Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 23, 2020

Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:59 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2020

KVCT

*BÀI SỐ 9 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

9.- LÃO HOA-ĐƯỜNG, THIẾU HOA-ĐƯỜNG

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Ai cũng biết bài thơ chữ vịnh Kiều:

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,

Bán thế vinh hoa trái vị thường…

Ông nghè Chu Mạnh Trinh đã dịch nôm là:

Giọt nước Tiền Đường chửa rửa oan,

Phong hoa chưa trắng nợ hồng nhan…

Bài thơ chữ đó là của cụ Phạm Quí Thích, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Hoa Đường, vì cụ chính là người làng Lương Ngọc tôi, trước là Lương Đường, mà tên về đời Lê là Hoa Đường.

Tôi mộ cái tài học danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tên cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm chí mình quá

Nhân sao lục và dịch nghĩa ra đây:

Tho trong Lao Hoa Duong

Nghĩa là: ”Núi sông nước cũ đã khác hẳn, Tùng cúc vườn xưa nửa bỏ hoang. Trời đất mênh mông thân ẩn dật, cuộc đời bề bộn phận nho quèn. – Cốt bệnh ví cùng non thu ốm – Lòng tôi chỉ bạn với trăng suông, – Có kẻ khuyên ta vui chè rượu, – Thử hỏi Tam Lư có chịu say?”.

Trời đất mênh mông thân ẩn dật

Cuộc đời bề bộn phận Nho quèn!

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ ”tài” vậy.

Song chữ ”tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.

Lao Hoa Duong_Thieu Hoa Duong

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Hồi ký – P3 (kỳ 1 tháng 12 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

Hồi Ký

Phạm Thị Giá

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày 22/2/1992 mẹ tôi – cụ Phạm Thị Giá xuống Bạc Liêu sống với gia đình em gái tôi là con út theo ý muốn của mẹ.

Sau kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 (1913-1993) mẹ viết Hồi Ký kể lại cho các con, viết về những chuyện của gia đình các con ít biết hoặc không biết. Hồi Ký viết xong ngày 6/1/1994, tức ngày rằm tháng chạp năm Quý Dậu như mẹ ghi ở cuối tập này.

Từ ngày 26 đến 28/4/1996, tôi đưa vợ chồng cậu Phạm Tuân con trai út của học giả Phạm Quỳnh về thăm mẹ. Mẹ đưa cho tôi tập Hồi Ký này. Sau đó, em gái biết chuyện mới viết thư lên bảo GỬI XUỐNG NGAY CHO MẸ. Tôi gửi bán chính tay mẹ viết xuống sau khi đã phô tô một bản là bản hiện nay đưa ra cống hiến bạn đọc

Tôi giữ nguyên văn những gì mẹ viết, chỉ khi thật cần thiết mới ghi chú cho rõ ý người viết và bảo đảm độ chính xác của sự việc.

*

*        *

Phần 3

Khi đó cậu Khuê vào quân đội và tiếp tục học lên bác sỹ, cậu Tuyên đi Thiếu sinh quân sang dậy ở Trung Quốc (Thật ra là cậu Tuyên tìm vào Yên Mô 1947 học và thi đỗ tú tài , vào học trường pháp lý rồi theo trường lên Việt Bắc, cả trường vào lục quân, thành trường Lục quân Việt Nam khóa chuẩn bị tổng phản công). Cô Bích Đào (Cô Bích Đào là em bác Phương Khanh) vào đón 4 mẹ con chị Phương Khanh ra Hà Nội.

Những người tản cư ở Vạn Lộc đã rục rịch về Hà Nội. Tôi nghĩ mình cứ ở thế này mãi, gieo gánh nặng cho Dì Hỷ vừa phải phụng dưỡng bà Ngoại, nuôi các em mà gia đình mình thì 7 mẹ con, nên tôi nói với bà Ngoại ý muốn ra Hà Nội, sẽ đi cùng toán những người làng cùng đi. Bà Ngoại nghĩ cũng thương tình nhưng bà bảo mới lần đầu ra chưa biết thế nào hay cho 3 đứa ra, còn 3 đứa ở lại sau, như vậy là em Mỹ (Trong bài Trưởng nữ của học giả Phạm QuỳnhBa chị em tôi đã viết rõ: Chị Mỹ 14 tuổi bị lao phổi nặng, phải ra Hà Nội tìm thuốc chữa bệnh), Thân và Nhàn ra bà lại bảo cho cô Diễm (Mẹ viết tên em gái là Diễm đúng theo ý ông Ngoại. Nhưng khi khai sinh họ viết lầm, làm bà Diễm  phải mang tên Giễm trên mọi giấy tờ giao dịch suốt đời) đi cùng đỡ đần chị bế ẵm cháu nhỏ. Có mấy người ở Hành Thiện họ đã ra vào Hà nội nhiều lần nói Hà Nội nay đông vui lắm.

Họ tổ chức thuê một chiếc đò đi đến Cống Thần. Tôi em Diễm, ông Hạt và mấy cháu tới hôm ấy ra đò. Xuống đò đã thấy chật ních những người, chúng tôi ngồi co chân rất chật. Một ông đi cùng bà mẹ 70 tuổi, cô em gái ngoài 40, bà vợ và 3 người con. Thấy tôi ngồi chật quá ông ta nói:

“Bà và các cháu ngồi thế này cả đêm chịu sao được, tôi tính thuê thêm một chiếc đò nữa, bà và các cháu sang ngồi cho thoải mái, hai đò sẽ cùng đi”

Tôi nói: “Có ai sang cùng thì tôi mới sang, nếu mình gia đình tôi thì tôi không sang”.

Ông ta nói: “Thôi để cụ cháu và cô cháu sang cùng”.

Thế là gia đình tôi và hai bà con họ cũng sang đò.

Sang đò ông ta nói hai đò sẽ buộc giây và đi kèm cùng nhau. Tôi thấy vậy cũng yên tâm. Đò rộng, đêm thanh vắng. Gió mát, nằm ngồi thoải mái, đò cứ từ từ lướt dòng sông. Các con đều ngủ yên, mình tôi thao thức cứ nghe tiếng chèo khua nước lép bép. Mãi đêm đã khuya tôi không nghe tiếng chèo đò bên cạnh, vội ngó đầu ra nhìn thì chẳng thấy có đò nào đi bên cả, tôi hỏi lái đò họ nói “không biết sao thuyền kia lại cởi giây và không đi nữa”.

Tuy nói vậy nhưng họ vẫn cứ chèo hết đêm cho đến sáng hôm sau, cũng không thấy bóng dáng thuyền kia đâu. Bà cụ cứ phán nàn, không biết đò cậu cháu sao đi chậm thế, coi có vẻ sốt ruột lắm!

Đò cứ đi cho tới trưa, chúng tôi nấu cơm ăn và cũng mời hai bà con cùng ăn. Hai bà con ngồi đầu mũi thuyền. Cứ mỗi lần nghe ù ù tiếng máy bay, thuyền lại giạt vào bờ. Mọi người lên bờ ẩn nấp, bà cụ và cô con gái chạy lên tìm chỗ ẩn, chúng tôi có hai cháu nhỏ nên lên chậm, có chỗ nào ẩn tốt bà cụ đã đến trước, xua tay bảo chúng tôi ra tìm chỗ khác lên cả đây thì chết cả bây giờ.

Chúng tôi lại tìm chỗ khác ẩn, xung quanh toàn đồng cỏ mênh mông không có một bóng cây nào mà nấp nữa, ba bốn lần chạy máy bay như vậy, chúng tôi không tìm được chỗ ẩn nấp, thậm chí phải nấp dưới một bụi dền gai, lấy khăn vuông đen chùm lên đầu và niệm Phật thật to cho át tiếng máy bay cho đỡ sợ. Máy bay qua rồi lại xuống đò. Lần nào mẹ con bà cụ cũng chạy lên trước tìm chỗ tốt ẩn nấp và lần nào cũng xua chúng tôi đi nơi khác, lần này tôi tức quá tôi nói: tôi không đi đâu hết cứ đứng đây, bà biết tìm chỗ sống mà lại đẩy mẹ con tôi ra chỗ chết à.

Cho đến 2g chiều lại nấu cơm ăn và cũng cho hai mẹ con bà ta ăn, tuy họ ác nhưng thấy cũng tội nghiệp, bà ta luôn lo sợ con trai không hiểu sao mà bỏ mẹ và em đến cả ngày không nhìn đến!

Đò cứ đi cho đến 4 giờ chiều thì đến Cống Thần, lái đò đỗ lại và đòi tiền đò rồi đi vì họ nghe nói hôm qua máy bay có bắn mấy chiếc đò ở đây. Chúng tôi phải trả tiền, họ đòi bao nhiêu phải trả bấy nhiêu nào tôi có biết họ thuê bao nhiêu và cũng tưởng có người cùng đi sẽ trả cùng.

Lên bờ thấy vắng vẻ chả thấy đò nào  đến cả, hỏi ra mới biết Cống Thần đến 5g họ mới mở cho vào, đến sớm chỉ chết máy bay nó bắn thôi. Chúng tôi trong lúc chờ đợi tìm được một cái hầm, nếu có máy bay sẽ trú vào đó, có người đi qua họ nói lần này sắp xập không ai dám vào ẩn. Lúc đó, tôi nghĩ nếu có máy bay bắn thì cũng đành nấp vào đó, xập hầm thì có chết cả khỏi ai chôn nữa!

Mãi đến hơn 5 giờ mới thấy lác đác có đò đến, thấy có đò cả gia đình ông ta, bà cụ mừng rối rít hỏi. Ông ta thản nhiên nói đến sớm để mà chết à, hơn 5 giờ họ mới mở cửa cho vào mà.

Tôi nghĩ con người thật ích kỷ và độc ác, biết mà không bảo cho chúng tôi, họ chả nghĩ gì đến mẹ và em họ nữa!

Chúng tôi cho ăn cơm cả ngày, lại trả cả tiền đò mà không hề cám ơn một tiếng!

Đến giờ họ mở cửa Cống, mọi người đổ xô nhau, chen chúc đi vào, ở đây họ mua bán sầm uất vui vẻ lắm, đủ mọi mặt hàng, hàng quán ăn uống cũng đầy rẫy.

Tuy ghét lão ta nhưng nghĩ mình bơ vơ cũng chưa biết đi đâu, tôi hỏi ông ta trọ ở đâu cho tôi đi cùng, ông ta cười nói: “Chúng tôi còn ở đây một tháng”

Nghe vậy tôi thấy không thể bấu víu vào đâu được, đành cứ theo mọi người mà đi.

Đến một nơi thấy bao nhiêu người ngồi dưới đất trước một cái đình, có 2 tên lính da đen đứng gác và khám xét đồ đạc mọi người mang theo.

Tôi hỏi mọi người cho biết: chúng tôi chờ đã hai hôm nay mà chưa thấy quan hai đến để xin giấy vào làng lề.

Tôi ngao ngán quá, giữa lúc ấy thì thấy mọi người ồn ào đứng lên họ nói quan hai đã đến.

Tôi đứng đằng xa nhìn lên thềm đình thì thấy một tên Pháp đứng hai tay chống nạnh mặt cau có hét to lên một tiếng “Sale (Tiếng Pháp nghĩa là bẩn thỉu. Cả câu là: Bọn nhà quê bẩn thỉu) nhà quê”

Tôi lúc ấy không biết nghĩ sao, có một sức mạnh nào đó làm tôi mạnh dạn hẳn lên, có lẽ vì nghĩ nhiệm vụ của mình phải bảo vệ em và các con nên tôi đứng lên gạt mọi người tiến thẳng đến trước mặt tên quan hai bập bẹ vài câu tiếng Pháp: Bonjour Lieutenant, je vous pris de me donner un laisser-passer, mon mari est à Hanoi (Tiếng Pháp nghĩa là: Chào ông trung úy, xin ông cấp cho tôi giấy thông hành, chồng tôi ở Hà Nội)

Tên quan hai nhìn tôi, nét mặt hắn dịu lại, và quay vào bảo mấy người ngồi bàn giấy đưa cho tôi một cái giấy có chữ ký và đóng dấu đỏ. Tôi cầm lấy và nói:

Je vous remercie bien Lieutenant, nó gật đầu mặt tươi lên và nói: Ce n’est rien madame” (Tiếng Pháp:  Tôi xin cảm ơn Trung úy – Không có gì, thưa bà)

Tôi mừng quá vội cầm giấy ra đi, có mấy người xôn xao: mình đợi mãi mấy ngày, bà ấy biết tiếng Tây nói nên nó cho giấy ngay.

Có hai thanh niên nhập bọn cùng chúng tôi.

Tôi hỏi: lúc nãy Tây đến nó khám hai cậu, nói gì mà chỉ vào chúng tôi, nó túm áo hai cậu mà.

Anh ta nói: chúng tôi thanh niên đi mấy lần mà không thoát, nó hỏi tôi chỉ vào bà và các cô tôi nói là đi cùng gia đình. Nó nhìn thấy đàn bà, trẻ em nó yên chí là gia đình nên cho đi. Thế là tất cả mọi người cùng đi, hai anh thanh niên một anh cõng em Thân, một anh bế đỡ em Nhàn, vui vẻ cùng đi cứ thẳng đường đi tới làng tề, tìm đến nhà lý trưởng xin ngủ nhờ. Vì lúc đó đã xâm xẩm tối, trời mùa đông rét mướt. Tìm đến nhà ông lý trưởng làng tề thì ông ta nói:

  • Bà phải xin giấy ông quan ba, chúng tôi mới dám để bà nghỉ lại, nếu không tụi lính da đen nó đi tuần nó khám cho là chúng tôi chứa Việt – Minh thì nguy lắm. Bây giờ bà cứ đi nhìn đằng xa có ánh đèn điện sáng có một cái lán rộng đó là chỗ bọn Pháp ở đó. Xin được giấy của quan ba là ở đây được.

Tôi ngần ngại quá, nhưng biết làm sao được, nếu không có giấy phép  đêm nay ở đâu được, nhà nào dám chứa mình nữa!

Tôi nói với ông lý cho mấy người nhà tôi ngồi tạm đây, tôi sẽ đi xin giấy.

Tôi vội vã ra đi, cứ theo hướng có ngọn đèn điện xa mà đi, đường ruộng mấp mô, chân bước thấp bước cao trong đêm tối gió lạnh buốt của tháng hai, lòng hồi hộp, chốc lại thấy một tên lính da đen ôm một gái làng đi. Đi mãi mới tới một lán rất rộng, đèn sáng trưng một tên lính da đen đứng gác. Tôi chỉ tay bảo tên da đen tôi vào ông quan ba. Nó cho vào.

Vào tới trong lán, tôi thấy lố nhố bao nhiêu Tây cởi trần ngực đầy lông, hình như họ mới ăn cơm tối xong.

Tôi bước tới trước mặt một tên to lớn ngồi ở đầu bàn, chắc là quan ba tôi nói:

Bonjour Capitaine:

Vous serez aimable de me donner la permission moi et mes enfants de passer cette nuit chez le ly trưởng, si non on m’a refusé, mon mari est à Hanoi” (Tiếng Pháp: Xin ông vui lòng cho phép tôi và các con ở lại nhà ông lý trưởng đêm nay. Nếu không họ sẽ từ chối. Chồng tôi ở Hà Nội).

Cứ nói bừa miễn nó hiểu là được.

Tên quan ba nhìn tôi rồi gọi một tên bồi đưa giấy bút, hắn biên và đưa giấy cho tôi, đồng thời bảo tên bồi đưa tôi lại nhà lý trưởng, tên bồi “uẩy me sừ” (Tiếng Tây bồi: Vâng, thưa ông) cúi đầu ra.

Tôi cầm giấy cám ơn tên quan ba:

Je vous remercie bien capitaine

Nó nói: “Ce n’est rien madame” (Tiếng Pháp Xin rất cảm ơn ông đại úy – Không có gì, thưa bà)

Ra khỏi lán tên bồi bảo tôi: “đến được thì về được, không phải ai đưa nữa”

Tôi lầm lũi đi, lúc đi thì cứ theo ánh đèn mà đi, nay về bóng tôi mênh mông cứ nhìn xa lũy tre mà đi, tuy vậy lòng cũng mừng thầm là đã xin được giấy.

Về tới lũy tre thì không tìm đâu thấy cửa nhà ông lý. Tôi cứ trở đi trở lại quanh mãi sau gặp một người đi qua vội hỏi nhà ông lý đâu, thì họ bảo ngay đây, họ đóng cửa bà gọi trong nhà ra mở. Tôi lên tiếng gọi thì trong nhà ra chống cây tre là cổng mở. Tôi vội vào thì chỉ thấy hai thanh niên và hai em Thân, Nhàn đang ngồi khóc. Tôi hốt hoảng hỏi: “hai cô em và con gái tôi đâu?”

Họ nói: các cô thấy bà đi lâu sợ Tây nó bắt bà nên khóc và đòi đi tìm, chúng tôi ngăn không được nên giữ hai em để các cô đi vậy.

Tôi vừa lo vừa giận nói: “sao các anh lại để em và con gái tôi đi đêm tối nguy hiểm này”

Nói rồi tôi vội vã đi tìm, đi được một quãng thấy đằng xa có hai bóng đen tôi vội gọi to: Diễm Mỹ ơi!

Hai cô cháu vội chạy lại ôm lấy tôi mà khóc:

  • Chị ơi, em tưởng Tây nó bắt mất chị, lo sợ quá nên đi tìm.

Tôi vội vào nhà đưa tờ giấy phép cho ông lý, ông ta vui vẻ cười và nói:

  • Có giấy này tụi da đen nó đi tuần khám không sợ nữa.

Tôi nói với ông lý

  • Nay mọi việc đã tạm xong, bọn tôi đi từ chiều cũng đã đói ông cho nấu cơm ăn, bao nhiêu chúng tôi xin chu tất. Chúng tôi xin nước rửa mặt, chân tay rồi ngồi đợi cơm. Ngồi đợi một lúc thì mâm cơm đưa lên, tôi nhớ bữa cơm hôm ấy ăn sao mà ngon thế, cơm chỉ có cải bắp luộc cà chua một chén nước mắm và một đĩa muối vừng rang mặn.

Ăn xong mọi người yên nghỉ, sau một ngày vất vả lo âu!

Gia đình ông lý giã gạo suốt đêm làm bánh trôi bánh chay hôm sau bán, tôi sực nhớ sắp đến tháng ba Tết Hàn Thực.

Sáng hôm sau đã thấy một mâm bánh trôi, bánh chay mang lên, cả nhà ăn vui vẻ, xong tôi cám ơn ông lý và thanh toán tiền rồi chúng tôi ra đi.

Ra đi một quảng thì chúng tôi gặp gia đình ông bà kia, người nào người nấy mặt mũi phờ phạc.

Tôi hỏi mát một câu: Tôi tưởng ông bà còn ở một tháng kia.

  • Ông ta nói gượng gạo. Nói vậy chứ đã ra đến đây ai lại còn ở lại. Chúng tôi đi cả đêm gặp bọn da đen nó khám nó lấy cả bút máy, đồng hồ, lẫn bao nhiêu tiền lấy hết, hôm qua bà ngủ ở đâu?
  • Tôi nói: Tôi xin giấy phép quan ba, ngủ ở nhà ông lý sáng nay ăn uống rồi mới đi đây.

Thật đáng ghét, trời có mắt thật, kẻ ác, ích kỷ đã gặp không may, chúng tôi ăn hiền ở lành nên được mọi sự may mắn.

Chúng tôi đi mãi quãng đồng  thì gặp một bà gánh hai thúng không, bà ta hỏi:

  • Bà có ra Hà Nội không, tôi đưa đi.
  • Tôi hỏi: tôi có bà em ở trước cửa chợ Đồng Xuân, nếu bà đưa tôi đến đấy, bao nhiêu tiền tôi cũng trả.

Bà ta vội bảo cho hai em ngồi vào thúng, em Thân ngồi một bên, còn em Nhàn phải chèn thêm một hòn đất to cho cân.

Xong bà ta gánh đi veo veo, em Diễm đi sau tôi, cứ khóc: chị ơi, họ đem mình đi nộp thì bị tù cả đấy.

Tôi nghe sốt ruột vội gọi bà ta và hỏi:

“Bà đưa tôi ra Hà Nội hay  bà đem nộp.

Bà ta nói: Tôi dưa bà đi thì tôi được tiền chả tội gì tôi nộp.

Thế là chúng tôi cứ đường ruộng mà chạy theo bà ta, vì bà ta gánh nặng nên đi rất nhanh.

Tả tơi chạy theo, trong óc tôi lúc ấy nghĩ hai câu Kiều và thấy thấm thía:

Xưa sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường!

Đi mãi đến trạm Quỳnh Lôi, ngoại thành Hà Nội, thấy mọi người chờ đợi rất đông, hỏi thì họ nói:

Hôm nay thứ bảy họ không làm việc, mai chủ nhật cũng nghỉ thứ hai họ tiêm thuốc phòng bệnh mới cho vào thành.

Họ cho là những người tản cư đem các vi trùng nên bắt tiêm mới cho vào. Tôi thanh toán cho bà gánh thuê 500đ.

Nơi đây họ buôn bán rất đông, các hàng xén đủ thứ, quà bánh cũng lắm, thấy họ bán bánh mì, cá hộp sốt cà chua, mua mấy cái và hộp cá ngồi ăn, thấy dép con hổ (Loại dép nhãn hiệu Con Hổ bằng cao su trắng rất phổ biến thời ấy) họ bán thích quá mua mỗi người một đôi đi êm ái dễ chịu, bù mấy ngày đi chân không đau khổ quá!

Lúc ấy có một cô cũng người Hành Thiện cùng hồi cư ra. Cô ta ghé tai tôi nói nhỏ:

  • Bà có ai ở trong phố biên giấy tôi vào tôi đưa cho, tôi ra vào nhiều lần, đi một mình dễ…

Tôi mừng vội biên giấy báo cho cô Duy (Cô Duy tức dì Phạm Thị Hảo) biết tin là đã về đến trạm Quỳnh Lôi và còn phải chờ mấy ngày nữa mới được vào.

Biết có người tốt giúp đỡ nhưng chưa biết ra sao vẫn còn phải chờ đợi, đang lo không biết đêm nay ngủ ở đâu.

Đợi độ một giờ sau thì thấy một chiếc ô tô xịch đỗ ngay trạm, mặt kính trước xe có dán miếng giấy có hai chữ Dân biểu.

Xe mở cửa, chú Duy (Chú Duy tức dược sĩ Phùng Ngọc Duy chồng dì Hảo) ở trong bước ra, thấy tôi chú mừng và nói: Chị và các cháu lên xe về đi. Mọi người thấy vậy cũng mừng cho tôi. Có mấy bà lại năn nỉ: “Cho chúng tôi đi với”. Chú Duy nói;

  • Xe này không thể để ai đi nhờ được.

Lên xe rồi về đến cửa hiệu thuốc, trong nhà đèn sáng trưng, cô Duy ở trong nhà chạy ra đón, cô mặc complet satin (Tiếng Pháp, Đồ bộ xa tanh) trắng đẹp nõn nà, ôm lấy tôi, tôi mừng và tự nhiên thấy tủi thân rơm rớm nước mắt!

Cô cho biết là: chúng em phải về nhà ông Tuệ (Ông Tuệ là bác sĩ Phùng Ngọc Tuệ, anh ông Duy. Ông Tuệ là dân biểu) ở phố Nam Ngư, không dám ở lại đây tối vắng vẻ lắm.

Cô bảo anh Huệ người làm công cho cô tối vẫn ở coi hiệu thuốc làm cơm cho chúng tôi ăn và ngủ lại đấy.

Sáng hôm sau cô đến làm, sang chợ Đồng Xuân mua mấy bộ quần áo may sẵn cho các cháu, mua xoong chảo, bát chén cho chúng tôi thổi nấu ăn riêng.

(Còn nữa)

P.T.G.

Huế trong tôi thuở ấu thơ

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – HỒI KÝ – PHỤ LỤC

HUẾ TRONG TÔI THUỞ ẤU THƠ

Phạm Tôn

Tôi được về Huế sớm nhất chắc cũng năm hai tuổi (1942). Và xa Huế muộn nhất cũng năm bốn tuổi (1944). Rồi mãi tháng 9/1975 mới ghé Huế vài giờ trên đường vào Sài Gòn vừa giải phóng. Nhưng những ấn tượng Huế trong tôi vẫn khắc sâu trong tâm trí đến tận bây giờ, đã 80 tuổi, sắp về với ông nội, ông ngoại.

Hồi đầu, tôi được về Huế những dịp các chị và anh tôi được nghỉ hè. Một năm về vì có chiến tranh, ngay chợ Hàng Da gần nhà tôi đã bị máy bay quân đồng minh Mỹ ném bom, bố tôi đưa mẹ và các con về quê nội, còn ông vẫn làm việc ở Hà Nội. Tôi nhớ lần đó tàu hỏa phải tăng bo, mẹ tôi xách tôi đi xuống ta luy âm có đóng nhiều cọc, cứ bám vào mà xuống cho khỏi ngã.

Những lần về Huế hằng năm ấy thật vui vẻ. Ông ngoại cho xe hơi ra đón tận ga, đưa mẹ con tôi về biệt thự Hoa Đường bên sông An Cựu, ở lại một ngày cho lại sức sau chuyến đi dài, rồi cho xe đưa mẹ con tôi về nhà ông nội ở số 1 phố Chùa Bà, có tên tiếng Pháp rất lạ là Rue des États-Unies (tức đường Hiệp Chúng Quốc). Một con đường nhỏ, vắng vẻ.  Ở nhà ông nội nửa tháng, thì về nhà ông ngoại.

Tôi nhớ mãi là năm ấy tự tay mẹ may đem về biếu ông nội một bộ quần áo lụa, ké vào đó còn may cho tôi một bộ. Chiều chiều, cơm xong, ông nội dắt tôi đi sang nhà mấy cụ bạn già khoe cháu nội út vào thăm. Lại còn bảo cháu đọc bài thơ mẹ cháu mới dạy cho các cụ nghe. Tôi mắt đen lay láy đầu xiêu (thơ của cậu Phạm Khuê viết về tôi) đọc ngay bài tủ: Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên / Giang phong ngư hỏa đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại Hàn San tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Các cụ khen giỏi, ông nội vui vẻ vuốt râu bẹo má cháu. Tôi đọc trôi chảy, rõ ràng mà có hiểu gì đâu. Mãi năm bảy mươi tuổi, tra Tự điển Văn Học mới biết đó là bài thơ nổi tiếng của Trương Kế, nhà thơ tài hoa Trung Quốc.

Tôi có biết cụ bà sinh ra ông nội tôi. Lúc đó cụ đã già lắm rồi. Cụ sinh được ông tôi thì góa khi mới 22 tuổi, cạo đầu tu tại gia thờ chồng. Mỗi sáng tôi thấy cụ lấy tay vuốt sương trên rêu ở chậu cây cảnh, xoa vào hai mắt rồi thổi một niêu cơm bé tí, đơm một bát cơm úp đầy cúng chồng, bên cạnh đặt cái đĩa nhỏ đựng chút muối trắng và bên đối diện là mấy quả vả, ổi, khế hái ở vườn nhà. Ngày cụ chỉ ăn hai bữa, mỗi bữa một nửa chén cơm cúng. Thức ăn chỉ là quả vườn nhà, với chút muối. Cụ thường dạy chúng tôi Hạt muối nhỏ mà quí lắm đấy. Tụi tôi thường được cụ gọi lại cho kẹo. Cụ dùng dao con ăn trầu khơi kẹo mạch nha quấn vào que tre. Có lần chúng tôi mách mẹ: cụ cho ăn kẹo bẩn lắm – Mẹ tôi mắng rồi xem vì sao nói vậy, mới biết dao cụ khơi kẹo cắt vào tay chảy cả máu mà cụ không hay cứ quấn vào que tre cho các cháu. Cụ già quá rồi.

Sáng nào mẹ cũng gọi chị em tôi xuống bếp ăn cháo đặc. Trên mỗi bát có vài con cá bống nhà kho cứng queo. Mẹ xua tay vì tưởng có ruồi đậu; hóa ra là đậu đen, trên mỗi bát chỉ vài hạt thôi. Lạ miệng chúng tôi ăn rất ngon. Cháo do các cô nấu từ sớm để nguội.

Nhà ông nội thường ăn cá, tôm với rau vườn nhà. Tôi nhớ mãi món dưa muối bằng thân chuối non xắt mỏng, có riềng thơm ngon. Một hôm có tiếng rao qua ngõ ai mua khuyếc tươi không, ông bảo mẹ tôi gọi lại, mua một bát nhỏ tép con để chú nấu canh cho ăn ngon lắm. Ông lấy khế vườn nhà, nấu bát canh nêm nếm vừa vặn, mùi tép tươi thơm, ngọt cả nhà đều khen ngon.

Gia đình còn có các cô và chú Hoàng anh Lộc. Chú Hoàng làm thơ nay tôi còn nhớ mấy câu: Chiều chiều dạo trước vườn bông/ Một quang một gánh một nàng đậu xinh/ Đang gồng đang gánh lại gần/ Tấm thân bé nhỏ giáng hình cung trăng. Chú tả một cô bán tào phớ (đậu hũ) ở vườn hoa.

Các cô lo việc chợ búa cơm nước trong nhà. Đi chợ, tôi thường thấy chỉ đem một cái rổ nông. Thịt, cá đều để trong rổ, nước mắm gói lá chuối làm như cái phễu, dầu dừa cũng thế. Còn làm đẹp thì son quẹt vào mép lá, phấn nụ trắng cũng gói lá để trong rổ. Mùa mưa nhà mua nhiều cá khô, tôm tép khô. Các cô nấu cơm xong thì đặt siêu nước trên đám củi đang tàn dần đủ pha trà cả nhà uống sau ăn. Anh Khuê giúp ông tôi chăm sóc vườn, vì trùng tên với cậu Khuê bên nhà ông ngoại, ông nội đổi ngay tên thành Dê, cứ tên Dê mà gọi, chẳng để ý gì cả. Tính ông xuề xòa. Con gái có ai hỏi, ưng thì ông gả, ở với nhau không hợp thì lại về nhà.

Mẹ tôi kể: Ông nội về hưu năm mới 40 tuổi, vì nhất định không tuân lệnh công sứ buộc ông phải truy bắt dân lành mà chúng kết tội phản loạn còn ông thì lại cho họ là những người lương thiện. Ông viết thư báo cho bố tôi là: Nay chú hươu (hưu) rồi, việc nhà con lo. Năm ấy bố tôi mới 19 tuổi, dạy ở trường Gia Long, vừa dạy học kiếm sống vừa học thêm đến thi đỗ tú tài hai, mới cùng một số người bạn họp thành Hội giáo dục tư thục (tên tiếng Pháp viết tắt thành ADEL) rồi thành lập Trường Thăng Long (đóng tại Ngõ Trạm gần Hàng Da nơi ông ngoại tôi đặt trụ sở báo Nam Phong). Bố tôi còn tham gia lập Hội Nhà Ánh sáng, mong tạo điều kiện nhà ở nông thôn hợp vệ sinh, thông khí hơn. Về Huế, bố thuê thợ mở thật nhiều cửa sổ ở nhà ông nội. Bố tôi về Hà Nội, ông tôi thuê thợ bít kín lại hết, khỏi mất công đóng cửa lôi thôi, không cẩn thận còn bị trộm. Một góc khuất trong nhà có kê một cái tủ con, trên để đèn nến, cạnh đó tôi thấy có ba bức tượng đất nung tô màu. Một tượng đội xếp ai lỡ đánh vỡ mất cái đầu, ông tôi lấy cái bóng điện hỏng thay vào. Ông tôi theo đòi khoa cử đến được bổ làm tri huyện, nay ở nhà, ông viết câu đối, thơ văn chữ nho dán ở đầu giường và cả ở các cột nhà bếp. Lễ sinh nhật ông ngoại tôi là quan đầu triều, nhiều người biếu xén này nọ, ông bảo cắt buồng chuối ngon vườn nhà, đem biếu. Ông ngoại cho phủ khăn đỏ, còn cám ơn cụ cho nhiều quá. Không ai biết ông thông gia tặng quà gì. Ông là con một, nên giỗ chạp cũng không ít, nhưng ông không bỏ giỗ bao giờ, có điều nhà ngặt thường là cỗ mọn. Ai biết cũng quí. Tôi và anh Đại thích nhất là nhà ông nhiều cây, mà toàn cây thấp, thấp nhất là cây vả, cao thì có cây ổi không hạt và cây thanh trà ăn ngon hơn bưởi mà lại không the, cùi giòn, ăn được. Lại còn có lối đi bí mật là đi trong lòng dậu cây hai bên ngõ vào nhà. Anh em tôi còn bé chạy ở trong dậu cây cũng được, không ai biết.

Ở nhà ông nội, anh em tôi toàn ở trong vườn chứ ít khi vào nhà vì tối.

Hết nửa tháng, ông ngoại cho xe đến đón gia đình tôi về Hoa Đường.

Về đây, chúng tôi hay cùng các cô cậu ra chơi ở lăng Vạn Vạn, cứ tay phải cổng nhà mà đi là đến. Chơi ở đấy sạch sẽ, lại có nhiều bậc đá, cây cũng nhiều, tha hồ leo trèo, không ai cấm. Một lần, tôi theo các cô cậu ra đường, đi theo một đám tang tổ chức rất trọng thể. Tôi không biết tang ai, và có phải chôn ở lăng này không. Chỉ nhớ hôm đó trời mưa nhỏ, người đi đưa rất đông, có cả lính mang giáo. Tôi nhỏ nên len vào chỗ nào cũng được, cốt thỏa trí tò mò, cái gì cũng muốn thấy bằng được. Tới nay tôi còn nhớ rõ trước lăng mọi khi là một khoảnh đất rộng, hôm ấy được đào lên, dọn dẹp sạch sẽ lộ ra ba phía đều có bậc đá xanh, dẫn xuống một sân vuông vức. Xuống sân mới thấy phía trước là một cổng lớn bằng gỗ có đai sắt, cánh cửa đã kéo ra trên bánh xe sắt – Từ cổng, có đường ray chạy vào trong. Tôi nhỏ lại giỏi len nên vào được bên trong thấy như một cái hang to. Linh cữu được khiêng đặt trên xe goòng chạy trên đường ray, dẫn đến một huyệt đào sâu dưới đất. Tới đây, linh cữu được ròng rọc hạ xuống huyệt, trong một cái quách. Tiếp đó, tảng đá vuông treo trên miệng huyệt được hạ xuống. Việc chôn cất hoàn thành.

Tôi thường kể lại chuyện này, lần nào cũng bị mẹ mắng, cho là tôi bịa. Mãi đến sau này năm 1955, cô Bảy Tôn Nữ Thị Lợi ra sống ở nhà tôi, thì cô xác nhận tôi nói đúng. Vì cô có dự lễ tang đó, mà đúng là khi đưa tang, trời mưa nhỏ như tôi kể.

Về nhà ông ngoại, hai chị An, Mỹ vào hội với các cô học thêu, đan, làm bánh trái còn anh em tôi gia nhập ngay đội quân trẻ con đông đúc, đứng đầu là nhóm cậu Tuyên, cậu Xương (em họ cậu Tuyên) và anh Vinh (con trai bác cả Giao). Ngày nào cũng có trò chơi mới. Hôm thì bày trò Tắc Giăng bị mọi da đỏ bắt rồi trốn thoát. Cậu Xương mặc quần sịp dán giấy cắt hình tròn đen, vàng làm Tắc Giăng. Bọn tôi thắt dây đỏ, đen trên đầu, nhắt lông gà làm mọi da đỏ. Chúng tôi trói Tắc Giăng vào cột, cậu Xương đứt dây chuối thoát dễ dàng. Lần sau, cậu Tuyên đưa chúng tôi sợi dây điện. Cậu Xương không dứt được, vùng vẫy, đau, cáu cả bọn tôi sợ quá chạy đi gọi cậu Tuyên. Cậu cũng sợ, không biết làm sao. Mãi sau mới lén đến gần cột, gỡ khéo cái dây điện, cậu Xương thiu thiu ngủ, vùng dậy thoát chạy tìm bọn tôi, cả lũ chạy quanh vườn, cậu làm sao bắt được. Rồi dựng trại, tổ chức tiệc ăn toàn quả hái ở vườn, ai cũng cố tìm quả thật to, ngon. Anh Vinh đích tôn của ông tôi cố leo ra một cành thật cao, xa, với lấy một chùm gioi (mận) đỏ. Bỗng cành mảnh gẫy, anh bị ngã từ cao xuống, gẫy tay, phải bó bột. Cậu Tuyên còn tổ chức chiếu phim tự chế bằng giấy bóng kính. Chính cậu vẽ hình. Anh Vinh thì theo dõi tình tiết trên phim mà mở máy hát cho nhạc phù hợp. Hôm chiếu phim, ông Ngoại tiếp khách người Pháp, ông này muốn gặp con cháu vì nghe nói ông tôi đông con nhiều cháu. Ông mới dẫn xuống nhà gỗ đúng lúc chiếu phim. Về sau, ông khách gửi tặng cậu cháu tôi một máy chiếu phim Kodak 16 li.

Một chủ nhật, cậu Phạm Khuê, người bắn súng săn giỏi nhất nhà đưa tất cả chúng tôi đi săn lợn rừng, nghe nói dạo này xuất hiện phá hại hoa màu bà con vùng gần làng An Cựu. Cả đoàn đi thuyền, toàn con trai, con gái không ai muốn đi. Gần trưa thì cậu Khuê bắn được một con lợn lòi to. Khi khiêng nó xuống thuyền thì người chèo đò bảo không chở hết được đâu, nên cứ từng người xuống một, khi nào ông ta bảo thôi là không ai được xuống đò nữa. Cậu Khuê đã hoàn thành nhiệm vụ nên thong thả đi bộ cùng lũ chúng tôi, chỉ mấy người lớn, khỏe đi thuyền còn giúp đỡ người lái khi gặp trở ngại và có trách nhiệm khiêng lợn lên bờ. Con lợn được mổ, xẻ thịt ngay bến trước biệt thự Hoa Đường, máu đỏ cả một khúc sông.

Cậu Khuê còn trổ tài thiện xạ một lần nữa trong vụ xử lý con Chuýt. Nó là con khỉ to được cậu nuôi và rất cưng chiều. Nhưng gần đây nó giở chứng, quấy nhiễu mọi người, nhất là phá nhà bếp và chuồng gà vịt. Đêm đêm còn chạy lung tung trên mái nhà, kéo theo cái xích dài hai mét, kêu lục cục làm không ai ngủ được. Các chị bếp vào chuồng bắt gà vịt đều bị nó trêu ghẹo, nhảy lên đầu, kéo khăn, tóc. Đồ chuẩn bị nấu cũng thường bị nó làm đổ lung tung, khiến việc nấu ăn trong một gia đình đông người như nhà chúng tôi gặp trở ngại. Ai cũng bảo phải xử con Chuýt. Nhưng nó là con cưng của cậu Khuê xử thế nào, ai dám xử nó đây. Họ nói thật với cậu tất cả tội của con Chuýt, xin cậu giải quyết cho.

Mấy hôm cậu mất công ra trước cây me to ở góc sân, gọi nó xuống. Nhưng nó cứ xuống gần đến gốc, là nhe răng kêu chẹc chẹc rồi trèo vút lên ngọn cây. Cậu vốn người điềm tĩnh, vậy mà hôm đó, tôi thấy cậu đỏ cả mặt, chạy vào tủ súng săn, lấy khẩu hai nòng, nạp đạn rồi ra trước cây me, vừa cầm súng, vừa tha thiết gọi. Con Chuýt nhận ra chủ, leo ngay xuống, nhưng gần đến gốc cây lại vót lên. Cậu gọi lẫn nữa, nó vẫn trêu ngươi, không xuống mà cứ nhăn nhở kêu to. Tôi thấy cậu giương súng, nhắm lúc nó đã lên gần ngọn cây. Chỉ một phát, nó đã ngã từ trên cao xuống mặt đất. Cậu đến vuốt mắt cho nó, rồi nói người nhà thu dọn, chôn nó ở vườn. Cậu buồn bã cất súng.

Thỉnh thoảng chúng tôi được đi chơi xa với ông, bà. Như lần đi chơi núi Bạch Mã. Bữa trưa cả nhà ngồi ăn quanh một bàn dài. Đang ăn thì mây bay qua, không nhìn thấy người ngồi trước mặt. Còn vui nhất là lần đi điện Hòn Chén. Chúng tôi theo bà ngoại đi, ông không đi. Đi thuyền đến gần điện Hòn Chén đã thấy không khi lễ hội tưng bừng. Tôi thấy mấy chiếc thuyền kết lại với nhau làm thành một sân khấu, trên đó có người nhảy múa, vung kiếm, phun ra cả lửa. Càng gần điện, thuyền càng đông, cờ quạt nhiều màu sắc, người lên đồng cũng nhiều. Điện Hòn Chén nghi ngút khói hương như đang bốc cháy. Bà, mẹ và các cô lên lễ, còn chúng tôi chỉ ở trên thuyền xem các thuyền khác trang trí đẹp và lễ bái rất kỳ lạ, như diễn tuồng. Một lúc lâu thì bà, mẹ cùng các cô về, bổ bưởi đỏ mua ở trên điện về cho chúng tôi ăn. Bưởi to, ngọt, nhưng hơi the, không ngon như thanh trà nhà ông nội.

Về đến nhà mới biết mấy anh thợ khéo tay đã lấy hai chiếc răng lợn lòi cậu Khuê săn được hôm nào làm thành một món đồ tinh xảo, giống hệt hai ngà voi cắm vào cái bệ vẫn thường bày ở các nhà quan. Có điều là răng lợn nên bé xíu. Đây là món quà mỹ nghệ các anh làm theo ý cậu Tuyên vốn thích cái đẹp.

Nghỉ hè lâu, ông sợ con cháu lơ là việc học nên cho mời một thầy dạy kèm, tên là thầy Thành. Thầy hướng dẫn tất cả các trình độ ôn tập, cứ tuần hai tối đến nhà, dạy ở hội trường nhà gỗ, nơi sinh hoạt của giới trẻ. Những tối khác chúng tôi hay học hát, hoặc cùng nhau hát những bài đã học. Hồi ấy tôi đã học bài Lên Đàng. Thích nhất là đoạn Vai chen vai, chúng ta cùng nhau đi lên…

Bà Ngoại có một cách bồi dưỡng sức khỏe cho con cháu độc đáo. Bà đun cách thủy cao ban long với mật ong rồi cứ để nguyên cái liễn cách thủy ấy ở chỗ gần cầu thang, cắm vào đó một cái thìa dài. Ông đi qua bà đi lại, ai muốn ăn thì lấy thìa quẹt một cái, ăn xong lại cắm thìa vào liễn. Vậy mà ai cũng khỏe. Tôi nhớ hồi bé ở Hoa Đường có khi nào thấy trẻ con ốm đau đâu. Tất nhiên còn vì nhà có vườn rộng, tha hồ chạy nhảy,  mệt lại ghé liễn mật ong gần cầu thang.

Lũ trẻ Hoa Đường vui như hội mỗi khi Mụ Mệ gánh nồi chè đậu ván thơm phức, nóng hổi le te nhịp bước vào sân trước sảnh. Người giữ cửa thấy mụ đến là cho vào ngay, như người nhà. Lũ trẻ reo lên báo tin vui cho các dì các mợ xuống. Vì có vậy mới mua được chè. Mụ Mệ múc cho mỗi đứa một chén (bát) rồi đến người lớn. Chỉ một loáng, cả nồi chè cạn sạch. Mụ Mệ lại le te gánh cái gánh nhẹ tênh ra cổng. Thân đến nỗi, chúng tôi còn chơi với các cháu của mụ.

Tôi bé lại hay tò mò, có bạn cùng chơi thì quá vui. Lại như ở nhà ông nội, tôi cùng cả bọn lít nhít kéo nhau luồn qua các lỗ chó chui không cần ra đường, vì bị người lớn cấm, sợ tai nạn hoặc lạc. Cứ thế, chúng tôi từ nhà này chui sang nhà khác. Bên sông An Cựu có nhiều phủ, tức nhà riêng của các quan đương chức hoặc đã về hưu, nhưng nhà nào cũng có bình phong, sau bình phong là hòn non bộ. Non bộ dựng trong một bể có thả cá. Non bộ có trồng nhiều cây nhỏ xinh. Trên mặt nước, có thuyền và ngư phủ, tất nhiên là đồ giả bằng gốm sứ. Thú vị nhất là nhiều non bộ to còn có các hang sâu. Trong một hang tối om, có con hổ mắt thủy tinh. Chúng tôi cứ chui sâu vào từng nhà quan, đầu tiên là ngắm xem non bộ nhà nào đẹp hơn cả. Có đứa còn bạo dạn thò tay vào hang, vặt lấy cả con hổ. Mỗi khi lấy được vật gì thì vội lủi ngay. Mang về nhà cũng phải giấu giếm sợ người lớn biết. Cùng nhau xem lén. Rồi sợ lộ, đem đi chôn. Chuyện này hình như chúng tôi giữ bí mật đến cùng. Không thấy ai đả động đến cả. Bọn trộm nhỏ hồi ấy, có còn cũng trên 80 như tôi rồi.

Tôi nhớ mãi, chỉ một lần duy nhất tôi được cùng ông ngoại đi suốt từ Huế ra Hà Nội. Không nhớ vì sao chuyến đi ấy chỉ có mẹ và anh em tôi. Lần ấy, ông ngoại có việc ra Hà Nội, cho mẹ con tôi quá giang. Tôi nhớ là trời nóng bức. Tôi và anh Đại đều mặc quần soóc sơ mi cộc tay trắng. Hai anh em đều đi giầy cao su trắng có lỗ vậy mà chân vẫn ướt nhè mồ hôi, quyện với bụi đường đỏ mỗi khi xe ngừng xuống đi vệ sinh một lát, rất bẩn và khó chịu. Anh em tôi ngồi ghế cạnh tài xế, tha hồ ngắm cảnh. Tôi nhìn thấy xe đi trên đường đất đỏ, không hiểu sao con đường phía trước xe dưới nắng gió cứ cong lên rồi cuộn lại như trôn ốc. Tôi chỉ mong xe đi nhanh hơn chút nữa cho chóng tới chỗ cong lên xem lúc đó xe có lộn ngược không, như vậy sẽ rất thú. Nhưng đi mãi mà chẳng thấy chỗ nào xe lộn ngược cả. Cứ đến đâu thì đường lại phẳng ra đến đó. Có chỗ thấy đường loang loáng, nhưng không phải là mưa mà vẫn khô ráo, bụi mù. Xe chạy suốt đêm, trời mát chúng tôi lăn ra ngủ. Bỗng có người bắt xe dừng lại, khám giấy tờ, nhìn người ngồi trong xe, rồi cho đi. Đến Thanh Hóa, ông bảo dừng xe vào một bà bạn là nhà giáo. Nhà có bốn con gái, các chị khéo tay cùng mẹ làm bữa cơm thật ngon. Lần đầu tôi được ăn thịt đông giữa mùa hè, mà lại là thịt đông chưa ăn bao giờ. Do làm bằng thịt gà, còn có trứng và mộc nhĩ. Miếng ngon nhớ lâu, tôi ăn từ bấy mà đến sau này hơn bốn mươi tuổi, Tết tôi trổ tài làm món lạ, vợ phục lăn, ai ăn cũng thích. Nhất là mùa  đông nhắm rượu với thịt đông gà có trứng vàng và mộc nhĩ đen thái chỉ tuyệt đẹp, lại ngon. Ai cũng bảo chưa được ăn bao giờ.

Những điều tôi nhớ về Huế thời thơ ấu chỉ là mấy chuyện vụn vặt như thế thôi. Ông nội ông ngoại đều thương yêu con cháu, hiền từ, tính tình điềm đạm, không to tiếng bao giờ. Tôi thấy như hai cụ đều có trong chính con người tôi sau này. Tôi ham đọc sách, mê ngắm cổ vật, thích viết lách, họ hàng bảo giống ông ngoại. Tôi thích trồng cây, nấu ăn, tập viết chữ nho lại bảo giống ông nội.

Tôi nhớ mãi thời thơ ấu êm đềm, thảnh thơi của mình. Tôi không bao giờ quên ông nội, ông ngoại.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/11/2020, mùa bình thường mới Covid-19

P.T.

Tháng Mười Một 17, 2020

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 2 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2020.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/11/2020

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Trường THPT Nguyễn Gia Thiều

Sáng 14-11, Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội) tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm thành lập (1950-2020) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến.

Cùng dự với các thế hệ thầy giáo, cô giáo và học sinh nhà trường, có đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội; lãnh đạo Văn phòng T.Ư Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo,…

Từ buổi đầu thành lập, trường chỉ có một lớp trung học rồi trở thành trường phổ thông cấp 2 + 3, sau đó là trường cấp 3 đầu tiên của ngoại thành Hà Nội và là một trong những trường đi đầu theo phương hướng vừa học vừa làm để đào tạo học sinh vừa có kiến thức văn hoá vừa biết lao động sản xuất. Các thế hệ giáo viên và học viên nhà tường luôn tự hào về truyền thống vẻ vang của mình, có nhiều đóng góp cho đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng  xúc động ôn lại những kỷ niệm không bao giờ quên là học sinh có sáu năm liên tục (từ năm 1957 đến năm 1963) được học tập, được giáo dục, dạy dỗ đầy tâm huyết của nhà trường. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, Trường PTTH Nguyễn Gia Thiều là một trong những trường có bề dầy lịch sử, có phong trào và nền nếp dạy tốt, học tốt, một điểm sáng của ngành giáo dục Thủ đô, có đầy triển vọng tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Riêng với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đây là ngôi trường thân yêu, mang đầy dấu ấn và để lại nhiều kỷ niệm không bao giờ quên. Từ đáy lòng mình, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chân thành cảm ơn và không bao giờ quên công lao dạy dỗ, giáo dục, rèn giũa của nhà trường, của các thầy giáo, cô giáo và sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cán bộ, nhân viên nhà trường, sự đùm bọc, giúp đỡ, cộng tác của các bạn học sinh cùng thời.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước rất vui mừng, phấn khởi và tự hào về những thành tựu mà nhà trường đã đạt được trong 70 năm qua. So với thời kỳ đồng chí học tập thì đến nay trường khang trang hơn, sạch đẹp hơn nhiều, quy mô to lớn và các điều kiện, phương tiện học tập thuận tiện và văn minh, hiện đại, đầy đủ hơn; trình độ và chất lượng giáo dục, đào tạo ngày càng cao hơn, tốt hơn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhớ lại, thời đồng chí học thì trường lớp chật chội, nhà tranh, mái lá, sân đất; các phương tiện, phòng thí nghiệm, thư viện,… rất đơn sơ, thiếu thốn. Anh chị em học sinh phần lớn là ở xa, phương tiện đi lại rất khó khăn, hầu hết đi bộ hàng chục cây số. Nhiều người, trong đó có đồng chí phải đi ở nhờ, ở trọ, thậm chí vừa học vừa đi làm thêm để kiếm sống,… Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không phải ngẫu nhiên nhà trường liên tục nhiều năm được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc, đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua và được đón nhận nhiều phần thưởng, nhiều huân, huy chương và các danh hiệu vinh dự cao quý khác,…

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhiệt liệt chúc mừng những thành tích, kết quả mà các thế hệ của nhà trường đã đạt được, làm nên truyền thống vẻ vang và rất đáng tự hào. Đồng chí chia sẻ, không chỉ bây giờ mà ngay từ khi còn học tại trường cách đây gần 60 năm, đồng chí đã rất vui sướng, tự hào về mái trường mình được học. Nhớ lại năm 1962, nhà trường tổ chức cuộc thi bích báo giữa các lớp của khối 10, khi đó đồng chí học lớp 10B, đã viết bài thơ nhan đề “Năm cuối cùng của đời học phổ thông” với cảm xúc rất ngây thơ nhưng rất chân thành. Trong đó có các câu: Tôi vui tôi sướng biết bao nhiêu/Tôi học 10B – Nguyễn Gia Thiều/Nay đã trở nên “người anh cả”/Cuộc đời vui bay bổng cánh diều!… Làm gì đây cho đời thêm ý nghĩa/Năm cuối cùng của thời học phổ thông/Hay cứ để cuộc đời trôi lặng lẽ/Theo thời gian tẻ ngắt, lạnh lùng?!

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin rằng, với truyền thống 70 năm xây dựng, phát triển, trưởng thành, với nhiều thành tích và kinh nghiệm đã tích lũy được, trong thời gian tới, Trường THPT Nguyễn Gia Thiều sẽ tiếp tục phát triển vươn lên, không ngừng tiến bộ, ngày càng thu được nhiều kết quả tốt đẹp hơn, đáp ứng tốt những yêu cầu mới ngày càng cao hơn, khó hơn, xứng đáng với danh xưng Nguyễn Gia Thiều, xứng đáng với sự tin yêu, tin cậy và đòi hỏi của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nói chung, của Thủ đô Hà Nội nói riêng, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Thủ đô, đất nước.

Tại lễ kỷ niệm, đồng chí Vương Đình Huệ trao Huân chương Độc lập hạng Ba, phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng nhà trường.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tặng nhà trường 70 suất học bổng dành cho các học sinh tiêu biểu, xuất sắc; Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng nhà trường một phòng máy vi tính.

Tin: VĂN BẮC, Ảnh: DUY LINH

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/11/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì các hội nghị cấp cao giữa ASEAN với các đối tác và Hội nghị cấp cao Đông Á

Chiều 15-11, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37, đã phát biểu bế mạc Hội nghị. Nhân Dân điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Thưa Quốc vương và Quý vị đồng nghiệp,

Chào mừng Quý vị đến với Lễ bế mạc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các cấp cao liên quan.

Gắn kết và Chủ động thích ứng”, vượt qua rào cản không gian, thời gian lẫn hình thức tương tác, chúng ta đã có những ngày làm việc rất hiệu quả. Lãnh đạo các nước ASEAN đã trao đổi, thống nhất nhiều biện pháp quyết liệt, thiết thực đẩy mạnh hợp tác ứng phó và vượt qua các thách thức mà ASEAN phải đối mặt, trong đó có dịch bệnh Covid-19, giữ vững đà hợp tác và đưa ra những định hướng lớn cho Cộng đồng ASEAN phát triển ngày càng vững mạnh, thực sự trở thành hạt nhân của khu vực với người dân luôn ở vị trí trung tâm.

Cũng tại Hội nghị lần này, chúng ta đã nhất trí nhiều nội dung quan trọng tạo động lực mới cho quan hệ giữa ASEAN với các đối tác, khẳng định cam kết mạnh mẽ với hợp tác đa phương cũng như liên kết và tự do hóa kinh tế. Chia sẻ quan điểm về các vấn đề của khu vực và quốc tế đang nổi lên, chúng ta nhất trí vai trò trung tâm của ASEAN cần được duy trì và tiếp tục phát huy, thúc đẩy đối thoại, hợp tác, ngăn ngừa xung đột, xây dựng lòng tin, kiến tạo cấu trúc khu vực rộng mở, minh bạch, bao trùm và dựa trên luật lệ.

Thưa Quý vị,

Năm 2020 thực sự là một năm đầy thử thách với khối lượng công việc khổng lồ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Sau hơn năm thập kỷ hình thành và phát triển, ASEAN tiếp tục khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết, năng lực tự cường và khả năng thích ứng linh hoạt với các thách thức.

Nhiều quyết sách quan trọng thống nhất tại các Hội nghị

– Lãnh đạo các nước ASEAN thông qua (i) Báo cáo Đánh giá giữa kỳ các Kế hoạch tổng thể thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, nhất trí về sự cần thiết tiến hành (ii) Rà soát triển khai Hiến chương ASEAN, khẳng định nỗ lực phát huy tích cực vai trò của ASEAN thúc đẩy hợp tác tiểu vùng gắn với tiến trình phát triển của ASEAN để mọi người dân, mọi vùng miền có được cơ hội đóng góp cho cộng đồng. Hội nghị cũng đã thông qua (iii) Tuyên bố Hà Nội về Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2025 với kỳ vọng xây dựng nền tảng vững chắc cho con đường phát triển phía trước của Cộng đồng ASEAN.

– Hướng tới một Cộng đồng ASEAN giàu bản sắc, lãnh đạo ASEAN khuyến khích treo cờ ASEAN và sử dụng ASEAN ca, đưa hình ảnh ASEAN gần với người dân và cộng đồng. Nhân dịp này, lãnh đạo các nước đã thông qua Bản Tường thuật về Bản sắc ASEAN và ra Tuyên bố Hà Nội về Tăng cường công tác xã hội hướng đến một Cộng đồng ASEAN Gắn kết và Chủ động thích ứng. Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo nữ ASEAN lần đầu tiên được tổ chức, là cơ hội quý để phụ nữ các nước ASEAN đóng góp cho các nỗ lực phát triển và tăng trưởng bền vững của khu vực.

– Nhiều sáng kiến của ASEAN về hợp tác ứng phó Covid-19 và các nguy cơ dịch bệnh được công bố và đưa vào triển khai, như Quỹ ASEAN ứng phó Covid-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp khu vực, Khung chiến lược ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp của ASEAN và Trung tâm y tế ASEAN ứng phó với các tình huống y tế công cộng khẩn cấp và dịch bệnh mới nổi. ASEAN cũng thông qua Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Kế hoạch triển khai đồng bộ trên cả ba trụ cột Cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp sớm khắc phục hậu quả dịch bệnh, ổn định đời sống kinh tế – xã hội ở các quốc gia.

– Không ngừng mở rộng và làm sâu sắc thêm quan hệ với các đối tác, ASEAN nhất trí mở rộng Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông – Nam Á (TAC) để Cuba, Colombia và Nam Phi tham gia, nâng tổng số lên 43 nước. Hội nghị cấp cao Đông Á EAS-15 cũng thông qua các tuyên bố quan trọng, trong đó có Tuyên bố về 15 năm EAS và Tuyên bố EAS về Hợp tác biển bền vững. Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo ASEAN+3 về Tăng cường năng lực tự cường kinh tế – tài chính trước các thách thức, một lần nữa khẳng định vai trò và thế mạnh của khuôn khổ ASEAN+3 trong ngăn ngừa và ứng phó các nguy cơ khủng hoảng kinh tế – tài chính ở khu vực. Việc ASEAN và các đối tác kết thúc đàm phán và ký chính thức Hiệp định RCEP thể hiện cam kết và quyết tâm mạnh mẽ của các nước trong khu vực thúc đẩy tự do hóa và liên kết kinh tế, rất đáng khích lệ. Hơn 80 văn kiện được thông qua.

Thưa Quý vị,

Với những hành trang phong phú của năm 2020 và của các năm trước đây, ASEAN có thể tự tin vững bước vào thập niên thứ 6 – một chặng đường dài không ít thách thức nhưng cũng đầy hứa hẹn đang dần mở ra. Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến các nước thành viên ASEAN, các đối tác, các tổ chức quốc tế và bạn bè của ASEAN đã ủng hộ và hợp tác chặt chẽ cùng Việt Nam trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2020.

Tôi cũng đánh giá cao nỗ lực và đóng góp không mệt mỏi của các cơ quan chuyên ngành ASEAN trên ba trụ cột và ở các cấp cũng như Ban Thư ký ASEAN đã chung tay làm nên những thành quả tích cực của ASEAN trong một năm đầy khó khăn như 2020. Vai trò thầm lặng của những người làm công tác chuyên môn, kỹ thuật phía sau hậu trường các cuộc họp trực tuyến năm nay đặc biệt có ý nghĩa, giúp chúng ta thu hẹp sự ngăn cách về không gian địa lý để duy trì ổn định các hoạt động hợp tác và trao đổi của ASEAN.

Hơn hết, xin cám ơn người dân các quốc gia thành viên ASEAN đã chia sẻ, đồng cảm và chung tay góp sức, ủng hộ các Chính phủ vượt qua muôn vàn cam go, thử thách để Cộng đồng ASEAN gắn kết, tự cường và tự tin tiến lên.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn thân ái đến các đồng nghiệp Việt Nam trong đội ngũ phục vụ Năm Chủ tịch ASEAN 2020 từ các bộ, ngành liên quan của Việt Nam. Các bạn đã sát cánh đồng lòng ngày đêm để Việt Nam đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2020.

Thưa Quốc vương và Quý vị,   

Việt Nam hoàn toàn tin tưởng rằng Brunei Darussalam, trong vai trò Chủ tịch kế tiếp sẽ tiếp tục đưa ASEAN tiến lên phía trước hướng tới một Cộng đồng ASEAN với tầm nhìn liên kết sâu rộng, chủ động thích ứng, phục hồi toàn diện và phát triển bền vững.

Xin gửi đến Chủ tịch ASEAN 2021, Brunei Darussalam lời chúc tốt đẹp nhất.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các hội nghị cấp cao liên quan với các đối tác.

Xin cám ơn và chúc sức khỏe tất cả các Quý vị.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/11/2020

Lễ trao tượng trưng 1.000 tấn gạo hỗ trợ nhân dân Lào khắc phục hậu quả thiên tai

Ngày 13-11, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao tổ chức lễ trao tượng trưng 1.000 tấn gạo là quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam gửi tặng nhân dân Lào để hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thiên tai nặng nề tại tỉnh Xa-văn-na-khệt. Tham dự buổi lễ tại Hà Nội, có Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, lãnh đạo Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, đại diện một số cơ quan trung ương và lãnh đạo Đại sứ quán Lào tại Hà Nội. 

Cùng chứng kiến buổi lễ trực tuyến từ thủ đô Viêng Chăn, có Thủ tướng Chính phủ Lào Thoong-lun Xi-xu-lít và lãnh đạo các cơ quan: Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động, đại diện các bộ, ngành của Lào, Đại sứ Việt Nam tại Lào.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, sau khi biết tin nhân dân tỉnh Xa-văn-na-khệt và các tỉnh lân cận chịu thiệt hại nặng nề do mưa lụt diện rộng gây ra vừa qua, trên tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” của tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết định trao tặng 1.000 tấn gạo để nhân dân Lào, tỉnh Xa-văn-na-khệt khắc phục hậu quả thiên tai và sớm ổn định cuộc sống. Các cơ quan liên quan của Việt Nam sẽ phối hợp sớm vận chuyển và bàn giao cho phía Lào số gạo nêu trên. Trong bối cảnh Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 đang được tổ chức trực tuyến tại Hà Nội cùng các hội nghị cấp cao Mê Công với các đối tác lớn, việc trao tặng này cũng thể hiện tinh thần đoàn kết ASEAN và cho thấy ý nghĩa thiết thực của quan hệ hợp tác Mê Công.

Thủ tướng Chính phủ Lào Thoong-lun Xi-xu-lít chân thành cảm ơn Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam anh em đã trao tặng món quà hết sức ý nghĩa này, đây là sự hỗ trợ rất kịp thời dành cho nhân dân Lào nói chung và nhân dân tỉnh Xa-văn-na-khệt nói riêng trong giai đoạn khó khăn hiện nay. Thủ tướng Lào xúc động nhấn mạnh, Việt Nam cũng đang phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề do bão lụt gây ra tại các tỉnh miền trung, nhưng trên tinh thần đồng chí, anh em, vẫn quan tâm giúp đỡ nhân dân Lào; cho biết ngay khi nhận được số gạo này sẽ sớm chuyển đến tận tay nhân dân Lào tại các khu vực đang bị ảnh hưởng của thiên tai; đồng thời đánh giá cao quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian qua và khẳng định Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Lào sẽ luôn nỗ lực hết mình cùng phía Việt Nam không ngừng vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào. Nhân dịp này, Thủ tướng Thoong-lun Xi-xu-lít cũng chúc mừng Việt Nam đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và chúc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 thành công tốt đẹp.

Dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ hai nước, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng đã trao tấm biển tượng trưng món quà tặng 1.000 tấn gạo cho Phó Đại sứ Lào tại Việt Nam Chăn-thạ-phon Khăm-mạ-ni-chăn.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 13 tháng 11 năm 2020.

Tổng kết 30 năm công tác công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo

Chiều 12-11, tại Hà Nội, Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết 30 năm công tác Công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo.

Dự hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai; Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an.

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe báo cáo tóm tắt tổng kết 30 năm công tác Công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo. Hội nghị đã tham luận, làm rõ hơn kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, rút ra bài học kinh nghiệm và góp ý bổ sung, hoàn thiện phương hướng công tác Công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo trong thời gian tới.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng khẳng định, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, trong 30 năm qua, tình hình tôn giáo ở nước ta có rất nhiều thay đổi. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bình đẳng giữa các tôn giáo được quan tâm, tôn trọng, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng bào có đạo yên tâm, phấn khởi, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện, có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tổ chức tôn giáo được công nhận cơ bản hoạt động theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong đời sống xã hội.

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo có những tiến bộ; hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng, thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng toàn dân vùng có đạo được củng cố, tăng cường. Hoạt động đối ngoại về tôn giáo từng bước được mở rộng.

Theo Thường trực Ban Bí thư, với vai trò nòng cốt, lực lượng Công an đã quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo; không ngừng đổi mới tư duy, chú trọng công tác nắm tình hình, chủ động phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước, đề xuất cấp ủy, chính quyền các cấp nhiều chủ trương, giải pháp tăng cường bảo đảm an ninh trong tôn giáo. Lực lượng Công an đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng vấn đề tôn giáo kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia.

Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng nhấn mạnh, thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác Công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo, cần nâng cao vai trò của công tác vận động quần chúng, sự phối hợp của bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo.

Các cấp, ngành, lực lượng Công an cần quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tôn giáo nói chung, công tác bảo đảm an ninh trong tôn giáo nói riêng có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, luôn nêu cao trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật công tác, không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức về mọi mặt, nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo.

Phát biểu tổng kết và bế mạc hội nghị, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an nêu rõ, Công an các địa phương cần quán triệt thực hiện có hiệu quả ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư.

Đại tướng Tô Lâm cảm ơn sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các bộ, ban, ngành, lãnh đạo các địa phương trong suốt 30 năm lực lượng Công an thực hiện đường lối của Đảng về công tác tôn giáo. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công an mong muốn tiếp tục nhận được sự phối hợp chặt chẽ trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội nói chung và bảo đảm an ninh trong tôn giáo nói riêng.

Bộ trưởng Tô Lâm cũng nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng Công an để tiếp tục thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo thời gian tới.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 8/11/2020

Hoàn thành toàn bộ Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2

Ngày 7-11, tại xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (Bình Thuận), Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân, đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Phát điện 3 (GENCO 3) tổ chức Lễ hoàn thành toàn bộ Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 và đạt mốc sản lượng điện 40 tỷ kWh.

Tham dự có đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận; ông Dương Quang Thành, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); cùng đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Bình Thuận, các Sở, ngành, chính quyền địa phương, lãnh đạo GENCO 3 và các đơn vị trực thuộc.

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 là một trong những dự án cấp bách trọng điểm quốc gia, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nằm trong Quy hoạch phát triển Điện quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến năm 2025. Nhà máy do Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân quản lý và vận hành bao gồm hai tổ máy, tổng công suất lắp đặt 1.244MW (2x622MW), với công nghệ nhiệt điện ngưng hơi truyền thống, sử dụng nhiên liệu than, thông số hơi dưới tới hạn.

Được khởi công xây dựng từ ngày 8-8-2010 và đưa vào vận hành thương mại trong Quý I-2015. Hằng năm, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 cung cấp khoảng 7,2 tỷ kWh cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của cả nước nói chung và khu vực miền nam nói riêng.

Hiện tại, Công ty còn được giao quản lý và vận hành Nhà máy điện Mặt trời Vĩnh Tân 2, được đưa vào vận hành phát điện thương mại vào ngày 24-6-2019, cung cấp cho hệ thống điện quốc gia trung bình hằng năm khoảng 60 triệu kWh.

Từ khi vận hành thương mại đến thời điểm hiện nay, tổng sản lượng điện sản xuất của Công ty đạt mốc 40 tỷ kWh. Hằng năm, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đóng góp vào ngân sách địa phương hơn 300 tỷ đồng; là đơn vị có trách nhiệm với địa phương, tích cực trong các hoạt động cộng đồng, an sinh xã hội, tài trợ xây dựng trường học, đường giao thông nông thôn… với tổng số tiền hơn 5 tỷ đồng.

Việc hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng Khu nhà hành chính Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, hạng mục cuối cùng của dự án là một cột mốc quan trọng, đánh dấu hoàn thành toàn bộ Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Hình thành nên bộ mặt của Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân và là nơi đại diện để giao tiếp, làm việc với các đoàn làm việc trong nước và quốc tế.

Dịp này, Tổng Công ty Phát điện 3 đã trao tặng cho tỉnh Bình Thuận 12 căn nhà “Mái ấm yêu thương” với tổng giá trị 1,2 tỷ đồng. Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân trao số tiền 50 triệu đồng cho Quỹ Khuyến học huyện Tuy Phong.

Đình Châu

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 5/11/2020

Vietnam Airlines nhận ba giải thưởng lớn về du lịch

Ngày 4-11, Tổ chức Giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) công bố trao tặng cho Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) ba giải thưởng uy tín là: Hãng hàng không hàng đầu châu Á về bản sắc văn hóa, Hãng hàng không hàng đầu châu Á về hạng phổ thông và phổ thông đặc biệt. 

Đây là lần thứ 5 liên tiếp VNA nhận được các giải thưởng của WTA ở cấp châu Á. WTA được ví như “Giải Oscar của ngành du lịch” nhằm vinh danh những nhà cung cấp dịch vụ du lịch, hàng không tốt nhất thế giới. Giải thưởng WTA ra đời vào năm 1993, với mục tiêu vinh danh các nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất trong ngành công nghiệp dịch vụ, du lịch và lữ hành. Hiện nay, WTA được công nhận rộng rãi như một chứng nhận uy tín, khẳng định các thương hiệu dịch vụ, du lịch và lữ hành tốt nhất toàn cầu.

Ông Graham Cooke, Người sáng lập kiêm Chủ tịch WTA cho biết: “Bất chấp những thách thức chưa từng có mà ngành hàng không phải đối mặt trong năm nay, VNA tiếp tục thể hiện những nỗ lực phi thường trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ và nâng cấp đội bay. Tôi rất phấn khởi vì hãng đã được cả giới du lịch thương mại và công chúng bình chọn là Hãng hàng không hàng đầu châu Á về hạng phổ thông và phổ thông đặc biệt; Hãng hàng không hàng đầu châu Á về bản sắc văn hóa”.

Phó Tổng Giám đốc VNA Trịnh Hồng Quang chia sẻ: “Chúng tôi rất vui mừng khi lần thứ 5 được nhận giải thưởng từ tổ chức danh giá WTA cấp khu vực châu Á. Thời gian qua, VNA cũng như các hãng hàng không trên thế giới đều trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên, với trách nhiệm là một Hãng hàng không quốc gia, chúng tôi luôn nỗ lực hết mình để nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần vào quá trình phục hồi ngành hàng không khu vực cũng như toàn cầu. Giải thưởng danh giá của WTA chính là sự ghi nhận cụ thể của cộng đồng và khách hàng quốc tế với những cống hiến của VNA.”

Năm 2019 đánh dấu bước tiến mới của VNA đối với hạng phổ thông đặc biệt khi lần đầu tiên triển khai hạng ghế này trên đường bay nội địa Hà Nội – TP Hồ Chí Minh với tiêu chuẩn dịch vụ gần như hạng Thương gia. Trên các đường bay quốc tế, VNA phục vụ hạng phổ thông đặc biệt trên các chuyến bay giữa Việt Nam và Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu, Australia.

Đối với hạng phổ thông, hành khách tiếp tục hưởng lợi từ lộ trình phát triển đội tàu bay và tiến tới dịch vụ 5 sao của VNA. Các dòng máy bay mới, hiện đại, tiết kiệm nhiên liệu Boeing 787-10, Boeing 787-9, Airbus A350, Airbus A321neo gia nhập đội bay của VNA, đa dạng hóa trải nghiệm của hành khách. Dịch vụ kết nối internet trên máy bay A350 và giải trí không dây (wireless streaming) đem lại cho hành khách những trải nghiệm mới mẻ. Gần đây, hãng triển khai phục vụ 12 loại bánh tươi đa dạng các vị cho bữa ăn nhẹ hạng phổ thông và tăng cường các chương trình giải trí trên không cho hành khách.

 Bên cạnh sản phẩm đa dạng và chất lượng dịch vụ đẳng cấp 4 sao, VNA còn nổi bật bởi nét văn hóa Việt độc đáo và đặc sắc trên từng chuyến bay. Hãng đặc biệt chú trọng kết nối những giá trị văn hóa Việt vào trong sản phẩm dịch vụ của Hãng. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc như áo dài tiếp viên, biểu tượng hoa sen, Hãng phục vụ các món ăn mang đậm hương vị Việt Nam và trình chiếu các tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam trong danh mục giải trí trên không…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/11/2020

Cứu người bệnh bị nhồi máu cơ tim tối cấp khi đang lái xe

Các bác sĩ Bệnh viện E vừa xử lý kịp thời cứu một người bệnh nam (46 tuổi) lái xe của một trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội bị nhồi máu cơ tim khi đang lái xe. Theo đó, người bệnh đang trên đường đưa, đón học sinh đến trường thì bỗng nhiên bị lên cơn đau thắt ngực trái đến gần như “bất tỉnh” ngay tại chỗ. Người bệnh được đưa vào trạm y tế gần nhất và tiếp tục chuyển đến Bệnh viện Hồng Ngọc. Tại đây, người bệnh được chẩn đoán là nhồi máu cơ tim tối cấp và được cấp cứu ban đầu, đồng thời nhờ “cứu viện” các bác sĩ Trung tâm tim mạch (Bệnh viện E) trong việc thực hiện can thiệp đặt stent mạch vành. Sau khi được đặt stent ba giờ, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/11/2020

Khoa học, công nghệ giúp nông nghiệp giảm phụ thuộc vào thiên nhiên

Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa tổ chức tuần lễ kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2020. Ðây là dịp kết nối cung cầu công nghệ giữa các nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp.

Nhiều công trình, sáng chế được giới thiệu với mong muốn tìm kiếm và chuyển giao tới doanh nghiệp. Sự kiện cũng có sự tham gia của hàng trăm chuyên gia công nghệ, sở hữu trí tuệ nhằm tư vấn công nghệ và quy trình kỹ thuật, tìm ra giải pháp, hướng phát triển chung cho mô hình sản xuất…

Những năm qua, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp các bộ, ban, ngành, địa phương thúc đẩy sự tham gia chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh thiên tai, biến đổi khí hậu, việc ứng dụng khoa học – công nghệ giúp nền nông nghiệp giảm phụ thuộc vào thiên nhiên, tìm cơ hội phát triển trong khó khăn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 2/11/2020

Lần đầu thực hiện thành công hai ca ghép ruột từ người cho sống

Bệnh viện Quân Y 103 vừa thực hiện thành công hai ca ghép ruột từ người cho sống trong hai ngày liên tiếp, 27 và 28-10. Bệnh nhân L.V.T. (26 tuổi) được ghép ruột từ mẹ đẻ. Bệnh nhân N.V.D. (42 tuổi) được anh trai hiến ruột.

Hai bệnh nhân được ghép ruột tại Bệnh viện Quân y 103 – Học viện Quân y đều là những trường hợp ruột đã mất hoàn toàn chức năng năng tiêu hóa và phải nuôi sống bằng cách truyền dinh dưỡng qua tĩnh mạch. Nếu không được ghép ruột, các bệnh nhân sẽ đối mặt với nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến nuôi dưỡng tĩnh mạch và có thể tử vong bất cứ lúc nào.

Bệnh nhân D. vào viện với chẩn đoán suy ruột không hồi phục do hội chứng ruột ngắn type 1, rò đại tràng. Người đàn ông có tiền sử phẫu thuật ổ bụng năm lần vì viêm phúc mạc do thủng đại tràng, tắc ruột tại nhiều bệnh viện. Bệnh nhân đã phẫu thuật cắt khối lượng lớn ruột (chiều dài ruột non còn lại khoảng 80 cm) vào tháng 5-2007.

Bệnh nhân T. được chuyển về điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103 cuối tháng 9 với chẩn đoán suy mòn suy kiệt do hội chứng ruột cực ngắn type 3. Trước đó, anh bị viêm phúc mạc do hoại tử gần như toàn bộ ruột non nên được Bệnh viện huyện Than Uyên (Lai Châu) phẫu thuật cấp cứu cắt bộ phận này. Ruột anh T. chỉ còn lại gần 20 cm.

Tại Bệnh viện Quân Y 103, hai bệnh nhân được điều trị tích cực, nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch. Chỉ định ghép ruột là lựa chọn duy nhất để cứu sống hai bệnh nhân vì bộ phận này được xác định mất chức năng hoàn toàn, không thể hồi phục.

Trung tướng, GS, TS Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân Y cho biết, gần 100 bác sĩ và nhân viên y tế tại Bệnh viện Quân y 103 được huy động tham gia vào ca phẫu thuật đặc biệt này. Bên cạnh đó, ca phẫu thuật còn có sự phối hợp của chuyên gia ghép tạng người Nhật Bản – GS Motoshi Wada, Bệnh viện Đại học Tohoku.

GS Quyết cho biết, ruột có chức năng hấp thu dinh dưỡng để nuôi cơ thể. Vì nhiều lý do như bệnh lý bẩm sinh hoặc tai nạn, biến chứng, bộ phận này không thể đảm đương vai trò này. Lúc đó, người bệnh chỉ có thể sống nhờ nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch kèm theo biến chứng viêm, nhiễm trùng máu. 30-50% bệnh nhân ăn đường tĩnh mạch sẽ tổn thương gan do nhiễm trùng. Điều đó gây phức tạp khi người bệnh phải ghép đồng thời gan và ruột.

Ca phẫu thuật ghép ruột đặt ra cho các y, bác sĩ nhiều thử thách lớn. Trong đó, khó khăn nhất là việc lựa chọn cách ghép, đặc biệt là trong việc nối động mạch, tĩnh mạch từ ruột ghép vào cơ thể bệnh nhân. Các bác sĩ phải làm sao để mạch đó không bị xoắn lại, nhằm bảo đảm khả năng nuôi dưỡng ruột ghép, đây là điều rất khó.

Ghép ruột đem lại cho bệnh nhân cơ hội sống. Tuy nhiên, bệnh nhân được thay thế lượng ruột tương đối lớn, khoảng trên 1m. Điều đó đồng nghĩa khối lượng kháng nguyên đưa vào người nhận rất lớn. Đặc biệt, ruột có nhiều hệ bạch huyết. Đường tiêu hóa có đặc trưng là mở, thường xuyên ăn uống, tạo nên hệ thống kháng nguyên rất lớn.

Cũng theo Giám đốc Học viện Quân y, ghép ruột có một vấn đề khó hơn so với các dạng ghép tạng khác là về dùng thuốc chống thải ghép và chống nhiễm trùng.

Hai ca ghép ruột diễn ra 12-14 giờ. Hiện tại, hai người cho ruột ổn định sức khỏe. Hai bệnh nhân ghép ruột đang được theo dõi, điều trị tích cực. Các chỉ số sinh tồn đều ổn định.

Về phía người hiến, chuyên gia cho biết ruột người thông thường dài 5-9 m, khi cho đi một phần, số còn lại vẫn đủ dùng. Sau một tháng, người cho sẽ quay lại sinh hoạt bình thường và không cần dùng thuốc.

Theo GS Đỗ Quyết, tháng 12-2019, Học viện Quân Y được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện đề tài: “Nghiên cứu triển khai ghép ruột từ người cho sống” và ông là chủ nhiệm đề tài.

Học viện Quân Y tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư, thuốc, hoá chất…, và thường xuyên trao đổi kinh nghiệm ghép ruột trên người với các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Tohoku (Nhật Bản).

Với hai ca ghép ngày 27 – 28-10, Bệnh viện Quân Y 103 trở thành đơn vị đầu tiên tại Việt Nam ghép ruột thành công, tương tự năm tạng trước đó (thận, tim, gan, tụy, phổi).

“Hiện thế giới chỉ có 61 trung tâm ghép ruột ở 19 nước với khoảng 1.000 ca được triển khai. Việt Nam trở thành quốc gia thứ 20 ghép ruột thành công. Đây là một thành tựu trong ghép tạng cũng như đem lại tương lai tươi sáng cho bệnh nhân”, GS Quyết nói.

GS, TS Phạm Gia Khánh, nguyên Giám đốc Học viện Quân Y cho biết thêm, tương tự thế giới, ruột là tạng cuối cùng được ghép thành công. Ca ghép ruột đầu tiên trên thế giới vào năm 1988. Tại Việt Nam, ruột cũng là tạng thành công cuối cùng sau 28 năm kể từ ca ghép thận đầu tiên. Như vậy, Việt Nam đã theo kịp ghép tạng thế giới.

Theo GS Wada, ở Nhật Bản, tỷ lệ bệnh nhân ghép ruột sống thêm năm năm là khoảng 80% và sống từ 10 năm trở lên là 60%.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/11/2020

Trình diễn vở nhạc kịch Những người khốn khổ tại Hà Nội

Sau sáu tháng dàn dựng, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam (VNOB) vừa hoàn thành vở nhạc kịch Những người khốn khổ và sẽ công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 21 đến 24-11.

Vở nhạc kịch được dàn dựng dựa trên tác phẩm văn học kinh điển cùng tên của đại văn hào Vích-to Huy-gô mang đậm giá trị nhân văn về tình người, nhất là trong cuộc sống thực tại đang chịu nhiều ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Là câu chuyện về một giấc mơ tan vỡ, của tình yêu không được đáp trả, niềm đam mê, sự hy sinh và chuộc tội, vở diễn chuyển tải thông điệp hướng nhân loại tới tình đoàn kết và niềm tin vào tương lai, trong đó, những ranh giới về không gian và thời gian, ranh giới về sắc tộc và văn hóa đều bị xóa nhòa. Tham gia biểu diễn cùng các diễn viên của nhà hát có các nghệ sĩ nước ngoài trong Dàn hợp xướng quốc tế Hanoi Voices.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/11/2020

Nhà báo Phan Quang với báo chí cách mạng Việt Nam

Sáng 11-11, tại Hà Nội, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức Tọa đàm “Nhà báo Phan Quang với báo chí cách mạng Việt Nam”. Đây là hoạt động nghiệp vụ thường xuyên của Hội Nhà báo Việt Nam nhằm tôn vinh những nhà báo lão thành, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp báo chí cách mạng.

Dự Tọa đàm, có đồng chí Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Thuận Hữu, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Nguyễn Thế Kỷ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật T.Ư.

Phát biểu ý kiến tại Tọa đàm, đồng chí Thuận Hữu khẳng định, nhà báo Phan Quang là một trong những tên tuổi tiêu biểu trong lịch sử 70 năm xây dựng, phát triển của Hội Nhà báo Việt Nam; tấm gương điển hình, có tầm ảnh hưởng, lan tỏa về giá trị nghề nghiệp, cần tuyên truyền, học tập, tri ân.

Đồng tình với ý kiến nêu trên, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ cho rằng, nhà báo Phan Quang là một chính khách, nhà văn hóa, nhà báo thuộc tốp đầu của nền báo chí cách mạng nước nhà. Ông còn là nhà văn, dịch giả tài năng, đa diện, nhà hoạt động nghị trường trong nhiều khóa, một người thầy, người thủ trưởng gần gũi, nhân hậu, người bạn thân thiết của nhiều nhà báo, nhà văn trong nước cũng như quốc tế.

Nhà báo Phan Quang SN 1928, tên thật là Phan Quang Diêu, nguyên quán xã Hải Thượng (huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị). Ông viết báo từ năm 20 tuổi, từng công tác tại Báo Cứu Quốc Liên khu IV, Báo Nhân Dân, Tạp chí Người làm báo, Ban Tuyên huấn T.Ư, Bộ Thông tin, Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội…

Nhà báo Phan Quang là đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa VIII, IX, X; đảm trách chức vụ Phó Tổng Thư ký, Tổng Thư ký rồi Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam các khóa V và VI. Ngoài ra, ông từng làm Phó Chủ tịch Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ) phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương; thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn Báo chí ASEAN.

Nhiều năm Ông làm Chủ tịch nhóm Nghị sĩ Hữu nghị Việt Nam – Pháp… Hơn 70 năm cống hiến, sáng tạo, dù ở bất cứ cương vị nào, nhà báo Phan Quang cũng luôn tâm huyết làm tròn trọng trách được giao.

Tọa đàm là hoạt động nghiệp vụ thường xuyên của Hội Nhà báo Việt Nam nhằm tôn vinh những nhà báo lão thành, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam; kỷ niệm 95 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, 70 năm Hội Nhà báo Việt Nam, 75 năm Đài Tiếng nói Việt Nam và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Hội Nhà báo Việt Nam.

Ngọc Vy

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 12/11/2020

Năm kỷ lục quốc gia mới tại Giải vô địch bắn súng toàn quốc

Giải vô địch bắn súng toàn quốc Cúp Liên đoàn bắn súng Việt Nam 2020 tổ chức tại Trung tâm Huấn luyện Thể thao Hà Nội đã kết thúc chiều 11-11. Đoàn Quân đội với lực lượng vận động viên mạnh, đồng đều trong đó có nhiều tuyển thủ quốc gia đã giành ngôi vô địch toàn đoàn với 19 Huy chương vàng (HCV), 17 Huy chương bạc (HCB) và 11 Huy chương đồng (HCĐ). 

Đoàn Hà Nội tại Giải này thi đấu không thành công, giành 10 HCV, 6 HCB và 12 HCĐ xếp vị trí thứ hai toàn đoàn. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh có sự tiến bộ mạnh mẽ, giành vị trí thứ ba toàn đoàn với 7 HCV, 4 HCB và 12 HCĐ. Dù có tới 13 đoàn thi đấu, nhưng chỉ có năm đoàn giành được HCV trong tổng số 40 bộ huy chương, chín đoàn có huy chương.

Giải vô địch bắn súng toàn quốc 2020 được tổ chức sau khi khống chế được Covid-19, mặc dù các vận động viên bị ảnh hưởng rất nhiều trong thời gian cách ly khiến quá trình tập luyện bị gián đoạn, nhiều đoàn không thể đi tập huấn nước ngoài cũng như tập huấn trong nước nhưng rất bất ngờ khi có tới tám lần kỷ lục quốc gia được phá. Tổng cục Thể dục – Thể thao đã công nhận năm kỷ lục quốc gia mới tại giải đấu.

Ở nội dung 10m súng trường hơi nữ đã có bốn kỷ lục cá nhân và đồng đội được thiết lập, trong đó Lê Mộng Tuyền (Thành phố Hồ Chí Minh) lập cả kỷ lục cá nhân (624,1 điểm) và đồng đội đội Thành phố Hồ Chí Minh (1.859,2 điểm). Đội Quân đội (gồm hai VĐV Huyền Trang và Thành Nam) phá kỷ lục 10m súng trường hơi hỗn hợp đồng đội (6,7,6 điểm).

Ở nội dung 10m súng trường hơi di động hỗn hợp nam, cả hai đội Quân đội và Hà Nội cùng phá kỷ lục với thành tích 1.093 điểm). Đội quân đội (Hiền Khanh, Nguyễn Phương, Thanh Thảo) phá kỷ lục 50m súng trường hơi ba tư thế nữ (3.426 điểm).

Năm nay, lần đầu tiên Liên đoàn bắn súng Việt Nam thực hiện xã hội hoá đã nhận được sự tài trợ của nhiều đơn vị như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà Sunico, Công ty Cổ phần Đại Dương.

Với sự tài trợ này, tiền thưởng cho các nội dung cá nhân đã tăng lên mức 10 triệu đồng cho HCV, năm triệu đồng cho HCB và ba triệu đồng cho HCĐ trong khi những năm trước Liên đoàn bắn súng Việt Nam chỉ trao thưởng 300 nghìn đồng duy nhất cho các nội dung HCV.

Việc hầu hết vận động viên giữ được phong độ là tín hiệu đáng mừng khi Việt Nam đăng cai Sea Games 2021 mà bắn súng luôn là môn thể thao mũi nhọn.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/11/2020

Tuần văn hóa, thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh

Từ ngày 30-10 đến 1-11, tại Trung tâm Văn hóa, thể thao vùng đông bắc, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh diễn ra sự kiện Tuần Văn hóa, thể thao các dân tộc vùng đông bắc tỉnh Quảng Ninh lần thứ ba – năm 2020.

Lễ khai mạc được tổ chức với chương trình nghệ thuật “Tiên Yên – nơi kết nối sắc màu các dân tộc vùng đông bắc”. Gần 700 diễn viên, nghệ nhân dân gian đến từ các địa phương trong và ngoài tỉnh Quảng Ninh đã mang đến một chương trình nghệ thuật đặc sắc, công phu.

Cũng trong lễ khai mạc, các cấp, ngành, địa phương đã quyên góp ủng hộ đồng bào miền trung đang chịu ảnh hưởng nặng nề của bão, lũ. Tuần văn hóa, thể thao còn diễn ra nhiều hoạt động: Hội thi các môn thể thao dân tộc và biểu diễn trò chơi dân gian, hội chợ, chợ phiên Hà Lâu, hội thi Vua gà…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 10/11/2020

Truy tố nguyên Giám đốc CDC Hà Nội

Ngày 9-11, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao vừa ban hành cáo trạng vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) TP Hà Nội thuộc Sở Y tế Hà Nội, Công ty cổ phần định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành, Công ty TNHH Vật tư khoa học và thương mại Việt Nam (MST) và các đơn vị liên quan. 

Theo đó, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao truy tố bị can Nguyễn Nhật Cảm, nguyên Giám đốc CDC TP Hà Nội cùng chín đồng phạm cùng về tội danh Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo cáo trạng, từ đầu năm 2020, CDC Hà Nội đã mua một số Hệ thống Realtime PCR tự động – xét nghiệm Covid-19, nhằm đáp ứng nhu cầu xét nghiệm phòng, chống dịch Covid-19. Hệ thống Realtime PCR tự động – xét nghiệm Covid-19, khi nhập về Việt Nam giá khoảng hơn hai tỷ đồng. Tuy nhiên, CDC Hà Nội đã mua vào với giá cao gấp khoảng ba lần giá nêu trên. Kết quả điều tra xác định các bị can trong vụ án đã câu kết, gian lận, thông đồng, nâng khống giá trị Hệ thống Realtime PCR tự động – xét nghiệm Covid-19, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho Nhà nước.

Trong vụ án này, bị can Nguyễn Nhật Cảm chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ định thầu gói thầu mua sắm thiết bị phòng, chống dịch. Bị can Cảm đã lợi dụng tình hình dịch bệnh, trực tiếp thoả thuận, thống nhất giá mua sắm thiết bị y tế. Khi thực hiện, cựu Giám đốc CDC Hà Nội là người ký hợp đồng cung cấp dịch vụ thẩm định giá với doanh nghiệp. Hành vi của bị can Cảm tạo điều kiện cho các đồng phạm làm giả hồ sơ để hợp thức hóa các thủ tục chỉ định thầu.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/11/2020

Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật cán bộ

Ngày 10-1, tại Trụ sở T.Ư Ðảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì hội nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ và đồng chí Triệu Tài Vinh, Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế T.Ư, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang.

Xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra T.Ư, Bộ Chính trị nhận thấy:

  1. Ðối với đồng chí Hoàng Trung Hải

Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Ban cán sự đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ đã có những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng trong quá trình chỉ đạo thực hiện dự án mở rộng sản xuất giai đoạn II – Công ty Gang thép Thái Nguyên (dự án TISCO II), cụ thể là:

– Thiếu trách nhiệm, không xem xét, cân nhắc thấu đáo ý kiến của các bộ, ngành, cho ý kiến không rõ ràng, thiếu chặt chẽ, không đúng Hợp đồng EPC số 01#, không đúng quy chế làm việc của Chính phủ đối với việc xem xét một số phát sinh về giá vật liệu xây dựng, điều chỉnh giá trị Hợp đồng gói thầu EPC số 01# của Dự án TISCO II và tăng chi phí Phần C của Hợp đồng; cho ý kiến điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án TISCO II và vay vốn tín dụng ưu đãi, vi phạm quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

– Thiếu kiểm tra và chỉ đạo kiểm tra theo Quy chế làm việc của Chính phủ nên không phát hiện được việc TISCO tách Phần C ra khỏi Hợp đồng EPC số 01# và giao cho Tổng công ty cổ phần Xây dựng công nghiệp Việt Nam thực hiện, làm thay đổi bản chất và phá vỡ nguyên tắc quản lý Hợp đồng EPC nói trên.

– Ðồng ý cho TISCO thanh toán các khoản chi phí trả cho MCC không đúng với Hợp đồng EPC số 01# của Dự án TISCO II.

Những vi phạm, khuyết điểm nêu trên của đồng chí Hoàng Trung Hải là nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cá nhân đồng chí, đến mức cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của Ðảng.

Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm và quá trình công tác, đóng góp của đồng chí đối với Ðảng, Nhà nước; căn cứ Quy định số 102-QÐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Hoàng Trung Hải bằng hình thức Cảnh cáo.

  1. Ðối với đồng chí Triệu Tài Vinh

Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang, đồng chí đã có vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018 tại tỉnh Hà Giang, cụ thể là:

– Chịu trách nhiệm người đứng đầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy về để xảy ra những vi phạm nghiêm trọng trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018 tại tỉnh Hà Giang; một số cán bộ, đảng viên của tỉnh bị thi hành kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có cán bộ, đảng viên thuộc diện Tỉnh ủy quản lý. Thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, xem xét, phát hiện, xử lý; khi xảy ra vụ việc xử lý thiếu kiên quyết, thiếu kịp thời, không nghiêm minh đối với những tổ chức, cá nhân có vi phạm, khuyết điểm liên quan đến kỳ thi. Chấp hành không nghiêm quy định của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Ðảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

– Có em gái vi phạm trong kỳ thi nêu trên. Sau khi bị phát hiện, đồng chí còn né tránh trách nhiệm, vi phạm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo Quy định của T.Ư Ðảng.

Những vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Triệu Tài Vinh đã làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương và cá nhân đồng chí.

Xét nội dung, tính chất, mức độ, nguyên nhân, hậu quả vi phạm, căn cứ Quy định số 102-QÐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Triệu Tài Vinh bằng hình thức Khiển trách.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 9/11/2020

Xử phạt hai công ty sản xuất thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng

Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất thuốc đối với hai công ty. 

Theo đó, phạt Công ty cổ phần Dược Trung ương 3 số tiền 50 triệu đồng, do sản xuất viên nén bao phim Ceteco Melocen 7,5 SĐK VD-20132-13, số lô 01/280318, HD 280321 không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ hòa tan, vi phạm chất lượng mức độ 3. Phạt Công ty cổ phần Dược Vật tư y tế Hải Dương số tiền 70 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ số thuốc viên nang mềm Aciclovir 400 mg, SĐK VD24375-16, số lô 050918, NSX 240918, HD 240921 không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ hòa tan, vi phạm chất lượng mức độ 2.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 3/11/2020

Tuyên án các bị cáo trong vụ án tại ngân hàng BIDV

Chiều 2-11, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã tuyên án phạt 12 bị cáo trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ðầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Công ty cổ phần Chăn nuôi Bình Hà (Công ty Bình Hà) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch Trung Dũng (Công ty Trung Dũng).

Theo đó, hai bị cáo cùng là nguyên Phó Tổng Giám đốc BIDV là Trần Lục Lang bị tuyên phạt 8 năm tù, Ðoàn Ánh Sáng bị tuyên phạt 6 năm 6 tháng tù, cùng về tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”. Các bị cáo còn lại trong vụ án bị tuyên phạt mức án từ 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đến 18 năm tù giam về các tội danh “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Tại phiên tuyên án, Hội đồng xét xử nhận định, nhiều bị cáo trong vụ án nguyên là cán bộ BIDV là người có chức vụ, trách nhiệm quản lý tiền của Nhà nước nhưng đã làm trái quy định, cấp tín dụng trái quy định gây thiệt hại cho ngân hàng. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về cho vay. Ðối với các bị cáo liên quan đến Công ty Trung Dũng, đã không kiểm soát được tiền bán hàng của doanh nghiệp để thu nợ, không kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của Công ty Trung Dũng đối với các khoản giải ngân để mua phôi thép, dẫn đến dư nợ lớn, gây thiệt hại lớn cho BIDV.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/11/2020

Thông cáo báo chí Kỳ họp 49 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Ngày 3-11, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ra thông cáo cho biết, vừa qua, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp Kỳ 49. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp.

Tại Kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) T.Ư đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:

Sau khi xem xét kết quả thẩm tra, xác minh nội dung phản ánh liên quan đến đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, UBKT T.Ư nhận thấy:

Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, quy định, quyết định về hoạt động tín dụng ngân hàng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự.

Những vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Nguyễn Văn Bình là nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của Ngân hàng Nhà nước và cá nhân đồng chí. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm và quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT T.Ư đề nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình.

Sau khi xem xét trách nhiệm liên quan đến các sai phạm trong quản lý, sử dụng khu đất 2-4-6 Hai Bà Trưng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT T.Ư đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Hồ Thị Kim Thoa, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương.

Đồng chí Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, trong thời gian giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Công thương đã có vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng, đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng. Tuy nhiên, do đồng chí đang mắc bệnh hiểm nghèo nên chưa xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.

Sau khi xem xét kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu và kết quả giám sát đối với: Ban Thường vụ Tỉnh ủy và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận; Ban cán sự đảng và đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện Quy chế làm việc, công tác cán bộ, thực hiện nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm nêu gương; UBKT T.Ư yêu cầu các tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát nêu trên phát huy ưu điểm, nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và khắc phục kịp thời những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra.

Cũng tại kỳ họp này, UBKT T.Ư đã xem xét, giải quyết tố cáo đối với một số trường hợp và quyết định một số nội dung quan trọng khác.

Tháng Mười Một 13, 2020

Văn học, Chính trị – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 3:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2020.

KVCT

—–

—–

—–

—–

—–

BÀI SỐ 4 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

4.- VĂN HỌC, CHÍNH TRỊ

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

——-

Cố Tổng thống Wilson nước Mỹ là người đã có một địa vị tối quan trọng hồi Âu chiến lần thứ nhất 1914-1918, đã từng tán dương nhà chánh trị kiêm văn học là một hạng người cao quý, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước. Không nhớ rõ lời lẽ ông nói thế nào, vì đọc được trong một tạp chí nọ đã lâu năm. Nhưng đại khái ông cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm thay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…

Van hoc chinh tri

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Hồi Ký – P2 (kỳ 2 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

HỒI KÝ

Phạm Thị Giá

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày 22/2/1992 mẹ tôi – cụ Phạm Thị Giá xuống Bạc Liêu sống với gia đình em gái tôi là con út theo ý muốn của mẹ.

Sau kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 (1913-1993) mẹ viết Hồi Ký kể lại cho các con, viết về những chuyện của gia đình các con ít biết hoặc không biết. Hồi Ký viết xong ngày 6/1/1994, tức ngày rằm tháng chạp năm Quý Dậu như mẹ ghi ở cuối tập này.

Từ ngày 26 đến 28/4/1996, tôi đưa vợ chồng cậu Phạm Tuân con trai út của học giả Phạm Quỳnh về thăm mẹ. Mẹ đưa cho tôi tập Hồi Ký này. Sau đó, em gái biết chuyện mới viết thư lên bảo GỬI XUỐNG NGAY CHO MẸ. Tôi gửi bán chính tay mẹ viết xuống sau khi đã phô tô một bản là bản hiện nay đưa ra cống hiến bạn đọc

Tôi giữ nguyên văn những gì mẹ viết, chỉ khi thật cần thiết mới ghi chú cho rõ ý người viết và bảo đảm độ chính xác của sự việc.

Ong Mieng ba Nguyen ba noi va bo

*

*    *

Phần 2

Vừa mới hôm qua, hớn hở vui mừng nay bị thất vọng tâm hồn choáng váng. Lúc đi sao con đường ngắn thế mà nay cũng con đường đó về nhà sao mà dài thế; lòng nặng trĩu u buồn, chân không buồn bước, cố nén lòng cho nước mắt khỏi chảy ra. Về đến nhà, cả nhà đang chờ đón, thấy chỉ có hai chị em, mọi người đều xôn xao hỏi. Cô Hoàn trả lời, còn tôi cổ nghẹn ngào không sao nói được nữa! Vội vào giường nằm vật xuống nước mắt chan hòa! Trách ai khéo bầy ra cảnh trớ trêu làm đau khổ tâm hồn tôi thế này! Thà rằng chẳng biết tin vui và chứa chan hy vọng để nay đến nỗi thất vọng này! Biết bao giờ lại được gặp nhau nữa! Nằm bẹp mấy ngày suy nghĩ đau buồn!

Không khí ngoài đường nhộn nhịp, các thanh niên đang rộn rã đục thân các cây to trong phố, nhồi mìn vào để làm chướng ngại vật chống quân Pháp. Mọi nhà đều lo tản cư về quê. Nghĩ đến về quê mà tôi đau xót! Tôi làm gì có quê! Các cụ xưa mấy đời đều ở tỉnh. Gọi là quê nội như ở Hải Dương làng Lương Đường, quê ngoại ở Bắc Giang làng Thọ Vực, nhưng nào còn ai, chỉ có mấy nắm mồ mà thôi! Có ai thân thích mà về! Thấy mọi người chuẩn bị tản cư về làng mà tôi cảm thấy mình bơ vơ quá! Một đàn con nhỏ dại, các em nữa, biết về đâu! Từ khi gia đình bị cơn tai biến, bạn bè đều xa lánh, họ sợ bị liên lụy! Nghĩ nhiệm vụ mình lúc này không biết bấu víu vào đâu!

Bơ vơ thân gái dặm trường

Phần e đường sá, phần thương giãi dầu

May có chị Tường (Chị Tường là bà Lê Thị Nội, vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường Nguyen Cat Tuong(Lemur) giảng viên mỹ thuật trường Thăng Long. Anh Tường là họa sĩ này) bạn thân ở gần nhà, anh chị đã cho các cháu về tản cư ở làng Tràng Cát cách Hà Nội không xa. Tôi vội sang hỏi, anh Tường cho biết:

“Chị nên cho các cháu về đó tản cư cũng không xa mấy, nơi ấy xa thành phố, xa quốc lộ ở mãi sâu trong rặng vải, gần bờ sông nơi đó tạm yên sau sẽ tính”

Nói rồi anh vội vẽ bản đồ và dặn kỹ đường lối đi.Ton That Dinh

Hôm sau tôi và chú Định (Chú Định, là Tôn Thất Định, sinh năm 1917 em bố tôi, ra Hà Nội học nha khoa, sống tại số 5 phố Hàng Da với gia đình tôi) thuê một xe xích lô hai chị em cứ theo bản đồ vẽ mà đi. Đến một cái cống to bên tay phải là xuống và đi sâu mãi vào đến một rừng vải cây cối um tùm. Tìm hỏi nhà cụ Cửu, tới nơi thì gặp chị Tường ra đón, chị đưa vào chào ông bà chủ nhà. Tôi có đem theo quà biếu chủ nhà: một bó tôm he khô, 2 gói trà, 1 chục cam gọi là lễ ra mắt.

Nhờ có chị Tường giới thiệu, hai ông bà vui vẻ, niềm nở nói sẽ cho ở nhờ Le Thi Noibên nhà mới làm xong, nhà ba gian hai chái. Bà làm ngay sát tường ngôi nhà lớn để cuối năm cưới cậu con trai. Nhà ông bà ở thì rộng rãi, hai tầng sân rộng có gia đình chị Tường và con trai bà ở.

Sau hôm về tham quan tôi mừng vì được ở nơi đó, cũng tạm xa lánh thành phố và nhất là có gia đình chị Tường cùng ở.

Vì tình hình nghiêm trọng nên Dì Hỷ (Dì Hỷ là dì Phạm Thị Thức, em mẹ tôi, vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ) đã đón bà Ngoại và các em tản cư về làng Hành Thiện tỉnh Nam Định quê của chú Hỷ.

Như vậy chỉ còn có cậu Khuê, cô Hoàn, cậu Tuyên và mấy mẹ con tôi thôi (Thật ra, còn  là U Nấm và ông Hạt). Lần đầu tiên trong đời tôi, cáng đáng một nhiệm vụ trọng đại là rời bỏ thủ đô, nhà cửa đem các em và các con đến một nơi an toàn! Anh Tường có dặn tôi là có đi thì đem những thứ thiết thực cần dùng thôi, đừng đem đồ quý giá e đi đường họ kiểm soát lấy đi. Tôi hoang mang, bối rối, không biết mang gì đi mà bỏ lại những gì! Sau đem mấy bộ ghế ngựa, giường, quần áo, chăn màn, bát đĩa xoong chảo, đèn dầu và gạo.

Cũng tưởng như ngày đảo chính Nhật 9/3 đi mấy ngày lại về thôi. Bao nhiêu tiền tôi không biết để vào đâu, tìm chỗ giấu, có ngày thì cứ cuộn lại từng bó, rạch đệm cỏ ra, cuộn lẫn vào cỏ dồn vào giữa nệm rồi khâu kín lại, coi như nệm rách vá lại, cuộn đến mấy cuộn và làm như vậy nghĩ là không ai ngờ, sau về sẽ lấy. Còn bao nhiêu quấn vào người đem đi, lòng bối rối, lo lắng một mình chẳng biết nghĩ sao!

Hôm sau thuê một xe bò, chất mọi đồ đạc còn người thì thuê xe theo địa chỉ về làng Tràng Cát. Khi ấy đang là mùa đông, còn 2 tháng thì đến Tết Nguyên Đán. Tôi khi ấy 34 tuổi (Mẹ tôi sinh năm 1913, năm 1946 mới 33 tuổi).

Về Tràng Cát đi đường mọi sự đều yên ổn, khuân đồ đạc vào nhà kê gọn gàng, nấu cơm ăn xong, tôi sang chào ông bà Cửu và chuyện trò cùng chị Tường. Hai hôm sau thì anh Giao (Anh Giao là bác cả Phạm Giao, anh mẹ tôi. Chị Phương Khanh, vợ hai bác cả) đưa chị Phương Khanh và ba cháu về ở cùng. Anh Giao, anh Tường chú Định (Thật ra là có cậu Khuê cùng về Hà Nội, tìm người bạn là Thân Trọng Ninh, hẹn gặp nhau ở chỗ cậu chờ ba anh để cùng về làng Tràng Cát, bạn không đến mà cũng không thấy ba anh đến, cậu đành về làng một mình) về rồi lại kéo nhau đi vào Hà Nội. Yên trí đàn bà trẻ con đã có nơi ở yên ổn, thanh niên thì khi có chuyện gì về cũng gần không ngại!

Than ôi! không ngờ ngày các anh đi là không bao giờ trở lại nữa!! (Hiện nay, anh Phạm Dũng con thứ của bác Giao hằng năm vẫn làm giỗ cha vào ngày rằm tháng bảy. Vì không biết ngày mất cũng như nơi mất. )

Tối hôm mới về vì bận dọn dẹp nhà cửa, phần lạ nhà, tôi thao thức không sao ngủ được! Đêm tối ngoài trời gió ào ào thổi, lá cây xào xạc, gió lạnh đêm đông, nhìn các em và các con ngủ yên, tôi mừng thầm, có chốn yên thân, nếu không cả gia đình hơn mười người biết nương tựa vào đâu trong lúc khó khăn nguy hiểm này! Ông Hạt (Ông Nguyễn Văn Hạt, bằng tuổi ông ngoại tôi, làm người giúp việc từ khi ông tôi mới làm báo Nam Phong) ở lại coi nhà thì hai hôm sau cũng lại tìm về, nói họ đuổi hết mọi người già ra khỏi thành phố, tình hình nghiêm trọng. Nhà nọ đục tường thông sang nhà kia, cứ đi từ đầu phố đến cuối phố toàn đi lần trong các nhà.

Biết không còn gì nữa và cũng không hy vọng về nữa!

Mới đầu về còn mua củi đun, nước thuê người gánh đổ vào bể cạn nhà hàng xóm. Ngôi nhà này nằm sát cạnh nhà cụ Cửu, đối diện nhà ông bà Tài, có 4 người con 3 gái 1 trai.

Địa thế làng toàn một giải cát dài ven con sông, dân làng không cấy lúa mà chỉ trồng mía và dong giềng từng khoảnh bát ngát. Mía trồng một năm mới thu hoạch, đem về kéo mật làm đường và gánh vào thành phố bán, còn dong giềng thì nấu độn với gạo làm cơm. Nói chung trừ một số gia đình đủ ăn còn phần đông là nghèo, quanh năm ăn cơm độn khoai, củ dong, thức ăn thì ra sông bắt tôm, cá, mò hến, cua. Các bà thì làm hàng xáo đong thóc về xay giã, đem gạo bán ở chợ. Một tuần sau có người về báo là anh Tường bị bắt, cả nhà đều giấu không cho chị Tường biết vì chị cũng gần ngày sinh (Con út tên là Nguyễn Thị Vân Anh). Anh Giao và chú Định cũng bặt tin tức.

Ở được gần một tháng, trong nhà hiện có tất cả 16 người, 7 mẹ con tôi, 4 mẹ con chị Phương, cậu Khuê, cô Hoàn, cậu Tuyên, ông Hạt và một u già. Chúng tôi Khuê Hoàn Tuyên thường gọi đùa nhau là “bộ tham mưu” bàn những việc quan trọng.

Pham Thi Gia Pham Khue Co Hoan PHam Tuyen

Cậu Khuê thấy tình hình nghiêm trọng cũng lo, cả nhà ngồi ăn như thế này hết tiền sẽ ra sao. Tôi bàn hay cậu và ông Hạt về nhà coi xem có tìm được tiền tôi giấu ở nệm may ra còn chăng! Hôm sau cậu Khuê và ông Hạt ra đi. Sau khi cậu và ông Hạt ra đi tôi lo lắng, buồn bã, cơm không buồn ăn, cứ nằm quay mặt vào tường mà nước mắt chan hòa. Lo nếu lỡ cậu bị bắt thì không biết ra sao nữa!

Cho đến chiều hôm sau thì cả hai người cùng về, tôi thấy cậu nhìn tôi nét mặt buồn rầu và lắc đầu, sau cậu nói cho biết là đệm giường mà tôi giấu tiền, họ xé tan, cỏ bừa bãi đồ đạc mất hết không còn gì, thôi của mất thì thôi nhưng thấy em về được là mừng!

Ngày qua tháng lại cuộc sống cứ bình thản trôi qua! Vốn tính dễ dãi, hay an phận vả lại nhiều việc phải lo nên tâm tư cũng nghĩ từ nay phải tự túc, tiết kiệm, tôi ở đâu cũng dễ thích nghi với hoàn cảnh, thấy họ sống ra sao mình cũng theo như vậy. Các em và các cháu cũng theo họ ra ruộng vải quét lá về đun, quần áo thì đem ra sông giặt rồi theo họ ra sông mò hến, chiều hôm đó nấu cơm bằng lá vải khô, món ăn thi có hến xào, hến nấu canh. Mấy cô cháu làm việc rất vui vẻ như đi chơi vậy, chưa có ý nghĩ lo lắng gì về tương lai cả!

Trong gian nhà nhỏ, cuộc sống tuy thanh bạch nhưng tình cảm đằm thắm thiết tha, thương yêu nhau. Tối đến dưới ngọn đèn dầu cả gia đình sum họp, mấy cô cháu hát vang vui vẻ, các cháu bên hàng xóm cũng sang tập hát, tiếng cười tiếng hát vang vang đẩy lùi những ý nghĩ lo lắng ban ngày.

Tôi còn nhớ các em các cháu hát bài vui Tết: vì cũng chỉ còn một tháng là đến Tết.

                               Ngày vui theo tháng giá mùa đông,

Vàng phai theo lá úa ngoài sông

Kìa chim oanh đã đến đầu sân

Dừng bên cành líu lo chào xuân

Xuân đây rồi, xuân đây rồi

Hoa thắm đón xuân sang

Đem vui mừng đem tưng bừng ca hát khắp trời quang

Lách tách đùng, lách tách đùng vui khắp cả mọi nơi

Ca lên nào, vui lên nào, khắp cảnh trời cũng vui

Cạnh nhà là nhà ông Lúa, ông xưa làm mõ ở làng, góa vợ có một con gái hàng ngày đi mò cua bắt ốc bán đong gạo, hai cha con hẩm hút (nghèo khổ) nuôi nhau, ông nay lòa cả hai mắt suốt ngày ngồi không. Nhà vắng vẻ tịch mịch nên cậu Khuê hay sang đó đọc sách, lúc đó cậu đang học năm thứ hai trường Y. Cậu rảnh lại thấy các cháu gần đấy thất học nên cậu dậy mấy cháu con hàng xóm, các cháu được cậu dậy rất vui thích, cha mẹ các cháu rất cảm ơn cậu. Thỉnh thoảng có mớ khoai lang, khoai giềng hoặc chục trứng gà nhà đẻ đem biếu cậu giáo.

Gần đấy có một chợ nhỏ có bán gạo, tôm, cá, rau dưa, cứ 3 ngày họp một phiên, tôi thường đi đong gạo, có bà Tuế góa chồng có 2 con gái nhỏ, bà ta chuyên môn đi gánh thuê, nói với tôi “Bà có đi đong gạo cháu gánh cho”. Mỗi lần tôi đong một gánh gạo lại nhờ bà ta gánh, biếu bà ta một số tiền, mua bánh cho hai cháu bà rất vui thích và luôn săn đón tôi khi đi chợ để được gánh.

Thấy các cháu bên hàng xóm rủ nhau ra dồng hái rau khúc về làm bánh, cô Hoàn và các cháu cũng đi cùng, hái rau về, các cháu bên ông Tài sẵn sàng giúp giã gạo xay bột, nhân khi đó cũng rỗi rãi thấy làm bánh cũng vui thích, tôi đi mua thịt, đậu xanh về làm, bánh hấp chín ăn rất ngon, nhân có cả hạt tiêu.

Chiều hôm ấy cả nhà ăn bánh không nấu cơm, có biếu nhà ông bà Cửu, nhà bác Tường, nhà ông Tài và cho ông Lúa nữa.

Lá khúc nếp làm bánh ăn ngon và thơm, ở Hà Nội họ có bán bánh khúc nhưng làm gì có lá khúc mà chỉ làm bằng lá xu hào.

Tết đến chị em tôi cũng gói bánh chưng, tối ngồi cạnh bụi chuối nấu bánh, các em và các con đều còn ít tuổi, tính tính hồn nhiên vui vẻ, tôi cũng lây cái vui đó mà quên đi những lo âu. Cho hay tẻ (buồn) vui âu cũng ở lòng người mà ra.

Hôm mùng một Tết cũng đi thăm mọi nhà quanh, chúc Tết ai nấy đều chúc mừng vui vẻ cả. Cho hay dù hoàn cảnh nào cũng có thể tìm thấy cái vui chung ấy, có vậy cuộc đời mới bớt tẻ nhạt:

Qua Tết, ông Tài có bàn với tôi là: bây giờ lợn giống họ bán rẻ bà nên mua một đôi, nhà tôi trước cũng có nuôi, nay kẹt quá không có vốn, nhà làm hàng xáo tấm cám có sẵn, bà mua thì tôi sẽ nuôi cho, các cháu đi lấy rau, tấm cám nhà có sẵn. Kẻ có công người có của hai bên cùng có lợi.

Tôi nghe ông nói cũng thấy vui, vì cứ ngồi ăn thế này không làm gì ra có lời, tôi bèn đưa tiền cho ông đi mua một đôi, bên ông lo chăm sóc, bên tôi nhà đông người ăn, cơm cháy còn thừa canh cặn cũng đem qua cho lợn. Đôi lợn đang đói, được ăn đầy đủ lớn trông thấy cũng vui mắt.

Tháng 3 âm lịch 1947, U Già người Hành Thiện thấy tình hình kéo dài ai cũng lo về quê quán, nên U cũng xin thôi về quê. Bộ tham mưu chúng tôi lại cùng nhau bàn bạc. Cậu Khuê nói để cậu sẽ đi cùng U về Hành Thiện coi tình hình bà Ngoại ở nhà Bà Nghị (Ông bà Nghị Đặng Vũ Kính sinh ra bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, chồng dì Thức) ra sao. Hôm sau cậu và U đi (Trong bài Cậu Khuê tôi có viết rõ là: Gia đình cụ nghị Đặng Vũ Kính thân sinh bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, đã phái một người nhà thân tín là ông cụ Nho tìm về làng Tràng Cát. Cậu Khuê đã theo ông này về Vạn Lộc gặp bà ngoại, quyết định đưa cả nhóm Tràng Cát về Vạn Lộc). Ba ngày sau đã thấy cậu về nói là bà Ngoại nay không ở Hành Thiện mà tản cư về làng Vạn Lộc, cậu về Vạn Lộc bà ngoại rất mừng và nói nên về cả đây cho tiện, bà giữ mà cậu không dám ở lại vội ra về ngay vì sốt ruột bọn ở Tràng Cát.

Như vậy là chúng tôi lại chuẩn bị tản cư về Vạn Lộc.

Đôi lợn nuôi được ba tháng mỗi con được 30kg tôi gọi lái lợn lại bán, họ biết mình sắp đi nên trả rẻ, ép mình phải bán.

Tôi tức mình không bán nữa, tôi tặng gia đình ông Tài có công nuôi 1 con, còn một con biếu bên ông bà Cửu nói là quà tặng cậu con trai cuối năm cưới vợ. Như vậy là xong ân trả nghĩa đền!

Sau đó thuê đò, khuân vác các đồ đạc xuống đò. Dân làng quanh vùng ra sông tiễn rất đông, có bà đã nói: “người dưng có ngãi ta đãi người dưng, anh em không ngãi thì đừng anh em”. Tôi đi chào ông bà Cửu và hết sức cám ơn đã cho chúng tôi nương náu nửa năm trời! Chào gia đình chị Tường và xuống đò. Mọi người làng đều đứng dọc bờ sông tiễn đưa, các cháu con ông Tài đều khóc! Đò từ từ lướt trên dòng sông, trên bờ mọi người đi theo đò vẫy tay, dưới đò cũng vẫy tay, tình cảm lưu luyến!

Từ giã làng Tràng Cát, nơi có giải cát vàng, có dòng sông êm đềm chảy qua, có rặng vải xanh ngát um tùm có những con người hiền lành, chất phác, nơi mà chúng tôi đã nương náu nửa năm trời yên ổn từ ngày phải rời khỏi Thủ  đô yêu dấu, ngày sơ khởi cuộc kháng chiến chống Pháp.Lòng tôi cảm thấy một nỗi buồn man mác!

Tuy vậy, những kỷ niệm sẽ không bao giờ quên!

*

*      *

Đò chúng tôi đi suốt một ngày đến xế chiều thì đến một nơi, thấy bao nhiêu đò đều ngừng lại, dưới sông bèo Nhật Bản đóng chặt, các đò đều cho biết là ở làng đây họ ngăn sông, không cho canô Pháp đi qua, đò mắc nghẽn vì bèo cứ theo dòng nước đến chỗ chắn đọng lại, chó mèo có thể chạy qua trên mặt bèo được. Tôi bảo nấu cơm ăn, phải xin nước ở gia đình gần đấy. Ăn xong bộ tham mưu chúng tôi rủ nhau đi thám thính tình hình coi ra sao. Đi lên một quãng khá xa, thấy mấy chiếc đò đã sắp ra khỏi nơi bèo đóng, nước dưới sông đã trong veo. Đang đứng tần ngần chợt nghe tiếng gọi: “Bà Tú (Bà Tú là một cách gọi mẹ tôi thời ấy, vì bố tôi đỗ tú tài Tây được gọi là ông Tú Bình) đi đâu đấy”. Tôi quay lại nhìn thì thấy bà đốc Nguyên đang đứng trên một chiếc đò to hỏi xuống. Tôi vội nói: “Chúng tôi về Vạn Lộc đây”. Bà tươi cười và nói: “Tôi cũng về Vạn Lộc đây, cụ nhà nay cũng ở Vạn Lộc, tôi có lại thăm cụ cứ nói sốt ruột mong bà và các cô cậu về đấy. Đò tôi rộng chỉ tối nay là ra khỏi đám bèo này thôi, bà và cả nhà lên đây đi cùng cho vui.”

Tôi mừng quá vội cùng các em các con về khuân đồ đạc và thanh toán tiền đò rồi cùng sang đò bà Nguyên.

Bà nói: “Tôi cũng phải đợi hai ngày mới qua được đám bèo này”.

Thật trong lúc khó khăn này lại có quí nhân phù trợ. Tất cả nhà đều lên đò. Khi ấy là trung tuần tháng 3 âm lịch, trời tối dần, ánh trăng soi xuống mặt nước lóng lánh, gió mát trăng thanh một con đò lờ lững trên sông, cảnh vật thật nên thơ!

Mọi người đều mệt mỏi sau một ngày ngồi đò và khuân vác đồ đạc nên ngủ rất say, còn tôi ngồi nói chuyện cùng bà Nguyên.

Bà là vợ ông đốc Nguyên (Ông đốc Nguyên là đốc tờ Nguyên, bác sĩ Nguyên khoa mắt) chuyên chữa mắt, là người làng Hành Thiện. Ông ra Hà Nội sau làm giám đốc Bệnh viện Mắt và lấy một bà vợ khác cũng là bác sĩ chữa mắt. Còn bà ở lại đây buôn bán. Bà tính tình vui vẻ, nhanh chân, nhẹ miệng, đảm đang ai thấy cũng mến. Bà không con cái nay cũng tản cư về Vạn Lộc.

Đò đi suốt đêm đến sáng mới tới Vạn Lộc. Cậu Khuê đã về qua một lần nên biết nhà vội về báo cho cả nhà biết. Cả nhà mừng rỡ ra đón và khuân đồ đạc vào nhà. Nhà ông bà chánh Đoán rộng rãi, nguy nga như một biệt thự. Bà Ngoại và các em ra đón, bà Chánh nói sẽ để chúng tôi cùng lên gác ở cùng bà Ngoại. Từ cổng vào nhà cây cối um tùm, bên phải có một cái ao thả cá, một sân phơi thóc rộng rồi đến một ngôi nhà hai tầng, bên trái có một buồng rộng làm nhà kho.

Chúng tôi nghĩ bọn mình đông nên xin ở phòng kho, thổi nấu ăn uống cho tiện. Bà Chánh quen bà Nghị, được bà Nghị giới thiệu về bà Ngoại, bà rất quí và kính trọng nên để bà Ngoại và các em ở trên gác, còn ông bà ở dưới nhà. Dì Hỷ tiếp tế cho bà Ngoại đầy đủ. Chú và Dì khi đó ở Nông Cống, chú vẫn chữa bệnh nên cuộc sống khá phong lưu.

Bà Ngoại đong thóc của bà Chánh, em An tham gia xay lúa giã gạo đi chợ và làm cơm.

Đó là năm 1947. Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Tuy ở nơi tản cư nhưng các cháu cũng tổ chức những cuộc vui. Cậu Tuyên là tác giả kịch bản và đạo diễn những kịch như Hai Bà Trưng, Bạch Tuyết và 7 chú lùn, các cháu Đại, cô Viên là diễn viên, có dựng sân khấu, thắp đèn đất sáng trưng hàng xóm xung quanh cũng tới coi đông vui vẻ. Khi đó có cả chú Hiệp em chú Hỷ, và bạn chú là Đào Tiềm cũng tổ chức tối Văn Nghệ ngâm thơ. Tôi còn nhớ chú Tiềm ngâm hai câu thơ:

Đi cùng ta tới Cô tô thành cũ

Chờ trăng lên mơ nữa giấc mơ xưa!

Tiếng ngâm vang nghe cũng hay.

Do có những cuộc vui nhỏ đó nên cuộc sống cũng đỡ tẻ nhạt.

Còn tôi sau mấy tháng nghỉ ngơi cũng buồn, bà Chánh có cho biết ở đây nhiều người mua bông đánh thành con cúi, kéo sợi, quay vào xa đem chợ bán, cứ 1kg cúi giá 180đ làm thành sợi bán 240đ. Thấy việc đó cũng vui, tôi bèn đi mua bông họ đã đánh thành con cúi về mượn mấy cái xa về quay. Tôi cùng các con và cô Hoàn cả ngày trời trên gác kéo sợi, quay guồng, tối đến một đĩa dầu lạc khêu mấy con bấc vừa làm vừa hát vui vẻ. Bà Ngoại thấy vui cũng tham gia buộc từng con sợi quấn lại thành một quận to bằng quả bưởi. Chúng tôi cứ tiếp tục làm đều một tuần thì xong 2kg bông sẽ đem đi bán.

Muốn bán thì phải lên chợ Cổ Lễ mà như vậy phải lên Hành Thiện ngủ đêm để hôm sau đi chợ Cổ Lễ cho sớm.

Chiều hôm đó, sau khi ăn cơm chiều tôi vội khăn gói lên Hành Thiện. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, theo dòng người đi chợ. Ở đây mọi người không dùng quang gánh mà chỉ đội ở đầu, có bà đội 2 thúng gạo nặng mà đi thoăn thoắt, tay cứ vung vẩy có vẻ nhẹ nhàng lắm. Tôi cứ theo mọi người đi mãi đến nơi đã trông thấy chợ, nhà thờ Phú Nhai, chùa Cổ Lễ. Nhưng muốn sang chợ phải qua một con lạch sâu độ 3m, cầu bằng mấy tấm ván dựa trên mấy cọc cắm sâu dưới nước. Cầu không có tay vịn dài độ 4m, mọi người cứ tấp nập đi qua ván dập dình. Tôi đặt chân lên ván thấy rung rinh, nhìn xuống nước thấy rợn, cứ đặt chân lên ván lại rụt lại, mấy bà đi sau nói: “Đi thì đi không thì đứng lại cho người ta đi cứ rụt rè mãi ai đợi được’

Tôi không quen đi thấy rợn nhưng chả nhẽ tới đây mà chịu không sang được, tôi chợt thấy một bà đội hai thúng gạo đi tới tôi nói bà cho tôi vịn qua bên kia tôi biếu bà 5 hào, bà ta vui vẻ nói: cứ vịn vai tôi mà đi, đừng nhìn xuống.

Qua được cầu tôi vào chợ thấy người mua người bán rất đông nhộn nhịp, tôi đang tìm nơi để bán sợi, chợt thấy tiếng máy bay ù ù mọi người lo chạy nhốn nháo, tôi không biết chạy đâu, vai đeo khăn gói sợi chạy vội vào chợ. Trong chợ họ tản đi hết, mình tôi không biết núp vào đâu, chợt thấy ở góc chợ họ chất bao nhiêu thúng mủng, bồ bịch rổ rá cao như núi, tôi vội núp vào đó lòng hồi hộp lo sợ! Máy bay đi qua, mọi người lại mua bán đâu vào đấy.

Tôi tìm được chỗ bán sợi, họ cân rồi nói có 1kg800 và tính giá 200đ 1kg. Thôi dù sao cũng phải bán cho xong còn về. Bán xong lại mua con cúi về làm tiếp. Lúc về qua cầu ván đã mạnh dạn bước qua, lại cứ theo dòng người mà đi về Vạn Lộc, đi bộ suốt qua bao thửa ruộng lúa xanh tốt, mùi hoa đồng cỏ nội thơm ngát, mỗi đợt gió thổi lúa rạp xuống từng đợt như những làn sóng xanh lướt nhẹ, giữa cánh đồng lúa mênh mông gió mát cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, khoan khoái.

Đi mãi chiều đã thấy xa xa những làn khói lam tỏa trên các mái nhà sau lũy tre xanh, biết là đã đến bữa cơm chiều!

Về đến nhà đã xâm xẩm tối. Các em các con vui mừng vì nghe tin máy bay có qua chợ sợ có sự gì xảy ra chăng!

Đến sân ngồi xuống cạnh thềm, hai chân mỏi quá, sưng lên không đi được. Bà Ngoại bảo lấy chậu nước cho muối vào ngâm, ngồi một lúc lâu mới đứng lên đi được, từ nhỏ có đi bộ xa đâu!

Sau hỏi ra mới thấy họ nói người bán bông nào cũng dội nước xuống sân gạch cho nước thấm rồi trải bông lên trên, gạch ẩm bông hút nước nên nặng cân, sợi họ cũng làm vậy. Mình mới làm lần đầu thật thà nên hao hụt, bán cũng không lãi mấy.

Tôi thấy việc làm như vậy cũng chán, vất vả mà chẳng lợi mấy. Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua thấm thoát mà gần hết năm, lại sắp ăn một cái Tết nữa ở Vạn Lộc!

(Còn nữa)

P.T.G.

Tuổi thơ tôi ở Tràng Cát (kỳ 2 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 11 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – PHỤ LỤC

TUỔI THƠ TÔI Ở TRÀNG CÁT

Phạm Tôn

Sau khi mẹ tôi và chú Tôn Thất Định đi tiền trạm bằng xe xích lô về làng Tràng Cát để thăm thú đường đi, liên hệ rồi thuê xe bò chở đồ đạc nặng như giường, phản, đến đoàn chúng tôi khá đông cũng thuê xe đi. Sau đó xuống xe đi bộ về làng Tràng Cát theo bản đồ họa sĩ Nguyễn Cát Tường vẽ. Đi đã khá mỏi chân, vì tôi mới là một thằng bé sáu tuổi, không được cõng như em Thân ba tuổi hay bế như em Nhàn mới hơn một tuổi, thì đến một chỗ đường phải đi xuống khá dài. Cậu Tuyên xem bản đồ bảo ở đây chỉ vẽ một nét gạch, sao mà đường lại dài quá và còn trũng xuống nữa. Nhưng đành cứ theo bản đồ mà đi. Xuống dốc đã khó, nhưng lên mới lại khó hơn nhiều. Tôi bước rồi lấy hai tay nắm vào hai đầu gối mãi mới lên được hết cái dốc. Nhưng lên đến nơi thì trời ơi, sao lại có nơi đẹp đến như thế này, cứ như trong phim truyện cổ tích ấy. Cả một rừng cây mù sương dưới gốc, lại bừng sáng lên ở phần trên, đến phần ngọn thì chi chít quả đỏ. Rừng vải đang vào vụ chín rộ. Có tiếng chim tu hú gọi đàn nghe lảnh lót theo một âm điệu du dương khi bổng khi trầm. Vào đến làng, dễ dàng tìm ra căn nhà gạch lợp mái rơm dầy cụ Cửu dành cho nhà tôi ở. Nhà này cụ mới làm để cho anh Khôi con cụ sắp lập gia đình. Nhà năm gian hai chái, cụ chỉ giữ lại chái trái làm nơi rấm chuối, cà chua mới thu hoạch về.

Nguyen Cat Tuong Pham Giao Ton That Dinh

Mẹ tôi chú Định và cậu Khuê chỉ bảo những người chở đồ kê vào trong nhà. Buổi chiều bác Nguyễn Cát Tường đưa cánh đàn ông, có tôi tham gia, đi tham quan làng. Đi qua rặng vải, bác Tường bảo họ bón cây bằng ốc vặn, trong khi ở Hà Nội mình các bà các cô thú nhất là ăn món ốc vặn nóng hổi, lấy đồng xu cho đuôi ốc vào bẻ rồi mút chùn chụt xuýt xoa khen ngon. Đến một chỗ rừng thưa, có hai nhà mái tròn, quanh có rào gỗ, bác cho vào xem nhà cụ Cửu (nơi bác ở trong nhà lớn sau lưng nhà chúng tôi) đang thuê ép mía lấy mật. Hai con trâu to, một con có cái sừng quặp trông rất dễ sợ đang ngoan ngoãn kéo một cái cần gỗ to gắn vào hai trụ lớn có răng cưa đang ngoạm dần vào các bó mía mà nuốt dần, làm tiết ra dòng mật sáng vàng chảy về chảo đun sôi sình sịch khói bốc thơm kỳ lạ. Bác Tường dẫn cả toán đến một chỗ gần chảo, bảo đây mới là lúc hấp dẫn nhất. Bác xin người quản lý lò ép mía cho mỗi người một bát nước mật mới ép đun sôi thơm phức, giới thiệu đây là nước chè hai, mệt mỏi mà được một bát này là khỏe liền! Tôi uống một hớp đã thấy thật bõ công leo dốc hôm trước, lại mỏi cả chân theo bước chân người lớn đến dây. Quả là ngon quá, nếu không muốn nói là ngon nhất trần đời! Mật đun thành đường rối cắt ra từng tảng đem ra chợ bán. Cũng có khi cô thành mật đặc làm kẹo. Tôi đã thấy nhà ông Tài ở ngay trước nhà tôi dùng mật đặc nắn thành một giải dài rồi hai tay cầm hai đầu quật vào cái cọc gỗ đóng vào cột giữa nhà. Cứ quật xong lại chập đôi lại và quật tiếp. Cứ thế, dần dần giải mật trắng dần ra thành kẹo, nhào với lạc rang, thành kẹo dồi, kẹo kéo. Tôi và con Thọ cháu gái ông chạc tuổi tôi thường đứng xem ông làm. Đôi tay mạnh khỏe, thoăn thoắt vật những tảng mật nâu sẫm dần trở thành kẹo trắng, suýt soa khâm phục. Khi cho lạc vào rồi, thỉnh thoảng ông lượm những mẩu đầu thừa đuôi thẹo cho hai chúng tôi. Thọ bao giờ cũng cho tôi ăn trước, nó chỉ nhận phần sau, dù có bé hơn phần của tôi cũng không phàn nàn gì. Nó bảo mày ở thành phố làm gì có kẹo nóng mà ăn.

Nhà ông Tài còn ép dầu vừng. Anh Thể con ông đem về cái máy ép to, đặt ngay gần bếp, tôi thấy rõ anh nạp vừng vào các bao rơm rồi vặn cho bàn ép nén dần xuống, dầu chảy ra một cái chậu đồng. Anh Thể khỏe nên cứ quay tay là bàn ép lại xuống và dầu chảy ra. Ép đến mấy lần thì rỡ rơm lấy bã vừng đã nén thành một bánh tròn, bốc khói, mùi thơm ngon lành. Con Thọ nhanh tay đón lấy một bánh nóng hổi, bẻ cho tôi một miếng thơm ngon, ăn bùi bùi, cũng ngon. Nhưng  ăn một lúc thì bật ho vì vừa nhiều vỏ vừng, vừa có dầu, nên ai ăn cũng ho, không chỉ mình tôi. Tôi thấy ai cũng ăn, gần như cả nhà tôi đều ăn và đều ho. Cậu Tuyên lại có thêm một bài là Cùng ăn bánh vừng, cùng ăn bánh vừng, Nhà ta ho, nhà ta vui… Chẳng qua ai cũng buồn mồm lại chẳng có gì ăn. Bã vừng cho lợn gà ăn là hợp nhất.

Cũng thời gian này, tôi gặp chuyện không may: Lần đầu trong đời bị chó cắn. Mà là chó dữ, đen to. Con chó này là của ông Tư ở nhà lớn, thường xích ở cửa sau. Hồi ấy có lệnh đào hầm, nhà nào cũng đào hầm. Cậu Khuê, cậu Tuyên đào cái hầm dài ba mét ở sau nhà ông Lúa, gần cửa sau nhà lớn có con chó đen giữ cửa. Hầm đào xong, mấy cô cháu rủ nhau xuống chơi nhà. Đóng cửa hầm lại. Tôi đi tìm, đến gần hầm thì bị con chó rứt xích nhảy xổ vào cắn. Tôi sợ quá, đạp vào nắp hầm mà gọi to. Nhưng không ai ra cứu. Con chó cứ thế lao vào cắn khoeo chân tôi, lại còn day day chảy cả máu. Vừa đau vừa sợ, tôi có lùi lại, vẫn chẳng ai trong hầm ra. Tôi vớ lấy hòn gạch, ném con chó rồi đứng dậy lấy cành cây đánh túi bụi. Vừa lúc ấy cửa mở, ông Tư ra quát to. Con chó lùi lại để ông xích sau khi đá cho nó một cái. Hình như ngày xưa ông Tư đi lính cho Tây. Trời rét ông vẫn còn mặc cái măng tô nhà binh dài màu cứt ngựa. Lần ấy chẳng tiêm phòng dại, cũng không thuốc men gì mà rồi cũng chẳng sao. Tôi không trách gì những người ở trong hầm vì cả tôi cũng sợ phát khóc lên thôi.

Về làng này, tự nhiên nhà tôi cũng theo lệ của làng. Em Nhàn còn bé quá lại thiếu sữa mẹ, sữa bò cũng chẳng còn, mẹ tôi phải dậy thật sớm nấu cháo nếp rõ nhừ. Vì thế phải dậy từ khi con chim tu hú đầu tiên cất tiếng hót. Nhiều nhà cũng dậy sớm nhờ nghe tu hú hót như vậy. Không biết vì sao một gia đình nọ có con cả đặt tiên là anh cu Chiu, anh hai là Chà, anh Ba và anh Tít. Hỏi thì ông cụ giải thích nhà chúng tôi cứ nghe tiếng chim mà làm việc, đặt tên con cũng thế. Rồi cụ nói như ngâm thơ: Chiu đâu Chà, Ba đâu Tít thế là thành tên lúc nào chẳng biết.

Pham Thi Gia Pham Khue Pham Thi Hoan PHam Tuyen tre NEW

Mẹ nấu cháo thật nhừ rồi cho vào cái rây mịn, lấy thìa chà cho thật nhuyễn mới dùng nước cháo ấy pha với ít đường cho em tôi bú. Thành ra sau này em tôi vóc người phốp pháp, nhưng thiếu sữa thiếu chất từ nhỏ nên to mà không khỏe. Cái bã cháo mẹ cố ăn để lấy chút sữa mà cho em bú. Thấy tôi ngồi nhìn, mẹ cho ăn thử một miếng. Tôi chỉ ăn cho biết thôi, chẳng thấy ngon lành gì. Còn em Thân ba tuổi và chị Kim Loan con bác cả Giao cũng ba tuổi thì mỗi sáng mẹ nấu một cái nồi nhỏ xíu được đúng hai bát xôi cho hai chị em. Tôi hiểu, tôi là người lớn, sáu tuổi rồi, phải nhường. Vì thế, tôi lại càng thân với con Thọ hơn. Nó hay kiếm cho tôi những củ sắn, củ khoai, củ từ hay dong riềng nó mót được. Thường là sau đó hai đứa vùi vào bếp nhà nó, khi nào chín thì cùng ăn. Nó biết tôi đói. Có lần tôi chạy chơi, thấy đói, chợt nhớ là mình có vùi một củ từ ở bếp nhà con Thọ, tôi chạy về cời khắp cả đám tro mà chẳng thấy đâu. Tôi ở bếp ra, thấy nó đang nhai nhỏm nhẻm, tay còn cầm một củ gì trăng trắng. Tôi hỏi, thì nó bảo mày có ăn không và chìa cho tôi củ nó đang ăn. Tôi bất ngờ quá. Hóa ra nó ăn củ cải muối. Nhà nó cũng như nhiều nhà ở làng trồng màu này, mùa nào cũng có chum củ cải muối, để khỏi lo thức ăn.

Thay vì chào hỏi như ở nơi khác, dân làng này gặp nhau là hỏi:Bà ăn cơm chửa? Ban đầu nghe hỏi vậy mẹ tôi lạ lắm, sau ở lâu mới hiểu hỏi như vậy là mong bà con không đứt bữa, có ăn là sướng rồi! Làng Tràng Cát này không cấy được lúa, chỉ trồng mía và trồng màu. Quanh năm thiếu đói, ăn cơm độn khoai, củ dong, củ sắn là thường. Cố sống qua ngày chờ mùa vải chín, người có vải thì có quả bán, người nghèo thì có công việc làm. Dần dà gia đình tôi vốn dân phố cổ Hà Nội, đâu biết gì về nghề nông, cũng hòa nhập với lối sống của bà con ở đây. Thật  tình về đây tôi mới biết cây mía là thế nào, trồng mía ra sao. Trước đây chỉ biết mua từng đẵn mía. Cũng như chỉ biết nải chuối, chưa bao giờ biết đến buồng chuối cây chuối. Vui nhất là những lần cả nhà cùng đi vào rặng vải quét lá về đun. Bà con thấy chúng tôi lóng ngóng, không chê cười mà chỉ cho cách lấy những cành cây gai mới làm chổi quét được nhiều lá vải khô. Có được một rổ to lá vải khô là bao công sức, mà đun lửa cháy đùng đùng chưa chín nổi một nồi cơm đã hết lá rồi. Bà Tài hàng xóm thấy thế thì cười, bảo phải cho từng ít lá một chứ đun rào rào như thế này thì tốn lắm. Nhân khi đi quét lá nhặt cành về đun, còn hái được rất nhiều rau khúc. Rau khúc làm bánh nếp nhân thịt tiêu hành mùa đông ăn tuyệt vời. Lại nhờ nhà bà Tài giúp giã gạo, giã lá khúc, xay bột. Tối ấy cả nhà tôi ăn no bánh, còn biếu bà Tài, ông Lúa, cụ Cửu và nhà ông Tường. Ai cũng thích vì được ăn bánh khúc thứ thiệt, không phải bánh khúc Hà Nội toàn làm bằng lá xu hào.

Cậu Phạm Tuyên ngắm cảnh làm bánh và ăn bánh khúc vui vẻ đã làm hẳn một bài cho tụi tôi hát, mở đầu bằng câu: Làm bánh khúc kịch, làm bánh khúc kịch, cả nhà vui, cả nhà no.

Chữ kịch là tiếng của làng, diễn là ý “rất nhiều”. Những lần hái rau khúc, bao giờ cũng có hai cô bạn thanh mai trúc mã của tôi là Nguyễn Minh Nguyệt hơn tôi một tuổi và Dương Bích Hồng kém tôi một tuổi. Chúng tôi coi đó là những cuộc dạo chơi vui vẻ. Nguyệt là con, Hồng là cháu ông họa sĩ, đều sống bên nhà lớn của cụ Cửu.

Dạo ấy, tôi thường cảm thấy mệt. Chơi một lúc lại về giường nằm. Mẹ tôi lo quá nhiều việc, thấy tôi hay nằm, mắng “làm gì mà cứ như bà đẻ, lúc nào cũng nằm”. Tôi lại miễn cưỡng ra hiên ngồi. Con Thọ thấy vậy lại ngồi bên rủ rỉ trò chuyện, dúi cho tôi một củ dong đao nhỏ.

Làng Tràng Cát có con sông chảy qua, bờ cát thoai thoải. Trời nắng, có thể nhìn thấy đáy sông như có vẩy cá lóng lánh rất đẹp. Bên kia sông là bên lở, trông như một bức tường thành cao. Tôi muốn lắm, nhưng chưa bao giờ được sang đấy. Anh Đại tôi thường đi với cậu Khuê, cùng tìm đất sét, vê thành những viên tròn, vùi trong cát dùng làm đạn bắn chim bằng súng cao su. Tôi hay đi theo cậu Tuyên thích xem những cảnh đẹp. Một trưa, hai cậu cháu lội qua sông cạn, sang bên kia sông cố tìm đến cây gạo to đang chi chít hoa đỏ, như ở tận cuối trời. Mãi chiều muộn, hai cậu cháu mới về, thì thấy cả nhà nằm ở nhà trong, không ai nói năng gì cả. Lo có chuyện gì không may xảy ra, mãi về sau mới biết: bác Phương, vợ hai bả cả đi chợ, thấy có hàng bánh rán thơm, nghĩ thương cả nhà bao lâu nhịn quà mới mua hai chục bánh rán hình ông sao. Cả nhà ăn vui vẻ, vị hơi lạ, nhưng cũng ngon. Chờ mãi hai cậu cháu tôi không về mẹ tôi bảo ai muốn ăn thì ăn nốt đi, cậu cháu nó hay la cà, xem cái này, hỏi cái nọ, có về cũng là bữa cơm chiều rồi. Không ngờ vị lạ mà mọi người ai cũng nhận thấy nhưng bỏ qua là vị thầu dầu. Không có dầu mỡ rán, người ta rán bằng dầu thầu dầu, tức là thuốc xổ, ăn xong cả nhà tranh nhau vào nhà xí đến mệt cả người. Cậu cháu tôi lần ấy gặp may, thoát nạn bánh rán ông sao.

Trời nắng, chúng tôi đi tắm sông kết hợp mò hến, trùng trục. Thành ra cả nhà có hai món hến xào, canh hến ngon lành.

Chính thời gian này cậu Tuyên đặt lời cho rất nhiều bài hát theo nhạc cổ điển. Bên nhà lớn họ hàng nhà ông Tường có một người em rể từ Hồng Công về. Ông này có nhiều sách nhạc không lời, cậu Tuyên mượn về, tự đọc nhạc rồi đặt lời cho cả nhà hát. Buổi tối mùa đông, cả nhà quây quanh cái bàn trên đặt một đĩa dầu lạc, khêu mấy ngọn bấc, cùng nhau tập hát. Mẹ tôi cũng rất thích hát. Trong các bài cậu đặt lời hồi đó có bài Bài ca mùa xuân của Béttôven và bài Chèo thuyền trên sông sau này chúng tôi thi hát được giải nhì toàn thành phố Hà Nội. Cậu cũng thích vẽ. Họa sĩ Tường (Lemur) xem những tranh cậu vẽ có chỉ ra là nên thấy thế nào cứ vẽ như thế, cái lá chuối nó rách thì vẽ nó rách, đừng vẽ liền, trông đẹp nhưng không thực, không làm người xem tin là lúc ấy gió to.

Giữa gian nhà mái rơm là chiếc giường tối đến mẹ tôi ngủ cùng hai em nhỏ và tôi. Dạo ấy, cả nhà chỉ ăn rồi ca hát, lại đi quét lá, mò hến, chai, trùng trục, hái rau khúc làm bánh ăn chơi, nhưng mẹ và cậu Khuê lo lắng lắm. Một tối, cậu vào màn nói khẽ, bàn bạc với mẹ tôi. Cậu phải về Hà Nội lần nữa, tìm số tiền mẹ tôi nhét trong các nệm cỏ và xem còn thứ gì dùng được thì đem về Tràng Cát, ở đây thiếu thốn đủ bề. Cứ ngồi không mà ăn thế này mãi không được. Mẹ tôi bảo để ông Hạt đi cùng cậu, lấy một số đồ dùng, quần áo còn để lại Hàng da. Hôm sau, cậu và ông ra đi từ sớm, tránh để hàng xóm chú ý lại thêm phiền… Tôi còn nhớ rõ chuyện trước khi tản cư. Cả nhà lúc ấy xem ra chỉ có cái máy khâu mẹ tôi thường dùng là có giá trị. Chị em bàn bạc rồi cùng cố dùng dây, kéo được cái đầu máy khâu nặng lên sà nhà trên trần nhà. Còn tiền thì ngoài tiền để ở két sắt, mẹ tôi lấy hết mấy cái hộp tiết kiệm bố tôi đóng cho từng con, cứ mỗi tháng lại cho vào hộp một số tiền dành cho con sau này ăn học. Chị An 13 tuổi, còn được kha khá, chị Mỹ 11 tuổi, ít hơn một chút, anh Đại 8 tuổi, không được bao nhiêu, còn tôi 5 tuổi, em Thân 2 tuổi chẳng có là bao. Em Nhàn, không biết mặt bố, cũng chưa được bố đóng hộp cho. Mẹ nhắt tiền vào quần áo đang mặc giữ cho chắc chắn. Còn lại thì cuốn thành từng cuộn nhỏ, cuốn vào với cỏ độn đệm, rạch đệm cỏ ra, nhét vào lẫn với cỏ trong nệm, vá lại như vá nệm rách. Mỗi nệm nhét vài cuộn. Ngày cậu đi, mẹ lo âu, cứ lẩm bẩm biết thế đừng bảo đi có phải bây giờ đỡ lo không, chưa chắc tìm được gì, có khi lần trước may mắn thoát nạn, lần này tự dưng lại đâm đầu vào để lại bị bắt như ba người kia thì sao. Tôi thấy mẹ buồn nên cứ theo sát mẹ, chẳng biết giúp mẹ được gì không. Cho đến hôm sau cậu và ông Hạt về, báo là mất hết, phá hết rồi, chẳng còn gì … thì mẹ ôm lấy cậu mừng rỡ khiến cậu ngạc nhiên, sau khi cậu vừa báo cho mẹ toàn tin buồn.

Tết năm đầu tản cư, nhà tôi cũng nấu bánh chưng, canh bánh chưng, nấu nước cây mùi già tắm tất niên. Cậu Tuyên còn kiếm vôi bột rắc thành hình năm cây cung chĩa từ nhà ra phía đường xua đuổi ma quỷ ra xa.

Cậu Khuê bảo nấu nước lá xoan để tôi tắm cho khỏi ghẻ lở, đun nước muối cả nhà nhỏ mắt, giặt sạch bông trong cái chăn em Nhàn dùng hồi mới sinh làm bông lau mắt và chữa vết thương, rán mỡ gà bôi nẻ da.

Nhưng cậu vẫn đau đáu hoàn cảnh của gia đình. Cho nên khi gia đình cụ nghị Đặng Vũ Kính thân sinh bác sĩ Đặng Vũ Hỷ phái một người thân tín là ông cụ Nho tìm đến tận làng Tràng Cát thì cậu quyết định đi theo về Hành Thiện, rồi Vạn Lộc. Cậu gặp bà ngoại và từ đó có quyết định đưa cả nhóm Tràng Cát về Vạn Lộc. Bắt đầu vai trò của vợ chồng dì Phạm Thị Thức và bác sĩ Đặng Vũ Hỷ lo cho đại gia đình, mẹ tôi khỏi đứng mũi chịu sào bấy lâu mà lòng lúc nào cũng lo âu sợ hãi.

Cậu Khuê thường sang nhà ông Lúa mù lòa, yên tĩnh đọc sách ôn lại bài vở học trường Y. Cậu cũng mở lớp, dạy trẻ em và người lớn trong làng xóa nạn mù chữ. Bà con rất mến. Cậu còn lo cả làm buồng tắm cho phụ nữ trong nhà, nền đất lát bằng vỏ trai, hến cho thoát nước. Tính cậu chu đáo như thế nên ai cũng quý.

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cậu là đại úy quân y đã cùng anh Đại và tôi về thăm làng Tràng Cát, gặp lại chị Lúa xanh sao gầy gò năm xưa. Con gái ông lão mù lòa nay đã là chủ tịch xã, lại là một phụ nữ mạnh khỏe, da rám nắng, ăn nói chững chạc. Gặp lại người cũ cậu và chị chỉ mỉm cười, không nói với nhau lời nào. Những kỷ niệm cũ đầy tình nghĩa về một thời gian khổ chắc chẳng ai quên.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/10/2020 mùa Covid-19

P.T.

Tháng Mười Một 4, 2020

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 1 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 31/10/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ

Ngày 30-10, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tiếp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Michael Pompeo đang có chuyến thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ. 

Nguyen Xuan Phuc gap bo truong ngoai giao Hoa Ky

Tại cuộc tiếp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá, sau 25 năm thiết lập, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã đạt được những bước phát triển toàn diện, ngày càng đi vào chiều sâu; cảm ơn Chính phủ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và cá nhân Ngài Ngoại trưởng đã luôn ủng hộ Việt Nam mạnh, độc lập, thịnh vượng cũng như sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. 

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gửi lời cảm ơn Tổng thống Donald Trump và Chính phủ Hoa Kỳ đã có những hỗ trợ thiết thực và kịp thời dành cho Việt Nam ứng phó đại dịch Covid-19 và thảm họa lũ lụt ở miền trung vừa qua.

Ngoại trưởng Michael Pompeo bày tỏ vui mừng được trở lại thăm Việt Nam và chuyển lời thăm hỏi của Tổng thống Donald Trump đến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.

Ngoại trưởng Michael Pompeo gửi lời chia buồn về những mất mát, thiệt hại của người dân các tỉnh miền trung trong thảm họa lũ lụt.

Ngoại trưởng Michael Pompeo đánh giá cao kết quả cuộc hội đàm vừa kết thúc với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, khẳng định Hoa Kỳ coi trọng quan hệ Đối tác toàn diện với Việt Nam, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, và cam kết mạnh mẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ ngày càng sâu rộng, ổn định và vững chắc trong thời gian tới.

Ngoại trưởng Michael Pompeo khẳng định, Hoa Kỳ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN tại khu vực Đông – Nam Á, mong muốn thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN – Hoa Kỳ, Đối tác Mê Công – Hoa Kỳ phát triển thực chất, hiệu quả hơn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh hai bên tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch hành động hướng tới cán cân thương mại hài hòa và bền vững, đồng thời nhấn mạnh tầm chiến lược của lĩnh vực hợp tác năng lượng trong quan hệ song phương, trong đó có việc tăng cường nhập khẩu LNG từ Hoa Kỳ; khẳng định Việt Nam cam kết kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh cởi mở, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp các nước, trong đó có doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động lâu dài, phát triển kinh doanh tại Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Ngoại trưởng Michael Pompeo chia sẻ đánh giá tích cực về kết quả Diễn đàn Kinh doanh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vừa diễn ra tại Hà Nội trong các ngày 28 và 29-10-2020.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ đánh giá cao việc doanh nghiệp hai nước đã ký kết nhiều hợp đồng thương mại giá trị lớn trong các lĩnh vực hạ tầng năng lượng, cung cấp thiết bị công nghiệp, công nghệ thông tin cũng như các biện pháp Chính phủ Việt Nam đã triển khai, qua đó góp phần đưa quan hệ thương mại tăng trưởng ngày càng hài hòa, bền vững.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 31/10/2020

Dồn sức tìm kiếm nạn nhân ở Quảng Nam

Bão số 9 gây mưa lũ, sạt lở đất đã làm hàng chục người dân ở huyện Nam Trà My và huyện Phước Sơn chết và mất tích. Trong hơn hai ngày qua, cơ quan chức năng của tỉnh cùng các đơn vị quân đội, công an đã huy động lực lượng, phương tiện khẩn trương thông đường vào hiện trường tìm kiếm số nạn nhân còn lại.

No luc tim kiem nan nhan mat tich tai thon 1 xa Tra Leng

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Quang Bửu cho biết, từ cơn bão số 5 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, nhất là tại các huyện ở khu vực miền núi tỉnh liên tục có mưa lớn, kéo dài làm cho vùng đồi núi bị ngâm nước, dẫn đến sụt nứt. Đáng nói, những trận mưa lớn trong bão số 9 đã làm cho tình trạng sạt lở đất xuất hiện nhiều nơi trên địa bàn các huyện miền núi, gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng cuộc sống sinh hoạt của người dân. Trong đó có những trận sạt lở đất kinh hoàng, gây thiệt hại nặng về người tại hai huyện miền núi cao là Nam Trà My và Phước Sơn.

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, lúc 3 giờ ngày 29-10, Trung đoàn 885 (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh), Lữ đoàn Công binh 270 (Quân khu 5) đã huy động cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện (gồm một máy đào, một máy xúc lật, máy phát điện nhỏ, cưa máy, cuốc, xẻng)… từ TP Tam Kỳ lên huyện Nam Trà My để tìm kiếm các nạn nhân mất tích do sạt lở đất tại thôn 1, xã Trà Leng và thôn 1, xã Trà Vân. Để tạo thuận lợi trong công tác tìm kiếm, trong sáng 29-10, Cơ quan Quân sự huyện Bắc Trà My huy động lực lượng bộ đội, dân quân tự vệ để tiến hành khơi thông tuyến quốc lộ 40B từ dưới lên.

Cùng với đó, Cơ quan Quân sự huyện Nam Trà My cũng đang huy động lực lượng nỗ lực khắc phục từ trên xuống để thông đường vào hiện trường điểm sạt lở. Đến 14 giờ chiều cùng ngày, lực lượng cứu hộ của Quân khu 5, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam và các binh chủng chủ lực mới tiếp cận được hiện trường điểm sạt lở đất tại thôn 1, xã Trà Leng. Với sự chi viện của các lực lượng quân đội, sự nỗ lực của lực lượng tại chỗ, công tác tìm kiếm người dân bị vùi lấp, mất tích tại xã Trà Vân và Trà Leng đã được kết quả bước đầu. Đến cuối ngày 29-10, công tác tìm kiếm tại xã Trà Vân đã kết thúc, tám thi thể của người dân được bàn giao cho gia đình lo mai táng. Đáng mừng là, tại điểm sạt lở làng Ông Đề, thôn 1, xã Trà Leng đã cứu được 33 người, trong đó có 16 người bị thương phải đưa đi điều trị.

Ngồi ôm đứa con nhỏ vừa mới thoát chết trong vụ sạt lở đất tại thôn 1, xã Trà Leng, chị Hồ Thị Hà (thôn 2, xã Trà Leng) rưng rưng nước mắt. Chiều tối 28-10, khi chị đang ở trong nhà thì nghe trên núi có tiếng nổ lớn, sau đó đất, đá ào xuống, chị may mắn thoát nạn. Chị liền chạy sang nhà cha mẹ (trước đó chị gửi hai đứa con cho cha mẹ), nhưng vừa đến nơi thấy, bùn đất đã vùi lấp căn nhà và cả cha mẹ cùng hai đứa con của chị. May mắn sau đó, người dân đào bới, tìm được mẹ và hai đứa con của chị, nhưng người cha đã qua đời.

Còn ông Hồ Văn Hiệp (thôn 1, xã Trà Leng) chỉ tay về khu làng bị sạt lở bùn đất, giọng nghẹn ngào: “Từ khi xảy sự việc, tôi không ngủ được, liên tục ra hiện trường để tìm người thân đang mất tích”. Ông còn đến bảy người thân đang mất tích, trong đó có ông Lê Hoàng Việt (Bí thư Đảng ủy xã Trà Leng) là em rể…

Trong khi các cơ quan chức năng của tỉnh và Quân khu 5 và các đơn vị liên quan đang huy động lực lượng, phương tiện dồn sức cho việc thông đường huyết mạch từ quốc lộ 40B vào hiện trường, tìm kiếm các nạn nhân còn mất tích trong vụ sạt lở đất tại xã Trà Leng, thì lại nhận được một thông tin từ miền núi huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đã xảy ra hai vụ sạt lở đất trong chiều và tối 28-10, làm 13 người mất tích. Trong đó, một vụ xảy ra tại thôn 3, xã Phước Lộc làm 11 người dân bị cuốn trôi, mất tích và một vụ khác làm hai cán bộ xã Phước Lộc trong khi đi làm nhiệm vụ sơ tán dân trong cơn bão số 9 cũng bị vùi lấp, mất tích.

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh nhìn nhận, công tác tìm kiếm các nạn nhân mất tích tại xã Phước Lộc (huyện Phước Sơn) đang gặp nhiều khó khăn, do đường giao thông huyết mạch từ trung tâm huyện Phước Sơn vào xã Phước Lộc đang bị sạt lở quá nặng, chưa thông được. Sáng 30-10, Đoàn công tác của tỉnh Quảng Nam do đồng chí Phan Việt Cường, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh dẫn đầu đã đến Phước Sơn để triển khai các phương án tìm kiếm cứu nạn. Tại đây, đồng chí Phan Việt Cường lưu ý, các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Phước Sơn cần tiếp tục huy động lực lượng, phương tiện tập trung khắc phục sạt lở tuyến giao thông, sớm tiếp cận hiện trường vụ sạt lở để tìm kiếm các nạn nhân còn đang mất tích. Cùng với đó, các cơ quan chức năng của huyện Phước Sơn cần phối hợp chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Đăk Mi 2 và các đơn vị liên quan cần huy động lực lượng, phương tiện tìm mọi cách tiếp tế lương thực, thực phẩm vào hiện trường để chu cấp, hỗ trợ cho hơn 200 cán bộ, công nhân trong lúc bị cô lập tại khu vực Nhà máy Thủy điện Đăk Mi 2; đồng thời lên phương án ứng cứu, hỗ trợ, giải thoát cán bộ, công nhân còn kẹt ra khỏi khu vực bị cô lập. Ngoài ra, huyện Phước Sơn cần có kế hoạch cứu trợ, hỗ trợ kịp thời về lương thực, thực phẩm cho người dân vùng bị cô lập, không được để người dân thiếu đói và bằng mọi cách thông đường để ổn định đời sống sau mưa bão.

Trao đổi với chúng tôi, Phó Chủ tịch phụ trách UBND huyện Phước Sơn Nguyễn Quảng cho biết, ngôi làng xảy ra vụ sạt lở đất tại thôn 3, xã Phước Lộc nằm cách thị trấn Khâm Đức khoảng 60 km về phía tây nam (nằm tiếp giáp với tỉnh Kon Tum). Sau bão số 9, tuyến đường từ trung tâm huyện lên năm xã vùng cao của huyện bị sạt lở nghiêm trọng cho nên trong chiều 29-10, lực lượng cứu hộ của huyện và bộ đội biên phòng của tỉnh vào chưa được nửa chặng đường đành phải quay lại thị trấn Khâm Đức ngủ. Sáng sớm 30-10, lực lượng cứu hộ lại tiếp tục cuộc hành trình tiến vào khu vực sạt lở nhưng vẫn chưa thể đưa lực lượng chủ lực và cơ giới qua khỏi đoạn đường đang bị hư hỏng nặng. Do vậy, với phương châm “bốn tại chỗ”, huyện đã chỉ đạo chính quyền xã Phước Lộc huy động lực lượng công an xã, người dân địa phương tiếp tục tổ chức tìm kiếm. Với cách làm đó, trong ngày 29-10, lực lượng cứu hộ đã tìm thấy thi thể năm nạn nhân và đang tiếp tục nỗ lực tìm kiếm những nạn nhân còn lại.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 30/10/2020

Triển khai công tác khắc phục hậu quả bão số 9 và nhiệm vụ quân sự tháng 11

Sáng 29-10, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng đã chủ trì Hội nghị Thường vụ Quân ủy T.Ư, lãnh đạo Bộ Quốc phòng bàn và triển khai lực lượng, phương tiện giúp các địa phương và nhân dân khắc phục hậu quả bão số 9.

Báo cáo nhanh về công tác ứng phó với bão số 9, Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên  T.Ư Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy T.Ư, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, đến gần 1 giờ sáng ngày 29-10, tàu của lực lượng kiểm ngư đã tiếp cận và cứu được 14 ngư dân tàu cá BĐ 98658TS của tỉnh Bình Định gặp nạn; máy bay của Lữ đoàn 954 (Quân chủng Hải quân) tiếp tục tìm kiếm 26 ngư dân tỉnh Bình Định mất tích trên tàu BĐ 96388TS và BĐ 97469TS gặp nạn. Đồng thời, huy động các lực lượng đóng quân trên đảo và các tàu sẵn sàng tham gia vào các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại của ngư dân. Tại tỉnh Quảng Nam, Sở Chỉ huy tiền phương báo cáo trao đổi trực tiếp với tỉnh Quảng Nam và Quân khu 5. Lực lượng Công binh với các trang bị, phương tiện được điều động để tìm kiếm những người dân đang bị vùi lấp tại thôn 1, xã Trà Leng, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.

Ghi nhận và biểu dương công tác chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, Đại tướng Ngô Xuân Lịch yêu cầu: Với trách nhiệm cao nhất của quân đội, các lực lượng phải khẩn trương tìm kiếm, cứu nạn người dân. Công tác bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu, trong đó tăng cường hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên biển và tại Nam Trà My, Quảng Nam. Lực lượng Quân khu 5 rà soát lại kế hoạch huy động phương tiện cũng như phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương triển khai các phương án cứu hộ, cứu nạn hiệu quả, an toàn. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng bám sát tình hình, nâng cao tính dự báo, theo dõi sát diễn biến thời tiết, mưa lũ; chủ động các phương án về phòng, chống thiên tai, tuyệt đối bảo đảm an toàn cho nhân dân và bộ đội. Các cơ quan, đơn vị trong khu vực bị ảnh hưởng mưa bão, nhanh chóng rà soát thiệt hại, bổ sung vật chất phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn. Tổng cục Hậu cần những ngày tới tổ chức các đoàn bác sĩ quân y đến khám bệnh và phòng dịch cho nhân dân các vùng bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ trên địa bàn Quân khu 4 và Quân khu 5. 

* Cùng ngày, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Thường vụ Quân ủy  T.Ư tổ chức hội nghị xem xét cho chủ trương về Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030; đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tháng 10-2020, phương hướng nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tháng 11-2020 và một số nội dung khác.

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì hội nghị. Đại tướng Lương Cường, Bí thư  T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam dự.

Về hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam, Thường vụ Quân ủy T.Ư, lãnh đạo Bộ Quốc phòng thống nhất đánh giá, thời gian qua, hệ thống thiết chế này đã khẳng định vị trí, vai trò và phát huy chức năng trong tổ chức, xây dựng, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, hệ thống thiết chế văn hóa trong quân đội chưa có quy hoạch tổng thể, thống nhất và còn bất cập về tổ chức, biên chế, cơ sở vật chất trang bị, quản lý, tổ chức hoạt động… Để khắc phục tình trạng nêu trên, Thường vụ Quân ủy T.Ư, lãnh đạo Bộ Quốc phòng thống nhất chủ trương quy hoạch thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam bảo đảm chính quy, tinh gọn, thống nhất, cơ cấu hợp lý; quản lý, tổ chức hoạt động hiệu quả; khắc phục tình trạng dôi dư biên chế, quản lý chồng chéo; bố trí, sử dụng nguồn nhân lực; ngân sách quốc phòng cho hoạt động văn hóa, văn nghệ; thúc đẩy xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.

Về kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tháng 10, Thường vụ Quân ủy T.Ư, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân triển khai đồng bộ, quyết liệt, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; quyết liệt chỉ đạo lực lượng, phương tiện ứng trực phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn; nhất là việc ứng phó kịp thời với thiên tai, mưa lũ, sạt lở đất tại các tỉnh miền trung trong các cơn bão số 7, 8, 9; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Công tác huấn luyện, giáo dục – đào tạo được chỉ đạo chặt chẽ, an toàn.

Tại hội nghị, Thường vụ Quân ủy T.Ư , lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã đề ra phương hướng nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tháng 11-2020.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/10/2020

Thủ tướng Chính phủ chủ trì họp trực tuyến chỉ đạo ứng phó bão số 9

Chiều tối 27-10, Đoàn công tác của Ban chỉ đạo T.Ư về phòng, chống thiên tai do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng dẫn đầu, đã kiểm tra công tác ứng phó bão số 9 tại tỉnh Quảng Ngãi. 

Pho thu tuong Trinh Dinh Dung phong chong bao so 9

Sau khi thị sát, kiểm tra tại cảng Dung Quất và nghe lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi báo cáo về công tác ứng phó bão số 9 trên địa bàn tỉnh, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng đây là cơn bão rất mạnh, đi nhanh, vào đất liền có cường độ rất mạnh. Trong khi đó, Quảng Ngãi nằm trong tâm bão, cho nên phải triển khai công tác ứng phó với bão thật khẩn trương.

“Nhiệm vụ số một là phải bảo vệ tuyệt đối tính mạng, tài sản của người dân và nhà nước”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị các cấp, các ngành ở Quảng Ngãi phải rà soát số lượng tàu thuyền vào nơi tránh trú, hướng dẫn neo đậu một cách an toàn, tuyệt đối không để người dân ở trên tàu. Đồng thời, tập trung sơ tán người dân, nếu không chịu đi thì cưỡng chế. Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ bảo vệ tài sản của người dân, an ninh trật tự ở các khu dân cư để họ an tâm sơ tán đến nơi ở an toàn. 

Tại khu kinh tế Dung Quất có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp nên các doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động để bảo đảm an toàn cho người lao động và các công trình đang thi công. 

Phó Thủ tướng lưu ý tỉnh Quảng Ngãi cần tập triển khai phương án phòng, chống bão lũ theo phương châm “bốn tại chỗ” nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ngãi, nhờ chủ động phương án ứng phó bão số 9 chi tiết đến tận các xã, thôn, cho nên đến chiều tối 27-10, các địa phương trên địa bàn tỉnh hoàn thành công tác di dời, sơ tán dân theo đúng kịch bản đã đưa ra với 31.460 hộ, 119.182 khẩu ở vùng nguy hiểm đến nơi tránh trú an toàn.

* Trước đó, trưa 27-10, tại Ban Chỉ huy tiền phương ứng phó bão số 9 đóng tại TP Đà Nẵng, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng chủ trì buổi họp khẩn với lãnh đạo TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, chỉ đạo triển khai các biện pháp khẩn cấp ứng phó với bão số 9.

Theo báo cáo của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, đây là cơn bão mạnh, có nhiều hình thái đặc biệt khi hình thành từ vùng biển Philippines và nhanh chóng vào Biển Đông. Do không có không khí lạnh, thời tiết thuận lợi cho bão mạnh lên và đi rất nhanh, tốc độ 25 đến 30 km/giờ, diện ảnh hưởng của bão rất lớn và sức gió suy giảm chậm ngay sau khi đã đổ bộ vào đất liền. Dự báo, sáng sớm mai, 28-10, bão sẽ đổ bộ vào các tỉnh Trung Trung Bộ, từ Đà Nẵng đến Phú Yên, tâm bão có khả năng sẽ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường thông tin: Các tỉnh từ Thừa Thiên Huế đến Phú Yên dự kiến sẽ sơ tán khoảng 450 nghìn người dân ở khu vực nguy hiểm ven biển, ven sông suối, vùng sạt lở đất, đá.

Hiện tại, đã có 45.009 tàu cá với gần 230 nghìn lao động đã vào neo đậu an toàn, còn 142 tàu cá tỉnh Bình Định với 1.118 lao động đang ở khu vực nguy hiểm, đều đã nhận được thông tin về cơn bão và đang di chuyển về phía nam để trú tránh. Ở các cảng Đà Nẵng, Quy Nhơn có 223 tàu vận tải đã được neo đậu an toàn. Các địa phương đang tổ chức gia cố, sơ tán người dân trên các lồng bè nuôi trồng thủy sản.

Đối với các hồ đập thủy lợi và hồ thủy điện đều đang được kiểm tra, gia cố, những hồ có mực nước cao đều đang xả tràn để đón đợt lũ mới, góp phần ngăn lũ cho hạ du khi bão vào gây mưa lớn.

Báo cáo với Phó Thủ tướng, đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho biết: Tất cả tàu cá của Đà Nẵng và các địa phương bạn vào trú tránh đều được neo đậu an toàn tại âu thuyền Thọ Quang và các khu vực dọc theo sông Hàn. Đà Nẵng đang khẩn trương tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tự chằng chống nhà cửa, phương tiện đi lại.

Các công trình đang xây dựng đều tạm dừng hoạt động, hạ cần cẩu, thang máy bên ngoài, tháo dỡ tôn che tạm bợ, giàn giáo… để bảo đảm an toàn; kể từ 20 giờ tối nay, yêu cầu người dân không ra khỏi nhà nếu không thật sự cần thiết cho đến khi có thông báo mới. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nghỉ làm việc trong ngày 28-10.

Còn tại Quảng Nam, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh nhấn mạnh: Ngoài việc hoàn thành sơ tán gần 130 nghìn người dân ở ven biển, tỉnh cũng chỉ đạo các địa phương miền núi, nơi có nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá di dời dân đến nơi an toàn, dự trữ lương thực, thực phẩm, phương tiện ứng cứu… theo phương châm “bốn tại chỗ”.

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp khẩn, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh: Thời điểm bão đổ bộ vào đất liền trùng với triều cường nên khả năng sóng lớn, nước biển dâng và tràn sâu vào đất liền gây ngập lụt. Vì vậy, cần nâng cao mức độ cảnh giác để bảo đảm an toàn.

“Ưu tiên hàng đầu là bảo đảm an toàn về tính mạng, tài sản của nhân dân, Chính phủ sẽ huy động tối đa các nguồn lực, nhất là quân đội, công an… để ứng cứu khi có sự cố xảy ra”, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định.

Ngay sau cuộc họp khẩn, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đi kiểm tra việc neo đậu tàu thuyền tại cảng Thọ Quang. Tại đây, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện nghiêm việc đưa người ra khỏi tàu đã neo đậu an toàn, đồng thời đưa bình gas, các vật dụng dễ cháy nổ ra khỏi tàu, đề phòng khi va đập gây cháy nổ.

Chiều nay, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tiếp tục kiểm tra và chỉ đạo công tác ứng phó bão số 9 tại tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

*Chiều 27-10, trong chuyến công tác kiểm tra tình hình phòng, chống cơn bão số 9 tại miền trung, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng làm trưởng đoàn đã có buổi kiểm tra thực tế tình hình di dời dân tại khu vực phường Cửa Đại (TP Hội An, Quảng Nam) đến nơi tránh trú an toàn để phục vụ công tác phòng, chống bão số 9. Cùng đi, có Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường và lãnh đạo tỉnh Quảng Nam.

Tại đây, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã gửi lời thăm hỏi ân cần, chia sẻ đến toàn thể nhân dân buộc phải di dời, sơ tán để bảo đảm an toàn tính mạng và phục vụ công tác phòng, chống cơn bão số 9; đồng thời, đề nghị người dân nghiêm túc, khẩn trương thực hiện nghiêm lệnh di dời của địa phương để công tác phòng, chống bão số 9 được hiệu quả.

Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương trong tỉnh Quảng Nam phải sơ tán dân một cách triệt để ra khỏi những khu vực nguy hiểm, đặc biệt là ven biển, nơi nước ngập sâu, ở những công trình không an toàn. Các cơ quan chức năng ở địa phương cần có kế hoạch bảo vệ tài sản của người dân trong quá trình sơ tán; đưa tất cả các thuyền bè ở ngoài biển vào trong khu tránh trú an toàn, bảo vệ kho tàng, nhà cửa, bến bãi, bảo vệ tất cả những công trình xây dựng, bảo vệ những công trình hạ tầng, đặc biệt là hệ thống điện, hệ thống giao thông, bảo vệ công trình hồ đập an toàn, vận hành an toàn. Ngoài ra, các địa phương cần khẩn trương sơ tán người dân ra khỏi khu vực dễ ngập lụt, vùng bị lũ ống lũ quét sạt lở đất…

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan cần chuẩn bị sẵn lực lượng, trang thiết bị, như: xuồng, thuyền, tàu, máy bay trực thăng…và cùng với các địa phương vận hành tốt phương châm bốn tại chỗ để ứng phó kịp thời, nhất là bảo vệ an toàn tính mạng của người dân vùng bão lũ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/10/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với các tỉnh miền Trung về công tác khắc phục hậu quả mưa lũ

Ngày 24-10, tại TP Đồng Hới, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và đoàn công tác của Chính phủ có buổi làm việc với lãnh đạo năm tỉnh miền trung gồm  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. 

Nguyen Xuan phuc lam viec voi mien trung

Dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Tài chính; Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội; Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Công thương; Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo; Hầu A Lềnh, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban MTTQVN; Nguyễn Thanh Long, Quyền Bộ trưởng Y tế; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư, Tư lệnh Quân khu 4 và lãnh đạo năm tỉnh khu vực miền trung.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng chống thiên tai, gần một tháng qua, các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Nam liên tiếp chịu ảnh hưởng của ba cơn bão và hai áp thấp nhiệt đới đã gây ra hai đợt mưa lớn kéo dài, tổng lượng mưa phổ biến hơn 1.000mm. Riêng tại Quảng Trị và Thừa Thiên Huế lượng mưa hơn 2.500mm và vượt mưa lũ lịch sử năm 1999.

Lũ lớn và đặc biệt lớn xuất hiện trên 16 tuyến sông chính trong khu vực, trong đó có bốn sông tại Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Bình vượt mức lũ lịch sử gây ngập lụt lớn trên phạm vi rộng, làm 317.597 hộ bị ngập tại 427 xã của năm tỉnh trong khu vực. Trong đó, Quảng Bình là tỉnh ngập nặng nhất với 109.245 hộ, có nơi ngập sâu 2-3m. Các địa phương đã di dời, sơ tán 79.570 hộ với 279.625 người ra khỏi khu vực nguy hiểm. Sạt lở đất khu vực miền núi nghiêm trọng, nhất là tại thủy điện Rào Trăng 3, trạm kiểm lâm số 67, khu vực Hướng Hóa. Mưa lũ đã làm 119 người chết, 21 người mất tích, 37.524 ngôi nhà bị hư hỏng, 1.325ha lúa và 12.479ha hoa màu bị hư hại, 16 tuyến quốc lộ và hơn 161km đường giao thông bị sạt lở, hư hỏng…

Để giúp các tỉnh khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hỗ trợ cho năm tỉnh, mỗi tỉnh 1.000 tấn gạo và 100 tỷ đồng; xuất cấp 20 xuồng cao tốc, 384 nhà bạt, 23.146 phao cứu sinh các loại. Các bộ, ngành cũng đã có hỗ trợ kịp thời về lương thực, mì tôm, nước uống… cho các địa phương cứu trợ người dân. Các tỉnh đã huy động và phân bổ cho người dân 78 tấn gạo, 72.725 thùng mì tôm, 7,7 tấn và 2.772 thùng lương khô, 9.996 thùng nước uống, 46,2 tỷ đồng.

Các tỉnh đã đề nghị Chính phủ hỗ trợ hơn 5.000 tỷ đồng hỗ trợ khắc phục cơ sở hạ tầng và ổn định đời sống, 7.500 tấn gạo, 5.000 tấn hạt giống, 30 triệu viên Aquatab, 400 cơ số thuốc.

Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương đã phát biểu làm rõ thêm tình hình cũng như hậu quả của trận mưa lũ lịch sử vừa qua đối với các tỉnh miền trung; những kinh nghiệm rút ra và các giải pháp lâu dài, hiệu quả ứng phó với mưa lũ cực đoan trong thời gian ngắn, với biến đổi khí hậu để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã biểu dương tinh thần trách nhiệm trước nhân dân của các cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và các ngành trong công tác phòng chống mưa lũ, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của nhà nước và nhân dân.

Thủ tướng nhấn mạnh, qua trận lũ lịch sử này, chúng ta cần rút kinh nghiệm sâu sắc để chủ động phương án ứng phó; tăng cường nhận thức, trong đó nhận thức của cộng đồng là quan trọng nhất; cải thiện năng lực dự báo thiên tai; lồng ghép, huy động các hoạt động cứu trợ xã hội, huy động tổng hợp sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, của cộng đồng; các tỉnh cần nhanh chóng ổn định cuộc sống trở lại cho nhân dân, bảo đảm sinh kế cho người dân; huy động tinh thần tự cường, tự cứu của người dân và sự hỗ trợ của cộng đồng, các lực lượng để giúp người dân vùng lũ vượt qua khó khăn vươn lên, không được để người dân thiếu đói, màn trời chiếu đất.

Trên cơ sở những vấn đề đặt sau trận lũ lụt lớn ở miền trung, Thủ tướng đề nghị các bộ ngành, địa phương phải tính toán lại một số vấn đề phát triển thủy điện an toàn, trồng rừng để phủ xanh đồi trọc, góp phần giảm sạt lở đất; ứng dụng công nghệ thông tin để thông báo, cảnh báo cho người dân về thời tiết, thiên tai. Thủ tướng cũng chỉ đạo các bộ bố trí nguồn lực để hỗ trợ các tỉnh miền trung khắc phục thiệt hại do thiên tai; xem xét sửa đổi các điểm bất chưa phù hợp trong Nghị định 64/2008/NĐ-CP về công tác cứu trợ.

Điều cần thiết nhất lúc này là các địa phương, các ngành sẵn sàng phương án chủ động ứng phó với bão số 8 và có khả năng số 9 sắp tới để không xảy ra thiệt hại hơn nữa đối với nhân dân.

Trước đó, trong buổi sáng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đoàn công tác Chính phủ đến thăm, động viên người dân ở thông Đồng Tư, xã Hiền Ninh, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, nói chuyện với bà con nhân dân địa phương, Thủ tướng đã ân cần thăm hỏi sức khỏe bà con và chia sẻ với những thiệt hại, mất mát về tính mạng, tài sản của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng của trận lũ lịch sử. Thủ tướng đánh giá cao tinh thần chủ động, sự đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau và cả sự chia sẻ trong khó khăn của bà con nhân dân, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. 

Thủ tướng đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Quảng Bình cần tập trung lực lượng, hàng hóa để cứu trợ, không để dân thiếu ăn, thiếu nước uống; tổ chức tiếp nhận và phân phối hàng cứu trợ bảo đảm hợp lý để vừa đến tay người dân; nhanh chóng khắc phục, giúp dân ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất, trước mắt chủ động các biện pháp ứng phó với báo số 8.

Dịp này, Thủ tướng Chính phủ đã tặng quà cho 30 hộ dân bị thiệt hại nặng, mỗi hộ 10 triệu đồng; thăm và tặng quà Trường mầm non Hiền Ninh.

Hương Giang

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/10/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì diễn đàn cấp cao Đô thị thông minh ASEAN năm 2020

Ngày 22-10, tại Hà Nội, Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Xây dựng đồng chủ trì tổ chức Diễn đàn cấp cao về Đô thị thông minh ASEAN 2020 (ASEAN Smart Cities Summit & Expo 2020). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.Nguyen Xuan Phuc do thi cap cao thong minh

Cùng dự có đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và đại diện các quốc gia thuộc ASEAN. Diễn đàn thu hút sự quan tâm của hơn 500 đại biểu trong nước và quốc tế.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, đồng chí Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: Diễn đàn cấp cao về Đô thị thông minh ASEAN 2020 là sự kiện gắn sơ kết một năm thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển đô thị thông minh tại Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” với các hoạt động trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam. Mục đích của Diễn đàn cấp cao là thúc đẩy việc chia sẻ sáng kiến, kinh nghiệm và hợp tác giữa các đô thị của Việt Nam với mạng lưới đô thị trong khu vực ASEAN, qua đó đẩy nhanh tiến trình triển khai hiệu quả Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị.

Đồng chí Trưởng Ban Kinh tế Trung ương nêu rõ: Tại khu vực ASEAN, hơn một nửa dân số hiện đang sinh sống tại các đô thị và quá trình đô thị hóa của khu vực đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Đô thị hóa mang đến cơ hội phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức như tập trung dân cư cao, tiêu thụ tài nguyên rất lớn, tác động tiêu cực đến môi trường, sự quá tải của hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn ra và tác động tiêu cực trên toàn cầu, những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, yêu cầu phát triển đô thị thông minh bền vững là hết sức cần thiết.

Câu hỏi lớn được đặt ra là, làm thế nào để quá trình đô thị hóa và quá trình chuyển đổi số giúp các quốc gia tận dụng được những cơ hội về phát triển kinh tế xã hội, đồng thời tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên, hạn chế những tác động tiêu cực tới môi trường và giảm tải các hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Để giúp trả lời cho câu hỏi này, năm 2018, Mạng lưới các đô thị thông minh ASEAN (ASCN) đã được lập ra với vai trò một diễn đàn hợp tác giữa những thành phố của 10 quốc gia thành viên ASEAN nhằm hướng tới những mục tiêu chung về phát triển đô thị thông minh và bền vững với 26 đô thị thành viên. Diễn đàn lần này hướng tới giữ gìn và phát huy bản sắc cộng đồng của các đô thị trong quá trình phát triển đô thị thông minh; phát triển bền vững vì một ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng.

Phát biểu tại phiên toàn thể Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu bật ý nghĩa của sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đã làm sáng tỏ nhiều chân trời tri thức mới, mở rộng thêm không gian mới cho phát triển đô thị thông minh, không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ tài nguyên hiệu quả, mà còn định hướng, dự báo được các nguy cơ một cách chính xác hơn, nhanh chóng hơn, từ đó tăng khả năng thích ứng, tự phục hồi của xã hội và đô thị.

Với vai trò là thành viên tích cực của Mạng lưới các đô thị thông minh ASEAN, nhận thức sâu sắc xu hướng thời đại, Việt Nam đã có nhiều chính sách và nỗ lực phát triển đô thị thông minh, coi xây dựng đô thị thông minh là một trong ba nhiệm vụ cốt lõi trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia của cách mạng công nghiệp 4.0; phát triển đô thị thông minh bền vững đến 2025 và tầm nhìn 2030 trên cơ sở quy hoạch thông minh gắn với quản lý thông minh, cung cấp tiện ích thông minh, tạo thuận lợi cho các giao dịch giữa chính quyền, nhà quản lý, người dân và nhà đầu tư.

Thủ tướng nhấn mạnh, phát triển đô thị thông minh là một “cuộc chơi lớn”, trong đó cần có những “người cùng chơi” có tầm nhìn và tiềm lực, hướng tới mục tiêu nhân văn là cuộc sống hạnh phúc, sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ môi trường và thiết lập hệ sinh thái đô thị phát triển bền vững. Việt Nam xác định phát triển đô thị thông minh, bền vững là một hướng đi có tính đột phá để góp phần nâng cao tính cạnh tranh quốc gia. Phát triển đô thị thông minh phải gắn kết chặt chẽ với hạ tầng thông tin mạnh, xây dựng chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số trong cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình phát triển đô thị Việt Nam.

Phát triển đô thị thông minh phải trên cơ sở cân nhắc cơ hội và rủi ro, thách thức gắn với nhu cầu và năng lực của địa phương, không thực hiện theo phong trào, cần làm từng bước, có chọn lọc, theo lộ trình. Tiếp cận đô thị thông minh theo hướng hiệu quả, kế thừa và phát huy kinh nghiệm của 35 năm đổi mới, đồng thời phát triển những giá trị gia tăng do công nghệ, kỹ thuật mới đem lại, phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng của khối ASEAN và đặc thù của các quốc gia thành viên.

Các địa phương, cùng với phát triển các tiện ích thông minh, cần chú trọng xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu thông minh phục vụ đưa ra các quyết định thông minh; thúc đẩy quy hoạch và các giải pháp quản lý đô thị thông minh. Thu hút sự tham gia mạnh mẽ của khối tư nhân, phát huy năng lực đổi mới, sáng tạo; tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Đô thị thông minh phải là đô thị của chính người dân, doanh nghiệp tạo nên, là đô thị có quan hệ xã hội tốt đẹp, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, quan hệ con người với con người nhân văn.

Trong khuôn khổ Diễn đàn có năm phiên hội thảo chuyên đề tập trung vào các vấn đề cốt lõi trong xây dựng đô thị thông minh: Quy hoạch và quản lý đô thị thông minh, xây dựng hạ tầng số và công nghệ số, phát triển các dịch vụ thông minh, năng lượng thông minh, giao thông thông minh. Bên cạnh đó là hoạt động triển lãm về mô hình đô thị thông minh, các nền tảng, sản phẩm công nghệ cho xây dựng đô thị thông minh.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng các đại biểu đã tham quan triển lãm các mô hình, công nghệ tiêu biểu cho đô thị thông minh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/10/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Điều phối viên thường trú LHQ tại Việt Nam; Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam

Chiều 21-10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Nguyen Xuan Phuc gap Lien Hiep QuocĐiều phối viên thường trú Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam Kamal Malhotra và Trưởng diện các tổ chức LHQ tại Việt Nam. 

Gửi lời chúc mừng Ngày thành lập LHQ (24-10), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đây là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu 75 năm chặng đường hoạt động của LHQ trong vai trò là trung tâm điều phối chung hành động của các quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu, vì hòa bình, an ninh, thịnh vượng và phát triển bền vững của các dân tộc.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam luôn coi LHQ là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, là đối tác quan trọng hàng đầu. Các tổ chức phát triển và chuyên môn LHQ là những người bạn quý báu, đã hỗ trợ Việt Nam rất nhiều từ những năm tháng khó khăn sau chiến tranh. Cho đến ngày nay, dù Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, chúng tôi vẫn luôn ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác nhiều mặt, hiệu quả giữa Việt Nam – LHQ. Thủ tướng cho biết, Việt Nam đã sớm kiểm soát được dịch bệnh Covid-19 cùng với nỗ lực thực hiện mục tiêu kép, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội. Năm nay, Việt Nam có thể đạt tăng trưởng 2-3%, là nước tăng trưởng dương duy nhất ở ASEAN, quy mô kinh tế có thể đứng thứ tư ASEAN.

Thay mặt “gia đình LHQ” tại Việt Nam, ông Kamal Malhotra cảm ơn lời chúc mừng của Thủ tướng nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập LHQ; gửi lời chia buồn sâu sắc tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nhân dân Việt Nam về những thiệt hại và mất mát to lớn về người và tài sản, về cơ sở hạ tầng thiết yếu do bão, lũ và sạt lở đất gây ra tại các tỉnh miền trung, trong đó có cả những hy sinh to lớn của các cán bộ, chiến sĩ quân đội khi cứu hộ người dân. LHQ đang hỗ trợ và cử các nhân viên tham gia các đoàn đánh giá nhanh tại hiện trường và sau đó sẽ thực hiện đáp ứng hỗ trợ với góc độ “một LHQ thống nhất”, Ông bày tỏ cảm ơn Việt Nam đã ủng hộ rất mạnh mẽ và có những đóng góp quý báu cho LHQ và chủ nghĩa đa phương, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu với rất nhiều thách thức hiện nay.

Đánh giá cao đóng góp của Việt Nam vào nỗ lực chống biến đổi khí hậu, ông cho biết, LHQ tại Việt Nam cũng đang đóng vai trò chủ đạo trong việc hỗ trợ tổ chức sự kiện Phụ nữ hòa bình và an ninh toàn cầu đo Việt Nam đăng cai tổ chức vào đầu tháng 12. Chương trình và phương thức để thực hiện các hoạt động này hiện đang gấp rút được hoàn thiện. Với tư cách là Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã và đang đóng góp vai trò lãnh đạo quan trọng bao gồm cả các hoạt động ứng phó với Covid-19.

Gửi lời chúc mừng đến Chính phủ và nhân dân Việt Nam vì đã ngăn chặn thành công Covid-19, ông Kamal Malhotra nêu rõ, LHQ là đối tác chặt chẽ của Việt Nam về ứng phó liên quan các vấn đề sức khỏe, đặc biệt thông qua WHO, Văn phòng Điều phối viên thường trú và các cơ quan khác của LHQ. LHQ cũng đang hỗ trợ Việt Nam rất tích cực thông qua kế hoạch ứng phó Covid-19 về kinh tế – xã hội và sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các cơ quan của Chính phủ trong lĩnh vực này. Ông mong muốn sớm ký kết khung hợp tác phát triển bền vững mới của LHQ giai đoạn 2022-2026 với Việt Nam trong năm 2021.

Ghi nhận ý kiến của ông Kamal Malhotra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng việc Chương trình Lương thực thế giới (WFP) được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa bình. Đây là sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp tích cực của LHQ nói chung và WFP nói riêng và cũng là sự khẳng định về tầm quan trọng của hợp tác đa phương hiện nay.

Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đang lấy ý kiến của toàn dân về các văn kiện của Đại hội, do đó, trong quá trình này, chúng tôi luôn trân trọng các ý kiến đề xuất, tư vấn, kinh nghiệm quốc tế của các cơ quan LHQ. Sau 75 năm hoạt động, LHQ cũng đứng trước yêu cầu cần đẩy mạnh cải tổ hệ thống phát triển với kỳ vọng xây dựng một thế hệ mới các tổ chức LHQ tại cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng đóng góp vào những nỗ lực này của LHQ. Thủ tướng nêu rõ, đối với LHQ, Việt Nam có thể dùng cụm từ: trân trọng, thân thiện, hữu nghị và thái độ xây dựng; đề nghị các tổ chức LHQ chủ động thông tin dự báo về những xu hướng mới, các khủng hoảng có thể xảy ra ở khu vực, quốc tế và tác động đối với Việt Nam.

Đánh giá cao nỗ lực của LHQ tại Việt Nam trong việc kịp thời có nhiều báo cáo đánh giá tác động của Covid-19 đối với kinh tế – xã hội Việt Nam, Thủ tướng cho biết, đã nhận được báo cáo về những tài liệu tư vấn chính sách của LHQ trên nhiều lĩnh vực quan trọng … Đây sẽ tiếp tục là nguồn tham khảo hữu ích của Chính phủ Việt Nam trong xây dựng, triển khai chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Thủ tướng mong muốn các tổ chức LHQ tăng cường tư vấn chính sách hỗ trợ Chính phủ Việt Nam điều hành hiệu quả kinh tế – xã hội, đặc biệt là đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở phát huy tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực; tăng cường xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thị trường; đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng xanh hóa và tuần hoàn, tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, giảm phát thải nhà kính, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, an ninh nguồn nước và thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt động hợp tác với LHQ, tạo điều kiện cho các tổ chức phát triển LHQ tại Việt Nam triển khai hiệu quả, kịp thời các chương trình, dự án hợp tác, cũng như phối hợp trong việc thực hiện hiệu quả cải tổ hệ thống phát triển LHQ, Thủ tướng nêu rõ.

* Chiều cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Carolyn Turk.

Phát biểu ý kiến tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng bà C.Turk được bổ nhiệm làm Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam, tin tưởng với bề dày kinh nghiệm, bà sẽ nối tiếp truyền thống thành công của những lãnh đạo tiền nhiệm; tin tưởng trong nhiệm kỳ mới, quan hệ WB và Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.

Nguyen Xuan Phuc gap wb

Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam Carolyn Turk cảm ơn sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam với WB suốt 25 năm qua, hy vọng thúc đẩy mối quan hệ này tiến xa hơn nữa. Bà chia sẻ mất mát của người dân Việt Nam ở miền trung đang phải gánh chịu thiệt hại do thiên tai mưa lũ; khẳng định WB sẽ làm tất cả những gì có thể hỗ trợ người dân miền trung. Bà chúc mừng Chính phủ Việt Nam đã thành công trong kiềm chế dịch bệnh Covid-19. Cách thức kiềm chế dịch bệnh thực sự là tấm gương để thế giới nhìn vào. Việt Nam cũng là một trong số ít các nền kinh tế có tăng trưởng dương năm nay. Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh lớn vì đã đi trước trong ứng phó dịch Covid-19. Vấn đề là Việt Nam đón bắt cơ hội thế nào khi các nước đang dần mở cửa trở lại nền kinh tế.

Theo quan điểm của WB, đây là thời điểm tốt của Việt Nam để định vị trong nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam sẽ có cơ hội thúc đẩy mạnh hơn cải cách về Chính phủ điện tử, chuyển đổi số, khám chữa bệnh từ xa… WB sẵn sàng cung cấp hỗ trợ về vốn, chuyên gia, tư vấn chính sách… cho Việt Nam. WB đã có sẵn nguồn lực hỗ trợ cho Việt Nam, kể cả nguồn vốn và thủ tục mua vắc-xin phòng Covid-19 trên quy mô lớn.

Trao đổi về các chương trình, dự án mà WB đang triển khai tại Việt Nam, bà nêu rõ, nguồn vốn đầu tư công của Việt Nam hiện đang được đẩy nhanh tiến độ, tuy nhiên các nguồn vốn khác như ODA hiện đang chậm và rất thấp so các nước trên thế giới. WB sẵn sàng làm việc với các bộ ngành của Việt Nam để tháo gỡ mọi khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Bà cũng mong WB sẽ tham gia sâu hơn về tư vấn chính sách cho Chính phủ Việt Nam trong vấn đề liên quan vay và sử dụng vốn ODA. WB cũng mong được học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam kiềm chế nhanh chóng dịch Covid-19.

Cảm ơn ý kiến của bà C.Turk, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Chính phủ, các bộ ngành mong nhận được tư vấn chính sách từ WB, đặc biệt là vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô. Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam đang đặt mục tiêu kép, vừa phòng chống dịch hiệu quả, vừa bảo đảm phát triển kinh tế, giải quyết việc làm. Nhờ được người dân ủng hộ, do đó, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương, mức tăng trưởng cao nhất khu vực ASEAN trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Thủ tướng cũng cảm ơn WB cam kết hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai ở miền trung, cho biết, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đang nỗ lực khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống người dân. Thủ tướng cũng khẳng định, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nêu cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA. Tới đây, Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì họp về giải ngân vốn ODA để đề ra các giải pháp mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, Thủ tướng cũng mong bà C.Turk rà soát lại các thể chế quốc tế về giải ngân.

Thủ tướng hoan nghênh WB đã có sáng kiến hỗ trợ các quốc gia phòng chống lại đại dịch Covid-19, đặc biệt WB đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoản trị giá 6,2 triệu USD đã được ký tiếp nhận vào cuối tháng 7; Đánh giá cao WB đã phê duyệt gói hỗ trợ 12 tỷ USD cho các nước trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam để mua và triển khai vắc-xin phòng dịch; đề nghị WB làm việc với Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

Thủ tướng hy vọng bà C.Turk sẽ đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam thực hiện mục tiêu kép phòng, chống dịch Covid-I9 và phục hồi nền kinh tế. Đề nghị bà chia sẻ một số nhận định, đánh giá của WB về triển vọng kinh tế trong khu vực. Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam được đánh giá là sử dụng hiệu quả vốn tài trợ của WB, hầu hết các dự án đã kết thúc tại Việt Nam xếp hạng khá tốt. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Việt Nam nói chung, trong đó có vốn WB tài trợ là tương đối thấp. Thủ tướng hy vọng trong thời gian tới, tình hình giải ngân vốn ODA sẽ được cải thiện; đề nghị WB phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ ngành, địa phương để cùng nhau cải thiện vấn đề này, tăng hiệu quả cho các dự án WB tài trợ.

Về định hướng hợp tác, Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam đang xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2026, do đó đề nghị WB với kinh nghiệm của mình tiếp tục tư vấn chính sách cho Chính phủ, các bộ, ngành như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp chặt chẽ WB rà soát, cập nhật Khung đối tác chiến lược quốc gia (CPF) giai đoạn 2018-2021 cho phù hợp tình hình thực tiễn, đặc biệt là những tác động, ảnh hưởng của dịch Covid-19 cũng như nghiên cứu, đề xuất CPF mới cho ba năm tiếp theo 2022-2025 để xác định nguồn lực hỗ trợ, lĩnh vực ưu tiên của hai bên, qua đó xây dựng danh mục tài trợ phù hợp và các hoạt động liên quan.

Về định hướng ưu tiên của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Chính phủ tiếp tục ưu tiên huy động vốn ODA, vay ưu đãi trong đó có nguồn vốn vay của WB, phù hợp với Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 sắp được Quốc hội thông qua và định hướng thu hút ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2021-2025 với chủ trương ưu tiên cho các dự án lớn, thúc đẩy phát triển bền vững nhưng quan trọng nhất vẫn là hiệu quả của dự án.

Thủ tướng đề nghị WB tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để chuẩn bị tốt các chương trình, dự án có chất lượng thực sự hiệu quả, cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lực đầu tư phát triển.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/10/2020

Thủ tướng Nhật Bản Xư-ga Y-ô-si-hi-đê kết thúc chuyến thăm chính thức Việt Nam

Ngày 20-10, Thủ tướng Nhật Bản Xư-ga Y-ô-si-hi-đê và Phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Nhật Bản, rời Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam, theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Nhật Bản sau khi nhậm chức.

Trong chuyến thăm, từ ngày 18 đến 20-10, Thủ tướng Nhật Bản Xư-ga Y-ô-si-hi-đê được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp; Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đón, hội đàm; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân hội kiến. Thủ tướng Xư-ga cũng tiếp Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt – Nhật, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư Phạm Minh Chính; chứng kiến lễ trao đổi các văn kiện hợp tác giữa hai nước. Thủ tướng cùng Phu nhân và Đoàn đã đặt vòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ; thăm Đại học Việt – Nhật…

Tại các cuộc tiếp và hội đàm, các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí phối hợp làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản; đưa hợp tác đi vào chiều sâu, tăng cường sự tin cậy chính trị và hiệu quả các cơ chế đối thoại; tăng cường quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, giữa Chính phủ và Quốc hội hai nước; phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế và khu vực.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/10/2020

Truy điệu, tiễn đưa 22 liệt sĩ

Từ 7 giờ sáng 22-10, tại Nhà thi đấu đa năng tỉnh Quảng Trị, đường Trường Chinh, phường Đông Lễ, TP Đông Hà, bắt đầu diễn ra Lễ viếng 22 cán bộ, chiến sĩ của Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 337 hy sinh vào 1 giờ ngày 18-10, tại xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị trong lúc làm nhiệm vụ.

Le Vieng 22 can bo chien si cua Doan Kinh Te

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân gửi vòng hoa kính viếng các liệt sĩ.

Lễ tang do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chủ trì, phối hợp tỉnh Quảng Trị tổ chức theo nghi thức trang trọng của quân đội.

Ngay từ sáng sớm, đại diện các ban, bộ, ngành T.Ư, các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và đông đảo cán bộ, chiến sĩ, người dân; thân nhân gia đình các liệt sĩ đã có mặt dự Lễ viếng và Lễ truy điệu, tiễn đưa 22 liệt sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đoàn Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Đại tướng Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Trưởng đoàn vào viếng. 

Trong niềm đau xót và tiếc thương vô hạn, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4; Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Quảng Trị cùng thân nhân kính cẩn nghiêng mình dâng hương các liệt sĩ. Đoàn của tỉnh Quảng Trị do đồng chí Lê Quang Tùng, Ủy viên Dự khuyết T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị làm trưởng đoàn vào viếng.

Lễ viếng bắt đầu từ 7 giờ đến 10 giờ. Lễ truy điệu và di quan diễn ra từ 10 giờ đến 11 giờ cùng ngày. Sau đó, linh cữu các cán bộ, chiến sĩ hy sinh sẽ được đưa về địa phương an táng theo nguyện vọng của gia đình.

Trước tình hình mưa lũ lịch sử liên tục xảy ra tại tỉnh Quảng Trị, suốt một tuần trước ngày 18-10, cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 337 đã hành quân về khắp các xã của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn giúp nhân dân. Khuya 17-10, khi các cán bộ, chiến sĩ trở về doanh trại tiếp tục làm công tác ứng phó với mưa lũ thì bất ngờ thiên tai xảy ra. Đúng 1 giờ ngày 18-10, vụ sụt lở núi nghiêm trọng vùi lấp 22 cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 hy sinh. Sau gần hai ngày khẩn trương tìm kiếm, cứu nạn, đến cuối ngày 19-10, tất cả 22 thi thể của các đồng chí đã được tìm thấy.

Ngày 20-10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, gồm năm Huân chương hạng Nhì và 17 Huân chương hạng Ba cho 22 cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 337, Quân khu 4, hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/10/2020

Lễ truy điệu 13 liệt sĩ hy sinh khi tham gia cứu nạn tại thủy điện Rào Trăng 3

Sau lễ viếng, lễ truy điệu theo nghi thức tang lễ cấp cao của quân đội, 13 chiến sĩ hy sinh trên đường làm nhiệm vụ cứu hộ ở khu vực thuỷ điện Rào Trăng 3 đã được đưa về quê nhà để tổ chức tang lễ, an táng tại địa phương…

Le truy dieu 13 chien si

Trước đó, trong không khí trang nghiêm, đúng 7 giờ sáng 18-10, lễ tang 13 đồng chí, chiến sĩ hy sinh ở khu vực Thủy điện Rào Trăng 3 đã diễn ra tại Nhà tang lễ Bệnh viện 268, Cục Hậu cần Quân khu 4, đường Mang Cá, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đến dâng hương tưởng nhớ, bày tỏ lòng tiếc thương sâu sắc đối với 13 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại Thủy điện Rào Trăng 3.

Theo thông báo của UBND  tỉnh Thừa Thiên – Huế, lễ viếng diễn ra từ 7 giờ đến 11 giờ; lễ truy điệu bắt đầu từ 11 giờ đến 12 giờ; lễ di quan về địa phương bắt đầu từ 12 giờ. 

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/10/2020

Truy tặng Huân chương Dũng cảm cho hai cán bộ hy sinh trong vụ sạt lở ở thủy điện Rào Trăng 3

Ngày 16-10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký Quyết định số 1817/QÐ-CTN về việc truy tặng Huân chương Dũng cảm.

Theo đó, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định truy tặng Huân chương Dũng cảm cho hai cán bộ có hành động dũng cảm trong công tác cứu hộ, cứu nạn tại Nhà máy Thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Xuân, huyện Phong Ðiền (Thừa Thiên Huế). Hai người được truy tặng Huân chương là ông Nguyễn Văn Bình, Chủ tịch UBND huyện Phong Ðiền và ông Phạm Văn Hướng, Trưởng phòng Thông tin – Tuyên truyền, Cổng Thông tin điện tử, Văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trước đó, ngày 12-10-2020, được tin có vụ sạt lở gây hậu quả nghiêm trọng tại Nhà máy thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đoàn công tác 26 người gồm các đơn vị: Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và các cơ quan Quân khu; Cục Cứu hộ – Cứu nạn; Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế; Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền; Ban Chỉ huy quân sự huyện Phong Điền, có nhiệm vụ vào Nhà máy thủy điện Rào Trăng 3, xác minh, kiểm tra thông tin theo tin báo.

Khi đến địa phận đường 71, có gầm tràn sâu ô-tô không đi qua được Đoàn đã để lại xe ô-tô và đi bộ vào Nhà máy thủy điện Rào Trăng 3 với 21 người, năm người ở lại. Đến 21 giờ cùng ngày, Đoàn đi bộ đến Tiểu khu 67, Trạm kiểm lâm Sông Bồ và dừng lại ăn tối và nghỉ lại Trạm.

Vào lúc 0 giờ 5 phút ngày 13-10, bất ngờ có tiếng nổ lớn và sụt toàn bộ núi lên khu vực Đoàn đang nghỉ. Chỉ tám người trong Đoàn thoát khỏi khu vực sạt lở, còn lại 13 người không liên lạc được, trong đó có 11 quân nhân và hai cán bộ dân sự. Đến nay, 13 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 24/10/2020

Hội chợ nông nghiệp và các sản phẩm OCOP khu vực phía bắc

Tối 22-10, tại Trung tâm triển lãm Kim Thành (TP Lào Cai), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Lào Cai khai mạc Hội chợ nông nghiệp và các sản phẩm OCOP khu vực phía bắc, với hơn 300 gian hàng của 30 tỉnh, thành phố phía bắc.

Với chủ đề “đề “Sản phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng”, Hội chợ thu hút hàng trăm doanh nghiệp, HTX, các địa phương tham gia trưng bày, giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, các sản phẩm OCOP của Lào Cai và  các tỉnh, thành phố phía bắc.  

Hội chợ bao gồm hai khu triển lãm, với hơn 300 gian hàng. Trong đó, khu triển lãm chung ngành nông nghiệp giới thiệu về nền nông nghiệp Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, toàn diện, hiện đại, công nghệ cao; trưng bày giới thiệu các sản phẩm OCOP được xếp hạng sao; mặt hàng nông, lâm, thủy sản chất lượng cao, uy tín; nông sản chủ lực của Việt Nam; các mô hình sản xuất nông nghiệp, công trình khoa học kỹ thuật, dịch vụ nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi… Khu vực này còn diễn ra các hoạt động giao thương, kết nối, cung cấp thông tin về sản phẩm, thị trường cho khách tham quan.  Khu vực trưng bày, giới thiệu nông sản, sản phẩm OCOP có 80 gian hàng của tỉnh Lào Cai, 80 gian hàng của các tỉnh, thành phố khu vực phía bắc.

Ngoài ra, tại hội chợ còn có 20 gian hàng giới thiệu tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất; 90 gian hàng thương mại tổng hợp; 30 gian hàng ẩm thực; 18 gian hàng của các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Lào Cai; khu trưng bày triển lãm sinh vật cảnh, giống cây trồng, đồ thủ công mỹ nghệ và khu vực quảng cáo dành cho các nhà tài trợ.

Trong khuôn khổ Hội chợ, các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức có dịp tham gia “Diễn đàn xúc tiến phát triển sản xuất và thị trường các sản phẩm”, để quảng bá, giới thiệu, tìm kiếm, kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP chất lượng cao đến với người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Đây là hoạt động xúc tiến thương mại quan trọng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Lào Cai tổ chức, nhằm quảng bá thương hiệu sản phẩm OCOP, các loại nông, lâm, thủy sản Việt Nam chất lượng cao, uy tín trên thị trường; sản phẩm đặc trưng và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiêu biểu của các tỉnh, thành phố khu vực phía bắc; hỗ trợ triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030; tạo cơ hội cho các tỉnh, thành phố quảng bá tiềm năng, thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ du lịch nông thôn… từ đó kêu gọi, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, góp phần hình thành và phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững.

Hội chợ diễn ra đến hết ngày 26-10-2020.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 29/10/2020

Khu du lịch Mũi Né trở thành Khu du lịch quốc gia

Tối 24-10, tại TP Phan Thiết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) phối hợp UBND tỉnh Bình Thuận tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận Khu du lịch quốc gia Mũi Né (Khu DLQG Mũi Né), tỉnh Bình Thuận và tôn vinh các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực du lịch. 

Mui ne la khu du lich quoc gia

Tham dự Lễ có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Văn Hùng, Thứ trưởng VH-TT-DL; Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận. Đại diện Tổng cục Du lịch cùng đại diện lãnh đạo một số Sở Du lịch, Sở VH-TT-DL lịch trên cả nước.

Tại buổi lễ, ông Nguyễn Trùng Khánh, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã công bố Quyết định số 2354/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng VH-TT-DL về việc công nhận Khu du lịch quốc gia Mũi Né, tỉnh Bình Thuận.

Theo Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 18-12-2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu DLQG Mũi Né, tỉnh Bình Thuận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 xác định vị trí, quy mô, ranh giới Khu du lịch quốc gia Mũi Né nằm trên dải đất ven biển từ xã Hòa Phú, huyện Tuy Phong đến hết ranh giới phường Phú Hài, TP Phan Thiết (Bình Thuận); có diện tích khoảng 14.760 ha, trong đó diện tích vùng lõi tập trung phát triển hình thành các khu chức năng du lịch là khoảng 1.000 ha.

Phát biểu tại buổi Lễ, Thứ trưởng VH-TT-DL Nguyễn Văn Hùng khẳng định, việc Bộ VH-TT-DL ban hành quyết định công nhận Khu DLQG Mũi Né càng làm tăng thêm giá trị một thương hiệu, một trong những điểm sáng đi đầu để hình thành nên hệ thống khu du lịch quốc gia trên cả nước. Đồng thời đề nghị, tỉnh Bình Thuận tiếp tục quan tâm, sớm có các chủ trương để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14 nhằm chỉ đạo sát sao hơn nữa thúc đẩy sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận nói chung và Khu DLQG Mũi Né nói riêng. Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về du lịch; tiếp tục vươn tầm hơn nữa để Khu DLQG Mũi Né khi sau khi được công nhận luôn bảo đảm đi đầu về chất lượng dịch vụ, bảo đảm môi trường du lịch an toàn, văn minh; tăng cường thu hút các dự án đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch hấp dẫn; chú trọng công tác xúc tiến quảng bá thương hiệu Khu DLQG Mũi Né ở trong nước và quốc tế; khẳng định vai trò, vị trí của trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ cũng như du lịch cả nước.

Ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, Trưởng Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 25 năm Ngày Du lịch Bình Thuận cho biết, trong thời gian qua, Bình Thuận đã tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật du lịch đáp ứng tiêu chí của Khu du lịch quốc gia. Cùng với đó, tỉnh đã nỗ lực kêu gọi xúc tiến đầu tư và bước đầu thu hút được những dòng đầu tư mới là những nhà đầu tư chiến lược, có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch. Theo định hướng của Quy hoạch phát triển Khu DLQG Mũi Né, các dự án trên đều là những tổ hợp, khu phúc hợp du lịch cao cấp, trong tương lai sẽ cung ứng cho thị trường những sản phẩm du lịch biển giải trí, du lịch thể thao mạo hiểm và hàng loạt các dịch vụ du lịch cao cấp khác. Đây chính là tiền đề để thu hút có chọn lọc các phân khúc thị trường khách du lịch có khả năng chi trả cao và lưu trú dài ngày, nhằm định hướng phát triển du lịch Bình Thuận nói chung, Khu DLQG Mũi Né nói riêng trở thành một trong những điểm đến của du lịch cao cấp, hiện đại mang tầm quốc tế, khu vực.

Nhân dịp này, kỷ niệm 25 năm Ngày phát triển ngành Du lịch Bình Thuận (1995-2020), Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã tặng Bằng khen và Giấy khen cho những tập thể, cá nhân đã có thành tích xuất sắc phát triển ngành Du lịch Bình Thuận; Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận tặng Bằng khen cho 15 tập thể, và 15 cá nhân có thành tích xuất sắc, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/10/2020

WWF hỗ trợ cải thiện môi trường tại danh thắng Hòn Yến

Hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2020, ngày 24-10, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) phối hợp với địa phương tổ chức chương trình “Sạch biển Hòn Yến – đẹp mãi Phú Yên”. 

wwf cai thien moi truong hon yen

Chương trình được tổ chức tại danh thắng quốc gia Hòn Yến xã An Hòa Hải, huyện Tuy An tỉnh Phú Yên.

Hòn Yến là danh thắng cấp quốc gia có độ đa dạng sinh học cao, cả trên cạn và dưới nước, đặc biệt là rạng san hô đang thu hút rất đông khách du lịch đến tham quan. Những năm qua, khu vực Hòn Yến bị ô nhiễm bởi có nhiều rác thải sinh hoạt. Với sự hỗ trợ của WWF, các hoạt động bảo vệ môi trường đã được triển khai tại Hòn Yến.

Kết quả có năm điểm tập kết rác thải sinh hoạt tự phát của người dân đã được dọn dẹp sạch sẽ. Tại khu vực này cũng được trang bị hàng chục thùng rác  phục vụ việc tập kết rác của người dân; hơn 400m2 được phủ xanh bởi thảm thực vật mới là bàng biển và rau muống biển.

Bà Lê Đào An Xuân – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên cho biết: Thông qua thông điệp “Sạch biển Hòn Yến – đẹp mãi Phú Yên” hướng tới xây dựng một tỉnh Phú Yên xanh, phát triển nhanh và bền vững. Chiến dịch “Môi trường xanh” đã được Phú Yên triển khai từ năm 2018. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn, nhất là ở khu vực ven biển do rác thải từ sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản. Song song với việc xóa các điểm ô nhiễm, từ chính quyền địa phương cho đến người dân cần xây dựng các điểm tập kết rác hợp vệ sinh. Từ đây môi trường sống sẽ xanh hơn, trong lành hơn.

Sau lễ phát động chương trình “Sạch biển Hòn Yến – đẹp mãi Phú Yên”, hơn 300 đoàn viên, thanh niên và người dân địa phương đã tham gia dọn rác dọc khu vực Hòn Yến.

Cũng trong dịp này nhiều hoạt động khác được WWF hỗ trợ thực hiện đồng loạt tại Phú Yên như: tập huấn về thải bỏ đúng, thu gom và xử lý rác thải rắn theo cách thân thiện với môi trường; tổ chức cuộc thi Trường xanh – Biển sạch; xây dựng bộ tiêu chí “Khách sạn xanh” không rác thải nhựa.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/10/2020

Ký thỏa thuận chi trả giảm phát thải từ rừng

Tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) và Ngân hàng Thế giới (WB) – cơ quan nhận ủy thác của Quỹ Đối tác các-bon trong lâm nghiệp (FCPF) vừa ký kết thỏa thuận chi trả giảm phát thải từ rừng vùng Bắc Trung Bộ (ERPA).

Theo đó, Việt Nam chuyển nhượng cho FCPF 10,3 triệu tấn CO2e giảm phát thải từ rừng tại sáu tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2018-2024. FCPF sẽ thanh toán cho dịch vụ này là 51,5 triệu USD. Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam được thực hiện nhằm hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, giải quyết các nguyên nhân mất rừng ở vùng Bắc Trung Bộ, qua đó giảm phát thải do mất rừng, suy thoái rừng và tăng hấp thụ do phục hồi, tái tạo rừng. Đến nay, nguồn kinh phí cam kết đóng góp cho FCPF để chuẩn bị sẵn sàng và thực hiện chi trả cho dịch vụ giảm phát thải từ rừng đã lên tới 1,3 tỷ USD.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/10/2020

Nhớ mãi tác giả Bài ca hy vọng

Nghe tin nhạc sĩ Văn Ký qua đời, tôi sững người và vô cùng tiếc nuối, thế là cuộc hẹn cà-phê với ông đã không thành, thật là ân hận, tự trách mình đã bỏ lỡ một cơ hội thật hiếm hoi.Nhac si Van Ky 2

Vẫn biết ở tuổi 92 nếu có nhẹ gót viễn du thì cũng không phải là chuyện quá bất ngờ, nhưng với Văn Ký, một người chăm chỉ tập yoga, sống rất chừng mực, điềm đạm thì vẫn không tin được. Vả lại hôm gặp cách đây chưa lâu, tôi vẫn thấy ông khỏe mạnh, trí tuệ mẫn tiệp,khi trò chuyện còn pha chút hóm hỉnh…

Sở dĩ nói là cơ hội hiếm hoi, vì cỡ như Văn Ký, dù ông là người rất khiêm nhường nhưng cũng không dễ gặp, nếu có được gặp cũng dễ “khớp” vì sự nổi tiếng của ông. Với những tác phẩm âm nhạc quá hay mà ông đã có, muốn được nghe ông nói một cách tâm huyết, trả lời nhiệt tình những câu hỏi, hoặc sẽ được ông cởi mở tâm sự chuyện đời với những bí mật (chất xúc tác, đối tượng gây xúc cảm) thường có của người sáng tác thì người đối diện ít nhất phải có vốn liếng gì, ít nhất là sự tự tin và am hiểu về âm nhạc… Ngay cả những ngày ông ốm nằm viện vừa rồi tôi cũng nghĩ ông sớm qua, sẽ trở lại và vẫn viết như hồi tháng tư, bài Cô-vít phải lùi xa (thơ Lê Chín; do Nghệ sĩ Ưu tú Quang Minh thể hiện).

Sinh ra trong gia đình có truyền thống nho học ở Nam Ðịnh, hồi nhỏ Văn Ký sống với người chú ruột tại Thanh Hóa một thời gian rồi tham gia cách mạng. Ðến năm 1955, bắt đầu hoạt động âm nhạc và sống tại Hà Nội nên ông mang nhiều dấu ấn trí thức Hà Nội, phong thái nho nhã, lịch duyệt. Ông được kết nạp Ðảng từ năm 1946, cũng là năm ông viết ca khúc đầu tay mang tên Trăng xưa, bài hát được viết trước khi ông được cử đi học âm nhạc tại Liên khu 4 – Nghệ An. Sau khóa học, ông hoạt động văn nghệ tại Bình Trị Thiên, và giai đoạn này ông có ca khúc Bình Trị Thiên quật khởi.

Gia tài âm nhạc của Văn Ký có thể kể tới hơn 400 tác phẩm cho cả hai mảng thanh nhạc và khí nhạc, bao gồm các thể loại: ca khúc, ca kịch, nhạc múa, nhạc phim và nhạc giao hưởng. Người yêu nhạc ở các tầng lớp xã hội đều thích nhạc của ông bởi sự trong trẻo của ca từ,
sự tinh tế của giai điệu. Ông đã kết hợp nhuần nhuyễn và tài tình chất hàn lâm, cổ điển và trữ tình, dân tộc, như: Bài ca hy vọng, Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi, Nha Trang mùa thu lại về, Trời Hà Nội xanh… Riêng Bài ca hy vọng là bài hát đưa nhạc sĩ Văn Ký đứng vào hàng đầu bảng xếp hạng những nhạc sĩ có tác phẩm âm nhạc giá trị cao.

Không nhiều người biết Bài ca hy vọng, một thời từng bị coi là “lạc quan quá, lãng mạn, tiểu tư sản quá” nên không được xuất bản. May nhờ “con mắt xanh” của lãnh đạo Ðài Tiếng nói Việt Nam (VOV), khi thấy Văn Ký mang bài hát đến, và nghe ông kể rằng đã bị một nhà xuất bản từ chối in cùng một số tác phẩm khác trong tập nhạc của ông; ông Trần Lâm – Giám đốc kiêm Tổng Biên tập VOV đã mời nhạc sĩ Phạm Tuyên, Trưởng ban Âm nhạc của Ðài hội ý. Nhạc sĩ Phạm Tuyên thấy tác phẩm có giá trị nên giao luôn cho tác giả trực tiếp dàn dựng, phát trên VOV, nhờ đó mà bài hát bắt đầu được biết đến rất rộng rãi. Văn Ký kể lại: “Khi bắt đầu viết, từng ca từ của Bài ca hy vọng bật ra trong mình một cách tự nhiên. Dù đời sống xã hội lúc đó (năm 1958 – 1959) đang rất khó khăn, nhưng mình cũng như nhiều người khác có một niềm tin mãnh liệt vào tương lai tốt đẹp…”. Về tương lai! Ngày quê hương màu xanh áo mới, chứa chan niềm tin/ Ðường ta đi xanh thắm mộng đời/ Về tương lai! Ðàn chim bay cùng ta cất cánh/ Kìa ánh sáng chân trời mới đang bừng chiếu bốn phương… Niềm tin vào chân thiện mỹ của ông đã được đáp đền…

Khác với Bài ca hy vọng, một tác phẩm mang đậm tính hàn lâm lại có nhiều nốt cao đòi hỏi người hát phải có kỹ thuật thanh nhạc và cảm xúc tốt mới thể hiện được thì Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi lại là bài dễ hát, ai cũng hát được vì Văn Ký đã sử dụng nhuần nhuyễn âm hưởng dân ca vùng núi phía bắc. Hai phong cách khác nhau nhưng hiệu quả là một, đó là đều làm say mê lòng người.

Những tác phẩm như thế của Văn Ký luôn để lại dấu ấn sâu đậm, thường được sử dụng trong nhiều chương trình âm nhạc lớn của đất nước trên sân khấu, trên làn sóng phát thanh, truyền hình… Tác phẩm Tổ khúc kịch múa K’Nhi, gồm bảy chương viết cho dàn nhạc giao hưởng của ông đã từng được biểu diễn nhiều lần ở nước ngoài từ năm 1989. Âm nhạc của ông đem đến cho người nghe những cảm xúc tích cực, khiến ta thêm yêu quê hương, con người và thiên nhiên bởi niềm tin của chính nhạc sĩ vào tương lai đất nước.

Với những đóng góp của mình, nhạc sĩ Văn Ký đã được trao tặng: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất, Huân chương Ðộc lập hạng ba, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật vào năm 2001 và nhiều giải thưởng danh giá khác.

Sau hơn một tuần điều trị ở Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng ông đã rời bước hồng trần vào lúc 9 giờ 20 phút sáng 26 tháng 10 năm 2020, hưởng thọ 92 tuổi.

Nhà văn TRẦN THỊ TRƯỜNG

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/10/2020

Số trường mầm non công lập đạt tỷ lệ 79.4%

Ngày 27-10, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) tổ chức Hội nghị “Đánh giá kết quả 10 năm thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và Sơ kết hai năm thực hiện Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2018-2020”.

Theo Bộ GD và ĐT, đến nay, cả nước có 15.461 nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, tăng 2.634 trường so năm học 2010-2011. Trong đó, có 12.281 trường công lập, đạt tỷ lệ 79,4% và 3.180 trường ngoài công lập, đạt tỷ lệ 20,6%.

Theo đó, tổng số trẻ mầm non được đến trường hơn 5.306.501 trẻ, đạt tỷ lệ 66,2%, tăng 1.535.018 trẻ so năm học 2010-2011. Trong đó, có 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 99,6%.

Tại Hội nghị, các đại biểu nhấn mạnh, từ khi triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chất lượng phòng học thay đổi theo hướng tích cực, bảo đảm một phòng học/lớp mẫu giáo 5 tuổi. Từ phòng học tạm đến nay, hầu hết phòng học cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi đã được đầu tư kiên cố, bán kiên cố với diện tích trung bình đạt 1,5m2/trẻ trở lên.

Tuy nhiên, việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi nói riêng và trẻ mầm non nói chung còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể, công tác rà soát sắp xếp mạng lưới trường, lớp học ở một số địa phương còn chưa phù hợp, chưa hoàn thiện quy hoạch tổng thể về phát triển trường, lớp mầm non, nhất là chưa quan tâm quy hoạch trường lớp, quỹ đất tại các khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất.

Ngoài ra, mặc dù tỷ lệ huy động trẻ đến trường của cả nước có tăng theo từng năm học, tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đến trường đạt cao nhưng tỷ lệ huy động trẻ các độ tuổi có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền. Đặc biệt, tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 3, 4 tuổi ở một số địa phương còn thấp ảnh hưởng đến sự bền vững của phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi…

Nhằm khắc phục những tồn tại trên, thời gian tới, Bộ GD và ĐT và các tỉnh, thành tiếp tục củng cố, duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; phát triển giáo dục mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi để hướng đến năm 2030 phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 4 tuổi.

Đồng thời, tiếp tục đưa ra các giải pháp đồng bộ tạo chuyển biến căn bản về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một, hướng tới đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. 

Cùng với đó, chú trọng, tập trung phát triển quy mô mạng lưới, cơ sở vật chất trường lớp; phát triển đội ngũ giáo viên bậc mầm non; đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình giáo dục mầm non và tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực xã hội hóa phát triển giáo dục mầm non…

Văn hóa cồng chiêng ở Đắk Lắk được bảo tồn và phát huy hiệu quả

Ngày 27-10, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị tổng kết năm năm thực hiện Nghị quyết số 05/2016/NQ-HĐND ngày 30-8-2016 của HĐND tỉnh Đắk Lắk về bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020.

Báo cáo tại hội nghị, Phó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk Đặng Gia Duẩn cho biết, sau năm năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh và Kế hoạch số 1336/KH-UBND ngày 28-2-2017 của UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đã phối hợp các sở, ngành, địa phương, đơn vị liên quan trong và ngoài tỉnh cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực như tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về văn hóa cồng chiêng; phục dựng, trình diễn các nghi lễ, lễ hội; cấp chiêng và trang phục truyền thống; đề nghị xem xét, phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian; tổ chức giao lưu, liên hoan văn hóa cồng chiêng và thực hiện tốt các nội dung đã cam kết trong hồ sơ đệ trình UNESCO… Đến nay, các mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết đề ra đã hoàn thành, góp phần giữ gìn, bảo tồn, khai thác, phát huy hiệu quả di sản văn hóa cồng chiêng, từng bước khôi phục không gian văn hóa cồng chiêng trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Cụ thể, từ năm 2016 đến năm 2020, toàn tỉnh đã cấp được 26 bộ chiêng các loại cho những đội chiêng có nhiều thành tích tiêu biểu ở các buôn trong tỉnh; cấp 358 bộ trang phục truyền thống của người Êđê, M’Nông, Gia Rai cho các đội chiêng, đội văn nghệ ở các buôn. Ở cấp tỉnh đã tổ chức được 12 lớp với 479 học viên tham gia và cấp huyện, thị xã, thành phố mở được 112 lớp truyền dạy cồng chiêng và sử thi cho con em đồng bào DTTS các buôn làng trong tỉnh. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phục dựng được năm nghi lễ, lễ hội truyền thống của đồng bào DTTS và các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức được 131 nghi lễ, lễ hội và ngày hội truyền thống của đồng bào các DTTS gắn với cồng chiêng; lập ba hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, gồm: Nghi lễ vòng đời người của dân tộc M’Nông ở huyện Lắk; các bài chiêng cổ của dân tộc Êđê ở huyện Ea H’Leo và Lời nói vần của dân tộc Êđê ở huyện Cư M’gar; tổ chức biểu diễn định kỳ Chương trình văn hóa cồng chiêng phục vụ nhân dân và du khách được 45 kỳ…., với tổng kinh phí được cấp triển khai thực hiện hơn 12,758 tỷ đồng. 

Với những việc làm và hoạt động thiết thực đó, văn hóa cồng chiêng đang “sống lại” trong đời sống của cộng đồng các dân tộc ở Đắk Lắk. Theo kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vào tháng 8-2020, toàn tỉnh hiện có 2.098 bộ chiêng, trong đó 1.645 bộ chiêng Êđê, còn lại là các bộ chiêng của các dân tộc khác như M’Nông, Giarai, Xơ-đăng…

Để văn hóa cồng chiêng phát huy trong đời sống cộng đồng, hằng năm, ngành văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh cùng với các địa phương trong tỉnh tổ chức ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc; liên hoan văn hóa cồng chiêng; tổ chức các hoạt động diễn tấu cồng chiêng gắn với phục dựng các nghi thức, nghi lễ, lễ hội của đồng bào các DTTS như: Lễ cúng bến nước, Lễ cúng lúa mới, Lễ mừng cơm mới, Lễ cúng sức khỏe, Lễ cầu mùa no đủ, nghi lễ đám cưới, Lễ trưởng thành và nhiều nghi lễ, lễ hội khác… góp phần nâng cao đời sống tinh thần, lòng tự hào, sự hiểu biết, đoàn kết, thương yêu nhau trong cộng đồng các các dân tộc ở Đắk Lắk.

Tuy nhiên, do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự giao thoa văn hóa, giữa lối sống hiện đại và truyền thống có sự đan xen, các giá trị của lễ hội truyền thống, môi trường, không gian văn hóa cồng chiêng như không gian nhà dài, không gian bến nước, không gian nương rẫy, không gian nhà mồ, không gian rừng, những dòng sông, con suối… đang thay đổi nhanh chóng, có nguy cơ mất dần trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở Đắk Lắk.

Việc thay đổi phương thức sản xuất đã kéo theo những biến đổi về nếp sống, sinh hoạt của người dân trong việc bảo tồn văn hóa cồng chiêng. Các vấn đề như giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch, xây dựng nếp sống văn hóa đã và đang chi phối mạnh mẽ các giá trị văn hóa truyền thống. Các thanh thiếu niên được các nghệ nhân lớn tuổi truyền dạy đánh chiêng, biết sử dụng chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống, thường xuyên tham gia sinh hoạt văn hóa cồng chiêng tại cộng đồng. Tuy nhiên, sau khi trưởng thành, các em lập gia đình và chuyển đến nơi cư trú khác ảnh hưởng đến việc duy trì đội chiêng ở các buôn làng…

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk H’Yim Kđóh đánh giá: Sau năm năm hiện Nghị quyết số 05/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Đắk Lắk về bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, đặc biệt là việc tổ chức các lớp truyền dạy đánh chiêng, cấp chiêng và trang phục có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tâm linh trong các lễ hội của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Số chiêng, trang phục truyền thống được tỉnh cấp cho các buôn, đội văn nghệ đã góp phần động viên, khích lệ tinh thần rất lớn cho các nghệ nhân, tạo điều kiện thuận lợi trong việc duy trì tập luyện, tham gia các buổi phục dựng, trình diễn nghi lễ, lễ hội truyền thống, hội thi, hội diễn, liên hoan cồng chiêng ở địa phương, trong tỉnh, khu vực, cả nước và quốc tế, góp phần bảo tồn, phát huy di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh.

Thông qua chương trình này, công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh, khu vực, trong nước và quốc tế đã được các cơ quan, đơn vị của Trung ương và địa phương quan tâm, tích cực phối hợp tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, góp phần bảo tồn và lan tỏa những giá trị của văn hóa cồng chiêng đến với bạn bè trong và quốc tế.

Việc tổ chức cấp chiêng, trang phục truyền thống cho các đội chiêng, đội văn nghệ và tổ chức mở lớp truyền dạy đánh chiêng cho con em ở buôn đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh nhằm tiếp tục kế thừa di sản văn hóa cồng chiêng quý báu của cha ông để lại, tránh nguy cơ thất truyền. Bên cạnh đó, những năm gần đây, việc tổ chức phục dựng các nghi lễ, lễ hội gắn với cồng chiêng được đồng bào các DTTS đặc biệt quan tâm, mang lại giá trị tinh thần rất lớn cho bà con trong sinh hoạt cộng đồng, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch cộng đồng…

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk H’Yim Kđóh cũng đề nghị ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương trong tỉnh khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk đã được chỉ ra để nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới.

Nhân dịp này, UBND tỉnh Đắk Lắk đã trao tặng Bằng khen cho bảy tập thể và sáu cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/10/2020

Triển lãm trang phục truyền thống các nước ASEAN 2020

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp đại sứ quán các nước ASEAN tại Việt Nam tổ chức triển lãm trang phục truyền thống các nước ASEAN 2020. Đây là sự kiện văn hóa chào mừng Năm Chủ tịch ASEAN 2020 tại Việt Nam. 

Triển lãm trưng bày các bộ trang phục truyền thống của 10 quốc gia thành viên ASEAN và những hình ảnh về phong cảnh, văn hóa, đất nước, con người, góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng hợp tác kinh tế, đầu tư, phát triển du lịch giữa các nước thành viên. Triển lãm kéo dài đến ngày 28-10, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, số 1 Tràng Tiền (Hà Nội).

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 21/10/2020

Hội Nhà văn Việt nam kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà thơ Tố Hữu

Ngày 20-10, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà thơ Tố Hữu (1920-2020). Đại diện gia đình nhà thơ Tố Hữu và đông đảo văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu phê bình văn học tại Thủ đô đã tham dự.

Nhà thơ Tố Hữu là “cánh chim đầu đàn” của nền thi ca cách mạng Việt Nam, người góp phần truyền cảm hứng, lan tỏa tinh thần lạc quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, nhà thơ Tố Hữu từng đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước, là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

Tại lễ kỷ niệm, các văn nghệ sĩ và nhà phê bình văn học đã phát biểu, chia sẻ, tiếp tục khẳng định những cống hiến của nhà thơ Tố Hữu trong sự nghiệp thơ ca và hoạt động cách mạng. Ông đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng (1994) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt một (1996) cùng nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quý.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 19/10/2020

Khánh thành Nhà sinh hoạt cộng đồng Chăm

Ngày 18-10, tại thôn Bàu Trúc, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận và Ban Quản lý dự án đầu tư các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà sinh hoạt cộng đồng Chăm. 

Công trình có tổng mức đầu tư 862 nghìn USD (tương đương 19 tỷ 558 triệu đồng). Trong đó, Công ty ONGC VIDESH LIMITED – Ấn Độ tài trợ không hoàn lại 600 nghìn USD, số còn lại là vốn đối ứng của địa phương.

Nhà sinh hoạt hoạt cộng đồng Chăm xây dựng từ năm 2018 – 2020, gồm các hạng mục: Nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp trưng bày; khu nhà ở; sân đường nội bộ – bãi xe, sân hành lễ và ác công trình phụ trợ khác cùng với thiết bị…. với mục tiêu hình thành nơi sinh hoạt cộng đồng, tổ chức các sự kiện văn hóa truyền thống; nơi phổ biến văn hóa, chữ viết của đồng bào Chăm kết hợp với trưng bày các sản phẩm truyền thống của cộng đồng người Chăm tại địa phương, góp phần bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, phi vật thể của cộng đồng Chăm và thúc đẩy phát triển du lịch. Thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào Chăm. 

Nhà sinh hoạt hoạt cộng đồng Chăm đi vào hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong những ngày đồng bào Chăm theo đạo Bà la môn tổ chức Lễ vui đón lễ hội Ka tê – Lễ hội truyền thống được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhân là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 16/10/2020

Chỉnh sửa, hiệu đính sách Tiếng Việt lớp 1

Một số nội dung trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 1 của bộ sách Cánh Diều sẽ được chỉnh sửa, bổ sung ngữ liệu để giáo viên có thể thay thế một số đoạn/bài đọc cho phù hợp hơn với học sinh lớp 1, như bài “Cua, cò và đàn cá”, bài “Hai con ngựa”, bài “Lừa, thỏ và cọp”,…

Tối 15-10, Bộ GD-ĐT thông tin, thực hiện yêu cầu của Bộ trưởng GD-ĐT, Hội đồng thẩm định đã tổ chức rà soát, làm việc với tác giả sách giáo khoa (SGK) môn Tiếng Việt lớp 1 của bộ sách Cánh Diều. Trên tinh thần cầu thị, trách nhiệm, Hội đồng thẩm định và tác giả đã thống nhất tiếp thu tối đa các ý kiến góp ý để chỉnh sửa SGK cho phù hợp hơn.

Cụ thể, chỉnh sửa, bổ sung ngữ liệu để giáo viên có thể thay thế một số đoạn/bài đọc cho phù hợp hơn với học sinh lớp 1 như bài “Cua, cò và đàn cá” trang 115, bài “Hai con ngựa” trang 157, bài “Lừa, thỏ và cọp” trang 163,…; thay thế một số từ ngữ khó hiểu, ít dùng như từ “nhá”, “nom”, “quà… quà”, “chén”,… Hội đồng thẩm định cũng đề nghị tác giả khi chọn văn bản thay thế không sử dụng truyện ngụ ngôn hoặc các đoạn/bài “đa nghĩa”, nên lựa chọn đoạn/bài trong kho tàng Văn học Việt Nam. Bộ GD-ĐT yêu cầu nhà xuất bản và tác giả xây dựng phương án chỉnh sửa, hiệu đính, gửi Hội đồng thẩm định để thẩm định, báo cáo Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo xem xét phê duyệt nội dung chỉnh sửa trước ngày 15-11.

Bộ GD-ĐT cũng cho biết, Bộ, Hội đồng thẩm định và nhóm tác giả SGK môn Tiếng Việt lớp 1 của bộ sách Cánh Diều trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các bậc phụ huynh, giáo viên và nhân dân cả nước đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, chỉ ra những nội dung chưa phù hợp yêu cầu giáo dục học sinh trong SGK môn Tiếng Việt lớp 1 của bộ sách Cánh Diều. Trong thời gian tới, Bộ GD-ĐT mong muốn tiếp tục nhận được các ý kiến góp ý để SGK ngày càng hoàn thiện, góp phần triển khai thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

“Đây là lần đầu tiên Việt Nam triển khai chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh, có nhiều bộ SGK khác nhau theo cùng một chương trình thống nhất, trong đó SGK có vài trò là tài liệu để các nhà trường, giáo viên nghiên cứu, xây dựng kế hoạch giảng dạy cho phù hợp. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam tổ chức biên soạn, phát hành SGK theo hình thức xã hội hóa. Vì vậy, việc được nhận các ý kiến góp ý, thậm chí là phê bình sẽ giúp các tác giả, hội đồng thẩm định và Bộ GD-ĐT làm tốt hơn việc biên soạn, thẩm định và phê duyệt SGK các lớp học tiếp theo” – Bộ GD-ĐT nêu rõ.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 30/10/2020

Bộ Công an gửi thư khen vụ bắt giữ hai đối tượng sát hại nữ sinh

Chiều 29-10, tại Hà Nội, Công an TP Hà Nội tổ chức hội nghị thông tin báo chí về kết quả điều tra ban đầu vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra ngày 23-10, tại xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Đến dự, có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Thứ trưởng Công an.

Tại hội nghị, đại diện Công an TP Hà Nội đã công bố thư khen của Bộ Công an đối với thành tích phá án của các lực lượng Công an TP Hà Nội. Thư khen nêu rõ, Công an TP Hà Nội đã nhanh chóng điều tra, làm rõ vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra tại xã Nguyễn Trãi, nạn nhân là Trần Thúy Hiền, SN 2002, sinh viên năm nhất Học viện Ngân hàng, tài sản bị cướp là một xe đạp điện và một điện thoại di động. Bắt giữ đối tượng gây án là Nguyễn Xuân Trung, SN 1985 và Nguyễn Văn Quân, SN 1983.

Kết quả này thể hiện tinh thần kiên quyết tấn công trấn áp tội phạm, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các đơn vị thuộc Công an TP Hà Nội trong triển khai các chỉ đạo của Đảng ủy Công an T.Ư, lãnh đạo Bộ Công an về công tác bảo đảm an ninh trật tự của đất nước, vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong xã hội về những chiến công của lực lượng Công an nhân dân.

Nhân dịp này, Bộ Công an, UBND TP Hà Nội, Công an TP Hà Nội cũng đã có các hình thức khen thưởng đối với các lực lượng tham gia phá án.

Trước đó, theo báo cáo của Công an TP Hà Nội, khoảng 2 giờ sáng 24-10, Công an huyện Thường Tín nhận được đơn trình báo của chị Thuận (ở xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín) về việc con gái chị là em Trần Thúy Hiền (SN 2002) mất tích từ tối 23-10.

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an huyện Thường Tín đã phối hợp Phòng Cảnh sát hình sự và các đơn vị chức năng của Công an TP Hà Nội áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ tổ chức điều tra, xác minh.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập, ngày 26-10, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Thường Tín phối hợp Phòng Cảnh sát hình sự đã xác định nghi can là Nguyễn Xuân Trung (SN 1985, ở xã Văn Phú, huyện Thường Tín) và Nguyễn Văn Quân (SN 1983, trú tại xã Quất Động, huyện Thường Tín). Cả hai đối tượng này đều nghiện ma túy. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Quân đã bỏ trốn.

Trong sáng 27-10, Đại tá Nguyễn Thanh Tùng, Phó Giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra  Công an TP Hà Nội đã trực tiếp tới hiện trường, chỉ đạo các phòng chức năng Công an thành phố và Công an huyện Thường Tín triển khai các kế hoạch điều tra, đấu tranh, xét hỏi nghi can chính của vụ án là Nguyễn Xuân Trung và truy tìm tung tích nạn nhân.

Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể cháu Trần Thúy Hiền tại hạ lưu sông Nhuệ, thuộc địa phận huyện Thường Tín, cách khu vực xảy ra vụ án hơn 4km.

Tiếp tục truy lùng đối tượng thứ 2 của vụ án, đến 20 giờ 30 phút đêm 27-10, Công an huyện Thường Tín và Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Hà Nội đã bắt được Nguyễn Văn Quân khi đối tượng đang lẩn trốn tại xã Hà Hồi, huyện Thường Tín.

Bước đầu, tại cơ quan công an, đối tượng Nguyễn Xuân Trung khai, chiều 23-10, Trung rủ Quân đi trộm cắp tài sản. Sau khi lấy trộm được hai bộ cốp pha của một công trình xây dựng tại xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, hai đối tượng tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, Trung thấy em Hiền đang đứng gần bờ sông Nhuệ, ngồi trên xe đạp điện nghe điện thoại di động.

Sau khi bán hai bộ cốp pha trộm cắp được, Nguyễn Xuân Trung quay lại bàn bạc với đối tượng Quân việc cướp điện thoại, xe đạp điện của nữ sinh xấu số và Trung đã trực tiếp thực hiện hành vi đê hèn, đẩy nạn nhân xuống sông rồi dìm đến chết để thực hiện đến cùng hành vi tội ác.

Hiện, Công an TP Hà Nội đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Xuân Trung và Nguyễn Văn Quân về hai tội danh giết người; cướp tài sản.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 27/10/2020

Xét xử vụ án gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng tại Ngân hàng BIDV

Sáng 26-10, Tòa án nhân dân TP Hà Nội mở phiên sơ thẩm xét xử vụ án “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Ngân hàng TMCP Ðầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Công ty CP chăn nuôi Bình Hà, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trung Dũng.

Có 12 bị cáo bị đưa ra xét xử, trong đó, tám bị cáo hầu tòa về tội “vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”; Bốn bị cáo hầu tòa về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Một số bị cáo trong vụ án là lãnh đạo của BIDV, gồm: Trần Lục Lang, nguyên Phó Tổng Giám đốc BIDV; Ðoàn Ánh Sáng, nguyên Phó Tổng Giám đốc BIDV; Kiều Ðình Hòa, nguyên Giám đốc BIDV Chi nhánh Hà Tĩnh; Lê Thị Vân Anh, nguyên Trưởng phòng Khách hàng doanh nghiệp BIDV- Chi nhánh Hà Tĩnh; Nguyễn Xuân Giáp, nguyên Phó Giám đốc BIDV Chi nhánh Hà Thành… Tại phiên tòa, tòa án triệu tập nhiều người, đại diện có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như UBND tỉnh Hà Tĩnh, một số doanh nghiệp, thành viên Hội đồng quản trị, Tổ thẩm định của Ngân hàng BIDV… Có gần 30 luật sư tham gia phiên tòa lần này.

Theo cáo trạng, trong thời gian giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV, ông Trần Bắc Hà cùng các bị cáo nêu trên đã lợi dụng chức vụ, thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư cho các doanh nghiệp “sân sau” không đủ điều kiện cấp tín dụng, dẫn đến thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng cho BIDV. Trong vụ án này, ông Trần Bắc Hà được xác định là chủ mưu, cầm đầu về tội “vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”. Tuy nhiên, ông Trần Bắc Hà đã chết trong trại giam vì bệnh hiểm nghèo. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan công an tiến hành đình chỉ bị can đối với ông Trần Bắc Hà. Các bị cáo trong vụ án giữ vai trò đồng phạm, giúp sức.

Phiên tòa dự kiến diễn ra trong 10 ngày.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 27/10/2020

Truy tố ông Đinh La Thăng cùng đồng phạm

Ngày 26-10, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng vụ án “vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty cổ phần Tập đoàn Yên Khánh, Tổng công ty Cửu Long và các đơn vị liên quan trong việc đấu thầu và thu phí tuyến cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương.

Cáo trạng truy tố các bị can Đinh La Thăng, nguyên Bộ trưởng Giao thông vận tải (GTVT); Nguyễn Hồng Trường, nguyên Thứ trưởng GTVT; Đinh Ngọc Hệ, nguyên Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Thái Sơn Bộ Quốc phòng, cùng 17 bị can khác về các tội danh nêu trên.

Nội dung cáo trạng nêu rõ, trong vụ án này, khi Đinh La Thăng với vai trò là Bộ trưởng GTVT được giao quản lý tài sản, trong đó có quyền thu phí đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương. Mặc dù nắm rõ các quy định pháp luật nhưng bị can lại đưa ra những chỉ đạo trái quy định để tạo điều kiện cho công ty của Đinh Ngọc Hệ đang kinh doanh thua lỗ, không đủ năng lực tài chính mua quyền thu phí.

Về phía Đinh Ngọc Hệ, đã có hành vi lợi dụng các mối quan hệ quen biết, xây dựng hồ sơ gian dối tham gia mua đấu giá quyền thu phí. Sau khi trúng đấu giá, bị can này tiếp tục thực hiện các hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản nhà nước.

Đối với bị can Nguyễn Hồng Trường, do biết Đinh Ngọc Hệ có quan hệ với ông Đinh La Thăng nên nảy sinh nể nang dẫn tới các hành vi sai phạm trong việc chỉ đạo và ký quyết định phê duyệt giá khởi điểm bán đấu giá quyền thu phí, nhưng không thông qua hội đồng xác định giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá.

Các bị can còn lại trong vụ án được xác định giữ vai trò đồng phạm, giúp sức.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/8/2020

Thông tin việc xử lý kỷ luật Hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng

Ngày 23-10, tại Hà Nội, Tổng LĐLĐ Việt Nam tổ chức họp báo, thông tin về một số nội dung hoạt động công đoàn; trong đó, có việc xử lý kỷ luật ông Lê Vinh Danh. Hiệu trưởng Đại học Tôn Đức Thắng.

Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Trần Văn Thuật thông tin về việc xử lý kỷ luật đối với Hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng, Lê Vinh Danh.

Theo đó, với vai trò là Bí thư Đảng ủy Trường đại học Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Vinh Danh đã có một số vi phạm, khuyết điểm: Tham mưu xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Đảng ủy không đầy đủ, thẩm quyền của Ban Thường vụ vượt quá quy định, không quy định chế độ sinh hoạt Đảng bộ; thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Đảng ủy, dẫn đến Đảng ủy có những khuyết điểm, vi phạm: không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ; vi phạm nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc tập trung dân chủ; không chấp hành chỉ đạo của cơ quan chủ quản là Tổng Liên đoàn.

Cá nhân đồng chí Lê Vinh Danh chủ trì họp để một số cán bộ phát biểu không đúng, thiếu chuẩn mực, phản đối Tổng Liên đoàn; biên tập nội dung biên bản cuộc họp theo hướng bổ sung thêm những phát biểu phản đối nhằm làm giảm sút nghiêm trọng uy tín của Tổng Liên đoàn; có những phát biểu và cung cấp thông tin để báo chí đăng bài chưa đúng với thực tế, phủ nhận sự đóng góp, hỗ trợ của tổ chức Công đoàn trong quá trình thành lập và phát triển của Trường, thoát ly vai trò cơ quan chủ quản.

Với vai trò là Hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Vinh Danh có khuyết điểm, vi phạm trong chỉ đạo xây dựng, ban hành quy chế làm việc và các quy chế, quy định của Trường có nội dung không đầy đủ, không bám sát quy định của Đảng và quy định của pháp luật.

Trong chỉ đạo, điều hành, đồng chí Lê Vinh Danh vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện độc đoán, áp đặt; thực hiện chưa đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước và quy định của Tổng Liên đoàn; trực tiếp ký một số văn bản thể hiện việc không chấp hành các chỉ đạo của Đảng đoàn, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn; bổ nhiệm 44 cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền không thông qua Đảng ủy, đề xuất bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng không có trong quy hoạch…

Theo Kết luận số 614/KL-TLĐ ngày 23-6-2020 của Tổng Liên đoàn về việc kết luận nội dung tố cáo đối với đồng chí Lê Vinh Danh, đồng chí Lê Vinh danh có các vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; ký Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐT với nội dung không phản ánh đúng diễn biến cuộc họp Hội đồng trường; tự ý kết thúc nhiệm kỳ của Hội đồng trường và các Phó Hiệu trưởng từ ngày 31-3-2020, gây khó khăn cho hoạt động của Nhà trường.

Căn cứ vào những vi phạm nghiêm trọng, có tính hệ thống của đồng chí Lê Vinh Danh, đối chiếu với các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, ngày 17-9-2020, Đảng ủy Khối Đại học, cao đẳng TP Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 04-QĐ/ĐUK thi hành kỷ luật đối với đồng chí Lê Vinh Danh bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng.

Xét hành vi của đồng chí Lê Vinh Danh đã vi phạm khoản 1, 4 Điều 12 Nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 6-4-2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1507/QĐ-TLĐ ngày 21-10-2020 thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng đối với đồng chí Lê Vinh Danh.

Đồng chí Trần Văn Thuật nhấn mạnh, việc xem xét, xử lý kỷ luật các viên chức quản lý tại Trường đại học Tôn Đức Thắng của Tổng LĐLĐ Việt Nam được tiến hành nghiêm túc, khách quan, minh bạch, công bằng, dân chủ, trên cơ sở các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước; đánh giá đúng mức giữa thành tích, đóng góp và tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, nguyên nhân vi phạm, ý thức sau vi phạm và kết quả khắc phục hậu quả.

Thời gian tới, Đảng đoàn và Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ổn định tư tưởng, tạo sự đồng thuận trong toàn trường; thành lập Hội đồng trường, kiện toàn Ban Giám hiệu, nhiệm kỳ 2020-2025, theo quy định của Luật Giáo dục đại học; hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý, quản trị Trường; tập trung khắc phục các sai phạm do cơ quan kiểm tra, kiểm toán chỉ ra; lãnh đạo để Hội đồng trường phát huy kết quả đạt được, tiếp tục hoàn thiện chiến lược và kế hoạch phát triển, bảo đảm Trường phát triển liên tục, lành mạnh và vững chắc trong những năm tới.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/10/2020

Xét xử phúc thẩm vụ gian lận điểm thi tại Hòa Bình

Ngày 22-10, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa hình sự xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo kêu oan và xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Quang Vinh, nguyên Trưởng phòng Khảo thí, Sở Giáo dục và Ðào tạo tỉnh Hòa Bình và Khương Ngọc Chất, nguyên Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh Hòa Bình; Ðỗ Mạnh Tuấn, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông Dân tộc nội trú THCS huyện Lạc Thủy về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Nhận hối lộ” làm sai lệch kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 tại Hòa Bình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, trong quá trình xét xử, bị cáo Khương Ngọc Chất đã xin thay đổi nội dung kháng cáo từ kháng cáo kêu oan sang kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Quang Vinh xin thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh và mức hình phạt. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Quang Vinh chỉ thừa nhận hành vi “Thiếu trách nhiệm trong khi thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng”, không nhận tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, căn cứ vào tính chất mức độ, hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi của các bị cáo, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân cấp cao đã chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Khương Ngọc Chất và Ðỗ Mạnh Tuấn, sửa một phần bản án sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Khương Ngọc Chất mức án 5 năm tù (giảm một năm tù so với bản án sơ thẩm) về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”; tuyên phạt bị cáo Ðỗ Mạnh Tuấn mức án sáu năm tù về tội “Nhận hối lộ” (giảm một năm so với bản án sơ thẩm) và giữ nguyên mức án ba năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội danh mà bị cáo Ðỗ Mạnh Tuấn phải chấp hành là chín năm tù giam. Ðồng thời không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt tám năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” như bản án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Quang Vinh.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/10/2020

Ba người ngộ độc methanol sau khi uống rượu

Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai hiện đang điều trị cho ba bệnh nhân bị ngộ độc methanol sau khi uống rượu trong cùng một đám giỗ người thân ở Bắc Ninh.

Ít nhất có ba người ngộ độc sau khi uống rượu tại đám giỗ

Bệnh nhân thứ nhất là Ngô Duy H. (31 tuổi, ở Tiên Du, Bắc Ninh). Theo lời kể của người nhà, trưa 11-10 bệnh nhân tham dự một đám giỗ người thân ở Bắc Ninh và có uống khoảng 10 chén rượu. Sau uống một ngày, bệnh nhân xuất hiện tình trạng mệt mỏi, buồn nôn, nôn nhiều.

Đến chiều tối 12-10, bệnh nhân được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện và đã được chuyển tới Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai ngay trong đêm.

TS,BS Nguyễn Tiến Dũng – Trung tâm Chống độc cho biết, bệnh nhân Ngô Duy H. nhập viện ngày 12-10 trong tình trạng hôn mê sâu, có dấu hiệu phù não, huyết áp tụt, đồng tử giãn, tím tái. Xét nghiệm thấy tình trạng nhiễm toan chuyển hóa nặng, nồng độ methanol trong máu là 79 mg/dL. Bệnh nhân được lọc máu, dùng thuốc giải độc, hồi sức cấp cứu…

Sau hai ngày điều trị điều trị tích cực, bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch, tỉnh trở lại, tự thở tốt và đang dần hồi phục.

Trường hợp thứ hai là bệnh nhân Trần Văn S. (34 tuổi, ở Bắc Giang). Bệnh nhân vào viện ngày 13-10 vì nhìn mờ, kèm đau mỏi toàn thân, buồn nôn.

Trước khi vào viện hai ngày bệnh nhân đã tham dự một đám giỗ người thân ở Bắc Ninh và có uống khoảng 300 ml (cùng với bệnh nhân Ngô Duy H.). Kết quả xét nghiệm máu cho thấy bệnh nhân cũng bị ngộ độc cồn công nghiệp methanol và bệnh nhân đã được điều trị cấp cứu theo phác đồ ngộ độc methanol.

BS Dũng cho biết, trong ngày 14-10, Trung tâm chống độc cũng đã tiếp nhận thêm bệnh nhân thứ ba được chẩn đoán ngộ độc cồn công nghiệp methanol sau uống rượu cùng ở đám giỗ trên.

Mẫu rượu các bệnh nhân đã uống đã được mang tới Trung tâm chống độc, kết quả xét nghiệm mẫu rượu thực hiện ngay tại Trung tâm chống độc cho thấy loại rượu này chứa tới 26,16 độ là cồn công nghiệp methanol, trong khi đó thành phần rượu thông thường ethanol chỉ có 5,6 độ.

Các bệnh nhân cho biết, loại rượu này được gia đình mua trên mạng internet và trong đám giỗ có khoảng trên 20 người đã cùng uống loại rượu này.

Tiếp tục lo ngại với rượu bị pha cồn công nghiệp methanol

Từ câu chuyện của ba bệnh nhân trên, TS, BS Nguyễn Trung Nguyên – Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai lo ngại: đây là một vụ ngộ độc cồn công nghiệp methanol với nguyên nhân là uống phải loại rượu giả, rượu được pha chế hoặc đóng chai từ cồn công nghiệp methanol.

“Rượu uống nếu đúng là được nấu truyền thống từ ngũ cốc thì không bao giờ chứa lượng methanol gây ngộ độc. Người dân không có năng lực sản xuất ra methanol để bán ra thị trường”, BS Nguyên nói.

Thời gian vừa qua, các trường hợp ngộ độc lẻ tẻ vẫn xuất hiện thường xuyên, và có những vụ ngộ độc rất đáng tiếc như vụ ngộ độc methanol ở Lai Châu gây tử vong hàng chục người và nhiều người bị ngộ độc. Ở Hà Nội cũng đã có vụ ngộ độc do loại rượu giả “Duy Hảo” gây ngộ độc cho rất nhiều người và tử vong, di chứng mù mắt,…

Khi các lực lượng thực thi pháp luật đến kiểm tra xưởng sản xuất rượu thì toàn bộ kho chứa chỉ có các thùng phi đựng hóa chất, chứ hoàn toàn không có hệ thống lên men, ủ, trưng cất rượu ở đâu cả.

Methanol vào trong cơ thể lúc đầu ngay sau uống cũng gây say giống rượu uống, rượu cũng có vị không khó chịu (thực tế hơi ngọt), tuy nhiên lúc người uống tỉnh lại thì nghĩ là hết say nhưng khi đó (sau uống 1-2 ngày) methanol trong cơ thể âm thầm được chuyển thành axit formic rất độc, máu bị nhiễm axit gây thở nhanh và sâu giống như khó thở, tổn thương với mắt gây nhìn mờ, mù, với não gây hoại tử não, phù não, hôn mê và dễ tử vong.

“Ở Việt Nam, ngộ độc cồn công nghiệp methanol do uống rượu giả nên người uống không biết là uống phải rượu độc, lại biểu hiện chậm và âm thầm, nên phần lớn bệnh nhân đến viện muộn, khi đã bị tổn thương não, mắt tử vong từ 30-50% mặc dù được cứu chữa. Nếu bệnh nhân không tử vong cũng dễ bị di chứng mù mắt. Rất đáng tiếc”, BS Nguyên nói. 

Sau các vụ ngộ độc, ngành y tế cùng các ngành đã đưa ra các giải pháp, trong đó có việc đưa chất màu, thí dụ cho xanh methylen vào cồn công nghiệp methanol, để kẻ xấu không thể pha chế thành rượu rởm và người dân có thể nhận dạng cồn công nghiệp.

Tuy nhiên đến nay, việc này vẫn chưa được triển khai. Trong khi đó, ngành y tế, kể cả cảnh sát môi trường không thể làm được việc này và lâu nay thường xuyên phải chạy theo giải quyết hậu quả, truy tìm và bắt thủ phạm.

Để phòng tránh ngộ độc cồn công nghiệp methanol, BS Nguyên một lần nữa là khẩn thiết bày tỏ quan điểm đề xuất với cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ hóa chất cồn công nghiệp methanol, quản lý các sản phẩm rượu lưu hành trên thị trường.

Người dân cần mua sản phẩm rượu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, kể cả nơi bán cũng phải chính thức (có đăng ký kinh doanh, việc mua bán có hóa đơn kèm mã hàng hóa nhận dạng). Còn nếu người dân cứ mua bán rượu trôi nổi, không kiểm soát như hiện nay thì càng tạo điều kiện cho những người sản xuất và kinh doanh hàng giả và gây ngộ độc cho người mua.

 

 

 

 

Tháng Mười 25, 2020

Phụ mẫu dân hay là công bộc dân?

Filed under: Báo — phamquynh @ 1:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

 PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, ngót 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

Văn hóa “công bộc”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

VĂN HÓA “CÔNG BỘC”

Hữu Thọ

(Bài đăng trên tạp chí Thời nay Xuân Giáp Ngọ 2014, trang 5 mục Góc nhin thời nay)

—o0o—

Ðầu năm thường nghĩ về văn hóa. Ðầu năm Ngọ này, mong muốn “Thần Mã” sải bước thiên lý cho nên thử bàn về “văn hóa công bộc”, “văn hóa đầy tớ” là văn hóa của cơ quan công quyền và văn hóa của cán bộ, công chức đang là một nội dung quan trọng về văn hóa hiện nay.

Ngày nay, chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định cán bộ, công chức là “công bộc”, là đầy tớ của dân. Nhưng có người hỏi “Bác Hồ xác định vị thế đó vào lúc nào?” thì trước đây trả lời câu hỏi này không dễ nhưng bây giờ có Toàn tập Hồ Chí Minh, lại có CD toàn tập thì có thể tìm thấy ngay.

Với các công cụ hỗ trợ, chúng ta có thể thấy rõ khái niệm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên lần đầu trong bức thư gửi Ủy ban các kỳ, tỉnh, huyện, làng… Bắc Bộ ngày 7-10-1945, nói rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cán bộ, đảng viên phần lớn đều có chức có quyền trong bộ máy công quyền, vị thế “công bộc” của cán bộ, viên chức đã được xác định. Bức thư đó gửi Ủy ban các cấp ở Bắc Bộ nhưng lại đăng công khai trên báo Cứu quốc nghĩa là được công bố trước toàn dân, toàn Ðảng và đội ngũ cán bộ, viên chức cả nước.

Không chỉ trong những ngày khởi đầu của chính quyền mớBac Ho tham Vinh Phuci mà trong Di chúc dặn lại Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công chức phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Ðiều đó thấy rõ tư tưởng hết lòng vì nhân dân là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời của Người, là nền tảng của đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ của nước Việt Nam mới.

Không những ở nước ta mà nhiều nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ của Ðảng và của dân tộc hết sức coi trọng việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên.

Ngay trong các bài giảng cho lớp thanh niên chuẩn bị thành lập Ðảng được tập hợp trong sách Ðường Kách mệnh thì bài đầu tiên là Tư cách người kách mệnh với 14 điều “tự mình”, năm điều “đối với người”, bốn điều “đối với công việc”. Những nội dung đó đều nhấn mạnh trách nhiệm với nhân dân, với đất nước, với đồng bào, đồng chí… nhưng theo tôi, khái niệm “công bộc”, “đầy tớ” của dân chưa được nhắc tới.

Ðiều đó có thể thấy rõ, vị thế “công bộc”, “đầy tớ” của dân chỉ xác định rõ khi chính quyền về tay nhân dân, là trách nhiệm đặc thù, cao cả, căn bản của những người cán bộ, đảng viên, công chức trong xã hội mới. Có nghĩa rằng không làm tròn trách nhiệm “công bộc” thì thực chất không xứng đáng là cán bộ, công chức của nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nhiều nội dung, trong đó có nội dung xây dựng văn hóa trong Ðảng, trong cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị, nghĩa là văn hóa toàn bộ máy của hệ thống chính trị phải thấm nhuần “văn hóa công bộc”.

Như trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các Ủy ban Bắc Bộ cũng là với toàn quốc có trách nhiệm của cơ quan công quyền và trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Các cơ quan công quyền của nhân dân là nơi đề ra các chủ trương chính sách và điều hành chính sách thì vấn đề cơ bản phải là “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi chủ trương cũng như thủ tục hành chính trong quá trình tiếp xúc với nhân dân đều lấy sự hài lòng của dân làm thước đo. Theo tôi nghĩ, đó là nội dung cơ bản văn hóa công bộc của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Với cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là người đầy tớ của dân, không phải là nơi làm quan phát tài mà phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, không tham ô lãng phí, phù hoa, xa xỉ, không được lên mặt “quan cách mạng”, hách dịch mà phải trọng dân, kính dân, thương dân, học dân, hỏi dân, nghe dân phê bình. Ngay từ thuở mới dựng nước, Bác Hồ đã nói tới sáu căn bệnh mà cán bộ, công chức cần đề phòng và đấu tranh khắc phục, nói gọn như sau: Tự cho phép mình làm trái pháp luật / Cậy thế cậy quyền coi thường dư luận, không nghĩ đến dân / Ăn tiêu xa xỉ / Tham ô, lãng phí / Tự tung tự tác, kéo bè kéo cánh, ban phát địa vị cho bà con họ hàng mặc dù họ không đủ năng lực và phẩm chất / Chia rẽ / Kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng”, coi khinh dân gian, độc hành, độc đoán… Sau bức thư trong những ngày đầu cách mạng thành công, Người còn nói chuyện, viết nhiều bài báo để giáo dục đạo đức của cán bộ công chức và ba năm sau trong sách Sửa đổi lối làm việc, Người nói rõ thêm một số nội dung, nhưng tôi nghĩ những nội dung nêu trong bức thư của những ngày đầu thành lập chính quyền nhân dân là sâu sắc và dự báo rất sớm, rất chính xác. Tôi hiểu đó là nội dung văn hóa cơ quan công quyền, văn hóa cán bộ, công chức thể hiện “văn hóa công bộc, văn hóa đầy tớ” của bộ máy và cán bộ, công chức.

Khi nói về vị thế “công bộc”, “đầy tớ”, có đồng chí đã hỏi về vị thế lãnh đạo của Ðảng. Trong Di chúc, Người cũng yêu cầu Ðảng phải xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Vì Ðảng ta sinh ra từ lòng dân tộc, Ðảng ta chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ Tổ quốc và nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân, “thật sự là công bộc của dân”, đi sát thực tế, tôn trọng, chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu ước vọng của nhân dân thì sẽ làm giàu trí tuệ của Ðảng để có quyết sách đúng đắn và được dân tin yêu mới có thể trở thành “người lãnh đạo” thật tin cậy của nhân dân.

H.T.

Hồi ký_Phần 1 (kỳ 1 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI

HỒI KÝ

Phạm Thị Giá

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày 22/2/1992 mẹ tôi – cụ Phạm Thị Giá xuống Bạc Liêu sống với gia đình em gái tôi là con út theo ý muốn của mẹ.

Sau kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 (1913-1993) mẹ viết Hồi Ký kể lại cho các con, viết về những chuyện các con ít biết hoặc không biết của gia đình. Hồi Ký viết xong ngày 6/1/1994, tức ngày rằm tháng chạp năm Quý Dậu như mẹ ghi ở cuối tập này.

Từ ngày 26 đến 28/4/1996, tôi đưa vợ chồng cậu Phạm Tuân con trai út của học giả Phạm Quỳnh về thăm mẹ. Mẹ đưa cho tôi tập Hồi Ký này. Sau đó, em gái biết chuyện mới viết thư lên bảo GỬI XUỐNG NGAY CHO MẸ. Tôi gửi bán chính tay mẹ viết xuống sau khi đã phô tô một bản là bản hiện nay đưa ra cống hiến bạn đọc

Tôi giữ nguyên văn những gì mẹ viết, chỉ khi thật cần thiết mới ghi chú cho rõ ý người viết và bảo đảm độ chính xác của sự việc.

*

*       *

 

Phần đầu hồi ký

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nền nếp Nho giáo, nhưng sinh hoạt thì tân tiến, vì thời đó Nho giáo đã tàn, mọi người đều học chữ quốc ngữ, song song với tiếng Pháp.

Cha mẹ tôi sinh hạ được 13 (Thật ra là 16, nhưng ba con gái mất khi chưa đày năm là: cô Bảy, cô Chín và cô Yến – PT chú) anh em chúng tôi, năm trai và tám gái. Tôi có một người anh lớn hơn tôi hai tuổi (Là Phạm Giao sinh năm 1911, tại nhà số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội- PT chú), còn tôi là con gái đầu cùng bảy em gái (Là Giá, Thức, Hảo, Ngoạn, Giễm, Lệ, Viên. Năm trai là: Giao, Bích, Khuê, Tuyên, Tuân – PT chú). Gia đình tôi không giầu nhưng phong lưu, cha tôi viết báo, mẹ tôi nội trợ, các con đều được học hành đến nơi đến chốn, gia đình sống êm đềm hạnh phúc! Cha tôi rất tôn trọng đạo đức, lễ nghĩa những ngày Tết, ngày giỗ gia tiên, cha tôi khăn đóng, áo dài, đứng trước ban thờ khấn vái rất uy nghi nghiêm túc.

Những ngày giỗ, họ hàng tới dự đông đủ, các cụ, các bà trong họ đều nói: “Nhà đông con, con gái cho học vừa phải để ở nhà giúp việc gia đình và trông nom các em nhỏ”.

Cho nên năm 15 tuổi là tôi thôi học ở nhà giúp đỡ mẹ tôi và chăm sóc các em. Cuộc sống cứ êm đềm trôi qua.

Đến năm 18 tuổi thì lập gia đình, cha mẹ tôi rất thương yêu các con, không ham danh vọng, nơi giàu sang, chỉ trọng gia đình đạo đức nên đã nhận lời gả tôi cho một gia đình dòng dõi Tôn Thất ở Huế. Ông thân sinh ra chồng tôi làm quan huyện và đã về hưu năm 40 tuổi (là ông Tôn Thất Cung, tri huyện Phong Điền, Thừa Thiên – Huế), Bà cụ Cố sinh ra ông là con gái một bà Chúa, mới ngoài 20 tuổi đã góa, sinh hạ được một con trai, khi đó bà còn trẻ và rất đẹp. Khi hết tang, bao nhiêu người dạm hỏi Bà đều từ chối và sau cắt tóc tu tại gia. Bà nuôi con cho ăn học đến thi đỗ làm quan. Bà đã được Triều đình Huế sắc phong bốn chữ: “Tiết hạnh khả phong”. Ông làm quan mấy chục năm trời, khắp các tỉnh miền Nam mà vẫn lẹt đẹt là quan huyện không được thăng chức, vì ông rất thanh liêm, đạo đức không biết đút lót, nịnh bợ quan trên, gia đình đông con, nên đời sống thanh bạch. Năm ông 40 tuổi, thì Công sứ người Pháp nó gọi ông lên và nói: “Trong địa hạt ông có nhiều Cộng Sản, sao ông không bắt được ai, hạn cho ông một tháng nếu ông không làm được việc đó thì nên thôi đi”. Ông về bàn với gia đình dứt khoát trả lời sẽ thôi việc. Và ông báo cho con trai là từ nay mọi việc gia đình con lo lấy. Anh Bình (Là ông Tôn Thất Bình, cha chúng tôi- PT chú) trước ở Huế học trường Quốc học, vì chống lại bọn đốc học người Pháp nên anh và các bạn đã làm reo và bị đuổi ra khỏi trường. Anh ra Hà Nội dạy tư ở một trường tư thục: trường Thăng Long (Trường đầu tiên là trường Gia Long sau mới cùng các bạn sáng lập ra trường Thăng Long). Vừa dậy học vừa học, sau hai năm thi đậu bằng Tú Tài Tây 2 phần, vẫn tiếp tục dậy học và làm báo (Ông Tôn Thất Bình, cha chúng tôi, nhận làm chủ bút cho tờ báo của ông Phạm Lê Bổng từ năm 1932 khi sinh con gái đầu lòng là chị An. Báo ra bằng tiếng Pháp tên là La Patrie Annamite (Tổ Quốc An Nam). Cha chúng tôi lo toàn bộ bài vở. Chủ nhiệm chỉ cần có báo ra là ông có thể mua giấy với giá rẻ để bà con họ hàng nhà ông có nguyên liệu làm pháo-PT chú) nên cũng đủ cung cấp cho đại gia đình đầy đủ.

Tôi về làm dâu trong một gia đình phong kiến, tác phong đạo đức lễ giáo, nhưng rất hiền hậu, nhân từ. Ông (Là ông Tôn Thất Cung, ông nội chúng tôi – PT chú) sau được phong là: “Hồng lô tự thiếu khanh”. Gia tư chỉ có một thửa vườn rộng mà bà Chúa để lại, trồng những cây ăn quả và các thứ hoa. Anh B (Tức ông Tôn Thất Bình. Từ đây trong Hồi ký mẹ tôi chỉ dùng chữ B để chỉ ông-PT chú)có nuôi một người làm vườn, dưới quyền chỉ huy của ông.

Ông vui thú điền viên, hằng ngày đi chơi thăm các ông bạn, ngắm hoa quả trong vườn, cuộc sống nhàn nhã, mọi việc đã có con trai lo!

Tôi từ ngày lập gia đình, sống trong cảnh êm đềm bên chồng yêu quí và các con ngoan ngoãn. Tôi sinh được sáu (Thật ra là bảy con: An, Mỹ, Nga, Đại, Thành, Thân, Nhàn. Bốn gái và ba trai – PT chú) người con. Ba trai và ba gái. Cuộc sống cứ êm đềm trôi qua, tôi thấy mình thật là hạnh phúc, không ham muốn, ao ước gì hơn nữa!

Nhưng những năm đầy đủ hạnh phúc như thế, tôi linh tính như hạnh phúc mình đã lên đến tột bậc chỉ còn có xuống mà thôi. Nghĩ nơm nớp lo âu! Thấy các con chơi thổi bong bóng xà phòng càng to càng nhiều màu sắc rõ đẹp thì nổ một cái là tan chỉ còn là một giọt nước mà thôi! Hạnh phúc đâu có ở cùng ta suốt đời!

Thì ngày ấy đã đến, ngày mà phong trào Cách mạng nổi lên năm 1945. Hàng ngày luôn có những vụ bị bắt. Có người bạn khuyên anh nên lánh xa đi vì họ thấy trong sổ đen có tên anh. Nhưng anh nghĩ mình chẳng làm gì nên tội mà trốn đi đâu, hơn nữa tôi lại gần ngày sanh, các con còn nhỏ dại nên anh vững tâm ở lại. Nhưng đến ngày mùng 7/9/1945 trong khi cả gia đình đang ăn cơm trưa (Trong bài Trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh  viết rõ Gia đình đang ăn cơm tối thì có hai người xưng là học trò đến gặp… – PT chú) thì có một chiếc ô tô đỗ ở trước nhà, có hai người mặc âu phục sẫm màu, áo kín cổ vào nói: “Tôi mời ông Bình đi”, không có giấy tờ chi cả. Cả nhà đều biết có sự chẳng lành. Anh vẫn bình tĩnh nói: “Để tôi ăn hết chén cơm đã”, họ đứng đợi, người nào cũng có đem theo súng lục. Ăn xong anh lên gác thay quần áo, tôi định theo lên, họ ngăn lại và cho một người lên theo, còn một người đứng canh ở dưới nhà.

Lúc đó tôi lo sợ gần ngất đi. An con gái lớn 13 tuổi biết sự thể nên gục đầu xuống bàn khóc giữa các em nhỏ mắt ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì. Một lúc Anh xuống mặc áo blouson (lu dông) len nâu, tay không cầm gì nhìn tôi và các con với đôi mắt ái ngại và theo hai người ra đi, anh đi giữa lặng lẽ ra ô tô, hàng xóm không ai hay gì hết!

Tôi xúc động nước mắt trào ra. Ngay hôm ấy vội cho người báo cho các em biết rồi cứ nằm vật vã khóc cả ngày. Mùng 8/9/1945, đến tối thì thấy đau bụng, dở dạ, cô Duy, chị Cả, dì Hỷ, chị Tường (Cô Duy là dì Phạm Thị Hảo vợ dược sĩ Phùng Ngọc Duy, Chị Cả là bà Nguyễn Thị Hy vợ bác cả Giao. Dì Hỷ là bà Phạm Thị Thức, vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ. Chị Tường là bà Nguyễn Thị Nội, vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường (tức Lemur) giáo sư dạy mỹ thuật ở Trường Thăng Long – PT chú) đều lại thăm và đưa đi hộ sinh. Đến 20g thì sinh em gái út, sinh rất dễ dàng ngay trên giường nằm, em nặng 3kg tròn trĩnh xinh xắn. Mấy ngày sau nằm ở hộ sinh, mỗi khi nghe tiếng giầy cộp cộp tưởng như Anh được về vào thăm, khi tiếng giầy qua phòng bên, lại thở dài: “Họ vào thăm vợ con họ đấy”. Nhớ lại mấy lần sinh trước ngày nào anh cũng lại thăm, mua những bông hoa hồng đẹp cắm vào lọ để ngay đầu giường, dặn anh bếp mua gà kho làm ăn kiêng, tối lại đem báo chí vào cho coi. Anh còn sửa soạn cho các con ăn mặc áo đẹp tử tế vào thăm mẹ và em bé. Nhìn các con hai má đỏ hồng, hỏi: “Ai đánh phấn hồng cho các con đó”, các con nói: “Ba đấy mẹ ạ”, thì ra anh muốn vợ vui lòng và tỏ vẻ biết chăm sóc con cái cho vợ được yên tâm nằm nghỉ.

Cứ thế lần lữa trông chờ trong lo âu, cạn cả sữa, chờ ba vào khai sinh cho con, mãi cho đến 10 ngày sau tức ngày 18/9/1945 chú Duy (Là dược sĩ Phùng Ngọc Duy, chồng dì Hảo – PT chú) mới thay mặt để khai sinh cho con. Nghĩ thương con ra đời vào lúc gia đình bị cơn tai biến, thương số con vất vả nên đặt tên cho con là Thanh Nhàn mong cuộc đời con sau này sẽ không vất vả! Năm đó Âm lịch chính là năm Ất Dậu, năm mà có đến 2 triệu người chết đói.

Được nửa tháng vội làm đơn lên Bộ Nội vụ xin cho anh được tha. Khi ấy, ông Hoàng Hữu Nam (Tức Phan Bôi, em ruột ông Phan Thanh quản lý trường Thăng Long) là chánh văn phòng bộ Nội Vụ, tôi có trình bầy chồng tôi đã bị bắt về tội gì, nếu có tội xin cho biết, gia đình cam chịu, còn nếu không, xin tha cho về với gia đình.

Ông Chánh văn phòng cho biết “bọn Pháp ngày nay nó đang lùng những người thân Pháp để lợi dụng, nếu ông ở nhà nó lại bắt dùng vào những việc có hại cho nước, ông sẽ mang tội, mà gia đình cũng không giữ được. Chúng tôi đưa ông đi an trí một nơi, cách biệt với gia đình để giữ cho ông được an toàn, hồ sơ ông vẫn như tờ giấy trắng vậy thôi, hành vi của gia đình là sự bảo đảm tốt cho ông”. Như vậy là không còn nói năng gì nữa!

Ngoài đường ồn ào nhộn nhịp, ai cũng nơm nớp lo sợ!

Mấy tháng sau nghe tin con cái ông Bổng (Là ông Phạm Lê Bổng chủ nhiệm báo La Patrie Annamite) xin được phép đi thăm ông, ông ta cũng bị giữ cùng ngày với anh B. Tôi vội vàng cho em Mỹ (Là Tôn Nữ Thị Mỹ, con gái thứ hai mẹ tôi, sinh năm 1934) đi cùng, em An còn phải ở nhà coi em bé. Chiều đến em Mỹ về nói là có được gặp Ba. Ba thấy con Ba mừng lắm, nhưng không được lại gần nói chuyện, sau Ba ghé lại gần nói nhỏ: “con về nói với Me ba có 1 lạng vàng để trong tủ sắt me lấy ra mà dùng”.

Như vậy thôi không còn gì nữa!

Sau mấy tháng vì buồn phiền và lo nghĩ nhiều nên tôi bị tê liệt cả người. Da dẻ tê và đau, quần áo mặc sát vào da đau như gai đâm. Đêm nằm không ngủ được. Ăn cơm thì lưỡi tê như nuốt rơm, ăn phải có người bón cho. Rửa mặt cũng không cầm được khăn vì hai tay tê dại. Khi ấy có bà ngoại và các em ở Huế ra. Mời bác sĩ Phạm Hữu Chương đến chữa bệnh, tiêm thuốc Đức Campolon hằng ngày mà không thấy đỡ. Bác sĩ nói: “Bà sinh cháu rồi nghĩ ngợi buồn phiền nên khô cả máu, việc này chỉ cụ Hồ thả ông ra là bà khỏi thôi”.

Bà ngoại cho mời thầy lang ta lại thăm và bốc thuốc đại bổ uống, cứ thế mà cũng đến 5 tháng mới đỡ dần. Dì Hỷ giúp đỡ cho đem các thứ thuốc dì mua được đưa đến bán cho một hiệu người làng (Tức làng Hành Thiện, quê chồng bà Phạm Thị Thức)quen cũng lời lãi đôi chút thêm vào chi tiêu trong gia đình

Mấy tháng sau, một hôm tôi đứng ở cửa chợt thấy một thanh niên đi đi lại lại, nhìn trước ngó sau không thấy ai, vội đưa cho tôi một tờ giấy bản gấp kín rồi vội đi ngay, không kịp cho tôi hỏi đôi câu. Mở tờ giấy ra coi đúng chữ Anh viết bằng bút chì: “Nhớ em và các con lắm, anh bị đi kiết lỵ mệt lắm không biết có thuốc gì cho khỏi”.

Nhận được mấy dòng chữ viết bao thương cảm, chắc người thanh niên đó là một học trò nên nhờ họ báo  tin cho gia đình biết, trách anh ta vội vã đi, không được hỏi han đôi lời!

Tôi lại chú Hỷ (Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ chồng dì Phạm Thị Thức-PT chú) kể bệnh, chú có biên cho mua mấy thứ thuốc, nhưng làm sao biết được chỗ ở mà gửi.

Tôi có bà bạn là vợ ông tham Kim, tôi lại thăm và có phàn nàn nhà tôi đau bệnh không biết ở đâu mà đi thăm và gửi thuốc. Ông tham Kim nói ngay: “ông Bình nay họ giữ ở phủ Hoài Đức cùng với ông quan châu Cầm Văn Dung (Năm 1955, ông Cầm Văn Dung là ủy viên ủy ban trung ương mặt trận về Hà Nội họp có đến thăm gia đình chúng tôi, hỏi tin tức về cha tôi– PT chú). Tôi có biết ông chủ tịch phủ Hoài Đức, trước đây có làm việc dưới quyền tôi, ông ta có phạm một việc là nhận thầu đắp một con đê nhưng làm không tốt bị truy tố, tôi đã giúp hắn khỏi tội, hắn hàm ơn tôi, nay chị cứ đến gặp chủ tịch nói là người nhà tôi là hắn sẽ cho chị được gặp anh. Vào được phủ chị cứ đứng ở cửa sổ văn phòng nhìn xuống sân thấy một dãy nhà một từng đó là chỗ hai ông Bình và Dung ở đó”. Được biết rõ như vậy tôi vội chuẩn bị để đi thăm. Bà ngoại không dám cho đi một mình bà bảo cho U Bính đi cùng, u ấy mạnh dạn và khôn ngoan. Tôi bảo các cháu biên thư cho ba và đem theo 500đ gửi vào cho anh. Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm cùng U Bính ra đi tầu điện vào Hà Đông rồi đợi ô tô đi Hoài Đức. Ngoài đường quân Tầu sang giải giáp quân đội Nhật đi rầm rầm ngoài phố. Khi ô tô đến Hoài Đức tôi hỏi thăm đến phủ. Đến cửa Phủ thấy có lính bồng súng gác, tôi lại hỏi. Tôi là người nhà ông chủ tịch xin vào gặp ông. Anh lính cho biết ông đi từ 8g sáng đến trưa mới về. Tôi và U Bính lại quán nước gần cửa phủ ngồi đợi, mắt cứ chăm chăm nhìn vào cửa phủ lòng hồi họp lo âu! Mãi đến 11 giờ trưa mới thấy ô tô về. Bà quán nói: “Ô tô ông chủ tịch đã về đấy”. Tôi bảo U ngồi quán đợi tôi, một mình lại nói anh lính gác cho vào. Bước chân qua cổng phủ tôi thấy có ba ông đang đứng nói chuyện không biết ông nào là chủ tịch. Chợt có một cháu trai độ 11 tuổi đứng nhìn tôi, tôi vội hỏi “Em ơi! Ông nào là ông chủ tịch”, cháu chỉ tay và nói: “Ông đứng giữa ấy” Tôi vội đến chào ba ông và hướng về ông chủ tịch nói: “Tôi là vợ ông Bình, xin phép ông cho tôi được thăm nhà tôi” Ông ta cũng không hỏi ai bảo cho biết mà vào thăm, mà chỉ cho một ông cán bộ đứng cạnh và nói: “Bà Bình tự ý vào thăm ông ấy, đồng chí đưa bà vào văn phòng ngồi đợi”. Nói rồi ông ta đi một hướng khác. Ông cán bộ đưa tôi vào một phòng, trong phòng có một bàn giấy mấy ghế ngồi và gần đấy có một cửa sổ trông xuống sân rộng. Trong khi chờ đợi tôi đứng ở cửa sổ nhìn xuống dãy nhà ngang một tầng, nhớ lời ông tham Kim dặn, chợt cháu bé trai mà tôi gặp lúc ở cổng cứ nhìn tôi và hỏi: “Bà tìm ai”. Tôi nói: “Em nói với ông Bình là có người nhà vào thăm”. Tôi thấy cháu chạy đến cửa một gian nhà nhỏ độ một lúc thì thấy anh Bình đứng ở cửa nhìn lên thấy tôi có vẻ mừng nhưng không dám ra sân, giả vờ làm mấy động tác thể dục giơ hai tay lên vận động. Tôi trông thấy, lòng khấp khởi mừng thầm, thấy anh mặc bộ quần áo bà ba trắng.

Yên trí chờ đợi chắc buổi trưa là giờ ăn cơm và nghỉ, tôi đợi lâu lắm mãi đến 3 giờ mới thấy anh cán bộ vào ngồi nơi bàn giấy và gọi một anh khác bảo: “Cho tôi ông Bình”

Một lúc thấy anh lên, anh cán bộ chỉ cho anh ngồi một ghế cạnh anh ta, còn tôi thì ngồi cách một bàn giấy, trước mặt 2 người. Trông anh xanh tôi hỏi: Anh có được khỏe không?

Anh nói: “Dạo nọ anh có bị đau kiết lỵ, nhưng nay đã khỏi rồi”. Anh cán bộ nói thêm: “Ông có bị đau kiết lỵ, chúng tôi đã lấy thuốc uống khỏi rồi. Ông ở đây ăn cùng chúng tôi, hàng ngày lên coi báo chí”. Anh hỏi : “Các con có khỏe không. Anh nhớ chúng nó lắm, sao em không chụp ảnh em bé cho anh coi”. Tôi nói: “Bà ngoại và các em đã ra đông đủ cả, em gửi 300đ để anh mua thuốc phòng khi ốm đau”.

Anh nói: “Em để tiền mà nuôi các con”. Tôi đưa mấy lá thư các con gửi qua anh cán bộ coi rồi đưa lại cho anh.

Anh hỏi: “Em đi với ai vào đây”, tôi nói: “em đi cùng U Bính, u ngồi đợi ở quán nước.” Vì có người ngồi đấy không tiện nói gì hơn. Sau anh cán bộ hỏi: “Bà ở Hà Nội vào, ở đây cứ 5 giờ là hết ô tô ra Hà Đông mà ngoài đường quân Tàu đi lại nhũng nhiễu lắm”. Anh nghe nói vậy lo sợ vội bảo: “Thôi em đi về kẻo lỡ xe tối phiền lắm, em cố giữ gìn sức khỏe mà chăm sóc các con, em Mỹ có nói với em không? Mua cho anh một quyển từ điển Việt Anh anh học thêm”. Biết không thể ngồi lâu và nói gì hơn nữa, tôi vội đứng lên chào và cám ơn: “Tôi vào đây được thấy rõ tôi cũng yên tâm. Cám ơn các anh đã giúp đỡ nhà tôi khi đau ốm. Tôi xin phép về kẻo tối”

Sua khi tôi ra cửa, U Bính chạy vội lại nắm lấy tay tôi và hỏi: “Bà có gặp được ông không, cháu đợi lâu quá sốt ruột không rõ ra sao”. Tôi cười và kể lại cho U nghe, U mừng lắm. Hai thầy trò lại vội ra may gặp chiếc ô tô cuối cùng về Hà Đông. Ra Hà Đông  lên tàu được về đến nhà vừa tối. Cả nhà đều mừng đi đến nơi được gặp và về an toàn.

Đến tháng 10/1946 trong khi cả nhà đang ăn cơm thì có một thanh niên đến nói là người nhà ông Đặng Thai Mai (giáo sư cùng trường Thăng Long, vào đảng Tân Việt từ 1929, từng bị tù 3 năm, viết nhiều báo công khai của Đảng tiếng Việt và tiếng Pháp) báo cho biết là : Ông Bình hiện nay đã đưa về Ty Liêm Phóng, vài hôm nữa sẽ được về, có ai đến làm tiền để ông được tha thì gia đình nên cảnh giác kẻo bị lừa”

Cả nhà hay tin mừng quá, sáng hôm sau tôi và cô Hoàn mua quà bánh đến Ty Liêm Phóng, tôi gửi quà họ nhận và nói: “đợi đấy sẽ có trả lời”. Tôi và cô Hoàn đợi một lúc thì có một người ra đưa cho mảnh giấy viết bút chì đúng chữ anh: “Anh đã nhận được quà, anh rất sung sướng, mai sẽ được về sum họp cùng gia đình

Tuy chưa được gặp mặt nhưng mừng là ngày mai anh sẽ được về.

Sáng hôm sau tôi và cô Hoàn đi đón, tới nơi thì được người ta cho biết: “Các người đưa về hôm qua nay đã chuyển đi nơi khác rồi, Pháp nó đánh mạnh ở Kiến An”

Hai chị em chưng hửng buồn rầu ra về! Còn biết nói gì nữa! Sau tin vui là nỗi buồn muôn thuở.

P.T.G

(Còn tiếp)

 

Chúng ôi thi hát (kỳ 1 tháng 11 năm 2020)

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 1:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 11 năm 2020.

CHUYỆN MỘI NGƯỜI CHÁU NGOẠI – HỒI KÝ – PHỤ LỤC

CHÚNG TÔI THI HÁT

Phạm Tôn

Dì Phạm Thị Hoàn sống cùng gia đình tôi tại nhà số 16 phố Hàng Da. Dì làm nhân viên văn thư công sở, nhưng lại say mê đàn hát. Dì từng độc tấu ghi ta Ha oai trong nhóm nhạc Đỗ Liên nổi tiếng đương thời. Nhóm này thường biểu diễn ở rạp chiếu bóng Olympia đối điện với chợ Hàng Da trước các buổi chiếu phim tối. Rồi biểu diễn cả ở Đài phát thanh Hà Nội. Dàn nhạc của đài do nhạc sĩ Thẩm Oánh làm nhạc trưởng phát hiện dì có giọng hát riêng nổi bật trong các bài có nét cổ điển, trữ tình. Từ đấy nghệ danh Thu Hương ra đời và dì thành một giọng hát được yêu mến trên sóng phát thanh trong Ban Việt Nhạc.

Ở đây có nhạc sĩ Lương Ngọc Châu tài hoa chuyên biểu diễn vi-ô-lông. Còn có kỹ thuật viên phụ trách âm thanh là anh Đoàn Văn Đệ, người Huế, sống ngay tại trụ sở đài ở 65 Quán Sứ rất gần nhà chúng tôi. Dì Hoàn thường mời anh đến những bữa ăn tươi ngày chủ nhật do mẹ tôi và chị Tôn Nữ Việt An làm như bánh tôm, hoặc bánh canh. Trong bữa ăn, chú Châu nói đủ chuyện vui vẻ. Còn anh Đệ chỉ nhìn và mỉm cười, lặng lẽ ăn.

Nhân thành phố mở cuộc thi đồng ca, nhạc sĩ Châu bàn với dì tổ chức một nhóm ca thiếu nhi chuẩn bị dự thi. Nòng cốt là bốn anh em tôi: Tôn Thất Đại, Tôn Thất Thành, Tôn Thất Thân và em gái Tôn Nữ Thanh Nhàn mới 6 tuổi. Anh Đại lớn nhất vừa 14, anh em trai tôi cách nhau ba tuổi. Cùng 6 tuổi như em Nhàn có bé Ngọc, cháu bà Bắc bạn mẹ tôi: Ngọc là con trai mà giọng trong vắt, lanh lảnh, cao vút. Kém tuổi anh Đại một chút, nhưng to khỏe hơn anh là hai anh em Cân, Thông đẹp trai, hát hay. Giọng hai anh em lại rất quyện với giọng ba anh em tôi. Hai anh em là cháu cô Nhung, bạn dì Hoàn.

Chúng tôi được tập tại phòng thu âm của đài, do nhạc sĩ Châu trực tiếp dạy hát, bầy cả cách biểu diễn. Do dì Hoàn giới thiệu, bài hát được chọn là bài Chèo thuyền trên sông, một ca khúc trong sáng lạc quan sôi nổi do cậu Phạm Tuyên trích một đoạn nhạc cổ điển và đặt lời từ hồi tản cư về làng Tràng Cát năm 1946 cậu mới 16 tuổi, cho nên anh Đại và tôi đã thuộc từ nhỏ. Khi đăng ký nhạc sĩ Châu ghi tác giả là Vô Danh, nhưng không hiểu sao khi được giới thiệu lên hát tại sân khấu nhà hát lớn lại đọc là Ngô Ganh, tên một nhạc sĩ thời đó.

Tôi nhớ mãi những buổi tập hát thuở ấy. Nhạc sĩ Châu dạy nhiệt tình, kỹ lưỡng, nhưng rất nghiêm khắc. Hát sai là hát lại cả bài cho đến chỗ hát sai, rồi lại hát lại chỗ ấy một lần nữa, đến đạt thì mới thôi. Tức là hát lại hoàn chỉnh cả bài. Những lần chúng tôi hát sai, chú quát rất to, chỉ mặt từng người mà chê, bắt hát lại, khi đạt mới cùng cả nhóm hát. Không ai giận vì biết chú rất yêu chúng tôi. Những buổi tập xong thường mua bánh, nước ngọt cho chúng tôi.

Tất cả hát: Trời xanh trong tươi vui/ Buồm căng gió trên mui/ Làn nước biếc như reo mừng mong đón con thuyền/ Thuyền ta trôi băng băng/ Nào chèo mau cho hăng/ Lặng mà trông nước trôi triền miên. / Nhìn cây cối hai bên/ Mặt trời sau cây lên/ Cùng muôn sóng nhấp nhô đùa muôn chiếc trâm vàng/ Thuyền ta đi nghênh ngang/ Dòng sông ta thênh thang/ Kìa đằng xa bến mơ huy hoàng.

Rồi điệp khúc hát bè: Chèo lên cố ta mong thuyền vượt lên sóng muôn vàn/ Kìa là vòm cây xanh/ Dập dờn đàn chim tung cánh/ Chèo lên cố ta mong được nhìn non nước huy hoàng/ Nhìn vạn vật bao la/ Nước non xiết bao oai hùng.

Một buổi tập mệt nhoài vừa xong, chú Châu bảo tất cả nghỉ một lát, sau sẽ hát lại cả bài có kèm động tác chèo thuyền và đưa tay ra phía trước khi bài hát sắp hết: ta đã tới bến ước mong. Chú vừa dứt lời thì bốn chiếc loa to gắn ở bốn góc phòng thu âm vang lên: Tiếng trẻ con hát, rồi tiếng chú Châu quát tháo bắt hát lại. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng, chúng tôi thì bụm miệng không dám cười. Bỗng dì Hoàn bật cười mở đầu cho tràng cười vui vẻ, thả cửa của lũ chúng tôi. Chú Châu sững người ra một lát rồi cũng bật cười. Chú nói: Lại tay Đệ đây, dân Huế mà, tẩm ngẩm tầm ngầm mà ghê thật!

Thi hát ở Nhà hát lớn, kết quả chúng tôi được giải nhì. Giải nhất là ca đoàn của một nhà thờ. Sau đó được ăn một bữa ngon.

Năm 1954, đất nước tạm chia hai miền. Anh Đoàn Văn Đệ theo đài phát thanh vào Sài Gòn. Chị An tôi ở lại Hà Nội, nhưng đến 1955 lại vào Sài Gòn để giúp bà dì mở hiệu thuốc tây. Tha phương, gặp cố nhân, anh chị yêu nhau rồi lập gia đình. Con gái đầu lòng đặt tên là Thu Hương ghi công dì Hoàn đã chắp nên duyên lành. Còn chú Châu, dì Hoàn yêu nhau thì bị bà ngoại phản đối vì chú có vợ con rồi. Bà chị có uy và có tiền đứng ra thu xếp: bắt dì Hoàn sang Pháp du học thì chắc nhạc sĩ nghèo làm theo thời vụ ở đài phát thanh và dạy đàn tại nhà sẽ hết cách theo đuổi! Không ngờ, chuyện lạ xảy ra. Quốc trưởng Bảo Đại công du Bắc Phần ra tay bảo trợ nghệ sĩ có tài mới trao cho tác giả truyện tình Đồi Thông Hai Mộ 5.000 đồng bạc Đông Dương, khiến thời ấy trên báo Giang Sơn có bài thơ… mừng tác giả, kết bằng hai câu: Đồi Thông Hai Mộ năm ngàn bạc/ Mỗi mộ hai ngàn lẻ mấy trăm. Lại cấp học bổng cho nhạc sĩ tài hoa Lương Ngọc Châu sang Pháp tu nghiệp tại Nhạc viện danh tiếng Pari. Thế là lại tha phương, gặp cố nhân dì tôi gặp người yêu. Rồi họ nên vợ nên chồng sau khi bà vợ cũ thuận nhận số tiền chia tay và chu cấp cho con gái thứ hai. Con gái đầu dì Hoàn đã nuôi từ khi cháu bị bỏng hồi nhỏ đưa sang Pháp điều trị.

Gần cuối Hồi ký mẹ tôi viết: Em An ngày một xinh đẹp. Bao nhiêu nơi ngấp nghé. Chú Châu cô Hoàn chắc nay cũng còn nhớ những kỷ niệm êm đềm ngày ở 16 Hàng Da hai người đã yêu mến nhau. Anh Đệ khi đó làm ở đài phát thanh nên cũng lại chơi cùng chú Châu, không ngờ đấy mà thành hai mối lương duyên.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/10/2020, kỷ niệm 1010 năm

Thăng Long – Hà Nội

giữa mùa bình thường mới trong phòng chống dịch Covid-19

P.T

Tháng Mười 18, 2020

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 2 tháng 10 năm 2020)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/1/2020

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cửa tri TP Hà Nội

Ngày 14-10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIV TP Hà Nội tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và Tây Hồ, báo cáo với cử tri dự kiến nội dung, chương trình kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIV; ý kiến trả lời của các cơ quan chức năng về những kiến nghị của cử tri tại cuộc tiếp xúc lần trước. Nguyen Phu Trong tham cu tri Ha NoiCùng dự có đại diện lãnh đạo TP Hà Nội.

Phát biểu tại cuộc tiếp xúc, cử tri cho rằng, Kỳ họp của Quốc hội lần này bàn nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước; mong các đại biểu Quốc hội nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành thật tốt nội dung, chương trình đề ra. Các kỳ họp của Quốc hội đã có nhiều cải tiến, kết hợp giữa trực tuyến với tập trung tại hội trường, phù hợp tình hình dịch bệnh phức tạp; các phiên chất vấn và trả lời chất vấn hiệu quả cao. Đề nghị Quốc hội cần quan tâm, gắn công tác xây dựng luật với tuyên truyền về pháp luật và việc thực thi pháp luật; tăng cường công tác giám sát đối với các dự án lớn, nhất là trong đầu tư công, các công trình trọng điểm của đất nước; khắc phục bằng tình trạng chậm tiến độ và đội giá… Quốc hội khóa tới cần tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách, tạo điều kiện để đại biểu chuyên tâm làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội phải là người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thật sự xứng đáng là người đại diện của nhân dân.

Nhiều cử tri đánh giá, năm 2020, dù gặp nhiều khó khăn thử thách, nhưng kinh tế nước ta thuộc nhóm tăng trưởng cao trên thế giới; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được đẩy mạnh. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ qua, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có nhiều đóng góp vô cùng quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành để đất nước ổn định và phát triển, nhất là trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực, trong công tác cán bộ, tạo niềm tin vững chắc của nhân dân. Cử tri gửi gắm niềm tin tưởng vào Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, mong đồng chí tiếp tục làm tốt hơn nữa trọng trách của mình, đồng hành cùng đội ngũ cán bộ của Đảng để lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

Đối với Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiều cử tri cho rằng, sự kiện quan trọng này được các cấp ủy, tổ chức đảng chuẩn bị công phu, bài bản, kỹ lưỡng, khoa học, nhất là về nhân sự. Cử tri luôn quan tâm những vấn đề đại hội quyết sách có hợp lòng dân không, ai làm Bí thư, ai vào Ban Chấp hành khóa mới? Về công tác nhân sự của Đại hội XIII, cử tri kỳ vọng Đại hội sẽ lựa chọn được những cán bộ thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước. Tuyệt đối phải loại khỏi danh sách nhân sự những người tham vọng cá nhân, quyền lực, tham nhũng, lôi kéo người thân vào cơ quan nhà nước. Cử tri rất tin tưởng và đồng tình ủng hộ việc Trung ương luân chuyển cán bộ để bố trí người đứng đầu không là người địa phương, đây là một trong những giải pháp ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, bè phái, lợi ích nhóm.

Cử tri cũng bày tỏ băn khoăn về những hạn chế yếu kém mà nhiều lần đã kiến nghị nhưng chưa có chiều hướng thuyên giảm đáng kể, như ô nhiễm môi trường đang là vấn đề quan ngại. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp mạnh để xử lý những cá nhân, tổ chức, nhất là doanh nghiệp cố tình vi phạm. Về phòng, chống tham nhũng, cần tiếp tục đẩy mạnh; xác định rõ địa bàn, ngành dễ xảy ra tham nhũng để có biện pháp ngăn chặn hiệu quả; lấy phòng ngừa là chính, nhưng cũng phải kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Phát biểu tại cuộc tiếp xúc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đồng tình, đánh giá cao các ý kiến của cử tri ngắn gọn, tập trung vào những nội dung, vấn đề lớn của đất nước mà kỳ họp Quốc hội lần thứ 10 khóa XIV sẽ bàn. Các ý kiến đều tâm huyết, thẳng thắn, chân thành, trách nhiệm và có tinh thần xây dựng cao. Các đại biểu Quốc hội sẽ tổng hợp, tiếp thu đầy đủ, báo cáo các cơ quan chức năng có thêm thông tin để nghiên cứu, xem xét.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ, cử tri Hà Nội có niềm vinh dự tự hào rất lớn là công dân của Thủ đô nghìn năm văn hiến, Thủ đô Anh hùng, nói đến Hà Nội là nói đến văn minh, thanh lịch. Hà Nội chưa bao giờ có quy mô, tầm vóc lớn như hiện nay. Hà Nội cần làm gương cho cả nước. Sau Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2020-2025, Hà Nội phải có bước phát triển mới, xứng đáng với vai trò, vị thế Thủ đô, tiêu biểu cho cả nước. Hà Nội phải có quy hoạch tốt và quản lý đô thị phải tốt. Hà Nội là trung tâm đầu não của cả nước, vì vậy, công tác quy hoạch, quản lý luôn là vấn đề lớn và khó….

Đồng chí cho rằng, với vai trò, vị trí hết sức quan trọng cho nên những yêu cầu, đòi hỏi đối với Hà Nội càng cao hơn. Cán bộ lãnh đạo phải có bản lĩnh, trí tuệ, phương pháp, đặc biệt là phải đoàn kết thống nhất cao, huy động được sức dân trong xây dựng Thủ đô và đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn Hà Nội phải mẫu mực trên mọi phương diện, con người phải lịch sự, ổn định chính trị phải tốt, phố phường phải sạch đẹp, an ninh trật tự phải luôn luôn bảo đảm… Phát triển kinh tế là rất quan trọng, rất cần, nhưng cần chú trọng nhiều hơn nữa phát triển văn hóa. Mong Đảng bộ, nhân dân TP Hà Nội vừa thấy thuận lợi, vừa thấy khó khăn, để xây dựng Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại, đặc biệt là về văn hóa, để Hà Nội xứng đáng là nơi linh thiêng và hào hoa, văn hiến và Anh hùng…

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nêu rõ, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội phải làm gương, nêu cao trách nhiệm, thực hiện thật tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, thật sự là những người đại diện cho cử tri, phát huy trách nhiệm xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/10/2020

Thông tin kết quả Hội nghị T.Ư 13, khóa XII

Sáng 14-10, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo T.Ư tổ chức Hội nghị báo cáo viên Trung ương tháng 10 và tập huấn công tác tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Hội nghị được tổ chức trực tuyến với 63 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Hội nghị nghe các báo cáo viên thông tin nhanh về kết quả Hội nghị T.Ư 13, khóa XII; truyền đạt các chuyên đề  về “Việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân và tổng hợp ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”; “Những vấn đề mới đặt ra và định hướng chính sách đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”.

Ban Tuyên giáo T.Ư đề nghị, căn cứ những thông tin được cung cấp tại hội nghị và Hướng dẫn số 151- HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo T.Ư, ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương , đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tập trung tuyên truyền việc công bố, thảo luận, cổ vũ, động viên nhân dân tích cực tham gia đóng góp xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ thông tin được cung cấp tại hội nghị, nội dung bài phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị T.Ư 13, khóa XII của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; thông báo Hội nghị và tài liệu chính thức của các cơ quan chức năng, để tuyên truyền đậm nét về kết quả hội nghị.

* Chiều cùng ngày, tại Hà Nội, Đảng ủy Khối các cơ quan T.Ư tổ chức hội nghị thông tin nhanh kết quả Hội nghị T.Ư 13, khóa XII đến báo cáo viên các tổ chức đảng trực thuộc.

Đảng ủy Khối yêu cầu các cấp ủy trực thuộc thông tin, tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong Khối những nội dung căn bản của Hội nghị T.Ư 13; nội dung các bài phát biểu khai mạc, bế mạc hội nghị của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; quán triệt hướng dẫn của Ban Tuyên giáo T.Ư về việc công bố, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/10/2020

Lễ kỷ niệm 1.010 năm Thăng Long – Hà Nội

Tối 10-10, tại vườn hoa Lý Thái Tổ (quận Hoàn Kiếm), Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 1010 năm Thăng Long – Hà Nội (1010 – 2020). 1010 nam thang long

Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư; Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Công an; Vương Đình Huệ, Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Các đồng chí Bí thư T.Ư Đảng: Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam; Phan Đình Trạc, Trưởng Ban Nội chính T.Ư; Nguyễn Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Ngô Vuong Dinh Hue 1010 nam thang longThị Thanh Hằng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội; Chu Ngọc Anh, Chủ tịch UBND TP Hà Nội.

Dự đại lễ có đại sứ các nước tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trong nước.

Đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Vương Đình Huệ nhấn mạnh vai trò to lớn, tầm nhìn thiên niên kỷ khi vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Từ mốc son lịch sử đó tới thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, trải qua 1010 năm với bao thăng trầm của Thủ đô và đất nước, Thăng Long – Hà Nội luôn là hình tượng tiêu biểu nhất cho “khí phách cha ông, hồn thiêng sông núi” vẫn luôn vững vàng, hiên ngang, xứng đáng là kinh đô của các vương triều; là Thủ đô nghìn năm văn hiến, anh hùng, là trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước.

Đồng chí Vương Đình Huệ khẳng định, kỷ niệm 1010 năm Thăng Long – Hà Nội là dịp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố tiếp tục khẳng định những phẩm chất cao quý và truyền thống tốt đẹp của Thủ đô: Văn hiến – Anh hùng – Hòa bình – Hữu nghị – Sáng tạo; thể hiện quyết tâm giữ gìn, kế thừa xứng đáng những giá trị tinh thần thiêng liêng, phát triển lên một tầm cao mới.

Suốt chiều dài lịch sử, Thăng Long – Hà Nội luôn tiêu biểu cho khát vọng hoà bình, chủ nghĩa nhân văn của dân tộc, luôn làm hết sức vì hòa bình, tiến bộ và hạnh phúc của nhân loại. Hà Nội cũng từng bước trở thành trung tâm kết nối các giá trị toàn cầu, tham gia tích cực, có trách nhiệm tại nhiều diễn đàn quốc tế quan trọng.

Với sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ to lớn của T.Ư Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố trong cả nước và bạn bè quốc tế, Hà Nội đã đạt được những thành tựu rất to lớn. Quy mô, tầm vóc, vị thế của thành phố đã mạnh lên nhiều; hình ảnh, uy tín của Thủ đô không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Đúng vào dịp kỷ niệm 1010 năm Thăng Long – Hà Nội, Hà Nội tổ chức Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 17. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô. Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân Hà Nội đoàn kết, nhất trí, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng, xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, sánh vai cùng thủ đô các nước trên thế giới; góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, thống nhất, độc lập, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến, Thủ đô Anh hùng, Thành phố Vì hoà bình, Thành phố Sáng tạo…

Tại Lễ kỷ niệm, Ban Tổ chức đã đem đến cho khán giả một chương trình nghệ thuật đặc biệt mang tên “Tỏa sáng đất rồng thiêng”. Với ba phần: Huyền thoại Thăng Long, Nơi lắng hồn núi sông và Thăng Long – Hà Nội, Hội tụ và phát triển, chương trình đã tái hiện lại hành trình 1010 năm từ Kinh đô Thăng Long tới Thủ đô Hà Nội.

Với sự tham gia của hơn 300 nghệ sĩ, diễn viên múa thuộc nhiều nhà hát Trung ương và Hà Nội, chương trình là tổng hoà các màn trình diễn ca, múa, nhạc được dàn dựng công phu, hoành tráng và đẹp mắt theo phong cách sử thi, kết hợp uyển chuyển giữa ngôn ngữ múa kinh điển của nghệ thuật ballet thế giới và phong cách dân gian Việt Nam.

Các ca khúc được lựa chọn trong chương trình là những tác phẩm xuất sắc về Thăng Long – Hà Nội, như: “Hà Nội, linh thiêng và hào hoa”, “Thăng Long – Hà Nội bay lên”, “Tiến về Hà Nội”, “Khúc hát người Hà Nội”…

GIANG NAM – DUY LINH

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/10/2020

Thông qua dự thảo Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại TP Hồ Chí Minh

Chính phủ vừa thông qua dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại TP Hồ Chí Minh. 

Theo đó, giao Bộ Nội vụ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết; phối hợp Bộ Tư pháp báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc bổ sung dự thảo Nghị quyết vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, cho phép xây dựng, ban hành dự thảo Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn; thực hiện việc trình dự thảo Nghị quyết theo quy định.

Trước đó, Quốc hội đã thông qua hai Nghị quyết về thí điểm chính quyền đô thị tại Đà Nẵng và Hà Nội, đây là tiền đề có ý nghĩa quan trọng để TP Hồ Chí Minh đề xuất với Quốc hội cho phép thực hiện tổ chức chính quyền đô thị tại TP Hồ Chí Minh. Nghị quyết khi được Quốc hội ban hành sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bộ máy chính quyền đô thị, nâng cao chất lượng hiệu quả cung ứng dịch vụ công, phù hợp với tính chất đô thị đặc biệt lớn nhất nước.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 4/10/2020

Ra mắt Trung tâm ươm tạo chuyên về AI

Ngày 3-10, Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh (SHTP) tổ chức lễ ra mắt Trung tâm ươm tạo chuyên về AI Innovation Hub (Trung tâm AI) và công bố Cuộc thi AI Hack 2020.

Ra mat trung tam AITheo lãnh đạo SHTP, trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là một trong những công nghệ cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, là xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới. AI tác động chuyển đổi to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, sản xuất…

Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế, Việt Nam xác định tập trung phát triển công nghệ AI – một mũi nhọn được dự báo sẽ trở thành ngành công nghệ đột phá nhất trong 10 năm tới. Việc hình thành Trung AI chính là hướng đến các đột phá trên, đồng thời là bước chuẩn bị đầu tiên cho việc hình thành Trung tâm nghiên cứu ứng dụng phát triển AI trong tương lai của SHTP.

Là chiếc nôi cho nhiều Startup công nghệ mang thương hiệu Việt Nam, Vườn ươm Doanh nghiệp công nghệ cao (SHTP-IC) trực thuộc Ban Quản lý SHTP đã khẳng định được sứ mệnh của mình thông qua việc kết nối mạnh mẽ các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động ươm tạo và đa dạng các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Với những thành quả đạt được trong suốt 14 năm xây dựng và phát triển, SHTP-IC đã được Ban Quản lý SHTP tin tưởng giao nhiệm vụ là đơn vị chủ trì triển khai hoạt động Trung tâm AI.

Chức năng chính của AI bao gồm: Thu hút các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo đồng hành cùng hoạt động của trung tâm; triển khai các hoạt động hỗ trợ phát triển các giải pháp trí tuệ nhân tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp và sinh viên; thúc đẩy cộng đồng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Sự ra đời của Trung tâm AI chính là hướng đến sự đột phá, đáp ứng nhu cầu phát triển tất yếu trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của TP Hồ Chí Minh nói chung và SHTP nói riêng.

Nhân dịp này, SHTP-IC cũng công bố phát động cuộc thi AI Hack 2020. Đây là cuộc thi nối tiếp chuỗi IoT Startup – Cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng IoT được tổ chức từ năm 2016 tới nay. Trải qua bốn năm tổ chức, cuộc thi đã thu hút hơn 40 nghìn lượt quan tâm và 280 dự án, trong đó có nhiều dự án tiêu biểu như: Hệ thống đèn đường thông minh S3, Fman – Hệ thống giám sát môi trường nông nghiệp ngư nghiệp Aevisor, Atovi – Khóa thông minh Gtek Lock, Signee – Bảng hiệu thông minh dành cho chuỗi bán lẻ của đô thị thông minh, Drone Pro VN – Hệ thống thiết bị bay giao hàng tự động…

Cuộc thi năm nay có chủ đề “AI Hack 2020” với mong muốn tạo điều kiện cho các startup trong cộng đồng khởi nghiệp xây dựng những giải pháp AI dựa trên tối ưu hóa dữ liệu hiện có, góp phần nâng cao chất lượng của sản phẩm và giá trị mang đến cho khách hàng. Bên cạnh chủ đề mới và mang tính xu thế của thời đại thì điểm khác biệt của cuộc thi năm nay chính là hình thức tổ chức cuộc thi kéo dài sáu tuần liên tục nhằm chọn ra top 10 dự án xuất sắc tham gia Pitching Day để kêu gọi vốn trước các quỹ đầu tư.

Cao Tân

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 4/10/2020

Tưởng niệm 720 năm Ngày mất của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn

Ngày 6-10, UBND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã tổ chức Lễ tưởng niệm 720 năm ngày mất Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và khai mạc Lễ hội Đền Trần Thương năm 2020.Tuong niem 720 nam ngay mat hung dao dai vuong

Nhân 720 năm ngày mất của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, UBND huyện Lý Nhân, Hà Nam và nhân dân đã tổ chức nghi lễ để tưởng nhớ đến Đức Thánh Trần và tỏ lòng tri ân đối với bậc tiền nhân đã làm rạng danh quê hương đất nước.

Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh năm 1231. Ông là người có tài văn chương, võ nghệ, thông kim bác cổ, văn võ song toàn, hội tụ đầy đủ: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Là người tài năng, lại biết giữ gìn rường cột quốc gia nên qua bốn đời vua Trần, ông đều được trọng dụng, để tiếng thơm lưu truyền, hậu thế tôn vinh, thờ phụng.

Ông là một hình tượng sáng ngời của lòng yêu nước, tinh thần quật khởi Tuong niem 720 nam ngay mat hung dao dai vuong 2đấu tranh giải phóng dân tộc. Một nhà quân sự tài ba, nhà chính trị kiệt xuất. Đặc biệt trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược thế kỷ thứ XIII (1258, 1285, 1288).

Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 năm Canh Tý ( tức ngày 5-9-1300). Triều đình đã tôn phong là Thái sư Thượng phụ, Thượng Quốc công, Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương; nhân dân Đại Việt tôn Ngài là Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần, lập đền thờ tưởng nhớ công lao to lớn của Ngài. Trong tâm thức người dân, Hưng Đạo Đại vương là một người Cha, một vị Thánh thiêng liêng.

Nhân dịp này, UBND huyện Lý Nhân và Ban quản lý Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, Hà Nam đã tổ chức khai mạc Lễ hội Đền Trần Thương năm 2020, gồm phần lễ với các nghi thức: Lễ cáo yết, Lễ rước kiệu và Lễ Kỵ Nhật Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và khai mạc Lễ hội. Phần hội có các trò chơi dân gian như: Thi đấu cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều…

Lễ hội Đền Trần Thương thu hút đông đảo du khách bởi nơi đây còn gìn giữ được những giá trị lịch sử văn hóa. Lễ hội là dịp để nhân dân trong vùng và du khách thập phương tưởng nhớ công đức của người xưa, đồng thời bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị những di sản văn hóa truyền thống của dân tộc.

Lễ hội diễn ra đến hết tháng 8 âm lịch.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/10/2020

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu

Sáng 2-10, tại TP Huế, Tỉnh ủy, HÐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu (4-10-1920 – 4-10-2020), nguyên: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). 

Ðồng chí Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Ðiền; người chiến sĩ cộng sản kiên trung, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Ðảng và cách mạng Việt Nam; nhà thơ cách mạng lớn của dân tộc.

Ðến dự lễ có các đồng chí: Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư T.Ư Ðảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành của T.Ư; cùng các ban, ngành, địa phương trong tỉnh và đại diện gia đình đồng chí Tố Hữu.

Ðọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, đồng chí Lê Trường Lưu, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế nhấn mạnh: Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tố Hữu là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một mẫu mực tiêu biểu về đức tính trung thực, thủy chung, tình thương yêu bạn bè, đồng chí, đồng bào; là tấm gương sáng về sự hy sinh, cống hiến trọn đời không tiếc thân mình vì Tổ quốc, vì nhân dân. Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của đồng chí Tố Hữu là thời điểm toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân tỉnh Thừa Thiên Huế đang tích cực, khẩn trương chuẩn bị cho Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 16, hướng tới Ðại hội XIII của Ðảng. Vinh dự và tự hào với những truyền thống tốt đẹp của quê hương, của các thế hệ lãnh đạo tiền bối, trong đó có đồng chí Tố Hữu, Ðảng bộ và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế quyết đem tất cả tâm huyết, tài năng và trí tuệ, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đưa Thừa Thiên Huế ngày càng đổi mới, hội nhập và phát triển, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10-12-2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

★ Sáng cùng ngày, tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Ðiền, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lễ khánh thành Công viên văn hóa và Nhà lưu niệm đồng chí Tố Hữu. Các đồng chí Võ Văn Thưởng và Nguyễn Xuân Thắng, dự.

Công viên văn hóa và Nhà lưu niệm đồng chí Tố Hữu được xây dựng nhằm tri ân những đóng góp của đồng chí cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, qua đó góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau. Công trình có tổng mức đầu tư 25 tỷ đồng, trên diện tích khoảng 4.000 m2, bao gồm: nhà thờ, nhà lưu niệm, nhà dịch vụ, chòi thơ… Ngoài ra, tại đây còn xây dựng tuyến kè sông Bồ, đoạn thượng lưu cầu Niêm Phò B (xã Quảng Thọ), có chiều dài hơn 100 m và đoạn hạ lưu cầu Niêm Phò B dài hơn 190 m.

★ Chiều 2-10, tại Hội trường Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Ban Tuyên giáo T.Ư và Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Ðồng chí Tố Hữu với cách mạng Việt Nam và quê hương Thừa Thiên Huế”. Ðến dự có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư, các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và đại diện gia đình đồng chí Tố Hữu; cùng đông đảo các đại biểu, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học.

Phát biểu ý kiến tại hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, hội thảo khoa học là hoạt động thiết thực kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu – người cộng sản kiên trung, nhà cách mạng tiêu biểu, nhà chính trị dày dạn kinh nghiệm, đồng thời là nhà thơ cách mạng tài năng, tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương người cộng sản trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc. Ðồng chí Tố Hữu cũng là “con chim đầu đàn” của nền thi ca cách mạng Việt Nam, đã góp phần khai sáng, dẫn dắt nền văn học cách mạng; truyền cảm hứng lan tỏa nhiệt tình cách mạng, niềm tin và tinh thần lạc quan cách mạng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Việt Nam.

Tại hội thảo, các tham luận, ý kiến trình bày nhiều thông tin tư liệu sống động về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Tố Hữu. Nhiều tham luận phân tích, đánh giá đồng chí Tố Hữu trên phương diện là nhà thơ cách mạng, “một viên ngọc quý” của nền văn hóa Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ sáng tác, ông đã để lại những tập thơ nổi tiếng như: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

★ Tối cùng ngày, tại Khu lưu niệm đồng chí Tố Hữu (xã Quảng Thọ, huyện Quảng Ðiền) diễn ra Ðêm thơ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu.

Nhân dịp này, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lễ phát hành đặc biệt bộ tem bưu chính “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu”. Bộ tem thể hiện hình ảnh chân dung đồng chí Tố Hữu bằng mầu nước; trên nền tem thể hiện phong cảnh thiên nhiên đặc trưng của miền quê Quảng Ðiền với hình tượng mặt trời lên, những con thuyền lướt sóng trên sông lúc bình minh. Bên cạnh chân dung nhà thơ là các tác phẩm nổi tiếng như “Từ ấy”, “Ra trận”, “Máu và hoa”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”… tiêu biểu cho sự nghiệp thơ ca cách mạng của ông.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/10/2020

Tôn vinh “Nông dân Việt Nam xuất sắc”

Năm nay, cùng với 63 cá nhân tiêu biểu nhận danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” năm 2020, T.Ư Hội Nông dân Việt Nam đã lần đầu tiên trao danh hiệu “Doanh nghiệp đồng hành cùng nông dân” tặng 27 doanh nghiệp sát cánh cùng nhà nông trong cung cấp tín dụng, giống, vật tư, thu mua và chế biến nông sản.

Tối 13-10, tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam, T.Ư Hội Nông dân Việt Nam phối hợp Ban Tuyên giáo T.Ư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương tổ chức Lễ tôn vinh và trao danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” năm 2020, trao danh hiệu “Doanh nghiệp đồng hành cùng nông dân”.

Dự buổi lễ, có đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư. Cùnng dự, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Thào Xuân Sùng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Trung tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Quốc Phòng; Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội.

Đây là năm thứ tám liên tiếp Hội Nông dân Việt Nam tổ chức tôn vinh “Nông dân Việt Nam xuất sắc”. Năm nay, từ 149 hồ sơ đề cử gương nông dân điển hình tiên tiến từ các địa phương gửi về, T.Ư Hội Nông dân Việt Nam đã bình chọn được 63 cá nhân để trao danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” năm 2020.

Những “Nông dân Việt Nam xuất sắc” năm nay được phân theo năm nhóm lĩnh vực: chăn nuôi; trồng trọt; thủy sản; kinh doanh, cung ứng dịch vụ nông nghiệp; phát minh sáng kiến, có thành tích trong xây dựng nông thôn mới và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Trong đó, có 53 cá nhân là nam, tám cá nhân là nữ; có bảy cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số.

Dịp này, lần đầu tiên T.Ư Hội Nông dân Việt Nam tổ chức trao danh hiệu “Doanh nghiệp đồng hành cùng nông dân” tặng 27 doanh nghiệp tiêu biểu, đồng hành cùng nông dân trên các lĩnh vực: cung cấp tín dụng; cung cấp giống, vật tư, phân bón; thu mua, chế biến nông sản cho nông dân; hỗ trợ xây dựng nông thôn mới.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 13/10/2020

Xây dựng nhà máy điện 3.200 MW tại Bạc Liêu

Chiều 12-10, tại trụ sở UBND tỉnh Bạc Liêu đã diễn ra lễ ký kết bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh Bạc Liêu và các đối tác đầu tư xây dựng dự án Nhà máy nhiệt điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) 3200MW.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đây là dự án FDI lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long tính đến thời điểm hiện nay.

Theo bản ghi nhớ, các bên cam kết dành mọi nỗ lực để phối hợp cùng các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương hoàn thành các nhiệm vụ còn lại của giai đoạn phát triển dự án trong năm 2020 theo đúng tiến độ.

Đại diện Công ty Delta Offshore Energy cho biết: Để hỗ trợ việc đàm phán ký kết hợp đồng mua bán điện, Công ty đã phát hành yêu cầu đề xuất cung cấp (RFP) khí LNG dài hạn vào đầu tháng 9-2020.

Công ty Delta Offshore Energy khẳng định, với đội ngũ đàm phán giàu kinh nghiệm của EVN và các chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp từ tổ hợp các nhà đầu tư, hợp đồng mua bán điện PPA sẽ được hoàn thiện và ký kết vào cuối năm 2020. Dự án sẽ mang lại những lợi ích chung cho cả Việt Nam và Hoa Kỳ nên nhận được sự quan tâm sâu sắc và hỗ trợ tích cực từ cả hai Chính phủ.

Đáng chú ý, việc đàm phán chính thức với EVN về Hợp đồng mua bán điện (PPA) thời hạn 25 năm sẽ bắt đầu ngay sau sự kiện này và thống nhất sẽ được ký kết vào cuối năm 2020.

Hiện tại, công tác thiết kế kỹ thuật (FEED) sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2020, cho phép bắt đầu triển khai dự án ngay trong năm 2021 để tổ máy đầu tiên của nhà máy điện sẽ vận hành phát điện thương mại vào năm 2024.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 12/10/2020

Thủy điện Sơn La đạt sản lượng phát điện 100 tỷ kW giờ

Vào lúc 9 giờ 25 phút sáng 11-10, sau 10 năm vận hành nhà máy thủy điện (NMTÐ) Sơn La và bốn năm vận hành NMTÐ Lai Châu, Công ty Thủy điện (CTTÐ) Sơn La đã đạt sản lượng phát điện 100 tỷ kW giờ.

Với tính chất đặc biệt quan trọng về nhiều mặt, cả hai NMTÐ này đều nằm trong danh mục Công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Từ khi đưa NMTÐ Sơn La vào vận hành còn làm tăng sản lượng phát điện đối với NMTÐ Hòa Bình trung bình 1,2 tỷ kW giờ mỗi năm. Tính đến nay, tổng giá trị nộp ngân sách nhà nước của CTTРSơn La đạt gần 17 nghìn tỷ đồng, trong đó NMTÐ Sơn La là 13.400 tỷ đồng và NMTÐ Lai Châu khoảng 3.600 tỷ đồng.

CTTÐ Sơn La được EVN giao nhiệm vụ quản lý và vận hành hai NMTÐ lớn trên bậc thang Sông Ðà là Thủy điện Sơn La, công suất 2.400 MW (sáu tổ máy) và Thủy điện Lai Châu, công suất 1.200 MW (ba tổ máy). Hai NMTÐ này chiếm khoảng 6,1% tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn quốc, mỗi năm cung cấp khoảng 12 tỷ kW giờ, tương đương khoảng 7% tổng sản lượng hệ thống điện quốc gia.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/10/2020

Khánh Hòa xuất khẩu lô hàng cá ngừ đầu tiên theo Hiệp định EVFTA

Sáng 10-10, tại khu công nghiệp Suối Dầu, Công ty TNHH Hải Vương thực hiện thủ tục xuất khẩu (XK) lô hàng 48 tấn sản phẩm cá ngừ, trị giá khoảng 400 nghìn USD sang Tây Ban Nha.

Đây là lô hàng cá ngừ đầu tiên của cả nước XK vào thị trường Liên hiệp châu Âu (EU) theo Hiệp định EVFTA. Đại diện Công ty TNHH Hải Vương cho biết, kim ngạch XK của doanh nghiệp trong chín tháng năm 2020 đạt 181 triệu USD; trong đó, thị trường EU đạt 46,8 triệu USD. Từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, giá trị xuất khẩu trong hai tháng 8 và 9 của công ty sang thị trường EU đạt 16 triệu USD, tăng hơn 1,5 lần so với bình quân các tháng đầu năm.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/10/2020

Khai trương bến xe khách liên tỉnh lớn nhất nước

Sau gần bốn năm thi công, công trình Bến xe miền Đông (BXMĐ) mới, phường Long Bình, quận 9, đã hoàn thành giai đoạn 1, chính thức tổ chức đưa vào hoạt động khai thác sáng 10-10.

Công trình do Tổng công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn TNHH một thành viên (Samco) làm chủ đầu tư với kinh phí đầu tư giai đoạn 1 gần 700 tỷ đồng.

Dự án BXMĐ mới là một quần thể phức hợp có diện tích trên 16 ha, nằm trên địa phận phường Long Bình, quận 9 – TP Hồ Chí Minh và huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương, bao gồm khu vực bến xe chính kết hợp nhiều dịch vụ tiện ích đi kèm. Quy mô công trình gồm: Nhà ga trung tâm: (4 tầng trên mặt đất và 2 tầng hầm) có diện tích sàn xây dựng khoảng 49.680 m2, Bãi đón trả khách và đậu xe liên tỉnh, Bãi đậu xe chờ tài có diện tích 27.660m2  (dự kiến khoảng 250 chỗ đậu xe chờ tài)…

Với mục tiêu phục vụ bảy triệu lượt hành khách một năm và là hạ tầng phục vụ liên vận quốc tế và đưa khách đến sân bay Long Thành trong tương lai, BXMĐ mới đáp ứng nhu cầu mỗi ngày khoảng 21.000 hành khách với 1.200 lượt xe xuất bến. Ngày cao điểm lễ/ tết lên đến 52.000 hành khách với hơn 1.800 lượt xe xuất bến. Bến xe này được xem là bến xe khách liên tỉnh có quy mô lớn nhất nước.

Trước mắt, kể từ 10-10, BXMĐ mới tổ chức cho 22 tuyến xe khách (thuộc 71 tuyến nằm trong danh mục được Bộ Giao thông vận tải công bố) đi các tỉnh, thành phố từ Quảng Trị trở ra Bắc có cự ly tuyến 1.100 km trở lên hoạt động tại bến xe. Các tuyến này được di dời từ BXMĐ hiện hữu (quận Bình Thạnh) sang BXMĐ mới.

Ông Nguyễn Hoàng Huy- Tổng Giám đốc Công ty TNHH một thành viên BXMĐ, đơn vị được giao khai thác vận hành BXMĐ mới cho biết: Nhằm tạo thuận lợi cho DN vận tải và tạo thói quen đi lại của người dân, trong thời gian ba tháng kể từ ngày 10-10, các đơn vị vận tải tạm thời được tiếp tục lưu đậu và đón trả khách tại BXMĐ hiện hữu trước khi đến bến xe mới hoàn tất các thủ tục xuất bến theo quy định.

BXMĐ hiện hữu tổ chức bán vé ủy thác cho các tuyến đường có đầu bến tại BXMĐ mới. Các đơn vị vận tải phải xây dựng phương án trung chuyển phù hợp trên cơ sở kết hợp với các loại xe vận chuyển khách như xe trung chuyển, xe buýt, taxi, xe hai bánh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 7/10/2020

Việt Nam sẽ tăng trưởng GDP nhanh nhất châu Á năm 2021

HSBC vừa công bố báo cáo nghiên cứu kinh tế dự báo về khả năng phục hồi của các nền kinh tế khu vực châu Á trước những tác động của dịch Covid-19. Theo đó, HSBC dự báo vào năm 2021, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 8,1%, nhanh nhất khu vực châu Á.

Nhờ vào những nỗ lực khống chế dịch Covid-19 lần 1, cho nên sáu tháng đầu năm 2020, Việt Nam vẫn ghi nhận mức tăng trưởng 1,8%. HSBC cho rằng, làn sóng Covid-19 lần 2 đã được Việt Nam ngăn chặn thành công chỉ trong vòng một tháng là một điều đáng khích lệ với nền kinh tế. Các hoạt động kinh tế đang được hồi phục mạnh mẽ, biểu hiện cụ thể qua việc các chuyến bay thương mại dần được nối lại… Vì vậy, Khối Nghiên cứu kinh tế của HSBC kỳ vọng tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt mức 2,6% vào năm 2020. Việt Nam là nền kinh tế ASEAN duy nhất được HSBC tiếp tục dự báo có tăng trưởng khả quan trong năm nay. Sang năm 2021, HSBC dự báo Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phục hồi trên toàn cầu và thu hút được dòng vốn FDI. HSBC kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2021 sẽ đạt mức 8,1% (dự báo trước đây 8,5%). Do dịch Covid-19 tiếp tục gây áp lực giảm phát lên nền kinh tế cho nên HSBC khuyến nghị Việt Nam cần có thêm các chính sách hỗ trợ tiền tệ để giúp nền kinh tế phục hồi.

Trong khi đó, nhận định về tăng trưởng GDP chín tháng của Việt Nam, tờ Nikkei của Nhật Bản nêu rõ, nhờ thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, nền kinh tế Việt Nam không chỉ duy trì tăng trưởng GDP dương mà còn tăng trưởng cao hơn bất kỳ quốc gia Ðông – Nam Á lớn nào khác.

Trong một diễn biến khác, theo báo cáo phân tích kinh tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ ngày 30-9, tăng trưởng kinh tế nước này trong quý II đã giảm 31,4% so cùng kỳ năm ngoái trong bối cảnh số ca mắc Covid-19 liên tục tăng, con số này cao hơn 0,3 điểm % so với dự toán trước đó vào cuối tháng 8. Trước đó, trong báo cáo đưa ra vào cuối tháng 7, Bộ Thương mại Hoa Kỳ ước tính tăng trưởng GDP trong quý II đã giảm ở mức 32,9% so cùng kỳ năm 2019. Trong quý I, GDP của Mỹ đã giảm ở mức 5% so cùng kỳ năm 2019…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/10/2020

Chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 116/2020/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm. 

Theo đó, sinh viên sư phạm được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí bằng mức thu học phí của cơ sở đào tạo giáo viên nơi theo học. Bên cạnh đó, sinh viên sư phạm được Nhà nước hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạt trong thời gian học tập tại trường. Tuy nhiên, sinh viên sư phạm đã hưởng chính sách phải bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt nếu không công tác trong ngành giáo dục sau hai năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp hoặc sinh viên tự chuyển sang ngành đào tạo khác, tự thôi học, không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc bị kỷ luật buộc thôi học…

Nghị định có hiệu lực từ ngày 15-11-2020 và áp dụng bắt đầu từ khóa tuyển sinh năm học 2020 – 2021.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/10/2020

Hoa Kỳ tặng 100 máy thở hỗ trợ phòng, chống Covid-19

Sáng 30-9, Chính phủ Hoa Kỳ thông qua Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã tặng 100 máy thở do Hoa Kỳ mới sản xuất để hỗ trợ Việt Nam trong công tác phòng, chống đại dịch Covid-19.

Buổi lễ trao tặng có sự tham dự của GS, TS Nguyễn Thanh Long, quyền Bộ trưởng Y tế Việt Nam, Ngài Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J.Kritenbrink, Giám đốc USAID Việt Nam Michael Greene.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu và tại Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ quyết định trao tặng Việt Nam 100 máy thở mới sản xuất. Việc trao tặng thiết thực này được thực hiện theo đề nghị của Tổng thống Donald Trump về hỗ trợ những thiết bị cần thiết giúp Việt Nam tăng cường khả năng ứng phó với đại dịch Covid-19.

Số máy thở này được sản xuất tại Mỹ với công nghệ tiên tiến, nhỏ gọn, dễ lắp đặt và vận hành. Việc bổ sung thêm các máy thở cho công tác điều trị bệnh Covid-19 sẽ giúp tăng cường năng lực điều trị của Việt Nam, đặc biệt là đối với những bệnh nhân mắc Covid-19 cần sự hỗ trợ của máy thở.

Phát biểu tại buổi lễ trao tặng, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J. Kritenbrink cho biết: “Thế giới ấn tượng với chiến lược và các giải pháp chủ động của Việt Nam trong phòng, chống Đại dịch Covid-19, nhưng dịch bệnh nghiêm trọng này vẫn là một mối đe dọa đối với Việt Nam và cả thế giới. Hoa Kỳ cảm kích về sự hỗ trợ của Việt Nam về các thiết bị bảo hộ cho cuộc chiến phòng, chống Covid-19 của Hoa Kỳ. Dựa trên nền tảng mối quan hệ bền chặt giữa hai nước chúng ta trong 25 năm qua, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ những người bạn tại Việt Nam thông qua việc trao tặng 100 máy thở để giúp ứng phó với đại dịch Covid-19”.

GS, TS Nguyễn Thanh Long, quyền Bộ trưởng Y tế đánh giá đây là sự kiện quan trọng đánh dấu quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong lĩnh vực y tế cũng như phòng, chống Covid-19. Với những máy thở được hỗ trợ lần này, Bộ Y tế giao Bệnh viện Phổi Trung ương đại diện tiếp nhận và phân phối, sử dụng.

Ngoài số máy thở này, Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua USAID cam kết tài trợ  9,5 triệu đô-la cho Việt Nam để ứng phó đại dịch Covid-19 nhằm trợ giúp cải thiện chăm sóc lâm sàng, phổ biến các thông điệp sức khỏe, tăng cường năng lực phòng xét nghiệm, cải thiện công tác giám sát dịch tễ cũng như hỗ trợ sự hồi phục của khu vực kinh tế tư nhân thông qua giảm nhẹ những tác động của đại dịch Covid-19 lên nền kinh tế Việt Nam.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/10/2020

Việt Nam lọt vào tốp quốc gia được yêu thích nhất thế giới

Tạp chí du lịch uy tín Condé Nast Traveler mới đây đã công bố giải thưởng Readers’ Choice Awards năm 2020 do độc giả bình chọn, trong đó Việt Nam đứng thứ 9 trong tốp 20 quốc gia là điểm đến du lịch được yêu thích nhất năm 2020. 

Tạp chí du lịch nổi tiếng này đã tổ chức hệ thống giải thưởng Readers’ Choice Awards 33 năm qua với các hạng mục quốc gia, thành phố, đảo, bãi biển, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, du thuyền, hãng hàng không…

Theo Condé Nast Traveler, Giải thưởng năm 2020 là một điều đặc biệt bởi những chuyên gia, độc giả của tạp chí – hầu như đều không ai đi du lịch nước ngoài, do ảnh hưởng dịch Covid-19. Những cái tên mà họ đưa ra dựa trên tiêu chí đem lại sự thoải mái, kết nối thông tin giúp người đọc vượt qua những ngày “khủng hoảng” vì không được đi du lịch. Condé Nast Traveler đánh giá Việt Nam có rất nhiều nơi cho du khách khám phá, từ các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cho tới Hội An với ẩm thực đường phố, phong cảnh thiên nhiên hay những đền, chùa linh thiêng. Đất nước với bờ biển trải dài hơn 3.260 km có rất nhiều danh thắng đẹp từ rất nhiều bãi biển, hòn đảo đẹp cho tới đồi núi, ruộng bậc thang hùng vĩ, lăng tẩm cổ kính…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/11/2020

Khai mạc cuộc thi tài năng biểu diễn múa 2020

Tối 9-10, tại Nhà hát Quân đội, thành phố Hồ Chí Minh, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam tổ chức lễ khai mạc “Cuộc thi Tài năng diễn viên Múa – 2020”. 

Cuộc thi diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh (9 và 10-10) và Hà Nội (từ 12 đến 15-10). NSND Nguyễn Quang Vinh, Quyền Cục Trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Trưởng Ban Tổ chức cuộc thi cho biết, năm nay, Ban tổ chức mở rộng phạm vi đối tượng tham dự cuộc thi. Ngoài những nghệ sĩ múa thuộc các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp công lập, cuộc thi còn có sự tham gia của nhiều thí sinh tự do, thí sinh thuộc các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập.

Thí sinh được sử dụng các tác phẩm đã công bố, không sử dụng tác phẩm đã biểu diễn và đoạt giải trong các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam tổ chức, đồng thời khuyến khích các thí sinh đăng ký các tác phẩm múa mới sáng tác.

Cuộc thi tổ chức 1 vòng trực tiếp và chia làm bốn bảng với bốn phong cách múa: ballet cổ điển Châu Âu và ballet hiện đại; đương đại; dân gian dân tộc, dân gian đương đại và truyền thống và phong cách múa sử dụng các ngôn ngữ, kỹ thuật, kỹ xảo của các thể loại nhảy múa đương đại như: Hip hop, Popping, Breakdance, Locking, Waacking. Cuộc thi thu hút hơn 100 cá nhân, đơn vị tham gia dự thi. Ban Tổ chức sẽ trao giải Nhất, Nhì, Ba và giải Khuyến khích cho các thí sinh xuất sắc ở các bảng thi.

Cuộc thi Tài năng biểu diễn Múa – 2020 nhằm phát hiện, khuyến khích, động viên các tài năng trẻ đã dành nhiều tâm huyết, đóng góp cho sự nghiệp phát triển của nghệ thuật Múa trong những năm qua tiếp tục được thể hiện tài năng. Đây còn là dịp để các diễn viên múa giao lưu, trao đổi nghề nghiệp, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ về kỹ thuật, kỹ xảo và nghệ thuật biểu diễn nhằm đáp ứng các tiêu chí của các cuộc thi Múa khu vực và quốc tế. Đặc biệt, cuộc thi nhằm giới thiệu nghệ thuật múa Việt Nam đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế, ban tổ chức sẽ phát trực tiếp tất cả các tiết mục dự thi trên kênh Youtube “Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam”.

Lễ tổng kết và trao giải sẽ được diễn ra vào ngày 17-10 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/10/2020

Hai cháu Trúc Nhi, Diệu Nhi xuất viện

Sáng 7-10, sau gần ba tháng được Bệnh viện Nhi Đồng TP Hồ Chí Minh thực hiện cuộc đại phẫu tách rời, hai bé sinh đôi Trúc Nhi – Diệu Nhi đã được xuất viện. 

Tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố, cả hai bé đều rất tươi tỉnh, tự ngồi vững, đứng được với sự hỗ trợ của cha mẹ.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi Đồng chia sẻ, sau ca đại phẫu được thực hiện thành công ngoài mong đợi, quá trình hậu phẫu ê-kíp các bác sĩ, điều dưỡng đã tích cực theo sát các bé. Suốt 84 ngày vừa qua là một hành trình với nhiều cảm xúc từ hồi hộp, lo lắng khi hai bé thường xuyên xuất hiện các tình trạng nhiễm trùng, phải điều trị thở máy lâu, nuôi ăn qua đường tĩnh mạch. Với sự nỗ lực của các nhân viên y tế dần dần tình trạng được cải thiện.

Trước đó, vào tháng 7-2019, Bệnh viện Nhi Đồng TP Hồ Chí Minh tiếp nhận từ Bệnh viện Hùng Vương một trường hợp song sinh dính nhau đặc biệt. Đây là trường hợp sản phụ 25 tuổi mang thai lần đầu, vào tuần lễ thứ 16 của thai kỳ được phát hiện mang thai đôi dính nhau vùng bụng chậu, hai thai có chung một dây rốn. Sản phụ được mổ lấy thai chủ động lúc thai 33 tuần, cân nặng lúc sinh cả hai bé được 3,2 kg.

Qua thăm khám các bác sĩ nhận định đây là trường hợp song sinh dính nhau vùng bụng chậu với bốn chân tách rời theo kiểu ischiopagus tetrapus (quadripus) cực kỳ hiếm gặp. Theo ước tính trên thế giới, tỷ lệ song sinh dính nhau là 1/200.000 trẻ sinh sống. Trong số đó, chỉ có 6% là dính nhau kiểu ischiopagus tetrapus.

Ngày 15-7, sau nhiều lần hội chẩn, song Nhi được gần 100 y, bác sĩ phẫu thuật tách dính. Ca phẫu thuật hoàn thành tốt đẹp sau 12 giờ, hai bé được đưa về phòng hồi sức ngoại theo dõi và chăm sóc đến nay. Ngày 27-7, phần bó bột trên đôi chân hai bé được các bác sĩ tháo dần dần. Các ngón chân và bàn chân đã cử động thuận lợi, thoải mái. Song song với theo dõi sức khỏe sau phẫu thuật, nuôi dinh dưỡng, hai bé được hỗ trợ tập vật lý trị liệu.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/10/2020

Trao Giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” lần thứ 13

Chiều 7-10, tại Trung tâm Thông tấn quốc gia (số 5, phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội), báo Thể thao và Văn hóa đã trao giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 13 năm 2020. 

Tại lễ trao giải, Ban tổ chức đã công bố công bố các đề cử giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” lần thứ 13 ở bốn hạng mục: Giải thưởng Lớn, giải Tác phẩm, giải Việc làm, giải Ý tưởng.

Qua sự bầu chọn của Ban Tổ chức, Giải thưởng Lớn năm nay đã vinh danh nhạc sĩ Phú Quang. Theo đánh giá của Hội đồng giám khảo, nhạc sĩ Phú Quang không chỉ thể hiện tình yêu Hà Nội qua nhiều tác phẩm giá trị như: Em ơi Hà Nội phố, Hà Nội ngày trở về, Im lặng đêm Hà Nội, Lãng đãng chiều đông Hà Nội…, cuộc đời ông luôn đau đáu một tình yêu Hà Nội.

Ở hạng mục Tác phẩm, chàng trai trẻ sinh năm 1987 Marko Nikolic người Serbia được tôn vinh với tiểu thuyết Phố Nhà Thờ.

Hạng mục Việc làm năm nay có hai nhóm tác giả nhận giải. Thứ nhất là Dự án nghệ thuật công cộng phường Phúc Tân do UBND quận Hoàn Kiếm triển khai với sự đồng hành của Hội Kiến trúc sư Hà Nội. Với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ, dự án đã biến một khu vực vốn là nơi tập kết rác của người dân địa phương thành con đường nghệ thuật. Giải Việc làm thứ hai được trao cho nhóm “Nhân sĩ Hà Đông”, gồm một số nhà văn, nhà nghiên cứu với hoạt động dâng tặng lại sắc phong cho các làng xã ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành cả nước…

Hạng mục giải Ý tưởng đã được trao cho Ý tưởng thiết kế và xây dựng cột mốc Km0 tại Hồ Gươm.

Giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” được tổ chức nhằm tôn vinh những đóng góp của các tổ chức, cá nhân đối với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Qua đó, đã góp phần khuyến khích, động viên mọi người có những hành động cụ thể vì Thủ đô thân yêu.

Trong khuôn khổ của Lễ trao Giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội”, báo Thể thao và Văn hóa đã tổ chức khai mạc lãm ảnh “Bùi Xuân Phái – Trăm năm một tình yêu Hà Nội” của họa sĩ Trần Chính Nghĩa. Một triển lãm khác cũng được khai mạc trong dịp này là triển lãm tranh của Bùi Xuân Phái và một số họa sĩ vẽ Bùi Xuân Phái.

Triển lãm sẽ trưng bày đến hết ngày 11-10.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/10/2020

Sôi động Giai điệu núi rừng

Với chủ đề “Giai điệu núi rừng”, nhiều hoạt động thiết thực, bổ ích, ý nghĩa sẽ diễn ra từ nay đến hết ngày 31-10 tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc (VHDLDT) Việt Nam. 

Thông tin từ Làng VHDLDT Việt Nam cho biết, hoạt động tháng 10 có sự tham gia của hơn 100 đồng bào của 16 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái, Mường, Ơ Đu, Khơ Mú, Tà Ôi, Cơ Tu, Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai, RagLai, Ê Đê, Khmer) với sự tham gia của 12 địa phương, với các điểm nhấn của các địa phương có đồng bào hoạt động hàng ngày (Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Sóc Trăng).giai dieu nui rung

Chương trình điểm nhấn của tháng 10 là các hoạt động “Tiếng gọi đại ngàn” với chương trình “Vũ điệu tây Nguyên” trong các ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần và giới thiệu, trình diễn các hoạt động nghề truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Ý tưởng của hoạt động điểm nhấn này là lấy âm nhạc làm chủ đạo và không gian văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đang hoạt động tại Làng.

Chương trình tạo điểm nhấn thu hút du khách tiếp tục hưởng ứng chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát động, chương trình kích cầu du lịch nội địa với chủ đề “Du lịch Việt nam an toàn, hấp dẫn” và các hoạt động chào mừng ngày 20-10 Ngày phụ nữ Việt Nam.

Đặc biệt, đồng bào dân tộc X’tiêng đến từ tỉnh Bình Phước sẽ tái hiện Lễ cầu mưa độc đáo của dân tộc mình. Lễ hội cầu mưa là một nghi thức khá phổ biến trong cộng đồng dân tộc X’tiêng của Bình Phước cũng như các cư dân nông nghiệp phía Nam Trường Sơn – Tây Nguyên.

Sau phần nghi lễ sẽ là phần hội cùng với sự tham gia của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Và đồng bào dân tộc X’Tiêng cũng tổ chức Chương trình giao lưu âm nhạc “Bom Bo một bản hùng ca” là những âm thanh rộn rã, nhịp nhàng mang hơi thở, nhịp sống của đồng bào X’tiêng như đánh cồng chiêng, kèn lá, đàn đá…

Đồng bào dân tộc Ê Đê đến từ tỉnh Đắk Lắk sẽ trình diễn, giới thiệu âm nhạc dân gian, diễn tấu cồng chiêng, giới thiệu về bộ cồng chiêng kết hợp cùng với các nhạc cụ độc đáo đàn T’rưng, Đinh Pút…dân ca, vòng xoang rộn rã mang đến một không gian đậm chất Tây Nguyên huyền thoại (hòa tấu hòa tấu Cing kram, hát đối đáp, đàn T’rưng…)…

Vào dịp cuối tuần thứ bảy, chủ nhật trong tháng còn có chương trình du lịch Homestay với tên gọi “Một ngày bản buôn” để du khách trải nghiệm tại nhà Mường, Tày, Thái tại Khu các làng dân tộc.

Các hoạt động trong tháng 10 góp phần tăng cường giới thiệu cảnh quan, không gian sống gắn với đồng bào các dân tộc theo từng địa phương vùng miền. Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động hàng ngày phát huy giá trị của nghề thủ công truyền thống gắn với không gian văn hóa của đồng bào, cuối tuần nhằm giới thiệu nét văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào, cùng các hoạt động trải nghiệm tại “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Từ đó góp phần tăng cường giao lưu giữa các dân tộc, thu hút khách du lịch đến với Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam bảo đảm chuyển trạng thái hoạt động bình thường thực hiện mục tiêu kép vừa phòng chống dịch Covid – 19 vừa hoạt động thu hút khách du lịch hưởng ứng chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam”.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/10/2020

Kỷ luật tập thể và cá nhân đội bóng nữ Phong Phú Hà Nam

Liên quan đến những vi phạm trong trận đấu giữa hai đội TPHCM I và Phong Phú Hà Nam tại vòng 5 giải bóng đá nữ VĐQG 2020 diễn ra vào tối 6/10, ngày 7/10 Ban kỷ luật Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) đã có quyết định xử phạt.

Sau khi xem lại băng ghi hình cùng báo cáo của Giám sát trận đấu, Ban kỷ luật VFF đã quyết định cảnh cáo toàn đội Phong Phú Hà Nam, phạt 50 triệu đồng và xử thua với tỷ số 0-3 trước đội TPHCM I do có hành vi rời khỏi sân không tiếp tục thi đấu trong trận đấu giữa hai đội TPHCM I và Phong Phú Hà Nam ngày 6/10/2020 trên sân VFF.

Ngoài ra, hai cá nhân có liên quan cũng bị xử phạt. Cụ thể, HLV Nguyễn Thế Cường (đội Phong Phú Hà Nam) bị phạt 5 triệu đồng và cấm tham gia các hoạt động bóng đá do Liên đoàn Bóng đá Việt Nam quản lý, tổ chức với thời gian 5 năm, do có hành vi để các cầu thủ rời khỏi sân không tiếp tục thi đấu trong trận đấu trên. Cầu thủ Trần Thị Hồng Nhung với vai trò đội trưởng đội Phong Phú Hà Nam bị đình chỉ thi đấu 2 trận do có hành vi để các cầu thủ rời khỏi sân không tiếp tục thi đấu trong trận đấu trên.

Trở lại với trận đấu giữa hai đội TPHCM I và Phong Phú Hà Nam vào tối 6/10, đến phút 89 khi tỷ số đang hòa 1-1, đội nữ TPHCM I được hưởng quả đá phạt 11m sau khi trọng tài xác định cầu thủ đội Phong Phú Hà Nam có hành động phạm lỗi cùng cầu thủ đối phương trong vòng 16m50. Ngay sau đó một số cầu thủ đội Phong Phú Hà Nam phản ứng quyết định trọng tài và không tiếp tục thi đấu. Đại diện Ban tổ chức giải, Giám sát trận đấu đã xuống sân thuyết phục HLV Nguyễn Thế Cường và đội trưởng Hồng Nhung nhưng không thành công. Khoảng 35 phút sau khi trận đấu bị dừng, tổ trọng tài đã hội ý và quyết định cho dừng trận đấu.

Với kết quả xử lý vào ngày 7/10, đội nữ TPHCM I tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng với 15 điểm, theo sau là đội Hà Nội I có 13 điểm. Cuộc so tài giữa hai đội này ở vòng 6 vào ngày 10/10 sẽ mang tính chất như trận tranh chung kết lượt đi.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/10/2020

Lực lượng quản lý thị trường phát hiện, xử lý gần 65 nghìn vụ vi phạm

Tổng cục Quản lý thị trường (QLTT) vừa cho biết, trong chín tháng năm 2020, lực lượng QLTT trên cả nước đã phát hiện, xử lý gần 65 nghìn vụ vi phạm; thu nộp ngân sách nhà nước hơn 215 tỷ đồng; ước giá trị hàng tịch thu chưa bán hơn 250 tỷ đồng.

Dự báo từ nay đến cuối năm là thời gian cao điểm của hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021. Do đó, Tổng cục QLTT đã chỉ đạo lực lượng QLTT cả nước tiếp tục thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương, các bộ, ngành liên quan, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; triển khai các đợt cao điểm đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, góp phần bảo vệ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nước.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 6/10/2020

Khen thưởng Ban chuyên án triệt phá tội phạm ma túy

Ngày 5-10, UBND tỉnh Long An và Ban Giám đốc Công an tỉnh tổ chức khen thưởng Ban chuyên án đã triệt phá thành công vụ vận chuyển 16kg ma túy tại xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.ban chuyen an ma tuy

Để kịp thời biểu dương thành tích của lực lượng chiến sĩ công an trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, UBND tỉnh Long An đã thưởng 30 triệu đồng, Ban Giám đốc Công an tỉnh thưởng 20 triệu đồng cho Ban chuyên án đã triệt phá thành công vụ vận chuyển 16kg ma túy tại ấp Tầm Đuông, xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An vào tối 30-9.

Công an tỉnh Long An cho biết, qua theo dõi, nắm tình hình, tháng 7-2020, lực lượng trinh sát đã phát hiện một đường dây vận chuyển ma túy có quy mô lớn trên khu vực biên giới thuộc địa bàn xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường.

Ngay sau đó, Công an tỉnh Long An đã thành lập Ban chuyên án để đấu tranh, triệt phá. Qua một thời gian theo dõi, khoảng 22 giờ đêm 30-9, Ban chuyên án đã tiến hành bắt giữ một đối tượng tại ấp Tầm Đuông, xã Bình Hiệp (thị xã Kiến Tường), tang vật thu giữ là 16kg ma túy các loại.

Qua khai thác, Ban chuyên án tiếp tục bắt thêm một đối tượng liên quan trong đường dây vận chuyển và tàng trữ ma túy này. Vụ việc đang được Công an tỉnh Long An mở rộng điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Tại lễ trao thưởng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Nguyễn Văn Được biểu dương và đánh giá cao thành tích của Ban chuyên án; đồng thời nhấn mạnh, hoạt động tàng trữ, vận chuyển ma túy trên khu vực biên giới thuộc địa bàn tỉnh Long An thời gian qua có chiều hướng gia tăng.

Theo đó, đồng chí Phó Bí thư Thường trực đề nghị Công an tỉnh phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương, thực hiện tốt công tác nắm chắc địa bàn, kiểm tra, kiểm soát, triệt xóa các đường dây, đối tượng tàng trữ, vận chuyển ma túy qua địa bàn.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/10/2020

Tước giấy phép hai tháng đối với Tạp chí Môi trường và Xã hội

Ngày 30-9, Cục trưởng Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) Nguyễn Thanh Lâm ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạp chí Môi trường và Xã hội, vì thông tin sai sự thật về Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.

Theo quyết định nêu trên, Tạp chí Môi trường và Xã hội đã thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng trong bài viết: “Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk bị tố “đạo” luận án, gian dối học thuật?”, đăng trong số đặc biệt 16-2020, được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 8, Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. Cục Báo chí quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạp chí Môi trường và Xã hội số tiền 50 triệu đồng. Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép hoạt động báo in số 487/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 9-10-2017 trong thời gian hai tháng. Tạp chí cũng phải thu hồi ấn phẩm Tạp chí Môi trường và Xã hội đặc biệt số 16-2020. Tạp chí Môi trường và Xã hội phải thực hiện cải chính và xin lỗi theo quy định và chịu mọi chi phí thực hiện việc khắc phục này.

Tháng Mười 6, 2020

Trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 6:11 sáng

 Blog PhamTon năm thứ năm mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

TRƯỞNG NỮ CỦA HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh, sinh ngày 27/10/1913 (tức 28 tháng 9 năm Quý Sửu) tại nhà số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, sau anh trai là Phạm Giao, trưởng nam, sinh năm 1911. Nhưng, bà lại mất ở Bạc Liêu, tại nhà con gái út, nơi bà sống tám năm cuối đời, ngày 16/12/2000 (tức 21 tháng 11 năm Canh Thìn).

Đám tang bà giản dị, ngoài gia đình cô con út sống ở Bạc Liêu, hai con trai từ Hà Nội, chỉ có cháu đích tôn, bố mẹ cháu, bốn người cháu gọi bằng bác, một người bạn của gia đình từ Thành phố Hồ Chí Minh về và bà con lối xóm, bạn bè vợ chồng cô con út. Đó chính là làm theo lời bà dặn từ nhiều năm trước khi mất mà tất cả các con đều nhớ rõ: “Suốt đời mẹ chỉ sống cho gia đình, không làm nên việc gì ích nước lợi dân, cho nên mẹ muốn khi chết, không loan báo trên báo đài gì hết, chỉ những bà con gần gũi biết là được rồi.

Đám tang lặng lẽ đi trong mưa nhẹ phương Nam…

Cuộc đời gần một thế kỷ của bà không ít thăng trầm, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới và hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc suốt hơn ba mươi năm ròng,  và thời bao cấp khốn khó sau chiến thắng thống nhất đất nước. Bà đã làm tròn trách nhiệm người công dân Việt Nam yêu nước thương nòi như thân phụ bà và làm tròn nhiệm vụ người vợ thảo, người mẹ hiền, một mình nuôi dạy bầy con thơ dại nên người.

Ba bo va chu than

*

*      *

Là con gái trưởng, gia đình lại đông con, mới 15 tuổi đầu bà đã phải phụ mẹ lo việc gia đình, chăm sóc đến…tám em nhỏ. Kể cả bế ẵm các em, cho các em ăn. Cho nên bà chỉ học tiểu học, không được học lên.

Năm 18 tuổi thì lấy chồng, một chàng trai xứ Huế, có chí, có tài, nhưng nghèo, con một quan huyện từ quan khi chưa đến tuổi bốn mươi, vì không chịu làm theo lệnh quan Tây đi bắt Cộng sản, những người mà ông khẳng định lương thiện, không thể bắt.

Vợ 18, chồng mới 24, lại gánh một gánh nặng bên nhà chồng đông chị em…

Bà không bao giờ quên những ngày còn ở bên cha mẹ, mà bà gọi là thầy, me. Bà gần gũi với cha, thức chép các bài cha dịch miệng đến khuya, đun nước pha trà cho cha, bổ cam cha xơi lấy sức mà làm việc. Chính ông đặt tên cho bà là Giá, cái giá, vì khi mới sinh, bà trắng như cái giá. Thật là dân dã nôm na và biết bao yêu thương. Khi bà sinh con gái đầu lòng, cũng là lúc ông vào Huế làm quan, ông bảo khi nào cho cháu vào Huế là thăm được cả bên nội, bên ngoại. Hai vợ chồng bà sống nhiều năm tại nhà số 5 phố Hàng Da, nơi gia đình ông từng sống và có thời còn là trụ sở tạp chí Nam Phong nổi tiếng hồi đầu thế kỷ XX. Các em Phạm Bích học Luật, Phạm Khuê học Y đều sống ở nhà bà. Ngoài ra, còn có ông anh họ và em trai chồng bà cũng từ Huế ra Hà Nội học. Vợ chồng bà cưu mang tất cả. Chồng bà là Tôn Thất Bình, dạy học ở trường Gia Long, sau là hiệu trưởng điều hành của Trường trung học Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng. Từ ngày có con đầu lòng, ông còn nhận làm chủ bút cho tờ La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam). Mỗi tháng lĩnh lương, ông lại bỏ tiền vào từng cái hộp gỗ nhỏ, ngoài có ghi tên từng đứa con, để sau này lo cho việc học hành của các con. Gia đình bà Giá sống êm ấm như vậy cho đến năm 1945, nhiều biến cố đã xảy ra, khiến bà từ một phụ nữ chỉ biết lo cơm ngon canh ngọt, dạy dỗ các con đã phải đứng ra chèo chống cả một gia đình, mà không phải chỉ là gia đình nhỏ của riêng bà.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, em trai Pham Khuê về nghỉ hè ở Huế vội ra báo cho chị biết cha đã bị bắt ngày 23/8. Bà cùng chồng và vợ chồng người em gái là bà Phạm Thị Thức và bác sĩ Đặng Vũ Hỷ bàn nhau phải xin gặp Cụ Hồ để kêu oan và giao cho em Khuê là người biết rõ sự việc viết thư trình Cụ. Bà nhờ ông Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và công tác ở văn phòng Chủ tịch xin được gặp. Ông Phan Bôi là em ruột ông Phan Thanh, cùng làm việc ở Trường Thăng Long với chồng bà Giá. Ông Nam sốt sắng nhận lời và sau đó, ngày 31/8/1945, hai chị em bà được Cụ Hồ tiếp lúc 11 giờ, nhận thư, ngay sau khi Cụ duyệt lại lần cuối cùng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập sẽ đọc ngày 2/9.

Sau này, bà vẫn nhớ mãi thái độ thân thiết ân cần của người đứng đầu Nhà nước trong buổi tiếp và lời dặn của Cụ nói các chị cứ yên tâm, tôi sẽ xem xét. Chính vì thế, bà lại càng không thể hiểu được vì sao sau đó thân phụ lại bị hạ sát bí mật, hơn ba tháng sau mới công bố trên hai tờ báo nhỏ của địa phương.

Bấy giờ, bà đang bụng mang dạ chửa cô con út.

Sau quốc khánh đầu tiên của nước ta, báo chí loan “tin vui” là từ nay chấm dứt các vụ bắt bớ, nhân dân yên tâm làm ăn dưới chế độ mới. Nhưng lạ thay, vẫn có “ngoại lệ”. Tối 7/9/1945, có hai người xưng là học trò cũ, đến nhà xin đưa thầy Tôn Thất Bình đi giữa lúc ông cùng gia đình đang ăn bữa tối. Quá bất ngờ và đau khổ tột cùng, bà Giá đau bụng dữ dội và đã sinh con gái út ngay 10 giờ đêm hôm sau, 8/9/1945.

Những tưởng “hai học trò mời thầy đi có việc” ít lâu sẽ về nên bà Giá chưa vội cho làm khai sinh, chờ chồng về làm như những lần trước. Nhưng chờ mãi không thấy, mới nhờ em rể là dược sĩ Phùng Ngọc Duy làm giấy khai sinh cho cháu. Thành ra, trễ mất 10 ngày. Nay đã ở tuổi 65 mà chưa biết mặt cha, giấy khai sinh của bà Tôn Nữ Thanh Nhàn vẫn ghi ngày sinh là 18/9/1945.

Đẻ con xong, bà hoàn toàn mất sữa và bị liệt, mắt mờ, phải điều trị hơn nửa năm mới đi lại được và nhìn thấy đường. Bà lo ngay việc kiếm sống cho gia đình nay đã mất nguồn sống do chồng mang về hằng tháng, lại cưu mang thêm bao nhiêu người ngồi không. Vì từ sau ngày 23/8, được sự giúp đỡ của ông Hoàng Hữu Nam, cả đại gia đình trong Huế đã ra sống ở nhà số 5 phố Hàng Da này. Ông anh cả và bà vợ hai với ba con, các em trai gái, cộng lại tất cả gần hai chục miệng ăn. Bà em đón mẹ và các em nhỏ về sống cùng, còn lại, bà gánh hết… Đi lại được là bà Giá lên bà em có chồng dược sĩ mở hiệu thuốc, cất thuốc, cho vào cái làn mây trắng nhỏ, xách đi bán ở các nhà quen, vì hồi ấy thuốc khan hiếm, ai cũng cần. Rồi lại nhờ ông Hoàng Hữu Nam, biết được chỗ và được cấp phép đi thăm nuôi chồng “an trí” ở Hoài Đức Hà Đông, mang cho chồng sách học tiếng Anh Anglais sans Peine (Tiếng Anh dễ học) để ông học cho qua thời giờ. Cậu em Phạm Khuê, thương chị và hiểu cảnh nhà, ngày đi học, tối ra rạp Olympia ở trước chợ Hàng Da, kéo đàn phong cầm trước khi chiếu phim, Phạm Tuyên, mới 15 tuổi, chưa làm được gì… Cứ thế, bà Giá dốc dần các hộp nhỏ đề tên các con ra để chi tiền chợ hằng ngày. Cho đến năm 1946, tình hình kinh tế gia đình đang lúc kiệt quệ nhất thì có lệnh tản cư, toàn quốc kháng chiến bắt đầu.

Gia đình bạn bè bà đều về quê, nhưng bà biết về quê nào… Quê chồng thì quá xa, quê cha thì đã mấy đời định cư ở Hà Nội rồi, còn ai biết mình! Bàn với bà bạn thân là Nguyễn Thị Nội, ở ngay trước cửa nhà, cùng phố. Thì bà này mời về quê chồng, tức họa sĩ Nguyễn Cát Tường, cha đẻ của áo dài tân thời, cũng là thầy dạy vẽ ở trường Thăng Long. Thế là bà Giá chân yếu tay mềm, ngày trước chỉ nhất nhất theo lời chồng, đã dẫn đại gia đình gần 20 người cả lớn lẫn bé kéo nhau về làng Tràng Cát Hà Đông. May nhà ông anh họ họa sĩ có cái nhà mới làm, chuẩn bị cho con trai lấy vợ, ba gian, hai chái, tường gạch, mái rơm sẵn sàng cho mượn. Cả non hai chục con người về đấy, cũng vào rừng vải quét lá mà đun, ra sông nông trong vắt mò trai, hến, vẹm mà nấu, xào. Dần dà, trẻ con người lớn đều bị ghẻ lở như dân làng, phải nấu lá xoan mà tắm. Và đau mắt đỏ, phải nhỏ … nước muối. Mùa đông, nẻ, rán mỡ gà mà thoa mặt. Con út bà đành sống bằng cháo loãng pha với đường đỏ. Con trai út, thì ăn một bát xôi nhỏ mỗi sáng cùng cô bé chị họ đều ba tuổi. Còn tất cả, từ năm tuổi trở lên, thì nhịn. Ngày chỉ ăn hai bữa cơm độn ngô, khoai với củ cải muối cả củ như dân làng. Hôm nào mò được trai, sò, hến thì mới có chất đạm.

Được hơn nửa năm thì kiệt quệ quá, bà bàn với Phạm Khuê, 21 tuổi, tìm về nhà bà em kế là bà Thức đang ở quê chồng tận Nam Định. Móc nối được rồi, bà Thức cho người ra Hà Đông đón, cả nhà đi thuyền về Nam Định. Đến ngã ba sông Tam Tòa, Nho Quan thì bị vướng một thảm bèo dày hàng thước, người đi trên mặt bèo được, dài hàng cây số, do tắc ở hàng cọc cắm xuống lòng sông để “chống tàu chiến giặc Pháp”. Phải bỏ thuyền nhỏ, đi bộ trên bèo, lên thuyền lớn mới về đến nhà bà em.

Ở đấy được hơn một năm thì cô con thứ hai của bà ho ra máu mấy lần, chỉ còn cách đưa về Hà Nội may ra mới cứu được. Bà đành bỏ lại con gái lớn và hai con trai nhờ bà ngoại nuôi, đưa con gái đau yếu và hai con nhỏ ra Hà Nội. Phải thuê người gánh mới đi nổi đường xa. Thằng anh năm tuổi, một bên thúng; thúng kia con em gầy yếu phải dằn thêm mấy hòn gạch mới gánh được.

Bà đi sau, đỡ con gái đau yếu. Vất vả lắm mới theo kịp người đàn bà nhà quê gánh hai con nhỏ. Cuối cùng cũng về đến Hà Nội tạm bị giặc Pháp chiếm. Gặp lại bà em có chồng dược sĩ tạm lo cho nơi ăn chốn ở là bà nghĩ ngay đến việc đưa con gái đi chữa bệnh. Chiếu điện, thì ra bị lao nặng, hai phổi đã nát gần hết. Hồi ấy, ở Hà Nội cũng chưa có thuốc đặc trị, nghe nói còn đang thử nghiệm tận bên Pháp. Bà em đành lo thuốc thang cho cháu với các thuốc tìm được, “cầm cự được tới đâu hay tới đó”. Cô gái 14 tuổi phải kiêng khem, ăn riêng, ở riêng một buồng nhỏ. Khổ nhất mà cũng buồn nhất là không được lại gần hai em ở cùng nhà, lại khôn nguôi nhớ ba chị em ở xa. Một đêm mưa lạnh, bà đang nằm bên hai con nhỏ thì nghe có tiếng thét to, ghê rợn, hốt hoảng từ buồng con gái. Bà vội chạy ngay đến mở cửa thì thấy cô gái mặt xanh nhợt, đang gục đầu bên thau rửa mặt đầy máu. Bà đỡ ngực con, vuốt nhẹ lưng, lấy khăn lau mặt cho sạch rồi hỏi nhẹ nhàng: “Nó ra thế này là tốt lắm, con có thấy nhẹ người không…”. Cô gái nhắm mắt nằm yên trong lòng mẹ, thở nhẹ nhàng và thiu thiu ngủ. Sau này, chính bà cũng không hiểu vì sao lúc ấy mình có thể bình tĩnh, mà nói được câu ấy… Bà gọi thợ may về nhà, may đo cho cô một cái áo dài lót bông màu đỏ sẫm, nổi bật khuôn mặt thanh tú, xinh đẹp của cô gái 15 tuổi, đôi má bà thêm chút phấn hồng. Bà đưa cô đi xem kịch ở nhà hát lớn, tối tối lại đọc truyện cho cô nghe. Các truyện trinh thám, mới đọc được nửa chừng , cô đã đoán ra kết cục, không muốn nghe nữa. Những chuyện tình cảm thì thường là buồn, kết thúc bi đát, bà không muốn cô thêm nặng lòng vì những chuyện không đâu. Cuối cùng, chỉ đọc truyện cổ tích và chuyện cười. Cứ như thế, hằng ngày bà đi mua đồ gỗ cũ về nhà sơn hoặc đánh véc ni lại, cho sửa chữa chút ít rồi bán giá rẻ cho những gia đình mới “hồi cư” về Hà Nội, cũng tạm đủ tiền ăn hằng ngày. Tiền thuốc men chữa bệnh tốn kém nhất thì đã có bà em lo. Nhưng rồi cũng chỉ cầm cự được gần hai năm thì cô gái mất, đám tang toàn hoa loa kèn trắng.

Ít lâu sau, ba đứa con nương nhờ bà ngoại cũng về đoàn tụ với gia đình. Cô con cả đi làm cho bà em ở hiệu thuốc, còn hai em trai, bà lo tìm ngay chỗ học cho con. Lỡ năm học, đành vào học trường tư. Lại thêm một khoản tiền phải chi. Bà bỏ nghề bán đồ gỗ cũ chuyển sang mở cửa hàng may y phục phụ nữ và trẻ em. Được mấy năm thì nghe tin Hà Nội sắp giải phóng. Bạn bè, bà con đến khuyên gia đình bà nên đi Nam “để tránh cộng sản”, chí ít, cũng nghĩ đến tương lai các con trai mà cho chúng đi. Bà vẫn quyết định cả nhà ở lại. Lý do thật đơn giản mà vững chắc: Bà chờ chồng về… Mấy ngày trước khi Hà Nội giải phóng, đọc các tờ rơi kêu gọi đồng bào chuẩn bị đón quân ta vào giải phóng thủ đô, bà cho may thật nhiều cờ đò sao vàng, bày ở tầng dưới quầy. Có tối, lính Tây mũ đỏ say sỉn sau khi nốc rượu ở quán gần nhà, vào cửa hàng, thấy có bày bán cờ đỏ sao vàng chúng hỏi. Thì bà thản nhiên đáp bằng tiếng Pháp: “Cờ của nước chúng tôi đó…” Chúng nghe, rồi xua tay, bỏ đi, không gây gổ gì. Cà nhà và hàng xóm nữa, ai cũng sợ. Còn chính bà Giá, sau này nói với mọi người là không hiểu sao lúc ấy mình không sợ mà lại dám nói như thế.

Rồi Hà Nội giải phóng, cả nhà bà vui mừng cùng đồng bào thành phố đón quân ta về, mong ngày đoàn tụ với người thân mười năm xa cách. Tối nào bà cũng đi họp phụ nữ, con cái thì đi họp thanh niên, thiếu nhi mong hiểu thêm về chế độ mới. Rồi cháu đích tôn của học giả Phạm Quỳnh là Phạm Vinh về, là bộ đội văn công. Và em trai Phạm Khuê cũng về thăm, là đại úy quân y. Cuối cùng là Phạm Tuyên, từ Khu học xá trung ương tận bên Trung Quốc cũng về. Theo nếp cũ gia đình, hễ họp nhau là cùng hát. Nhưng là những bài hát mới do những người mới về dạy cho. Có cả bài Liên Xô, Trung Quốc lời Việt.

 Vui thì cũng vui nhưng chưa trọn vẹn. Chồng bà vẫn chưa về, mà cũng chẳng có tin tức gì. Bấy giờ, bà mới nghĩ là sao lại không viết thư hỏi người đồng nghiệp dạy cùng trường Thăng Long với chồng ngày xưa, nay đã là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bà bảo con viết thư gửi đại tướng hỏi xem nay chồng bà ở đâu, xin cho biết tin. Thì ít lâu sau, nhận được thư trả lời của Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhân Dân Việt Nam: Một bản in sẵn, chỉ điền tên người vào. Đại ý: Xin gia đình vui lòng cho biết đồng chí Tôn Thất Bình, nhập ngũ ngày nào, tại đâu và trực thuộc đơn vị nào…. Thế là tiêu tan hy vọng! Rồi sau đó, có việc truy quét thổ phỉ Bắc Hà, bà lại nhờ người quen ở Mặt trận Tổ Quốc dò hỏi hộ trong số người bị chúng bắt và sử dụng có chồng mình không. Nhưng tất cả đều vô vọng. Gia dinh ba Pham Thi Gia

Cô con lớn , làm cho bà em cùng theo vào Nam giúp việc dì nơi đất mới, với hy vọng chỉ hai năm sẽ lại về với mẹ nhân hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève.

Nay thì đã vắng tin chồng, lại bặt tin con. Tuy vậy, bà vẫn hòa nhập vào cuộc sống mới đầy khó khăn vất vả. Có cái máy khâu, bà góp vào hợp tác xã may gia công, hằng ngày đi bộ hai buổi đến nơi làm việc. Tối lại họp phụ nữ, làm đại biểu phụ nữ khu phố. Chủ nhật thì làm vệ sinh viên, lo tiêm chủng, săn sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, còn tham gia lao động chân tay, dùng chảo nhà mang đi múc bùn hôi thối góp phần xây dựng công viên Thống Nhất, đi quét rác làm đẹp thành phố.

Rồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, bà theo hợp tác xã lên Hà Bắc sơ tán, tiếp tục sản xuất, cứ mỗi tháng đều cố về Hà Nội một lần “cho đỡ nhớ” và thăm con trai thuộc ngành giao thông vận tải, vẫn làm việc tại Hà Nội. Có lần bà đem cả một con gà mình nuôi, rán lên, làm món trộn thật ngon lành cho con trai sống một mình, ăn cơm tập thể. Nhưng anh con dăm hôm sau mới về nhà, thấy mấy hàng chữ phấn trắng mẹ viết trên mặt bàn lúc hai giờ sáng là “đã đến giờ phải ra tàu lên Hà Bắc, không đợi con được, chúc con ăn ngon miệng món con vẫn thèm”. Bên cạnh đó là một dĩa rau trộn héo úa và đĩa gà rán đã lên meo bông trắng.

Thời gian hợp tác xã may sơ tán lên Hà Bắc, bà Giá vẫn làm thêm nhiệm vụ vệ sinh viên như khi công tác phụ nữ đường phố. Bà phát thuốc, tiêm chích thuốc thông thường, chữa cảm, cúm, mỏi mệt hoặc sơ cứu các vết thương… Một lần Mỹ bắn phá khu vực hợp tác xã, có xã viên và cả dân làng bị thương, bà đều đem  túi thuốc đến cấp cứu kịp thời. Từ băng bó đến ga rô cho máu ngừng chảy, kịp thời sơ cứu để đưa lên tuyến trên an toàn. Mặc bom rơi, đạn bắn, bà vẫn làm nhiệm vụ đúng với lương tâm người làm nghề thuốc, dù chỉ là một vệ sinh viên bình thường, không hưởng lương. Có người hỏi vì sao bà bình tĩnh được trong những hoàn cảnh như vậy, bà bảo lúc đó tôi chỉ biết có người bị thương, bị đau, không thấy gì khác. Rồi bà kể chuyện năm xưa khi con gái thổ huyết giữa đêm lạnh. Ai cũng cảm mến bà. Và phục nữa. Dù bà không bao giờ đạt năng xuất cao hơn người.

Đến cuối năm 1972, Mỹ ném bom B52 rải thảm Hà Nội thì gia đình bà lại… đoàn tụ ở thủ đô. Các con xin bà thôi việc ở hợp tác xã, về nhà lo mấy bữa ăn cho các con. Bà xin về. Khi thanh toán thì hóa ra những lần về Hà Nội, bà đều có vay một ít tiền, nay tính lại số tiền ấy gần bằng tiền hóa giá cái máy khâu. May mà còn đủ tiền cho bà mua vé tàu về nhà. Bà rất mừng là không phải vay mượn vào ngày chia tay Hợp tác xã.

Hằng ngày, các con đi làm sau khi ăn bữa sáng tuy đạm bạc nhưng nóng hổi, ngon lành do bà chuẩn bị từ sớm. Sau đó, bà đi Pham Thi Giamua thực phẩm ở các điểm bán hàng dã chiến, người bán hàng ngồi ngay trên miệng một hố cá nhân tránh bom. Một tối, bà khoe với các con là đã tìm được một điểm mua không phải xếp hàng, chỉ phải gọi một tiếng là có người bán hàng ngay. Các con hỏi và kinh hãi khi bà cho biết bà “mua thực phẩm ở ngay đầu cầu Long Biên. Ngay trên tầng cao của cầu đã có bộ đội phòng không sẵn sàng tay súng thường trực, không phải lo máy bay”.

Rồi Hiệp định Pari, hòa bình lập lại trên cả nước. Đám cưới con trai út của bà đón dâu bằng ba chiếc xe đạp. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đi một xe. Con trai thứ đèo một bà bạn bà. Con trai út đón cô dâu. Bữa ăn đón dâu do bà và bà bạn nọ cùng vợ chồng con gái út chuẩn bị.

Sau ngày đất nước thống nhất, con trai cả và út đều đã có gia đình, con cái ở Hà Nội. Con trai thứ chưa vợ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Con gái về quê chồng Bạc Liêu cùng các con. Bà lần lượt sống với bốn con, bao giờ cũng cố gắng có mặt lúc các con cần mình nhất như khi sinh con hoặc cưới.

Những năm cuối đời, bà sống ở Bạc Liêu cùng con gái út, lại lo cho con cháu đến hết đời. Bà bảo: “Không gì vui bằng khi trông thấy đứa cháu nhỏ mỉm cười sau cơn sốt hầm hập kéo dài”. “ Mẹ không cần Tết, đối với mẹ khi nào các con sum họp thì đó là ngày Tết của mẹ rồi”

Bà có cái thú là viết thư cho chị em và các con. “Viết thư, mẹ thấy như được gặp mặt và trò chuyện với những người thân yêu vậy.” Chính nhờ những lá thư đó và tấm lòng kính yêu vô hạn của bà với thân phụ mà nhà báo Phạm Tôn mới có tài liệu sinh động, cụ thể, tỉ mỉ để viết nên những trang gây xúc động lòng người đăng trên các báo Xưa và Nay ( Người nặng lòng với nước), Công giáo và Dân tộc (Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước), Nghiên cứu và Phát triển (Người nặng lòng với nhà) và  nhà báo Nguyễn Trung có bài trên Công giáo và Dân tộc ( Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta). Thư bà viết bao giờ cũng đem lại niềm vui sâu đậm cho người nhận.

Bà còn có tài kể chuyện sinh động đến mức có chuyện thế này: Các bạn xã viên cùng bà đi dự một đám cưới con một bà bạn cùng phân xưởng. Hôm sau đi làm là nài nỉ bà kể lại cho họ nghe chuyện đám cưới mà chính họ cùng dự với bà hôm trước. Để rồi cười trước cả khi bà sắp kể đến những đoạn vui trong đám cưới đó. Thành ra, thật không phải nói quá là bà có gien văn nghệ cha truyền. Vì lo cho cha, chồng, con, cháu mà bà hy sinh hai tài năng của mình là viết văn và diễn kịch. Chỉ còn là những tài lẻ, sở thích đem lại niềm vui cho mọi người thân. Cả trong và ngoài gia đình bà.

Chẳng thế mà nữ sĩ Tương Phố (14/7/1900-8/11/1973) tác giả Giọt lệ thu nổi tiếng một thời lại gắn bó thân thiết với bà. Xuân Quý Tị 1953, nữ sĩ đã viết tặng bà bài Âm thầm lòng em trên giấy mỏng, đóng thành một quyển sách nhỏ. Bài thơ gồm hai câu mở đầu và mười khổ, mỗi khổ bốn câu, chữ cuối câu cuối khổ này lại là chữ mở đầu của câu đầu khổ sau, cứ thế cho đến hết. Trong bài, có những câu:

Con dại một bầy ăn học dở

Mình em kiêm mẹ lại kiêm cha

Năm trôi lận đận chỉ vì con!

Con lớn, con khôn, mẹ héo hon.

Mai mốt sân hòe dù nảy quế,

Trăm năm nghĩa cả có vuông tròn?

Trang 0 (am tham)

(…)

Tuong pho_Am Tham Long Em 2

Trang đầu và khổ thứ 10 của bài thơ

 Kỷ niệm 10 năm ngày mất bà Phạm Thị Giá (16/12/2000-2010)

D.T.

Âm thầm lòng em

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

ÂM THẦM LÒNG EM…

Nữ sĩ Tương Phố

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon tuần thứ 3 tháng 12 năm 2010 có đăng bài Trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh; cuối bài, có nhắc đến nữ sĩ Tương Phố và trích dẫn mười câu trong bài thơ dài nữ sĩ viết tặng bà Phạm Thị Giá. Nhiều bạn đọc đã hỏi chúng tôi về bài thơ chưa từng ai biết này. Nay chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về nữ sĩ Tương Phố và đăng tại đây toàn văn bài thơ này, với bút tích của chính nữ sĩ, viết rất đẹp và rõ ràng, dễ đọc để các bạn yêu nữ sĩ có thêm tư liệu hiếm và mong cũng sẽ cảm thụ sâu xa hơn.

Từ điển văn học –bộ mới của Nhà xuất bản Thế giới (2004) viết về nữ sĩ như sau: “Tương Phố (1896-1973) Nhà thơ nữ Việt Nam, tên thật là Đỗ Thị Đàm, sinh tại thôn Đầm, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. 1917, học trường nữ sư phạm Hà Nội, ra trường không đi dạy học. Chồng là y sĩ Thái Văn Du, mất sớm, để lại cho bà niềm đau thương cô quạnh, và đó cũng là cảm hứng sâu nhất làm nên những sáng tác trữ tình trong gần suốt đời văn của bà. Bắt đầu làm thơ từ 1919-1920, trong những ngày chồng đang du học tại Pháp, chủ đề xoay quanh nỗi nhớ mong chồng. Sáng tác nổi tiếng một thời là bài văn xuôi pha biền ngẫu Giọt lệ thu, viết 1923, đăng báo năm 1928. Bài văn có xen tám đoạn thơ lục bát và song thất, là tiếng khóc thê thiết của một người vợ trẻ, đằng đẵng ba năm chờ chồng du học, mới về tới Huế, chưa gặp mặt vợ con đã mất, “thôi thế là thôi, một giải khăn ngang, năm thân gấu sổ, trăm năm tâm sự, còn nói năng gì.” Nỗi đau của người vợ quyện vào nỗi sầu mùa thu – thu ân ái, thu chia ly, thu tang tóc – mùa thu vừa gợi nhắc những kỷ niệm lứa đôi, vừa phơi rõ thêm tình cảnh cô quạnh: “nhà không nóc, mưa gió mai ngày, cuộc đời xoay xở biết làm sao?”. Đầu những năm 1930, bài văn được một nữ dịch giả người Pháp, dịch ra tiếng Pháp, được một số nhà phê bình, cả những nhà phê bình Pháp, chú ý. Sau đó, bà tiếp tục viết những bài văn, bài thơ cùng loại, đăng báo Nam Phong, như Một giấc mộng (1928), Mối thương tâm của người bạn gái (1928), Bức thư rơi (1929), Tái tiếu sầu ngâm (thơ, 1930), Khúc thu hận (thơ, 1931)… Những tác phẩm trên về sau được tập hợp lại thành các tập Giọt lệ thu (1952), Mưa gió song Tương (1960), Trúc mai (…) Thơ Tương Phố trước sau chỉ quanh trong hai thể lục bát và song thất, thỉnh thoảng có đôi bài Đường luật, lời lẽ sầu thảm như văn xuôi”. (Bài Âm thầm lòng em ra ngoài các thể loại này – BPT chú).

Đầu những năm 1950, bà Phạm Thị Giá và gia đình về lại phố Hàng Da, nhưng không sống ở nhà số 5 mà là nhà số 16 cùng phố. Nữ sĩ Tương Phố có đến nhà số 5 hỏi, thì được biết con gái trưởng của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, người cho đăng Giọt lệ thu và nhiều bài thơ khác của bà lên Tạp chí Nam Phong, hiện sống ở nhà đối diện bên kia đường. Từ đó, hai bà gặp nhau và ngày càng thân thiết, vì cùng cảnh thay chồng làm cha nuôi dạy con. Nữ sĩ hồi ấy sống ở phố Phạm Phú Thứ, ngay cạnh chợ Hàng Da, chỉ đi qua chợ là đến nhà bà Phạm Thị Giá. Hai bà còn thường gặp nhau khi cùng đi một chợ mua thức ăn hằng ngày. Xuân Quý Tị, nữ sĩ không lại chúc tết gia đình, nhưng sau tết, lại mang đến tặng một món quà tình nghĩa mà bà Phạm Thị Giá trân trọng giữ bên mình suốt mấy chục năm trời, lâu lâu lại giở ra đọc, nhớ bạn mà cũng thương thân mình, sung sướng vì có người hiểu thấu lòng mình. Hoá ra, nữ sĩ cũng là người cùng cảnh, suốt đời sống với mối tình đầu.

Hồi ký của mẹ

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 6:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

CHUYỆN MỘI NGƯỜI CHÁU NGOẠI

HỒI KÝ CỦA MẸ

Đến đây để tiếp tục mạch truyện chúng tôi thấy không gì thích hợp hơn là đăng bản Hồi ký do mẹ tôi – Cụ Phạm Thị Giá trưởng nữ của Thượng Chi


Phạm Quỳnh viết. Hồi ký sẽ làm sáng rõ một số sự việc mà tôi không thể viết trong Chuyện một người cháu ngoại. Lý do là không được chứng kiến hoặc không được nhân chứng cung cấp tư liệu.

Cuối năm 1991, mẹ tôi và cả gia đình hạnh phúc được đón chị Tôn Nữ Thị An, chị cả tôi xa gia đình từ năm 1955. Chị vào Nam, rồi sang Mỹ, nay về nước gặp cả mẹ và các em các cháu về thăm, được sống với mẹ tôi ở nhà 82 Lý Chính Thắng suốt một tháng trời.

Sau khi chị đi Mỹ rồi thì mẹ có ý muốn về thăm gia đình em út Tôn Nữ Thanh Nhàn ở Bạc Liêu. Sau những ngày vui vẻ gặp chị và các con cháu trong nước về thăm mẹ cũng mệt. Tôi mời bác sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, đại tá quân y lâu nay vẫn theo dõi sức khỏe mẹ. Bác sĩ khám và cho thuốc bồi bổ. Đến khi bác sĩ khám lại thấy sức khỏe hoàn toàn bình thường, chúng tôi mới dám lo việc để mẹ đi xa.

Cháu Nguyễn Hoàng Hải tốt nghiệp đại học xong công tác luôn ở Sài Gòn, được trao trọng trách đưa bà nội về nhà mẹ cháu ở Bạc Liêu. Gia đình ba người chúng tôi và bà con ở Vườn Anh Đào tiễn bà ở cổng nhà. Hôm đó là ngày 22/2/1992, sinh nhật tôi 52 tuổi nên tôi nhớ rõ.

Tôi vốn biết mẹ thích chụp ảnh nên cứ có dịp là chụp. Một chiều, ba người gia đình tôi đi chơi công viên Lê Văn Tám chụp ảnh bằng cái máy mới mua bằng tiền bố vợ cho. Máy thô sơ, phải lên phim bằng tay. Về nhà thấy mẹ đang ngồi viết thư ở hiên gác mặc dù trời đã về chiều, ánh sáng hầu như không còn. Tôi ngắm được khuôn hình quá đẹp thể hiện rõ nhất tính cách của mẹ khi đang chăm chú viết thư – việc mẹ rất ưa thích, để hết tinh thần vào trang viết, vì toàn viết cho con em những người mẹ yêu thương. Năm sau, 1993 mẹ tròn 80 tuổi. Tôi chọn đủ 40 bức ảnh ghi chân dung và mọi hoạt động của mẹ, làm thành một an bom tặng mẹ mừng sinh nhật 80 tuổi. Ngoài ra còn chọn bức ảnh mẹ ưa thích nhất mặc áo dài xanh phóng to lên lồng khung kính đẹp nhờ cháu Hải mang về cho bà.

Khi mẹ đã cao tuổi, tôi đưa mẹ ra chùa Vĩnh Nghiêm gần nhà, mẹ thăm tháp cốt ngỏ ý khi nào mất mẹ muốn được hỏa thiêu rồi gửi cốt ở chùa này.

Khi mẹ xuống Bạc Liêu, tôi lo xa nên xin mẹ viết cho một bức Di chúc để khi mẹ nằm xuống anh em cứ thế mà làm khỏi thảo luận lôi thôi, người ngoài không hiểu lại tưởng là tranh chấp gia tài gì chăng.

Năm 1995, tôi nhận được Di chúc mẹ viết như viết một bức thư: Mấy lời tâm sự cùng các con yêu quí. Tôi sao ra gửi anh chị em cả trong và ngoài nước mỗi người một bản. Từ ngày 26 đến 28/4 năm 1996, tôi đưa vợ chồng cậu Phạm Tuân và vợ là mợ Hoàng Hỷ Nguyên từ Mỹ về thăm mẹ. Mẹ đưa tôi tập Hồi ký. Sau này em gái tôi biết mới viết thư lên bảo GỬI XUỐNG NGAY CHO MẸ. Tôi không biết lý do. Nhưng vẫn làm theo. Tôi vốn không ưa tranh cãi, nhất là với người nhà, lại là em gái. Lần cậu Phạm Tuân về có đem theo máy quay viđêô và quay rất nhiều: cả lúc dừng bên đường mua dứa, uống nước dừa cho đến nhiều hình ảnh mẹ tôi trong thời gian cậu mợ ở Bạc Liêu nhà vợ chồng em gái. Khi về Sài Gòn còn bao nhiêu thì ghi hết ở nhà tôi. Chủ yếu là cậu hỏi và tôi trả lời như một cuộc phỏng vấn mọi chuyện cậu và bà con bên Mỹ muốn biết những gì diễn ra ở Việt Nam chung quanh các sự việc về Ông Ngoại. Gia đình tôi xem xong thì gửi ngay xuống cho mẹ như cậu dặn. Mấy năm sau, con trai em hỏi tôi có bản sao nào thì cho mẹ cháu một bản. Tôi nói chỉ có một bản ấy, gửi cho mẹ cháu rồi. Thế là tôi biết bản cậu gửi về nhờ tôi chuyển cho mẹ có thể đã không còn. Rút kinh nghiệm đau đớn đó, lần này tôi phô tô ngay một bản rồi gửi BẢN CHÍNH TAY MẸ VIẾT CHO EM GÁI.

Đến nay -2020- có ý định đưa lên mạng trong Chuyện một người cháu ngoại tôi mới đọc toàn bộ tập mẹ đưa năm ấy. Ngoài Hồi ký còn có bản Di chúc mà tôi gợi ý mẹ viết. Di chúc ghi rõ viết xong tại Bạc Liêu ngày 20/3/1995. Còn cuối Hồi ký lại ghi theo âm lịch Ngày rằm tháng chạp Quý Dậu, tức là ngày 26/1/1994. Ngoài ra mẹ tôi còn chép theo trí nhớ “Mấy bài liên hoàn do nữ sĩ Tương Phố tác giả bài Giọt lệ Thu đăng ở báo Nam Phong. Bà lại chơi thăm khi bà ngoại mất năm 1953, cám cảnh gia đình mình đang đau xót tang tóc nên tặng mấy bài liên hoàn”. Mẹ viết cuối những bài thơ của nữ sĩ Tương Phố như vậy. Tiếp đó, còn viết theo trí nhớ bài thơ nổi tiếng Chiêu hồn nước – sau phần thơ, mẹ viết “Chỉ nhớ được đến đây thôi sau 75 năm (Thật ra là 67 năm. Mẹ sinh năm 1913, năm 14 tuổi học thuộc bài thơ này. Viết lại năm 1994. 1994-1913-14:67 – PT chú)

Đọc xong những gì mẹ viết tôi quyết định đăng nguyên văn. Chỉ chú thích khi thật cần thiết để bạn đọc dễ theo dõi và có được tư liệu chính xác mong hiểu thêm tấm lòng của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh, cũng hiểu thêm những con người của một thời nhiều biến động ở nước ta cuốn theo số phận biết bao con người.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8/9/2020 trong trạng thái bình thường mới mùa Covid 19.

Phạm Tôn

Phần đầu Hồi ký

Phần cuối Hồi ký

Mấy lời tâm sự cùng các con yêu quý

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 5:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

Mấy lời tâm sự cùng các con yêu quý

Phạm Thị Giá

Đệ  An, Đại Thủy, Thành Đông, Thân Trang, Nhàn Long, Thái Đảnh (năm cặp đầu là vợ chồng con đẻ của mẹ. Cặp cuối cùng, chị Vũ Bích Thái là con nuôi mẹ – PT chú)

Tạo hóa sinh ra muôn loài vạn vật ở trên đời, cùng với cái nghiệp “Sinh, lão, bệnh tử”. Còn đối với con người thì có câu “Sinh ký tử qui” “Sống gửi thác về”, cho dù có không chết về bệnh tật, tai nạn thì mãn số cũng sẽ về nơi thế giới khác.

Mẹ nay đã ngoài 80 tuổi (Mẹ sinh năm 1913 tại Hà Nội – PT chú), cuộc sống như vậy cũng là thọ rồi. Cuộc đời mẹ ngọt bùi đã trải, và đắng cay cũng đã từng!

Nhất sinh trong đời mẹ không gì quí bằng các con. Nghĩ khi gia đình ta bị cơn tai biến, ông Ngoại và Ba (Ông ngoại là Phạm Quỳnh, Ba là Tôn Thất Bình, cha chúng tôi – PT chú) các con ra đi không có ngày về! Lòng mẹ đau đớn tưởng chừng như chết đi được! Nhưng nhìn lại các con, các con là tài sản của mẹ, là nguồn vui sống của mẹ, là nhiệm vụ, là bổn phận mẹ phải thay Ba các con, nuôi dưỡng các con, cho học hành cho đến nơi đến chốn, sau này sẽ trở thành những người hữu ích cho xã hội!

Các con đã được hưởng di sản những cái tinh hoa của hai bên Nội Ngoại là : Thông minh, hiếu học, chân chính, trung thực và rất là hiếu thảo. Các con đã trưởng thành, đem những trí tuệ và học hỏi trong bao năm ở nhà trường, đem hết sức mình và nhiệt tình ra đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc xây dựng đất nước, các con đã có một địa vị trong xã hội.

Các con đã lập gia đình, với tình yêu trong sáng, chân chính và thủy chung nên gia đình các con đều được êm đềm hạnh phúc, điều đó mẹ rất vui lòng.

Mẹ lúc nào cũng hết lòng thương yêu các con, ở với con nào cũng thương con, quí cháu! Nhưng hạnh phúc đâu có ở cùng ta mãi mãi! Một ngày kia mẹ  sẽ phải xa các con, qui luật của tạo hóa là như vậy!

Mẹ biết khi đó các con sẽ đau khổ, tiếc thương một người mẹ hiền đã hết lòng thương yêu các con! Nhưng các con đã rất hiếu nghĩa đối với mẹ, các con luôn làm cho mẹ được vui lòng, không còn phải ân hận gì nữa! Lúc tuổi già mẹ được sống đầy đủ giữa tình thương yêu quí mến của các con, các cháu đã hết lòng chăm sóc mẹ!

Nghĩ đến ngày mẹ sẽ phải xa các con, cháu, mẹ coi như là một giấc ngủ dài, mẹ sẽ gặp được những người trong gia đình đã về trước, trong lòng thanh thản không chút ân hận gì, vì mẹ đã làm tròn nhiệm vụ với các con.

Nguyện vọng của mẹ là khi mãn số sẽ đưa đi hỏa táng và đem cốt về thờ ở nhà em Nhàn. Việc này Long Nhàn và các cháu đã nhất trí: “Mẹ sống ở với chúng con thì khi mẹ mãn số gia đình chúng con sẽ thờ cúng Bà suốt đời! Hằng ngày thắp nén hương tưởng niệm Bà nó ấm cúng và giữ mãi được lòng hiếu thảo đối với Bà, không phải đưa đi đâu cho phiền phức nữa!

Vậy các con cứ theo như vậy cho mẹ được thỏa mãn!

Vĩnh biệt các con, các cháu!!!

Mẹ

*

*        *

Sau khi mẹ mất các con đừng làm cáo phó, mà chỉ báo cho các người thân trong gia đình biết thôi. Cuộc đời mẹ mấy chục năm trời, sống âm thầm, buồn tủi, không muốn ai biết đến tông tích gia đình mình cả! Thì nay lúc mất đi cũng để cho mọi người quên đi còn hơn!!

Sau khi hỏa táng cốt sẽ đem về để ở nhà em Nhàn, em sẽ lo cúng tuần tiết, và sau một năm anh Đại có về ở hẳn nước nhà, (Hồi mẹ viết Di chúc, anh Đại công tác tại Ănggôla-PT chú) sẽ đem cốt mẹ ra thờ cúng cho đúng thủ tục, “danh chính ngôn thuận” con trai trưởng giữ giỗ Tết gia tiên.

Bạc Liêu, ngày 20/3/1995.

Mẹ

—o0o—

Tôn Thất Thành ghi thêm:

Trích thư ngày 28/10/1997 của cụ Phạm Thị Giá

Ngày 28/10/1997, mẹ viết thư cho gia đình tôi kể chuyện sinh nhật hôm trước tại Bạc Liêu. Trong thư mẹ viết: Nay theo như mẹ suy nghĩ thì khi mẹ mất đi không cáo phó, ai đến thì cảm ơn thôi. Hỏa táng thì mẹ đã suy nghĩ kỹ âm dương cách biệt, không nên để cốt ở nhà anh Đại mà sẽ đưa lên thành phố Hồ Chí Minh, gửi vào chùa Vĩnh Nghiêm để mẹ hằng ngày được nấp bóng Đức Phật nghe kinh kệ cho thoải mái vong linh. Chùa to cảnh đẹp lại ở trung tâm thành phố đông đúc vui vẻ. Nhất là gia đình con chắc là vẫn ở thành phố Hồ Chí Minh. Đích tôn của bà cũng sẽ lại thăm chùa lễ Phật. Mẹ nói điện thoại, chị An cũng đồng ý và rất vui. Việc này mẹ đã suy nghĩ kỹ và vui nếu mọi việc diễn ra đúng theo nguyện vọng của mẹ là hỏa táng rồi đưa lên chùa Vĩnh Nghiêm là tốt đẹp hơn cả. Nay mẹ khỏe mạnh và vui lắm, chỉ có hai chân hơi yếu và lưng mỏi thôi.

Trước khi mẹ chúng tôi mất mấy ngày, anh cả Tôn Thất Đại đã xuống Bạc Liêu cùng em gái là con út bàn bạc. Ai cũng đã có và đọc “Di chúc” cả rồi, nói chung thực hiện theo dúng di nguyện của mẹ. Riêng về việc hỏa thiêu ngay sau khi mất, thì khi gia đình chúng tôi xuống Bạc Liêu buổi trưa, mẹ mất ngay tối đó, anh cả cho biết em út không tán thành hỏa thiêu vì như thế nóng khổ mẹ lắm. Anh không tranh cãi và chúng tôi là phận con thứ, cũng không phản đối. Vì thế năm 2000 ấy, mẹ tôi chưa hỏa táng mà chôn trong áo quan gỗ tốt, có trà khô và nhiều chất hút ẩm để xung quanh. Chị An ở Mỹ biết chuyện rất không hài lòng. Mãi đến năm 2006, em út mới báo các anh về Bạc Liêu để cải táng mẹ. Vì chủ đất muốn lấy lại đất để bán. Và đưa linh cữu đến một chùa đồng bào Khơ me có lò thiêu.

Vì thế sáu năm sau khi mẹ mất chúng tôi mới hỏa thiêu và đưa tro cốt mẹ về đặt ở chùa Vĩnh Nghiêm thành phố Hồ Chí Minh. Việc này do anh cả và tôi quyết định. Anh về nước, tôi đưa anh đến thăm chùa này và kể lại chuyện mẹ đã đến thăm cả tháp cốt, ngỏ ý muốn gửi cốt tại đây. Mẹ nói nay mẹ còn thì các em và các con từ xa có về thể nào cũng đến thăm, nhưng khi chỉ còn nấm mộ thì chắc khó có ai từ xa về chịu lặn lội về viếng. Còn mẹ ở đây, hằng ngày được nghe kinh kệ, ngày Tết ngày giỗ thì có con, sau này còn có đích tôn của bà lo hương khói. Ai ghé Sài Gòn cũng dễ viếng thăm. Hai anh em tôi thống nhất ý kiến như vậy và gặp ngay ban quản trị chùa vừa may có một chỗ đặt hũ cốt trống, có một gia đình xin lĩnh lại đem về quê. Chúng tôi làm ngay giấy đóng tiền cho chắc chắn. Nên năm 2006 cải táng đưa lên chùa đã có sẵn chỗ rồi, chỉ còn làm lễ an vị thôi.

Sau này chùa mở rộng và hiện đại hóa khu đặt tro cốt, con trai tôi tức là đích tôn của bà đã đặt luôn ba ô tủ để cốt: mẹ tôi và vợ chồng tôi sẽ luôn ở gần bên nhau.

Ngày mồng một Tết, ngày rằm tháng bảy và ngày giỗ mẹ, chúng tôi đều đến chùa Vĩnh Nghiêm trước khi cúng ở nhà riêng.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/9/2020.

T.T.T.

Ba chị yêu thương của tôi

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 5:49 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 2 tháng 10 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – HỒI KÝ CỦA MẸ – PHỤ LỤC

BA CHỊ YÊU THƯƠNG CỦA TÔI

Phạm Tôn

Trong Hồi ký viết năm 81 tuổi, mẹ viết: Nhớ lại mấy lần sanh trước, ngày nào anh cũng lại thăm, mua những bông hồng đẹp cắm vào lọ để ngay đầu giường, dặn anh bếp mua gà kho (gừng) làm đồ ăn kiêng, tối lại đem báo chí vào cho coi. Anh còn sửa soạn cho các con mặc áo đẹp tử tế vào thăm mẹ và em bé, nhìn các con hai má đỏ hồng, (tôi) hỏi: Ai đánh phấn hồng cho các con đó thì các con nói Ba đấy mẹ. Thì ra anh muốn vợ vui lòng và tỏ vẻ biết chăm sóc con cái cho vợ yên tâm nằm nghỉ.

Tôi tin là lần bố tôi làm đẹp cho ba công chúa là lần mẹ tôi sinh anh Tôn Thất Đại, đích tôn của dòng họ, cũng là cứu tinh cho mẹ tôi sau khi là dâu trưởng mà lại sinh một loạt ba ả tố nga. Tất nhiên bố tôi quá mừng rồi.

Mẹ tôi kể năm 1935, ai cũng mong mẹ sinh con trai. Nhưng lại sinh một bé gái, mạnh khỏe, xinh xắn. Bà con bảo dáng nó thế là sắp thành con trai rồi. Khi mẹ sinh tôi, chị bao giờ cũng lại gần mẹ nài nỉ xin cho con bế em bé. Nài nỉ cho đến được bế mới thôi. Anh Đại kém chị hai tuổi, nhưng là con cưng nên thường bắt nạt chị, giành giật đồ chơi của chị. Chị giận quá bảo: Đại cứ bắt nạt chị thế này, chị chết sẽ hóa thành con ma bóp cổ em đấy. Mẹ tôi cười, sống còn chẳng làm gì được nó, chết thì làm được gì. Chị ôm mặt khóc nói me không thương con. Chị sống bên tôi, bế tôi được sáu tháng thì mất ngày 20/8/1940. Hình như vì bệnh than, miệng lưỡi đen. Khi bốc mộ, không còn gì vì chị mất khi mới năm tuổi, xương cốt tiêu hết.

Chị Mỹ sinh trước chị Nga một năm. Chị xinh đẹp nhất trong ba chị. Nhưng cũng yếu ớt nhất, có trái tim lạc chỗ nằm bên phải. Chị rất tinh ý, thông minh, hay ưu tư, không hồn nhiên mạnh mẽ như chị An. Hồi sống ở làngVạn Lộc, chị cùng anh em tôi ở nhà dưới, mẹ và chị An ở nhà gác với bà ngoại và các cô cậu. Một hôm tôi chạy ra cửa định lên gác chơi, chị gọi lại, bảo đừng lên, em không thấy là mình mặc áo quần vá sao. 14 tuổi cậu Khuê khám kỹ, bảo với mẹ là chị bị lao, ở đây không chữa được vì không có thuốc và máy chiếu điện. Mẹ phải đưa chị ra Hà Nội tạm chiếm. Chị mất năm 1949, vừa tròn 15 tuổi giữa mùa hoa loa kèn trắng như chị mong. Đám tang chị toàn hoa trắng, xe tang cũng trắng.

Sau mấy năm xa mẹ, ba chị em An, Đại, Thành về lại Hà Nội gặp mẹ và hai em. Mẹ đưa cho từng người quà chị Mỹ gửi lại. Chị An được một hộp nhiều con chỉ màu và kim. Anh Đại được cây bút máy đẹp và cuốn sổ. Tôi không hiểu vì sao chị cho một cục tẩy và cây bút chì trong một hộp toàn những chiếc lược nhựa đủ màu xinh xắn. Có lẽ vì khi xa chị tôi còn là một đứa bé chưa định hình. Tôi lục tìm trong di vật của chị, tìm được mấy trang giấy có chữ chị. Thương nhất là Ba điều ước của chị: Mong chóng khỏi, khỏe mạnh. Mong bố chóng về gia đình đoàn tụ. Tôi chú ý điều ước thứ hai: Được đi học , đạt được mục đích. Đến nay, tôi vẫn chưa hiểu chị có mục đích gì cao xa mà chị chưa thổ lộ. Thật tội nghiệp, trong cơ thể mảnh mai, yếu ớt, khó khăn trong từng hơi thở mà chị vẫn ôm ấp một mục đích của đời mình.

Chị An là chị cả. Tên con gái do bố mẹ tôi đặt. Bố Bình, thì con An là đương nhiên. Ông nội chỉ đặt tên cho cháu trai thôi. Chị An sinh năm 1932, cũng là năm bố tôi vừa dạy học ở trường tư Thăng Long vừa nhận làm chủ bút cho báo tiếng Pháp La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam) do ông chủ Phạm Lê Bổng giao toàn quyền định đoạt về bài vở. Cốt sao báo đừng bị đình bản để ông ta có quyền mua giấy giá rẻ cung cấp cho bà con ông làm pháo.

Năm 1945, chị 13 tuổi đủ trí để hiểu bố bị đưa đi tối 7/9 là thế nào cho nên đã gục đầu xuống bàn ăn khóc lặng lẽ. Trong khi chị em chúng tôi chỉ biết ngơ ngác trước cảnh chia ly của bố mẹ. Rồi khi mẹ đưa chị Mỹ và hai em ra Hà Nội, chị rất thèm học nhưng không tị nạnh với cô cậu được đi học, chị vui vẻ làm quen với xay lúa giã gạo, nấu ăn cho cả nhà cùng u Nấm và bác bếp Nguyên. Chị thay mẹ, bảo bọc anh em tôi. Cho đến khi gặp lại mẹ, chị một lần nữa từ bỏ khát vọng học hành để đi làm, cùng mẹ nuôi gia đình. Từ nhỏ bố tôi đã cho chị học trước tuổi, lại vào lớp đã học được mấy tháng, chị vẫn theo kịp. Rồi khi đất nước chia hai miền chị phải vào Nam theo bà dì mở hiệu thuốc tây, mong hai năm sau tổng tuyển cử sẽ về lại gia đình. Rồi hai năm thành hai mươi năm. Năm 1975, thống nhất đất nước, chị lại cùng chồng đưa cả gia đình sang Mỹ. Năm 1991, chị mới gặp lại mẹ và gia đình tại nhà tôi 82 Lý Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chị nói thật: phải ra đi vì sợ diễn lại cảnh như hồi bố tôi buộc phải rời gia đình để rồi sau này chẳng biết ở nơi nao, đến ngày mất, nơi mất cũng không biết hỏi ai.

Chị về thăm mẹ được hai lần. Lần đầu năm 1991 sống với mẹ được tròn một tháng. Lần sau, năm 1996, cùng con gái lớn về Bạc Liêu thăm mẹ được ba ngày.

Sau thời gian bị bệnh lâu dài do bệnh đái tháo đường và nhiều biến chứng sang thận, tim, chị mất ngày 14/9/2007 tại Mỹ, thọ 75 tuổi.

Tôi thấy mình hạnh phúc được cả ba chị thương yêu, mỗi người một cách. Tôi suốt đời yêu quí ba chị của mình. Và biết ơn nữa.

Mùa Covid-19 thành phố Hồ Chí Minh 4/9/2020.

P.T.

Tháng Mười 4, 2020

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 1 tháng 10 năm 2020)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 10 năm 2020.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 30/9/2020

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

Nhân dịp 75 năm Quốc khánh Việt Nam, 71 năm Quốc khánh Trung Quốc và trong năm kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, ngày 29-9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành điện đàm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chúc mừng 71 năm Ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; chúc nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới to lớn hơn nữa trong công cuộc phát triển đất nước, sớm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, năm 2020 là dấu mốc quan trọng kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước; khẳng định, trong 70 năm qua, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mặc dù có những lúc thăng trầm, nhưng hữu nghị và hợp tác luôn là dòng chảy chính. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho rằng, từ đầu năm đến nay, hai bên đã tiến hành các hoạt động trao đổi bằng nhiều hình thức linh hoạt, đạt kết quả tốt, góp phần tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định, phù hợp nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước; đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác thực chất, tăng cường trao đổi các cấp và giao lưu nhân dân hai nước, củng cố lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ song phương; giải quyết các vấn đề tồn tại, đặc biệt là vấn đề trên biển, theo tinh thần nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước, phù hợp luật pháp quốc tế, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển của mỗi Đảng, mỗi nước.

Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình một lần nữa chúc mừng 75 năm Quốc khánh Việt Nam; chúc mừng những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được trong 75 năm qua; bày tỏ tin tưởng nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; chúc Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống với Việt Nam; khẳng định Trung Quốc sẽ tiếp tục tích cực ủng hộ Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 và Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2020; bày tỏ sẵn sàng cùng lãnh đạo cấp cao Việt Nam tăng cường trao đổi chiến lược, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác thực chất, hiệu quả giữa hai nước trên các lĩnh vực, đưa quan hệ láng giềng hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam phát triển ngày càng sâu rộng, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam, cũng như sự hợp tác, phối hợp giữa hai nước trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/9/2020

Tiếp nhận lô vật tư y tế phòng, chống dịch Covid-19 do Chính phủ Trung Quốc trao tặng

Chiều 29-9, tại Hà Nội, diễn ra lễ bàn giao vật tư y tế do Chính phủ Trung Quốc trao tặng Chính phủ Việt Nam hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19. Quyền Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba tham dự và ký biên bản bàn giao hạng mục viện trợ phòng, chống dịch. Phát biểu tại buổi lễ, quyền Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam gửi lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ lô vật tư y tế này cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam. Đồng thời, bày tỏ Việt Nam và Trung Quốc vốn có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực y tế, mang lại nhiều lợi ích cho công cuộc bảo vệ sức khỏe người dân hai nước. Hy vọng rằng sự hợp tác y tế giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ ngày càng được mở rộng và phát triển hơn trong thời gian tới…

Lô hàng vật tư y tế do Chính phủ Trung Quốc trao tặng Chính phủ Việt Nam gồm 300 nghìn chiếc khẩu trang phẫu thuật dùng trong y tế và 20 nghìn chiếc khẩu trang phòng hộ y tế.

* Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 cho biết, ngày 29-9, Việt Nam ghi nhận 17 người mắc Covid-19 (người bệnh thứ 1078 đến 1094), đều là các ca nhập cảnh được cách ly ngay, không có nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng.  Trước đó, ngày 26-9, 17 người bệnh về từ Liên bang Nga trên chuyến bay QH9495 và nhập cảnh tại sân bay Cần Thơ. Sau đó được chuyển đến tỉnh Bạc Liêu cách ly tập trung tại khu A, B của Ký túc xá Sinh viên Bạc Liêu và được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bạc Liêu lấy mẫu bệnh phẩm. Như vậy, đến nay, Việt Nam có 1.094 người nhiễm Covid-19, trong đó có 1.007 người được công bố khỏi bệnh và 35 người chết.

Trong ngày, có tám người bệnh mắc Covid-19 điều trị tại các cơ sở y tế được công bố khỏi bệnh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/9/2020

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mê Công – Hàn Quốc lần thứ 10

Ngày 28-9, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mê Công – Hàn Quốc lần thứ 10 được tổ chức theo hình thức trực tuyến với sự đồng chủ trì của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Cang Kiêng Hoa. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Ngoại giao các nước Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Thái-lan. Ðoàn Việt Nam còn có đại diện các bộ, ngành liên quan.

Hội nghị tập trung rà soát tình hình triển khai hợp tác Mê Công – Hàn Quốc trong năm vừa qua, thảo luận về định hướng hợp tác thời gian tới, và trao đổi về một số vấn đề quốc tế và khu vực. Các Bộ trưởng đánh giá cao những kết quả đạt được trong năm qua, đặc biệt là việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Mê Công – Hàn Quốc lần thứ nhất đã chính thức nâng cấp hợp tác lên cấp thượng đỉnh. Các Bộ trưởng cũng hoan nghênh những kết quả quan trọng đạt được trong triển khai các dự án hợp tác về xây dựng hạ tầng cơ sở, công nghệ thông tin, giáo dục và dạy nghề, nông nghiệp, bảo vệ môi trường và quản lý nguồn nước.

Về định hướng hợp tác, các Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên để kiểm soát, ứng phó và giảm thiểu tác động từ đại dịch Covid-19; khuyến khích sự tham gia của khu vực doanh nghiệp và địa phương; gia tăng sự phối hợp, bổ trợ với ASEAN và các khuôn khổ hợp tác Mê Công khác. Các Bộ trưởng cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác trong bảy lĩnh vực ưu tiên, gồm: văn hóa và du lịch; phát triển nguồn nhân lực; nông nghiệp và phát triển nông thôn; hạ tầng cơ sở; thông tin và công nghệ viễn thông; môi trường; các thách thức an ninh phi truyền thống. Trên cơ sở Tuyên bố Mê Công – sông Hàn của lãnh đạo cấp cao sáu nước, các Bộ trưởng đã thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2021 – 2025 với các mục tiêu và biện pháp cụ thể để cùng phối hợp triển khai nhằm xây dựng Quan hệ đối tác vì người dân, thịnh vượng và hòa bình. Hội nghị cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm như tình hình Biển Ðông, bán đảo Triều Tiên, hạn hán nghiêm trọng tại lưu vực sông Mê Công, tội phạm xuyên biên giới… và nhất trí thúc đẩy hợp tác đối phó với các thách thức chung.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh hoan nghênh những đóng góp của hợp tác Mê Công – Hàn Quốc đối với tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và các nỗ lực chung thúc đẩy kết nối khu vực và phát triển bền vững. Phó Thủ tướng cũng cho rằng, trước những biến động nhanh chóng của môi trường kinh tế và chính trị quốc tế, hợp tác Mê Công – Hàn Quốc cần hỗ trợ các nước thành viên khắc phục khó khăn và nắm bắt cơ hội phát triển mới, đồng thời nhấn mạnh một số trọng tâm như: Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa; tăng cường hợp tác về môi trường, quản lý bền vững nguồn nước, nông nghiệp và thích ứng biến đổi khí hậu; khuyến khích sự tham gia của các địa phương vào hoạt động hợp tác; gia tăng gắn kết, bổ trợ với tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Kết thúc hội nghị, các Bộ trưởng đã thông qua Tuyên bố Ðồng Chủ tịch Hội nghị Bộ trưởng Mê Công – Hàn Quốc lần thứ 10 và nhất trí tổ chức Hội nghị Cấp cao Mê Công – Hàn Quốc lần thứ hai nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 vào tháng 11 tới.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 28/9/2020

Việt Nam tiếp tục hỗ trợ công dân về nước

Các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam tại LB Nga và Hãng hàng không Tre Việt (Bamboo Airways) đã phối hợp các cơ quan chức năng Nga đưa hơn 270 công dân Việt Nam về nước, trong đó có trẻ em dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người ốm đau, phụ nữ mang thai, người lao động hết hạn thị thực và hợp đồng lao động, du học sinh tốt nghiệp không có nơi lưu trú do trường học và ký túc xá đóng cửa.

Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Cần Thơ ngày 26-9, những người tham gia chuyến bay được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.

* Trong khi đó, theo worldometers.info, đến ngày 27-9, trên toàn thế giới ghi nhận 33.062.502 ca nhiễm Covid-19, trong đó 998.806 người chết. Mỹ vẫn là nước chịu tác động mạnh nhất, với 7.287.593 ca nhiễm, tiếp đến là Ấn Ðộ, với 5.992.532 ca nhiễm. Với trung bình 11.082 ca/ngày, Ác-hen-ti-na đã lọt vào tốp 5 thế giới về số ca nhiễm Covid-19.

* Ca-na-đa ghi nhận 1.215 ca nhiễm và bảy người chết trong ngày 26-9. Chính phủ Ca-na-đa thông báo sẽ giảm bớt hạn chế đi lại qua biên giới.

Trong khi đó, Cô-lôm-bi-a nới lỏng hạn chế, cho phép nhà hàng mở cửa và nối lại các chuyến bay quốc tế, song biên giới trên bộ và trên biển vẫn đóng cửa. Pê-ru mở cửa lại nền kinh tế từ tháng 10 tới, cho phép các chuyến bay đến các nước trong khu vực.

* Tại châu Âu số ca nhiễm trong ngày 27-9 ở Nga là 7.867 người, mức cao nhất trong một tuần qua; thêm 99 người chết được ghi nhận. CH Séc ngày 26-9 có 1.985 ca nhiễm, thấp hơn nhiều so mức ngày trước đó.

* Tại châu Á, Trung Quốc đại lục ngày 27-9 thông báo thêm 14 ca nhiễm, đều là các ca nhập cảnh và không có thêm người chết. Hàn Quốc ghi nhận ngày thứ hai liên tiếp số ca nhiễm Covid-19 dưới mức 100 người.

* In-đô-nê-xi-a có thêm 3.874 trường hợp nhiễm và 78 người chết, nâng tổng số người chết do Covid-19 ở In-đô-nê-xi-a lên 10.386.

* Bang Niu Xao Uên đông dân nhất tại Ô-xtrây-li-a ghi nhận ngày đầu tiên không có ca mắc trong hơn ba tháng qua. Bang Vích-to-ri-a thông báo nới lỏng giãn cách xã hội, do số ca nhiễm chỉ dưới 20 ca/ngày.

* Tại Trung Ðông, số ca mắc Covid-19 tại I-ran tăng lên 443.086 ca sau khi có 3.204 ca mới trong ngày 26-9; số người chết tăng thêm 172 ca. Li-băng ghi nhận mức người nhiễm trong ngày cao nhất, với 1.280 ca.

* Bộ Du lịch A-rập Xê-út thông báo kế hoạch nối lại cấp thị thực du lịch từ đầu năm 2021. Mục đích là hỗ trợ phục hồi nền kinh tế.

* Trong hai ngày 26 và 27-9, các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đã phối hợp các cơ quan chức năng sở tại đưa hơn 350 công dân Việt Nam về nước an toàn. Hành khách trên chuyến bay bao gồm người dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người ốm đau, người đi du lịch bị kẹt lại, du học sinh đã hoàn thành chương trình học không có nơi lưu trú do ký túc xá đóng cửa và các trường hợp đặc biệt khó khăn khác.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/9/2020

Những nội dung mới và điểm nhấn trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

Ngày 26-9, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận T.Ư; Tạp chí Cộng sản phối hợp tổ chức Hội thảo: “Những nội dung mới và điểm nhấn trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng”.

Dự hội thảo có các đồng chí: Phùng Hữu Phú, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận T.Ư; Đoàn Minh Huấn, Ủy viên dự khuyết T.Ư Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản cùng đại diện các đồng chí lãnh đạo bộ, ban, ngành T.Ư và đông đảo các chuyên gia, các nhà khoa học…

Tại hội thảo, gần 30 tham luận và ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo ban, bộ, ngành ở T.Ư và các nhà khoa học đã tập trung phân tích, làm rõ nhiều nội dung lớn, phức tạp, mới, điểm nhấn của dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng như: đánh giá tổng thể sự phát triển của đất nước sau 35 năm đổi mới và bài học kinh nghiệm; tầm nhìn, mục tiêu phát triển với các dấu mốc quan trọng của đất nước; việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; vai trò đột phá của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới; xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ mới; kiến tạo hệ thống phúc lợi xã hội tiến bộ, bền vững; bảo đảm công bằng xã hội…

Bàn về xây dựng thể chế thu hút, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế- xã hội đất nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu việc sử dụng cơ chế thị trường như thế nào và vai trò của Nhà nước như thế nào cho hợp lý để thu hút, phân bổ và sử dụng nguồn lực là vấn đề cần làm rõ quan điểm để có thể hoàn thiện thể chế, thu hút, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu quan điểm cần thống nhất thu hút, phân bổ và sử dụng nguồn lực để phát triển phải dựa trên nguyên tắc kinh tế thị trường là chủ yếu, lấy vai trò của Nhà nước là cần thiết và quan trọng. Đó là điều kiện cần và đủ, đó là hai mặt cân đối của một thể chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, không chỉ hiệu quả mà còn là sự công bằng và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thạo, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Đại hội XIII của Đảng diễn ra khi toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2011 – 2020), trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, ảnh hưởng nhiều mặt đến nước ta. Bên cạnh đó, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới, quan trọng, phức tạp đang đặt ra, đòi hỏi Đại hội XIII phải có những quyết định đúng đắn, kịp thời, mạnh mẽ để giải quyết, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, phát triển đất nước nhanh, bền vững trong nhiệm kỳ 5 năm và chiến lược 10 năm. Đồng thời, Đại hội XIII cần có tầm nhìn xa hơn, đến giữa thế kỷ 21, năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước.

Nhiều đại biểu đi sâu phân tích những điểm mới trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như: thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước; về phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam… qua đó, đóng góp nhiều ý kiến, kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp với điều kiện, tình hình đất nước và thế giới.  

Phát biểu ý kiến kết luận hội thảo, đồng chí Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận T.Ư ghi nhận các ý kiến đóng góp tâm huyết và xây dựng của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo. Ban Tổ chức sẽ tập hợp các ý kiến chuyển tới Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Tổ biên tập Văn kiện, với Trung ương để có thêm hướng lựa chọn các phương án tối ưu khi trình bày những vấn đề mới, khó, phức tạp trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, trước khi công bố để lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 75 Đại hội đồng Liên hợp quốc

Trong khuôn khổ Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 75 Đại hội đồng Liên hợp quốc diễn ra từ ngày 22 đến 29-9, tại trụ sở Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ), chiều 24-9 (giờ New York), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có thông điệp quan trọng gửi tới hội nghị.

Nhân Dân điện tử xin trân trọng giới thiệu toàn văn thông điệp:

Thưa Ngài Volkan Bozkir, Chủ tịch khóa 75 Đại hội đồng Liên hợp quốc, 

Thưa Ngài Antonio Guterres, Tổng Thư ký Liên hợp quốc, 

Thưa quý vị, 

Tôi xin chúc mừng Ngài Volkan Bozkir được bầu làm Chủ tịch khóa 75 Đại hội đồng Liên hợp quốc và tin tưởng rằng, với kinh nghiệm và năng lực của mình, Ngài sẽ dẫn dắt khóa họp của chúng ta thành công tốt đẹp.

Tôi cũng xin bày tỏ đánh giá cao về những đóng góp quan trọng của Ngài Tijjani Muhammad-Bande, Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 74 và Ngài Antonio Guterres, Tổng Thư ký Liên hợp quốc, trong thời gian qua, trước những thách thức không nhỏ do đại dịch Covid-19 gây ra.

Thưa Ngài Chủ tịch, 

Chúng ta kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốc và kết thúc hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI trong một bối cảnh vô cùng đặc biệt.

Lần đầu tiên trong lịch sử, lãnh đạo các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã không thể góp mặt tại Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tuy nhiên, điều đó cũng không làm giảm nỗ lực chung của chúng ta trong trao đổi, đánh giá và tìm kiếm giải pháp cho những quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.

Tôi chia sẻ đánh giá của Ngài Tổng Thư ký rằng, cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng nhất kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập, đặc biệt là tác động của đại dịch Covid-19 gây ra đối với kinh tế, xã hội, chính trị và trên hết là đối với cuộc sống của con người.

Thưa Ngài Chủ tịch, 

Trong bối cảnh đó, tôi hoan nghênh chủ đề khóa họp lần này là “Tương lai chúng ta muốn, Liên hợp quốc chúng ta cần: Tái khẳng định cam kết chung đối với chủ nghĩa đa phương – ứng phó Covid-19 thông qua hành động đa phương hiệu quả”, và tôi cho rằng: 

Thứ nhất, cơ chế đa phương toàn cầu và khu vực phải được tôn trọng và phát huy. Trên tinh thần đó, chúng ta cần một Liên hợp quốc cho tương lai phải thực sự là tổ chức gắn kết, ở đó mỗi thành viên, không phân biệt lớn nhỏ, giàu nghèo, được đóng góp tiếng nói về những vấn đề cùng quan tâm, và cũng là “vườn ươm” cho những sáng kiến, ý tưởng hợp tác đa phương vì hòa bình, phát triển và thịnh vượng trên thế giới. Liên hợp quốc cần được tiếp tục cải tổ để trở thành một tổ chức mạnh mẽ và hiệu quả hơn, phát huy vai trò điều hòa lợi ích, ứng xử của các nước trước những biến chuyển to lớn của thời đại.

Thứ hai, Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế cần phải được đề cao và thúc đẩy như những chuẩn mực hành xử của cả các nước lớn và nhỏ trong quan hệ quốc tế đương đại. Chúng ta cần quyết tâm và kiên trì thực hiện hợp tác, hữu nghị thay cho xung đột và thù địch, đối thoại thay cho đối đầu, giải quyết hòa bình các tranh chấp thay cho hành động đơn phương, áp đặt. Trên tinh thần đó, Việt Nam kêu gọi dỡ bỏ các biện pháp cấm vận đơn phương ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội đất nước và đời sống của người dân ở các quốc gia, trong đó có các biện pháp đang áp đặt đối với Cuba.

Thứ ba, đại dịch Covid-19 chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc, thúc giục chúng ta cam kết và chung tay hành động mạnh mẽ hơn nữa để thúc đẩy phát triển bền vững, bao trùm và nhân văn. Chương trình nghị sự 2030 cần tiếp tục là khuôn khổ để chúng ta vừa hợp tác vượt qua đại dịch, vừa phục hồi bền vững, lấy lợi ích của người dân làm trung tâm của mọi chính sách và hành động, để bảo đảm không một người dân, không một quốc gia nào bị bỏ lại phía sau. Các nước đang phát triển cần được tạo điều kiện và hỗ trợ về tài chính, công nghệ và thương mại để thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững.

Thưa Ngài Chủ tịch, 

Cách đây 75 năm, vào ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Người đã nhiều lần gửi thư tới các nhà lãnh đạo sáng lập Liên hợp quốc bày tỏ ý nguyện của Việt Nam tham gia Liên hợp quốc. Mặc dù phải tới năm 1977, nguyện vọng đó mới thành hiện thực, song chính cuộc đấu tranh bền bỉ của Việt Nam giành và bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước là những đóng góp cụ thể cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, cũng là những mục tiêu cao cả mà Liên hợp quốc hướng tới. Nhân dịp này, thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi xin chân thành bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với sự ủng hộ rộng rãi của các nước, bạn bè quốc tế dành cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam từ trước đến nay.

Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh và chịu bao vây cấm vận, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình và đang nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 hiện nay, dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực, quan trọng, thực hiện có hiệu quả mục tiêu vừa kiểm soát dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội. Với tinh thần đoàn kết quốc tế và với nhận thức rằng, chúng ta chỉ có thể chiến thắng đại dịch khi tất cả các quốc gia cùng chiến thắng, Việt Nam đã và sẽ tiếp tục hỗ trợ, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với nhiều nước, nhất là những nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch, tăng cường đóng góp cho các nỗ lực quốc tế liên quan.

Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn phát huy quan hệ hợp tác toàn diện với Liên hợp quốc, góp phần xây dựng một thể chế đa phương toàn cầu công bằng, minh bạch và hiệu quả.

Trong vai trò là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy đối thoại, giảm căng thẳng, đối đầu, tìm giải pháp công bằng, hợp lý để giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế; thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực, đặc biệt là ASEAN.

Trên cương vị là Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam cùng các nước thành viên đang hết sức nỗ lực để xây dựng một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác, từng bước trở thành một Cộng đồng ngày một gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế, và sẻ chia trách nhiệm xã hội. Chúng tôi khẳng định cam kết cùng các nước trong và ngoài khu vực duy trì, thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; tuân thủ các nguyên tắc kiềm chế, tránh các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, giải quyết tranh chấp và khác biệt bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý.

Thưa Ngài Chủ tịch, 

Suốt 75 năm qua, các quốc gia đã cùng nhau xây dựng một Liên hợp quốc vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Chúng ta có trách nhiệm tiếp tục củng cố và tăng cường sức sống cho Tổ chức đa phương lớn nhất thế giới này trước các thách thức và cơ hội to lớn của thế kỷ XXI.

Xin trân trọng cảm ơn.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Khánh thành kết nối 1.000 cơ sở y tế khám, chữa bệnh từ xa

Chiều 25-9, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức lễ khánh thành 1.000 cơ sở y tế khám, chữa bệnh từ xa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Nguyen Xuan Phu tai le khanh thanh 1000 co so y te

Cùng dự có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, lãnh đạo một số bộ, ngành, cơ quan T.Ư tổ chức quốc tế; hơn 5.000 y, bác sĩ tại các điểm cầu trên cả nước và một điểm cầu tại Lào, một điểm cầu tại Cam-pu-chia.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi số trong ngành Y tế với mục tiêu “Phát triển nền tảng hỗ trợ khám, chữa bệnh từ xa để hỗ trợ người dân được khám, chữa bệnh từ xa, giúp giảm tải các cơ sở y tế, hạn chế tiếp xúc đông người, giảm nguy cơ lây nhiễm chéo; 100% các cơ sở y tế có bộ phận khám chữa bệnh từ xa, thúc đẩy chuyển đổi số ngành y tế”, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 2628/QĐ-BYT ngày 22-6-2020 phê duyệt Đề án khám, chữa bệnh từ xa giai đoạn 2020-2025 với quan điểm chủ đạo “Chất lượng khám, chữa bệnh vươn cao, vươn xa”. 

Mục tiêu của Đề án là mọi người dân đều được quản lý, tư vấn, khám bệnh, chữa bệnh, hỗ trợ chuyên môn của các bác sĩ từ tuyến xã đến tuyến Trung ương; người dân được sử dụng dịch vụ y tế có chất lượng của tuyến trên ngay tại cơ sở y tế tuyến dưới. Các cơ sở y tế được hỗ trợ chuyên môn thường kỳ và đột xuất từ các bệnh viện tuyến cuối dựa trên nền tảng công nghệ thông tin; góp phần giảm quá tải bệnh viện tuyến trên, nâng cao chất lượng, hiệu quả khám, chữa bệnh và sự hài lòng của người dân. Đề án hướng tới mục tiêu mở rộng mạng lưới khám chữa bệnh từ xa đến các cơ sở y tế trong cả nước để thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; đồng thời trong tương lai sẽ tiến hành kết nối các bệnh viện tuyến trên với các nước có nền y khoa tiên tiến trên thế giới để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Khám, chữa bệnh từ xa giúp người dân tiếp cận với dịch vụ y tế nhanh chóng, thuận lợi, ít tốn kém, an toàn, không cần phải đến bệnh viện khi chưa thực sự cần thiết, giảm tập trung đông bệnh nhân tại các cơ sở y tế nhất là khi có dịch bệnh, hạn chế chuyển tuyến, giảm quá tải tại bệnh viện tuyến trên; tạo được lòng tin của người dân với chất lượng khám chữa bệnh của y tế cơ sở nói riêng và toàn hệ thống y tế nói chung. Bên cạnh đó, đẩy mạnh khám, chữa bệnh từ xa mang đến cơ hội tiếp cận chuyên môn cao hơn cho cán bộ y tế tại các cơ sở y tế tuyến dưới, từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở và từng cơ sở khám, chữa bệnh tuyến dưới.

Với những lợi ích, hiệu quả hoạt động khám, chữa bệnh từ xa mang lại, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc phòng và Tập đoàn Viettel để xây dựng và triển khai Đề án Khám, chữa bệnh từ xa. Sau hai tháng nỗ lực triển khai kết nối các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là những cơ sở khám chữa bệnh ở các địa phương, thậm chí ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; đã có hơn 1.000 điểm cầu khám, chữa bệnh được kết nối với gần 30 bệnh viện tuyến Trung ương, các bệnh viện tuyến cuối của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Nhiều ca bệnh phức tạp đã được các bác sỹ hội chẩn và cứu sống kịp thời không phải chuyển tuyến trên; những điểm cầu vùng sâu, vùng xa như Trường Sa, Cô Tô, Mường Nhé được kết nối với bệnh viện trung ương như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Huế…

Để thực hiện Đề án Khám, chữa bệnh từ xa hiệu quả, chất lượng, thống nhất, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo chuyên môn, Bộ Y tế đã xây dựng các hướng dẫn chuyên môn: Hướng dẫn Quy trình tổ chức hội chẩn khám, chữa bệnh từ xa; Quy chế hướng dẫn bảo mật thông tin trong tư vấn, hội chẩn khám, chữa bệnh từ xa; Danh mục kỹ thuật khám, chữa bệnh từ xa; sách vàng 1.000 điểm cầu khám, chữa bệnh từ xa; làm cẩm nang để các cơ sở y tế triển khai Đề án. Bộ Y tế tiếp tục phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam, các bộ ngành liên quan hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế tài chính, hoàn thiện và cập nhật danh mục kỹ thuật, hướng dẫn chuyên môn, cập nhật các nền tảng, ứng dụng… nhằm thực hiện thành công Đề án.

“Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở y tế, các thầy thuốc, các y bác sĩ, các cán bộ y tế sẽ thực hiện và lan tỏa thông điệp “Chất lượng khám, chữa bệnh vươn cao, vươn xa”, phát huy trí tuệ, tinh thần hỗ trợ, hướng dẫn để triển khai hiệu quả chương trình  khám, chữa bệnh từ xa để từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở để phục vụ người dân ngày một tốt hơn”, Quyền Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long phát biểu tại buổi lễ. 

Với vai trò là doanh nghiệp công nghệ đồng hành cùng Bộ Y tế xây dựng và phát triển Hệ thống hỗ trợ, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa, Tập đoàn Viettel thành lập “Trung tâm điều hành Telehealth”, thực hiện chiến dịch “60 ngày đêm thần tốc, tất cả vì ngành y, tất cả để chiến thắng, quyết tâm hoàn thành 1.000 điểm Telehealth toàn quốc”; và đã hoàn thành kết nối 1.000 điểm chỉ trong vòng 45 ngày, về đích trước 15 ngày so với mục tiêu chiến dịch.  

Lễ Khánh thành 1.000 điểm cầu khám, chữa bệnh từ xa là sự kiện quan trọng và có nghĩa lớn đối với triển khai Đề án khám, chữa bệnh từ xa, ghi nhận sự tham gia tích cực của ngành y tế trong tiến trình thực hiện Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, hướng tới đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Đặc biệt, Đề án có sự kết nối với một số bệnh viện tại Lào và Cam-pu-chia, cho thấy trách nhiệm của Việt Nam đối với các nước trong khu vực. Đây là bước đi quan trọng để quảng bá hình ảnh về nền y tế phát triển và có trách nhiệm của Việt Nam đối với nhân dân Việt Nam và quốc tế.

Tin: THANH GIANG – Ảnh: TRẦN HẢI

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/9/2020

Lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ

Ngày 24-9, tại Viện Pháp y quân đội ở Hà Nội diễn ra lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam, với sự tham dự của đại diện Ban Giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích (VNOSMP), Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Đ.Cri-ten-brinh, đại diện Văn phòng tìm kiếm quân nhân mất tích của Mỹ (Văn phòng MIA) tại Hà Nội.  

Đại diện phía Việt Nam đã bàn giao cho đại diện phía Mỹ một bộ hài cốt khai quật được trong đợt tìm kiếm lần thứ 140 (từ tháng 7 đến tháng 9-2020). Hài cốt này đã được các chuyên gia pháp y Việt Nam giám định đơn phương, kết luận có thể liên quan các trường hợp quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam và đề nghị chuyển về Ha-oai (Mỹ) để xác minh thêm. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Đ.Cri-ten-brinh cảm ơn và đánh giá cao sự hợp tác đầy đủ và hiệu quả của chính phủ và nhân dân Việt Nam; nhấn mạnh cam kết của Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/9/2020

Thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Phiên họp cấp cao kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốcNguyen Xuan Phuc tai phien hop cap cao ky niem 75 nam lien hiep quoc

Ngày 21-9, trong khuôn khổ Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ LHQ) Khóa 75 đã diễn ra “Phiên họp cấp cao kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốc” với sự tham dự của 137 lãnh đạo cấp cao và 33 bộ trưởng các nước thành viên LHQ. Do tác động của đại dịch Covid-19, Phiên họp được tổ chức theo hình thức lãnh đạo các nước ghi hình phát biểu trước để phát trực tiếp tại Trụ sở Liên hợp quốc (New York, Hoa Kỳ). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có thông điệp quan trọng gửi tới Phiên họp. Toàn văn như sau:

Thưa quý vị,

Chúng ta kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên hợp quốc vào thời điểm rất đặc biệt, khi niềm tự hào về sự lớn mạnh của Liên hợp quốc đan xen với nỗi lo lắng về bất ổn, dịch bệnh đang lan rộng trên hành tinh.

Từ tro tàn của chiến tranh, sau 75 năm, thế giới đã không phải chứng kiến thêm một cuộc chiến tranh thế giới mới. Hòa bình, hợp tác hữu nghị được vun đắp; đói nghèo, bệnh tật được đẩy lùi; cuộc sống của nhân loại được đổi thay.

Những thành quả to lớn đó không thể có được nếu không dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, không thể đạt được nếu không có Liên hợp quốc – “trung tâm điều phối hành động chung của các quốc gia”. 

Thế giới đang đứng trước những thách thức chưa từng có tiền lệ. Đại dịch Covid-19, cùng với bất ổn, xung đột, cạnh tranh nước lớn, chính trị cường quyền, biến đổi khí hậu… đang đe dọa nền hòa bình và phát triển bền vững của các dân tộc.

Việt Nam có câu: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, thực tại càng cam go, thử thách, chúng ta càng cần đoàn kết, hợp tác, tăng cường chủ nghĩa đa phương với trung tâm là Liên hợp quốc, nghiêm túc tuân thủ Hiến chương và luật pháp quốc tế, triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; đặt con người ở trung tâm của mọi nỗ lực phát triển để không ai bị bỏ lại phía sau.

Thưa quý vị,

Trải qua nhiều thập kỷ đấu tranh vì chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do” và 35 năm thực hiện tiến trình Đổi mới, lấy người dân làm trung tâm, ngày nay Việt Nam đang tự tin phát triển năng động, tái cơ cấu sâu rộng nền kinh tế, chủ động hội nhập quốc tế, tham gia có trách nhiệm tại nhiều diễn đàn đa phương, nhất là Liên hợp quốc, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. 

Bằng nỗ lực của mình và hợp tác với nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, đến nay, chúng tôi đã cơ bản kiểm soát được Covid-19, từng bước phục hồi đà phát triển nhanh nền kinh tế. 

Chúng tôi trân trọng cảm ơn các nước đã dành tín nhiệm cao bầu Việt Nam là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, và đang nỗ lực hết sức mình hoàn thành tốt nhất trọng trách này. Đồng thời là Chủ tịch ASEAN năm 2020, Việt Nam cùng các thành viên nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, tự cường, thịnh vượng. 

Nhân dân Việt Nam quyết tâm cùng tất cả các dân tộc trên thế giới gìn giữ hòa bình, thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển bền vững SDG 2030 và lá cờ Việt Nam sẽ tung bay tại thêm nhiều Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc trên toàn cầu.

Tôi tin rằng với quyết tâm cao và nỗ lực mạnh mẽ chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng thế giới hòa bình và tương lai tươi sáng cho hôm nay và mai sau. 

Xin trân trọng cảm ơn.”

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/9/2020

Lễ giỗ Đức Thượng Công Tả quân Lê Văn Duyệt

Ngày 16-9, tại quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Ban quản lý Di tích Lăng Tả quân tổ chức Lễ giỗ lần thứ 188 Đức Thượng Công Tả quân Lê Văn Duyệt. Lễ giỗ năm nay được tổ chức trong ba ngày từ 16 đến 18-9.

THuong cong ta quan le van duyet

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, việc tổ chức lễ giỗ nhằm tưởng nhớ các vị tiền nhân, anh hùng liệt sĩ, nhân dân đã có công mở mang bờ cõi, xây dựng, gìn giữ đất nước. Qua đó, nhằm giáo dục cho các thế hệ sau, đặc biệt là thế hệ trẻ biết hướng về cội nguồn dân tộc, có tình yêu quê hương Tổ quốc một cách thiết thực và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.

Đức Tả quân Lê Văn Duyệt sinh năm 1764; nguyên quán Quảng Ngãi, sinh quán làng Hòa Khánh, Huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay là huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Ông hai lần được cử làm Tổng trấn Gia Định (từ năm 1812 – 1815 và từ năm 1820 – 1832).

Sinh thời, Đức Thượng Công làm Tổng trấn Gia Định thành thể hiện rõ là một vị quan công minh, thanh liêm, chính trực, luôn quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, giữ an và mở mang vùng đất Nam Bộ. Tài năng và công đức của Tả quân khiến người dân hết lòng kính phục, thương yêu gọi người là Ông lớn. Do đó khi tạ thế (1832), Tả quân được nhân dân xây Lăng mộ ở khu vực Bà Chiểu (phường 1, quận Bình Thạnh) và hết lòng thờ phụng đến ngày nay. Đồng thời trong cách nhìn của dân gian, Tả quân Lê Văn Duyệt đã trở thành vị “Phúc thần” linh hiển. Lăng Lê Văn Duyệt ngày nay là một công trình kiến trúc nghệ thuật được hạng di tích cấp quốc gia.

Dịp này quận ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam quận Bình Thạnh tổ chức lễ công bố đổi tên đường Đinh Tiên Hoàng (đoạn từ Cầu Bông đến đường Phan Đăng Lưu) thành tên đường Lê Văn Duyệt.

Việc đổi tên đường Lê Văn Duyệt trên địa bàn quận Bình Thạnh có ý nghĩa rất quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Qua buổi lễ công bố hôm nay, Quận Bình Thạnh sẽ có hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho các hộ dân thay đổi, bổ sung hồ sơ quyền sở hữu nhà và đất ở, giấy tờ, hộ khẩu, căn cước công dân, chứng minh nhân dân… để bảo đảm các quyền lợi chính đáng của mình.

Mạnh Hảo

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 27/9/2020

Diễn đàn trí thức Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước

Tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vừa tổ chức diễn đàn khoa học “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước”.

Theo báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, những năm qua, nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước đã tạo điều kiện để các trí thức đóng góp tốt hơn cho quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách đãi ngộ dành cho đội ngũ trí thức còn dàn trải, chưa đồng bộ hoặc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; còn thiếu các nhà lãnh đạo quản lý tầm cỡ, chuyên gia giỏi, các nhà khoa học thật sự tâm huyết với nghề. Tại diễn đàn, các đại biểu trao đổi ý kiến về những khó khăn, thách thức trong phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam, đồng thời đề xuất các kiến nghị, giải pháp để khắc phục khó khăn, phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2030.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/9/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì hội nghị đối thoại với nông dân lần thứ 3

Chiều 28-9, tại TP Buôn Ma Thuột, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị Thủ tướng Chính phủ đối thoại với nông dân lần thứ 3 năm 2020 với chủ đề “Cùng nỗ lực vượt thách thức, giữ vững tăng trưởng giá trị nông sản Việt, giúp nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại”. Tham dự hội nghị có khoảng 600 đại biểu do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì.Nguyen Xuan Phuc chu tri doi thoai voi nong dan

Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bùi Văn Cường, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk; Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Thào Xuân Sùng, Chủ tịch Trung ương Hội nông dân Việt Nam; cùng đại diện các Ban Đảng Trung ương, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Trưởng ban, ngành, đoàn thể Trung ương; Thường trực Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; lãnh đạo các tỉnh miền trung – Tây Nguyên và hơn 300 nông dân xuất sắc, tiêu biểu đại diện cho hơn 14 triệu hộ nông dân của cả nước cùng các chuyên gia, nhà khoa học, các hiệp hội, cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước. 

Đây là Hội nghị đối thoại lần thứ 3 của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với nông dân kể từ lần đầu tiên vào tháng 4-2018 tại tỉnh Hải Dương, lần thứ hai vào tháng 12-2019 ở TP Cần Thơ.

Hội nghị chia làm hai phiên đối thoại, phiên thứ nhất với vấn đề: Nông nghiệp miền trung – Tây Nguyên, các đại biểu nêu nhiều ý kiến thẳng thắn, những vấn đề “nóng”, phản ánh trực tiếp với Chính phủ, Thủ tướng về những vấn đề lớn, mang tầm chiến lược, dài hạn của ngành nông nghiệp, nông thôn hiện nay, tập trung vào những vấn đề như: Công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững; giá cả các loại nông sản chủ lực ở Tây Nguyên; những khó khăn, vướng mắc của nông dân trước tình hình giá cả các loại nông sản, thủy hải sản giảm giá mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; công tác phát triển công nghiệp chế biến nông sản, lâm nghiệp ở miền trung – Tây Nguyên; việc xây dựng và quảng bá thương hiệu nông sản Việt Nam gắn với thị trường tiêu thụ; chính sách tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn…

Phiên đối thoại thứ hai với vấn đề văn hóa – xã hội ở nông thôn, các đại biểu nêu nhiều ý kiến xoay quanh các nội dung lớn như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nông nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nông thôn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn; chương trình xây dựng nông thôn mới; giữ gìn, bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên; chính sách đặc thù chống biến đổi khí hậu, phát triển du lịch, y tế và giáo dục – đào tạo ở nông thôn khu vực miền trung – Tây Nguyên; công tác bảo đảm an ninh xã hội; tình hình an ninh trật tự ở nông thôn…

Trên cơ sở lắng nghe ý kiến nông dân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các thành viên Chính phủ, lãnh đạo các bộ, ngành đã trao đổi, giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giúp nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, tham gia xây dựng nông thôn mới, phát huy tốt hơn nữa vai trò của người nông dân trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Khu vực miền trung – Tây Nguyên có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh của đất nước. Vì vậy, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm sâu sắc tới phát triển khu vực này, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thủ tướng vui mừng cho biết: Vừa qua thực sự là giai đoạn rất thành công trong việc kiến tạo chuỗi giá trị nông sản của đất nước ta khi Việt Nam tham gia ký kết hơn 15 Hiệp định thương mại tự do cả song phương và đa phương với các đối tác trên thế giới, đặc biệt là hai hiệp định lớn là: Hiệp định CPTPP với 11 nước châu Á – Thái Bình Dương và Hiệp định EVFTA với liên minh châu Âu mở ra cơ hội lớn cho nông sản Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng chứng là ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, chúng ta đã xuất khẩu được những lô hàng gạo, tôm, cà-phê, chanh leo, dừa… đầu tiên vào châu Âu với thuế suất 0% theo Hiệp định thương mại tự do EVFTA. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, chúng ta cũng chịu rất nhiều tác động, nhất là những ảnh hưởng, tác động do đại dịch Covid-19 gây ra.

Trên cơ sở các ý kiến phát biểu tâm huyết, trách nhiệm của các nông dân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý, tại hội nghị lần này nhiều vấn đề lớn đang đặt ra trong phát triển nông nghiệp và nông thôn đã được đề cập, trao đổi để Chính phủ, các bộ, ngành có chính sách phù hợp, thỏa đáng. Thủ tướng khẳng định: Đảng, Nhà nước luôn quan tâm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, nhất là chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, chính sách tài chính, đất đai, hỗ trợ khắc phục thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, tạo sinh kế.

Thủ tướng lưu ý, hiện nước ta còn 65% dân số sống ở vùng nông thôn, vì vậy chăm lo cho nông dân, nông thôn là vấn đề lớn đã và đang đặt ra. Để khát vọng Việt Nam hùng cường vào năm 2045 thành hiện thực, trước hết phải chăm lo phát triển nông nghiệp, nông thôn và quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân. Thủ tướng yêu cầu trong thời gian tới phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải theo hướng ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, sản phẩm có chứng chỉ, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản phẩm nông nghiệp, gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, bảo đảm an ninh nông thôn; phát huy hơn nữa tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo vốn là truyền thống quý báu của nông dân Việt Nam. Quan tâm tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp một cách toàn diện, hiệu quả; phát huy thế mạnh của từng vùng miền, các địa phương; giao nhiệm vụ một số bộ, ngành Trung ương nghiên cứu tìm cơ chế thuận lợi và hỗ trợ vốn, các tỉnh tạo điều kiện về đất cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; các địa phương cần phát triển mô hình các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới; tạo môi trường tốt gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp cùng phát triển. Tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; hạn chế và khắc phục tối đa tình trạng “được mùa mất giá – mất giá được mùa”, “trồng – chặt, chặt – trồng”. Muốn vậy phải phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu, làm tốt công tác thông tin thị trường giúp nông dân để giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Tăng cường dân chủ, phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội ở địa phương, nhất là vai trò của Hội nông dân để động viên, hỗ trợ nông dân tích cực tham gia các phong trào thi đua lao động sản xuất.

Thủ tướng khẳng định: Chính phủ, Thủ tướng và các bộ, ngành Trung ương sẽ tiếp tục quan tâm hơn nữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn; quan tâm xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đồng thời nhận thức rõ những vấn đề còn bất cập để tìm các giải pháp giải quyết, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần cho nhân dân. Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành Trung ương trong tiếp thu, giải quyết những vấn đề mà đại diện nông dân đặt ra trong hội nghị đối thoại lần này. Thủ tướng cam kết, hội nghị diễn ra đúng dịp toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nô nức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, vì vậy nhiều vấn đề được đặt ra sẽ được cụ thể hóa trong nghị quyết của Đại hội và trong chương trình hành động của Chính phủ trong thời gian tới. Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tặng quà cho 29 nông dân tiêu biểu dự hội nghị.

* Chiều cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk. Tại buổi làm việc, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk báo cáo với Thủ tướng Chính phủ kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ chín tháng đầu năm 2020; kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19; kết quả thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” trên địa bàn tỉnh, đồng thời kiến nghị với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc Buôn Ma Thuột – Nha Trang; xem xét đầu tư hệ thống giao thông kết nối nội vùng Tây Nguyên; có cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên theo Kết luận 67-KL/TW của Bộ Chính trị…

Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao kết quả tỉnh Đắk Lắk đạt được trong phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tăng trưởng GRDP và thu hút đầu tư, thu ngân sách và bảo đảm quốc phòng – an ninh. Về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Thủ tướng biểu dương Đắk Lắk đã làm tốt công tác chuẩn bị, nhất là về nội dung văn kiện và về công tác nhân sự làm kỹ, đúng quy trình, có cơ cấu phù hợp, thể hiện sự khát vọng vươn lên của Đảng bộ tỉnh. Thủ tướng yêu cầu tỉnh Đắk Lắk quan tâm đến chăm lo đời sống nhân dân; nỗ lực, quyết tâm hơn nữa nhằm hoàn thành chỉ tiêu kinh tế – xã hội những tháng còn lại cuối năm 2020; rà soát kỹ phương án, làm tốt công tác chuẩn bị về nhân sự để Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025 thành công tốt đẹp. Đồng thời, tỉnh cần quan tâm giữ vững tuyệt đối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trước, trong và sau Đại hội.

Nhân dịp chủ trì hội nghị đối thoại với nông dân và làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao tặng 100 căn nhà, tổng trị giá bảy tỷ đồng cho hộ nghèo người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk.

Nguyễn Công Lý

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam tăng mạnh trong quý II

Ấn bản mới nhất của Báo cáo Giám sát trái phiếu châu Á do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố ngày 25-9 đánh giá: Bất chấp những nguy cơ từ đại dịch Covid-19, việc cải thiện tâm lý của các nhà đầu tư và điều kiện tài chính toàn cầu đã tạo ra sự gia tăng hết sức cần thiết cho các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ tại khu vực Đông Á mới nổi. Thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Việt Nam có được mức tăng trưởng lành mạnh 10,4% trong quý I năm 2020 nhưng đã giảm 1,7% tại thời điểm cuối tháng 6-2020, đạt 58,2 tỷ USD. Nguyên nhân chủ yếu do khối lượng trái phiếu đang lưu hành thấp hơn trong khu vực chính phủ, ngay cả khi lượng trái phiếu doanh nghiệp gia tăng. Cụ thể, tại thời điểm cuối tháng 6-2020, trái phiếu chính phủ Việt Nam đã thu hẹp 7,8% so quý trước, đạt mức 50,1 tỷ USD và chiếm 86,2% tổng lượng trái phiếu toàn quốc. Tuy nhiên, trong quý II, trái phiếu doanh nghiệp đã tăng mạnh ở mức 65,6% so quý trước, đạt mức 8 tỷ USD. Nếu tính theo năm, mức tăng trưởng trái phiếu doanh nghiệp đạt 76% vào cuối tháng 6-2020.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 26/5/2020

Chuyến bay thương mại quốc tế đầu tiên về Việt Nam sau giãn cách xã hội

Trưa 25-9, chuyến bay mang số hiệu VN417 của Hãng hàng không Vietnam Airlines khởi hành từ thủ đô Seoul (Hàn Quốc) đã hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài (Hà Nội). Đây là chuyến bay thương mại quốc tế đầu tiên về Việt Nam của ngành hàng không trong nước, sau một thời gian dài bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Để thực hiện chuyến bay này, Bộ Giao thông vận tải, Cục Hàng không Việt Nam (HKVN), Vietnam Airlines, Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài và các cơ quan chức năng liên quan đã phối hợp chuẩn bị đặc biệt kỹ lưỡng trong nhiều ngày qua. Trong đó, trọng điểm là hoàn thiện các phương án vừa bảo đảm khai thác bay, an toàn bay, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn phòng, chống dịch bệnh, năng lực cách ly hành khách.

Trước đó, rạng sáng cùng ngày, Vietnam Airlines đã thực hiện chuyến bay VN416 hành trình từ Hà Nội – Seoul. Việc nối lại các đường bay thương mại quốc tế sau sáu tháng tạm dừng sẽ đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương rất lớn hiện nay của người dân. Đây cũng là nỗ lực “tự mình vượt khó” của Vietnam Airlines cũng như ngành HKVN trước tình hình dịch Covid-19 đang được kiểm soát tốt trong nước và tại nhiều nơi trên thế giới.

Ông Võ Huy Cường, Phó Cục trưởng HKVN đánh giá: “Đây không chỉ là chuyến bay thương mại quốc tế đầu tiên về Việt Nam sau dịch Covid-19, mà còn là chuyến bay thí điểm nhằm đánh giá năng lực khai thác, tiếp nhận trở lại khách quốc tế của cả ngành hàng không. Chuyến bay được Vietnam Airlines thực hiện an toàn, trong khi vẫn đáp ứng các tiêu chuẩn phòng dịch chặt chẽ, đã khẳng định khả năng phối hợp, điều hành rất hiệu quả giữa các đơn vị trong ngành hàng không cũng như với các đơn vị y tế, kiểm dịch và các nhà chức trách liên quan. Chuyến bay còn đánh dấu bước phục hồi quan trọng của ngành HKVN, góp phần thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế, mở ra những cơ hội phát triển trong thời kỳ bình thường mới”.

Chuyến bay VN417 hành trình Seoul – Hà Nội được Vietnam Airlines khai thác bằng máy bay thân rộng thế hệ mới Airbus A350, chở các hành khách là công dân Việt Nam cùng các chuyên gia, nhà đầu tư Hàn Quốc. Để lên chuyến bay này, hành khách đều phải đáp ứng các thủ tục phòng, chống dịch bệnh rất nghiêm ngặt như: Có giấy xác nhận âm tính với SARS-CoV-2 theo phương pháp realtime PCR của cơ quan y tế có thẩm quyền trong vòng ba ngày trước khởi hành, xác nhận về địa điểm cách ly tại Việt Nam, cài đặt ứng dụng theo dõi tiếp xúc, khai báo y tế…

Sau chuyến bay, hành khách lại tiếp tục được xét nghiệm SARS-CoV-2 tại Việt Nam. Nếu có kết quả dương tính, khách sẽ được chuyển đến cơ sở y tế để cách ly, chăm sóc theo quy định hiện hành. Nếu âm tính, hành khách được cách ly tại khách sạn đã đăng ký và được xét nghiệm lần 2 vào ngày thứ 6, kể từ ngày nhập cảnh hoặc ngay khi có biểu hiện nghi ngờ… Nếu kết quả xét nghiệm lần 2 âm tính, hành khách được phép di chuyển về nơi cư trú, tự cách ly đến khi đủ 14 ngày và thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

Đối với phi hành đoàn, toàn bộ thành viên sau khi trở về Việt Nam cũng được kiểm tra sức khỏe và tổ chức cách ly. Máy bay được phun khử khuẩn toàn bộ khoang hành khách, buồng lái bằng hóa chất theo tiêu chuẩn quốc tế.

Trong thời gian tới, Vietnam Airlines dự kiến khôi phục các đường bay giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Lào, Campuchia trong thời gian tới, ngay khi được Chính phủ và các nhà chức trách chấp thuận.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/9/2020

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với các địa phương ĐBSCL về ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn

Chiều 23-9, tại Tiền Giang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về chủ động ứng phó với nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn (HH-XNM) mùa khô năm 2020 – 2021. Cùng dự, có Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng; lãnh đạo một số bộ, ngành và 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL.

Nguyen Xuan Phuc han han

Mùa khô năm 2020-2021, các bộ, ngành chuyên môn dự báo tình hình HH-XNM tiếp tục diễn biến phức tạp và có khả năng ảnh hưởng rất lớn sản xuất, đời sống của người dân. Chính vì vậy, công tác triển khai biện pháp ứng phó phải quyết liệt và hữu hiệu hơn. Trong đó, công tác giám sát, cảnh báo HH-XNM phải thực hiện thường xuyên; triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu; điều tra, đánh giá phương án cung cấp nguồn nước sinh hoạt của người dân ở khu vực ĐBSCL trong trường hợp xảy ra hạn hán…

Phát biểu ý kiến kết luận buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, chúng ta đã dần hình thành ý thức, kể cả chủ trương, biện pháp cũng như những giải pháp khoa học – công nghệ để triển khai, hạn chế thấp nhất hạn mặn. Những kinh nghiệm của các địa phương nêu ra tại cuộc làm việc này cũng rất tốt cho các địa phương khác. Chúng ta cần nhận thức HH-XNM là vấn đề không thể tránh, chỉ có thể hạn chế. Nói là nguy cơ nhưng đồng thời cũng xuất hiện những thời cơ nếu biết ứng phó, thích nghi.

Nhấn mạnh quan điểm “thuận thiên” trong Nghị quyết số 120/NQ-CP, Thủ tướng cho rằng chúng ta cần sống, sinh hoạt, thích nghi điều kiện và môi trường mới. Nhiều nguyên tắc đầu tư, sản xuất, kinh doanh được đề ra trong Nghị quyết dựa trên tinh thần đó. Thủ tướng đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ quy hoạch tổng thể phát triển vùng ĐBSCL trong quý IV-2020. Trong đó, lưu ý các vấn đề mới của thời đại nhưng đồng thời nghiêm túc kế thừa nhiều nghiên cứu sâu sắc về ĐBSCL trước đây.

Thủ tướng quán triệt tinh thần không để hộ dân nào thiếu nước sinh hoạt; bảo đảm sản xuất trong tình hình mới, giữ được cả sản lượng nông nghiệp, cả lương thực xuất khẩu, cả trái cây và thủy sản tại ĐBSCL.

Về các biện pháp trước mắt, Thủ tướng nêu rõ, tiếp tục làm tốt công tác truyền thông đến từng hộ gia đình về nguy cơ HH-XNM trong mùa khô để người dân chủ động các biện pháp ứng phó phù hợp. Phát huy tinh thần “bốn tại chỗ”, bắt đầu từ người dân, từ cơ sở là chính. Mỗi hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chủ vườn cần chủ động trữ nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, “tự lo cho mình trước”. Nhà nước tập trung chăm lo, hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình khó khăn. Thường xuyên theo dõi chặt chẽ diễn biến nguồn nước, dự báo đủ tin cậy, thông tin kịp thời về nguồn nước để triển khai các biện pháp ứng phó phù hợp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, nguồn nước, giám sát, tổ chức dự báo chuyên ngành về xâm nhập mặn để phục vụ cho công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp (SXNN). Thủ tướng giao Bộ NN-PTNT chủ động chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương về thời vụ sản xuất (đẩy sớm thời vụ), chuyển đổi cơ cấu SXNN phù hợp để hạn chế ảnh hưởng của HH-XNM. Trên tinh thần đó, phải tuyên truyền, vận động, hướng dẫn bà con nông dân chỉ gieo sạ lúa ở những nơi bảo đảm nguồn nước tưới để tránh thiệt hại.

Rà soát, xây dựng kế hoạch phòng, chống thiếu nước, HH-XNM từ nay đến hết mùa khô. Hướng dẫn các địa phương trữ nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất, với quy mô từng hộ gia đình, thôn, ấp, xã, phường, tỉnh… Các lực lượng, gồm công an, quân đội nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng hỗ trợ người dân khi cần thiết, giải quyết các vấn đề cấp bách về nước uống cũng như các vấn đề khác.

Dịp này, Thủ tướng biểu dương Bộ NN-PTNT cùng với các địa phương hoàn thành một số công trình lớn với diện tích kiểm soát mặn trực tiếp đến gần 700 nghìn ha và 3,6 triệu dân được hưởng lợi. Do đó, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu Bộ NN-PTNT và các địa phương đẩy nhanh tiến độ các công trình kiểm soát mặn, trữ nước, cấp nước sinh hoạt.

Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng nước sinh hoạt; hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp xử lý nguồn nước nhằm bảo đảm cho người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh để phòng, tránh phát sinh dịch bệnh do ảnh hưởng của HH-XNM kéo dài.

Bên cạnh cuộc chiến chống hạn hán thì không được quên câu chuyện cũ là chống lũ. Bộ NN-PTNT, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống thiên tai, các địa phương trong vùng không được phép chủ quan mà cần theo dõi chặt chẽ, kịp thời chỉ đạo triển khai các biện pháp ứng phó khi có lũ theo cấp báo động. Khi có lũ về, phải bảo đảm an toàn tính mạng và hạn chế thiệt hại tài sản cho người dân.

Thủ tướng yêu cầu cần nghiên cứu, đánh giá cụ thể, khoa học, làm cơ sở đề ra và triển khai đồng bộ các biện pháp cả trước mắt và lâu dài. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam cần đẩy nhanh nghiên cứu đánh giá tác động của thủy điện, cũng như việc tăng cường sử dụng nước tại các nước thượng nguồn Mê Công đến ĐBSCL để có các giải pháp ứng phó phù hợp.

Bộ Xây dựng chủ trì, cùng với Bộ NN-PTNT và các địa phương tập trung rà soát phương án cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng ĐBSCL, nhất là tại khu vực ven biển và vùng bán đảo Cà Mau để đưa vào quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đầu tư, huy động các nguồn lực để từng bước triển khai thực hiện.

Bộ NN-PTNT tính toán cân đối khả năng bảo đảm nguồn nước cho SXNN, trên cơ sở đó tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhất là tại các khu vực không chủ động được về nguồn nước.

Các địa phương tập trung rà soát lại phương án SXNN, trong đó cần đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu SXNN theo hướng dẫn của Bộ NN-PTNT; chủ động kiểm soát mặn, trữ nước ngọt. Các bộ và địa phương cần nghiên cứu các chính sách phù hợp để hỗ trợ các hộ nghèo, hộ gia đình khó khăn xây bể trữ nước sinh hoạt.

Về các kiến nghị, Thủ tướng nhất trí việc ưu tiên nguồn lực trong kế hoạch trung hạn 2021-2025 để đầu tư công trình thủy lợi nhằm chủ động sản xuất thích ứng điều kiện HH-XNM.

Sáng cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn công tác của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương đã có buổi đi thực tế tại vườn cây ăn quả và gặp gỡ nông dân tại xã Hiệp Đức (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Tại buổi gặp gỡ các nông dân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt; hạn, mặn xâm nhập sâu vào nội đồng. Trong đợt hạn, mặn vừa qua, nhiều tỉnh ở ĐBSCL bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, với sự quyết liệt của các địa phương, sự sáng tạo của nông dân trong cách ứng phó đã làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại cho người dân. Các địa phương và ngành chuyên môn cần tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo SXNN. Trung ương cũng cần có chương trình quốc gia về ngăn mặn, giảm mặn cho khu vực ĐBSCL…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 30/9/2020

Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học

Hơn 340 tài liệu về khảo cổ học được công bố tại Hội nghị thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học toàn quốc lần thứ 55 do Viện Khảo cổ học – Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam phối hợp UBND TP Hải Phòng khai mạc sáng 29-9, tại TP Hải Phòng.Khao co hoc

 Hội nghị thu hút sự quan tâm tham dự của hơn 300 nhà khoa học, khảo cổ học, quản lý văn hóa trên cả nước.

Tại diễn đàn này, các đại biểu được thông báo, chia sẻ các kết quả nghiên cứu, các phát hiện mới về lĩnh vực khảo cổ học, nhằm giới thiệu đến công chúng và nhân dân, cung cấp các thông tin, vấn đề khảo cổ học mới, tiềm năng nghiên cứu trong lĩnh vực khảo cổ học, khoa học, xã hội và nhân văn trong thời gian qua. Trong đó, có 105 tài liệu về khảo cổ học tiền sử như: di tích cư trú Tuần Quán 1 (Yên Bái) – di tích có niên đại sớm nhất từ hậu kỳ Đá cũ; di tích Vườn Chuối, gò Dền Rắn, Mỏ Phượng (Hà Nội); các di tích hậu kỳ Đá mới, sơ kỳ Kim khí tại Đắc Nông, Gia Lai, Đắc Lắc… Cùng với đó là 166 tài liệu về khảo cổ học lịch sử về thành Luy Lâu, Thăng Long, các bãi cọc thuộc chiến trường Bạch Đằng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc…. Đồng thời, 48 tài liệu về khảo cổ học Champa – Óc Eo, 16 tài liệu về khảo cổ học dưới nước và sáu tài liệu về các hoạt động chung của các cơ quan nghiên cứu khảo cổ cũng được thông báo.

Những tài liệu công bố tại hội nghị cũng là cơ sở đề xuất xây dựng các đề án, dự án, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – văn hóa, xã hội của đất nước và các địa phương. Đây cũng là những thông tin khoa học mới bổ sung những cứ liệu vật chất, giúp các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu những vấn đề cơ bản của khảo cổ học Việt Nam, góp phần nhận thức rõ hơn lịch sử hình thành dân tộc, lịch sử hình thành và phát triển con người Việt Nam. Mục tiêu để bảo vệ, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy những giá trị lịch sử văn hóa của Việt Nam trong thời kỳ mới, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Trước đó, chiều 28-9, các nhà khoa học đã đi thăm dấu tích bãi cọc Cao Quỳ, bãi cọc Đầm Thượng tại huyện Thủy Nguyên – những chứng tích lịch sử mới phát hiện được cho là có liên quan đến những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trên sông Bạch Đằng của cha ông ta xưa. Hiện, TP Hải Phòng đang thực hiện các dự án nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích lịch sử quan trọng và có ý nghĩa trong mạch nguồn lịch sử của dân tộc và mảnh đất nơi đây.

Ngô Quang Dũng

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 28/9/2020

Việt Nam đoạt hai Huy chương vàng Ô-lim-pích Toán học quốc tế

Tối 27-9, Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Ðào tạo) cho biết, đội tuyển quốc gia Việt Nam gồm sáu thí sinh dự thi Ô-lim-pích Toán học quốc tế và cả sáu em đoạt giải.

Theo đó, hai Huy chương vàng thuộc về các học sinh: Ngô Quý Ðăng, lớp 10 và Trương Tuấn Nghĩa, lớp 11, Trường THPT Chuyên khoa học tự  nhiên, thuộc Trường đại học Khoa học tự nhiên (Ðại học Quốc gia Hà Nội); Huy chương bạc thuộc về học sinh Nguyễn Mạc Nam Trung, lớp 12, Trường THPT Năng khiếu, Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Huy chương đồng thuộc về hai học sinh: Chu Thị Thanh, lớp 12, Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc (tỉnh Vĩnh Phúc) và Trần Nhật Minh, lớp 12, Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong (Nam Ðịnh). Học sinh Ðinh Vũ Tùng Lâm, lớp 11, Trường THPT Chuyên khoa học tự  nhiên được nhận Bằng khen.

Ô-lim-pích Toán học quốc tế lần thứ 61, năm 2020 do Liên bang Nga đăng cai, được tổ chức theo hình thức thi trực tuyến, với 616 thí sinh đến từ 105 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự. Với kết quả đạt được, đội tuyển Toán học Việt Nam đứng thứ 17 trong tổng số các đội tuyển dự thi.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/9/2020

Tọa đàm kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà văn Tô Hoài

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài (27-9-1920 – 27-9-2020) nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, họa sĩ đã chia sẻ những cảm xúc về nhà văn Tô Hoài và các tác phẩm của ông, những sáng tác đã tạo cảm hứng cho dòng chảy văn học thiếu nhi qua suốt bao thế hệ tại buổi tọa đàm do NXB Kim Đồng tổ chức. To Hoai 100 nam

Đối với NXB Kim Đồng, Tô Hoài là một trong những người đặt nền móng và thậm chí ông còn là người đặt tên cho NXB. Tổng Biên tập, Giám đốc NXB Kim Đồng Bùi Tuấn Nghĩa cho biết, những hoạt động nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài không chỉ là sự vinh danh mà còn là sự tri ân của NXB đối với nhà văn đã lập nền móng và đặt tên cho Kim Đồng.

Trong làng văn, Tô Hoài cũng là một trong những người có nhiều tác phẩm nhất, rải rộng cho nhiều đối tượng, từ thiếu nhi cho tới người trưởng thành. Ông cũng là người dấn thân vào nhiều công việc khác nhau để từ đó có được những nguồn tư liệu sống động cho các trang viết của mình.

Nhà thơ Vũ Quần Phương kể lại: “Tô Hoài gần dân, chịu khó tham gia vào các công việc của dân để lấy tư liệu như tổ trưởng dân phố, thậm chí tổ trưởng tổ nước sôi… Năng suất lao động của Tô Hoài cũng chưa có ai đuổi kịp, gần 90 tuổi rồi vẫn viết”. 

Nhà thơ Vũ Quần Phương còn kể về sự tôn kính của Tô Hoài đối với một nhà văn “cây đa cây đề” khác là Nguyễn Tuân. Nhà thơ cho biết, đối với ông, cả hai nhà văn đều là những bậc đại thụ trong làng văn Việt Nam, nhưng nhà văn Tô Hoài đối với nhà văn Nguyễn Tuân luôn giữ một thái độ kính cẩn. “Tôi Hoài luôn coi Nguyễn Tuân là bậc bề trên. Đó là một thái độ đáng kính của các nhà văn thời xưa”-– ông nói. 

TS, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, điều làm nên sức hấp dẫn trong các tác phẩm của Tô Hoài là những nghiên cứu sâu của ông, thông thạo nét đất nét người cho dù viết đề tài gì. Ông viết về những gì quen thuộc gần gũi, viết về bạn bè, về những người chung quanh mình. Ông không phản ánh hiện thực trong văn của mình, mà kiến tạo nên hiện thực từ những cảm nhận của mình. 

TS giáo dục, nhà thơ Nguyễn Thụy Anh (ảnh trên), người có rất nhiều trải nghiệm với các tác phẩm của Tô Hoài cùng nhiều lứa độc giả nhí trong CLB Đọc sách cùng con của chị, cho rằng tác phẩm của Tô Hoài hấp dẫn ở tính hóm hỉnh, gần gũi với các em nhỏ và thấm đẫm sự nhân hậu. Chị cũng chia sẻ rằng, cách dùng từ của nhà văn rất được các em nhỏ để ý. “Ngôn ngữ của ông có sự ngọ nguậy, khúc khích ở trong đó”, chị cho biết.

Các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn, theo TS Nguyễn Thụy Anh, còn rất giá trị ở chỗ khơi gợi trẻ nhỏ viết theo cách riêng của mình, khuyến khích các bạn nhỏ có những trải nghiệm để hiểu được những định nghĩa trong văn của ông. 

Họa sĩ, NSND Ngô Mạnh Lân là người đầu tiên vẽ minh họa truyện “Dế mèn phiêu lưu ký” năm 1959. Ông cho biết, khi đó ông đang học họa sĩ, đạo diễn phim hoạt hình tại trường Đại học Quốc gia Liên Xô. Khi đó, một nhà văn Nga đã gợi ý ông vẽ minh họa cho “Dế mèn”. “Khi đó tôi mới học năm thứ hai, tôi đã đi Bảo tàng côn trùng ở bên đó để tìm hiểu về dế mèn, nhưng không có, chỉ có châu chấu. Nhưng tôi vẫn bắt tay vào vẽ. “Dế mèn phiêu lưu ký” đã mở ra cho tôi một thế giới mới lạ, có những con vật tôi chưa từng biết đến, như gọng vó” – họa sĩ chia sẻ. 

Năm 1972, lần thứ hai họa sĩ Ngô Mạnh Lân vẽ Dế mèn là do nhà văn Tô Hoài đề nghị. “Ở lần thứ hai này, tôi đã vẽ đúng và hợp lý hơn. Tôi vẫn nhớ, vẽ xong, tôi và nhà văn đi uống bia ở phố Hàng Buồm, nhưng kẻng báo động kêu vang, thế là chúng tôi đành phải bỏ để chạy xuống hầm”. 
Lần thứ ba vẽ Dế mèn, họa sĩ vẽ theo yêu cầu của NXB Kim Đồng vào năm 1989. “Khi đó sách in giấy khổ nhỏ, khá là khó để căn chỉnh cho phù hợp”. Họa sĩ Ngô Mạnh Lân cho biết, bản minh họa năm đó được Bộ Giáo dục – Đào tạo và UNICEF trao giải, và được UNICEF lựa chọn để triển lãm tại Mỹ. “Nhà văn Tô Hoài là người đã đem lại cho tôi tình yêu với những nhân vật nhỏ bé chung quanh mình” – ông nói.

Chính vì những giá trị trong cả ngôn từ, cách kể chuyện, nội dung, thái độ và những thông điệp nhân văn, cho nên Tô Hoài cũng là một trong những tác giả có được lựa chọn in trong sách giáo khoa các cấp nhiều nhất.

PGS-TS Bùi Thanh Truyền, Trưởng khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phân tích, tác phẩm của ông có nghệ thuật kể chuyện dí dỏm, ngôn từ hấp dẫn. Các cấp học đều lấy các tác phẩm của ông để làm bài học, bài tập, ngữ liệu. Các tác phẩm của ông đều sử dụng ngôn ngữ quen thuộc, gần gũi, dễ đưa vào nhà trường. “Tên các nhân vật của ông đã đi vào đời sống thường ngày, đó là hạnh phúc của người viết” – PGS.TS Bùi Thanh Truyền chia sẻ.

Tuyết Loan

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/9/2020

Tôn vinh và tưởng niệm Danh nhân văn hóa thế giới – Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

Tối 26-9, tại TP Hà Tĩnh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tĩnh long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 255 năm Ngày sinh (1765 – 2020), tưởng niệm 200 năm Ngày mất (1820 – 2020) của Danh nhân văn hóa thế giới – Ðại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí: Võ Văn Thưởng, Ủton vinh Nguyen Duy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư T.Ư Ðảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội, cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành của Trung ương, Ủy ban UNESCO cùng lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh và một số địa phương trong cả nước, Hội Kiều học Việt Nam, đại diện các tổ chức, cơ quan ngoại giao nước ngoài, các nhà văn, nhà thơ và đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Ðọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, đồng chí Lê Ðình Sơn, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh nêu bật những đóng góp quan trọng của Ðại thi hào Nguyễn Du với nền văn học và văn hóa Việt Nam, người đã để lại một di sản văn chương đồ sộ, nhất là kiệt tác Truyện Kiều – đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, làm rạng rỡ văn hóa dân tộc và quê hương Hà Tĩnh trên trường quốc tế. Tự hào là quê hương của Ðại thi hào Nguyễn Du, Ðảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh luôn ý thức được trách nhiệm, sứ mệnh phải tiếp bước xứng đáng với công lao của các bậc tiền nhân. Ðồng chí nhấn mạnh: “Kỷ niệm 255 năm Ngày sinh, tưởng niệm 200 năm Ngày mất Ðại thi hào Nguyễn Du, Ðảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh nguyện cùng nhân dân cả nước gìn giữ, phát huy các di sản của Ðại thi hào; chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng tỉnh nhà giàu về kinh tế, vững mạnh về chính trị, quốc phòng – an ninh, đậm đà bản sắc văn hóa, nhân dân có cuộc sống hạnh phúc, thỏa nguyện ước mơ của Ðại thi hào và bao lớp tiền nhân về một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh cho tất cả mọi người”.

Lễ kỷ niệm tiếp nối bằng chương trình nghệ thuật sử thi đặc biệt với chủ đề “Nguyễn Du, trăm năm trong cõi…” do các nghệ sĩ, diễn viên đến từ mọi miền đất nước thể hiện. Chương trình đã tái hiện và khắc họa cuộc đời, sự nghiệp của Ðại thi hào Nguyễn Du, bao gồm tám trường đoạn: Khai từ, Tuổi thơ trong nhung lụa, Trôi giữa dòng đời, Non Hồng tức cảnh, Giao hưởng nhạc vũ – kịch Truyện Kiều, Ðối thoại với người trong truyện, Văn tế Nguyễn Du, Ngàn năm hậu thế nhớ Nguyễn Du. Mỗi trường đoạn tái hiện một mốc lịch sử từ lúc Nguyễn Du lọt lòng được bồng bế trên đôi tay mẹ đến những biến cố ông phải trải qua trong cuộc đời.

Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh năm 1765, quê ở Tiên Ðiền, Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Truyền thống dòng tộc, sự giao thoa của văn hóa xứ Nghệ – miền quê của những làn điệu dân ca ví giặm đằm thắm, dung dị mà sâu sắc với Kinh Bắc – vùng đất mượt mà của dân ca quan họ và văn hóa bác học kinh kỳ Thăng Long đã sinh thành, nuôi dưỡng Nguyễn Du trở thành nhân cách lớn, tâm hồn lớn và tài năng vượt thời đại… Nguyễn Du đã viết nên những áng văn chương thấm đẫm tình đời và tình người, tiêu biểu như: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Văn chiêu hồn… và đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều. Tác phẩm là tiếng nói tố cáo các thế lực phong kiến bất công, bạo tàn; tôn vinh vẻ đẹp tài sắc, đức hạnh của người phụ nữ, về tình yêu lứa đôi, về giấc mơ công lý và khát khao cháy bỏng vươn tới hạnh phúc của con người. Truyện Kiều thể hiện biệt tài trong miêu tả thiên nhiên, khắc họa thế giới nội tâm con người; hội tụ vẻ đẹp thanh cao, biểu cảm tinh tế, lung linh đầy màu sắc, âm thanh của tiếng Việt; sự kết tinh mẫu mực của thể thơ lục bát dân tộc, có sức lôi cuốn diệu kỳ, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của mọi tầng lớp nhân dân từ xưa đến nay. Truyện Kiều đã trở thành tác phẩm đỉnh cao của nền văn học trung đại Việt Nam, ghi dấu ấn của văn học nước ta trên thi đàn quốc tế, làm lay động trái tim bạn bè khắp năm châu, bốn biển.

Với những cống hiến lớn lao của Ðại thi hào Nguyễn Du đối với văn hóa dân tộc và những giá trị cốt lõi của nhân loại, năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã quyết nghị tổ chức kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Nguyễn Du cùng tám danh nhân văn hóa trên toàn thế giới. Năm 2013, Ðại hội đồng UNESCO quyết định vinh danh Ðại thi hào Nguyễn Du cùng 107 danh nhân văn hóa của nhân loại.

* Sáng cùng ngày, tại Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Ðại thi hào Nguyễn Du (thị trấn Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân), UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp Hội Kiều học Việt Nam, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn – Tiên Ðiền đã tổ chức lễ giỗ lần thứ 200 Ngày mất Danh nhân văn hóa thế giới – Ðại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Các đại biểu đã đến đặt vòng hoa, dâng hương, tưởng niệm tại phần mộ Ðại thi hào Nguyễn Du. Trong không khí trang nghiêm, thành kính, các đại biểu đã bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn sâu sắc, tri ân những đóng góp to lớn của Ðại thi hào Nguyễn Du đối với nền văn học nước nhà, với văn hóa nhân loại.

* Ngày 26-9, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP Hồ Chí Minh tổ chức buổi tọa đàm “Duyên nghiệp Thúy Kiều” nhân dịp kỷ niệm 255 năm Ngày sinh và tưởng niệm 200 năm Ngày mất của Danh nhân văn hóa thế giới – Ðại thi hào Nguyễn Du. Các tham luận và ý kiến tại tọa đàm đã tập trung khẳng định công lao, tài năng và tôn vinh những đóng góp đặc biệt xuất sắc của Nguyễn Du đối với văn hóa Việt Nam. Trải qua bao biến động lịch sử, nhân cách và sự nghiệp lớn lao của Ðại thi hào Nguyễn Du vẫn luôn sáng mãi trong lòng hậu thế và đời sống văn hóa tinh thần dân tộc. Kiệt tác Truyện Kiều của ông đã in sâu vào tâm thức người Việt như một áng văn chương giàu tính nhân bản, nuôi dưỡng những nỗi niềm nhân thế. Tác phẩm của ông luôn thể hiện chủ nghĩa nhân văn sâu sắc trên cơ sở của tình yêu thương vô hạn và tư tưởng tự do, bình đẳng, góp phần đưa văn học Việt Nam trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại. Nhân dịp này, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Trần Ðình Sơn đã giới thiệu nhiều ấn bản Truyện Kiều trong nước và ngoài nước trong bộ sưu tập của mình.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/9/2020

Kỷ niệm ngày sân khấu Việt Nam năm 2020

Kỷ niệm Ngày sân khấu Việt Nam lần thứ 11, năm 2020 (ngày 12-8 âm lịch), tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam vừa tổ chức Lễ Giỗ Tổ sân khấu dân tộc với sự tham gia của đông đảo các thế hệ người làm sân khấu nước nhà.

ky niem ngay san khau viet nam

Sau lễ tế Tổ, tri ân những bậc tiền bối có công khai phá nghệ thuật sân khấu của dân tộc là chương trình nghệ thuật được dàn dựng công phu, hội tụ các loại hình nghệ thuật truyền thống được các nhà hát, nghệ sĩ biểu diễn. Tại buổi lễ, Ban tổ chức đã tôn vinh, trao quà tặng tới các nghệ sĩ cao tuổi là NSND, NSƯT và các nghệ sĩ được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật. Bên cạnh đó, ban tổ chức cũng trao tặng giải thưởng kịch bản xuất sắc, vở diễn xuất sắc, các giải thưởng dành cho cá nhân xuất sắc đã đóng góp vào thành công của sân khấu Việt Nam trong năm và 200 suất quà tặng các nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 27/9/2020

Khai trương hệ thống xạ trị hiện đại

Ngày 26-9, tại Vĩnh Phúc, Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt (Vĩnh Phúc) và Bệnh viện K đã ký kết Chương trình hợp tác toàn diện và tổ chức khai trương hệ thống xạ trị gia tốc mới Synegry.

Người bệnh ung thư thêm nhiều cơ hội được chữa bệnh tốt nhất với kỹ thuật xạ trị hàng đầu trên thế giới, giảm tác dụng phụ thường có của xạ trị và góp phần nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Với trị giá hơn 100 tỷ đồng, hệ thống máy xạ trị gia tốc Synegry thế hệ mới của hang Elekta là một trong những hệ thống máy tiên tiến nhất hiện nay, cho phép thực hiện nhiều kỹ thuật cao trong xạ trị nhằm tối ưu lợi ích tiêu diệt khối u ác tính đồng thời giảm tác dụng phụ tối đối với các cơ quan khác trong cơ thể.

Hệ thống máy có thể thực hiện kỹ thuật hiện đại: Xạ trị biến liều; Xạ trị điều biến thể tích. Các kỹ thuật này mới chỉ triển khai được một số cơ sở bệnh viện lớn, tuyến trung ương như: Bệnh viện K, Bệnh viện 108, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viên Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh…

Với việc đưa vào hoạt động khu xạ trị kỹ thuật cao, Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt sẽ là cơ sở đầu tiên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận có một trung tâm điều trị ung bướu hoàn chỉnh, khép kín theo đúng tiêu chuẩn điều trị đa mô thức, đưa Vĩnh Phúc và Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt lên bản đồ xạ trị Việt Nam.

Bên cạnh việc khai trương máy xạ trị gia tốc thế hệ mới, Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt và Bệnh viện K (Hà Nội) đã ký kết chương trình hợp tác toàn diện trong việc chuyển giao công nghệ giữa Bệnh viện công đầu ngành về ung thư với một bệnh viện tư nhân, làm tăng khả năng tiếp cận của người bệnh ở địa phương với những ứng dụng khoa học kỹ thuật cao nhất góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm quá tải cho bệnh viên tuyến trung ương. 

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Khai mạc các hoạt động vui Trung thu tại Phố cổ Hà Nội

 Nhân dịp Tết Trung thu 2020, Ban quản lý Phố cổ Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động vui Tết Trung thu tại những địa chỉ văn hóa trong khu phố cổ (quận Hoàn Kiếm).

Tâm điểm của các hoạt động diễn ra tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội (số 50 phố Đào Duy Từ).

Tại đây, Ban quản lý Phố cổ Hà Nội phối hợp các nghệ nhân và thợ thủ công giới thiệu cách làm đồ chơi truyền thống: Đèn ông sao, ông Tiến sĩ, ông đánh gậy, mặt nạ giấy bồi; con phỗng đất, con giống bột, diều giấy… Cùng việc giới thiệu các đồ chơi, trò chơi, Ban quản lý Phố cổ cùng các nghệ nhân thuyết trình về ý nghĩa các đồ chơi, trò chơi – đó không đơn thuần để giải trí, mà còn là công cụ giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ.

Ngoài ra, Ban quản lý Phố cổ còn giới thiệu không gian gia đình Hà Nội đón Tết Trung thu tại Ngôi nhà Di sản (số 87 phố Mã Mây); trang trí, sắp đặt không gian giới thiệu về Tết Trung thu truyền thống tại đình Kim Ngân (số 42, 44 phố Hàng Bạc) và tại Trung tâm Thông tin Di sản (số 28 phố Hàng Buồm).

Theo bà Trần Thị Thúy Lan, Phó Ban quản lý Phố cổ Hà Nội, do tác động của dịch Covid-19, nhiều phụ huynh vẫn e ngại khi cho con chơi tại các địa điểm công cộng, năm nay, Ban tổ chức đổi mới việc tổ chức Tết trung thu. Trong đó, nhiều hoạt động trải nghiệm tương tác sẽ được thực hiện theo hình thức trực tuyến (livestream), sử dụng các công nghệ hỗ trợ để nghệ nhân, thợ thủ công giao lưu, hướng dẫn các gia đình và các bé làm đồ chơi truyền thống.

Cụ thể, Ban tổ chức  phát livestream trên trang fanpage facebook “Phố cổ Hà Nội” vào các ngày: 25-9 (từ 11 giờ đến 12 giờ), 27-9 (từ 10 giờ đến 11 giờ), 30-9 (từ 9 giờ 30 phút đến 10 giờ 15 phút).

Riêng các hoạt động trưng bày sẽ tổ chức liên tục từ ngày 25-9 đến 1-10.

Giang Nam

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Hội thảo khoa học “Tiếng Việt trong Truyện Kiều”

Ngày 25-9, tại TP Hà Tĩnh, UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp Hội Kiều học Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “ Tiếng Việt trong Truyện Kiều”.Hoi thao truyen kieu

Đây là hoạt động nằm trong chương trình Kỷ niệm 255 năm Ngày sinh (1765 -2020), tưởng niệm 200 năm Ngày mất (1820 – 2020) Danh nhân văn hóa thế giới, Đại thi hào Nguyễn Du nhằm khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của kiệt tác Truyện Kiều. Đồng thời tôn vinh công lao của Nguyễn Du trong việc phát huy và sáng tạo cái hay, cái đẹp của tiếng Việt khi viết Truyện Kiều, góp phần phổ biến, giữ gìn, bảo vệ những giá trị của tiếng Việt. Qua hội thảo sẽ công bố những kết quả nghiên cứu mới về Truyện Kiều dưới góc độ ngôn ngữ và ngôn ngữ học, từ đó giúp cho việc tìm hiểu, thưởng thức, dịch thuật và phổ biến Truyện Kiều được sâu rộng, chuẩn xác hơn.

Theo Giáo sư Phong Lê, Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam, Tiếng Việt trong Truyện Kiều – câu chuyện chúng ta bàn hôm nay, sau lịch sử khoảng 200 năm khi Truyện Kiều ra đời, trước hết có ý nghĩa tôn vinh Đại thi hào Nguyễn Du, người đã đưa tiếng Việt lên một tầm cao giá trị mới, trước và sau ông và cho đến nay chưa ai sánh được. Từ là một khúc “Nam âm tuyệt xướng”, là “thiên thu tuyệt diệu từ” đến “Nguyễn Du viết Truyện Kiều đất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên), “Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” (Tố Hữu) trải qua 200 năm, vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt trong truyện Kiều ngày càng tỏa rạng hơn, sâu lắng hơn. Một tiếng Việt của Nguyễn Du cũng là tiếng Việt cho muôn người, cho muôn đời – nó là của cải, giá trị, là kho báu để khẳng định sự trường tồn của dân tộc.

Dự hội thảo, 48 tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những người yêu mến Truyện Kiều đã đề cập đến cội nguồn và sự hiện diện của thiên tài tiếng Việt Truyện Kiều. Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú khẳng định, tiếng Việt của Truyện Kiều là sự kết tinh ở mức độ thiên tài của quá trình vận động phát triển của tiếng Việt nói chung, trong đó có tiếng Việt văn chương bao gồm hai luồng cơ bản là ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ dân gian…; là sự kết tinh của quá trình vận động và phát triển thể tài thuộc văn học Nôm từ chỗ là thơ Đường luật, văn tế đến diễn ca lịch sử, đến truyện thơ là thể loại tiền thân của thể loại tiểu thuyết vốn có khả năng dung chứa nội dung cuộc sống và đời sống tình cảm con người lớn hơn…

Theo PGS, TS Biện Minh Điền, tiếng Việt qua Nguyễn Du, đến Truyện Kiều đã chứng tỏ khả năng vi diệu của nó trong biểu đạt mọi biểu hiện của “tâm”, “tình”, “cảnh”, “sự”, trong chuyển tải muôn điều muốn nói của con người trước nhiều trạng thái, tình thế, bối cảnh khác nhau…Tiềm năng cộng cảm, lay thức người đọc hãy còn phong phú, mạnh mẽ có lẽ không bao giờ vơi cạn. Đồng quan điểm trên, khi đề cập đến dấu ấn thơ ca dân gian Việt Nam trong Truyện Kiều, cô giáo Trần Quỳnh Trang đến từ Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh khẳng định, sự hài hòa giữa ngôn ngữ của thơ ca dân gian và ngôn ngữ Truyện Kiều đến mức có những câu không còn biết thi nhân mượn của nhân dân hay nhân dân mượn của thi nhân. Văn chương của Truyện Kiều có được cái vang ngân, cái sức gợi lạ lùng của ca dao và những câu ca dao chuyển vào Truyện Kiều cũng có vẻ đẹp riêng.

Tự hào về Nguyễn Du, về Truyện Kiều, Tiến sĩ Đặng Duy Báu khẳng định, theo suốt chiều dài lịch sử, tên tuổi cụ Nguyễn Tiên Điền gắn liền với núi Hồng Lĩnh, dòng Lam Giang, làm rạng rỡ và sống mãi cùng non sông đất nước Việt Nam. Tư tưởng nhân văn của ông không chỉ nằm ở câu chuyện văn chương, mà hiện nay với chúng ta đang là câu chuyện cuộc đời, của cuộc đấu tranh đẩy lùi nạn tiêu cực, hướng tới mục tiêu cao đẹp, văn minh trong sự nghiệp đổi mới. 

Dịp này, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ra mắt Quỹ bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều.

Tin, ảnh: Ngô Tuấn

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 26/9/2020

Triển lãm tranh minh họa Truyện Kiều và các tác phẩm của Nguyễn Du

Sáng 24-9, tại Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du ở thị trấn Tiên Điền, H. Nghi Xuân (Hà Tĩnh), Sở VH-TT và DL tỉnh này tổ chức Triển lãm tranh minh họa Truyện Kiều và các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi tuần lễ kỷ niệm 255 ngày sinh và 200 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn Du.

Tại đây, khách tham quan sẽ thưởng lãm 150 bức tranh Truyện Kiều, 40 bức tranh sơn dầu khổ lớn, 500 ấn phẩm Truyện Kiều qua các thời kỳ và di sản văn chương của đại thi hào Nguyễn Du.

Triển lãm diễn ra từ 24 đến 28-9-2020. Trong thời gian này, tại Hà Tĩnh diễn ra các hoạt động kỷ niệm 255 ngày sinh và 200 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn Du; trao giải cuộc thi tìm hiểu về đại thi hào Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều trong các cơ sở giáo dục; hội thảo khóa học “Tiếng Việt trong Truyện Kiều”; trao giải thưởng Văn học Nguyễn Du, Bạn đọc thuộc Truyện Kiều, “Viết văn tế Nguyễn Du”. Đặc biệt, trong ngày 26-9 sẽ diễn ra lễ giỗ và lễ kỷ niệm 255 ngày sinh và 200 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn Du với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Nguyễn Du – Trăm năm trong cõi…” được truyền hình trực tiếp trên các kênh của truyền hình Trung ương và địa phương.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 24/9/2020

Việt Nam đoạt bốn huy chương Ô-lim-pích Tin học quốc tế

Tối 23-9, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức lễ bế mạc, trao giải Olympic Tin học quốc tế lần thứ 32 năm 2020. Kỳ thi năm nay được tổ chức theo hình thức trực tuyến; Singapore là nước chủ nhà đăng cai tổ chức; đội tuyển quốc gia Việt Nam dự thi tại Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). 

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đội tuyển quốc gia Việt Nam có bốn thí sinh dự thi thì cả bốn em đoạt huy chương. Huy chương Vàng thuộc về học sinh Bùi Hồng Đức, lớp 12, Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, thuộc Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội); hai Huy chương Bạc thuộc về các học sinh: Lê Quang Huy, lớp 11 và Vũ Hoàng Kiên, lớp 12, Trường THPT chuyên Khoa học Tự  nhiên; Trần Quang Thành, lớp 12, Trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội đoạt Huy chương Đồng.

Kỳ thi có 343 thí sinh đến từ 87 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia (đây là kỳ thi quốc tế có nhiều đơn vị tham gia nhất trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu).

Kế tiếp kết quả nổi bật của Olympic Hóa học, Sinh học quốc tế và Olympic Tin học châu Á năm 2020, kết quả Olympic Tin học quốc tế năm nay khẳng định sự nỗ lực, cố gắng của học sinh, giáo viên và các nhà trường đã tích cực, chủ động ôn tập, bồi dưỡng trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức phức tạp.

Quý Tùng

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/9/2020

Nhạc sĩ Phó Đức Phương một đời tận tụy

Nhạc sĩ Phó Ðức Phương từng bảo tôi, sau khi nghe bác sĩ thông báo ông bị ung thư giai đoạn cuối, rằng: “Tớ biết bệnh tớ là gì chứ, là ở ngưỡng của cái chết, tớ đã chăm bạn tớ bị ung thư tớ còn lạ gì, nhưng tớ nghĩ chỉ là lại tiếp tục vất vả đây, chứ trời chưa cho tớ nghỉ, tớ còn bao dự định chưa làm…”Pho Duc Phuong

“Lại tiếp tục vất vả đây”, câu nói ấy tôi thấu hiểu lắm. Một người cả đời vất vả. Tôi quen vợ chồng ông hơn 20 năm, làm việc với ông hơn tám năm, tôi kém ông sáu tuổi, anh em chơi với nhau khá tri kỷ, những tâm sự chân thành nhất cũng nói, đôi khi cũng va chạm vì ông là người “gàn”, cực đoan và kiên định, mà thời buổi này, những phẩm chất ấy nhiều khi đem lại những bất lợi không nhỏ trong công việc. Song, kể từ khi thôi không làm việc cùng nhau nữa, ông vẫn xuống xưởng vẽ của tôi chơi với các họa sĩ, hoặc để nói câu chuyện thời sự mà ông luôn day dứt…

Quen, thân nên tôi biết ông có cuộc sống vất vả trần đời. Nhưng nhìn vào thì có vẻ sướng: viết bài hát nào cũng hay, đi đâu cũng có người biết. Từ bà bán chè chén vỉa hè đến chính khách cỡ lớn thấy ông đều chào hỏi, ai cũng trân trọng. Vợ trẻ đẹp, con cái trưởng thành, lại là giám đốc một cơ quan đang độ thành công (Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam – VCPMC). Nhưng nào ai biết ông đã đi những bước thăng trầm đến độ nếu không có bản lĩnh thì bỏ cuộc từ đầu. VCPMC là gì, tại sao bỗng dưng lại phải mất tiền cho nó, từ xưa đến nay âm nhạc cứ dùng thoải mái, chả cần phải hỏi ai, xin ai, chỉ cần cái giấy phép của cơ quan chức năng là thỏa sức dùng. Họ quan niệm rằng dùng cho các ông là may rồi,

chứ có nghĩ đâu, âm nhạc nói riêng và sản phẩm trí tuệ nói chung phải cần có bản quyền, phải được người có quyền tác phẩm cho phép mới được! Ðó là cả một thay đổi về nhận thức xã hội, mà Phó Ðức Phương là người đặt viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà VCPMC, một tổ chức cần phải có, không chỉ để bảo vệ quyền lợi cho các nhạc sĩ trong nước và quốc tế, mà còn là điều kiện để một quốc gia hội nhập với toàn cầu.

Từ những năm đầu của thế kỷ 21, ông đã tự mình tìm hiểu những điều luật về quyền tác giả, là thành viên sáng lập và Giám đốc điều hành VCPMC từ năm 2002, trong khi phải đến năm 2008, Việt Nam mới nhập Công ước Berne (Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật). Những năm tháng ấy, ông đương đầu với mọi thử thách vì sự khó hiểu của Luật Sở hữu trí tuệ của số đông. Nhưng đến khi thành công thì lại bị nghi ngờ về tính mục đích của hành động khai sáng đó.

“Ðường dễ không đi, cứ chọn cái khó”, anh chị em trong nhà ông cũng nói thế, tôi cũng đôi lúc đùa thế và khuyên ông hãy thỏa hiệp, hãy đi từ từ để số đông theo kịp… Ông rất bực trước những lời khuyên đó! Trong sáng tác cũng vậy, viết cái gì cũng khó, thậm chí những nốt (note) cực khó, một nốt có đến 14 nốt phụ. Ai hát kêu khó, ông hát mẫu cho nghe trước, rồi bảo, các cậu không cần sáng tạo gì hơn, tớ bảo đảm cứ hát đúng nốt của tớ là sẽ hay. Bình thường ông là người hay cười, vui tính nhưng cứ vào việc (quyền tác giả hay thể hiện tác phẩm) thì ông khó tính cực kỳ, nhăn nhó cáu bẳn, sai một ly một lai ông cũng không chấp nhận. Ðang là nghệ sĩ mơ mộng mà thuộc luật có khi còn hơn cả luật gia. Về âm nhạc thì độ sâu sắc kinh ngạc hơn nữa. Nhạc của Phó Ðức Phương thuần Việt hơn cả Việt, dân ca (đồng bằng Bắc Bộ) thấm sâu trong máu từ “khi mẹ đưa nôi”, ông đã phát triển nó, không chỉ là ảnh hưởng nó mà tạo ra một thứ dân ca Việt cao hơn, đáng thích hơn, có sức lay động tâm can không chỉ người Việt mà vượt khỏi biên giới vì ngôn ngữ hiện đại của nó…

Ðể viết một tác phẩm dù nhỏ nhưng ông cũng để tất cả tâm huyết vào đó. Ông luôn bảo: “Tư tưởng là quan trọng nhưng chi tiết là cái làm nên diện mạo cá nhân”, vì thế nên ông đọc nhiều sách, nghiền ngẫm sâu sắc mọi sự, từ đó nảy sinh cảm xúc. Vì thế ông là một trong không nhiều các nhạc sĩ tự viết lời cho ca khúc, và từng chữ một đều được nâng lên đặt xuống trước khi hạ bút…

Ông tự nhận mình là người nghèo thành thị.

Ðến chơi nhà tôi cách trung tâm Hà Nội 8 km, thấy nhà có sân vườn, ông bảo: tớ thèm nhìn cái cảnh lá rụng như thế này, tớ ước đời tớ có một không gian đơn sơ vậy thôi mà chỉ có 49 m2. Tôi biết, ông cũng chỉ nói thế thôi chứ ông coi giàu nghèo là một, là vô nghĩa.

Kể đến đây, tôi càng thấy thương ông ghê gớm. Tôi biết vợ chồng ông vừa mới thoát nghèo, ra khỏi căn nhà 49 m2 ở con hẻm trong ngõ Văn Chương, để về ở ngôi nhà của một người (gán nợ cho ông) trên đường Âu Cơ, rộng 80 m2 chưa được ba năm, nhưng cũng bị người ta hiểu lầm…

Thôi, thoát rồi, tất cả những thị phi đó. Nhẹ nhàng yên nghỉ như lời bài hát của ông: Thôi trút đi gánh nặng đường xa/Ngược xuôi bôn ba nay ta về nhà ta/Ðường trần quá hẹp, lắm vực nhiều khe/Nhà ta mênh mông trăng tràn bốn bề…

Thôi về nhé, Phó Ðức Phương với miền mây nước, hãy trọn một lần đứng trên đỉnh phù vân nhìn xuống, và thấy mình đã sống đủ đầy, đã đặt cuộc đời tử tế của mình giữa những sóng gió mà không bao giờ nản. Tiễn ông, xin gửi một nén hương này.

Nhà văn TRẦN THỊ TRƯỜNG

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/9/2020

Kỷ niệm 75 năm thành lập Trường Thanh niên tiền tuyến Huế

Chiều 22/9, Thư viện Tổng hợp tỉnh phối hợp với Ban liên lạc Trường Thanh niên tiền tuyến Huế tổ chức gặp mặt truyền thống nhân kỷ niệm 75 năm thành lập trường.

Trường Thanh niên tiền tuyến Huế gắn liền với tên tuổi hai nhà trí thức lớn, hai người đồng sáng lập trường là Luật sư Phan Anh và Giáo sư Tạ Quang Bửu. Trường khai giảng ngày 2/7/1945, đào tạo được một khóa học và chỉ kéo dài trong 2 tháng với 43 học viên và 4 giáo viên.

Ra đời và trưởng thành trong bão táp cách mạng, những học viên của trường đã trở thành một trong những lực lượng nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trong những ngày tháng lịch sử của Cách mạng tháng Tám. Nhiều học viên của trường sau này đã trở thành tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam, góp phần tích cực vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Sau 75 năm, số học viên ngày ấy chỉ còn 2 người, tuổi đều đã cao, sức yếu nên không thể về Huế dự lễ kỷ niệm.

Ngoài ôn lại truyền thống, nhiều ý kiến cho rằng, cần tuyên truyền rộng rãi hơn về sự ra đời và ý nghĩa của Trường Thanh niên tiền tuyến Huế để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngay 21/9/2020

Đại hội thành lập Hội Triết học Việt Nam

Ngày 20-9, tại Hà Nội, các đồng chí Bí thư T.Ư Đảng: Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư dự Đại hội thành lập Hội Triết học Việt Nam.

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng thay mặt Ban Bí thư, lãnh đạo Ban Tuyên giáo T.Ư chúc mừng Đại hội thành lập Hội Triết học và cũng là lễ ra mắt của Hội Triết học. Đồng chí nhấn mạnh về vai trò, trách nhiệm quan trọng của Hội là nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách, phối hợp các cơ quan có thẩm quyền và chức năng để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có tri thức và tư duy triết học cao. Đồng thời góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về triết học, cung cấp cơ sở lý luận triết học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh nghiên cứu tinh hoa triết học thế giới, nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, nghiên cứu và phát triển triết học Mác – Lê-nin, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh; góp phần làm sáng tỏ vai trò của triết học Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tính cách là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, là ngọn cờ tư tưởng và là hạt nhân lý luận của thế giới quan và phương pháp luận cho mọi hoạt động lý luận và thực tiễn. Hội Triết học phải trở thành mái nhà chung của các thế hệ những nhà nghiên cứu, giảng dạy triết học của cả nước; cái nôi vun đắp, bồi dưỡng, để Việt Nam có những triết gia, chuyên gia nghiên cứu triết học tầm cỡ khu vực và thế giới; là nơi tham gia tổ chức các diễn đàn học thuật uy tín về triết học cả trong nước và ngoài nước.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/9/2020

Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam vừa thông báo kết quả Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 8 – năm 2020. 

lien hoa anh nghe thua

Được phát động từ tháng 4-2020, ban tổ chức liên hoan đã nhận được 1.550 ảnh và bộ ảnh của 267 tác giả tham dự. Hội đồng giám khảo quyết định trao 10 giải thưởng và chọn 103 tác phẩm của 69 tác giả triển lãm. Liên hoan năm nay không có Huy chương vàng; hai Huy chương bạc thuộc về tác phẩm Bình an cho con (Nguyễn Thu Hồng) và Cú bật cao trên thanh gỗ (Phạm Thị Mỹ Hạnh). Ba Huy chương đồng, năm giải khuyến khích được trao tặng các tác giả khác. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, toàn bộ ảnh triển lãm, giải thưởng Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội và các khu vực khác được triển lãm trực tuyến trên trang thông tin của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 23/9/2020

Khởi tố các bị can tại Công ty Unimex Hà Nội và Trung tâm Artex Hà Nội

Ngày 22-9, Bộ Công an cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C03) đang tiến hành điều tra vụ án thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí xảy ra tại Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu và đầu tư Hà Nội (Công ty Unimex Hà Nội) và Trung tâm Xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng và thủ công mỹ nghệ Hà Nội (Trung tâm Artex Hà Nội) và một số đơn vị liên quan.

Căn cứ tài liệu thu thập được, C03 đã khởi tố bị can, lệnh khám xét đối với năm bị can về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí, gồm: Phạm Văn Thắng, nguyên Giám đốc Trung tâm Artex Hà Nội; Trần Thị Lan Hương, nguyên Kế toán trưởng Trung tâm Artex Hà Nội; Nguyễn Văn Quân, nguyên Trưởng phòng Kinh doanh Trung tâm Artex Hà Nội; Nguyễn Thị Ngọc Uyên, Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại dịch vụ sản xuất An Ninh; Nguyễn Ðắc Phước, Giám đốc Công ty TNHH thương mại Ðắc Nguyên.

Ðồng thời, C03 ra Quyết định khởi tố bị can, lệnh khám xét đối với ba bị can về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, gồm: Trần Quốc Hùng, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Unimex Hà Nội; Ðặng Thị Minh Chi, nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty Unimex Hà Nội; Nguyễn Thị Phương Liên, nguyên Trưởng phòng Kế toán trưởng Công ty Unimex Hà Nội. Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giam bốn bị can: Trần Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ðắc Phước. Ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bốn bị can: Trần Quốc Hùng, Ðặng Thị Minh Chi, Nguyễn Thị Phương Liên, Phạm Văn Thắng.

Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án và áp dụng các biện pháp theo luật định để thu hồi tài sản cho Nhà nước.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/9/2020

Tuyên án nhóm khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

Ngày 22-9, sau hai ngày xét xử, TAND TP Hồ Chí Minh đã tuyên án sơ thẩm vụ “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” và “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” đối với Nguyễn Khanh (56 tuổi, tại Bình Dương) cùng 19 đồng phạm khác.

Qua các phiên xét xử, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. HĐXX nhận định hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiệm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh quốc gia nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Theo đó, HĐXX đã quyết định tuyên phạt bị cáo Nguyễn Khanh mức án 20 năm tù về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”; bốn năm tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”. Tổng hợp hình phạt, đối tượng này phải lãnh 24 năm tù và chịu quản chế 5 năm tại nơi cư trú; các đồng phạm gồm: Dương Bá Giang và Nguyễn Minh Tấn cùng bị tuyên phạt 18 năm tù; Vũ Hoàng Nam, là người đặt hai quả nổ ở trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình và hai bị cáo khác cùng nhận mức án 17 năm tù giam. Nguyễn Tấn Thành là con trai của đối tượng cầm đầu nhóm khủng bố (Nguyễn Khanh) lĩnh án ba năm tù.

Các bị cáo còn lại của vụ án bị tuyên mức án từ 2-12 năm về một trong hai tội danh trên. Các bị cáo còn bị buộc nộp phạt 10 triệu đồng, quản thúc tại địa phương 3-5 năm sau khi mãn hạn tù.

Cáo trạng vụ án cho biết, ngày 20-6-2018, tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình xảy ra một vụ nổ lớn khiến một cán bộ bị thương. Cơ quan chức năng xác định, đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng khi các đối tượng sử dụng chất nổ tấn công trực tiếp vào trụ sở công an phường. Tổ chức truy xét, điều tra, cơ quan chức năng đã bắt giữ Nguyễn Khanh và Nguyễn Tấn Thành, SN 1990, con trai của Khanh.

Liên quan đến vụ án này, Ngô Hùng hiện đang bị cơ quan an ninh điều tra truy nã quốc tế về tội “Khủng bố chính quyền nhân dân” và “Tài trợ khủng bố”.

Quang Quý

 

Tháng Chín 22, 2020

Mồng một tháng tám năm Canh Tý: Giỗ Ông Nội – Ông Ngoại tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 3:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 10 năm 2020.

Mồng một tháng tám năm Canh Tý :Giỗ Ông Nội – Ông Ngoại tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Ban tho tai nha bac Dung

ban tho tai nha 82

Mẹ tôi bà Phạm Thị Giá được bà ngoại tôi dạy và đã dạy lại chúng tôi là : Trách người bỏ giỗ không ai trách người cỗ mọn

Phạm Tôn

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.