Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 14, 2017

Vài ý kiến trả lời ông Đinh Nho Hoan

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

VÀI Ý KIẾN TRẢ LỜI ÔNG ĐINH NHO HOAN

Đặng Minh Phương

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng ở cuối số báo Xưa và Nay số 487 tháng 9 năm 2017 trên các trang 65 và 66.

—o0o—

Trong bài “Đôi điêu suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh” trên tạp chí Xưa và Nay số 486 (8/2017), tác giả Đinh Nho Hoan có trích một đọan trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” của tôi đăng trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 447 ngày 27/4/2017.

Ông Đinh Nho Hoan viết:

Trước tiên tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rẳng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa”…

Điều quan trọng xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chi công khai thời thượng đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp.

Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!… Và ông Đinh Nho Hoan dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết”…

Tôi xin trả lời như sau:

Đúng là trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 447, tôi có trích lại một đoạn ngắn của ông Quản Văn Đàn đã đăng trên Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 438 ngày 23/2/2017, đoạn sau đây:

… “Năm 1931, dưới chiêu bài gửi thư cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp “xin lại Tổ quốc đã mất”, Phạm Quỳnh bày tỏ tư tưởng nô lệ, lòng trung thành với nước Pháp như thế này:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa!”…

Trong trích dẫn đăng báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có khuyết điểm là không chú thích rõ xuất sứ bài của ông Phạm Quỳnh như ông Quản Văn Đàn đã ghi là (Tiểu luận… sđd, trang 334). Và bài ông Quản Văn Đàn đăng trên báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 439 mà tôi ghi nhầm là số báo 438 cho nên người đọc tìm không thấy trên số báo 438.

Ông Quản Văn Đàn cũng có nhầm lẫn là câu của ông Phạm Quỳnh viết trong Tiểu luậnSứ mệnh của nước Pháp” chứ không phải là trong Thư gửi cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp năm 1931.

Bài “Sứ mệnh của nước Pháp” của ông Phạm Quỳnh đã được in trong tập sách Phạm Quỳnh, Tiểu luận, viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, ESSAIS 1922 – 1932, do Nxb. Tri Thức, Hà Nội dịch in năm 2007 (bản tiếng Việt).

Trong bài “Sứ mệnh của nước Pháp” do Ngô Quốc Chiến dịch từ tiếng Pháp trong sách nói trên, có đầy đủ câu tôi trích dẫn và còn dài hơn, như sau:

… “Người nước Nam không còn phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp, chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó, như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ của Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn tiếc nuối Tổ quốc ấy nữa, như thế có lẽ là một đòi hỏi quá đáng. Nhưng chấp nhận nó như một thực tế cần phải kính cẩn nghiêng mình và cố gắng moi ra từ thực tế này phần lợi nhất có thể, đó là điều họ làm hằng ngày bằng một thiện chí không mệt mỏi.

Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử, đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu chính trị”…

Tôi không hề bịa đặt. Đề nghị báo Xưa và Nay đăng ý kiến của tôi để bạn đọc rõ, khỏi hiểu lầm.

 

Advertisements

Đôi điều suy ngẫm nhân đọc hai bài báo về Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ 9, kỳ 2 tháng 10 năm 2017

ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM NHÂN ĐỌC HAI BÀI BÁO VỀ PHẠM QUỲNH

Đinh Nho Hoan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mục Tòa soạn và Bạn đọc, tạp chí Xưa và Nay đã đăng bài này trên các trang 53-55 số báo 486 tháng 8 năm 2017.

—o0o—

Bài báo “Những mối chân tình của cụ Thượng Chi”, tác giả Năm Châu Đốc và bài báo “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” tác giả Đặng Minh Phương cùng đăng trên Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh các số 398 và 447, đã đưa đến cho tôi một số ngẫm nghĩ. Tôi xin phép nên vài ý kiến nhỏ, góp thêm phần tìm hiểu một học giả thực sự đã đi vào lịch sử.

Trước tiên, tôi nghi ngờ về đoạn trích sau đây mà ông Đặng Minh Phương bảo rằng rút trong thư ông Phạm Quỳnh gửi cho ông Bộ trưởng thuộc địa Pháp, năm 1931:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức họ quên rằng họ đã từng có một Tổ Quốc và không còn nuối tiếc Tổ Quốc ấy nữa”

Nếu ông Phạm Quỳnh có gửi bức thư như thế này cho Toàn quyền Đông Pháp thì ông ta quả là một tên phản quốc mạt hạng, đáng bị muôn đời phỉ nhổ. Nhưng tôi có những lập luận để tin rằng ông Phạm Quỳnh không hề viết bức thư này.

Điều rất quan trọng, xin hỏi: Ông Đặng Minh Phương lấy đoạn trích này từ tài liệu nào, ở đâu? Trong báo chí đương thời hay trong văn khố nào? Vì cho đến nay, chưa ai tìm được cái tài liệu này, từ báo chí công khai thời thượng, đến những cơ quan lưu trữ hồ sơ văn bản gốc của ta cũng như của Pháp. Người Pháp có tiếng là gìn giữ cẩn thận các tài liệu quan trọng. Nếu có, tất yếu nó vẫn còn được lưu giữ cho đến hôm nay. Nhưng không tìm đâu ra!

Để rộng đường suy xét, ta đặt giả thiết, nếu có bức thư này thì việc gì sẽ xảy ra, ngay khi nó ra dời? Chắc chắn thực dân Pháp sẽ tìm mọi cách tung nó thật rộng rãi khắp cõi Đông Pháp, đầu tiên là trên chính tạp chí Nam Phong. Vì thời điểm này, cả ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ dang bùng nổ một phong trào chống Pháp dữ dội: Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh, nông dân Thái Bình, Quảng Ngãi, công nhân các nhà máy ở Trường Thi, Bến Thủy, ở đồn điền Dầu Tiếng… đang đồng loạt nổi dậy. Pháp đang phải dùng vừa bạo lực vừa lừa phỉnh để đàn áp, dập tắt phong trào. Nếu có thì bức thư này sẽ là một vũ khí tiếp sức cho Pháp lung lạc tinh thần của quần chúng nổi dậy. Nhưng đến hôm nay, ta không hề thấy dấu viết bức thư này trên các phương tiện truyền thông thời đó vẫn còn lưu trữ khá đầy đủ trong các văn khố nhà nước.

Còn thêm một suy luận nữa giúp ta khẳng định thêm, ông Phạm Quỳnh không viết bức thư này. Hầu hết các trước tác của ông Phạm Quỳnh thời còn làm báo, đến nay đã được tái bản, cả trong nước lẫn ngoài nước. Những bài viết này, đọc kỹ, ta đều thấy có mối liên hệ, như một mạch ngầm tư tưởng, kết nối các tác phẩm với nhau. Tuy nhiên, không có bài viết nào có chút liên hệ, dù chỉ thoáng qua, giữa bức thư ông Đặng Minh Phương đưa ra với những bài viết đã công bố.

Chúng ta đều biết, thông thường tư tưởng của một con người, trước sau rồi cũng sẽ biểu lộ ra hành động. Nhưng ở ông Phạm Quỳnh, khi làm báo, cũng như lúc làm quan to, không hề có một hành động nào chống phá cách mạng, hại dân, hại nước, cũng không hề có một hành động nào thể hiện tư tưởng sẵn sàng xóa bỏ Tổ quốc để được làm  nô lệ cho Thực dân.

Nhà sử học Văn Tạo nhận xét: “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đày các nhà yêu nước…

Đến đây, ta có thể dứt khoát kết luận: Tài liệu ông Phương đưa ra là bịa đặt và những lập luận lấy nó làm căn cứ đều là nối tiếp sự bịa đặt. Nó không có giá trị gì hết.

Một số tài liệu nữa, ông Đặng Minh Phương đưa ra, nhằm kết tội ông Phạm Quỳnh, cũng có tình trạng như tài liệu trên: Nó dựa vào trí nhớ, lời nói của những người đã xa lánh cõi trần từ rất lâu. Theo ông Phương cho biết, sinh thời, các cụ đã kể cho người này người nọ nghe. Các vị nghe kể lại, nay cũng đã qua đời. Nhưng thuở còn tại thế thì đã có lúc các cụ kể lại cho lớp người ngày nay cũng đã lên hàng lão. Như thế, câu chuyện đến tai ông Phương đã qua trí nhớ của ba thế hệ vào hàng đại lão. Nội dung những lời kể này không thấy lưu lại hôm nay bằng văn bản xưa. Đến một mẩu tin nhỏ trên báo chí thời thượng để kiểm chứng độ chính xác của nó đều không có. Vì thế, ta có sơ cở để tin là nó không có.

Có một tài liệu rất đáng tin cậy của thời đó đánh giá hoạt động chính trị của ông Phạm Quỳnh. Đó là bản báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Healewyn ngày 3/1/1945 (Đúng ra là ngày 8/1/1945 – PT chú) gửi Toàn quyền Decoux và trung tướng Mordant:

“Vị thượng thư ày vốn đã chiến đấu suốt cả đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, chống lại sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ và cho người An Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại chấp thuận một chế độ tư trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ, khước từ chế độ thuộc địa ở Nam kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài hòa nhã và thận trọng, con người đó đúng là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam, và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước và chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Khâm sứ Trung kỳ là viên quan thực dân đứng đầu xứ, kiểm soát cả triều đình Huế, quyền uy chỉ đứng sau Toàn quyền Đông Pháp. Trung tướng Mordant là tổng chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Pháp. Cả ba, Decoux, Healewyn và Mordant đều đầu sỏ, quyền lực bao trùm cả sáu xứ Đông Pháp. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của họ là trấn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng, bảo vệ xứ Đông Pháp cho nước Pháp.

Báo cáo của Healewyn về quan thượng thư Phạm Quỳnh là một văn bản nhà nước gửi đến tên cầm quyền tối cao của thực dân toàn cõi Đông Pháp. Nó mang tính chất tổng kết, đánh giá và gián tiếp đề ra hành động đối phó với Phạm Quỳnh nên Healewyn phải suy nghĩ, cân nhắc. Dứt khoát không thể báo cáo ẩu, có sự thiên vị bao che cho ông Phạm Quỳnh.

Ở đoạn trích này, ta thấy rõ, chính những bọn đầu sỏ thực dân đã phải thừa nhận ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước, không thể bị lung lạc bằng tiền tài, danh vọng. Phạm Quỳnh đã bền bỉ đấu tranh vì sự nghiệp giành lại quyền tự chủ cho người Việt không bằng con đường bạo động.

Về mặt logic hình thức, đoạn trích này đã bác bỏ toàn diện, triệt để nội dung đoạn trích dẫn không có nguồn gốc mà ông Phương đưa ra.

Với tất cả những lập luận trên, ta có thể kết luận ông Phạm Quỳnh, về mặt chính trị, không phải là người phản dân, hại nước. Ở một cái nhìn thoáng rộng, vượt ra ngoài những định kiến hẹp hòi, chúng ta có thể đánh giá ông Phạm Quỳnh là một người yêu nước.

Tôi có cảm giác hai ông Nam Châu Đốc và Đặng Minh Phương mới khảo sát con người chính trị của ông Phạm Quỳnh. Còn hơn một nửa nữa là con người hoạt động văn hóa khiến ông trở thành một học giả, được lưu danh trong sử sách, thì hai vị đề cập quá nhạt.

Về sự nghiệp văn hóa của học giả Thượng Chi, cũng chính nhà sử học Văn Tạo đã nhận xét và đánh giá:

“… Nhưng mặt khác, ông có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Công lao đó đáng được ghi nhận”.

Nhà văn lão thành, nổi tiếng trung thực Nguyễn Công Hoan, sinh thời cũng có một đánh giá tương tự.

Chúng ta đồng ý với sự đánh giá của hai vị.

Xin bàn rộng thêm một chút. Khoảng hai thập niên đầu của thế kỷ XX, quốc ngữ đang được rất nhiều nhà văn hóa cả nước vun trồng, bồi đắp, để vươn lên thành một ngôn ngữ hoàn chỉnh, có thể chuyển tải được chính xác những nội dung tư tưởng, khoa học, triết học của nhân loại. Người Việt đương thời đang có ước mong Quốc ngữ sẽ thay chữ Hán và chuẩn bị sánh vai với tiếng Pháp trong mọi giao tiếp xã hội.

Một trong những người có công trong sự nghiệp này là học giả Phạm Quỳnh. Quao Đông Dương tạp chíNam Phong tạp chí, ông đã giới thiệu, diễn giảng một khối lượng rất lớn các nền văn hóa, các tư tưởng gia trong thế giới phương Tây. Từ đó, ông đã góp phần làm ngôn ngữ dân tộc trở nên chính xác, phong phú, uyển chuyển. Cũng từ đó, nền văn hóa dân tộc được bồi bổ, tầm mắt người Việt được rộng mở.

Thế hệ người Việt đầu tiên được tiếp xúc với văn hóa phương Tây là các nhà nho trong phong trào Duy Tân. Nhưng các cụ chỉ tìm hiểu cho chính mình và phải qua tân thư của Tàu. Chỉ đến thế hệ của học giải Thượng Chi, người Việt mới được tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Vì thế nó được quảng bá rộng rãi.

Về sau, đã có người coi những bài viết của học giả Thượng Chi trong hai tạp chí Đông DươngNam Phong như bộ bách khoa toàn thư cho các thế hệ người Việt những năm đầu thế kỷ XX. Đánh giá này có phần đã nói quá. Nhưng qua đó, ta có thể hình dung được khối lượng kiến thức lớn lao mà học giả Thượng Chi đã chuyển tài đến người đọc.

Từ những nhận xét trên ta có thể kết luận: Học giả Thượng Chi là một nhà văn hóa, có những đóng góp đáng trân trọng cho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, cho sự giao lưu văn hóa Đông – Tây, cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Đồng thời, quan thượng thư Phạm Quỳnh là một người yêu nước, có những hoạt động yêu nước theo cách thức của cụ.

Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà – Phạm Tôn

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917-1.7.2017)

PHẠM QUỲNH, NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NHÀ

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2014), chúng tôi xin mời quý bạn đọc câu chuyện về một con người Hà Nội gốc (bốn đời) giữa những người ruột thịt và những người thân thiết như người nhà.

Bài này đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 (56).2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà.

—o0o—

Cụ tổ của Phạm Quỳnh là Cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854). Cụ có hai đời vợ và một bà thiếp. Nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một trai là ông Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài, có hai con đều chết khi mới mười bảy tuổi. Nên khi ông mất sớm, đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy[1]

Ông nội lại chỉ sinh được một trai là Phạm Hữu Điển (thân phụ Phạm Quỳnh), rồi bị cảm mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau được xét chấm đỗ tú tài. Phạm Hữu Điển cũng đỗ tú tài, sinh được Phạm Quỳnh mới chín tháng thì vợ ra đi mãi mãi, mẹ phải bế cháu nội sang hàng xóm xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi sớm khuya chăm sóc tận tình khi cháu bị đậu mùa. Mãn tang vợ ít lâu, ông Điển tục huyền, sinh được một trai nữa, đặt tên là Phạm Bái. Năm Phạm Quỳnh lên chín, thì ông mất; sau đó chú bé Bái cũng chết yểu. Bà vợ kế còn trẻ, đi bước nữa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và cụ Tú, vợ ông Ngạch, người cho gia đình thừa tự. Và ông đã lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc chu đáo của hai bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn gìn giữ giọt máu hiếm hoi của cả dòng họ. Côi cút, cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có thể có ngày ông lại mất họ…như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Cụ Tú và cụ Cả là bà nội Phạm Quỳnh, sống trong cảnh gieo neo, chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà và buôn bán lặt vặt nuôi cháu khôn lớn[2]. Đến năm mười sáu tuổi, Phạm Quỳnh đi làm, đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient), Phạm Quỳnh đi qua một cửa hiệu bán đồng hồ, bao giờ cũng dừng lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt xinh xắn bày trong tủ kính, thèm thuồng mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi ông nhận thêm việc dạy tiếng Việt tính theo giờ cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập có khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế, ở hiệu ấy, và giữ luôn bên mình như một vật báu suốt nhiều năm ròng, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế[3]

Hồi trẻ, say mê văn minh Pháp, nên khi hai bà cụ bảo về quê thăm và sửa sang phần mộ ông cha thì ông từ chối không đi, nói là: “Người đã mất rồi thì nên để cho người ta yên”; cho là: “Người mất rồi thì kỉ niệm để trong lòng là đủ”. Nhưng đến khoảng năm 1915, khi ông chừng hai mươi hai tuổi, bà cụ Tú qua đời, thì ông lại giữ đúng lễ xưa, khiến Hoàng Đạo Thuý, người bà con kém ông bảy tuổi, cũng là người say mê văn minh Pháp phải ngạc nhiên: Đầu đội mũ dứa, tay chống gậy trúc, đưa tiễn cụ đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở cánh đồng Bạch Mai, cạnh một bờ rào[4]

Từ nhỏ ở Hàng Trống, cho đến sau này về Hàng Da, rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nguyên nếp kê bàn học và làm việc dọc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ, có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán và sau này, còn đánh số thứ tự để khi giỗ vị nào thì vợ con theo lời ông bảo dễ dàng lấy đúng bài vị vị đó đặt ra trước, tiện chuẩn bị bày biện bàn thờ. Ông rất trọng kị giỗ gia tiên. Khi cỗ bàn đã bày xong thì ông khăn đóng áo dài, trịnh trọng thắp nhang khấn vái, sau mới đến vợ và các con vào lễ. Ông còn kể cho vợ và các con về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thuỷ tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ[5]

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn những người trên còn sống. Chính vì thấy cụ Tú quá già, cụ Cả tuy còn khoẻ nhưng tuổi cũng cao mà hai cụ ngày đêm vẫn vất vả vì mình, cho nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần hai cụ. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh[6] thăm mẹ vợ, thường gọi là cụ Ký (do ông chồng làm ký lục, bấy giờ đã qua đời), thăm các cô em vợ là Hợp, Mai và cậu út Tốn. Chính những lần về quê vợ này, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi được biết bao câu ca dao tục ngữ dân ca hay, tăng thêm đáng kể vốn từ ngữ dân tộc của ông.[7] Hồi đã khá giả ông nói với cậu Tốn là muốn biếu bà mẹ vợ một ngôi nhà, hỏi có muốn lấy nhà ở Hà Nội cho tiện việc học hành làm ăn sau này của các em không, thì cậu Tốn trả lời là anh chị cho thì tùy anh chị thôi. Thế là ông bàn với vợ, bà bảo: “Cứ làm cái nhà to ngay giữa làng, chớ làm ở Hà Nội, dân làng có mấy ai ra Hà Nội đâu mà biết”. Rồi cho dỡ ngôi nhà gỗ còn tốt đi để xây ngôi nhà mới tại làng, đến nay (năm 2000) vẫn còn.[8]

Cô Vân có em gái là Hợp, nhà quen gọi là cô Nhỡ, bởi dưới cô còn một em gái nữa là cô Mai. Chị đi lấy chồng bấy giờ đã là nhà báo nổi danh ở Hà Nội, còn em vẫn ở quê làm ruộng, mò cua, bắt ốc, hái rau,…Có khi nhớ chị, cô đem những thứ ấy sang tận Hà Nội, lên bán ở chợ Hàng Da ngay gần nhà chị để tiện ghé thăm. Bà chị xấu hổ vì thấy em gái ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lại còn quang gánh, thúng mủng, nên thấy mặt là thường đuổi về ngay. Nhưng những lần gặp ông thì thật là may. Ông mở cửa, đi thẳng vào nhà như “những nhà nho chân chính”, không thấy em vợ đứng cạnh cửa. Khi cô đánh tiếng chào, thì ông mừng rỡ, vồn vã hỏi thăm buôn bán thế nào, mẹ và các em bên nhà có được mạnh khoẻ không, rồi cuối cùng, bao giờ cũng móc túi lấy tiền dúi cho, bảo là: “Dì cầm tạm, đỡ tiền tàu xe”. Sau đó, mới gọi to báo cho vợ biết là có em gái sang chơi. Trước khi về, cô sang chào ông thì bao giờ ông cũng đưa sang vợ, nói là “Cho dì tiền tàu xe và mua quà cáp cho bà và các em bên nhà”[9]

Sau này, năm 1928, ông có mua lại của ông chủ Mỹ Ký (chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả, nổi tiếng một thời) một trang trại ở ấp Thái Hà, nhưng chỉ để mẹ vợ ở cùng gia đình cậu út Tốn; gia đình ông thỉnh thoảng mới về thăm thôi[10]

Phạm Quỳnh rất yêu vợ nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc có một năm, ông đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (Ecole des Langues Orientales), một dịp may hiếm có, thời ấy người trẻ tuổi nào cũng ao ước. Vậy mà ông đã từ chối. Chỉ vì mới …lấy vợ! Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông đã ghi lại trong nhật ký: “Giá nhận đi hồi ấy thì Trường Bác Cổ không đề cử ông Phan (Văn Trường- PT ghi chú), và sự nghiệp mình có lẽ lại xoay ra một phương diện khác.” Nhưng ông không hề tỏ ý tiếc… Cũng trong dịp này, sau khi thăm bảo tàng Trocadero và bảo tàng Guimet ở Paris, ông lại ghi: “Thứ bảy, 27-5: Người Tây bình phẩm đàn bà An Nam có thói nhuộm răng đen thường nói rằng: Trông miệng người đàn bà An Nam tối om như cái hố sâu. Người Tây có lẽ lấy thế làm xấu thật, nhưng ta lại cho thế là đẹp. Cô con gái nào nhuộm răng khéo, đen nhánh như hạt huyền, thì tựa hồ như có duyên thêm lên. Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân” của mình. Kẻ “ý trung nhân” của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy (chúng tôi nhấn mạnh – PT) mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.” Ông ghi nhật ký đúng như thế. Mà đây lại là nhật ký để đăng công khai đều đặn trên báo Nam Phong của ông! Vì ông đang nhớ vợ, mà kẻ “ý trung nhân” như ông tả ở trên, thì bất cứ ai đương thời quen biết gia đình ông đều dễ dàng nhận ra ngay đó chính là chân dung của vợ ông, cô gái một làng quan họ xứ Kinh Bắc. Ngày 23-6, ông ghi: “mình mặc jaquette, vào hiệu ảnh chụp cái ảnh gửi về nhà”. Đó là bức ảnh đầu tiên ông mặc âu phục, tóc cũng đã cắt mất cái “búi tó củ hành”. Trước thay đổi lớn đó về hình thức, ông thấy cần “thông báo khẩn” cho vợ biết. Ông gửi ngay ảnh đó về[11] với lời đề tặng đúng kiểu của riêng ông “Gửi hiền thê, ở nhà10

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn với nhau nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ nhau, suốt đời không hề có xích mích gì. Bà Cả Mọc, tên thật là Hoàng Thị Uyên, một nhân vật nổi tiếng về hoạt động xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ thứ 20, là cháu bà thiếp của cụ Phạm Hội, lập hội Tế Sinh. Đây là một hội từ thiện chuyên trông con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm ban ngày và còn mở một trại dưỡng lão ở Phúc Yên giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa.[12] Phạm Quỳnh coi bà như bà mình, thường đến thăm hội, trò chuyện cùng bà. Bà Cả Mọc nhận vợ Phạm Quỳnh làm thủ quỹ của hội. Cô Vân vốn không biết chữ, nhưng tinh ý lại nhớ dai. Cô chỉ thu, chi rồi cố nhớ thật kỹ, về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng, ông phải viết hàng trăm biên lai, chứng từ và vào sổ sách thay cô. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”[13]

Sau này, tuy bận nhiều công việc, ông vẫn cố dành chút giờ rảnh rỗi đem Nhị Độ Mai, Kiều,… ra đọc cho vợ nghe. Vì bà, tuy không biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ nhưng lại rất sành tiếng Việt, thuộc nằm lòng Truyện Kiều và vô số ca dao tục ngữ dân ca…[14]. Tuy không ham, nhưng ông cũng cố học đánh mạt chược mà ông biết bà thích và chơi khá thạo. Chỉ cốt để cùng bà và gia đình tiêu khiển trong mùa mưa xứ Huế.[15]

Còn có bằng chứng nào “hùng hồn” hơn về tình yêu của ông đối với vợ là họ đã có với nhau đến mười sáu mặt con! Ông bà sống với nhau được ba mươi sáu năm, kể từ người con trai cả sinh năm 1911 đến cô con út sinh năm 1938, trong hai mươi bảy năm ấy, ngoài ba người mất từ khi chưa đầy tuổi tôi, cũng còn lại đến năm trai và tám gái. Tuy đông con như thế nhưng hiếm có người cha nào trên đời này lại yêu thương chăm sóc con cái đến như ông. Những người con của ông, ít tuổi nhất nay cũng đã ngót bảy mươi, người lớn tuổi nhất hiện còn sống đã ngoài chín mươi, nhưng không một ai quên được nhưng kỉ niệm về tình thương yêu và sự chăm sóc ông đã dành cho mình. Đông con như thế mà ông vẫn chú ý đến từng người một, và yêu thương chăm sóc các con như nhau, không hề có sự “trọng nam, khinh nữ” hoặc “con yêu, con ghét” như thói thường vẫn vậy. Ông cũng không bao giờ lấy quyền làm cha để bắt các con phải theo ý mình, mà chỉ cảm hoá bằng tình thương yêu và lẽ phải mà thôi. “Dĩ thân vi giáo” là cách giáo dục của ông. Ông bao giờ cũng thân thiết, gần gũi bầy con đông đúc, nhiều vẻ.

Các con ông gọi cha bằng Thầy, gọi mẹ bằng Me và xưng là Em. Có lẽ là do ông gọi vợ theo kiểu TâyMe (Mère) , còn bà thì gọi ông theo kiểu taThầy nó. Và cả hai đều quý các con, thường gọi nựng khi còn nhỏ là Em, lâu ngày hình thành nếp xưng hô độc đáo của riêng gia đình ông.

Mười sáu tuổi lấy vợ thì mười bảy tuổi ông có con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Theo lệ cũ: tên con trai suy từ tên cha ra, đã có cây quỳnh tất phải có cành giao. Hai năm sau, vợ ông sinh một bé gái trắng nõn nà như cọng giá, nhà bèn đặt tên là Giá, ông cũng chấp nhận. Hai năm sau nữa, lại một bé gái ra đời, cứ ngày ngủ đêm thức, nhà lại đặt luôn cho tên là Thức, ông lại cũng chấp nhận, cho làm khai sinh như thế. Sự dễ dãi này cũng dễ hiểu, người thời ấy thường không coi trọng việc đặt tên cho con gái, vì sau này lấy chồng thì sẽ lấy tên chồng thôi. Nhà số 1 phố Hàng Trống là nơi chôn nhau cắt rốn của ba anh em. Sau này, khi đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong, dọn về ở số 5 phố Hàng Da, các con sinh ra đều được ông chọn đặt tên cẩn thận. Trước chuyến đi Pháp năm 1922, ông có thêm ba con, một trai là Phạm Bích, hai  gái là Hảo và Ngoạn. Mới hai mươi chín tuổi, ông đã sinh đến sáu con.[16] Chỉ đọc những dòng ông viết trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên báo Nam Phong năm ấy, cũng thấy được ông thương yêu các con đến thế nào

Thứ ba, 20-6: Chánh Công ty rượu Đông Pháp mời cơm trưa…Dự tiệc… còn có ông em ruột… bà em dâu và hai đứa cháu gọi ông bà bằng bác. Hai thằng bé ngộ quá, mình chơi đùa với chúng nó lại càng thêm nhớ đến lũ con ở nhà.” Phải, ở nhà ông cũng có hai thằng bé là Giao và Bích mà…

Thứ sáu, 23-6:…vào hiệu ảnh, chụp cái ảnh gửi về nhà”.[17] Ông gửi ảnh ấy về thì bà lại gửi sang cho ông bức ảnh ông mặc áo gấm bế bé gái Ngoạn. Ảnh chụp trước lúc ông đi xa. Ai ngờ, sau đó ông diễn thuyết đến bốn bận, có lần ở cả Viện Hàn Lâm Pháp, khiến các báo Paris xôn xao lên, tranh nhau đăng bài nói của ông, còn xin cả ảnh để đăng kèm cho thêm sức thuyết phục. Bấy giờ, tuy mới chụp ảnh mặc âu phục gửi về nhà, nhưng ông lại không dùng ảnh ấy, mà đưa đăng bức ảnh mặc áo dài khăn đóng, đang bế con gái mới vừa mấy tháng. “” Phạm Thị Ngoạn, sau này là tiến sĩ đại học Sorbonne Paris với luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong) nghiên cứu về sự nghiệp chủ yếu của đời ông, vẫn luôn giữ bên mình bức ảnh đó, coi như báu vật quý nhất đời mình. Bà nắn nót đề sau ảnh dòng chữ: “Tôi đã có mặt trên báo chí Paris từ năm 1922”. Năm 1921 là năm sinh bà Ngoạn

Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.” Thế là đang sống giữa Paris phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, lòng ông vẫn hướng về quê nhà; ông vẫn nhớ là sắp đến Tết Trung thu, và càng nhớ các con.

Thứ năm, 29-6: Năm giờ chiều mới ở vườn bách thú ra, trước khi lên xe, mua một mớ cartes postales (bưu ảnh) các giống thú lạ để gửi về cho các trẻ nhỏ ở nhà. Nào là sư tử, nào là hổ báo, nào là hươu nai, nào là vượn khỉ, mỗi cô mỗi cậu được mấy con giống, xem mà tranh nhau ỏm tỏi! Còn cái con nai cao cổ kia, chắc anh chị nào cũng thích, ta phải mua đến nửa tá mới đủ. Nửa tá là đúng, bấy giờ ông có vừa đúng nửa tá…con, hai trai bốn gái, kể cả cô mới sinh mấy tháng trước khi ông đi.

Và rồi, “Thứ hai, 17-7: đi vào vườn Luxembourg. Vào đến giữa vườn, trông cái cảnh mới đẹp sao!…Nhưng đẹp nhất là cái cảnh mặt trời về tây, bóng dương đã xế, mây vàng ngẩn ngơ, thật là Trời tây bảng lảng bóng vàng

Không gì đẹp bằng góc trời đó, mà cũng không gì buồn bằng đám mây đó. Vì trông mây, lại sực nhớ đến nhà: Lòng quê gửi đám mây vàng xa xa. Mến cảnh nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang thêm nữa. Trời vừa sập tối, lính canh vườn đã nổi trống để giục khách tháo lui. Lủi thủi bước ra, đi thẳng về trọ…mãi canh khuya vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Từ ngày sang đây đến giờ, đến hôm nay, mới thấy buồn là một, thật là: Lạnh lùng thay giấc cô miên”[18]

Ông nhớ nhà, nhớ vợ và các con là phải. Biết bao việc hằng ngày trong gia đình gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ, ông cùng các con đi xem phim, cứ mua bốn năm vé, mấy cha con cùng ngồi xem. Thời ấy, phim câm, thỉnh thoảng có chiếu chữ Pháp trên màn ảnh. Ông đọc rồi giải thích cho mấy anh chị em, cứ truyền khẩu nhau mà nghe. Khi có kịch cải lương hoặc vở chèo nào hay, thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.[19]

Sáng sáng, ông dậy sớm, đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà là dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất thời ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng, gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào chén cà phê nhỏ, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi, đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Ông lo chăm sóc các con như thể sợ vẩn vơ là có thể lúc nào đó, ông sẽ bị mất một đứa, mà đứa nào ông cũng quí, cũng yêu với tất cả tấm lòng! Vậy mà, ông đã phải gánh chịu tai hoạ đó. Không phải chỉ một lần…

Cô con thứ bảy mất lúc mới được nửa năm, còn cô thứ chín cũng chỉ sống với ông vẻn vẹn có chín tháng. Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Ông mời thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được. Ông đi bộ theo chân kiệu tang bé nhỏ, đưa các con đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có lần đang ngủ ông bỗng hốt hoảng choàng dậy, vội vã chạy sang buồng vợ, tưởng như nghe thấy có tiếng con nhỏ khóc. Ông vốn cận thị, lại không kịp đeo kính, nên lao cả đầu vào cửa kính mới bừng tỉnh, rồi thở dài, lủi thủi về lại giường nằm, trằn trọc cho đến sáng. Con gái đầu của ông, cụ Phạm Thị Giá, đến năm ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn nhớ như in trong óc cảnh tượng này.

Năm 1926 ông bà lại sinh một gái. Ông quyết định đặt tên con là Hoàn và nói rằng: “Đây là trời “hoàn” lại, thay cho hai người con gái đã mất”. Bé Hoàn được ông bà yêu chiều đặc biệt. Bữa cơm thì cho ngồi ghế mây cao ở giữa, ông một bên, bà một bên. Ông hỏi: “Em yêu thầy hay me?”. Khi cô bé trả lời: “Em yêu thầyme”, thì bà lại hỏi: “Em yêu me hay thầy?”. Và cô bé đáp: “Em yêu methầy!”. Ông như muốn nhìn thấy qua hình hài bé Hoàn cả hình bóng hai con gái ông rất mực yêu thương nhưng mệnh yểu.

Nhưng định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải đau khổ vì mất con một lần nữa. Sau bé Hoàn, bà lại sinh cho ông một bé gái, đứa con thứ mười một của ông. Thấy con gái xinh xắn, nhỏ nhoi, ông mới đặt tên cho em là Yến. Bấy giờ có nữ thi sĩ Pháp là bà Jeanne Duclos Salesse mến phục tài ông, thường lại nhà chơi, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên, rồi làm tặng một bài thơ, có câu:

Xin chào Chim Yến Nhỏ, đã khéo chọn hình mẫu từ những nét của mẹ em xinh đẹp, để ngời sáng lên như một viên kim cương, ơi Chim Yến”

Nhưng mới được năm tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo, chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh cũng chẳng hề thuyên giảm, cứ ngày một nặng lên. Bé Yến suy kiệt, héo hon dần ngay trước mắt ông. Nhiều đêm, ông bế con gái nhỏ, yếu ớt như cái giải khoai, để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt, cao chừng tám mươi  phân, cổ tượng ông có đeo cho một chuỗi hạt san hô đỏ, trước tượng, đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ đi như thế suốt đêm, bế con vác vai, miệng khe khẽ ngâm nga những câu thơ cổ, mong ru em ngủ, giấc ngủ mong manh, chập chờn. Nhưng rồi, việc ông lo sợ nhất vẫn cứ đến, Chim Yến Nhỏ lại cũng bỏ ông mà bay đi. Sau khi tác giả bài thơ tặng em về Pháp được một tháng.

Nhiều năm sau, khi được tin bà Salesse mất, ông có làm bài tưởng niệm, trong đó có câu:

Bà Jeanne Duclos không còn nữa! Kỉ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi, sau khi bà lên đường một tháng, đã bay về Trời; nơi ấy, chắc là bà sẽ gặp lại em

Ông vẫn không sao quên được tổn thất lớn lao mình đã phải chịu đựng năm ấy. Mất một đứa con, là ông đứt một khúc ruột

Giữa hai cô con yểu mệnh, ông được một trai khôi ngô, mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong “nhị thập bát tú” (sau này sẽ là Giáo sư nổi tiếng về lão khoa, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, và từng được bầu làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Dương quê hương ông, với số phiếu cao nhất). Sau Chim Yến Nhỏ, ông lại được thêm một trai nữa. Cậu này thay chỗ bé Hoàn trong bữa ăn gia đình, được ngồi giữa ông bà. Ông đau dạ dày, quanh năm chỉ ăn xôi với ít thịt gà thịt lợn kho. Bữa xôi nào, ông cũng chỉ xắn ăn chung quanh, để lại giữa đĩa một cái “cù lao” nhỏ, dành cho bé Tuyên. Cái cung cách để dành lại cho con một chút thức ăn đó, ông có đã lâu. Cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ: “ Có đêm, tôi ngủ đã lâu, tỉnh dậy, thấy bên bàn giấy thầy đèn vẫn sáng. Tôi thương thầy làm việc quá khuya, mở cửa sang, thì thầy hỏi: “Con ngủ rồi à, sang đây ngồi chép cho thầy.” Tôi ngồi vào bàn viết và thầy ra ngồi ghế xích đu, cầm quyển sách, dịch và đọc thẳng như người ta đọc chính tả cho tôi viết, đến mỏi cả tay. Đêm càng khuya, thầy càng tỉnh táo và giọng đọc vẫn rõ ràng. Sau chừng hai tiếng đồng hồ, tôi vừa mỏi tay, vừa buồn ngủ thì thầy mới như chợt nhận ra, và bảo tôi cắt cam cho thầy xơi…Cam bổ làm sáu, thầy xơi bốn miếng, còn hai miếng, bảo tôi ăn. Thầy còn nói vào mắc áo có cái gi-lê trắng của thầy, trong túi có gì thì thầy cho. Tôi vào lục túi, được mấy hào lấy làm sung sướng lắm, đó là thầy thưởng công cho tôi”.[20]

Sau đó, ông bà còn sinh hai gái nữa, đặt tên là Diễm (tên khai sinh bị ghi nhầm là Giễm, không sửa được!) và Lệ; chỉ bằng vào hai cái tên thôi, cũng đủ biết hai cô xinh đẹp dường nào. Rốt lòng là một trai tên Tuân, một gái út tên Viên, có thể là do khi sinh ra cô tròn trặn, mà cũng có thể ông cho đàn con đông đến như vậy là “viên mãn” rồi.

Bà Phạm Thị Hoàn còn nhớ: “Vào Huế tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh tay trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai, chóng nhớn, vươn vai, chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến thầy tôi “tỏ tình” với các em bé, nên cũng yên chí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy”.[21] Ông vẫn yêu mến, chăm sóc các con hết lòng, dù đó đã là các con thứ mười bốn, mười lăm, và mười sáu của ông.

Ông thường nói với các con là mình không có tuổi thanh niên. Trong thời gian còn làm báo, đôi khi ông cũng có lần cùng bạn bè tới các ca lâu tửu điếm, thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán thời ấy cho phép, người ta hỏi ông có “chấm” một cô đào nào không thì ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy, nên không bị cám dỗ”.[22]

Ông không bao giờ cáu giận, to tiếng với ai cả. Bực mình lắm, cũng chỉ thấy ông tặc lưỡi là cùng. Ông không bao giờ dùng quyền uy hay hình phạt. Con trai cả ông đã kết duyên với con gái ông bạn văn thân thiết nhất của ông, sinh được hai trai, thì lại đem lòng yêu thương và lấy một cô gái Huế “tân thời”, rồi đưa nhau vào tận Sài Gòn sinh sống như dân lao động, khi ông đã là mệnh quan của triều đình. Ngày giỗ kị, các quan mũ áo chỉnh tề đã tề tựu đông đủ, mới thấy cậu cả về nhà, mặc bộ đồ tây vàng, thời ấy chỉ những người phát thư mới mặc, đi thẳng vào giữa hàng các quan đang khúm núm, chìa tay ra suồng sã bắt tay từng người và chào hỏi tự nhiên. Tin đồn: “Cậu cả con cụ Thượng vào Sài Gòn mở tiệm cơm đeo bị cói đi mua thịt bò ở chợ Bến Thành” khiến không ít người dị nghị: “Sao cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú Ba Tàu!” Nhưng ông chẳng có hình thức trừng phạt gì, cũng không trách mắng con trai. Ông vẫn thương và giúp đỡ tận tình cả con trai với cô vợ cả và hai con trai, lẫn cô vợ lẽ và ba đứa con, không hề phân biệt đối xử, coi cũng như các con cháu khác của ông vậy, khiến cho gia đình tám con người ấy vẫn sống hoà hợp lâu dài mà không đi đến hận thù, đổ vỡ. Đương thời, một thạc sĩ y khoa trẻ, tốt nghiệp từ Pháp về Huế, do yêu thương và quyết xin cha cho lấy một cô gái Huế “tân thời” người Hoàng Tộc, nhưng trái ý cha, đã bị bắt nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên, trên mông đặt một cái roi mây “để tổ tiên trừng phạt tội bất kính, làm bại hoại gia phong”, ngay trước mặt bà con dòng họ, làm xôn xao xứ Huế một thời.[23]

Ông theo dõi tỉ mỉ và tạo mọi điều kiện cho con cái phát huy thiên hướng của mình, không hề áp đặt, kể cả trong học hành lẫn vui chơi, giải trí. Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn, rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn cây cỏ hoa lá xanh tươi. Chung quanh nhà, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh mát rượi. Kế đến là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đảo đang trưởng thành mà ông đã chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một Thiên Đường của lũ trẻ, giữa thiên nhiên thoáng mát. Con trai con gái lớn ông, mỗi người một phòng riêng. Cậu cả thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương; cậu hai lại thích ghi-ta cổ điển phương tây; cậu ba ham đàn phong cầm; cậu tư mê cả ghi-ta lẫn phong cầm, sau này sẽ thành nhạc sĩ nổi tiếng của nước ta là Phạm Tuyên, tác giả hơn sáu trăm ca khúc, đặc biệt là bài  Như có Bác trong ngày đại thắng mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc…Có lần rỗi rãi, ông xuống thăm nhà gỗ, thì gặp Phạm Bích con trai thứ hai của ông đang đệm đàn và hát cùng Hoàng Gia Lịnh bài Việt Nam bất diệt anh này mới sáng tác đưa bạn xem thử. Ông khen hay, bảo cứ hát tiếp đi, rồi đứng yên nghe hai người hát cho đến hết bài, mới đi chỗ khác. Kỉ niệm ấy, đến năm ngoài tám mươi tuổi cụ Lịnh vẫn còn nhớ rõ.[24]

Lần khác, muốn giới thiệu các con với một bạn người Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang tổ chức “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ. Âm nhạc do Phạm Vinh, đính tôn của ông (sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là nhạc sĩ quân đội, trưởng Đoàn Văn công Trường Sơn) tùy cảnh trong phim mà mở các đoạn nhạc thích hợp có trong những đĩa hát cũ, bằng kèn hát lên dây cót. Các cháu nhỏ, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée, thật ngoài mong ước của lũ trẻ. Còn các cô gái thì đan len, thêu thùa hoặc học hát cũng là ở nhà gỗ cả. Các con cháu ông có thói quen hát nhiều bè, chỉ cần một người cất tiếng hát là có người khác phụ hoạ, hát đệm theo luôn, có khi đến ba bốn bè. Về thể thao, các con ông ham bơi lội, quần vợt, săn bắn và câu cá ở ngay con sông nhỏ An Cựu trước cổng nhà. Hầu như ai cũng biết vẽ. Và tất nhiên, ham đọc sách báo, thích thơ văn. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “bản báo phóng viên”, “biên tập”,  “hoạ sĩ trình bày”…thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn kỳ lạ, và có phóng sự thuật cả chuyện “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya…” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ còn là nơi các thầy dạy kèm được ông  mời đến dạy các con cháu nhỏ học buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học, tự chúng có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Vào tuổi xế chiều, Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập vẫn thấy cần chia sẻ một ký ức tuổi thơ với đông đảo cử tọa của Ngày Phạm Quỳnh (năm 1999). Một hôm cậu Tập, học trò lớp nhất tiểu học được bạn cùng bàn là Xương mời đến chơi biệt thự Hoa Đường. Cậu đến thì bị hai lính lệ gác cổng đuổi. Hôm đi học, bèn nói cho Xương biết. Chủ nhật sau, cậu đi câu cá ở sông An Cựu, qua cổng thì hai anh lính hôm trước rượt theo, lễ độ Mời vào chơi với cậu Xương Cụ Thượng muốn gặp cậu. Cậu vào thì Xương giới thiệu với bác mình là cụ Thượng. Giáo sư kể: “Thong dong, hiền từ, tế nhị không nhắc đến chuyện cũ, cụ Phạm thăm hỏi gia đình tôi và dẫn vào thư viện xem sách. Sách, đâu cũng sách là sách… Cụ giảng cho biết thế nào là loại sách quí…”[25]

Con người cô đơn là ông luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy con cháu đông đảo, lạc quan, năng động. Ông như thấy có trách nhiệm với cái bộ lạc mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định gì có thể gây tổn thất cho bộ lạc của mình, làm “sẩy đàn, tan nghé”, ông e ngại tất cả những gì quyết liệt, mang tính bạo lực. Những việc ông dồn tất cả tâm sức vào làm cũng chỉ là để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lặng lẽ âm thầm làm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường của mình, mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong bộ lạc thân yêu của mình, để tiếp tục sống mà làm việc. Có lẽ ông nghĩ: không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm với những việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng; cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy; bởi cái gì phải đến, tất sẽ đến đúng lúc cần phải đến thôi…Ông vốn là người cho thì thật nhiều, mà nhận thì chẳng bao nhiêu.

Ông cũng không nệ “môn đăng, hộ đối” như lề thói đương thời. Cô con cả ông được một thanh niên nghèo người Huế đem lòng yêu thương. Anh là con một quan huỵên thanh liêm về hưu trước tuổi, tự làm việc nuôi thân ăn học thành tài, lại thay cha nuôi cả gia đình đông đúc, sau này là một trong tám vị sáng lập trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng ở Hà Nội. Thấy người có đức có chí, khi con gái thuận tình, thì ông cũng bằng lòng gả cho. Ông trọng ông thông gia là quan huyện thà về hưu ở lứa tuổi bốn mươi còn hơn là theo lệnh Tây đi lùng bắt những “người làm quốc sự”mà mình cho là lương dân. Một lần sinh nhật ông, ông này đến dự, có cho người mang theo một mâm lễ lớn, phủ vải đỏ. Ông đưa hai tay đón nhận, cảm ơn là Đã cho quà nhiều quá! Và sai người nhà mang vào nhà trong, rồi kính cẩn mời ông thông gia vào bàn thượng khách. Ông không cho khách dự – phần lớn là các quan trong triều và giới thượng lưu trí thức- thấy món quà tặng đó: Chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà![26]

Vợ chồng cô con cả sinh con đầu lòng năm 1932, ông vào tận bệnh viện thăm cháu gái và cho biết là năm ấy, ông sẽ vào làm quan trong Huế. Ông vuốt má cháu ngoại đầu tiên mà nói: “Sang năm, vợ chồng cho cháu về Huế thì tiện, có bên nội lại có cả bên ngoại nữa.” Sau đó, cứ mỗi lần gia đình này về Huế, ông lại cho lái xe ra tận ga đón, rồi đưa thẳng cả nhà về bên nội ở  một thời gian, sau mới cho đón về bên ngoại, ở lại lâu hơn.

Các con ông đều lấy người mình yêu thương, không hề có cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” như đương thời. Ông yêu quý tất cả dâu  rể, âu yếm tất cả các cháu nội ngoại. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đảo, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường rộng lớn, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con dâu rể và lũ cháu nội ngoại lớn nhỏ tuỳ tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, là con cháu bu lại, mỗi người một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàng lợi cứng, không còn sót một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà. Cho nên, sau khi gia biến, ông không còn, nhưng cụ Hạt, cụ bếp Nguyên, u Nấm, u Viết vẫn giúp việc vợ con ông cho đến tuổi già, tận tình và trung tín. Cụ thợ may Liễn (tên thường gọi là ông Hai Lươn, em ông Cả Trạch), thường xuyên thăm nom, giúp đỡ gia đình cô con cả ông những khi có việc. Các con cái cụ như Sâm, Nhung…thường đi lại, gắn bó thân thiết với cháu ngoại Phạm Quỳnh. Các ông Bồng, Huệ, Thìa, Khoá, Hồ, Gà… vẫn gắn bó như xưa. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, hội nghị giáo dục toàn miền Bắc họp lần đầu. Con trai Phạm Quỳnh là giáo viên Khu Học xá Trung ương từ Nam Ninh (Trung Quốc) về nước dự. Buổi tối, họp kín, chỉ toàn Đảng viên. Giờ giải lao, thì có một người cùng họp đến gặp, hỏi có phải là con Cụ Phạm không, rồi tự xưng Tôi tên là Thìa, em anh Khoá đây, thân thiết, không chút e ngại.

Trẻ con đông, lại nhiều cháu trai hiếu động, gây ồn ào, đổ vỡ, hư hỏng này nọ. Nhưng, tuyệt nhiên không đứa nào bị ông trách mắng hay có hình phạt nào cả. Có con cháu quây quần là ông vui rồi.

Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao, lớn lên lấy vợ lấy chồng  tên là gì, năm nào sinh con ông ghi đủ cả[27]

Bà Hoàn, hồi nhỏ ở Huế thường giúp ông các việc vặt như: mở máy hát các điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy, những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần Cung Oán…hay đọc sách cho ông nghe và chuyên cắt móng tay cho ông. Năm gần bảy mươi tuổi, bà vẫn còn nhớ: “Mỗi lần như vậy, thầy tôi lại nói đùa: Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn. Riêng câu đó cũng chứng tỏ thầy tôi luôn luôn dung hoà cái xưa và cái nay”.[28]

Ông yêu quý những người thân của mình và cũng được đáp lại bằng tình cảm kính yêu chân thành, tha thiết nhất.

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường lúc mới năm mươi hai tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mình tâm đắc nhất. Được đúng năm mươi mốt bài thì gửi Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút trong một cuốn vở học trò, mới được non năm mươi trang giấy.[29] Tháng sáu năm ấy, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”…”Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học”…” Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này”…”Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”[30]

Từ lâu, ông đã muốn thoát khỏi quan trường mà không sao thoát được. Năm 1932, nghe tin ông nhận vào Huế làm quan, Hoàng Đạo Thúy đã can ngăn hết lời, nhưng ông vẫn ngây thơ trả lời rằng: “Tôi vào thử một tháng, không làm được gì thì tôi lại ra”.[31] Ông còn nói với nhà báo Nguyễn Vạn An vào tháng 6-1945: “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả”.31

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[32] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[33] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường. Rồi ngày 23-8, nghe có lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế,[34] ông giục con cái chuẩn bị áo quần chỉnh tề, đem cờ nhà may, sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng dân làng An Cựu.

Nhưng rồi, đến trưa ngày 23-8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động, thì có mấy người đi xe hơi đến “đón” ông đi. Cô Hoàn, thường quấn quít bên ông từ nhỏ, vội vàng chạy theo ông, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé” (Vì cô vẫn biết mỗi ngày ông phải uống thuốc ấy bốn lần do đau dạ dày). Thì ông quay lại, dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về[35]

Xe chạy, và ông không bao giờ về nữa

Trước cổng  biệt thự Hoa Đường xưa “là chiếc cầu cho các thuyền dọc hay đò ngang ghé đậu nay vẫn như xưa. Người dân quê chân phương không ai bảo ai, đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm”.[36]

Tháng 10- 2000 – Tháng 4-2006

* Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(56). 2006 với nhan đề Phạm Quỳnh-Người nặng lòng với nhà


[1] Hoàng Đạo Thúy: bản dịch Trích gia phả họ Hoàng Đạo:

-Phụ: Bên Ngoại (Hoàng Đạo Thành soạn, viết)

– Phả ký học trò viết (Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết)

[2] Hoàng Đạo Thuý: Các việc tiếp theo (viết ngày 16-7-1991, tại Hà Nội)

[3] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[4] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[5] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[6] Theo lời kể của ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này, năm 1999

[7] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[8] Theo lời kể của bà Lê Thị Trung, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này ngày 19-1-2000

[9] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[10] Phạm Thị Giá:    –      Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–          Thư gửi con trai (25-5-1988)

–          Thư gửi em gái (14-9-1992)

[11] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[12] Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa, NXB Văn Hoá – Thông Tin, Hà Nội, 2000

[13] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[14] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[15] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[16] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[17] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[18] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[19] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

Thư gửi em gái (14-9-1992)

[20] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[21] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[22] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[23] Theo lời kể của bác sĩ Ngô Văn Quỹ, trực tiếp kể cho người viết bài này, tại Thành phố Hồ Chi Minh, năm 1999

[24] Theo lời kể của Giáo sư  Sử  học Hoàng Gia Lịnh, sống ở Paris trực tiếp kể cho người viết bài này.

[25] Nguyễn Phước Bửu Tập – Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá số 50, Mỹ

[26] Theo lời kể của bà Tôn Nữ Việt An, cháu ngoại Phạm Quỳnh, trực tiếp kể cho người viết bài này qua điện thoại (tháng 1-2006)

[27] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

–    Thư gửi con trai (25-5-1988)

–    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[28] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[29] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và Di cảo, NXB An Tiêm, Paris, 1992

[30] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23-3-1952

[31] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[32] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[33] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[34] Tố Hữu: Nhớ lại một thời, trích hồi kí đăng trên Tạp chí Văn học, số 8 năm 2000, chương V: Khởi nghĩa

[35] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[36] Phan Kính Đức: Từ Hồ Chí Minh đến Phạm Quỳnh, tạp chí  Sóng, Mỹ

Tháng Chín 30, 2017

Người nặng lòng với tiếng ta

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 5:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

 

PHẠM QUỲNH – NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI TIẾNG TA

P

hạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương Đường mà tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Nhưng lại sinh tại Hà Nội, số nhà I phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm, ngày 30/1/1893, cuối năm Nhâm ThìnF[1]F. Gia đình ông sớm lên Hà Nội lập nghiệp; vì cả làng hầu như chỉ có một nghề là “nghề dạy học”

Từ khi lọt lòng, Phạm Quỳnh đã èo uột. Chín tháng, mẹ đột ngột qua đời. Bà nội là cụ Cả phải bế đi xin bú chực hàng xóm, láng giềng và mớm cơm cho ăn. Còn phải chăm sóc cháu ốm đau luôn; vất vả nhất là hồi bị đậu mùa. Sau này, di chứng sót lại là khuôn mặt tuy trắng trẻo, có vẻ thư sinh, lại hơi rỗ hoa, và một bên mắt nhìn rất kém. Mãn tang vợ, ít lâu sau, cha tục huyền, sinh được một trai, đặt tên là Phạm Bái. Còn èo uột hơn cả anh.

Thân phụ là Phạm Hữu Điển, xuất thân tú tài nho học, dạy nhiều học trò. Nhưng, chính con trai, thì trước sau chỉ học được có hai chữ nho viết tên mà thôi! Năm Phạm Quỳnh lên chín, lại mất cha. Chẳng bao lâu sau, cậu bé Bái cũng mất. Bà mẹ kế còn ít tuổi, được phép nhà chồng, đi bước nữa.

Phạm Quỳnh được bà nội nuôi cho ăn học. Hai bà cháu sống cùng bà cụ Tú, vợ người tuyệt tự đã cho ông nội hưởng thừa tự một căn nhà hình ống nhỏ hẹp. Nhà này do học trò dựng để thờ thầy là cụ Dưỡng Am Phạm Hội, thân sinh chồng bà cụ Tú.

Hai bà cụ tính, dù sao cũng phải cho đứa cháu côi cút, yếu ớt “đi học cho có cái chữ, để sau này còn có cái ra mà sống với đời chứ.” Bèn cho đi học ở trường Pháp Việt gần nhà.

hinh-1

Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất ham, học nhanh lắm. Chẳng bao lâu, được vào học không mất tiền ở Trường Thông Ngôn Hà Nội (Collège des Interprètes) bên sông Hồng. Sau đó, trường này hợp nhất với trường Sư phạm, Trung học Pháp Việt và trường Tiểu học thuộc trường Sư phạm, với trường sở là các khu nhà của nhà máy in Schneider gần Hồ Tây, Trường Trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) mà dân ta thường gọi là trường Bưởi, tức trường Chu Văn An sau này. Vẫn không mất tiền học, lại còn được học bổng.F[2]F Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu trường Thành Chung Bảo Hộ. Tuy mới 15, 16 tuổi đầu, ông đã chính thức trở thành công chức, làm thông ngôn tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Extrême-Orient) ở Hà Nội. Hằng ngày, đi bộ từ phố Hàng Trống, qua hồ Hoàn Kiếm đến dấy làm việc và học tập miệt mài. Ham học đến nỗi có lần bị khiển trách vì “lơ là công việc được giao”.

hinh-2Thấy cụ Tú đã già và cụ Cả còn khoẻ, nhưng tuổi cũng đã cao mà hai cụ vẫn phải sớm hôm chăm lo, bận rộn vì mình, ông áy náy quá.

Năm sau, nhờ người mai mối, ông cưới cô Lê Thị Vân, con cả một gia đình ký lục, gốc nông dân. Cô cũng sinh năm Nhâm Thìn như ông, nhưng là đầu năm, có hai em gái và một em trai út. Cô này khoẻ mạnh, tươi tắn, trắng nõn nà. Tóc để đuôi gà, răng đen nhưng nhức hạt huyền, đúng như lòng ông hằng mơ ước. Chính năm 1909 này, Trường Viễn Đông Bác Cổ cử ông sang Pháp làm chức trợ giáo cho giáo sư Deloustal, giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trường Đông Phương Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Nhưng, bấy giờ, mới lấy vợ, ông không chịu đi. Trường phải thay bằng ông Phan Văn Trường.

Đôi vợ chồng son vẫn sống trong căn nhà nhỏ hình ống với hai bà cụ, nhưng ở buồng ngoài, có cửa tò vò, sát đường phố. Tiếp đó là cái sân nhỏ, có giếng nước. Rồi đến buồng hai bà cụ và bàn thờ hai cụ ông. Đây cũng là nơi kê bàn học và làm việc của Phạm Quỳnh thời trẻ. Và cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ nếp đó: học hành, viết lách, làm việc trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm. Sau một cái sân con nữa là nhà thờ cụ Dưỡng Am Phạm Hội. Trong cùng là một khoảnh vườn khá to. Giữa vườn có cây táo và một cây bồ hòn, lấy quả để giặt giũ.

hinh-3

Cuộc sống gia đình đỡ gieo neo, hai cụ đỡ vất vả, Phạm Quỳnh yên lòng, cảm thấy hạnh phúc đơn sơ mà thật quý báu vô cùng.

Cô Vân, vốn con nhà nông, hay lam hay làm, khéo quán xuyến việc nhà, lại tài nấu nướng, để chồng yên tâm đèn sách. Cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von, thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện Kiều, nhưng không biết chữ nho, cũng chẳng biết chữ quốc ngữ. Chỉ rất rành tiếng ta, nhất là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, các sự tích vùng quanh làng Lương Ngọc quê chồng, hay làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, “quê hương quan họ” của cô.

Vốn ham học, giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu tiếng ta, quí trọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh tìm thấy trong chữ quốc ngữ mới phôi thai một vũ khí chiến đấu phục vụ Tổ Quốc hợp với sức mình. Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân tộc hằng ngày qua lời ăn, tiếng nói của hai cụ bà và cô vợ trẻ yêu. Từ câu hỏi thăm sức khoẻ buổi sáng, những lời trò chuyện, bàn bạc trong hai bữa cơm đến những khi gia đình sum họp dưới đèn chuỵên vãn và cả lúc đêm khuya thanh vắng, nghe lời thỏ thẻ của cô vợ trẻ, đang lúc dào dạt yêu thương. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức Đông Tây, kim cổ mà chàng thanh niên ham học hấp thụ hằng ngày trong công việc khảo cứu tại trường Viễn Đông Bác Cổ, khiến chàng càng tin vào sức sống mãnh liệt của tiếng ta. Nhất là từ nay, đã có phương tiện thuận lợi để thể hiện trên mặt giấy. Đó là chữ quốc ngữ. Ông hăm hở lục lọi các kho tư liệu cũ nát phủ đầy bụi thời gian, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hai thứ chữ do công việc bắt buộc ông phải khổ công tự học, đến nay, đã làm chủ được rồi. Một hôm, ông sững sờ khi đọc lần đầu tiên hai bài văn tế tướng sĩ viết bằng chữ Hán của một nhà nho yêu nước chống Pháp, trong tập Lệ ngữ văn tập. Bài văn lay động mạnh tâm hồn ông. Ông bắt tay ngay vào dịch với mong muốn để nhiều người, cả Việt lẫn Pháp, có thể tiếp xúc được với ngọn lửa yêu nước thương dân ngùn ngụt cháy trong lòng nhà nho nọ. Một việc làm quá sức ông. Nhưng, với lòng kính yêu tha thiết các chiến sĩ chân đất đã dũng cảm đứng lên cứu nước trong cuộc chiến không cân sức, một mình Phạm Quỳnh đã lặng lẽ tra cứu, so sánh, nghiền ngẫm, rồi dịch ra Pháp văn, và khôn khéo đưa vào tạp chí thường kỳ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (số đặc biệt) như “một tài liệu nghiên cứu mới được phát hiện để giúp độc giả hiểu thêm về Việt Nam”

Sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng, những giờ phút nghỉ ngơi bên gia đình yêu dấu-cô vợ trẻ, bà nội, cụ Tú-thật là quý báu, bổ ích. Bên chén chè, họ bàn chuyện nhà chuyện họ tộc làng xóm ở hai quê nội ngoại, Phạm Quỳnh ghi nhớ và còn ghi chép nữa, biết bao là tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói độc đáo từ “ba nguồn suối ngôn ngữ dân gian” ấy. Có những lúc cả ba người phụ nữ như chỉ toàn nói bằng tục ngữ ca dao mà vẫn diễn đạt được trọn vẹn ý mình muốn nói. Mà còn ý nhị, dí dỏm, duyên dáng, sâu sắc hơn lời nói thường. Càng sinh động hơn hẳn những gì hằng ngày ông vẫn đọc trong sách, báo. Ông chỉ nghe; khi chưa nghe rõ thì hỏi, chứ tịnh không dám nói gì. Vì biết mình không thể nói gì hay hơn, đúng hơn các bà. Và ghi chép. Rồi suy nghĩ, nghiền ngẫm. Còn đọc thêm những gì ngưòi trước đã viết về ca dao, tục ngữ, nhất là các tập sưu tầm tục ngữ, ca dao các miền đất nước. Để so sánh, đối chiếu, cố gắng hiểu cho ra ý nghĩa đích thực của từng bài, từng câu, thậm chí từng từ. Rồi những ngày Tết nhất, những dịp giỗ chạp, các cụ các bà, trong đó có bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyên-một nhân vật nổi tiếng của Hà Nội xưa) gọi bà cụ Tú bằng mợ, và các cụ học trò cụ Dưỡng Am, như ông ký lục Đỗ Thận, ông lang Hàng Đường, v.v… đến dự, trò chuyện rôm rả, ông lại càng kinh ngạc trước sức mạnh diệu kỳ của tiếng ta, càng học thêm đựơc bao cách nói tài tình, táo bạo, thâm thuý đến bất ngờ của ngôn ngữ dân gian. Lòng say mê ấy càng tăng lên gấp bội trong những dịp ông cùng vợ về quê, ra đồng xem bà con làm ruộng, trò chuyện cùng hàng xóm láng giềng, nhất là những lúc trò chuyện cùng người thân trong gia đình. Những câu, những chữ tưởng như đã biết, đã hiểu quá rõ rồi, nay nghe lại thấy như có ý nghĩa, sắc thái mới mẻ hẳn khi được nói lên đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, lại trong cảnh thiên nhiên đồng nội đẹp tuyệt vời nơi quê nhà thân thiết. Những buổi sáng, chiều ra đồng làng xem bà con thôn Nhân Thục quê vợ cày cấy, tát nước, lắng nghe và ghi vào lòng mình những lời ca tiếng hát, điệu hò, câu ví, lời đối đáp mộc mạc, dân giã mà thâm thuý, chứa đựng những chân lý từ lao động đời sống mà ra, lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác nhận giá trị đích thực qua chính cuộc sống lao động của nhân dân. Những lúc nghỉ ngơi giữa đồng lộng gió, dưới mái điếm lợp ngói xưa mát rượi, cùng bà con ăn tạm củ khoai lang với miếng cà muối, hay củ dong riềng, Phạm Quỳnh ân cần lễ độ xách ấm đất nung, khi thì nước vối nóng khi thì nước chè tươi, rót ra bát mời từng bà con giải khát, cung kính như với những người thầy đang dạy mình tiếng Việt. Rồi những tối, sau bữa cơm chiều, cùng gia đình uống nước bên hiên nhà, có bà con mến khách Hà Nội sang chơi góp chuyện. Hoặc cùng vợ sang thăm tận nhà bà con, người làng. Đều là những dịp tốt để ông học hỏi được nhiều từ ngữ, lối ăn nói mới lạ, khác xa trong sách vở đã đọc, đồng thời giúp xác minh được không ít những câu, chữ đã biết, nhưng chưa thể yên tâm về mặt chữ hoặc nghĩa. ”Những người thầy” mà ông học được nhiều nhất, vì dám hỏi nhiều nhất, chính là người nhà. Đó là bà Ký, thân mẫu cô Vân, các em cô như cô Hợp, còn gọi là Nhỡ, cậu Tốn, còn gọi là Xuân. Cô Mai dưới cô Hợp, trên cậu Tốn thì ông ít được gặp, vì cô đã bỏ nhà đi nương nhờ cửa Phật từ nhỏ. Nhưng cô Mai lại là một nguồn từ ngữ quý giá khác về ngôn ngữ Phật giáo dân gian thuần Việt. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu người dân thường giản dị qua những người ruột thịt quyện chặt với tình yêu tiếng nói sáng trong, đậm đà sức sống Việt đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn liếng quý báu nhất ấy mà mình may mắn được hưởng cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học, nâng cao dân trí, hầu chung sức cùng toàn dân đưa đất nước tiến lên bằng người. Đó là điều cứ canh cánh bên lòng ông, chằng giây phút nào nguôi. Càng hiểu biết, càng rộng tầm nhìn, càng thêm khao khát góp phần thực hiện. “Từ khi khôn lớn, biết nghĩ đến giờ, chỉ nuôi một cái chí ở trong lòng, là đối với nhà, làm thế nào nối được nghiệp của ông cha…đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong cho quốc văn được sáng sủa; cũng biết rằng tài có khi không kịp chí, nhưng khu khuF[3]F một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi…không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu sang”F[4]

18, 19 tuổi đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Hai năm sau, một gái ra đời. Hai năm kế, lại một gái nữa… Gia đình đông đúc dần, nhưng tất cả vẫn đoàn tụ dưới mái căn nhà nhỏ hình ống được thừa tự ở đầu phố Hàng Trống. Sau này, bà cụ Tú mất được mấy năm thì ông đồng sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, với hy vọng ngây thơ là sẽ lợi dụng được Tây để thực hiện “cái chí bình sinh của mình”. Bấy giờ, ông mới bán nhà cũ đi, mang bàn thờ tổ tiên đến nhà mới thoáng rộng kiểu Tây ở số 5 phố Hàng Da. Bàn học và làm việc, theo nếp cũ, vẫn kê dọc trước bàn thờ như xưa. Phòng tiếp khách ở dưới. Hai tầng nhà này nối với hai tầng nhà kế bên bằng một cây cầu gỗ, lát gạch đỏ, hai bên chấn song chạy con tiện sơn xanh lá cây. Bà nội, vợ cùng các con ở cả bên ấy. Lũ trẻ thường chạy ùa qua cầu sang bên ông, vừa chạy vừa gọi rối rít “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Ông rất thương yêu các con, nhưng vẫn cần có cuộc sống riêng của mình. Tất cả vì “cái chí ở trong lòng”. Hằng ngày, ông vẫn đi bộ đến làm việc ở Hội Khai Trí Tiến Đức, ngay bên Hồ Gươm, cuối phố Hàng Trống. Còn nhà là toà soạn tạp chí Nam Phong rồi.

Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn, sâu sắc đăng trên Đông Dương Tạp Chí từ năm 1913, ông đã trở thành “nhà báo có hạng, văn sĩ thời danh” rồi, mặc dù mới ở tuổi hai mươi. Trong hơn bốn năm, ông dùng báo Nam Phong cổ động, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, dùng chữ quốc ngữ không những chỉ để dịch thơ văn chữ Hán, mà còn dịch cả văn, thơ, triết học, khoa học từ tiếng Pháp, sưu tầm, phiên âm thơ văn chữ nôm, dịch thơ văn chữ Hán của ông cha, tiên tổ. Đã đến lúc Phạm Quỳnh quyết định phải nâng cao lòng tin yêu của người đương thời đối với tiếng ta, bằng cách xuất ra “ cái vốn quí báu nhất” mình có, đồng thời cũng tỏ rõ ”cái chí bình sinh của mình”.

hinh-4

Ngày thứ năm, 21-4-1921, ông đăng đàn diễn thuyết về đề tài ruột, thân thiết nhất mình ôm ấp hàng mấy chục năm ròng. Ông nói với giới trí thức đương thời-mà phần lớn, nếu không sùng chữ Hán, thì lại sùng tiếng Pháp- về tiếng ta. Mà lại là về phần nôm na, dân giã nhất trong tiếng ta: Ông nói về tục ngữ, ca dao. Trước cử toạ là các văn nhân, học giả, giới thượng lưu trí thức; có cả những người Pháp uyên thâm Hán học, hiểu rành rẽ tiếng Việt, ông chân tình nói:

– Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này; thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời…F[5]

Ông nêu câu hỏi là hàng ngàn, hàng vạn năm qua, người nông dân bình thường, không biết chữ “đã lấy gì mà tả nỗi lòng?” Và khẳng định ngay:”là cái tiếng quốc âm rất quý báu của ta.” Rồi nói tiếp “ Há chẳng phải là những lời tục ngữ, câu ca dao ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ! Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một thứ văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương truyền khẩu ấy…thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đây… Tiếng Việt Nam ta, không có gì là không nói bằng phương ngôn tục ngữ được!”F[6]

Sau đó ông dẫn ra vô số tục ngữ ca dao, diễn giải ý tứ một số câu này, bình luận một số câu nọ, khiến người nghe thảng thốt, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bất giác đồng loạt vỗ tay hồi lâu tán thưởng những khi đắc ý, rồi lại say mê hào hứng như vừa khám phá ra một kho báu lâu nay chính mình đã có mà không biết, để rồi hoàn toàn bị diễn giả trẻ tuổi (bấy giờ, ông mới 28, 29 tuổi) thuyết phục. Kết thúc bài diễn thuyết, ông nói vắn tắt mà xúc động, vì đấy là những lời tâm huyết nhất:

-Dù ta học tiếng Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ Quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơnF[7]

Hơn mười năm sau, năm 1932, Tục ngữ ca dao được xuất bản thành sách trong Nam Phong Tùng Thư. Cuối bài diễn thuyết năm nào, có thêm mấy hàng chú thích: “Tục ngữ ca dao là do khẩu truyền, cho nên lắm khi vô bằng. Có khi một câu mà mỗi nơi đọc ra một khác, mỗi người hiểu ra một nghĩa. Những câu tôi chép trong bài này, hoặc sở đắc ở miệng người hoặc nhặt ở các sách người khác biên tập, chắc cũng nhiều câu không được đúng, không thể nào biết hết được. Vậy có chỗ sai lầm, xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho, tác giả có lời cảm ơn trước.”F[8]

hinh-5

Tập Tục ngữ ca dao năm 1932 ấy còn có thêm phần Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Riêng phần Phụ Lục ít nhiều câu tục ngữ xếp thành câu đối có vần và một ít ca dao đã có đến 419 cặp, phần Ca dao xếp tiếp vận có 100 cặp. Còn phần Ca dao đặt thành bài, gồm 30 bài từ bốn câu đến 44 câu, lại có chú thích rõ: “Những bài hát này hoàn toàn truyền khẩu cả, nên cứ bằng vào cửa miệng mà sao, không biết thế nào là đúng”F[9]

Mặc dù tác giả đã viết:”chắc cũng nhiều câu không được đúng”, hoặc “không biết thế nào là đúng” và đề nghị :“Vậy có chỗ sai lầm xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho”, vậy mà hơn mười năm sau khi sách xuất bản, hơn 20 năm sau buổi diễn thuyết tại hội Khai Trí Tiến Đức, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại (tập I) do Tân Dân xuất bản năm 1942 tại Hà Nội, khi viết về Tục ngũ ca dao vẫn phải thốt lên : “Những cái đặc sắc trong quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: Những câu tục ngữ, phương ngôn, và ca dao mà ông lựa chọn đều là những câu rất đúng, không như những câu trong mấy quyển ca dao khác phần nhiều đầu Ngô mình Sở, câu ở bài nọ chắp vào bài kia! Ông lại định nghĩa rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn, và thế nào là ca dao”. Rồi lại bình tiếp:”Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài diễn văn dài, vừa biên tập vừa bình luận, nhưng thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét nhận rất đúng. Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình…”F[10]

Một năm sau buổi diễn thuyết ấy, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu Xảo Thuộc Địa, tổ chức tại Marseille. Chỉ mang theo một cuốn nhật ký nhỏ xíu và một “bản Kiều tùy thân”, người thanh niên Việt Nam nước da trắng xanh, dong dỏng cao, có dáng “lưng tôm”, vẻ thư sinh ấy, đã tranh thủ mọi mối quan hệ bạn bè riêng tư để bốn lần đăng đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng người Việt Nam và văn hoá Việt Nam. Ở đâu, ông cũng nói sâu sắc và hấp dẫn mà chẳng hề đao to búa lớn, không cậy nhờ ở tài hùng biện mà chinh phục cử toạ ưu tú nước Pháp bằng những sự thật lịch sử, những lý lẽ hiển nhiên không thể chối cãi. Đặc biệt, ngày 22-7-1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính Trị Viện Hàn Lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn và kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh. Bức ảnh ông chụp trước khi đi Pháp, bà vợ biết chồng nhớ con vừa gửi sang. Bé gái Việt Nam xuất hiện trên báo chí Pháp năm 1922 ấy, sau này sẽ là Tiến sĩ Sorbonne Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong).

hinh-6

Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

– Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.”F[11]

Những lời được Viện Hàn Lâm Pháp tán thưởng đó là do chính người trong bài diễn thuyết tại quê hương năm trước, đã hào hứng, tự tin khẳng định là:

– Ngày nay, ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi…Tiếng Việt ta hay lắm…người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên.F[12]

Ngày thứ hai, 11 tháng 9-1922, ông kết thúc chuyến “Pháp du” bằng mấy dòng nhật ký:

“Tàu ở Tourane ra đi rất mau, 12 giờ rưỡi đến Hải Phòng”.

“Vào gần bến, vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội xuống đón. Tàu còn từ từ vào, mỗi phút tưởng lâu bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống, người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm, khôn nói nên lời. Bà già mạnh khoẻ, con trẻ bình yên, cửa nhà vô sự, thế là yên lòng.”F[13]

Về nước, càng rộng tầm nhìn, ông càng hăng say lao vào “công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời”.F[14]F Còn về việc riêng, ông đau đứt ruột khi mất một bé gái sáu tháng tuổi; lại mừng vì sau đó sinh được một trai khôi ngô, bèn đặt tên là Phạm Khuê, mong con sau này sẽ là một ngôi sao sáng tựa sao khuê. (Quả nhiên, sau này, Phạm Khuê trở thành Giáo sư bác sĩ y khoa, nhà giáo nhân dân, chủ tịch đầu tiên Hội Người cao tuổi Việt Nam, từng là đại biểu quốc hội).

Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều. Càng đọc càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều tuỳ thân”. Càng say Kiều, lại càng thêm mê tiếng ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn. Để lại càng thêm yêu Kiều, “đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều , trước sau chỉ có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quý báu vô cùng” (Trích từ bài Cô Kiều với tôi của Phạm QuỳnhF[15]F). Và rồi, không thể nào cứ giữ “mối tình” đó trong lòng mình được mãi, ông muốn đem chia sẻ nỗi lòng với toàn dân ta, với cả nhân dân thế giới nữa.

hinh-7Năm 1924, ông đề nghị Hội Khai Trí tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta (8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp cả hội viên; còn thông báo cho nhân dân biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc danh sĩ trong nước thế nào”.

Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:

Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,

Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.

Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế”.F[16]

Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn. Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim “diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương Truyện Kiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn Đôn Phục soạn.17

Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:

– Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi

Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

hay là

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ…” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như môt giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”

“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy…Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra.”

Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”…”Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”

“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”

Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:

-Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta… Nhưng, còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,

Thác là thể phách còn là tinh anh.

“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, trập trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng :” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu (chúng tôi không rõ nghĩa – PT) lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.18 F[17]

Bài diễn văn kết thúc bằng lời thề tâm huyết đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.

hinh-8

Hơn hai mươi năm sau, từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên dòng sông nhỏ An Cựu, ông khởi thảo tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn cảm tưởng trên quyển vở học trò, viết bằng cây bút máy Waterman. Bài cuối còn dang dở là bài Cô Kiều với tôi. Phần cuối dở dang ấy, ông viết: “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…

“Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”19F[18]

Và ông đau buồn mãi vì chuyện ấy…

Vì bản thân Người chính là hiện thân của lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, yêu tha thiết đến say mê tiếng mẹ đẻ, đã cống hiến trọn đời mình cho tiếng ta, với niềm tin vững chắc là :

TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN20F[19]

21/06/1999 – 14/02/2006

* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9-2006 với nhan đề Phạm Quỳnh- Người nặng lòng với tiếng ta và bút danh Nguyễn Trung là bút danh thường dùng của Phạm Tôn từ 1973


[1] Theo Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn (Bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân – NXB Ý Việt, Paris, 1993, trang 60): Lời của người dịch: Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Études Interdisciplinaires sur le Viet Nam (Sai Gon, 1974) cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30/1/1893. Theo tác giả Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh, thì “thuyết” này đúng hơn cả, vì cũng là một năm Nhâm Thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (Cũng do ông Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2/2/1892)

[2] Theo tư liệu của Một số tư liệu quý về Hà Nội,  Lưu Đình Tuân tuyển dịch và chú giải, NXB Trẻ 2010)

[3] Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Tome I) của Huình Tịnh Paulus Của –SaiGon, 1895 thì từ khu khu có nghĩa là “đau đáu, mảy mảy”

[4] Trích Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh, ngày 8-7-1922. NXB Hội Nhà Văn-Hà Nội, 2004

[5] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

6 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

7 , 8 , 9 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

10 Trích Nhà Văn Hiện Đại (tập I) của Vũ Ngọc Phan, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1989

[11] Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[12] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

[13] Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2004.

14 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư – Hà Nội, 1932.

15 Trích Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[16] , 17 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

18 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

19 Trích Tuyển tập và Di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

20 Câu này có khắc trên đá tại khu mộ Phạm Quỳnh, trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế. Sau 1975 cho đến nay (2006), khu mộ vẫn được giữ nguyên vẹn

 

Ghi chú về bài viết này:

Bài này đăng báo lần đầu tiên trên Nguyệt san Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6 năm 2001) trước bài đăng trên Công Giáo và Dân tộc (số 141, tháng 9/2006) hơn năm năm. Dự tình như sau: Sau khi viết xong bài đầu tiên trong ba bài về Thượng Chi – Phạm Quỳnh tôi có đưa cho người em họ của nhạc sĩ Phạm Tuyên hồi đó còn sống ở Sài Gòn. Ông này đọc xong hỏi tôi là có muốn đăng báo không. Tôi đáp là không, thì ông hỏi ngay có phải là sợ không. Tôi đáp là có sợ, không phải là sợ về chính trị, mà là sợ vì bài viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh với tiếng ta mà không viết được dòng nào về Nguyễn Du và Truyện Kiều, vì chưa tìm được tài liệu. Sau đó mấy năm, ông này sang định cư ở Hoa Kỳ và lại tiếp tục nghề viết, làm báo. Nhân được ông Phạm Tuân và bà Phạm Thị Hoàn là chị, em ruột nhạc sĩ định cư ở Mỹ và Pháp gửi cho bài này, bèn cho đăng lên báo mình biên tập. Vì thế hai bài có khác nhau ở phần cuối.

Sau này, tạp chí Khởi hành xuất bản tại Mỹ, cũng lại chọn đăng bài đã đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, nhưng cho đến nay, tôi vẫn chưa được đọc bài đó, không biết có gì khác với bản gốc.

Còn bài trên Công giáo và Dân tộc lại không ký tên Phạm Tôn mà ký bằng bút danh khác là Nguyễn Trung. Đó là thay tên “theo yêu cầu của toà soạn”. Tôi bèn lấy bút danh thường dùng từ 1973. Vì tôi hiểu: tạp chí đã đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước trong mục Diễn Đàn, bút danh là Phạm Tôn, nay muốn có “một người khác” cũng viết về Phạm Quỳnh cho đúng … với nghĩa của mục này.

Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

 Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Lời dẫn của Phạm Tôn: Cách đây hơn 20 năm, tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta đã xuất hiện một tập Truyện ngắn Nam Phong in một số truyện đã đăng trên 211 số báo Nam Phong. Nhưng lần này, mới là lần đầu tiên xuất bản toàn tập truyện ngắn đã đăng trên Nam Phong do Tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo sưu tầm và biên soạn,  Nhà xuất bản Văn học xuất bản với 540 trang sách khổ 15x23cm, in xong và nộp lưu chiểu năm 2012.

Sau đây là Lời mở đầu tập sách của Phó giáo sư Lê Chí Dũng nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Đà Lạt, giới thiệu tập sách này.

—o0o—

Vào đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, khi thành thị Việt Nam đang tư sản hóa cùng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân, khi văn hóa nước ta giao lưu mạnh mẽ với văn hóa phương Tây, chủ yếu là với văn hóa Pháp, và một tầng lớp trí thức Tây học ra đời thay thế cho tầng lớp trí thức Nho học đang tàn tạ, thì vấn đề đổi mới văn học, đưa văn học vào quỹ đạo chung của văn học thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách. Văn học Việt Nam lúc đó đứng trước hai khả năng phát triển: hoặc cách tân dần dần văn học truyền thống để đi đến văn học hiện đại; hoặc học tập văn học phương Tây, theo hệ thống thể loại văn học ấy để nhanh chóng xây dựng văn học hiện đại nước nhà.

Trong hoàn cảnh như vậy, việc phát triển truyện ngắn, đương nhiên cũng đứng trước hai khả năng: đổi mới dần dần truyện ngắn truyền thống; hoặc nương theo thể loại truyện ngắn phương Tây, mau chóng tạo ra truyện ngắn hiện đại Việt Nam.

Các nhà nho, như Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Hiếu, đã chọn khả năng thứ nhất. Phan Bội Châu dùng văn học để tuyên truyền, cổ động cho sự nghiệp cứu nước. Nhà chí sĩ đã cách tân nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó có thể loại truyện kể ngắn; đó là những sáng tác bằng văn xuôi chữ Hán, như các truyện Nguyễn  Hàm, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân, Nữ liệt sĩ Đinh phu nhân, Tái sinh sinh, Nhà sư ăn rau, Chân tướng quân, Phạm Hồng Thái truyện, và các truyện được viết bằng tiếng Việt, như Truyện ông Lý Hồ, Anh Khờ, Kểnh và Càng. Đọc những truyện này, độc giả cảm nhận rõ ảnh hưởng của liệt truyện – một thể loại được Tư Mã Thiên sử dụng để viết Sử ký, một thể loại rất thông dụng đối với nghệ sĩ ngôn từ ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thời trung đại. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đến với văn học nước nhà giữa lúc các thể loại văn học truyền thống bị “xuống giá” so với hệ thống thể loại văn học phương Tây tràn vào Việt Nam, “xuống giá” tới mức không chỉ khiến Nguyễn Bá Học nói một cách cực đoan rằng thơ, phú, lục của nhà nho “tô điểm sai cả cảnh thực”, “dù cho quỷ khốc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”, mà còn làm Ngô Đức Kế buộc lòng thú nhận văn học cũ “chỉ tả được những cảnh kiều sương, điếm nguyệt, mục thụ, tiều phu, không lấy gì cho lạ tai mới mắt, thêm tri thức, thêm học vấn”. Sáng tác văn chương, “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, trong đó có viết truyện, Tản Đà mong muốn thể hiện trên trang giấy “những điều ta nghe, mắt thấy”, “không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội”, “để nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh sau được nghe câu chuyện về thuở trước”. Đọc truyện của Tản Đà, như Thề non nước, Thần tiên, độc giả thấy ông kế thừa lối viết truyện của tác giả Truyền kỳ mạn lục.

Các nghệ sĩ ngôn từ thuộc tầng lớp trí thức Tây học, như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, đã chọn khả năng thứ hai. Ở Nguyễn Công Hoan truyện ngắn đã đạt tới hiện đại ở giáp ranh những năm cuối 1920 – đầu những năm 1930 và trong truyện ngắn của ông lối kể chuyện dân gian rất rõ. Nếu nói rằng truyện ngắn hiện đại là cuộc phiêu lưu vô tận của nhà văn vào thế giới tâm lý của nhân vật, thì truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao là truyện ngắn hiện đại loại đó.

Trong sự vận động và phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và của truyện ngắn nói riêng, độc giả có thể thấy Đặng Thai Mai viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, in trên các báo ở Hà Nội; Cung Giũ Nguyên viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Đây là một hiện tượng nhất thời trong văn học hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc trong những năm cuối 1910 và những năm 1920 viết văn chính luận, truyện ngắn, ký và tiểu phẩm báo chí, in trên báo ở Paris. Những văn phẩm này của Nguyễn Ái Quốc theo các chuyến tàu biển từ Pháp về Việt Nam, lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, và đến các nước thuộc địa và phụ thuộc khác của chủ nghĩa thực dân. Những sáng tác văn chương ấy của Người đã đặt nền móng cho văn học cách mạng của giai cấp vô sản Việt Nam và chắc chắn đã góp phần xây dựng nền văn học cách mạng ở các nước từng là thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Viết văn bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc hướng sự tuyên truyền, vận động và tổ chức cách mạng vào quần chúng nhân dân, nhưng thông qua cái cầu nối là những người yêu nước, đồng thời thông thạo tiếng Pháp, thích văn học Pháp và tiếng Pháp trong sáng, tinh tế. Đó là chỗ khác biệt căn bản giữa Nguyễn Ái Quốc và những người kể trên khi dùng tiếng Pháp sáng tác văn chương. Chỗ khác biệt nữa giữa Nguyễn Ái Quốc và những người ấy là: viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, như Les lamentations de Trung Trac (Những lời than của bà Trưng Trắc), Incognito (Vi hành), Turlupinades ou Varenne et Phan Boi Chau (Những trò lố hay Varenne và Phan Bội Châu), La tortue (Con rùa), L’enfume’ (Con người biết mùi hun khói), D’un commun accord (Đồng tâm nhất trí), Nguyễn Ái Quốc kế thừa truyền thống giáo dục bằng lịch sử, bằng các nhân vật anh hùng trong lịch sử, bằng người thật, việc thật, sử dụng nghệ thuật ngụ ngôn…của văn học trung đại Việt Nam.

Như vậy, người Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, dù với những mục đích khác nhau, chỉ là hiện tượng nhất thời, không tạo ra một dòng văn chương bằng tiếng Pháp bên cạnh dòng văn chương bằng tiếng Việt trong con sông văn học hiện đại Việt Nam.

Nhìn lại những điều đã được trình bày ở trên, có thể rút ra điều sau đây: những truyện ngắn của Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc, của Tản Đà, Thạch Lam và Nam Cao, tuy viết bằng chữ Hán, bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Việt, và theo đuổi những mục đích khác nhau, nhưng đều cho thấy thể loại đang sống trong hiện tại bao giờ cũng nhớ đến quá khứ của mình.

Các tác giả của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí đã chọn khả năng nào trong hai khả năng phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và những truyện ngắn đó có vị trí như thế nào trong tiến trình xây dựng và phát triển truyện ngắn hiện đại Việt Nam? Nhằm mục đích cung cấp tư liệu để các nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc có thể trả lời một cách xác đáng, cụ thể câu hỏi đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo đã sưu tập toàn bộ truyện ngắn – hơn 60 truyện đã được đăng tải trên tạp chí tồn tại từ 1917-1934 ấy. Đó là cống hiến tủa tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo.

Các tác giả của những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí  đã cố gắng kể lại cho hệt những điều tai nghe, mắt thấy hoặc nếm trải trong cuộc sống – xã hội đời thường, một cuộc sống – xã hội khiến cho nhiều người đương thời phải than thở:

Ngồi buồn nghĩ chuyện vẩn vơ,

Quái, con ngựa sắt bây giờ đi đâu?

Anh hùng vắng mặt từ lâu,

Trên đầu phành phạch chiếc tàu nó bay”;

một cuộc sống – xã hội đầy rẫy những thối nát, bất công, thù địch với con người… Thi thoảng thấy đôi đốm sáng về người tốt, việc tốt trong những truyện ngắn ấy, thì ở thuật giả cũng pha tạp cảm hứng ngợi ca với cảm hứng phê phán. Nghĩa là truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí né tránh những vấn đề quốc sự (đọc hơn 60 truyện ngắn trên tạp chí này, chỉ gặp được một dòng có quan hệ đến quốc sự ở cuối truyện Câu chuyện ra ở đời của Tam Phủ: “ […] thuật giả nghe nói một người bị bắt, vì việc cộng sản, dây dưa thế nào, thuật giả lấy làm lạ; còn người kia được tin thời nghe nói ngồi khóc, […]” ).

Một điều đáng chú ý ở những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí là: những truyện ngắn này đã lọc qua chủ trương “điều hòa tân cựu”, “thổ nạp Á- Âu”. Có thể thấy rõ điều này nơi những tác giả các truyện ngắn: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục là những người cựu học; những người cựu học chuyển sang tân học: Nguyễn Bá Học và Hoàng Ngọc Phách; những người tân học: Phạm Duy Tốn và Lê Đức Nhượng. Ở truyện của Đông Châu và Tùng Vân không có chút gì gọi là truyện ngắn. Ở truyện ngắn Nguyễn Bá Học là sự mô tả khách quan, nhưng không vượt thoát được quan niệm văn học cũ; vừa làm quen với lối kể chuyện, mô tả, đối thoại của truyện ngắn hiện đại, vừa sử dụng văn biền ngẫu và chưa ra khỏi cách xây dựng hình tượng của văn học trung đại. Lê Đức Nhượng, không chỉ viết được nhiều truyện ngắn hơn, mà còn viết khéo hơn so với Nguyễn Bá Học. Về Phạm Duy Tốn, có nhà nghiên cứu đánh giá rằng “[…] lấy một truyện của Phạm Duy Tốn đem đặt cạnh một truyện cổ điển, ta thấy có một sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” (Thanh Lãng). Quả là truyện ngắn của Phạm Duy Tốn là một bước tiến về phía trước so với truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, nhưng vẫn chưa thể nói đó là một “sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” so với “truyện cổ điển” được. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, kể cả truyện ngắn nổi tiếng của ông Sống chết mặc bay, vẫn chưa đạt tới truyện ngắn hiện đại.

Nói đến sự vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại nước nhà, không thể quên vị trí đi đầu của truyện ngắn Nam Bộ, trong đó có truyện Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu văn học coi là tác phẩm hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam – đã được xuất bản tại Sài Gòn năm 1887.

Truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí xuất hiện chậm hơn truyện ngắn Nam Bộ hai thập niên;nhưng cả truyện ngắn trên Nam Phong, cả truyện ngắn Nam Bộ đều ở bước đi đầu tiên của truyện ngắn hiện đại Việt Nam và đều nằm trong quỹ đạo của sự lựa chọn khả năng thứ hai cho sự phát triển của truyện ngắn nước nhà.

Năm 1965, ở miền Bắc, sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã soạn Mục lục tư liệu văn hóa, văn học trên Nam Phong tạp chí  theo sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Lộc; năm 1968, ở miền Nam, Nguyễn Khắc Xuyên soạn và ấn hành Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (công trình này được nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Đông Tây tái bản, Huế, 2002). Nhờ những công trình như thể, độc giả hôm nay vô cùng thuận lợi tìm “địa chỉ” của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí . Tuy nhiên để đọc được những sáng tác đó, độc giả phải vào thư viện, tiếp xúc với bụi và mọt, với microfilm dưới ánh đèn nhức mắt, ngày này qua ngày khác. Độc giả ở Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí Minh có thể đọc những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí theo cách này. Độc giả ở những nơi khác thì đành…chào thua!

Sưu tập toàn bộ những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí để ấn hành, trao tận tay bạn đọc, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo cũng tính đến những điều ấy…

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa Toàn tập truyện ngắn Nam Phong.

PGS.TS Lê Chí Dũng

Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn

Trường Đại học Đà Lạt

 

100 năm Nam Phong tạp chí – Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 10 năm 2017

100 năm Nam Phong Tạp Chí

Khái lược tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam Phong tạp chí

Nguyễn Hữu Sơn

(Bài thu tại www.tapchisonghuong.com.vn ngày 19/8/2017)

  1. Việc nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí (1917 – 1934) trước hết cần đặt tạp chí này trong bối cảnh lịch sử – văn hóa dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam và xu thế thực dân hóa trên thế giới đã vượt qua cao trào và chuyển dần sang giai đoạn thoái trào. Thời điểm ra đời Nam phong tạp chí (1917) rơi vào khoảng lặng giữa hai cuộc khai thác thuộc địa của nhà nước thực dân Pháp, lần thứ nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929). Sự tồn tại qua 17 năm của Nam phong tạp chí hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thực dân Pháp đã căn bản dẹp xong các cuộc kháng cự, từng bước đạt được sự ổn định và phát triển. Trên nền tảng thực tại đời sống tư tưởng, kinh tế, xã hội đã tạo đà cho học thuật, văn chương nghệ thuật, báo chí, xuất bản phát triển lên một tầm mức mới. Ở đây cần đặc biệt coi trọng quan điểm lịch sử cụ thể, nhận diện đúng các đặc điểm và xác định đúng mức giá trị, ý nghĩa tiến bộ của Nam phong tạp chí, hạn chế tối đa lối đánh giá cực đoan, quy kết một chiều như đã từng đối xử với tổ chức Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới, tư trào văn học lãng mạn và các nhóm Tri tân, Thanh nghị, Xuân thu nhã tập, v.v…
  2. Việc xác định tương quan giữa chính trị và văn học trên Nam phong tạp chí cần được xem xét, khảo sát đồng bộ ở ba phương diện cơ bản: Vai trò đội ngũ tác giả – Định hướng sáng tác – Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình và dịch thuật.
    • Vấn đề cần nhận thức và đi sâu khảo sát trước hết là định hướng tổ chức chính trị và đội ngũ tác giả đã làm nên lịch sử của Nam phong tạp chí, tức là tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người chủ trương và những người thực thi, thực hiện…

Không có gì phải bàn cãi việc ngài Albert Pierre Sarraut (1872 – 1962), quan cai trị, chính khách đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương lần hai (1917 – 1919), đã chỉ đạo Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị Đông Dương làm người sáng lập Nam phong tạp chí cùng học giả 25 tuổi Phạm Quỳnh làm Chủ bút kiêm Chủ nhiệm… Không chỉ với Nam phong tạp chí, Phủ Toàn quyền và Nhà nước bảo hộ Pháp đương thời còn khai sinh, bảo trợ cho Viện Viễn Đông bác cổ (từ 1900) và các tờ Gia Định báo (1865 – 1910), Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Đại Việt tân báo (1905 – 1908), Lục tỉnh tân văn (1907 – 1944), Đông Dương tạp chí (1913 – 1939), Trung Bắc tân văn (1913 – 1941), kể cả tài trợ in sách Đại Nam quốc âm tự vị (hai tập, 1895 – 1896) của Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907), bảo trợ cho gánh hát cải lương Phụng Hảo (1936), v.v… Hãy xem các ông chóp bu của chế độ thực dân nửa phong kiến bấy giờ trực tiếp xác lập tư tưởng chính trị và định hướng tôn chỉ, mục đích bản chí: “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7/1917, tr.1)… Cứ bằng vào lời phi lộ này và thực chất thước đo hiệu quả “nói và làm” trong suốt 17 năm tồn tại có thể ghi nhận Nam phong tạp chí đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, đặc biệt trên phương diện văn hóa – văn học, trong khi mệnh đề thứ hai “cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế” dường như chỉ là những mỹ từ cho đẹp đường lối chung chứ tuyệt nhiên không ăn nhằm gì và cũng vượt ra ngoài khả năng của một tờ tạp chí chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Trên thực tế, tạp chí đã chú trọng xây dựng, duy trì, điều hòa tốt mối quan hệ Đông – Tây, dân tộc – quốc tế, truyền thống – hiện đại với việc xuất hiện các bài viết bằng cả ba loại hình ngôn ngữ Quốc ngữ – Hán ngữ – Pháp ngữ. Thêm nữa, trong bối cảnh dân chủ tư sản, tạp chí vẫn rộng đường thông tin, trao đổi nhiều vấn đề nhạy cảm, dễ thường không lợi cho xu thế tập quyền của nhà nước bảo hộ: Khảo luận về chính đảng (số 103), Chế độ lập hiến và chế độ đại nghị (số 154), Nhân quyền luận (số 133), Chủ nghĩa quốc gia ở Ấn Độ (số 103), Khảo về hiện tình nước Nga (số 121), Vấn đề độc lập của Phi Luật Tân (số 196), v.v. Chính nhờ tinh thần khảo cứu khách quan và thượng tôn tư liệu mà các trang viết trên Nam phong tạp chí được người đương thời đón nhận, đánh giá cao và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều phần giá trị.

Trên thực tế, làm nên thành công của Nam phong tạp chí, học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh (30/01/1893 – 6/9/1945) đã có được một ban biên tập và cộng tác viên hùng hậu, gắn bó trong hầu suốt 17 năm tạp chí tồn tại… Nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên (1923 – 2005) trong công trình Mục lục phân tích tạp chí Nam phong (Tái bản. Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.10-22) từng nhấn mạnh vị thế mấy tác giả chính: Phạm Quỳnh – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và chia loại, tôn vinh theo hai nhóm chủ yếu là nhà văn và nhà thơ… Có thể nói họ đều là những trí thức yêu nước, những cây đại thụ văn hóa đã gắn bó chặt chẽ với Nam phong tạp chí và góp công kiến tạo nền quốc văn – văn học Việt Nam giai đoạn bản lề nửa đầu thế kỷ XX.

  • Qua 17 năm phát triển, mảng sáng tác đã ghi dấu ấn sắc nét trên Nam phong tạp chí, đặc biệt khi đặt trong tương quan đời sống văn học trên báo chí giai đoạn cùng thời (1917 – 1934). Thực tế cho thấy, mặc dù có hai năm tồn tại song song, giao thoa với phong trào Thơ mới (1932 – 1934) nhưng thơ ca trên Nam phong tạp chí chủ yếu thuộc dòng thơ cũ gắn với thể Đường luật và không để lại dấu ấn nào đáng kể.

Do tính chất phức tạp, phức hợp, nguyên hợp của các loại hình và thể loại văn học mà nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong đã phân loại bộ môn XII- VĂN HỌC theo sáu chủng mục cơ bản: Văn học, văn hóa, văn minh – Văn gia, thi gia – Văn phẩm – Văn thể – Văn học thế giới – Văn học Pháp – Văn học Trung Hoa… Trên thực tế, có thể xác định thành tựu sáng tác trên Nam phong tạp chí chủ yếu lại là văn xuôi với hai thể loại chính là du ký và truyện ngắn…

2.2.1. Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vịnh phong cảnh Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Hương núi Ngự, Gia Định, Hà Tiên… Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký (còn được ông gọi là du hành) là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

2.2.2. Như đã phân tích, bên cạnh thể tài du ký nổi trội, ở đây chúng tôi tiếp tục xem xét thành tựu sáng tác truyện ngắn trên Nam phong tạp chí.

Theo thống kê của Nguyễn Đức Thuận, Nam phong tạp chí đã in tổng cộng 73 truyện ngắn (bên cạnh cách duy danh thể loại đoản thiên tiểu thuyết) (Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu). Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008, tr.257)… Sau này nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hào đã in Toàn tập truyện ngắn Nam phong (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2012, 540 trang) với tổng cộng 64 truyện. Đối chiếu các tác phẩm truyện ngắn trên Nam phong tạp chí với định hướng tư tưởng chính trị thường được lược quy là “bán nước hại dân”, “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, “nằm trong mưu lược của thực dân Pháp” lại thấy một nội dung khác hẳn. Khác biệt với định hướng chính thống, có thể khẳng định tất cả các tác giả truyện ngắn của Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), Nguyễn Mạnh Bổng (1879 – 1951), Nguyễn Tiến Lãng (1909 – 1976)… đều nhằm đề cao tinh thần dân tộc, phản ánh hiện thực đời sống xã hội và con người giai đoạn đương thời, tuyệt nhiên không thấy đâu một chiều tâm thế tuyên truyền và phục tùng chế độ thực dân Pháp như một số ý kiến từng quy kết. Xin đơn cử truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in vào ngay năm thứ hai sau khi tạp chí ra đời, được định dạng trong mục “Một lối văn hay”, trong đó phản ánh thực trạng người nông dân khốn khổ vì lũ lụt và phê phán sâu sắc bọn quan lại ích kỷ, vô trách nhiệm (cho dù truyện có chịu ảnh hưởng và mô phỏng La partie de billard của nhà văn Pháp A. Daudet, 1840 – 1897). Cốt truyện cô đúc, ngắn gọn, phác vẽ một bên là cảnh người dân cơ cực chống lụt với một bên là tên quan phụ mẫu, “quan cha mẹ” và đồng đảng, mỗi bên hút theo một mối quan tâm, cho đến kết cuộc: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!” (Nam phong tạp chí, số 18, tháng 12/1918, tr.355-357)…

Điều đặc biệt là truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn đã được ông Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh trực tiếp viết lời dẫn, trong đó nhấn mạnh chiều sâu và sức mạnh nghệ thuật “Shakespeare hóa”: “Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”…

Có thể nói bản lĩnh nhà văn, tinh thần hướng về quốc gia, dân tộc, thượng tôn bản chất thực tại cuộc sống và ý nghĩa khách quan của hình tượng nghệ thuật đã tạo nên tính nhân dân trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng như thể loại truyện ngắn, mở rộng đến toàn bộ văn xuôi, kể cả tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và tất thảy thể tài du ký đã từng xuất hiện trên Nam phong tạp chí. Điều này thể hiện định hướng, dòng chủ lưu của tiếng nói nhân dân trong các sáng tác văn xuôi trên Nam phong tạp chí mà không một ai có thể cực đoan bao biện, quy kết, phủ nhận…

2.2.3. Đối với Nam phong tạp chí, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng chính trị và khoa học xã hội vốn là định hướng chủ yếu của tạp chí.

Đặt trong tương quan với định hướng tư tưởng chính trị cũng như xu thế chung của quá trình hội nhập, giao thoa Đông – Tây và quy luật canh tân, đổi mới, phát triển, hiện đại hóa “thổ nạp Á – Âu”, việc các tác giả Nam phong tạp chí quan tâm nhiều đến yêu cầu “điều hòa tân cựu”, “tồn cổ lục”, “tổ quốc túy ngôn”, tập trung bảo tồn di sản văn hóa – văn học truyền thống, đi sâu khảo cứu chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Việt, chữ quốc ngữ; khởi động tìm hiểu từ cội nguồn ngữ văn dân gian đến trung đại và hiện đại; tổ chức kỷ niệm và đề cao vị thế danh nhân tác gia văn học như Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Vũ Quỳnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Mạc Thiên Tích, Lý Văn Phức, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Tương Phố,…; dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm tiêu biểu mà con cháu ngày nay vẫn còn được thừa hưởng như thơ văn thời Lý – Trần (123 bài), Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân thi tập, Hà Tiên thập cảnh, Thượng kinh ký sự, Văn tế thập loại chúng sinh,

Điểm danh và kiểm định toàn bộ phần sáng tác cũng như khảo cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học trên Nam phong tạp chí, thật khó mà qui kết đơn giản, cực đoan một chiều về những âm mưu, tác hại, nọc độc phản dân tộc, ru ngủ thanh niên, xa rời cuộc đấu tranh, phục vụ cho mưu đồ cướp nước, làm lợi cho thực dân…

  1. Trên tinh thần Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có Đổi mới văn học, nhiều hiện tượng tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học quá khứ đã được đánh giá, tôn vinh, giới thiệu trở lại, trong đó có vấn đề Nam phong tạp chí và học giả Chủ bút, Chủ nhiệm Phạm Quỳnh…

Theo thống kê bước đầu, các công trình nghiên cứu, giới thiệu từ 1986 đến nay đã khẳng định vị thế Nam phong tạp chí và vai trò học giả Phạm Quỳnh trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, chuyên khảo, luận án, luận văn; đặc biệt nhiều tác phẩm quan trọng đã lần lượt được sưu tập và công bố trở lại: Truyện ngắn Nam phong (1989), Mười ngày ở Huế (2001), Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong (Tái bản, 2002), Luận giải văn học và triết học (2003. Tái bản, 2016), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917 – 1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Văn trên Nam phong tạp chí (Diện mạo và thành tựu) (2008), Phạm Quỳnh – con người và thời gian (2010), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Toàn tập truyện ngắn Nam phong (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (2013. Tái bản, 2014), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam phong tạp chí (2013), Thượng Chi Phạm Quỳnh (2015), Phạm Quỳnh – những góc nhìn xứ Huế (2015), v.v.

Có lẽ không cần có thêm lời bình về xu thế Đổi mới, hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ, hướng đến sự đánh giá khoa học, khánh quan, toàn diện, công bằng trước hiện tượng Nam phong tạp chí và học giả Phạm Quỳnh.

  1. Lời kết mở

Việc khảo sát, nhận diện tương quan chính trị và văn học qua trường hợp Nam phong tạp chí không chỉ nhằm xác định, lý giải những so le nhất định trong hoạt động thực tiễn giữa những người làm báo yêu nước với chủ trương của giới thực dân, giữa những cách thức lựa chọn biện pháp đấu tranh khác nhau và hoàn cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1917 – 1934 quy định, mà cao hơn thế, còn cần đánh giá tổng thể các lĩnh vực tư tưởng chính trị, khoa học xã hội và nhân văn qua 17 năm tồn tại của tạp chí. Đương nhiên việc đánh giá Nam phong tạp chí theo tinh thần Đổi mới trước hết cần dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu tư liệu cụ thể, nghiêm túc, xác định đúng mức những đặc điểm, hạn chế lịch sử, đồng thời khẳng định những giá trị đồng hành với tiến bộ xã hội, với xu thế hội nhập, phát triển, canh tân đất nước. Đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá đúng mức vị thế Nam phong tạp chí trong lịch sử báo chí và quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỷ XX.

N.H.S
(TCSH341/07-2017)

 

Tháng Chín 14, 2017

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo đã nghỉ hưu Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, thành phố Huế, từng có bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007) từ trang 36 đến trang 47. Mới đây, ông có nhã ý gửi cho chúng tôi bài Văn tế Nam Phong Chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn để bạn đọc thưởng thức thêm một nét hoài cổ của người đương thời với chúng ta

Vinh Ba_Pham Tuyen

—o0o—

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam,[1]

Đất đã khóc người xứ Bắc.[2]

Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn,[3]

Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất.[4]

Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?

Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi,[5]

Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.

Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,

Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.

Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,

Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.

Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường,[6]

Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất.[7]

Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,

Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.

Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?

Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư ,

Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.

Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, Trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,

Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, Viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.

Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,

Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực

Chí đã quyết nâng cao văn hóa, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,

Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiển Hoàng triều chọn làm chiến lược.

Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường

Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.

Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,

Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.

Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,

Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức

Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,

Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.

Mộng Vị Thủy[8] phò trợ minh vương,

Giấc Nam Kha [9]viễn trình bắc khuyết.

Rời Nam Phong tạp chí, xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang

Nhận Lại bộ Thượng Thư, đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc.

Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân

Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hòa thương thuyết.

Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!

Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;

Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.

Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên

Vành khăn tang trùm kín một gia đình, mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt

Uy vũ bất năng khuất,[10] bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,

Lương mọc kỳ hoại hồ,[11] gươm Văn Khúc[12] cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,

Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ

Nhiều nuối tiếc, hóa ra toàn có thật.

Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,

Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!

Hồn có linh thiêng,

Niệm tình thượng hưởng

Tháng 3.2009

N.P.V.B.


[1] Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917-1932. Khi thôi tham chính, mùa hạ năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.

[2] Ông phạm Quỳnh quê ở tỉnh Hải Dương thuộc miền Bắc nước ta.

[3] Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

[4] Ông mất tại một vùng hoang vắng, làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.

[5] Phạm tiên sinh sinh năm 1893, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung Kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn, nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.

[6] Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân, nhưng mất sớm vào năm 1926

[7] Ông Nguyễn Thái Học (1904-1930) bị xử tử tại Yên Bái ngày 17/6/1930, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.

[8] Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.

[9] Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của  một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.

[10] Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.

[11] Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.

[12]Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hóa

Người nặng lòng với nước – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Các bạn đọc bài này có thể sẽ thắc mắc vì sao năm 2006, tháng 8, trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay lại đăng bài Người nặng lòng với nước đều của tác giả Phạm Tôn, mà sao hai bài không hoàn toàn giống hệt nhau và cũng chẳng có bài nào giống hệt bài chúng tôi đăng dưới đây. Lý do là như sau…

Năm 2006 ấy, với khí thế đổi mới sôi nổi khắp cả nước đón chào Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng tôi quyết tâm với tràn đầy lòng tin tưởng ở sự nghiệp đổi mới, hoàn chỉnh bài viết sơ thảo từ năm 2001. Bản đầu tiên tới tay nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, là người tôi cho là có ”con mắt xanh”. Anh nhận ra ngay đây là bài có thể ra đời trong thời cơ này. Trong khi là người viết, chúng tôi còn do dự, chỉ mong hai bài Người nặng lòng với tiếng ta (viết năm 1999) và Người nặng lòng với nhà (viết năm 2000) ra đời trót lọt mới tính đến chuyện cho bài này ra đời. Nhưng anh Trần Văn Chánh đã đưa tạp chí Công giáo và Dân tộc, lại được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đọc và viết cho bức thư hai trang ”bảo lãnh”, nên mới ra đời suôn sẻ như vậy, trước sự ngỡ ngàng của tác giả và không ít người hiểu biết.

Sau đó, do có thêm tư liệu mới, tôi đã viết thêm một hai đoạn. Cho nên bài đăng trên Công giáo và Dân tộc là đăng nguyên văn, không thêm không bớt một chữ nào, nhưng vẫn không có các đoạn mới thêm đó. Bài sau này đến tạp chí Xưa và Nay, lại có sự biên tập thêm bớt nữa, cho nên đã khác lại càng khác với bài trên Công giáo và Dân tộc.

Đến bản trên blog lần này, do có thêm tư liệu, xác định được chính xác hơn một số lời nói, tình tiết, chúng tôi lại sửa chút ít, để đảm bảo sự chính xác tối đa về tư liệu lịch sử, trước khi đưa đến bạn đọc, nên lại khác đi một chút nữa.

Có điều, nội dung cơ bản ba bài vẫn như nhau, cho nên chúng tôi để nguyên ở cuối bài ngày tháng hoàn thành.

Hơn nữa, như các bạn đã đọc blog chúng tôi thì biết, chúng tôi luôn đăng theo đúng bản thảo của tác giả mà không lấy những bản đã bị cắt xén, sửa chữa

Vài hàng mạo muội trình bày để bạn đọc thông cảm sao một bài của một tác giả mà lại có đến ba bản khác nhau.

—o0o—

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Hinh 1_NuocCòn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant.Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh,  một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4 Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng I. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được hơn chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ trước khi ông được ”mời ra làm việc” trưa 23/8/1945.

Một sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến-Huế được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời Phạm Quỳnh ra làm việc”5 Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6 Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Hinh 2_NuocKhi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7 bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lHinh 3_Nuocên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).8 Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.9

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt . Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Hinh 4_NuocTrong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn  Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”10

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tayHinh 5_Nuoc. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. SHinh 6_Nuocau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin  ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng  đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

Hinh 7_Nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để Hinh 8_Nuocrủ rỉ kể lại một chuyện xưa. Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị bắt. Sau đó ít lâu, lại được bạn bè từ Huế cho biết dân chúng đang rất xôn xao về vụ Cụ bị xử tử hình. Nhân một dịp được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.12Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch13

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.14

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ mười của Phạm Quỳnh Hinh 9_Nuocmay mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)15

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”17

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể .(Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh – Thượng Chi). Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá vào bình phong của mộ hàng chữ Quốc ngữ câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Hinh 10_Nuoc

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.18

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng19

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

P.T.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chíThế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.


1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo tập tư liệu viết tay 10 trang của thiếu tướng Phan Hàm viết chiều ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

9 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

10 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

12 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

13 Giáo sư  Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

14 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

15 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

16, 17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

18 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

19 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam(trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Tháng Tám 27, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí (1934

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:09 chiều

Blog PhanTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

 DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN

TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917-1934) (*)

Nguyễn Đức Thuận

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 485 tháng 7 năm 2017, trong trang 33 và các trang 36-39)

Những năm đầu thế kỉ XX, do những biến động về đời sống xã hội, do những đòi hỏi thẩm mỹ mới của đối tượng tiếp nhận văn chương, nền văn học của nước nhà đã từng bước được hiện đại hóa, chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, báo và tạp chí mở rộng khắp từ Nam chí Bắc. Báo chí ra đời là một sự kiện mới, tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội cận đại ở nước ta, và là một trong những thành quả tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam hiện đại… Ngoài những nội dung thông tin, các báo và tạp chí thời ấy đều có mục văn chương. Trên con đường phát triển của báo chí, thành tố văn chương ngày càng được mở rộng, gia tăng. Trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại, cũng như hiện nay, báo chí có quan hệ khăng khí máu thịt với văn chương theo hai chiều tương hỗ. Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương mà lôi cuốn người đọc và ngược lại, văn chương nhờ báo chí mà đến được người đọc một cách phổ biến rộng rãi. Khi nhìn nhận vè quá trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, nhiều ý kiến đã khẳng định vai trò của báo chí trong việc góp phần xây dựng nền văn học mới. Nghiên cứu diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí, bước đầu chúng tôi muốn góp phần khắc phục một “khoảng trống” trong việc nghiên cứu về văn chương trên các báo và tạp chí đã hiện diện trên văn đàn nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ XX.

Từ trước đến nay, Nam Phong tạp chí đã trở thành một đối tượng thể hiện sự khác biệt, mâu thuẫn về quan điểm nhìn nhận và đánh giá, thậm chí có những ý kiến trái ngược nhau. Đến nay, đi qua thời gian gần một trăm năm, vấn đề nhìn nhận đã khác. Bình tĩnh đọc lại với ý thức thực sự cầu thị, chắc chắn chúng ta sẽ rút ra được những kết luận khoa học và có ích.

Nhìn tổng quát, việc nghiên cứu Văn trên Nam Phong mới giới hạn ở một số vấn đề về tác giả và tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, ngay cả trong những vấn đề thuộc về Văn trên Nam Phong tạp chí đã được nghiên cứu, ở mỗi thời kỳ, ở mỗi khu vực, nhiều ý kiến cũng còn chưa thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, kể cả một số nhận định của các nhà nghiên cứu văn học ở nước ngoài (1)

Báo chí thời đó có thể xem “là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách xây dựng câu văn xuôi. Nó còn là nơi sưu tầm phổ biến vốn văn học cổ điển của nước nhà, giới thiệu văn học Pháp và Trung Quốc. Quan trọng hơn cả, nó là nơi hầu hết các nhà văn bấy giờ và về sau rèn luyện ngòi bút của mình”(2). Với Phạm Quỳnh, ông chủ trương canh tân đất nước bằng văn hóa, tiếp nhận văn hóa văn minh phương Tây, đồng thời bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, trên tinh thần “Thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”. Muốn vậy, ông chủ trương phải xây dựng cho được một nền quốc học, quốc văn, mở mang dân trí, đưa đất nước tới con đường thực hiện chủ trương chính trị quân chủ lập hiến của mình. Một tinh thần “Thổ nạp Á – Âu” mà thời điểm nước nhà không chỉ bị thực dân tấn công bằng văn hóa và giáo dục, là cần thiết. Ông đã dùng tờ tạp chí Nam Phong như một công cụ hợp lý và có hiệu quả để hành động, thực hiện ý đồ chính trị của mình. Đó là phương hướng cải cách văn hóa, văn học nước nhà trên lập trường dân tộc, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, bảo tồn tiếng nói, văn hóa, văn học của nước nhà.

Sự nghiệp của Nam Phong tạp chí phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tờ tạp chí ở vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, cũng là một hành trình khá dài, trí đã cùng và lực đã kiệt. Về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn (như cuộc cách mệnh thi ca mở đầu từ tháng 3/1932 và trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn 1933), Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học dân tộc.

Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng vẫn thuộc về sản phẩm của một thời kỳ văn hóa, văn học của Việt Nam, cần phải được nghiên cứu thật khách quan và công bằng.

Bước sang đầu thế kỷ XX, những yếu tố của một xã hội hiện đại đã xuất hiện ở nước ta. Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại – xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học. Nhưng bắt tay vào xây dựng một nền văn học mới quả là gặp muôn vàn khóa khăn. Bởi lẽ, “Có biến đổi được nhu cầu của nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ mới biến đổi được tính chất của văn học. Một thời đại văn học này phân biệt được với một thời đại văn học trước hoặc sau nó là ở chỗ khác nhau của lý tưởng thẩm mỹ và nhu cầu nghệ thuật” (3) Lực lượng nào có thể làm được việc ngày? Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra. Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học. Nhưng sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới (chữ quốc ngữ la-tinh) và tư duy sáng tạo mới (thi pháp sáng tác). Cần phải có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp và khắc phục sự đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu thé kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là nguyên thủ và giữ vai trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời. Thời gian khắc phục sự “đứt gãy” và chuyển đổi tư duy văn học trên văn đàn nước ta là khoảng hai mươi năm (từ đầu thập niên mười đến đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước). Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ. Đó là sự phát triển phong phú và đặc sắc về các thể loại văn học của giai đoạn 1930-1945. Và khi ấy, Nam Phong đã trở nên bất cập rồi bị bỏ lại ở phía sau trên con đường hiện đại hóa văn học của nước nhà.

Nam Phong tạp chí hoạt động từ tháng 7 năm 1917 đén tháng 12 năm 1934 thì đình bản. Văn trên Nam Phong tạp chí có vai trò và vị trí như thế nào trong tương quan với văn đương thời trên các báo và tạp chí khác trước và sau giai đoạn này? Đây là một vấn đề thú vị, nhưng phải có điều kiện nghiên cứu ở một công trình khác. Ở đây chỉ có thể nhìn nhận khái quát như sau: Một số thể loại văn học tuy xuất hiện ở báo chí Nam bộ trước Nam Phong tạp chí, nhưng thực sự lại chưa có thành tựu, chưa có lý luận định hướng sáng tác, do đó cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học trên phạm vi cả nước. Mặc dù sáng tác của Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Larazo Phiền (1887) ra đời từ rất sớm, nhưng chỉ như một đốm sáng lóe lên rồi vụt tắt trên bầu trời văn học cuối thể kỷ XIX. Nam Phong tạp chí đã bước đầu thành công trong mục đích “xây dựng một nền quốc học và quốc văn” mới cho nước ta, tạo nền móng khá vững chắc và chuẩn bị những điều kiện cần thiết, ban đầu cho sự phát triển của văn học nước nhà theo hướng hiện đại hóa. Văn trên Nam Phong tạp chí có cả cũ và mới và đã đạt được thành tựu cả về chất và lượng, trong đó đã có dấu hiệu của những hoa trái đầu mùa (4). Nam Phong tạp chí là một trong những nơi “đầu nguồn” của văn chương hiện đại. Trong tiến trình của lịch sử văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, vai trò của Nam Phong là vai trò mở đầu. Cùng với một số báo chí và tạp chí khác của đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí chủ yếu tựa như đã làm những công việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc sinh nở – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy sự nghiệp hơn 17 năm của Nam Phong không tạo ra được một cuộc “cách mệnh thi ca”, hay cũng không tạo ra được một trào lưu văn xuôi lãng mạn của Tự lực văn đoàn hoặc trào lưu hiện thực phê phán ở giai đoạn sau, nhưng Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì là cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học. Văn trên Nam Phong tạp chí đã kế thừa văn truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu những cái mới của văn phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, để xây dựng và phát triển thành một nền văn học bước đầu mang tính chất hiện đại, hiện đại từ ngôn ngữ, thể loại đển một số yếu tố mang tính thi pháp, như nhân vật, kết cấu và phong cách văn chương. Trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học của nước nhà, Nam Phong tạp chí đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại trên nhiều phương diện. Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác, thời đó, Nam Phong tạp chí  là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Nhìn từ góc độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật. Trong tiến trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong tạp chí như một dòng sông, có dòng trong dòng đục. Ở nơi dòng trong, hòa cùng với nhiều mạch nguồn trong khác của các báo chí đương thời, nó đã đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945. Còn nơi dòng đục, đó là một phần không nhỏ những tác hại về nội dung của văn chương trên Nam Phong tạp chí. Bên cạnh những bài của mục “Luận thuyết” thuộc về các vấn đề quan hệ với thời thế, chính trị của tờ tạp chí này, mà trong phạm vi của luận án không đặt ra việc nghiên cứu, ngay trong nhiều tác phẩm thuộc phần Văn ở đây, cũng có tác phẩm đã đề cao sự bảo hộ của “Đại Pháp”, tuyên truyền bằng văn học cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, vốn đã làm không ít người ngộ nhận và mắc sai lầm về tư tưởng chính trị, trên con đường đấu tranh cứu nước. Đó là điều cần nhận rõ và cần phê phán!

Khác với nhiều tờ báo và tạp chí khác, Nam Phong tạp chí kể từ khi mới xuất bản, đã có định hướng, có trình bày lý luận và lí thuyết một số thể loại mới của văn học, có tổ chức, có khích lệ, dìu dắt để các cây bút mở đầu trên cả nước ta sáng tác, làm văn theo hướng hiện đại hóa, ảnh hưởng của văn đàn Nam Phong là rất lớn. Nhiều người đã từ “trường học” Nam Phong mà trở thành các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học… Nam Phong tạp chí đóng vai trò “bà đỡ” cho nhiều cây bút văn chương, nhất là những cây bút văn xuôi xuất hiện và trưởng thành. Trong việc làm đó Nam Phong có định hướng, và có một ý thức rõ rệt; vừa bền bỉ, lại vừa cố gắng. Nhiều tác giả, tuy tác phẩm đến nay chỉ còn được coi như những “bài tập” mở đầu cho một nền văn học mới, nhưng tên tuổi và một số sáng tác của họ vẫn như những “cái đinh” đóng vững chắc vào trong lịch sử văn học của nước nhà. Thời kỳ này, một số báo và tạp chí khác ngoài Bắc cũng đã tham gia vào quá trình đổi mới, hiện đại hóa nền văn học. Nhưng Nam Phong tạp chí là một tạp chí tham gia một cách tự giác nhất và đầy đủ nhất trên cả hai phương diện: lý thuyết và thực tiễn sáng tác. Nam Phong đã chủ động mở “cửa sổ nghệ thuật” sang hướng phương Tây, đã tạo dựng được nhiều thể loại văn học mới. Các thể loại văn học của nền văn học hiện đại, chẳng hạn như tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch nói… đã xuất hiện trên Nam Phong. Thể loại văn xuôi thuộc loại hình tự sự ra đời và đã trưởng thành. Nó đã tiếp nhận hình thức kết cấu, nhân vật, hành văn, ngôn ngữ…của thi pháp hiện đại, như: kết cấu theo nội tâm nhân vật, mang đậm yếu tố bi kịch, nhân vật gần với cuộc sống thực, từ bỏ dần lối văn biền ngẫu, cú pháp thiếu chặt chẽ, dùng nhiều từ Hán – Việt nặng nề… góp phần tạo những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới và hiện đại hóa văn học những năm sau. Trên Nam Phong tạp chí đã xuất hiện những bài viết mang tính chất nghiên cứu, lý luận, phê bình sắc sảo, nghiêm túc và hiện đại. Đồng thời có nghĩa là, Nam Phong tạp chí cũng đã có những cây bút nghiên cứu, lý luận, phê bình của văn học quốc ngữ theo hướng hiện đại đầu tiên trên văn đàn nước nhà. Rồi đây, không lâu sau, ở giai đoạn 1930-1945, văn đàn sẽ xuất hiện những nhà văn – những cây bút phê bình, nghiên cứu, lý luận văn học nổi tiếng, như: Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Lê Thanh, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai… Nhưng một số cây bút nghiê cứu, lý luận không chuyên trên Nam Phong cũng đã đem đến một ngọn gió mới cho một thể văn vốn còn quá hiếm trong tiến trình hàng ngàn năm của nền văn chương dân tộc. Công việc nghiên cứu, phê bình văn học mang tính chất mở đầu ấy của Nam Phong là rất đáng ghi nhận. Việc phát triển và làm cho sâu sắc là công việc của những thế hệ tiếp sau! Bởi vì, xây dựng một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học cho có thành tựu, cũng không thể là công việc của mười, hai mươi năm, hay của một thế hệ!

Văn trên Nam Phong có cả cũ và mới. Cũ ở chỗ, Nam Phong tạp chí đã cho đăng một số lượng rất nhiều thơ làm theo thể thơ cổ điển, nhất là thể thất ngôn bát cú Đường luật của những tác giả cựu học cuối mùa. Trên Nam Phong cũng có cả thể biền văn: văn tế, câu đối, và những câu tản văn cân đối nhịp nhàng… Nhưng mới ở chỗ, Văn trên Nam Phong tạp chí cũng đã có những thể loại văn học mới mà trước đó chưa hiện diện ở văn đàn nước ta. Đó là văn xuôi, gồm: tiểu thuyết (có đoản thiên, có trường thiên), truyện ngắn, có các thể ký quốc ngữ la-tinh; có cả nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, là thể loại văn học mà gia tài ông cha ta chưa có, và nếu có để lại thì vốn quá mỏng manh. Lại còn có cả kịch nói, dịch thuật chữ Hán, chữ Nôm và chữ Tây… Những cây bút tân học đã đem đến cho Văn trên Nam Phong không chỉ là những tri thức mới. Những thể loại văn xuôi quốc ngữ mới của nước ta, đến Nam Phong mới bước đầu được định hình, hoặc nếu trước đây đã có cũng “chỉ như như một cánh chim lạ đáp xuống cánh đồng văn học của nước ta”, và chỉ đến Nam Phong, chúng mới được đẩy lên một cách có ý thức, đạt được sự hoàn thiện về thể loại, cả chất lượng cũng như số lượng của tác phẩm. Bấy nhiêu thể loại văn mới đó đã dần thay thế cho những thể loại văn học xưa cũ, và đó cũng là dấu hiệu cơ bản của một nền văn học hiện đại.

Số lượng các sáng tác, nghiên cứu, văn dịch… trên Nam Phong tạp chí là rất đáng ghi nhận, tạo nên một nền văn học quốc ngữ mới, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và đời sống văn chương từ giai đoạn đầu thế kỷ bấy giờ và nhiều năm sau… Nhiều cây bút “sáng giá” đã viết cho Nam Phong, thế nên Nam Phong tạp chí là tờ báo thu hút được số đông bạn đọc đương thời. Họ đã thực sự lấy sáng tác, nghiên cứu văn chương làm nghề nghiệp, mặc dù họ phải đối mặt với cuộc sống cực kỳ khó khăn. Nhưng qua thực tiễn sáng tác, nghiên cứu Nam Phong tạp chí cũng đã bồi dưỡng , dìu dắt, đào tạo được một lực lượng sáng tác văn xuôi mới, những cây bút mở đầu của nền văn chương hiện đại, trong đó có nhiều tác giả có vị trí, có tên tuổi trong thể loại văn học mới, thể loại đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Sáng tác của họ, nhìn khắt khe, có thể chỉ như là những “bài tập” cho một số thể loại của văn xuôi quốc ngữ, nhưng rõ ràng là cũng đã có thành tựu. Sau này, một lớp người cầm bút sáng tác thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản xuất hiện, khi đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy nghệ thuật mới, Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước đòi hỏi của đời sống văn chương và nhu cầu của đời sống xã hội.

Bên cạnh việc xây dựng một nền quốc học, Nam Phong tạp chí đồng thời đã gắn với việc xây dựng một nền quốc văn mới, trong đó dùng chữ quốc ngữ là văn tự chủ yếu để làm công cụ cho bạn đọc tiếp nhận văn chương. Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với một lớp công chúng tiếp nhận mới. Do tính chất phổ biến của chữ quốc ngữ, vì là kết quả của những cuộc vận động học tập của nhóm Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ XX, nên từ Nam Phong tạp chí,  nhiều người đã có thêm những tri thức mới trên nhiều phương diện của đời sống, trong đó văn học là phần tri thức quan trọng mà Nam Phong đã cung cấp cho độc giả.

Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với các hoạt động văn hóa và những quan điểm văn hóa. Xây dựng quốc học để làm nền móng xây dựng quốc văn, đó là mục tiêu của Nam Phong. Cùng với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Nam Phong tạp chí đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình sử dụng, hoàn thiện và sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ trong xã hội nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Nhiều ngôn từ mới trên mục “Từ Vựng” mà Nam Phong cung cấp cho độc giả và công chúng thời ấy, đến nay vẫn còn có giá trị sử dụng trong kho tàng ngôn từ tiếng Việt. Tiếng nói của nước nhà, dù sao cũng phải một lần chịu ơn những gì mà hàng ngàn bài thơ, bài văn của các nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật, phê bình… đã đăng trên Nam Phong tạp chí, góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn từ dân tộc.

Đề tài, nội dung các sáng tác của Văn trên Nam Phong đã gần với cuộc sống hiện thực, theo thời gian, xa dần tính chất “tải đạo” và khuôn mẫu của văn chương trung đại những thế kỷ trước. Tuy chưa thể xem là thành tựu cơ bản, nhưng Nam Phong tạp chí cũng đã góp phần làm đổi mới văn pháp của một số thể loại văn học, nhất là văn xuôi nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX.

Là tạp chí, báo chí, Nam Phong tạp chí đã tạo nên được sự gắn bó mật thiết giữa báo chí với sự phát triển của văn chương và ngôn ngữ văn chương. Tính chất “cộng sinh” này đã giúp cho văn chương và báo chí cùng song song tồn tại và phát triển dài lâu. Đây cũng là một trường hợp khá tiêu biểu để báo chí hiện đại ngày nay tham khảo.

Nam Phong tạp chí đã trang bị cho lớp thanh niên trí thức ở những năm đầu thế kỷ XX một “hành trang tri thức” khá phong phú về nhiều phương diện, nhất là về văn hóa, văn học để rồi từ đó họ sẽ kế thừa, phát triển nối tiếp tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đổi mới trong lĩnh vực văn học, là tiền đề cho ra đời những trào lưu văn học mới, tạo nên một nền văn học mới – văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 và những năm sau.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thành tựu và diện mạo phần Văn trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi nhận thức rằng: ở nơi “đầu nguồn” của văn học Việt Nam hiện đại, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nhiều năm qua, chúng ta còn chưa khai thác một cách đầy đủ vào gia tài còn rất bề bộn và giàu có của văn chương dân tộc hồi đầu thế kỷ XX. “Ở trong còn lắm điều hay” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Đi qua thời gian ngót một trăm năm, Nam Phong tạp chí nói riêng cũng như nhiều báo chí, tạp chí khác nói chung đã rách nát, hư hỏng. Chúng ta cảm thấy xót xa và tiếc! Nhiều người còn ngần ngại và né tránh đi vào khai thác và nghiên cứu khu vực văn học trên các báo chí, tạp chí của giai đoạn này. Nếu vượt qua được những rào cản tâm thức “vô hình” để đến với khu vực và giai đoạn văn học “đầu nguồn” này một cách khoa học và nghiêm túc, khách quan và công bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ còn nhận về được một di sản văn chương mà giá trị của nó có nhiều hơn chúng ta tưởng.

Từ đây, các nhà nghiên cứu văn học sẽ có đủ tư liệu và bằng chứng để khẳng định rõ ràng hơn về sự hình thành và phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời đó cũng là cơ sở để làm sáng tỏ và lí giải sâu sắc những thành tựu phong phú, đặc sắc của văn học giai đoạn sau – giai đoạn văn học 1930-1945.

——————

Chú thích:

(*) Xem Nguyễn Đức Thuận, Văn trên Nam Phong tạp chí ( Diện mạo và thành tựu), NXB. VH, HN, 2008.

(1) Nguyễn Đức Thuận, “Tình hình nghiên cứu phần Văn trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) từ 1975 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, Viện KHXH Việt Nam, năm 2005, tr.117-125.

(2) Nhóm Lê Quý Đôn, Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, NXB, Xây Dựng, Hà Nội, 1957, tr.132.

(3) Trương Tửu, Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam, NXB. Xây Dựng, Hà Nội, 1958, tr.229

(4) Xem Nguyễn Đức Thuận, Đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí, NXB. VH, HN, 2013.

(5) Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong , NXB. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

 

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

KỶ NIỆM 72 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

– “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Tháng Tám 14, 2017

Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi – Phạm Quỳnh

Filed under: Báo — phamquynh @ 7:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

MỘT VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO NÒI GIỐNG CHÚNG TÔI

 Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Theo gợi ý của bạn Nguyễn Trọng Hiền, một kiều bào ta hiện sinh sống ở Mỹ, địa chỉ email hn90250@gmail.com, chúng tôi đã tìm và đăng trên blog này bài diễn văn học giả Phạm Quỳnh đọc tại phiên họp của Ban Khoa học Luân lý và Chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ngày 22/7/1922.

Do tầm quan trọng lịch sử của bài này, chúng tôi không trính như lệ thường của blog mà đăng nguyên văn theo bản dịch của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên dịch theo bài in trong cuốn Le Viet-nam-Problèmes Culturels et Politiques (Essais 1922-1932) do bà Phạm Thị Ngoạn tập hợp và Ý Việt xuất bản tại Pháp.

Bản tiếng Việt này in trong Phạm Quỳnh Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) do nhà xuất bản Tri Thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội xuất bản năm 2007.

—o0o—

Thư tịch cổ của nước Nam chúng tôi thường nói đến các đấng cao minh, những vị bằng học thức, bằng tâm trí, bằng sự trải đời trải người, cũng như bằng cuộc sống tĩnh lặng, những con người xa lánh những rối loạn xã hội và những cuộc tranh giành chính trị, nên đã thấu suốt mọi vấn đề liên quan đến sự thịnh vượng của quốc gia và hạnh phúc của dân chúng. Những khi nguy biến, hay mỗi khi có chuyện can hệ đến vận mệnh quốc gia, đích thân nhà vua, hay các vị đại thần, các quan chức, hoặc nói chung là những ai quan tâm đến quyền lợi tổ quốc, đều quen tới tham vấn họ. Bao giờ họ cũng đưa ra những lời khuyên sáng suốt, thông thái. Và lời khuyên của họ hầu như bao giờ cũng được nghe theo.

Trước con mắt các đồng bào tôi, Viện Hàn lâm quốc gia Pháp, thánh đường của văn hóa Pháp, là nơi ngự trị của các nhà hiền triết cổ xưa, của các bậc đại thần cố vấn của Nhà nước và nhân dân. Các bậc nho gia thức giả nước tôi có một ước vọng khao khát là khi đến Pháp thì có dịp gặp một ai đó trong số các bộ óc sáng láng ấy, để được nghe những lời chỉ bảo về rất nhiều vấn đề mà cuộc tiến hóa tinh thần, luân lý và chính trị của nuớc tôi đang đặt ra. Ngẫu nhiên mà vinh dự lớn lao ấy lại được dành cho một nhà báo tầm thường, mà dù thiếu những phẩm chất đưa lại cho ông ta vinh dự ấy, song bù lại, ông có lòng yêu mến nồng nhiệt đất nước mình và sự thán phục sâu sắc đối với nước Pháp. Có được hạnh phúc đặc biệt này là nhờ sự quan tâm của Ngài bí thư thường trực Viện Hàn lâm, mặc dù chương trình nghị sự của phiên họp đã định trước, nhưng Ngài vẫn muốn cho tiếng nói yếu ớt của một người nước Nam được vang lên ở chốn trang nghiêm này như tiếng vọng xa xăm của những niềm hy vọng, những điều ta thán, những nỗi ước nguyện của giới tinh hoa trí thức của cả một dân tộc. Xin Ngài hãy nhận ở đây lòng biết ơn chân thành của tôi.

*

* *

Thưa các ngài, bốn mươi năm qua, dân nước Nam sống dưới sự bảo hộ của nước Pháp. Những ngẫu nhiên của lịch sử dã muốn như vậy. Ban đầu chúng tôi coi tình trạng này như là một việc bị áp đặt do nền chính trị yếu kém của chúng tôi không cho phép chống lại một kẻ đi chinh phục mạnh bạo hơn nhiều. Nhưng dần dần, trong khi chung sống, chúng tôi ngày càng hiểu biết các ngài rõ hơn. Chúng tôi biết rõ hơn về nước Pháp và vị thế của nó trên thế giới. Và dưới tác động của vẻ duyên tinh thần Pháp, chúng tôi dần dần bị cuốn hút, bị chinh phục bởi nền văn hóa và nền văn minh của các ngài. Đồng thời chúng tôi cũng nhận ra những thứ một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi còn thiếu để sống nổi trong thế giới hiện đại. Sinh ra từ một trong những nền văn minh lâu đời nhất ở Châu Á, dân tộc chúng tôi nhiều thế kỷ nay sống tách rời với thế giới bên ngoài, sống bằng lặng trong một xã hội gia trưởng theo thứ luân lý Khổng-nho nặng nề và khắc khổ. Ngập đầu vào việc tôn sùng Hán văn cổ, nó luôn luôn bàng quan với tất cả những trào lưu tư tưởng lớn đã khuấy động thế giới Tây phương từ biết bao lâu nay. Xa cách với những trào lưu đã khai sinh một hình thái văn minh mới, và xa cách với nền văn minh này khi đã trở thành công thức sống cho các dân tộc hiện đại, chúng tôi rơi vào tình trạng thiếu thốn mọi thứ gì cần thiết để thích ứng với cuộc sống đó. Thế là giờ dây, chúng tôi đang hướng về nước Pháp, nơi chúng tôi thấy những truyền thống tinh thần bảo đảm chắc chắn cho những ý đồ chính trị tốt đẹp của nước Pháp, để nhờ nước Pháp giúp chúng tôi trong cuộc thích ứng này bằng cách đưa lại cho chúng tôi một nền giáo dục có thể làm cho chúng tôi một ngày nào đó trở thành một dân tộc hiện đại. Chính vì thế, mà sau sự thù địch ban đầu, một sự thù địch có thể giải thích được là do việc bị chinh phục và chiếm đóng thô bạo, ngày nay, giới tinh hoa nước Nam đã hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền Pháp, hơn thế nữa, còn hoàn toàn trông cậy nước Pháp chăm lo cho công việc học hành và giáo dục của mình. Đấy thực sự là một việc cảm động, thậm chí có thể là sự kiện duy nhất trong lịch sử nhân loại, việc một dân tộc này tin tưởng ở một dân tộc khác giúp đỡ cho vận mệnh tương lai của mình. Hiển nhiên là tinh thần cao cả của nước Pháp, nền văn hóa đầy chất nhân văn của nó, luôn luôn được các dân tộc ngưỡng mộ. Không phải là hiếm thấy, thậm chí ta thường thấy các dân tộc bị áp bức, sống dưới ách đô hộ của nước khác, hướng về nước Pháp như một xứ sở của những tư tưởng lớn lao phóng khoáng, những tư tưởng tự do và độc lập. Nhưng trường hợp một dân tộc hai mươi triệu người, có một quá khứ lâu dài, một lịch sử tốt đẹp và những truyền thống đáng kính, sống dưới sự phụ thuộc chính trị của chính nước Pháp mặc dù nó không hề muốn thế, lại khẳng định ý muốn nhờ nước Pháp dẫn dắt để học cách sống hiện đại, tôi tin là sự kiện này không phải dễ thấy. Chính vì vậy nước Pháp, khi chiếm giữ cái được gọi là lãnh thổ Á châu rộng lớn của nó, thì đồng tời cũng chiếm giữ các tâm hồn; nó có bổn phận với chính nó, có bổn phận với loài người và với lịch sử, nó phải dẫn dắt một cách chính trực các dân tộc ở vùng này thực hiện số mệnh của họ. Đấy là một phương diện của công cuộc “thực dân hóa” mà nhiều “nhà thực dân” nhiều khi có thể không biết tới, bởi vì dường như bây giờ đang có cái mốt là  hễ cứ nói đến các thuộc địa và công cuộc thực dân hóa, thì người ta chỉ nói về sự khai khẩn, sự sinh lợi và chỉ nhằm đến việc giáo dục dân “bản xứ” theo cái đích quá ư vị lợi này.

Quan niệm như vậy về công cuộc “thực dân hóa” – cứ tạm gọi hành động của nước Pháp tại các nước nằm trong tầm ảnh hưởng của nó như vậy – còn xa mới là một cách hiểu tốt dẹp khi đem áp dụng cho một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi. Chúng tôi hài lòng nhận thấy đó không phải là quan niệm của bản thân chính phủ Pháp, nó không đến nỗi quá ý thức về vai trò “thực dân” của mình cũng như các quyền lợi riêng của mình để không tính đến các khát vọng thầm kín của cả một dân tộc.

Từ đó mà nảy sinh một vấn đề – một vấn đề lớn mà, trong vai trò người diễn đạt tự nguyện cho đồng bào mình, tôi mong mỏi được nhận những ý kiến sáng suốt của các bậc thầy danh tiếng đang lắng nghe lời tôi nói lúc này. Vấn đề đó là: một khi dân nước Nam đã có ý muốn nhiệt thành được giáo dục để sống theo đời sống hiện đại, thì nước Pháp bảo hộ đình làm cách gì để đáp ứng nguyện vọng ấy? Quan niệm của nước Pháp ra sao đối với việc điều hành công cuộc giáo dục ấy? Đây là vấn đề mà chính quyền Bảo hộ sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi đã rất lúng túng và thực sự chưa giải quyết được một cách thật thỏa đáng. Hiện có hai luận điểm. Luận điểm của “chủ nghĩa thực dân” có từ lâu, cho rằng dân nước Nam càng được học thì càng có thêm vũ khí chống lại sự đô hộ của Pháp, cho nên cứ duy trì họ trong tình trạng này càng lâu càng tốt, không cần phải cho họ học nghề nghiệp kỹ thuật để trở thành những thợ giỏi, những đốc công lành nghề, những viên chức thạo việc; sẽ là nguy hiểm cho ảnh hưởng của Pháp nếu cung cấp cho họ nền văn hóa tinh túy của Phương Tây, vả lại họ cũng không thể tiếp thu được cái thứ đó. Đó là một luận điểm thiển cận, ích kỷ, không xứng với các truyền thống hào hiệp của nước Pháp; một luận điểm hết sức bất công đối với năng lực trí tuệ của nòi giống chúng tôi vốn bao đời nay luôn say mê học hỏi, biết thưởng thức, tôn thờ văn chương và biện luận. May sao, đó không phải là luận điểm thắng thế. Còn đây là luận điểm thứ hai, khoan dung hơn, và đã được thừa nhận chính thức: đó là đưa lại cho người Nam một nền học vấn không chỉ dừng lại ở bậc cơ sở, nó đi dần từ thấp lên cao, gọi là đi theo từng bước tiến hóa của họ. Chính là nhờ được gợi ý từ luận điểm này mà chính quyền Bảo hộ những năm gần đây đã tăng thêm nhiều trường tiểu học, mở trường trung học và đặt mầm mống của trường đại học. Tất nhiên, việc đó chưa phải là lý tưởng, nhưng là một khởi đầu tốt đẹp, và chúng tôi rất biết ơn những người đã khởi xướng nó.

Nhưng ở đó nổi lên những khó khăn, chúng thực sự trở thành một vấn đề phải giải quyết trong việc giáo dục chủng tộc. Nếu như công việc được tiến hành với một dân tộc vô học hay một dân tộc mới sinh sống trên một vùng đất mới, một dân tộc không có quá khứ và lịch sử, thì chẳng hề có những khó khăn này. Khi đó ta chỉ việc đào tạo nó, nhào nặn nó ở chừng mức cao nhất theo hình ảnh nước Pháp, tóm lại là đồng hóa nó, “Pháp hóa” nó dần dần bằng cách đưa lại cho nó nền giáo dục Pháp ngày càng nâng cao theo đà tiến hóa của nó (cách nói này ở đây rất chính xác). Nhưng như tôi đã nói, dân nước Nam không phải là một tờ giấy trắng; đó là một cuốn sách cổ chứa đầy những dòng chữ được viết bằng một thứ mực không thể tẩy xóa từ bao đời nay; không một chất thử nào có thể tẩy xóa chúng được hoàn toàn và người ta không thể tự do muốn viết gì vào đấy thì viết. Người ta chỉ có thể đóng lại cuốn sách cổ đó theo một cách mới, bày biện nó theo lối hiện đại hơn, chứ đừng mơ tới việc viết vào đó một thứ chữ xa lạ đè lên thứ chữ đã có từ ngàn xưa. Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần phải biết đưa lại cho người Nam thứ giáo dục nào để khi truyền bá cho họ thứ văn hóa hiện đại bậc cao mà họ cần có thì không phải là “phi dân tộc hóa” họ, làm họ mất đi bản sắc dân tộc và cá tính lịch sử của mình, biến họ thành một trong những dân tộc vô định hình, không sinh khí, không còn nét độc đáo nào nữa, như một số thuộc địa cũ của Pháp đã bị sa vào (PT nhấn mạnh). Ở đây cũng có hai luận điểm. Một cho rằng vì người dân nước Nam cho đến tận bay giờ vẫn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên cần có thời gian làm cho ảnh hưởng Pháp chiếm ưu thế ở họ, muốn thế cần phải dạy tiếng Pháp rộng rãi để đến một ngày nó trở thành tiếng nói chính thức duy nhất của nước này, tiếng nước Nam sẽ dần biến mất hoặc chỉ còn sống lay lắt như một thứ thổ ngữ đơn giản. Khi mà tất cả trẻ em nước Nam đèu nói tiếng Pháp thì nước Nam đã tiến một bước lớn trên con đường tiến bộ. Luận điểm này nghe có vẻ đậm đà, tròn trịa, nhưng nó có đúng không? Nó đã tính sát thực tế chưa? Liệu ở đây người ta có nhầm lẫn giữa ngôn ngữ và văn hóa là hai cái khác nhau, cái này không nhất thiết bao hàm cái kia? Liệu đã có thể nói một việc biết nói tiếng Pháp khá thành thạo là đủ nắm được văn hóa Pháp không? Biết đâu nền văn hóa đó lại chẳng thấm vào đầu óc dân nước Nam tốt hơn thông qua chính tiếng nước Nam? Cứ cho rằng một ngày nào đó tất cả trẻ em nước Nam biết nói lúng búng mấy từ tiếng Pháp – bởi vì để nắm vững một thứ tiếng ngoại quốc khác với tiếng chúng tôi như tiếng Pháp thì cần phải nỗ lực, phải làm việc, phải kiên trì, phải có ý chí điều này không phải mọi trí thức đều làm được, mà chỉ là việc của bộ phân tinh hoa – khi mà tất cả trẻ em nước nam nói một thứ tiếng Pháp “giả cầy” nhưng đồng thời lại không học được tiếng mẹ đẻ do không đem dạy trong nhà trường nữa, liệu như thế có thật sự là bước tiến bộ lớn đối với chúng tôi không? Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thật sự, sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ dầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp? Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán lẫn chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?

Luận điểm thứ hai vẻ như là luận điểm chính thức thì ít cực đoan hơn và có để ý tới những sự chuyển đổi; nhưng thực chất nó cũng gần như luận điểm đầu ở chỗ nó cũng thực hiện sự đồng hóa, một sự đồng hóa từ từ và ít thô bạo hơn. Nó không tuyên bố tiếng Pháp là bắt buộc đối với tất cả dân nước Nam, nhưng nó cũng chỉ để cho tiếng nước Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở đầu bậc tiểu học. Luận điểm này hợp lý hơn, công minh hơn luận điểm trước chăng? Chúng tôi không nghĩ thế, và điều khẳng định ý kiến của chúng tôi là kết quả của nền giáo dục chính thống. Những người Nam học trường Pháp ngày càng có xu hướng mất chất người Nam, song đâu có vì thế mà học gần hơn với các thầy người Pháp trừ chỗ giống thầy ở bề ngoài.

Nhiều người thậm chí du học ở Pháp khi về nước đầy những học vị và bằng cấp đã hầu như quên hết tiếng mẹ đẻ và trở thành người mất gốc trên chính quê hương mình. Và Chính phủ định dựa vào những người đó để truyền bá trong dân chúng tư tưởng và ảnh hưởng Pháp thì thực là không thu được lợi lộc gì, bởi vì khi không nói được hay nói kém tiếng nói của đồng bào mình thì làm sao họ có thể có chút ảnh hưởng gì đến đám đồng bào kia? Chưa kể là, đôi khi thậm chí họ đi đến chỗ không gây được thiện cảm với dân chúng và họ tự nguyện bỏ quốc tịch Nam chuyển sang quốc tịch Pháp. Trong khi những người Nam học hành theo kiểu Pháp bị “phi Nam hóa” như vậy thì các nhà nho cũng co cụm lại, bắt đầu tìm hiểu tư tưởng Pháp bằng cách đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire qua bản dịch tiếng Hán!

Việc giáo dục người Nam của nước Pháp vậy là đã trở thành một vấn đề vô cùng phức tạp, chưa được xem xét rõ ràng và với sự khách quan cần thiết. Nó là vấn đề sống còn đối với dân tộc chúng tôi và toàn bộ tương lai của chúng tôi là tùy thuộc vào cách nó được giải quyết.

Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, nhưng người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thông lâu đời của chủng tộc mình.

Cần sử dụng những phương cách nào để đạt được mục đích đó? Vấn đề này đòi hỏi phải được đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ, phải được vạch ra từ một cách nhìn vượt lên trên mọi điều nhỏ nhặt về chính sách ở bên nước Nam hoặc ở bên chính quốc. Như tôi đã nói, đây là một vấn đề thực sự đặt ra cho việc giáo dục chủng tộc mà nhà tư tưởng, nhà xã hội học cũng như nhà chính khách đều quan tâm như nhau. Đây là một vấn đề mà nhân danh đồng bào của tôi, tôi muốn được thấy ánh sáng chiếu rọi từ các bậc thầy danh tiếng của Viện Hàn lâm nước Pháp.

Nhưng dù Chính phủ Pháp chọn giải pháp nào cho là thích hợp với vấn đề này, đồng bào tôi vẫn hoàn toàn tin tưởng vào thiên tài giáo dục của nước Pháp. Để kết thúc bài phát biểu ngắn này, tôi xin phép dẫn ra đây một đoạn dài trong bài của một Giáo sư đại học Pháp quốc viết sau chuyến đi khảo cứu ở Viễn Đông trở về. Khi nói đến lòng nhiệt thành của giới thanh niên Trung Quốc hiện nay đối với tư tưởng và văn hóa Pháp, tác giả đã bày tỏ những điều không chỉ đúng cho giới trẻ nước Nam, mà còn đúng với toàn thể cho giới tinh hoa trí thức nước Nam nữa:

“Chính là với tư cách một tổ quốc chung của những con người có đầu óc tự do, trong tư cách mẹ đẻ của những học thuyết giải phóng chính trị và xã hội mà nước Pháp đã thu hút được thanh niên Trung Hoa đang khao khát tự do và công lý. Cái họ thích nhất ở Pháp, đó là đất nước của các “nhà triết học”, của Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte, đất nước của các nhà sử học như Michelet, của các nhà thơ như Hugo, của các nhà hùng biện như Jaurès, những con người bằng ngôn ngữ tuyệt diệu của họ nói lên được cả cái thiên tư đặc trưng của nước Pháp lẫn cái lý tưởng chung của nhân loại.

“Nếu đã là như vậy, nếu như giới trẻ Trung Hoa có một thứ bản năng sáng suốt và một sự gần gũi trong lựa chọn đã hướng cả về giới trí thức Pháp để tìm ở đó người dắt dẫn tự nhiên của họ, thì thờ ơ trước tiếng gọi đó chẳng phải là có lỗi sao? Chính vào lúc nhiều dân tộc Viễn Đông muốn thoát khỏi tình trạng biệt lập từ xa xưa của họ, Trung Hoa đã hướng đến các bậc thầy Pháp và nói: “Hãy nắm lấy lớp thanh xuân nước tôi, hãy truyền cho họ khoa học, phương pháp, luật pháp và triết học của các ngài. Chúng tôi muốn được học để tự giải phóng. Hãy đưa lại cho chúng tôi những khả năng đi vào xã hội của các dân tộc tự do, không phải như một người khách được lịch sự mời ngồi trong phòng khách, mà như một dân tộc có nền văn hóa tinh thần cao, những con người sẽ cùng làm việc với các ngài cho nền hòa bình của thế giới. Hỏi có nhiệm vụ nào cao đẹp hơn? Chắc chắn nó sẽ khó khăn, nó đòi hỏi nhiều tới ý chí kiên trì theo đuổi. Nhưng nếu ở cả hai nước người ta tin tưởng vững chắc vào tầm quan trọng của nó thì nhiệm vụ này sẽ đi đến kết thúc tốt đẹp…”

Và tác giả kết luận:

“Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hóa kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hòa giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang. Những lợi lộc vật chất ở đó không ngăn cản được cảm nhận của kẻ thấy mình bị bóc lột: nó hiểu rằng không lợi lộc nào bù đắp nổi cảnh bạo hành chính nó phải gánh chịu. Từ đó mà có những yêu sách liên tiếp và ngày càng chua chát khó chịu, và những xung đột không lối thoát. Ngược lại, một ảnh hưởng thuần trí tuệ và luân lý, được chấp nhận một cách tự do và thậm chí là được cầu khẩn, như trường hợp nước Trung Hoa đang trông đợi ở nước Pháp đây, chỉ càng làm cho hai dân tộc quyến luyến nhau lâu dài. Ta chẳng phải trả giá cho những cuộc chinh phục này bằng máu và nước mắt. Những cuộc chinh phục này cũng chẳng làm ai ghen tức:  trong lĩnh vực tư tưởng, cạnh tranh là tự do. Ở thế kỷ XX, chỉ một nước Pháp, dù chiến thắng mà vẫn trung thành với thiên tư mang bản chất người của mình, là duy nhất xứng đáng với những cuộc chinh phục tinh thần ấy.”*

Tôi còn biết nói gì thêm vào những lời lẽ hùng hồn cao cả này, nếu không muốn nói rằng chính là ở Pháp đã có những đầu óc cao siêu, những trái tim hào hiệp đang xem xét vấn đề giáo dục của chúng tôi từ một tầm cao thật sự xứng với một ý thức Pháp và một tấm lòng thanh thản cả gan nhìn về tương lai?

Nhưng “các dân tộc cũng gống như các cá nhân, vào thời khắc quyết định vẫn thường thiếu đầu óc tưởng tượng cần thiết để nhận rõ được các quyền lợi đích thực của họ. Những kẻ vẫn còn nô lệ vào những châm ngôn chính trị từ đời nảo đời nào vẫn chẳng học nổi điều gì bổ ích, họ đang kiệt sức khi cứ đi mãi về những hướng chẳng dẫn họ đi tới đâu, và mù tịt lướt ngang bên cạnh cái đích mới mẻ mà lẽ ra họ phải tìm tới…”

Những con người suy tư có nhiệm vụ khơi gợi cho những con người hành động cái đầu óc tưởng tượng cần thiết này để nhận biết các quyền lợi đích thực của họ và chỉ cho họ thấy cái đích mới mà họ cần hướng mọi nỗ lực vào đấy. Phải chăng ta có thể tìm thấy những con người suy tư hào hiệp và sáng suốt ấy ở ngay trong ngôi nhà cổ xưa này của trí tuệ và minh triết nước Pháp, ngôi nhà đã bao đời nay làm nổi danh nước Pháp trên toàn thế giới?

Paris, 22-7-1922

P.Q.


* L’ébranlement du monde jaune (Sự rung chuyển của thế giới da vàng) của X.X.X. (tức giáo sư Lévy-Bruhl), Revue de Paris (Tạp chí Paris) 15/10/1920

Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NAM PHONG TẠP CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

NGƯT. Vũ Thế Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này do Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Trong luận văn khoa học tổng kết 15 năm điền dã khảo cứu về Hướng Thiện hội đền Ngọc Sơn (hình thành trước 1836 và hoạt động trong suốt thế kỷ XIX) như một cơ sở văn hóa – xã hội sâu xa của phong trào Duy tân – Nghĩa thục, trên cơ sở 3 sơ đồ về sự truyền thừa tư tưởng giáo dục dân tộc, nhân bản và hướng Thiện (xem Phụ lục), chúng tôi đã đề xuất khái niệm “hậu Đông Kinh Nghĩa Thục”. Ngôi nghĩa thục trung ương trên phố Hàng Đào chỉ hoạt động được 7 tháng thì bị đàn áp, nhưng ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng thay vì bạo động non do các lãnh tụ Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục khởi xướng, vẫn tiếp tục tác động sâu rộng và dài lâu khắp Nam Bắc. Khắp đô thị và nông thôn vẫn ngầm tuôn chảy những mạch tư tưởng dân tộc và dân chủ mà ĐKNT đã kịp khai thông. Các tư thục của ông đồ làng – những cơ sở văn hoá – xã hội rộng khắp của tầng lớp “Nho sĩ bình dân” (thuật ngữ do nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện đề xuất, đối lập với “Nho sĩ quan lại”) – vẫn âm thầm hoạt động trong các làng xã, phường thôn. Từ đền Ngọc Sơn đến tận chùa Nhã Nam ở Cần Thơ người ta vẫn giảng những bài Đạo Nam kinh thấm đậm hồn Duy tân: Hợp đoàn thể, Khuyến nông, Khuyến công, khyuến thương, Khuyến nữ học[i]. Cư sĩ Thiều Chửu vẫn mở các lớp dạy chữ quốc ngữ, soạn và in sách quốc ngữ (mỏng, chỉ một tay sách 16 trang) truyền bá đạo lí dân tộc và khoa học thường thức, phát không cho dân nghèo[ii]. Tác động do đường lối “giáo dục quốc dân” của ĐKNT sở dĩ sâu rộng là vì nó thực sự mang tính cánh mạng, chứ không phải là “cải lương”, như quy kết của một số nhà nghiên cứu mang cái dớp của phái Proletkult mà Lenin đã phê phán. Gọi là “cách mạng” vì ĐKNT chủ trương thay hẳn nền giáo dục Nho học cổ hủ cốt đào luyện “thần dân bù nhìn chỉ biết làm theo lệnh trên”, bằng một sách lược tân học văn minh (“Văn minh tân học sách”) “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm đào tạo những công dân biết độc lập suy nghĩ và tự hành động[iii]. Để đạt mục tiêu đó các nhà Nho dứt khoát vứt bỏ thiên kinh địa nghĩa nghìn năm, thay nó bằng “tân thư” với những khái niệm hoàn toàn mới như quốc thể, quốc dân, dân chủ, nghị viện, lập hiến, xã hội, đoàn thể, công nghĩa, công ích, khoa học thực nghiệp v.v…

Nam Phong tạp chí không nằm ngoài sự ảnh hưởng của tư trào hậu ĐKNT, dẫu không thể không chịu sự tác động của quan Chánh mật thám Marty ở Phủ toàn quyền Đông Dương, người trực tiếp sáng lập và tài trợ cho tạp chí. Thì Quan Chánh đã chẳng cố công tác động đến cả Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp đấy thôi! Kết quả (và cả hậu quả) ra sao, ngày nay mọi người đều rõ.

Bất chấp việc danh tính Chánh mật thám Marty lù lù trên trang bìa, Nam Phong tạp chí vẫn trở thành diễn đàn uy tín dẫn đạo được quốc dân trong “buổi giao thời”. Ấy là nhờ vị Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có tinh thần tự chủ văn hóa đã tuyên ngôn rõ ràng, có học vấn thông kim bác cổ, có nhân cách kẻ sĩ đàng hoàng, lại có tài tổ chức, nên đã tập hợp được một đội ngũ trên trăm rưởi tác gỉả tài ba thuộc đủ khuynh hướng xã hội-chính trị, nhưng đều là những cây bút nghiêm túc và xuất sắc, từ các bậc đàn anh từng tham gia Đông Kinh nghĩa thục như Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, đến lớp hậu sinh có tư tưởng cấp tiến như sáng lập viên Việt Nam Quốc dân đảng Phạm Tuấn Tài và đảng viên Cộng sản tương lai Lê Mạnh Trinh.

Trong bài phát biểu năm 1922, kí giả Phạm Quỳnh, cố ý mặc quốc phục áo the đen và đóng khăn xếp, đã khôn ngoan mượn lời lẽ của một học giả Pháp để nói thẳng với chư vị viện sĩ Hàn lâm Đại Pháp rằng: “Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hoá kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hoà giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang” (VTK nhấn)[iv]. Trước đó 2 năm, trong bài viết “Độc thư cứu quốc (mừng các ông tân khoa trường đại học)”, hướng tới thế hệ trí thức trẻ nước Việt, ông đặt thẳng ra trước họ cái nhiệm vụ chính ông đang thực hiện bằng tờ báo của mình: “…Người ta học là vị chân lí, vị nhân loại, ta học nên vị nước trước nhất, sự học của ta phải là cái học cứu quốc vậy” (Nam Phong, số 36, tháng 6 – 1920).

Rõ ràng ông Chủ bút Nam Phong tạp chí không có ý định hạn chế trong phạm vị mấy điều cải lương nhỏ giọt của “mẫu quốc Đại Pháp” mà nuôi hoài bão “thể (tức thể theo, dựa theo – VTK) cái chủ nghĩa khai hoá” của chính quyền bảo hộ để làm đại sự –  kế tục khéo léo hơn, ôn hòa hơn trong tình thế mới đường lối “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm cứu nước của Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục. Vậy sao có thể quy kết chụp mũ là ông “chỉ phục vụ chính sách nô dịch của thực dân’, “làm tay sai, bán nước”?!

Phạm Quỳnh đã thực hiện đường lối giáo dục cứu nước trên hơn 2 vạn trang Nam Phong tạp chí như thế nào? Các bài vở bàn bạc về các vấn đề giáo dục, kể cả tranh luận giữa các ý kiến trái chiều, vô cùng phong phú. Trong phạm vi tham luận này xin phép chỉ đề cập một vấn đề, từng được Văn minh tân học sách của ĐKNT nêu lên hàng đầu trong đường lối giáo dục quốc dân của các nhà nho Duy tân:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,

Phải đem ra tính trước dân ta…

Vấn đề còn đặc biệt thời sự là vì người ta đang đua nhau dạy tiếng Anh cho cả trẻ mẫu giáo. Thậm chí có vị lãnh đạo nọ còn định biến tiếng Anh thành “ngôn ngữ thứ nhất” tại Việt Nam, khi bản thân chưa phân biệt nổi thế nào là “ngôn ngữ thứ nhất” (trong môi trường các nước đa ngữ, như Áo, Canada v.v…) và thế nào là “ngoại ngữ thứ nhất”!

Ông Phạm Quỳnh kiên trì đấu tranh thực sự cho việc dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ La tinh hóa làm công cụ chuyển tải tri thức phổ thông thay cho tiếng Pháp. Chuyện bây giờ tưởng như đương nhiên, hóa ra không hề dễ dàng trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ và chính quyền thực dân chủ trương biến dân Việt thành những con vẹt nói tiếng Pháp ngô ngọng như thổ dân ở các thuộc địa châu Phi của họ. Lại nữa, như các tiểu mục trên Nam Phong phản ánh, một bộ phận người Việt thăng tiến nhanh chóng nhờ “vào làng Tây”, tức trở thành những ông Tây An Nam, vì vụ lợi đòi dạy cho con em họ tiếng Pháp ngay từ ấu học, để chúng thành Tây con, nhanh chóng kiếm được vị trí “sáng rượu sâm-banh, tối sữa bò”. Ông chủ bút Nam Phong gọi chủ trương đó là “tư tưởng kì khôi”, là đem “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống cam tâm tự diệt vậy”. Kế thừa phương châm của ĐKNT, coi chữ quốc ngữ không phải là phương tiện làm nô bộc để vinh thân phì gia, mà là “hồn trong nước”, Chủ bút họ Phạm kiên trì gắn kết Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc học – Quốc hồn. Ngay từ bài đầu tiên trên Nam Phong bàn về giáo dục, lại là giáo dục cho phụ nữ, ông đã khẳng định: “Phàm phổ thông giáo dục mà dạy bằng tiếng ngoại quốc nhiều, là thất sách cả. Đối với con trai còn hại, huống chi là con gái” (NP, số 4/1917). Theo ông, chỉ quốc ngữ gắn liền với quốc văn, quốc học và quốc hồn mới xây dựng được nhân cách Việt vững vàng để tiếp thu văn minh Pháp và nhân loại. Hướng tới các quan thực dân định đoạt vận mệnh nền giáo dục ở thuộc địa, ông nhẹ nhàng than trách Học chính tổng quy-1917 của Toàn quyền Albert Sarraut là nó “chỉ để cho tiếng Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở bậc tiểu học”. Ông khéo léo gợi ý họ: “Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự (chúng tôi nhấn – VTK), sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ đầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp?”… Trích  đến dẫn đến đây, tôi phải tạm ngắt ngang, để lưu ý quý vị quan điểm quốc học toàn diện sâu sắc làm nền tảng cho quốc hồn của vi Thượng thư bộ học tương lai (10 năm sau, 1932!) – mà nền giáo dục XHCN của chúng ta, từ cuộc Cải cách giáo dục năm 1950 – 51 theo tả khuynh kiểu Proletcult, đã từ bỏ, do đó đã tạo nên “khoảng trống đáng sợ” như cả Bộ trưởng Giáo dục Dân chủ Vũ Đình Hòe[v] lẫn Thứ trưởng Giáo dục Cộng sản Nguyễn Cảnh Toàn[vi] đã chỉ ra. Trong bài diễn thuyết trích dẫn trên đây, kí giả Phạm Quỳnh gợi ý tiếp các quan Đại Pháp về phương hướng đặt cơ sở văn hóa của nền quốc học như sau: “…Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán với chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?”.

Học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra là một nhà giáo dục học uyên thâm và tiên tiến khi thuyết minh cho chư vị viện sĩ Hàn lâm Pháp về cứu cánh, tức mục đích cuối cùng, hay như thuật ngữ thời thường hiện nay – “mô hình đầu ra” của một nền giáo dục chân chính: “Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách con người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình”.[vii]

Rõ ràng không ngẫu nhiên ông “Vua tân thời” Bảo Đại chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư bộ Học.

Và cũng hoàn toàn có lí, khi vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”[viii].

[i] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Hội Hướng Thiện đền  Ngọc Sơn,  một cơ sở văn hoá – xã hội sâu  xa của phong trào Duy tân –  Đông Kinh nghĩa thục. – bản tiếng Pháp in trong sách Vietnam – le moment moderniste, Publications de l’Université de Provece 2009, tr. 79 – 93; toàn văn bản tiếng Việt có thể tìm đọc trên các mạng Talawas; dongtak.net (mục Đông tác giao lưu); lichsuvn.com; vanhien.vn; tóm  lược: Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đến trường Đông Kinh nghĩa thục. – Tạp chí Xưa và Nay, số 283, tháng 5 – 2007.

[ii] Tham khảo: VũThế Khôi – Cư sĩ Thiều Chửu với nền giáo dục bình dân. – Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 – 2002.

[iii] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Tính cách mạng trong đường lối “giáo dục quốc dân” của Đông Kinh nghĩa thục. -Bài đã công bố ở hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ” tổ chức ở Đại học Hoa Sen TP Hồ Chí Minh ngày 18 – 12 – 2008; đăng trong Kỷ yếu cùng tên, NXB Văn hóa Sài Gòn & Đại họa Hoa Sen – 2009, tr. 67 – 88; có thể tìm đọc toàn văn trên các trang mạng: hocthenao.vn; dongtac hncity. Org; event.hoasen.edu.vn

[iv] Phạm Quỳnh: Tiểu luận. Viết bằng  tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. Phạm Toàn giới thiệu và biên tập. – NXB Tri Thức, Hà Nội 2007, tr.410.

[v] Vũ Đình Hòe: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cuối 1945 – đầu 1946. – Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, N21/2003 và N1+2/2004; Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004.

[vi] Nguyễn Cảnh Toàn: Chữ Nho với nền văn hóa Việt Nam. – Tạp chí Hán Nôm, N4(59)/2003.

[vii] Tlđd ở chú thích 4., tr.408.

[viii] Vũ Đình Hoè: Nguồn gốc của Hội Truyền bá Quốc ngữ. – Tạp chí Xưa & Nay, số 51, tháng 5 – 1998.

Tháng Bảy 31, 2017

Dựng bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

DỰNG BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

(Bài đăng trang 9 báo Đại Đoàn Kết số 332 ngày 28/11/2014)

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyệBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongn Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa PHẠM QUỲNH (1893-1945);

Chủ bút báo Nam Phong hiệu Thượng Chi.

V.T.K.

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8năm 2017.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ ĐBia tuong niem nha van hoa Pham Quynhiển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế tại chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang QuynhTrên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho Pham Tuyen - Pham Dungmấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang QuynhTiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc. Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangBia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

 

Tháng Bảy 30, 2017

Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

BÀN PHIẾM VỀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên Tạp chí Nam Phong số 84 tháng 6 năm 1924. Tức là hai năm sau cuộc gặp gỡ tại Paris (Pháp) giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và nhiều người yêu nước khác. Khi viết bài báo tâm huyết, có tầm nhìn xa và đặc sắc này, Phạm Quỳnh mới 31 tuổi, đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

So sánh văn minh Đông phương với Tây phương, còn vấn đề nào to tát bằng! Những đọc đến đầu đề đã lấy làm sợ thay. Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau.

Trong một cõi Tây phương mà văn hóa nước Pháp không giống văn hóa nước Anh, văn hóa nước Anh lại khác văn hóa nước Đức; nay nói chung văn hóa Tây phương thời là chỉ văn hóa nước nào? Tức cũng như nói chung văn hóa Đông phương là chỉ văn hóa Ấn Độ, hay là văn hóa Nhật Bản, hay là văn hóa Trung Hoa? Vẫn biết rằng các nhà nghị luận là dùng phép tổng quát, chỉ gồm lấy những tính cách chung của văn hóa cả một phương mà không xét đến những sự đặc biệt trong văn hóa của từng nước, và cứ đại để mà xét như thế thời văn hóa nước Pháp dẫu khác với nước Đức, nhưng cũng là đại đồng tiểu dị, sánh với nhau còn gần hơn là sánh với văn hóa nước Tàu hay nước Nhật vậy. Song nhà nghị luận muốn khái quát cho đích đáng thời phàm những văn chương, triết học, mĩ thuật, tôn giáo, luân lí, chính trị của các nước Thái Đông, Thái Tây đời xưa đời nay, ít ra cũng phải thiệp liệp và lĩnh lược được hết, thời phán đoán mới khỏi sai lầm, nghị luận mới được xác đáng. Bậc thiên tài như thế, cổ kim đã được mấy người?

Hiện nay có nhà đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã từng đem một cái tư tưởng rất cao mà phê phán về văn minh Thái Tây. Nhưng ý kiến tiên sinh siêu việt quá, dẫu có cái đạo vị thâm trầm, cái mùi thơ ngào ngạt, mà tưởng không thiết cho sự yêu cầu của tâm trí người ta đương buổi Á, Âu xung đột này.

Lại mấy năm trước có một nhà làm sách Nhật Bản tên là Okakura Kakuzo, học vấn uyên bác, kiêm thông cả Hán học cùng Âu học, soạn một quyển sách nghĩa lí cũng sâu sắc, khám phá được nhiều điều, đều là “Lý tưởng Đông phương” (Les Idéaux de L’Orient, par Okakura Kakuzo, nguyên bản tiếng Anh, có dịch ra tiếng Pháp)  nhưng lập luận có ý thiên vì lòng ái quốc, cho rằng nước Nhật ngày nay là cái kho bảo tàng chung để chứa cả tinh hoa của thế giới.

Xem như thế thì so sánh văn minh Đông-Tây thật không phải là sự dễ. Các bậc tài cao học rộng còn chưa xét được đến nơi, tôi đây đâu dám tự phụ.

Song người nước ta bây giờ đương đứng giữa nơi hợp lưu hai cái văn hóa khác nhau, trước mắt có cái cảnh hai dòng nước đổ lộn, chưa biết rồi sau trong đục ra thế nào. Kẻ bi quan cho rằng nước càng xa nguồn tất càng đục; kẻ lạc quan cho rằng nước có đổ lộn sức mới to. Bi quan hay lạc quan, chẳng qua là theo cái ý riêng của mỗi phái mà dự tưởng sự kết quả về sau này. Còn hiện nay thời cũng chửa ai biết ra thế nào cả, lòng còn phân vân, trí còn bối rối, chửa hay nên đối phó với phong trào ra sao.

Cứ thực ra thì kẻ thức giả trong nước ta bây giờ, người nào cố ý không để tâm đến những chuyện xa xôi ấy thì chớ, còn những người còn biết trọng điều nghĩa lí ở đời, còn biết cho rằng ngoài sự danh lợi còn có những lẽ quan thiết cho nhân tâm thế đạo hơn, thời xem ra ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cho nên nhất là trong hạng thanh niên, kẻ không có chí bị đắm đuối trong cuộc ăn chơi phóng túng đã đành, kẻ có chí cũng đến hãm hại vào chốn sầu thảm chán chường.

Cái bi kịch về tinh thần đó, cái thảm trạng trong tâm trí đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, di truyền tự thượng cổ, tích lũy đã lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải chia sẻ ra lắm đường, nên giữ được cái vẻ thản nhiên yên ổn.

Kịp đến buổi phong hội mở mang, Á – Âu giao thiệp, thời sự xung đột hai cái văn hóa Đông-Tây bắt đầu từ đấy. Trong bấy lâu, tuy cứ bề ngoài mà xét tựa hồ như có bên thắng bên bại, bên tiến bên lùi, tình thế đã rõ ràng ra đó, nhưng cứ thực sự thời người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng dở dang, chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định. Bởi thế nên chí hướng phất phơ, tâm hồn phảng phất, thần trí không được thư xướng mà trong lòng như mang một nỗi áy náy không yên.

Cũng muốn nhắm mắt mà theo mới, nhưng theo mãi rồi đến đâu? Nếu kết quả chỉ gây ra một giống không Âu không Á, nửa Tây nửa Đông, tầm phơ tầm phất, lốc cốc lông bông, không nhà không nước, không cha không ông, thời cũng là uổng công vô ích mà lại để hại về sau. Cũng muốn khư khư mà giữ cũ, nhớ lấy câu “giấy rách giữ lề”, nhưng mà lại lắm nỗi dở dang, “bỏ thương vương tội”; những cái nguyên nhân tích nhược trong bấy lâu đeo đẳng mãi thật cũng khốn!

Ấy tình trạng những kẻ thức giả trong nước ta thuộc về vấn đề văn hóa có cái vẻ bối rối mà thảm thương như thế. Đối với tình trạng ấy, trách sao có lắm người sinh ra những tư tưởng chán đời. Không phải đời đáng chán, bởi lòng không yên, trí không định, nên sự nghiệp đến hững hờ, mà công danh đến đểnh đoảng. Mà lòng không yên, trí không định, là bởi cái vấn đề văn hóa chửa giải quyết xong.

Xét cho cùng, cái nguyên nhân của mọi sự chếch lệch trong xã hội, mọi nỗi bất bình trong lòng người không phải là thuộc về luân lí, không phải là thuộc về chính trị, chính là một cái vấn đề văn hóa ấy vậy.

Văn hóa là gì? Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần người ta thế nào cho được thập phần tốt đẹp, để nẩy nở ra những công trình to tát, sự nghiệp lớn lao mà đem tư cách một quốc dân đến tuyệt phẩm. Ví người ta như cái cây, thời văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, kết quả sinh hóa, để tô điểm cho cái vườn hoa của thế giới.

Nay mầm Hồng chồi Lạc của ta cũng không phải là giống cỏ hèn của Tạo vật; sao nỡ để cho đến khô héo mà úa tàn? Bởi vì ta bấy lâu lúng túng chưa biết cách vun xới cho phải đường. Cứ trồng theo lối cũ thời chỉ gây được một giống cây non bộ, coi nó nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nơi nắng cả gió to được mấy nả. Muốn trồng theo lối mới thời cũng chỉ mọc ra ngoài một loài tầm gửi giây leo, quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt đứng sao!

Nhân tài nước ta cũng như cái dây tầm gửi, cây non bộ đó, mong sao có ngày chiếm được địa vị vẻ vang trên thế giới?

Cho nên cái vấn đề văn hóa đối với nước ta là quan hệ lắm. Vấn đề này có giải quyết được phải đường, thời nước ta mới có được nhân tài xứng đáng; nước ta có nhân tài xứng đáng, thì mới mong sinh tồn tự lập được ở đời.

Tôi không dám tự phụ rằng đã tìm được cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng bấy lâu nay, từ khi khôn lớn biết tư tưởng đến giờ, vẫn lấy làm băn khoăn khắc khoải, lúc nào cũng như canh cánh trong lòng, tưởng như sự hạnh phúc cả một đời, sự vận mệnh cả một nước là quan hệ ở đó. Tôi không phải là người “đa tư đa cảm” như các bạn thanh niên đời nay; nhưng bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng biết khổ vì một cái lí tưởng suông. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng trong trí không có một cái lí tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình, thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lí riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi. Nhưng nói thế là để tỏ rằng, đối với cái vấn đề văn hóa này, thành thực và sốt sắng là dường nào.

Vẫn biết rằng một lòng thành thực sốt sắng thật chưa đủ giải quyết được một vấn đề quan trọng mà khó khăn, nhưng không có tư cách gì khác nữa thời thế cũng đủ để cùng các anh em đồng chí trong nước giãi bày chút ý kiến riêng.

Bọn ta sống giữa đời Đông-Tây giao thiệp, Âu-Á một nhà, đối với văn hóa Tây phương, đối với văn hóa Đông phương, đối với tinh thần Âu châu, đối với tinh thần Á châu, phải nên có một thái độ như thế nào? Ấy cả cái vấn đề là gồm trong một câu đó.

Gần đây đã thành một câu khẩu đầu hễ bàn đến văn minh Âu-Á thì nói nên phải điều hòa hai bên, giữ lấy cái hay mà bỏ cái dở. Tôi đây cũng tin ở sự điều hòa đó, vẫn lấy bốn chữ “Thổ nạp Âu-Á” làm lời cảnh huấn riêng. Song nói dễ mà làm khó; văn minh không phải là vị thuốc, có thể cứ đồng cân mà hòa lấy cho đúng liều được. Văn minh là một vật không hình thể, không trọng lượng; văn minh là thuộc về tinh thần vậy.

Muốn điều hòa hai cái tinh thần khác nhau, phải biết dùng trí tuệ một cách sáng suốt khôn ngoan, phải biết khảo sát: thương lượng, biện biệt, phán đoán, rồi mà châm chước cho thích trung. Khó lắm thay! Lại khó hơn nữa, là cách giáo dục trong nước tuyệt nhiên không giúp được tí gì cho sự điều hòa ấy, không những không giúp được tí gì mà lại hầu như ngăn trở cho không thành được. Vì rằng muốn điều hòa tất phải có hai bên, mà nay giáo dục chỉ chuyên về một bên, bên kia không biết đến, thì còn điều hòa cái gì? Hiện nay cái hiện tượng đã rõ rồi đấy: phần nhiều những bậc thiếu niên tuấn tú trong nước, từ thuở nhỏ chỉ theo về một đường Tây học, đối với văn học Đông phương, đối với lịch sử nước nhà, đang nhiên không biết một tí gì, như thế thời còn biết điều hòa là sự gì nữa? Muốn điều hòa, phải tham bác cả đôi bên, nghiền ngẫm cho thâm thúy, rồi mới châm chước cho vừa phải. Nếu chỉ độc chuyên một phương diện, thời thành ra thiên lệch rồi.

Cho nên cái vấn đề văn hóa ở nước ta càng xét ra lại càng thấy khó khăn phiền phức vô cùng.

Trước hết có một cách giải quyết cái vấn đề ấy, mới coi tựa hồ như giản dị ổn thỏa hơn cả, một số nhiều trong quốc dân ta ngày nay như mơ màng mà khuynh hướng về hết. Kể giản tiện thì cách này giản tiện thật, giản tiện quá! Là cứ thuận dòng nước mà chảy xuôi, không cần phải bận lòng đến sự gì nữa. Nghĩa là xóa hẳn cái vấn đề đi, cho là không cần phải đề khởi ra làm gì. Ngày nay các nước Âu Tây cường thịnh nhất trong thế giới, văn hóa của các nước ấy chắc là hay ho tốt đẹp vô cùng. Ta cứ việc nhắm mắt mà theo, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn cho phiền. Có ngày theo được đến nơi, rồi cũng sẽ được như người ta, có lo gì? Và văn hóa ấy ngày nay có thế lực rất mạnh, cơ hồ muốn tràn ngập cả thế giới. Dẫu ta không muốn theo, cái phong trào nó cũng lôi cuốn ta đi. Miễn cưỡng phải theo, thà rằng vui lòng mà theo còn hơn.

Nói rút là theo phái ấy thời vấn đề văn hóa ở nước ta là một câu chuyện hão huyền, bất tất phải bàn đến. Nghĩ cũng tiện thật, nhưng mà nghĩ kĩ có lẽ chưa tiện chút nào. Dẫu nay không muốn bàn đến mà rồi có ngày cũng phải bàn. Nếu không liệu sớm ngay từ giờ, rồi càng ngày càng thêm khó. Xưa nay không có nước nào bỏ căn bản mình mà thành lập được bao giờ. Phàm sự văn hóa là phải vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nếu bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái “dã tràng xe cát bể Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì!” Tự mình không có gốc sẵn mà đi mượn của người, thời như người vay lãi mà ăn, sớm trưa tất có ngày phá sản. Tình cảnh ấy rất là nguy ngập. Người Nam ta nếu túy tâm về Âu hóa mà không hồi cố đến căn bản mình, thời không khác gì người đi vay nợ mà ăn, tất có ngày vỡ nợ. Ví Âu hóa mà có cách nào hóa được hẳn như người Tây, thời còn hạnh phúc nào bằng, chúng ta xin sẵn lòng kí cả hai tay. Nhưng cái lẽ không thế được; cổ kim không có bao giờ có sức biến hóa đến căn bản như thế. Nếu trong khi biến hóa mà không khéo châm chước điều hòa, thời có cái nguy gây ra một giống dở dang bác tạp, căn bản cũ mất hết mà tính cách mới không thành, tức là một cái quái vật trong nhân quần, không biết liệt vào chủng loại nào. Giống quái vật ấy chỉ biết xuẩn động quấy rối, không biết sáng khởi kiến thiết bao giờ.

Giống quái vật ấy là cái ác ma của xã hội, càng ngày càng nhiều thời xã hội đến diệt vong. Nói thế không phải là nói quá, cái triệu chứng đã nghiệm thấy ngay quanh mình vậy.

Như vậy thời dẫu người nhiệt thành Âu hóa, vì có cái trí phán đoán sáng suốt, tất phải hiểu rằng sự điều hòa là sự cần. Cái thuyết thuận dòng xuôi chảy, nhắm mắt mà theo phong trào, là một cái thuyết sai lầm vậy. Nay đã biết điều hòa là sự cần, thời phải nên điều hòa ra làm sao? Như trên kia đã nói, sự này là thuộc về tinh thần, về trí tuệ, không thể cân nhắc đo lường được, không thể kê ra cân lượng như cái đơn thầy thuốc vậy. Phải tùy ở mỗi người biết khéo dụng trí khôn mà châm chước có thích nghi. Song cũng phải có mấy cái phàm lệ chung để định cái thái độ của người mình đối với hai văn hóa Đông, Tây như thế nào.

Trước hết hẳn phải định nghĩa văn hóa là gì. Như đã giải ở trên, văn hóa là gồm cách đoàn luyện tinh thần người ta. Văn hóa là dịch tiếng Tây culture, nghĩa đen là cách cấy trồng. Người ta ví như cái cây thì văn hóa là cách vun trồng cho nẩy nở được hết cái tinh hoa. Cây có trồng cây mới tốt, người có hóa người mới hay; văn minh với dã man khác nhau là một bên có văn hóa, một bên không. Như vậy thời văn hóa là một sự cần, một dân một nước không thể khuyết được. Nước ta xưa nay vẫn xưng là “văn hiến chi bang”, nghĩa là đời nào cũng có văn hóa, nên người thuần, tục tốt, xã hội chỉnh đốn, lịch sử vẻ vang. Nay gặp đời giao thông, thế không thể không ra tiếp thụ văn minh mới, thâu thái mà điều hòa với cái tinh thần cố hữu của mình. Ta phải tìm cách gây lấy một nền văn hóa riêng cho nước ta, tham bác cả hai tinh thần Âu, Á. Đó không phải là sự mơ tưởng viển vông, chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn vậy. Kẻ thức giả trong nước phải nhận chân lấy cái trách nhiệm đó mà ra sức đảm đương. Lại là việc lâu dài, không thể kể hàng tháng hàng năm, cũng không thể thành công kết quả ngay được. Nhưng phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, muốn tìm phương tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được, còn ngoại giả không có đường lối nào nữa. Xin quốc dân ta nhớ lấy cho rằng, cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hóa. Vấn đề văn hóa còn quan hệ hơn vấn đề chính trị vậy.

Đó là điều cốt yếu, mong những nhà có chí trong nước để tâm suy xét, vì trong bài này không thể nói cho hết ý được.

Nay đã biết sự văn hóa là quan hệ, việc điều hòa văn hóa là sự cần, thời phải biết cách đối đãi hai cái văn hóa Đông, Tây ra thế nào.

Ngày nay vì thời thế, quốc dân ta mỗi ngày một khuynh hướng về đường Tây học. Phần nhiều cũng là thuận dòng nước chảy xuôi, như trên kia đã nói có lẽ không mấy ai nghĩ đến cái tính cách, cái giá trị của Tây học thế nào. Hay là có, có nghĩ đến cái giá trị sự học, nghĩ đến nhiều, nhưng nghĩ rằng học hết tiểu học thì có thể làm được vài chục đồng một tháng, hết trung học thời được dăm chục đồng, mà hết cao đẳng thời được một trăm đồng, không kể còn những phẩm hàm chiếu đối, danh dự xóm làng là phụ thêm ở ngoài nữa. Cái giá
trị đó tuy cũng đáng trân trọng thật, nhưng quyết không phải là giá trị chân chính của sự Tây học. Nay bất luận vì cớ gì mà người nước ta xô theo Tây học, đã theo cũng phải biết rõ tính cách sự học thế nào. Tính cách ấy, muốn phân tích ra cho tường thì phiền phức lắm, nhưng có thể tóm tắt lại đại khái bằng một câu như sau này: học thuật của Thái Tây là học thuật về sự vật, văn hóa của Thái Tây là văn hóa về sự vật. Người Âu Tây từ xưa đến nay chỉ chuyên chủ khảo sát sự vật, mà làm thế là chỉ có một mục đích lợi dụng cho người ta được phú cường…(“…” là do bị kiểm duyệt xóa)

Các hiền triết phương Đông không thiết gì đến sự vật, chỉ chủ dạy người ta sửa mình theo Đạo đức, và ăn ở với nhau trong xã hội cho êm thấm. Ấy cái đặc sắc, cái giá trị của văn hóa Đông phương là thế. Nếu cứ biệt lập ra một thế giới, không can thiệp đến ngoài, thời Đạo đức cũng đủ làm cho xã hội hòa bình. Nhưng cái văn minh đạo nghĩa ấy nhất đán phải ra xung đột với cái văn minh công lợi của Tây phương kia, thời không sao địch nổi, chỉ thấy hết phen thất bại ấy đến phen thất bại khác, rồi mà càng ngày càng sút đi, hầu như không còn có cơ hưng thịnh lên được nữa.

Hai văn hóa đã có tính chất khác nhau như thế, thời đối với văn hóa Tây phương ta phải có cái chủ ý thâu thái, mà trong khi thâu thái phải biết khéo kén chọn; đối với văn hóa Đông phương ta phải có cái chủ ý bảo tồn, mà trong khi bảo tồn phải biết khéo phát huy.

Nói rằng thâu thái, lại nói rằng kén chọn, là không thể cứ toàn thể, cứ y nhiên mà thâu nhập được; phải biết phân tích, phải biện biệt các phần mà chỉ chọn lấy phần nào có bổ ích cho sự tăng tiến của ta mà thôi. Việc này là thuần ở cái tài khôn khéo của mỗi người, không thể định cách thức sẵn được. Nhưng có một điều cốt yếu, là rất không nên câu nệ. Học Tây mà câu nệ là hỏng.

Nói rằng bảo tồn, lại nói rằng phát huy, là cũng có cái ý phân biệt ở trong đó, phần nào là phần cốt yếu thì phải nên giữ gìn, mà lại tỏ rạng cho sáng sủa thêm ra. Vì rằng văn hóa Đông phương ta ngày nay đương qua một hồi yếm thế, không những ta cần phải bảo tồn lấy, mà ta lại cần phải biểu dương lên. Đối với văn hóa Âu Tây ta nên hoài nghi bao nhiêu, thời đối với văn hóa Á Đông ta lại phải nên đôn đốc bấy nhiêu. Người Âu mê tín ở khoa học, người Á mê tín ở đạo đức. Sự mê tín trên có lẽ không chính đáng, vì đối với sự vật mà mê tín. Sự mê tín dưới có thể thừa nhận được, vì đối với một cái lí tưởng mà mê tín. Lí tưởng ấy cho rằng có thể lấy đạo đức, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa người đời sửa sang phong tục, chỉnh đốn xã hội, mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình trong thiên hạ. Lí tưởng ấy ta phải nên trân trọng, vì là cái tinh túy của văn hóa Đông phương ta; ta phải nên giữ gìn cho khỏi bị những phong trào mới nó lay chuyển đến đổ nát đi mất. Ta phải nên phát huy ra để làm cái đuốc sáng soi con đường tiến hóa cho nước ta.

Như vậy thời văn hóa Tây phương là gồm ở khoa học; văn hóa Đông phương là gồm ở Đạo học. Đối với khoa học ta phải nên có lòng công lợi, đối với đạo học ta phải nên có bụng chân thành. Hai đàng là cần cả, không đàng nào khuyết được. Nếu có Khoa học mà không có Đạo học thời như có vỏ mà không có ruột, không có khoa học thời như có ruột mà không có vỏ, không thể xông pha được với đời. Cho nên hai bên phải điều hòa hai cái văn hóa Đông, Tây vậy.

Nói tóm lại, cả cái vấn đề văn hóa nước ta là ở sự phân biệt và điều hòa hai mối Đạo học và Khoa học vậy. Điều đó tựa hồ như tầm thường ai cũng biết, mà về phần riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu được hết lẽ. Nhưng đến khi hiểu được rồi thời thấy trong lòng được khoan khoái, trong trí được vững vàng, không còn băn khoăn khắc khoải như trước nữa. Điều đó tuy tầm thường như thế mà tôi hiểu được cho là một sự phát minh đáng kỉ niệm trong một đời. Còn sự phát minh nữa, cũng tầm thường cho thiên hạ mà cũng đáng kỉ niệm cho riêng tôi, là phát minh được một cái phương tiện để giúp cho sự điều hòa như trên kia. Sự tác dụng thiết yếu nhất của thần trí người ta là sự tư tưởng. Dẫu văn hóa phương nào nước nào cũng là phát nguyên ở một mối tư tưởng trong lòng người mà ra. Nhưng nếu cái tư tưởng ấy cứ u u âm âm ở trong lòng, thời như vô hình vô trạng, không biết đâu mà dò xét được. Tất phát biểu ra lời nói mới gọi là thành hình. Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng, mà tư tưởng tất phải do lời nói mới biểu lộ ra được, thời lời nói cũng tức là cái cơ quan “thực hiện” của tư tưởng, lời nói quan hệ vô cùng. Nay người trí thức ở nước ta – là nói người trí thức mà thôi, còn kẻ tầm thường thời có mấy khi dùng đến tư tưởng – từ xưa đến nay, tư tưởng bằng tiếng gì? Có thể nói rằng các nhà cựu học hầu hết tư tưởng bằng chữ Nho cả, mà các bậc tân học cũng phần nhiều tư tưởng bằng chữ Pháp hết. Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hồ nghĩ ra một cái lí tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn thành câu rõ ràng, hoặc diễn u âm trong trí. Như thế thời nhà Nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ Nho, mà nhà Tây học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng của mình bằng chữ Tây. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy. Huống nhiều khi lại là tư tưởng mượn!

Tôi lấy cái đó làm khổ tâm, bèn nghĩ ra một cách phương tiện để bổ cứu, cách phương tiện này chính là sự nghiệp tôi về đường quốc văn. Tôi nghĩ rằng: Cớ sao người nước ta không tư tưởng bằng tiếng ta? Hoặc cho tiếng ta còn non nớt, thời có tập đến dùng đến mới thành ra già dặn được. Vả lại lời nói già dặn là ở như tư tưởng già dặn. Chỉ sợ tư tưởng còn non nớt, không sợ lời nói non nớt. Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rằng: phàm tư tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả. Thí nghiệm trong bấy lâu, xem ra cũng hơi có kiến hiệu. Lại nhận ra rằng cách đó chính là một cách rất diệu để giúp cho sự điều hòa hai cái văn minh như trên kia, vì những tư tưởng trong sách Tây sách Tàu phải diễn ra tiếng ta cả, khác nào qua cái óc ta lọc đi một lần dễ cho sự “tiêu hóa” biết dường nào! Nếu cứ để trườn trườn như trong sách, cứ giữ nguyên chất của người ta, thời chỉ dùng đến sức kí ức để nhớ lấy và truyền đi lắm khi hãy còn sống sượng, trí não không thể dung nạp được, không thể “tiêu hóa” được, chỉ giao dịch ở ngoài cửa miệng mà thôi. Nay đem đàn diễn ra tiếng ta, tức là biến nhuyễn ra cho dễ dung hòa vào khí huyết tinh túy của ta, cho dễ cùng nhau điều hòa trong óc ta vậy. Mấy sự “phát minh” đó, thật là tầm thường, chẳng lấy gì làm lạ lùng cả. Nói ra đây, thật là lời “bàn phiếm”; nhưng có ai chưa kịp nghĩ tới thời cũng mong giúp được cho sự nghiên cứu về vấn đề văn hóa một đôi phần vậy.

 

 

Tạp chí Nam Phong – 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:42 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

TẠP CHÍ NAM PHONG, 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Theo nguồn tin riêng của Blog PhamTon chúng tôi: Sáng thứ bảy, ngày 15/7/2017, tại thư viện Trung ương – Hà nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Tạp chí Xưa và Nay tổ chức cuộc tọa đàm “Tạp chí Nam Phong, 100 năm nhìn lại (1917 – 2017)”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc chủ trì buổi tọa đàm.

Mở đầu, nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Cụ Phạm Quỳnh – chủ bút Nam Phong – lên giới thiệu bộ đĩa in lại đầy đủ 210 số tạp chí Nam Phong thêm số báo Tết Mậu Ngọ 1918 là số báo Tết đầu tiên của nước ta, tiểu luận Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bản tiếng Việt do Phạm Trọng Nhân dịch từ nguyên văn tiếng Pháp, và Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên, được những người bạn Việt kiều ở Mỹ in lại gửi về biếu Thư viện Quốc gia và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Sau đó, nhà sử học Dương Trung Quốc trân trọng giới thiệu người tham luận đầu tiên là Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú. Giáo sư đã 89 tuổi. Giáo sư nói đại ý: Tôi có món nợ là đã viết bài phê phán Phạm Quỳnh. Sau năm 1954, tôi viết phản đối Phạm Quỳnh trong bài “Thực chất cuộc tranh luận giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh”. Năm 1958, trong giáo trình giảng ở đại học, tôi xếp Phạm Quỳnh vào văn nô dịch với Nguyễn Văn Vĩnh. Đến 1960, tôi đã nhận ra vấn đề. Năm 1965, tôi được khen và cảm thấy xấu hổ đã có lỗi lầm với Cụ Phạm. – “Lịch sử không làm lại được, nhưng nhận thức lại lịch sử thì vẫn luôn có.

Tiếp đó nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, tham luận với đề tài “Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục”. Chủ bút họ Phạm đã kiên trì gắn kết  Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc hồn.

Kế đến Tiến sỹ Nguyễn Đức Thuận, người đã tự mình dày công sưu tầm được đủ 210 tập Nam Phong tạp chí và làm sao chụp toàn bộ. Năm 1986 ông đã làm luận án Tiến sỹ về Nam Phong, nhan đề “Văn trên Nam phong tạp chí”, đã xuất bản thành sách.

Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên điểm lại những phê phán của văn học mới với Phạm Quỳnh, từ nhóm Lê Quý Đôn năm 1960 đến những lời nặng nề nhất của Đặng Thai Mai trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, đến cuốn “Chủ đích Nam Phong” của Nguyễn Văn Trung…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn tham luận về cuốn sách Du ký của Phạm Quỳnh do ông biên soạn và giới thiệu. Sau đó, đến tham luận của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

Giáo sư Nguyễn Nhật Vượng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) dự kiến sẽ tổ chức một hội thảo quốc tế tại đại học Quốc gia Hà Nội vào cuối năm nay nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong.

Ông Phan Bá Hoành – chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Dương tham luận, giới thiệu Hải Dương có hơn 1000 nhân vật lịch sử, mong muốn giới trẻ nhìn lại lịch sử và tìm thấy những bài học.

Do thời gian chỉ giới hạn trong một buổi sáng, buổi tọa đàm đã diễn ra rất xúc tích.

Kết thúc buổi toạ đàm, nhà sử học Dương Trung Quốc tuyên bố bế mạc. Ông nói: “Thời gian là thuốc thử hiện hình, nhưng cũng là chất cường toan có thể xóa đi ký ức”.

Tháng Bảy 14, 2017

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

  • Thu từ Tạp chí Sông Hương online, 21/58 ngày 7/7/2017:

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Sáng ngày 1/7,  Hội đồng họ PhạmThừa Thiên Huế đã tổ chức lễ dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân  kỷ niệm 100 năm  Tạp chí Nam Phong.

Tại buổi lễ, ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên Huế đã khái quát lại quá trình hoạt động, những đóng góp, cống hiến của cụ Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn hóa Việt Nam.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892.  Cụ Phạm là dịch giả, nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại trường Viễn Đông bác cổ. Từ năm 1913, cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, lúc mới 25 tuổi, cụ đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí. Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Là một Nho sĩ Bắc Hà, quê ở Hải Dương, sinh trưởng ở Hà Nội nhưng cụ Phạm rất nặng lòng với Huế. Lần đầu tiên đến Huế, cụ đã xem Huế là quốc hồn của Việt Nam.

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Kênh quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ chính là thông tin đại chúng và văn học. Thời kỳ này, báo chí Quốc ngữ phát triển rất nhanh, nhưng vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ quốc ngữ của báo chí thực sự nở rộ khi Đông Dương Tạp chí và Nam Phong tạp chí ra đời. Hai tờ tạp chí này có cách viết, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng câu chuẩn hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ.

Tờ Nam Phong tạp chí kế tiếp sự nghiệp truyền bá Quốc ngữ nhưng phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các cây bút chủ lực của Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong văn bản hành chính, đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học.

Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hóa, chuẩn hóa kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Cuộc đời của Cụ Phạm gắn liền với Tạp chí Nam Phong. Sự nghiệp văn hóa lẫn chính trị của Cụ được thực hiện thông qua tờ tạp chí này với sự tham gia của các đông nghiệp cùng chí hướng trên suốt một chặng đường dài.

Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “ Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên Tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời ký đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…. Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới…Đối với nên văn hóa cũ của nước ta, ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân…Văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả”.

Phương Anh

 

 

Phạm Quỳnh, một sĩ phu Hà Nội

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, tuần 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

 PHẠM QUỲNH, MỘT SĨ PHU HÀ NỘI

Phạm Tôn

Năm 1908 Phạm Quỳnh đã đỗ thủ khoa năm đầu tiên của trường Trung học Bảo Hộ. Nhân dân thường quen gọi là “Thủ khoa Tây trường Bưởi”.

Pham Quynh_1922 tai PhapCũng năm 1908 ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục của cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con nhà nghèo đến mấy đời Phạm Quỳnh đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì chưa đến tuổi thành niên.

“Thủ khoa Tây” được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn, đủ mọi mặt toàn xứ Đông Pháp. Năm ấy, “công chức” Phạm Quỳnh mới mười lăm tuổi. Vốn ham hiểu biết, lại được làm việc dưới sự chỉ bảo của các “đại sư” người Pháp uyên thâm nhiều lĩnh vực, và được ở bên, ở ngay trong kho sách lớn có một không hai trong nước ta, Phạm Quỳnh thả sức học tập, đọc miệt mài, hết tra cứu, đến so sánh, lại ghi chép… đến quên cả giờ về nhà. Tại đây Phạm Quỳnh quen biết Nguyễn Văn Tố, sau này cũng là một học giả nổi tiếng, từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên của cụ Hồ.

Những năm làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) cũng chính là những năm học tập miệt mài, khổ công tự học và thành tâm, khiêm tốn học hỏi các bạn đồng nghiệp Pháp Việt đã đưa Phạm Quỳnh từ một thanh niên hiếu học trở thành một nhà nghiên cứu có kiến thứPham Quynh chu but Nam Phongc vững chắc, khá toàn diện về nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên nữa. Đặc biệt, từ một học sinh chỉ viết được có hai chữ nho tên mình, suýt bị trượt kỳ thi tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ vì bài dịch Hán văn ra Pháp văn đáng lẽ bị điểm liệt, may mà được các giám khảo nương tay cho nửa điểm mới đỗ “Thủ khoa Tây”, sau chín năm trời đã trở thành một nhà Hán học uyên thâm, có thể đọc, dịch và viết văn bằng chữ Nho thành thạo. Chủ yếu là do công tự học kiên trì và có phương pháp đúng.

Do có vốn liếng vững chắc về khoa học xã hội, năm 1913, Phạm Quỳnh đã trở thành một cây bút quen thuộc, được tín nhiệm trên Đông Dương tạp chí của người bạn cùng học trường Thông Ngôn năm nào Nguyễn Văn Vĩnh. Từ đó Phạm Quỳnh nổi tiếng với nhiều bài nghiên cứu sắc sảo, chững chạc, già dặn hơn tuổi đời hai mươi của mình rất nhiều.

Những bài báo đó “lọt mắt xanh” của Louis Marty, giám đốc Vụ Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương và cả bản thân Toàn quyền Albert Sarraut nữa. Hai con cáo già thực dân này đã quyết định dùng Phạm Quỳnh làm cầu nối giữa Pháp và Việt Nam, giữa lớp trí thức cũ Hán học và lớp trí thức mới Tây học.

Năm 1917 tạp chí Nam Phong ra đời với chủ bút phần quốc ngữ là Phạm Quỳnh, mới hai mươi bốn tuổi.

Chẳng bao lâu, tạp chí Nam Phong đã trở thành tờ báo có uy tín nhất và lớn nhất thời bấy giờ. Báo quy tụ được cả những nhà cựu học uyên thâm lẫn những người tuổi trẻ tài cao. Phạm Quỳnh dùng Nam Phong tạp chí làm cơ quan để “tài bồi” cho văn quốc ngữ trở thành tiếng nói, chữ viết chuyển tải được những sự phát triển mới trong đời sống xã hội, đủ các ngành khoa học.

Vì ông tin rằng, có tiếng mới có nước, tiếng còn thì nước không mất được.

Năm 1922, với danh nghĩa Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseilles. Ông tranh thủ diễn thuyết ở nhiều nơi để người Pháp hiểu thêm và do đó tôn trọng nước và người Việt Nam mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam mà tìm ra đường đến diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Bài nói của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ có mặt nhất loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở nơi tụ hội tinh hoa của cả nước Pháp, gây chấn động lớn khắp thủ đô Paris. Ông nói dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ khác lên những trang đã đầy chữ rồi. Ông kiên quyết bảo vệ bản sắc Việt Nam.

Những ngày ở Paris, ông đã gặp và trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc ít nhất ba lần; một lần còn được Nguyễn Ái Quốc “đích thân tổ chức bữa cơm Bắc thết khách Bắc” tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Ngày 8/9/1924, Phạm Quỳnh là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du. Trước hơn 2000 người tham dự, câu nói bất hủ của ông đã được đồng thanh tán thưởng

Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hinh Hà Nội, nơi kết án tàn bạo nhất. Phạm Quỳnh không ngần ngại viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) lớn tiếng bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả mọi người Pháp yêu nước chống quân ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân hồi ấy đòi khoan hồng cho Phan Bội Châu. Thế rồi, từ một án tử hình, tám án chung thân, hạ dần xuống mức chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Mười lăm năm cuối đời Phan Bộ Châu, nhà báo Phạm Quỳnh, rồi Thượng thư Phạm Quỳnh lúc nào cũng bênh vực, tận tụy chăm sóc ông về tinh thần và cả vật chất nữa. Cho đến năm 1940 Thượng thư Phạm Quỳnh vẫn không ít lần đến tận nhà thăm và giúp đỡ nhà chí sĩ cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.

Năm 1926, Thống sứ Bắc Kỳ René Robin có “nhã ý” trợ cấp cho tạp chí Nam Phong. Nhân cơ hội này, Phạm Quỳnh xin trợ cấp cả cho Nguyễn Văn Vĩnh mà ông trình bày trong thư gửi Robin là đã và đang làm nhiều việc mà còn gặp nhiều khó khăn hơn ông.

Ngày 4/12/1931, Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng cấp cao Đông Dương về Kinh tế-Tài chính đòi bãi bỏ chính sách độc quyền sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra một thị trường rượu ở Bắc Kỳ, có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bãi bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị.

Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục kiêm Tổng lý Đại thần Ngự Tiền Văn Phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đày ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản” ở Kiến An. Có lẽ xưa nay không có ai vừa nhậm chức lại đi làm một việc như thế, không hề nghĩ gì đến “cái ghế mình ngồi còn chưa ấm chỗ”.

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thảm trên đường đi tìm vàng tại Lào thì Phạm Quỳnh đang là Tổng lý Đại Thần Ngự Tiền Văn Phòng và Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục. Vậy mà ông lại làm bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh; Trong đó, bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục.

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ.

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

 Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp rồi dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh rút khỏi chính trường, về nhà sống ẩn dật, chuyên tâm trở lại với nghề viết mà ông hằng yêu quí. Trong những ngày biến động này, ông em vợ thấy anh rể cứ bình chân như vại thì sốt ruột quá mới khuyên anh “nên tránh đi, sang Lào chẳng hạn vì xem ra vua Lào quí anh lắm.” Thì Phạm Quỳnh thản nhiên trả lời là “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước để đem tài trí ra giúp nước”. Rồi lại cặm cụi đọc sách, viết văn.

Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongNhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945.

Tp Hồ Chí Minh, 30/08/2014

P.T.

Trả lại sự sáng trong cho Phạm Quỳnh – Hà Khánh Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017.

TRẢ LẠI SỰ SÁNG TRONG CHO PHẠM QUỲNH

Hà Khánh Linh, Nhà văn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Hà Khánh Linh, tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, sinh tại Huế, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại Thừa Thiên Huế. Hiện ở tại số 24/7 đường Chế Lan Viên, thành phố Huế.

Những tác phẩm đã xuất bản gồm có Thúy, tiểu thuyết, nhà xuất bản Văn Nghệ Giải Phóng, 1973; Nụ cười Ápxara, tập truyện, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 1983; Là bóng hay là hình, tập truyện, NXB Tác Phẩm Mới, 1986; Chiến tranh và sau chiến tranh, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 1989; Rừng và cái chết con thiên nga, tiểu thuyết, Hội văn nghệ Thừa Thiên-Huế, 1992; Góa phụ Paris, tập truyện, NXB Văn Học, 1993; Trăng cứu rỗi, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1995; Những bọt bóng màu, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Con gái người cung nữ, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 1999; Vũng Chân Mây, tập truyện, NXB Đà Nẵng, 1999; Ngày ấy, Trường Sơn…, Hồi ký, NXB Hội Nhà Văn, 2000; Vì người mà tôi làm vậy, tập truyện, NXB Hội Nhà Văn, 2001; Người cắm hoa nhà thờ, tiểu thuyết, NXB Văn Học, 2002; Người kinh đô cũ, tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, 2004; …Và đàn bà, tập truyện, NXB Văn Nghệ, 2007; Phùng Quán viết Trăng Hoàng Cung, tự truyện, NXB Thuận Hóa, 2007; Ôi trần gian, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 2008…

Từ lâu nhà văn Hà Khánh Linh đã quý mến học giả Phạm Quỳnh và coi  “Vấn đề Phạm Quỳnh là vấn đề của lương tâm thời đại”. Với tâm thức đó, bà đã viết bài báo này vào cuối năm 2006.

—-o0o—

Sinh ra và lớn lên tại Huế, sau chiến tranh được sống và được làm việc ở Huế, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều với các giới đồng bào, càng thêm hiểu tâm tình bà con với những ai đã từng yêu quý và sống hết mình với Huế, vì nước vì dân. Năm 1945, sau khi cùng phái đoàn chính phủ vào Huế tước ấn kiếm và dự lễ thoái vị của Bảo Đại, ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch, nhà thơ Huy Cận đã không quên nói lên tâm tình của dân Huế. Sau này, ở tuổi ngoài tám mươi, ông đã hai lần kể lại rành rọt cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh câu chuyện xưa mà ông không bao giờ quên: “Năm 1945, cuối tháng 8, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh Nông của chính phủ Cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện Cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “ĐÃ LỠ MẤT RỒI!”

Đầu năm 2005, tôi đã được đọc bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, đăng trên tạp chí Khoa học và Ứng dụng số 2-2005, và bài Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỉ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005 thì cuối năm đó lại được đọc loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Rồi đến năm 2006, tôi được đọc các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, và Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung Phạm Quỳnh người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Tôi còn được đọc bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Tôi cũng đã đọc bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12 tháng 6-2006. Và mới đây là bài trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005, Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh cũng của Vương Trí Nhàn. Còn mới nhất là bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục…Tôi cũng đọc các sách của Phạm Quỳnh mới tái bản ở nước ta như Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Luận giải văn học và triết học Thượng Chi văn tập của các nhà xuất bản Văn Học và Hội Nhà Văn. Càng đọc tôi càng thấm thía lời nhà thơ Huy Cận nói với nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Càng đọc kỹ những dòng chữ Cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của Cụ.” Và tôi càng thương tiếc vô hạn học giả Phạm Quỳnh, đau xót trước cái chết oan ức của ông. Vì thế tôi đặc biệt chú ý đến một bài báo mới đăng trên tạp chí Xưa và Nay.

Trong số 269, tháng 10/2006 tạp chí có đăng bài của Nhật Hoa Khanh: Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông. Do yêu mến Phạm Quỳnh tác giả đã nhiều năm cố công tìm hiểu về cái chết bí ẩn của ông, đã gặp nhiều người, tìm tòi nhiều tư liệu và cuối cùng đã tìm được hai tờ báo khổ nhỏ phát hành hẹp tại Huế năm 1945. Đó là nhật báo Quyết Chiến khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân Cách mạng Huế”. Số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945 có đăng bản tin: “Ba tên Việt Gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án Quân sự tỉnh Thuận Hóa” (tức là Huế), sau đó đăng trên tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số bốn trang, là “cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ.” Số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩ tỉnh Nguyễn Tri Phương”, mà không có ai đứng tên thay mặt ký cả.

Trong lời tòa soạn in chữ đậm,  cỡ lớn, chính tạp chí Xưa và Nay cũng thấy cần nhấn mạnh “ở đây vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn (Thật ra là ba – PT chú) tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (chúng tôi nhấn mạnh – HKL).

Lệ thường, khi cần xử tử một kẻ gây tội ác lớn, người ta thường thông báo càng rộng rãi, càng kịp thời, càng được nhiều người chú ý và vì thế tác dụng răn đe các kẻ xấu khác càng lớn. Hơn nữa, việc xử tử cũng thường tổ chức càng công khai, càng đông người tận mắt được thấy kẻ thủ ác phải bị trừng phạt, càng có tác dụng ngăn ngừa tội ác. Nhưng, trường hợp “xử tử ba tên Việt gian tối nguy hiểm” này lại diễn ra khác hẳn. Trong số 267 tháng 9/2006, tạp chí Xưa và Nay đăng bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn có đoạn: “Người canh gác xưởng (ép dầu tràm, nơi giam giữ Phạm Quỳnh cuối cùng-HKL chú) kể: Một đêm đầu tháng 8 ta, trăng lưỡi liềm, khoảng 11 giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra cho ăn cơm (…) Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò (…) gần 1 giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người”

“Xử tử” vào 1 giờ đêm, ở một nơi hoang vắng, giữa đêm trăng mờ. Thật lạ lùng cho cách “xử tử” này. Quả là có một không hai trên đời!…

Chắc hẳn là ba tháng sau khi thủ tiêu Phạm Quỳnh, người xưng là cấp trên có quyền sinh quyền sát trong tay ấy mới nghĩ ra được cách ra thông báo để hợp pháp hóa vụ giết hại mờ ám, lén lút và tàn bạo mình đã tự ý gây ra trong đêm trăng non nọ?…Để rồi suốt hơn 60 năm trời Cách mạng Việt Nam phải chịu tiếng đã giết oan một con người nặng lòng với nước với dân như Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh, con người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, đã sống 13 năm cuối đời tại Huế, đã viết những dòng tâm huyết cuối cùng tại Huế (tập Hoa Đường tùy bút: Kiến văn, cảm tưởng và 51 bài thơ Đỗ Phủ còn dịch dở dang). Và cũng đã gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên chùa Vạn Phước xứ Huế. Dân Huế yêu quý ông, đã tự nhiên bảo nhau gọi bến đò An Cựu trước biệt thự Hoa Đường xưa của ông là Bến Cụ Phạm. Và tôi tin là hình ảnh ông, tư tưởng của ông còn sống mãi trong lòng người dân xứ Huế, vốn nặng tình và trọng nghĩa.

Tôi tin là giống như mặt trời lên thì xua tan bóng tối, đất nước ta ngày càng tiến lên xã hội công bằng dân chủ văn minh thì những đám mây đen, bụi bẩn bấy lâu che mờ gương sáng của ông cũng sẽ tiêu tan cùng với các thế lực đen tối, cực tả một thời đã làm ô danh cách mạng Việt Nam.

Huế, những ngày mưa cuối năm 2006

H.K.L

Ghi thêm:

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác là cộng tác viên nhiệt thành của tạp chí Nam Phong rồi trở thành bạn tri âm tri kỷ từ lâu của học giả Phạm Quỳnh. Cho nên, sau khi từ quan về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên con sông nhỏ An Cựu để chuẩn bị quay trở lại với nghiệp văn của mình, Phạm Quỳnh đã bắt đầu “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ Trung Quốc đồng cảnh với ông. Dịch được 51 bài, ông tin cậy gửi cả nguyên văn chữ Hán do tay ông chép và các bản dịch thô của mình cho Đông Hồ, người mà ông tin cậy ở cả cái tâm và cái tài. Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đàu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó là nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.