Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 15, 2018

Phạm Quỳnh có quan hệ thế nào với Dưỡng Am Phạm Hội – Dã Thảo

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 7:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 11 năm 2018.

PHẠM QUỲNH QUAN HỆ THẾ NÀO VỚI DƯỠNG AM PHẠM HỘI?

Dã Thảo

Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854) là người làng Hoa Đường, xã Lương Đường, huyện Đường An (Nay là làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang), Hải Dương. Cả làng chỉ có độc một nghề là nghề dạy học. Sau ông đến cư ngụ ở thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương (Nay là quãng phố Hàng Trống và phố Nhà Thờ), Hà Nội. Năm 1819, niên hiệu Gia Long thứ 18, ông đỗ cử nhân, làm quan đến chức giáo thụ. Được vài năm thì lấy cớ mẹ già và bản thân bị bệnh “sơ cuồng” (tức là hơi điên!), xin cáo quan về nhà, mở trường Dưỡng Am dạy học, ở địa điểm nay là tòa soạn báo Nhân Dân, 71 phố Hàng Trống. Trường này là một trong những trường đông học sinh nhất Hà Nội. Sau đó, trường bị cháy mới chuyển về phố Châm Cầm. Ngoài dạy học, ông còn trước tác. Tác phẩm của ông có Dưỡng Am tạp lục (ký hiệu Văn-A.1066, Thư viện Khoa học Trung ương), và theo Viện Hán Nôm mới cho biết thì còn có khoảng 3000 bài thơ nữa.

Phạm Hội có hai đời vợ và một bà thiếp. Đến năm 40 tuổi mới sinh được một trai, đặt tên là Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài; có hai con đều chết khi mới 17 tuổi. Nên khi ông mất, ông nội Phạm Quỳnh được thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống, là một trong số bốn căn nhà ở Hà Nội do học trò xây dựng nên để thờ thầy. Vì cụ Dưỡng Am cũng như các thầy thời ấy, đều dạy học mà không thu học phí, chỉ nhận quà cáp học trò tùy tâm biếu mà thôi: khi thúng gạo, lúc con gà, mớ cá, bó rau…sống đạm bạc.

Chính tại căn nhà số 1 phố Hàng Trống này, Phạm Quỳnh đã chào đời. Và “tam đại đồng đường” sống ở đấy nhiều năm, trước khi bán lại cho Nguyễn Bá Trác, chủ bút phần Hán văn trên báo Nam Phong và gia đình chuyển sang sống ở số nhà 17 cùng phố. Những con trai, gái đầu của vợ chồng Phạm Quỳnh đều sinh tại nhà số 1 này.

Dưỡng Am Phạm Hội dù có số tác phẩm lớn như vậy, nhưng chưa được nghiên cứu đánh giá, cho nên ông không có tên trong Từ điển văn học (bộ mới) của nhà xuất bản Thế Giới (2004), chỉ có trong Lược truyện các tác gia Việt Nam tập I (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971) và Tìm hiểu các tác gia Hán Nôm Hải Hưng, do Nguyễn Nhã biên tập, Ty Văn hóa Hải Hưng – Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh xuất bản năm 1973.

31.8.2009

D.T.

Advertisements

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn công nhận ngày sinh và ngày mất của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 11 năm 2018.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn công nhận

ngày sinh và ngày mất của Thượng Chi – Phạm Quỳnh là 30/1/1893 – 7.IX.1945

Blog PhamTon

Blog PhamTon chúng tôi thật xúc động khi đọc trong Lời giới thiệu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn dòng chữ “Học giả Phạm Quỳnh (30.1.1893 -7.9.1945)” , trang 7, sách Phạm QuPham Quynh tuyen tap du kyỳnh – Tuyển tập du ký (NXB Tri Thức, quí I năm 2013).

Đây là lần đầu tiên trong sách báo viết về Phạm Quỳnh ghi nhận như vậy. Và người đầu tiên công nhận sự thật ấy chính là Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, người đã sưu tầm và biên soạn tập sách này. Ông cũng là người đã sưu tầm và biên soạn bộ Du ký Việt Nam (tạp chí Nam Phong 1917 – 1934) ba tập dầy dặn (NXB Trẻ, 2007).

Không phải chỉ các nhà sử học, các nhà nghiên cứu văn học mới ngạc nhiên khi đọc thấy như vậy, mà cả đông đảo bạn đọc nữa, vì khác hẳn những gì họ đã thường đọc trong sách, báo ngót bảy mươi năm qua.

Để bạn đọc khỏi bỡ ngỡ, với thông tin mới này, chúng tôi xin cung cấp ba tư liệu tham khảo như sau, mong phần nào có ích cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh bấy lâu nay.

I/ Tư liệu thứ nhất: Bài Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 của Dã Thảo trên Blog PhamTon tuần 2 tháng 1 năm 2013

Phạm Quỳnh sinh ngày 30 tháng 1 năm 1893

Theo tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái thứ sáu trong mười sáu người con của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp, tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong), thì có ba “thuyết” về giấy khai sinh của Phạm Quỳnh.

“Trong Tạp chí Văn Học (Sài Gòn, tháng 10 năm 1972, trang 7) Phan Kim Thịnh có kể lại một cuộc tiếp xúc với bà Phạm Thị Hảo, chị ruột tác giả. Theo ông và căn cứ theo giấy thế vì khai sinh thì Phạm Quỳnh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1892. Thực ra trong gia đình tôi có ba thuyết về giấy khai sinh. Sự kiện bất nhất là do trước đây, ngày sinh không được khai ngay, khiến sau đó mọi chi tiết đều căn cứ vào giấy “thế vì khai sinh” thiết lập nhờ các chứng nhân. Có một điều hiển nhiên mà chúng tôi là con, còn nhớ rõ: cha mẹ chúng tôi sinh cùng một năm và năm đó là năm Nhâm Thìn.”

The can cuoc Pham QuynhTrong thẻ căn cước của Phạm Quỳnh (trong hình dưới đây) làm tại Hà Nội ngày 13/3/1918 (trước khi đi Pháp-1922-bốn năm, còn giữ búi tó củ hành) lại cho biết ông sinh ngày 17/12/1892.

Còn theo Phạm Trọng Nhân, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, anh họ bà Phạm Thị Ngoạn, định cư và mất tại Pháp, người dịch cuốn sách của bà Ngoạn Introduction au Nam Phong ra tiếng Việt, thì:

“Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Etudes interdisciplinaires sur le Viet Nam Sài Gòn 1974, cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở Triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho Phạm Quỳnh và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã  cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30 tháng 1 năm 1893 tức 18 tháng chạp Nhâm Thìn. Theo tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh thì “thuyết” sau này đúng hơn cả, vì cũng là một năm nhâm thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (cũng do Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1892)”

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993, trang 60

 Chúng tôi xin nói rõ thêm mấy điều sau: Ông Nguyễn Thọ Dực sau này làm Trưởng ban Hán Nôm, trực thuộc phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa chính quyền Sài Gòn. Ngày giờ sinh được chính Phạm Quỳnh đưa cho ông thì chắc chắn là đúng vì có muốn biết số phận của mình thế nào thì ông mới nhờ xem tử vi, không ai lại nói sai bao giờ, nhất là với một người có đầu óc nghiên cứu khoa học và tính vốn cẩn thận như Phạm Quỳnh. Trước thời gian vào Nam năm 1955, ông Nguyễn Thọ Dực có ở tạm nhà bà chị dâu Phạm Thị Giá, là con gái trưởng của Phạm Quỳnh, ở nhà số 16 phố Hàng Da Hà Nội. Bà Giá lúc này hoạt động công tác phụ nữ khu phố, thường họp hành, có khi phải phát biểu ý kiến này nọ. Bà hay bảo cậu con trai viết thay cho bà các bài đó. Nhưng một lần, bà cần phải phát biểu về đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì cậu con xin chịu. Vừa lúc ấy, ông Nguyễn Thọ Dực đi qua, biết chuyện, ông nhận viết giúp. Bà Giá bảo bài này cần gấp thì ông xin cho giấy bút rồi ngồi vào bàn viết ngay một bài dài mấy trang giấy khổ to, về sự tích đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đó đầy rẫy những năm, tháng và những chữ Nho phiên âm chữ Phạn, có phiên âm nguyên gốc bằng chữ La-tinh trong ngoặc, như Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), Thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta), bộ tộc Thích Ca (Sakya), vua Tịnh Phạn (Suddhahana) và Ca Tì La Vệ (Kapilavastu),… mà không hề có trong tay một sách, vở hay tài liệu tra cứu nào. Mẹ con bà Giá đều thán phục trí nhớ phi thường của ông Nguyễn Thọ Dực và chính bà Giá đã kể lại tỉ mỉ cho chúng tôi nghe và còn cho xem cả bài ông Nguyễn Thọ Dực viết nữa.

Vì thế chúng tôi tin chắc chắn là ông Nguyễn Thọ Dực nói đúng, Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893

Sau này, tình cờ chúng tôi được đọc tập Tử vi nghiệm lý, của Thiên Lương, trong các trang từ 137 đến 140 viết về Phạm Quỳnh lại có cả lá số tử vi do tác giả lập cho Phạm Quỳnh. Trang 137 có đoạn viết: “Có một ông bạn đưa ra lá số tuổi Nhâm Thìn sanh ngày 26 tháng 12 giờ Dần, nói là số của nhà học giả Phạm Quỳnh”.

Như vậy là vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn, nhưng bà sinh đầu năm Thìn, ông sinh cuối năm (18/12). Điều này càng củng cố thêm lập luận rằng Phạm Quỳnh sinh đầu năm 1893.

*

*     *

II/ Tư liệu thứ hai: Trích bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn (Tạp chí Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8 năm 2006 và tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9 năm 2006)

“Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

            “Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” ([i]Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ))

            “Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức rạng sáng ngày 7/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có năm ngày”

*

*     *

III/ Tư liệu thứ ba: Phạm Quỳnh trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Blog tuần 3 tháng 5 năm 2013)

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức  kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

“…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Ngày sinh và mất viết:

Về ngày sinh của Phạm Quỳnh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, trưởng Ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, tức 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.

Về ngày mất của Phạm Quỳnh

  • Sách Từ điển Văn học bộ mới (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936) hiện định cư tại Hoa Kỳ được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, anh và cháu Ngô Đình Diệm để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh bị hạ sát vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

 Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.

 


16,17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

Chúng tôi đi Quảng Bình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 11 năm 2018.

CHÚNG TÔI ĐI QUẢNG BÌNH

Phạm Tôn

  1. Lệnh khẩn giữa đêm đông

Ngày 1/9 năm 1965, tôi được một bạn cùng học trường Chu Văn An đưa đến nhận việc tại Cảng Hà Nội. Nhưng, đến ngày 3/9/1965 mới đi làm, vì còn lên Sơn Tây để báo tin mừng đã có việc làm cho một bạn nhỏ hơn tôi hai tuổi cùng học Học viện Nông Lâm khóa 5.

Những ngày ấy, Hà Nội được lệnh sơ tán triệt để, chỉ được ở lại Hà Nội những lực lượng cần thiết trong đó có ngành giao thông vận tải. Anh bạn học cùng trung học bấy giờ công tác ở quận đoàn Hai Bà Trưng cố tìm việc cho tôi, cuối cùng cho tôi chọn một trong hai nơi có thể được nhận làm về bổ túc văn hóa và văn hóa quần chúng là hợp tác xã thuyền buồm và cảng Hà Nội. Tôi chọn cảng, vì biết sức mình không kham nổi sóng gió trên thuyền. Lý do bạn tôi phải tìm việc cho tôi vì tôi không thể có giấy khám sức khỏe, do đang điều trị lao phổi. Tôi phải thôi học ở học viện cũng vì thế.

Năm ấy không quân Mỹ bắt đầu bắn phá miền Bắc. Có tiếng loa báo máy bay Mỹ cách Hà Nội bao nhiêu cây số là mọi người đều vào hầm trú ẩn. Tự vệ lên vị trí chiến đấu. Cô Thịnh, kế toán mới ra trường bé như con chim chích, có đôi mắt to, mi dài cũng đã vào tự vệ, được phân công lên một cái chòi cao hơn 20m để theo dõi bom rơi ở những chỗ nào phục vụ việc cứu sập sau đó. Tôi cũng làm đơn, nhưng chờ mãi, không thấy trả lời. Các chỉ huy tự vệ hầu hết là học viên bổ túc văn hóa của tôi, gặp chỉ cười mỉm. Tôi hiểu, lại thế rồi. Mấy tháng qua đủ để họ biết tôi là ai và quí mến tôi. Nhưng cũng là lúc họ nhận được thông báo của khu phố tôi ở do anh công an khu vực tên là Tín, ở cạnh nhà xác nhận với lời nhận xét như mọi lần: là cháu ngoại Phạm Quỳnh đã bị ta xử tử năm 1945, chưa có hành động phá hoại.

Ngày trước, còn dại, tôi cứ nghĩ mình làm việc tốt, sống tử tế nên có người ghen ghét sinh ra có chuyện nọ chuyện kia để dìm mình. Nhưng đến lúc ấy, tôi đã hiểu và không chút bận lòng, cứ việc mình mình làm. Cốt sao đừng đổ bệnh, vì cả nhà đi sơ tán hết, tôi ở Hà Nội có một mình, ăn cơm tập thể, ngủ giường cá  nhân, công việc dạy học ngày nào cũng đến 10 giờ đêm mới xong, ngủ lại với công nhân bốc xếp đang học lớp bảy, hầu hết là người Thường Tín. Tôi sống với các em rất thoải mái. Có tối, hết giờ học các em lại mời tôi về phòng các em ở, nhiều chú nhường giường cho tôi. Tôi nằm xuống thì gió sông lạnh lùa qua khe cửa, lùa qua giát giường và chiếu, rét không chịu nổi. Các chú hỏi, tôi nói thật là lạnh quá không ngủ được mà tôi sợ nhất là lạnh lưng, trở bệnh thì khốn. Các chú bảo anh chờ năm phút là xong ngay. Rồi chia nhau đi lấy bóng dèn, chóa đèn và giây điện về lắp đến sáu bóng 100 oát chiếu lên giát giường, nóng đến toát mồ hôi, tôi phải xin bớt đi.

Tôi cứ sống vô tư, vui vẻ với anh em công nhân như thế cho đến một tối gần Tết Kỷ Dậu, trời rét, nhưng có lệnh khẩn tập hợp tất cả những ai đang có mặt tại Cảng nghe lệnh mới.

Tập hợp ở kho A, có đủ mặt công nhân đội I hiện có mặt ở cảng, có nhiều người đội 2, 3 và cả đội 4, có cô Hồng là đảng viên trẻ. Giám đốc thông báo là Cục Đường sông cho biết do yêu cầu của chiến trường miền Nam, cục đã thành lập Đoàn Bốc dỡ VT5 gồm công nhân năm tỉnh thành có cảng là Hà Nội, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Bắc, Hải Dương… Riêng Hà Nội góp 50 người, lấy theo tinh thần tình nguyện, đi khoảng 30 ngày vào Quảng Bình, bốc dỡ ở Cảng sông Gianh, tối nay ai tình nguyện đi thì ghi tên, sáng mai xuất phát. Tôi hồi đó đã thuộc gia đình có vấn đề rồi nên không được làm công tác văn hóa nữa mà về đội I làm kế toán kiêm thống kê, được anh em bầu làm bí thư chi đoàn Thanh niên Lao động. Đến gần nửa đêm thì số lượng đã gần đủ. Trong đó đội I chiếm đến ngót 30 người, hầu hết là dân Thường Tín. Lúc ấy có một thanh niên thấp bé, tóc xoăn, đen đúa xin có ý kiến: Anh em đội I chúng tôi thống nhất ý kiến là nếu có bí thư chi đoàn đi, thì tất cả chúng tôi đi, nếu không có anh ấy đi cùng, thì sáng mai tất cả chúng tôi ù té. Tất cả vỗ tay tán thành. Giám đốc và mấy người trực đêm ấy hội ý rồi mời bí thư Đảng ủy Đào Mạnh Bào, đại tá chuyển ngành, đến. Họ hội ý một lát rồi bí thư tuyên bố tán thành ý kiến anh em giữa tiếng hoan hô kéo dài. Mọi người về chuẩn bị hành trang . Có một người len nhanh đến nhét vào tay tôi một mảnh vỏ bao thuốc lá. Đó là chú tóc xoăn. Tôi đọc vội trên mảnh giấy nhàu nát mấy dòng: Anh đi em mới dám đi / Đường xa, xứ lạ khỏi lo nỗi gì / Có anh như gậy dẫn đường / Đâu em cũng thấy như là quê hương…

Tôi nhớ ra đây là một bạn trẻ thích làm thơ, thỉnh thoảng có gửi cho báo tường của đội I một bài thơ ngắn. Tôi có nghiệp làm bào tường, đi đâu cũng ra báo. Hồi học cấp hai thì có báo Học sinh mới. Cấp ba thì có báo Bình Minh ra số đầu vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga lần thứ 40 năm tôi 17 tuổi. Nay về đội I thì ra tờ Tiến Lên! Lấy từ đầu trong hai câu cuối của một bài thơ chúc Tết năm ấy của Cụ Hồ: Tiến lên chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn. Thi ra là Nguyễn Văn Cường, chú lẳng lặng làm việc bốc vác, khi nghỉ có lúc chạy đến bên tôi mà chẳng nói gì, chỉ nhìn, rồi cười và chạy đi. Tôi chỉ biết chú cũng quê Thường Tín như hầu hết thanh niên đội tôi, lại chưa vào đoàn nên không sinh hoạt chi đoàn.

Còn bí thư Đào Mạnh Bào thì tôi chỉ nhớ một chuyện. Sáng hôm ấy, tôi đến làm việc thì theo thói quen, bao giờ cũng ghé xem chỗ dán báo tường. Bỗng thấy có một bài báo lạ, một bài thơ, viết trên vỏ bao xi măng. Đại ý nói người viết đi ca đêm, bỗng dừng lại xem thì thấy Tiến lên sáng chói góc tường. Tôi hỏi thì công nhân cho biết tối qua có một ông cán bộ mới về Cảng nhờ anh kỹ sư trực dán bài báo đó. Hóa ra ông đại tá chuyển ngành, nay làm bí thư đảng ủy, sống ngay trong cái lô cốt Pháp đóng trên đê trong cảng đêm đầu đi thực tế lại gặp ngay tiếng nói của công nhân. Báo tôi rất được anh em công nhân ủng hộ. Có ca đêm xảy ra tai nạn là một mã cẩu hơn chục bao gạo, thế nào đứt giây xích cả chục bao rơi xuống xà lan đang có công nhân làm việc. May mà không ai việc gì. Nhưng tổ trưởng đêm ấy bảo ngay chú Nghiên nhà thơ của báo tôi, nghỉ ngay làm mà ngồi viết cho một bài, sáng mai cho lên báo. Ăn lương như anh em trong tổ ca đó. Lần khác bắt đầu định mức công việc để tính lương theo sản phẩm, báo tôi cũng có ngay bài Mời ông định mức Cảng ta/ Cất kính, xếp bút bước ra hiện trường / Tai nghe mắt thấy cho tường/ Việc làm lời nói của người công nhân / Ông ơi, đơn giá không cân / Thô sơ như máy ông cần sửa cho / Đơn giá sang mạn tôi lo… Tôi về chuẩn bị, nhưng cũng không được về nhà, vì sợ thấy tôi về là anh em Thường Tín “té” hết thì chết. Thành ra chỉ về phòng chú Bảo lái cẩu mà tôi đang ở tạm.

Giống như trong truyện cổ Một đòn chết bảy, tôi nhìn khắp căn phòng nhỏ nhặt bánh xà bông 70% dầu vuông, to của chú lái cẩu, rồi nhặt hết hộp phấn màu tôi dùng dạy học, thế nào lại vớ được một cuộn giấy vàng, hẹp độ gang tay, tiện tay nhặt luôn bàn chải răng của tôi và ống kem đánh răng Ngọc Lan chú Bảo mới mua. Tất nhiên là nhặt hết quần, áo tôi để ở đấy, nhất là cái cốt áo bông lồng trong vỏ áo đại cán cũ, cái cốt áo có khâu một miếng da báo rách, phế phẩm được một chủ hàng lâm thổ sản cho. Tôi coi cái áo ấy là bảo bối, vì mùa đông tôi sợ nhất lạnh lưng sưng phổi bệnh cũ trở lại thì hỏng cả. Tôi viết thư gửi lại nói vắn tắt là anh đi, nhà mất cái gì là do anh lấy, không phải trộm đâu, đừng lo.

Tôi thấy xe đi Quảng Bình đỗ ở cửa văn phòng, gần dốc lên đường bèn lên ngay, cốt làm mồi thu hút anh em lên. Gần sáu giờ sáng, người đến làm, người tan ca cũng đông, thành ra chúng tôi được tiễn khá náo nhiệt. Bỗng thấy ông đội trưởng đội I đến gọi tên tôi và bảo xuống ngay, xe sắp chạy rồi, không đùa được đâu. Anh em Thường Tín cười ầm lên. Bà phụ trách căng tin đến thông báo mỗi chú được mua một bao Tam Đảo, còn Trường Sơn thì tha hồ. Đám thanh niên ào ào mua Tam Đảo, tôi nghe rõ tiếng chú Cường tôi mua cả cho anh bí thư chi đoàn. Không ai mua Trường Sơn hết. Toàn bộ Trường Sơn một mình ông Dần thầu hết. Một cô gái mắt tô xanh, môi đỏ chót chen vào sát xe gọi to Ba ơi chia tay với má đi ba. Tôi biết đó là cô Trần Thị Cát, công nhân băng chuyền, vận động viên  chạy của đội tuyển nữ của Cảng thường giành giải cao trong các cuộc thi thành phố Hà Nội. Không biết vì sao, từ khi gặp tôi ở lớp sáu ban đêm cô cứ gọi đùa tôi là ba như thế, lại còn ép một cô bạn thân làm má nữa. May mà hai cô đều xinh xắn, một mảnh mai sắc sảo, một đậm đà hiền hậu, nên tôi chưa lên tiếng phản đối bao giờ. Mà hễ con gái gọi, hoặc nhắn là tôi có mặt ngay. Bao giờ cũng có chuyện vui. Sau này gần Tết nhớ hai má con từ Quảng Bình tôi còn viết cả một bức thư dài kể đủ thứ chuyện.

Lãnh đạo đoàn đi có chi bộ năm người, bí thư là bác Hoành, một ông già Huế tập kết, độc thân làm bảo vệ ở Cảng, và hay được giao những nhiệm vụ đặc biệt vừa khó làm mà chẳng được lợi ích riêng gì. Ở Cảng bà con thường gán ghép bác với chị Lư công nhân băng chuyền, độ trên dưới 40 tuổi, khỏe mạnh, tháo vát. Thế nào chị Lư cũng đi chuyến này. Có lẽ chị cũng làm ca ba hôm qua. Còn con gái Cát và má Thất thì làm ca sáng nay nên dóng vai đi tiễn.

Xe chúng tôi đi qua cầu Long Biên. Chúng tôi chứng kiến tất cả những trận máy bay Mỹ ném bom cầu làm cây cầu mất đi một phần vẻ đẹp do giữa các nếp cầu nhô cao xuống thấp nhịp nhàng thỉnh thoảng lại có một đoạn bằng phẳng làm lại thay những nhịp cầu bị phá hủy. Gió sớm sông Hồng thổi nhẹ, tôi nhìn thành phố thân yêu xa dần mà nhớ đến bao bài hát về Hà Nội gắn với bao nhiêu kỷ niệm đời mình. Nước mình thật nhiều bài hát. Càng nhiều trận đánh, nhiều chiến thắng thì lại càng nhiều bài hát. Tôi nhẩm trong đầu mình mỗi bài hát khi xe đi qua một địa phương có tên trong  bài hát đó. Xe qua giữa thành phố Vinh mà nẩy lên vì gạch ngổn ngang giữa đường. Đầu tôi đập mạnh vào trần xe, không có cái mũ cối luôn cài quai đội trên đầu chắc vỡ đầu mất. Cầu Hàm Rồng tả tơi, xơ xác như giàn mướp khô lá hết mùa. Đến phà Ghép, sau này một nhà thơ của báo tôi đã viết Đoàn quân ta đi qua phà Ghép / Tất cả xuống xe đi bộ hết /Xe trước người sau nối tiếp nhau / Hệt như đoàn quân trong Suối Thép. Rồi lần đầu tiên thấy biển, sừng sững ngang trời, cả đám bạn trẻ hò reo, mừng rỡ. Đến Đèo Ngang, tôi sững sờ, lấy làm lạ là sao biển ầm ầm vỗ sóng tuôn bọt như thế mà bà Huyện Thanh Quan không nhắc đến một chữ, mà chỉ tả tiều vài chú và chợ mấy nhà… Bà quay lưng lại biển chăng?

Cơm nước xong, chúng tôi được đưa vào một lán ven đường, đến lúc ngủ, tôi mới nhớ ra là mình không được về nhà nên không có chăn. Tôi vừa mặc lại cái áo bông lót da báo bửu bối, thì chú Cường đi đến bên, kéo tôi nằm xuống sạp cạnh chú và chùm cái chăn dạ Nam Định lên người tôi. Đêm đông, trời rét cắt da cắt thịt. Anh em ai nằm chỗ ấy xong, thì có tiếng hò Phú Thọ cất lên. Tôi chưa bao giờ nghe thấy điệu hò này, lại do một bạn trẻ hò hay đến thế. Rồi lại có giọng hò khác của một miền quê khác. Cứ thế cho đến lúc cái mệt của một ngày đi đường đã đưa các chàng trai cô gái vào giấc ngủ. Tôi sống ở Cảng đã gần bốn năm, tưởng đã hiểu công nhân ở đây, không ngờ đêm nay, mới được biết một phần tươi đẹp khác trong con người họ.

Sớm hôm sau, ra khỏi lán đã thấy bà con Quảng Bình mang những thúng xôi đậu đen nóng hổi đến phục vụ các chú. Hai đồng một phần gói trong lá chuối. Tôi hỏi bà bán xôi ăn xôi với gì, thì bà bảo đến nhà bà gần đấy, có ngay. Rồi bà mở cái nắp chum ra, múc cho tôi một thìa nước mắm ở mặt chum. Tôi ăn xôi với nước mắm chưa bao giờ thấy ngon đến thế. Nghĩ bụng vào đây tưởng khố hóa ra lại được ăn món ngon tuyệt vời. Cơm và nước mắm là bữa ăn đủ bổ, lời một thầy dạy Anh văn nói năm nào lại vẳng bên tai. Không ngờ đó là lần cuối tôi được ăn nước mắm thứ thiệt ở Quảng Binh. Đoàn chúng tôi được phân công đóng ở ngay bờ gần cửa sông Gianh. Mùa đông lạnh thấu xương. Tôi chợt nhớ hôm nằm ở lán. Đang đêm chợt nghe tiếng anh Tiêm Đảng viên mới kết nạp tổ trưởng tổ I. Tiếng anh quát to làm cả đội bật dậy: đứa nào dã man thế, trời rét thế này mà còn kéo hết chăn thế thì chết người ta rồi. Tôi lo sợ nhìn lại xem mình gần sáng ngủ say có lỡ kéo chăn của ai không thì thấy Cường vẫn ôm tôi ngủ trong chiếc chăn dạ của chú. Ở đây, cửa sông, càng rét hơn. Vào cái lều dã chiến quân dụng, tôi bắt đầu cùng các bạn lo sắp xếp chỗ để ba lô, còn lấy gạch xếp thành một khối vuông phủ bạt lên làm chỗ uống trà. Các em làm xong lăn ra ngủ sau khi càu nhàu là anh hay vẽ chuyện, ở tạm bợ mà  làm gì cho khổ nhau. Không ngờ, chúng tôi ở trong lều dã chiến hơn nửa tháng. Ngay sáng hôm sau bắt đầu bốc dỡ hàng từ tàu, xà lan lên bờ. Và tôi được Đoàn ĐS5 chọn làm thống kê kế toán của đoàn. Tôi lên Binh trạm 4 gặp dại tá Luận, trưởng binh trạm mượn xem sổ sách mới biết quyết định của Cục Đường sông cử chúng tôi đến đây phục vụ chiến trường trong thời gian sáu tháng. Không phải nhiều nhất là một tháng như đã được giám đốc cảng phổ biến đêm trước hôm xuất quân. Sắp Tết Tây, rồi Tết ta, tôi nghĩ mình chỉ nói điều bí mật này với một mình bố Hoành thôi, không cho cả bí thư chi đoàn Hồng biết, vì con gái dễ hở miệng lắm.

P.T.

(Còn tiếp)

Tháng Mười 24, 2018

Phạm Thị Thanh Tuyền: “Luôn luôn phấn đấu để thành người tốt”.

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 11 năm 2018.

Phạm Thị Thanh Tuyền: “Luôn luôn phấn đấu để thành người tốt.”

PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần trích trong sách Chúng tôi đã sống như thế của PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết (NXB Tri Thức, 2013, Hà Nội) từ trang 140 đến trang 144. Bà là vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên.

—o0o—

Cháu Tuyền là con cả, năm nay (2007) 49 tuổi (tuổi ta là 50), đã có hai con, một trai 22 tuổi hiện là sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội và một gái 16 tuổi xinh xắn và thông minh đang học ở trường Phổ thông Trung học Chu Văn An. Cả hai cháu ngoại của tôi đều sinh ra và lớn lên ở Nga, nên sõi tiếng Nga hơn tiếng Việt, sau này phải cố gắng học tiếng Việt nhiều.

Đức tính nổi bật của cháu Tuyền từ bé đến lớn là rất giản dị, không ưa ăn diện. Ngày cháu còn học Phổ thông Trung học vẫn không hề thích may sắm đua đòi, cháu chỉ xin mẹ cho hai bộ quần áo bình thường để mặc đi học, cháu nói: “Con chỉ cần hai bộ quần áo thôi, mặc bẩn bộ này thì nhất thiết phải thay bộ kia, không cần phải đắn đo suy nghĩ gì cả”. Thời kỳ khó khăn về vải vóc, mỗi người chỉ được mua 2m vải trong một năm bằng tem phiếu, cháu rất yên tâm mặc quần áo cũ đi học, có khi quần phải nối cạp đến 10cm. Cháu cũng rất ghét thói phô trương, ngày còn đi học không bao giờ khoe khoang với ai một điều gì, đến học ở đâu cháu cũng đều giấu tên bố mẹ, mặc dù bố cháu là một nhạc sĩ được nhiều người hâm mộ, mẹ cháu cũng là Phó Giáo sư Tiến sĩ, Chủ nhiệm khoa ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Riêng cháu thì sau khi tốt nghiệp đại học ở Liên Xô xong được chọn làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ tại đó từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Thế mà không bao giờ cháu nói điều này với mọi người cũng không ghi vào carte visite, không chịu làm bản kê khai để được đưa tên mình vào cuốn Tiến sĩ Việt Nam hiện đại (NXB Văn hóa Thông tin), đến  người trong cơ quan cũng ít ai biết cháu là tiến sĩ ngành dầu khí.

Ba Tuyet sach chung toi da song nhu the

Đối với mọi người, cháu là người tốt bụng, nhất là với bạn bè thì thái độ của cháu thật tuyệt vời, hết sức thương yêu bạn bè, tận tình giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn, càng về sau đức tính ấy càng nổi bật. Đặc biệt cháu không bao giờ kèn cựa, đố kỵ với ai, thấy bạn thành công hơn mình thì vui mừng. Hồi thi đại học, cháu Nhung bạn học cùng trường phổ thông được gọi đi học nước ngoài, cháu Tuyền mừng lắm. Trong khi đó, cháu Tuyền vẫn chưa biết điểm của mình, cứ đinh ninh là mình học trong nước. Những ngày đó, cháu Tuyền luôn ở bên cạnh giúp đỡ Nhung chạy mọi giấy tờ, làm các thủ tục để Nhung kịp đi học nước ngoài. Sau đó ít lâu, cháu mới được giấy báo điểm và được triệu tập đi học nước ngoài (lý do có thể là khối A được báo điểm chậm hơn khối B). Trước ngày lên đường sang Liên Xô cháu còn tranh thủ gánh cho mẹ đầy bể nước kẻo sợ ở nhà mẹ phải xách nước lên tầng ba khó nhọc. Trong khu tập thể, ai cũng khen cháu đúng là con ngoan trò giỏi.

Có một điều làm tôi hết sức lo lắng cho cháu, đó là tính “đơn giản hóa” mọi việc kể cả việc công lẫn việc tư, cái gì đối với cháu cũng đều là bình thường, không có gì là quan trọng cả. Ngay đến chuyện sức khỏe, chuyện vào Đảng, chuyện “thăng quan tiến chức”… cháu đều đơn giản hóa. Nét tính cách đó nếu trong điều kiện bình thường với các mối quan hệ tốt thì còn có thể chấp nhận được, nhưng trong hoàn cảnh phức tạp với những mối quan hệ không bình thường, có nhiều vấn đề rối rắm thì tính “đơn giản hóa” có thể đưa đến hậu quả tai hại khó lường.

Còn có một điều nữa mà vợ chồng tôi đều không hài lòng lắm nhưng đành phải chấp nhận, đó là việc cháu không thích học đàn, không thích đi vào con đường âm nhạc. Mặc dù chúng tôi đã tạo điều kiện để cháu được tiếp xúc sớm với âm nhạc, cho cháu học đàn từ bé, vậy mà chỉ được bốn năm năm thì cháu bỏ học đàn, lấy cớ là đi sơ tán và đàn hỏng vì bị máy bay Mỹ ném bom! Có lẽ nông thôn là môi trường thích hợp với cháu, thời gian sơ tán cháu suốt ngày cùng các bạn con nhà nông dân đi mò cua bắt ốc, mót thóc, nhặt khoai ngoài đồng và lấy làm hả hê với những “thành quả” của mình. Còn chúng tôi thì nghĩ rằng muốn đi vào con đường âm nhạc trước hết phải có năng khiếu và thực sự say mê mới thành công. Việc áp đặt sở thích của mình buộc con cái phải theo là một sai lầm lớn, nhiều khi làm khổ con cái đến suốt đời. Tuy vậy cũng cần cho cháu học đàn, tiếp xúc với âm nhạc để bồi bổ thêm vào vốn văn hóa chung và hình thành thị hiếu nghệ thuật lành mạnh. Trong thời thơ ấu, cháu cũng đã từng tham gia Đội Sơn ca Đài Tiếng nói Việt Nam, nhà lại ở trong khu tập thể của Đài gồm nhiều gia đình nghệ sĩ nổi tiếng, hằng ngày lại được nghe các chú các cô đàn hát. Nhưng càng gần với con em họ thì cháu lại thấy không thích đi vào con đường nghệ thuật chút nào. Bởi theo cháu nhận xét phần lớn con em họ học thì lười và dốt nhưng ăn diện đua đòi thì vào bậc nhất, suốt ngày chỉ quần quần áo áo, làm đỏm làm dáng khiến cháu rất khó chịu. Mới hay tác động của môi trường không thể thắng nổi ý thức cá nhân hay nói đúng hơn là không thể đồng hóa cá nhân vào môi trường. Cháu có chính kiến của cháu, chúng tôi tôn trọng chính kiến đó.

Cháu Tuyền rất thẳng tính, chỉ thích làm những việc mà mình cho là đúng, rất ghét thói xu nịnh, dám vạch ra những sai lầm về công tác chuyên môn của những người trong cơ quan, kể cả lãnh đạo. Chính vì thế mà cháu không được lòng cán bộ cấp trên, tuy vậy họ vẫn nể và phân cho cháu những công tác trọng trách vì không thể không thừa nhận trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao của  cháu.

Phong cách sống của cháu Tuyền rất chân thực mà cũng rất bộc trực. Hồi mới bảo vệ tiến sĩ ở Nga về Tổng công ty Dầu khí, thấy cháu vừa có trình độ lại vừa là con người có tư cách tốt, chi bộ đảng định kết nạp cháu. Nhưng khi nghe một đồng chí đề nghị cháu viết đơn vào Đảng, cháu đã thật thà trả lời: “Em chỉ phấn đấu để trở thành người tử tế thôi, chứ không phấn đấu vào Đảng đâu!”. Nghe câu trả lời “chạm nọc” ấy, chi bộ đặt vấn đề phải tìm hiểu đối tượng, có phải do tự kiêu? Không phải! Cháu là người luôn khiêm tốn, kính trọng những người lớn tuổi trong cơ quan; hay là tại gia đinh xui? Cũng không phải vì cả bố lẫn mẹ đều là đảng viên lâu năm (bố hơn 50 tuổi Đảng và mẹ gần 40 tuổi Đảng). Sau này khi biết cháu đã là đảng viên, tôi hỏi động cơ vào Đảng thì cháu bộc bạch: “Con phải vào Đảng để dễ làm việc, ở ngoài mãi người ta cho mình là con người lạc hậu, tệ hơn nữa là phần tử chống đối, chứ dù ngoài Đảng hay trong Đảng thì con vẫn luôn luôn phấn đấu để thành người tốt”.

Đúng là “cha mẹ sinh con trời sinh tính”, hai con gái chúng tôi mỗi đứa mỗi tính mỗi nết, chẳng đứa nào giống đứa nào.

N.A.T.

Em Tuyền tôi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 11 năm 2018.

EM TUYỀN TÔI

Phạm Tôn

Em Tuyền tôi là con cậu Tuyên, sinh ngày 11/5/1958 tại Nam Ninh khi vợ chồng cậu cùng làm việc tại Khu học xá Trung ương và kết hôn tại Trung Quốc. Em nhỏ hơn tôi 18 tuổi. Sau khi về nước, cậu được phân công về làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam, chủ yếu “trực chiến” tại Hà Nội, nhưng thường phải đi công tác xa, có khi dài ngày. Vợ cậu được về trường Học sinh Miền Nam đóng tại Hải Phòng. Năm 1965, chiến tranh lan ra miền Bắc. Sau một thời gian vừa dạy học và  học thêm về tâm lý học, vừa chăm con, quá vất vả, vợ cậu đành mang con về Hà Nội gửi mẹ tôi. Cậu nhờ tôi trông nom, dạy dỗ em. Từ đó anh em tôi gắn bó với nhau hơn với những anh em họ khác.

Tôi dạy em đánh răng “theo khoa học”, không chà ngang mà xoay tròn hoặc chải răng từ trên xuống, điều mà ngày nay tất cả trẻ em đều biết. Em tự chải đầu xong, đứng trước tôi, ngửa mặt lên. Tôi biết em muốn tôi cài hộ em cái lược xước (cái bờm) cho gọi gàng, tự em không làm được. Cũng như cậu đã dạy tôi học đánh vần trước khi đi học, tôi cũng dạy em học tiếp lớp 1 và bảo em học thuộc lòng các bài thơ dễ hiểu trong Nhật ký trong tù hồi ấy mới xuất bản. Em đọc làu làu, giọng ê a rất dễ thương Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không/ Cô em xóm núi xay ngô tối / Xay hết lò than đã rực hồng… hoặc Gạo đem vào giã bao đau đớn / Gạo giã xong rồi trắng tựa bông / Sống ở trên đời người cũng vậy / Gian nan rèn luyện mới thành công. Mẹ tôi vốn thích văn thơ, khen em đọc thơ hay.

Cậu giao tiền cho tôi sáng sáng hai anh em đi mua sờ đờ nờ. Đó là cách nói “bí mật” của anh em tôi, có nghĩa là sữa đậu nành. Tôi dắt em ra gần chợ Cửa Nam, ghé vào quán một ông Tầu mua hai cốc sữa đậu nành nóng hổi và hai cặp cháo quẩy. Đường thì tôi mang theo, không gửi lại quán như nhiều khách quen, vì sợ có hôm không đi, em ăn sáng ở nhà mà cần đường. Đường cũng là của cậu đưa. Đường của nhà tôi chỉ đủ để nấu ăn.

Ngoài việc bảo em tập chép, đọc thơ và làm toán cộng, trừ, tôi còn giao em làm những việc nhà, theo nguyên tắc tuổi nhỏ làm việc nhỏ, không ai ngồi không nhìn người khác đầu tắt mặt tối vì mình. Tôi giao cho em việc đong gạo cho bà cô tôi, còn lớn tuổi hơn mẹ tôi, lo việc cơm nước cho cả nhà. Mẹ tôi làm việc ở hợp tác xã may. Một hôm cả nhà ăn cơm xong rồi mà em Tuyền vẫn xới thêm cơm ăn mà nước mắt lưng tròng. Tôi hỏi thì em òa khóc. Em đong nhầm gạo rồi, cơm còn thừa nhiều quá, em cố ăn cho hết mà không nổi. Em vừa khóc vừa kể lể. Mẹ tôi thương  quá, lau mặt cho em và nói là hôm nay trời nóng, mỗi người ăn bớt đi một ít thành ra thừa thôi, không phải tại cháu đâu.

Chủ nhật, mẹ tôi nghỉ làm, thường đi thăm dì, kém mẹ hai tuổi. Bấy giờ anh chị tôi mới sinh con đầu lòng, đi công tác xa cũng gửi mẹ tôi trông. Thế là chủ nhật mẹ tôi bế cháu gái, em Tuyền nắm tay bác còn tay kia xách một cái làn cói đựng tã, lót, sữa cho bé. Cả ba lên tàu điện ở phố Hàng Bông, đi đến ga Bờ Hồ thì xuống đi bộ đến nhà số 47 phố Lò Sũ. Tuyền lại tay nắm tay bác, tay xách làn đồ. Đến nhà bà dì thì em mệt, nằm ngay ra ghế tràng kỷ ngủ ngon lành. Mẹ và dì tôi như đôi bạn, chuyện trò không ngớt, đến lúc em bừng tỉnh nói to cái làn đâu rồi, hai bà mới nhớ là em có mặt. Em vội đứng dậy, xách cái làn, xem lại mọi đồ trong làn có còn nguyên vẹn không rồi mới nằm xuống ghế ngủ tiếp. Cả hai bà cùng cười, khen con bé ngoan.

Em đi chơi về, vui vẻ lắm, khoe là nhà giàu thích thật, cái gì cũng có, có cả máy làm kem… Tôi hỏi thế em thích ở nhà giàu hay ở nhà anh nghèo, thì em đứng nghiêm, hai chân chụm lại, chỉ tay vào mặt tôi, chìa ra ngón trỏ xinh xinh, rồi cười khì mà nói Em thích ở nhà anh. Cặp mắt đen nhánh tròn to tinh nghịch.

Từ năm bảy tuổi ấy, em đã rất chú ý coi trọng lời nói của mình. Tôi nhớ mãi cái cách em đến gần nói chậm mà rõ em nói thế này nhé. Sau đó mới nói điều muốn nói.

Sau này, em đi học rồi ra công tác, tôi lại vào thành phố Hồ Chí Minh, nên anh em không mấy khi gặp nhau. Năm 1983, bố mẹ em gửi cho mẹ tôi thiếp cưới các em, đúng lúc vợ chồng tôi mới sinh con đầu lòng. Từ đó, khi thì chồng em, khi thì em có vào Nam công tác đều ghé thăm tôi. Có năm hai vợ chồng đều là tiến sĩ dầu khí vào  công tác tại Vũng Tàu, đã đón con trai tôi ra chơi Vũng Tàu, ở nhà chuyên gia sang trọng, còn cho lên cả tượng Chúa. Lần mẹ em vào Sài Gòn công tác bị ốm nặng do biến chứng tiểu đường phải nằm bệnh viện Thống Nhát, chồng em bấy giờ đang ở trong này liền lấy nhà tôi làm “căn cứ hậu cần”, vợ tôi nấu cháo dinh dưỡng rồi chồng em dùng xe đạp của tôi mang vào cho mẹ em. Sau này, có lần em ghé nhà tôi, đưa cho một thùng to bưởi diễn, nói vài câu chuyện rồi phải đi vội kẻo lái xe cơ quan nó chờ. Bao giờ chia tay em cũng nhìn tôi, cười khì rồi đi như hồi bé còn ở nhà tôi. Có lần em gọi con trai tôi ra sân bay, đem về một thùng sấu có cả cái cạo vỏ và bày cho con tôi cách làm nước sấu giầm uống cho mát trong mùa hè miền Nam. Em phải đi Vũng Tàu ngay, không ghé thăm tôi được.

Thiep cuoi co Tuyen

Cuối năm 2000, mẹ tôi ốm nặng, anh cả tôi vào Bạc Liêu mấy hôm rồi vừa lên đến nhà tôi thì lại có tin nhắn về Bạc Liêu gấp. Gia đình tôi thương mẹ lắm nhưng chưa biết làm sao vì tôi quá ốm yếu. Vừa lúc ấy em Tuyền xuất hiện, nói là anh chị có đi xuống bác không, em cũng muốn đi thăm bác lắm mà lâu nay không đi được. Hôm nay em có xe. Đi luôn trưa nay đi. Thế là gia đình tôi cùng em đi Bạc Liêu. Tôi say xe, xe chạy là nôn thốc nôn tháo ra cái bao ni lông, nhìn rõ mật xanh rồi mật vàng. Đến chỗ nghỉ, mọi người ăn, tôi cũng ăn nhưng ăn bánh mì không. Anh lái xe bảo bác ăn làm gì cho mất công. Kỳ thật tôi lo là đi thăm mẹ ốm nặng mà có khi  đến nơi mình lại vào cấp cứu. Vì đã có kinh nghiệm xương máu năm 1998, hạ đường huyết sinh xê tôn máu, may mà thoát chết. Thăm mẹ ở bệnh viện thấy mẹ đã hôn mê, tôi về nhà em gái nghỉ, để lại con tôi chăm bà cùng với con gái út em tôi. Em Tuyền chào hỏi xong cũng lên xe về Sài Gòn, từ đó đi tàu cánh ngầm ra họp ở Vũng Tàu, hẹn ngày đưa tang sẽ về. Trưa hôm ấy, bệnh viện cho đưa mẹ tôi về nhà, và đến tối ấy thì mẹ ra đi. Em trai tôi biết tin, bay vào Sài Gòn ngay nhưng xe đi Bạc Liêu hỏng giữa đường, cho nên không được gặp mẹ. Nhờ em Tuyền mà gia đình tôi đến vừa kịp. Con tôi còn kể là hai anh em chăm sóc bà, cháu gái nói bà ơi đích tôn của bà về thăm bà đây thì mẹ tôi chớp chớp mắt mấy cái rồi nhắm luôn. 11:20 tối 16/12/2000, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng. Khi em trai tôi đến nơi thì chỉ còn nghe tiếng con chim lợn bay đi bay lại trên mái nhà nơi đặt mẹ tôi nằm, thốt lên những tiếng kêu ai oán.

Cuối năm 2014, em Tuyền đột ngột ghé nhà tôi vào lúc 9 giờ tốt, nói rằng em có việc gấp phải ra Hà Nội ngay sáng mai, nhưng có việc này nhất định phải cho anh xem. Rồi em mở máy tinh bảng ra cho tôi xem việc xây dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở Hải Dương. Tôi bảo biết rồi, thì em bảo còn cái này anh phải xem cơ. Em cho xem một khu sau bia tưởng niệm, nói là anh tôi bảo còn một chỗ trống rất đẹp, đủ xây một bức tường đá đen, nhưng dựng thì phải ghi trên đó một câu gì của Ông chứ, vì thế em đến là để hỏi anh. Mai em đi rồi. Có gì anh liên lạc với anh anh. Thế là tôi thức trắng đêm ấy, lục tìm tư liệu, cuối cùng ra câu trong bài viết dở dang cuối cùng của Ông tôi: Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia.

Bia da den o Lang Quynh

Rồi ngày 26/6/2016, tại khuôn viên chùa Vạn Phước, lại diễn ra lễ khánh thành khu lăng mộ Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã được chỉnh trang và dựng tượng. Tại khu mộ có cuốn thư cũng ghi câu trên. Người thiết kế chỉnh trang tôn tạo khu mộ là anh tôi. Người lo quản lý việc xây cất, vận chuyển các bức đá khắc chữ và tượng đá từ Chùa Trầm về Huế lại là em Tuyền tôi. Số em vất vả mà. Em toàn làm những việc không tên, em tự nhiên như nước và không khí, những thứ chỉ khi chết khát chết ngạt người ta mới biết là quý giá vô cùng.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

Xong mọi việc về Ông Nội, em Tuyền tôi mới đến bệnh viện Lão Khoa. Cháu gái tôi, thạc sĩ bác sĩ Tôn Hương Giang kể là cháu nhắc cô ấy nhiều lần lắm rồi, nhưng bao giờ cô ấy cũng bảo là bận, xong việc sẽ đến ngay. Nhưng khi cô ấy đến thì đã suy tim ở giai đoạn cuối rồi. Chúng cháu không làm gì được nữa.

Giống hệt như mẹ em. Làm việc, viết hồi ký, hướng dẫn làm luận án cho nghiên cứu sinh cao học rồi khi thấy mệt, vào bệnh viện thì nhắm mắt, không nói năng gì, cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Em Tuyền tôi thật thà, trung thực giản dị và đặc biệt là có tinh thần trách nhiệm rất cao, chỉ ra đi khi đã làm tròn trách nhiệm mà mình tự nhận lấy ở đời. Em đã làm trọn nghĩa vụ làm cháu nội của học giả Phạm Quỳnh theo cách của em.

Tôi nhớ mãi những lần gặp em, nhất là những ngày sống cùng em từ hồi em còn thơ bé.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/9/2018 (16 tháng tám ta)

P.T.

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 11 năm 2018.

Phạm Thị Thanh Tuyền, cháu nội học giả Phạm Quỳnh

là Viện phó kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Viện Dầu Khí Việt Nam

Vũ Hữu Sự

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vô cùng đau đớn báo tin với quí bạn đọc Blog PhamTon trong và ngoài nước là 11:20 ngày 31/5/2017, con gái trưởng của Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từ trần tại Hà Nội.

Tưởng nhớ bà, chúng tôi đăng bài này để các bạn cùng chia sẻ với Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Đây là phần chúng tôi trích trong bài của Vũ Hữu Sự Ba giờ với chị Phạm Thị Thanh Tuyền in trong các trang từ 659 đến 678 của tập Dịu dàng và bừng sáng do Tập đoàn Dầu Khí quốc gia Việt Nam thực hiện để tôn vinh một số chị em tiêu biểu của tập đoàn. Sách do nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm 2010. Nhan đề là của chúng tôi.

—o0o—

– Sở dĩ phải hẹn anh vào 16 giờ vì lúc ấy mới ngơi công việc được. Tôi thường rời cơ quan sau 17 giờ 30, nhà ở tận Cầu Giấy, đến nhà đã 18 giờ, nếu hôm nào đường tắc thì có khi tận 19 giờ. Về là bắt tay vào việc nhà; cơm nước, xong xuôi, có khi đến tận 21, 22 giờ. Tôi thường bảo đùa với chị em trong Viện rằng đến cơ quan thì quên việc nhà đi, mà về đến nhà thì quên luôn việc cơ quan. Nói thì nói vậy chứ chắc khó mà thực hiện được.

Viện phó kiêm Phó bí thư Đảng ủy Viện dầu khí Việt Nam, tiến sỹ Phạm Thị Thanh Tuyền mở đầu câu chuyện với tôi bằng những chuyện rất đời thường như vậy.

(…)

–          Sao chị không mướn lấy một “ô sin”?

–          Hai cháu nhà tôi, một đi học nước ngoài, một đang học Bách Khoa trong nước, cháu suốt ngày ở trường. Hai vợ chồng cùng ngành dầu khí nhưng mỗi người một cơ quan, cũng đi cả ngày, tối đến cả nhà mới có điều kiện đoàn tụ. Không tìm được người giúp việc nên nhiều khi cũng bận…

(…) trong lần sơ kiến, sau khi trình bày yêu cầu và nội dung của tập sách, tôi đề nghị chị Tuyền dành một ít thời gian để “sắp xếp” lại những chuyện của mình trên con đường mà chị đang đi, để lần gặp sau sẽ giúp chúng tôi những tư liệu cần thiết cho bài ký của mình, nhưng chị lắc đầu:

–          Chẳng biết các anh cần những gì mà “sắp xếp”. Với lại tôi không quen làm thế. Tốt nhất là ta làm việc luôn, cần gì anh cứ hỏi, tôi sẽ trả lời.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền sinh năm 1958, quê gốc ở làng Lương Ngọc. Đó là một làng Việt cổ, có tuổi đời nhiều trăm năm ở xứ Đông. Thời Lê, làng mang tên là Hoa Đường rồi có thời gọi là làng Lương Đường thuộc phủ Bình Giang, nay là huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Thời trước, làng ấy có rất nhiều người ra kinh kỳ sinh sống bằng nghề dạy học rồi lập nghiệp ở đó, tính đến nay đã có nhiều đời, cụ tổ chị cũng là một trong số đó:

–          Ông nội tôi sinh ở Hà Nội. Ngày trước ông nội tôi cũng làm báo đấy.

–          Chị có thể cho tôi biết tên cụ được không?

–          Ông nội tôi là Phạm Quỳnh.

Tôi hơi sững người, tim đập chộn rộn bởi những cảm xúc bất ngờ ập đến. Thì ra vậy. Thì ra trước mắt tôi là cháu nội của một trong ba trí thức lớn nhất của Việt Nam những năm đầu thế kỷ trước. Ba người đó là Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Cụ Phạm là người hết lòng với tiếng Việt, đã dùng tờ tạp chí Nam Phong do cụ làm chủ bút để cổ súy, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ của nước nhà. Chính cụ đã “đem gió Nam đến thổi trên đất Pháp”, làm cho người Pháp thực dân quen kỳ thị cuối cùng cũng phải hiểu rằng: “Dân tộc (Việt Nam) chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ”. Cái công lao của cụ đối với tiếng Việt, với sự phát triển của chữ quốc ngữ, nói như cụ Dương Quảng Hàm, là đã góp phần “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”. Cụ cũng là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất của thi hào Nguyễn Du với câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn!” Thời phổ thông, chúng tôi biết đến câu nói đó không phải trong toàn bộ văn cảnh của nó, mà là qua một bài luận chiến của chí sĩ Ngô Đức Kế “đánh” cụ Phạm một cách khá nặng nề. Mãi về sau tôi mới hiểu lý do khiến cho câu nói đó trở thành danh ngôn. Điều gì sẽ xẩy ra nếu qua một ngàn năm Bắc thuộc, tiếng Việt vĩnh viễn bị chôn vùi, dân tộc ta nói toàn bằng tiếng Hoa? (…) Được đọc của cụ Phạm không nhiều, nhưng chỉ qua những gì đã đọc, tôi vô cùng kính phục cụ. Toan bày tỏ sự kính trọng ấy với chị Tuyền, nhưng lại e mang tiếng là khen phò mã tốt áo. Miên man suy nghĩ, tôi đã để một “khoảng lặng” trong cuộc trò chuyện:

–          Xin lỗi, chị có phải là con gái của nhạc sĩ Phạm Tuyên không?

–          Vâng

Chị Tuyền kể, cuộc đời chị cũng rất bình thường như mọi người khác. Học phổ thông ở Hà Nội. Năm 1975, khi miền Nam vừa giải phóng, cũng là năm ngành dầu khí Việt Nam được thành lập, thì chị thi đại học, đủ điểm để được chọn đi Liên Xô (cũ) học.

–          Chị chủ động chọn ngành học hay là theo sự phân công của tổ chức?

–          Theo sự phân công thôi. Tôi được phân vào học ở trường đại học Dầu khí Matxcơva, chuyên ngành của tôi là kinh tế khai thác dầu khí. Năm 1981 tôi về, thì cũng là năm Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt Nam – Liên Xô (Vietsovpetro) được thành lập. Tôi được nhận về làm việc tại Vụ Kế hoạch thuộc Tổng cục Dầu khí, trực tiếp theo dõi tình hình của Liên doanh. Mấy năm sau thì lấy chồng, chồng tôi cũng làm trong ngành dầu khí. Năm 1985 chúng tôi sinh cháu trai. Năm 1988, Tổng cục Dầu khí nhập vào Bộ Công nghiệp nặng, cuối năm ấy tôi thi đỗ nghiên cứu sinh, lại sang Liên Xô nghiên cứu luận án phó tiến sĩ, luận án của tôi vẫn là kinh tế khai thác dầu khí. Sang Liên Xô lần này, tôi mang cả con đi theo, lúc đó cháu mới ba tuổi. Một thời gian sau, chồng tôi cũng sang Liên Xô, nghiên cứu luận án phó tiến sĩ.

Sang đấy, chúng tôi có thêm một cháu nữa. Tháng 12 năm 1992 tôi bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Do sinh con nên mãi năm 1995 tôi mới về nước. Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt có quyết định tách ngành dầu khí khỏi Bộ Công nghiệp nặng, bỏ cấp Tổng cục, thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Chính phủ. Về nước, tôi lại tiếp tục làm việc ở Ban kế hoạch Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, trực tiếp phụ trách các dự án như dự án mỏ Bạch Hổ, dự án khí Nam Côn Sơn.

–          Thời kỳ anh chị làm luận án phó tiến sỹ, chính là thời kỳ biến động dữ dội nhất ở Liên Xô. Đầu tiên là khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt chuyển đổi thể chế chính trị. Năm 1991 thì Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan rã. Để hoàn thành luận án, chắc là anh chị gặp không ít khó khăn?

–          Chẳng có gì khó khăn cả. Xã hội tuy có biến động nhưng việc nghiên cứu của chúng tôi, cũng như rất nhiều học sinh hay nghiên cứu sinh của các ngành khác, vẫn được tiến hành rất bình thường. Vì giữa hai Chính phủ đã có hiệp định mà.

–          Lạ nhỉ. Những năm đó tôi đang học ở trường Viết văn Nguyễn Du tại Hà Nội. Việc khối Đông Âu từ bỏ chủ nghĩa xã hội, rồi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tan vỡ đã tạo ra một cơn sốc lớn ở trong nước. Rất nhiều người đang công tác hay học tập, nghiên cứu bên ấy; trong đó có cả một số nhà văn được trường Nguyễn Du cử sang học ở Viện Văn học Macxim Gorki, đã bỏ về, nói là không thể tiếp tục học tập, nghiên cứu nữa.

–          Tôi không rõ vì cái gì mà họ “không thể tiếp tục” được, nhưng tôi thấy việc học tập, nghiên cứu của cán bộ, sinh viên Việt Nam hồi ấy tại trường Dầu Matxcơva không hề gặp điều gì khó khăn do tình hình xã hội biến động cả. Thôi tốt nhất là quên những chuyện ấy đi. Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?

–          Chị ở Tổng công ty được mấy năm thì về Viện dầu khí?

–          Tôi mới về Viện từ năm 2008 thôi mà. Nhìn chung, cuộc đời công tác của tôi là một cuộc đời “động” chứ không phải là tĩnh. Hồi ấy, làm việc ở Tổng công ty được 5 năm thì đến tháng 10-2000, toi được điều động sang Công ty Tài chính Dầu khí, nay là Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Sang đó, lúc đầu tôi làm trưởng phòng kế hoạch rồi sau làm trưởng phòng dịch vụ tài chính.

–          Nếu tôi không lầm, thì vào thời kỳ đó, thị trường tài chính còn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với nước ta?

–          Lúc đó, cả nước chỉ mới có sáu công ty tài chính, trong đó có công ty của chúng tôi. Tuy thành lập sau năm công ty kia, nhưng Công ty tài chính Dầu khí lại lớn nhất. Trước khi thành lập, lãnh đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có sự nghiên cứu rất kỹ về các mô hình những công ty loại này, nghiên cứu thị trường tài chính ở cả trong và ngoài nước. Nói về thị trường tài chính trong nước lúc đó, thì không phải chỉ là “khá mới mẻ” như anh nói đâu, mà là mới hoàn toàn. Vì chưa có thị trường, nên nghiệp vụ cũng chưa có. Chúng tôi phải xây dựng lấy thị trường cho mình, sáng tạo và hoàn thiện nghiệp vụ của mình.

–          Những nghiệp vụ hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành mà chị được đào tạo?

–          Công ty tài chính, thực chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có mục đích làm tăng tài sản của doanh nghiệp bằng công cụ tài chính. Vừa xây dựng thị trường, xây dựng nghiệp vụ, chúng tôi đã triển khai hoạt động của công ty trên rất nhiều lĩnh vực như thu xếp vốn cho các dự án của Tổng công ty, kinh doanh vốn nhàn rỗi của Tổng công ty bằng cách cho vay, kinh doanh tiền tệ liên ngân hàng hoặc đầu tư để sinh lời. Ngoài ra còn nhận tư vấn về tài chính, về thuế hay nhận ủy thác về vốn cho các doanh nghiệp khác… Ngay khi mới thành lập, anh Nguyễn Tiến Dũng, giám đốc Công ty Tài chính Dầu khí, đã có sự định hướng rất chuẩn xác rằng cổ phần hóa các doanh nghiệp là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế của Việt Nam. Từ định hướng đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề về cổ phần hóa doanh nghiệp. vì thế, từ đầu những năm 2000, khi Nhà nước tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thì Công ty Tài Chính dầu khí đã đủ điều kiện để làm dịch vụ cổ phần hóa cho các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau. Và khi Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tiến hành cổ phần hóa, thì công ty chúng tôi cũng được chỉ định làm tư vấn cổ phần hóa cho toàn ngành. Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, thì Công ty Tài chính Dầu khí cũng chuyển thành Tổng Công ty Tài chính Dầu khí trực thuộc tập đoàn. Nhưng năm 2005 thì tôi lại được điều trở lại Tổng công ty rồi.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền dành cho tôi ba buổi tiếp xúc, mỗi lần đúng một tiếng đồng hồ, lần thì từ 16 đến 17 giờ, lần thì từ 16g30 đến 17 giờ 30. Cách nói chuyện của chị nhẹ nhàng nhưng khúc chiết, không rườm ra lan man, không bao giờ ra khỏi nội dung câu hỏi, đúng là cách nói của một nhà khoa học. Lần thứ ba, câu chuyện của chúng tôi xoay quanh nhạc sĩ Phạm Tuyên, thân sinh ra chị. Trong đời mình, tôi mới chỉ được nhìn người nhạc sĩ tài danh này hai lần ở xa xa, nhưng tên tuổi ông thì tôi biết rất sớm. Ai cũng biết cụ Phạm Quỳnh yêu Truyện Kiều, mê Truyện Kiều, gọi Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc túy” của Việt Nam, nhưng ít ai để ý rằng trong Truyện Kiều, có một câu mà nếu “vận” vào cái đại gia đình của cụ thì thật đúng, đó là câu: Nền phú hậu, bậc tài danh / Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Danh nhân Phạm Quỳnh có một vợ, mười sáu người con, ba người mất sớm, còn lại 13 người, phần lớn đều là những tên tuổi nổi tiếng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con thứ 12 của cụ Phạm. (…) Tôi biết ông từng học trường Pháp lý, trường Sĩ quan Lục quân trước khi trở thành nhạc sĩ. Ông nôi tiếng với những bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ như Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng, Màu cờ tôi yêu, Ngày thống nhất Bác đi thăm, Như có Bác trong ngày đại thắng… và là người được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt đầu tiên (2001). Giờ đây trước mặt tôi là con gái của Nhạc sỹ Phạm Tuyên và không hiểu sao điều đó khiến tôi rất tò mò. Tôi muốn biết tại sao chị lại chọn con đường nghiên cứu khoa học làm sự nghiệp của đời mình. Truyền thống thơ ca nhạc họa của ông nội và cha chị có tham gia được điều gì ở những thành công khoa học của chị. Có lẽ sự thông minh, đam mê tìm tòi sáng tạo là điều dễ nhận thấy nhất ở chị từ những tiếp nối truyền thống gia đình.

(…) Ba giờ tiếp xúc, một thời gian quá ngắn ngủi để có thể hy vọng hiểu được một con người, nhưng qua những gì chị Tuyền kể, tôi đã kịp nhận ra một điều: Chị là một người luôn làm chủ được công việc, dù ở bất kể công tác gì, cương vị nào, và công việc có phù hợp với chuyên môn của mình hay không, và ở đâu, chị cũng làm tốt vai trò của một “kiến trúc sư” cho những thành tựu của cơ quan nơi mình công tác. Đang từ công ty Tài chính Dầu khí, chị được điều chuyển về Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nhận nhiệm vụ chuyên viên trong Hội đồng quản trị, giúp lãnh đạo Tổng công ty theo dõi toàn bộ mảng cổ phần hóa và đổi mới doanh nghiệp trong ngành. Từ chuyên viên, chị trở thành phó ban đổi mới doanh nghiệp. Năm 2006, Chính phủ quyết định nâng Tổng công ty dầu khí Việt Nam thành Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Trong cương vị phó ban đổi mới doanh nghiệp, tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền đã tích cực tham gia vầ có nhiều đóng góp vào quá trình chuyển đổi của tập đoàn.

Năm 2008, chị Tuyền về làm Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư Đảng bộ Viện Dầu khí Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt (…) Năm 2006, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thành lập, thì tháng 1/2007 Viện Dầu khí cũng chính thức được trở lại với tên gọi vốn có của mình là Viện Dầu khí Việt Nam trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức khoa học công nghệ của tập đoàn. Năm 2008, tiến sĩ Thanh Tuyền được điều về viện nhận trọng trách là Phó Viện trưởng kiêm Phó Bí thư (2009). (…) Chị cho biết:

–          Trước đây, ba cọc ba đồng, tháng tháng lĩnh lương, trên giao cho đề tài nào thì thực hiện đề tài ấy, ngoài lương, người thực hiện đề tài còn được thêm tiền. Bây giờ, phải tự tìm lấy khách hàng, tự tìm thị trường, tìm công việc để bù đắp chi phí. Không thì không có lương, Muốn có khách hàng, có công việc thì chất lượng các công trình nghiên cứu hay chất lượng dịch vụ phải cao, phải sát với thực tết, phải có tác dụng thực sự với sản xuất kinh doanh.

–          Để làm được điều đó, viện đã bắt đầu từ đâu, thưa chị?

–          Đảng ủy và lãnh đạo viện chúng tôi đã tập trung vào hai vấn đề lớn. Thứ nhất là làm công tác tư tưởng cho cán bộ công nhân viên, để ai cũng hiểu rằng với cơ chế mới theo Nghị định 115, thì chỉ có chính chúng ta mới cứu được chúng ta, và nếu chúng ta làm tốt thì cuộc sống của chúng ta sẽ khác trước. Làm công tác tư tưởng, chúng tôi cũng đồng thời khơi dậy lòng tự trọng của những người làm khoa học. Việc này được anh em rất ủng hộ, nhất là những anh em trẻ. Lâu nay, họ rất muốn được thể hiện mình. Và họ thấy đây chính là cơ hội để cho họ thực hiện mơ ước đó. Thứ hai, là sắp xếp lại tổ chức, giảm tới mức tối thiểu biên chế gián tiếp, tăng cường cán bộ cho chuyên môn, mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ xây dựng cơ chế, tiêu chuẩn hóa chức danh để phân loại cán bộ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của anh em. Hiện tại, chúng tôi đã thành lập được bảy trung tâm chuyên ngành, đó chính là những nơi thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học và làm dịch vụ, dưới sự quản lý của viện. Ngoài ra viện cũng là đơn vị chủ trì việc thực hiện các đề tài khoa học mang tính chất chiến lược cho Ngành Dầu khí Việt Nam. Tất cả những việc làm đó đã thổi vào viện một luồng sinh khí mới. Hiện tại, chúng tôi đã có trong tay một đội ngũ cán bộ công nhân viên tinh thông chuyên môn, năng động ham tìm tòi, thông suốt về tư tưởng, hào hứng trong công việc, một đội ngũ lãnh đạo đoàn kết, một đảng bộ vững vàng. Tôi cho đó là thành công lớn nhất.

Ngày nay, nhờ cố gắng của rất nhiều người, Viện Dầu khí Việt Nam đã có được tầm vóc mới, hiện đại hơn. Những hoạt động khoa học của viện đa dạng, thiết thực, bám sát yêu cầu thực tế hơn. Với các chức năng chính là nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản trong lĩnh vực dầu khí; tư vấn, lập và đánh giá, thẩm định các dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dầu khí; giám định hóa chất, sản phẩm dầu khí, thiết bị, công nghệ thí nghiệm; đánh giá/ giám sát rủi ro, an toàn môi trường; dịch vụ khoa học công nghệ, phân tích mẫu, xử lý số liệu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; thu thập, bảo quản và quản lý khai thác, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý nhà nước về thông tin dữ liệu chuyên ngành, phục vụ nghiên cứu và sản xuất kinh doanh; tổ chức hội nghị, hội thảo triển lãm / quảng cáo về ngành dầu khí; đào tạo chuyên ngành, cung cấp nguồn nhân lực chuyên ngành cho các đơn vị có nhu cầu; sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm trong các lĩnh vực trên… Viện Dầu khí Việt Nam đang chứng tỏ bản lĩnh hội nhập và cập nhật của mình, đáp ứng mọi yêu cầu từ phía đối tác trong và ngoài Ngành Dầu khí.

Vấn đề hiện nay Ban Lãnh đạo Viện chúng tôi còn băn khoăn, trăn trở là làm thế nào cân bằng được giữa nghiên cứu cơ bản, đón đầu và dịch vụ khoa học công nghệ nhằm mục đích doanh thu. Đây là điểm bất cập của Nghị định 115 mà các tổ chức Khoa học Công nghệ còn đang lúng túng. Mặc dù vậy, khát vọng lớn nhất của những người làm khoa học chúng tôi là làm sao những nghiên cứu của mình được đóng góp nhiều nhất trong hoạt động của tập đoàn cũng như sự phát triển của đất nước, không còn tình cảnh các công trình nghiên cứu lần lượt được cất vào tủ vì thiếu tính thực tế, đồng thời cũng mong muốn lao động của các nhà khoa học được đánh giá đúng với những giá trị mà họ đã đem lại cho xã hội và xứng đáng được hưởng.

Tuy mới chuyển về chưa lâu, nhưng Phó Bí thư đảng ủy, Phó Viện trưởng Phạm Thị Thanh Tuyền đã có những đóng góp xứng đáng cho Viện Dầu khí Việt Nam, bằng tài năng và tâm huyết của mình.

Hà Nội, tháng 11-2009

V.H.S.

Tháng Mười 7, 2018

GS.TS Đặng Thị Kim Chi – Nhà khoa học nữ tâm huyết với môi trường làng nghề

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:23 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 10 năm 2018.

GS.TS Đặng Thị Kim Chi – Nhà khoa học nữ tâm huyết với môi trường làng nghề

Giáng Hương

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài in trong đặc san Lao Động Sáng Tạo của báo Đất Việt, tháng 9/2010, từ trang 38 đến trang 42.giao su dang thi kim chi

GS TS Đặng Thị Kim Chi là con gái út của GS Đặng Vũ Hỷ và bà Phạm Thị Thức, thứ nữ của học giả Phạm Quỳnh. Bà là cháu ngoại của học giả.

—o0o—

Là một trong số ít nhà khoa học nữ có những công trình tạo được tiếng vang trong làng khoa học, GS.TSKH Đặng Thị Kim Chi còn được nhiều người biết đến bởi bề dày nghiên cứu, gắn bó với môi trường làng nghề Việt Nam.

Giải thưởng Kovalevskaia 2008 dành cho cá nhân đã được trao cho GS.TS Đặng Thị Kim Chi – nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Trong gần 40 năm làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, GS.TS Đặng Thị Kim Chi đã làm chủ nhiệm và tham gia 35 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, công bố 61 bài báo khoa học, đồng tác giả của 1 bằng sáng chế (“Quy trình điều chế chất xúc tác spinel nikel nhôm, sản phẩm xúc tác spinel nikel nhôm sử dụng cho phản ứng khử chọn lọc xúc tác đối với khí NO trong khí thải”). Bà cũng là tác giả và đồng tác giả của nhiều cuốn sách như: Việt Nam – Môi trường và cuộc sống, Giáo trình kinh tế chất thải, chủ biên cuốn Làng nghề Việt Nam và Môi trường, Hóa học môi trường… Là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển ngày KHCN môi trường ở Việt Nam, đồng thời là nhà khoa học đi tiên phong trong việc nghiên cứu và đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề môi trường tại các làng nghề của Việt Nam.

“Duyên” với môi trường

GS.TS Đặng Thị Kim Chi sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, cha của bà là GS Đặng Vũ Hỷ – một trong những nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam được Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN (năm 1996). Ngay từ nhỏ, Đặng Thị Kim Chi đã được giáo dục tinh thần ham học, yêu sách vở và trong mọi việc đều phải kiên nhẫn, bền bỉ, phải luôn “đi bằng đôi chân của mình”. Năm 1971, Kim Chi tốt nghiệp Khoa Hóa – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội với tấm bằng loại ưu và được giữ lại làm giảng viên, sau đó được cử sang Cộng hòa Dân chủ Đức làm nghiên cứu sinh về chuyên ngành kỹ thuật bảo vệ môi trường. Bà cũng “bén duyên” với môi trường từ đó. Năm 1983, sau khi về nước, TS Kim Chi cùng 5 người khác, tạo thành một nhóm chuyên gia về kỹ thuật bảo vệ môi trường đầu tiên của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Vào thời điểm đó, đất nước còn khó khăn về kinh tế, vấn đề môi trường chưa được chú trọng, nhưng bà vẫn quyết tâm đi theo con đường đã chọn vì biết rằng, đất nước sẽ rất cần những nhà khoa học, những kỹ sư bảo vệ môi trường khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 1989, Bộ môn Kỹ thuật môi trường (Trường Đại học Bách khoa) được thành lập. Tại đây, cùng các đồng nghiệp, giảng viên Kim Chi đã đào tạo hàng trăm kỹ sư kỹ thuật môi trường cho Việt Nam. Chính sự chuẩn bị khá sớm này đã giúp Việt Nam có đội ngũ cán bộ kỹ thuật môi trường được trang bị kiến thức tốt, kịp thời tham gia giải quyết những vấn đề nóng về môi trường khi đất nước bước vào giai đoạn “bùng nổ” kinh tế. Ngoài việc giảng dạy, GS.TS Chi đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết các vấn đề về môi trường phục vụ đời sống, sản xuất của người dân. Nghe tin ở đâu có vấn đề bức xúc về môi trường là GS.TS Chi có mặt.

Dang Thi Kim Chi tai phong thi nghiem

Trong một chuyến công tác tại Thái Nguyên, khi nghe người dân than thở là gần đây trồng cây gì cũng chết, nguồn nước sinh hoạt có mùi lạ, lập tức GS.TS Kim Chi đã tìm về tận nơi, lấy mẫu phân tích. Sau khi có kết quả, bà đã thông báo cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh biết để kịp đưa ra phương án giải quyết.

Làm “đẹp” lại làng nghề

Một trong những hướng nghiên cứu trọng tâm của GS.TS Đặng Thị Kim Chi là môi trường làng nghề, bà tâm sự: Nước mình có nhiều làng nghề, nhưng sự ô nhiễm trong quá trình sản xuất đang làm mất dần đi vẻ đẹp của nhiều làng quê, ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của nhân dân.

Chính điều này đã thôi thúc GS.TS Chi nghiên cứu nhiều đề tài về môi trường làng nghề, trong số này, đề tài mang mã số KC.0908: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở làng nghề Việt Nam” do bà làm chủ nhiệm được đánh giá cao. Đề tài đã mở ra hướng nghiên cứu mới về môi trường ở Việt Nam; cải thiện môi trường tại các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nằm trong vùng nông thôn với đặc điểm riêng về truyền thống văn hóa, xã hội tồn tại ở quy mô làng, xã còn gắn với sản xuất nông nghiệp và hệ tư tưởng của người nông dân. Đây sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp bảo vệ môi trường cho những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, phù hợp với đặc điểm và điều kiện xã hội của Việt Nam.

Từ kết quả của đề tài, vấn đề môi trường làng nghề đã được quan tâm hơn trước rất nhiều. Gần đây, Đề án bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong Chiến lược bảo vệ môi trường đến năm 2020, Đề án kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường)… đều tham khảo, sử dụng kết quả của đề tài hoặc trực tiếp mời các nhà khoa học của đề tài tham gia. Đặc biệt, đề tài đã đưa ra các mô hình cải thiện môi trường có thể áp dụng cho 4 loại làng nghề phổ biến ở Việt Nam là tái chế giấy, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và chế biến lương thực, thực phẩm. Những mô hình này đã được phổ biến cho bà con ở một số làng nghề, giúp giảm tiêu thụ nguyên, nhiên liệu và xử lý chất thải ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

GS.TS Chi cho biết, đặc thù của khoa học môi trường là khoa học liên ngành. Mỗi công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến môi trường đều rất cần sự tham gia của nhiều nhà khoa học ở các chuyên ngành khác nhau như: Sinh học, hóa học, địa chất, địa lý, xây dựng… Do đó, người làm môi trường, ngoài việc tự trau dồi, bổ sung kiến thức còn phải có trình độ quản lý tốt. Trong công việc, phải biết kết hợp hài hòa tinh thần làm việc theo nhóm của phương Tây và sự quan tâm, tình nghĩa của người Á Đông.

Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, công trình giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam đã được đánh giá đúng giá trị của nó. Năm 2009 vừa qua, GS.TS Chi và các đồng nghiệp đã cùng đánh giá lại các công nghệ xử lý chất thải, khí thải ở một số làng nghề đặc trưng của Việt Nam, qua đó tiến tới xây dựng tài liệu hướng dẫn nhân rộng kết quả nghiên cứu ra nhiều vùng miền trong nước.

Dù đã ở tuổi 60 (Năm 2010-PT chú), GS.TS Chi vẫn đau đáu một lòng với môi trường. Đề tài “Quản lý và xử lý điểm ô nhiễm tồn lưu ở một số vùng tại Việt Nam” đang được bà tiếp tục nghiên cứu. Đây là một hướng nghiên cứu được thực hiện từ lâu tại các nước phát triển nhưng ở Việt Nam thì đến nay vẫn chưa được tiến hành. Công trình này khi thành công hứa hẹn sẽ giải quyết được vấn đề tồn tại bấy lâu nay ở nước ta đó là những chất độc hại tồn lưu tại các bãi than, trạm xăng dầu, các bãi chôn lấp đã ngừng hoạt động và tưởng như an toàn nhưng vẫn gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Bên cạnh đó, nghiên cứu độc nhất trong môi trường cũng là một công trình mà bà rất tâm đắc.

GS.TS Chi tâm sự, có lẽ duyên nghiệp của bà gắn với môi trường nên tất cả các vấn đề xung quanh nó bà muốn được nghiên cứu, hiểu nhiều hơn để biết có thể làm gì tốt nhất cho môi trường.

G.H.

“Việc học là suốt cả cuộc đời, hãy luôn cố gắng”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 10 năm 2018

“VIỆC HỌC LÀ SUỐT CẢ CUỘC ĐỜI, HÃY LUÔN CỐ GẮNG”

TSKH Đặng Thị Kim Chi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần cuối của bài cùng nhan đề in trong sách Đặng Vũ Hỷ, cuộc đời và sự nghiệp của Trường Đại học Y Hà Nội, nhà xuất bản Y Học, 2009.

—o0o—

Nhiều buổi tối, tôi thấy ba còn miệt mài bên những chồng sách, vừa đọc, vừa viết. Tôi hỏi:

  • Sao ba không đi ngủ đi? Con mà là giáo sư như ba thì con chẳng cần học làm gì nữa.

Ông cười rất lâu và trả lời:

  • Con cái yêu quí, nếu nghĩ như vậy thì chắc con sẽ không bao giờ thành giáo sư được. Việc học là suốt cả cuộc đời con ạ, hãy luôn cố gắng học cho giỏi con nhé.

Tôi ghi nhớ lời ba và luôn tự nhủ phải cố gắng học thật giỏi và luôn biết rằng ba rất quan tâm tới việc học hành của tôi.

Những năm sau này, có lúc do ảnh hưởng của bạn bè, tôi đã định theo học một lớp vận động viên chuyên nghiệp. Ngay cả sau khi tốt nghiệp phổ thông, do hoàn cảnh lúc bấy giờ, tôi đã chọn học ngành Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội mà không chọn ngành y như ba tôi mong muốn. Ba tôi biết tất cả những điều đó nhưng không bao giờ ngăn cản.

  • Tùy con lựa chọn, nhưng dù làm nghề nào cũng phải luôn cố gắng là người có lương tâm, có đạo đức – Ba tôi nói với tôi như vậy khi tiễn tôi lên đường đi tới nơi sơ tán của Trường Đại học Bách khoa để nhập học.

Gia dinh Dang Vu Hy

Những ngày tháng ba tôi lâm bệnh là những kỷ niệm buồn trong đời tôi. Ông đã lặng lẽ và kiên cường vật lộn với bệnh tật, chấp nhận đủ mọi biện pháp điều trị kể cả Đông y và Tây y với hy vọng trở về với công việc giảng dạy và hướng dẫn sinh viên, tiếp tục nghiên cứu các đề tài còn dang dở, đến với những người bệnh đang chờ đợi và tin tưởng vào ông. Hơn thế nữa, ông mong muốn xây dựng khoa Da liễu của Bệnh viện Bạch Mai trở thành một viện nghiên cứu đầu ngành. Nhưng số phận đã không cho phép ba tôi thực hiện những mong ước đó. Tôi không ngờ ngày tiễn ba tôi lên đường đi sang Quảng Châu, Trung Quốc chữa bệnh với bao hy vọng lại là lần cuối cùng tôi được nắm tay ba, nhìn vào đôi mắt hiền từ của ông. Ba đã ra đi mãi mãi, không bao giờ trở về ngôi nhà nhỏ bên cạnh Hồ Gươm cổ kính ở Hà Nội với bao nhiêu kỷ niệm êm ấm của gia đình.

Ba tôi đã đi xa từ lâu rồi. Ông đã không bao giờ được nhìn thấy Viện Da liễu Quốc gia cùng các thế hệ  học trò xuất sắc của ông trưởng thành và phát triển như ngày nay. Ngay cả giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật đợt đầu tiên mà Nhà nước dành cho ông vì những cống hiến cho nền y học cách mạng Việt Nam cũng là truy tặng. Anh em chúng tôi đều đã trưởng thành nhưng tất cả những gì ông đã làm, những gì ông đã dạy bảo mãi mãi là tấm gương đối với chúng tôi. Những lúc mệt mỏi, tưởng như nản lòng trước khó khăn, tôi lại nhớ tới lời ba “Việc học là suốt cả cuộc đời, con ạ. Hãy luôn cố gắng”, và thế là tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Ngay từ những năm còn trẻ, tôi đã được đào tạo và đi sâu vào nghiên cứu bảo vệ môi trường. Tôi yêu quý công việc của mình vì tôi nghĩ đó là nghề bảo vệ sự bền vững cho cuộc sống, giống như công việc chăm sóc chữa bệnh cho con người mà ba tôi từ lúc tốt nghiệp đại học, bảo vệ luận án tiến sĩ, được công nhận chức danh phó giáo sư, rồi giáo sư, tôi luôn như thấy có ba bên cạnh với nụ cười hiền từ và có đôi mắt vui vui, động viên tôi “Hãy cố gắng và luôn có gắng con nhé, con gái bé bỏng của ba”.

Tôi thường nhắc lại những kỷ niệm đẹp về ông ngoại với các con, cháu mình. Tôi mong muốn những thế hệ sau trong gia đình sẽ nhớ tới ông như một tấm gương về lòng yêu quê hương, yêu con người, yêu nghề nghiệp, về tinh thần ham học hỏi và luôn cố gắng trong mọi việc.

Đ.T.K.C.

GIÁO SƯ ĐẶNG VŨ HỶ ĐỠ CON ÚT LỌT LÒNG

Đặng Nguyệt Bính

Trong bài Tưởng nhớ Ba tôi, bác sĩ Đặng Nguyệt Bính, chị của GS Đặng Thị Kim Chi viết: “Tôi còn nhớ vào đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ba tôi làm Trưởng Ty Y tế tỉnh Ninh Bình. Tháng ba năm 1949, mẹ tôi sinh bé út, mình ông lo đỡ đẻ. Trong những điều kiện thiếu thốn thời tản cư, ông đã chuẩn bị hết sức cẩn thận. Công việc đang tiến hành thì có một bác đến hỏi ba tôi, khi được biết ông đang đỡ đẻ, bà liền cho biết mình là một nữ hộ sinh được điều về bệnh viện, và đã chạy ngay vào giúp ông. Em gái tôi ra đời hôm đó nay là giáo sư tiến sĩ Đặng Thị Kim Chi. (Trích trong sách Đặng Vũ Hỷ cuộc đời và sự nghiệp  của NXB Y học, Hà Nội 2009)

GS.TS ĐẶNG THỊ KIM CHI BỊ THƯƠNG DO TAI NẠN GIAO THÔNG

Nhân chuyến công tác ở Miền Nam, ngày 18/9/2018, GS.TS Đặng Thị Kim Chi đã đến thăm vợ chồng người anh họ ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó về Hà Nội, bà lại về thăm quê chồng. Không may, tại đây bà bị một xe máy đâm phải khi vừa mở cửa xe hơi bước xuống.

Sau khi sơ cứu tại bệnh viện địa phương, bà được chuyển về bệnh viện Việt Đức mổ gấp. Hiện bà đã về điều trị tại nhà riêng, cạnh đường Đặng Vũ Hỷ, mang tên thân phụ bà.

Các anh họ bà là nhà giáo nhân dân Tôn Thất Thân, Tiến sĩ Tôn Thất Đại và vợ cùng hai con gái tiến sĩ Đại là nhà giáo Ánh Ngọc và và kiến trúc sư kiến trúc cảnh quan Tôn Ánh Hồng cùng nhiều bạn bè đã đến thăm, được bà tiếp đón niềm nở với tinh thần sáng suốt, tâm trạng bình tĩnh, can đảm trước tai nạn làm bà mất nhiều thời giờ là thứ tài sản mà càng ngày bà càng quí hơn.

Chúng tôi chúc bà có những ngày thư thái nhìn lại những việc mình đã làm và từ đó tìm ra những việc mình nên làm trong thời gian còn lại. Tin là bà đủ bản lĩnh  để vượt qua tai nạn làm bà mất nhiều thời giờ này và sẽ tiếp tục có những công trình nữa cống hiến cho nhân dân, đất nước như bà hằng mong.

B.P.T.

Tháng Chín 28, 2018

Thầy Tôi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 10 năm 2018.

THẦY TÔI

Phạm Thị Hoàn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vô cùng đau buồn thông báo với bạn đọc quí mến của Blog PhamTon là khi bạn đọc bài viết xúc động này thì tác giả là bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ 10 trong 16 người con của Học giả Phạm Quỳnh đã tạ thế tại Yerres (Pháp) nơi bà định cư từ nửa thế kỷ nay. Bà mất lúc 1:30 ngày 30/10/2011.

Ong Chau ba Hoan

Bà Phạm Thị Hoàn sinh năm Dần (1926) tại Hà Nội. Bài này bà đọc trong lễ tưởng niệm 100 năm sinh thân phụ tổ chức tại Paris năm 1992, sau bài diễn thuyết nổi tiếng của giáo sư Phạm Thị Nhung Cô Kiều với Phạm Quỳnh.

Nhiều năm bà cùng chị là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn lo việc bảo quản và lựa chọn cho xuất bản các tác phẩm của phụ thân bằng tiếng Việt và cả tiếng Pháp. Bà thường nói: “Cứ nhìn những dòng chữ của cha in trong Tạp chí Nam Phong ố vàng vì thời gian mà đau lòng”. Từ đó, bà cùng chị cho xuất bản nhiều sách có ích cho đời sau như: Phạm Quỳnh – 1892-1992 Tuyển tập và Di cảo – Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh, nhà xuất bản An Tiêm, 1992, Paris (Pháp). Tập Hành trình nhật ký bao gồm các du ký nổi tiếng Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ Pháp Du hành trình nhật ký được xuất bản thành sách lần đầu tại Paris năm 1997, cũng do bà Hoàn giữ bản quyền, nhà xuất bản Ý Việt (Pháp); sau đó in lần thứ hai tại San Jose (Mỹ) năm 2002 do nhà xuất bản An Tiêm. Sách bằng tiếng Pháp, hai bà cho in các tập Le Vietnam – À la Croisée Des Civilisations (Việt Nam – ở giao điểm các nền văn hóa), Le Vietnam – Problèmes Culturels et Politiques (Việt Nam- những vấn đề văn hóa và chính trị), Vietnam- L’Âme et L’Essence (Việt Nam – Tâm hồn và Bản chất) ở nhà xuất bản Ý Việt (Pháp), sau này, năm 2007, nhà xuất bản Tri Thức (Hà Nội) đã tổ chức dịch in thành sách Phạm Quỳnh-Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932)…

Sau khi chồng là nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, cháu nội chí sĩ Lương Văn Can mất được vài năm, bà đã đi theo ông, hưởng thọ 85 tuổi.

*

* *

Từ ngày lọt lòng đến năm lên bốn, tôi đã sống những ngày tháng êm lặng trong một khung cảnh gia đình yên hàn vô sự, bên Thầy Me và các anh các chị. Yên hàn vô sự đến mức quãng đời đó không ghi lại trong tâm khảm tôi một chút kỉ niệm nào!

Năm tôi lên năm, một sự kiện quan trọng đã thay đổi dòng đời của cả gia đình. Thầy tôi vào Huế làm việc và toàn thể gia đình đều rời Hà Nội đi theo.

Từ đó, cuốn “băng” kí ức trong tôi đã lần lượt ghi dấu những chặng đường nặng vết kỉ niệm, từ thời thơ ấu đến ngày nay.

Kỉ niệm đầu tiên là ngày nhập học trường Đồng Khánh, sau một tháng đến Huế. Ngày đó, theo trí nhớ của tôi, chắc chắn không phải là ngày khai trường, vì các “trò” trong lớp tôi, tức là lớp năm, toàn là một đám “ma cũ” cả. Họ gọi nhau “Tụi bây ơi, trò mới tụi bây ạ” rồi xúm quanh tôi, kẻ thì yên lặng “chiêm ngưỡng”, kẻ thì gợi chuyện, líu la líu lô giọng Huế tôi không hiểu kịp: “Ra chơi ù mọi với tụi tui không?” “Có biết chơi tàu bay không?” “Hay là chơi thẻ?”. Từng đó trò chơi các bạn mới đề nghị, tôi đều lắc đầu, vì không hiểu gì cả! Tôi nghe bàn tán: “Ngó bộ ngờ ngơ dữ!”

Trống đánh tan học buổi sáng, ai nấy đều sắp hàng lấy nón ra về. Thấy tôi vẫn “ngờ ngơ”, vài cô bé thương hại đến hỏi: “Rứa ba mạ trò có tới đón trò không?”. Tôi cũng chả hiểu gì, và vẫn “ngờ ngơ”, nước mắt chảy ròng, tìm chả thấy bóng dáng hai chị đâu để chạy theo hầu thoát cảnh hỏi cung này. Một cô bé tiến lại gần, giọng dịu dàng: “Rứa trò có hiểu “ba mạ” là chi không?”. Tôi lắc đầu, thì cô ta thở dài, tự nói “Hèn chi!” Và quay lại tôi giải nghĩa: “Ba mạ là cha mẹ mình. Rứa trò kêu ba mạ trò là chi?”. “Là Thầy Me”. Thế là cả bọn rũ ra cười và tôi lại được nghe giải thích: “Thầy là thầy giáo dạy học mình, đâu có sanh ra mình mà mình kêu thế cha mình được…”.Vừa lúc đó hai chị tôi ở lớp nhất và lớp nhì ra, đến đón tôi cùng về. Thấy tôi không được vui, hai chị yên chí là lần đầu tiên đi học trường, hẳn là nhớ nhà, nhưng đâu có hiểu được nông nỗi khổ tâm của tôi.

Trong đầu tôi cứ lẩn vẩn câu hỏi: “Tại sao tôi lại gọi cha tôi bằng Thầy?”. Bạn nói: “Thầy dạy mình chứ không sanh ra mình”, thật là chí lí. Thêm đó, tôi nhận thấy gọi “cha mẹ” bằng “ba mạ” nghe dễ thương hơn, thấy có sự thân mật gần gũi hơn, thấy “tân tiến” hơn chữ “Thầy”, nghe nghiêm khắc xa vời quá.

Về đến nhà, tôi chạy tìm ngay bác tài Mai để kể nỗi thắc mắc của tôi. Bác tài Mai là người vẫn đưa đón Thầy tôi đi làm và là người bạn độc nhất của tôi những ngày mới bước chân đến nhà Hậu Bổ ở Huế. Bác Mai ôm tôi vào lòng, vừa vuốt tóc tôi vừa nói: “Đừng có lo, có phải ai cũng gọi “cha” là “ba” mô, “ba” là bắt chước Tây đó; tui đây, tui kêu cha bằng “chú”, vợ tui kêu cha bằng “dượng””. Từ ngày đó tôi yên tâm, vì gọi cha bằng chú hay bằng dượng thì cũng “tức cười” như gọi cha bằng Thầy vậy.

Nhưng lớn lên, tôi càng nghiệm thấy không từ nào có thể đẹp và ý nghĩa bằng chữ “Thầy” khi áp dụng cho cha tôi. Chữ “Thầy” là hình ảnh sống động của cha tôi với các tính từ: chững chạc, mực thước, ôn hoà, ân cần, đôn hậu,…Và từ ngày khôn lớn, tôi đã suy tôn cha tôi qua chữ “Thầy” đáng kính và đáng mến đó.

Thầy tôi thờ chủ nghĩa “Trung Dung” nên giáo huấn con cái trong một khuôn khổ không nghiêm khắc như các cụ thời đó. Chứng cớ là tôi đã ra ngoài khuôn khổ xưa mà xưng với Thầy Me tôi là “em” chứ không xưng “con”. Còn nhớ trưa mùa hè năm ấy, khi “người ta đến đón” Thầy tôi đi, tôi còn chạy theo Người, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy Magnésie Bismurée cho Thầy nhé”. Và được Thầy tôi quay lại dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”. Ngày nay, ngồi viết lại dòng này, nước mắt tôi chan hoà thương cho mình lúc gia biến còn có phản ứng che chở cho cha và thương cho cha đã ngây thơ tin chiều sẽ trở về.

Thầy tôi dạy dỗ các con không theo lề lối xưa “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Vì chúng tôi không bao giờ bị ăn roi. Và cái “ngọt” cái “bùi” thì cũng quá thầm kín, chứ không lộ liễu như tôi đây, mỗi tối con trai tôi lên chúc mẹ ngủ ngon vẫn được nghe mẹ nựng: “Mẹ yêu em lắm, mẹ quý em lắm, em có biết không?”. Tôi nhận thấy Thầy tôi rất công bằng, mười ba người con, không hề thiên vị thương con nào hơn. Vào Huế, tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, Thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh ta trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai chóng nhớn, vươn vai chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến Thầy tôi “tỏ tình” với các em bé nên cũng yên trí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy.

Thầy tôi khuất núi, tôi mới tìm đọc đến sự nghịêp văn chương của Người. Thật là muộn màng đáng tiếc! Nhưng từ lâu tôi vẫn tự hỏi sao trong lúc sinh thời, Thầy tôi không bao giờ nói về mình với các con? Người ưu tư gì, Người khát vọng gì, Người tranh đấu gì, tư tưởng của người được người đương thời ủng hộ hay chống đối?… Thầy tôi chỉ chăm lo cho các con học hành tấn tới, dìu dắt các con sống trong một gia phong nền nếp. Thậm chí đến tạp chí Nam Phong hay các bài diễn văn của Thầy tôi, tôi cũng không được nghe Thầy tôi nói đến bao giờ!

Viết đến đây, một kỉ niệm “cười ra nước mắt” đã sống lại trong ký ức tôi: năm đó, tôi học đệ tam, trong giờ Pháp văn bà Sogny giảng một đoạn trong quyển Tuyển Tập của Pujarniscle: bài “La Poésie Annamite” (Thơ ca An Nam). Bà gọi tôi đọc nửa đoạn đầu, rồi bảo tôi cho ý chính đoạn đó cùng phê bình văn. Tôi còn nhớ câu đầu “Nous voguions lentement sur la Rivière des Parfums…” (Chúng tôi chèo thuyền từ từ trên sông Hương…) và kế tiếp là tả cảnh tả tình hay quá, lời văn nhẹ nhàng, lại có chút lẳng lơ lãng mạn khi tả giọng cô lái đò đưa câu hò mái đẩy, tiếng lanh lảnh vang trong tịch mịch. Tôi thao thao bất tuyệt nói cảm tưởng và hết lời khen tác giả. Bà Sogny chắc phải lấy làm lạ sự “mẹ hát con khen hay” của tôi. Sau khi tôi dứt lời, bà hỏi ngay: “Chắc hẳn trò biết tác giả bài này chứ?”. Không chút ngần ngại, tôi thản nhiên trả lời: “Thưa không”. Bà trợn tròn xoe đôi mắt dưới cặp kính dày: “Thật à, trò không biết thật à?”. Sau lưng tôi, các bạn khúc khích cười và nhắc tôi: “Của Ông Cụ mi đó”. Tôi chột dạ, lật qua trang sau thì quả nhiên chữ Phạm Quỳnh nổi bật ở cuối trang sách! Nào tôi có hay đâu, có bao giờ Thầy tôi bảo tôi đọc tác phẩm của Người đâu! Ai đó đọc đến dòng này chắc cũng ngạc nhiên không kém bà Sogny và các bạn đồng lớp của tôi thời đó.

Ngày nay, ngược dòng thời gian, thấy thương Cha vô cùng. Lúc nào cũng cô đơn, vượt cạn một mình, không tâm sự cùng ai. Âu đó cũng là thái độ của người tự trọng, biết lãnh trọn trách nhiệm, những nỗi ưu tư lo lắng một mình mình biết một mình mình hay, gánh vác mọi việc không hề muốn cho vợ con phải bận tâm. Tội thương! Cả đến lúc vô cùng đớn đau phải lìa đời, cũng một mình chịu đựng, mười ba người con mà không có được một mảnh khăn xô khóc cha! Con sông Bồ, ngọn núi Hắc Thú là mảnh đất Việt cuối cùng đã tiễn đưa cha tôi qua thế giới bên kia, một đêm thu lạnh năm Ất Dậu, dưới không độ tình người…

Thương cha đứt ruột!

Tôi không bao giờ thấy Thầy tôi ca thán giận hờn, hoặc bộc lộ sự vui mừng quá mức. Tôi biết thầy tôi vui những lúc người rung đùi ngâm thơ trước ấm trà độc ẩm hoặc đem Nhị Độ Mai, Kim Vân Kiều ra đọc cho Me tôi nghe. Hay vui hơn nữa, thì gợi ý Me tôi họp mạt chược. Còn những lúc buồn lo hay bất mãn chuỵên gì, tôi đoán là những lúc Thầy tôi nói bác tài Mai đưa xe lên chùa Vạn Phước. Trên đó, Sư Cụ luôn luôn để sẵn ngoài hành lang chánh điện một cái ghế xích đu. Thầy tôi thường nghỉ ở đó, tìm di dưỡng tinh thần trong giọng trầm nhẹ của lời kinh hoà tiếng mõ đều đều của khoá kinh chiều. Và như thế đến tối mịt mới về.

Tôi được diễm phúc có nhiều kỉ niệm với thầy tôi. Các chị đi ở riêng sớm, mấy em sau còn nhỏ lúc thầy tôi bị nạn, sát tôi trên dưới là hai trai, nên chỉ có tôi là con gái đúng tuổi để sai vặt: tôi chuyên cắt móng tay cho Thầy tôi và mỗi lần như vậy, Thầy tôi lai nói đùa: “Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn”. Riêng câu đó cũng chứng tỏ Thầy tôi luôn dung hoà cái xưa và cái nay. Trong xã hội xưa, quan niệm về thứ bực bốn giới sĩ nông công thương thật bất di bất dịch, nhưng Thầy tôi đã không câu nệ trật tự xưa mà chấp nhận anh cả tôi vào Nam mở tiệm cơm. Hồi đó cũng có lắm kẻ dị nghị: “Sao Ông Cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú ba Tàu?” Tôi có nhiệm vụ vặn đĩa hát cho Thầy tôi nghe khi người nghỉ trưa. Không biết tôi lúc đó có thấy hay hay không, chỉ nhớ như in là buồn ngủ quá mà không dám ngủ, vì đĩa hát cổ, máy hát cổ, luôn luôn phải thay kim, thay đĩa, lên giây cót…Nhưng những điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy… và những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần cung oán…đã in trong tiềm thức tôi, khiến lớn lên tôi càng mê những giai điệu cổ điển đó, nhất là trong thời gian sống xa quê hương…

Công việc thứ ba của tôi là đọc sách, cứ hai ngày đọc một quyển dày! Thầy tôi quả là một “mọt sách”. Cả một thư viện gồm sách Việt, Pháp và Hán văn có giá trị, đã bị đem ra bán cân ngoài 00 sau khi chúng tôi phải rời căn nhà yêu thương ở An Cựu ra Hà Nội!

Thầy tôi không hề tâm sự với ai. Đó là điều chúng tôi nhận thấy trong những năm sống bên Người.

Nhưng tôi đã lầm.

Năm 1942, anh họ tôi Phạm Trọng Nhân có dịp đến thăm Thầy tôi ở Huế. Chuyện trò giữa chú cháu có bề xúc tích hơn giữa cha con và qua câu chuyện cái mũ ni anh Nhân tôi kể lại, Thầy tôi đã để lộ tâm trạng thầm kín khi chỉ cái mũ ni bằng len đang đội và nói với anh họ tôi: “Thời buổi này, đội cái mũ ni che tai vừa ấm vừa yên”. Đó là tâm sự rồi!…

Cách đây non bốn mươi năm, chúng tôi có được đọc một bức thư Thầy tôi viết cho một người bạn Pháp vào cuối năm 1933, tức là một năm sau khi rời toà báo Nam Phong vào Huế. Đại khái Thầy tôi nói: Tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời, giao thời giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đóng gây nên và do đó đã sai lầm tận gốc và một trật tự mới, trong tương lai sẽ kính trọng phẩm giá con người hơn, nhưng sự kiện này không thể tạo lập ra được trong chốc lát. Vì thế, tôi cố gắng dung hoà những mâu thuẫn đó để giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo đưa đến một tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi bị va chạm vào sự hiểu lầm của người đời (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Vì thế cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi, đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương! Đó là tâm sự rồi!… Đọc qua bức thư, tôi hiểu Thầy tôi hơn, thương Thầy tôi hơn, kính phục Thầy tôi bội phần: tiên đoán được tính cách bi thảm của cuộc dấn thân mà vẫn dấn thân!…

Trong một cuộc phỏng vấn Thầy tôi vào tháng 6 năm 1945 do nhà báo Nguyễn Vạn An ghi dưới nhan đề Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, Thầy tôi tiết lộ: “Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa” … “Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay, không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”… “Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nảy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một Tổ quốc mà phụng sự là gì?”… Đó là tâm sự rồi!… Nhưng, nỗi niềm tâm sự thầm kín nhất, Thầy tôi đã giãi bày trên ngót năm mươi trang giấy học trò, gom dưới nhan đề Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tùy bút. Quyển vở này ngẫu nhiên gia đình tìm thấy trên bàn viết của Thầy tôi, mở ở trang chót, có cái bút Waterman còn chặn ngang trang giấy viết dở bài cuối tựa Cô Kiều với tôi. “Cô Kiều với tôi” là niềm tâm sự mới thoát trên giấy trắng mực đen, nhưng, than ôi, ngàn kiếp mãi mãi còn dang dở…

Năm mươi trang giấy học trò đã được nghe Thầy tôi thủ thỉ niềm tâm sự của con tim chán chường với Nhân tình thế thái, với Con người hiểm độc, hay Anh chàng khoác lác. Trong những ngày hè nóng nực của Ất Dậu năm đó mà đọc Keyserling, thuật Keyserling, theo Thầy tôi nói, thì quyết không phải là một tiêu khiển. Thầy tôi đã đọc, đã thuật Tư tưởng Keyserling và ghi cảm tưởng là “Để kỉ niệm mấy ngày nóng nực lạ thường, giữa lúc thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi những đường kia nỗi nọ xa gần…” Thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi đã dẫn người đến với Lão Hoa Đường, để tiếc “phận nho quèn” mà không biết như Lão Hoa Đường “quyết chí ẩn dật” để giữ lấy tiết tháo thanh cao. Và lan man nữa đến tìm an ủi nơi cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cảm như đây là người cùng hội cùng thuyền! Còn tâm sự gì nữa qua cô Kiều? Thầy tôi khi trẻ giữ để bụng, lúc về chiều lại muốn thoát ra cho nhẹ, thì oan nghiệt của số phận đã bắt thác phải mang theo!

Còn Thầy tôi?

Thầy tôi đã phải ra đi

Trước mắt tôi! …

Bất lực, tôi cúi đầu chịu oan khiên của định mệnh

…Để đánh dấu một trăm năm sinh nhật của Thầy tôi, tôi mạo muội ghi chép vài kỉ niệm nho nhỏ gắn liền thầy tôi với tôi.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi dám cầm bút “viết thư” tâm sự với các “bạn” chưa được quen biết.

Nhưng, chỉ cần nghĩ là “bạn” cũng đã cảm thấy sự khoan dung và thông cảm rồi!

Tôi xin thành thật cám ơn người “bạn” đã đọc đến những dòng này

Yerres, Pháp, 1992.

P.T.H.

(Trích Thầy Tôi, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6-1992, Paris, Pháp)

“Ha-Na Hà Nội” Một câu chuyện huyền thoại với cựu chiến binh Mỹ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 10 năm 2018.

“HA-NA HÀ NỘI”

MỘT CÂU CHUYỆN HUYỀN THOẠI VỚI CỰU CHIẾN BINH MỸ

Thái Bảo

Lời dẫn của Phạm Tôn:Từ thời trẻ, nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ đã rất thân thiết với bà Phạm Thị Hoàn, con gái học giả Phạm Quỳnh. Bà Ngọ thì kinh doanh hàng thủy tinh với gia đình, còn bà Hoàn thì làm công chức. Tối tối hai bạn lại cùng nhau đi học tiếng Anh ở “lớp bà Vượng”, một phụ nữ người Luân Đôn lấy chồng Việt và định cư ở Hà Nội. Hai cô gái Hà Nội đã lên Đất Tổ Phú Thọ, lấy đất và nước để vào Sài Gòn làm lễ trộn đất trộn nước với các cô gái Huế và Sài Gòn trong trò “trộn đất trộn nước để tỏ lòng muốn thống nhất quốc gia” của quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại hồi đó. Sau đó, cô Hoàn đi Pháp học, cô Ngọ ở lại Hà Nội giải phóng và vào Đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam làm phát thanh viên tiếng Anh. Họ xa nhau, mãi cho đến năm 1993 bà Hoàn về thăm quê, rồi vào Thành phố Hồ Chí Minh, hai bạn cố tri mới gặp nhau và bà Hoàn gặp con gái bà Ngọ tên là Thu Hương, nghệ danh của bà Hoàn hồi là ca sĩ nghiệp dư hát trên Đài Phát thanh Hà Nội có Ban Việt Nhạc do nhạc sĩ Thẩm Oánh làm nhạc trưởng và nhạc sĩ Lương Ngọc Châu là cây vĩ cầm số một, sau này là chồng bà Hoàn.

Nay chắc chắn là hai bà lại gặp trên cõi Niết Bàn, cùng ca nốt bản nhạc tình bạn năm xưa.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.

Chương I mở đầu bằng hai câu:

            Chúng ta phải thừa nhận

            Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm QuỳnhTho Erik Stinus

            Chương VII lại mở đầu bằng câu:

            Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

            Còn trong chương VI, có những câu:

            Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

            …

            Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

            rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

            ….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng

(Theo bản dịch từ tiếng Anh của Nghệ sĩ Ưu tú Trịnh Thị Ngọ, bạn thân cùng học Anh văn với bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh)

Nhân dịp này, chúng tôi mời các bạn đọc bài viết về Nghệ sĩ Ưu tú Trịnh Thị Ngọ dăng trên trang 6 báo Nhân Dânsố ra ngày 20/8/1997 nhan đề “Ha-Na Hà Nội” Một câu chuyện huyền thoại với cựu chiến binh Mỹ

—o0o—

Trong tư liệu Nửa thế kỷ tiếng nói Việt Nam của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam có đoạn viết: “Trịnh Thị Ngọ (biệt hiệu Thu Hương (nghệ danh của bà Phạm Thị Hoàn khi hát tại Ban Việt Nhạc đài phát thanh Hà Nội cũ – PT chú), binh sĩ Mỹ thường gọi là Ha-na) là phát thanh viên tiếng Anh có giọng nói chuẩn xác và ngọt ngào, được binh sĩ Mỹ rất ưa thích, có sức quyến rũ mạnh tới mức một tờ báo của quân đội Mỹ Sao và vạch đã phải viết bài khuyên binh sĩ “Đừng nghe con mẹ phù thủy Ha-na!”. Có bài báo của Mỹ đã ví Ha-na với cô gái người Mỹ phát thanh viên của đài Nhật Bản có biệt hiệu là Tô-ky-ô Rô-sa (Bông hồng Tô-ky-ô) trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và nhận xét: “Tô-ky-ô Rô-sa quyến rũ bằng cách gợi tình, còn Ha-na thuyết phục binh sĩ Mỹ bằng cách nói chuyện đứng đắn nhưng rất thuyết phục”. Khuyên can không được, Bộ tư lệnh viễn chinh quân đội Mỹ cấm binh sĩ Mỹ ở Hạm đội 7 và Thái-lan cũng như ở miền nam Việt Nam không được nghe chương trình này của “đài Cộng Sản”. Nhưng càng bị cấm họ càng có thêm hứng thú nghe, rồi lén lút truyền bá cho nhau nghe. Có thể nói chương trình tiếng Anh dành cho lính Mỹ thời ấy đạt hiệu quả cao và là thành công của sự hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam và Cục địch vận (Tổng cục Chính trị)”.

Hana Trinh Thi NgoHơn ¼ thế kỷ đã trôi qua, nhưng đến nay với rất nhiều cựu chiến binh Mỹ đã tham gia chiến tranh ở Việt Nam vẫn có thể nhận ra giọng của Ha-na. Bởi lẽ trong số họ có người còn giữ được băng cát-xét thu “Tiếng nói nàng tiên cá Ha-na”. Nhớ lại năm 1965, khi quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, bà Trịnh Thị Ngọ được giao diễn xuất chương trình Chuyện nhỏ với binh sĩ Mỹ. Câu mở đầu của chương trình được dẫn tự nhiên: “Đây là Thu Hương trò chuyện với binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam…”. Lúc đầu lời thoại dài 5-6 phút và mỗi tuần có hai buổi phát, về sau tăng dần thời lượng và phát ngày ba buổi, mỗi buổi 30 phút. Như thế mỗi ngày “Ha-na Hà Nội” có 90 phút trò chuyện với binh sĩ Mỹ. Có thể nói hằng ngày có hằng trăm nghìn binh sĩ Mỹ nghe Thu Hương trò chuyện. Những buổi phát thanh của Ha-na khiến cho binh sĩ Mỹ thường tranh luận, có khi tới ẩu đả. Một số sĩ quan Mỹ bực tức vì “chiến tranh tâm lý của Cộng sản”, nghe rồi phải hét lên: Ha-na! Người là đấng tiên tri hay là quỷ dữ mà biết lắm điều thế? Trong cuốn Hồ sơ văn hóa Mỹ của Nhà xuất bản Thế giới (1996) đã giới thiệu nhà báo Mỹ Đôn-nót cách đây 20 năm là phóng viên của hãng ABC News và là người đầu tiên công bố những hình ảnh “Việt cộng tập kích Đại sứ quán Mỹ” trong cuộc tấn công Mậu Thân 68 – ông ta cũng cho ra đời bộ phim nổi tiếng Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày viết về chiến tranh Việt Nam. Mới đây khi tới Việt Nam gặp hỏi chuyện “Ha-na Hà Nội” ngay trên sân thượng khách sạn Rex (Sài Gòn) – khi về Đôn-nót xúc động đã viết một phỏng vấn dài trên báo nước ngoài thuật lại cuộc gặp này: “Không! “Ha-na Hà Nội” không phải là ma. Chị không có vẻ tai ác, mà đã đến đúng hẹn. Một phụ nữ yêu kiều nhỏ nhắn, ăn mặc hấp dẫn xuất hiện và dường như những âm thanh thời chiến của đài Hà Nội trở lại như những đợt sóng: “chúng ta phải đi khỏi nơi đây, nếu đó là việc cuối cùng cần làm. Chúng ta phải đi khỏi nơi đây chắc chắn là có một cuộc sống khác tốt đẹp hơn đối với tôi và anh”. Đó là lời một bài hát của nghệ sĩ Mỹ nổi tiếng Ê-rích Ba-dôn thường được Đài phát thanh Việt Nam phát đi trong khi lục quân Hoa Kỳ cấm.

Mới đây trong một dịp công tác vào Sài Gòn, tôi đã tìm gặp bà Trịnh Thị Ngọ, tại nhà riêng ở 19B Võ Văn Tần (Quận 3, TP Hồ Chí Minh). Gia đình bà sống trong một căn hộ 2 phòng trên lầu 2. Thoáng qua thấy cuộc sống của bà thanh đạm. “Ha-na Hà Nội” đã ở tuổi 67 nhưng với phong độ giao tiếp lịch duyệt, nhiệt thành khiến người gặp ngỡ bà như chưa đến 50. Qua câu chuyện được biết Trịnh Thị Ngọ sinh ra và lớn lên ở phố cổ Hàng Bồ, Hà Nội. Một thời bà là hoa khôi duyên dáng, đậu tú tài Pháp rồi học tiếng Anh qua tiếng Pháp do một người Anh có chồng là người Việt trực tiếp truyền thụ. Năm 1955, Đài Tiếng nói Việt Nam mở chương trình phát thanh bằng tiếng Anh, Trịnh Thị Ngọ đã trở thành phát thanh viên kiêm biên dịch và biên tập.

Vòng vo tôi hỏi: Bà có thể cho biết một vài kỷ niệm sâu sắc của mình?

“Ha-na Hà Nội” với giọng trầm ấm, thong thả trả lời: “Hơn 20 năm làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi ghi nhớ sự quan tâm và lòng ưu ái của nhiều đồng nghiệp – và có thể nói đó là những năm tháng đã qua đẹp nhất của đời mình. Tôi nghĩ, nếu có cuộc đời thứ hai phải làm lại thì tôi rất sung sướng lại được làm như thế.

Năm 1967, tôi cùng một số anh, chị em ở Đài may mắn được gặp Bác Hồ và được chụp ảnh chung với Người. Tấm ảnh đó hiện nay tôi lưu giữ như một kỷ vật thiêng liêng. Tôi cũng từng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho những tình cảm khích lệ và quan tâm mà cả đời mình, tôi không khi nào quên. Nghề nghiệp đã cho tôi môi trường để được gặp và làm quen với một số nhà báo, nghệ sĩ nước ngoài có tình cảm đặc biệt với Việt Nam trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước như nhà báo Ô-xtrây-li-a Bớc-sét, nữ ký giả Pháp M.Ri-phô và cả nữ diễn viên điện ảnh Mỹ danh tiếng Giên Phôn-đa. Chiến tranh đã lùi lại hơn 20 năm, nhưng vẫn không ít nhà báo, nhà văn, đạo diễn truyền hình của nước ngoài, đặc biệt là các cựu chiến chiến binh Mỹ đã tìm tới tôi để hỏi chuyện xưa. Có lần một phóng viên Mỹ đã tìm tới tôi hỏi “chị có nói dối không (nội dung của những buổi phát thanh của đài)”. Tôi trả lời: “Chúng tôi không bao giờ nói dối. Các tin tức, bài vở chúng tôi dùng có khác nhiều của chính các hãng thông tấn phương Tây và báo chí Mỹ. Chúng tôi đã nói tới sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, để giúp nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam”

Nay (tức năm 1997-PT chú) đã ở tuổi gần “thất thập cổ lai hy” nhưng “Ha-na Hà Nội” vẫn dành rất nhiều thời gian góp phần truyền thụ kinh nghiệm hiểu biết về nghề nghiệp của mình cho những lớp người đi sau. Ở Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh bà vẫn được mời đi hiệu đính, biên tập, biên dịch tiếng Anh. Người Nghệ sĩ Ưu tú ấy có tình yêu và niềm đam mê không ngưng nghỉ và theo cách nói của bà: “Trên đời này có hai thứ mà tôi “trung thành cho tới chết” đó là chồng con và nghề nghiệp.”

 

T.B.

“Viết di chúc”

Filed under: Ý kiến,Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 10 năm 2018.

“VIẾT DI CHÚC” 

Phạm Tôn

Năm 2009 đối với tôi có nhiều kỷ niệm. Mà một vài là chuyện vui, thậm chí…buồn cười.

Sáng 22/2/2009, từ sớm, tôi lên phòng con trai để tưới cây, đi rón rén cốt không làm con thức giấc. Thì bỗng con đứng ngay sau lưng tôi từ bao giờ, nói lời chúc mừng sinh nhật bố một việc khác hẳn mọi năm và đưa ra cho tôi một cái thiếp bé xíu, bên trái là hình Ông Ngoại tôi hồi làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, và bên phải là mấy dòng chữ tự tay con viết: “Mong Bố khỏe và sớm giải oan cho Cụ. Biếu bố Blog Phạm Quỳnh. Đây sẽ là kênh thông tin chính thức của Phạm Tôn : https://phamquynh.wordpress.com

Thiep blog phamton tang bo

Thế là từ ngày hôm đó, ngày nào chúng tôi cũng phát các tư liệu đã tích lũy từ mấy chục năm qua. Chủ yếu là do hồi ấy có khá nhiều blog cá nhân ra đời rồi bị đóng cửa ngay. Sau thấy mọi sự đều yên ổn, lại được nhiều bạn đọc giao lưu động viên, chúng tôi bình tĩnh lại, quyết định ra hằng tuần như một tạp chí để bạn đọc dễ theo dõi. Thật là vui.

Cũng năm 2009 ấy, anh tôi kết hôn lần thứ hai, sau khi bà chị dâu mà tôi yêu quí như chị ruột qua đời mấy năm. Cả gia đình tôi về Bạc Liêu, dự đám cưới anh. Đi về đều bằng xe hơi. Gia đình tôi đi cùng một cháu rể. Xong việc là về ngay. Khi về đến xa cảng Miền Tây, cháu rể phải đỡ tôi xuống và nói với vợ, con tôi là xem ra chú kiệt sức rồi. Tôi về nhà và nằm thẳng cẳng, chỉ muốn ăn cháo thôi. Nhưng hôm sau lại đi làm.

Gặp nhau sau mấy ngày tôi nghỉ việc riêng, anh phụ trách hỏi tôi có khỏe không. Tôi nói hơi mệt nhưng làm việc được, chiều sẽ đi khám bệnh. Anh hỏi có đau ở đâu không. Tôi chỉ vùng phải bụng, chỗ thắt lưng. Anh ta hỏi lại rồi nói anh bạn trẻ cùng làm đưa ngay tôi đi bệnh viện, vì có thể là viêm ruột thừa, phải mổ ngay. Chúng tôi đến bệnh viện quận, khám, siêu âm hai lần, bốn bác sĩ cùng siêu âm kết quả ghi rất hay, không sai vào đâu được: Xin theo dõi viêm ruột thừa. Và tôi được chuyển lên tuyến trên. Lần này con trai tôi đã thay anh bạn trẻ đưa tôi lên Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, vào phòng cấp cứu to, nằm trên một sàn lớn có 19 người nằm sẵn, trên tường sát đầu nằm là một dòng chữ đỏ, to “Khu vực không ăn uống. Đến 12 giờ trưa, con tôi ra nói với bác sĩ là bố tôi bị tiểu đường, nhịn ăn lâu quá, sẽ hạ đường huyết nguy hiểm. Tôi được đặc cách ăn một miếng xan-uých uống nửa chai nước trắng trước con mắt thèm thuồng của 19 người còn lại.

Nhưng rồi, cứ sau khi các bác sĩ chụm đầu lại bàn bạc thì lại có sáu người đưa đi mổ. Đến 22 giờ đêm thì chỉ còn hai người là tôi và một anh người Đắc Lắc, nằm chờ mổ mà luôn có điện thoại gọi, lại phải chỉ đạo bán mấy tấn cà phê ở chỗ nào trong kho nào. Lúc lại được một cô gái trẻ chăm sóc lau mặt, lau tay cho đỡ mồ hôi. Xem cách cư xử, thì đây không phải là con gái. Đến 22:30 thì bác sĩ đến bảo anh cứ về nhà, muốn ăn gì thì ăn, cần giải quyết việc gì thì giải quyết ngay và khi nào đau thì đến ngay chúng tôi, một hai giờ đêm cũng được, chúng tôi mổ ngay. Anh bị xơ gan giai đoạn cuối, mổ cũng là năm ăn năm thua. Anh ta và cô gái trẻ thu xếp ra về, còn chào cả tôi nữa. 23:00 một y tá đến bảo con tôi đưa bố đến ngay phòng siêu âm cắt lớp, đến ngay kẻo bác sĩ họ chửi cho đấy. Con tôi bực lắm. Nhưng đến nơi mới thấy là cô ý tá nói đúng. Cả phòng siêu âm chỉ chờ có mình tôi. Chụp luôn hai đợt, có đến mấy chục hình.

Về lại chỗ cũ, thì một lát sau các bác sĩ trực đêm ấy lại đến bên tôi. Một vị có tuổi nói nhẹ nhàng, nhưng trong đêm tĩnh mịch tôi nghe rõ từng lời ông nói: “Tôi làm ở đây lâu rồi, tôi chưa thấy có khối u nào ở đại tràng xich-ma như thế này mà lại là lành tính cả…” Rôi tôi được lệnh lên trại, chưa mổ vội.  Con trai tôi nắm lấy vai tôi bóp khẽ và nói nhỏ “Không sau đâu bố ạ.” Tội nghiệp thằng bé bị tôi nói nhỏ nhưng rõ một câu “Con phải hiểu bố con không phải là người cần được an ủi, vỗ về. Nhớ lấy”. Con tôi đẩy bằng ca, che thân tôi bằng một tấm vải trắng. Cô bạn gái cùng lớp, cùng tuổi heo vàng đi bên cạnh xách quần áo, túi đeo của tôi. Tôi còn dặn con tôi là blog của mình mới ra đời hơn nửa năm, phải giữ cho đều, không để bạn đọc mong, sợ là blog chết rồi. Vì thế, hằng ngày con mang tài liệu vào, bố nghiên cứu rồi viết nháp trong đầu, con đến, bố đọc cho con đánh thành bài, đứa đến bố chữa. Mẹ sẽ thay con những lúc con về nhà. Và thế là Blog PhamTon chúng tôi lại làm việc đều đặn. Chỉ có điều tôi bị đến năm cái giây truyền dịch và thoát dịch thải cho nên đọc khá khó. Vì vướng víu, có khi lại bị trái sáng. Vì vẫn theo y lệnh không được ăn uống như từ lúc đầu vào viện này.

Câu chuyện gọi là buồn cười xảy ra như thế này.

Có lần, vợ tôi bảo là trong phòng có mấy ông già đến trông con bị ung thư thắc mắc về hai bố con tôi lắm. Theo dõi mấy hôm liền, không chịu nổi đành hỏi vợ tôi là ông ấy gia đình có gì rắc rối lắm hay sao mà chúng tôi thấy ngày nào ông cũng đọc cho thằng nhỏ viết di chúc rồi bắt sửa đi đọc lại nhiều lần. Vợ tôi ngạc nhiên bảo chắc bố con nó chơi trò gì đó thôi chứ chúng tôi chỉ có một con, chết đi chẳng để cả cho nó thì cho ai. Vả lại vợ chồng đều là cán bộ nhà nước, chỉ có cái căn hộ nhỏ được mua năm nào chứ có của chìm của nổi gì đâu mà phải lo viết di chúc.

Rồi tôi được hẹn lịch mổ. Khi chia tay để vào phòng mổ, con tôi còn nói bố cứ yên tâm, con lo mọi việc đúng như bố dặn.

Bệnh viện khám trước mổ rất kỹ càng, làm nhiều xét nghiệm. Và kết quả là ra y lệnh: khi mổ không được dùng thuốc mê vì nếu dùng thuốc mê thì bệnh nhân lên cõi trên rồi khỏi mổ. Vì tôi bị dị ứng với nhiều loại thuốc mê hiện dùng, mà phải thay bằng thuốc tê truyền liên tục. Nhưng như vậy bệnh nhân sẽ tỉnh, khó mổ vì vẫy vùng mất nhiều máu, gia đình phải lo bốn đơn vị máu sẵn sàng. Con tôi rủ thêm ba bạn chí cốt hiến máu. Đủ máu rồi, còn một việc là bệnh nhân vốn lao phổi đã thành sẹo, phổi thở rất kém, mổ xong phải cho thở máy ngay. Đó là việc của các thầy thuốc. Còn bố con tôi chỉ lo làm blog cho ra đúng kỳ thôi.

Nằm chờ ở cửa phòng mổ, tôi nhẩm duyệt lại bài định viết trong đầu, chờ mổ xong sẽ đọc cho con đánh vi tính. Ca mổ hơi dài, từ 10:30 đén 16:30, tôi được đưa về phòng hồi sức và nghe rõ bác sĩ trực nói là mời các vị thân nhân bệnh nhân về nhà cho, hôm nay không ai ra được đâu. Vợ chồng chị vợ tôi và ông bà thông gia tương lai ra về.

Phòng hồi sức rộng mênh mông mà đầy chặt những băng ca. Quá tải. Bác sĩ lại rà soát xem tình hình bệnh nhân sau mổ thế nào, ai tỉnh rồi thì cho ra, ai còn mê man thì ở lại. Tôi có mê đâu mà tỉnh.  Thế là được vào danh sách về trại. Hai mẹ con thương bố cho nên đã thuê sẵn một phòng dịch vụ, có máy lạnh, lại chỉ có bốn người. Cô y tá nói bác sĩ vừa bảo người nhà bệnh nhân về hết bây giờ lại bảo cho về thì lấy đâu ra người. Đã hơn 22:30 rồi. Bà y tá già nói cứ ra cửa gọi đi, đuổi thì đuổi chứ không ai người ta bỏ người nhà mới mổ đâu. Và quả nhiên nghe gọi đến tên tôi thì con trai và con dâu tương lai đã chờ sẵn đưa tôi về phòng dịch vụ sang trọng. Tôi không phải tiếp máu trong khi mổ, cũng chẳng phải cần thở máy khi mổ xong. Bây giờ, chỉ còn duyệt lại bài con đã đánh thôi. Đó là bài mà các bạn sẽ đọc sau đây, có ghi rõ ngày tháng và nơi viết.

Sài Gòn 10/9/2018.

P.T.

Kỷ lục gia số 2: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn người tìm ra tội phản quốc lớn nhất hiện hành của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần thứ 1 tháng 4 năm 2013

Kỷ lục gia số 2: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, người tìm ra tội phản quốc lớn nhất, hiện hành của Phạm Quỳnh.

Dân Thường

Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên phó Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam là nhà nghiên cứu nhưng chỉ chuyên “nghiên cứu” những gì ông cho là Phạm Quỳnh phạm tội. Năm 2008, tạp chí Hồn Việt có tổ chức cuộc thảo luận về Nguyễn Văn Vĩnh và PhạNguyen Van Hoanm Quỳnh, diễn ra trong bốn tháng, với bốn số nguyệt san, vỏn vẹn chỉ có sáu bài viết riêng về Phạm Quỳnh được đăng, của các tác giả Đặng Minh Phương, Thái Vũ, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Hoàn, Phạm Tôn; trong đó, riêng Phạm Tôn được đăng nhiều nhất, đến hai bài trong các số 15 và số 17. Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, không biết sao, lại được vinh dự lấy bài của ông viết nhan đề Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh trong Hồn Việt số 17 (tháng 11/2008) làm kết luận cho cuộc thảo luận trên tạp chí Hồn Việt; mặc dù bài đó lẽ ra phải là của Mai Quốc Liên, người mở ra cuộc thảo luận. Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên, giám đốc Trung tâm Quốc học Việt Nam, đồng thời cũng là Tổng biên tập báo, lại chỉ có một bài rất ngắn so với bài của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn nhan đề là Lời kết cho một cuộc thảo luận ký tên Hồn Việtđăng vào số cuối cùng của cuộc thảo luận. Nhưng chủ yếu chỉ để nhấn mạnh chính bài của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn mới là bài kết thúc.!?

Giống hệt nhà văn Thái Vũ, đăng bài Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong trên báo Tiền Phong chủ nhật năm 2005, rồi sau 3 năm suy nghĩ, sửa chữa chút ít, lại đăng trên Hồn Việt một bài nữa nhan đề Về cái chết của ông Phạm Quỳnh với nội dung giống hệt bài năm 2005. Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn cũng thế. Nhưng không đủ kiên nhẫn chờ đến 3 năm, mà cho đăng ngay sau bài Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh của ông tham gia cuộc thảo luận. Chúng tôi tin chắc chắn rằng bài đăng sau này trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (tháng 11/2008) nhan đề Góp thêm một ít tư liệu chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh là bản gốc, bài đã bị Tổng biên tập Mai Quốc Liên đục bỏ nhiều đoạn mà Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn tâm đắc nhất. Chúng tôi dám khẳng định như vậy sau khi đã so sánh từng chữ của hai bài, cứ gạch bỏ đi một số đoạn, một số dòng của bài đăng trong tạp chí Nghiên cứu Văn Học (tức bài đăng sau) thì sẽ thành bài trước đó đăng trên Hồn Việt. Điều này chứng tỏ Giáo sư tin tưởng chắc chắn vào những gì mình đã viết là tuyệt đối đúng. Rõ ràng ông rất không hài lòng với việc đục bỏ khiến ông đau đớn của Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên. Đáng chú ý nhất là hai đoạn sau đây:

  1. Phần trích bài Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông của Nhật Hoa Khanh đăng trên Xưa và Naysố 269, phát hiện ra tờ báoQuyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ, đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương

Phạm Quỳnh, một tay cộng sự của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mại quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”.

  1. Và đoạn văn đã đưa Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Viện trưởng Viện Văn học, lên hàng kỷ lục gia số 2 sau nhà văn lão thành Thái Vũ chuyên viết về lịch sử là “Việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ

Ông đã mất công sưu tầm, dẫn ra các bài của Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Nguyễn Vạn An, rồi Xuân Ba, Phạm Tôn để lên án những người này đã bao che cho Phạm Quỳnh là sau cuộc đảo chính của Nhật, Phạm Quỳnh với chức danh Thượng thư Bộ Lại tức có quyền hành Thủ tướng, đã thảo bản Tuyên bố Độc lập ngày 13/3/1945, rồi cùng Bảo Đại và toàn thể nội các ký tên dưới đó. Sau đó ông thanh thản lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường xinh đẹp, nằm bên con sông nhỏ hiền hoà lặng lẽ chảy, nơi có cái bến đò An Cựu, được nhân dân yêu mến gọi là “Bến Cụ Phạm”.

Biet thu Hoa Duong

Ben cu Pham_2

Quả thực, ông đã rút về sống ẩn dật để trở lại với văn chương, công việc ông yêu thích nhất và cũng tỏ ra giàu tài năng nhất. Chỉ trong thời gian từ 14/3 đến 22/8/1945, ông đã cặm cụi sưu tầm tư liệu, tra cứu sách cổ, nhiều từ điển cổ, rồi bắt đầu viết bản sơ thảo giới thiệu Đỗ Phủ và tuyển chọn 51 bài thơ, rồi dịch và chú thích rất kỹ càng cho người đọc đời sau dễ hiểu Đỗ Phủ. Ông chú thích ngắn gọn, dễ hiểu nhưng tuyệt đối chính xác, theo phong cách vốn có của ông. Ông dịch thơ Đường theo cách dịch mà các nhà Nho sành thơ Đường đều công nhận là khó khăn nhất. Thơ Đường ngũ ngôn thì dịch ra thơ Việt năm chữ, đặc biệt khó nhất là thơ Đường thất ngôn cũng dịch ra thơ Việt bảy chữ.

Bao nhiêu tâm huyết đã đổ vào công trình “sơ thảo tuyển thơ Đỗ Phủ.”… Viết xong, ông gửi ngay cho người bạn cộng tác viên thân thiết củaNam Phong, nhà tuyên truyền trung thành tư tưởng và nghệ thuật của Nam Phong, duy nhất ở toàn miền Nam. Mở cả trường Trí Đức học xá để chuyên dạy quốc ngữ, dựa trên các tài liệu gốc là Nam Phong, bấy giờ đã tròn 210 số. Người đó là thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân thiết, tri kỷ của ông và cũng là người bạn thân thiết nhất mà học giả Vương Hồng Sển nhận xét là “Sống ở nơi khỉ ho cò gáy, mà có học thức hơn người”.

Sau những ngày miệt mài dịch thơ Đỗ Phủ, như để lấy đà cho bước đầu trở lại với văn đàn, ông bắt đầu viết trong quyển vở học trò bằng cây bút máy Waterman, tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, theo phong cách tạp văn Lỗ Tấn. Hoa Đường là bút danh ông thường dùng những năm cuối viết Nam Phong. Mới viết được đến hơn mười bài trong buổi làm việc sáng định mệnh 23/8/1945 ấy, ông còn để mở quyển vở và đặt cây bút máy Waterman nằm ngang ở trên, chắc là để chiều viết tiếp mạch văn, về đề tài thân thiết nhất với ông suốt mấy chục năm: Cô Kiều với tôi.

Tho Do Phu va Kien Van Cam Tuong

Nhưng, 2 giờ chiều hôm ấy, ông được hai sinh viên Trường Thanh Niên Tiền Tuyến – Huế, ăn mặc quân phục chững chạc, đến nói là “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Ông thản nhiên đứng dậy, mặc quần áo ra đi lên Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa để rồi không bao giờ về nữa.

Trong quyển vở học trò có 11 tên bài, bài cuối Cô Kiều với tôi. còn viết dở dang. Đặc biệt trong đó có bài số 6, Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Văn Hoàn “ăn theo” cái chú thích số 5 của Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong bài Từ suy tôn Phạm Quỳnh đến đề cao thực dân thời hậu thuộc địa đăng trên báo Đi Tới, tháng 9/1999 (XB Montreal, Canada) lặp lại điều giáo sư đã nêu 24 năm trước trong tập Trường hợp Phạm Quỳnh, xuất bản ở Sài Gòn năm 1975. Trong hai bài cách nhau 24 năm ấy, Giáo sư Nguyễn Văn Trung vẫn chỉ mới dè dặt nhận xét đó “có thể là nguyên nhân quyết định bắt giữ” và chỉ đưa vào một chú thích. Nhưng, 33 năm sau, trong hai bài có nội dung cơ bản giống nhau đăng trên Hồn Việt và tạp chí Nghiên cứu Văn học, Giáo sư nguyên Viện trưởng Nguyễn Văn Hoàn đã nâng lên thành bản án tử đối với Phạm Quỳnh: “Việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ”.

Rất tiếc là lâu nay, không được đọc bài viết nào của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn. Dân Thường tôi và những dân thường khác ở nước ta, mong ngóng được đọc các bài mới của giáo sư để biết rõ giáo sư có thực sự là nhà nghiên cứu văn học không. Và nếu đúng là nhà nghiên cứu văn học thì không lẽ chỉ là ở đẳng cấp “kỷ lục gia số 2 về nghiên cứu Phạm Quỳnh.” ???!!!

8.2009

D.T.

Phòng mổ – Phòng dịch vụ 209 (giường 39)

Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

 

Tháng Chín 27, 2018

Tin vui: Học giả Phạm Quỳnh có chắt dâu mới

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:20 chiều

Tháng Chín 23, 2018

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 2 tháng 9 năm 2018)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 9 năm 2018.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/9/2018:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần

Theo nguồn tin từ Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, đồng chí Trần Đại Quang, sinh năm 1956, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do mắc bệnh hiểm nghèo, mặc dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện, nhưng đã không qua khỏi.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã qua đời lúc 10 giờ 5 phút ngày 21-9-2018 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/9/2018:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Lào Thoong-lun Xi-xu-lít

Tong bi thu Nguyen Phu Trong tiep thu tuong lao

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp; Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội hội kiến Phó Chủ tịch Cu-ba

Chu tich nuoc tran dai quang gap pho chu tich Cu ba

Bế mạc Hội nghị WEF ASEAN 2018

Hội nghị cấp cao Kinh doanh Việt Nam

Thủ tướng tiếp lãnh đạo các nước và đại biểu quốc tế

Nguyen Xuan Phuc va Hunsen

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/9/2018:

Dấu ấn Việt Nam

Ghi chép của phóng viên Báo Nhân Dân

Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018), một trong những sự kiện đối ngoại đa phương lớn nhất của nước ta trong năm nay đã kết thúc thành công. Ấn tượng còn đọng mãi trong trái tim bạn bè quốc tế về nước chủ nhà Việt Nam là sự năng động và chuyên nghiệp, giới trẻ và doanh nhân đam mê sáng tạo, cháy bỏng khát khao “vươn ra biển lớn”, hội nhập sâu rộng thế giới.

Khơi dậy tinh thần doanh nghiệp ASEAN

Ðáp ứng nhu cầu thiết thực của các nước ASEAN trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), Hội nghị WEF ASEAN 2018 do Việt Nam đăng cai với chủ đề “ASEAN 4.0: Tinh thần doanh nghiệp và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều nước trong khu vực và quốc tế.

Ðại diện Chính phủ Việt Nam là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cùng các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thứ trưởng. Có bảy nguyên thủ, hơn 1.000 đại biểu đến từ 43 quốc gia, đại diện các doanh nghiệp, tổ chức khoa học nghệ thuật, xã hội dân sự, truyền thông… tham dự hội nghị. Những con số “biết nói” này đã cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của Hội nghị WEF ASEAN 2018, cũng như uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế. Bầu không khí sôi nổi, hào hứng luôn được duy trì xuyên suốt các phiên họp.

Phiên khai mạc toàn thể Hội nghị WEF ASEAN 2018 được tổ chức trọng thể, với sự tham dự của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, các nguyên thủ, trưởng đoàn các nước trong khu vực và quốc tế, cùng đông đảo đại biểu. Trong bài phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu bật những cơ hội và thách thức của ASEAN trước CMCN 4.0; đề xuất những ưu tiên để ASEAN tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm ở khu vực, nổi bật như xây dựng các quy tắc của ASEAN trong hợp tác chia sẻ dữ liệu, thành lập khuôn khổ kết nối các vườn ươm sáng tạo quốc gia với mạng lưới vườn ươm của toàn khu vực… Những đề xuất của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhận được sự đánh giá rất cao. Các đại biểu cũng nhấn mạnh về nỗ lực chung của ASEAN nhằm tranh thủ cơ hội mà CMCN 4.0 mang lại, qua đó góp phần hiện thực hóa Tầm nhìn năm 2025 về xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết và vững mạnh.

Trong ba ngày diễn ra hội nghị, khoảng 60 phiên họp, thảo luận chuyên đề đã được tổ chức, mở ra cơ hội để các đại biểu trao đổi về những vấn đề quan tâm liên quan cuộc CMCN 4.0. Chủ đề của các phiên thảo luận phong phú, thiết thực, đáp ứng nhu cầu của mọi thành phần đại biểu, như Triển vọng kinh tế châu Á, An ninh mạng, Ðịnh hướng năng lực tự cường của khu vực, Công sở 4.0… Tại phiên thảo luận “Tầm nhìn mới của khu vực Mê Công”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo các quốc gia khu vực Mê Công đã trao đổi về những tác động của CMCN 4.0 đối với sự hội nhập ở khu vực. Các nhà lãnh đạo nhất trí rằng, khu vực Mê Công cần nỗ lực phát huy nội lực, lợi thế thị trường, nguồn nhân lực trẻ, dồi dào để tranh thủ cơ hội, lợi ích của CMCN 4.0. Diễn đàn mở “ASEAN 4.0 cho tất cả” cũng là một điểm sáng của hội nghị, khi tạo cơ hội cho giới trẻ ASEAN, những chủ nhân tương lai của khu vực, những người luôn khát khao khởi nghiệp thảo luận việc chuẩn bị hành trang bước vào CMCN 4.0. Trong khuôn khổ hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có nhiều cuộc tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao các nước, các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới. Thủ tướng bày tỏ mong muốn, các quốc gia, doanh nghiệp quốc tế ủng hộ và hỗ trợ ASEAN, trong đó có Việt Nam, để không ai bỏ lỡ “con tàu 4.0”, con tàu của sự phát triển và hội nhập.

Hội nghị cấp cao Kinh doanh Việt Nam (VBS) là một sáng kiến của Việt Nam, để nhân Hội nghị WEF ASEAN 2018 giới thiệu về thị trường tiềm năng của nước ta tới các nhà đầu tư nước ngoài. VBS thu hút khoảng 1.200 doanh nghiệp tham dự, tập trung truyền tải thông điệp Việt Nam là đối tác nghiêm túc, tin cậy, tiềm năng, luôn đề cao kết nối và sáng tạo. Tại VBS, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu bật những yếu tố để Việt Nam trở thành điểm đầu tư hấp dẫn đối với bạn bè quốc tế, như tình hình chính trị ổn định, có lực lượng lao động trẻ và cần cù, có quan hệ thương mại với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ…; các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng nỗ lực sáng tạo và đổi mới để nâng tầm phát triển, thu hẹp khoảng cách với các nước.

Chủ nhà chu đáo và chuyên nghiệp

Ðánh giá về sự chuẩn bị của Việt Nam cho Hội nghị WEF ASEAN 2018, Chủ tịch Ðiều hành, nhà sáng lập Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) C.Sơ-oáp cho biết, ông rất hài lòng về sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa WEF và Việt Nam hướng tới sự kiện này. Tại hội nghị, các đại biểu từ nhiều thành phần xã hội cùng chia sẻ quan điểm, ý tưởng để góp phần thúc đẩy hội nhập toàn khu vực. Ðiều này cho thấy nỗ lực của chủ nhà Việt Nam nhằm mang đến những tiếng nói đa dạng, đa chiều cho hội nghị. Trong số hơn 1.000 đại biểu tham dự, có khoảng 50 đại biểu trong lĩnh vực truyền thông, xã hội dân sự và học thuật, cùng khoảng 80 nhà lãnh đạo trẻ. Tại các phiên thảo luận, các đại biểu ASEAN và quốc tế nhận định rằng, Việt Nam là quốc gia năng động, cởi mở, có nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội; Chính phủ Việt Nam thực hiện nhiều biện pháp để tận dụng tốt các cơ hội mà CMCN 4.0 mang lại, cũng như vượt qua thách thức từ cuộc cách mạng này.

Trong tiết trời dịu nhẹ của mùa thu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân đã chủ trì Dạ hội quảng bá văn hóa Việt Nam, một sự kiện đặc biệt trong khuôn khổ Hội nghị WEF ASEAN 2018, nhằm đưa nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Các tiết mục đặc sắc của ba miền đất nước, như nhã nhạc Cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh, bài chòi, độc tấu đàn bầu… mang đến không khí mới mẻ cho các đại biểu. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chia sẻ thân tình rằng, ASEAN thật sự là một đại gia đình mà ở đó mọi thành viên đều có sự thấu hiểu, gắn bó; mong muốn bạn bè quốc tế dành nhiều thời gian đến thăm Việt Nam, để có thể cảm nhận đầy đủ hơn về một đất nước tươi đẹp và cởi mở, con người thân thiện và mến khách, để hiểu hơn về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam.

Với thế và lực được nâng cao cùng kinh nghiệm hội nhập quốc tế được tích lũy trong nhiều năm, Việt Nam đã đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự phát triển của khu vực ASEAN và hòa nhịp cùng dòng chảy chung của thế giới. Thành công của Hội nghị WEF ASEAN 2018 tạo dấu ấn quan trọng của Việt Nam, góp phần đẩy mạnh tiến trình hội nhập của các nước ASEAN trong thời đại CMCN 4.0, vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực và trên thế giới.

Minh Hằng

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 13/9/2018:

Khai mạc Hội nghị WEF ASEAN 2018

Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ dự

Tiếp lãnh đạo các nước và đại biểu quốc tế

Khai mac hoi nghi wef asean

Tổng Bí thư tiếp; Thủ tướng, Chủ tịch QH hội kiến Tổng thống In-đô-nê-xi-a

Nguyen Phu Trong tiep Tong thong Indonesia

Tổng Bí thư tiếp Phó Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa

Chiều 12-9, tại Trụ sở T.Ư Ðảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp thân mật đồng chí Hồ Xuân Hoa, Ủy viên Bộ Chính trị T.Ư Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa, nhân dịp đồng chí Hồ Xuân Hoa thăm Việt Nam và dự Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN).

Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng đồng chí Hồ Xuân Hoa được bầu lại làm Ủy viên Bộ Chính trị T.Ư Ðảng Cộng sản Trung Quốc và bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa; đánh giá cao những tình cảm tốt đẹp mà đồng chí Hồ Xuân Hoa đã dành cho Việt Nam từ khi còn là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ðông; mong muốn đồng chí Hồ Xuân Hoa, trên cương vị mới và với trọng trách của mình, tiếp tục có những đóng góp to lớn vào việc không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hai Ðảng, hai nước.

Về quan hệ hai Ðảng, hai nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao những tiến triển tích cực trong thời gian qua, nhất là việc tăng cường tiếp xúc cấp cao, giao lưu hợp tác giữa các cấp, các ngành, địa phương, nhân dân và thế hệ trẻ hai nước. Hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch chuyển biến theo hướng tích cực. Tổng Bí thư đề nghị hai bên cần tiếp tục tăng cường tiếp xúc cấp cao; phát huy tốt các cơ chế hiện có, thực hiện tốt những nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai Ðảng, hai nước, trong đó có “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển”, cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên biển, kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp tình hình.

Ðồng chí Hồ Xuân Hoa bày tỏ vui mừng sang thăm lại Việt Nam và tham dự Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN; nhiệt liệt chúc mừng Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị hết sức quan trọng này; trân trọng chuyển lời hỏi thăm và chúc sức khỏe của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Hồ Xuân Hoa chân thành chúc mừng về những thành tựu mà nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đã giành được trên các lĩnh vực trong thời gian qua; chúc Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều thành công hơn nữa, hoàn thành thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ được Ðại hội lần thứ XII của Ðảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Về quan hệ hai Ðảng, hai nước, đồng chí Hồ Xuân Hoa khẳng định, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, sẵn sàng cùng Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không ngừng củng cố và phát triển quan hệ Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc; thực hiện tốt nhận thức chung giữa hai Ðảng, hai nước; bày tỏ sẵn sàng tăng cường hợp tác kinh tế, nhập khẩu nhiều hơn hàng hóa của Việt Nam. Ðồng chí Hồ Xuân Hoa bày tỏ vui mừng về sự phát triển tốt đẹp của quan hệ song phương trong thời gian qua; đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường giao lưu, tiếp xúc cấp cao, giao lưu nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy kết nối chiến lược, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác giữa các bộ, ngành và địa phương, nhằm thúc đẩy quan hệ hai Ðảng, hai nước phát triển ổn định, lành mạnh trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản

Tran Dai Quang tiep Bo Truong ngoai giao Nhat Ban

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/9/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Hàn Quốc và đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ

Ngày 10-9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Hàn Quốc Hu Chang Xu.

Phát biểu ý kiến tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước đang phát triển tốt đẹp, ngày càng đi vào chiều sâu. Hàn Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, tại mỗi nước hiện có gần 160 nghìn người Hàn Quốc và Việt Nam sinh sống, đóng vai trò cầu nối gắn liền hai dân tộc và là nhân tố tích cực đóng góp cho tương lai hai nước. Thủ tướng đánh giá cao các nhà đầu tư Hàn Quốc vừa qua tiếp tục quyết định đầu tư, triển khai nhiều dự án có quy mô lớn tại Việt Nam. Khẳng định Chính phủ Việt Nam luôn hoan nghênh và sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Hàn Quốc thành công tại Việt Nam, Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp (DN) Hàn Quốc tham gia đầu tư các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp nặng, phát triển cơ sở hạ tầng,… kết hợp chặt chẽ giữa DN FDI Hàn Quốc với DN Việt Nam và tăng cường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, để cân bằng cán cân thương mại. Thủ tướng bày tỏ mong muốn có nhiều DN sở hữu công nghệ hiện đại, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt việc làm, tạo giá trị gia tăng cao vào đầu tư ở Việt Nam.

Ông Hu Chang Xu nhận định, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ngày càng được đẩy mạnh, đóng góp vào làn sóng đó có vai trò rất lớn của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Quy mô thị trường, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh, quan hệ hợp tác hai nước ngày càng phát triển, tạo nhiều cơ hội hợp tác cho DN Việt Nam – Hàn Quốc mà theo dự đoán của ông, đến năm 2020, kim ngạch thương mại song phương sẽ đạt 100 tỷ USD. Ông mong muốn Chính phủ Việt Nam tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho DN Hàn Quốc. Quan hệ hai nước không chỉ tập trung vào kinh tế mà còn mở rộng và ngày càng phát triển ra nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, du lịch, ẩm thực,…

* Chiều cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp đoàn DN Hoa Kỳ do ông A.Xít-cốp, Giám đốc điều hành Hiệp hội DN Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) dẫn đầu.

Phát biểu ý kiến tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh đoàn DN Hoa Kỳ đến Việt Nam dự Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018), Hội nghị cấp cao Kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ 2018. Việt Nam sẽ cùng với Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) và ASEAN tập trung bàn về cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 và kết nối số trong dịp này. Các DN Hoa Kỳ có thế mạnh trong lĩnh vực kinh tế số cần tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ; kim ngạch xuất khẩu của Hoa Kỳ vào Việt Nam có chiều hướng tăng mạnh.

Nguyen Xuan Phuc va chu tich lien doan Cong nghiep Han Quoc va Hoa Ky

Ông A.Xít-cốp cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành thời gian tiếp đoàn; thể hiện cam kết mạnh mẽ của Thủ tướng đối với thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại hai nước. Các DN Hoa Kỳ đánh giá rất cao nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút khách du lịch quốc tế. Sáng 10-9, tại Hội nghị cấp cao Kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ, đoàn đã cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bàn về phát triển kinh tế số cho Việt Nam. Ông chúc mừng Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị WEF ASEAN 2018. Nhiều tập đoàn lớn của Hoa Kỳ sang dự hội nghị và rất quan tâm thị trường Việt Nam; mong muốn Việt Nam thắng lợi trong cuộc CMCN 4.0. Một số tập đoàn Hoa Kỳ cũng bày tỏ quyết tâm mở rộng đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; mong muốn Chính phủ, Thủ tướng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các DN thành công tại Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực kinh tế số, kết nối số, thành phố thông minh, dược phẩm, phát triển năng lượng,…

* Ngày 10-9, với chủ đề “Ðịnh hình tương lai quan hệ kinh tế song phương”, Hội nghị cấp cao Kinh doanh Hoa Kỳ – Việt Nam 2018, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Phòng Thương mại quốc tế Hoa Kỳ và AmCham tổ chức, đã diễn ra tại Hà Nội. Tới dự có Phó Thủ tướng Trịnh Ðình Dũng.

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Ðình Dũng cho biết, những năm gần đây, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư đã trở thành nền tảng và động lực quan trọng của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Phó Thủ tướng khẳng định, hai nền kinh tế ngày càng gia tăng tính bổ trợ cho nhau. Chính phủ Việt Nam luôn đánh giá cao và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ, triển khai các hoạt động kinh doanh thành công, bền vững tại Việt Nam. Hội nghị là dịp thảo luận phương thức hợp tác hiệu quả giữa Việt Nam với các nhà đầu tư, doanh nghiệp Hoa Kỳ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư…

Thứ trưởng Thương mại Hoa Kỳ G.Cáp-lan, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ð.Kri-ten-bin đều khẳng định, Hoa Kỳ cam kết trở thành đối tác quan trọng của Việt Nam, nhất là hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Qua thực tế hoạt động tại Việt Nam, các doanh nghiệp Hoa Kỳ phần lớn đều đạt các mục tiêu đề ra và lạc quan về triển vọng tăng trưởng thời gian tới.

* Sáng cùng ngày, bên lề Hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Ðình Dũng tiếp một số doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ đang đầu tư tại Việt Nam do ông M.Keo-ly, Chủ tịch AmCham dẫn đầu.

Phát biểu ý kiến tại buổi tiếp, Phó Thủ tướng Trịnh Ðình Dũng khẳng định, Việt Nam coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Ðối tác toàn diện với Hoa Kỳ trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, vì lợi ích của hai nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao các dự án đầu tư, kinh doanh của các DN Hoa Kỳ tại Việt Nam; đồng thời tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư; trong đó có các nhà đầu tư Hoa Kỳ triển khai các hoạt động đầu tư, kinh doanh thành công, bền vững và lâu dài tại Việt Nam.

Chủ tịch AmCham M.Keo-ly cảm ơn Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để DN Hoa Kỳ đầu tư có hiệu quả; khẳng định, các DN Hoa Kỳ hiện đang hợp tác hiệu quả và mong muốn mở rộng quy mô, đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Ðồng thời, nhiều DN khác cũng đang tiếp tục sang tìm kiếm cơ hội đầu tư sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/9/2018:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức LB Nga, sáng 8-9, tại Mát-xcơ-va, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga G.Diu-ga-nốp.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, với nhân dân Việt Nam, nhân dân Liên Xô trước đây và nhân dân Nga ngày nay luôn là người bạn, người anh em thân thiết, tình cảm đó không bao giờ thay đổi. Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu cả tinh thần và vật chất của nhân dân Liên Xô trước đây, nhân dân Nga ngày nay trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trước đây và xây dựng, phát triển đất nước ngày nay. Tổng Bí thư khẳng định, Việt Nam luôn coi LB Nga là đối tác ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại; mong muốn thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực, trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, vì lợi ích của nhân dân hai nước. Tổng Bí thư cảm ơn Đảng Cộng sản LB Nga đã tích cực ủng hộ chủ trương của Tổng thống V.Pu-tin phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Việt Nam; tin tưởng Đảng Cộng sản LB Nga sẽ ngày càng củng cố vị thế vững chắc trong đời sống chính trị – xã hội ở LB Nga, đóng góp quan trọng vào sự phồn vinh ở LB Nga, cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nguyen Phu Trong tiep chu tich dang cong san Nga

Tổng Bí thư đánh giá cao việc Đảng Cộng sản LB Nga đã tổ chức rất thành công Cuộc gặp lần thứ 19 các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hội thảo quốc tế 200 năm Ngày sinh Các Mác. Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Đảng Cộng sản LB Nga; đề nghị Đảng Cộng sản LB Nga tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời gian tới, hai bên cần tăng cường trao đổi đoàn các cấp, hỗ trợ tích cực cho quan hệ hợp tác giữa các tổ chức quần chúng của hai Đảng, trong đó đặc biệt là Đoàn Thanh niên, để thế hệ trẻ hai nước kế tục và phát huy truyền thống quan hệ hai nước, hai Đảng. Hai bên quan tâm củng cố tổ chức và hoạt động của Hội Hữu nghị nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị gắn bó giữa hai dân tộc. Tổng Bí thư mong muốn Đảng Cộng sản LB Nga bằng uy tín và ảnh hưởng của mình, sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – LB Nga.

Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga G.Diu-ga-nốp bày tỏ vui mừng được gặp lại những người bạn, người đồng chí Việt Nam thân thiết, ôn lại những kỷ niệm sâu sắc về Việt Nam; vui mừng nhận thấy Việt Nam tiếp tục quan hệ hữu nghị và hợp tác với LB Nga, cùng xây dựng và phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga chia sẻ niềm vui và tự hào về những thành tựu phát triển của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước; về sự phát triển tốt đẹp của quan hệ LB Nga – Việt Nam, đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư; mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các địa phương của hai nước; khẳng định Đảng Cộng sản LB Nga luôn ủng hộ các chương trình hợp tác với Việt Nam. Đảng Cộng sản LB Nga sẽ phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam để tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, các sự kiện, diễn đàn, hội thảo nhân Năm Nga tại Việt Nam và Năm Việt Nam tại Nga.

* Trưa 8-9, tại thủ đô Mát-xcơ-va, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Hữu nghị Nga – Việt.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ xúc động gặp lại những người bạn, người đồng chí, anh em thân thiết của nhân dân Việt Nam. Tổng Bí thư hoan nghênh những hoạt động năng động, sáng tạo, thiết thực của Hội Hữu nghị Nga – Việt trong nhiều năm qua; đã phối hợp chặt chẽ với Hội Hữu nghị Việt – Nga và các cơ quan, tổ chức của hai nước phát hành nhiều đầu sách về Việt Nam, như giới thiệu tác phẩm Truyện Kiều tại nước Nga; tổ chức các cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi quốc tế, giúp các em thiếu nhi hai nước hiểu biết thêm về đất nước, con người, văn hóa và quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và LB Nga; trồng cây hữu nghị tại khuôn viên Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Mát-xcơ-va… Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong suốt chặng đường lịch sử 60 năm của Hội Hữu nghị Xô – Việt trước đây và Hội Hữu nghị Nga – Việt ngày nay, hàng chục nghìn cán bộ hội ở cấp trung ương và địa phương của Liên Xô và Nga, đã hoạt động tích cực, dành tâm huyết và sức lực của mình cho việc phát triển quan hệ hữu nghị anh em và sự hợp tác bền chặt với Việt Nam.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, LB Nga và Việt Nam cần phát huy truyền thống đoàn kết, tin cậy lẫn nhau, tiếp tục “kề vai sát cánh” giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn, thách thức. Tổng Bí thư chia sẻ: “Tôi mong muốn, trong thời gian tới, Hội Hữu nghị Nga – Việt sẽ được củng cố, đổi mới và mở rộng hoạt động, cùng với Hội Hữu nghị Việt – Nga thực hiện tốt hơn nữa vai trò là cầu nối hữu nghị giữa nhân dân hai nước, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các địa phương, doanh nghiệp trên cơ sở hai bên cùng có lợi; giúp thế hệ trẻ hai nước ngày càng hiểu biết và gắn bó nhau hơn”. Trong năm 2019, hai nước kỷ niệm 25 năm Ngày ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và LB Nga và kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2020. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Hội Hữu nghị Nga – Việt phối hợp các bộ, ngành, địa phương của LB Nga có nhiều hoạt động phong phú hướng tới kỷ niệm hai sự kiện trọng đại này. Bằng uy tín và ảnh hưởng của mình, Hội Hữu nghị Nga – Việt sẽ tiếp tục hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam đang học tập và sinh sống tại Liên bang Nga, để họ hòa nhập tốt vào xã hội sở tại và có cuộc sống ổn định, lâu dài. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư chân thành cảm ơn Hội Hữu nghị Nga – Việt và những người bạn Nga. Tổng Bí thư khẳng định: “Đối với chúng tôi, các đồng chí và các bạn mãi mãi là những người bạn thủy chung, tin cậy”.

* Tại lễ kỷ niệm, đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao đã trao Huân chương Lao động hạng nhất tặng Hội Hữu nghị Nga – Việt; Huân chương Lao động hạng ba tặng Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bu-y-a-nốp. Nhân dịp này, nhiều thành viên Hội Hữu nghị Nga – Việt được tặng thưởng Huân chương, Huy chương Hữu nghị, phần thưởng cao quý của Nhà nước Việt Nam.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức LB Nga, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới đặt vòng hoa tại Mộ Liệt sĩ vô danh ở thủ đô Mát-xcơ-va.

* Trước đó, chiều 7-9, tại Mát-xcơ-va, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp lãnh đạo các tập đoàn Gazprom và Zarubezneft. Đây là những tập đoàn dầu khí hàng đầu của LB Nga, có quan hệ hợp tác truyền thống và hiệu quả với Việt Nam.

Nhấn mạnh hợp tác dầu khí, năng lượng chiếm vị trí quan trọng, mang tính chiến lược lâu dài trong quan hệ hai nước, Tổng Bí thư đánh giá cao quan hệ hợp tác giữa các tập đoàn nói trên và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tổng Bí thư hoan nghênh các tập đoàn kiên trì thực hiện hiệu quả các hợp đồng hợp tác đã ký kết, đồng thời tiếp tục tăng cường các hoạt động hợp tác tại Việt Nam; khẳng định Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp Nga mở rộng quy mô hợp tác giữa hai bên; tin tưởng các dự án hợp tác giữa hai bên sẽ đạt được kết quả mong đợi, mang lại hiệu quả kinh tế, phục vụ lợi ích chung của cả hai quốc gia.

Lãnh đạo các tập đoàn Gazprom, Zarubezneft bày tỏ vui mừng trước những thành tựu mới trong quan hệ hợp tác hai nước; cảm ơn Việt Nam đã tạo điều kiện cho các tập đoàn hoạt động hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam cũng như sự phát triển quan hệ LB Nga – Việt Nam.

* Sáng 8-9, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức LB Nga của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư đã tiếp Chủ tịch Ngân hàng Đầu tư quốc tế (IIB) N.Cô-xốp, Chủ tịch Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế (IBEC) Đ.I-va-nốp.

Hai bên trao đổi các vấn đề về phát triển quan hệ hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng chí Nguyễn Văn Bình đánh giá cao các thành tựu, kết quả hoạt động của hai ngân hàng, đạt thứ hạng cao trong bảng xếp hạng quốc tế, đây là tiền đề rất quan trọng cho hai ngân hàng trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Đồng chí khẳng định ủng hộ các kế hoạch hoạt động mà hai ngân hàng đề ra và hoan nghênh các dự án hợp tác, đầu tư của hai ngân hàng tại Việt Nam. Lãnh đạo IIB và IBEC bày tỏ quan tâm thị trường Việt Nam.

* Ngày 7-9, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức LB Nga của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã diễn ra lễ ký kết hợp tác giữa các trường đại học hàng đầu của Việt Nam và LB Nga với sự chứng kiến của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ và Thứ trưởng Khoa học và Giáo dục Đại học LB Nga M.Bô-rốp-scai-a. Đoàn đại biểu Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã có nhiều cuộc làm việc với lãnh đạo Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học của LB Nga, tham quan và tiếp xúc với hiệu trưởng một số trường đại học có truyền thống lâu đời tại Mát-xcơ-va. Phát biểu tại lễ ký kết, Thứ trưởng M.Bô-rốp-scai-a đã nói về dự án “xuất khẩu giáo dục” của LB Nga sẽ tạo điều kiện cho sinh viên nước ngoài có nhiều cơ hội hơn học tập ở Nga, trong đó có sinh viên từ Việt Nam.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức LB Nga của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long đã gặp Bộ trưởng Tư pháp LB Nga C.A.Vla-đi-mi-rô-vích. Bộ trưởng Lê Thành Long đánh giá cao những kết quả đạt được trong hợp tác pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và LB Nga; cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Chính phủ Nga nói chung, Bộ Tư pháp Nga nói riêng dành cho ngành tư pháp Việt Nam từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo cán bộ pháp lý. Hai Bộ trưởng thống nhất, tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình hợp tác giai đoạn 2018 – 2019, đưa hoạt động của Tổ công tác Việt – Nga về các vấn đề pháp lý ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất.

* Trước đó, tại Thủ đô Mát-xcơ-va, Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức lễ kỷ niệm 25 năm đường bay Việt Nam đến LB Nga. Sự kiện diễn ra dưới sự chứng kiến của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và đông đảo quan khách. Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh đã tới dự và phát biểu chúc mừng. Cùng ngày, Vietnam Airlines và Hãng hàng không quốc gia Nga (Aeroflot) ký thỏa thuận phát triển quan hệ hợp tác.

* Chiều 8-9, sau khi kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức LB Nga, Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời Mát-xcơ-va đi thăm chính thức Hung-ga-ri theo lời mời của Thủ tướng Hung-ga-ri V.Ô-ban.

Tham gia Đoàn, có các đồng chí: Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao; Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư; Nguyễn Văn Nên, Bí thư T.Ư Đảng, Chánh Văn phòng T.Ư và các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Hoàng Bình Quân, Trưởng Ban Đối ngoại T.Ư; Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư; Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Công thương; Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo; Lê Thành Long, Bộ trưởng Tư pháp; Nguyễn Đức Chung, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thượng tướng Bế Xuân Trường, Thứ trưởng Quốc phòng; Thượng tướng Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Công an. Cùng đi, có đồng chí Hồ Mẫu Ngoạt, Trợ lý Tổng Bí thư và Đại sứ Việt Nam tại Hung-ga-ri Nguyễn Tiến Thức.

* Đúng 16 giờ 40 phút (giờ địa phương) ngày 8-9, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới sân bay quốc tế Phê-ren Lít, thủ đô Bu-đa-pét, bắt đầu chuyến thăm chính thức Hung-ga-ri.

Lễ đón chính thức Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam được tổ chức trọng thể tại sân bay quốc tế Phê-ren Lít, thủ đô Bu-đa-pét.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 7/9/2018:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống LB Nga V.Pu-tin

Ngày 6-9 (giờ địa phương), trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang (LB) Nga của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại thành phố Xô-tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gặp hẹp và hội đàm với Tổng thống Nga V.Putin.

Tổng thống Nga V.Putin nhiệt liệt chào mừng và đánh giá cao chuyến thăm chính thức LB Nga của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, hoan nghênh những đóng góp quan trọng của Việt Nam đối với hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông – Nam Á và trên thế giới. Tổng thống V.Putin khẳng định, Nga luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương; tin tưởng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ là một dấu mốc quan trọng, tạo xung lực mới cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ vui mừng sang thăm lại LB Nga; cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình mà Tổng thống, Chính phủ và nhân dân Nga đã dành cho Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam; đánh giá cao những thành tựu về mọi mặt mà Nga đã đạt được trong thời gian qua và vị thế quan trọng của Nga trên trường quốc tế. Tổng Bí thư khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi Nga là một trong những đối tác quan trọng và tin cậy hàng đầu của Việt Nam; nhấn mạnh, nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình mà nhân dân Nga đã dành cho Việt Nam trước đây cũng như ngày nay.

Nguyen Phu Trong gap Putin

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về sự phát triển toàn diện quan hệ giữa hai nước trong thời gian qua; thống nhất cho rằng, quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam và LB Nga có bề dày lịch sử, được thử thách qua thời gian, được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, là tài sản chung vô giá của hai dân tộc cần được giữ gìn và phát huy.

Trong không khí hữu nghị, tin cậy cao và hiểu biết lẫn nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống LB Nga V.Putin đã tập trung trao đổi ý kiến sâu rộng về các phương hướng và biện pháp lớn nhằm tạo xung lực mới thúc đẩy hợp tác song phương trên các lĩnh vực, nhất trí nỗ lực cao nhất đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – LB Nga ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả. Hai nhà lãnh đạo nhất trí duy trì thường xuyên gặp gỡ, trao đổi đoàn cấp cao, tham vấn chính trị, đối thoại chiến lược trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan, bộ, ngành, chính quyền các địa phương của hai nước; nhất trí không ngừng củng cố sự tin cậy chính trị, làm nền tảng để thúc đẩy và mở rộng hợp tác toàn diện. Hai bên nhất trí cùng phối hợp tổ chức thành công Năm Nga tại Việt Nam và Năm Việt Nam tại Nga nhân dịp hai nước kỷ niệm 25 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam – LB Nga trong năm 2019 và kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2020.

Về hợp tác kinh tế – thương mại, hai nhà lãnh đạo hài lòng nhận thấy, quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai nước đã có sự phát triển nhanh, nhất là từ khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu có hiệu lực. Hai bên nhất trí đẩy mạnh các biện pháp nhằm khai thác tối đa hiệu quả của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế – thương mại và khoa học – kỹ thuật trong việc đôn đốc, giám sát, thực hiện các thỏa thuận hợp tác, khuyến khích tìm kiếm các dự án trên các lĩnh vực năng lượng, dầu khí, nông nghiệp, hạ tầng giao thông đô thị, thông tin và viễn thông… Đặc biệt, đối với lĩnh vực năng lượng và dầu khí, vốn là lĩnh vực hợp tác then chốt, có ý nghĩa chiến lược giữa hai nước trong nhiều năm qua, hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp hai nước thực hiện hiệu quả những dự án hiện có, đồng thời mở rộng các dự án đầu tư mới với sự tham gia của các công ty dầu khí quốc gia trên lãnh thổ hai nước. Hai bên nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các dự án đầu tư ưu tiên tại hai nước; tiếp tục rà soát, điều chỉnh để có cơ chế khuyến khích, đơn giản hóa các thủ tục và tiêu chuẩn cho hàng hóa của cả hai bên được xâm nhập thị trường của nhau, nhất là nông, lâm, thủy sản, coi đây là một hướng tốt để nâng cao kim ngạch thương mại song phương.

Hai bên khẳng định tiếp tục hợp tác chặt chẽ, hiệu quả trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, thể hiện sự tin cậy giữa hai nước và phù hợp với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Về khoa học – công nghệ, lãnh đạo hai nước nhất trí triển khai dự án Trung tâm khoa học và công nghệ hạt nhân tại Việt Nam, coi đây là dự án trọng điểm về hợp tác khoa học – công nghệ giữa hai nước trong việc nghiên cứu sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng khác, như giáo dục – đào tạo, văn hóa, du lịch, hợp tác giữa các địa phương hai nước…

Hai nhà lãnh đạo chia sẻ quan điểm về một số vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm. Hai bên chia sẻ quan điểm chung về sự cần thiết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Việt Nam ủng hộ Nga tăng cường vai trò trong bảo đảm an ninh, hòa bình, ổn định và hợp tác tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Đông – Nam Á và trên thế giới.

Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao những đóng góp quan trọng của cộng đồng người Việt Nam tại LB Nga, là cầu nối quan trọng cho quan hệ giữa hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cảm ơn lãnh đạo và các cơ quan chức năng của Nga đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Nga thời gian qua, đề nghị Nga tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Nga làm việc và sinh sống ổn định, lâu dài, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trân trọng mời Tổng thống Nga V.Putin sang thăm lại Việt Nam trong năm 2019. Tổng thống V.Putin cảm ơn và vui vẻ nhận lời mời.

* Chiều 6-9, ngay sau khi kết thúc hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Nga V.Putin đã chứng kiến lễ ký kết nhiều văn kiện hợp tác giữa hai nước.

* Tiếp đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống V.Putin đã có cuộc gặp gỡ báo chí chung.

Phát biểu ý kiến trước đông đảo phóng viên báo chí hai nước và quốc tế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, mặc cho tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp, song quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và LB Nga không ngừng được củng cố, phát triển vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước, vì sự thịnh vượng chung của hai dân tộc, vì hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về kết quả cuộc hội đàm vừa diễn ra. Theo đó, hai bên đã trao đổi toàn diện về quan hệ hai nước, thảo luận các phương hướng lớn nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – LB Nga; cùng nhau làm sâu sắc hơn quan hệ chính trị, tăng cường gắn bó chiến lược và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh, quốc phòng, kỹ thuật – quân sự… Hai bên trao đổi về những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, nhất trí cho rằng việc duy trì hòa bình, ổn định, tăng cường lòng tin lẫn nhau là các nhân tố cốt lõi nhằm bảo đảm phát triển ổn định khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các tranh chấp biên giới, lãnh thổ và các tranh chấp khác tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nhằm duy trì hòa bình, ổn định, tự do, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực.

Tổng thống V.Putin nhấn mạnh, LB Nga và Việt Nam có mối quan hệ đặc biệt quan trọng, hai bên duy trì thường xuyên đối thoại chính trị. Cuộc hội đàm đã diễn ra trong bầu không khí thẳng thắn và xây dựng, với sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành, các tập đoàn lớn của hai nước. Hai bên đã thảo luận tất cả những lĩnh vực hợp tác giữa hai nước. Nga và Việt Nam là hai nước đối tác chiến lược toàn diện; mối quan hệ đó không ngừng phát triển dựa trên cơ sở tôn trọng, công bằng và lợi ích chiến lược của nhau. Hai nước tiếp tục hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời phối hợp chặt chẽ trên trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi hai bên có lập trường giống nhau trên nhiều lĩnh vực. Hai bên chú trọng phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, thống nhất triển khai Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu, tiếp tục thực hiện các thỏa thuận đã đạt được, mở rộng trao đổi các mặt hàng có thế mạnh, nâng kim ngạch những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao; hỗ trợ triển khai các dự án đầu tư ưu tiên giữa hai nước; tăng cường hợp tác trên những lĩnh vực tiềm năng như dầu khí, năng lượng, luyện kim, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, khoa học công nghệ… Tổng thống V.Putin nêu rõ, cuộc hội đàm đã diễn ra thực chất, hiệu quả. Chuyến thăm chính thức LB Nga lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tạo động lực mới đưa quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước phát triển sâu rộng.

* Sáng 6-9, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới dâng hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Mát-xcơ-va. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao cùng đông đảo bạn bè Nga trong Hội Hữu nghị Nga – Việt, Hội Cựu chiến binh Nga từng chiến đấu tại Việt Nam, bà con cộng đồng Việt Nam tại LB Nga và cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại LB Nga đã dâng hoa, dành một phút mặc niệm tưởng nhớ anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, một người bạn lớn của nhân dân Nga.

Sau khi dâng hoa tại Tượng đài Bác, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao và bạn bè Nga trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/9/2018:

Hơn 38.600 lượt người vào Lăng viếng Bác

Trong những ngày cả nước kỷ niệm 73 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 – 2-9-2018), tại Hà Nội, đông đảo đồng bào, chiến sĩ cả nước, du khách nước ngoài đã tới thăm Quảng trường Ba Ðình lịch sử và vào Lăng viếng Bác, bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Ðảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng Giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Người đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Theo Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong số hơn 38.600 lượt khách vào Lăng viếng Bác, có hơn 1.100 lượt khách nước ngoài. Ban Quản lý đã tổ chức đón tiếp, phục vụ chu đáo, an toàn cho đồng bào, khách quốc tế tới viếng Bác và tham quan các di tích, công trình văn hóa trong khu vực.

* Trong ngày Quốc khánh 2-9, hàng nghìn người dân trên mọi miền Tổ quốc đã hành hương về Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Kim Liên, xã Kim Liên, huyện Nam Ðàn (tỉnh Nghệ An) để tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày Tết Ðộc lập. Ngay từ sáng sớm, dòng người đã xếp hàng dài và ngay ngắn để vào dâng hương tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khu di tích và tham quan các di tích liên quan tới thời niên thiếu của Bác Hồ tại làng Sen, làng Hoàng Trù và khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh trên núi Chung. Theo Ban quản lý khu di tích, ba ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2-9 năm nay, ước tính có hơn 300 đoàn khách với gần 12 nghìn lượt người đến khu di tích, riêng ngày 2-9, có khoảng hơn năm nghìn lượt người tham quan. Ban quản lý khu di tích đã phối hợp các đơn vị liên quan khai mạc triển lãm ảnh chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng Giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất” tại khu trưng bày tưởng niệm.

* Nhân dịp kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Ðoàn đại biểu Ðảng ủy Công an T.Ư, Bộ Công an đã đến đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp đó, Ðoàn đã đến đặt vòng hoa và tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Ðài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ trên đường Bắc Sơn. Vòng hoa của Ðoàn mang dòng chữ “Ðời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sĩ”.

* Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Thái-lan, chiều 1-9, Bộ Thể thao và Du lịch Thái-lan, tỉnh Phi-chít phối hợp Ðại sứ quán nước ta tại Thái-lan khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Bản Ðông. Ðây là di tích lịch sử thứ ba về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái-lan, sau các tỉnh U-đon Tha-ni và Na-khon Pha-nôm. Buổi lễ có sự tham gia của khoảng 300 Việt kiều và bạn bè Thái-lan, dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Thể thao và Du lịch Thái-lan W.Vi-ra-sắc và Ðại sứ nước ta Nguyễn Hải Bằng.

Phát biểu tại lễ khánh thành, Bộ trưởng Vi-ra-sắc và Ðại sứ Nguyễn Hải Bằng cho biết, trong thời gian hoạt động cách mạng từ tháng 7-1928 đến cuối năm 1929 ở Thái-lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dừng chân tại tỉnh Phi-chít khoảng hai tuần, và Người đã vận động cộng đồng kiều bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tích cực học chữ Việt và chữ Thái đoàn kết hữu nghị với nhân dân địa phương, tôn trọng phong tục, tập quán và luật pháp sở tại, để người dân Thái hiểu và có cảm tình với cách mạng Việt Nam. Hai ông tin tưởng đây sẽ là biểu tượng góp phần thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa Thái-lan và Việt Nam và sẽ là điểm du lịch lớn của tỉnh Phi-chít.

Bảo tàng Hồ Chí Minh, cùng với Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, nằm trong khuôn viên Trung tâm Hữu nghị Thái-lan – Việt Nam ở tỉnh Phi-chít rộng 6.400 m2, được khởi công xây dựng từ tháng 12-2013, với vốn đầu tư hơn 30 triệu baht (khoảng 22 tỷ đồng), do chính quyền Thái-lan chi trả.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/9/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt Đoàn thể thao Việt Nam tham dự ASIAD 2018

Chiều 3-9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt, chúc mừng 150 cán bộ, chuyên gia, huấn luyện viên (HLV), vận động viên (VÐV) đại diện cho toàn thể Ðoàn thể thao Việt Nam tham dự Ðại hội thể thao châu Á lần thứ 18 (ASIAD 2018). Cùng dự có Phó Thủ tướng Vũ Ðức Ðam.

Tại buổi gặp mặt, HLV trưởng Ðội tuyển điền kinh Việt Nam Nguyễn Mạnh Hiếu, môn có VÐV Bùi Thị Thu Thảo giành Huy chương vàng (HCV), đã bày tỏ cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, lãnh đạo các bộ, ngành, toàn thể người hâm mộ đã luôn quan tâm, dõi theo và động viên Ðoàn thể thao Việt Nam, giúp cho các VÐV điền kinh nói riêng, VÐV các môn khác nói chung, nỗ lực thi đấu hết mình, mang vinh quang về cho Tổ quốc.

Thu tuong Nguyen Xuan Phuc gap doan the thao viet nam

Phát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, buổi gặp mặt này thể hiện sự quý trọng, sự đánh giá cao của Ðảng, Nhà nước với Ðoàn thể thao Việt Nam tham dự ASIAD. Các HLV, VÐV và Ðoàn đã hành động với ý chí, khát vọng của thể thao Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng tự hào dân tộc. Thủ tướng nêu rõ, thành tích của Ðoàn thể thao Việt Nam lần này là xuất sắc, thể hiện ở chỗ lần đầu tiên đội bóng đá nam vào tới vòng bán kết; lần đầu tiên điền kinh Việt Nam đoạt HCV; lần đầu tiên đua thuyền râu-ing đoạt HCV, và lần đầu tiên Ðoàn thể thao tham gia với số lượng đông VÐV nhất, số môn tham dự cũng cao nhất. Chiến thắng này có thể nói là một chiến thắng lớn trong lòng người hâm mộ Việt Nam. Chúng ta chưa đạt được như mong muốn nhưng đã đạt được kế hoạch đề ra, tạo khí thế mới thi đua lao động sản xuất, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả nước. Nhắc lại những thành tích của Ðoàn thể thao Việt Nam, thay mặt lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Thủ tướng biểu dương những thành tích xuất sắc đạt được của Ðoàn thể thao Việt Nam, và nhấn mạnh những thành tích này càng thêm ý nghĩa khi vào dịp cả nước kỷ niệm Quốc khánh 2-9.

Thủ tướng nhấn mạnh, dù điều kiện đất nước còn khó khăn, nhưng Ðảng, Nhà nước vẫn luôn quan tâm đến nền thể thao nước nhà, các địa phương cũng đã dành kinh phí cho các VÐV học tập, rèn luyện. Thời gian tới, Thủ tướng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để có biện pháp duy trì và phát triển các thành tích đạt được, phát huy các thế mạnh của thể thao Việt Nam, tiếp tục đưa thể thao Việt Nam lên tầm cao mới. Trong đó, cần tập trung đào tạo lớp trẻ, có được những HLV tâm huyết, trách nhiệm; thu hút nhiều nguồn lực xã hội đầu tư vào thể thao.

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện chính sách pháp luật về thể thao, trong đó có việc hoàn thiện chế độ chính sách cho HLV, VÐV; chăm lo đào tạo bồi dưỡng đội ngũ HLV trình độ cao; tin tưởng, các VÐV sẽ đoạt nhiều thành tích hơn nữa, xứng đáng với niềm tin của Ðảng, Nhà nước và nhân dân. Thủ tướng nhấn mạnh, Chính phủ và Thủ tướng luôn quan tâm, lắng nghe những ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thể dục – Thể thao, các liên đoàn, các VÐV, HLV để tạo điều kiện thuận lợi cho rèn luyện, thi đấu, mang lại thành tích cao hơn cho thể thao Việt Nam.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Ðài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Ðài Truyền hình Việt Nam (VTV) thời gian qua đã mang lại không khí tích cực của Ðại hội thể thao tới người hâm mộ cả nước. Thủ tướng cũng đánh giá cao VOV và các cơ quan khác tổ chức lễ đón các VÐV rất ấn tượng tại sân vận động Mỹ Ðình, thể hiện tình cảm của người hâm mộ và các cấp, ngành đối với các VÐV khi trở về nước.

Nhân dịp này, về vấn đề mua bản quyền một số giải thể thao trong thời gian tới, Thủ tướng cho biết đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông xử lý, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét.

* Tại buổi gặp mặt, thay mặt lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao Huân chương Lao động hạng ba tặng các VÐV và nhóm VÐV giành HCV các môn pen-cát si-lát, đua thuyền râu-ing và điền kinh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/9/2018:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Đại sứ Vương quốc Anh

Ngày 1-9, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thân mật tiếp Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam G.Uốt.

Đại sứ G.Uốt bày tỏ sự hân hạnh được tiếp kiến Tổng Bí thư nhân dịp bắt đầu nhiệm kỳ mới, cho biết, cá nhân Đại sứ rất vui mừng được làm Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam; đánh giá cao về sự phát triển và những thành tựu trong các lĩnh vực của Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua.

Nguyen Phu Trong tiep dai su Anh

Tổng Bí thư chúc mừng Ngài G.Uốt bắt đầu đảm nhận cương vị Đại sứ của Vương quốc Anh tại Việt Nam vào đúng dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Anh đang phát triển rất tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực. Tổng Bí thư khẳng định, Việt Nam coi trọng vị trí, vai trò của Vương quốc Anh, mong muốn đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác song phương trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, tăng cường trao đổi cấp cao và giao lưu trên các kênh Đảng, Quốc hội, nhân dân và giữa các địa phương hai nước. Tổng Bí thư đề nghị hai bên tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, đa phương; ủng hộ việc phát triển quan hệ giữa Anh với ASEAN; chúc Đại sứ G.Uốt sẽ có một nhiệm kỳ thành công, góp phần thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước Việt Nam – Anh không ngừng phát triển ngày càng tốt đẹp.

Đại sứ Vương quốc Anh khẳng định Anh rất coi trọng vị trí và vai trò của Việt Nam, cho rằng hai nước đều có tầm nhìn chiến lược và quan điểm ủng hộ thương mại tự do, có nhiều tiềm năng to lớn để tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế, quốc phòng. Đại sứ bày tỏ mong muốn hai bên sẽ tiến tới ký kết Hiệp định Thương mại tự do song phương, tăng cường phối hợp tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và trong các vấn đề khu vực, quốc tế, đề nghị Việt Nam ủng hộ phát triển quan hệ đối tác giữa Anh với ASEAN; cam kết sẽ nỗ lực thúc đẩy quan hệ giữa Vương quốc Anh với Việt Nam tiếp tục phát triển tốt đẹp hơn nữa trong giai đoạn mới.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 12/9/2018:

Tỷ lệ đúng giờ của các hãng hàng không đạt chuẩn thế giới

Cục Hàng không Việt Nam (HKVN) vừa công bố số liệu thống kê số liệu chậm, hủy chuyến của các hãng hàng không trong tám tháng qua, đều trên mức chuẩn bình quân thế giới với tỷ lệ chuyến bay đúng giờ của các hãng đạt hơn 75%.

Theo đó, tỷ lệ chậm chuyến của Hãng Vietnam Airlines là 12%, Hãng Jetstar Pacific 20,8%, Vietjet Air 17%. Theo đánh giá của Cục HKVN, đối với ngành hàng không, chậm hủy chuyến là tình trạng thường xuyên xảy ra, bởi đặc thù của ngành đòi hỏi phải bảo đảm an toàn, an ninh tuyệt đối.

Vì thế, yếu tố để xếp hạng các hãng không chỉ đơn thuần dựa trên tỷ lệ chậm hủy chuyến, mà còn chú trọng đến việc thông tin kịp thời và cách ứng xử đối với hành khách trong trường hợp chậm, hủy chuyến.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 8/9/2018:

Ngành đường sắt chạy 24 đôi tàu bắc – nam dịp cao điểm Tết

Ngày 7/9, Tổng công ty Đường sắt Việ Nam (VNR) cho biết, trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi (từ 23/1 đến hết ngày 22/2/2019), ngoài các đôi tàu chạy thường xuyên, VNR sẽ tổ chức chạy thêm 15 đôi tàu (gồm bảy đôi tàu, Thống Nhất và tám đôi tàu khách khu đoạn trên tuyến bắc – nam). Như vậy, những ngày cao điểm nhất VNR tổ chức chạy 25 đôi tàu trên tuyến đường sắt bắc-nam, tổng sô khoảng 14 nghìn chỗ/ngày. Trước và sau Tết, VNR cũng chạy tăng cường hằng ngày 10 đôi tàu khách khu đoạn. Từ nay đến hết ngày 20/9, các đơn vị vận tải đường sắt nhận đăng ký vé tập thể. Từ ngày 1/10, VNR tổ chức bán vé tàu Tết cho hành khách với các hình thức thuận tiện.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 7/9/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Đưa sâm Ngọc linh từ quốc bảo thành quốc kế dân sinh

Đưa sâm Ngọc Linh Việt Nam trở thành thương hiệu quốc tế, vừa là hàng hóa lợi ích cho đất nước, vừa là sản phẩm thuốc, dược liệu nâng cao sức khỏe, lợi ích thiết thực cho người dân, là ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị đầu tư phát triển sâm Ngọc linh và các dược liệu khác tỉnh Kon Tum tổ chức tại TP Kon Tum, sáng 6-9.

Hội nghị do UBND tỉnh Kon Tum phối hợp Bộ NN-PTNT, Bộ Y tế tổ chức, có sự tham dự của hơn 300 đại biểu đại diện các bộ, ngành T.Ư, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, đại diện các tỉnh Quảng Nam, Đác Nông, Gia Lai, đại diện một số doanh nghiệp đến từ Hàn Quốc.

Nguyen Xuan Phuc trong sam Ngoc Linh

Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, trong lịch sử, dân tộc ta đã sử dụng các dược liệu quý hiếm để chữa bệnh. Việt Nam chúng ta có hơn năm nghìn loại dược liệu quý hiếm. Nếu chúng ta biết phát huy tiềm năng này thì không chỉ dược liệu giúp chúng ta chữa bệnh mà còn làm giàu. Thủ tướng khẳng định, phát triển dược liệu là hướng đi đúng đắn khi Việt Nam đang tìm một dư địa để phát triển kinh tế đất nước từ tiềm năng lợi thế của mình nhằm xây dựng một nền kinh tế tự chủ trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong số các dược liệu quý có ở Việt Nam thì sâm Ngọc Linh là quốc bảo, quý hơn vàng, nhưng chúng ta chưa tận dụng được lợi thế từ nguồn tài nguyên này. Thủ tướng nhấn mạnh, phải làm sao để sâm Ngọc Linh từ quốc bảo trở thành quốc kế dân sinh là nhiệm vụ không chỉ của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam mà là nhiệm vụ của quốc gia vì sâm Ngọc Linh là thương hiệu quốc gia.

“Xây dựng thương hiệu sâm Ngọc Linh Việt Nam trở thành thương hiệu quốc tế vừa trở thành hàng hóa sản phẩm mang lại lợi ích cho đất nước vừa trở thành các sản phẩm thuốc, dược liệu góp phần chữa bệnh, nâng cao sức khỏe, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân”, Thủ tướng chỉ đạo.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao trách nhiệm cho Bộ NN-PTNT, Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam xây dựng một chiến lược để phát triển sâm Ngọc Linh và một số dược liệu quý hiếm khác một cách cụ thể.

Đầu tiên, phải bảo tồn được nguồn gen quý hiếm của cây sâm Ngọc Linh, không để nguồn giống lai tạp, biến chất, đồng thời có chiến lược phát triển sâm Ngọc Linh trọng tâm, trọng điểm; phát triển số lượng trước hết là ở vùng trọng điểm sâm Ngọc Linh đã được cấp chứng chỉ chỉ dẫn dẫn địa lý; ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong khâu sản xuất, thu hoạch, chế biến tiến tới đa dạng hóa sản phẩm, bảo hộ chỉ dẫn địa lý, bảo hộ sản xuất, tăng giá trị sâm ngọc Linh, hướng tới mục tiêu thu hàng chục tỷ USD từ sản phẩm này.

Thủ tướng biểu dương tỉnh Kon Tum sớm triển khai và triển khai có hiệu quả Kế hoạch phát triển dược liệu theo Kết luận của Thủ tướng chính phủ tại Hội nghị phát triển dược liệu được tổ chức tại tỉnh Lào Cai tháng 4-2017. Biểu dương Công ty cổ phần sâm Ngọc Linh Kon Tum suốt hơn 20 năm qua đã âm thầm nỗ lực bảo tồn và phát triển được hơn 400ha sâm Ngọc Linh liên doanh liên kết mật thiết đến người dân, đem lại lợi ích thiết thực cho hơn 300 hộ dân người dân tộc Xơ Đăng dưới chân núi Ngọc Linh, huyện Tu Mơ Rông.

Thủ tướng giao trách nhiệm cho tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Nam trao đổi kinh nghiệm trồng và chăm sóc sâm Ngọc Linh ngày càng có hiệu quả cao hơn.

Thủ tướng đồng ý với đề xuất cho tỉnh Kon Tum được thí điểm việc giao rừng, cho thuê rừng đặc dụng để phát triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác dưới tán rừng kết hợp với quản lý bảo vệ rừng bền vững; đề nghị cho tỉnh lập đề án hình thành khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung với quy mô lớn trình cấp thẩm quyền phê duyệt để làm cơ sở triển khai thực hiện công tác phát triển dược liệu trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 7/9/2018:

Đưa vào sử dụng tàu cao tốc ra đảo Cồn Cỏ

UBND huyện đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) và Công ty TNHH một thành viên 189 (Bộ Quốc phòng) vừa tổ chức lễ bàn giao, đưa vào sử dụng tàu vận chuyển hành khách ra đảo Cồn Cỏ. Tàu cao tốc Cồn Cỏ Tourist mang số hiệu QT 00666 được đóng mới hoàn toàn, với tổng kinh phí 24,1 tỷ đồng. Tàu có thể chở 80 hành khách cùng biên chế năm thuyền viên và hoạt động trong điều kiện gió cấp 5.

Việc đưa vào khai thác tàu cao tốc Cồn Cỏ Tourist không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân, mà còn tạo điều kiện quan trọng để địa phương đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh huyện đảo.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/9/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự lễ thông xe đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng và cầu Bạch Đằng

Sáng 1-9, tại Quảng Ninh, Bộ Giao thông vận tải, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND Thành phố Hải Phòng phối hợp tổ chức Lễ khánh thành, thông xe tuyến đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng và cầu Bạch Đằng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và cắt băng khánh thành.

Cùng dự có nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng: Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư; Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư; Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư; các đồng chí Bí thư T.Ư Đảng: Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư; Nguyễn Hoà Bình, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; một số cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế.

Nguyen Xuan Phuc thong xe cau bach dang

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh các đột phá đáng tự hào qua công trình này, trong đó, việc hình thành một cây cầu “made in Việt Nam” – cầu Bạch Đằng – một minh chứng cụ thể và rõ ràng về tinh thần tự lực, tự cường, về khả năng làm chủ công nghệ và thi công cầu đường của người Việt Nam. Tuyến cao tốc Hạ Long – Hải Phòng không chỉ phát huy thêm giá trị của cao tốc Hà Nội – Hải Phòng mà còn thúc đẩy liên kết vùng, góp phần kết nối toàn khu vực tam giác phát triển ba chữ H: Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long, mở thêm không gian và cơ hội phát triển kinh tế – xã hội lớn cho toàn khu vực.

Thủ tướng cho rằng, công trình tạo đột phá về mặt thời gian, tài nguyên rất đáng quý. Rất nhiều người dân, doanh nghiệp, du khách sẽ hài lòng khi biết rằng, thời gian đi từ Hạ Long đến Hải Phòng hiện rút xuống chỉ còn 30 phút thay vì hai giờ như trước đây, đồng thời tuyến Hạ Long – Hà Nội nay chỉ mất 1 giờ 30 phút thay vì 3-4 giờ đồng hồ. Cây cầu có sự đột phá bởi tư duy năng động, dám nghĩ dám làm của lãnh đạo địa phương với sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các thời kỳ; sự phối hợp chặt chẽ hiệu quả của các bộ, ngành, địa phương liên quan. Đó là một sự đột phá cần thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Thủ tướng đánh giá cao, biểu dương sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh, của đội ngũ cán bộ, kỹ sư, người lao động đã làm việc ngày đêm trên công trường và cảm ơn những hộ gia đình trong vùng dự án đã dành mặt bằng cho dự án. Thủ tướng yêu cầu chính quyền các địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi để ổn định cuộc sống của nhân dân; đề nghị chủ đầu tư và các đơn vị liên quan khẩn trương hoàn thành các công việc còn lại để tuyến cao tốc Hạ Long – Hải Phòng thực sự là con đường cao tốc đồng bộ, hiện đại, an toàn và hiệu quả.

Tuyến đường cao tốc và cây cầu hiện đại này là một sự đầu tư lớn về nguồn lực, công sức, trí tuệ của đất nước, từ các nhà đầu tư đến nhân dân, chính quyền và các đơn vị triển khai. Để tuyến đường thực sự có hiệu quả thì phải thu hút được nhiều hành khách, hàng hoá lưu thông qua đây. Điều này phụ thuộc then chốt vào sự cất cánh kinh tế và du lịch của Quảng Ninh và Hải Phòng thời gian tới.

Thủ tướng cho biết, năm 2018, chúng ta sẽ hoàn thành toàn diện vượt mức 12 chỉ tiêu kế hoạch nhà nước. Đời sống nhân dân được cải thiện trong đó có sự đóng góp trực tiếp của hai địa phương trọng điểm là Quảng Ninh, Hải Phòng. Thủ tướng đề nghị chính quyền hai địa phương tiếp tục đổi mới cách thức thu hút đầu tư, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh để phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, chất lượng cao hơn để khu vực này trở thành một trung tâm du lịch, chế tạo và sáng tạo hàng đầu của đất nước.

* Tuyến cao tốc Hạ Long – Hải Phòng chính thức được khởi công ngày 13-9-2014, tổng chiều dài tuyến 25,2km, gồm hai dự án với tổng mức đầu tư 13.693 tỷ đồng. Trong đó, dự án đường nối TP Hạ Long với cầu Bạch Đằng là 6.416 tỷ đồng bằng nguồn vốn ngân sách; dự án Cầu Bạch Đằng 7.277 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước 488 tỷ đồng (giải phóng mặt bằng và rà phá bom mìn), nguồn vốn của nhà đầu tư 6.789 tỷ đồng. Đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng đóng vai trò quan trọng trong hoàn chỉnh tuyến kết nối vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh).

Khoảng cách giữa Hạ Long và Hải Phòng rút ngắn xuống còn 25km (thay vì 70km trước đây). Tuyến đường kết nối vào đường cao tốc Hải Phòng – Hà Nội rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội về Hạ Long từ 3,5 giờ xuống còn 1,5 giờ. Đây là tuyến đường cao tốc đầu tiên trong cả nước được Thủ tưởng Chính phủ giao địa phương thực hiện bằng nguồn ngân sách của tỉnh và hình thức đối tác công – tư.

Dự án Đường nối TP Hạ Long với cầu Bạch Đằng được đầu tư bằng nguồn ngân sách với quy mô đầu tư xây dựng mới 19,8 km đường cao tốc. Cầu Bạch Đằng là cây cầu dây văng hiện đại với nhiều kỷ lục được ghi nhận do các kỹ sư Việt Nam thiết kế, thi công. Đây là một trong những cây cầu lớn trong nước, là biểu tượng về kỹ thuật xây dựng cầu đường của Việt Nam với thiết kế ba trụ tháp là ba chữ “’H”, thể hiện sự kết nối chặt chẽ giữa ba trung tâm kinh tế phía Bắc là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long. Công trình kết nối với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng tại Km 104+500; cầu và đường dẫn dài 5,41km, rộng 25m, thiết kế 4 làn xe, vận tốc tối đa 100km/giờ. Riêng cầu Bạch Đằng dài 3,11km, phần cầu chính dây văng dài 700m, cao độ thông thuyền 48,4m.

Dự án được tỉnh Quảng Ninh khẳng định là bước đột phá về nội lực, tiên phong trong việc đề xuất Chính phủ được tự huy động các nguồn vốn để xây dựng, không hoàn toàn trông chờ nguồn vốn từ ngân sách T.Ư. Tuyến đường không chỉ mang ý nghĩa dấu ấn lịch sử, khởi đầu cho phát triển hạ tầng giao thông Quảng Ninh, mà còn mang ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết dứt điểm bài toán khó về hạ tầng giao thông của tỉnh.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 2/9/2018:

Xuất khẩu thủy sản tám tháng đạt 5,5 tỷ USD

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 8 ước đạt 739 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản tám tháng năm 2018 đạt 5,5 tỷ USD, tăng 5,3% so cùng kỳ năm 2017. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là bốn thị trường xuất khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 53,8% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Hà Lan tăng 40,7%; Hồng Công (Trung Quốc) tăng 23,3%; Đức tăng 19,2%; Hàn Quốc tăng 15%…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 15/9/2018:

Ứng dụng nhiều kỹ thuật mới trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình

Đó là khẳng định được đưa ra tại hội nghị khoa học của Viện Chấn thương và chỉnh hình (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức) được tổ chức ngày 14-9. Viện chấn thương chỉnh hình là đơn vị đi đầu trong cả nước trong triển khai các kỹ thuật cao trong phẫu thuật xương – khớp và cột sống. Các phẫu thuật ứng dụng rô-bốt trong mổ cột sống; phẫu thuật nội soi lấy đĩa đệm cốt sống, phẫu thuật liên quan đến thay đĩa đệm cột sống cổ, nhất là cột sống lưng… là những kỹ thuật khó và hiện chỉ có Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức triển khai một cách thường xuyên. Các bác sĩ của viện đã thực hiện hơn 700 ca phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo khớp gối; hơn 200 ca phẫu thuật bằng rô-bốt.

Trong phẫu thuật thay khớp gối, trải đều từ các loại thay khớp đơn thuần cho đến thay khớp đặc biệt, các phẫu thuật về nội soi khớp gối, khớp vai, thay cổ chi trên… và đang mở rộng các phẫu thuật liên quan đến chấn thương thể thao; phẫu thuật tổn thương đám rối thần kinh trong vi phẫu.

Giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2018

Ngày 14/9, tại Nhà Triển lãm mỹ thuật 16 Ngô Quyền TP. Hà Nội, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức lễ trao Giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2016.

Thời gian qua,có tám triển lãm mỹ thuật khu vực trên cả nước với tổng số 1.336 tác phẩm của 1.222 tác giả được trưng bày; ở các thể loại hội họa, điêu khắc, nghiên cứu phê bình mỹ thuật; phản ánh nhiều đề tài phong phú, sinh động trong cuộc sống. Các Hội đồng nghệ thuật đã xét tặng Giải thưởng triển lãm mỹ thuật khu vực năm 2018 gồm: ba giải A, 15 giải B, 19 giải C và 53 giải khuyến khích; giải thưởng ngành phê bình mỹ thuật gomofm một giải B và một giải C. Từ kết quả giải thưởng triển lãm khu vực, Hội Mỹ thuật Việt Nam chọn trao giải thưởng của Hội gồm: một giải nhất cho cuốn sách 70 năm Hội Mỹ thuật Việt Nam (1945-2015)- nhiều tác giả; một giải nhì cho tác phẩm Công nghiệp bò  – sơn dầu của Vũ Thanh Nghị, Hà Nội; ba giải ba cho các tác phẩm khác.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/9/2018:

Triển lãm Tư liệu báo chí về Hoàng Sa

Chiều 12-9, tại Nhà trưng bày Hoàng Sa, UBDN TP Đà Nẵng tổ chức khai mạc Triển lãm tư liệu báo chí về Hoàng Sa. Triển lãm nhằm tuyên truyền, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như ghi nhận đóng góp của các nhà báo, phóng viên đã tích cực đấu tranh vì chủ quyền biển đảo đối với quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và các vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

Ứng dụng công nghệ ảnh 360 độ trong du lịch

Ngày 12/9, tại Hà Nội, Tổng cục Du lịch và Công ty VNTrip ký Thỏa thuận hợp tác về ứng dụng công nghệ ảnh 360 độ trong du lịch (VNTrip360 – Số hóa du lịch Việ Nam bằng công nghệ hình ảnh 360 độ). Dự án xây dựng cổng thong tin du lịch trực tuyến chính thống tại Việt Nam để quảng bá, và xúc tiến du lịch bằng công nghệ hình ảnh 360 độ, tích hợp các dịch vụ du lịch thông minh trên nhiều  thiết bị khác nhau như điện thoại, máy tính, máy tính bảng… Dự án gồm ba giai đoạn: số hóa dữ liệu du lịch bằng công nghệ hình ảnh 360 độ, xây dựng ứng dụng du lịch 360 độ, vận hành, quản trị và khai thác sản phẩm. Cũng tại sự kiện VNTrip chính thức công bố sáp nhập đơn vị cung cấp vé máy ba giá rẻ tại Việt Nam Atadi.vn vào hệ thống website và ứng dụng đặt khách sạn trực tuyến Vntrip.vn

Quảng Bình chú trọng phát triển sản phẩm du lịch độc đáo

Ngày 10/9, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Chương trình hành động số 06-CT/TU ngày 13/7/2016 về phát triển du lịch giai đoạn 2016 – 2020.

 Theo báo cáo tại hội nghị, hơn hai năm qua, ngành du lịch Quảng Bình đã phục hồi và phát triển, các kết quả thu được đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể, năm 2017, Quảng Bình đón 3,3 triệu lượt khách, tăng 65,83% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2018, khách du lịch đến tỉnh đạt gần 2,8 triệu lượt, tăng 18,5% so cùng kỳ ; tổng doanh thu đạt hơn 3.400 tỷ đồng, tăng 15% so cùng kỳ.  Thời gian tới, Quảng Bình tiếp tục xã hội hóa hoạt động du lịch để phát triển các sản phẩm du lịch mới mang tính độc đáo, có lợi thế cạnh tranh cao; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 12/9/2018:

Tuần lễ thời trang Việt Nam xuân hè năm 2019

Từ ngày 11 đến 13-9, tại Núi Nùng, Công viên Bách Thảo (Hà Nội) diễn ra Tuần lễ thời trang Việt Nam xuân hè năm 2019. Nét mới của tuần lễ thời trang năm nay là khai mạc tại công viên ngoài trời với mong muốn xóa bỏ khoảng cách sân khấu hóa trong trình diễn thời trang và quảng bá một điểm đến ấn tượng của Thủ đô. 50 người mẫu đã trình diễn các mẫu thời trang của 15 nhà thiết kế đến từ TP Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội. Các mẫu thiết kế năm nay được làm chủ yếu từ chất liệu của Việt Nam như lụa, lưới, voan… mang tính ứng dụng cao. Đáng chú ý, những chi tiết được thêu bằng tay, tạo nên những khuynh hướng mới được các nhà thiết kế sáng tạo và áp dụng vẽ nên một bức tranh sinh động cho thời trang Việt Nam trong tuần lễ thời trang xuân hè năm 2019.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 12/9/2018:

I-ta-li-a xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được nhà xuất bản Anteo Edizioni (I-ta-li-a) phối hợp Lãnh sự danh dự Việt Nam tại Tu-rin X.Xca-li-ốt-ti, cùng Hội Hữu nghị I-ta-li-a – Việt Nam dịch và phát hành rộng rãi tại I-ta-li-a.

Theo TTXVN, trong phần lời tựa, bà Xca-li-ốt-ti, người đảm nhận công việc biên tập tiếng I-ta-li-a, nhận định “Đường Kách mệnh” đóng một vai trò nền tảng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam và có giá trị rất lớn cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Việc phát hành tác phẩm “Đường Kách mệnh” bằng tiếng I-ta-li-a giúp người dân I-ta-li-a hiểu hơn về đất nước và lịch sử Việt Nam.

Chủ tịch Hội Hữu nghị I-ta-li-a – Việt Nam Ph.Co nhấn mạnh, tác phẩm “Đường Kách mệnh” được viết bằng ngôn ngữ rất súc tích, ngắn gọn và dễ hiểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm căn bản cho công cuộc biến đổi xã hội, đó là tính quần chúng, sự đoàn kết hành động và ý thức tập thể. Giám đốc nhà xuất bản Anteo Edizioni X.Bô-ni-lau-ri nhấn mạnh, “Đường Kách mệnh” là một tác phẩm quý, xét trên quan điểm lịch sử và văn hóa, chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm rộng rãi của công chúng I-ta-li-a. Thời gian tới, Anteo Edizioni tiếp tục cho ra đời nhiều ấn phẩm khác nhằm giới thiệu, quảng bá đất nước Việt Nam tươi đẹp đến với bạn đọc I-ta-li-a.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/9/2018

Chương trình Nhạc hội Việt – Nhật

Tối 9-9, chương trình Nhạc hội Việt – Nhật kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản (1973-2018) đã diễn ra tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt – Xô (Hà Nội).

Đến dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Minh Chính, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản; Tô Lâm, Bộ trưởng Công an; lãnh đạo các Bộ: Ngoại giao; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Đại sứ đặc biệt Việt – Nhật, Nhật – Việt Xư-di Ry-ô-ta-rô và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Cư-ni-ô Ư-mê-đa.

Thông qua âm nhạc, chương trình tôn vinh những nét đẹp và sự tương đồng văn hóa nghệ thuật của hai dân tộc và tình hữu nghị, hướng tới sự hợp tác cùng phát triển vì một thế giới hòa bình. Phát biểu ý kiến tại chương trình, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Ngoại giao đánh giá cao mối quan hệ có bề dày lịch sử của Việt Nam và Nhật Bản đang phát triển tốt đẹp, mạnh mẽ và thực chất trên tất cả mọi lĩnh vực; ghi nhận nỗ lực tổ chức Nhạc hội Việt – Nhật và tin tưởng sự kiện sẽ góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước.

Đồng chí bày tỏ mong muốn quan hệ hợp tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản sẽ ngày càng phát triển. Với tư cách Đại sứ đặc biệt Việt – Nhật, Nhật – Việt, ngài Xư-di Ry-ô-ta-rô cũng nhấn mạnh về tình hữu nghị và sự gắn kết văn hóa giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy và mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa hai đất nước thông qua những hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật.

Chương trình Nhạc hội diễn ra với nhiều tiết mục biểu diễn ca múa nhạc đặc sắc do các nghệ sĩ nổi tiếng của hai nước biểu diễn; trong đó có những tác phẩm được viết riêng cho Nhạc hội như các ca khúc Gặp tôi hoa nở, Japan-Vietnam best friend…; cùng các nhạc phẩm có sức ảnh hưởng và lan tỏa tại Việt Nam và Nhật Bản. Đan xen chương trình là những phóng sự nêu rõ nét các dấu ấn trong giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/9/2018:

Kết thúc Giải cờ vua trẻ xuất sắc toàn quốc

Ngày 9/9, tại Khách sạn The Vissai Ninh Bình (TP Ninh Bình), Giải cờ vua trẻ xuất sắc toàn quốc năm 2018 do Liên đoàn Cờ Việt Nam phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình, Ngân hàng SHB tổ chức đã bế mạc. Hơn 260 vận động viên (VĐV) của 24 đoàn cờ vua trong cả nước dự thi đấu theo Luật Cờ vua hệ Thụy Sĩ và vòng tròn tính điểm. Ban tổ chức đã trao giải nhất, nhì, ba ở các nội dung thi đấu cá nhân nam, nữ theo tám lứa tuổi; trong đó các địa phương có nhiều VĐV đoạt giải nhất là: Bắc Giang, Hà Nội, TP Hồ Chí Mih, Đồng Tháp, Kiên Giang… Đây là giải đấu nhằm lựa chọn VĐV xuất sắc ở các lứa tuổi để bổ sung vào đội tuyển quốc gia thi đấu các giải quốc tế năm 2019.

  • Trag 5 báo Nhân Dân ngày 9/9/2018:

25 năm Di tích Cố đô Huế được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới

Tại TP Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đo Huế vừa tổ chức kỷ niệm 25 năm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới (1993-2018), 15 năm Nhã nhạc – Âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Kiệt tác Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (2003-2018). Lễ kỷ niệm tái hiện hành trình từ khi các di sản phát triển còn nhiều khó khăn cho đến khi được vinh danh. Đây là tiền để thúc đẩy công cuộc phục hưng di sản Huế lên một tầm cao mới, đi vào chiều sâu và mang tính toàn diện hơn với nhiều di sản được công nhận là Di sản thế giới sau đó như: Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Cũng trong chương trình kỷ niệm, cùng ngày, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức triển lãm “Rồng – Phượng trên bảo vật triều Nguyễn”.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/9/2018:

Trao học bổng Vallet cho học sinh, sinh viên

Sáng 7/9, tại Nhà hát TP Hồ Chí Minh, Tổ chức khoa học Gặp gỡ Việt Nam phối hợp Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh tổ chức trao 450 suất học bổng Vallet cho học sinh, sinh viên, học viên sau đại học xuất sắc và các em ở làng SOS khu vực phía nam. 18 năm qua, quỹ học bổng sinh viên, học viên sau đại học, học sinh nghèo vượt khó có thành tích xuất sắc trong học tập với số tiền 230 tỷ đồng, trong đso có hơn 1.600 nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh được nhận học bổng này.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/9/2018:

Hội nghị Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á

Ngày 6-9, tại Khách sạn Hà Nội Sofitel Legend Metropole, UBND thành phố Hà Nội đã khai mạc Hội nghị Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á lần thứ 16.

Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á (CPTA) ra đời năm 2002, gồm các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch thuộc mười thành phố lớn của châu Á gồm: Tô-ki-ô (Nhật Bản), Băng-cốc (Thái-lan), Niu Đê-li (Ấn Độ), Cu-a-la Lăm-pơ (Ma-lai-xi-a), Xơ-un (Hàn Quốc), Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a), Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc), Ma-ni-la (Phi-li-pin), Tôm-xcơ (Nga)… và Hà Nội, nhằm mục đích xúc tiến hợp tác phát triển du lịch, tăng sức cạnh tranh cho du lịch châu Á. Tại Hội nghị, các đại biểu thảo luận, đánh giá những công việc đã triển khai; thống nhất các kế hoạch, dự án mới; đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch của mạng lưới các thành phố lớn châu Á; thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch với các tổ chức, doanh nghiệp các thành phố thành viên; các vấn đề liên quan đến hợp tác, xúc tiến chiến dịch “Chào mừng đến với châu Á”… Trong khuôn khổ hội nghị, có Triển lãm du lịch các thành phố thành viên Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á lần thứ 16 tổ chức tại Nhà bát giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ. Hội nghị bế mạc vào ngày 9-9.

Bàn giao trường học mới cho thầy, trò vùng khó Lai Châu

Ngày 6/9 xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn, UBND tỉnh Lai Châu phối hợp Ngân hàng Bưu điện Liên Việt tổ chức bàn giao công trình Trường phổ thong Dân tộc bán trú THCS Nậm Chà cho thầy và trò nhà trường nơi đây.

Đây là công tình do Ngân hàng Bưu điện Liên Việt và cá nhan ông Dương Công Minh (nguyên Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Bưu điện Liên Việt) tài trợ. 14 phòng ỏ bán trú học sinh, 9 phòng chức năng, 10 phòng ở giáo viên, nhà bếp, phòng ăn; hệ thống trang thiết bị và ác công trình phụ trợ khác.

Hội chợ Du lịch quốc tế TP Hồ Chí Minh năm 2018

Sáng 6-9, tại Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Sài Gòn – SECC (TP Hồ Chí Minh), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ khai mạc Hội chợ Du lịch quốc tế TP Hồ Chí Minh lần thứ 14 – năm 2018 với chủ đề “Cửa ngõ du lịch châu Á”.

Đây là sự kiện du lịch quốc tế quan trọng hằng năm nhằm xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam với các nước trên thế giới và trong khu vực; thúc đẩy trao đổi, hợp tác phát triển du lịch giữa các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước. Hội chợ Du lịch quốc tế năm nay có sự tham gia của gần 300 gian hàng của các hãng hàng không, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, công ty lữ hành, các tập đoàn lớn đến từ hơn 30 tỉnh, thành phố ở Việt Nam và đại diện du lịch các quốc gia trên thế giới. Trong khuôn khổ hội chợ, nhiều hội nghị, hội thảo sẽ diễn ra như: Hội nghị hợp tác du lịch Việt Nam – Trung Quốc, Hội thảo sáng tạo trong sản phẩm du lịch từ ý tưởng đến thực tế kinh doanh, Hội thảo thị trường khách Nhật Bản, Hội thảo “Giải thưởng Du lịch ASEAN”… Ngoài ra, hàng nghìn phần quà và khuyến mại hấp dẫn từ các hãng hàng không, khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các công ty lữ hành sẽ được trao tại hội chợ. Dự kiến lượng khách tham quan hội chợ năm nay sẽ đạt khoảng 30.000 lượt, tăng 20% so với năm trước. Hội chợ Du lịch quốc tế TP Hồ Chí Minh năm 2018 sẽ diễn ra đến hết ngày 8-9.

Thêm 23 bác sĩ chuyên khoa cấp I cho vùng khó khăn

Ngày 6/9, Bộ Y tế phối hợp Trường đại học Y Hà Nội tổ chức khai giảng khóa 12 cho 23 bác sĩ trẻ tình nguyện về vùng khó khăn. Các bác sĩ này sẽ được đào tạo chuyên khoa cấp I thuộc mười chuyên ngành: chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức, hồi sức cấp cứu, nội, ngoại, nhi, răng hàm mặt, sản, truyền nhiễm và y học cổ truyền trong 24 tháng. Trước khi trúng tuyển, họ đã được tuyển dụng thành viên chức Bệnh viện Nhi trung ương và 13 huyện khó khăn: Mù Cang Chải (Yên Bái); Hà quảng, Quảng Uyên, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An, Hạ Lang (Cao Bằng); Bình Gia, Đình Lập (Lạng Sơn); Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Xín Mẩn (Hà Giang) và Nậm Nhùn (Lai Châu). Sau khi hoàn thành thời gian đào tạo, các bác sĩ sẽ công tác tại các huyện nghèo như đăng ký. Thời gian làm việc tại vùng khó khăn đối với bác sĩ nam là ba năm, bác sĩ nữ là hai năm. Các bác sĩ được huyện nghèo cử đi đào tạo sẽ công tác lâu dài tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện đó.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 6/9/2018:

Hỗ trợ hành khách sinh con trên tàu an toàn

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) cho biết, tổ tàu SE6 vừa hỗ trợ thành công một ca hành khách sinh con trên tàu vào sáng sớm 5-9.

Theo đó, tàu SE6 xuất phát từ TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội ngày 4-9, khi đang chạy lên đèo Hải Vân (khu gian Kim Liên – Hải Vân Nam) khoảng 3 giờ 30 phút ngày 5-9, tiếp viên phụ trách toa xe số 6 Tạ Thị Dần đã báo cáo Trưởng tàu SE6 Nguyễn Văn Đức (Đoàn tiếp viên đường sắt Hà Nội) trường hợp tại toa 6 có hành khách đang trở dạ.

Hành khách tên Nguyễn Thị Anh (quê Thanh Chương, Nghệ An), ở giường 38, đi từ ga Biên Hòa, đi cùng em chồng là Đặng Văn Thảo.

Khi Trưởng tàu Nguyễn Văn Đức có mặt tại toa, chị Anh đã chuẩn bị sinh, không kịp đưa xuống ga Huế là ga gần nhất, có đủ các điều kiện y tế, trong khi tàu đang trên đèo. Trong tình huống cấp bách giữa đêm, các hành khách đều đang ngủ say, toàn bộ tổ tàu không kịp phát thanh nhờ sự giúp đỡ, hỗ trợ của hành khách nào có chuyên môn về y tế có mặt trên tàu.

Vì vậy, tổ tàu lập tức chuẩn bị nước ấm, khăn, cồn y tế, giấy và các vật dụng khác… khẩn trương hỗ trợ hành khách sinh. Chị Tạ Thị Dần, đồng thời là vệ sinh viên tổ tàu đã trực tiếp đỡ đẻ cho hành khách.

Chỉ vài phút sau, chị Nguyễn Thị Anh đã sinh hạ một bé gái kháu khỉnh nặng 3 kg “mẹ tròn con vuông” trong niềm vui vỡ òa, hạnh phúc của chị và cả nhân viên tổ tàu.

Anh Đặng Văn Thảo, em chồng chị Anh đã bày tỏ xúc động: “Đây là đứa con đầu lòng của anh chị tôi. May mắn được các anh chị trên tàu giúp đỡ. Thay mặt gia đình, tôi xin cảm ơn sự chăm sóc, hỗ trợ nhiệt tình của tổ tàu giúp chị tôi sinh cháu “mẹ tròn con vuông”.

Khi tàu đến ga Huế, tổ tàu đã đưa mẹ con chị Anh xuống ga để đưa đến bệnh viện chăm sóc.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 2/9/2018:

Xe buýt du lịch Hanoi City Tour mở thêm tua buổi tối

Từ ngày 1-9, Tổng công ty Vận tải Hà Nội (Transerco) ra mắt hai dịch vụ mới cho xe buýt du lịch Hanoi City Tour. Đó là mở thêm tua buổi tối (night tour) và ứng dụng tiện ích Hanoi City Tour trên điện thoại di động.

Các tua buổi tối khởi hành vào 19 giờ và 20 giờ hằng ngày, vận hành theo hình thức chạy suốt tuyến (đón trả khách tại đầu bến, không dừng đón dọc đường), phục vụ du khách muốn khám phá những vẻ đẹp của phố phường Hà Nội vào ban đêm. Bên cạnh đó, ứng dụng Hanoi City Tour (hanoicitytour.com.vn) trên thiết bị di động bằng tiếng Anh và tiếng Việt, giúp du khách sử dụng điện thoại thông minh hoặc các thiết bị thông minh nền tảng Android, IOS dễ dàng tra cứu, tìm hiểu thông tin và sử dụng dịch vụ Hanoi City Tour, như thời gian hoạt động, lộ trình, điểm dừng, các điểm du khách có thể tiếp cận, theo dõi vị trí xe trực tuyến trên bản đồ, giá vé…

Khánh Hòa đưa vào hoạt động Trung tâm dịch vụ hành chính công trực tuyến

UBND tỉnh Khánh Hòa ngày 31-8 đã chính thức khai trương Trung tâm Dịch vụ hành chính công trực tuyến của tỉnh, địa chỉ: http://hanhchinhcong.khanhhoa.gov.vn.

Với bất kỳ thiết bị cho phép kết nối in-tơ-nét, người dân, tổ chức, doanh nghiệp đăng nhập vào địa chỉ trên để tiếp cận toàn bộ thủ tục hành chính (TTHC) trên mọi lĩnh vực. Cụ thể: có thể đăng ký thực hiện TTHC trực tuyến mức độ 3, 4; hoặc tra cứu, khai thác, sử dụng các thông tin về cơ chế, chính sách, TTHC… theo nhu cầu tại một địa chỉ duy nhất thay vì phải tra cứu, liên hệ nhiều địa chỉ như hiện nay; cho phép tra cứu tiến độ giải quyết bất kỳ hồ sơ đã được tiếp nhận; cho phép người dân, tổ chức, doanh nghiệp tự tạo lập và quản lý từng danh mục tài liệu riêng. Người dân, tổ chức, doanh nghiệp có thể đăng ký tài khoản giao dịch với các thông tin cá nhân và được hệ thống bảo mật cao; có thể thanh toán trực tuyến phí, lệ phí đối với các thủ tục trực tuyến mức độ 4; có thể sử dụng kết quả giải quyết TTHC trước đó để đăng ký thực hiện các TTHC sau này.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 2/9/2018:

“Vui Tết Độc lập” tại Làng Văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam

Từ ngày 31-8 đến 30-9, tại Làng Văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) diễn ra các hoạt động tháng 9 với chủ đề “Vui Tết Độc lập” với sự tham gia của hơn 220 nghệ sĩ, diễn viên, sinh viên và đồng bào dân tộc thiểu số hiện đang sinh hoạt hằng ngày tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Điểm nhấn trong hoạt động tháng 9 là không gian “Chợ phiên vùng cao xứ Lạng”, tái hiện không gian chợ mang đậm sắc màu văn hóa tỉnh Lạng Sơn. Nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật như múa sư tử mèo của dân tộc Nùng – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận; Lễ cưới của dân tộc Nùng và Lễ Giải hạn nối số của dân tộc Mông…

Bế mạc Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc năm 2018

Sau 12 ngày diễn ra sôi nổi, tối 31-8, Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc năm 2018 (đợt hai) đã bế mạc tại Nhà hát Trưng Vương (Đà Nẵng). Ban tổ chức trao bốn Huy chương vàng cho các chương trình: Hà Nội, ngày… tháng…năm (Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long); Khu 5 vang mãi khúc quân hành (Đoàn Văn công Quân khu 5); Chuyện Tiên Sa (Nhà hát Trưng Vương); Một ngày của biển (Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Sao Biển – Phú Yên); một giải xuất sắc về đề tài lực lượng vũ trang cho chương trình Tình yêu bầu trời (Đoàn Văn công Quân chủng Phòng không – Không quân); một giải đặc biệt cho chương trình Lưỡng cực (Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam); cùng 45 Huy chương vàng, 31 Huy chương bạc cho các tiết mục ở thể loại đơn ca, song ca, tốp ca, hòa tấu, múa…

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 1/9/2018:

Khai mạc lễ hội trái cây thanh trà Huế

Ngày 31/8, tại TP Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) đã diễn ra lễ hội trái cây thanh trà Huế năm 2018. Đây là lễ hội được tổ chức hai năm một lần, nhằm nâng tầm thương hiệu các đặc sản của Cố đô Huế, kết hợp phát triển du lịch và góp phần nâng cao đời sống cho người dân. Lễ hội thu hút hơn 60 gian hàng trưng bày quả thanh trà của các huyện. Toàn tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện có khoảng 1.114 ha cây thanh trà; trong đó, riêng xã Thủy Biều (TP Huế có 127 ha trong tổng số 147 ha cho thu hoạch, sản lượng đạt 450 đến 500 tấn/năm, cho thu nhập từ 20 đến 25 ty rđồng/ năm.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/9/2018:

Thông cáo báo chí kỳ họp 29 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 10 đến 12 -9, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 29. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:

I – Về kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

1 – Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa nhiệm kỳ 2015 -2020 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác cán bộ, trong quản lý, sử dụng đất đai và trong thực hiện một số dự án, công trình trên địa bàn huyện, gây thiệt hại ngân sách nhà nước.

2 – Các đồng chí Hồ Thị Lệ Hà, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện; đồng chí Võ Thanh, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, nguyên Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Đặng Trọng Vân, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện và đồng chí Nguyễn Ngọc Sắc, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy, nguyên Chủ tịch UBND huyện chịu trách nhiệm người đứng đầu về các vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện và chịu trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Đồng chí Đặng Minh Khanh, nguyên Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Huyện ủy và chịu trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa và các đồng chí: Hồ Thị Lệ Hà, Võ Thanh, Đặng Trọng Vân là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật; vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí Nguyễn Ngọc Sắc, Đặng Minh Khanh cần phải tiến hành kiểm điểm, xem xét trách nhiệm theo quy định.

II – Xem xét, thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm

1 – Xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an (Tổng cục IV) và cá nhân liên quan về các vi phạm đã được kết luận tại kỳ họp 28 của UBKT Trung ương. Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Trung tướng Bùi Xuân Sơn, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục IV.

– Đề nghị Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương thi hành kỷ luật theo thẩm quyền đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục IV nhiệm kỳ 2015 -2020.

2 – Xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh và các cá nhân liên quan về các vi phạm đã được kết luận tại kỳ họp 28 của UBKT Trung ương. Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Phó Bí thư và Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy các nhiệm kỳ 2010 -2015, 2015 -2020 đối với đồng chí Diệp Văn Thạnh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; cảnh cáo đối với đồng chí Trần Trường Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố; cảnh cáo đối với đồng chí Phạm Văn Tám, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Trà Vinh.

– Yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh thi hành kỷ luật theo thẩm quyền đối với Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh các nhiệm kỳ 2010 -2015, 2015 -2020.

3 – Xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Trần Văn Minh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng)

Trong thời gian giữ cương vị Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đồng chí Trần Văn Minh đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; vi phạm các quy định về quản lý đất đai, về quản lý, sử dụng tài sản công, gây thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước.

Vi phạm của đồng chí Trần Văn Minh là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền thành phố Đà Nẵng, gây bức xúc trong xã hội. UBKT Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, BCH Trung ương xem xét, thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Trần Văn Minh.

4 – Xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Đại tá Hồ Xuân Vượng, trong thời gian giữ chức vụ Ủy viên UBKT Đảng ủy Quân đoàn 4, Bộ Quốc phòng, đồng chí đã vi phạm nghiêm trọng về phẩm chất đạo đức, lối sống và vi phạm quy định của BCH Trung ương về những điều đảng viên không được làm, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cá nhân đồng chí. Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Hồ Xuân Vượng.

5 – Xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Luật, Phó trưởng Ban Giám sát Tập đoàn tài chính, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

Trong thời gian giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Chi nhánh Hà Nội, đồng chí Nguyễn Xuân Luật đã thiếu trách nhiệm, vi phạm các quy định trong việc phê duyệt cấp tín dụng và cho doanh nghiệp vay vốn, dẫn đến nợ xấu với số tiền lớn.

Vi phạm của đồng chí Nguyễn Xuân Luật là nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và Ngân hàng Vietcombank. Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Nguyễn Xuân Luật.

III – Xem xét kết quả kiểm điểm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an và UBND tỉnh Bình Dương về trách nhiệm liên quan đến các vi phạm xảy ra đối với Dự án Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn cầu (AVG)

UBKT Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng ở các cơ quan và địa phương nêu trên chỉ đạo xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các tập thể, cá nhân liên quan. UBKT Trung ương báo cáo Ban Bí thư chỉ đạo xem xét, xử lý đối với một số đồng chí cán bộ diện Trung ương quản lý.

IV – Xem xét kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy Bình Dương; kết quả giám sát đối với Thường trực Tỉnh ủy Thái Nguyên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Thuận, Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và một số cá nhân. Qua kiểm tra, giám sát, UBKT Trung ương đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng và cá nhân rút kinh nghiệm, sớm có biện pháp khắc phục, sửa chữa trong thời gian tới.

V – Cũng trong kỳ họp này, UBKT Trung ương đã xem xét, giải quyết tố cáo hai trường hợp; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với hai trường hợp và cho ý kiến về một số nội dung quan trọng khác.

ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/9/2018:

Tuyên phạt 13 năm tù giam đối tượng âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân

Ngày 14-9, tại trụ sở TAND tỉnh Thái Bình, TAND cấp cao Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đối với Nguyễn Văn Túc.

Nguyễn Văn Túc, SN 1964, hộ khẩu thường trú tại thôn Cổ Dũng, xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Từ năm 1982 đến năm 1985, Túc tham gia nghĩa vụ quân sự, sau đó về lao động tự do tại địa phương. Năm 1997, diễn ra các hoạt động khiếu kiện ở Thái Bình, Túc bắt đầu tham gia và bị các đối tượng phản động lôi kéo dẫn đến hình thành tư tưởng bất mãn chế độ.

Từ năm 2006, Túc bị các đối tượng xấu vận động tham gia “Đảng Dân chủ 21”, “Hội dân oan”, “Nhóm dân chủ”… và hỗ trợ vật chất nhằm tạo dựng Túc thành “ngọn cờ” để phát triển lực lượng là những người chán ghét chế độ tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước.

Tháng 12-2007, Túc tham gia tuần hành, biểu tình tại Hà Nội, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài và phát tán bài viết có nội dung xấu lên mạng internet. Ngày 16-8 và 7-9-2008, Túc cùng năm đối tượng treo khẩu hiệu và rải truyền đơn phản động ở Hải Phòng và Hải Dương.

Ngày 10-9-2008, Túc bị Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, sau đó bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội xử tuyên phạt bốn năm tù giam và phạt quản chế ba năm tại địa phương.

Tháng 9-2012, Túc hết hạn án phạt tù giam trở về địa phương thực hiện án phạt quản chế ba năm, nhưng Túc tiếp tục có nhiều hoạt động chống đối, liên tục vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế, công khai chống đối, coi thường pháp luật. Thường xuyên sử dụng mạng internet để liên lạc, hội luận, đăng tải tài liệu có nội dung xấu, đi khỏi địa phương gặp các đối tượng chống đối chính trị và tham gia biểu tình ở Hà Nội.

Tháng 2-2014, Túc tham gia hoạt động trong “Hội anh em dân chủ”, thời gian đầu được phân công làm trưởng nhóm ở Thái Bình, sau đó được đề cử bầu làm Phó Ban đại diện “Hội anh em dân chủ” miền Bắc, nhiệm kỳ 2017-2019, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất “Hội anh em dân chủ”.

Trước các hoạt động chống đối của Túc, ngày 17-8-2017, Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, tiến hành điều tra theo quy định pháp luật. Ngày 1-9-2017, Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh ra quyết định khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt bị can tạm giam và khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Túc.

Ngày 10-4-2018, trong phiên tòa xét xử sơ thẩm tại tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn Túc bị kết án 13 năm tù giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo Khoản 1, Điều 79, Bộ luật Hình sự năm 1999; phạt quản chế 5 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Sau xét xử, Túc vẫn tỏ thái độ chống đối và có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Phiên tòa xét xử phúc thẩm diễn ra sáng nay (14-9) theo đúng trình tự, quy định pháp luật, an ninh trật tự được bảo đảm. Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử tuyên phạt y án như phiên sơ thẩm.

  • Trang 8 báo Nhân Dân 11/9/2018:

Khiển trách Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Phạm Hồng Hải

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1123 QĐ-TTg về việc thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Phạm Hồng Hải, Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông, do có vi phạm, khuyết điểm trong công tác và đã bị kỷ luật về Đảng.

Quyết định về việc thi hành kỷ luật đối với ông Phạm Hồng Hải, Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông được Thủ tướng ký ngày 8-9 và có hiệu lực kể từ ngày ký.

Trước đó, Thứ trưởng Phạm Hồng Hải đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định kỷ luật khiển trách. Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Phạm Hồng Hải, Ủy viên Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, để Tổng công ty Mobifone vi phạm nghiêm trọng trong thực hiện Dự án mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu AVG; trực tiếp ký một số văn bản liên quan đến Dự án có nội dung trái quy định.

Ông Phạm Hồng Hải phải cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016 và 2016-2021.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/9/2018:

18 cơ sở vi phạm quy định an toàn thực phẩm bị phạt hơn 1,6 tỷ đồng

Từ ngày 16-8 đến 7-9, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 18 doanh nghiệp vi phạm về an toàn thực phẩm với tổng số tiền phạt là hơn 1,6 tỷ đồng.

Cục An toàn thực phẩm cho biết, cùng với xử phạt bằng hình thức phạt tiền, Cục đã buộc các cơ sở thu hồi và tiêu hủy các lô sản phẩm vi phạm, tháo gỡ nội dung quảng cáo vi phạm, cải chính thông tin theo quy định.

Trong số các doanh nghiệp vi phạm, có doanh nghiệp vi phạm lên tới sáu lỗi là Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hoàng ZN, địa chỉ : 89/994E Lê Đức Thọ, phường 6, quận Gò Vấp, TP.HCM vi phạm gồm: sản xuất hai lô sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe: Cốm trắng da Skinfood Plus+( NSX: 12/1/2018, HSD: 12/1/2019) và Trà Thảo mộc hoa sâm đất (NSX: 25-1-2018, HSD: 25-1-2019) thuộc diện phải thực hiện công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm mà không có giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy, giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; buôn bán lô sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Trà Thảo mộc hoa sâm đất (NSX: 25-1-2018, HSD: 25-1-2019) thuộc diện phải thực hiện công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm mà không có giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy, giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm.

Công ty này cũng sản xuất một lô sản phẩm thực phẩm bổ sung Cốm dinh dưỡng Extra Kid, NSX: 10-1-2018, HSD: 10-1-2019 có các chỉ tiêu: Kẽm Gluconat; L-Lysine tổng không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng; bán một lô sản phẩm thực phẩm bổ sung Cốm dinh dưỡng Extra Kid, NSX: 10-1-2018, HSD: 10-1-2019 có chất lượng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng; Sai phạm tiếp theo là vi phạm quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa đối với lô sản phẩm thực phẩm bổ sung Cốm dinh dưỡng Extra Kid, NSX: 10-1-2018, HSD: 10-1-2019. Và sai phạm thứ sáu là quảng cáo hai sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe: Cốm trắng da Skinfood Plus+ và thực phẩm bảo vệ sức khỏe: KHIẾT ÂM có nội dung quảng cáo không phù hợp với một trong các tài liệu theo quy định.

Công ty TNHH Thảo Mộc Thiên nhiên Hồng Sâm QM (địa chỉ, phòng 201 tầng 2 tòa nhà Tổng Công ty 36 Bộ Quốc phòng, số 1075 Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai, TP. Hà Nội) có ba lỗi vi phạm. Thứ nhất, sản xuất hai sản phẩm thực phẩm chức năng/ thực phẩm bảo vệ sức khỏe: Thảo mộc tăng cân thiên nhiên Hồng sâm QM và Thảo mộc giảm cân hồng sâm QM Plus thuộc diện phải thực hiện công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm mà không có giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy, giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; Thứ hai, buôn bán hai sản phẩm thực phẩm chức năng/ thực phẩm bảo vệ sức khỏe: Thảo mộc tăng cân thiên nhiên Hồng sâm QM và Thảo mộc giảm cân hồng sâm QM Plus thuộc diện phải thực hiện công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm mà không có giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy, giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm Sai phạm thứ ba là sản xuất hai sản phẩm thực phẩm chức năng/ thực phẩm bảo vệ sức khỏe: Thảo mộc tăng cân thiên nhiên Hồng sâm QM và Thảo mộc giảm cân hồng sâm QM Plus mà không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 6/9/2018:

Bắt đối tượng kích động chống phá Đảng và Nhà nước

Ngày 5-9, Công an tỉnh Đồng Tháp cho biết, tại thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành (Tiền Giang), cơ quan ANĐT, Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp Công an tỉnh Tiền Giang, bắt giữ đối tượng Huỳnh Trương Ca (SN 1971, ngụ xã Thường Phước 2, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp) về hành vi sử dụng mạng xã hội youtube, facebook cá nhân đăng tải nội dung bịa đặt; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam.

Qua xác minh bước đầu, Ca thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ các bài viết, clip, livestream có nội dung xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước; nói xấu chính quyền, lãnh đạo và lực lượng công an địa phương. Đối tượng này cũng có những bài viết, chia sẻ nội dung kích động quần chúng nhân dân xuống đường biểu tình chống chế độ vào dịp Quốc khánh 2-9. Ngày 4-9, Ca đang trên đường từ tỉnh Tiền Giang lên TP Hồ Chí Minh để kích động, kêu gọi biểu tình, gây rối trật tự thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ. Vụ việc đang được cơ quan ANĐT Công an tỉnh tiếp tục điều tra làm rõ, để xử lý đối tượng theo quy định của pháp luật.

  • Trang 7 báo Nhân Dân ngày 5/9/2018:

Khởi tố đối tượng tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước

Ngày 4-9, Ðại tá Phạm Văn Ngót, người phát ngôn Công an tỉnh Bến Tre cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an tỉnh Bến Tre) đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc Ánh (38 tuổi, thường trú xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội) để điều tra về tội “làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu” nhằm chống Nhà nước.

Như Báo Nhân Dân đã đưa tin, ngày 30-8, đối tượng Ánh (hiện tạm trú tại thị trấn Bình Ðại, huyện Bình Ðại, tỉnh Bến Tre) đã bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bến Tre ra lệnh tạm giữ khẩn cấp và khám xét đối với đối tượng này. Ngày 1-9, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Ngọc Ánh. Theo kết quả xác minh ban đầu, từ ngày 31-3 đến 14-8, Ánh đã lập hai tài khoản mạng xã hội facebook cá nhân để chia sẻ, đăng tải, livestream nhiều clíp có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Ánh đã kêu gọi, kích động người dân biểu tình, phá hoại trong tháng 6-2018 và vào dịp lễ 2-9.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 1/9/2018:

Hoàn tất cáo trạng truy tố Phan Văn Vĩnh và đồng bọn

Ngày 31-8, Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) tỉnh Phú Thọ cho biết, đã hoàn tất cáo trạng truy tố nguyên Trung tướng Phan Văn Vĩnh, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cảnh sát; nguyên Thiếu tướng Nguyễn Thanh Hóa, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao – C50 (Bộ Công an), cùng 90 bị can về sáu tội danh. Theo đó, Phan Văn Vĩnh và Nguyễn Thanh Hóa bị truy tố về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo khoản 2, Ðiều 356, Bộ luật Hình sự 2015.

Theo cáo trạng, Phan Văn Vĩnh và Nguyễn Thanh Hóa biết Công ty TNHH Ðầu tư phát triển an ninh công nghệ cao (CNC), do Nguyễn Văn Dương cầm đầu và Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến – VTC online, do Phan Sào Nam cầm đầu, hoạt động tổ chức đánh bạc, nhưng không ngăn chặn, xử lý, mà còn tiếp tay, bao che cho sai phạm nêu trên, không cho các phòng nghiệp vụ xác minh, xử lý. Hành vi nêu trên đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và ảnh hưởng đến uy tín ngành công an.

Cơ quan tố tụng xác định, trong thời gian hoạt động, Rikvip/Tip.club đã phát triển được gần 43 triệu tài khoản, tương đương hơn 14 triệu người chơi. Tổng số tiền đánh bạc nạp qua các cổng thanh toán khoảng 9.800 tỷ đồng, trong đó, tiền từ thẻ viễn thông và thẻ game là gần 9.300 tỷ đồng, chiếm 97%; tiền từ các ngân hàng là 168 tỷ đồng, chiếm 1,75%.

Tuyên phạt các bị cáo trong vụ án tại Công ty cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí

Ngày 31-8, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã tuyên án các bị cáo trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí (PVTEX).

Theo đó, Tòa tuyên phạt bị cáo Trần Trung Chí Hiếu, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVTEX 13 năm tù về tội “Cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, 15 năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo Trần Trung Chí Hiếu phải chấp hành 28 năm tù. Cùng về tội “Cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, các bị cáo: Ðỗ Văn Hồng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ðầu tư và Xây lắp Dầu khí Kinh Bắc bị tuyên phạt 13 năm tù; Ðào Ngọ Hoàng, nguyên Trưởng phòng thương mại hợp đồng PVTEX bị tuyên phạt 9 năm tù; Vũ Phương Nam, nguyên Kế toán trưởng PVTEX bị tuyên phạt 8 năm tù.

Ngoài án phạt tù, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Ðỗ Văn Hồng phải hoàn trả PVTEX hơn 19 tỷ đồng, buộc bị cáo Trần Trung Chí Hiếu phải nộp ba tỷ đồng để sung công quỹ Nhà nước. Tòa ghi nhận bị cáo Trần Trung Chí Hiếu đã nộp đủ ba tỷ đồng.

Tháng Chín 8, 2018

Cậu Khuê tôi

Filed under: Ý kiến,Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:33 sáng

            Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 9 năm 2018.

CẬU KHUÊ TÔI.

Phạm Tôn

Cậu là em mẹ tôi, sinh năm 1925, kém mẹ tôi 12 tuổi hơn tôi 15 tuổi.

Bài này không viết về những chuyện người khác đã viết về giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, đại biểu quốc hội Phạm Khuê, kể cả chuyện sau Hiệp định Paris 1973 cậu đi Paris cùng ông Lê Đức Thọ và được ông này cho xe riêng đưa đi thăm chị là bà Ngoạn và em là bà Hoàn cùng ở Paris. Bài chỉ viết những gì tôi thấy, tôi nghe, tôi biết và tôi cảm về cậu tôi, nên mới có nhan đề là Cậu Khuê tôi.

Khi vào đại học thì cậu thi vào trường thuốc, tức đại học y, nên phải ra Hà Nội học, và sống ở nhà cha mẹ tôi. Cậu có một phòng riêng yên tĩnh ở cuối gác hai, cách xa đường ồn ào. Mở cửa vào phòng là thấy ngay góc trái dưới ánh đèn xanh lá cây có chụp đèn trắng là một bộ xương người lớn, trắng hếu, treo lủng lẳng dọc theo góc tường. Cậu về nhà là vào ngay phòng riêng học và làm thơ. Mẹ tôi kể chính cậu viết hai câu thơ tả tôi hồi sơ sinh “Mắt đen lay láy đầu xiêu, gục đi lắc lại đáng yêu dường nào”. Trong khi ông bà ngoại và các cô cậu khác vẫn ở trong Huế.

Nhưng đến năm 1945 ấy, cậu về Huế nghỉ hè như mọi năm thì ngày 23/8 cậu cùng cậu Tuyên và một số thanh niên giúp việc trong nhà theo lời ông bảo tham gia biểu tình và dự mít tinh lớn ở sân vận động Huế. Khi về thì biết tin ông ngoại đã bị bắt, cậu vội lại gần tủ súng săn, thấy tủ niêm phong, bèn đấm vỡ cửa kính, máu đầy tay nhưng súng đã bị tịch thu hết. Cậu bàn với anh là Phạm Bích, chị là bà Phạm Thị Ngoạn và em gái là Phạm Thị Hoàn rồi thu xếp hành lý vội vàng ra tàu hỏa đi ngay Hà Nội. Đến Hà Nội cậu kể lại mọi chuyện xảy ra với ông ngoại cho bố mẹ tôi, vợ chồng dì tôi là giáo sư Tôn Thất Bình và bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cả nhà quyết định cậu sẽ chấp bút viết một bức thư như anh chị đã bàn để mẹ tôi là bà Phạm Thị Giá và dì tôi là Phạm Thị Thức xin gặp Cụ Hồ mà trình bức thư. Bố tôi là một hiệu trưởng của Trường Thăng Long nhờ ông Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, (em ruột ông Phan Thanh làm cùng trường), hồi ấy làm việc ở văn phòng Cụ Hồ xin cho gặp. Rồi ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên của nước ta, ngày 31/8/1945 hai chị em đã được Cụ tiếp và nhận bức thư do cậu Khuê chấp bút.

Nhưng rồi, ông tôi vẫn bị sát hại, bố tôi là con rể cũng bị đưa đi an trí tối 7/9/1945. Bà ngoại và các cô cậu ở Huế được đưa ra Hà Nội an toàn và không gặp khó khăn, trở ngại gì do ông Hoàng Hữu Nam đã giữ lời hứa với mẹ tôi là “” vào các nơi suốt dọc đường gia đình ra Hà Nội. Nhà đông đến hơn 20 người. Mẹ tôi lấy tất cả số tiền gia đình dành dụm bấy lâu, mở cả các các hộp gỗ bố tôi hằng tháng dành tiền cho từng con sau này ăn học, bán bớt một số đồ dùng và còn lấy thuốc tây ở hiệu thuốc của bà em là Phạm Thị Hảo đi bỏ mối bán lẻ. Cậu Khuê tôi ngày đi học nhưng tối tối lại ra rạp chiếu phim Olympia đối diện với chợ Hàng Da chơi đàn ác coóc cùng một số bạn sinh viên làm chương trình ca nhạc ngắn trước giờ chiếu phim.

Rồi cuối năm 1946, toàn quốc kháng chiến. Dì Thức tôi đón bà ngoại và hai con út của bà về quê chồng là làng Hành Thiện Nam Định từ cuối năm trước. Còn lại khoảng 20 người già trẻ thì theo mẹ tôi về làng Tràng Cát thuộc khu Ba La Bông Đỏ huyện Thường Tín, Hà Đông quê ông họa sĩ Nguyễn Cát Tường, dạy vẽ ở trường bố tôi.

Về làng này được độ một tuần thì cánh đàn ông sốt ruột, bàn nhau về Hà Nội nghe ngóng xem sao, và lấy thêm ít đồ dùng. Đoàn đi gồm họa sĩ Nguyễn Cát Tường, bác cả Phạm Giao, cậu Phạm Khuê, chú Tôn Thất Định đem theo lão bộc Nguyễn Văn Hạt giúp việc vặt. Định sáng đi tối về.  Chiều hôm đó, cậu Khuê và ông Hạt về. Ông Hạt hớt hải kể sáng hôm ấy, cả nhóm ra phố, thì nhà bên có một người đàn ông chạy ra hốt hoảng kêu to “Pháp đánh đến Hàng Giấy rồi”. Tự vệ khu phố bắt ngay người đó và nói là tay sai địch phao đồn tin nhảm làm đồng bào nao núng. anh ong Khue tang Than Trong NinhTất cả những người quanh đó đều bị bắt, trừ người già, trẻ em. Cậu Khuê tôi tách nhóm đi tìm một người bạn thân học cùng lớp là Thân Trọng Ninh, rủ bạn cùng đi tản cư với mình. Nhưng đến giờ hẹn với nhóm vẫn không thấy bạn đến. Về nhà thì chỉ gặp cụ Hạt, nên cùng nhau về Tràng Cát. Từ đó về sau, gia đình không nhận được tin tức gì về các ông Phạm Giao, trưởng nam học giả Phạm Quỳnh, họa sĩ Nguyễn Cát Tường (tức Lemur), sinh viên nha khoa Tôn Thất Định, em trai giáo sư Tôn Thất Bình. Gia đình ông Phạm Giao lấy ngày rằm tháng bảy hằng năm làm ngày giỗ ông. Nhà tôi cứ Tết Nguyên Đán là mời cả bố tôi và chú Định về cùng tổ tiên, không có ngày giỗ riêng. Giáo sư nhà giáo nhân dân, bác sĩ Phạm Khuê mất năm 2003. Còn bạn thân của ông là thầy Thân Trọng Ninh nhà giáo ưu tú về hưu nay sống ở Huế. Năm giỗ học giả Phạm Quỳnh lần thứ 70 và lễ cầu siêu tổ chức ở chùa Vạn Phước cùng khu lăng mộ học giả Phạm Quỳnh ông Ninh đã đến dự, mang theo cả bức ảnh người bạn thân Phạm Khuê tặng ông năm xưa.

Về lại làng Tràng Cát cậu Khuê sinh viên y khoa 21 tuổi sống trong một tập thể hơn 20 người gồm cụ Hạt, u Nấm, mẹ tôi và 6 con, con út mới hơn một tuổi, còn ăn nước cháo; bác Phương vợ hai bác cả Giao và ba con; các em ông Khuê là cô Hoàn, cô Giễm, cô Lệ và cậu Tuyên 16 tuổi.

Sống như nhân dân trong xóm, cả nhà tôi ra rặng vải quét lá bằng cành gai đem về đun bếp. Ban đầu còn mua trai, hến của dân làng, sau cũng tự mò đáy sông bắt lấy mỗi khi đi tắm trong ngày. Tắm mà không hề có xà phòng. Dần dà cả nhà bắt đầu đau mắt như cả làng. Cậu Khuê bầy cách pha nước muối lọc để rửa mắt.

Trong khi tôi theo cậu Tuyên đi ven sông, thấy bên kia sông có cây gạo hoa đỏ thì lội sông đến tận nơi xem, thì cậu Khuê có anh Đại tôi đi theo lại tìm đất sét, viên thành những viên bi rồi vùi xuống cát nóng cho khô lại làm đạn súng cao su bắn chim; thiết thực hơn. Chúng tôi chỉ cốt tìm cái đẹp… Cậu Khuê hay đi thăm các gia đình trong làng, thấy nhiều bà con chưa biết chữ, cậu bàn với dân làng mở lớp xóa mù chữ, mỗi tuần dạy ba buổi tối. Mẹ tôi thương em trai, cứ mỗi tối cậu dạy học về là có một li nước chanh và đĩa rau xà lách, nằm giữa vòng cà chua đỏ, trên rau là một quả trứng luộc cắt làm sáu miếng. Rồi cậu lân la đến nhà một ông lão mù, gọi là cụ Lúa vì là cha chị Lúa. Chị Lúa, gầy, xanh, có đôi mắt rất đẹp. Cụ bằng lòng cho cậu hằng ngày mang sách vở đến nhà học ở một góc nhà yên tĩnh, sạch sẽ, cạnh cửa sổ. Hằng ngày cậu đều học ở đấy, đến bữa mới về ăn cơm; tối nào không dạy học cũng đều học một mình ở nhà đó. Chị Lúa đi làm suốt ngày, làng đó trồng màu, quanh năm rau củ quả, chị không khi nào hết việc.

Tôi ngủ cùng giường với mẹ và hai em nhỏ, nên thường nghe được chuyện cậu vào màn, to nhỏ bàn việc gia đình với mẹ tôi, lo cho cuộc sống của cả tập thể lớn này.

Tết năm 1947, nhà tôi cũng luộc bánh chưng, trẻ con cũng có bánh chưng nhỏ ăn ngay đêm giao thừa.

Được vài tháng thì có cụ Nho người làng Hành Thiện được bác sĩ Đặng Vũ Hỷ nhờ đi tìm gia đình tôi. Cụ đón một nhóm đi trước gồm toàn con gái, cô Hoàn, cô Giễm và chị An tôi 15 tuổi, cốt tránh Tây đi càn mò gái. Cụ lại về Tràng Cát đón nhóm còn lại. Nhà tôi thuê một chiếc thuyền gỗ, cả nhà ra đi, bịn rịn với bà con đùm bọc nhau những ngày gian khó. Đến chỗ thuyền rẽ ra sông lớn, tôi còn nhìn thấy bóng một số bà con và trẻ em chạy theo vẫy tay, người chạy nhanh nhất và cũng cao gầy nhất đứng đầu mỏm đất là chị Lúa.

Sau này, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, cậu tôi từ Thanh Hóa chuyển ra Hà Nội, cậu đã cùng anh Đại và tôi về thăm lại làng Tràng Cát xưa. Các đường làng rộng ra và như ngắn lại, nhà ngói cũng nhiều, hỏi thăm chị Lúa thì bà con cho biết chị nay là chủ tịch xã. Trước mặt ba cậu cháu tôi là bà chủ tịch xã cao lớn, tươi tỉnh, da rám nắng, nhưng đôi mắt vẫn đẹp chan chứa tình người.

Thuyền chúng tôi đi được vài ngày thì đến chỗ nhập vào sông lớn, đó là vùng Lạc Quần, Nho Quan. Nhưng không đi tiếp được vì bị bèo ken dày đặc. Cậu Tuyên và anh Đại bắt chước mọi người thuyền khác ra khỏi thuyền đi bộ trên bèo; anh tôi nhẹ, còn chạy được. Sau đó cậu về kể là bèo đóng chặt có đến hơn một kilômét. Mãi sau này, gặp một cán bộ lão thành là cụ Nguyễn Hữu Chương, tôi mới biết hồi ấy các vị lãnh đạo vùng ấy định dùng kế đóng cọc như ở sông Bạch Đằng năm xưa để chặn quân Pháp. Cậu Khuê theo cụ Nho đi gần hết chỗ đóng bèo thì gặp một thương gia cùng làng Hành Thiện, đi thuyền buôn lớn, lại sắp ra khỏi vùng đóng bèo. Cụ Nho và cậu Khuê nói họ rõ tình cảnh của gia đình, họ liền bằng long chở hết cả nhà. Thế là được đi  thuyền lớn, rộng rãi, ăn cơm canh nóng với cá chim khô rán suốt cho đến làng Vạn Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cả nhà được ở nhà cụ Chánh Đoán hai tầng do thân phụ bác sĩ Hỷ thuê cả tầng gác và một phòng lớn tầng dưới, cùng một căn nhà bếp riêng. Cậu Khuê nhờ bác sĩ Hỷ mà tìm được trường y và tiếp tục việc học. Anh tôi và các cô cậu đã học tiểu học thì sang Trà Bắc cách nhà độ ba bốn cây số học tiếp. Tôi được cậu Tuyên dạy, đã biết đánh vần. Còn cậu thì học chữ Nho cùng con, cháu cụ Chánh Đoán do cụ dạy tại nhà và đọc sách Anh văn, Pháp văn để ôn luyện. Thì giờ còn lại cậu đặt bài hát, dựng kịch cho các cháu. Năm 1948, cậu Tuyên tìm được trường luyện thi tú tài, đi Yên Mô Ninh Bình học, thi 300 người, chỉ lấy được có ba người, cậu đỗ. Tôi ở nhà, không có ai dậy, bèn tìm sách vở cậu Khuê để lại, đọc thấy chữ triệu chứng rất nhiều, lại có các hình vẽ vòng tròn, trong có nhiều hình cong queo kỳ lạ. Tôi ở nhà ấy, có nuôi tằm, hay thấy họ cho con ngài vào lòng bát, úp lên tờ giấy, sau ngài đẻ rất nhiều tứng thành một hình tròn to bằng miệng bát, nên tôi nghĩ triệu chứng là như thế. Anh tôi còn bảo triệu rất nhiều, không thể đếm được. Hóa ra cậu vẽ vi trùng nhìn qua kính hiển vi!

Cuối năm 1949, gia đình tôi theo bà ngoại về lại Hà Nội do cậu Bích nhờ người đón. Sau năm 1954, mới gặp lại hai cậu. Cậu Khuê bấy giờ là đại úy bác sĩ quân y phụ trách K32 ở Thanh Hóa. Cậu lấy vợ ngày 2/11 năm 1953. Đám cưới tổ chức dưới mấy cái dù lấy được của Pháp và đèn măng sông. Lần cậu về họp tại Hà Nội có đưa một số bạn cùng bệnh viện đến thăm nhà tôi. Cậu giới thiệu bạn bè xong thì đưa ra trước mặt mẹ tôi một cô bộ đội nhỏ nhắn, xanh xao, nhưng má cũng ửng hồng, và nói vui “Đây là vợ em, tên là An, tuy xanh vỏ nhưng đỏ lòng”. Cả nhà đều cười vui. Đến năm nay, 2018, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn nhớ như in cảnh gặp mặt lần đầu tiên ấy.

Rồi cậu được chuyển về làm việc ở bệnh viện Bạch Mai. Mẹ tôi mừng lắm, Nhà tôi hồi ấy ở 16 Hàng Da, có thuê hai buồng trên gác. Nhà dưới là hợp tác xã may, là nơi mẹ tôi làm việc. Hồi ấy nhà tôi sống chật vật, do mẹ tôi quyết không để các con phải bỏ học. Mẹ bàn với cậu là gia đình tôi ở phòng trông ra đường. Gia đình cậu chỉ có hai người lớn, hai trẻ con thì ở phòng trong, ngay chỗ cầu thang lên. Tiện đi về, lại chị em cậu cháu hằng ngày được thấy mặt nhau. Tháng nào cậu cũng đưa tiền nhà, nhưng chưa thấy dọn đến ở. Sau mới biết là bên nhà vợ không đồng ý và đã thu xếp cho gia đình cậu ở một chỗ khá chật chội cùng nhà ông anh vợ làm cán bộ công đoàn ở đường Triệu Việt Vương. Lúc ấy, mẹ tôi hiều, đành nhường cho người khác thuê phòng ấy. Tôi có đến Triệu Việt Vương thăm mợ và hai em Hùng, Thắng. Cũng gặp ông cán bộ công đoàn gầy gò vì bị lao và chột mắt.

Từ ngày mẹ tôi nhường lại tiêu chuẩn thuê phòng định dành cho cậu Khuê, thì hình như cậu năng ghé nhà tôi hơn. Khi thì cậu cho quần áo quân phục mới, cũng có cái cũ, bạc nhưng được giặt sạch sẽ, gấp gọn gàng, hoặc giày bộ đội cũ, nhưng sạch, có lần cho hẳn hai đôi giày da đen cao cổ, của sĩ quan. Chắc cậu thấy anh tôi và tôi 19, 16 tuổi rồi mà vẫn mặc những quần áo mẹ may đã cũ, đi dép lốp… Có khi cậu ghé nhà biếu mẹ tôi chai vitamin B1. Thường cậu đến nhà tôi trước khi đến bệnh viện. Một hôm tôi về nhà vào bữa ăn trưa thì thấy cậu đang trò chuyện với mẹ tôi. Cậu vốn nặng tai từ nhỏ, nên nói nhỏ người ngoài cũng nghe thấy. Tôi chào cậu, rồi đi ra bếp, qua cửa mở tôi nghe được câu nói này của cậu: “Nói em thì nói sao cũng được nhưng nói đụng đến Thầy là không được”. Rồi mẹ tôi bảo dọn cơm ra, hôm nay cậu ăn cơm nhà mình. Mấy hôm liền cậu sống với gia đình tôi, ngủ tạm trên cái giường xếp Liên Xô: sáng lại dậy sớm đến bệnh viện. Một chiều tôi về sớm, thì gặp mợ An đang khóc với mẹ tôi, xin mẹ tôi bảo cậu về nhà, vợ con mong lắm. Tối hôm ấy, cơm xong là cậu về nhà. Vừa dịp ấy, bệnh viện bố trí cho gia đình cậu một căn hộ ở khu tập thể Kim Liên.

Năm 1995, vợ chồng cậu và con trai út là Phạm Thắng đi Bạc Liêu thăm mẹ tôi, có cho tôi đi cùng. Cậu ở chơi đến năm ngày, mợ thì trò chuyện lo cơm nước với mẹ tôi, con trai được các cháu rủ đi xe máy thăm các chùa Khơ me quanh vùng. Cậu thường trò chuyện với tôi, có khi phải lên lầu mái tôn rất nóng vào buổi trưa, chiều, cốt để thoải mái nói được điều mình nghĩ; những ý quan trọng đều nói bằng tiếng Pháp. Tôi biết, cậu không khi nào không nghĩ đến Ông. Cậu nói được phong nhà giáo nhân dân, cũng chẳng làm gì, chỉ có ích khi người ta nhìn vào đó biết được công ơn dưỡng dục của người đã đào tạo nên nhà giáo nhân dân ấy mà thôi. Và cậu bùi ngùi khi nói cháu thân với cậu Tuyên thì bảo cậu ấy phải chú ý làm được gì thì làm, nhưng đừng để tệ hơn. Vì hồi ấy, sau năm 1986, nước ta có nhiều đổi mới trong cách đánh giá lại những sự kiện và nhân vật từng bị bùi dập xưa kia, nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu hay tìm đến nhạc sĩ Phạm Tuyên để lấy tư liệu mới cho bài của mình. Tôi chú ý lắng nghe cậu nói rất nhiều, dường như lâu nay cậu không có ai gần gụi, tin cậy ở bên.

Thật ra, tôi nghĩ cậu đạt lý nhưng chưa thật thấu tình.

Năm 2003, cậu tôi mất. Đúng năm kỷ niệm Đám cưới vàng 50 năm. Mợ cũng ngày càng héo hon. Năm 2006, mợ gửi cho vợ chồng tôi tập thơ Vầng trăng khuyết viết đến 43 bài thơ, dài có, ngắn có nhưng đều viết về cậu tôi, với nỗi nhớ khôn nguôi, kèm niềm tiếc nuối vô hạn.

Bài số 10 viết:

            Hoa Quỳnh nở rộ ba bôngVang Trang Khuyet (Do Thi An).png

            Anh ngồi ngắm cảnh mà trông buồn phiền

            Ưu tư lắng đọng triền miên

            Nước non, non nước ước mong điều gì

Bài số 43 có những câu sau:

Ai gây khó dễ nhiều phen

Trời thương nên vẫn nên duyên vợ chông

Thủy chung cho đến tận cùng

Cậu Khuê tôi đã sống trọn một cuộc đời vì mọi người. Cái đau, nỗi buồn chỉ giữ trong lòng, không muốn làm phiền, làm bận đến ai. Cả đời cậu không hút lấy một điếu thuốc lá. Vậy mà lại bị ung thư phổi. Ra đi ngay sau khi động dao kéo. Chỉ vì chịu quá nhiều khói thuốc lá của những người xung quanh.

Cậu mất đi không được thấy Khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh tại quê cha Hải Dương xây dựng xong năm 2014. Cũng không được thấy Khu lăng mộ nhà văn hóa Phạm Quỳnh tại Huế, nơi nhà văn hóa đã sống 13 năm cuối đời và gửi di thể lại đây. Tượng Phạm Quỳnh đã được dựng từ 2016. Và tiếc nhất là cậu không được dự Lễ Vinh danh thân phụ là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại tại thành phố Hồ Chí Minh, do Quỹ Phan Châu Trinh tổ chức năm 2018.

Sài Gòn ngày 30/8/2018

P.T.

 

GIÁO SƯ PHẠM KHUÊ NGƯỜI THẦY HOÀN HẢO

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 9 năm 2018.

GIÁO SƯ PHẠM KHUÊ

NGƯỜI THẦY HOÀN HẢO

GS TS Nguyễn Khánh Trạch

Lời dẫn của Phạm Tôn: GS Phạm Khuê (1925-2003) là người con thứ tám trong số 16 người con của học giả Phạm Quỳnh. Khi nổ ra cuộc Cách Mạng Tháng Tám thì Phạm Khuê đang là sinh viên trường đại học y khoa, sống cùng gia đình chị cả Phạm Thị Giá (1913-2000) tại nhà số 5 Phố Hàng Da, Hà Nội.

Biết rõ việc cha bị bắt trưa 23/8/1945, Phạm Khuê đã viết bức thư kêu oan gửi Hồ Chủ tịch để hai chị lớn đem lên Bắc Bộ phủ khi được Hồ Chủ tịch tiếp trưa ngày 31/8.

Vừa kéo đàn phong cầm phụ giúp gia đình chị tại rạp chiếu bóng Olympia ở gần nhà, Phạm Khuê vừa tiếp tục học. Kháng chiến toàn quốc, Phạm Khuê cùng gia đình chị và các chị, em, cháu tản cư về làng Tràng Cát, thuộc Ba La Bông Đỏ, Thường Tín Hà Đông. Sau đó, đưa gia đình về làng Vạn Lộc, Xuân Trường Nam Định. Rồi tiếp tục tìm trường đã chuyển đến địa điểm mới và tiếp tục học. Từ đấy, Phạm Khuê tham gia kháng chiến, cứu chữa cho thương binh, gia nhập quân y, đến năm 1954, về lại Hà Nội thăm chị cả, thì đã ở cấp đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, phụ trách một viện quân y ở Thanh Hóa. Vợ, cũng là đồng đội. Và ông đã được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ.

Pham Khue

Sau khi chuyển về công tác tại trường đại học y Hà Nội và bệnh viện Bạch Mai, Phạm Khuê làm chủ nhiệm bộ môn Nội, rồi từ những năm đầu thập kỷ 1980, ông đề xuất thành lập khoa bệnh riêng cho người cao tuổi, tiền thân của Viện Lão khoa quốc gia Việt Nam và làm viện trưởng đầu tiên của viện, cũng làm chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Phạm Khuê là người con đầu tiên vô Huế, tìm và viếng mộ Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Ông được phong Nhà giáo Nhân dân và đã trúng cử đại biểu quốc hội khóa X của tỉnh Hải Dương – quê cha với số phiếu cao nhất đơn vị bầu cửsố I, đạt tỷ lệ 86,11% trong 332.921 cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Phạm Khuê là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam  từ năm 1958.

Bài chúng tôi dăng sau đây đã đăng trên các trang 6 và 7 báo Sức khỏe và Đời sống số 528, tháng 2.2009.

—o0o—

Trong toàn bộ cuộc đời gần 50 năm làm nghề y của tôi, có 2 người mà tôi rất kính trọng và có ảnh hưởng rất nhiều đối với tôi từ kiến thức chuyên môn, nhân cách, tác phong đến phương pháp tư duy, đối nhân xử thế…Đó là GS. Đặng Văn Chung và GS. Phạm Khuê. Tôi mãi mãi nhớ tới họ.

BẬC THẦY VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ PHONG CÁCH GIẢNG DẠY

Trong sự nghiệp đào tạo của Nhà giáo nhân dân, GS.Phạm Khuê, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Nội của Trường Đại học Y Hà Nội, có thể nói về số lượng là không thể tính xuể, không biết bao nhiêu sinh viên, bao nhiêu tiến sĩ, bao nhiêu thạc sĩ, bác sĩ (BS) nội trú, bao nhiêu BS chuyên khoa I, chuyên khoa II… Nhiều người trong số họ, nay đã trở thành Giáo sư, Phó giáo sư lãnh trách nhiệm chủ chốt trong ngành Y. Những người đó dù ở cương vị nào, học trò cũ đã lâu hay mới đều nhắc đến giáo sư với tấm lòng ngưỡng mộ, đều coi giáo sư là một người thầy hoàn hảo, hoàn hảo về nhân cách, về phương pháp sư phạm, về phong cách giảng dạy… Thầy thường nói với tôi: giảng dạy là một công việc nhọc nhằn, nghiêm túc, không thể dễ dãi qua loa được. Cho nên mỗi khi giảng một bài lý thuyết hay một bài giảng lâm sàng, thầy đều chuẩn bị rất kỹ có khi cả tuần hoặc cả tháng. Điều quan trọng là phải có cái mới dù ít dù nhiều, nếu không thì mình chỉ là chiếc máy quay đĩa, quay đi quay lại không hơn không kém. Muốn vậy cần phải đọc, đọc thật nhiều, rồi ghi chép lại, chụp hình. Việc đó ở ta vào thời của thầy là hết sức khó khăn, có khi còn phải chụp hình màu nữa, lại càng khó khăn hơn, mặc dù vậy, thầy vẫn phải chuẩn bị đầy đủ ở mức tối đa để bài giảng được sinh động hấp dẫn.

PHAM khue ngoi ban giay

Có lần tôi được cử cùng thầy chấm thi tốt nghiệp BS cho sinh viên về môn Nội khoa. Khi kết thúc buổi chấm, tôi và thầy ngồi lại ít phút trò chuyện vui. Trong lúc trò chuyện, thầy hỏi tôi: nếu là bộ đội, anh thích làm pháo binh hay công binh. “Pháo binh tất nhiên là oai hơn công binh rồi”, tôi trả lời. Ấy vậy mà hôm nay tôi thấy thầy là một người lính công binh, chứ không có chút mùi thuốc súng nào của lính pháo binh. Thầy giải thích thêm: nhiệm vụ lính công binh là mở đường cho xe qua, đối với sinh viên cũng vậy, ta phải mở đường cho họ có lối thoát, nếu ta lại là anh lính pháo binh chắn mọi đường thì sinh viên nào thoát nổi, riêng tiếng nổ cũng đã làm cho họ hoảng hốt rồi. Trong giảng dạy cho sinh viên, không những thầy tận tình, mẫu mực thị phạm mà còn là người giảng rất thực tế, không cao xa viển vông. Trong hỏi thi và kiểm tra cũng vậy, thầy chỉ hỏi những gì mà các em đã được dạy và được học, không đòi hỏi kiến thức cao xa mà ít gặp trong thực tế, không đòi hỏi sinh viên phải bằng mình. Thầy còn là một nhà sư phạm mẫu mực, các bài giảng của thầy đều dễ hiểu, dễ áp dụng, chỗ nào cần nhấn mạnh phải nhấn mạnh. Thầy thường nói với tôi: giảng bài cũng giống như chơi đàn vậy, có lúc lên bổng xuống trầm, lại có cả điệp khúc nữa, tất nhiên là không thể hát trên bục giảng được. Không nên giảng đều đều, đó là điều tối kị.

Trong nhà thầy tài sản quý giá nhất, nhiều nhất cũng là những tủ gỗ đầy ních sách báo, chung quanh tường phòng ông làm việc toàn sách là sách, chất từ mặt sàn lên đến đụng trần nhà. Thầy thường tâm sự với tôi, đọc sách là một nhu cầu, một thói quen hằng ngày không thể thiếu được, còn quan trọng hơn cả ăn, ngủ. Thầy nói thêm, tất nhiên mình già rồi, thời oanh liệt đã trôi qua, bây giờ chỉ là thời “liệt” nên không còn thú vui nào khác nữa. Một ngày không đọc thì không chịu được, mỗi ngày phải thu nhận được một cái gì đó mới đối với mình. Đọc đã trở thành niềm say mê, là tình yêu, là nỗi nhớ, là hạnh phúc của mình. Hình phạt nặng nhất với mình là không được đọc sách.

Theo thầy, đầu tiên là phải đọc để biết người ta làm gì, làm đến đâu. Sau đó mới nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc điều trị. Những kiến thức khi còn đi học trong nhà trường rất ít ỏi, chỉ là một ốc đảo nhỏ để từ đó ta nhảy vào biển cả mênh mông của kiến thức nhân loại. Không thể hình dung được một người không đọc hoặc ít đọc sách báo mà lại có thể làm tốt giảng dạy, nghiên cứu khoa học và điều trị bệnh nhân được, người đó nhất định sẽ tụt hậu như người xuống dốc không phanh. Đọc chính là chìa khóa, là cái phanh ngăn người ta tụt dốc và thúc đẩy người ta tiếp tục đi lên.

TRÁI TIM NHÂN HẬU VÀ ĐẦY CHẤT NGHỆ SĨ

Trong mấy chục năm làm việc với GS. Phạm Khuê, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ ân cần, chân thành. Tôi nhận thấy ở thầy một con người khiêm tốn, điềm đạm, hóm hỉnh và dí dỏm, thận trọng, mẫu mực thị phạm trong tất cả các mặt như: cư xử, giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như công việc cứu chữa bệnh nhân. Tôi chưa bao giờ thấy thầy tỏ ra kiêu căng, hách dịch, coi thường người khác. Thầy thường nói với tôi: mình muốn người ta tôn trọng mình, thì mình phải tôn trọng người ta, hãy đến với mọi người bằng cả tấm lòng và trái tim mình, rồi thầy lại hóm hỉnh nói thêm vào: “Tôi nói đến trái tim không phải vì tôi là chuyên gia tim mạch đâu nhé, hơn nữa trái tim tôi nó cũng bé nhỏ thôi, không to bằng những người khác được”. Thầy rất ghét thói ba hoa, huênh hoang, khoe khoang, khoác lác, thổi phồng thành tích để được khen thưởng, mình làm việc đâu có phải để được khen.

Khối kiến thức khổng lồ từ sách vở kết hợp với bề dày kinh nghiệm trong thực tế của mình, thầy đã cho ra đời gần 70 công trình nghiên cứu khoa học, trong đó 2/3 là những đề tài về người cao tuổi, trên 20 đầu sách về bệnh học người cao tuổi. Trong nghiên cứu khoa học, thầy là người hết sức nghiêm túc và khách quan, hầu hết những công trình nghiên cứu khoa học và những cuốn sách của thầy đều nhằm phục vụ cho việc chăm sóc, nâng cao và bảo vệ sức khỏe người cao tuổi. Không biết bao nhiêu người bệnh đã được thầy chữa chạy với tất cả lương tâm và trách nhiệm, cũng như sự thông cảm chia sẻ. Thầy thường nói, điều trị cho người cao tuổi khó hơn cho những lứa tuổi khác, cần phải thông cảm thấu hiểu nỗi đau của họ.

Có một lần bộ môn Nội tổ chức liên hoan, đến phần văn nghệ thầy xung phong đầu tiên với chiếc phong cầm đeo trước ngực, không cần ai giới thiệu, thầy nói: “Ca sĩ “Thúy Khuê” xin cống hiến một bài, xin mọi người cố gắng lắng nghe”. Mọi người cười rộ lên về cái tên Thúy Khuê, buổi liên hoan trở nên hết sức vui nhộn. GS. Phạm Khuê không những là một thầy giáo mẫu mực thị phạm, một thầy thuốc nhân từ, tận tụy mà còn là một nghệ sĩ chơi đàn phong cầm rất hay, mọi người rất khâm phục, Cái tính cách hóm hỉnh dí dỏm của ông đã xóa đi sự ngăn cách giữa người thủ trưởng và nhân viên, giữa thầy với trò. Thầy luôn sống chan hòa với mọi người nên ai cũng quý mến. Tôi không hề nghe thấy một ai phàn nàn về cách đối nhân xử thế của thầy.

Phạm Khuê là người đầu tiên đề xuất thành lập một khoa bệnh riêng cho người cao tuổi ở bệnh viện Bạch Mai ngay từ những năm đầu của thập kỷ 80, mà sau này là Viện Lão khoa quốc gia Việt Nam ngày càng vững mạnh và phát triển, niềm tin của những người cao tuổi

N.K.T.

Vì sao Phạm Khuê viết được ngay bức thư gửi cụ Hồ?

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 9 năm 2018.

VÌ SAO PHẠM KHUÊ VIẾT ĐƯỢC NGAY BỨC THƯ GỬI CỤ HỒ?

Blog PhamTon

Sau khi chúng tôi đưa lên blog bài của Dã Thảo Ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh, trong đó có chi tiết: “Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê (…) chấp bút viết theo ý của ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế”, nhiều bạn đọc cả trong và ngoài nước đã hỏi vì sao Phạm Khuê 20 tuổi, sinh viên trường Y ở Hà Nội lại có thể biết rõ và viết được ngay bức thư gửi Hồ Chủ tịch nói về việc cha bị bắt ở Huế, để hai chị kịp đưa lên Hồ Chủ tịch nếu được Người nhận tiếp. Vì Phạm Quỳnh bị bắt trưa 23/8 mà ngày hai bà được gặp Cụ Hồ lại là ngày 31/8/1945, chỉ vẻn vẹn một tuần. Mà còn phải viết trước, vì chưa biết khi nào được tiếp. Thời gian gấp gáp như vậy, trong khi hồi đó, giao thông liên lạc trong nước ta còn rất lạc hậu, sao có thể nhanh như vậy được. Tóm lại, sự thật có phải như đã viết không?…

Chúng tôi cảm động trước sự quan tâm của bạn đọc đến mức chú ý cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong các bài viết trên blog. Chính vì thế, sau khi được hỏi, chúng tôi bắt tay ngay vào việc rà soát lại các tư liệu gốc (đặc biệt là tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng Phan Hàm viết ngày 8/11/1993 gửi Tuyên huấn Thừa Thiên Huế và bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên –Huế số 3 (56). 2006), gặp gỡ trực tiếp hoặc qua điện thoại với những nhân chứng hoặc người biết rõ sự việc Phạm Quỳnh bị bắt trưa 23/8/1945. Đến nay, đã có thể trình bày vắn tắt với các bạn như sau.

Năm 1945, gia đình Phạm Quỳnh vẫn ở Huế như từ năm 1932 khi ông vào Huế làm quan. Riêng Phạm Khuê đang học đại học Y khoa Hà Nội cho nên ra sống ở Hà Nội tại nhà số 5 phố Hàng Da với gia đình bà chị cả Phạm Thị Giá cùng chồng là giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng Trường Thăng Long. Nhưng khi Cách Mạng Tháng Tám bùng nổ thì Phạm Khuê lại ở Huế vì đang được nghỉ hè. Và đúng ngày 23/8 định mệnh ấy, anh có mặt tại Huế. Nhưng khi cha bị bắt thì …  lại không có mặt ở nhà! Vì từ sáng sớm hôm ấy, nghe có tin “cách mạng sẽ tổ chức cuộc mít tinh lớn tại sân vận động Huế, mời đông đảo đồng bào tham dự”, thì Phạm Quỳnh đã bảo các con trai lớn và người giúp việc trẻ trong nhà chuẩn bị tham gia, lại dặn mua sẵn cờ đỏ sao vàng nhỏ cầm khi đi mít tinh. Mấy hôm trước, biết tin Cách Mạng Tháng Tám thành công ở Hà Nội, Phạm Quỳnh đã bảo người nhà, vợ và các con gái lấy hết vải đỏ, vải vàng nhà hiện có, hạ cả các màn bàn thờ hai màu đó để may gấp cờ đỏ sao vàng treo khắp mặt tiền nhà. Ông bảo “Nước ta độc lập rồi, thế là việc đáng mừng nhất”. Và chiều hôm ấy, theo lời cha, Phạm Khuê, Phạm Tuyên và đám người nhà trai trẻ đều cầm cờ đỏ sao vàng đến sân vận động dự cuộc mít tinh do Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh tổ chức. Ở nhà, chỉ còn vợ chồng Phạm Quỳnh, vợ chồng cô Phạm Thị Ngoạn, cô Phạm Thị Hoàn và mấy em gái. Phạm Tuân, con trai út của Phạm Quỳnh và mấy đứa cháu nội, ngoại thì chơi tha thẩn ở sân nhà. Khi Phạm Quỳnh bị bắt, các con ông chứng kiến chỉ có hai cô Ngoạn, Hoàn và em trai Phạm Tuân chín tuổi. Khám xét nhà, ngoài một ít sách vở, còn mấy khẩu súng săn của Phạm Khuê, cũng bị tịch thu nốt.

Phạm Khuê vốn bản tính hiền lành, nhưng lại thích săn bắn và bắn khá giỏi. Lần bọn con, cháu trai và người nhà kéo nhau đi săn gần Huế, Phạm Khuê đã bắn được một con lợn lòi lớn, nặng đến nỗi khi khiêng lên để chở về thì đò suýt đắm, mọi người đều phải lên bờ đi bộ, chỉ Phạm Khuê và người lái được ngồi đò.

Chiều hôm ấy, Phạm Khuê dự mít tinh và đi tuần hành về đến nhà, tay vẫn còn cầm cờ đỏ sao vàng thì chị và các em cho biết cha và anh rể là chồng bà Ngoạn đã bị bắt. “Người tính hiền lành, thường hay cục”, Phạm Khuê chạy vội vào nhà, đến ngay tủ súng săn của mình, thấy tủ bị niêm phong, thì đấm vỡ kính, chảy cả máu tay. Nhưng tủ trống rỗng … Sau này, vào những năm 90 thế kỷ trước, em út Phạm Tuân từ Mỹ về thăm có nhắc lại chuyện này trước mặt cả gia đình Phạm Khuê. Ông mỉm cười, lắc đầu rồi nói: “Nếu lúc ấy còn súng thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra và cuộc đời anh sẽ ra sao…” Bây giờ, ông đã là giáo sư đầu ngành lão học, viên trưởng Viện Lão khoa, chủ tịch Hội người cao tuổi, đại biểu Quốc hội, Nhà giáo Nhân dân và là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mấy mươi năm rồi.

Sau đó, Phạm Khuê lên ngay tàu hỏa ra Hà Nội, báo tin chẳng lành cho gia đình hai chị. Cả nhà cùng bàn để hai chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức (là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I) xin lên gặp Cụ Hồ, mang theo thư do Phạm Khuê chấp bút thảo, theo ý kiến của cả nhà.

Chị cả Phạm Thị Giá, tìm gặp ông Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, em ruột ông Phan Thanh là người quen biết đã lâu, cùng làm việc ở Trường Thăng Long với chồng bà. Từ đó dẫn đến buổi hai bà được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ trưa ngày 31/8/1945, ngay sau khi Người duyệt lại lần cuối bản thảo Tuyên Ngôn Độc Lập sẽ đọc ngày 2/9/1945, ngày Quốc khánh đầu tiên của nước ta. Người nói: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này sẽ được lịch sử đánh giá lại.”

Chính Phạm Khuê từ Huế ra sau khi đã biết rất rõ việc cha bị bắt như thế nào cho nên anh viết ngay được chính xác về sự việc này để hai chị kịp trình lên Cụ Hồ.

Sau thời gian thương thảo với phía Hoa Kỳ về hiệp định hòa bình Việt Nam ở Paris, có lần ông Lê Đức Thọ, trưởng đoàn đàm phán của ta hồi đó đã chọn Giáo sư Phạm Khuê đi cùng sang Paris. Chính ông Lê Đức Thọ đã nói Phạm Khuê có người nhà ở Paris thì nên đi thăm. Và đã tạo điều kiện cho Phạm Khuê gặp chị gái là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong trình Đại học Sorbonne và em gái Phạm Thị Hoàn, cùng chồng là nhạc sĩ tài hoa Lương Ngọc Châu.

Sự thật là như vậy. Giản dị và thật, đúng như… sự thật vậy.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/9/2010.

B.P.T.

.

Tháng Tám 31, 2018

Trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm mười, kỳ 1 tháng 9 năm 2018.

TRƯỞNG NỮ CỦA HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh, sinh ngày 27/10/1913 (tức 28 tháng 9 năm Quý Sửu) tại nhà số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, sau anh trai là Phạm Giao, trưởng nam, sinh năm 1911. Nhưng, bà lại mất ở Bạc Liêu, tại nhà con gái út, nơi bà sống tám năm cuối đời, ngày 16/12/2000 (tức 21 tháng 11 năm Canh Thìn).

Đám tang bà giản dị, ngoài gia đình cô con út sống ở Bạc Liêu, hai con trai từ Hà Nội, chỉ có cháu đích tôn, bố mẹ cháu, bốn người cháu gọi bằng bác, một người bạn của gia đình từ Thành phố Hồ Chí Minh về và bà con lối xóm, bạn bè vợ chồng cô con út. Đó chính là làm theo lời bà dặn từ nhiều năm trước khi mất mà tất cả các con đều nhớ rõ: “Suốt đời mẹ chỉ sống cho gia đình, không làm nên việc gì ích nước lợi dân, cho nên mẹ muốn khi chết, không loan báo trên báo đài gì hết, chỉ những bà con gần gũi biết là được rồi.

Đám tang lặng lẽ đi trong mưa nhẹ phương Nam…

Cuộc đời gần một thế kỷ của bà không ít thăng trầm, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới và hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc suốt hơn ba mươi năm ròng,  và thời bao cấp khốn khó sau chiến thắng thống nhất đất nước. Bà đã làm tròn trách nhiệm người công dân Việt Nam yêu nước thương nòi như thân phụ bà và làm tròn nhiệm vụ người vợ thảo, người mẹ hiền, một mình nuôi dạy bầy con thơ dại nên người.

Ba bo va chu than

*

*      *

Là con gái trưởng, gia đình lại đông con, mới 15 tuổi đầu bà đã phải phụ mẹ lo việc gia đình, chăm sóc đến…tám em nhỏ. Kể cả bế ẵm các em, cho các em ăn. Cho nên bà chỉ học tiểu học, không được học lên.

Năm 18 tuổi thì lấy chồng, một chàng trai xứ Huế, có chí, có tài, nhưng nghèo, con một quan huyện từ quan khi chưa đến tuổi bốn mươi, vì không chịu làm theo lệnh quan Tây đi bắt Cộng sản, những người mà ông khẳng định lương thiện, không thể bắt.

Vợ 18, chồng mới 24, lại gánh một gánh nặng bên nhà chồng đông chị em…

Bà không bao giờ quên những ngày còn ở bên cha mẹ, mà bà gọi là thầy, me. Bà gần gũi với cha, thức chép các bài cha dịch miệng đến khuya, đun nước pha trà cho cha, bổ cam cha xơi lấy sức mà làm việc. Chính ông đặt tên cho bà là Giá, cái giá, vì khi mới sinh, bà trắng như cái giá. Thật là dân dã nôm na và biết bao yêu thương. Khi bà sinh con gái đầu lòng, cũng là lúc ông vào Huế làm quan, ông bảo khi nào cho cháu vào Huế là thăm được cả bên nội, bên ngoại. Hai vợ chồng bà sống nhiều năm tại nhà số 5 phố Hàng Da, nơi gia đình ông từng sống và có thời còn là trụ sở tạp chí Nam Phong nổi tiếng hồi đầu thế kỷ XX. Các em Phạm Bích học Luật, Phạm Khuê học Y đều sống ở nhà bà. Ngoài ra, còn có ông anh họ và em trai chồng bà cũng từ Huế ra Hà Nội học. Vợ chồng bà cưu mang tất cả. Chồng bà là Tôn Thất Bình, dạy học ở trường Gia Long, sau là hiệu trưởng điều hành của Trường trung học Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng. Từ ngày có con đầu lòng, ông còn nhận làm chủ bút cho tờ La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam). Mỗi tháng lĩnh lương, ông lại bỏ tiền vào từng cái hộp gỗ nhỏ, ngoài có ghi tên từng đứa con, để sau này lo cho việc học hành của các con. Gia đình bà Giá sống êm ấm như vậy cho đến năm 1945, nhiều biến cố đã xảy ra, khiến bà từ một phụ nữ chỉ biết lo cơm ngon canh ngọt, dạy dỗ các con đã phải đứng ra chèo chống cả một gia đình, mà không phải chỉ là gia đình nhỏ của riêng bà.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, em trai Pham Khuê về nghỉ hè ở Huế vội ra báo cho chị biết cha đã bị bắt ngày 23/8. Bà cùng chồng và vợ chồng người em gái là bà Phạm Thị Thức và bác sĩ Đặng Vũ Hỷ bàn nhau phải xin gặp Cụ Hồ để kêu oan và giao cho em Khuê là người biết rõ sự việc viết thư trình Cụ. Bà nhờ ông Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và công tác ở văn phòng Chủ tịch xin được gặp. Ông Phan Bôi là em ruột ông Phan Thanh, cùng làm việc ở Trường Thăng Long với chồng bà Giá. Ông Nam sốt sắng nhận lời và sau đó, ngày 31/8/1945, hai chị em bà được Cụ Hồ tiếp lúc 11 giờ, nhận thư, ngay sau khi Cụ duyệt lại lần cuối cùng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập sẽ đọc ngày 2/9.

Sau này, bà vẫn nhớ mãi thái độ thân thiết ân cần của người đứng đầu Nhà nước trong buổi tiếp và lời dặn của Cụ nói các chị cứ yên tâm, tôi sẽ xem xét. Chính vì thế, bà lại càng không thể hiểu được vì sao sau đó thân phụ lại bị hạ sát bí mật, hơn ba tháng sau mới công bố trên hai tờ báo nhỏ của địa phương.

Bấy giờ, bà đang bụng mang dạ chửa cô con út.

Sau quốc khánh đầu tiên của nước ta, báo chí loan “tin vui” là từ nay chấm dứt các vụ bắt bớ, nhân dân yên tâm làm ăn dưới chế độ mới. Nhưng lạ thay, vẫn có “ngoại lệ”. Tối 7/9/1945, có hai người xưng là học trò cũ, đến nhà xin đưa thầy Tôn Thất Bình đi giữa lúc ông cùng gia đình đang ăn bữa tối. Quá bất ngờ và đau khổ tột cùng, bà Giá đau bụng dữ dội và đã sinh con gái út ngay 10 giờ đêm hôm sau, 8/9/1945.

Những tưởng “hai học trò mời thầy đi có việc” ít lâu sẽ về nên bà Giá chưa vội cho làm khai sinh, chờ chồng về làm như những lần trước. Nhưng chờ mãi không thấy, mới nhờ em rể là dược sĩ Phùng Ngọc Duy làm giấy khai sinh cho cháu. Thành ra, trễ mất 10 ngày. Nay đã ở tuổi 65 mà chưa biết mặt cha, giấy khai sinh của bà Tôn Nữ Thanh Nhàn vẫn ghi ngày sinh là 18/9/1945.

Đẻ con xong, bà hoàn toàn mất sữa và bị liệt, mắt mờ, phải điều trị hơn nửa năm mới đi lại được và nhìn thấy đường. Bà lo ngay việc kiếm sống cho gia đình nay đã mất nguồn sống do chồng mang về hằng tháng, lại cưu mang thêm bao nhiêu người ngồi không. Vì từ sau ngày 23/8, được sự giúp đỡ của ông Hoàng Hữu Nam, cả đại gia đình trong Huế đã ra sống ở nhà số 5 phố Hàng Da này. Ông anh cả và bà vợ hai với ba con, các em trai gái, cộng lại tất cả gần hai chục miệng ăn. Bà em đón mẹ và các em nhỏ về sống cùng, còn lại, bà gánh hết… Đi lại được là bà Giá lên bà em có chồng dược sĩ mở hiệu thuốc, cất thuốc, cho vào cái làn mây trắng nhỏ, xách đi bán ở các nhà quen, vì hồi ấy thuốc khan hiếm, ai cũng cần. Rồi lại nhờ ông Hoàng Hữu Nam, biết được chỗ và được cấp phép đi thăm nuôi chồng “an trí” ở Hoài Đức Hà Đông, mang cho chồng sách học tiếng Anh Anglais sans Peine (Tiếng Anh dễ học) để ông học cho qua thời giờ. Cậu em Phạm Khuê, thương chị và hiểu cảnh nhà, ngày đi học, tối ra rạp Olympia ở trước chợ Hàng Da, kéo đàn phong cầm trước khi chiếu phim, Phạm Tuyên, mới 15 tuổi, chưa làm được gì… Cứ thế, bà Giá dốc dần các hộp nhỏ đề tên các con ra để chi tiền chợ hằng ngày. Cho đến năm 1946, tình hình kinh tế gia đình đang lúc kiệt quệ nhất thì có lệnh tản cư, toàn quốc kháng chiến bắt đầu.

Gia đình bạn bè bà đều về quê, nhưng bà biết về quê nào… Quê chồng thì quá xa, quê cha thì đã mấy đời định cư ở Hà Nội rồi, còn ai biết mình! Bàn với bà bạn thân là Nguyễn Thị Nội, ở ngay trước cửa nhà, cùng phố. Thì bà này mời về quê chồng, tức họa sĩ Nguyễn Cát Tường, cha đẻ của áo dài tân thời, cũng là thầy dạy vẽ ở trường Thăng Long. Thế là bà Giá chân yếu tay mềm, ngày trước chỉ nhất nhất theo lời chồng, đã dẫn đại gia đình gần 20 người cả lớn lẫn bé kéo nhau về làng Tràng Cát Hà Đông. May nhà ông anh họ họa sĩ có cái nhà mới làm, chuẩn bị cho con trai lấy vợ, ba gian, hai chái, tường gạch, mái rơm sẵn sàng cho mượn. Cả non hai chục con người về đấy, cũng vào rừng vải quét lá mà đun, ra sông nông trong vắt mò trai, hến, vẹm mà nấu, xào. Dần dà, trẻ con người lớn đều bị ghẻ lở như dân làng, phải nấu lá xoan mà tắm. Và đau mắt đỏ, phải nhỏ … nước muối. Mùa đông, nẻ, rán mỡ gà mà thoa mặt. Con út bà đành sống bằng cháo loãng pha với đường đỏ. Con trai út, thì ăn một bát xôi nhỏ mỗi sáng cùng cô bé chị họ đều ba tuổi. Còn tất cả, từ năm tuổi trở lên, thì nhịn. Ngày chỉ ăn hai bữa cơm độn ngô, khoai với củ cải muối cả củ như dân làng. Hôm nào mò được trai, sò, hến thì mới có chất đạm.

Được hơn nửa năm thì kiệt quệ quá, bà bàn với Phạm Khuê, 21 tuổi, tìm về nhà bà em kế là bà Thức đang ở quê chồng tận Nam Định. Móc nối được rồi, bà Thức cho người ra Hà Đông đón, cả nhà đi thuyền về Nam Định. Đến ngã ba sông Tam Tòa, Nho Quan thì bị vướng một thảm bèo dày hàng thước, người đi trên mặt bèo được, dài hàng cây số, do tắc ở hàng cọc cắm xuống lòng sông để “chống tàu chiến giặc Pháp”. Phải bỏ thuyền nhỏ, đi bộ trên bèo, lên thuyền lớn mới về đến nhà bà em.

Ở đấy được hơn một năm thì cô con thứ hai của bà ho ra máu mấy lần, chỉ còn cách đưa về Hà Nội may ra mới cứu được. Bà đành bỏ lại con gái lớn và hai con trai nhờ bà ngoại nuôi, đưa con gái đau yếu và hai con nhỏ ra Hà Nội. Phải thuê người gánh mới đi nổi đường xa. Thằng anh năm tuổi, một bên thúng; thúng kia con em gầy yếu phải dằn thêm mấy hòn gạch mới gánh được.

Bà đi sau, đỡ con gái đau yếu. Vất vả lắm mới theo kịp người đàn bà nhà quê gánh hai con nhỏ. Cuối cùng cũng về đến Hà Nội tạm bị giặc Pháp chiếm. Gặp lại bà em có chồng dược sĩ tạm lo cho nơi ăn chốn ở là bà nghĩ ngay đến việc đưa con gái đi chữa bệnh. Chiếu điện, thì ra bị lao nặng, hai phổi đã nát gần hết. Hồi ấy, ở Hà Nội cũng chưa có thuốc đặc trị, nghe nói còn đang thử nghiệm tận bên Pháp. Bà em đành lo thuốc thang cho cháu với các thuốc tìm được, “cầm cự được tới đâu hay tới đó”. Cô gái 14 tuổi phải kiêng khem, ăn riêng, ở riêng một buồng nhỏ. Khổ nhất mà cũng buồn nhất là không được lại gần hai em ở cùng nhà, lại khôn nguôi nhớ ba chị em ở xa. Một đêm mưa lạnh, bà đang nằm bên hai con nhỏ thì nghe có tiếng thét to, ghê rợn, hốt hoảng từ buồng con gái. Bà vội chạy ngay đến mở cửa thì thấy cô gái mặt xanh nhợt, đang gục đầu bên thau rửa mặt đầy máu. Bà đỡ ngực con, vuốt nhẹ lưng, lấy khăn lau mặt cho sạch rồi hỏi nhẹ nhàng: “Nó ra thế này là tốt lắm, con có thấy nhẹ người không…”. Cô gái nhắm mắt nằm yên trong lòng mẹ, thở nhẹ nhàng và thiu thiu ngủ. Sau này, chính bà cũng không hiểu vì sao lúc ấy mình có thể bình tĩnh, mà nói được câu ấy… Bà gọi thợ may về nhà, may đo cho cô một cái áo dài lót bông màu đỏ sẫm, nổi bật khuôn mặt thanh tú, xinh đẹp của cô gái 15 tuổi, đôi má bà thêm chút phấn hồng. Bà đưa cô đi xem kịch ở nhà hát lớn, tối tối lại đọc truyện cho cô nghe. Các truyện trinh thám, mới đọc được nửa chừng , cô đã đoán ra kết cục, không muốn nghe nữa. Những chuyện tình cảm thì thường là buồn, kết thúc bi đát, bà không muốn cô thêm nặng lòng vì những chuyện không đâu. Cuối cùng, chỉ đọc truyện cổ tích và chuyện cười. Cứ như thế, hằng ngày bà đi mua đồ gỗ cũ về nhà sơn hoặc đánh véc ni lại, cho sửa chữa chút ít rồi bán giá rẻ cho những gia đình mới “hồi cư” về Hà Nội, cũng tạm đủ tiền ăn hằng ngày. Tiền thuốc men chữa bệnh tốn kém nhất thì đã có bà em lo. Nhưng rồi cũng chỉ cầm cự được gần hai năm thì cô gái mất, đám tang toàn hoa loa kèn trắng.

Ít lâu sau, ba đứa con nương nhờ bà ngoại cũng về đoàn tụ với gia đình. Cô con cả đi làm cho bà em ở hiệu thuốc, còn hai em trai, bà lo tìm ngay chỗ học cho con. Lỡ năm học, đành vào học trường tư. Lại thêm một khoản tiền phải chi. Bà bỏ nghề bán đồ gỗ cũ chuyển sang mở cửa hàng may y phục phụ nữ và trẻ em. Được mấy năm thì nghe tin Hà Nội sắp giải phóng. Bạn bè, bà con đến khuyên gia đình bà nên đi Nam “để tránh cộng sản”, chí ít, cũng nghĩ đến tương lai các con trai mà cho chúng đi. Bà vẫn quyết định cả nhà ở lại. Lý do thật đơn giản mà vững chắc: Bà chờ chồng về… Mấy ngày trước khi Hà Nội giải phóng, đọc các tờ rơi kêu gọi đồng bào chuẩn bị đón quân ta vào giải phóng thủ đô, bà cho may thật nhiều cờ đò sao vàng, bày ở tầng dưới quầy. Có tối, lính Tây mũ đỏ say sỉn sau khi nốc rượu ở quán gần nhà, vào cửa hàng, thấy có bày bán cờ đỏ sao vàng chúng hỏi. Thì bà thản nhiên đáp bằng tiếng Pháp: “Cờ của nước chúng tôi đó…” Chúng nghe, rồi xua tay, bỏ đi, không gây gổ gì. Cà nhà và hàng xóm nữa, ai cũng sợ. Còn chính bà Giá, sau này nói với mọi người là không hiểu sao lúc ấy mình không sợ mà lại dám nói như thế.

Rồi Hà Nội giải phóng, cả nhà bà vui mừng cùng đồng bào thành phố đón quân ta về, mong ngày đoàn tụ với người thân mười năm xa cách. Tối nào bà cũng đi họp phụ nữ, con cái thì đi họp thanh niên, thiếu nhi mong hiểu thêm về chế độ mới. Rồi cháu đích tôn của học giả Phạm Quỳnh là Phạm Vinh về, là bộ đội văn công. Và em trai Phạm Khuê cũng về thăm, là đại úy quân y. Cuối cùng là Phạm Tuyên, từ Khu học xá trung ương tận bên Trung Quốc cũng về. Theo nếp cũ gia đình, hễ họp nhau là cùng hát. Nhưng là những bài hát mới do những người mới về dạy cho. Có cả bài Liên Xô, Trung Quốc lời Việt.

 Vui thì cũng vui nhưng chưa trọn vẹn. Chồng bà vẫn chưa về, mà cũng chẳng có tin tức gì. Bấy giờ, bà mới nghĩ là sao lại không viết thư hỏi người đồng nghiệp dạy cùng trường Thăng Long với chồng ngày xưa, nay đã là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bà bảo con viết thư gửi đại tướng hỏi xem nay chồng bà ở đâu, xin cho biết tin. Thì ít lâu sau, nhận được thư trả lời của Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhân Dân Việt Nam: Một bản in sẵn, chỉ điền tên người vào. Đại ý: Xin gia đình vui lòng cho biết đồng chí Tôn Thất Bình, nhập ngũ ngày nào, tại đâu và trực thuộc đơn vị nào…. Thế là tiêu tan hy vọng! Rồi sau đó, có việc truy quét thổ phỉ Bắc Hà, bà lại nhờ người quen ở Mặt trận Tổ Quốc dò hỏi hộ trong số người bị chúng bắt và sử dụng có chồng mình không. Nhưng tất cả đều vô vọng. Gia dinh ba Pham Thi Gia

Cô con lớn , làm cho bà em cùng theo vào Nam giúp việc dì nơi đất mới, với hy vọng chỉ hai năm sẽ lại về với mẹ nhân hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève.

Nay thì đã vắng tin chồng, lại bặt tin con. Tuy vậy, bà vẫn hòa nhập vào cuộc sống mới đầy khó khăn vất vả. Có cái máy khâu, bà góp vào hợp tác xã may gia công, hằng ngày đi bộ hai buổi đến nơi làm việc. Tối lại họp phụ nữ, làm đại biểu phụ nữ khu phố. Chủ nhật thì làm vệ sinh viên, lo tiêm chủng, săn sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, còn tham gia lao động chân tay, dùng chảo nhà mang đi múc bùn hôi thối góp phần xây dựng công viên Thống Nhất, đi quét rác làm đẹp thành phố.

Rồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, bà theo hợp tác xã lên Hà Bắc sơ tán, tiếp tục sản xuất, cứ mỗi tháng đều cố về Hà Nội một lần “cho đỡ nhớ” và thăm con trai thuộc ngành giao thông vận tải, vẫn làm việc tại Hà Nội. Có lần bà đem cả một con gà mình nuôi, rán lên, làm món trộn thật ngon lành cho con trai sống một mình, ăn cơm tập thể. Nhưng anh con dăm hôm sau mới về nhà, thấy mấy hàng chữ phấn trắng mẹ viết trên mặt bàn lúc hai giờ sáng là “đã đến giờ phải ra tàu lên Hà Bắc, không đợi con được, chúc con ăn ngon miệng món con vẫn thèm”. Bên cạnh đó là một dĩa rau trộn héo úa và đĩa gà rán đã lên meo bông trắng.

Thời gian hợp tác xã may sơ tán lên Hà Bắc, bà Giá vẫn làm thêm nhiệm vụ vệ sinh viên như khi công tác phụ nữ đường phố. Bà phát thuốc, tiêm chích thuốc thông thường, chữa cảm, cúm, mỏi mệt hoặc sơ cứu các vết thương… Một lần Mỹ bắn phá khu vực hợp tác xã, có xã viên và cả dân làng bị thương, bà đều đem  túi thuốc đến cấp cứu kịp thời. Từ băng bó đến ga rô cho máu ngừng chảy, kịp thời sơ cứu để đưa lên tuyến trên an toàn. Mặc bom rơi, đạn bắn, bà vẫn làm nhiệm vụ đúng với lương tâm người làm nghề thuốc, dù chỉ là một vệ sinh viên bình thường, không hưởng lương. Có người hỏi vì sao bà bình tĩnh được trong những hoàn cảnh như vậy, bà bảo lúc đó tôi chỉ biết có người bị thương, bị đau, không thấy gì khác. Rồi bà kể chuyện năm xưa khi con gái thổ huyết giữa đêm lạnh. Ai cũng cảm mến bà. Và phục nữa. Dù bà không bao giờ đạt năng xuất cao hơn người.

Đến cuối năm 1972, Mỹ ném bom B52 rải thảm Hà Nội thì gia đình bà lại… đoàn tụ ở thủ đô. Các con xin bà thôi việc ở hợp tác xã, về nhà lo mấy bữa ăn cho các con. Bà xin về. Khi thanh toán thì hóa ra những lần về Hà Nội, bà đều có vay một ít tiền, nay tính lại số tiền ấy gần bằng tiền hóa giá cái máy khâu. May mà còn đủ tiền cho bà mua vé tàu về nhà. Bà rất mừng là không phải vay mượn vào ngày chia tay Hợp tác xã.

Hằng ngày, các con đi làm sau khi ăn bữa sáng tuy đạm bạc nhưng nóng hổi, ngon lành do bà chuẩn bị từ sớm. Sau đó, bà đi Pham Thi Giamua thực phẩm ở các điểm bán hàng dã chiến, người bán hàng ngồi ngay trên miệng một hố cá nhân tránh bom. Một tối, bà khoe với các con là đã tìm được một điểm mua không phải xếp hàng, chỉ phải gọi một tiếng là có người bán hàng ngay. Các con hỏi và kinh hãi khi bà cho biết bà “mua thực phẩm ở ngay đầu cầu Long Biên. Ngay trên tầng cao của cầu đã có bộ đội phòng không sẵn sàng tay súng thường trực, không phải lo máy bay”.

Rồi Hiệp định Pari, hòa bình lập lại trên cả nước. Đám cưới con trai út của bà đón dâu bằng ba chiếc xe đạp. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đi một xe. Con trai thứ đèo một bà bạn bà. Con trai út đón cô dâu. Bữa ăn đón dâu do bà và bà bạn nọ cùng vợ chồng con gái út chuẩn bị.

Sau ngày đất nước thống nhất, con trai cả và út đều đã có gia đình, con cái ở Hà Nội. Con trai thứ chưa vợ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Con gái về quê chồng Bạc Liêu cùng các con. Bà lần lượt sống với bốn con, bao giờ cũng cố gắng có mặt lúc các con cần mình nhất như khi sinh con hoặc cưới.

Những năm cuối đời, bà sống ở Bạc Liêu cùng con gái út, lại lo cho con cháu đến hết đời. Bà bảo: “Không gì vui bằng khi trông thấy đứa cháu nhỏ mỉm cười sau cơn sốt hầm hập kéo dài”. “ Mẹ không cần Tết, đối với mẹ khi nào các con sum họp thì đó là ngày Tết của mẹ rồi”

Bà có cái thú là viết thư cho chị em và các con. “Viết thư, mẹ thấy như được gặp mặt và trò chuyện với những người thân yêu vậy.” Chính nhờ những lá thư đó và tấm lòng kính yêu vô hạn của bà với thân phụ mà nhà báo Phạm Tôn mới có tài liệu sinh động, cụ thể, tỉ mỉ để viết nên những trang gây xúc động lòng người đăng trên các báo Xưa và Nay ( Người nặng lòng với nước), Công giáo và Dân tộc (Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước), Nghiên cứu và Phát triển (Người nặng lòng với nhà) và  nhà báo Nguyễn Trung có bài trên Công giáo và Dân tộc ( Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta). Thư bà viết bao giờ cũng đem lại niềm vui sâu đậm cho người nhận.

Bà còn có tài kể chuyện sinh động đến mức có chuyện thế này: Các bạn xã viên cùng bà đi dự một đám cưới con một bà bạn cùng phân xưởng. Hôm sau đi làm là nài nỉ bà kể lại cho họ nghe chuyện đám cưới mà chính họ cùng dự với bà hôm trước. Để rồi cười trước cả khi bà sắp kể đến những đoạn vui trong đám cưới đó. Thành ra, thật không phải nói quá là bà có gien văn nghệ cha truyền. Vì lo cho cha, chồng, con, cháu mà bà hy sinh hai tài năng của mình là viết văn và diễn kịch. Chỉ còn là những tài lẻ, sở thích đem lại niềm vui cho mọi người thân. Cả trong và ngoài gia đình bà.

Chẳng thế mà nữ sĩ Tương Phố (14/7/1900-8/11/1973) tác giả Giọt lệ thu nổi tiếng một thời lại gắn bó thân thiết với bà. Xuân Quý Tị 1953, nữ sĩ đã viết tặng bà bài Âm thầm lòng em trên giấy mỏng, đóng thành một quyển sách nhỏ. Bài thơ gồm hai câu mở đầu và mười khổ, mỗi khổ bốn câu, chữ cuối câu cuối khổ này lại là chữ mở đầu của câu đầu khổ sau, cứ thế cho đến hết. Trong bài, có những câu:

Con dại một bầy ăn học dở

Mình em kiêm mẹ lại kiêm cha

Năm trôi lận đận chỉ vì con!

Con lớn, con khôn, mẹ héo hon.

Mai mốt sân hòe dù nảy quế,

Trăm năm nghĩa cả có vuông tròn?

Trang 0 (am tham)

(…)

Tuong pho_Am Tham Long Em 2

Trang đầu và khổ thứ 10 của bài thơ

 Kỷ niệm 10 năm ngày mất bà Phạm Thị Giá (16/12/2000-2010)

D.T.

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 1 tháng 9 năm 2018.

KỶ NIỆM 72 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

– “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Nguyễn Tuân dùng phở với con, cháu Phạm Quỳnh giữa Sài Gòn giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ 10, kỳ 1 tháng 9 năm 2018.

 

NGUYỄN TUÂN DÙNG PHỞ VỚI CON, CHÁU PHẠM QUỲNH GIỮA SÀI GÒN GIẢI PHÓNG

Tôn Thất Thành

Nhà báo

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang nhất báo Nhân Dân ngày 6/7/2010 đăng tin Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân – Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự. Toàn văn trên www.nhandan.org.vn như sau:

Sáng 5/7, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Tuân, một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 1996).

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tới dự lễ kỷ niệm.

Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910. Ông là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, là hình ảnh một nhà văn bậc thầy, một nhân cách văn hóa mẫu mực. Nhà văn đã cống hiến cho nền văn học nước nhà một sự nghiệp văn học đồ sộ…

Xuất hiện trên văn đàn vào cuối thập niên 30 và đầu 40 của thế kỷ trước, Nguyễn Tuân đã khẳng định tên tuổi của mình ở một văn phẩm gần như thâu tóm và kết tinh mọi tinh hoa làm nên sự hoàn thiện và hoàn mỹ của một phong cách viết, đó là Vang bóng một thời

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nhà văn Nguyễn Tuân tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Trong giai đoạn 1948-1958, nhà văn Nguyễn Tuân là Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Các tác phẩm chính sau cách mạng của ông là tập bút ký Sông Đà (1965), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương Phùng Hữu Phú nhấn mạnh Nguyễn Tuân là một nhà văn bậc thầy, yêu nghề, một danh nhân văn hóa của Hà Nội.

Nhà văn cũng là một chiến sĩ tràn đầy nhiệt huyết, giàu lòng yêu nước. Đi theo Đảng từ sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia đoàn quân văn nghệ sĩ trong cuộc kháng chiến, có mặt trong đoàn quân Nam tiến…

Ghi nhớ công lao, đóng góp to lớn của nhà văn Nguyễn Tuân đối với sự nghiệp phát triển văn học Việt Nam, giáo sư-tiến sĩ Phùng Hữu Phú khẳng định cuộc đời gắn trọn với văn hóa, văn học cách mạng của nhà văn Nguyễn Tuân đã giúp làm phong phú, giàu có thêm nền văn học Việt Nam hiện đại…

Ông là một trong những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa, văn nghệ. Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã đưa những cảm nhận tinh tế, những rung cảm về vẻ đẹp từng con người, mỗi góc phố, cửa ô Hà Nội vào văn học.

Các tác phẩm của ông là những tư liệu quý, những thước phim sống động và chân thực phản ánh chiều sâu văn hóa của đất Hà thành

—o0o—

Nhân dịp này, chúng tôi cũng mời các bạn đọc một kỷ niệm nhỏ của gia đình Phạm Quỳnh với nhà văn tha thiết với tiếng ta này, một người hậu sinh đồng tâm, đồng điệu với Thượng Chi – Phạm Quỳnh: Nguyễn Tuân dùng phở với con, cháu Phạm Quỳnh giữa Sài Gòn giải phóng.

—o0o—

Nói đến nhà văn Nguyễn Tuân thì ít ai không biết vài giai thoại độc đáo về chuyện ăn uống của ông. Ông vốn là người rất kỹ tính trong việc này. Ông kén từ cái ăn, đồ dùng để ăn đến cách ăn, chỗ ăn. Nhưng, kén nhất là kén người ăn cùng với ông. Thường khi được mời, ông ít khi hỏi mời ăn gì, uống gì, mà hay hỏi nhất một câu không dễ trả lời: “Xin cho biết, ông/bà định cho tôi ăn với ai…” Nhiều lời mời không thành vì chuyện này. Có khi ông đến rồi, thấy người cùng ăn không đúng như lời mời, thường là đông hơn nhiều, thì bỏ về ngay. Tôi và mẹ tôi, bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh vốn yêu nhà văn, cũng biết những giai thoại đó. Cho nên, không khỏi ngạc nhiên khi nhà văn Nguyễn Nguyên báo cho tôi biết tối hôm ấy mời mẹ con tôi đến nhà ăn phở với nhà văn Nguyễn Tuân. Một vinh dự chúng tôi không bao giờ ngờ đến.

Năm ấy, Sài Gòn mới giải phóng; tôi vào công tác lâu dài, có đón mẹ tôi vào chơi. Tôi cũng mới quen biết anh Nguyễn Nguyên, tức Nguyễn Ngọc Lương, từng làm chủ bút tờ Tin Văn, tạp chí công khai duy nhất của ta ở Sài Gòn tạm chiếm, mong được anh chỉ bảo cho những điều chưa biết ở nơi đất lạ. Gặp nhiều, lại chịu học, nên chẳng bao lâu được anh coi như em. Biết tin mẹ tôi vào, anh và vợ là chị Phạm Ngọc Quyến rất vui, mong có dịp gặp.

Tối hôm ấy, y lời hẹn, tôi đi xe đạp, chở mẹ tôi đến số nhà 125-E đường Nguyễn Đình Chiểu (mà anh Lương còn cẩn thận nhắc tên cũ là đường Phan Đình Phùng, sợ đi xe xích lô nói tên mới có người không biết). Đến nơi thì ra nhà số 125 ấy là một cái hẻm nhỏ, rộng độ 2 mét, các nhà kế bên nhau bên tay phải đánh số từ 125-A đến 123-I. Nhà anh Lương ở gần giữa.

Trời tối, mẹ con tôi tìm đến nhà 125-E thì có tiếng một người đàn ông lớn tuổi đằng hắng, rồi lễ phép nói nhỏ mà rõ: “Tôi xin chào bà…” Tôi vội kéo tay mẹ tôi, nhắc nhỏ: “Ông Nguyễn Tuân chờ mẹ ở cửa đấy.” Mẹ tôi lễ độ chào lại, và vào nhà sau khi ông khoát tay phải ra hiệu “Xin mời vào.” Vợ chồng anh Lương ra đón, anh giới thiệu mẹ tôi thì nhà văn bảo là biết rồi, đành quay sang giới thiệu tôi, ông cũng bảo biết rồi.

Bàn ăn dọn cho năm người, nhưng chỉ có bốn người ngồi, vì chị Quyến, vợ anh Lương nhất định giữ chân như chị nói là servir (Phục vụ – tiếng Pháp). Chủ nhà đưa nhà văn chai rượu vang chính hiệu Bordeaux Pháp. Ông nghiêng mình duyên dáng xem kỹ nhãn rồi đưa cho tôi: “Để thanh niên mạnh tay mở cho…” Tôi thật thà thưa rằng xưa nay chưa mở rượu bao giờ, không dám nhận. Ông cười: “Thanh niên như chú là tốt, chứ chú mà mở rượu thành thạo thì tôi buồn đấy”. Rồi ông tự mở và rót ra năm chiếc li. Vừa rót vừa giảng giải cho tôi: “Nhưng làm nhà báo bây giờ thì không biết là phải học đấy! Rót rượu nhẹ nhàng, không sớt ra ngoài một giọt, rót gần đầy li thì xoay nhẹ một vòng cho giọt rượu cuối khỏi rơi ra ngoài. Thế nhé.”

Chủ khách đang nhâm nhi rượu ngon và bàn phiếm ba câu chuyện về các loại rượu, thì vừa lúc mùi phở Hà Nội đặc trưng tỏa ra ngào ngạt: Chị Quyến bưng một mâm bốn tô khói thơm phưng phức. Chị chủ nhà mời mọi người cầm đũa, thìa và không quên nhấn mạnh là “Nước dùng này tôi ninh xương bò, lợn cả nửa ngày với các thứ củ chứ tuyệt không dùng chút bột ngọt (Chị sợ dân Bắc chưa quen, còn nói thêm “tức là mì chính ấy ạ”). Các bác xơi xem có đúng vị phở Hà Nội không”. Nhà văn Nguyễn Tuân chưa ăn ngay, mà xin cái bát nhỏ, cái thìa sứ và ít lát ớt. Sau đó, ông từ tốn như một nghi lễ đã quen: sớt một ít bánh phở và nước ra bát nhỏ, gắp vài miếng thịt bò chín, rồi lấy cái thìa sứ gắp vài sợt bánh phở vào, thêm một lát thịt và một lát ớt rồi giầm cả xuống nước phở nóng, sau đó lấy đũa và dần vào miệng từng chút một. Cứ vài thìa, lại nhâm nhi chút rượu, im lặng thưởng thức món quà của một phụ nữ Hà Nội gốc, như anh Lương đã giới thiệu về vợ. Thỉnh thoảng chủ khách nói vài câu chuyện về quà Hà Nội, hai nhà văn đều tỏ ra rất sành. Mẹ tôi cũng nói vài câu, rồi chợt hỏi nhà văn Nguyễn Tuân là ông làm nghề viết đã lâu năm, chắc có lúc gặp trở ngại, phiền lòng vì bị yêu cầu sửa chữ này, thêm bớt câu nọ. Nhà văn cười: “Chuyện đó thì nhiều… Tôi chỉ xin kể một chuyện thời chống Mỹ thôi… Tôi viết về một ông du kích già người dân tộc thiểu số. Bài gửi đã lâu mà không thấy dùng. Hỏi thì anh phóng viên đặt bài tôi nói là cấp trên bảo xin bác sửa cho thì mới dùng được. Hóa ra câu tôi viết lão du kích có hàm râu Phidel Castro, ông cấp trên của anh ta sợ phạm thượng không dám dùng. Thương anh bạn nhỏ đi đặt bài, tôi bèn sửa câu đó thành lão du kích có hàm râu kiểu các du kích của Phidel Castro rồi hỏi đã được chưa, anh ta vui vẻ nói chắc là được rồi, và hôm sau thì thấy phát cái hàm râu kiểu các du kích của Phidel Castro ấy… Khổ thế đấy bà ạ. Có nghề rồi thì sửa dễ thôi. Nhưng không ai dám sửa, khó thế…”

Thấy khách mải nói chuyện văn chương, chẳng ai nhận xét gì về phở cả, bà chủ phải lên tiếng: “Các bác xơi phở em làm thấy có được không?” Nguyễn Tuân đã ăn xong hai chén nhỏ, vui vẻ nói với nét mặt rạng rỡ: “Ngon lắm, đúng vị phở Hà Nội. Cảm ơn chị nhiều lắm…” Anh chồng liếc xéo vợ: “Mình làm, lại đi hỏi có ngon không, ai người ta nỡ chê”… Thì nhà văn nói ngay: “Tôi nói thật lòng đấy…”

Chị Quyến lại vào nhà trong lấy ra một khay bánh bao nóng hổi, nhưng ai cũng kêu no, vì phở ngon quá nên ăn nhiều, đành xin thôi.

Sau vài tuần trà, nhà văn Nguyễn Tuân nói đã muộn, xin phép về. Ông chắp hai tay lại, tỏ dấu chào mẹ tôi, rồi ra cửa, anh Lương theo sau. Chị Quyến giữ mẹ con tôi lại, bắt mang bánh bao về nhà “cho anh em cơ quan cùng ăn”.

Một lát sau, anh Lương vào, vui vẻ kể là sau khi anh gọi xe xích lô nói địa chỉ nhà văn rồi mời ông lên thì cứ thấy ông và anh xích lô dùng dằng gì đó mãi mà chưa đi, bèn ra hỏi nhỏ thì anh ta nói là “ông già trả giá gắt quá, tôi không chịu, mà ổng cũng không chịu”. Anh Lương bèn nói rằng đó là nhà văn Nguyễn Tuân đấy, thì anh xích lô vui vẻ nói ngay là có đọc Vang bóng một thời và nhiều bút ký của ông hồi học văn khoa Sài Gòn, rồi nói: “Thế thì vinh dự cho em quá, em xin chở miễn phí”. Rồi quay qua mời Nguyễn Tuân lên xe, chở đi luôn.

Mẹ tôi cảm ơn anh chị Lương và hỏi anh “làm thế nào mà ông ấy chịu cùng ăn với mẹ con tôi.” Anh Lương nói là có lần nói với nhà văn chuyện mẹ tôi đang có mặt ở Sài Gòn, ông ngỏ ý muốn gặp. Hôm mời ăn phở Hà Nội, ông hỏi cho ông ăn với ai. Anh nói là với con gái trưởng và cháu ngoại Phạm Quỳnh. Ông bằng lòng ngay và còn đến nhà sớm nữa. Mẹ tôi nói cả ông tôi và nhà văn Nguyễn Tuân đều yêu tiếng ta, yêu nước ta tha thiết.

Thế là giữa đất Sài Gòn mới giải phóng, nhà văn Nguyễn Tuân đã vì quí mến Phạm Quỳnh mà để cả một buổi tối dùng phở, trò chuyện chân tình với mẹ con tôi, là con và cháu Người.

Thành phố Hồ Chí Minh, 7/7/2010.

T.T.T.

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.