỉ đạo. Nhưng rồi mọi việc cũng ổn, tất cả vì tiền tuyến mà.

Tôi và Cường ở nhà ông Huân là ngư dân, xóm Làng, hợp tác xã Quyết Thắng xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch. Ông có năm con. Hai con lớn là o Ái và em trai là Ân. Giống những nhà trong xóm hồi đó là trống tuềnh trống toàng, không có cửa, chỉ có một cái bàn và bốn cái ghế đặt trước bàn thờ. Một cái giường to ở góc cho cả bảy người nhà ngủ.Trước nhà là căn hầm chữ A thật to. Cả nhà thường ngủ trong hầm, mọi đồ vật quí giá đều cất trong hầm. Ba cánh cửa kê sát nhau trên miệng hầm ở nền nhà là chỗ nằm cho anh em tôi. Vì là cánh cửa ghép, cho nên gồ ghề chỗ cao chỗ thấp. Nhưng tôi vẫn nằm ngủ ngon vì mệt và nhờ cái cốt áo bông lưng lót da báo. Còn Cường thì hễ đặt lưng xuống là ngủ liền. Hai anh em đắp chung một cái chăn dạ mỏng của Cường. Giữa hai anh em tạo thành một chỗ trũng. Đêm hôm ấy, ngủ thật ngon, có vẻ như ấm hơn mọi khi. Tỉnh dậy, tôi thấy con chó to của chủ nhà nằm giữa hai anh em. Thảo nào mà thấy ấm. Nhà có ba con chó. Chủ nhà đã làm cho chúng một cái ổ rơm ở góc nhà, nhưng chúng vẫn thích hơi người. Liếm tay, liếm chân, có khi liếm cả mặt. Vô tình tôi kể chuyện đêm qua cho bác Huân nghe. Người đàn ông đen đúa, thấp và ít nói ấy lắng nghe, mắt nhấp nháy, không nói gì. Không ngờ trưa hôm đó ông và con trai vác ở đâu về một bộ khung giường, lắp ngay trên miệng hầm, kê ba cánh cửa lên thành cái giường trải chiếu đàng hoàng. Xong việc ông mới đi làm.

Trưa, đưa Phẩm đi mua thuốc, rồi về nhà giúp Ân và bạn là Soạn học toán chuẩn bị thi học kỳ. Ba chú cháu trò chuyện rất vui toàn bằng tiếng Quảng Bình, khiến một bạn cùng đội đến chơi, không hiểu gì cả. Tôi mẹ Hà Nội, nhưng cha là người Huế cho nên học tiếng miền Trung cũng nhanh hơn anh em khác. Trưa, ngủ dậy, được bà chủ nhà mời ăn một bát cháo nếp sánh thơm, ăn với muối. Ở đây, gạo ăn ngày nào giã ngày ấy, bằng cối gỗ, có khi giã hai chày, có khi đến ba chày, ba người cùng giã, chưa quen dễ đụng chày người giã trước. Cả làng chỉ có một cái cối máy, thật ra là cối đạp chân ở Bắc Bộ.

Tối lại cùng bác Hoành bí thư chi bộ ra cảng Gianh đón hai tổ về muộn. Làm việc từ 6 giờ đến 19 giờ mới nghỉ. Bốc dỡ hàng ở các tàu giữa sông, đi ra đi vào đều bằng xe xích lội nước. Hôm nay làm việc tương đối khá. Bom vẫn nổ mấy lần.

Một hôm lên binh trạm về, tôi thấy một bà bán cua bể bên đường, có hai con thật to, bèn mua về để nấu cháo cả nhà ăn. Không ngờ sáng sau thức dậy đã thấy bà chủ nhà đon đả báo cháo đã xong, các chú rửa mặt ăn cho nóng còn đi mần. Hai đứa nhỏ ngồi đấy, chúng tôi mời thế nào cũng một mực từ chối tụi con được cho ăn rồi.

Người lớn thì người nào việc nấy, chỉ có bà chủ nhà múc cháo cho anh em tôi ăn. Những hôm lạnh, Cường đi làm rồi, tôi kê cái bàn con ra hiên nhà cho sáng để làm sổ sách, thì bà mang ra một cái vung sắt lật ngược, trên đầy than hồng lót trấu khô ở dưới, lặng lẽ đặt dưới chỗ tôi kê chân. Cả nhà cứ lặng lẽ như thế trừ Phan Văn Ân là hay trò chuyện với chúng tôi. Mờ sáng đã nghe tiếng cậu bạn đến rủ đi dũi tôm, việc mà hai em gọi là đi lái tàu ngầm K8, tên một bộ phim Liên Xô mới chiếu ở xã. Còn cô chị Ái thì ở nơi khai hoang, ít khi thấy mặt. Hai em nhỏ đi học và chăn bò, cũng ít ở nhà. Một buổi trưa, Ân ghé tôi lém lỉnh hỏi sao hai chú không đi xem phim, tụi nó kéo nhau đi xem phim đông lắm. Tôi hỏi xem phim ban ngày thì xem ở đâu, Ân cười xem phim Rừng O Thắm bên kia sông. Tôi chợt hiểu, giờ này là giờ chị em đi làm về, cần tắm sông, mà ở đội Tuyên Quang, có chị Thắm cao, to, trắng trẻo như đầm. Tôi bàn ngay với chi đoàn làm nhà tắm dã chiến, ba cọc tre và ba tấm ni lông. Khi đi tắm thì mang đi dựng ở mé sông để chị em có chỗ thay quần áo.

Ân và bạn trúng tủ trong kỳ thi cuối học kỳ, vui quá. Mình thì nghỉ là lo khâu vá lại quần áo, vì nước mặn làm quần áo nát nhanh quá. Trưa ngủ dậy bà chủ lại ép ăn một sét cơm thật khó từ chối bữa nay có cá mới dám mời chú đó, ăn một miếng đi.

Cả ngày 28/12, bận bù đầu, đi đi lại lại giữa Thanh Trạch và Quảng Trạch xoạc cả cẳng. Mệt, nhưng vui vì công việc xong xuôi. Tối về, hát suốt hàng chục bài cho cả gia đình chủ nhà nghe, họ chăm chú nghe lắm, trẻ con còn vỗ tay, ông bà thì lau nước mắt. Còn mình thì khi hát đến bài Có chúng tôi trên mặt đường thấy nhớ Rosa lạ. Tự nhiên nhận Rosa là người yêu của mình. Khi nào kể chuyện về người yêu cũng kể về Rosa. Rứa đó, sống ở Quảng Bình kỳ thật.

Ở Quảng Bình hồi này không có chủ nhật và ngày nghỉ, ngày nào cũng làm việc, ai cũng làm việc. Chủ nhật, 29/12 tôi cùng chị Hồng ở Cảng Tuyên Quang lên binh trạm 4. Ở đâu cũng hay gặp những con người như thế này, gầy gầy, da xam xám mắt quầng thâm, khi đi thì chỉ nhìn xuống đất, mắt đăm đăm suy nghĩ. Hễ gặp người quen thì đôi mắt thâm quầng lại vội tươi lên, nheo lại miệng nở nụ cười duyên dáng, rồi anh vội vàng đi. Những con người mệt mỏi ấy bao giờ cũng là những con người hòa nhã, nhẫn nại và cố gắng làm vừa lòng người đến gặp mình. Ở đây, không phải chỉ có anh Khánh hành chính là dễ thương, mà anh Tốn cũng vậy. Anh Phê tài vụ công việc ngập đầu mà lúc nào cũng niềm nở, khiêm nhường. Trời nắng ấm rồi mà vẫn áo bông cổ nhung, lại còn mặc áo vệ sinh trong sơ mi, khi nào mũi cũng sụt sịt. Rõ là anh ấy ốm rồi, nhưng công việc vẫn chạy. Toàn là việc liên quan đến tiền.

Bom vừa nổ hai quả. Cả ngày bom nổ hơn mười quả.

Còn có hai ngày nữa là hết năm 1968. Mình đang ở Quảng Bình. Tự mình xung phong đi và làm đủ mọi việc để được đi Quảng Bình. Mình nghĩ đây là dịp tốt để học tập, để hiểu mình và hiểu người. Ở một nơi như Quảng Bình dễ nhìn rõ và đánh giá đúng những con người và những sự kiện. Mình mong được tham dự vào những ngày rung chuyển đất nước đó. Vì thế, ngày 16/12 ra đi không phải là để rồi ba tháng sau sẽ về mà có thể là ngày thống nhất đất nước mới về. Mình ra đi là bước vào một giai đoạn mới của cuộc đời, cũng có thể là bước vào một cuộc đời mới…. Mình thành thật nghĩ như thế, không hiểu đúng đến đâu…

Hôm nay, đã mấy lần máy bay Mỹ đến và thả bom khá gần nơi mình ở, không rõ ở đâu. Bà chủ nhà đã cấm con cái đi xa… Đi thăm mấy anh em bị ốm, thấy có vấn đề, cần họp ban chấp hành chi đoàn và các cán bộ phân đoàn rồi họp chi đoàn và toàn thể đoàn viên, thanh niên nhằm tăng cường đoàn kết, chống bàn lùi…

Ngày 30/12, đơn vị mình nay chính thức có tên là B1.ĐS5.BT4. Họp toàn thể, khá căng thẳng, nhưng nói chung là tốt. Tối, Bùi Lê Nghiên đến nhà tâm sự. Nghiên là phân đoàn trưởng, rất tha thiết cống hiến trong đợt đi chiến dịch này và cũng là một nhà thơ của báo Tiến Lên, thích làm thơ Đường luật.

Tối 31/12/1968, dự mít tinh toàn Cảng Gianh. Mệt, về sớm. Trăng sáng đầy bến cảng, đẹp lạ lùng.

Sáng sớm 1/1/1969, bác Hoành sang nhà, cho chép lại thơ chúc Tết của Bác Hồ

Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào / Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn!

Quanh quẩn mà đã sang năm 1969. Đêm giao thừa Tây, pháo hiệu các tàu Cu-ba,  Ba Lan, Liên Xô bắn lên trời đêm xanh, đỏ, vàng như pháo hoa ngày Tết Ta ở Hồ Gươm Hà Nội. Để thêm vui, các tàu còn bật đèn xanh đỏ vàng và mở nhạc nhảy nữa. Tết của họ mà, lại là Tết xa xứ…

Tôi bàn với chị Vân bí thư chi đoàn là phải lo Tết Ta đi là vừa. Cốt sao làm cho đừng ai nghĩ là sẽ về nhà ăn Tết là được rồi. Chúng tôi hướng đoàn viên thanh niên vào việc chuẩn bị Tết. Mỗi phân đoàn lo một việc. Phân đoàn của Bùi Lê Nghiên lo việc làm trò chơi. Phân đoàn đông các bạn gái thì lo việc hát hò. Phân đoàn cô Trịnh Thị Thành lo việc ăn uống và quà thưởng trò chơi. Tôi thường xuyên đi kiểm tra các tổ tiến hành thế nào và trực tiếp dạy hát cho các cô. Trò chơi thì có kéo co, cướp cờ… Và quan trọng nhất là trò đánh giập đầu giặc Mỹ là dùng một gậy tre đập vào một củ chuối to vẽ hình chú Sam treo trên dây. Chơi là có thưởng.

Gần Tết có một số thanh niên kêu ca là làm thì mệt, trời lại rét, mà ăn uống thì kém quá. Toàn cá khô và canh toàn quốc, chỉ có nước. Chi đoàn bèn tổ chức Hội thảo cải tiến bữa ăn. Các thanh niên hay kêu ca nhất được mời lên phát biểu, tha hồ tố khổ. Chê chán thì được mời nói xem nên làm thế nào cho bữa ăn khá hơn, họ lại càng hùng hồn hơn, nói lẽ ra phải làm thế này, thế kia, mà lại cứ quanh đi quẩn lại vẫn cá khô, tép rang, ai mà chịu nổi. Thảo luận có biểu quyết xem ai có phương án cải tiến hay nhất. Mọi người vỗ tay và cười. Lúc ấy, tôi đại diện ban tổ chức hội thảo mời những người được bình chọn đứng lên nhận tràng pháo tay của tập thể. Và tuyên bố luôn là từ ngày mai, các vị được bầu sẽ lo bữa ăn cho chúng ta. Tất cả vỗ tay càng to hơn kèm theo tiếng cười điên đảo. Trước sự ngỡ ngàng của những diễn giả hùng biện. Có một ngày để nhận bàn giao và chuẩn bị. Nếu cần, có thể yêu cầu sự giúp đỡ của chị Luyện Thị Lư và chị Trịnh Thị Thành. Sau hai ngày thực hiện “kế hoạch cải tiến bữa ăn”, bốn người được bầu và toàn thể đội Cảng Hà Nội lại đề nghị các chị cấp dưỡng vui lòng làm lại như trước cho. Những tiếng phàn nàn cũng bặt hẳn. Nhưng có một thay đổi nhỏ, liên quan đến tôi. Một hôm tôi thấy Đỗ Trọng Phẩm ăn cơm rất nhanh xong lại đi rửa bát, xới cơm rồi lại ngồi tán chuyện. Tôi vừa ăn xong thì chú trút ngay bát cơm vừa xới vào bát tôi và nói là em thấy anh ăn chậm, bữa nào cũng chỉ được một bát là hết cơm. Nghe được chuyện này, ban chỉ huy đội quyết định buộc tôi từ nay về ăn với các chị cấp dưỡng do chị Lư chịu trách nhiệm quản lý. Mọi người đều cười. Và một thay đổi lớn nữa. Ngay hôm đầu lại ăn cá khô nướng, tập thể mừng rỡ: mỗi người được hẳn một miếng cá nướng bằng nửa bàn tay không như trước đây, chỉ bằng hai ngón tay. Khi ăn mới biết. Toàn là xương, mang, vây. Bỏ đi hết, cũng còn vừa bằng hai ngón tay. Chị Lư và chị Thành dạy cho các em một bài học: Không gỡ xương nữa, để các em tự nhằn!!!

Đi binh trạm về, tôi lại mua ba con cua bể, để trưa ba chị em ăn cháo. Bọn thanh niên thấy cua, hỏi của ai, biết rồi thì hẹn trưa sẽ sang xin một bát cháo. Chị Lư, cô Thành quắc mắt, nhưng tay vẫn múc thêm một ca nước đổ vào nồi.

Trời trở lạnh. Nhiều hôm mưa suốt ngày, anh em nghỉ làm ở nhà túm năm tụm ba nói chuyện. Thuốc Tam Đảo đã hết từ lâu, thuốc Trường Sơn giá cao của ông Dần tổ 2 cũng hết. Thế là mưa vẫn rủ nhau vào khu sơ tán trong núi mua thuốc lá rời của bà con. Tôi đi theo anh em mua ớt khô, chẳng ngon lành gì nhưng có ớt cũng dễ nuốt cơm hơn. Ớt khô bán một đồng một lon. Mùa mưa nên thuốc lá ẩm mốc hút vào là ho. Lại còn do hút thuốc lào say mà có chú ngã vào bếp lửa, cháy cả tóc, xém cả má. Chú Cường vừa hút thuốc lào vừa làm thơ hay đáo để Thuốc lào ta đánh một bài / Ống bầu, cọng đủ khói mù tỏa ra / Dù thân còn ở nơi xa / Hồn ta vẫn cứ vấn vương quê nhà.

Tôi vận động bỏ thuốc, anh em đều bảo anh bỏ ớt thì chúng em bỏ thuốc. Tôi chịu thua. Tất cả cùng cười. Thương nhau, hiểu nhau quá mà.

Càng gần Tết, càng thấy tối nào cũng có tiếng con gái khóc. Tôi bàn với các chàng trai đi thăm đồng hương, số còn lại thì để tôi và Cường thăm hỏi. Chúng tôi đến nhà cô Lê Thị Chúc cấp dưỡng, thấy em đang ngồi ở bếp thút thít khóc. Hỏi thì em nói là em khóc vì ngọn lửa bếp hôm nay sao giống với ngọn lửa bếp nhà em quá, em nhớ mẹ. Tôi đưa cho em mớ nghệ mua hôm vào núi thì em nức nở kể hôm đó mưa em nấu cơm, củi ướt quá, em hắt ít xăng vào cho bén lửa như mọi khi thì bỗng hoa cả mắt, tóc cháy khét, lông mi cũng cháy, tối tăm mặt mũi. Chị em cùng nhà gọi được anh y tá đến thì anh ấy mắng em như tát nước, làm em tủi thân quá. Tôi kể em nghe chuyện sáng nay đi binh trạm về, thấy mấy cô thanh niên xung phong má đỏ hồng cứ hai cô gánh một đòn tre treo lủng lẳng những tảng thịt đỏ au. Thế mà cứ vừa đi vừa khóc. Cô nào cũng xụt xịt, mắt đỏ hoe. Tôi mời các cô cùng ngồi nghỉ trên bờ đá. Các cô lần đầu xa nhà, lại đúng dịp Tết, càng nhớ nhà hơn. Tôi kể các cô nghe, năm nay, chúng tôi cũng lần đầu xa Hà Nội, cũng lần đầu xa nhà. Tết này mỗi chúng tôi chỉ được có một lạng thịt. Sáng nay, tôi lên binh trạm nhờ đại tá Luận viết cho một lá thư tay gửi cô bạn cùng học cấp hai nay làm cửa hàng trưởng cửa hàng thực phẩm đề nghị cho mua mười ký… muối cho 230 con người… ăn Tết. Cứ nói vớ vẩn linh tinh như thế cho đến khi các cô hết khóc, rồi bật cười, mới dám chia tay.

Mỗi lần lên binh trạm họp thì vui nhất là các đơn vị gặp nhau, cùng uống chén trà nóng, mừng là còn thấy mặt nhau, còn sống và đi lại được. Rồi thì ai có thơ thì đọc thơ, mà đều là thơ của mình, tự biên, tự diễn cho nên nghe rất xúc động. Tôi là người Hà Nội, bao giờ cũng được mời lên hát trước tiên, mà hát là phải hát bài về Hà Nội. May cho tôi, bài hát về Hà Nội thì đã nhiều lại rất hay, cho nên tôi được các bạn cùng họp yêu mến lây. Những ngày này cả nước đều hướng về Hà Nội. Đã thành lệ rồi, nên hôm nào lên họp, tôi cũng chuẩn bị ít nhất một hai bài. Nhưng nhớ mãi một lần, mới đến cửa phòng đã thấy có người kéo tay lại gần rồi nói nhỏ, giọng xúc động lát nữa tui giới thiệu anh hát xong thì anh giới thiệu tôi, một người con của Quảng Bình xin trình bày một tiết mục đặc biệt về Quảng Bình. Khi lên diễn đàn, anh say sưa nói, có khi nhắm mắt lại, nắm chặt tay, vung lên cao thể hiện tiết mục của mình… Nào Quảng Bình là … Quảng Bình còn là… Vẫn là… Cứ như thế, anh ta tuôn ra cả một bài xã luận báo Nhân Dân ca ngợi chiến công của Quảng Bình nơi đầu sóng ngọn gió, vững vàng chiến đấu và chiến thắng. Cử tọa ngơ ngác, rồi vỗ tay hồi lâu, có vẻ mừng vì cuối cùng một bài văn xuôi trường giang đại hải tưởng không bao giờ hết, cuối cùng cũng có lúc kết thúc. Tiếp đó đại tá Luận mời thuốc lá thơm và bắt đầu cuộc họp. Ông nhấn mạnh đây là lúc giao thời Giôn xơn – Ních xơn, ta phải tranh thủ thời cơ chuyển hàng vào chiến trường càng nhiều càng tốt… Nghe nói thế, tôi hiểu vì sao ở Hà Nội, tôi mua một bao diêm Thống Nhất nhãn xanh có hình chim hòa bình trắng chỉ có một hào mà vào đây, khó lắm mới mua được một bao với giá một đồng rưỡi. Cái gì đã đem được đến Quảng Bình thì chỉ ráng một chút nữa là đến chiến trường lớn rồi.

Tối nào về nhà, cũng thấy bác Huân làm việc gì đó ở sân, dưới ánh trăng. Trong nhà tối om. Nhưng hễ thấy tôi là bác thắp ngay đèn, sau đó, thường là đi hâm nước uống miếng nác nóng chú hè rồi lại tiếp tục làm việc. Con chó to, bác bảo không muốn nuôi, chắc vì khó kiếm cái ăn cho nó. Mấy lần bác thăm dò, hỏi có thích ăn thịt chó không. Tôi đoán là bác muốn bán, nên hội ý với tổ sản xuất, đồng ý mua, thì mới hỏi giá. Bác Huân lắc đầu cười Tui không bán mô. Nếu bán, bán cho người ta lâu rồi. Chỉ có hai chú với gia đình tôi ăn thôi. Biết lòng dạ bác, tôi đành xin hoãn binh nói là khi nào chia tay sẽ giết chó liên hoan.

Lúc nào cũng bận việc, ít khi ở nhà, lại ít nói, nhưng bác Huân rất tế nhị, hóm hỉnh. Có hôm bác ăn trưa, thường là ăn cháo, chúng tôi lại có bạn đến chơi, thành ra có đến bốn người mà bác vẫn mời, múc ra năm tô cháo nếp nấu khoai khô. Chúng tôi cố từ chối, thì bác cười Các chú cứ ăng đi, bầy tui khổng rải chất độc hóa học như tụi Mỹ mô.

Gia đình hai vợ chồng có năm con. Con gái đầu lòng ở nơi khai hoang. Con trai học lớp sáu. Ba cháu bé, tất cả đều đi học. Hằng ngày, tôi thấy bé Mai bảy tuổi giã than, anh cháu là Luyến thì lấy đất sét vê thành những con giun dài. Tưởng là nghịch chơi thôi hóa ra than bột để trét bảng với lá khoai lang cho đen, còn con giun là phấn đấy. Cả nhà đều mỗi người mỗi việc mà tôi không thấy họp gia đình phân công việc bao giờ cả. Tất cả đều tự giác. Cháu Ân đang tuổi ăn tuổi ngủ mà sáng nào cũng  dậy từ mờ sáng đi dũi tôm tép, dù mưa cũng đi, rồi mang về khi nửa ký, khi một ký, trước khi đi học. Mình thật hạnh phúc được sống với những người Quảng Bình như thế. Và thật vinh dự thấy họ coi mình như người nhà, yêu mến thật lòng. Một đêm rét tôi đang ngủ say thì bà mẹ gọi dậy báo tin vui con trai vừa được một mẻ lớn cả cua lẫn tôm.

Đi khắp làng xóm ở đây tôi đều gặp những bông hoa cỏ, nhỏ xíu, màu xanh da trời phơn phớt. Không hiểu sao, thấy hoa nở rộ lòng mình vui lạ… Mình cũng giống như cỏ dại, ở đâu cũng sống được, chẳng những sống mà còn cố nở hoa, dù chỉ là những bông hoa nhỏ xíu, phơn phớt xanh màu da trời.

Chi đoàn tôi tổ chức thảo luận đề tài Chúng ta đã học được gì ở người dân Quảng Bình. Anh chị em kể ra được rất nhiều chuyện cảm động. Đồng bào tốt quá mà cũng khổ quá. Ở đây, cái vỏ hồng củ sắn, cũng làm món ăn, xào, nấu canh cá, có nhiều thì xắt nhỏ phơi khô ăn dần. Lõi cây đu đủ thì kho cá. Tấm da trâu phơi khô căng trên khung tre, tưởng để che nắng, hóa ra khi có cỗ mới cắt ra ninh nhừ làm món nộm. Một hôm, chủ nhà biết tôi làm việc nhưng nhịn đói từ sáng, đã ép ăn một bát cơm. Bà nói Mọi khi không mời chú. Hôm nay có món thịt heo xào mới mời. Tôi ăn thật ra không vì thịt heo mà vì món vỏ sắn xào, hơi giống vị hoa chuối. Còn cơm thì nấu gạo với sắn mịn, tức là sắn thái lát phơi khô rồi giã, cỡ như hạt gạo, hạt ngô. Không bao giờ ăn gạo không.

Trưa 10/1/1969, khoảng 13h35 máy bay Mỹ đến vùng Cảng Gianh, gầm rú, bay lượn lộn đi lộn lại nhiều lần hơn mọi ngày và có lần bay rất thấp để đe dọa. Nhưng nông dân Thanh Trạch vẫn nhổ mạ, cấy lúa, các em vẫn thả trâu, bò, đi học, vui hát tưng bừng. Còn ở Cảng, hàng trăm người vẫn mải mê bốc dỡ, giải phóng mau phương tiện vận tải. Tàu, xà lan vẫn ra vào tấp nập. Nếu có ai, nhân lúc nghỉ mệt mà ngước lên nhìn trò khỉ của lũ Mỹ thì cũng chỉ cười mà nghĩ là cho mày tức nổ ruột ra, chúng ông cứ làm tới.

Và có lẽ một thằng giặc lái Mỹ nó cũng tức nổ ruột ra thật mà đâm bổ nhào xuống, ném bom một đám học sinh, bộ đội đang khẩn trương lao động. Sáu quả bom đã nổ, khói đen bốc lên những vệt bẩn nổi trên bầu trời trong xanh. Bom rơi trúng một tàu há mồm đang đậu ở bến. Ba người hy sinh, chín người bị thương, có cả vài em học sinh. Tan khói bom, chúng tôi lại tiếp tục làm việc..

Hôm 11/1, lần đầu đội Hà Nội bốc hoàn toàn xong một tàu trong có hai giờ 15 phút, lập chiến công mới. Nhất là khi chiến công ấy lại lập trong ngày như thế này. Khoảng 11, 12 giờ, máy bay Mỹ bay lồng lộn trên trời gầm rú đầy đe dọa. Anh em mình tìm nơi ẩn nấp. Nhưng, ngớt tiếng máy bay là lại ra làm ngay. Tổ I đạt năng suất cao chưa từng thấy. Khoảng 14 giờ, một số yếu, mệt, được cho về nghỉ. Chỉ còn 10 anh em, quần một mạch suốt đến tối, khi mắt hoa đầu váng mới thôi. Chị Thành gánh cơm ra cho anh em, đúng lúc anh em đang xuất nốt hai xe cuối, bèn buông gánh cơm, lao vào quại giúp hai tay. Mình cùng làm với Thành, muốn anh em làm cho xong kẻo cơm canh nguội mất. Gần 21 giờ, minh đi làm việc bên lương thực về, chắc giờ này các anh bên ấy vẫn còn làm việc. Mặc dù hôm nay là thứ bảy. Mình thấy vui vì đội nhà lập thành tích mới, vui vì công việc giao dịch thuận lợi, còn vì được nghe một o Thanh Hóa ngâm bài thơ Quê Hương của Giang Nam, giọng trong vắt, đầy xúc động… Trong một căn lều bạt trên cát trắng bờ sông Gianh. O Thanh Hóa về rồi, lại nghe có tiếng hò cao vút, tinh nghịch, nối tiếp nhau, chen lẫn nhau, nổi lên nhộn nhịp trong đêm tối. Từng đoàn thanh niên nam nữ nối nhau đi về sau một ngày lao động cật lực. Ôi giọng hò dân tộc sao mà tha thiết…

16/1, như đã báo trước tại hội nghị thanh niên toàn B1, chiều nay ra mắt tờ báo liếp của chi đoàn, vẫn mang tên Tiến lên! thân quen từ Hà Nội. Báo viết trên những băng giấy màu vàng nâu, khổ 15×40 cm mình lấy ở nhà Đỗ Xuân Bảo lái cẩu đem đi, dán trên một khung tre phất tạm giấy báo. Báo được hoan nghênh, nhiều người đọc, ý kiến càng nhiều hơn. Chủ yếu là khen.

Tối qua, có người báo đi lấy chăn dạ do mình gửi mua, tình cờ biết một tin vui: Có thể sẽ đi xa hơn nữa và đi lâu hơn nữa. Mình sẵn sàng và cả em Cường của mình cũng sẵn sàng. Không hiểu có phải tại anh đi em cũng muốn đi không. Dù sao cũng tốt hơn là chuồn. Còn toàn đội, mình thấy được một phần ba là giỏi. Họ còn mong về Hà Nội, và Thường Tín ăn Tết đấy. Thời gian mới có đúng một tháng thôi mà đã làm tiêu tan khá nhiều khí phách anh hùng của ngày ra đi. Không ít người đã biết đi là dại rồi.

Trời lại rét. Hai anh em đắp chung hai cái chăn, thành ra được một đêm ngủ ngon lành quá.

Bận, nhưng lúc nào nghỉ mệt, tôi lại cặm cụi khâu vá hai cái ba lô của hai anh em, phòng khi đi xa hơn nữa, đi lâu hơn nữa. Cháu Mai bảy tuổi bĩu môi chê chú là đàn ông mà khâu vá hoài.

Tối 18/1, đi họp một lát rồi về chép bài hát chuẩn bị Tết. Cả nhà đi ngủ mình cũng đành đi ngủ, không nỡ lợi dụng dầu của chủ nhà. Lại một tối thứ bảy ở Quảng Bình.

Sáng 19/1, đang lúc tạm nghỉ sau một lúc làm việc mệt mỏi, lại đói nữa, thì bác gái chủ nhà và hai em nhỏ mang ra cho một con cua bể luộc to còn nóng hổi, một chén muối và mấy trái ớt. Trời lại lạnh. Ngon quá là ngon.

Những lúc rỗi rãi đều đọc Tục ngữ Ca dao. Có ở đây mới thấm ý nghĩa sâu xa của tục ngữ ca dao. Hầu như lúc nào cũng thấy văng vẳng bên tai câu hò, điệu hát dân ca. Có gió lung, mới biết tùng bá cứng / Có ngọn lửa lừng mói rõ thức vàng cao. / Gừng già, gừng lụi, gừng cay / Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhân. / Nước lã mà vã nên hồ / Tay không mà nổi cơ đồ mới hay.

Chiều 20/1, xong việc mình cùng em Cường ra sông tắm rồi vào khu tiểu thương trong núi. Xóm này toàn tiểu thương ở Cảng Gianh sơ tán vào đây. Đám Do Thái cái này bán đủ mọi thứ, từ nón, mũ lá đến thuốc lá, thuốc lào, ớt khô, bồ kết… Lại có cả bánh trứng, nhỉnh hơn cái khuy áo mưa một chút mà mỗi cái hai hào. Mấy bà già thấy anh em mình đem một cái cặp lồng thì bám sát, hỏi mua đường, ra giá 12 đồng một ký. Hai anh em bật cười rồi mua một gói thuốc lá và một lon ớt khô. Quan trọng nhất là mua mấy cân sắn về luộc ăn sáng. Tối, mấy anh em lại chơi, nói chuyện rất vui, có anh thành thật nói là nhớ Hà Nội lắm rồi, sợ phải đi xa nữa.

Mấy hôm nay, máy bay Mỹ lại gầm rú, đe dọa. Anh em Hà Nội vẫn làm việc, cho đến khi công an bắt vào hầm mới vào.

Sáng 21/1, mình đi Bắc Trạch, được đọc tờ báo Nhân Dân ngày 12/1/1969. Trang 4 có mấy dòng tố cáo Mỹ ném bom Thanh Trạch ngày 10/1 là xã mình đang ở. Trong tháng 12/1968, Mỹ đã thả bom Quảng Bình trên 30 lần. Báo còn có tin thú vị về khảo cổ Việt Nam, về Hội nghị khảo cổ các di chỉ thời đại Hùng Vương và lời Bác Hồ năm nào Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

Tối 23/1, họp cảm tình Đoàn tại sân nhà mình ở, dưới ánh trăng. Vậy mà trang nghiêm, ấm áp. Họp xong, dưới ánh đèn dầu gần cạn, Cường còn cặm cụi làm thơ cho báo Tết, Thịnh chống gậy đi về, vừa đi vừa nhẩm hát bài hát mới học. Đội Hà Nội lập thành tích mới. Tàu thóc chở 70 tấn thứ nhất bốc xếp xong mất ba tiếng, tàu thứ hai chỉ còn một tiếng rưỡi. Anh chị em quại nhanh, chạy nhanh, xếp nhanh, hăng hái, sôi nổi, vui vẻ.

Ngày 29/1 là ngày được ăn một bữa thịt lợn đầu tiên từ khi vào Quảng Bình. Cục Đường Sông nhờ Cảng Hà Bắc chuyển cho đội Cảng Hà Nội một con lợn sống, xu hào, bắp cải, xà phòng, diêm, đường… Dân ở đây thấy xu hào,  bắp cải lần đầu trong đời rủ nhau đến xem. Máy bay Mỹ cũng ít bay qua và không bắn phá gì. Các đội chuẩn bị liên hoan Tết. Văn nghệ được đặc biệt chú ý, chị em tổ 3 trước khi đi làm và đi ngủ đều véo von hát bài Những cô gái Cảng Hà Nội đảm đang do mình soạn lời cho điệu quan họ năm xưa, mở đầu bằng đoạn Ai có qua sông Hồng, trông thấy bao băng chuyền tăm tắp chuyền than, lại trông poóc tích mang nặng tấn hàng, mới thấy công nhân Cảng, gái kém gì trai đâu, đã sẵn sàng thay trai. Nay lại thêm một đoạn Em tới sông Gianh này, nhớ nhung sông Hồng, thêm mến dòng Hương, Cửu Long bát ngát, Nam Bộ mến yêu, đất quê anh hùng. Quyết phấn đấu giành năng suất cao. Em quyết chí lập chiến công.

Đã sang tháng 2, trời vẫn rét, mưa, anh chị em nghỉ việc còn mình thì bận quá. Trận mưa đêm vẫn kéo dài, đến bây giờ vẫn tầm tã. Trời mù, nặng trĩu nước, đến cả hình dáng ngọn núi trước nhà, cách không xa, cũng không thấy. Tối lại đi thăm em Chúc, cô cấp dưỡng nhỏ tuổi bị bỏng, mới ra viện. Chúc nằng nặc xin ở lại với đội, không chịu về Hà Nội theo yêu cầu của nơi sơ cứu. Số đông đều cho là dại. Sắp Tết, được về nhà ăn Tết với gia đình có phải sướng không. Em vừa nói, tay vừa giã nghệ để bôi lên mặt cho khỏi sẹo. Mấy cô ở nhà khác cũng sang chơi cùng mấy cô nhà này. Các cô nói mãi là không ngờ mà tối hôm nay vui quá, bây giờ chúng em mới hiểu anh, trước thì quí nhưng hơi sợ. Riêng mình còn vui vì không rõ vì sao, tối nay các cô lại nhắc đến Rosa, ai cũng khen tốt, can đảm lại có cô khen xinh nữa.

Ngày 1/2, nhà chủ cúng rẫy mả. Bọn mình rủ nhau đi sơ tán để tránh… ăn cỗ. Chẳng dè lúc về gia đình đã để sẵn cho một mâm riêng cho mấy anh em. Không ăn thì chủ nhà lại bảo Có lẽ các chú theo đạo, ăn sợ Chúa phạt.

Trời vẫn mưa, rét. Họp chi đoàn về, mình và Cường vá lại… nhà cho khỏi gió lùa. Lấy tấm cói lót hàng làm cửa, còn màn gió thì dùng bao tải. Đêm nay sẽ ấm áp hơn đây.

Nghe nói ngoài cảng đã dỡ loa phóng thanh, trạm lương thực cũng di chuyển, mình ra tận nơi xem. Nhà bạt các đơn vị dỡ đi đã nhiều, loa phóng thanh cũng dỡ hết. Trạm lương thực cũng rút bớt nhân viên. Anh trạm trưởng Cua cho biết: Cảng đang trở lại hoạt động bình thường như cũ. Chiến dịch VT5 đến ngày 16/2 là kết thúc. Anh cười Chỉ còn lại ta với ta thôi hè.

Trời vẫn rét, hàng không vào công nhân không có việc làm đã mấy hôm rồi, Tết lại sắp đến nơi, còn có chục ngày nữa thôi. Mọi cái bếp lửa, dù nhỏ cũng làm mọi người nhớ đến bếp lửa nhà mình, ai cũng nhớ nhà, nhất là lại không có việc làm, ngồi không, càng nhớ nhà.

Cả ngày 7/2, dự Hội nghị tổng kết chiến dịch VT5 của Binh trạm 4. Mưa bùn lầy. Lạnh. Mà ở đây tưng bừng, phấn khởi, tràn đầy tinh thần chiến đấu, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, Tổ quốc, nhất là nhân dân, chiến sĩ Miền Nam. Số đông đại biểu đã lớn tuổi, vậy mà hò hát, ngâm thơ, đọc thơ sôi nổi hào hứng. Mình hát Tiếng nói Hà Nội và nhất là Chiếc gậy Trường Sơn của cậu Tuyên, được hoan nghênh nhiệt liệt và còn yêu cầu hát lại một lần nữa. Ai cũng yêu mến Thủ Đô. Và do đó càng quí mến những người Thanh niên Thủ đô quyết tâm ra đi phục vụ chiến trường.

Hôm nay,  hết mưa và cũng hết rét. Đội Hà Nội lại tiếp tục làm việc sau một tuần nằm nhà hút thuốc lào và nhớ nhà. Vừa may, đúng hôm nay, 8/2, xe tiếp tế của Cục đem vào cho anh em quà cáp và rất nhiều thực phẩm. Mình nhận được thư mẹ và một thư của lái cẩu Đỗ Xuân Bảo ở cùng phòng trước khi đi Quảng Bình. Quà của nhà có mấy lưỡi dao cạo râu, xà phòng, quai dép lốp, toàn những thứ cần dùng. Thích nhất là có mấy tập bài hát, chỉ có toàn lời mà không có nhạc do Nhà xuất bản Âm nhạc phát hành theo dạng bỏ túi phục vụ phong trào Tiếng hát át tiếng bom thời ấy. Lại có thư và quà của Đội I. Cảng Hà Nội gửi Đội I Cảng Gianh. Quà có thuốc lá, xà phòng. Còn có thư của Giám đốc, ban tuyên truyền, phòng tổ chức. Chiều, lại được ăn một bữa thịt lợn thứ hai.

Cũng ngày hôm ấy, một công nhân trẻ trong đội đã ăn cắp áo, quần, tiền của một bạn Thường Tín, còn làm dấu chân đi ngược để gây nghi ngờ cho nhà hàng xóm. Nhưng nhờ các đội viên trung kiên đều là người Thường Tín, và công phu nhiều năm tu luyện duy vật biện chứng đã biết phân tích một cách cụ thể những sự việc cụ thể và tâm lý học mình và anh em đã tìm ra thủ phạm ngay trong buổi chiều, không kinh động gì đến dân làng. Nhàn rỗi, lại thích ăn chơi, thuốc lá và rượu đã dẫn đến hậu quả như thế. Cuối cùng là khai trừ ra khỏi Đoàn. Cũng trong đợt này, kết nạp được hai đoàn viên mới. Lễ kết nạp trang nghiêm, chân tình trong một căn hầm trước cờ đoàn do mình vẽ bằng phấn màu trên vỏ bao xi măng.

5/2, 29 Tết, cũng là ngày cuối năm, họp ở Binh trạm xong, theo lệ mình ghé ban tài vụ thì được biết là do Tết, cần chi tiêu nhiều, cho nên tài vụ thanh toán ngay cho những đơn vị nào đã nộp đủ chứng từ. Xem danh sách thì có ĐS5 là đơn vị mình. Thế là mặc dù không có thủ quỹ, nhưng mọi thủ tục vẫn diễn ra nhanh chóng. Chỉ có những nụ cười ánh mắt đưa đẩy thay cho lối giao tiếp đã thành lệ “đụ chưa – thừa một khúc” những khi nhàn nhã. Tôi thay mặt thủ quỹ má hồng nhận một ba lô đầy tiền, công sức vất vả của 230 con người Hà Nội và 4 tỉnh bạn. Rồi vẫn theo lệ, ghé bưu điện, nhận cả một xấp thư, riêng tôi có hai bức, đều là của mẹ, gửi cách nhau nửa tháng mà nhận cùng một ngày. Thời này, thư đến tay là may rồi. Mẹ tôi cứ có thời gian là lại viết thư cho các con. Mẹ bảo khi viết thư mẹ như thấy đang nói chuyện với các con, lòng dạ nhẹ nhàng như có người tâm sự.

Mọi khi thong thả đi bộ ven biển về nhà tôi thấy lòng thư thái lắm, vừa ngắm biển rộng, vừa suy nghĩ miên man. Cuộc đời mình thế mà hay, đi khá nhiều nơi, gặp khá nhiều người, biết khá nhiều chuyện, ngắm khá nhiều cảnh. Nhưng, lần này đeo cái ba lô nặng trên vai, mà toàn là tiền của tập thể thì đi ven biển là nghĩ ngay đến những chuyện nghe được ở binh trạm là dạo này có bọn biệt kích hay đi thuyền máy từ biển vào bắt cóc người của ta, như là cán bộ, bộ đội rồi đưa ra tàu to đỗ ngoài khơi. Thế là mò vào túi quần. Chỉ có con dao nhíp nhỏ, mua ở Bờ Hồ trước khi đi mấy hôm để gọt bút chì. Tôi mở lưỡi dao ra, nắm chặt cán dao nhỏ xíu. Dù sao cũng còn hơn là tay không. Có đứa nào bắt, cướp tiền thì đánh đến cùng, không để mất tiền của tập thể. Bỗng nhớ lời em Hồng nói em giữ quĩ, em có chết thì tiền mới mất. Giá như có em ở bên như mọi khi đi lĩnh tiền thì hay biết bao. Ít nhất, cũng có người làm chứng cho tôi nếu chẳng may có chuyện gì không hay xảy ra.

Cứ nghĩ như thế mà về đến nhà em Hồng lúc nào không hay. Em ngỡ ngàng mừng rỡ nhận ba lô tiền. Còn tôi, mau chóng về nhà đọc thư mẹ. Thư đầu mẹ viết là ở nơi sơ tán về mẹ mới biết con đi Quảng Bình .Mẹ cứ nhìn quanh nhà, đâu cũng thấy con, từ cái ghế nhỏ ngồi nấu cơm con đóng, cái muôi con mua, sợi dây thép con chăng phơi quần áo, cái bàn và những quyển sách con đọc… Thư thứ hai đặc biệt có đến nửa trang viết về Rosa. Mà là đầy tình yêu thương, dẫn lại từng câu nói, kể rõ từng nét mặt cử chỉ… nhắc lại câu tôi nhắn là mùa xuân anh sẽ về. Mẹ kể rõ Rosa một mình đi xe đạp đến nhà. Có lẽ là chưa mổ lại lần thứ bảy. Vì nếu mổ hôm 21/12/1968 thì chưa thể đi xe đạp như vậy được. Nghĩ mà thương. Con thật cảm ơn mẹ đã viết như vậy, khi mà trước đó có bác sĩ quen, làm việc ở khoa mổ bệnh viện Xanh Pôn đến nhà chơi đã nói đùa với mẹ là Bác có muốn có một cô con dâu què không, như chính mẹ đã kể cho con trước khi con đi.

Rời nhóm con gái tập hát xong tôi sang nhóm con trai làm trò chơi. Các em bảo kéo co và cướp cờ thì không lo, chúng em thạo rồi, ở quê vẫn chơi. Nhưng trò đánh giập đầu giặc Mỹ thì khó quá. Xin được củ chuối to rồi, giây thừng treo đầu cũng đã có, nhưng cái đầu thằng giặc thì làm thế nào. Chúng tôi hì hục vừa nghĩ, vừa bàn bạc, vừa làm, cuối cùng cũng ra được một cái đầu rõ to, hai mắt là hai cái vỏ ốc nhồi, mũi là một cây chuối con vặt trụi lá, còn mồm chỉ là một cái hốc to, ai cũng chê cái mồm xấu quá. Tôi bảo mặt giặc Mỹ thì càng xấu càng hay. Anh em có vẻ không phục.

Bà con Quảng Bình đón tết đạm bạc quá. 26 Tết mà nhà bác Huân mới mua được cho bé Mai một cái quần mới, người lớn thì không mua sắm gì. Có một ít lá dong bó vào thân cột, chỉ đủ gói vài cái bánh chưng. Mỗi nhà được mua một gói chè, một bao thuốc và khoảng một ký đường. Mỗi khẩu được hai lạng thịt heo.

Trời nắng ấm, giặt được cả chăn đơn rồi phơi khô trong ngày.

Tối 29 Tết (tức 30 mọi năm) và sáng mồng một bà con thường cúng kiếng, tiếp khách thăm hỏi nhau, cho nên chúng tôi tổ chức cho anh chị em vui chơi bên bờ sông. Tối thì hát, hò, sáng mồng một là bắt đầu chương trình trò chơi. Nhưng đường đi ra bờ sông thì tránh con đường thường ngày vẫn đi làm. Vì đường đó gần, dễ đi, nhưng có một lần đội Tuyên Quang đi làm về bị một loạt đạn từ máy bay bay qua bắn. Hai chị chết ngay trên mặt đường. Đám tang làm vội, chôn ngay cạnh đường, cắm mấy vòng hoa tím cuối đông, kết thành hình ngôi sao trong một vành tròn.

Đêm cuối năm thành công không ngờ. Cả đội Hà Nội ra bờ sông Gianh đốt lửa ngồi bên nhau nói chuyện vui, ăn khoai lang, lạc luộc, hút thuốc lá và uống trà. Chỉ có tiếng cười, các chàng trai lém lỉnh được các cô vỗ tay hoan hô khi nhắc lại những kỷ niệm ngày mới vào đất lửa, toàn chuyện buồn cười. Sau giao thừa, mới chia tay, còn hẹn sáng mai ra bờ sông sớm.

Tôi về nhà, hai bác chủ nhà đã pha sẵn ấm trà ngon chờ anh em tôi về. Bác trai rót nước, bác gái kể chuyện xưa. Chú có hỏi thì tui mới nói thiệt ông ấy bao nhiêu tuổi cũng chẳng ai biết. Bố mẹ tui đi làm về thì thấy ông trên bờ ruộng, lấm lem cả mặt chỉ thấy hai con mắt thao láo, bèn đem về nuôi. Cả nhà ai cũng bận việc nọ công kia, thành ra tự nhiên tui là người lo tắm rửa, cho ăn uống. Ông nhỏ người nhưng không đau ốm bao giờ. Lớn lên còn chăm sóc bảo vệ tui nữa. Nên bố mẹ tui bảo hai đứa là duyên trời xe bèn cho nên vợ nên chồng. Ông ít nói, lúc nào cũng chỉ lo làm, hết việc này đến việc kia. Tên con gái đầu lòng do ông đặt. Tên là Ái. Thằng em, ông đặt là Ân. Họ Phan là họ nhà tôi. Chẳng ai biết ông họ gì. Cái hầm to đủ cả nhà ở cũng do tay hai cha con ông làm, tụi tui chỉ lo chuyện dọn dẹp, sắp xếp trong nhà. Tôi kể chuyện hôm trước tôi đi họp về ngang ven biển, thấy mấy em đang kéo một cái đuôi bom to, tôi bảo tất cả chạy nhanh sang bên kia đồi cát, thì một lát sau bom nổ. Bác gái nói chuyện bom nổ ở đây là thường. Chú nhìn đám rừng dương chắn cát kia thì rõ. Trước dầy kín mà nay xơ xác cả. Bom rơi cũng có cắm biển báo, nhưng rồi dần mất đi, có mất công làm lại thì cũng chẳng ai cần, vì người làng ai chẳng biết, không ai đi đường ấy. Ở đây ai chẳng biết, không có việc gì thì đừng đi. Có việc cần đi thì đừng sợ. Nó có ném bom thì chưa chắc đã trúng. Có trúng chưa chắc đã chết. Cứ vậy mà sống hoài.

Sáng mồng một Tết, tôi dậy sớm đi nhắc tổ trò chơi, hóa ra anh em đã ra bờ sông từ sớm. Các cô phát phiếu lĩnh thưởng cũng đã vào vị trí. Lũ trẻ trong thôn đến khá đông. Mặt tái mét vì lạnh, mắt sáng, mồm luôn hò hét, mà hầu như tất cả đều chỉ mặc áo, không mặc quần. Tôi lấy nắm kẹo làm quen. Em thì tên là Chiến Thắng, em lại Quyết Thắng, Tất Thắng, có em gái tên Hòa Bình, Thống Nhất cũng chỉ có áo, không thấy em nào tên Hạnh Phúc. Tôi hiểu đây là kết quả của những ngày dài giá lạnh nằm hầm của những nam nữ dân quân trực chiến.

Không ngờ cuộc thi kéo co lại hấp dẫn các bạn đến thế. Nhất là các bạn gái má đỏ hồng ra sức kéo và các chàng trai ga lăng nơi tay cho các nàng thừa thắng xông lên. Cướp cờ cũng vậy. Các chàng cố để các nàng nắm lấy tay mình mới chịu buông ra để các nàng thắng trong tiếng cười giòn vang. Một lát sau thì thanh niên trong thôn đến chơi. Tối hôm trước, tôi đã đem cái giấy khống chỉ có chữ ký của phó giám đốc Nghị, và con dấu tròn đỏ có ghi rõ tên bí thư chi đoàn thôn đến gặp, bí thư thôn cảm động ra mặt. Và sáng nay, những bạn trẻ đầu tiên của địa phương đến với chúng tôi. Hầu hết là gái, nam đi bộ đội hết rồi. Có một chị dong dỏng cao, mặt trái xoan xinh xắn. Tôi hỏi chị làm nghề gì, đến khi chị cho biết, tôi phải hỏi lại vì không dám tin vào tai mình: Chị làm thợ xẻ. Tôi mời các bạn đánh giập đầu giặc Mỹ là trò chơi có thưởng nhưng bấy giờ ít khách quá. Các bạn sẵn sàng để chúng tôi bịt mắt rồi vung gậy đánh giặc Mỹ. Tôi để ý thấy cái củ chuối to hôm nọ chỉ mới có cái mồm há hốc, ai cũng chê xấu, hôm nay đã thấy lè ra một cái lưỡi đỏ lòm làm bằng hoa chuối trông vừa ác, vừa buồn cười. Bịt mắt đánh thật là khó, gây nên nhiều tràng cười vui vẻ của cả người xem lẫn người đánh. Nhưng rồi dân Quảng Bình tinh ý, đã đánh trúng nhiều đến nỗi cô phát thưởng phải đề nghị tôi cho giảm thưởng từ 10 cái kẹo xuống năm cái mỗi phiếu trúng thưởng. Anh em ta chơi cũng khá, nhưng khi lĩnh thưởng thì ưu tiên phát cho bạn, ta về nhà lĩnh sau. Anh em hiểu ý ban tổ chức, giữ phiếu làm kỷ niệm và mừng bạn lãnh thưởng. Vừa lúc ấy đầu thằng giặc Mỹ củ chuối cũng tả tơi rồi. Các bạn Quảng Bình thắng lớn, còn dân Hà Nội thì tự hào là người Hà Nội thanh lịch.

Chiều chúng tôi tập hợp cùng bốn tỉnh bạn ở sân trước một cửa hàng mậu dịch. Tối cuối năm, chúng tôi còn dự một cuộc tập hợp vui chung năm đoàn ĐS5. Chơi trò thì hát nhiều bài, nhiều người, đội nào nhiều người hát nhiều bài nhất thì thắng, không kể hát hay hay dở, đúng hay sai. Chỉ cốt nhiều. Thế là các cụ thắng. Những cái miệng quen ra lệnh, quát anh em làm cho mau, nay cất tiếng hát Qua cầu gió bay, Yêu nhau cởi áo cho nhau. Chiều mồng một Tết lại tập trung chơi cả ném vòng vào cổ chai, câu cá… Thi báo liếp đội Hà Nội đoạt giải nhất, trang trí đẹp, một góc có thơ Mừng Xuân: Chú gà Kỷ Dậu, Mổ Mỹ vỡ đầu, mổ ngụy vỡ sọ. Cất tiếng gáy to, Chúc mừng năm mới. Góc khác là bài vè Táo Công lập bô của Cường kể chuyện đội làm việc ra sao, sống thế nào theo kiểu trào phúng. Có thơ ca ngợi người tốt như Bạn nhỏ Quảng Bình tôi sống gần. Có tên thật đẹp Phan Văn Ân. Sáng học dũi tôm từ buổi sớm… Hoặc phê phán thói tiêu sài hoang phí của mấy chàng công tử bốc vác. Đã là công tử phải hơn người. Đã là công tử biết cách chơi để rồi Hết tiền công tử đi vay nợ. Đội Hà Nội còn đạt giải kéo co nữ.

Đến đêm vẫn còn tụ tập thành những nhóm nhỏ uống nước trà, hút thuốc, trò chuyện vui vẻ. Nhiều  người dự trò chơi, không trực tiếp chơi thì đứng ngoài hò hét, cười thỏa chí. Những ngày này không ai muốn lẻ loi, cô độc, sợ lại nhớ nhà. Nhất là các bạn gái, bao giờ cũng đề nghị tổ chức vui chơi tập thể, ít nhất cũng tập trung lại nói chuyện cho vui, các cô sẵn sàng bỏ thuốc ra mời, đun nước pha trà, bưng lên mời các anh, cốt sao các anh đừng về, cứ ngồi đó mà tán láo cũng được…

Tết Quảng Bình Kỷ Dậu 1969 của chúng tôi vui như thế đấy.

(Còn tiếp)

P.T.

Thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 2 tháng 3 năm 2022.

THƠ NGUYỄN CÁT MINH NGUYỆT

Phạm Tôn

7:23 sáng ngày 3/2/2022 con tôi nhận được tin nhắn từ chị họ là Bao Catherine từ Hoa Kỳ (tức Đoàn Thu Hương con gái đầu của chị Tôn Nữ Thị An tôi và anh rể Đoàn Văn Đệ. Thu Hương  nghệ danh của dì Phạm Thị Hoàn hồi hát tại Đài Phát thanh Hà Nội nơi anh Đệ làm về kỹ thuật. Anh chị đặt tên con đầu lòng là Thu Hương để tri ân người đã kết mối duyên lành An – Đệ.  Sau này Thu Hương sang Hoa Kỳ định cư lấy chồng là Hồ Bảo nên có tên Ho Catherine Thu Hương): Các em gửi bài thơ cô Minh Nguyệt biên về cho các bạn ở Việt Nam: “Thu Hương ơi, Cháu làm ơn text bài thơ này về tặng các cậu ở Việt Nam hộ cô nhé. Cám ơn cháu nhiều”

NHỚ BẠN

Đất khách bao lần đón Chúa Xuân / Tóc Xanh mắt biếc đã phai dần / Bâng khuâng nhớ người nơi quê Mẹ/ Gió đông bên thềm tưởng cố nhân. Minh Nguyệt

“Số phone Cô Nguyệt là 657.347.2335. Nếu em có Viber thì nhắn bố Cô Nguyệt thăm nhé. Cô ấy không biết gọi đi, chỉ biết nghe thôi”

Như trong bài Tuổi thơ tôi ở Tràng Cát, tôi có viết là hồi ấy, tôi sáu tuổi theo mẹ và bầu đoàn hai mươi con người do mẹ cưu mang từ nhà số 5 phố Hàng Da Hà Nội tản cư về làng Tràng Cát Thanh Oai Hà Đông. Ở đấy tôi có hai cô bạn kẹp hai bên là Nguyễn Minh Nguyệt bảy tuổi, con trưởng của họa sĩ Nguyễn Cát Tường bạn cùng dạy Trường Thăng Long (Ngõ Trạm) với bố tôi và Dương Bích Hồng, năm tuổi, con gái bà tham họ hàng họa sĩ. Hai bạn đều sống ở nhà lớn của cụ Cửu có tường cao vây quanh. Còn chúng tôi sống ở căn nhà mái rơm tường xây áp với nhà lớn cụ Cửu mới xây chờ cưới con trai là anh Khôi thì cho ra ở riêng. Chúng tôi thường gặp nhau trong những buổi gia đình tôi huy động cả nhà ra rặng vải quét lá, nhặt cành rụng làm chất đốt nấu ăn. Còn bình thường, tôi chỉ chơi với con Thọ con ông Thể, cháu ông Tài ở ngay trước mặt nhà tôi. Con Thọ chạc tuổi tôi, là một con bé nhà quê thứ thiệt, khác hẳn hai bạn Nguyệt và Hồng là dân Hà Nội tản cư.

Rồi năm 1950 về lại Hà Nội, tôi lại sống cùng gia đình vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường là bà Lê Thị Nội, bạn chí thiết của mẹ tôi, có hai ông chồng cùng dạy trường Thăng Long từ sau toàn quốc kháng chiến đến nay đều không biết hai ông ở đâu. Vì thế, anh Đại tôi và tôi thân thiết với chị em Minh Nguyệt như ruột thịt. Ba bà góa là bà Lê Thị Nội, Võ Thu Huy và mẹ tôi hồi ấy chung sống ở nhà số 47 phố Lò Sũ vốn là nhà của dì Phạm Thị Thức hồi ấy còn ở khu kháng chiến. Hai bà Nội và Huy đi xa buôn bán kiếm tiền nuôi con. Mẹ tôi mở cửa hàng bán đồ gỗ cũ tân trang ngay tại nhà. Vì thế, năm chị em nhà tôi, năm chị em nhà Minh Nguyệt và hai con gái bà Huy đều ăn cùng bếp do mẹ tôi nấu. Do đó quen gọi mẹ tôi là Me, khác với bà Nội là mợ và bà Huy là mạ theo cách gọi của các con từng vùng miền. 12 chúng tôi sống êm ấm như con một nhà. Cho đến 1954 giải phóng Thủ đô, hai nhà kia di cư vào Nam, chỉ còn gia đình tôi ở lại Hà Nội. Chị An tôi ở lại đến 1955 mới vào Nam theo yêu cầu của bà dì kinh doanh dược phẩm. Với niềm tin tưởng ngây thơ ngày Thống Nhất hai năm sau đó đất nước thống nhất gia đình sẽ lại đoàn tụ.

Tháng 9 năm 1975 được vào Sài Gòn làm phóng viên thường trú, tôi đem theo một ảnh chân dung cỡ lớn của Minh Nguyệt 15 tuổi do hiệu ảnh thấy đẹp đã phóng đại tô màu (hồi ấy chưa có ảnh màu) để trưng bày ở cửa hàng một thời gian rồi tặng lại cho Minh Nguyệt. Không ngờ, bạn đã di tản sang Hoa Kỳ cùng chồng con. Sau này, cô em út bị điếc câm được một tổ chức từ thiện đưa cả gia đình sang Hoa Kỳ tôi mới gửi được ảnh đó cho bạn.

Biết nhau, chúng tôi thường xuyên thư từ và trò chuyện qua điện thoại.

Thư ngày 27/2/1996, Minh Nguyệt viết: “Nhìn ảnh cháu Trung cưỡi ngựa mình cứ tưởng là Thành đấy. Cháu giống Thành như đúc. Năm 1954 mình xa Thành thì tuổi của Thành cũng bằng cháu Trung và cao như cháu bây giờ Thành nhỉ. Nhiều lúc mình ước áo đánh đổi tất cả những gì đang có để được trẻ lại 40 năm và lại được sống với Me và các bạn như ngày nào thì sung sướng biết bao. Năm nay mình cũng đã 57 tuổi rồi, sức khỏe lại yếu kém không biết bao giờ mới về thăm được Me và các bạn cũ một lần chót trước khi đi theo anh Thế (Chồng Minh Nguyệt là Giuse Nguyễn Đình Thế mất ngày 11/8/1995, tai California – PT chú) mình. Hiện nay mình vẫn bình thường, đầy đủ, chỉ thiếu có anh Thế và các bạn cũ. Khi lớn tuổi mình mới nhận thấy cuộc sống mà thiếu bạn tri kỷ thì cuộc sống trở thành vô nghĩa. Cảm ơn Thành đã dành cho mình những lời khen thật tế nhị. Mình sẽ sống cho thật đúng nghĩa và thật xứng đáng với lời khen đó.”

Thư ngày 16/4/1996, Minh Nguyệt viết: “Hôm nhận được bức ảnh cháu Trung cưỡi ngựa mình bàng hoàng sửng sốt vì trông cháu giống Thành quá, từ nụ cười mỉm, ánh mắt đến khuôn mặt mình tưởng như đã gặp lại Thành của 40 năm về trước, ngày chúng mình còn rất trẻ con ngây thơ. Xa nhau nhưng mình không bao giờ quên những kỷ niệm êm đẹp cùng tình bạn chân tình của mình thời thơ ấu. Mình ước mong ngày trở về quê hương thăm me cùng tất cả các bạn (…) Anh Đại và mình vẫn thường liên lạc (Hồi ấy anh Đại tôi đang công tác tại Ănggôla – PT chú) mình cũng nói cho anh biết là Thành nói: Cái gì cũ trên đời này cũng vứt đi, chỉ có tình bạn là càng cũ càng tốt và sâu đậm hơn”.

Bạn vào Nam cùng mẹ và các em. Ba em trai vào trường Thiếu sinh quân Đà Lạt, bạn sống cùng mẹ và em gái điếc câm học ở trường của các sơ dạy ở Sông Bé. Do xinh đẹp, bạn lấy chồng sớm cho yên phận, chồng là một nghệ sĩ trong quân đội. Rồi di tản sang Hoa Kỳ sau đó, có với nhau năm trai hai gái. Năm 1995, chồng qua đời vì bệnh hiểm nghèo sau mấy năm được vợ chăm sóc tận tình. Từ đấy, Minh Nguyệt làm thơ nhiều hơn để giải tỏa lòng mình và cũng viết thư, gọi điện cho tôi nhiều hơn. Trong đó nhiều thư thông báo về tình hình sức khỏe chị cả tôi.

Minh Nguyệt còn muốn tôi gửi cho một bức ảnh mẹ tôi thật to. Tôi ra bưu điện, họ bảo ảnh to thế này gửi sợ bị hư hỏng. Cho nên phải chờ đến khi vợ chồng chú Miềng về thăm mẹ tôi tháng 4 năm 1994 mới gửi được chú mang về. Rồi chú lại nhờ người chuyển từ Washingto đến California cho bạn. Nhận được bạn mừng quá vì mẹ tôi hồi ấy mặt trái xoan quá đẹp lại đang bế đứa bé bốn tháng là tôi, bạn chí thân của Minh Nguyệt

Sau này, bạn hay làm thơ, mới lấy bút danh là Nguyễn Cát Minh Nguyệt, đăng ở nhiều báo tiếng Việt bên ấy. Tôi gửi cho bạn bài viết trên tuần báo Công giáo và Dân tộc Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, bài tôi viết ra mắt đầu tiên ở trong nước. Bạn gửi ngay cho tạp chí Khởi Hành nơi thường đăng thơ bạn. Họ nhận sẽ đăng. Nhưng hỏi còn bài nào nữa không. Vừa may tạp chí Công giáo và Dân tộc ấy lại đăng bài tôi viết đầu tiên nay ra mắt bạn đọc trong nước cuối cùng trong ba bài tôi rút ruột viết về Ông Ngoại với yêu cầu thay tên tác giả cho phù hợp với tên mục đăng bài đó Trao đổi ý kiến như bài trước đã đăng dưới  tên Phạm Tôn. Vì không lẽ chỉ có một người viết thì trao đổi nỗi gì. Nhận được hai bài, tổng biên tập quyết định đăng bài sau. Dù sao cũng an toàn hơn. Ở nước ngoài nhưng họ cũng ngại làm mất lòng trong nước, khó về sau. Tạp chí nói có gửi báo đăng bài ấy cho tôi nhưng tôi không nhận được. Nhuận bút 40 đô gửi chui thì đến tay ngay. Năm 2005, Minh Nguyệt còn có lòng với chúng tôi bằng việc tìm ra và gửi cho tôi bản chụp sao một số của tờ báo La Patrie Annmite do bố tôi được thuê làm tổng biên tập. Báo ghi năm thứ chín. Tôi suy ra báo ra đúng năm sinh chị cả tôi là Tôn Nữ Thị An 1932. Ông bố trẻ, sinh con đầu lòng, phải lo kiếm thêm tiền ngoài lương dạy học. Nhà văn Hà Khánh Linh ở Huế vui mừng khi nhận bản tôi gửi: “ Trước cứ tưởng là báo sớm nở tối tàn hóa ra đã trụ được hơn chục năm”. Chỉ ngừng khi chủ bút Tôn Thất Bình mất tự do từ 7/9/1945.

Sau đây, xin giới thiệu với bạn đọc hai bài thơ Nguyễn Cát Minh Nguyệt gửi tặng tôi, xem như một món quà Xuân Nhâm Dần muộn riêng tặng bạn đọc Blog PhamTon yêu quí.

*

*    *

Tôi viết vòng vo tam quốc mãi thế này mà chưa nhắc gì đến chuyện cháu Thu Hương nhắn gọi điện cho cô Minh Nguyệt. Thật ra tôi không biết bạn ở nhà dưỡng lão thuộc múi giờ nào nên sợ xảy ra chuyện như tôi từng bị gọi dậy giữa lúc bắt đầu say ngủ giữa đêm đông. Tôi khó vào giấc ngủ, nhưng đã ngủ thì ngủ rất say. Lại hay dậy sớm, thường 3-4 giờ đã dậy rồi nên giấc ngủ rất ngắn và quí. Vậy mà đêm ấy , tôi vừa vào giấc thì có điện thoại từ Mỹ. Tôi hỏi có chuyện gì khẩn cấp mà gọi vào giờ này. Bên Mỹ nói: chờ cả nhà ăn nên gọi nói chuyện chơi thôi. Tôi nói: Ở Sài Gòn giờ này là một giờ đêm. Bên Mỹ nói: nếu thế thì ngủ đi. Tôi nói: Đã gọi thì có chuyện gì nói với nhau đi, làm sao ngủ lại được.

Tôi nhớ chuyện cũ, lại nghĩ bạn tôi Minh Nguyệt nay đã là bà cụ 83 tuổi rồi. Tôi không dám phá giấc ngủ của lão bà Minh Nguyệt. Chỉ viết thế này thôi. Tùy con cháu xử lý.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 2/3/2022,

đã thành thành phố xanh, nhưng học sinh F0, F1 tăng thì

dạy học linh hoạt tối đa. Quyết không để lỡ việc học của các em.

P.T.

Tháng Hai 25, 2022

QUÀ 8/3

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười bốn, kỳ 1 tháng 3 năm 2022.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

QUÀ 8/3

Phạm Tôn

Từ khi được cậu Phạm Tuyên dạy cho biết đọc, tôi thành con mọt sách từ rất nhỏ. Cứ thấy chỗ nào có chữ là đọc, cái gì không hiểu thì cứ nhớ mãi, gặp ai cũng hỏi, hoặc tự mò tìm lấy. Thí dụ như hai chữ vưu vật vừa lạ vừa bí hiểm, không biết tôi thấy chữ ấy ở đâu. Càng tò mò khi biết người mà ai cũng kính phục là Khổng Tử rất ghét vưu vật, do đó cả Nho gia đều không ưa vưu vật. Tất cả xã hội xưa đều không ưa vưu vật. Tôi càng ngạc nhiên khi một cụ túc nho cho biết: Vưu vật, ví như gái đẹp. Ai lại không thích gái đẹp. Nhưng cái giống đó nó hại lắm. Cho nên Đức thánh Khổng mới ghét. Thậm chí còn nói Phụ nhân nan hóa tức là Đàn bà khó dạy. Văn hào Lỗ Tấn khi dẫn câu này còn chú thích rõ Khổng Tử nói đàn bà là gồm cả mẹ ông ấy đấy! Tôi càng thắc mắc tệ. Nhưng chỉ để bụng, vì còn bao nhiêu việc cần đối phó hằng ngày. Vả lại vốn bản tính là người ngu lâu, mãi đến năm Covid-19 sắp thành bệnh cúm bình thường 2022 này, rộng thời giờ trong tiết tháng Giêng mới giở sách tra thử xem vưu vật là gì mà rắc rối vậy.

Giở quyển tư điển dày nhất tôi có ra mong tìm ra cái từ đó. May thay, trong Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của Giáo sư Nhà giáo Nhân Dân Nguyễn Lân (1906-2003) Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh in 2000 bộ năm 2006. Tái bản lần thứ nhất. Mà mãi đến cuối trang 2064 mới có mục Vưu vật. Nguyên văn như sau: “VƯU VẬT: dt (H:vưu: trội hơn cả, vật: đồ vật). Vật hiếm và quí, vẻ đẹp hơn người.

Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt

Lòng quân vương chi chút trên tay (Cung oán ngâm khúc)”

Thế mới rõ lớp Chăn nuôi khóa 5 chúng tôi do không có vưu vật nên mọi việc hanh thông.

Nhưng tôi nhớ rõ là năm đầu tiên vào Học viện Nông lâm ấy, tôi rất sung sướng lần đầu được sống tập thể, ngủ giường tầng, ăn ở nhà ăn tập thể rộng. Nam ở một khu nhà ba tầng riêng. Nữ ở khu riêng. Lớp tôi cũng có một số bạn nữ, ở một buồng trong khu nhà tầng nữ.

Chúng tôi nhập học vào tháng 10 năm trước, cho nên ngày 8/3 năm sau, chúng tôi đã quen biết các bạn nữ rồi. Nhưng như đã kể trước, lớp tôi có các bạn nữ, nhưng không có vưu vật, thành ra hơn nửa năm yên ổn, không xảy ra vụ tranh giành bạn gái đấu đá nào. Nhưng vì không có vưu vật nên chùa của chị em cũng vắng kẻ đón người đưa, hơi tẻ nhạt.

Cứ cuối tuần, nhà trường cho ăn cơm chiều sớm để kịp lên tàu Hải Phòng về Hà Nội chỉ ghé ga Cổ Bi đúng một phút cho sinh viên về Hà Nội. Có một cô bạn hơi đậm người lần nào cũng hẹn tôi cùng mua vé, rồi lên toa ghế gỗ thường ngồi một ghế đôi, cùng trò chuyện. Có khi cô nhoài mình qua người tôi như muốn chỉ cho tôi một cái gì đó qua cửa sổ tàu khi trời xẩm tối. Đến ga Hàng Cỏ chúng tôi chia tay. Cho đến nay, tôi vẫn không biết nhà bạn ở đâu. Cứ xuống tàu là mỗi người một ngả. Cũng chẳng thăm nom nhau, vì tối chủ nhật đã lại gặp nhau ở trường.

Tôi đi đâu cũng làm báo tường, năm ấy còn được chi đoàn giao phụ trách báo của lớp tên là Thảo Nguyên. Dịp ấy, kỷ niệm thành lập Đảng, tôi vẽ chân dung Võ Thị Sáu bằng bút sáp dán lên báo tường. Vũ Văn Chỉ 18 tuổi cảm động viết một bài nhan đề gợi cảm Cũng vào lứa tuổi ấy…ý tự phê là cùng lứa tuổi mà chị lập được bao công trạng, còn mình đến học cũng không xong. Cô bạn cùng đi tàu xin tôi bức tranh đó khi tôi đang gỡ để dán số báo mới. Tôi đưa ngay. Nhưng cô bảo cho thì phải đề tặng chứ. Tôi cầm bút viết: “Tặng các bạn gái bức chân dung này, tôi bỗng nhớ là Chị Sáu đã hy sinh vào lứa tuổi như chúng ta sau khi đã lập biết bao chiến công”. Đại loại tôi viết thế; quan trọng là ghi rõ tặng các bạn gái. Rồi ký rõ cả họ tên và đề ngày tặng

Tôi là tổ trưởng tổ 5, gợi ý mãi mà chẳng thấy ai lên tiếng ủng hộ ngày 8/3. Bác Nguyễn Xuân Lai  bộ đội xuất ngũ bí thư chi bộ 36 tuổi thấy tôi lải nhải hoài thì nói: Cậu chỉ hay vẽ vời, ai muốn làm gì thì làm, kệ họ… Tôi biết không được ủng hộ, lại tối đến nơi rồi, sắp hết ngày 8/3, bèn đứng giữa buồng hỏi có anh nào muốn cùng chúng tôi đi thăm các bạn nữ không. Nguyễn Thế Hiền tổ phó chỉ cao bằng vai tôi, nhưng đậm người gấp đôi tôi nói: Tôi đi. Rồi Nguyễn Hữu Lý bạn cùng giường nhưng nằm tầng một, tôi nằm tầng trên, rụt rè đỏ cả mặt mới nói lắp bắp được mấy câu: Tôi … Tôi đi. Cuối cùng là Nguyễn Văn Hùng thường gọi là Hùng Khảo Cổ cùng tầng trên kế giường tôi, nói dứt khoát: Tôi đi và lấy cái mũ cát két mềm đội ngay lên đầu, tụt xuống sàn, sẵn sàng ra đi. Anh mến tôi, tò mò xem tôi định làm gì…

Bọn tôi ra khỏi buồng, Thế Hiền cầm đèn pin soi đường, tôi cùng Lý, Hùng ra vườn rau tăng gia của tổ. Bấy giờ tôi mới nói rõ tiêu chuẩn chọn quà: Một củ xu hào to nhất, tặng bạn Ngọc tồ, củ mập kém hơn tặng cô bạn đi tàu, rồi cứ thế chọn đến hai củ xu hào cuối cùng, cả hai đều nhỏ, nhưng nhỏ mà tròn lẳn, tặng bạn Nhu, củ nhỏ mà lẻo khoẻo tặng chị Sương gầy yếu xanh xao lại khép kín vì tự ti mình là người theo Đạo. Cả bốn bạn cùng cười hào hứng chọn, rồi bình, và tuyển ra một rổ đội tuyển hình mẫu do Thế Hiền trịnh trọng bưng lên buồng các bạn nữ.

Hồi ấy mọi chuyện còn vui vẻ, chi bộ chọn tổ 5 tôi là tổ điển hình, mời sáu tổ bạn đến nghe tôi báo cáo rút kinh nghiệm. Các bạn nữ hồ hởi xâm nhập hợp pháp khu trại chúng tôi để khám phá bí mật. Sau hôm đó, Nhu gặp tôi bảo bọn tôi ai cũng muốn là người tổ 5 vì được coi trọng.

Tối rồi mà lại còn có người gõ cửa dồn dập, chuyện gì vậy. Các bạn nữ vội vã thu dọn. Khi chúng tôi được mở cửa cho vào thì các bạn cười ồ: Các ông làm chúng tôi hoảng quá! Có chuyện gì vậy. Tôi trịnh trọng lên tiếng: Hôm nay 8/3, chúng tôi có chút quà mọn cây nhà lá vườn tặng các bạn đây! Rồi Thế Hiền, Lý, Hùng đưa quà cho từng người. Quà mọn của chúng tôi rõ ràng làm các bạn xúc động vì quá bất ngờ. Tất cả im lặng chẳng biết nói sao… Bỗng Nguyễn Thị Nhu cô bạn nhỏ tròn lẳn, mặt thoáng nét rỗ hoa lên tiếng và xông đến đấm tôi thùm thụp vào lưng: Cái trò này chỉ do ông quái quỉ này bầy ra thôi! Mọi người nhìn mà xem, họ giễu chúng ta đấy. Nhưng dù sao cũng cám ơn đã làm chúng tôi vui.

Nhu thân với tôi vì cô và Vũ Tuấn Hùng từng học trường Nguyễn Gia Thiều Gia Lâm. Mà Hùng với tôi là cặp bài trùng.

Bắt đầu trò chuyện vui vẻ. Tôi thấy chân dung chị Sáu treo trên tường, bèn tự ý lấy xuống xem, lật ngay mặt sau thấy chữ CÁC tôi cố ý gài vào để tránh hiểu lầm đã bị xóa rất khéo. Chữ tôi viết thành ra là: Tặng bạn gái…

Chuyện cũ từ năm 1961, bây giờ tiết lộ chắc cũng chẳng làm CÁC CỤ BÀ mất lòng. Chỉ còn là một kỷ niệm đẹp thời người sống với người chưa phải để yêu nhau. Bấy giờ chưa phải Mùa Xuân đầu tiên như nhạc sĩ Văn Cao viết: Từ đây ngươi biết yêu người. Đấy là năm 1976, còn chuyện của chúng tôi là năm 1961 trước đó những 15 năm trời.

Nhưng ngay từ hồi ấy chúng tôi cũng đã biết yêu người rồi! Tự hào được góp phần làm nên những kỷ niệm đẹp một thời thanh xuân đã xa.

Ngày 18/2/2022, Thành phố Hồ Chí Minh đã là vùng xanh,

thành  phố lớn nhất nước đang sống lại và vươn lên,

giành lại những gì đã mất và còn đòi lấy cả lãi nữa.

P.T.

Tháng Hai 13, 2022

Tôi có “hai bạn đời”

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 2:11 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2022.

NHÂN VALENTINE MÙA COVID THỜI BÌNH THƯỜNG MỚI 2022

TÔI CÓ HAI BẠN ĐỜI

Phạm Tôn

Tôi có hai bạn đời là vợ tôi Lê Thị Đông (cưới năm 1978) và bạn Tâm giao Tri kỷ trọn đời Nguyễn Thị Bạch Kim (biết nhau từ 1955)

Cô Tấm Lê Thị Đông đã cùng tôi tạo ra một gia đình hạnh phúc. Ảnh chụp khi đi chơi vùng núi Nha


Trang, mừng kết thúc tám đợt truyền hóa chất nôn nao ói mửa như lao vào sóng to bão bùng trên biển. Bấy giờ Ngô Ngọc Dung mới là bạn gái của Thành Trung con chúng tôi, nhưng đã cùng gia đình ba người chịu trận trong cuộc chống ung thư kéo dài…

Còn bạn Bạch Kim thì chúng tôi thấy mặt nhau là thân ngay, tin ngay từ năm 1955, khi cậu tôi Nhạc sĩ Phạm Tuyên dẫn Đoàn Văn công Khu học xá Trung ương về tham gia Đại hội Văn công toàn quốc biểu diễn ở Nhà hát Nhân Dân Hà Nội, chuyện gì cũng nói cho nhau biết hết như người một nhà.

Mấy buổi biểu diễn của Đoàn Văn công Khu học xá Trung ương đem đến cho khán giả Hà Nội mới được giải phóng hơn một năm niềm vui sống niềm tin tưởng mới, với những diễn viên nhí xinh tươi trang phục đẹp đẽ, lạ mắt. Nhà hát Nhân dân được dựng gấp rút toàn bằng gỗ với sức chứa chưa từng thấy ở Hà Nội: Mỗi suất diễn phục vụ hơn một trăm ngàn người xem. Chỗ ngồi là những ghế dài, làm thành một giàn cao dần, ai cũng xem được rõ ràng. Tất nhiên, không có mái che. Lại diễn vào mùa đông. Vậy mà đêm nào cũng kín chỗ ngồi. Các tiết mục của Đoàn Văn công Khu học xá Trung ương được nhân dân Thủ đô hoan nghênh nhiệt tình. Trong khung cảnh lạ mắt, màu sắc tươi sáng, với các diễn viên nhỏ tuổi xinh tươi. Bà con khu phố Hàng Da – Đường Thành biết trưởng đoàn Phạm Tuyên là em mẹ tôi nên đến nhà xin vé. Cậu tôi chiều chị, tối nào cũng đem về nhà vài chục vé. Tiết mục cả nhà tôi và bà con khu phố thích nhất là điệu múa Hái chè bắt bướm dân ca Thanh Hải (Trung Quốc). Bạch Kim cho tôi biết: Trong đoàn chị em múa thanh xuân ấy, chị cả dẫn đầu là Đàm Hoa Chỉ, người dân tộc Dao đã cùng Kim đến nhà tôi lần đầu ấy. Thứ hai duyên dáng chính là Bạch Kim. Và bất ngờ nhất, cô em út nhỏ nhất, nhí nhảnh nghịch ngợm lại chính là … cô Ánh Tuyết, sau này thành vợ cậu tôi. Và chính là Cô Tuyết Tôi.

Có lần tôi đi làm về thì nghe trong buồng có tiếng hát. Vào buồng, thấy cảnh thân mật Bạch Kim đang khoác tay qua vai em Thân tôi là giáo viên đang dạy học ở Đông Anh,
một tay đánh nhịp, cả hai chăm chú học hát, nhìn vào quyển vở to chép nhạc của Kim Thân đang cầm trong hai tay. Tôi vui mừng thấy hai chị em đang học bài hát thời ấy thanh niên Hà Nội ai cũng ưa thích, kể chuyện hai bạn trẻ chia tay thời chiến: Hết ấu thơ rồi, cuộc đời từ nay đã khác xưa… Quà nghèo chỉ có lời ca tặng nàng trước khi từ giã…

Gặp nhau ba tôi cùng cười. Gia đình tôi mặc nhiên xem Kim ngang hàng tôi tức là chị của em Thân. Chúng tôi thân nhau, tin nhau, nhưng chưa từng bao giờ tìm hiểu nhau. Mãi năm 2018, nhân một trục trặc về số điện thoại của Kim, tôi hỏi lại mới biết số của Kim kết thúc bằng con số 40. Kim cười bảo là năm sinh của người ta, làm sao mà ta nhầm được! Bấy giờ tôi mới biết hai tôi đều sinh năm 1940 cùng tuổi Canh Thìn. Mà Canh biến vi Cô. Tôi chỉ có một con trai. Kim chỉ có một con gái. Bạch Kim học dưới tôi một lớp nên lâu nay tôi tưởng mình hơn một tuổi. May là toàn gọi nhau bằng tên, chưa xưng anh em bao giờ. Chứ không thì xấu hổ chết.

Tôi chúc bạn Tâm giao Tri kỷ trọn đời thanh thản vui sống với vợ chồng con gái và cháu ngoại. Chỉ mong lâu lâu được nhìn thấy hình ảnh bạn qua Zalo, nói chuyện được vài câu càng tốt. Cốt nhất biết là tôi vẫn còn bạn. Ta vẫn có nhau dù bất cứ hiện đang sống ở đâu, miễn là còn.

Tuổi Canh Thìn hai ta trải nhiều gian khổ, thậm chí đau khổ tưởng không sống nổi, nhưng bao giờ cũng hạnh phúc vì dù mỗi ta chỉ có một con nhưng đều kiên cường, hết lòng yêu thương cha mẹ, nên dâu rể và các cháu nội ngoại đều yêu thương tận hiếu với hai ta.

Còn đây là con trai tôi chụp sáng 15/7/1995 khi con 12 tuổi. Chụp để gửi hai mẹ con Kim Lê thấy em Trung mặc áo chị cho thế nào. Chị biết tuổi em, nên mua chonhưng không ngờ em lớn hơn chị tưởng. Em cũng chỉ mặc đúng một lần này theo yêu cầu của bố. Hôm ấy, Lê đến nhà chúng tôi lần đầu sau nhiều chục năm chúng tôi mất liên lạc. Cháu đi cùng một cậu bạn, được mời ngồi ở đi văng, tôi nghe cháu giới thiệu với bạn: bác ấy với mẹ mình rất thân từ hàng mấy chục năm, nhưng chỉ là bạn thôi, hoàn toàn không có chuyện gì hết.

Còn Cô Tấm Lê Thị Đông thì chính là cô láng giềng ở nhà 20 Hàng Da, cách nhà 16 của tôi chỉ 2 mét, là bạn học cùng lớp với em gái tôi, sang chơi nhà tôi từ năm lên 6 tuổi. Vậy mà tôi ngu lâu, mãi năm 1978 đã 38 tuổi, vào thường trú ở Sài Gòn từ 1975, được nhiều bà con, bạn bè mai mối con ông to nọ bà lớn kia nhưng đều sài lắc. Vì khi nào cũng so sánh với cô láng giềng và cho là các cô Sài Gòn này không bằng. Mặc dù khi còn ở Hà Nội sát nhà nhau, gặp nhau không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ nói với nhau một câu. Thấy cô sang nhà, tôi bảo em tôi đang ở trên gác, rồi đi việc gì đó. Thời chiến tranh, mỗi nhà chỉ còn một người, chỉ duy nhất một lần tôi đi xuống cầu thang nhà mình, tình cờ gặp cô đi lên cầu thang nhà cô. Cô gọi và nói: Trông anh hốc hác quá… Theo thói quen tôi nói qua quít: Bận quá, lại thiếu ngủ. Rồi hôm sau cô mang sang nhà một lạng cao gấu nhờ y tế công trường mua hộ. Bảo nghe nói tốt lắm. Tôi hỏi: Giá bao nhiêu. Cô nói: Tám đồng. Tôi trả tiền ngay sau khi cảm ơn.

Mấy chục năm sống cùng ở Hà Nội hai tôi chỉ trò chuyện đúng một lần như thế.

Valentine năm nay, tôi chỉ ước ao hai bạn đời yêu quý của tôi thanh thản sống trọn đời bên con cháu hiếu thảo chăm ngoan.

Vợ tôi tuổi Thân. Lấy nhau mấy chục năm, tôi mới biết hóa ra Thân Tý Thìn là tam hợp. Thảo nào vợ tôi, anh Đại (tuổi Tý), Kim và tôi cùng tuổi Thìn lại thân thiết, thương yêu nhau đến thế.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/2/2022.

P.T.

Tháng Hai 10, 2022

Blog PhamTon vững bước vào tuổi 14!

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2022.

BLOG PHAMTON VỮNG BƯỚC VÀO TUỔI 14!

Phạm Tôn

Kỳ 2/2/2022 này (tức số Tân niên Nhâm Dần) bắt đầu ngày 15/2. Giữa kỳ là ngày 22/2/2022 với sáu số hai, tức Song Lộc, là kỷ niệm ngày sinh Blog PhamTon lần thứ 13. Có nghĩa là đã tròn 13 tuổi và bắt đầu bước vào năm thứ 14 của đời mình.

Nhân thời bình thường mới, chuẩn bị cho một khởi đầu mới, chúng tôi xin nói thẳng nói thật về việc ra đời của Blog PhamTon. Ai đã khai sinh ra Blog PhamTon?

Người đó không phải là nhạc sĩ Phạm Tuyên năm ấy đã 79 tuổi, cũng không phải cháu ông là Tôn Thất Thành cũng 69 tuổi. Hai người đều TÂM nhưng không đủ TẦM: đều không rành vi tính. Bấy giờ mới là năm 2009!

Người khai sinh ra Blog PhamTonhai chàng trai 8x từng cùng học Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh lại say mê tin học. Đó là Đoàn Trọng Thắng và Nguyễn Thành Trung thân nhau từ lớp Kinh tế đại cương. Thành Trung là con trai, cũng là người con duy nhất của Tôn Thất Thành. Tên Nguyễn Thành Trung là do bà nội, trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh đặt. Vì quý mến người phi công anh hùng đã ném bom Dinh Độc lập ngày 28/4/1975 gây khiếp sợ cho địch và làm nức lòng dân ta, đã khiến nhạc sĩ Phạm Tuyên bật ra ngay ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng. Bà mẹ nghĩ họ Nguyễn cũng là Tôn Thất rồi, mà mang cái họ Tôn Thất trên miền Bắc đã khiến các con bà chịu nhiều khổ cực không đáng, cho nên bà cố tránh cho cháu đích tôn của mình. Lẽ ra nên đặt là Nguyễn Phúc Thành Trung. Nhưng bấy giờ bà đâu nghĩ xa đến vậy. Đầu đuôi câu chuyện ra đời Blog PhamTon là thế này…

Từ khi biết nghĩ, chàng trai Thành Trung đã thấy bố mình cặm cụi, chắt chiu sưu tầm từng chút tư liệu về Cụ trên sách báo rồi ghi ghi, chép chép, cắt cắt dán dán, sắp xếp lại rồi cất giữ như kho báu. Lâu lâu, nhận được thư nhạc sĩ Phạm Tuyên là cậu ruột thì xúc động đọc, lấy bút dạ quang đánh dấu chỗ này chỗ nọ. Còn thư của các dì Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn từ Pháp và cậu Phạm Tuân từ Mỹ gửi về, cũng làm như thế.

Rồi năm 1998, bố bị hôn mê vì xê tôn máu, nằm bệnh viện Nguyễn Trãi gần hai tháng, những tưởng không qua khỏi! Mẹ không dám rời bố một phút, may mà có bác Vương Thị Tửu từng làm việc với bố hồi ở Cảng Hà Nội biết tin, vào ở luôn trong bệnh viện cùng mẹ chăm sóc.

Rồi bố cũng ra viện, giở ngay kho báu ra đọc, sắp xếp lại và bắt đầu đánh máy một bài nhan đề Người nặng lòng với tiếng ta, đem đọc cho mẹ nghe rồi sửa và sao chụp lại gửi cho bà con, anh em, bạn bè…

Có người đọc, khen và hỏi có muốn in ở bên Mỹ không, nếu muốn họ sẽ gửi bạn bè đồng nghiệp bên ấy giúp. Nhưng bố từ chối, nói viết chỉ để người nhà đọc thôi. Năm sau lại viết bài Người nặng lòng với nhà. Năm sau nữa viết bài Người nặng lòng với nước ngay sau khi mới mổ mắt, chỉ nhìn được bằng một mắt, mắt kia còn băng kín.

Mãi đến năm 2006, mới có tạp chí Công giáo và Dân tộc ở Sài Gòn, sau một tháng tạp chí Xưa và Nay ở Hà Nội, cùng đăng bài viết cuối Người nặng lòng với nước. Rồi tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế đăng bài Người nặng lòng với nhà. Tạp chí ở Sài Gòn lại đăng bài bố viết đầu tiên Người nặng lòng với tiếng ta, nhưng yêu cầu tác giả lấy bút danh khác cho hợp với mục Trao đổi ý kiến của báo, không lẽ chỉ có một người trao đổi. Thời ấy, mấy ai dám lên tiếng bênh vực Phạm Quỳnh!

Hai năm sau 2008, tạp chí Hồn Việt ở thành phố Hồ Chí Minh mở hội thảo về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đã thông báo từ mấy số trước. Bố lại hăm hở viết ngay bốn bài, họ đăng hai bài rồi vội vã kết thúc hội thảo bằng bài của Nguyễn Văn Hoàn, một người ngoài tòa soạn.

Tạp chí này mỗi tháng chỉ ra một kỳ, bố là người có số bài đăng nhiều nhất cũng chỉ có hai bài! Nhưng không bài nào nguyên văn: hết cắt đầu cắt đuôi lại sửa câu này, thay chữ nọ, thậm chí đổi cả tên bài! Bố đọc mà thở dài… Các bài viết về Cụ bố đều nhận nhuận bút bằng báo có đóng dấu Kính biếu để gửi cho bà con và những ai xem ra còn có lòng với ông ngoại mình. Rồi bố lại ghi chép, cắt dán, lại viết những bài khác. Cứ như thế nhiều năm trời.

Tap chi dang bai ve pham quynh cua Pham Ton

Thương bố xót xa, chàng trai 8x bàn với bạn bè, rồi cùng Đoàn Trọng Thắng bạn từ năm đầu đại học kinh tế quyết định làm ra món quà sinh nhật đặc biệt. Và từ đó, tự nguyện làm tất cả những khâu thuộc về kỹ thuật, tư liệu phục vụ việc ra blog, sát cánh bên bố trong cuộc đấu tranh vì thanh danh của Cụ.

Khi mới ra đời, ngày 22/2/2009, Blog PhamTon phát liên tục hằng ngày liên tục tất cả những tư liệu gom

Thiep blog phamton tang bo
góp hàng mấy chục năm. Vì nghe nói… Mệnh của các blog cá nhân thường rất yểu, chỉ sợ chưa nói được điều cần nói thì đã biến mất… Dần dà thấy chẳng ai ngăn cấm, người ủng hộ tìm đọc ngày càng nhiều, mới quyết đi vào nền nếp để người đọc dễ tìm đọc, định ra thời gian phát blog mỗi tuần ra một số vào ngày chủ nhật đầu tuần. Sớm nhất thì vào thứ sáu tuần trước. Đến ngày 22/2/2012 đã vượt xa con số một triệu lượt người truy cập. Ngày cao nhất lên đến hơn 10 nghìn. Tư liệu blog cung cấp đã được sử dụng trong nhiều bài báo, và bắt đầu vào các sách viết về Thượng Chi Phạm Quỳnh. Ngay đến Từ điển mở quốc tế Wikipedia cũng dùng không ít tư liệu của Blog PhamTon và còn công khai đánh giá Blog PhamTonmột blog đã cung cấp nhiều tư liệu chính xác còn ít người biết đến.
Son Tung va Pham Tuyen

Blog PhamTon chúng tôi vinh dự được công bố lần đầu tiên một số bài của các nhà văn nhà thơ nhà nghiên cứu trước khi các bài đó được in trên sách báo. Đặc biệt là Tư liệu về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi Phạm Quỳnh của nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng.

Chúng tôi chỉ phát những bài viết của Thượng Chi Phạm Quỳnh, những bài viết về Thượng Chi Phạm Quỳnh hoặc liên quan đến Thượng Chi Phạm Quỳnh. Chúng tôi vinh dự là người cung cấp đầu tiên cho bạn đọc 11 bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh Giới thiệu 51 bài thơ Đỗ Phủ do Ông dịch thô.

Sau này, thời thế biến đổi, những chuyện xưa bị những sự kiện đương thời lấn áp tâm trí người đọc, chúng tôi chỉ ra một tháng hai kì. Vẫn với tôn chỉ như từ thuở ra đời: Tôn trọng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Tất nhiên là về Thượng Chi Phạm Quỳnh và liên quan đến Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Từ 2017, chúng tôi bắt đầu đăng Chuyện một người cháu ngoại, nó rõ nguồn cơn của những sự kiện đã ảnh hưởng thế nào đến việc tìm hiểu Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Trong suốt chặng đường dài gian nan trên đường tìm lại hình ảnh chân thật nhất, chính xác nhất của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã nhiều năm bị bôi nhọ, bóp méo, nói chung là đi ngược lại tất cả những gì hàng mấy chục năm trời nhân dân yêu nước trọng lẽ phải đã bị nhồi nhét vào đầu những định kiến mà nói nôm na chỉ gói gọn trong hai câu: Phạm Quỳnh là tay sai của thực dân Pháp Phạm Quỳnh bán nước. Cái gì càng đơn giản, càng dễ nhớ lại được tung ra từ trên cao thì càng lan rộng, tỏa xa. Dám chống lại chẳng khác gì cóc kiện trời. Nhưng chúng tôi nghĩ khác. Dịp gần Tết năm 1992, con cháu Phạm Quỳnh ở trong nước tràn đầy hy vọng hào hứng giúp Viện Văn học Việt Nam chuẩn bị cho hội thảo đầu tiên về Nam Phong tạp chí và chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh. Bốn gia đình ở trong nước là gia đình mẹ con chúng tôi, gia đình dì Phạm Thị Thức tức vợ giáo sư bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đã mất, gia đình cậu Phạm Khuê, gia đình cậu Phạm Tuyên, cùng đóng góp tiền và công sức chuẩn bị cho hội thảo. Mẹ tôi, trưởng nữ của Thượng Chi Phạm Quỳnh còn mong được ra dự, đã chuẩn bị sẽ phát biểu những gì khi được người dự hỏi.

Cậu Tuyên đã lo xong việc vẽ pa nô áp phích. Cậu phụ trách phòng ca nhạc đài phát thanh rồi truyền hình Việt Nam. Nhạc sĩ Bửu Huyền làm cùng cậu lại là anh nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương cùng thuộc hoàng phái nhà Nguyễn như tôi.

Quá vui mừng, một tối đi học tiếng Nhật về tôi ghé Thùy Khương Trang chia sẻ với cô tin vui này. Tôi kể gần ngày hội thảo thì có người gọi điện thoại đến bảo hoãn. Gần Tết rồi. Ai cũng bận. Cứ để sau tết sẽ tổ chức. Cô người Huế, nhưng sống ở Sài Gòn đã lâu, nên nói năng có khi không giống Huế. Cô hỏi ngay: họ có nói là Tết ta hay Tết Công gô. Rồi cười tủm tỉm rất duyên đúng kiểu Huế. Tôi hơi chạnh lòng nghĩ đến niềm hy vọng của bốn gia đình. Vậy mà cô Hỷ Khương đã nói đúng. Đến nay, 2022 tức là 30 năm đã trôi qua, hội thảo như thế vẫn chưa được tổ chức. Tôi thoáng buồn, nhưng lại vui ngay. Vì nếu chắc chắn là sẽ thắng, giữ nguyên được hai câu kết tội ngắn gọn mà ác độc lưu hành hơn nửa thế kỷ nay thì hội thảo đã được tổ chức. Bắt hoãn vô thời hạn có nghĩa là chưa chắc thắng. Nghĩ như thế, chúng tôi hăng hái kiên trì nhẫn nại tìm cho ra hình ảnh chân thực nhất của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Có Blog thành ra có nơi quy tụ thu hút những tấm lòng vẫn còn thương tiếc Thượng Chi Phạm Quỳnh. Trong hành trình gian khổ đó, chúng tôi được một con người chân chính sống tốt đạo đẹp đời là nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu (sinh năm 1920 tại phố Hàng Giấy – Hà Nội) đã viết một lá thư bảo lãnh gửi Ban biên tập tạp chí Công giáo và Dân tộc của thành phố Hồ Chí Minh để họ thêm tin tưởng vào quyết định cho đăng bài Người

Nguyen Dinh Dau Pham Tuyen Ton That Thanh
nặng lòng với nước của tôi, chỉ thêm vào đầu nhan đề hai chữ Phạm Quỳnh để bạn đọc dễ nhận ra mà tìm đọc: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước. Cụ cũng ở trong ban biên tập tạp chí Xưa và Nay của Hội sử học Việt Nam. Một tháng sau bài của Phạm Tôn xuất hiện trên tạp chí này với tên bài như tôi đã viết và còn thêm một số chi tiết và chú thích quan trọng trước đây chưa có tài liệu chính xác nên chưa đưa vào. Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, sau khi báo đăng bài ấy, ông liên tiếp nhận điện thoại chúc mừng, có người còn đến tận nhà chúc mừng. Không phải chỉ có bảo lãnh, hằng tuần cụ còn sẵn lòng tiếp Phạm Tôn tại nhà, và mỗi năm đều có thiếp chúc Tết với lời lẽ chân tình dẫn đường chỉ lối động viên chúng tôi. Năm Canh Dần 2010, Blog PhamTon vừa đầy năm, cụ chúc “Mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc và thành đạt theo gương thân tộc nội ngoại rất đáng kính”. Năm Tân Mão 2011 cụ chúc “luôn mạnh khỏe an vui, hạnh phúc và thành đạt. Năm Nhâm Thìn 2012 cụ chúc tương tự. Nhưng năm Quý Tỵ 2013, cụ lại chúc “An vui, hanh thông, hạnh phúc, thành đạt”. Cụ còn cẩn thận viết TB (Tái bút) “Mừng chú đã thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của Ông Cụ”. Chúng tôi đọc mà xúc động trước hai chữ hanh thông, chắc Cụ mong chúng tôi nuôi Blog PhamTon được suôn sẻ không gặp trở ngại gì trong năm mới. Cụ còn khen chúng tôi “thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của Ông Cụ”. Chúng tôi vẫn biết mình chưa xứng với lời khen ấy, nhưng hiểu lòng Cụ nên càng thêm cố gắng. Quả là Cụ đã thấu hiểu mục đích chủ yếu lập ra và tiến hành Blog PhamTon. Chúng tôi chẳng mong gì hơn là Phạm Quỳnh được hiểu đúng như con người thật của Ông, cũng như những việc thật mà ông đã làm trong suốt đời mình. Chỉ như vậy thôi, không tô vẽ gì thêm. Vì chính Phạm Quỳnh từng nói: “Nói thật mất lòng. Nhưng nói thật vẫn hơn”

Năm nay bác (tôi quen gọi như thế mỗi lần gặp, bác hơn tôi 20 tuổi) Nguyễn Đình Đầu 102 tuổi. Không biết bác có nhớ một năm nọ, tôi đã chúc bác ít nhất cũng sống vượt Đại tướng mất năm 2014 ở tuổi 103, khi bác nói cho biết còn 11 đầu việc phải làm.

Năm Đại tướng mất, thành phố Hồ Chí Minh làm lễ tưởng niệm.

Tôi mệt ở nhà trông vợ nằm liệt giường vì păckinxơn. Hơn 11 giờ đêm, bác gọi cho tôi tâm sự như một người bạn. Bác nói: tôi lâu nay bị hai cái chân nặng quá, không đi đâu được. Nhưng với ông này thì không ra Hà Nội viếng được thì cũng phải đến viếng vọng ở Hội trường Thống Nhất. Khi viếng tôi lặng người đi, vừa được đưa về nhà tôi thấy cần chia sẻ ngay với chú, có thế mới trút được nỗi lòng, mong đêm nay ngủ được.

Từ ngày tôi bị ung thư, bác không muốn tôi phải đến nhà riêng như trước, hai bác cháu chỉ gặp nhau qua điện thoại. Nhân Blog PhamTon bước sang tuổi mới, tôi chân thành chúc bác, người tận lòng với con cháu Phạm Quỳnh vượt Đại tướng trước khi về Trời.

Thế là chính hai bạn 8x đã khai sinh ra Blog PhamTon này. Vậy là 3X Phạm Tuyên phải đứng ra chỉ đạo, làm ngọn cờ qui tụ những tấm lòng vàng hướng về Thượng Chi Phạm Quỳnh. Còn 4X Tôn Thất Thành phải đứng ra lo việc nuôi Blog PhamTon đủ sức ra đều đặn đúng hẹn với chất lượng đáng được bạn đọc tin cậy. Và từ nay, từ bỏ luôn ngày sinh 22/2 của mình vì không sao tranh giành với Blog PhamTon được. Đành lấy ngày sinh Âm lịch là rằm tháng Giêng. Ngày đó chẳng cần ai nhắc mọi người đều nhớ, thậm chí còn cỗ bàn linh đình, đỡ khổ cho vợ con.

Năm ngoái, gặp nhau lần cuối trước khi anh Nguyễn Tấn Thọ (tức Nguyễn Kiến Phước) mất, tôi hỏi: Ông có nhớ ngày ông và bà Kim Hạnh cưới là ngày nào không. Anh bảo: Tất nhiên tôi nhớ chứ. Nhưng tôi hỏi là hỏi ngày Âm lịch cơ. Thế thì tôi chịu. Tôi nói ngay: Ngày rằm tháng Giêng. Vì tối ấy, tôi được mời dự một đám cưới to như một ngày hội ở Trụ sở báo Tuổi Trẻ đường Lý Chính Thắng. Bọn bạn cũ chúng tôi thời 1958-1960 gặp nhau. Mừng là còn được thấy nhau và còn dám nhìn mặt nhau. Chuyện vui một lát thì được mời nhập tiệc, tôi nói ngay với các bạn cũ xin phép về, lý do là gia đình tôi đang chờ ở nhà cùng làm sinh nhật cho tôi. Vợ chồng Tuất Việt – Tuệ Quỳnh thường gặp tôi, bảo về đi, để tụi mình nói cho Thọ thông cảm. Còn Đinh Phong, mặt đỏ bừng dù chưa uống chất cồn nói: Lâu lắm mới gặp, đành vậy thôi…

Từ lâu tôi không gặp anh, nghe nói anh cũng người hoàng tộc như tôi, nhưng khi tôi đi bán báo và làm việc ở tổ báo Nhân Dân nông thôn (tức báo con) thì anh tên là Nguyễn Văn Túc. Nay lại là Đinh Phong, không rõ họ hàng với anh hùng Đinh Núp ra sao.

Tôi viết dài dòng thế này chỉ mong các bạn còn là bạn của tôi nhớ cho 22/2 là sinh nhật của Blog PhamTon. Còn sinh nhật tôi là ngày rằm tháng Giêng, không ai phải nhớ, cũng chẳng cần quà cáp gì. Chỉ có tình thương là đủ rồi. Còn sống, còn thăm nom nhau, nhớ đến nhau là đủ.

*

* *

Trước khi tôi mổ ung thư, bạn gái con tôi đến nhà. Hai đứa lên buồng con tôi trò chuyện, trước khi về cô gái ló mặt vào cửa buồng tôi chào kèm lời giới thiệu ngắn gọn của con tôi: Đây là Dung, bạn gái con, mới học ở Úc về.

ca nha di nha trang

Tôi báo tin cho cô bạn thanh mai trúc mã hơn tôi một tuổi ở Mỹ. Cô gọi điện hỏi ngay có xinh không Tôi đáp: không nhưng tốt. Cô hỏi mới gặp sao biết? Tôi đáp: Không xinh mà con tôi vẫn cứ chọn chứng tỏ cô ấy tốt, giỏi.

Hôm tôi mổ ung thư, chính hai đứa đưa tôi vào mổ lúc 14:30 chiều và gần 23 giờ đêm lại đón tôi khi mổ xong về buồng điều trị.

Mổ xong, nghỉ một tháng rồi tôi bắt đầu hóa trị tám đợt, mỗi đợt ba tuần, nghỉ một tuần trước khi sang đợt sau. Xong đợt hóa trị cuối hai đứa tổ chức cho vợ chồng tôi du lịch Nha Trang thật chu đáo. Lên mạng tìm hiểu rồi mua hai vé tàu giường nằm cho bố mẹ đi vào buổi chiều hôm sau, còn chúng đi tiền trạm tàu tối hôm trước toa ghế gỗ, thuê khách sạn và tìm hiểu món ngon địa phương, lên thực đơn cho mấy ngày ở Nha Trang. Lần đầu tiên trong đời chúng tôi ăn nguyên con tôm hùm to và cháo bào ngư, nộm sứa. Hóa ra các chuyện tôi kể con đều nhớ, và muốn cho bố mẹ thưởng thức những món chỉ biết qua lời bà nội kể.

Tôi đã đến Nha Trang mấy lần, nhưng đây là lần đầu đi về miền núi Nha Trang, thăm chùa Long Sơn xem tượng hàng chục vị hòa thượng từng tự thiêu, thăm Nhà thờ Đá tuyệt đẹp dựng trên vách núi cao. Còn vào khu du lịch Yang Bay thăm nhiều ngọn thác và những hang tôn tạo thành buồng nhỏ cho khách du lịch thuê. Chúng tôi ăn mừng thành công chữa khỏi bệnh ung thư khi chưa được ai xác nhận cả!

Sau này, thành người một nhà rồi tôi hỏi con dâu thấy hồi nào nhà mình vui nhất. Cháu nói ngay: chính là hồi bố đi hóa trị, cứ ba tuần lại một tuần tự do không phải truyền dịch, tha hồ đi

Me Ti Dung Meo
chơi ăn uống, mua sắm. Anh Ti chở bố, con chở mẹ, đi xem phong cảnh thành phố ở khu Phú Mỹ Hưng, Văn Thánh, rồi đi siêu thị mua đủ nguyên liệu về mẹ làm các mon ngon cả nhà đều thích.

Ra viện là chúng tôi chuẩn bị lễ cưới hai con. Thật ra thì vợ chồng tôi chẳng làm gì cả, ngoài việc vợ đi may hai chiếc áo dài mới. Con tôi nói với mẹ: chắc là hôm chúng con cưới bố cũng mặc áo thun thôi. Ở nhà bao giờ bố cũng mặc áo thun, quần xà lỏn, dự cưới chắc chỉ thay cái quần dài. Tôi im lặng không nói gì. Thật ra tôi đã có chuẩn bị. Hồi cậu Phạm Tuân về nước, khi đi có để lại một bộ com lê màu xanh rêu rất đẹp, lại vừa cỡ người tôi. Lý do để lại có lẽ là khi đem đi không xem xét kỹ, vải đẹp nhưng thuộc loại tự hủy theo thời gian. Nếu giơ lên trước ánh sáng sẽ thấy lưng áo chi chít lỗ nhỏ như sao đêm. Nhưng mình mặc, ai dám soi mà sợ. Vì thế tôi giữ đến gần lễ cưới mới lấy ra bảo vợ đưa hấp là cho đẹp khi cần mới mặc. Bấy giờ con tôi mới yên tâm.

Lệ thường cha mẹ lo cưới cho con, lo nhất là tiền, phải vay, cưới xong có tiền mừng mới trả. Nhiều nhà lỗ vì chi nhiều thu ít. Đám cưới con tôi chúng tôi chỉ dự. Đúng thế, tiền nong, địa điểm cưới hai đứa tự lo hết. Thiếp in đẹp, mời đến hơn 300 người ở phòng cưới lớn tại khách sạn Tân Sơn Nhất.

Tôi thay mặt cả nhà gái lên phát biểu đôi lời. Mặc com lê ngàn sao nên đi đứng nhẹ nhàng lịch sự, tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ông thông gia mừng ra mặt. Khi cùng đi lên bục, ông cứ cặp chặt tay tôi, chỉ sợ tôi xỉu, ngã thì nguy. Ông vốn là cựu chiến binh Cămpuchia.

Cưới năm 2010 thì năm 2011 tôi và vợ có đích tôn. Sau công ty Minh Việt nhỏ bé thuần Việt, con tôi lại trở về Samsung đã to lại ngoại. Đúng lúc thăng chức được cấp bằng cao hơn kèm một giỏ hoa đẹp đưa tặng tận nhà, con tôi nộp đơn xin thôi việc, về hẳn. Lý do cũng chỉ vì làm việc ở công ty như thế thì không chăm sóc được bố mẹ già yếu bệnh tật.

Sau khi các con sinh cho chúng tôi đích tôn Nguyễn Phúc Trung Dũng thì vợ tôi bị ngã cầu thang, ngã trong buồng tắm, ngã ngay sàn nhà mấy lần, lần nào cũng chảy máu rất nhiều, phải đưa cấp cứu ở bệnh viện Nhân dân Gia Định. Năm 2013 thì xác định chính thức là bị pắckinsơn; dần dà chỉ nằm im lặng một chỗ, ăn uống vệ sinh do vợ chồng con trai lo. Còn tôi thì phải mổ thoát vị bẹn. Công ty nào chịu nổi một nhân viên cứ đột ngột lại nghỉ dài ngày như thế. Chỉ còn một cách là thôi việc công ty, tự mình làm chủ công việc làm ăn của mình mới lo cho bố mẹ già và con nhỏ được.

Con tôi lên mạng tìm hướng đi mới cho cuộc đời mình. Biết chuyện ông thông gia lo lắng nói tôi phải bảo con trai chứ cứ như thế này là không được. Tôi tin con tôi biết nghĩ nên không nói gì, thời mình khác, thời nó khác, cứ để con tự quyết định. Cuối cùng con tôi cho biết đã tìm ra cách bán hàng qua mạng. Cùng một bạn thân từ hồi học trường trung học phổ thông. Mặt hàng con chọn là chất tẩy rửa làm sạch xe hơi, xe máy. Khó nhất là thời gian đầu giới thiệu mặt hàng và hướng dẫn cách sử dụng. Từ đấy con tôi không ăn cơm cùng gia đình. Việc chợ búa cơm nước đưa đón con đều giao cho vợ. Bấy giờ mới thấy rõ đúng là con dâu tôi tốt và giỏi. Một mình lo hết mọi việc, không than một lời.

Giờ khách hàng rảnh là giờ con tôi bận, đến gặp họ giới thiệu mặt hàng, mang theo cả máy móc để dùng thử sản phẩm trên xe của họ. Bấy giờ đích tôn của tôi đã hai ba tuổi, bao giờ cũng mong bố về, suốt ngày chờ bố. Tôi bảo cháu khỏe mạnh, con đi thì đem nó đi theo, cho nó biết bố đi làm việc vất vả thế nào. Thế là thằng bé bỏ ngủ trưa vui vẻ đi theo bố còn cố học làm theo bố. Về nhà là khoe với ông nội. Cả nhà vui vẻ.

Rồi 2015, lại một cháu trai nữa. Ba bố con, ba cái tên, ba đức tính Trung, Dũng, Khiêm. Thế là chắc ăn rồi. Đích tôn của tôi đã học lớp ba, cháu rất thích thú nhận vai trò giao liên giữa bố và ông. Bố cháu đánh vi tính xong một tập giấy đầy chữ thì in ra, bảo đưa cho ông. Ông vui vẻ nhận, còn nói: cháu đưa cho ông thứ này là ông thích nhất đấy. Có lẽ ông thích nhất thật, vừa cầm là ông tắt ngay ti vi đang xem, đọc ngay, lại còn dùng bút bi đỏ chữa chữ này, gạch bỏ chữ kia, viết thêm

gia dinh con trai 2
mấy dòng. Xong ông xem lại rồi bảo đưa ngay cho bố. Cháu chưa biết ông và bố cháu đang cùng làm cái blog Phạm Tôn mà bố cháu làm quà tặng sinh nhật ông năm 2009. Con còn nghĩ nên đặt tên blog sao cho thu hút người đọc. Viết về Cụ, bố lấy bút danh Phạm Tôn (là cháu cụ Phạm) đâu ai biết. Con đặt địa chỉ blog là www.phamquynh.wordpress.com sẽ có người quí Cụ tìm kiếm. Việc này chỉ có hai bố con làm dưới sự chỉ đạo và cố vấn của nhạc sĩ Phạm Tuyên và bạn đồng môn khóa tổng phản công Trường Lục Quân Việt Nam nay là Đại tá, tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan. Ông Khoan viết nhiều bài, còn ông Phạm Tuyên có tư liệu gì thì cung cấp tư liệu ấy. Từ đấy, đích tôn làm giao liên đã quen, nay mỗi lần có việc, cháu ghé tai ông: ông ơi cháu đưa ông thứ ông thích nhất đây. Và ngồi chờ ông sửa xong lại đưa xuống cho bố.

Bố cháu nay đã có khách quen, hàng bán cũng nhiều hơn nên phải thuê một căn ở cùng khu tập thể để làm kho hàng và giao dịch. Vì thế, các bài vở blog cũng đánh vi tính luôn ở đấy. Giao liên khi nào cũng có việc.

Em trai đích tôn cũng phụ giúp anh một tay. Tuy mới lớp mẫu giáo cuối nhưng cháu cũng biết quí việc ông và bố làm, đưa giấy tờ tận tay, không làm nhàu nát, lem lấm.

Bố con ông cháu tôi ngày càng gắn bó với nhau hơn vì nhiều ràng buộc nương tựa như thế.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/2/2022

thành phố lớn đã trở thành vùng xanh, sống lại rồi.

P.T.

Tháng Hai 3, 2022

Khay quả Tết NHÂM DẦN: CẦU DỪA ĐỦ XÀI

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:09 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2022.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC 1:

KHAY QUẢ TẾT NHÂM DẦN: CẦU DỪA ĐỦ XÀI

Tôn Thất Thành

Tôi sinh vào giờ Dần ngày rằm tháng giêng năm Canh Thìn (1940) tại bệnh viện Đặng Vũ Lạc (nay là Việt Nam – Cu Ba) đường Trần Hưng Đạo Hà Nội. Thế nên tôi thường tự nhận là người Hà Nội. Nhưng lại họ Tôn Thất. Bố tôi là người Huế, bị đuổi học ở Trường Quốc Học vì tham gia tổ chức bãi khóa, biểu tình để tang Phan Châu Trinh và đòi ân xá Phan Bội Châu. Ông ra Hà Nội học rồi dạy ở trường tư Gia Long. Ông cưới mẹ tôi là trưởng nữ nhà báo Phạm Quỳnh. Thế là tôi gốc Huế, dù chỉ sống ở Huế trong nhà ông nội, ông ngoại mỗi năm vài tháng hè khoảng những năm 1942-1944 và ghé Huế vài giờ năm 1975.

Ton That Thanh 1976

Tôi vào Sài Gòn giải phóng làm phóng viên thường trú. Tết Bính Thìn (1976) đi chơi chợ Tết. Hết sức ngạc nhiên thấy trong chợ hoa xuân, bên muôn hoa khoe sắc, hàng nào cũng dành một khoang trang trọng bầy mấy thứ quả nhỏ bé, xấu xí, màu sắc nhợt nhạt, nhưng được người tìm mua rất đông. Đó là khoang bày bán khay quả Tết. Khác hẳn mâm ngũ quả của Hà Nội đẹp đẽ, nhiều màu sắc. Ở đây chỉ bán hai bộ. Một bộ sáu món là một quả mãng cầu xiêm bé có gai, chùm sung nhỏ tím tái, chùm quất cũng nhỏ xanh vàng, một trái dừa điếc bé xíu, bên trái đu đủ nhỏ. Được người bán thương tình dân Hà Nội chẳng hiểu biết gì giải thích: Coi vậy mà ý nghĩa hay lắm chú nghe. Mãng cầu là CẦU, sung là SUNG, trái quất trong này kêu là trái tắc, đọc trại thành TÚC, dừa là VỪA, thu đủ là ĐỦ, trái xoài là XÀI. Thế là thành: SUNG TÚC VỪA ĐỦ XÀI. Hay không nghen. còn bốn món thì thành: CẦU VỪA ĐỦ XÀI. Hóa ra bà con trong Nam không cầu hình thức mỹ miều mà cầu cái ý nghĩa mộc mạc chân tình thâm thúy mà đơn giản.

chuc mung nam moi chuu phuc treo o nha

Tôi biết thế thôi, chứ gia đinh to, gia đình nhỏ tôi chưa bao giờ bày trên bàn thờ cái khay quả 4 món, 6 món này. Vì xấu quá.

Đến Tết Nhâm Dần này, sáng mùng 1, con trai ra chùa Vĩnh Nghiêm

Ca chua va me
nơi mẹ tôi để di cốt ở đó thắp hương thỉnh mẹ về, còn tôi chỉ ở nhà trông vợ bệnh nằm liệt giường. Mọi việc Tết do con cháu lo. Tôi chỉ dặn con trai mua hai chậu cúc đại đóa chưng cho sáng gian nhà nhỏ lại tối.

Cháu nội thứ hai sáu tuổi, chuẩn bị vào lớp một lon ton theo mẹ đi mua rau hoa quả. Tôi thấy một túi ni lông đỏ đựng mấy trái cây xấu xí. Mở xem thì mẹ cháu bảo nó chọn đấy. Hóa ra là bốn món bày bàn thờ: CẦU DỪA ĐỦ XÀI. Đúng ý tôi quá! Tôi xếp trên một đĩa vuông, dặn con trai bày bàn thờ thì để đĩa này. Tối, tôi lên lầu (gác) xem lại, thấy có đặt một trái thanh long xanh đỏ rất đẹp lên trên nền bốn trái xấu xí. Tôi nhặt bỏ ra ngay.

Thế là Tết năm nay, lần đầu từ khi tôi nhập tịch Sài Gòn, gia đình mới bày khay quả giàu ý nghĩa ấy.

Mam cung to tien Nham Dan

*

* *

Chuyện này làm tôi nhớ lại cũng năm Bính Thìn 1976 ấy lần đầu tôi được nghe câu hát của một công nhân bốc vác ở chợ Cầu Muối, nghe một lần là nhớ ngay. Vì như có lần tôi đã viết là trong tôi bao giờ cũng có một công nhân bốc xếp ngấm vào hồn sau gần mười năm sống chết cùng họ ở Cảng Phà Đen Hà Nội. Mấy câu ấy như sau:

Sáng ăn cơm sườn (thì mới có sức mà vác chứ) Chiều chan nước tương (vì dân cửu vạn thì cứ ráo mồ hôi là hết tiền). Và hai câu cuối vẽ rõ ra chất dân lao động Sài Gòn: Tối leo lên giường, Nằm nghe cải lương! Thật ung dung tự tại, thoải mái trước giấc ngủ tái tạo sức cho một ngày lao động mới.

Tôi gửi hình ảnh bàn thờ nhà tôi Tết này cho anh họ Phạm Dũng ở Hà Nội. Với lời ghi Em thành người Sài Gòn rồi! Cả hai anh em nhà đều có thờ ông nội, ông ngoại chúng tôi là Phạm Quỳnh. Bất ngờ anh nhắn lại: Chúc cả nhà người Sài Gòn mạnh giỏi, ăn Tết vui vẻ nhé!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày mồng 2 Tết Nhâm Dần,

khi cả thành phố đã thành Vùng Xanh, thành phố lớn nhất nước đã sống lại rồi.

T.T.T.

Một chuyện hậu trường đám cưới tôi

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:05 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2022.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC 2:

MỘT CHUYỆN HẬU TRƯỜNG ĐÁM CƯỚI TÔI

Phạm Tôn

Năm 1978 khốn khó, bị cấm vận, lại vừa ra khỏi 30 năm chiến tranh, đời sống kinh tế nước ta gần như kiệt quệ. Lại là năm bão lụt dữ dội. Đường sắt không chạy, tàu biển cũng ngừng, chỉ còn hàng không bay hạn chế, cấp từ thứ trưởng trở lên mới được mua vé. Vậy mà chúng tôi quyết định cưới tại Thành phố Hồ Chí Minh đúng ngày 2/9. Tôi làm phóng viên thường trú tại Sài Gòn, cô dâu lại là cô láng giềng cùng phố Hàng Da Hà Nội năm xưa, hiện vẫn làm việc ở Hà Nội. Gia đình tôi ở đây chẳng có ai. Mẹ và em gái ở tận Bạc Liêu hẹn gần ngày cưới sẽ lên. Mình tôi lo liệu mọi việc chắc không nổi. Chú Lê Xuân Vượng công nhân truyền telex sống cùng phòng ở khu tập thể 82 Lý Chính Thắng (cũng là nơi tổ chức đám cưới) thì vừa nhận quyết định đi công tác có thời hạn ở cơ sở mới lập tại Đà Nẵng, chuẩn bị in lại và phát hành báo ở miền Trung. Tôi nghĩ, tôi cần chú và còn cần một người nữa giúp mới lo được việc này. Tôi viết thư xin Ban biên tập ở Hà Nội cho phép chú ở lại giúp tôi cho đến sau khi cưới. Tôi gặp Nguyễn Đức Chính về chơi, cháu nói chú viết thư cho chính ủy, cháu tin là sẽ được nghỉ phép. Tôi viết ngay hai lá thư, chú Vượng gửi theo đường ống liên lạc bài vở hằng ngày nên đến ngay ban biên tập và bộ phận phụ trách kỹ thuật và được chấp nhận ngay. Cháu Chính mang thư về đơn vị rồi mấy hôm sau đã có mặt ở nhà tôi.

Nguyễn Đức Chính là con thứ của chị Vương Thị Tửu cùng làm việc với tôi ở Đội 5 Cảng Hà Nội. Cháu với gia đình tôi thân như người nhà. Tôi chọn cháu vì chỉ có cháu mới giúp tôi được việc này.

Thời ấy, đám cưới nào cũng đơn sơ: uống trà, ăn kẹo bánh, v.v…. không có chuyện ăn  mặn. Nhưng tôi biết làm gì với mẹ và mấy bà bạn mẹ sẵn sàng giúp một tay đây… Thế là tôi mượn cơ quan một buồng ở gác hai tòa nhà chính trông thẳng sang buồng tôi. Ngày cưới, mẹ tôi cùng ba bà bạn sử dụng buồng ấy để chuẩn bị cỗ mặn cho tôi. Có bà Thụy chồng cùng dạy Trường Thăng Long với bố tôi, bà vào Nam thăm vợ chồng con gái út ở Trường Sơn về định cư ở Sài Gòn, bà Cao Thị Hườn, vợ cụ Cao Triều Phát nhà cách mạng Nam Bộ nổi tiếng và bà Trần Thị Tiết, vợ ông Bùi Đình Kỷ, dân Hà Nội xưa sinh sống ở Sài Gòn từ 1954. Bốn bà đều có tài nấu nướng các món Bắc Trung Nam. Nhưng đã nấu nướng thì cần đủ thứ mà tôi và chú Vượng bao năm góp gạo thổi cơm chung làm sao có được, vì vậy cần một người giúp việc, gọi thân mật là người để các bà sai vặt! Không ai hơn cháu Chính, bộ đội trẻ quen nghe lệnh, lại thông thạo đường đi lối lại xóm tôi ở. Bên đây là bức ảnh chụp ở căn buồng bí mật, tất nhiên không có tôi là người chụp và cháu Chính không dám ló mặt.

Sau khi tiễn khách dự tiệc trà, chúng tôi về hưởng tiệc mặn ngon lành do mấy bà nấu trong buồng bí mật. Sáng 3-9, cháu Chính hết phép về lại doanh trại ở Bà Rịa – Vũng Tàu.

Còn chú Vượng, tôi tin cẩn nhờ chú tạo nền âm thanh êm dịu để khách dễ trò chuyện, không xập xình như nhiều đám cưới. Nhạc thì do tôi tự thu bằng máy của chú, toàn bộ lấy trong chương trình nhạc cổ điển và nhạc nhẹ của đài FM thành phố Hồ Chí Minh. Chú cũng lo luôn ánh sáng cho mọi khu vực trong sảnh lớn nhà 82 Lý Chính Thắng, không nơi nào thiếu ánh sáng cho anh Trần Thăng phóng viên nhiếp ảnh của báo và anh Nguyễn Đạt Hải anh rể vợ tôi chụp xít lai và phim màu.

Chú Vượng thực hiện xuất sắc nhiệm vụ. Sáng 6-9 ra Đà Nẵng bắt đầu nhiệm kỳ 3 tháng, đem theo quà cưới chúng tôi mời anh em ở Đà Nẵng. Chỉ là thuốc lá và trà thôi. Ngay tối đó, chúng tôi nhận được điện mừng của Đà Nẵng chuyển qua fax như sau:

Điện chúc mừng

Thân gửi hai bạn Đông Thành

Chúng tôi rất vui mừng được anh Vượng cho biết tin lễ thành hôn của hai bạn đã tiến hành tốt đẹp tại thành phố Hồ Chí Minh. Tối nay, 6/9/1978, chúng tôi đã cùng chia vui với hai bạn và hân hạnh đón nhận món quà cưới đầy tình nghĩa của hai bạn.

Xin chúc mừng hạnh  phúc của hai bạn.

Cơ quan đại diện thường trực báo Nhân Dân  tại thành phố Đà Nẵng.

Đặng Minh Phương.”

Thành phố Hồ Chí minh ngày 3/1/2022,

mùa Covid-19 đang trong chiến dịch tiêm chủng toàn dân,

WHO kêu gọi tiêm chủng toàn cầu, quyết thắng đại dịch.

P.T.

Tháng Một 14, 2022

Thư COÀN

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:23 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2022.

THƯ COÀN

Phạm Tôn

Thật ra không có ai tên Coàn! Ngoài tôi chắc chẳng ai biết Coàn là ai…Vì Coàn là chữ dì Phạm Thị Hoàn em ruột mẹ tôi thường ký cuối những thư gửi cho tôi: là viết tắt của hai chữ Cô Hoàn.

Gia đình tôi thường gọi các em gái mẹ là cô. Chỉ trừ dì Thức vợ chú Hỷ.Thu Coan

Không hiểu vì sao, Coàn yêu quí tôi từ nhỏ. Hồi hai tuổi, Coàn cho tôi đi thuyền trên Sông Hương cùng cô Tâm bạn thân của cô, cùng là nữ sinh Đồng Khánh. Nhưng lại bảo tôi ngồi lòng cô Tâm, còn cô ngồi trước mặt Ton That Thanh 1943ngắm hai cô cháu, khen: Mắt to đen lay láy, lông mi cong, phải cái đầu to quá! Cô Tâm xoa đầu tôi, rồi hai bàn tay cứ ngón cái và ngón trỏ mân mê hai dái tai tôi, khen tai tròn, dày dễ thương quá.

Hồi xa mẹ, năm tám tuổi sống với bà ngoại đã khánh kiệt, cô xuống nhà bếp ăn cơm cùng chị em tôi và bác bếp Nguyên, u Nấm quản gia. Từ đó, bữa ăn có thêm món trứng chưng tương tôi cho là ngon tuyệt, rưới cơm cũng ngon mà chấm rau muống luộc càng ngon. Năm ấy tôi chẳng may bị trai làng Vạn Lộc đánh nhau với trai làng bên đến cua gái làng, ném trượt một tảng đất cày ải trong đó có mảnh sành to. Tôi giập sọ máu ra rất nhiều. Cả nhà ai cũng bận công này việc nọ hoặc đi học. Chị tôi bận tối ngày xay thóc giã gạo còn phụ bác bếp Nguyên lo bữa ăn nhà đông người. Lúc ấy cô chuẩn bị đi Yên Mô học, hằng ngày cô gọi tôi lên gác, lấy bông nhúng vào nước muối rửa vết thương đã mưng mủ. Rẽ tóc ra để rửa là tóc rụng cả đám, bong từng mảng da đầu. Cho đến một hôm cô bảo sạch rồi, hết mủ rồi và đưa gương cho tôi soi. Tôi bật cười, thấy giữa đỉnh đầu mọc một ong chau ba Hoan luc giacục đỏ như nửa quả mận chín. Rồi cậu Tuyên đi bộ bẩy tám cây số lên Hành Thiện mua cho một viên Đagiênăng là thuốc chữa bách bệnh thuở ấy. Cô cạo thuốc, mới rắc hết nửa viên vết thương đã lành hẳn. Chỉ còn một cái sẹo sờ nhẵn thín trên đỉnh đầu, hình như cao hơn trước. 10 tuổi về Hà Nội với mẹ, cô vẫn sống cùng chúng tôi. Ngoài giờ làm việc, cô còn hát ở Đài phát thanh Hà Nội trong giàn nhạc Thẩm Oánh, có quen nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Hai người đi xem phim thường cho anh tôi và tôi đi cùng . Đặc biệt cô còn xin cho tôi học viôlông tại nhà nhạc sĩ ở phố Đặng Dung. Tôi được mượn một đàn nhỏ cho trẻ em về nhà tập, mỗi tuần ba buổi đi tàu điện lên học. Tôi thích nghe nhạc, nhưng không đủ kiên nhẫn học cây đàn khó này, cũng có lẽ là không có năng khiếu biểu diễn nhạc cụ, bèn tự ý thôi không học nữa. Lấy cớ: họ yêu nhau nên bày ra việc tôi học đàn thôi. Tôi nghỉ mà cả cô tôi lẫn nhạc sĩ chẳng ai nhắc nhở, trách móc gì… Rồi cô được bà chị nhiều uy lắm tiền bảo đi du học Pháp. Từ đấy cô cháu tôi xa nhau.

Sau khi tôi bệnh nặng năm 1991 xin thôi việc cơ quan, cô ở Pháp biết tin lo lắm, nhưng không biết giúp Truong thin va bocách nào. Trong dịp đi học một lớp săn sóc sức khỏe bằng phương pháp Đông Y, gặp một ông thầy người Việt, có bạn bè đồng nghiệp sống ở Việt Nam, bèn nhờ ông giới thiệu cho gặp lương y Lê Hưng ở Bình Dương nhờ chữa trị. Mặc dù hồi ấy tôi vẫn là bệnh nhân đặc biệt diện nghiên cứu của Viện Y Dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, do Bác sĩ Trương Thìn nổi tiếng về Đông y thời ấy trực tiếp điều trị nhiều năm mà vẫn chưa có kết quả, chỉ sống sót thôi. Nắng không ưa, mưa không chịu. Lúc nào cũng mệt. Dù mệt mỏi hay bận rộn việc gì lúc nào tôi cũng suy nghĩ về Ông Ngoại, cố tìm lời giải cho số phận thăng trầm và cái kết cục bi thảm oan khuất của Ông. Cô cháu tôi viết thư cho nhau thường nói chuyện đó ở Pháp và trong nước ta, cố cập nhật mọi chuyện về Ông Ngoại.

Ty mac ao do Ba Hoan cho

Ngày 8/3/1993, gia đình ba người chúng tôi cùng vợ chồng cô Trịnh Thị Ngọ, Lê Văn Rạng, vợ chồng cô Đặng Vũ Hồng Miên, Nguyễn Văn Tý đến ga Sài Gòn đón cô Hoàn từ Pháp về Hà Nội nay ghé Sài Gòn để từ đây về lại Pháp. Cả ba gia đình không ngờ bên nhà ông Lương Hàm Châu (tức nhạc sĩ Lương Ngọc Châu) chồng Coàn có người làm to bên ngành giao thông vận tải đã tổ chức đón cô trong nhà khách lớn ở ga. Rồi cả một đoàn ô tô con đưa cô về thăm gia đình bên chồng, sau đó mới đưa về nhà cô Ngọ, bạn thân thiết nhất của cô để cô sống ở đấy những ngày lưu lại Sài Gòn. Con gái cô Ngọ tên là Thu Hương, nghệ danh của cô Hoàn khi hát tại đài Phát thanh Hà Nội. Tôi và con trai bám sát cô. Rất chân tình,cô cho con tôi một chiếc áo thun đỏ rất đẹp, của Italia mua cho con trai là Quốc Vinh, nhưng em lớn rồi, chỉ cố mặc vài lần. Cô biết con tôi năm ấy 10 tuổi, chắc mặc vừa. Từ đấy, con tôi lúc nào muốn diện đều mặc áo đỏ này. Bố con tôi đưa cô và cô Ngọ đến thăm nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa đúng ngày giỗ thân phụ là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Hồi ấy, Sài Gòn chưa có taxi, tôi nhờ một anh bạn cùng học tiếng Nhật đưa đón hai cô cho thuận lợi. Lần cô đi tàu vào đây còn có nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, gặp từ Pháp hồi ông sang nghiên cứu bên ấy. Nhà thơ Hỷ Khương và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đều là người Huế. Ở nhà bà Hỷ Khương, còn gặp nhà thơ lão thành Mộng Tuyết, vợ thi sĩ Đông Hồ. Sau đó, về nhà cô Ngọ ăn cơm với đậu phụ rán và rau muống luộc chấm tương Bần theo yêu cầu của cô Hoàn. Bỏ mâm cao cỗ đầy toàn món Huế tổ chức linh đình tại đám giỗ. Chiều 20/3 cả nhà đi xe hơi máy lạnh người lái là bà Cam, vợ cư sĩ Phật giáo Võ Đình Cường tổng biên tập tạp chí Văn hóa Phật Giáo cả hai vợ chồng đều người Huế, bạn của các cô Ngoạn, Hoàn. Tất cả tới Tân Sơn Nhất, tiễn cô lên máy bay về Paris.

Năm 1997-1998, tôi bị một tai biến nhỏ mà thành to do hạ đường huyết. Ăn bằng ống bơm thẳng vào dạ Pham Thi Hoan_Hy Khuongdày. Mõi ngày đủ nửa ký thịt bò mà chẳng biết ăn gì. Mất trí nhớ một thời gian ngắn, hôn mê nửa tháng nhưng vẫn nghe được. Nằm bệnh viện Nguyễn Trãi 37 ngày, an dưỡng thêm 27 ngày ở nhà chị vợ có máy lạnh. Ra viện đọc sách báo rất khó vì các dòng chữ cứ nhảy múa, phải lấy tay chặn hai bên mới đọc được những chữ ở giữa. Không giở trang sách được, tay mất cảm giác. Chữ viết cực xấu. Theo lệ mọi năm viết thiếp chúc Tết bà con bạn bè. Chỉ mấy dòng cũng phải viết nháp mấy lần sửa chữa chán chê mới xong. Trí óc gần như nghỉ. Tôi nghĩ: những chuyện tôi biết về Ông nhiều hơn mẹ tôi, các cậu, các cô, vậy mà tôi suýt nữa sống để bụng, chết mang theo, tôi hóa ra một kẻ vô dụng. Vì thế, tuy sức mọn nhất trong đời rồi, mà tài thì còn hèn hơn trước nhiều, tôi cứ bắt tay vào viết về Ông Ngoại kính yêu, mong để lại cho gia đình, bà con và những ai còn thương Ông tôi hiểu hơn về Ông, ít nhất cũng bằng tôi.

Viết xong bài đầu tiên Người nặng lòng với tiếng ta, tôi đưa cho ông em họ cậu Tuyên là nhà thơ Vương Đức Lệ (Lê Đức Vượng) xem. Ông hỏi có muốn in không. Tôi đáp: không! Lại hỏi: cậu sợ gì? Tôi đáp: sợ vì viết về Ông và tiếng ta mà chưa nhắc đến Nguyễn Du! Tôi đánh máy gửi cậu Tuyên một bản, cậu hỏi Phạm Tôn là ai, chưa nghe tên bao giờ mà thấy có thiện ý quá!. Cũng gửi sang Pháp cho các cô cậu một bản và đến tay Coàn của tôi. Do đó mới có thư Coàn này. Dài dòng văn tự như vậy mong các bạn sẽ thông cảm khi đọc những phần sau đây.

Cô Hoàn tôi tốt bạn, những bạn từ thời học trường nữ học Đồng Khánh Huế còn sống đến những năm 2000 đều liên lạc mật thiết với cô và sẵn sàng giúp cô trong việc báo hiếu mà cô tiến hành cùng cô Phạm Thị Ngoạn tiến sĩ Sorbonne đã làm luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp. Sau khi bà Ngoạn bị pắc-kinh-sơn rồi mất, gánh nặng này chủ yếu đặt lên vai bà Hoàn. Và tôi, trước kia thư từ với bà Ngoạn bao giờ cũng kết thúc bằng dòng chữ này trước khi ký tên: Người giúp việc tận tụy của cô, bây giờ lại viết như thế và làm như thế với Coàn của tôi.

Đầu năm 2000, một bạn Đồng Khánh của Coàn, nhà (bà này gọi là phủ) ở đối diện với nhà Coàn, nên thường đi về có nhau. Bà là Hà Vô Vi gọi điện thoại nói chuyện với tôi, cho biết đã về Việt Nam đang ở nhà bà con. Tôi thưa nay chưa được khỏe không đi xa như thế để thăm bà như lòng mong muốn. Ít lâu sau, bà cho người cháu là anh Phương, sinh viên ngành du lịch sang nhà đưa cho tôi một phong bì to dán kín. Mặt sau phong bì có vẽ đường chỉ dẫn đến nơi hiện bà đang ở. Phong bì to của khách sạn Saigon Morin chi nhánh Huế. Tôi bất ngờ khi trong phong bì là một tập giấy mỏng tang, kèm thư bà Vi như sau: “Anh Thành, Xin gửi anh một tập photocopie nói chuyện Cụ, cháu tôi ở Pháp đã fax qua cho tôi (tức là bài Gió đã đổi chiều của Người Luân Đôn tức nhà nghiên cứu Mạc Kinh.)

Đọc xong anh cho biết ý kiến, Hoàn rất hài lòng sau khi đọc bài này. Thăm anh chị mạnh khỏe vui vẻ sang năm canh thìn (ký tên)

 Bà Hà Vô Vi 654B An Bình An Phú Thành phố Hồ Chí Minh.

T.B. Không kịp nói chuyện với Hoàn, theo tôi chắc là Hoàn cũng đồng ý. Mong anh hài lòng khi đọc bài này”.

Phong Bi ba Hoan gui bo Khach san Morin

Tôi đọc xong, chưa kịp phôtô thì anh sinh viên nọ lại đến xin lại bài đưa hôm trước. Rất tiếc nhưng tôi đưa trả ngay, vì hiểu sự cẩn trọng của người đã thu bài đó. Thời ấy do sản xuất đồ gỗ xuất khẩu nên nhà mới có máy fax, lại đi thu một tài liệu chính trị liên quan đến một người từng bị ta xử tử như Ông tôi, có thể bị phiền phức ảnh hưởng đến việc làm ăn. May mắn sau này tôi được chú Miềng tức cậu Phạm Tuân gửi cho toàn bài viết của Nguyễn Văn Trung nên đã trích một phần đưa lên Blog PhamTon là bài Thượng Chi Phạm Quỳnh “điệp viên đơn tuyến” của Hồ Chí Minh với cái tên tác giả là Nguyễn Văn Trung, làm sôi nổi dư luận bạn đọc.

Cũng đầu năm 2000, cô Hoa giúp việc cho em họ tôi là kiều bào Pháp Nguyễn Quốc Khánh đại diện hãng Shell ở Việt Nam, sau khi nghỉ phép về lại Sài Gòn tôi nhận được thư của Coàn. Trong bì thư có một phong bì nhỏ, đẹp, trong đó là một thiếp chúc mừng năm mới in hình một chai sâm banh. Mặt sau là những dòng chữ Coàn viết nắn nót rõ ràng: “Chai champagne (sâm banh) này để chúc mừng Đông, Thành, Trung một năm Canh Thìn sức khỏe dồi dào và nhiều may mắn.

– Mở ra để ăn mừng bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn, bút hiệu rất hay.

Tết Canh Thìn 19/1/2000”Thiep chuc mung cua co Hoan

Trong thư dài viết cùng ngày 19/1/2000, có đoạn cô viết: “Cô đã đọc đi đọc lại nghiền ngẫm bài Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn. Cô thích lắm, cảm ơn Phạm Tôn đã cho cô nhiều chi tiết rất thú vị và thi vị mà cô chưa từng biết. Hồi đó Thành còn gửi kèm một lá thư nói đây mới là phác thảo, còn phải bổ túc nhiều, cô rất mong cháu hoàn tất rồi và gửi ngay cho cô nhé. Cháu nên cho phổ biến ở nhà, hay là ở hải ngoại trong những tờ báo văn hóa. Cách đây hai tháng, có một cô muốn làm luận án về tục ngữ ca dao ngạn ngữ ở Việt Nam, dĩ nhiên là họ đến tìm tài liệu ở đằng cô. Cô tìm mục lục Nam Phong, thì có bài diễn thuyết cô đã đăng lại rồi năm 1992, nhưng nay qua bài của Thành mới biết bài diễn thuyết này năm 1932 có được xuất bản thành sách trong Nam Phong tùng thư + Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Năm ngoái ở Paris cô may mắn kiếm được một cụ mọt sách, cụ có đủ bộ Nam Phong tùng thư cụ quí hơn vàng thế mà cụ cho cô mượn hơn một tháng để đi chụp lại (…) Khi đọc bài cháu cô lục lại thì thấy thiếu quyển Tục ngữ ca dao. Cụ ấy cho biết là cũng không có”

Cô còn hỏi tôi về nhiều người như cụ Dưỡng Am, cụ Tú, cụ Cả, tên ông nội của ông tôi và cho biết: “Hồi bác Phạm Trọng Nhân trước khi sang Pháp đoàn tụ gia đình có làm một cây gia hệ họ Phạm, có đưa cô Lãng (tức cô Ngoạn) mà nay thì chịu không biết đâu mà tìm”. Rồi cô còn hỏi tôi nhiều tài liệu nữa. Và cô viết : “Thành ơi, cô say sưa mải miết về chuyện đời xưa mà quên không hỏi thăm sức khỏe Thành. Cô rất mong thư dài dằng dặc này đến tay Thành lúc cả nhà sức khỏe dồi dào. Cô cầu mong vậy”

Đúng là Coàn của cháu làm gì cũng say mê quên hết mọi chuyện thực tế nhất cần thiết nhất bình thường nhất của đời sống một con người bình thường.

Trưa 5/6/2000, tôi nhận được thư ngắn của Coàn viết ngày 26/5/2000 từ Yerres (Pháp). Mở đầu là: “Thành của Coàn, cô giới thiệu cháu đến gặp cô Oanh, bạn Đồng Khánh Huế cùng bạn với cô Vi, thỉnh thoảng gặp nhau ở bên phía trời Âu cùng sống lại thời kỳ tươi sáng vô tư ở sân trường Đ.K (…) Vài hàng nhắn Thành cố đến gặp nhé, kẻo như cô Vi chỉ được gặp qua điện thoại! Như vậy mà không ngớt lời: “Cháu mi ăn nói lịch sự lắm, rất chững chạc, dễ thương!”.Thu ba Hoan mat sau

“Cô đã được gặp cô Trung (em họ, con em trai bà ngoại tôi- PT chú) qua điện thoại. Cậu Vượng (em ruột bà Trung) cũng đã tới nơi (Hoa Kỳ) rồi. Có lẽ đã gặp chú Miềng, cô Hảo (là dược sĩ chị ruột bà Hoàn),  vì cùng ở một vùng gần Washington. (…) Cu Ti (tức Thành Trung con trai tôi) đã 17 tuổi? Mình già là phải. Cầu mong sức khỏe cho toàn gia nhé: Thăm Đông nhiều (Vợ tôi) Coàn (ký)”

May cho tôi là bà Nguyễn Hoàng Oanh lại ở nhà bà Bích Liên ngay 235 Võ Thị Sáu quận 3 cùng phường với tôi. Coàn còn cho số điện thoại của bà để tôi liên hệ trước, hẹn giờ gặp.

Thế là đúng hẹn 15:00 ngày 5/6 con trai đi xe máy chở tôi đến nhận thư dài và tư liệu về Ông tôi.

Toàn văn thư Coàn viết ngày 26/5/2000 như sau:

Mến gửi Thành, Đông và cháu Trung,

Nhân có cô Oanh về, cô tranh thủ thời gian dài dòng văn tự một chút. Cái thư và bài của Thành đề ngày mùng 4 Tết (Canh Thìn) mãi đến cuối tháng ba dương lịch cô Vi mới về đến Pháp và gần 10 ngày sau mới có dịp gửi cho cô. Được tin Thành và gia đình bình yên cô mừng lắm, nhất là qua bức thư đánh máy cô nhận thấy trí nhớ của Thành thật tuyệt vời, và lời lẽ trong thư mạch lạc rõ ràng cô mừng lắm. Thế rồi, cũng như lần trước, mãi mấy tháng sau, tức là hôm nay cô mới hồi âm, cũng vì gửi cho chú Miềng xem. Cô thì dạo này không được khỏe lắm, làm việc gì cũng phải cắt quãng, dưỡng mục, dưỡng thủ, dưỡng tinh thần nên có chậm chạp.

“Chú Miềng có ý đưa đăng báo bài của Thành, cứ đề bút hiệu của Thành, xuất xứ Thành phố Hồ Chí Minh, vì cô Nhị (là nhà văn em ruột bà Trung, ông Vượng) cảm xúc viết một bài đoản văn, dựa vào ý chính đó nhưng tiểu thuyết hóa một tý, chú Miềng khen hay, cô chưa được đọc. Cô thì không quen nhà báo mấy, cô định, trong một tuyển tập đang sửa soạn in gồm một số bài của nhiều tác giả viết về Ông, cô sẽ đăng bài của Thành. Cô cần biết ngay trong hai việc này Thành có đồng ý không, và có muốn sửa đổi gì hay thêm thắt gì vào bản cô Vi đem sang không. Nếu có, khi cô Oanh về, cứ gửi cô Oanh.

“Nghe Thành nói không biết gì về việc Ngày kỷ niệm Ông (tức Ngày Phạm Quỳnh), cô lạ quá. Có lẽ cô nghe nhầm, vì hồi ở Cal (Nơi tổ chức lễ kỷ niệm) chị An và anh Đệ (Chị và anh rể tôi) nói có gửi bài và ảnh về đằng me (mẹ tôi hồi ấy sống ở Bạc Liêu nhà em gái tôi), còn chú Tuyên thì cũng chỉ gần đây có con rể Trần Hà sang Pháp công tác cô mới gửi vài bài về thôi. Vậy lần này cô gửi photo một bài tường thuật đăng ở nhật báo Người Việt ở Cali thì Thành có một bài tường thuật rõ ràng hơn là cô kể. Cô gửi thêm một bài của giáo sư dược sĩ Bửu Tập, bài cô thấy dễ thương nhất và không khô khan. Chuyện tổ chức này là hoàn toàn do sáng kiến của bốn cơ quan truyền thông ở Cali làm, và họ định ngày tháng xong mới mời gia đình tiếp tay nên cô khệ nệ mang hai chiếc vali sách và ảnh, tờ báo Tết Nam Phong, tờ số một khai trương và một ít sách trong Nam Phong tùng thư cô may mắn tìm được ở nhà một cụ mọt sách có đủ bộ! Thế là phải mượn làm photocopie chứ chẳng dám đem sách cổ của cụ, lỡ thất lạc thì chẳng sao đền được.

“Cô Vi về nói có gửi cho Thành bài của nhà báo viết trả lời ông Nguyễn Văn Trung (giáo sư nghiên cứu văn học sử định cư ở Canada) cô biết là qua internet và email, ở nhà cũng có người có rồi. Cô Vi nói: Tau chắc cháu mi chưa có nên tau đưa. Nhưng khi đưa rồi lại cận ngày về nên cũng không gặp Thành.

Đấy, có những người mình chẳng quen biết gì, họ thấy gai mắt là họ phản ứng ngay thôi (ý nói cụ Mạc Kinh tức Người Luân Đôn).

“Cô vẫn lầm lũi tìm kiếm tài liệu làm sáng tỏ con đường ông đi. Riêng loạt bài của Ông bằng Pháp văn (tức Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, trong thời gian 1922-1932 – Essais (1922-1932) –NXB Tri Thức) cũng đủ tỏ rõ con đường của ông chọn, nếu các chữ nếu được thực hiện (về phía Pháp, về phía triều đình, về phía dân trí…) hội đủ cơ duyên thì là con đường đắc sách nhất để dẫn dắt đến tự trị, rồi độc lập… Than ôi!

“Thành Đông ơi, sức khỏe các cháu thế nào. Nhất là Thành, cô cầu chúc được gặp thầy gặp thuốc cho chóng bình phục.

Cô Lãng (tức bà Phạm Thị Ngoạn, vợ nhà văn Nguyễn Tiến Lãng) thì nay cứ yên phận thôi (bà bị păckinhxơn) không đi, không đứng, không nói, thương tâm lắm. Nhưng đối với cô Lãng thì cô ấy hoàn toàn quên, nên hay tủm tỉm cười, chứ không có nét mặt buồn.

“Đến 1/6, cô Oanh lên máy bay. Đến nơi cô đã nhờ cô Oanh bỏ thư cho Thành. Có thời giờ hồi âm cho cô biết về việc bài của Thành nhé. Mến nhiều. Coàn

“T.B (viết ở lề thư) Thành ơi, cô gửi thư thăm me trên một tấm ảnh vẽ mùa xuân trong rừng, lại do một họa sĩ vẽ bằng miệng. Cô còn nhớ me vẫn thích bưu thiếp màu tươi vui mà hiện không có trong tay, cô e me ở tuổi già nhìn màu không tươi không thích, vậy cô cứ gửi, Thành xem rồi thưa lại với me là cô nhớ me và quý me lắm, cô sẽ có thư sau vậy. 1/6 cô Oanh đã đi, phải gửi thư ngay”

—o0o—

 THƯ GỬI COÀN của Tôn Thất Thành

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7-6-2000,

“Coàn yêu quí của cháu,

Chiều hôm qua, hai bố con cháu đã đến gặp bạn cô và đã nhận được thư và tài liệu cô gửi cho. Thật cảm ơn cô vô cùng, cô lại còn gửi cho cả quà nữa. Về nhà, cả nhà cháu, từng người một, đọc hết những gì cô gửi cho, và sung sướng nhận cả tấm lòng thương yêu của cô.

Bạn cô, đến tháng 9 mới về, sợ cô mong, cháu viết vội mấy hàng này.

Bài cháu viết chỉ để ghi lại những gì về Ông mà sau này người đời nên biết, mà cũng chỉ viết để con, cháu trong nhà đọc, cho nên cháu không muốn đăng lên báo. Còn nếu có in trong sách, thì lại là chuyện khác. Cháu nghĩ, nếu nay cô cho in một tập sách lấy tên là Tục ngữ ca dao, như ngày xưa ông đã cho in, trong đó bao gồm bài diễn văn ông đọc tại hội Khai Trí Tiến Đức, những câu ca dao tục ngữ cháu đã gửi cô Vi đem sang, và cuối cùng, cho phụ lục bài cháu viết về ông kèm theo đó là một số ảnh ông chụp trong thời gian đó (cháu có ảnh ông chụp mặc veston, có lẽ hồi ở Pháp và một ảnh chụp hồi viết Đông Dương tạp chí, đội khăn, mặc manteau, cháu đã có gửi cho cô Ngoạn rồi). Có lẽ một tập như vậy sẽ rất lý thú, tất cả thống nhất với nhau. Bản như vậy, ngay cả cụ “mọt sách” cô quen cũng chưa có, và chắc chắn là sẽ thích lắm. Còn cháu, cháu chỉ mong được đưng sau lưng Ông mà thôi không muốn đứng chung với ai khác để nói về ông đâu. Cô chớ cho in cháu cùng những người khác cô ạ. Cháu là người nhà, cháu của Ông mà.

Còn tên tác giả, cháu nghĩ cứ đề Phạm Tôn là đủ”

*

*      *

Năm 2001, tập sách Coàn tham gia chuẩn bị ra đời tại cơ sở xuất bản Tâm Nguyện. Đó là tập sách 460 trang tuyển tập gồm 20 bài của nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu Việt hiện sống ở nước ngoài. Tiếp đó 10 bài của Phạm Quỳnh. Đứng tên xuất bản là Ủy ban Vận động Phục hồi Danh dự Nhà Học giả Phạm Quỳnh. Tôi không biết họ là những ai…

Coàn đã tôn trọng ý kiến của tôi nên trong sách không có bài Người Nặng Lòng với Tiếng Ta của tôi.

Ky Nguyen Moi va giai oan lap mot dan trang

Nhưng do ông em họ đã sang định cư tại Mỹ tiếp tục làm báo, có bản thảo cũ (thiếu phần viết về Nguyễn Du) đã đưa lên tạp chí Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6/2001). Vì biết tôi từ chối từ khi đưa ông đọc bài này ở Việt Nam, nên tôi không nhận được nhuận bút, không có cả báo biếu có bài mình viết. Tôi hiểu nên không trách ông, chỉ tiếc là lại dùng bản chưa hoàn chỉnh…

Phạm Tôn viết thêm ngày 30/12/2021, tại thành phố Hồ Chí Minh

Tháng Một 13, 2022

Bạn già và Smartphone

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 2 năm 2021.

BẠN GIÀ VÀ SMARTPHONE

Phạm Tôn

60 năm mới bắt liên lạc được với bạn già cùng Học viện Nông Lâm năm xưa. Do Phạm Quang Tấn cho số tôi dùng điện thoại Samsung (giá có 300.000 đồng) gọi cho bạn Vũ Duy Giảng ở Hà Nội. Đủ thứ chuyện, cả hai cứ nói mãi nói mãi cho đến lúc bạn hỏi tôi: Anh dùng Zalo hay Viber. Tôi không hiểu gì cả; hỏi lại thì bạn vẫn nói như thế. Bạn sợ tôi tốn nhiều tiền! Tôi nói thật tôi vẫn dùng điện thoại không thông minh, nhưng con trai bao cấp tức thanh toán kiểu trả trước, tôi chỉ việc nói. Sau tôi hỏi con mới biết là bạn dùng điện thoại thông minh, ngoài nói còn nhiều cách nhắn tin, truyền hình ảnh khác rất tiện lợi. Tôi ngỏ ý cũng muốn có điện thoại như thế. Con trai đặt hàng mua máy Vinsmart vì biết tôi thích dùng sản phẩm của nước mình. Có máy rồi, tôi báo cho các bạn cũ lưu số của nhau. Ai cũng vui vẻ. Nhưng từ đấy, nhiều chuyện bắt đầu.

Một hôm nhận được chuông điện thoại Ngô Đình Tâm cùng lớp 10E Chu Văn An ra trường năm 1958. Chưa quen dùng máy mới, tôi bấm vào một hình. Điện thoại tắt. Tâm lại gọi. Lại tắt. Cứ thế ba bốn lần rồi thôi. Một lát sau, có chuông reo ở cửa vào cầu thang lên nhà tôi. Tôi vội xuống thì thấy không phải chỉ có Tâm mà đi cùng còn có Tô Hải cùng lớp, đi xe đạp điện, bó băng keo kín chỗ pin bị giập do ngã. Hai bạn cùng bảo gọi mấy lần không được, sợ có chuyện gì phải rủ nhau đến tận nhà xem sao. Tôi mời hai bạn lên  nhà, cả hai lắc đầu kêu mệt lắm, trông cầu thang dốc ngược là hãi, cứ ngồi ở bậc tam cấp nhà sát vách nhà tôi mà nói chuyện thôi. Vì tôi 80 tuổi nhưng là người ít tuổi nhất lớp và cả khối 10 trường Chu Văn An dạo ấy.

Nguyễn Hùng Cường  10C cho số điện thoại, tôi liên lạc được với Nguyễn Văn Long cùng lớp cùng tổ. Long bảo thích gọi viđêô để thấy mặt nhau cho chắc là đã gặp bạn và nói chuyện với bạn mình. Lại nói đủ thứ chuyện, hơn nửa thế kỷ rồi còn gì. Phải khoe con khoe cháu chắt cho nhau. Khi vãn chuyện chào nhau rồi mà cả tôi và Long đều không biết tắt thế nào. Con tôi đã dặn cứ nhấn dứt khoát vào vòng tròn đỏ là sẽ tắt. Nhưng có thấy vòng đỏ nào đâu! Cứ loay hoay mãi đến lúc thấy Long gọi cháu đích tôn bế con gái đi qua sau lưng nhờ tắt hộ mới xong.

Bạn Vũ Văn Chỉ cùng học Nông Lâm, kém tôi 2 tuổi nay cũng gần 80 nhưng khỏe mạnh, cùng một số đồng nghiệp khóa sau mở trung tâm thú y, chủ yếu chữa bệnh cho thú cưng của các gia đình trong vùng Thị xã Sơn Tây. Làm việc không có ngày nghỉ, còn có tài khoản trên Zalo là Chỉ Thú Y, rất đông khách vì mát tay lại tận tâm. Chỉ mới mua smartphone cỡ xịn, ba mắt thu. Tôi truyền cho bạn hình con trai tôi ngày Tết lễ chùa thăm mẹ tôi để di cốt ở đấy. Nhận được hình, bạn vui vẻ khen qua tin nhắn: Dùng thuốc nhuộm tóc trông trẻ ra đấy! Tôi sinh con năm 43 tuổi. Con giống cha làm bạn già lầm.

Tôi lại nhắn Phạm Quang Tấn bằng tuổi tôi liên lạc với Chỉ. Tấn nói: Nó là đàn em phải gọi trước chứ. Tôi nhắc Chỉ. Chỉ báo lại với  tôi số điện thoại của Tấn là số cũ,phải tra cứu mới tìm  ra số mới, gọi rồi, nhưng Tấn điếc lắm nói chuyện rất khó! Hỏi Tấn  xong, tôi nhắn  lại cho Chỉ: Chỉ chê nó điếc, nó lại  nói Chỉ nói lắp khó nghe quá. Tấn, Chỉ cùng một tổ, tôi ở tổ bên cạnh. Do trò chuyện, tôi biết lớp chăn nuôi khóa 5 tôi học hơn một phần ba qua đời rồi! Cố gom góp số còn lại vậy! Đồ vật mới thì tốt, nhưng bạn bè càng cũ càng quí!

Năm 2019, bắt đầu Covid-19, bọn cùng học Chu Văn An sống ở TPHCM cố giữ nếp họp mặt hằng năm vào dịp Tết. Ngày 9/2/2020, con trai đưa tôi đến nhà hàng Cổ Ngư theo giấy báo của Đinh Đức Bảo một bạn tháo vát khéo tổ chức, chụp ảnh thạo còn có tài lẻ nữa. Lần ấy, tôi và Bảo nhìn nhau, chờ mỏi mắt vẫn chỉ có ta với ta. Bảo nói có dịch, không ai đến đâu, để tôi gọi món. Xem thực đơn, tôi chọn Phở cuốn là món mới. Bảo gọi xúp hải sản. Không gọi đồ uống như mọi khi. Hai tôi ăn xong nhanh chóng. Bảo nói còn chờ phở nữa chứ. Tôi bảo hết rồi, tôi xem tivi thấy cái mình vừa ăn gọi là phở cuốn đấy, bánh phở cuộn ít thịt và rau gia vị thôi.

Trà và mứt kẹo vợ chồng Bảo chuẩn bị cũng nhiều, anh bảo tôi đem về cho các cháu, kẹo này cháu ở Mỹ gửi về đấy, ngon lắm. Chia tay bạn, tôi gọi con đến đón mang về bao nhiêu là quà cho các cháu. Còn tôi có hạt bí rang, vợ bạn chuẩn bị khá nhiều, cô bảo em xem viđêô Tết trước, thấy có một anh toàn ăn hạt bí. Đó là tôi, bị tiểu đường hơn 20 năm nay, cái gì ngon ngọt có dám ăn đâu.

23:48 ngày 9/2/2021, Bảo nhắn: Năm nay lại không tổ chức gặp nhau được nữa rồi, covid ác quá, nhớ nhau quá! Làm sao bây giờ???

Tôi chuyển hình tôi và Bảo đứng bên nhau ngày 9/2/2020 trước bàn bày la liệt bánh kẹo mứt trà rượu cho Nguyễn Văn Long ở Hà Nội. Nhận được hình, Long nhắn tin hỏi: Cậu đứng với con hay cháu đấy? Thấy có khăn quàng đỏ.. Hóa ra tại Bảo mặc sơ mi trắng nhưng cà vạt có nhiều phần đỏ đỏ. Ít lâu sau, tôi gọi điện cho bạn thì vợ bạn bắt máy vì bạn không nghe được nữa. Rồi mấy hôm sau mở địa chỉ của bạn có phát một clip nhạc dance (khiêu vũ), trong khung cảnh đẹp và vũ công độc diễn điệu nghệ lại chính là Đinh Đức Bảo. Lần đầu tôi biết biệt tài này của anh.

Rồi Nguyễn Văn Long hơn tôi 6 tuổi gọi. Trái với mọi khi bao giờ cũng viđêô, hôm nay chỉ nói: Anh cho biết mắt suy nghiêm trọng, không đọc được, xem hình cũng khó, đã đi khám và bắt đầu nhỏ thuốc.

Một hôm, Phạm Quang Tuấn nhắn tin cho tôi. Phạm Quang Tuấn là kỹ sơ cơ khí. Chính Tuấn đã theo lời nhắn của biên tập viên Phạm Đạo của báo Nhân Dân  là em rể Tấn do tôi nhờ cậy đã lái xe hơi đưa Phạm Quang Tấn đến thăm gia đình tôi tại 82 Lý Chính Thắng TP HCM cho hai bạn già gặp nhau sau nửa thế kỷ. Hôm ấy, Tuấn đề nghị chụp một bức ảnh kỷ niệm. Tôi từ chối vì đầu bù tóc rối chưa cắt tóc được, mà cũng không ngờ là đến nay chưa gặp lại bạn cứ ân hận mãi đã không nghe lời cháu. Tấn ngồi ngay xuống sàn nhà, cạnh chỗ vợ tôi nằm liệt giường, nói chuyện với tôi ngồi ghế xích đu trước máy chữ. Bạn khoe vẫn khỏe mạnh, trí nhớ rất tốt, kể về các bạn cùng lớp cũ, đặc biệt vợ chồng Ngô Vân Anh – Vũ Duy Giảng. Sau lần gặp đó, Tuấn nhận thu Blog PhamTon và in gửi cho bố đọc thường xuyên. Tình cảm viễn thông của chúng tôi kéo dài đến khi Tuấn báo tin cho tôi là bố bị tai biến nhẹ, có bị sốt, hy vọng hai ba hôm nữa sẽ khỏe. Tôi nhắn: Bố cháu có uống rượu đấy. Hôm bác gọi, mẹ cháu bảo bố đang say. Bác bảo say càng tốt chứ sao. Vì say thì thường nói thật; bác nghe nói dối nhiều rồi, nay thèm nghe nói thật. Cháu nhắn lại ngay: Bố cháu chưa nói dối bao giờ. Tôi lại nhắn: Bác thân với bố cháu chính vì đức tính ấy. Chuyện tày trời là bố đứng ra bênh vực bác hồi cùng học Nông Lâm trước bí thư chi bộ đến nỗi bị loại khỏi diện cảm tình Đảng. Mà đến hôm cháu đưa đến nhà bác 60 năm sau, bố mới kể cho bác biết, cũng cho biết là đội viên đội thiếu sinh quân do cậu bác là nhạc sĩ Phạm Tuyên làm đại đội trưởng.

Vài hôm sau, Tuấn nhắn tin: Bố cháu hôm nay mệt, phải nằm bệnh viện rồi. Mùa covid họ không cho người nhà vào theo. Tôi nhắn: Chúng ta ít hiểu về những người gần với mình nhất. Thường khi biết thì đã muộn. Cháu nhắn: Dạ. Vì ai cũng giữ riêng “phần bí mật” ạ. Tôi: Đáng tiếc là đúng như vậy. Người tốt thường không phô trương. Thùng rỗng mới kêu to mà. Cháu: Hai bác cố gắng giữ gìn sức khỏe. Bố cháu thời gian qua ăn uống khó khăn quá nên xuống sức, phải đi bệnh viện mùa này khổ quá. Tôi: Hôm trò chuyện,  bố cháu đố bác mong ước lớn nhất của bố cháu là gì khi đại dịch giảm, được đi lại bình thường. Bác chịu, thì bố bảo là tôi sẽ bảo thằng Tuấn nó đưa đến nhà cậu chơi hẳn một buổi. Tội nghiệp thế đấy! Cháu: Dạ, lúc này cháu lại nghe Tùng Dương hát bài Mẹ tôi để thấy câu “thương cha chí lớn không thành”. Cháu: Bố cháu sau khi được tiếp nước, có khá lên ạ. Còn cho cả ảnh Tấn với lời nhắn: Tươi rồi bác ạ. Cháu động viên cố gắng ăn cho khỏe để về. Bố nhiễm Covid, bao giờ âm tính thì được về. Tôi nhắn: Yên tâm rồi, Biết ơn cháu đã cứu bạn bác kịp thời. Cháu vất vả mà yên tâm.. Cháu: Mấy bữa trước lúc bố cháu ở nhà thì cháu có thức đêm. Giờ họ không cho vào nên chỉ thỉnh thoảng xem qua màn hình của nhân viên điều dưỡng. Tôi: cũng còn hơn là không có gì!

Ít lâu sau, cháu nhắn: Họ cho bố cháu ra viện rồi. Kèm cả hình giấy ra viện.

Tôi xin tài khoản để gửi chút quà mừng bạn ra viện, nhưng cháu nhắn: Dạ, cháu cảm ơn bác. Bác nói chuyện động viên bố cháu là quý rồi ạ. Nhờ bác nói mấy câu mà trưa nay bố cháu ăn khỏe ạ, cả nhà vui lắm bác ạ. Cảm ơn bác nhiều. Tôi: Bố kêu mệt lắm…Cháu: Dạ, chắc ăn được là vài bữa sẽ khỏe lại ạ. Tôi: Mong là thế.

Ít lâu sau, Tuấn nhắn: Bố cháu đến hôm nay đã khá hơn. Nhưng tập luyện không tích cực, nên sức khỏe chưa tiến triển tốt hơn…

Phạm Quang Tấn về nhà có vợ chăm nom chu đáo. Cứ mỗi chiều thứ bảy, bà còn làm cầu nối giữa hai chúng tôi: Tôi gọi là bà mở máy chuyển cho Tấn và để chúng tôi nhìn nhau mà trò chuyện thoải mái. Do gọi viđêô nên tôi còn thấy chỗ Tấn ở (tại thị xã Dĩ An, Bình Dương) rộng rãi sáng sủa, thoải mái. Góc buồng còn thấy để xe lăn và cả khung đi bộ có bánh xe. Hai thứ này nhà tôi cũng có để vợ tôi dùng trước đây, nay thì bỏ xó. Tôi mong còn lâu mới phải dùng.

Thế là Phạm Quang Tấn, người kém nhất trong chúng tôi về sử dụng smartphone nay lại là người sử dụng hiệu quả nhất. Do tình thương yêu của vợ, con trai, con gái con dâu con rể luôn phụ giúp đầy yêu thương.

Vài lời về bạn già chúng tôi và smartphone là thế đấy, vui có, buồn cũng có, nhưng nói chung là giúp chúng tôi sống đoàn kết thân ái với nhau hơn xưa.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5/1/2021,

thời bình thường mới, đang dần phục hồi,

 Tất nhiên vẫn phải nghiêm chỉnh thực hiện

5K theo khuyến cáo của y tế địa phương.

P.T.

Tháng Một 10, 2022

Một truyện ngắn đã ra đời thế đấy

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 1 năm 2022.

MỘT TRUYỆN NGẮN ĐÃ RA ĐỜI THẾ ĐẤY

Phạm Tôn

Tối 16/11/1967, tôi gặp cô Trần Thị Phúc, một công nhân băng chuyền, cốt cán trong tốp ca nữ đang ôm súng khoác chăn trực tự vệ ở bờ sông. Tôi nhờ cô lên đài truyền thanh cảng xin cho tờ báo Quân đội Nhân Dân hôm nay có bài về việc Anh Phạm Hồng Sơn đã từ trần. Đọc xong, tôi cùng cụ Nguyễn Văn Sán còn ở lại trụ sở Đội 5 trò chuyện về Anh và những con người như Anh đến khuya. PHam Hong SonHôm sau về nhà 16 Hàng Da, tôi tìm xem Anh mất rồi, còn tôi giữ được gì về Anh. Trước tiên là rà lại nhật ký từ ngày tôi liên lạc tiếp xúc với Anh, đánh dấu bằng những mảnh giấy nhỏ. Xong, lại tìm những thư Anh gửi cho tôi, trong đó có một thư gửi chị dâu Thanh Thủy của tôi trả lời thư chị. Thấy thiếu một số thư Anh gửi cho tôi mà khi nhận tôi có trích ghi lại trong nhật ký.

Xong hai việc sưu tầm đó, tôi nghĩ mình chẳng gì cũng là một người ham viết, không thể không viết gì về Anh. Thể loại ham thích nhất là truyện ngắn, sao lại không cố viết một truyện ngắn về một người như Anh. Sẽ không lấy tên thật của Anh, mà học theo Bôrix Pôlêvôi khi viết Một con người chân chính về anh hùng phi công Marétxép đã biến tên nhân vật thành Marét-xiép cho dễ viết các phần cần hư cấu. Ban đầu, tôi chọn tên Phạm Thanh Sơn, rồi Phạm Thanh, cuối cùng chuyển hẳn thành Nguyễn Kiên Cường, nêu bật tính cách chủ yếu của Anh. Bối cảnh diễn ra sự kiện là làng quê, nơi quân y viện sơ tán, trong gian điều trị bệnh nhân nặng. Thời gian là giai đoạn sau khi Anh phát hiện bị viêm thận giai đoạn cuối, cũng là đoạn cuối cuộc đời Anh. Và tên truyện, tự nhiên bật ra: Khúc ca chiến thắng! Nhân vật tôi thành một thầy giáo nông thôn, có bệnh nhưng không nhiều và trầm trọng như nguyên mẫu là tôi. Còn thêm hai nhân vật thiếu nhi, cô hộ lý và tập thể cán bộ y tế chăm sóc trạm quân y dã chiến này.Ton That thanh chup cung bac Tan (anh tach rieng)

Rồi cứ thế, tôi nhẩn nha viết ngày này sang ngày khác, không bị thời hạn nào thúc bách. Vì chỉ viết theo ý mình, theo yêu cầu của bản thân muốn tưởng nhớ Anh thôi. Cứ viết rồi sửa đến lúc thấy không thể viết tốt hơn thì ngừng. Thế rồi truyện ngắn tôi thành tâm viết về Anh cũng hoàn thành ngày 25/4/1968. Thời gian khá dài. Sửa đi viết lại cũng nhiều lần. Chính thức có ba bản thảo. Sau đó chép nắn nót vào một quyển sổ, bìa có hình ngọn hải đăng tỏa sáng. Quyển này có ba phần: Nhật ký về một con người – chép lại nguyên văn nhật ký tôi ghi. Những lá thư của Anh – chép lại nguyên văn những thư Anh viết tôi còn giữ được. Và cuối cùng là Khúc ca chiến thắng

Tôi đã đưa nhiều người đọc. Mẹ tôi bảo con viết theo tấm gương Anh, mẹ đọc xúc động lắm. Còn Rosa người yêu đầu của tôi thì nói đọc phần nhật ký và thư thì không hiểu rõ lắm, đọc Khúc ca chiến thắng em cảm động quá.

Nhưng không hiểu sao những ngày này tôi tìm đâu cũng không thấy quyển sổ có hải đăng đó. May thay, tìm được mấy bản thảo khác nhau, hình thành bản thảo đầu tiên hoàn chỉnh, viết trên những trang giấy xám đen khác nhau.

Xin đưa ra mời bạn đọc chơi với lòng bao dung cho tấm lòng chân thành của tôi một thời tuổi trẻ U.30. Tấm lòng của tôi với Anh.

Khuc ca chien thang ban 1-1

Tong ket khuc ca chien thang

Khuc ca chien thang ban 1

Khucc a chien thang ban 3

P.T.

KHÚC CA CHIẾN THẮNG

Truyện ngắn của Trung Thành

Trời đã đứng bóng. Không một ngọn gió. Không một tiếng chim hót… Có con gà nhà nào gáy dở, cất tiếng ồ ồ kéo dài, nghe buồn não ruột.

Nguyễn Kiên Cường nghe tiếng gà, lòng lại thấy vui vui. Anh đặt bút xuống mép giường, tay trái khẽ nhắc tấm ván mỏng, để tập bản thảo đang chép dở sang một bên. Anh vặn mình cho đỡ mỏi, nheo đôi mắt đen rất tươi có đuôi dài hơi cụp xuống, nhìn qua những song nứa thanh mảnh ở cửa sổ, trông ra sân…Nghe tiếng gáy anh đã biết là chú gà trụi rồi. Nhưng anh vẫn muốn tận mắt ngắm chú ta gáy. Thật là ngộ nghĩnh. Chú nhắm nghiền hai mắt lại, vươn cao cái cổ đỏ gay lởm chởm mấy cọng lông trắng, khẽ vỗ đôi cánh cụt lủn, lơ thơ mấy chiếc lông đen nhợt nhạt, há hốc cái mỏ vàng chóe ngăn ngắn… Lần nào ngắm chú ta gáy anh cũng thầm nghĩ: Cái tư thế chú thảm hại quá, làm sao tiếng gáy của chú oai hùng được đây?!!Pham Hong Son Y Ta

Ánh nắng hắt vào nhà mà vẫn còn khá gắt. Trên nền gối xanh thẫm nổi bật khuôn mặt trắng bệch bạc với cặp lông mày rậm, đôi hàm hơi to có dáng cương nghị. Và có vẻ như hơi lạc lõng, trên khuôn mặt ấy có đôi môi đỏ rất tươi. Môi trên hơi cong mỏng. Hai bên mép hơi hằn ngược lên làm cái miệng lúc nào cũng như đang cười. Kiên Cường vừa co ruỗi xoa bóp bàn tay phải, vừa mỉm cười. Anh tham quá! Nếu không có chú gà phải gió ấy, có lẽ anh vẫn còn gò lưng ngồi trên giường mà chép. Ai ngờ mỏi đến thế này, mà cũng mệt quá mất rồi! Anh xem đồng hồ: Mười hai giờ mười phút. Hơn sáu giờ làm việc liền không một phút nghỉ rồi còn gì… Mí mắt nặng trĩu, anh  buồn ngủ lạ thường. Anh lật gối, lấy ra cái máy thu thanh nhỏ chạy pin, mở. Một khúc nhạc hùng tráng vang lên. Khúc quân hành quen thuộc của tiểu đoàn oai hùng năm xưa… Kiên Cường ngả mình trên gối, nhắm mắt lại… Có chị hộ lý trẻ mặc áo choàng xanh rêu, đứng ở mé cửa đã lâu, mặt đỏ ửng vì nắng. Chị nhanh nhẹn vào buồng, thu dọn cái bút, tập bản thảo, tấm ván và đặt cạnh giường một chiếc ghế đẩu rồi nhẹ nhàng bước ra.

Kiên Cường không hay biết gì. Bên tai anh vẫn vang lên khúc quân hành năm xưa…

Anh còn nhớ lần đầu được nghe bài ca ấy. Bấy giờ, anh đã là tiểu đoàn trưởng, mặc dầu tuổi đời chưa quá hai nhăm. Sau một trận đánh, anh đang ngồi dưới gốc cây trong khu rừng thưa trú quân ghi vội nhật ký, thì chính trị viên đến bên. Anh ta vui vẻ chỉ vào người cùng đi, nói với anh: Một nhà thơ, một nhạc sĩ mình mới phát hiện cậu ạ. Cậu, cậu hát cái bài vừa rồi đi. Thật hùng dũng hiên ngang vào!

Từ đấy, bài hát trở thành của chung cả tiểu đoàn, của riêng từng chiến sĩ. Chính Kiên Cường cũng đã nắn nót chép lời cả bài gửi về quê nhà, coi như lời hứa hẹn, lời thề. Giờ đây, những âm thanh không lời này lại gợi lên trong anh biết bao hình ảnh, kỷ niệm của cuộc sống sôi nổi cách đây hơn hai mươi năm rồi, mà không hiểu sao lại gần gũi tưởng như mới hôm qua thôi… Anh nhớ lại những ngày chiến đấu ở đồng bằng Nam Bộ, nhớ cái tình cảm sâu xa những ngày kỳ lạ, hơi có vẻ thần bí của đồng bào vùng theo Đạo Hòa Hảo, nhớ những đêm nằm võng ngủ rừng, những lần phải rút lui, nhờ sự giúp đỡ của đồng bào Khơ me mà bỗng biến thành cuộc phản công thắng lợi vẻ vang.

Anh nhớ từng khuôn mặt từng giọng nói, từng thói quen nhỏ nhặt của đồng đội. Nhiều người đã hy sinh. Mỗi cái chết một khác. Nhưng không có cái chết nào hèn nhát cả. Anh cùng đồng đội sống chết có nhau. Có trận đánh nào anh lại không dẫn đầu. Anh biết như thế là mạo hiểm và không phải khi nào cũng cần thiết, nhưng anh không thể làm khác. Nhiều lúc anh ngạc nhiên không hiểu sao mình vẫn còn sống. Anh đã vuốt mắt, đào huyệt cho biết bao đồng chí trẻ tuổi đời hơn mình nhiều. Không bao giờ quên các đồng chí đã hy sinh, anh cảm thấy họ vẫn sống, sống ngay bên anh, sống ngay trong anh. Những lúc gặp khó khăn, anh nghĩ đén họ, hỏi ý kiến họ. Nhưng hình như lần nào họ cũng cười không ai trả lời anh, ý như muốn nói: Anh cứ đùa thế chứ, anh hiểu thừa lúc này phải hành động thế nào rồi còn gì!

Trận chiến cuối cùng trước ngày Hòa Bình lập lại, tiểu đoàn anh thu được cả xe gíp, xe tăng. Anh mệt lả. Anh em buộc anh phải lên ngồi xe gíp. Chính anh đã bị trọng thương trên xe gíp này. Một lũ giặc hèn nhát vừa tháo chạy vừa quay lại bắn hú họa về phía sau bằng súng máy. Một viên đạn mồ côi đã tiện đứt cột sống lưng anh… Mười ba năm nay, anh nằm qua đã nhiều bệnh viện, mổ xẻ cũng mấy chục lần. Nửa người dưới vẫn hoàn toàn bại liệt. Vết thương vẫn rỉ nước vàng đau nhức.

Anh không để ý gì đến bệnh tật nữa,ngày đêm học tiếng nước ngoài. Thật bại nhiều phen, nhưng rồi những cuốn sách dịch đầu tiên của anh đã ra mắt bạn đọc. Anh đã trở về đội ngũ. Anh đã chiến thắng!Pham Hong Son Y Ta Dich Sach

Bom đạn giặc Pháp im tiếng chưa bao lâu thì giặc Mỹ đã kéo đến, gieo rắc chết chóc trên miền Nam yêu dấu ân tình của anh. Rồi tên lửa, bom bi Mỹ lại gieo rắc chết chóc trên miền Bắc quê hương anh. Quân y viện phải sơ tán. Anh phải rời tủ sách quen thuộc của bệnh viện, rời ngọn đèn điện giúp anh làm việc thâu đêm trong bất kể thời tiết nào, rời những người bạn chí thiết một lòng một dạ chung sức với anh làm những việc vì mọi người.

Cách đây hai năm trước khi sơ tán, anh còn biết thêm một trở ngại mới: Anh bị cả bệnh viêm thận. Tỷ lệ u rê trong máu đã đến mức không thể chữa khỏi.

Hôm chuyển hẳn sang chữa bệnh bằng Đông y, các bác sĩ tốt bụng đã hết lời ca ngợi phương pháp chữa mới này là nhiều triển vọng. Nhưng uống bát thuốc đầu tiên, anh đã bình tĩnh nghĩ thật giản dị: Mình còn ít thời gian lắm đây

Chị hộ lý nhẹ nhàng bưng vào một khay cơm, mắt sáng lên tự hào vì bữa ăn ngon lành hôm nay. Có rau xà lách xanh nõn. Có canh cá giấm nóng hổi, ngon lành. Cà chua đỏ. Mùi ngò om xông lên dìu dịu, thơm thơm.

Nghe tiếng động, Kiên Cường ngoảnh lại.  Chị hộ lý nói: Em chờ mãi. Thấy anh nghỉ rồi em mới hâm lại canh. Cá chép tươi ngon lắm anh ạ.

Nhìn khay cơm, Kiên Cường ngạc nhiên, nhíu cặp mày rậm lại. Đôi mắt đen có đuôi dài càng tươi: Tốt quá, cảm ơn cô…Hôm nay lại dám cho tôi ăn cả rau sống cơ à? Đại úy cau có đi vắng hay sao?…

Chị hộ lý trẻ buột miệng: Chính đại úy bảo em, từ hôm nay trở đi đồng chí ấy thích thứ gì thì cứ dọn cho ăn uống thứ ấy… Vì thế nên em cũng…

Chợt thấy Kiên Cường hơi cau mày nhìn mình bằng cặp mắt dò hỏi chân thành, chị bối rối quay đi. Lúc quay lại, hai mắt đỏ hoe, chị đưa tay dụi mãi. Rồi nói: Em đun rạ, nó khói quá đi mất anh ạ…

Chị nói giọng run run, rồi lẩn mau ra, lấy cớ là vội đun nước, kẻo bếp rơm mau tàn lắm.

Kiên Cường ăn chậm rãi. Anh cố ăn cho hết bát canh và đĩa rau sống để vui lòng chị hộ lý tốt bụng. Trên đời này, còn nhiều người tốt với anh quá. Anh không có quyền phụ lòng yêu thương tin cậy của họ. Anh phải sống, phải tiếp tục làm việc làm việc nhiều hơn nữa. Mải suy nghĩ miên man anh không ngờ mình ăn nổi suất cơm. Lúc chị hộ lý đem nước sôi đến, nhìn khay cơm, chị mừng rỡ mỉm cười thẹn thùng. Anh nói: Cô nấu khéo lắm: đúng kiểu canh chua Nam Bộ. Chị rót cho anh chén nước, thì anh cười, nói: Tôi còn phải uống món này trước đã chứ. Rồi vui vẻ với  tay lấy chai dầu paraphin to màu nâu, rót một cốc đầy, đưa lên miệng, nhắm mắt uống một hơi hết sạch.

Chị hộ lý rùng mình nhìn cảnh ấy. Chị biết là cần thiết cho việc tiêu hóa nhưng không sao cầm lòng được mỗi khi thấy anh uống dầu sánh hằng ngày như thế. Cuộc dời anh, hỏi còn có gì vui…

Chị thu dọn khay bát xong, thì anh đã lại tiếp tục cắm cúi chép bản thảo rồi. Chị biết anh cần ngủ, rất cần ngủ. Nhưng chị không dám ngăn cản anh làm việc… Từ ngày đi sơ tán, không có điện, không làm việc tối được, anh đã bỏ hẳn cái lệ ngủ buổi trưa theo qui định. Các bác sĩ, kể cả đại úy cau có đều biết nhưng làm ngơ…

2.

Đã hơn một tuần nay, hễ ngủ là Kiên Cường lại đắm mình vào những giấc mơ kỳ lạ nhưng lại hết sức mơ hồ, khủng khiếp, không đầu không đuôi. Sáng ra không tài nào nhớ được chút gì, chỉ cảm thấy rất căng thẳng, gay gắt. Thường thường ngủ dậy, mới bắt đầu làm việc người đã thấy bải hoải. Đến lúc nghỉ ăn trưa thì đã mệt nhoài rồi.

Anh mở máy thu thanh, từ từ nhắm mắt lại. Nghe thì chỉ dùng tai là được rồi. Mở mắt làm gì cho nó mỏi. Có khi còn không tập trung nghe được tốt nữa là khác. Dạo này, nhất cử nhất động anh đều tính toán căn cơ. Tiết kiệm đến mức tối đa. Lắm khi, chính anh cũng phải bật cười về cái tính chi li hà tiện quá quắt này của mình.

Có mấy con ruồi cứ vo ve bậu vào mặt. Anh bực mình buông màn, tiếp tục nhắm mắt nằm nghe tin tức.

Cửa khẽ hé mở. Một thanh niên cao gầy, mặc quần áo bộ đội đã bạc màu bước vào. Đặt mấy tập sách dầy mới mang đến lên mặt bàn, anh đứng tần ngần một lát, rồi nhẹ nhàng nhắc chiếc ghế, đặt gần vách đối diện với giường, khẽ ngồi xuống. Không một va chạm nhỏ, không một tiếng động. Hình như anh còn nín cả thở từ khi vào gian buồng nhỏ này. Anh trìu mến nhìn quanh gian buồng quen thuộc. Vách trát vội, còn lởm chởm cả cọng rơm. Nền nhà cũng chưa nhẵn, đất dầy lên ở các góc buồng, chân giường, cạnh cửa sổ nhỏ là một cái bàn mộc hẹp trên có để mấy tờ báo. Hai cái ghế, một cái anh đang ngồi, một cái để sát gường đặt mấy cuốn sách và tập bản thảo đang chép dở. Cạnh đầu giường là cái tủ con loại thường thấy ở các bệnh viện. Ngăn trên sách xếp đứng chặt cả. Gáy sách nhiều màu. Trên mặt tủ, có cái khung ảnh và một lọ hoa. Ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi cắt ở báo ra. Dưới ảnh là dòng chữ viết nắn nót bằng bút chì xanh đỏ Sống oanh liệt. Chết anh hùng. Không biết sao chữ sống viết bằng màu xanh, còn chữ chết lại viết màu đỏ. Dòng chữ này tuần trước chưa thấy. Cái lọ hoa, chỉ nhỏ như ngón tay cái người lớn thôi, bằng đồng vàng óng quà của một chi đoàn thợ tiện tặng. Trong lọ cắm trang trọng mấy bông hoa nhỏ xíu, cánh phơn phớt xanh da trời, có nhị vàng, thứ hoa cỏ thường thấy ở các bờ ruộng những ngày hè… Anh thanh niên tiếp tục nhìn quanh như tìm kiếm vật gì. Thấy cái âu thủy tinh để ở chân giường, anh có vẻ ngạc nhiên, rồi cau đôi mày nhỏ gọn như lá liễu. Đấy là quà của học sinh một trường Hoa Kiều sơ tán gần đây tặng anh. Một cái bể cá có rong xanh, nuôi nhiều loại cá, có con vàng óng, có con đen tuyền, còn có con vằn xanh vằn đỏ; có con nhanh nhẹn lao vút, có con lờ lững bơi, có con mềm mại ở yên một chỗ khẽ vung vẩy đuôi vây. Những người bệnh lâu năm liệt giường thấy những con vật sinh động, vui mắt như thế thường rất thích. Kiên Cường cũng từng rất quí yêu cái bể cá này. Tuần trước, chính anh còn giới thiệu tỉ mỉ từng loại cá một, kể cả tính nết từng con…

Anh thanh niên suy nghĩ một lát rồi rút bút viết mấy dòng chữ mực đỏ (dùng chấm bài cho học trò) vào một trang giấy xé ở sổ tay. Rồi nhẹ nhàng đặt tờ giấy lên mặt tủ con, lấy cái khung ảnh chặn lên trên. Đến bên giường, anh nhẹ nhàng tắt máy thu thanh. Anh rón rén quay ra, bỗng nghe tiếng gọi: Đồng chí Trung. Vội quay lại đã thấy Kiên Cường vén màn nháy nháy mắt tươi cười: Không hiểu sao không hẹn mà tôi cứ chờ đồng chí. Tin là hôm nay thể nào đồng chí cũng đến. Thế mà hóa ra thật!

Nhận thấy mắt Kiên Cường húp lên, đôi má đầy đặt, tuy nước da còn bệch bạc, Trung cũng vui vẻ nói: Anh chóng lại người thật đấy anh Cường ạ! Trông anh béo ra…

Kiên Cường nheo mắt cười hóm hỉnh: Phồn vinh giả tạo đấy! Phù rồi. Chiến dịch ăn nhạt bắt đầu năm hôm nay rồi.

Trung cố lấy giọng vui vẻ, nói nhanh: Cái…cái bể cá của anh đẹp thế, sao lại bỏ xó vậy.

Cường biết Trung muốn chuyển hướng câu chuyện, thầm cảm ơn bạn trẻ tinh ý. Anh nói chậm rãi, như phân trần: Mình cũng tiếc lắm chứ… Cứ ngắm mãi, đến một hôm thấy con cá đen chết, mình mới nhớ ra là phải thay nước, còn phải cho cá ăn giun chỉ…Thế là lại nghĩ đến chuyện rắc rối mỗi lần các đồng chí tắm cho mình, hằng ngày cho mình ăn uống, phục vụ mình săn sóc mình… Chẳng nhẽ đến cái trò chơi của mình, cũng lại bắt các đồng chí phục vụ nữa sao… Cá, mình đem cho lũ trẻ trong xóm thường đến chơi đem về nuôi. Từ đấy mới thấy thoải mái…Ban day xe Pham Hong Son

Cường nói chuyện thỉnh thoảng lại nhíu đôi mày rậm một thoáng rồi giãn ra ngay như thể anh phải chống lại những cơn đau đột ngột mà không muốn để người khác biết. Những giây phút ấy anh nhắm mắt  lại và cả thân mình cứng đơ ra. Nhưng ngay sau đó lại thấy miệng anh nở nụ cười tươi. Đôi mắt có đuôi dài lại ánh lên những tia sáng yêu đời, nồng nhiệt.

Trung ân hận về câu nói vô tình của mình đã làm Cường suy nghĩ. Anh thận trọng cân nhắc một lát mới nói: Em cứ mang sách đến cho anh, nhưng chưa hiểu ý anh định thế nào? Cái kế hoạch…

Cường ngắt lời: Bây giờ, mình hoàn toàn tán thành, tán thành cái kế hoạch tổi thiểu của Trung! Học theo giáo trình Đại học Tổng hợp thì dài quá. Mà không hiểu học rồi mình dùng những thứ ấy vào đâu, để làm gì… Mình còn rất ít thời gian. Phần lớn, tất nhiên là để dịch sách rồi. Dẫu sau cũng phải ưu tiên cho sản xuất. Sản xuất là chính, tích lũy chỉ là phụ… Mình còn ít thời gian lắm. Bây giờ mới bắt đầu mùa hè, cái mùa làm mình khốn khổ, năng suất rất kém…

Nghe Cường rành rọt thản nhiên nói bấy nhiêu điều, Trung cảm thấy vững lòng hơn. Anh hiểu thế nào là còn ít thời gian lắm. Vì thế, anh cố trình bày thật rõ ràng, tỉ mỉ kế hoạch cung cấp tài liệu cho Cường học. Trong khi bàn bạc với Trung về việc học, Cường cứ hay nhắc đi nhắc lại câu sản xuất là chính. Cảm thấy Cường vẫn còn do dự vì phải bỏ ra khá nhiều thời giờ, Trung nhắc khéo cho Cường nhớ lại tầm quan trọng của việc học lý luận cơ bản. Bỗng anh hỏi Cường: Còn cái hồi ký về Nam Bộ kháng chiến. Cường nói ngay: Mình vẫn viết, nhưng chỉ viết khi chưa có gì dịch hay đọc thôi. Hơn trăm trang rồi, nhưng chẳng biết rồi có ra cái gì không. Thật tình, mỗi lần cầm bút viết hồi ký là mỗi lần tôi thấy ngại.

Anh đưa tay vuốt mái tóc cứng, thưa, chưa có một sợi bạc. Mấy sợi rụng nằm trong lòng bàn tay anh. Cường xoay mình thò tay qua cửa sổ vứt tóc, bỗng mỉm cười. Anh nói qua song cửa: Gì đấy các cháu? Thì có tiếng trẻ con láu táu: Cháu bắt được khối cá. Cháu mới  cái Bích ấy. Cháu mang cho chú nuôi.

Cường đưa mắt nhìn Trung cười: Vào đây các cháu!

Một bé gái có hai bím tóc nhỏ như hai cái đuôi chuột chạy thình thịch, mở cửa rồi đứng nép vào một bên, tay giữ cánh cửa dọn đường cho một cháu trai cũng chạc năm tuổi, trịnh trọng bưng một cái thau nhỏ sóng sánh nước đục ngầu. Thỉnh thoảng một chú cá rô con nhảy vọt lên khỏi mặt nước, rồi rơi xuống làm nước bắn tung tóe cả vào mặt chú. Cô bé lấy ngay cái âu thủy tinh ra. Hai cháu cùng nhau bắt cá bỏ vào âu rồi đổ nước. Lũ cá nhảy quẫy lung tung đuổi nhau loạn xạ trong cái âu nơi ở mới chật chội chưa quen. Xong công việc quan trọng cô bé đập vai bạn, nói: Về đi. Để chú còn làm việc chứ: Tiếng chứ cháu kéo thật dài giọng. Anh bạn quay lại mắng: Thế mình về mà không chào chú à!

Cô bé chào thật nhanh rồi chạy vội. Chú bé cầm cái thau, nói với Cường ra vẻ bí mật lắm: Chúng cháu cho chú thật đấy. Cháu mới cái Bích ấy. Tối chú lại kể chuyện chú nhé. Anh cười: Hai cháu ngoan lắm. Tối sang chú kể chuyện cho. Nhưng nhơ rửa tay cho sạch vào đấy.

Cháu bé đi rồi, Cường dường như có vẻ suy nghĩ nói với Trung: Các cháu nó bây giờ khá thật. Đã ngoan lại rất thông minh.

Nhân nghe Trung kể về em Nguyễn Ngọc Ký, liệt cả hai tay từ nhỏ, dùng chân mà cũng viết được đi học được, nay đã học đến đại học, Cường càng trầm ngâm: Tôi thấy lạ thật đấy. Như mình, lớn rồi, được giáo dục rèn luyện nhiều rồi mà còn có lúc nao núng… Các em nó bé thế, nó lấy đâu ra nghị lực nhỉ? Tôi rất phụcPham Hong Son va em be

Đang trò chuyện, lại thấy hai cháu bé vội vã chạy vào hổn hển thở không ra hơi. Chú bé giơ hai tay ra, xòe cả năm ngón, nói: Chú xem tay cháu sạch rồi nhớ!

Cô bé dịu dàng đến bên Cường,  đưa anh một bó hoa nhỏ, cánh hoa phơn phớt xanh da trời.  Đưa hoa xong, lại vỗ vai bạn: Ta về đi. Để chú còn làm việc. Cháu chào rồi kéo tay bạn chạy ra cửa, vừa chạy vừa hát: Có đôi bàn tay / Bé bé con con. Chú bé cãi lại: Ê, Bé bé xinh xinh chứ. Chú Cường dậy là bé bé xinh xinh chứ!

Cường nhìn Trung cười, lắc đầu, khéo léo cắm hoa vào cái lọ đồng xinh xắn, Cường dự định sẽ chép xong bản dịch và duyệt lại toàn bộ lần cuối vào hôm thứ sáu. Cả ngày thứ bảy và chủ nhật anh sẽ hoàn toàn nghỉ ngơi.  Thứ hai mới bắt tay vào học thêm về văn học… Không ngờ, chép còn khoảng sáu chục trang nữa thì anh bị choáng, ngất thường xuyên. Phù nặng hơn trước. Có nhiều hôm không hiểu sao cứ thượng thổ hạ tả, người mệt rã rời, thường mê man, suốt ngày ngủ li bì. Nhiều lần tỉnh giấc, nhất là tỉnh giấc giữa đêm khuya thanh vắng lặng tờ, anh không dám tin là mình còn sống… Các giấc mơ càng ngày càng gay gắt, vô lý đến lạ lùng. Thường anh cảm thấy như có cái gì đó mảnh lắm, lại đang căng ra lúc nào cũng chực đứt nhưng lại chưa thể đứt được. Có khi lại mơ thấy mình cứ đi dần đi dần vào một ngõ hẹp, hai bên là những bức tường đá ẩm ướt. Con ngõ cứ càng ngày càng hẹp, hai bức tường đã giáp lại gần nhau lách người không nổi mà anh vẫn cứ phải đi vào. Y tá hộ lý bác sĩ thay nhau túc trực bên giường anh. Còn anh phải ăn, phải uống, phải tiêm… mà hoàn toàn không biết là ăn gì uống gì tiêm gì… Tỉnh dậy anh cảm thấy người mệt lử, đầu óc căng thẳng, chỉ muốn buông xuôi. Anh rờ tay quanh giường, mặt ghế, mặt tủ con. Tập bản thảo của anh đâu mất rồi. Anh nhìn những người quanh mình vẻ nghi ngờ, tức giận, không nói một lời. Thật ra những lúc ấy anh cũng không thể nói được gì khác ngoài câu lúc nào anh củng chỉ muốn bật ra khỏi miệng: Tập bản thảo của tôi đâu? Vì anh chỉ nghĩ có thế. Nhiều khi cặp mắt anh hoàn toàn không có tinh thần mà ngây dại lạnh lùng… Có lần chị hộ lý trẻ nhìn anh rồi quay đi, ôm mặt khóc nức nở. Chị bưng một món gì đó nóng hổi cho anh. Nhưng anh thản nhiên ăn, mắt nhìn chị lạnh lùng ngây dại. Chị hỏi anh một câu, anh không trả lời mà hỏi lại: Tập bản thảo của tôi đâu? Chị chưa kịp trả lời,anh đã nhắc lại câu hỏi bằng giọng gay gắt chị chưa từng thấy ở anh. Nhưng cặp mắt vẻ mặt vẫn lạnh lùng ngây dại.

Cứ như thế, hai tuần đằng đẵng qua đi, mờ ảo, xa lạ.

Hôm nay, anh đang chép những dòng cuối cùng.

Anh vẫn sống,

Quan trọng hơn thế, anh vẫn làm việc được

Chép xong, Kiên Cường khoan khoái, hít một hơi dài, cảm thấy dù phải chết ngay lúc này cũng không ân hận gì!

Bây giờ, anh mới đưa mắt nhìn quanh. Trên bàn, mấy tập sách dầy lại được đặt vào chỗ cũ. Sách của Trung… Anh cảm thấy nhớ Trung lạ lùng… Đã lâu rồi, Trung không đến. Chắc anh ta bận chuẩn bị cho học sinh thi… Mà biết đâu lại cũng có thể đang lên một cơn viêm thần kinh tọa, nằm bẹp một xó cũng nên. Cái con người đến kỳ lạ. Anh ta như chỉ sống bằng tinh thần. Cường nghĩ vậy rồi lấy giấy viết thư cho Trung.

Quen anh ta đã ba bốn năm nay, Trung bao giờ cũng hết lòng giúp anh làm việc. Mấy năm sơ tán, Cường đã đổi chỗ ở năm lần bảy lượt, nhưng dù ở đâu Trung vẫn tìm đến anh đều đặn mỗi tuần một lần, rồi nửa tháng một lần. Dạo nào cứ nửa tháng Trung mới đến là Cường biết địa điểm sơ tán mới đã xa chỗ Trung công tác hơn trước rồi.

Tiền nhuận bút dịch sách, Cường bao giờ cũng nhờ gửi tiết kiệm, rồi tùy thời gian mà trích ra dần. Khi ủng hộ quỹ đồng bào Miền Nam, khi giúp đỡ quê mình xây dựng trường cấp 2 hoặc tặng một bộ trống ếch cho đội thiếu nhi xã nơi mình sơ tán. Anh chưa tiêu một đồng nào cho bản thân. Có khi thấy Trung gầy rạc đi, quá vất vả trong những lần giúp anh tìm tài liệu, tra cứu hộ anh ở thư viện tỉnh, liên hệ với nhà xuất bản, sửa các bản in thử, Cường muốn đưa Trung tiền bồi dưỡng, nhưng không dám. Anh ngại Trung sẽ nhìn mình ngạc nhiên mà hỏi: Sao anh lại nói với em về chuyện tiền nong?! Mỗi lần in xong một cuốn sách mới, Trung chỉ vui lòng nhận một bàn có chữ anh đề tặng. Thế thôi… Rồi lại tiếp tục cần cù chăm chỉ đúng hẹn làm việc khẩn trương với sự thận trọng chính xác ít thấy ở những người trẻ.

Kiên Cường đặt lá thư viết dở lên mặt tủ, chặn cái khung ảnh anh Trỗi lên. Anh không thể viết tiếp được… Không… Không nên cho Trung biết mình đang ốm nặng. Cũng không nên nói dối vẫn mạnh khỏe, đang thực hiện kế hoạch mới. Cái kế hoạch tối thiểu ấy đến bây giờ đã trở thành quá nặng rồi. Còn nhiều cái học chưa thật thiết thực. Liệu có ích gì… Thời giờ lại còn quá ít. Lúc nào cũng có thể đột ngột bị quật ngã. Như hôm nay đây, mới làm việc được có vài ba ngày đã lại thấy bải hoải rồi.

Chiều nay, gió mùa đông-bắc lại sẽ về…

Sách dịch mới chưa có. Viết tiếp cái hồi ký vậy. Nhưng, đó có thể là một việc làm rất vô nghĩa đấy. Dùng những thời giờ hiếm hoi, quý báu này để bôi đen hàng chục trang giấy mà có lẽ sẽ chẳng có ai cần đọc. Cũng có thể có người đọc vì tò mò, hoặc thương hại người viết. Thôi, thôi đi là hơn. Dẫu sao cũng là quá nghĩ đến mình đấy, muốn thỏa mãn cái lòng khát khao được viết ấp ủ bấy lâu nay, mong giải tỏa nỗi lòng với những ngày oanh liệt xưa cứ nhớ đến là thấy như mình mắc nợ… Thật ra, vẫn còn có thể phục vụ nhân dân được bằng cách tiếp tục dịch. Nhưng làm gì có ai giao cho dịch gì đâu. Thôi, thì viết vậy. Nhưng đến mai mới viết. Hôm nay còn phải rút kinh nghiệm đợt dịch vừa qua. Cũng cần xem xét lại kế hoạch học. Đồng thời viết thư liên hệ ngay với nhà xuất bản, kiếm sách mới mà dịch.

Bữa chiều, chị hộ lý trẻ thấy Cường tuy ăn còn ít nhưng có vẻ ngon lành lắm, nói cười luôn miệng. Thật ra, anh thấy trong người khác lắm rồi. Khắp cơ thể cứ buồn buồn bần thần bế tắc thế nào ấy. Không cảm thấy cái gì là vững chắc, xác định trong thân thể mình. Càng về chiều, càng bải hoải, rã rời anh phải bỏ cả những việc rất nhỏ dự định làm xong trong buổi chiều. Tối đến, anh đi nằm sớm, mở máy thu thanh. Gió mùa đông bắc đột ngột đổ về lúc nào không hay. Rồi mưa như trút nước. Chớp loang loáng, sấm động đùng đoàng. Gió lạnh, lùa vào tận giường. Cường bỗng co rúm cả người lại. Anh choáng váng như bị điện giật, rồi khắp mình đau nhức như bị đánh bằng roi song hồi nhỏ đi chăn trâu nhà người. Cơn đau dịu đi được một lát, anh nằm bám chặt lấy giường, thở mệt nhọc. Thì lại một cơn nữa dữ dội hơn, kéo dài hơn. Rồi cũng dịu đi được một lát ngắn ngủi. Anh thấy như mình bị đẩy ra biển, đợt sóng trước chưa hết choáng váng, đợt sóng sau đã lại ập đến rồi. Choáng váng ngột ngạt, anh nằm vật ra giường, hai tay buông thõng…

Một ánh chớp lóe sáng lên,  rồi tiếng sấm nổ giòn giã. Kiên Cường chợt tỉnh, mở to mắt. Anh nghĩ mình sắp chết thật rồi sao?

Anh lật gối, lấy đèn pin, soi vào ngăn kéo tủ con, lấy ra cuốn sổ nhỏ, bìa đỏ đã cũ. Sổ tiết kiệm của anh còn sáu nghìn chín trăm ba mươi chín đồng. Một con số lẻ, sao lại nhiều thế nhỉ… Nhiều quá! À ra lâu nay mình bận quá, quên kiểm tra đây mà… Mình thì sắp chết rồi, bố mẹ cũng quá già, phải rồi già lắm rồi. Còn hai đứa con của đồng đội Nam Bộ đã hy sinh, đúng rồi hai đứa học trường học sinh Miền Nam mình nhận nuôi đến khi khôn lớn. Còn quê mình, ôi quê mình nghèo lắm. Hợp tác xã làm ăn kém quá. mà không phải tại người đâu, tại đất đấy, đất bạc màu quá rồi. Phải bón phân tốt, thật nhiều phân tốt thì sẽ tốt lên chứ… Ôi cái gì to thế này nhỉ, cứ lừng lững căng to ra chực vỡ đây này. Phải cẩn thận.

Anh lại chìm vào cơn hôn mê mới…

Trời vẫn mưa, nhưng đã thôi sấm chớp. Kiên Cường mơ hồ nghe có tiếng nói đều đều. Có cả ánh đèn chiếu vằn vèo trên chăn. À, mình mở máy thu thanh đây mà. Đèn, còn đèn cũng mình bật. Bật đèn? Mình bật à! Bật để làm gì? Phải rồi để viết. Nhưng tìm đâu ra giấy bây giờ? Thôi, viết luôn vào bìa cuốn sổ này thôi. Đúng rồi viết lên bìa cuốn sổ tiết kiệm này thôi…

Viết nguệch ngoạc xong mấy dòng, Kiên Cường bỗng rướn người lên. Chưa bao giờ anh thấy đau đến thế. Anh muốn hét thật to. Nhưng không, không được hét! Rên cũng không được rên! Các đồng chí đang ngủ. Bác già nằm ở bên vách này yếu lắm rồi. Ôi, sao đau buốt đến tận sống lưng thế này; Anh lại rướn mình lên như muốn tránh cơn đau. Răng nghiến chặt, mắt dại đi, mồ hôi túa ra thành giọt lớn trên mặt. Hai tay anh chới với, bỗng vớ được những chấn song nứa cửa sổ. Anh nắm chặt, xiết chặt. Song rứa nhỏ run lên, rung lên rồi gãy răng rắc hết thanh này đến thanh khác, lẫn trong tiếng sấm rền xa xa, tiếng mưa rơi lộp độp trên mái lá… Thôi, cốt nhất là không kêu lên một tiếng nào là được rồi. Các đồng chí bệnh binh nặng đang ngủ. phải rồi, các đồng chí ấy đang cần ngủ.

Hai tay anh rời cửa sổ, đầu gục sấp xuống gối.

Một làn gió mát mẻ lùa vào, phủ tấm màn che kín người anh.

*

*      *

Sáng hôm sau, chú bé dậy thật sớm. Qua một đêm mát mẻ, ngủ đẫy giấc, trông chú mập hẳn ra. Đôi mà bầu bầu, mắt to đen láy. Chú đến bên cửa sổ, nhìn những song nứa gãy, hơi ngạc nhiên. Rối níu khung nứa, nhón chân nhìn vào trong buồng. Chú hóm hỉnh nói, giọng ngân nga như hát: Chú ơi, chú ơi hôm nay… chú dậy… muộn hơn… cháu rồi…nhớ!

Không thấy tiếng trả lời mà chỉ có tiếng máy thu thanh ù ù ọ ọ. Chú có vẻ ái ngại: Chú mệt hở chú? Chú mở đài đấy à?…

Vẫn không có tiếng trả lời. Một làn gió sớm khẽ lay động tấm màn màu xanh lá già.

Cháu buông tay khỏi khuôn cửa, lủi thủi bỏ đi. Chốc chốc lại đưa cặp mắt to đen nhìn về phía cửa sổ. Nhưng chỉ một lát sau đã nghe tiếng cháu hát, cháu cười ở sau lùm tre xa xa rồi.

Ánh sáng ban mai nhẹ nhàng lùa qua khung cửa sổ. Lũ cá rô thấy mặt nước trong âu bừng sáng, liền đua nhau vùng vẫy ngoi lên. Trên mặt bàn con, trong chiếc lọ đồng bé xíu vàng óng trong nắng sớm, những bông hoa nhỏ cánh xanh phơn phớt màu da trời vẫn còn tươi. Dưới ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi, cạnh chiếc bút máy mở nắp, còn lá thư viết dở dang. Những dòng cuối không bị khung ảnh che mất sáng lên trên nền giấy trắng tinh: Dẫu thế nào, cũng không thể cứ nằm mà đếm may bay Mỹ rơi và nghe tin nơi này tăng năng suất, nơi kia đánh thắng to, có phải không Trung?

Trên nền nhà, cuốn sổ tiết kiệm nhỏ, bìa đỏ đã cũ nằm úp sấp. Mặt bìa có mấy dòng chữ hết sức nguệch ngoạc như sau:

Chia 3:

– Bố mẹ

– Hai con nuôi

Hợp tác xã chăn nuôi kém nhất trong xã.

Dưới cùng là chữ ký, càng nguệch ngoạc hơn.

Có tiếng gà lanh lảnh gáy vang. Rồi chú gà trụi ngày nào dõng dạc bước ra sân. Mào to đỏ thắm, trên bộ lông cánh xanh đen, lông cổ vàng óng, bộ đuôi vồng kiêu kỳ, trông chú thật hiên ngang. Đến giữa sân, chú ta dừng lại, nghiêng đầu nghe ngóng. Rồi vỗ cánh phành phạch, vươn cổ thật cao, lại cất tiếng gáy vang. Cùng lúc ấy, … từ chiếc máy thu thanh nhỏ bỗng vang lên một khúc nhạc hùng tráng, đầy vẻ sảng khoái, tự hào, mở đầu một ngày lao động và chiến đấu. Khúc nhạc giục giã lòng người. Khúc ca chiến thắng.

Hà Nội, ngày 25/4/1968.

T.T.

—o0o—

MẤY LỜI VIẾT THÊM CỦA PHẠM TÔN

Như thế là mấy tháng nay quí bạn đọc của Blog PhamTon đã theo dõi từ những ý tưởng đơn sơ manh nha ban đầu, nay đã chứng kiến sự hình thành, rồi một truyện ngắn ra đời. Và hôm nay, đã đọc xong trọn vẹn đến dòng cuối.

Chúng tôi đã nói rõ là truyện này viết không để đưa đâu xuất bản hết mà chỉ chép lại vào phần cuối tập tài liệu về anh Phạm Hồng Sơn gồm ba phần: Nhật ký về một con người, chép lại tất cả những trang nhật ký tôi viết về những lần được gặp anh. Rồi phần hai là Những lá thư, chép lại nguyên văn những thư anh gửi cho tôi, trong đó có một thư gửi chị dâu tôi Nguyễn Thị Thanh Thủy. Và cuối cùng là truyện ngắn Khúc ca chiến thắng này do tôi viết. Công việc này bắt đầu sau khi tôi biết tin anh mất năm 1967, ngày mất đến nay chưa xác định được. Truyện ngắn này, tôi hư cấu dựa trên cuộc đời anh.

Khi tôi đưa tập tài liệu trong đó có truyện ngắn này cho ROSA một cô bạn thanh niên xung phong bị máy bay Mỹ bắn xuyên ngực, gãy đùi đang điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội, mong giúp cô thêm kiên trì điều trị. Cô đọc xong cả tập thì nói với tôi: Phần Nhật ký về một con người em đọc phải suy nghĩ nhiều, lắm đoạn phải đọc đi đọc lại nhiều lần mà chưa chắc đã hiểu đúng. Tôi hiểu, vì đó là nguyên liệu thô, chưa tinh luyện, gọt giũa. Còn Khúc ca chiến thắng thì dễ đọc, em hiểu ngay và rất xúc động.

Sau này, khi chuẩn bị về lại báo Nhân Dân cuối năm 1972, tôi có chép lại một bản truyện ngắn này đưa anh Thép Mới từ chiến trường, mới trở về, có ý báo cáo anh là những năm xa anh tôi đã cố gắng và kết quả là viết được cái truyện này, trình độ của tôi chỉ mới đến mức ấy. Chẳng biết anh có đọc không, vì anh lấy lại tôi về cơ quan là để học làm báo, chứ không phải là làm văn! Có lẽ anh quẳng đâu mất chứ chưa đọc. Vì suốt từ đầu năm 1973 cho đến khi anh mất năm 1991, và cũng năm ấy tôi xin thôi việc ở báo Nhân Dân , chưa thấy anh nói đến cái truyện ngắn ấy bao giờ. Tôi cũng chẳng dám, thậm chí chẳng muốn hỏi. Vì tôi vốn tự ty, hay ngượng vì những việc mình đã viết.

Đến nay, nghĩ lại, dù sao đó cũng ghi dấu một chặng đời của mình.

Chuyện một người cháu ngoại không thể bỏ qua đoạn này. Đánh liều đưa lên mạng, mong bạn đọc có lòng với Blog PhamTon xem chơi, tiện thì chỉ giáo cho. Tôi không có tham vọng sáng tác hay làm văn nghệ gì đâu. Thật tình là thế. Nghĩ sao nói vậy mong quí bạn bỏ quá cho.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/12/2021, mùa Covid-19 đang thời bình thường mới,

 vừa đi tiêm vắc-xin mũi thứ ba do được ưu tiên vì từng bị ung thư.

P.T.

Tháng Mười Hai 14, 2021

Chút tình của anh Hữu Thọ

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 4:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 1 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

CHÚT TÌNH CỦA ANH HỮU THỌ

Phạm Tôn

Nhân kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2021) báo Nhân Dân đăng trên trang nhất tin của Thông tấn xã Việt Nam Chủ tịch nước thăm nhà báo, gia đình nhà báo lão thành. Sau phần viết thăm nhà báo Đặng Minh Phương, bản tin viết:

“Chủ tịch nước đã tới thăm gia đình cố nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân . Ông là một tài năng, là cây bút chính luận xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trước khi qua đời vào tháng 5/2015, nhà báo Hữu Thọ đã xuất bản nhiều cuốn sách, trong đó cuốn Mắt sáng, Lòng trung, Bút sắc được nhiều người yêu thích, vì đấy được coi là ba yêu cầu cơ bản nhất của người làm báo. Đây cũng là những điều mà Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc luôn gửi gắm đến những người làm báo trong mỗi dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam”.

Đó là tấm lòng và sự đánh giá của Đảng và Nhà nước ta với nhà báo lão thành Hữu Thọ. Còn với riêng tôi, cũng có những kỷ niệm riêng với Anh.

Tôi được biết Anh từ năm 18 tuổi, khi tôi làm bí thư chi đoàn Thanh niên Lao động Đội Thanh niên công tác phát hành báo Nhân Dân  có 12 thanh niên Hà Nội, chiều nào cũng đến trụ sở tòa soạn ở 71 Hàng Trống để thụ giáo về nghề báo sau buổi sáng cùng nhau đi bán báo từ 4 giờ sáng khắp đường phố, ngõ ngách và cả vùng ngoại thành Hà Nội. Hồi ấy, Anh làm ở ban Nông nghiệp theo dõi về hợp tác hóa, còn Anh Hà Đăng viết về sản xuất. Hai Anh đều chưa vợ. Sau này về làm nhân viên tập sự tổ Nhân Dân nông thôn, ở cơ quan gọi là Báo Con (vì chỉ nhỏ bằng nửa tờ Nhân Dân), mỗi tuần ra ba ngày, tôi hay tìm gặp Anh để hỏi về nông nghiệp. Hồi ấy, phóng viên trẻ như các Anh đều muốn nâng cao trình độ, mới liên hệ với trường Đại học Tổng hợp xin học hàm thụ ở khoa văn. Bọn bán báo chúng tôi cũng xin tham gia. Việc học hàm thụ chẳng đi đến đâu, nhưng nhờ đó gần gụi các Anh hơn. Rồi tôi được điều động sang nhà in Nhân Dân  làm ở tổ sửa bài, thường chú ý đọc bài anh viết. Rồi lại dự thi vào đại học y dược, trúng tuyển vào Học viện Nông Lâm, cùng lớp với anh Nguyễn Văn Hòa. Hôm Anh Hữu Thọ vào học viện viết bài có ghé thăm anh ấy, tôi mới biết anh Hòa có bút danh Hòa Bình, trước cũng ở báo Nhân Dân . Sau này tốt nghiệp, nghe nói anh Hòa làm giám đốc Nông trường Thành Tô.

Rồi vì bị lao, tôi xin thôi học đầu năm thứ ba. Năm 1965, bắt đầu làm việc ở cảng Phà Đen. Cuối năm 1972, anh Thép Mới người khai sinh và chỉ đạo Đội bán báo chúng tôi từ chiếntrường miền Nam trở về, lại đưa tôi về tòa soạn báo làm ở phòng Tư liệu. Hồi ấy, tôi chuyên dịch tiếng Pháp các sách về nghề báo. Một lần Anh Hữu Thọ gặp tôi hỏi tên tiếng Pháp của bản tôi dịch Kỹ thuật nghề báo là gì, tôi mới biết trước khi tôi trở lại,các bản dịch đã lưu truyền trong cơ quan.

Sau 1975, tôi vào Sài Gòn làm ở cơ quan thường trực của báo từ ngày thành lập, vừa giúp anh Thép Mới về tư liệu, vừa nấu ăn theo phiên như các bạn, rồi khi cần thì cho đi viết bài. Cứ như thế cho đến khi nhiều bệnh mới phát sinh, cơ quan cho nghỉ để chữa bệnh. Tây y chê, thì chuyển sang Đông y, không thuộc bảo hiểm y tế, phải tự lo lấy để cứu mạng mình, cơ quan thỉnh thoảng cũng trợ cấp ngoài chế độ. Thành ra lâu năm tôi không có dịp gặp Anh, dù Anh có vào Thành phố Hồ Chí Minh và đến cơ quan. Vì tôi có mấy khi sang cơ quan đâu. Hồi này vợ tôi Lê Thị Đông đã về làm kế toán trưởng ở cơ quan.

Năm 1991, đám tang Anh Thép Mới tại Thành phố Hồ Chí Minh, Anh có vào, tôi thấy nhưng chỉ ra dấu chào, không bắt tay như với anh Hồng Hà có đến bên hỏi thăm tôi.

Mãi đến mồng chín Tết năm Quý Dậu tức ngày chủ nhật 31/1/1993, Anh Hữu Thọ bấy giờ đã là Tổng Biên tập báo Nhân Dân cùng một bạn phóng viên thể thao cùng đội bán báo với tôi năm xưa và Nguyễn Hữu Vân sống cùng khu tập thể ở 82 Lý Chính Thắng, lên thăm căn gác nhỏ gia đình đang sống, tôi mới lại gặp Anh. Tôi thưa với Anh và hai bạn là hiện nay, tôi bị bệnh nặng, nhưng chưa  rõ có cách chữa không vì ngay đến tên bệnh còn chưa xác định được, thì vụ tổ chức cơ quan đưa ra cho hai lựa chọn, một là về mất sức,hai là thôi việc. Tôi chọn thôi việc cốt tránh lùm xùm do cơ quan giám định y khoa làm sao xác định được bệnh khi chính giáo sư nổi tiếng Đặng Văn Chung đã khám tôi hai buổi với rất nhiều xét nghiệm chiếu chụp cũng chỉ xác nhận là bệnh rất nặng, sẵn sàng giới thiệu đi chữa bệnh ở nước ngoài nếu có điều kiện. Tổ chức cơ quan ở Hà Nội gợi ý anh Tấn Thọ phụ trách cơ quan ép hội đồng giám định nhận xét là tôi mất sức 61%, làm anh rất ngại, nên cũng khuyên tôi thôi việc. Vì thế, tôi đã viết tay đúng bốn chữ: Tôi xin thôi việc. Thế là mọi chuyện xong ngay, tôi nhận được số tiền tính theo 28 năm công tác, mà vợ tôi sợ tiền mất giá đi mua ngay vàng được vừa đúng sáu chỉ.

Hữu Vân thương tôi, cứ nhắc lại hồi anh ấy mổ dạ dày ở bệnh viện Bình Dân, tôi lo cho bạn ấy chu đáo từ chọn bác sĩ Văn Tần giỏi nhất viện mổ đến các tiêu chuẩn được hưởng đến mức tối đa. Còn đồng đội cũ thì nói Tết có Tổng biên tập đến thăm tận nhà , không phải kêu là chẳng ai quan tâm. Tôi buột miệng: Mồng 9 rồi còn Tết gì nữa.

Chẳng biết lời hai bạn có ảnh hưởng đến Anh thế nào, chỉ thấy khi chia tay, Anh bảo: cứ yên tâm điều trị. Tôi thật lòng cảm ơn Anh.

Hôm sau, Lê Thị Đông vợ tôi đem về cho một tờ giấy kẻ ô nhỏ, chữ Anh Hữu Thọ viết những dòng như sau: Thân gửi chị Yến (Chị Yến là thủ quỹ) Tôi đã thảo luận với anh Kiến Phước (tức anh Nguyễn Tấn Thọ) đề nghị chị chi 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đưa tới anh Thành theo tiêu chuẩn anh em cơ quan ta nghỉ. Tôi cũng nói với Kiến Phước viết thư xin lỗi anh Thành. Và từ nay, khi cơ quan có tiêu chuẩn biếu các đồng chí về hưu, mất sức và về nghỉ thì cần nhớ tới anh Thành. (Xóa hai chữ: mong chị) 1/2/1993 (ký tên) Hữu Thọ”.

Rồi sáng thứ bảy 6/2/1993, anh Kiến Phước và chị Liên Nga, phóng viên, tổ trưởng công đoàn, mang thư xin lỗi viết rất lễ độ, chữ to, rõ ràng kèm tấm thiếp chúc Tết của cơ quan và 100.000đ với lời nói: “Mong anh vui lòng nhận cho

Tất nhiên việc ngoài nguyên tắc tài chính này chỉ diễn ra đúng một lần. Nhưng tôi không bao giờ quên chút tình của anh Hữu Thọ và của cả anh Tấn Thọ nữa.

Tôi mong những ai chức trọng quyền cao cũng có chút tình như anh Hữu Thọ.

Tôi còn nhớ mãi lời Anh hai lần nhắc tới Anh Thép Mới trong một cuộc giao lưu trực tiếp với các nhà báo  trẻ nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam trên VTV1. Hồi ấy, Anh đã là thần tượng của giới báo chí sau khi xuất bản nhiều cuốn sách về nghề báo, nhất là cuốn Mắt sáng, Lòng trong, Bút sắc. Khi nói về những năm đầu từ tuyên huấn một huyện thuần nông lên nhận việc ở báo Nhân Dân năm 1957 anh kể thành thật là lần dầu viết một cái tin nhỏ sau bị ban biên tập bảo không dùng được, anh đã tính về lại nghề cũ ở huyện nọ. Chia sẻ với Anh Thép Mới, người đàn anh không hơn mình mấy tuổi đời (Thép Mới sinh năm 1925, Hữu Thọ sinh năm 1932) thì bị phang ngay một câu thuần Việt: Cái nhà anh này, chán bỏ mẹ! Mới viết lần đầu mà đã muốn bỏ cuộc! Lần sau, được giao đi viết bài tường thuật, lại bị bảo không dùng được vì bài chẳng ra bài, tin không ra tin. Lại tâm sự, định nói lời chia tay vì thấy là mình không hợp với nghề báo thì lại bị Anh Thép Mới phang cho ngay một câu thuần Việt nữa: Cái anh này, chán bỏ mẹ! Chưa chi đã bỏ chạy!

Nhờ lời chê chân tình của đàn Anh mà Anh Hữu Thọ trụ lại với nghề.

Tôi càng quí và phục Anh Hữu Thọ hơn ở chỗ dám nói những chuyện mà nhiều người nổi tiếng không muốn ai nhắc lại bước chập chững vào đời của mình. Cứ như từ khi lọt lòng mẹ đã là Siêu Nhân, chưa bao giờ, tè dầm ị đùn cả!

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/9/2021 mùa Covid-19

giãn cách chặt toàn dân quyết thắng đại dịch.

P.T.

Tháng Mười Hai 9, 2021

Tiền tuyến đã rất gần

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 7:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 12 năm 2021.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI- Một truyện ngắn ra đời (phần 17)

Tiền tuyến đã rất gần

Phạm Tôn

Ăn cơm trưa xong, tôi khoan khoái ra sân, nhìn qua giàn mướp trĩu quả xanh mát ngắm bầu trời xanh ngắt bồng bềnh mây trắng lững lờ trôi. Từ trong một đám mây trắng, hai chiếc máy bay trắng bạc bay ra. Tôi tưởng máy bay ta đi tuần như mọi ngày để yên lòng dân nên gọi mọi người còn trong văn phòng Đội 5 ra xem. Nhưng không phải hai mà ba, bốn rồi năm máy bay tuôn ra từ mây trắng, bắt đầu bắn xối xả xuống cầu Long Biên, một tên lửa cắt đứt một nhịp cầu. Công nhân đội 5 tôi số đông là phụ nữ vẫn tiếp tục làm việc như thường. Hai máy bay Mỹ bị hạ. Hôm sau là 12/8 phải xuống hầm mới làm việc được. Cả ngày bảy máy bay bị hạ, nhân dân Hà Nội hả dạ. Tối về nhà gặp một bạn từ Nam Hà lên chơi, rủ bạn đi xem phố, chẳng mua được gì thết bạn cả. Đêm, ngủ rồi em Thân dạy học ở Đông Anh mới về, phải qua sông bằng tàu há mồm. Hôm sau là chủ nhật văn phòng Đội 5 vẫn làm việc, công nhân thêm tin tưởng, vẫn đi làm đầy đủ. Hơn 11 giờ đêm mới nghỉ. Ven sông tấp nập người người chờ sà lan, tàu thuyền, phà sang ngang mặc dù các phương tiện này vẫn hoạt động cả ngày lẫn đêm. Thế mới biết vai trò của cầu Long Biên lớn đến thế nào.

Tối ngồi hóng mát ở bờ sông với cụ Sán, cụ cho biết là có chuyện bên Đoàn thanh niên xin mình về, chú Tân sẽ thay mình làm việc hiện nay. Mình nói không muốn đi thì cụ bảo nếu anh cố tình ở lại sẽ có khó khăn. Vẫn là chuyện nghi ngờ này  nọ, là điều mình luôn chú ý nhưng chẳng coi là chuyện gì to tát. Lúc ấy cụ mới nói là muốn giữ mình ở lại. Vấn đề của anh… nó tựa như rạng đông ấy. Tốt lắm rồi. Nhưng mặt trời vẫn chưa mọc hẳn. Còn một tí khó khăn nữa. Có anh em bảo tôi nếu còn ở lại đây thì phải giữ anh đến kỳ cùng. Nói chung, anh có tín nhiệm đấy. Nhiều người tin cậy.

Nhớ tối 11, vào nhà Tiến, bí thư đoàn cũ nay là phó thư ký công đoàn cảng. Tiến bảo báo Tiền Phong có xin một người biết dịch tài liệu có trình độ chính trị văn hóa. Công văn xin người còn nằm ở tổ chức.

Nhân một lần anh Nguyễn Văn Hoan nguyên trưởng phòng tổ chức hành chính cảng ghé thăm tại đội 5, mình hỏi chuyện này, anh bảo có lẽ là do anh có mấy lần gợi ý với khu về trường hợp của mình. Anh vẫn áy náy về việc giúp đỡ mình chưa trọn vẹn. Mình nói thật với anh là anh tốt quá, nhưng em chưa muốn rời cảng lúc này. Trừ phi đi Thanh niên xung phong hay bộ đội

Thật ra chiến tranh đã lan tới Hà Nội từ đầu tháng sáu. Tối thứ bảy mồng 3 tháng sáu, mình đã tham dự buổi Tổng duyệt lực lượng thanh niên ba sẵn sàng Thủ đô, tổ chức tại quảng trường trước nhà Ngân hàng. Trời mưa. Hơn 10 ngàn thanh niên đeo súng, ba lô trên vai tay cầm đuốc làm bằng thanh gỗ gắn ống bơ sữa bò trong đựng giẻ tẩm dầu ma dút. Trong khí thế rực lửa anh hùng đó, đại diện công nhân nhà máy điện hứa: Tim chúng tôi có ngừng đập dòng điện của Thủ đô vẫn còn cháy mãi. Rồi tuần hành khắp khu trung tâm đến hai giờ sáng mới về nhà ngủ.

Trưa thứ bảy tuần sau, về Thanh Trì thăm gia đình chị Tửu, suýt ăn bom đạn Mỹ. Một cuộc bắn phá cực kỳ dã man vào khu dân cư ven sông Hồng phía dưới cảng Hà Nội. Xem ra chúng rục rịch đánh cảng. Công nhân làm ở đây phần lớn là người Thanh Trì xôn xao bàn tán. Hôm sau, số người đi làm chưa giảm mấy, nhưng có vẻ lo lắng, thăm dò. Ở ven sông đã có lệnh sơ tán trẻ em và tất cả những ai không trực tiếp sản xuất xuống các vùng xuôi phía dưới. Đội 5 quyết định ban chỉ huy, nhân viên văn phòng và các tổ trưởng không ai nghỉ làm, kể cả chủ nhật, ngày lễ, bà con thấy vậy cũng yên tâm hơn.

Tối 9/9, Nguyễn Xuân An truyền thanh và Đỗ Xuân Bảo lái cẩu đến nhà chơi. An báo một tin quan trọng Đội thanh niên xung phong số 49 của Hà Nội sẽ về Cảng Sông Hồng công tác và mình sẽ được chuyển sang làm công tác văn hóa quần chúng của đội. Nếu quả thật có chuyện đó thì thật hiện nay không còn mơ ước nào cao xa hơn. Một giai đoạn mới có thể sẽ quyết định cuộc đời mình từ nay về sau.

Chiều 13/9, mưa rất to, dai dẳng đến tận tối, không đi đâu ăn cơm được. Đành cùng đội phó Nguyễn Khánh Chước và tổ trưởng Trần Văn Mão lục lọi kho của chị Tửu, khắp các thùng, ngăn kéo… để kiếm ăn. Kết quả là cả ba anh em được một bữa no kềnh ăn toàn mì nấu mướp và bột mì rán. Chảo để nấu các món ấy là cái nắp thùng đựng nước lộn ngược. Trời mát lại đói, ăn ngon miệng lạ.

Đang lúc mưa to Tân và Đán đến học tiếng Pháp rất đúng giờ. Đán ướt sũng cả quần mặc dù đã sắn quần cao hết cỡ. Còn Tân, an toàn hơn, mặc áo va rơ bạt và quần đùi cực ngắn, chân đi ủng. Hai bạn thật đáng mến. Đêm ấy, mình về nhà Tân trong xóm Phà Đen ngủ nhường giường cho anh Chước nhà xa. Anh Mão gì thì gì cũng phải về nhà.

Chiều hôm sau, xong việc, anh Chước nói cho mình nghe chuyện anh dự hội nghị xét duyệt biên chế, có đến mấy người nói mình là phần tử Nhân Văn Giai Phẩm, đã viết bài báo gì đó nên đã bị đuổi khỏi tòa soạn báo Nhân Dân. Nhưng những người tham dự đều hỏi có chứng cớ gì không, vì ai biết cũng khen chú ấy là người tốt, tận tâm, hết lòng giúp đỡ mọi người, không nề hà việc lớn, nhỏ gì giúp được là giúp. Rồi hội nghị thông qua việc xét duyệt biên chế cho mình, đúng hai năm sau khi mình vào việc tại Cảng. Lúc đầu làm chuyên trách bổ túc văn hóa và văn hóa quần chúng, sau làm thống kê, kế toán ở các đội sản xuất, nhưng bao giờ cũng dạy học ở các lớp bổ túc văn hóa và dạy các cá nhân ham học tự xin học. Tất nhiên là miễn phí. Trong số người đến học ở đội 5 vào các buổi trưa có một người chăm chỉ nhất, có thể nói là ngoan cố nhất, học bất kể thời tiết thế nào và học xong thì ngồi lại dai nhất, có khi chẳng nói gì mà chỉ ngồi một mình hút thuốc Bêrati của An ba ni. Đó là anh Nguyễn Việt Quốc cùng làm với tôi hồi ở tổ sửa bài Nhà in báo Nhân Dân năm 1959-1960.

Sáng hôm sau, anh Nguyễn Văn Bào bạn bán báo với tôi ngày xưa, nay là phóng viên thể thao của báo dẫn một số anh em trong cơ quan đến đội 5. Hầu hết là người mới, tôi không biết mặt. Tôi giới thiệu các anh với anh Chước nói rõ là các anh đến đây để vác gỗ như bác Sán đã biết, hợp đồng tôi cũng trình cảng vụ, làm xong tôi sẽ đưa anh Bào là đại diện lên tài vụ lĩnh tiền. Anh Chước vui vẻ tiếp, mời uống nước và nói nên làm sớm cho khỏi nắng. Tội dặn các bạn một điều là hồi trước còn đang đi học, anh bạn chúng tôi là Phạm Duy Phùng đã phàn nàn với tôi là vác gỗ xong thì phải tắm mới về được, ai chẳng thế, mà có những thằng cứ cố mặc cái xi líp làm công nhân bốc vác tắm cùng thấy rất khó chịu. Nghe tôi nói, các bạn trẻ cười, riêng anh Bào sống cùng nhà trọ với anh Phùng ở phố Trúc Bạch thì bảo đúng thế, nhớ đừng có tạo sự xa cách với mọi người.

Các bạn cũ vẫn không quên tôi.

17 giờ ngày 30/8, có lệnh tập trung 25 công nhân đi làm nhiệm vụ đặc biệt ở ga Yên Viên. Cụ Sán phải đi vay gạo cho một số người nhà xa ăn tạm. Mình cũng ăn và cùng đi với anh chị em. 19 giờ xuống ca nô, rồi lại lên bờ chờ đi ô tô. Cuối cùng có lệnh về. Mỗi người được một cái bánh mì và nửa lạng thịt kho. Mình và mấy thanh niên về trụ sở ngủ, vừa đi vừa ăn, rất vui. Qua một chuyến huy động thử này thấy rõ nhiều điều. Thanh niên có mặt 100%. Các tổ trưởng tổ phó cũng vậy, kể cả bác Tám mới ốm dậy. Mấy chị to mồm, nổi tiếng là hay thắc mắc cũng đi. Một tổ phó đi đến nửa đường thì lại về, chị ta không muốn đi, vì sợ chết, nhưng lại sợ tổ viên chê cười. Đang lúc ấy lại gặp anh chồng đi làm về, bàn bạc  một lát rồi cả hai cùng về. Lại nhớ hồi tháng 7, tối thanh niên mở hội tòng quân. Người đến lèo tèo vì không biết trước nội dung cuộc họp. Có hôm đến, lại hoãn, hoặc có hôm gặp phải ông cán bộ nói dai, nói dài, nói dại, mất thì giờ mà chẳng được tích sự gì.

Thanh niên cảng lạ lắm, nhất là các cô gái, không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá họ được. Một sáng tháng tư, đội I chạy thử băng xích bốc dỡ hàng bao kiện, cô Nguyệt một công nhân 17 tuổi xinh xắn làm ca I, đến 9 giờ thì bị tai nạn. Thịt chỗ dưới bắp chân bị nghiến nát, lộ cả xương. Cô bé không ngất đi nhưng mặt tái mét, lả cả người vì đau đớn mà vẫn không nghe thấy tiếng rên la nào. Chiều hôm sau, tôi vào bệnh viện Phủ Doãn gần nhà thăm em, cho em bông hóa đá mềm mình mới tạc xong với nhiều tâm huyết. May là vết tổn thương không nặng, sẽ không để lại tật nguyền nào. Em tươi tỉnh, rất vui vì được nhiều người quan tâm. Mấy ngày sau đi làm chiều về ghé Trạm xá giao thông vận tải cốt thăm em Nguyệt mong hiểu vì sao một cô gái trẻ như em lại có thể chịu đựng đau đớn thản nhiên như vậy. Tình cờ gặp một chị 34, 35 tuổi đang nằm trạm xá gọi mình nói chuyện thân  mật, tin cậy đến mức mình không dám hỏi tên chị. Rồi chị mời vào buồng, may thay đó cũng là buồng Nguyệt nằm. Nguyệt đã khá tỉnh táo và vui vẻ. Em nói bông hoa anh cho hôm nọ ai xem cũng khen là đẹp. Tôi cầm lấy bông hoa, đúng là có nhiều người xem thật. Cái ngọn lá và phần cong uốn duyên dáng của bông hoa, rất khó làm đã bị gãy. Nguyệt có vẻ tiếc. Mình phải hứa sẽ làm lại những chỗ ấy. Tôi cho Nguyệt mượn một cuốn sách về Ngô Vận Đạc, một Paven của Trung Quốc, rồi về dạy học bổ túc văn hóa ở cảng. Học được độ một giờ thì báo động. Vừa nghe nói máy bay cách 50 km, lập tức thấy nổ súng dữ dội, đường đạn lượn vòng vèo đỏ rực trên nền trời đen sẫm, hệt như pháo hoa… Mười phút sau, định học lại thì có lệnh yêu cầu tan học ngay. Chỉ những ai làm ca đêm mới được ở lại xí nghiệp. Nghe nói chúng nó hẹn đánh cảng ta. Dạo này được một ngày không có tiếng máy bay địch, một đêm ngủ yên là rất quí. Đẹp trời là sẽ có máy bay địch, đến bắn phá. Sau những đám mây trắng bông đã từng tuôn ra hàng đoàn máy bay kẻ cướp.

Hà Nội chuyển sang sinh hoạt về đêm. Các buổi sáng, kể cả sáng chủ nhật đường phố vắng vẻ như sáng mồng một Tết. Nếu không có việc thật cần không ai ra đường làm gì. Các cửa hàng lớn, tất cả các hiệu sách đều mở cửa vào buổi tối. Các rạp chiếu phim đều giảm số vé đi rất nhiều. Chỉ còn bán các hạng vé đắt tiền. Các buổi tối cũng đỡ nhộn nhịp. Chỉ có cửa hàng bia hơi là còn đông khách. Trời nóng quá. Đó cũng là một cách bồi dưỡng sức khỏe rẻ tiền. Ở bến sông, cửa hàng ăn uống đã đóng cửa.

Hằng ngày, sà lan, thuyền vận tải đến cảng Hà Nội ngày một nhiều. Chủ yếu là chở hàng viện trợ của các nước anh em phe xã hội chủ nghĩa: Đường đỏ Cu ba, mì, mỡ Ba Lan, thịt hộp Liên Xô và mỡ thùng ni lông của Rumani.

Hôm vừa rồi, đọc được Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Đã lâu lắm rồi mới được đọc một truyện ngắn hay đến như thế, một bản anh hùng ca rực lửa anh hùng.

Giữa tháng năm, ngày nào cũng báo động hàng chục lần. Kể cả ban đêm. Ngày 19/5, mừng thọ Bác Hồ 77 tuổi, mười máy bay giặc Mỹ đã rơi, có mấy chiếc rơi trên đường phố nội thành. Ngày 21/5 suốt ngày có máy bay xâm phạm. Tôi tận mắt thấy máy bay giặc phóng tên lửa về phía nhà máy điện, nước Hà Nội. Chiều, mất điện cũng mất luôn nước. Thiếu chuẩn bị, người ta đua nhau đi xin nước giếng, gạn những chum vại vô tình còn chứa nước, và kéo nhau ra sông Hồng tắm…

Tối hôm ấy, mình ăn tạm bát cháo rồi ra phố chơi. 19:30 phố Tràng Tiền còn điện. Vào hiệu sách quốc văn mua Trường sơn hùng tráng của Hồng Châu mà mình tin là bút danh mới của anh Thép Mới. Khi sang đặt mua báo Nhân Dân thì điện tắt. Cả thành phố tối om. Người Hà Nội xì xào lo ngại, nhiều gia đình í ới chào nhau đi sơ tán… Về nhà, thắp đèn dầu, đọc sách mới mua thì Tạ Anh Phi đi làm về, đến xin ít nước để uống và rửa chân tay. Mình múc cho Phi một chậu nhôm nước từ cái chum men xanh ngày trước trồng quất cảnh Tết. Cậu ta chỉ dùng một nửa, còn lại trút vào chum. Đến đêm thì đèn lại sáng. Hôm sau nước đã ri rỉ. Tối lại tha hồ tắm rồi. Tất nhiên cái ang to nhà dưới và cái chum xanh nhà mình từ nay lúc nào cũng đầy nước.

Hôm nay, được ngủ một giấc đẫy suốt đêm qua, lại được thêm một giấc ngon lành trưa nay, ai cũng lấy làm lạ. 15 giờ, ta hạ một máy bay trinh sát, mọi người mới thấy yên tâm.

Báo động liên tiếp suốt buổi trưa 30/8. Chú Đỗ Đình Hưng bốc xếp sống với mình hồi ở căn nhà nhỏ cùng lái xe Nhượng đến chơi. Nấu cơm ăn. Đến tối thì đèn tắt, hai anh em lên nhà máy điện, nơi Hưng và đội bốc vác của chú đang làm việc trên đó. Nhà máy bị phá hủy đang xây dựng lại trông như một pháo đài cổ. Đèn sáng rực. Công nhân nhà máy điện, công nhân kiến trúc đang làm việc nhộn nhịp. Mấy tối nay, nhà máy tổ chức hội diễn văn nghệ sôi nổi. Riêng phân xưởng cơ khí cũng đủ diễn suốt một đêm. Lúc về, qua cầu Long Biên, đèn sáng rực, công nhân làm việc nhộn nhịp, có lẽ cố thông cầu dịp quốc khánh.

Sáng 2/9, chỉ có một lần máy bay đến gần vùng trời Thủ đô. Mình ra trụ sở đội 5, qua các phố xá đông vui, mậu dịch tổng hợp mở cửa, nờm nợp những người là người. Thuốc lá bán tự do. Tối, đi xem phố ngày hội. Phố Tràng Tiền phải cắt ba công an luôn mồm gọi loa yêu cầu giữ gìn trật tự mà đường vẫn hay bị tắc. Vào hiệu sách, cảm thấy vui vì khách rất đông, phải xếp hàng hơn 30 phút mới trả được tiền. Chiều, mưa to. Vẫn có máy bay giặc lởn vởn quanh Thủ đô.

Trưa 10/9, em Hưng lại chơi rủ ra cảng gặp Trần Thị Tuệ người yêu của em. Em không ngờ là mình chưa yêu cô gái nào. Em nói, khi nào anh cũng nghĩ đến mọi người. Ai cũng yêu mến anh, thân thiết với anh. Có lẽ vì thế mình không khi nào buồn nản được, luôn được tiếp thêm sức sống. Tối lại về trụ sở, một mình đọc sách… Có tiếng loa văng vẳng hòa lẫn tiếng sóng dạt dào vỗ bờ, trong đêm đen một ngọn đèn tàu thủy đỏ thắm nổi bật lên… Sao thấy thèm làm việc, thèm được thử thách, chiến đấu, cống hiến lạ.

Tháng 10/1967, chị Thanh Vân làm Viện Văn học ở buồng ngoài cùng nhà mình cho biết là Viện đã mấy  lần cử anh Nguyễn Kim Thản đến gặp mình bàn việc xin mình về viện văn học, công tác tại tổ ngôn ngữ. Mình cảm ơn và xin từ chối, chị nói dịu dàng Thế mà chị vẫn nghĩ là em rất yêu văn học. Mình nói chính vì thế mà em phải từ chối, tự biết mình còn phải học hỏi nhiều. Thi chị nói Ờ, anh Phong Lê cũng nói là chưa chắc em đã thích Mình nhớ có lần mình bộc bạch lòng yêu văn học thì anh có nói là nên đi sâu tìm hiểu chính những con người mình đang sống chết cùng với họ, từ tính cách đến lời ăn tiếng nói không ai giống ai, nhưng cũng có những con người điển hình giống nhiều người mà vẫn có cá tính riêng.

Ngày 24/10/1967, Nguyễn Xuân An truyền thanh đưa cho mình bốn tập Sông Đông êm đềm (1-4) và tập Ruồi Trâu (xuất bản lần đầu). Mình cầm sách nói Tịch thu. An cười rất tươi, cái miệng vốn đã rộng lại càng rộng hơn. Không ngờ đó là lần gặp cuối trước khi bạn bước vào một cuộc đời mới: Bộ đội. Anh chỉ được ghé Cảng 15 phút, không ghé qua nhà gặp mẹ. Lần này đi đột ngột, lại chỉ có một mình.

Sáng 16/11/1967, chị Thanh Vân cho biết tin buồn. Anh Phạm Hồng Sơn thân thiết với mình không còn nữa, báo Quân Đội Nhân Dân có đăng… Mình thản nhiên nghe, vì tự nhiên nhớ lại một lần cháu Dung, con nuôi anh hốt hoảng đến báo tin là nghe nói anh vừa mất. Mình an ủi cháu, bảo cứ bình tĩnh, đừng tin nhảm. Sáng hôm sau mình đi tàu điện vào ngay bệnh viện thăm anh. Mình kể anh nghe tin dữ, anh nheo mắt cười hóm hỉnh: Chết thế nào được Anh vừa nói vừa chỉ vào chồng bản thảo: Còn khối việc đây này. Chết thế nào được.

Nhưng rồi, ăn cơm cũng không yên, vì không muốn ăn, chỉ muốn mau được xem tờ báo chị Vân bảo. Có tiếng rao báo. Mặc nguyên quần áo rách rưới ở nhà, mình chạy vội ra phố. Nhưng báo Quân Đội Nhân Dân hết rồi. Ăn vội mấy miếng rồi lục lại nhật ký, đọc lại những gì ghi về anh. Mình biết lần này thì mình mất anh thật rồi.

Tối, ra trụ sở Đội 5, định lên phòng phát thanh xí nghiệp mượn báo, tình cờ gặp cô Trần Thị Phúc đang khoác chăn dạ trực chiến ở đê. Mình hỏi báo, Phúc lén lấy trộm cho mình một tờ. Mở vội các trang I, rồi trang 4 cũng không có một dòng cáo phó. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, trên trang 3 nổi lên dòng chữ đen: Phạm Hồng Sơn đi trọn con đường của một người cộng sản, không phải là tin mà là cả một bài của Vũ Hồ. Bài báo sơ lược quá, nhưng cũng có những chi tiết làm mình xé lòng, rơi nước mắt: Có lần trong cơn đau, anh níu gãy cả những chấn song cửa sổ hoặc : một phần tiền để ủng hộ xã Phương Trung quê anh. Anh dặn kỹ số tiền này dành cho hợp tác xã nào kém nhất và nên dùng vào việc chăn nuôi…. Đó là những ý nghĩ cuối cùng của Phạm Hồng Sơn trên giường bệnh, giữa những cơn đau dữ dội làm anh mê man. Anh mất hồi 3 giờ sáng giữa năm 1967, mộ chôn ở thôn Phương Trung, Thanh Oai Hà Tây.

Đêm đã khuya, côn trùng nỉ non rả trích, nước sông Hồng cuồn cuộn dâng lên đột ngột. Cầu phao đứt. Thỉnh thoảng mới có tiếng xe vận tải rú vang rồi xa dần. Vắng lặng quá… Dưới ngọn đèn dầu, mình cùng bác Sán ngồi nói chuyện mãi về anh Phạm Hồng Sơn và những người như anh, những người con yêu của dân tộc.

Đêm đã quá khuya lúc nào không hay.

Tối 21/11, ra trụ sở đội 5 nói chuyện với bác Sán. Ban giám đốc mới sắp đưa bác đi học một tháng, sau đó chưa biết thế nào. Mới nghĩ đến cảnh hai bác cháu phải xa nhau đã cảm thấy buồn buồn. Mình giúp bác được quá ít, cũng chưa học được ở bác bao nhiêu. Tối 16/12, hai bác cháu chụm đầu dưới ngọn đèn làm việc. Bác cho biết ban giám đốc có ý định lấy mình làm thư ký riêng, tập hợp tình hình…

18/12 máy bay Mỹ đánh phá cầu Long Biên rất điên cuồng, quyết liệt.  Chúng bay dọc theo cầu mà thả bom. Cầu bị phá hại hơn tất cả các lần trước. Mất hẳn một trụ và đứt mấy nhịp. Nhưng ngay tối hôm ấy, thanh niên xung phong đã làm xong một cầu phao mới, ô tô đi lại được. Có một nhóm văn nghệ ra tận đầu cầu phao hát đàn phục vụ. Người đàn hát và người xem đều đứng trong bóng tối. Số người đàn hát có lẽ cũng bằng số người xem. Anh chị em còn phải đảm bảo thông xe, chỉ thay phiên nhau lên xem thôi. Trong bóng tối, một nữ diễn viên sôi nổi hát bài Cô gái vót chông trong gió rét, hai tay nắm vào nhau duyên dáng. Hôm sau, lại liên tiếp có mấy trận đánh lớn, bom bi nổ liên miên. Hai thanh niên xung phong bị thương nặng. Hai cầu phao vẫn rất đông khách

Cuộc họp toàn đội 5 tối 27/12 thật cảm động. Tất cả bà con phát biểu đều không tán thành giải tán Đội; nêu bật tình cảm tha thiết gắn bó với nhau hơn một năm trời biết bao kỷ niệm vui buồn có nhau. Hôm sau tiếp tục có nhiều tin về việc mình chuyển  công tác, nhưng mặc kệ. Cụ Sán thì yêu cầu mình làm cho cụ một bản tổng kết về Đội 5, chỉ để bỏ túi thôi, chẳng gần gửi đi đâu.

Đầu tháng 1/1968, mình xuống Đội I, tắm và gặp gỡ anh chị em công nhân mới ở nông thôn ra, ai cũng kêu ăn đói, nằm rét và nhớ nhà, chán nản lắm.

Để cả một buổi trưa để tổng vệ sinh căn gác nơi ở mới thành nơi làm việc, học tập. Gác cao, thoáng, lúc nào cũng có tiếng xe hơi, tiếng người. Chỉ cần bước ra sân thượng là thấy sông, thấy tàu, thuyền bè sà lan, những con người đang lao động: công nhân, bộ đội, chủ hàng, các cán bộ lãnh đạo. Buồng nhìn ra ngay cần cẩu cổng lừng lững chuyển hàng. Có lẽ chỉ có một nhược điểm: Có máy bay, báo động chạy không kịp là chết tươi. Vì đây là trọng điểm của khu vực trọng điểm. Công việc chuyên môn ở một đội mới hầu như toàn người mới làm mình mệt phờ. Tối nào cũng 12 giờ, hoặc một giờ, một rưỡi mới đi nằm mà năm sáu giờ sáng đã lại làm việc. Mình ngủ ngay tại phòng này. Cho nên bạn nào có tâm sự cũng tạt vào trút bầu tâm sự. Vui mà mệt quá.

Chiều 29/2/1968, cụ Sán bảo tôi tối nay cùng cụ ra trực ở chỗ cần cẩu cổng, cụ cũng đã báo các tổ trưởng sản xuất và tất cả đảng viên trong chi bộ. Tối gặp nhau, chỉ có hai bác cháu ngồi nói chuyện với nhau một lát, vẫn không có ai đến. Cụ đã vê một điếu thuốc lào, nhưng không hút, bảo tôi về nhà xem còn không hay tan nát cả rồi.

4 giờ sáng ngày 1/3/1968, tôi đang ngủ ở nhà thì nghe tiếng máy bay bay rất sát, rồi có tiếng bom, tiếng súng bắn. Báo động, đến 4:30 thì báo an… Tôi đi làm với ý nghĩ chẳng qua cũng như những lần trước thôi, một nơi nào đó bị bắn phá, còn cuộc sống vẫn tiến hành như bình thường. Không ngờ, đến gần cảng mới được biết là sáng nay, bom Mỹ đã trút xuống đất cảng 18 quả bom, vào đúng khu vực đội I của mình. Mình vào một nhà quen trong khu Phà Đen, gửi gạo xin ăn cơm cả ngày, rồi sang ngay Đội I, không lên xí nghiệp làm công tác văn nghệ như đã định. Một cảnh tan hoang bày ra trước mắt; gạch ngói ngổn ngang, từng dãy nhà kho cao rộng đổ sụp, ngói xô. Phòng làm việc của mình bị bật tung cửa, cái khóa xe đạp vẫn nối hai cánh cửa với nhau cùng văng xuống tầng dưới, vôi vữa gạch ngói ngổn ngang, bàn lật ngược. Cả những khung sà lan lớn chưa lắp ráp cũng ngổn ngang giữa đường. Mình tham gia đào bới khiêng xác các công nhân hy sinh, cảng mất năm người, kho lương thực mất hai người. Chị Bê cao lớn, khỏe mạnh vui tính, chị Tự ranh mãnh hay lảu cảu đùa cợt, anh Lạc, một công nhân mới trẻ khỏe hóm hỉnh, và chị Bé, anh Chuẩn, những công nhân hiền lành, tất cả đều nằm đây, hầu hết đều còn nguyên vẹn, trông như người đang ngủ. Chị Bê đẹp như một pho tượng nữ thần, mặt phủ một lớp bột xi măng và đất mỏng. Chỉ có anh Chuẩn là mất một cánh tay. Tôi khiêng các anh, chị mà sao thấy như khi chết con người ta nặng hơn khi sống. Số bị thương thì khá nhiều, nhưng không mấy ai bị nặng. Chuyển xác xong, mình phụ Bảo lái cẩu vạn năng cần dài 25m, cùng anh Khiêm kỹ thuật ra ngay chỗ bom nổ chậm thu dọn, cẩu những khoang xà lan ra khỏi mặt đường. Sau đó có thêm anh Thuận chồng chị Tửu và anh Mậu ra cùng làm. Tất cả làm việc hăng say, khẩn trương không hề có ai lo sợ sẽ mất mạng vì bom chưa nổ hết. Chiều đưa tang công nhân. Mình vẽ ngay hai áp phích vào bảng, kêu gọi trả thù cho đồng đội. Hai bảng bày ngay ở nhà ăn.

Sau một đêm yên tĩnh, cảng lại hoạt động bình thường. Trừ đội I còn bom chưa nổ phải kéo quân đi làm nơi khác. Vào thăm khu ở của công nhân mới, 13 người, chỉ còn 4 người ở lại. Khác hẳn số công nhân cũ, ngày nào đến ca cũng ra xí nghiệp chờ lệnh… Chiều lên lại chỗ có bom nổ chậm, vào trụ sở đội, lên chỗ làm việc, lấy một số đồ lặt vặt rồi về. Chú Phạm Văn Cường gầy nhỏ ham làm thơ suốt hai ngày nay ở đấy rồi. Chú tham gia phá bom, rất khổ tâm vì mãi nó không nổ cho. Đáng mến lạ.

Cái đêm Mỹ ném bom bắn phá cảng dữ dội nhất ấy, bà vợ cụ Sán làm ca 3. Bà yếu sức nên làm tạp vụ lo bữa ăn giữa ca cho tổ. Ở gần cần cẩu cổng có gian nhà cấp bốn sát mé sông làm nơi nghỉ cho công nhân. Bà dọn mì nấu cho các công nhân nữ ăn trên cái bàn gỗ to, còn mình thì thu dọn xoong nồi. Ăn xong các chị bảo bà hôm nay nhường cái mặt bàn có quạt mát cho ba chị to khỏe là chị Bê, chị Tự và chị Bé lên nằm ngủ một lát. Bà đành xuống gầm bàn ngủ tạm. Không ngờ bom nổ, mái nhà sập, ba chị nằm trên chết ngay. Còn bà, nhờ cái bàn to gỗ dầy che nên thoát chết. Cụ Sán chỉ huy cứu sập đứng ngay trên bàn dưới có vợ mình mà không biết. Về sau, bà cứ khen tôi đã cứu bà, còn ông ấy nói rõ to, tôi nghe thấy tiếng, mà tôi gọi thế nào ông ấy cũng chẳng thèm nghe. May có chú đi kiểm tra mới phát hiện ra. Bà bị giập hai tay. Nhưng sống.

Hôm bom ném đội I, văn phòng nơi mình ngủ giường gãy đôi, sách vở tung tóe. Nhà ăn tập thể tan hoang, mình phải mò về Thanh Trì kiếm cơm ăn. Lũ trẻ ở đây hôm nay thật lạ. Hễ thấy mặt mình là chúng kêu chú Thành rồi ù té chạy đi, đứa nào cũng thế lo về nhà báo tin. Hóa ra hôm ấy có một chủ hàng tên là Thành bị thương nặng, xe cấp cứu chở đi. Tin về Thanh Trì ai cũng thương mình, bảo rõ tội nghiệp chú ấy, hiền lành, tử tế thế mà. Thành ra nhà chị Tửu đãi tôi một bữa ngon, mừng thoát đại nạn.

Tối chủ nhật ấy mình về nhà. 23 giờ thấy có báo động, rồi bắn, bom nổ. Tất cả chỉ kéo dài không quá 15 phút. Vậy mà hôm sau mồng 5/3/1968 đi làm sớm đã thấy một phần Lò Lợn, cả nhà máy cơ khí Lương yên, tất cả các kho thuộc nhà máy xay và một dãy nhà dân ở khu lao động Lương Yên… chỉ còn là những đống gạch vụn ngói vỡ, những khung mái trơ xương, những mảnh mái tôn quăn queo méo mó rúm ró. Rất may là nghe nói chỉ có một hai người bị nạn ở khu máy xay. Nhưng khu nhà ở thì có nhà anh Tý công nhân cảng, chết cả hai vợ chồng. Khu nhà máy xay chính bốn tầng vẫn đứng sừng sững giữa đống đổ nát, có tự vệ súng ống sẵn sàng canh gác trên tầng thượng. Tối 4/3, Cảng vẫn tiến hành đại hội công nhân viên chức ở ba địa điểm sơ tán. Họp xong, mình về ngủ lại khu anh em thanh niên. Đêm đã khuya, còn thấy anh em quê Thường Tín lục tục trở về cảng. Mấy hôm trước, sợ quá, họ đã bỏ cảng về quê, nay đã về gần đủ.

Văn phòng đội sơ tán về khu Phà Đen ở trong nhà một công nhân bốc dỡ, hầm đào ngay trong nhà. Ca sản xuất ban ngày, công nhân đi làm khá đông đủ. Ca hai, tương đối ít hơn. Cứ khoảng 18, 19 giờ là lục tục xin về. Dù có đuổi việc chúng tôi cũng cứ về nhà. Cái chết đột ngột không sao tránh nổi của mấy công nhân hôm 1/3 đã có hậu quả thật xấu. Tuy vậy, dưới ánh đèn đất tự chế sáng rực công nhân cảng vẫn tiếp tục làm việc. Các đội 2, 3, chưa từng bị tai nạn chiến tranh làm việc đều đặn hơn. Còn đội I, bên cạnh việc thanh toán hậu quả, sản xuất cũng đang phục hồi dần.

Cuối tháng 10/1968, Cảng Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đón Đoàn Kiểm tra ngành giao thông vận tải của Đảng và Chính phủ. Làm cổng chào, kẻ khẩu hiệu, dọn dẹp nhà xưởng, nơi làm việc, nơi sản xuất, bàn cả việc mổ bò làm phở xào… Mình là bí thư Thanh niên chi đoàn I bận suốt mấy ngày. Cuộc mít tinh toàn cảng tổ chức ngay ở khu vực sản xuất của đội I, trước cần cẩu cổng. Khẩu hiệu đỏ chữ vàng, đèn nhiều màu rực rỡ. Công nhân số đông là người lớn tuổi, mặc áo quần đẹp, sạch sẽ, còn cánh thanh niên thì chỉ một số ăn mặc đẹp, còn số đông vẫn đánh bộ bảo hộ lao động. Không mấy ai rõ mục đích ý nghĩa của cuộc mít tinh này nên không khí có vẻ tản mạn, kém sôi nổi. Về dự nói chuyện tại cảng có thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, cục trưởng Cục Vận tải Đường sông Bình Tâm. Nghe nói chuyện xong, công nhân bàn bạc nhiều. Họ biết đã bắt đầu cuộc chuyển mình lớn của cảng, cuộc sống của họ cũng sẽ sang trang.

24/10, Đội I liên hoan, mình được chia một miếng thịt bò, vội đem về nhà xào… Làm việc xong, rủ Bảo lái cẩu, anh Hữu Thông cùng về nhà ăn. Bất ngờ cậu Tuyên đến, báo cho biết sắp lên Tây Bắc, thăm em Nhàn được. Tự nhiên thành một cuộc họp mặt ý nghĩa, vui vẻ, trò chuyện thoải mái.

Tối 1/11/1968, dự cuộc họp rất sôi nổi với các tổ trưởng sản xuất. Hàng loạt vấn đề gay gắt của cuộc sống công nhân được đặt ra tìm cách giải quyết, nhằm nâng cao năng suất lao động cũng là nâng cao phẩm chất của người công nhân. Hôm 3/11, trời đẹp, người vui. Các báo đăng lời kêu gọi của Bác Hồ yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Cả một bầu không khí hòa bình tràn ngập khắp nơi. Phố xá đông hơn, người các tỉnh cũng về Hà Nội nhiều. Các đường phố treo cờ và những băng đỏ chói ngời câu nói nổi tiếng của Bác mà ai cũng nhớ nằm lòng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Như một lời nhắc nhở chớ quên Miền Nam. Như một mệnh lệnh: Tiến lên giành toàn thắng. Lại thêm một lứa thanh niên mới tuyển từ Đông Anh.

Ngày 5/11, nghe một tin phấn khởi sẽ có khoảng 200 công nhân cảng đi khu 4, mình sẽ xung phong đi ngay, tất nhiên sẽ phải mang theo mấy tập giấy, còn làm báo tường. Sáng 6/11, qua xóm Phà Đen thấy nhiều nhà đang dỡ ra dựng lại. Tối chủ nhật, ở cảng còn hai đám cưới nữa.

Dạo này họp nhiều mà không đi thì thiệt. Đúng là có tin đi khu 4 thật. Có thêm hai đám cưới nữa, là bốn đám tất cả. Chắc là những cặp đôi này không định đi khu 4 rồi, hay biết đâu  nổi máu anh hùng lên đi cả đôi thì sao. Ai mà biết được dân cảng này…

Tối 11/12 cùng các bạn trong chi đoàn ra bãi xem phim Liên Xô Án mạng phố Đăng tơ, một bộ phim tuyệt hay mình đã xem đến ba lần. Về khu tập thể để ngủ thì gặp các bạn làm ca 2 về, cho biết có chủ trương chính thức lấy công nhân xung phong đi công tác khu 4. Thế là nổ ra một cuộc tranh luận khá sôi nổi. Hôm sau, có người về quê… sơ tán. Mình hào hứng vận động anh em cùng đi. Sau một cuộc họp ngắn gọn trưa 12/12, không ngờ số người ghi tên tham gia đã khá đông. Riêng thanh niên đã có hơn 20 người. Cuối cùng chỉ duyệt được đúng 20 người. Riêng mình, vì yêu cầu công tác, bị để lại. Mình ức quá, anh em cũng rất tiếc. Trong những ngày này, mình thấy gắn bó với tập thể một cách lạ lùng, cảm thấy hạnh phúc được anh chị em yêu mến thật lòng, nhất là sau hôm báo tường số I Tiến lên của chi đoàn ra số đầu, được công nhân toàn đội hoan nghênh nhiệt liệt. Công nhân thấy có người lạ như cán bộ văn phòng hoặc người đội khác đến gần tờ báo là tiến lại gần xem có ý xấu không. Hôm bí thư Đảng ủy mới nhờ cậu kỹ sư đến dán bài thơ khen Tiến Lên, cũng bị giám sát như vậy rồi báo ngay cho mình biết ra xem. Công nhân coi tờ báo là tiếng nói của mình. Dịp này lại đúng kỳ làm lương cho nên mình quá bận rộn với đội mới có số người đông gấp bốn lần đội 5 cũ. Trưa không ngủ, làm việc liên tục 12 giờ mỗi ngày, tối lại gặp gỡ, bàn bạc với anh chị em về nhiệm vụ mới, nhất là việc phục vụ khu 4. Buổi hợp mặt anh chị em trong đội trước khi lên đường thật cảm động. Uống nước trà, hút thuốc, trò chuyện tâm tình, rồi hát, ngâm thơ tự sáng tác, chú Cường bốc vác, nhà thơ của Tiến Lên mượn bút mình viết ngay một bài thơ. Tất nhiên cũng như những bài viết cho báo tường, không có nhan đề. Chưa bao giờ anh em thấy thương yêu nhau, vui vẻ phấn khởi như thế… Tiếp đó cả người đi lẫn người ở đều xuống hội trường cảng dự liên hoan ngọt. Đang lúc giám đốc phát biểu thì có điện khẩn của cục đường sông báo hoãn ngày lên đường đến 15/12. Giám đốc Nguyễn Kim Bài nhấn mạnh là cho hoãn ba ngày, nhưng số người từ 30 sẽ tăng lên 50. Không dễ đâu. Thế là lại một cuộc vận động mới, trưa 14/12, người thứ 22 đăng ký. Mình nghĩ sẽ có hy vọng trong kỳ này bèn đi tìm bác Hoành trưởng đoàn đi khu 4 kỳ này. Bác cũng người Huế. Học lớp bảy mình dạy, rất nghiêm túc. Con người đen như được đúc bằng thép. Cao lớn, nét mặt khắc khổ nhưng giọng nói ấm áp, dịu dàng. Bác làm trưởng ban bảo vệ, sống một thân một mình ở cảng, nhưng không ăn bếp tập thể mà tự nấu ăn như nhiều ông già xứ Huế. Tối 15/12, trước khi ca 2 tan ca, bác đưa tôi lên gặp giám đốc Nguyễn Kim Bài, trình bày nguyện vọng. Giám đốc nheo mắt nhìn tôi rồi nói nhỏ Cậu tha thiết đi lắm hả. Thế thì, nếu mai thiếu sẽ cho đi…

Chuyện này không lường trước được nên tôi không báo cho cụ Sán biết.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/3/2019

P.T.

 

 

Trang sau »

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.