Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 15, 2017

Blog PhamTon tròn 8 tuổi, tự tin vững bước tiến vào năm thứ 9

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:46 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, tuần 2 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

BLOG PHAMTON TRÒN 8 TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO NĂM THỨ 9

Blog PhamTon

Lời dẫn của Phạm Tôn: Năm Đinh Dậu này, chúng tôi muốn kỷ niệm Blog PhamTon tròn 8 tuổi, tự tin, vững bước vào năm thứ 9 bằng một hình thức khác mọi năm.

Đầu tiên, đăng lại bài năm ngoái là một năm có sự trùng hợp kỳ lạ giữa âm lịch và dương lịch của ngày ra đời Blog PhamTon là 22.2 nhằm đúng ngày rằm tháng Giêng năm Canh Thân. Tiếp đó là qua một số ý kiến bạn đọc đã gửi blog cho thấy mối liên hệ giữa Blog PhamTon và bạn đọc tại hai miền Nam, Bắc nước ta và cư ngụ ở nước ngoài.

—o0o—

Ngày Blog PhamTon tròn bảy tuổi năm nay lại nhằm đúng ngày rằm tháng giêng, giống hệt như cách đây 76 năm, ngày 22/2/1940 cũng nhằm đúng ngày rằm tháng giêng năm Canh Thìn.

Ngày ấy, tại Hà Nội, trưởng nữ của nhá báo Phạm Quỳnh được bà chị dâu cả thân thiết như bạn tri kỷ và cô em kế đến ngủ nhà cô để sáng hôm sau cùng đi lễ ngày rằm. Nhưng phải đưa cô ngay đến bệnh viện Đặng Vũ Lạc lúc mờ sáng. Và cô đã sinh con trai thứ bụ bẫm, mắt to đen.

Cháu bé hiền lành lớn lên trong tình yêu thương của cả gia đình. Được năm tuổi thì thấy nhà mình bỗng đông hẳn lên. Bà Ngoại và cả các cậu, các cô ở Huế ra. Nhà đông mà không vui. Không thấy ông ngoại đâu, nhưng ai cũng thì thầm nói về ông. Kể cả khi gọi đồng chén các buổi chiều buồn sau bữa ăn hầu như yên lặng.

Bé thân với người cậu hơn mình 10 tuổi. Chính cậu dậy cho bé những chữ cái đầu đời. Rồi ngày khai trường năm bé tròn sáu tuổi, đi học ở trường Hoài Đức phố Hàng Trống, cả nhà bận rộn việc này việc nọ, chỉ có cậu khéo tay cố làm cho cháu một cái cặp bằng vỏ bao xi măng, có chỗ gài bút chì đen và xanh đỏ. Bé sướng quá. Đến trường, thấy các bạn cặp xanh, cặp đỏ, cặp da nâu, mới thấy tủi vì cái cặp vỏ bao xi măng xám của mình.

Năm chú 15 tuổi, thì người cậu dạy học ở Khu học xá trung ương bên Trung Quốc về nước họp hội nghị giáo dục. Bao giờ người đi đón cậu về và tiễn cậu đi cũng là chú. Hai cậu cháu vẫn thân thiết như xưa. Một đêm, trước khi cậu đi, bạn bè nhiều, nên khi cậu về đến nhà thì cháu đã ngủ say, giấc ngủ của tuổi đang lớn. Nhưng cậu vẫn lay cháu dậy, và cậu nói với cháu điều nhất thiết cháu phải biết là cháu sẽ lớn lên, hãy cứ tự tin sống theo lẽ phải, chỉ làm những gì mình tin là đúng, mặc cho người khác nhìn mình với cặp mắt kỳ thị, cứ lớn lên mạnh mẽ, xem như mình chẳng may sinh ra có một cái bớt đen trên mặt thế thôi… Nhiều người chê, nhưng cũng còn nhiều người nhận ra mình là người tốt. Cứ tin vào họ và sống với họ.

Từ đó, chú thường nghĩ về ông ngoại. Biết ông mình cùng lứa tuổi với người cao đẹp nhất đang lãnh đạo đất nước. Rồi cứ suy nghĩ mãi vì sao cùng lứa tuổi mà một người thì cứ ngày một lên cao, một người thì lên thật cao rồi bỗng sa chân, chôn vùi cả thân xác lẫn sự nghiệp. Chú cố sưu tầm tất cả những gì ít ỏi có dấu vết của ông ngoại còn sót lại trên miền Bắc đất nước chia cắt. Chủ yếu là nghe mẹ kể và những ký ức tuổi thơ những ngày sống ở Hoa Đường hồi từ hai đến bốn tuổi. May là chú có trí nhớ rất tốt, nhớ cả đến cảm xúc những ngày thơ bé đó, luôn mở to mắt mà nhìn đời. Mẹ kể một ông cậu đã làm hai câu thơ tả bé Mắt đen lay láy, đầu xiêu/ Gục đi lắc lại đáng yêu dường nào.

Năm 1960, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh tình cờ phát hiện ra cụ em vợ bà ngoại sống ở Yên Bình Yên Bái. Mẹ chú lên thăm, rồi hè năm ấy chàng sinh viên Học viện Nông Lâm cùng em trai lên nghỉ hè ở nhà bà. Không ngờ, bà cụ là cả một kho chuyện kể về thời trẻ, lúc Phạm Quỳnh 16 tuổi mới lấy cô chị cả đồng tuổi Nhâm Thìn. Thế là hai bà cháu cứ mải mê chuyện trò không dứt. Mà chỉ nói chuyện về một người. Cụ có trí nhớ tuyệt vời mà lại có tài kể chuyện. Những lúc kể, mắt cụ long lanh, miệng thiệt tươi như cô em ngày nào đang ngắm nhìn anh rể tài hoa mà khiêm nhường, bao dung.

Từ đó, năm nào anh cũng lên thăm bà Yên Bái. Kể cả sau Hiệp định Paris, phải đi qua cầu phao vượt sông Hồng, rồi đạp xe đến ga Đông Anh, chờ tàu đi Yên Bái, mờ sáng đến ga Yên Bái, còn đạp xe hơn 40km đến xóm nhỏ ở Thác Bà, ăn Tết với bà và cô. 11 cái Tết ảnh bỏ Hà Nội, lên miền núi.

Rồi đất nước thống nhất, anh vào Sài Gòn làm phóng viên thường trú. Cơ man nào là sách của ông ngoại, và viết về ông. Biết bao người ôm ấp nhiều chuyện về ông, sẵn sàng kể cho nghe.

Năm 1998, tình cờ anh bị cảm, nôn mửa suốt một ngày, lả đi, đến khi vợ con đi làm và luyện thi đại học về kịp nhờ người đưa đi cấp cứu, thì anh đã hôn mê do máu nhiễm xê tôn. Tỉnh dậy sau 15 ngày vật vã, anh nghĩ cuộc đời mình thật lãng nhách. Suốt đời vất vả ki cóp tư liệu về ông ngoại mà không dám viết. Vì sợ tư liệu còn thiếu. Còn tài năng thì làm gì có. Cứ chờ đã. Để đến bây giờ, sắp chết đến nơi rồi … Đúng là “sống để dạ, chết mang theo”. Trong khi những điều mình biết thì cả mẹ, cả các cậu, các cô đều không ai biết nhiều bằng mình. Mơ màng nghĩ vậy, rồi anh quyết định ngồi dậy được là sẽ bắt tay vào việc. Và “noi gương” Lê Quí Đôn khi viết Phủ Biên Tap Lục, luôn cho tư liệu tìm được vào các túi gấm, anh nghĩ nếu nói về ông ngoại thì nên nói những gì. Và nghĩ ngay ra là tư liệu ít nhất cũng phải chia thành ba “túi”: Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nhà Người nặng lòng với nước. Mà định khi “công bố”, thì cũng cứ theo thứ tự ấy mới mong lọt.

Sau hai tháng nằm viện, về nhà là bắt tay ngay vào việc. Ba bài lần lượt tràn ra mặt trang giấy. Mỗi năm một bài.

Năm 2006, bài cuối cùng lại đến tay một cộng tác viên của tạp chí Công giáo và Dân tộc, nhân người “dám” in sách Thượng Chi văn tập mời con trai học giả Phạm Quỳnh ngồi cùng bàn nhậu với anh. Và bài lên tạp chí. Một tháng sau, bài ấy lên tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội. Huế góp vào bằng bài Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Bài viết đầu tiên, lại ra mắt cuối cùng, cũng trên tạp chí Công Giáo và Dân Tộc.

Năm ấy, internet bắt đầu đến nước ta. Chắt ngoại của học giả Phạm Quỳnh thấy thương bố vất vả sưu tầm tư liệu, cặm cụi viết bài mà lâu lâu mới đăng được một bài; có bài còn bị đổi nhan đề, cắt đầu cắt đuôi, sửa chỗ này, thêm chỗ nọ, làm bố không vui. Bèn bàn với bạn, lập cho bố một trang mạng riêng. Chẳng những đưa lên các bài bố viết mà còn cả những bài bố cất công sưu tầm mấy chục năm qua. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm sinh nhật bố, người con mở Blog PhamTon làm quà mừng.

Từ đấy, 22/2 là sinh nhật Blog PhamTon. Ông bố đành lấy ngày rằm tháng giêng làm sinh nhật của mình.

Năm nay, vừa may, 22-2-2016 lại đúng ngày rằm tháng giêng năm Bính Tuất, “song hỷ lâm môn”, cả nhà cùng vui. Nhất là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII vừa thành công rất tốt đẹp. Mở ra một cuộc đổi mới lần thứ hai, tiếp tục và làm sâu sắc hơn tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, và lời nói đi đôi với việc làm.

Con, cháu, chắt, chút Phạm Quỳnh và những người có lương tri, thật lòng thương dân, yêu nước vốn quí trọng Ông chỉ mong mỏi có thế.

B.P.T.

22/2/2016 (Rằm tháng Giêng Bính Thân)

 

Ý kiến bạn đọc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917-1/7/2017)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

1

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vừa nhận được thư điện tử của bạn Trần Sơn Bình (binh.transon@gmail.com) phát hồi 3:19 sáng ngày 11/4/2011. Toàn văn như sau: “Cháu là cháu ruột và cũng là cháu đầu của bác sỹ Ngô Văn Quỹ. Tình cờ tìm được bài viết này sau 4 năm ngày ông cháu mất, cháu và mẹ cháu (Ngô Phương Hồng) đều rất xúc động. Lúc ông đang nằm viện là thời gian cháu đang ở Pháp, cháu kịp về gặp ông đúng một ngày trước khi ông mất.

Cháu xin thay mặt gia đình, gửi lời cảm ơn đến bác / ông Tôn Thất Thành và mọi người tham gia blog Phạm Quỳnh về bài viết. Cháu xin phép được đưa bài viết này lên facebook cá nhân để chia sẻ với mọi người trong gia đình.

Xin chúc các bác / ông luôn mạnh khỏe và tiếp tục những công việc mà ông cháu và các bác đã theo đuổi.

Trân trọng,

Trần Sơn Bình.

—————-

Tran Son Binh

Mobile: 0912 42 62 81”

Nhân đây, để bạn đọc xa gần có thêm tư liệu về một con người đáng kính, một nhân cách cao thượng luôn sống hết mình vì mọi người, lại là một con người tài hoa, chúng tôi xin đăng lại sau đây bài viết về bác sĩ Ngô Văn Quỹ đã phát trước đây trên Blog PhamTon.

Vĩnh biệt bác sĩ Ngô Văn Quỹ

VIỆC NGHĨA CUỐI CÙNG CÒN DANG DỞ CỦA “CHÀNG TRAI” 87 TUỔI

  Tôn Thất Thành, Nhà báo

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bác sĩ Ngô Văn Quỹ sinh năm 1920 tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội năm 1954 từng làm bác sĩ pháp y ở Hà Nội, mổ hơn 2000 ca, và công tác ở các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Viện K Hà Nội, bệnh viện E, bệnh viện Ung Bướu và giảng dạy tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 11/11/2006, tại thành phố Hồ Chí Minh.

Là một bác sĩ, tất nhiên ông viết nhiều bài báo, tập sách về y học, nhưng ông lại nổi tiếng hơn với những bài báo tập sách viết và sách biên soạn hoặc dịch về các vấn đề lịch sử văn hóa và thời sự. Ông chỉ xuất bản một tập ký và tùy bút là Con tàu mang tên nỗi nhớ (NXB Văn Học, 1998). Ông cộng tác viết bài thường xuyên trong nhiều năm cho các báo Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Pháp Luật, v.v…

Chúng tôi đăng dưới đây bài viết của nhà báo Tôn Thất Thành ngay sau khi ông mất, mong bạn đọc hiểu rõ hơn con người và tấm lòng của ông đối với việc nghĩa.

—o0o—

Tôi biết chị Nguyễn Thị Nghệ, người mà anh yêu suốt đời từ năm 1958. Nhưng được cùng công tác với chị tại phòng tư liệu báo Nhân Dân Hà Nội, 15 năm sau tôi mới được biết anh, quen anh và dần dà trở thành người bạn vong niên của anh lúc nào không biết.

Anh sinh năm 1920 tại huyện Nguyệt Hồ, tỉnh Hưng Yên. Hồi đầu Cách mạng tháng Tám, anh đã cùng đồng đội trẻ áp tải ra tận Hà Nội nguyên vẹn 45kg vàng dân Nam Bộ quyên góp ủng hộ nhà nước cộng hòa dân chủ non trẻ, hưởng ứng Tuần Lễ Vàng. Anh mê viết báo từ ấy, viết đủ các lĩnh vực: y học, văn chương nghệ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóa… đặc biệt, anh hăng hái, nhiệt tình đấu tranh cho lẽ phải, minh oan cho những ai bị oan khuất, chiến đấu cho chân lý không mệt mỏi.

Là bác sĩ, lại từng công tác nhiều năm ở ngành pháp y, vì “yêu lẽ phải, mong muốn các xác chết “nói” lên được sự thật gần gũi nhất với bản chất vụ án, để tránh các oan khuất có thể xảy ra cho người vô tội”. Sau này làm phó giám đốc bệnh viện Ung Bướu, rồi nghỉ hưu, nhưng anh vẫn nặng tấm tình ấy của người bác sĩ pháp y năm nào. Năm 1997, báo Pháp Luật, một tờ báo anh thường cộng tác có đăng Vụ án vườn cam; bị cáo trẻ Huỳnh Văn Minh bi tuyên án tử hình vì hai tội hiếp dâm và giết người. Tòa báo có gửi hồ sơ vụ án đến cho anh nghiên cứu. Với kinh nghiệm của người từng nhiều năm làm công tác pháp y, anh thấy ngay là “có vấn đề”. Biên bản khám nghiệm tử thi ghi nhận các đầu ngón tay nạn nhân móng đều cắt ngắn, vậy mà thân thể bị cáo lại có vết xước da dài 2.5cm, rộng 0.2cm. Vết thương được khám 4 ngày sau vụ án mà vết xước vẫn còn… rướm máu! Mà lại là do bàn tay móng cắt sát gây ra. Đó là điều cực kỳ vô lý… Chàng trai không có tội, không thể để anh ta chết oan được…

Mấy năm sau, được biết ngày 9/11/2001, tỉnh Bến Tre sẽ thi hành án tử hình, thế là anh tức tốc bỏ tiền túi lấy ngay vé máy bay bay ra Hà Nội. Và ông lão 81 tuổi là anh đã ngồi ngoài đường suốt trưa nắng gắt, cốt sao gặp được người có thể giúp mình cứu một người trẻ tuổi anh chưa hề quen biết. Anh đã trực tiếp gặp phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, là người luôn chăm lo cho lớp trẻ, trình bày mọi lý lẽ và xin giảm án cho bị cáo. Nhờ vậy, Huỳnh Văn Minh chỉ bị án chung thân, thoát chết trong gang tấc! Nhưng anh vẫn chưa vui, vì mình mới chỉ làm được tới đó, biết làm sao được…

Anh yêu công lý và quyết đấu tranh cho công lý được sáng tỏ như thế đó. Quên tuổi già, sống mãi tuổi đôi mươi hồi tham gia Cách mạng tháng Tám. Tháng giêng 2004, bộ Y Tế tổ chức mừng thượng thọ anh tại Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Minh Triết bấy giờ là bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đã tặng anh một bó hoa đẹp với lời chúc: “Tôi xin chúc mừng chàng thanh niên 84 tuổi”. Lời chúc…lạ tai mà ai nấy đều phải nhận là đúng.

Vốn được anh chị coi như em, lại biết anh thường quan tâm những chuyện gì, thấy nguyệt san Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước (số 140, tháng 8/2006) tôi gửi cho anh, đề địa chỉ theo trí nhớ là 12 Nguyễn Thị Huỳnh. Rồi số 141, tháng 9/2006 lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta, tôi vội gửi cho anh theo địa chỉ trên. Đến khi có trong tay bán nguyệt san Xưa và Nay (số 267, tháng 9/2006), cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đăng bài Người nặng lòng với nước viết về học giả Phạm Quỳnh, tôi càng mừng rỡ gửi cho anh ngày 2 tháng 10. Nhưng, ngày 7 tháng 10 thì bưu điện trả lại. Vì không đúng…địa chỉ! May mà có số điện thoại nhà anh, tôi gọi và con út anh, cháu Ngô Phương Điệp, cho biết: địa chỉ của anh thật ra là 12/2 Nguyễn Thị Huỳnh. May mà hai lần trước đều đến tay anh.

Hai bố con tôi tức tốc đem báo đến tận nhà cho anh. Lâu nay, thấy anh khỏe mạnh, đi xe Honda 81 chỗ này chỗ nọ, nên tôi lười, chỉ nhờ bưu điện. Không ngờ, đến nhà mới biết anh ngã bệnh đã một tháng rồi, nằm bệnh viện 20 ngày không khá lên chút nào, anh về nhà uống thuốc Đông y và châm cứu. Lúc tôi đến, anh nằm trên giấy báo lót dưới mình, mặc quần đùi, áo ba lỗ, nói thều thào. Tôi đưa anh tờ Xưa và Nay, anh xem qua đầu đề rồi nói khẽ: “Báo đăng, chưa đủ…Phải có một cái gì đó lớn hơn, cho mọi người cùng biết việc này…” Rồi anh bảo tôi là anh có một tài liệu dày ở Pháp mới gửi về, nói về Phạm Quỳnh khá nhiều, rồi anh bảo con gái lên tìm ở chỗ bên phải tủ sách, nhưng cháu tìm không thấy. Anh bảo, hôm nào tôi đứng lên được tôi lên nhà lấy cho. Tôi biếu anh hộp sữa, con gái anh nói anh chẳng chịu ăn gì, ghét cả sữa, chỉ muốn ăn trứng luộc thôi.

Chiều thứ 7 tuần sau, bố con tôi lại đến thăm anh. Anh nằm trên chiếu, mặc quần ngủ và áo ba lỗ vì trời rất nóng. Tôi biếu anh tập bản thảo các bài về Phạm Quỳnh đã đăng báo ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Anh bảo đó là công việc anh muốn làm trong những năm tháng còn lại, lâu nay anh nghĩ nhiều về học giả này và đã sưu tầm tư liệu, dự định làm một kịch bản phim hẳn hoi. Anh tiếc là bộ phim truyền hình dài tập Ngọn nến hoàng cung chiếu thời gian qua đã mô tả nhân vật Phạm Quỳnh sai lạc nhiều quá, khiến người xem hiểu lầm ông là người xấu, nhỏ nhen và tham quyền cố vị, muốn làm tay sai cho Pháp đến cùng. Hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử, nhất là với những phát hiện gần đây cho thấy đó là một người hết lòng vì nước vì dân. Anh nói rõ ràng từng tiếng một: “Phải có một bộ phim đáp trả lại bộ phim ấy, mà chắc chắn hay hơn nhiều vì trung thực và có cơ sở vững chắc, không phải là những suy đoán, hư cấu…vấn đề bây giờ là tìm cho ra được một đạo diễn dám thí mạng, làm cho được thật hay…Tôi suy nghĩ nhiều rồi, tôi ngồi dậy được là tôi bắt tay ngay vào việc thôi. Tư liệu nhiều lắm. Còn sống được mấy năm nữa, tôi muốn làm được một việc thật có ý nghĩa…” Anh vẫn uống thuốc Đông y và châm cứu. Nhưng khổ nỗi là uống thuốc này mà uống sữa thì lại bị tiêu chảy, từ sáng đến giờ ba lần rồi.

Chiều thứ bảy 21/10 bố con tôi lại đến thăm anh. Anh mệt mỏi, suốt đêm qua không ngủ được, bất kỳ cử động nào cũng làm anh đau nhức không chịu nổi. Anh phải ngồi cho đỡ nhức. Rồi vất vả lắm mới lại nằm xuống được để… “tiếp khách” là bố con tôi! Anh còn nói nhiều chuyện vui về việc nằm lâu thì đau như thế nào… Tôi thấy, con gái út anh, và cả con rể anh, phóng viên Đoàn Hiệp của báo Sài Gòn Giải Phóng đều gầy đi từng tuần tôi gặp. Thấy anh mệt, tôi xin về mấy lần, anh vẫn còn muốn trò chuyện mãi, và mấy lần nhắc lại câu: “Cuốn sách đó có nhiều tư liệu về Phạm Quỳnh, nhất định tôi sẽ đưa cho, tôi mà lên gác được là tôi tìm thấy ngay thôi…” Anh vẫn nhiệt tình, chu đáo như xưa.

Thứ bảy kế tôi bận không thăm anh được. Thứ bày 4/11, tôi đến anh, hy vọng anh đã khá hơn. Nhưng anh con rể cho biết anh vừa nhập bệnh viện hôm qua. Tôi đến lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy, phòng cấp cứu tim như được chỉ, thì anh đang được tiếp máu lần thứ nhất và thở ốc-xi. Con gái út anh trông nom. Tôi ra hiệu để yên anh nằm nghỉ, nhưng cháu khẽ chạm vào chân anh, anh mở mắt, nhận ngay ra tôi. Anh cố nói: “Xin lỗi…” Con anh phải nhắc: “Bố đừng nói nữa, có khó thở không…?”. Vì nếu khó thở thì phải ngưng truyền máu ngay. Tôi chưa kịp hiểu anh định nói gì, nên nói vui sao anh em mình hay gặp nhau ở bệnh viện quá nhỉ. Năm 1998 tôi bị tai biến mạch máu não, vào bệnh viện Nguyễn Trãi cấp cứu, mở mắt ra đã thấy anh cùng bác sĩ Trần Cửu Kiến bạn anh đang đứng ngay gần. Tôi thật không ngờ! Đây là lần cuối cùng tôi được nghe anh nói và hai từ anh nói khó khăn lúc đó là: “Xin lỗi”. Người như anh làm sao có lỗi được.

Thứ bảy 11/11, tôi gọi điện đến nhà anh, hy vọng anh đã về và sẽ gặp anh tại nhà. 14 giờ 35, giọng cháu Điệp run run: “Bố cháu vừa mất lúc 12 giờ 50”.

Tôi chở vợ tôi vốn cũng thân thiết với cả hai anh chị như tôi, đến ngay nhà, mong được nhìn mặt anh lần cuối. Anh mặc com-lê xanh, nằm phẳng dẹp trên giường; trên bụng đặt một nải chuối xanh. Bàn nhỏ cạnh giường có một bức ảnh lạ; cháu Điệp nói không biết bố cháu chụp hồi nào mà không giống mấy. Cháu kể: 11 giờ 30 thứ năm bố cháu nhất định đòi về nhà; sáng nay còn ăn sữa…

Anh nằm ngay cạnh cửa sổ phòng khách, gần lối ra vào. Giữa phòng khách là bàn thờ chị Nghệ, người yêu suốt đời của anh, anh tự lập bàn thờ, treo có đến ba bức ảnh to của chị từ thời con gái, đến trung niên và lúc tuổi đã cao. Anh bảo tôi: “Để bà ấy ở đấy tôi đi đâu về đều gặp; trước khi ăn cơm cũng mời bà ấy được một câu.” Hồi chị Nghệ mất, anh bắt tất cả các cây trong vườn nhà hằng ngày vẫn được chị tưới, bón phải “chịu tang”, đeo khăn trắng hết. Nhớ lại chuyện ấy, thấy vạt vạn niên thanh xanh mướt, như anh bao giờ cũng trẻ, năng nổ, sẵn sàng giúp người, tôi xin anh con rể cho mấy ngọn về trồng. Đoàn Hiệp đang bận túi bụi, chắc hiểu lòng tôi, bứt công việc tang gia ra cắt cho tôi năm nhánh. Năm nhánh ấy, nay tôi trồng trong một chậu treo xanh mướt, có dán hình anh tươi cười ôm cháu ngoại, thật đúng là anh, dưới có dòng chữ “Anh Ngô Văn Quỹ (1920-11/11/2006, 21/9 Bính Tuất)”.

Sáng nào trước khi làm việc, bắt đầu một ngày mới tôi đều tưới cây, thấy anh tươi cười. Và những ngọn vạn niên thanh anh trồng, chị chăm, nay tôi chăm, vợ con tôi cũng chăm cho mãi xanh tươi, để mãi nhớ về anh chị, những con người thật đáng làm người.

30 tháng 11 năm 2006

Tôn Thất Thành

* Trong bài có sử dụng tư liệu của bài Vĩnh biệt chàng thanh niên 87 tuổi của Ngô Ngọc Ngũ Long báo Sài Gòn Giải Phóng số 14/11/2006

2

Bạn Mình Yêu Họ Những người thầy lớn trong đời / Kim Dung / Kỳ Duyên bình luận về bài Từ một “vụ án” đã sáng tỏ trên Blog PhamTon viết về trường hợp hàm oan trong nhiều năm của nhà báo Quang Đạm, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, một cây bút lý luận sắc xảo, uyên bác.

“Mới đây, rất may, tình cờ mình đọc được bài viết này minh oan cho ông (https://phamquynh.wordpress.com/2013/06/28/tu-mot-vu-an-da-sang-to/) của tác giả Thủy Trường. Còn khi đó, mọi cánh cửa đều đã đóng lại […]”

TỪ MỘT “VỤ ÁN” ĐÃ SÁNG TỎ

                                                      Thủy Trường

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong những ngày kỷ niệm Cách Mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay, chúng tôi cảm động nhận được bài của bạn Thủy Trường viết về một trong những con người đã một lòng trung với Nước, hiếu với Dân, nhưng có thời gian đã không được hiểu đúng, thậm chí còn bị nghi là phản dân hại nước, nhưng họ vẫn giữ vững một tấm lòng son với Dân với Nước, lặng lẽ chờ đợt sự phán xét công minh của Nhân dân, của Lịch sử. Có lẽ, đó cũng là một nét anh hùng của con người Việt Nam chúng ta…

—o0o—

Biết tôi có quen biết với gia đình anh Quang Đạm, nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân Dân, nhiều nhà báo, kể cả ở báo Nhân Dân, đôi ba thế hệ hỏi: “Tại sao ông Đạm, tri phủ Hà Trung (Thanh Hóa) thời chính phủ ngụy thân Nhật Trần Trọng Kim, “chui vào Đảng”, bị khai trừ, mà con lại “leo” lên được Uỷ viên Trung ương Đảng? Thế là Đảng mất cảnh giác à?”

Thật là những câu nói sai trái, thiếu hiểu biết, độc ác.

Và câu chuyện “mất cảnh giác” ấy hiện vẫn còn lưu hành đâu đó. Đã đến lúc cần làm sáng tỏ.

Những năm 1939-1949, tôi sống ở làng Vạn Hà, huyện lỵ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Là học trò của cô giáo Nguyễn Thị Sâm, tôi biết chồng cô là “Thầy lục sự” Tạ Quang Đệ (Lục sự là một chức danh chính quyền cũ, lo liệu việc văn thư, hành chính, giấy tờ, yêu cầu phải biết chữ quốc ngữ, Pháp văn, chữ Hán, chữ Nôm…). Nhà tôi ở cạnh nhà cô Sâm nên vẫn thường qua lại. Năm 1941, tôi vào “Xì cút” – Hướng Đạo sinh, đoàn Vạn Hà do thầy giáo Nguyễn Chương (sau này là vệ sĩ của Bác Hồ) và thầy Đệ phụ trách.

Trước Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, từ một đề nghị nào đó của “các anh” bên đoàn thể – có thể có ý kiến của Tạ Quang Bửu – anh ruột Tạ Quang Đệ (Tạ Quang Bửu là người được Đảng ta giữ liên lạc, yêu cầu lãnh đạo “Xì cút” đứng về phía Việt Minh), Tạ Quang Đệ được bổ nhiệm làm tri phủ Hà Trung, giáp ranh hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình.

Tại sao không làm quan đầu một huyện, phủ khác? Sau này, anh Đạm* mới cho biết là “ý của “các anh” đưa mình về Hà Trung là nơi có chiến khu Hòa – Ninh – Thanh (Hòa Bình – Ninh Bình – Thanh Hóa), rồi chiến khu Ngọc Trạo.”

Làm tri phủ “đệm”, nên trước ngày 19/8/1945, tri phủ Tạ Quang Đệ đã liên hệ với Việt Minh, bàn giao “triện”, sổ sách, vũ khí và ra Hà Nội sau đó mấy hôm, theo một “lệnh” nào đó.

Đến Thủ đô, Tạ Quang Đệ đi dạy học ở trường Thăng Long, rồi nhận công tác ở phòng Tham mưu do Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) làm trưởng phòng. Ngày 3/9/1945, Trưởng Ban Thông tin liên lạc của Phòng Tham mưu là Hoàng Đạo Thúy (bạn Hướng Đạo của Tạ Quang Bửu) chỉ định Tạ Quang Đệ làm Tổ trưởng Tổ Mật mã, có nhiệm vụ “biên soạn một luật mật mã mới về vô tuyến điện cho quân đội ta”.Tạ Quang Đệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được coi là “ông tổ mật mã của quân đội ta”. Công trình khoa học này, gần đây đã được nhà nước trao tặng giải thưởng Khoa học Quốc gia cho Tạ Quang Đệ cùng cộng sự.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo cơ quan lên Việt Bắc, Tạ Quang Đệ viết báo tường nội bộ. Bài báo của Tạ Quang Đệ đã “lọt vào mắt xanh” của đồng chí Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh. Sau đó, Tạ Quang Đệ được điều động về báo Sự thật với bút danh Quang Đạm, nổi tiếng với những bài xã luận, những bài tranh luận về pháp luật với Vũ Đình Hòe. Anh dịch tài liệu của Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cộng Sản Liên Xô bằng chữ Pháp sang tiếng Việt, do một đài vô tuyến điện của ta được chính phủ Diến Điện (Miến Điện) cho đặt ở Rangun, thu rồi phát về Việt Nam. Anh còn dịch nhiều tài liệu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ra tiếng Việt phục vụ Trung ương Đảng, Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh (như Trì cửu chiến – đánh lâu dài, Thực tiễn luận – bàn về thực tiễn). Anh là người duy nhất dịch được các chữ Hán cổ Bác Hồ viết theo lối tốc ký.

Năm 1954, về Hà Nội, Quang Đạm nhận nhiệm vụ ủy viên (thường trực) Ban Biên tập Báo Nhân Dân, là người về sau cùng của tòa soạn, sau khi báo đã xuống nhà in, cũng là người đến sớm nhất để thay mặt tòa soạn ghi nhận những ý kiến nhận xét của Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh về tờ báo mới in xong. Là đại biểu Đảng Lao động Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã Hội Thống Nhất Đức, anh đã đọc bài tham luận có tựa đề Đổi mới là sáng tạo, chân lý là cụ thể. Anh đã tham gia phái đoàn Hoàng Quốc Việt, sang thăm Triều Tiên khi Triều Tiên  đang “kháng Mỹ”.

Trong những năm cuối thập kỷ 60 thế kỷ trước, anh bị “người ta” cho là “đã dẫn nhà chức trách lùng bắt cộng sản ở Thiệu Hóa”. Theo lời anh kể cho tôi: “Có việc ấy, những đáng lẽ dẫn người đi thẳng đến thôn, nơi có cộng sản họp, anh lại cho ô tô bóp còi, đi vòng vèo để cộng sản biết mà chạy thoát”. Người có công, mang tội, anh bị chi bộ “khai trừ, lưu Đảng” – “bằng miệng”. Sự kiện được đưa lên Liên chi ủy báo Nhân Dân, Tổng Biên tập – Hoàng Tùng – Ủy viên Trung ương, thấy không phải việc nhỏ, nên đã cử người lên xin ý kiến đồng chí Trường Chinh, thay mặt Trung ương phụ trách mảng Tuyên huấn lúc bấy giờ.

Người được cử đi về nói lại rằng: “Theo anh Năm (bí danh đồng chí Trường Chinh) quyền là ở cơ sở, phải làm đúng thủ tục tổ chức Đảng. Đề nghị các anh lên xin ý kiến anh Ba (đồng chí Lê Duẩn)”. Người đi báo cáo với anh Ba về nói: “Đồng ý với đồng chí Trường Chinh. Tùy chi bộ”.

Tin đưa về đến tòa soạn thì Đảng viên Quang Đạm đã được nghỉ công tác, nghỉ sinh hoạt Đảng một thời gian rồi. Thế là việc khai trừ, lưu Đảng coi như đã xong.

Không có công tác, tiền lương bị hạ, không được sinh hoạt Đảng… anh Quang Đạm buồn lắm và rất đau khổ. Nhưng có lẽ người đau khổ nhất là vợ anh, cô giáo Sâm, cô kể cho tôi nghe: “Gia đình anh Bửu là nơi mà cô Liên, ông Cả (anh chị ruột Bác Hồ) thường đến nghỉ ngơi, trốn tránh khi có khó khăn. Mẹ anh Bửu, Đạm là nữ sĩ Sầm Phố, đã chăm nom cô Liên, ông Cả rất chu đáo. Có lần, trên Việt Bắc, Bác Hồ gặp anh (Quang Đạm) hỏi: “Bà cụ hồi này còn làm thơ nữa không? “Chắc là họ nhầm thôi”.

Có thể nói, “làm như vậy” là không được đúng, nên sau 1975, anh có được đi họp cuộc này, cuộc nọ, “mời dự các buổi thời sự” ghi rõ trong giấy là “dành cho cán bộ cao cấp”.

Cuốn sách Nho giáo, anh viết theo gợi ý của đồng chí Trường Chinh, mấy năm mới xong không được phép xuất bản vì Nho giáo là “hủ nho”, “phong kiến”, “phản động”. Sống thanh đạm, gia đình anh vẫn tin tưởng Đảng, không một lời kêu ca, oán trách.

Năm 1989, biết tôi là đồng đội với Đặng Xuân Kỳ – con trai đồng chí Trường Chinh, anh Đạm nhờ tôi gửi “Anh Năm” (đồng chí Trường Chinh) một thư viết tay trên một mảnh giấy nhỏ vài dòng. Tôi nhờ Đặng Xuân Kỳ chuyển, Đặng Xuân Kỳ nói:

– Hôm sau, cụ tới đây, anh cứ đưa trực tiếp thư của chú Đạm.

Hôm đồng chí Trường Chinh đến nhà Đặng Xuân Kỳ ở khu Giảng Võ, Kỳ kéo tôi ra cụ Năm:

– Đây là đồng chí bạn Lục quân của con, được chú Đạm nhờ chuyển bức thư.

Đồng chí Trường Chinh mở bức thư không dán, đọc ngay rồi bảo tôi:

– Đồng chí bảo Đạm cứ yên tâm. Đại hội (Đảng) xong tôi sẽ giải quyết dứt điểm cho Đạm. Tôi là một trong hai người giới thiệu Đạm vào Đảng, tôi có trách nhiệm.

Việc chưa xong thì đồng chí Trường Chinh đã “đi theo Bác”.

Tôi hỏi Tạ Quang Ngọc, con trai anh Đạm, bấy giờ đã là Thứ trưởng Bộ Thủy sản.

–          Ai là người thứ hai giới thiệu?

–          Chú Mười Hương

Nhân chuyến đi công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin đến gặp đồng chí Mười Hương, xin đồng chí cho biết một số việc và trình bày sự việc của anh Đạm.

Ngồi trầm ngâm một lát, “ông trùm tình báo Việt Cộng Mười Hương” nói:

–          Sắp tới tôi ra Hà Nội, sẽ làm rõ việc này.

Một ngày khoảng năm 2000-2001 gì đó, Tạ Quang Ngọc đón tôi đến khu nghỉ Hồ Tây gặp đồng chí Mười Hương, người Đảng viên lão thành nói giọng buồn rầu:

–          Hôm trước, tôi và đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến Ban Tổ chức Trung ương Đảng, lục tìm quyết định khai trừ cậu Đạm, bằng văn bản, nhưng không có, hoàn toàn không có. Quyết định miệng, không có văn bản, thủ tục khai trừ – chi bộ – liên chi bộ họp bao giờ, bao nhiêu đảng viên dự, ý kiến ra sao, tỷ lệ đồng ý, không đồng ý là bao nhiêu, chủ tịch, thư ký là ai ký vào… tất cả đều không có. Đã không có thì làm sao phục hồi được.

Tôi và Tạ Quang Ngọc ra về.

Ít lâu sau, Tạ Quang Ngọc được bầu vào Trung ương Đảng, rồi giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy sản. Nhớ tới câu đồng chí Lê Đức Thọ nói với vợ một cán bộ cao cấp (B.C.T.) bị quy kết oan sai, rằng: “Đảng không thể ra văn bản sửa sai được, mà chỉ sửa bằng sự việc cụ thể thôi…”, tôi nghĩ trường hợp này của anh Đạm có thể cũng là như vậy. Tôi nhân đó cũng nói đôi lời với Tạ Quang Ngọc; Tạ Quang Ngọc nói: “Cậu mợ tôi, trước khi mất vẫn tin rằng mình không có gì sai, vẫn tin tưởng Đảng”.

Trường hợp này, khiến tôi liên tưởng đến “vụ án” Phạm Quỳnh.

Không có biên bản, tòa án, không rõ ai là chánh án, thẩm phán, thư ký tòa, có hay không có luật sư, hay là có biên bản nhưng đã “mất”, “thất lạc”… Dù ba tháng sau khi Phạm Quỳnh mất đã công bố trên báo chí, nhưng nay, nếu thấy là chưa phải, chưa đúng, cần “giải oan” cho người bị oan, cũng chẳng có cơ sở pháp lý gì để xem xét lại.

Cũng giống như các vụ “Nhân văn – Giai phẩm”, “Vụ chống Đảng” (có cả Lê Trọng Nghĩa – một trong những nhà lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội) đã được sửa sai: cho in thơ, tặng giải thưởng, cho phục hồi danh dự… nhưng chưa có (hay đã có mà công luận không biết) văn bản.

Bằng việc cho tái bản sách của Phạm Quỳnh, in sách về Phạm Quỳnh, chấp nhận “Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn”, thiết nghĩ đó đã là “văn bản” trả lời vụ việc rồi. Chưa kể đến những động tác khác rất đáng hoan nghênh, “nhân nghĩa”, ân tình của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Và như vậy, “có thể” coi như vụ án Phạm Quỳnh đã khép lại. Thượng Chi ở dưới suối vàng đã “nhàn du tiên cảnh”. Con cháu Phạm Quỳnh theo lời Bác Hồ dặn, cũng đã “vững tâm đi theo cách mạng” vì “Cụ Phạm – lời Bác Hồ – là con người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này” – họ đã cùng với các nhà khoa học, chính trị, lịch sử, văn hóa có thể thưa với Bác Hồ rằng: “Thưa Bác, theo lời Bác dặn, lịch sử đã đánh giá đúng Cụ Phạm, xin Bác vui lòng”.

T.T.

———————–

(*) Tên thường gọi là Tạ Quang Đệ. Khi lên Việt Bắc những năm kháng chiến chống Pháp, Tạ Quang Đệ công tác ở báo Sự Thật với đồng chí Trường Chinh. Một lần bài đưa đến nhà in, bị mưa xóa nhòa tên tác giả, biết là bài của anh Đệ, là em anh Tạ Quang Bửu, tòa soạn đặt luôn tên tác giả là Quang Đạm. Đạm là chữ có từ cách “nói lái” các chữ Lam (tên con gái), Ngọc (tên con trai) và Đệ (tên bố). Từ Lam Ngọc Đệ thành Lê Ngọc Đạm.

3

Bạn Tâm Lê (email: letamsaigon@gmail.com) gởi ngày 25/9/2015 vào lúc 12:24.

Chào Anh,

Tôi rất quan tâm đến những nội dung trong quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế.Khi sách được giới thiệu trong ngày ra mắt ,tôi có vào các nơi đặt mua sách trên mạng thì tìm không thấy.Sau đó tôi có viết thư gửi anh Phạm Bá Thanh Tùng thì mới được biết quyển này không có bán trên thị trường và anh Tùng có cho em biết anh còn một số quyển.Vậy em kính xin Anh có thể nhín cho em một quyển,với lời thiết tha mong mỏi được Anh chấp nhận.Em ở BếnTre,nhưng em có mấy người em làm việc ở Sài Gòn,nếu được sự đồng ý của Anh ,em sẽ nhờ mấy đứa em đến nhận giùm.Trong khi chờ đợi sự đồng ý của Anh ,em chân thành cám ơn Anh rất nhiều.

Lê Minh Tâm.

Vào lúc 17:42 ngày 26/9/2015, Blog Pham Tôn đã viết:

Chào anh Lê Minh Tâm,

Lần đầu tiên tiếp xúc với anh, tôi xin tự giới thiệu. Tôi là Tôn Thất Thành sinh năm 1940. Hiện sống tại 82 đường Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM, số điện thoại bàn là 08-3848 0803. Xin nói để anh rõ anh Thanh Tùng ở xa không rõ tình hình của tôi, cho tới nay tôi chỉ có một bản sách đó với lời đề tặng nên dù rất quý anh tôi cũng không thể nhín cho anh được. Mong anh thông cảm. Với nhiệt tình của anh, tôi đã liên hệ với người tặng sách tôi, xin gửi cho tôi thêm một bản. Khi nào có sách, tôi sẽ báo anh biết. Trong lúc chờ đợi, mong anh cũng tự giới thiệu cho tôi biết về anh đôi chút, vì mong rằng chúng ta còn quan hệ lâu dài.

Chúc anh mạnh khỏe

Tôn Thất Thành

6:54 chiều 26/9/2015, bạn Tâm gởi:

Kính gửi Bác Tôn Thất Thành,

Con tên Lê Minh Tâm ,con sinh năm 1971,hiện con ở tại xã Giao Long ,huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre.Số điện thoại của con là 01649904041.

Trước tiên con xin lỗi Bác về cách xưng hô của con trong email trước con gửi cho Bác vì con không đoán được tuổi tác .Con biết Bác là do Bác Phạm Bá Thanh Tùng giới thiệu  khi con tìm hoài mà không thấy trên thị trường bán quyển “Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế”.Con quyết tâm đi tìm quyển này vì con rất hâm mộ những chính kiến của Cụ Quỳnh lúc sinh thời qua mấy tư liệu ghi chép lại,nhưng trải qua các thời kỳ có những ý kiến trái chiều,đến nay thì đã được tháo gỡ phần nào ,ngoài đó con không biết thế nào chứ trong con có lúc trà dư tửu hậu con có mấy người quen cũng hay bàn luận về cụ Quỳnh.Con đã đọc “Mười ngày ở Huế,Một tháng ở Nam Kỳ,Du ký Việt Nam” của Cụ Phạm Quỳnh.Vì vậy khi quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế được giới thiệu ra mắt nhân ngày kỵ cơm Cụ,con rất trông đợi nhưng cuối cùng qua Bác Tùng và Bác cho hay là không có bán trên thị trường,con cũng hơi buồn nhưng với quyết tâm tìm kiếm cho bằng được dù chỉ bằng 1% con cũng cố gắng.Đến hôm nay thì theo lời Bác con cũng phần nào nuôi hy vọng .Con cám ơn Bác trước khi được Bác tiếp chuyện.Con kính chúc Bác và gia đình mạnh khỏe ,hạnh phúc và vạn sự như ý .Con kính chào Bác .

              Con -Lê Minh Tâm.

Vào lúc 5:58 chiều 28/9/2015 bạn Tâm gửi

Kính gửi Bác,

Em con vừa báo tin đã đến nhà Bác nhận quyển sách ,con vô cùng cảm ơn Bác và vô cùng xúc động khi được Bác quan tâm giúp đỡ cho con hoàn thành tâm nguyện của mình.

Kính chúc Bác mạnh khỏe và hạnh phúc.Kính chào.Lê Minh Tâm.

4

Lời dẫn của Pham Tôn: Hồi này ở Hoa Kỳ có lưu hành một tư liệu của một nhà sử học nói về cái chết của học giả Phạm Quỳnh. Tài liệu nhà sử học này căn cứ vào là Hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức, con gái thứ hai của Phạm Quỳnh. Vì thế mới có chuyện trao đổi này giữa bạn đọc và chúng tôi

Ngày 10/10/2009 bạn NÓI THẬT (Thư điện tử: noithat0@yahoo.com.vn) hỏi:

“Thưa ông Phạm Tôn,

Tôi đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net, sau có đường link mà tìm ra blog của ông. Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm.

Tuy vậy, có một điểm mâu thuẫn rất lớn mà tôi không thể không hỏi ông. Trong entry (tôi tạm gọi như vậy theo ngôn ngữ blog) “Về hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức”, ông khẳng định gia đình cụ Phạm Quỳnh đoan chắc cụ bà Phạm Thị Thức chưa bao giờ xuất ngoại sang Pháp nên không thể có hồi ký đó. Nhưng trong entry này, ông lại viết “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước. Sau năm 1975, còn có hai bà chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức cùng ông anh là bác sĩ Phạm Khuê vẫn ở Hà Nội và một em gái ông là bà Phạm Thị Giễm sống ở Đà Lạt, đến năm 1988 mới sang Pháp đoàn tụ gia đình”. Đọc nguyên văn đoạn này, ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở. Nếu như vậy, hẳn là có thể có chuyện bà Thức ở Paris và bà Thức viết hồi ký chứ.

Thưa ông, xin ông vui lòng giải đáp thắc mắc này. Xin cảm ơn ông.”

Thư trả lời

“Kính gửi bạn Nói Thật,

Tối qua, tôi mới nhận được thư của bạn. Tôi cảm ơn bạn đã “đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net”, sau đó còn tìm ra và đọc blog của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã viết “Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm”.

Do đó, tôi vội trả lời ngay điều mà bạn “không thể không hỏi”. Bạn viết: “đọc nguyên văn đoạn này, ai ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở.” Ở đây tôi xin lưu ý là chính bạn đã trích, “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.” Đó là nguyên văn đoạn này trong bài Nhà văn, nhà báo Phan Thứ Lang, người phát hiện ra Phạm Quỳnh có tới… bốn bà vợ. Chúng tôi đưa lên blog tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 . Điều đó có nghĩa là chữ nay, hẳn phải là trước tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 một thời gian không lâu. Và sự thật chính là ở chỗ này. Bạn bỏ sót chữ nay nên mới suy luận như trên. Sự thật là sau khi bà Phạm Thị Giễm là em gái nhạc sĩ Phạm Tuyên sang Pháp đoàn tụ gia đình năm 1988 thì năm 2000 bà chị gái lớn là Phạm Thị Giá qua đời, rồi đến năm 2003 là giáo sư Phạm Khuê, và đến năm 2007 thì bà Phạm Thị Thức là chị gái thứ 2 cũng qua đời. Như vậy là ngoài bà Phạm Thị Giễm sang Pháp, ba anh chị kia đều qua đời chứ không ai sang Pháp cả. Do đó, khoảng tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 (nay) duy nhất chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.

Rất cám ơn bạn đã quan tâm đến học giả Phạm Quỳnh và bắt đầu đọc blog của chúng tôi, lại còn viết thư cho chúng tôi. Mong bạn sẽ là một bạn đọc trung thành và nếu có thể là một cộng tác viên của blog chúng tôi.

Kính thư,

Phạm Tôn

www.phamquynh.wordpress.com

“9:46 tối 3/11/2009, bạn Nói Thật đã có hồi đáp:

Thưa ông Phạm Tôn,

Cảm ơn ông đã hồi đáp. Đúng là tôi đã đọc không kỹ, xin cáo lỗi.

Theo thiển ý của tôi, ông nên lập một thư mục riêng cho những trước tác của cụ Phạm Quỳnh để bạn đọc cần tư liệu có thể tìm kiếm theo hệ thống thuận tiện hơn.

Là một người xa lạ nhưng tôi thực lòng mong mỏi án oan của cụ Phạm Quỳnh được làm rõ và công khai trước công luận. Những người có chức trách cần có một thái độ ứng xử đàng hoàng, dũng cảm hơn. Dân không có thờ lầm người bao giờ, tôi tin cuộc đời và nhân cách đẹp đẽ của cụ Phạm Quỳnh được nhân dân hiểu rõ và trân quý.

Chúc ông và gia đình dồi dào sức khỏe.

Kính,

NÓI THẬT

 

Trên quê hương yêu đấu kỳ 2 tháng 2 năm 2017

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 2 năm 2017

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/2/2017:

Kỷ niệm trọng thể 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang dự

Sáng 9-2, tại tỉnh Nam Ðịnh, Tỉnh ủy, HÐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nam Ðịnh long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9-2-1907- 9-2-2017). Ðến dự, có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; nguyên Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh; Chủ tịch nước Trần Ðại Quang; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam; Ðinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư; Phạm Minh Chính, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư; Trần Quốc Vượng, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Võ Văn Thưởng, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Ðinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, nhiều đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, đại diện các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước; các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVT nhân dân; quê hương và gia đình, dòng họ Tổng Bí thư Trường Chinh.ky-niem-110-ngay-sinh-truong-chinh

Các đồng chí nguyên Tổng Bí thư Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Lê Ðức Anh gửi lẵng hoa chúc mừng.

Mở đầu Lễ kỷ niệm là chương trình nghệ thuật đặc sắc ca ngợi Ðảng, Bác Hồ; thân thế, sự nghiệp của Tổng Bí thư Trường Chinh và công cuộc đổi mới của đất nước, của quê hương Nam Ðịnh.

Ðọc diễn văn kỷ niệm, đồng chí Ðoàn Hồng Phong, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Nam Ðịnh nêu bật những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Trường Chinh đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc; tình cảm của đồng chí dành cho quê hương và tấm lòng quê hương đối với đồng chí. Diễn văn nêu rõ, đồng chí Trường Chinh là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhà lãnh đạo kiệt xuất của Ðảng và cách mạng Việt Nam; nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Trường Chinh rất kiên định, phong phú và sôi động. Với cương vị ba lần làm Tổng Bí thư, hơn 20 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công giữ nhiều trọng trách lớn của Ðảng, Nhà nước, ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí cũng hết lòng vì Ðảng, vì nước, vì dân; vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Phẩm chất đạo đức cách mạng, trí tuệ và tài năng của đồng chí luôn tỏa sáng trong mọi hoàn cảnh, nhất là ở các bước ngoặt quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Ðồng chí Trường Chinh đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư của Ðảng lần đầu tiên vào năm 1941. Ðây là thời điểm dân tộc ta ở trong thời kỳ vô cùng đen tối. Ngay sau đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), đồng chí đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Ðảng, ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và ra chủ trương tiến hành Tổng khởi nghĩa, kịp thời chuyển hướng chiến lược, nắm bắt đúng thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, với tầm nhìn xa trông rộng, với tư duy lý luận sắc sảo, nhạy bén và kinh nghiệm thực tiễn sống động; đồng chí Trường Chinh đã chủ động đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương đổi mới đất nước. Ðại hội VI của Ðảng đã đi vào lịch sử dân tộc ta với tư cách là Ðại hội của Ðổi mới, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước hơn 30 năm qua khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới mà Tổng Bí thư Trường Chinh là người đề xuất và khởi xướng.

Diễn văn nêu rõ, kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Nam Ðịnh nguyện chung sức đồng lòng, đoàn kết thống nhất, quyết tâm xây dựng Nam Ðịnh phát triển nhanh, bền vững hơn theo hướng hiện đại, xứng đáng là quê hương của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, góp phần cùng cả nước, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ðại diện thế hệ trẻ, em Nguyễn Ngân Hà, học sinh lớp 12, Văn 2, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Ðịnh phát biểu, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Ðảng, Bác Hồ; thành kính tri ân Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyện tiếp tục nêu cao tinh thần học tập, biến lòng khâm phục các vị tiền bối cách mạng thành hành động cụ thể, dưỡng tâm trong, rèn chí sáng, góp phần xây dựng Nam Ðịnh và đất nước ngày càng phát triển.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/2/2017:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn

Ngày 3-2 (mồng 7 tháng Giêng năm Đinh Dậu), Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự và thực hiện nghi lễ cày tịch điền tại Lễ hội Tịch điền ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Cùng dự, có nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư, tỉnh Hà Nam cùng đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh.

Đây là năm thứ chín Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được tổ chức tại nơi cách đây 1.030 năm, Vua Lê Đại Hành về cày chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-du-le-hoi-tich-dien-doi-sonruộng tịch điền, khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp. Tại lễ hội diễn ra nhiều nghi lễ truyền thống, đặc biệt là nghi lễ cày tịch điền được tổ chức trang trọng. Chủ tịch nước Trần Đại Quang cùng lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghi lễ cày tịch điền bằng hình thức cày máy, nhằm phát động phong trào cơ giới hóa nông nghiệp.

Phát biểu ý kiến tại Lễ Tịch điền, Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh, trong hàng nghìn lễ hội truyền thống diễn ra khắp các vùng miền cả nước, Lễ hội Tịch điền tổ chức hằng năm đã trở thành nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được Nhà nước ghi danh “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Đây là lễ hội văn hóa mang ý nghĩa khuyến nông sâu sắc, đề cao tinh thần trọng nông, vai trò của nhà nông.

Chủ tịch nước đánh giá: Việc duy trì tổ chức Lễ hội Tịch điền của tỉnh Hà Nam có ý nghĩa rất lớn, vừa thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, vừa khuyến khích, động viên nhân dân phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Chủ tịch nước cho rằng, trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, tình hình kinh tế trong nước và khu vực còn gặp nhiều khó khăn, vấn đề an ninh lương thực ngày càng quan trọng. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao. Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, đồng chí, đồng bào cả nước ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Chủ tịch nước mong muốn, tỉnh Hà Nam và các địa phương trong cả nước đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu nông sản chất lượng cao ra thế giới, góp phần nâng cao đời sống của người nông dân, xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp.

Nhân dịp này, tỉnh Hà Nam tổ chức lễ đón nhận Bằng công nhận Lễ Tịch điền Đọi Sơn là “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”, đồng thời biểu dương, khen thưởng 26 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Nhân dịp về dự Lễ Tịch điền, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã dâng hương, đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng Liệt sĩ tại Đền thờ các Anh hùng Liệt sĩ tỉnh Hà Nam. Chủ tịch nước đã đến thăm và kiểm tra dây chuyền chế biến sản phẩm của Công ty TNHH Hội Vũ, chuyên ngành chế biến rau quả xuất khẩu.

* Ngày 3-2 tại xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã diễn ra lễ khai hội Đền Mẫu Âu Cơ. Mở đầu lễ hội là lễ tế thành hoàng làng và phần rước kiệu, rước lễ vật từ đình làng về đền Mẫu Âu Cơ, tri ân công đức Tổ Mẫu Âu Cơ, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa… Lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ là một trong những lễ hội lớn, mở đầu cho nhiều hoạt động lễ hội đặc sắc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

* Cùng ngày, tại vùng hạ lưu sông Đà Rằng đổ ra cửa biển Đà Diễn thuộc TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên diễn ra hội đua thuyền rồng truyền thống của người dân vùng sông nước. Mỗi xã, phường thuộc TP Tuy Hòa thành lập một đội tranh tài. Mỗi thuyền đua gồm 24 vận động viên là những người khỏe mạnh, tuổi đời 18 đến hơn 35. Thuyền đua có hình con rồng gắn với tín ngưỡng của ngư dân và được giữ gìn cẩn thận ở các miếu thờ, đến kỳ đua mới làm lễ hạ thủy. Hội đua thuyền thể hiện nét văn hóa đặc trưng vùng ven sông, ven biển Phú Yên, cầu mưa thuận, gió hòa, một mùa đánh bắt hải sản bội thu.

* Ngày 3-2, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức Triển lãm “Chào Xuân Đinh Dậu 2017”, trưng bày 92 tác phẩm của 29 tác giả là họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc. Triển lãm mở cửa đến ngày 10-2, tại Trung tâm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, 29 Hàng Bài (Hà Nội).

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/2/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm và khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

Ngày 2-2, tại Hà Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ấn nút khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) tại Nông trường VinEco Hà Nam. Tham dự có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư; các tỉnh, thành phố phía bắc.

nguyen-xuan-phuc-tham-va-khoi-dong-san-xuat-nong-nghiep-cong-nghe-caoDự án VinEco Hà Nam (xã Xuân Khê và xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) là một trong 14 nông trường của Công ty TNHH Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp VinEco. Dự án có diện tích 180 ha với tổng số vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng. Trong đó, khu cánh đồng mẫu lớn rộng gần 130 ha, khu nhà kính I-xra-en công nghệ cao quy mô 5 ha và các khu vực hỗ trợ sản xuất. Dự kiến đến cuối năm 2017, VinEco Hà Nam sẽ hoàn thiện hạ tầng cơ sở, triển khai sản xuất trên toàn bộ diện tích dự án.

Khu nhà kính số 1 được Thủ tướng ấn nút khởi động có diện tích 8.300 m2, công suất trung bình khoảng 150 tấn/năm cho nhóm rau ăn lá. Nhà kính sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tự động và kiểm soát các thông số nước, không khí và sinh trưởng cây trồng theo công nghệ của I-xra-en. Trên khu đất sản xuất đồng ruộng với diện tích gần 130 ha, VinEco Hà Nam cũng sẽ triển khai phát triển khoảng 15 sản phẩm chủ lực với sản lượng từ 20 đến 30 tấn/ngày phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tinh thần kiến tạo của Chính phủ là phát triển một nền nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, thông minh, hướng vào phục vụ 100 triệu dân với thực phẩm, lương thực sạch và tiến tới xuất khẩu. Do đó, lời giải cho bài toán nông nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp tư nhân cùng hợp tác xã (HTX) chất lượng cao làm nông nghiệp; cần khuyến khích khởi nghiệp nông nghiệp, áp dụng điện toán đám mây để có nền nông nghiệp thông minh ở Việt Nam. Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vận động các ngân hàng có gói hỗ trợ cần thiết cho đầu tư NNCNC từ 60 nghìn tỷ đồng nâng lên 100 nghìn tỷ đồng. Đồng thời yêu cầu các địa phương quy hoạch ruộng đất theo hướng mở rộng hạn điền; đầu tư hạ tầng để hỗ trợ NNCNC; các bộ, ngành sửa đổi chính sách hướng vào NNCNC.

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cũng như HTX đầu tư vào NNCNC, bảo vệ quyền lợi chính đáng và thương hiệu nông sản Việt Nam. Thủ tướng sẽ trực tiếp cùng các ngành tham gia giới thiệu những sản phẩm NNCNC, sản phẩm nông nghiệp sạch của Việt Nam ra thị trường thế giới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/2/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm mô hình chế biến tôm tại Cà Mau

Chiều 5-2, tại Cà Mau, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn công tác Chính phủ thăm Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú – doanh nghiệp thủy sản hàng đầu Việt Nam.

Tập đoàn Minh Phú sở hữu vùng nuôi rộng lớn với hơn 900 ha tự nuôi tôm, cùng hơn 12 nghìn ha nuôi tôm sinh thái liên kết và hơn 100 nghìn ha của các hộ nuôi tôm trong chuỗi cung ứng, cung cấp con giống, thức ăn, thuốc, quy trình nuôi.

Với hơn mười công ty thành viên cùng trang thiết bị hiện đại, công suất chế biến của Minh Phú hiện đạt hơn 300 tấn tôm nguyên liệu/ngày, và sản phẩm có mặt tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với tổng doanh thu mỗi năm hơn 10 nghìn tỷ đồng. Riêng năm 2016 vừa qua, tuy chịu nhiều tác động của thị trường thế giới nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu của Minh Phú vẫn đạt hơn 500 triệu USD.

Phát biểu ý kiến tại buổi đến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương những nỗ lực của Minh Phú trong thời gian qua, không chỉ là doanh nghiệp tiêu biểu về xuất khẩu thủy sản, đóng góp hơn 20% thị phần ngành tôm nước nhà, góp phần giúp ngành tôm Việt Nam luôn là một trong ba nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới… mà Minh Phú còn là đơn vị có đóng góp tích cực cho cộng đồng, cho xã hội, đặc biệt là đã tạo công ăn, việc làm ổn định cho hơn 14 nghìn lao động.

thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-tham-mo-hinh-che-bien-tom-tai-ca-mauThủ tướng yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn Minh Phú trong thời gian tới nỗ lực hơn nữa mở rộng vùng nuôi tôm sạch, vùng tôm sinh thái dưới tán rừng, biến những thửa rừng nghèo thành những rừng tôm sinh thái thân thiện với môi trường nhưng năng suất cao hơn, giúp người nuôi tôm có thu nhập tốt hơn, bền vững hơn. Thủ tướng cho rằng, dưới tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, tình hình cây lúa đang gặp khó thì doanh nghiệp ngành tôm cả nước đang hết sức nỗ lực, phấn đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu mười tỷ USD. Là đơn vị xuất khẩu tôm chủ lực của nước nhà, Minh Phú cần phải đóng góp tích cực hơn nữa vào mục tiêu chung này.

* Trước đó, nhân dịp đầu Xuân mới Đinh Dậu, trong chuyến công tác tại các tỉnh Tây Nam Bộ, Thủ tướng đã tới thăm, tặng quà một số đồng chí lão thành cách mạng đang sinh sống tại TP Cần Thơ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017

Trao giấy chứng nhận dự án đầu tư Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất

Chiều 6/2, Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi tổ chức lễ trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dự án Khu liên hợp dự án sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất.

Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại Văn bản số 152/TTg-CN, ngày 25/1/2016 cho Tập đoàn Hòa Phát trên cơ sở kế thừa dự án Liên hợp thép Guang Lian Dung Quất đã đầu tư 10 năm nhưng đình trệ. Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 60 nghìn tỷ đồng, công suất bốn triệu tấn/năm với các sản phẩm chủ yếu gồm thép xây dựng, thép cuộn, sử dụng công nghệ lò cao khép kín tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường theo mô hình đã được Hòa Phát triển khai thành công tại tỉnh Hải Dương. Dự án được chia làm hai giai đoạn đầu tư xây dựng trong bốn năm: giai đoạn 1 gồm một triệu tấn thép dài xây dựng và một triệu tấn thép dài chất lượng cao; giai đoạn 2 là hai triệu tấn thép dẹt cán nóng phục vụ cơ khí chế tạo. Dự án sau khi đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho khoảng 8.000 lao động và dự kiến doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm…

Gần 3.600 tỷ đồng và 311 triệu USD đầu tư vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 6/2, tại TP Vũng Tàu, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức họp mặt doanh nghiệp và nhà đầu tư nhân dịp xuân mới Đinh Dậu, đồng thời trao tám giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 3.600 tỷ đồng và 311 triệu USD. Những dự án này thuộc các lĩnh vực như sản xuất đồ gỗ nội thất, sản xuất kính nổi siêu trắng, sản xuất tấm bạt, màn, xây dựng căn hộ du lịch nghỉ dưỡng, khách sạn, sản xuất tôn mạ kẽm, tôn mạ mầu và ống thép mầu, sản xuất bia…

JPA mở đường bay mới Hà Nội – Buôn Ma Thuột

Ngày 6/2, Hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines (JPA) công bố mở đường bay mới Hà Nội – Buôn Ma Thuột, tần suất ba chuyến khứ hồi/tuần bằng máy bay Airbus A320, loại 180 ghế đồng hạng phổ thông. Lịch khai thác bắt đầu từ ngày 9/3 tới, với giá từ 290 nghìn đồng/chặng. Đây là đường bay thứ 38 trong mạng bay nội địa và quốc tế của JPA, nằm trong chương trình thương hiệu kép cùng hãng Vietnam Airlines. Dịp này, JPA bán vé giá rẻ trong ba ngày liên tục từ 11 giờ ngày 6 đến hết ngày 8/2, với giá 38 nghìn đồng/chặng

  • Trang 14 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Thí điểm sử dụng hệ thống xe buýt năng lượng mặt trời trên đảo Cát Bà

Sáng 10-2, tại Hải Phòng đã triển khai chương trình thử nghiệm xe buýt điện sử dụng năng lượng mặt trời tại đảo Cát Bà (huyện Cát Hải) – một trọng điểm du lịch của Việt Nam. Ðây là dự án trong “Kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh TP Hải Phòng” – hợp tác giữa TP Hải Phòng và TP Ki-ta-kiu-siu (Nhật Bản). Dự án cũng được thí điểm ứng dụng xe buýt thân thiện với môi trường đầu tiên tại Việt Nam. Xe buýt này không sử dụng nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu…) cho nên không làm phát sinh khí thải có hại; xe có thể chạy liên tục ở khoảng cách dài tới 160 km với tổng trọng lượng khách vận chuyển 50 người. Ngoài năng lượng mặt trời, hệ thống pin của xe có thể nạp từ nguồn điện sinh hoạt, tiện lợi trong thời gian không có mặt trời hoặc mưa dài ngày… Dự kiến, 10 xe buýt điện sẽ được triển khai áp dụng trong năm 2018 và trong năm 2020 sẽ triển khai áp dụng 30 xe.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/2/2017:

Thực hiện thành công hai cặp ghép thận được đổi chéo

Ngày 7-2, Bệnh viện Chợ Rẫy họp báo cho biết, vừa thực hiện thành công hai cặp ghép thận được đổi chéo từ người cho còn sống. Ðây là hai cặp ghép thận đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện ghép thận đổi chéo.

Trong đó người thứ nhất được bố dượng cho thận, người thứ hai được mẹ ruột cho thận. Do hai cặp cùng có nhóm máu B nên bác sĩ tư vấn để hai cặp ghép có thể đổi người cho thận để ghép chéo và đã được hai gia đình đồng ý. Sau khi đổi chéo, kháng thể của hai người nhận không còn chống lại kháng nguyên của người cho nữa và ở cặp thứ hai còn hòa hợp miễn dịch đến 50%. Hiện sức khỏe của các người bệnh đã ổn định.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Cứu bảy ngư dân trên tàu cá bị đâm chìm giữa biển

Sáng 4-2, Đồn Biên phòng Cảng Gianh (Quảng Bình) cho biết, đơn vị vừa tổ chức tiếp nhận, kiểm tra sức khỏe cho bảy ngư dân trên tàu cá bị đâm chìm khi ra khơi khai thác hải sản sau Tết Đinh Dậu 2017.

Trước đó, lúc 12 giờ ngày 3-2, tại khu vực biển cách đông nam cửa Gianh, tỉnh Quảng Bình khoảng 11 hải lý, tàu cá QB 1981 TS gồm bảy thuyền viên do anh Trần Văn Minh ở tổ dân phố 2, phường Hải Thành, TP Đồng Hới làm thuyền trưởng đang trên đường ra đánh bắt hải sản thì đâm va với tàu hàng NĐ 2795 làm tàu cá bị chìm. Cả bảy thuyền viên đã được tàu NĐ 2795 cứu vớt an toàn. Gần 22 giờ cùng ngày, tàu hàng NĐ 2795 đưa số thuyền viên cứu được vào cửa Gianh và tiến hành thỏa thuận đền bù.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Công bố giải thưởng chất lượng khám chữa bệnh

Sáng 10-2, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh công bố Giải thưởng chất lượng Khám chữa bệnh. Đây là hoạt động trong hàng loạt chương trình hành động nhằm nâng cao năng lực quản lý chất lượng bệnh viện giai đoạn từ 2015 – 2025 của ngành y tế TP Hồ Chí Minh. Ban tổ chức đã trao giải nhất cho sản phẩm “Quy trình báo động đỏ” của BV Nhi Đồng 1; trao hai giải nhì cho sản phẩm “Khoa khám bệnh thông minh” của BV Nhân dân Gia Định và sản phẩm “Bệnh án điện tử” của bệnh viện (BV) quận Thủ Đức; trao ba giải ba cho sản phẩm “Phòng khám Đa khoa vệ tinh tại Trạm Y tế” của BV quận Thủ Đức, “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng kháng sinh” của BV Nhân dân Gia Định, “Chương trình giám sát trực tuyến kê đơn thuốc” của BV Nhi Đồng 1.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 13/2/2017:

Nét đẹp ở lễ hội Hội An

Phố cổ Hội An (Quảng Nam) dịp Tết nguyên tiêu ngày 11/2 vừa qua có nhưng hình ảnh thật dễ thương. Phố cổ tràn ngập người dân và du khách về dự hội, nhưng tất cả đều diễn ra trong yên bình, lịch sự, không chen lấn, xô đẩy. Ai đến trước xếp trước, người khuyết tật được ưu tien nhường bước. Hàng người xếp hàng dài ở đường Nguyễn Huệ để vào miếu Quan Công – chùa Ông hay trong khuôn viên hội quán Phúc Kiến, hội quán Quảng Đông đều như thế: vui vẻ đợi chờ, nói năng lịch thiệp, nhỏ nhẹ. Dịp này du khách quốc tết đổ về Hội An cũng khá đông

Hoàng Duy

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/2/2017:

Khai mạc Hội Lim Xuân Đinh Dậu 2017

Hội Lim năm 2017 được tổ chức trong hai ngày 8 và 9-2 (tức ngày 12 và 13 tháng Giêng năm Đinh Dậu). Ban tổ chức dâng hương tại chùa Hồng Ân, lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn trên đồi Lim, sau đó là lễ rước sắc từ đình làng Lộ Bao sang đình làng Đình Cả và tế lễ dâng hương theo nghi thức truyền thống tại các đình, đền chùa ở các làng thuộc xã Nội Duệ, thị trấn Lim, Liên Bão (Tiên Du, Bắc Ninh).

Phần hội gồm các màn hát quan họ tại sáu lán trại và trên sân khấu lễ hội. Bên cạnh đó, có các trò chơi dân gian như đu tiên, vật truyền thống, bịt mắt bắt dê, đập niêu, chọi gà, giao lưu văn nghệ… Lễ hội năm nay có thêm điểm mới, bên cạnh các địa điểm hát quan họ trên đồi Lim, ban tổ chức bố trí các canh hát quan họ theo lề lối truyền thống tại nhà một số nghệ nhân ở các làng thuộc thị trấn Lim…

* Ngày 7-2 (tức ngày 11 tháng Giêng năm Đinh Dậu), lễ hội cầu ngư làng Thai Dương Hạ, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà và làng Thai Dương, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang (Thừa Thiên – Huế) chính thức diễn ra tại các sân đình làng và trên phá Tam Giang, thu hút hàng nghìn người dân, du khách khắp nơi về dự. Đây là lễ hội truyền thống có từ khoảng 500 năm trước, được tổ chức đều đặn ba năm một lần, với quy mô lớn, gồm nhiều hoạt động tái hiện các sinh hoạt văn hóa của ngư dân vùng biển.

  • Trang 14 báo Tuổi Trẻ ngày 5/2/2017:

Cù Lao Chàm đón tết đầu tiên có điện

Bà con đảo Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, TP Hội An, Quảng Nam) đã vui vẻ tận hưởng một cái tết đầu tiên với mạng lưới điện quốc gia.

Cụ Đinh Thị Hoang (87 tuổi, thôn Bãi Ông) chia sẻ: “Nằm mơ tôi cũng không dám tin có ngày đảo của mình thoải mái xài điện. Bây chừ tôi về với ông bà tổ tiên cũng yên tâm vì năm nay bà con Cù Lao Chàm đón một cái tết hân hoan không thua kém so với người dân trong đất liền, bởi điện đã về với xã đảo”.

Hòa chung niềm vui của bà con, ông Mai Quốc Bảo (phó chủ tịch UBND xã Tân Hiệp) không giấu niềm vui sướng khi được dón tết trong ánh đèn của điện lưới quốc gia. Ông bảo nói: “Năm nay bà con trên đảo sắm sửa đón tết mạnh hơn mọi năm. Ai cũng háo hức đón mùa xuân đầu tiên có điện lưới sử dụng 24/24 giờ mà không bị ngắt quãng”.

Toàn xã đảo Tân Hiệp có tổng cộng 3.000 người dân, sinh sống chủ yếu ở thông Bãi Ông và thôn Cấm. Từ ngày 2/9/2016, những mét cáp ngầm cuối cùng đã hoàn thành ở khu vực Bãi Chồng và cả đảo Cù Lao Chàm chính thức sử dụng nguồn điện lưới quốc gia.

Thanh Ba

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/2/2017:

20 tiểu cảnh độc đáo tại triển lãm hoa “tiệc yêu”

Từ ngày 11 đến 15-2, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội), diễn ra triển lãm hoa “Tiệc yêu” chào đón Ngày lễ tình nhân.

Triển lãm quy tụ hơn 20 nghệ nhân hoa ở Hà Nội với nhiều tiểu cảnh đặc sắc như: “Suối hoa”, “Hẹn hò”, “Câu chuyện tình yêu”, “Kết tinh”, “Sắc màu tình yêu”…, được kết từ các loại hoa tươi, hoa đất, hoa lụa. Bên cạnh đó là các hoạt động: trang trí bánh cho Ngày lễ tình yêu, trình diễn nhạc giao hưởng.

Chung kết cuộc thi Người đẹp Kinh Bắc năm 2017

Tối 10-2, tại Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, TP Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), diễn ra chung kết cuộc thi Người đẹp Kinh Bắc năm 2017 với chủ đề “Du Xuân trảy hội miền Quan họ”. Từ 144 thí sinh dự thi, Ban tổ chức đã chọn 27 thí sinh xuất sắc vào vòng chung khảo.

Trong đêm chung kết, các thí sinh trình diễn các nội dung: trang phục áo dài truyền thống, trang phục Quan họ, trang phục áo tắm và trang phục dạ hội. Kết quả, Người đẹp Kinh Bắc thứ nhất thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Hồng Ngọc; Người đẹp Kinh Bắc thứ hai Chu Thị Xuyến; Người đẹp Kinh Bắc thứ ba Hoàng Thị Thanh Huyền.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/2/2017:

Hội thảo quốc tế về nghệ thuật và văn hóa thời Lý

Ngày 9/2, tại Trung tâm văn hóa Kinh Bắc, TP Bắc Ninh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND tỉnh Bắc Ninh và Đại học Luân Đôn (Vương quốc Anh), tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Nghệ thuật và văn hóa thời Lý ở Việt Nam”, thu hút đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật thời Lý, những nền tảng hình thành và phát triển các loại hình nghệ thuật của người Việt mang bản sắc rieng bên cạnh những yếu tố hỗn dung văn hóa. Đặc biệt, một số tham luận trình bày những cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn hóa nghệ thuật thời Lý, giới thiệu những phát hiện mới về khảo cổ, lịch sử, di sản văn hóa thời Lý, phân tích vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển của văn hóa, nghệ thuật thời nay.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017:

Tàu du lịch biển đưa nhiều khách quốc tế đến miền trung

Sáng 6-2, tàu du lịch biển quốc tế Celebrity Millenium thuộc Hãng tàu Royal Caribbean Cruises Lines (Mỹ) đã đưa 2.150 du khách quốc tế và hơn 950 thủy thủ đoàn cập cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế).

Đây là chuyến tàu du lịch biển quốc tế đầu tiên đến cảng Chân Mây trong năm mới Đinh Dậu. Theo Công ty CP Cảng Chân Mây, trong năm nay, dự kiến cảng sẽ đón khoảng 54 chuyến tàu du lịch biển các loại, đưa hơn 113 nghìn du khách quốc tế và khoảng 45 nghìn thủy thủ đoàn đến tham quan các danh lam thắng cảnh và thưởng thức ẩm thực tại các tỉnh miền trung Việt Nam.

Chiều cùng ngày, tàu biển M/S Coral Discoverer của Công ty TNHH Destination Asea mang theo 52 khách du lịch, trong đó có 49 người quốc tịch Mỹ cập cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị cùng các cơ quan chức năng đã tổ chức lễ đón và chúc mừng các vị khách nhân dịp năm mới.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017:

Phát hiện hệ thống di tích khảo cổ tiền sử trong hang động núi lửa ở Đác Nông

Ngày 6/2, PGS, TS Nguyễn Trung Minh, Giám đốc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, các nhà nghiên cứu thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vừa phát hiện nhiều di tích và di vật khảo cổ trong các hang động núi lửa ở Công viên Địa chất núi lửa Krông Nô (Đác Nông). Các di vật khảo cổ gồm: đá nguyên liệu và các công cụ đá, dụng cụ bằng gốm, xương động vật đầu tiên trong hang động núi lửa ở Việt Nam, mở ra một hướng nghiên cứu mưới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông – Nam Á

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Khai bút đầu Xuân tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An ở Hải Dương

Sáng 4/2, tỉnh Hải Dương tổ chức Lễ Khai bút đầu năm tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An (thị xã Chí Linh). Nghi lễ khai bút diễn ra trang trọng, sau đó là nghi lễ dâng hương, dâng chữ. Cũng tại lễ khai bút đã diễn ra triển lãm lịch sử khoa bảng và các di tích nho học trên đất Hải Dương; triển lãm các tác phẩm thư pháp chữ Hán, chữ Quốc ngữ với chủ đề “Tôn sư trọng đạo”. Hội Khuyến học thị xã Chí Linh vinh danh 16 học sinh có thành tích cao trong kỳ thi đại học năm 2016.

Nét đẹp văn hóa khai bút đầu Xuân đã được phục dựng tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An từ xuân Nhâm Thìn 2012 và đã trở thành hoạt động văn hóa, giáo dục ý nghĩa mỗi dịp Xuân về.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Đón khách quốc tế đầu tiên sử dụng thị thực điện tử đến TP Hồ Chí Minh

Chiều 4/2, tại Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh, Cục Quản lý xuất, nhập cảnh tổ chức lễ đón và tặng quà vị khách quốc tế đầu tiên sử dụng thị thực điện tử Việt Nam đến TP Hồ Chí Minh. Đó là ông Ri-chát Ken-nét Uyn-xơn (Vương quốc Anh)

Trước đó, ông Ri-chát đã đề nghị được cấp thị thực điện tử để nhập cảnh vào Việt Nam từ ngày 3/2/2017 đến 5/3/2017, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã cấp thị thực điện tử đầu tiên cho ông trong ngày 1/2/2017, ngày Nghị định 07/2017/NĐ-CP của Chính phủ về việc triển khai cấp thị thực điện tử cho khách quốc tế có hiệu lực.

Thị thực điện tử Việt Nam (E-visa) được áp dụng cho công dân của các nước có hộ chiếu hợp lệ, muốn đến Việt Nam với mục đích du lịch, nhập cảnh Việt Nam có thể trực tiếp cấp visa Việt Nam cho người nước ngoài mà không cần thông qua các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài như trước.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 5/2/2017:

Lãnh đạo TP.HCM đối thoại với thiếu nhi

Người lớn cần học để hiểu các em

Ngày 4/2, lãnh đạo TP.HCM đã dành cả buổi sáng để gặp gỡ, lắng nghe tiếng nói của 160 thiếu nhi tiêu biểu, đại diện cho thiếu nhi TP. Đây là cuộc trò chuyện thường niên vào mỗi đầu năm với lãnh đạo TP dành cho các em.

nguoi-lon-can-hoc-de-hieu-cac-emÔng Đinh La Thăng – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy – gọi đây là “cuộc trò chuyện thân tình giữa những người bạn khác tuổi”. Còn Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Quyết Tâm chia sẻ: “Cuộc gặp gỡ này được lãnh đạo TP mong đợi để hiểu các em đang nghĩ gì, mong muốn điều gì cho TP, cho môi trường học tập, vui chơi của các em”.

Cũng tham gia chương trình còn có Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP Tất Thành Cang lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể TP.

Học ở thiếu nhi sự thân chân thành, thẳng thắn

Phát biểu tại buổi đối thoại, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong nói ông rất xúc động và ấn tượng khi nghe các em thiếu nhi nói : “Tuổi nhỏ mà ý tưởng lớn, sắc sảo, không chỉ nói chuyện học, chuyện chơi của mình mà còn quan tân đến cộng đồng và những người xung quanh. Tôi hoàn toàn tin tưởng các em sẽ là những chủ nhân xứng đáng trong tương lai của TP” – ông Phong khẳng định.

Bí thư Thành ủy TP Đinh La Thăng chia sẻ ông đến cuộc gặp gỡ trong tâm trạng vừa vui vừa lo. Lo vì có những việc mà các em phản ảnh năm trước, dù TP đã có nhiều nỗ lực vẫn chưa giải quyết hết được như nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn… “Các cháu nói thẳng, hỏi thẳng, rất ngắn gọn, súc tích. Lãnh đạo TP- qua cuộc gặp gỡ này – học được ở các cháu sự thẳng thắn, vô tư, chân thành và trách nhiệm” – ông Thăng nói.

Ông Thăng yêu cầu các sở, ban, ngành ghi nhận cụ thể từng vấn đề mà các em thiếu nhi đặt ra, có phân công cụ thể để thực hiện, có phản hồi kết quả. “Có các cháu giám sát, các cô chú phải làm việc nghiêm túc, tích cực hơn” – bí thư Thành ủy chân tình.

  • Trang 8 báo Nhân Dân 2/2/2017:

Vĩnh biệt nhạc sĩ Hoàng Dương

Đêm mồng 3 Tết Đinh Dậu, PGS, Nhà giáo Ưu tú, nhạc sĩ Hoàng Dương – tác giả của ca khúc Hướng về Hà Nội nổi tiếng, trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 85. Thêm một nhạc sĩ gạo cội của làng nhạc Việt Nam đi về cõi xa xăm.

Nhạc sĩ Hoàng Dương tên khai sinh là Ngô Hoàng Dương. Ông sinh ngày 12-10-1933 tại Hà Nội, là con trai Trúc Khê – Ngô Văn Triện, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đầu thế kỷ 20 (hiện có tên đường ở Hà Nội). Có lẽ cái gien di truyền và cả cuộc đời hoạt động chìm nổi của người cha đã đưa Hoàng Dương đến với âm nhạc và cách mạng rất sớm.

Năm 1945, ông đã tiếp xúc với thời đại mới qua người anh họ là nhạc sĩ Phạm Văn Chừng. Ông bắt đầu học thổi sáo trúc, chơi đàn măng-đô-lin và ghi-ta cùng với học hát. Năm 1948, ông tham gia Đội tuyên truyền văn nghệ Thành Đội Hà Nội ở tuổi 15. Năng khiếu âm nhạc đã dắt dẫn ông vào Khu Bốn năm 1950 để học lớp huấn luyện âm nhạc do nhạc sĩ Tạ Phước phụ trách. Hoàng Dương viết không nhiều ca khúc (chủ yếu là tác phẩm khí nhạc), nhưng lại có những tác phẩm nổi tiếng. Bên cạnh ca khúc Hướng về Hà Nội trữ tình, hành khúc Quân về Hà Nội của ông được thanh niên, học sinh hát vang trong ngày tiếp quản Thủ đô.

Cùng với việc sáng tác ca khúc như: Hướng về Hà Nội, Gửi mẹ miền Nam, Gửi Huế mến yêu…, Hoàng Dương cùng một số người bạn tìm đến thầy Nguyễn Đình Phúc ở phố Dã Tượng học đàn vi-ô-lông-xen. Năm 1956, khi Trường Âm nhạc Việt Nam thành lập, Hoàng Dương rời Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương về giảng dạy bộ môn vi-ô-lông-xen tại trường. Ông là một trong những người sáng lập bộ môn này và giảng dạy cho đến khi về hưu. Vừa tiếp nhận kiến thức từ thầy Nguyễn Đình Phúc, ông còn tiếp nhận thêm từ thầy Phạm Huy Quỹ học vi-ô-lông-xen ở Trường “Pháp quốc Viễn đông nhạc viện” từ năm 1927. Bởi thế Hoàng Dương bên cạnh năng khiếu tiếp nhận còn có năng khiếu giảng dạy, đã trở thành một người thầy mẫu mực đào tạo ra thế hệ nghệ sĩ chơi “cây đàn nói tiếng người” này. Không ai xa lạ, cậu con trai trưởng Ngô Hoàng Quân của ông là một trong những nghệ sĩ vi-ô-lông-xen xuất sắc nhất Việt Nam hiện nay. Nghệ sĩ Trần Thị Mơ – con dâu ông, cũng là một nữ nghệ sĩ hàng đầu về vi-ô-lông-xen. Nghệ sĩ trẻ Ngọc Xuân – người Quảng Bình – học trò ông cũng đã đem tới cho cây đàn này nhiều cách diễn trẻ trung, mới lạ. Chị từng chơi bài Hướng về Hà Nội trong vi-đê-ô âm nhạc nổi tiếng của mình.

Con người sáng tạo âm nhạc luôn thôi thúc khiến Hoàng Dương bung phá mình trong khá nhiều thể loại. Từ những tiểu phẩm nhỏ cho vi-ô-lông-xen như Mơ về trái núi Thiên Thai, Biến tấu trên chủ đề dân ca Thái… đến những tác phẩm thính phòng cho nhiều nhạc khí như Bài ca chung thủy, Hát ru, Sonatine, Bài ca Hạ Long cho vi-ô-lông, flate và pi-a-nô. Ông còn viết cho các nhạc khí khác độc tấu như các bản nhạc: Tây Nguyên tươi đẹp cho ác-coóc-đê-ông, Bài ca không lời cho pi-a-nô và flate. Sáng tác của Hoàng Dương luôn có cấu trúc vững chãi, một lối tư duy nặng sức triết lý. Có những tác phẩm lớn của ông được xây dựng trên nền móng chắc chắn của tiểu phẩm như: Capriccio cho vi-ô-lông-xen, flate và pi-a-nô sau trở thành bản Concerto số 1 viết cho vi-ô-lông-xen và dàn nhạc. Ông còn chú ý khai thác những nhạc khí dân tộc như: Khúc nhạc tâm tình cho thập lục và dàn nhạc dân tộc, Biển cả tình yêu cho hòa tấu dàn nhạc… Âm nhạc cho phim hoạt hình Giai điệu mà Hoàng Dương viết như một tác phẩm khí nhạc độc lập, nhưng lại rất ăn nhập với phim, lôi cuốn bởi giai điệu đẹp đến kỳ lạ. Các ca khúc của Hoàng Dương luôn mang phẩm chất của ca khúc nghệ thuật dành cho giọng hát có phần đệm pi-a-nô. Cũng bởi thế, những ca khúc của ông rất kén người thưởng thức.

Nhạc sĩ Hoàng Dương luôn cập nhật thông tin âm nhạc thế giới, cho nên ông không lạc hậu trước thời cuộc. Mười năm đọc và bàn bạc cùng ông về các bản thảo mà ông gửi in tại Tạp chí Âm nhạc nơi tôi làm việc, lúc nào cũng thấy một Hoàng Dương dễ chịu và lắng nghe với nụ cười mỉm thân thiện. Những bài viết của ông về các nhạc sĩ thuộc trường phái “Tiên phong” đã cho thấy sự thâm hậu trong kiến thức. Chẳng những viết về các nhạc sĩ “Tiên phong” đương đại, ông còn viết về nhạc sĩ “Tiên phong” thời trung cổ như Guy-lôm Đờ Ma-sô qua tài liệu ông đọc trên các báo nước ngoài. Viết về nhà soạn nhạc Mô-da với hai kỳ tạp chí, chỉ có Hoàng Dương mới phát hiện ra cái sâu sắc ở Mô-da qua tên bài viết “Cuộc cách mạng của Mô-da hay là sự đăng quang của cái tôi”.

Ngoài công việc, những người yêu nghệ thuật thường xuyên gặp vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Dương trong các đêm hòa nhạc ở Nhà hát thành phố Hà Nội. Người thiếu nữ năm xưa đã đứng tuổi nhưng vẫn còn giữ nguyên nét đẹp đài các của thiếu nữ Hà Nội mà Tô Ngọc Vân đã đưa vào bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ”. Nhờ bà chăm lo gia đình và nuôi nấng con cái, nhạc sĩ Hoàng Dương mới có thể hết lòng phụng sự âm nhạc đến phút chót cuộc đời.

Mười năm trước, nhạc sĩ Hoàng Dương đã vinh dự được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Ra đi ở tuổi 85, chắc chắn lòng ông thật thanh thản khi đã vắt kiệt mình cho một đam mê từ thuở thiếu thời.

Nguyễn Thụy Kha

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Biểu dương các đơn vị bắt giữ vụ vận chuyển ma túy tại Nam Định

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia) biểu dương các đơn vị chức năng phát hiện, bắt giữ vụ vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh hê-rô-in tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh.

Cụ thể, Phó Thủ tướng biểu dương Công an tỉnh Nam Ðịnh và Cục Hải quan TP Hải Phòng trong việc phát hiện, bắt giữ thành công vụ buôn bán, vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh hê-rô-in tại huyện Nghĩa Hưng. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an, Bộ Tài chính đề xuất hình thức khen thưởng phù hợp cho Công an tỉnh Nam Ðịnh và Cục Hải quan TP Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Bộ Công an tập trung chỉ đạo Công an tỉnh Nam Ðịnh phối hợp các lực lượng chức năng liên quan mở rộng điều tra, triệt phá tận gốc đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy nêu trên.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 11/2/2017:

Vụ buôn máy phát điện bị tuyên án:

Ông Nguyễn Văn Thành vô tội

Nguồn tin của báo Tuổi Trẻ tại TAND cấp cao tại TP.HCM ho hay phiên họp giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán của tòa ngày 10/2 đã chấp nhận kháng nghị của Viện KSND cáp cao tại TP.HCM hủy 2 bản án sơ thẩm (TAND huyện Bình Chánh) và phúc thẩm (TAND TP.HCM), tuyên đình chỉ vụ án đối với ông Nguyễn Văn Thành (63 tuổi, ngụ Q5, TP.HCM).

Trước đó, ông Thành bị bản án trên tuyên 1 năm tù (hưởng án treo) cho tội kinh doanh trái phép đối với việc buôn bán các tổ máy phát điện. Vụ án này do đại tá Nguyễn Văn Quý (nguyên trưởng Công an huyện Bình Chánh, liên quan vụ quán Xin Chào) khởi tố (Tuổi Trẻ đã thông tin).

Sau khi bản án có hiệu lực, ông Thành đã có đơn xin kháng nghị giám đốc thẩm, cho rằng mình không có tội. TP.HCM đã có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng ông Thành không có tội.

Hoàng Điệp-Gia Minh

Tháng Hai 3, 2017

Trên quê hương yêu dấu kỳ (1 tháng 2 năm 2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 24/1/2017:

2 người làm oan ông Chấn lãnh án tù

Sau 5 ngày xét xử và nghị án kéo dài, Sáng ngày 23-1 TAND tỉnh Bắc Giang đã ra phán quyết đối với hai bị cáo Đặng Thế Vinh (nguyên trưởng phòng 10 Viện KSND tỉnh Bắc Giang), Trần Nhật Luật (nguyên phó trưởng Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) trong vụ án “làm sai lệch hồ sơ vụ án” gây oan sai cho ông Nguyễn Thanh Chấn (56 tuổi, ngụ Bắc Giang) – người được trả tự do năm 2013 sau gần 10 năm thụ án tù oan.

HĐXX nhận định ông Luật chịu trách nhiệm chính trong việc điều tra vụ án giết người xảy ra tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang vào tháng 8-2003 nhưng không làm hết chức trách nhiệm vụ được giao.

Ông Vinh được Viện KSND tỉnh Bắc Giang phân công thực hiện việc kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án. Sau khi vụ án kết thúc điều tra, ông Vinh tiến hành phúc cung thì ông Chấn kêu oan, tố cáo bị điều tra viên đánh đập.

Tuy nhiên, khi hoàn tất hồ sơ để chuyển tới TAND xét xử, ông Vinh tự ý rút bỏ hai biên bản hỏi cung với nội dung ông Chấn kêu oan, tố bị bức cung ra khỏi hồ sơ.

HĐXX cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, xét xử khiến ông Chấn bị oan.

Tuy nhiên do các bị cáo không có tư thù, không hưởng lợi nên không có cơ sở quy kết tội cố ý làm sai lệch hồ sơ, cùng quan điểm với đề nghịm của đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa, HĐXX chuyển tội danh cho hai bị cáo sang tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

HĐXX tuyên phạt ông Luật 12 tháng tù, ông Vinh 8 tháng tù.

Thân Hoàng

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Tạm cấp 1.680 tỷ đồng bồi thường sự cố môi trường biển lần 2

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo về việc tạm cấp kinh phí lần 2, với số tiền 1.680 tỷ đồng lấy từ khoản tiền Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh bồi thường người dân bốn tỉnh miền trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển.

Theo đó, tỉnh Hà Tĩnh nhận là 560 tỷ đồng, Quảng Bình 760 tỷ đồng, Quảng Trị 160 tỷ đồng và Thừa Thiên – Huế 200 tỷ đồng. Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương sử dụng số tiền nêu trên để thực hiện thanh toán, chi trả bảo đảm đúng đối tượng, đúng định mức, tránh sai sót không thu hồi được kinh phí.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Bồi thường ông Huỳnh Văn Nén hơn 10 tỷ đồng

Ngày 17-1, tại TP Phan Thiết (Bình Thuận), Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Thuận đã tổ chức họp báo thông tin về việc giải quyết bồi thường đối với ông Huỳnh Văn Nén, người bị tù oan hơn 17 năm.

Quá trình giải quyết bồi thường cho ông Huỳnh Văn Nén của TAND tỉnh Bình Thuận được bắt đầu từ ngày 25-4-2016, khi TAND tỉnh Bình Thuận thụ lý “Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” của ông Huỳnh Văn Nén cho đến ngày 12-1-2017, khi phía người bị thiệt hại chấp nhận đề nghị bồi thường của TAND tỉnh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Xử phạt hơn 21 tỷ đồng với các vi phạm về dược phẩm, thực phẩm

Ngày 17-1, báo cáo tổng kết công tác đấu tranh buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Ban Chỉ đạo 389 Bộ Y tế cho biết, Bộ Y tế vừa phối hợp một số đơn vị thuộc Bộ Công an cùng lực lượng Quản lý thị trường, Công an huyện Gia Lâm (Hà Nội) kiểm tra xe ô-tô đang chở dược liệu, kho hàng của hộ kinh doanh dược liệu đã phát hiện 374 loại dược liệu với tổng trọng lượng 45,9 tấn chưa rõ nguồn gốc xuất xứ.

Trong năm 2016, Ban Chỉ đạo 389 Bộ Y tế đã thanh tra, kiểm tra 137 cơ sở dược phẩm, phát hiện 111 vụ vi phạm, tổng số tiền truy thu là 9,21 tỷ đồng. Trong lĩnh vực thực phẩm, tổng số vụ phát hiện vi phạm là 133 vụ và số tiền truy thu là 12,54 tỷ đồng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết, trong thời gian cao điểm Tết Nguyên đán, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng có chiều hướng gia tăng, nhất là các mặt hàng thực phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng… Chính vì vậy, Bộ Y tế đề nghị các đơn vị đẩy mạnh thanh, kiểm tra tại các địa bàn trọng điểm, khu vực cửa khẩu, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực y tế…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010-2015

Ngày 17-1-2017, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015. Sau khi xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư (số 59-BC/UBKTTW, ngày 5-1-2017), Ban Bí thư đã kết luận như sau:

Trong thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã để xảy ra tình trạng nội bộ mất đoàn kết; thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có khuyết điểm về một số vi phạm trong công tác cán bộ và giải quyết tố cáo; thực hiện không nghiêm Quy chế làm việc của Đảng ủy và Cơ quan…

Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên đã ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo và uy tín của Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước, gây dư luận không tốt trong Cơ quan Đảng ủy Ngoài nước.

Căn cứ Quy định số 263-QĐ/TW, ngày 8-10-2014 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm, Ban Bí thư quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015.

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 18/1/2017:

Thoát án tử hình nhờ áp dụng Bộ luật hình sự mới

Ông Nguyễn Văn Hiến, chánh án TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, cho biết sáng 17/1 cơ quan này nhận được quyết định của TAND tối cao về việc chuyển hình phạt của bị án Lê Thị Hường (42 tuổi, hộ khẩu thường trú xã Xà Bang, H.Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) từ án tử hình xuống còn 20 năm. Tử tù này thoát án tử là nhờ vào việc áp dụng các điều khoản mới của Bộ luật hình sự 2015 và nghị quyết của Quốc hội.

Năm 2014, Lê Thị Hường lần lượt bị tòa án hai cấp tuyên phạt mức án tử hình về tội “giết người”. Đến tháng 7/2014, Lê Thị Hường có đơn xin giảm án tử hình gửi Chủ tịch nước. Trong quá trình chờ thi hành án thì Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực và chiếu theo quy định trong bộ luật mới, Lê Thị Hường được giảm án.

Đông Hà

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 22/2/2017:

Bắt tạm giam Trần Thị Nga về tội tuyên truyền chống Nhà nước

Ngày 21/1, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Hà Nam thực hiện các quyết định khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt tạm giam và khám xét nơi ở đối với Trần Thị Nga (40 tuổi), ngụ P.Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, Hà Nam) về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Bị can Trần Thị Nga bị bắt vì có hành vi đưa một số video, clip, bài viết lên mạng Internet. Khám xét nơi cư ngụ, cơ quan điều tra thu giữ nhiều tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Y án 30 năm tù với bị cáo Phạm Công Danh

Ngày 24-1, sau gần một tháng xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao (TAND) tại TP Hồ Chí Minh đã tuyên án vụ án thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng Việt Nam do Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB), nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh (Tập đoàn Thiên Thanh), cùng các đồng phạm gây ra.

Theo đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã bác đơn kháng cáo kêu oan, xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của 25 bị cáo, tuyên y án sơ thẩm; đồng thời bác toàn bộ kháng cáo của 27 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về phần dân sự, khởi tố vụ án, các biện pháp tư pháp. Hội đồng xét xử nhận định, bị cáo Phạm Công Danh là người có vai trò chính, chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật trong thời gian dài, thủ đoạn tinh vi, thiệt hại là đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, cấp sơ thẩm kết án Phạm Công Danh và đồng phạm phạm tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, “Vi phạm các quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” là có căn cứ, đúng người đúng tội. Hội đồng xét xử tuyên giữ nguyên mức án 30 năm tù giam đối với bị cáo Phạm Công Danh.

Đóng vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo Danh cho nên các bị cáo: Phan Thành Mai (nguyên Tổng giám đốc VNCB) lĩnh 22 năm tù; Hoàng Đình Quyết (nguyên Phó giám đốc VNCB – Chi nhánh Sài Gòn) lĩnh 19 năm tù; Mai Hữu Khương (nguyên Giám đốc VNCB – Chi nhánh Sài Gòn) lĩnh 20 năm tù. Tòa buộc bị cáo Danh có trách nhiệm hoàn lại cho VNCB hơn 63 tỷ đồng là số tiền gây thiệt hại cho VNCB trong hành vi lập khống corebanking. Bị cáo Danh và tập đoàn Thiên Thanh cũng phải liên đới bồi thường cho VNCB hơn 6.000 tỷ đồng cả gốc và lãi từ các hành vi vi phạm rút hoặc vay từ VNCB… Tòa buộc bà Hứa Thị Phấn trả lại 851 tỷ đồng là vật chứng trong hành vi cố ý làm trái quy định, trả cho ngân hàng, nộp lại 97 tỷ đồng là vật chứng. Tòa thu hồi 5.190 tỷ đồng là vật chứng của các bị cáo trong vụ án liên quan đến bà Trần Ngọc Bích và các cá nhân khác vay vào ngày 26-8-2013 của VNCB để trả lại cho ngân hàng. Tòa cũng quyết định khởi tố vụ án cố ý làm trái quy định của Nhà nước liên quan hành vi của Phạm Thị Trang và khởi tố vi phạm quy định cho vay của nhóm HĐ Tín dụng.

Tòa kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án để xem xét trách nhiệm của các đối tượng, gồm: Phạm Thị Trang, Hứa Thị Phấn, Vũ Thị Như Thảo, Trần Trọng Nghĩa; đồng thời xem xét biện pháp tư pháp đối với số tiền chênh lệch Danh đã trả cho ông Thanh, bà Bích.

Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát cấm xuất cảnh với những người đã bị khởi tố và đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự tại tòa phúc thẩm, tòa cho biết việc cấm xuất cảnh là biện pháp hành chính, trong quá trình điều tra vụ án giai đoạn 2, nếu xét thấy cần thiết, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an sẽ có quyết định.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng và bà Hồ Thị Kim Thoa

Thủ tướng Chính phủ vừa ký các quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng và bà Hồ Thị Kim Thoa.

Theo đó, tại Quyết định số 106/QĐ-TTg ngày 24-1, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Công thương nhiệm kỳ 2011 – 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng, do đã có những vi phạm về công tác cán bộ khi giữ chức vụ Bộ trưởng Công thương nhiệm kỳ này và Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thi hành kỷ luật tại Quyết định số 388-QĐNS/TW ngày 3-11-2016.

Tại Quyết định số 107/QĐ-TTg ngày 24-1, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Công thương.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Ủy ban Thường vụ QH ban hành Nghị quyết về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng

Ngày 21-1, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH), Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân đã ký ban hành Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng.

Theo đó, căn cứ Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Luật Tổ chức QH số 57/2014/QH13, Nghị quyết số 33/2016/QH14 ngày 23-11-2016 của QH về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ hai, QH khóa XIV; Văn bản số 2726-CV/VPTW ngày 20-11-2016 của Văn phòng T.Ư Đảng về việc thông báo ý kiến Ban Bí thư; đồng thời trên cơ sở Tờ trình số 27/TTr-CP của Chính phủ ngày 16-1-2017; Báo cáo thẩm tra số 314/BC-UBPL14 ngày 19-1-2017 của Ủy ban Pháp luật của QH và ý kiến của các thành viên Ủy ban Thường vụ QH tại phiên họp thứ 6, Ủy ban Thường vụ QH đã ban hành Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng.

Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 quyết nghị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011- 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng do đã có những vi phạm về công tác cán bộ khi giữ chức vụ Bộ trưởng trong nhiệm kỳ này và Ban Bí thư T.Ư Đảng đã thi hành kỷ luật tại Nghị quyết số 388-QĐNS/TW ngày 3-11-2016.

Nghị quyết giao Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng; giao Chính phủ khẩn trương nghiên cứu, trình QH xem xét, quyết định việc ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy định của luật về cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để xử lý công bằng, nghiêm minh các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả khi đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ra khỏi bộ máy nhà nước.

Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

VNA là nhà vận chuyển khách lớn thứ tư Đông – Nam Á

Ngày 24-1, đại diện Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) cho biết, theo thống kê từ Trung tâm hàng không châu Á – Thái Bình Dương (CAPA), năm 2016, VNA trở thành nhà vận chuyển hành khách lớn thứ tư khu vực Đông – Nam Á, lưu lượng vận chuyển năm 2016 đạt hơn 20 triệu lượt khách, sau các hãng Air Asia, Lion Air và Garuda Indonesia. Đồng thời, hãng cũng vượt qua Singapore Airline và Thai Airways để trở thành hãng hàng không truyền thống lớn thứ hai khu vực Đông – Nam Á, sau Garuda Indonesia về lưu lượng vận chuyển với 20,6 triệu lượt khách năm 2016, tăng 19% so cùng kỳ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 21/1/2017:

100% số hộ dân ở TP Hồ Chí Minh được cấp nước sạch

Ngày 20/1, UBND thành phố Hồ Chí Minh công bố việc hoàn thành cấp nước sạch cho 100% số hộ dân trên địa bàn thành phố. Trong hai năm qua, thành phố có thêm 390 nghìn hộ dân được cấp nước sạch, nâng tổng số hộ được cấp nước sạch trên địa bàn TP Hồ Chí Minh  lên 1,9 triệu hộ, đạt chỉ tiêu 100%. TP Hồ Chí Minh sẽ mở rộng hệ thống cấp nước, phấn đấu đến năm 2019 đầu tư thêm hơn 1.000 km đường ống cấp nước, hoàn thành hai nhà máy nước Kênh Đông và Thủ Đức 4 trong năm 2008

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 16/1/2017:

Triểu khai liệu pháp tế bào trong điều trị bệnh ung thư

Nhóm các nhà khoa học thuộc Trường đại học Y Hà Nội đang tiếp nhận và triển khai ứng dụng liệu pháp tế bào miễn dịch trong điều trị bệnh ung thư từ các chuyên gia Nhật Bản. Với liệu pháp này, bệnh nhân sẽ được lấy khoảng 10 – 30 ml máu ngoại vi để phân lập các tế bào miễn dịch, nuôi cấy và hoạt hóa các chức năng chuyên biệt của các tế bào này trong môi trường đặc biệt. Sau khi đủ số lượng và có được các chức năng mong muốn (chức năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư) tế bào miễn dịch sẽ được truyền trở lại cơ thể người bệnh, tạo ra hàng rào tế bào miễn dịch đủ mạnh chống lại các tế bào ung thư.

Hiện nhóm nghiên cứu của Trường đại học Y Hà Nôi đã thực hiện tách chiết, nuôi cấy và hoạt hóa tế bào miễn dịch của một số người bệnh ung thư, cho kết quả khá tốt. Đây là giai đoạn khởi đầu quan trọng cho việc ứng dụng liệu pháp này trong điều trị ung thư thời gian tới.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Cứu sống mẹ con sản phụ mắc hội chứng hiếm gặp

Các bác sĩ Bệnh viện E vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật hy hữu, cứu sống mẹ, con sản phụ mắc hội chứng Marfan có biến chứng hở van tim động mạch chủ nặng, phồng động mạch chủ ngực, suy tim. Đây là bệnh lý có tính di truyền, bất thường về gien dẫn tới rối loạn cấu trúc tổ chức liên kết gây bệnh ở nhiều cơ quan, như mắt và hệ tim mạch…

Khi thai nhi sang tuần 16, các bác sĩ phải phẫu thuật để thay van tim và thay đoạn động mạch chủ cho sản phụ. Đến giai đoạn thai kỳ ở tuần 37, khi sản phụ xuất hiện trở lại hiện tượng mệt mỏi, khó thở, các bác sĩ chuyên ngành sản khoa, tim mạch, gây mê… đã hội chẩn và quyết định mổ và đã cứu được cả mẹ và con.

GS, TS Lê Ngọc Thành, Giám đốc Bệnh viện E cho biết, gia đình lựa chọn nơi sinh con phải “hội tụ” đủ hai yếu tố sản và tim trong cùng một bệnh viện là “bí quyết” cứu sống bé thành công. Đây là một bước tiến của ngành y tế Việt Nam.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Chuỗi ngày hội Chủ nhật đỏ 2017 tiếp nhận 31.880 đơn vị máu

Chuỗi ngày hội vừa kết thúc đã xác lập kỷ lục mới về số máu tiếp nhận được với 31.880 đơn vị máu. Con số trên vượt ngoài sức tưởng tượng của những người tham gia tổ chức Chủ nhật đỏ. Bởi lẽ, khi chuẩn bị cho mùa hiến máu tình nguyện lần thứ IX này, Ban Tổ chức đưa ra chỉ tiêu tiếp nhận 25.000 đơn vị máu.

Thông điệp “Hiến máu cứu người – Sinh mệnh bạn và tôi” xuyên suốt trong các mùa Chủ nhật đỏ, trở thành lời kêu gọi biết sống vì nhau bởi mỗi giọt máu cho đi là một cuộc đời ở lại. Với số lượng máu kỷ lục mà Chủ nhật đỏ mang lại sẽ giúp cho khoảng 50.000 bệnh nhân đang chờ máu trên cả nước có cơ hội được sum họp ăn Tết cổ truyền sắp tới cùng người thân và gia đình.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Thăm hỏi, giúp đã 79 hộ dân bị cháy nhà tại Nha Trang

Chiều 19-1, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đã đến thăm hỏi, động viên, tặng quà 79 hộ dân đang ở tạm tại Khu ký túc xá Trường cao đẳng Y tế Khánh Hòa, sau vụ cháy xảy ra đêm 17-1 ở cồn Nhất Trí, phường Vĩnh Phước, TP Nha Trang (Khánh Hòa). Phó Thủ tướng đã trao 79 suất quà của Chính phủ tặng các hộ bị mất nhà cửa, mỗi suất trị giá 2 triệu đồng.

Nói chuyện với người dân, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho rằng, vụ cháy là sự cố đáng tiếc, gây thiệt hại lớn về tài sản, rất may mắn là người dân đều an toàn tính mạng. Đây là bài học lớn, người dân phải hết sức cẩn thận trong công tác phòng cháy, chữa cháy. Phó Thủ tướng nêu rõ, trước mắt chính quyền địa phương cần tạo điều kiện để bảo đảm cho các hộ dân bị thiệt hại đón Tết đầm ấm, không bị thiếu đói trên tinh thần an toàn, tiết kiệm.

Trước đó, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa, Phó Thủ tướng đã nghe báo cáo về vụ cháy và công tác khắc phục hậu quả. Sau sự cố, ngoài việc bố trí nơi ở tạm cho 79 hộ gồm hơn 400 người, tỉnh hỗ trợ mỗi hộ bị thiệt hại về nhà 20 triệu đồng, 15 kg gạo, hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ cho các gia đình để chi tiêu dịp Tết Nguyên đán,… Phó Thủ tướng yêu cầu lãnh đạo tỉnh ngay sau Tết, triển khai xây dựng khu tái định cư, giúp người dân ổn định nơi ở lâu dài; rà soát lại các khu dân cư tương tự cồn Nhất Trí, đánh giá công tác quy hoạch, phòng cháy, chữa cháy, không để xảy ra những vụ việc tương tự.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Tiếp viên tàu SE1 trả lại khách gần 100 triệu đồng để quên

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) cho biết, sáng sớm 24-1, sau khi tiễn khách xuống ga Đồng Hới, trong lúc dọn dẹp, vệ sinh toa xe, tiếp viên phụ trách toa 9 tàu SE1 Nguyễn Thị Thanh (Đoàn tiếp viên đường sắt Phương Nam) phát hiện một túi xách mầu đen do hành khách để quên. Trước sự chứng kiến của hành khách trên tàu, tổ tàu đã mở túi xách, bên trong túi có hơn 79 triệu đồng và 780 ơ-rô, tổng trị giá gần 100 triệu đồng; một hộ chiếu mang tên Đỗ Hải Đăng. Tổ tàu đã liên lạc được với anh Đăng, bàn giao tài sản cho ga Huế để chuyển lại cho hành khách. Các nhân viên ga Huế đã trao tận tay anh Đăng lúc 15 giờ ngày 24-1. Hành động đẹp của tiếp viên Nguyễn Thị Thanh đã được Bộ trưởng Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa gửi thư khen.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị WEF

Chiều 20-1, trong khuôn khổ Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tại TP Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự hai phiên họp về “Phương cách ASEAN trong thế giới phân mảng” và “Bản sắc ngành chế tạo ASEAN”; tiếp Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) A.Gu-ri-a và Chủ tịch Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) H.I-si-ghe.nguyen-xuan-phuc-tham-du-hoi-nghi-wef

Tại các phiên họp về ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu bật các thành tựu phát triển của ASEAN, đánh giá cao nguyên tắc đồng thuận và “Phương cách ASEAN” tạo nên bản sắc của ASEAN; cho rằng ASEAN cần thực hiện hiệu quả lộ trình Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tranh thủ tốt các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác, nhằm thu hút đầu tư, thương mại vào khu vực; khẳng định Việt Nam đóng góp quan trọng, có trách nhiệm củng cố sự đoàn kết và đồng thuận ASEAN, nỗ lực cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh.

* Tại buổi tiếp Tổng Thư ký OECD A.Gu-ri-a, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và OECD; mong muốn hai bên tiếp tục phát huy hợp tác đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu, công nghiệp công nghệ cao, đầu tư, tài chính… Thủ tướng đề nghị OECD phối hợp và hỗ trợ Việt Nam tổ chức Năm APEC 2017; chia sẻ thông tin, quan điểm về các vấn đề kinh tế toàn cầu cùng quan tâm tại các hội nghị, diễn đàn quốc tế. Thủ tướng mời Tổng Thư ký OECD tham dự Tuần lễ cấp cao APEC tại Việt Nam vào cuối năm 2017. Tổng Thư ký A.Gu-ri-a khẳng định, OECD sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực mà phía Việt Nam đề nghị, cũng như tham gia các hoạt động của năm APEC Việt Nam 2017.

* Tại buổi tiếp Chủ tịch JETRO H.I-si-ghe, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những đóng góp của JETRO trong việc thúc đẩy đầu tư, thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng, chế tạo, công nghệ thông tin…; mong muốn JETRO phát huy hơn nữa vai trò cầu nối hiệu quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản; đồng thời mời Chủ tịch H.I-si-ghe tham dự Hội nghị cấp cao doanh nghiệp APEC tại Việt Nam vào cuối năm nay. Chủ tịch JETRO H.I-si-ghe chia sẻ mong muốn đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế – thương mại giữa hai nước và khẳng định, trên thực tế, JETRO đang tiến hành nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ các công ty Nhật Bản đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm và làm việc với Tập đoàn Holcim, một trong những tập đoàn hàng đầu Thụy Sĩ về vật liệu xây dựng.

* Tối 20-1 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Du-rích, kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị WEF từ ngày 18 đến 20-1 tại Thụy Sĩ theo lời mời của Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê chủ trì Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản

Sáng 17-1, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đã chủ trì Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản.

Phát biểu ý kiến tại buổi tọa đàm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Nhật Bản là quốc gia tài trợ ODA hàng đầu giúp Việt Nam, đồng thời là quốc gia đầu tư nước ngoài đứng thứ hai, có lượng khách du lịch xếp thứ ba và là đối tác thương mại thứ tư của Việt Nam. Năm 2016, Việt Nam thu hút thêm hai tỷ USD từ hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, đưa tổng giá trị đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam đạt 42 tỷ USD.

Thủ tướng đánh giá cao vai trò quan trọng của doanh nghiệp hai nước; cho rằng đây là những bông hoa đẹp đóng góp quý báu vào việc vun đắp quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản phát triển bền vững. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, năm 2017, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu vào tốp đầu các quốc gia ASEAN về môi trường đầu tư, và mong muốn Nhật Bản sẽ trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê cho biết, trong chuyến thăm lần này, đại diện Chính phủ và doanh nghiệp hai nước đã có các cuộc thảo luận năng động và hiệu quả. Theo Thủ tướng A-bê, hiện ASEAN là trung tâm tăng trưởng của thế giới, và Việt Nam nằm ở trung tâm đó. Hiện có hơn 1.600 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam. Thủ tướng A-bê đánh giá cao các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào tiến trình phát triển của Việt Nam thông qua các hoạt động đầu tư, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ. Thủ tướng A-bê khẳng định, Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam.

nguyen-xuan-phuc-nhat-ban* Trong khuôn khổ chuyến thăm, tại Hà Nội, sáng 17-1, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đã tiếp đồng chí Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đánh giá cao quan hệ hợp tác giữa Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, đạt những kết quả thực chất, góp phần tăng cường hợp tác và phát triển quan hệ giữa hai nước Nhật Bản – Việt Nam

Ðồng chí Phạm Minh Chính vui mừng nhận thấy, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thực chất với sự tin cậy cao về chính trị. Ðánh giá cao hoạt động của Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt cũng như vai trò quan trọng của Ngài Chủ tịch T.Ni-cai, đồng chí Phạm Minh Chính mong muốn Thủ tướng S.A-bê tiếp tục ủng hộ và hỗ trợ để Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước phối hợp chặt chẽ, hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản.

* Sáng cùng ngày, tại Hà Nội, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê có cuộc gặp Giám đốc Ðại học Quốc gia Hà Nội và một số cán bộ, sinh viên của Trường đại học Việt – Nhật. Giám đốc Ðại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Kim Sơn bày tỏ mong muốn Thủ tướng S.A-bê tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Trường đại học Việt – Nhật. Thủ tướng S.A-bê nhấn mạnh, Trường đại học Việt – Nhật là nơi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho cả hai nước; mong muốn các sinh viên trong nhà trường học tập chăm chỉ, đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam, cũng như sự phát triển trong quan hệ hợp tác hai nước.

* Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam: Chiều 17-1, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê và Phu nhân đã rời Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam trong hai ngày 16 và 17-1, theo lời mời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Viện Nghiên cứu Ma-lích

Chiều 17-1 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến sân bay quốc tế Du-rích, Thụy Sĩ, bắt đầu chương trình dự Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) từ ngày 17 đến 21-1 theo lời mời của Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp. Đón Thủ tướng và Đoàn, có Đại sứ Việt Nam tại Thụy Sĩ Phạm Hải Bằng; Đại sứ, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Giơ-ne-vơ Dương Chí Dũng cùng cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sĩ, Phái đoàn Việt Nam tại Giơ-ne-vơ.

nguyen-xuan-phuc-va-gs-ma-lich* Chiều 18-1 (giờ Việt Nam), tại Du-rích, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Viện Nghiên cứu Ma-lích P.Ma-lích. Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh Viện Nghiên cứu Ma-lích tích cực triển khai hợp tác với các cơ quan và địa phương của Việt Nam; nhấn mạnh, Việt Nam đang tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế, xây dựng bộ máy hành chính thống nhất, đồng bộ và hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Thủ tướng đề nghị, Chủ tịch P.Ma-lích và Viện Nghiên cứu tiếp tục triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác với Việt Nam, quan tâm chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ các bộ, ngành và địa phương của Việt Nam.

Chủ tịch P.Ma-lích thông báo với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc các hoạt động hợp tác tại Việt Nam, trong đó có việc triển khai hợp tác với Học viện Hành chính quốc gia và phối hợp với UBND thành phố Hải Phòng về ứng dụng mô hình quản trị hệ thống vào phát triển bền vững đô thị; mong muốn thúc đẩy triển khai các chương trình, dự án hợp tác với các bộ, ngành và viện nghiên cứu của Việt Nam.

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới tham quan Nhà máy sản xuất sô-cô-la Lindt nổi tiếng của Thụy Sĩ tại TP Du-rích.

  • Trang 21 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Chủ tích WEF C.Sơ-oáp

Chiều 18-1 (giờ địa phương), Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã tham dự các hoạt động tại Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ở TP Đa-vốt, Thụy Sĩ.

Tại cuộc gặp làm việc với Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị WEF duy trì tổ chức Hội nghị WEF Mê Công; hỗ trợ Việt Nam kết nối với các tập đoàn và chuyên gia hàng đầu của WEF, tư vấn chính sách trong lĩnh vực năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển nông nghiệp công nghệ cao… Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam; mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, nhất là theo mô hình đối tác công-tư (PPP).

nguyen-xuan-phuc-va-wefSau buổi gặp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp dự lễ ký Thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và WEF về phát triển nền kinh tế Việt Nam tự cường trước tương lai. Theo thỏa thuận, WEF sẽ hỗ trợ Việt Nam kết nối với mạng lưới các doanh nghiệp và chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của WEF; phối hợp với Việt Nam nghiên cứu và tư vấn chính sách trong những lĩnh vực Việt Nam quan tâm…

★ Tại cuộc hội kiến với Thủ tướng Áo C.Cơn bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Áo công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, thúc đẩy Liên hiệp châu Âu (EU) sớm ký chính thức và phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), ủng hộ Việt Nam ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020-2021. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Áo C.Cơn đánh giá, quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp; nhất trí triển khai các hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong năm 2017, sớm họp Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế và thương mại.

★ Tại cuộc gặp Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) T.Na-ca-ô bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch T.Na-ca-ô nhất trí thúc đẩy triển khai các dự án cơ sở hạ tầng, chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế, giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2020, phối hợp chuẩn bị tốt cho Hội nghị cấp cao Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) lần thứ sáu tại Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị ADB tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi thương mại, đầu tư trong hợp tác tiểu vùng Mê Công.

★ Tại cuộc gặp Chủ tịch Tập đoàn Microsoft B.Xmít, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Tập đoàn Microsoft tiếp tục đầu tư vào Việt Nam gắn với chuyển giao công nghệ cao. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mời Chủ tịch Tập đoàn Microsoft tham dự Hội nghị cấp cao doanh nghiệp APEC vào tháng 11-2017 tại TP Đà Nẵng. Chủ tịch Tập đoàn Microsoft B.Xmít khẳng định mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh mạng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp phần mềm.

★ Tối 18-1, tại buổi đối thoại với các tập đoàn thành viên WEF trong lĩnh vực tài chính với sự tham dự của Giám đốc điều hành WEF P.Râu-xlơ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu bật các thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và nỗ lực cải cách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong năm vừa qua; khẳng định quyết tâm của Chính phủ về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh hơn nữa cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh; phấn đấu năm 2017 đạt các chỉ tiêu chủ yếu về môi trường kinh doanh bằng mức trung bình của bốn nước hàng đầu ASEAN (ASEAN-4).

★ Tại Trung tâm hội nghị của WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp với phóng viên của các cơ quan thông tấn, báo chí quốc tế đang có mặt tại Đa-vốt, Thụy Sĩ để thông tin về các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị thường niên WEF 2017.

Phát biểu ý kiến với phóng viên các hãng, cơ quan thông tấn báo chí quốc tế về những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế, thương mại, đầu tư ở Việt Nam thời gian qua, cũng như quyết tâm của Chính phủ Việt Nam xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển và phục vụ người dân, phục vụ doanh nghiệp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh vai trò quan trọng của giới truyền thông trong việc chuyển tải kịp thời, chính xác tình hình Việt Nam tới đông đảo cộng đồng quốc tế; khẳng định, Việt Nam luôn chào đón các cơ quan truyền thông, báo chí quốc tế vào Việt Nam để chứng kiến và phản ánh từng bước tiến trên chặng đường phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam.

★ Trong khuôn khổ Hội nghị WEF lần thứ 47 tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, ngày 19-1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự phiên thảo luận “Tương lai nền sản xuất dưới góc độ chiến lược khu vực”.

Phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, một trong những định hướng của Việt Nam là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đổi mới, sáng tạo, trong đó tập trung phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, bắt kịp làn sóng cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 có hơn một triệu doanh nghiệp, hỗ trợ khoảng 600 doanh nghiệp với 2.000 dự án trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo để thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, năm 2017, Việt Nam đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Các hoạt động và hội nghị của Năm APEC 2017 sẽ tập trung thảo luận việc thúc đẩy liên kết kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh trong kỷ nguyên số.

★ Ngày 19-1, bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có buổi đối thoại cởi mở và thẳng thắn với lãnh đạo nhiều doanh nghiệp lớn của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và một số lĩnh vực liên quan. Đây cũng là những doanh nghiệp thành viên của WEF.

Phát biểu ý kiến tại buổi đối thoại, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi diện mạo thế giới cũng như phương thức sống và làm việc của con người. Tại Việt Nam, lĩnh vực công nghệ thông tin đang phát triển bùng nổ và Việt Nam đang từng bước “thông minh hóa” nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, y tế, giáo dục… Trong 10 năm qua, Việt Nam là một trong những thị trường công nghệ thông tin, viễn thông tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.

Ngay sau phần phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giải đáp nhiều câu hỏi mà các lãnh đạo tập đoàn công nghệ thông tin đặt ra.

★ Ngày 19-1, trong khuôn khổ các hoạt động tại Hội nghị thường niên WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Gim Châng Kim.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao vai trò và đóng góp quan trọng của WB trong phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; cảm ơn WB tích cực ủng hộ Việt Nam hưởng cơ chế chuyển tiếp tốt nghiệp vốn vay ưu đãi phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Chủ tịch WB Gim Châng Kim bày tỏ ấn tượng với sự phát triển của Việt Nam trong những năm qua; khẳng định, WB tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển trong thời gian tới.

★ Cùng ngày, bên lề Hội nghị thường niên WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) R.A-dê-vê-đô.

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam coi trọng vai trò của hệ thống thương mại đa phương với nòng cốt là WTO; thông báo, Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định về các khía cạnh liên quan thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Thủ tướng đề nghị WTO hỗ trợ Việt Nam đào tạo, nâng cao năng lực trong triển khai các hiệp định của WTO, đàm phán thương mại, xử lý tranh chấp.

★ Cùng ngày, tại buổi tiếp Chủ tịch Tập đoàn Alibaba (Trung Quốc) G.Ma bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc những năm gần đây tiếp tục phát triển tích cực; khẳng định, Chính phủ hai nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác kinh doanh, đầu tư trong những lĩnh vực hai nước cùng có lợi. Thủ tướng đánh giá cao Tập đoàn Alibaba và cá nhân Chủ tịch G.Ma là tấm gương sáng về khởi nghiệp cho các doanh nghiệp; đề nghị Chủ tịch G.Ma tìm hiểu cơ hội hợp tác đầu tư, chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp với các doanh nghiệp Việt Nam. Chủ tịch G.Ma đánh giá, Việt Nam là thị trường nhiều tiềm năng với dân số trẻ; đồng thời cho biết, Tập đoàn Alibaba đang xây dựng kế hoạch hợp tác với Việt Nam, trong đó có lĩnh vực công nghệ số.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/1/2017:

Hơn mười nghìn lượt người dâng hương Đền Hùng ngày đầu năm

Trong hai ngày 28, 29-1 (tức mồng 1, mồng 2 Tết Đinh Dậu 2017), Ban quản lý Khu Di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng (Phú Thọ) cho biết, đã có khoảng hơn mười nghìn lượt người đến dâng hương, tri ân công đức tổ tiên. Theo nhận định chung, năm nay, tình hình an ninh trật tự ổn định, ý thức người đi lễ tốt hơn, không có hiện tượng chen lấn, xô đẩy và việc giữ gìn vệ sinh chung được cải thiện.

Để tạo điều kiện cho nhân dân đi lễ được thuận lợi, Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng đã bố trí cán bộ, nhân viên làm việc bình thường. Đền Hùng nằm trên ngọn núi Hùng hay còn gọi là núi Nghĩa Lĩnh, thuộc xã Hy Cương, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền Hùng được xem là chốn linh thiêng bậc nhất của cả nước, thu hút đông đảo người dân từ khắp mọi miền và người Việt ở nước ngoài về đi lễ cầu phúc và thưởng ngoạn cảnh đẹp.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 31/1/2017:

Cảnh sát giao thông giúp nhiều người kịp về nhà đón Tết

Vào 20 giờ 40 phút ngày 27-1 (tức 30 Tết), khi đang triển khai nhiệm vụ bảo vệ giao thừa, Thượng tá Nguyễn Đức Chung, Đội Cảnh sát giao thông (CSGT) số 5 (Phòng CSGT Hà Nội) bắt gặp anh Phạm Văn Vụ (SN 1976, ở Đồng Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương) bị trộm mất hết tiền và toàn bộ giấy tờ tùy thân, không thể về quê đón Tết. Đội CSGT số 5 đã dùng xe chở anh Vụ về quê nhà, kịp đón giao thừa cùng gia đình.

* Cùng ngày, chị Nguyễn Thị Kim Anh (SN 1977, quê ở Bình Lục, Hà Nam) là lao động làm thuê ở Hà Nội, do hoàn cảnh công việc nên tối 30 Tết, chị Kim Anh mới ra bến xe phía nam bắt xe về quê. Do hết xe khách, không có đủ tiền đi ta-xi, chị đã vào chốt CSGT ở ngã 3 Pháp Vân – Giải Phóng xin giúp đỡ. Khi nghe Tổ công tác báo cáo, Trung tá Lê Văn Tiến, Đội trưởng Đội CSGT số 14 đã giao nhiệm vụ cho Thượng úy Hoàng Minh Trường, cán bộ của đội dùng xe cá nhân đưa chị Kim Anh về quê ăn Tết.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/1/2017:

Khai mạc Đường hoa “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”

Tối 25-1 (28 tháng Chạp), UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ khai mạc Đường hoa Tết Đinh Dậu 2017 với chủ đề “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”. Tới dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội; Trương Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa; Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh; Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong.

Trước khi cắt băng khánh thành Đường hoa, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu cùng dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tượng đài Người.

Đường hoa dài khoảng 720 m, được chia làm ba phân đoạn chính: “Mùa xuân trên thành phố mang tên Bác”, “Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình” và “Khát vọng ngời sáng”, do Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) thực hiện. Điểm nhấn của chủ đề “Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình” là những mô hình kiến trúc tiêu biểu mang tính lịch sử như Bến Nhà Rồng, tòa nhà UBND thành phố, chợ Bến Thành, cầu Phú Mỹ…; thể hiện hình ảnh một thành phố có bề dày lịch sử, trong xu thế hiện đại và phát triển.

Trước đó, chiều cùng ngày, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã khai mạc Lễ hội Đường sách Tết Đinh Dậu năm 2017 tại trục đường Mạc Thị Bưởi – Ngô Đức Kế – Nguyễn Huệ, với chủ đề “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”. Đồng chí Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy dự.

Lễ hội Đường sách diễn ra từ ngày 25-1 (28 tháng Chạp) đến ngày 31-1 (mồng 4 Tết); được chia làm ba chủ đề: “Tự hào thành phố mang tên Bác”; “Thành phố Hồ Chí Minh – Thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình” và “Khát vọng tỏa sáng”.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Khai mạc chương trình Tết Việt tại khu phố cổ Hà Nội

Ngày 19-1, Ban Quản lý Phố cổ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã khai mạc chương trình Tết Việt với nhiều hoạt động hướng về cội nguồn nhân dịp Xuân Đinh Dậu 2017. Tại đình Kim Ngân, khách tham quan được xem các nghệ nhân trình diễn cách làm các dòng tranh dân gian : Hàng Trống, Kim Hoàng và Đông Hồ. Tại Ngôi nhà Di sản số 87 phố Mã Mây, Ban Quản lý Phố cổ tái hiện không gian đón Tết của gia đình Hà Nội xưa.

Trung tâm Giao lưu văn hóa Phố cổ số 50 phố Đào Duy Từ sẽ được sắp đặt trở thành một không gian đón Tết xưa trong ngôi nhà truyền thống đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, còn có các hoạt động trình diễn thư pháp, vẽ tranh Tết dân gian, trình diễn âm nhạc truyền thống… để phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán 2017.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 16/1/2017:

Tưng bừng đại nhạc hội Đại hỷ xuân 2017

Tối 15-1 tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội), Tập đoàn Vingroup tổ chức đại nhạc hội Đại hỷ xuân 2017.

Chương trình sôi động này đã thu hút sự tham dự của hơn 30.000 chủ thẻ VINID là khách hàng thân thiết của Vingroup.

Đêm đại nhạc hội do đạo diễn Việt Tú làm tổng đạo diễn dàn dựng, với chất lượng âm thanh và ánh sáng tiêu chuẩn quốc tế.

Ban tổ chức cho biết Đại hỷ xuân 2017 thiết lập nhiều kỷ lục Việt Nam như sân khấu biểu diễn ngoài trời dành cho chương trình ca nhạc có chiều ngang hơn 100m, được đầu tư hàng trăm tấn thiết bị, màn hình led lên hơn 1.000m2

Sân khấu Đại hỷ xuân 2017 cũng được xây dựng hoành tráng theo tiêu chuẩn cao nhất của các đại nhạc hội thế giới, có không gian đủ lớn trình diễn 50 xe Camry đời mới.

Đêm đại nhạc hội do nghệ sĩ Xuân Bắc dẫn chương trình, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng tham gia biểu diễn như Hồ Ngọc Hà, Lệ Quyên, Thu Minh, Noo Phước Thịnh, Sơn Tùng MTP, Đông Nhi, Hoàng Thùy Linh, Phương Vy, thần đồng trống Trọng Nhân, rapper Suboi, “GS Cù Trọng Xoay”…

Chương trình cũng trao các giải thưởng trị giá 100 tỉ đồng cho hơn 21.000 người may mắn bao gồm 50 xe Camry, 1.000 iPhone 7…

V.V.Tuân

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 19/1/2017:

Triễn lãm – hội chợ “Tết Việt 2017”

Từ ngày 18 đến 24/1, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp đơn vị liên quan tổ chức triển lãm – hội chợ “Tết Việt 2017” tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư, Hà Nội) mừng Xuân Đinh Dậu 2017. Triển lãm – hội chợ có nhiều hoạt động phong phú như: “Tết Việt với sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống”; “Tranh Tết Đinh Dậu 2017”; góc “Thư pháp ngày xuân”; sắp đặt hoa xuân theo chủ đề “Đại cát”; Ngày hội văn hóa vùng Kinh Bắc, trình diễn nghệ thuật chèo truyền thống…; giao lưu văn hóa nghệ thuật với nhiều tiết mục đặc sắc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Đặt tên đường Nguyễn Cơ Thạch tại TP Hồ Chí Minh

Sáng 21-1, UBND quận 2, TP Hồ Chí Minh tổ chức Lễ đặt tên con đường mang tên đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao; Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh đến dự.

Đường Nguyễn Cơ Thạch nằm trên trục đường bắc – nam của khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2, TP Hồ Chí Minh. Con đường Nguyễn Cơ Thạch là trục chính, xuyên tâm, là công trình trọng điểm của khu đô thị mới Thủ Thiêm, có tổng chiều dài hơn 2,5 km, lộ giới gần 45 m, với điểm đầu là cầu Thủ Thiêm 1 và điểm cuối là cầu Thủ Thiêm 4. Đây sẽ là tuyến đường góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của toàn khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Phát biểu ý kiến tại lễ đặt tên đường, đồng chí Phạm Bình Minh khẳng định việc đặt tên con đường mang tên đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là sự ghi nhận, tri ân đối với những đóng góp của đồng chí Nguyễn Cơ Thạch cho sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, là niềm tự hào to lớn đối với gia đình đồng chí Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao.

Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch tên thật là Phạm Văn Cương (sinh ngày 15-5-1921, mất ngày 10-4-1998), quê ở xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đồng chí từng giữ cương vị, trọng trách, như Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao, đại biểu Quốc hội khóa VII (1981 – 1987), khóa VIII (1987 – 1992). Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là nhà lãnh đạo xuất sắc trên mặt trận ngoại giao, là người chiến sĩ cách mạng kiên trung suốt đời phấn đấu vì độc lập tự do cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân và lý tưởng cộng sản.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Xuân Quê hương – xuân hòa hợp dân tộc!

Những năm gần đây, vào dịp cuối năm, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức Chương trình Xuân Quê hương để những người con xa xứ có cơ hội gặp mặt, đoàn tụ. Nhưng một số người lại không muốn những việc như vậy được tổ chức, vì qua những gì đã công bố, có thể thấy họ không bao giờ hướng tới hòa hợp dân tộc một cách lương thiện, phù hợp theo truyền thống dân tộc…

Ra đi trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chắc chắn trong lòng mỗi người Việt Nam xa xứ đều mang nỗi nhớ tổ tiên, nỗi nhớ cội nguồn. Có lẽ vì vậy mà nhiều năm nay, gần tới Tết Nguyên đán, các sân bay quốc tế của Việt Nam lại nhộn nhịp cảnh tay bắt mặt mừng giữa người trở về với người thân đi đón. Và khi Chương trình Xuân Quê hương phát sóng trên truyền hình thì Tết quê nhà, niềm vui đoàn tụ, tinh thần hòa hợp dân tộc lại dâng tràn trong tâm hồn mọi người Việt Nam xa xứ. Tuy nhiên, lại có một số người vì lòng thù hận mà không muốn chia sẻ với niềm vui ấy, cho nên cứ vào dịp cuối năm trên một số trang mạng xã hội lại xuất hiện bài viết của họ với thái độ hằn học. Điển hình gần đây là bài viết của Le Nguyen. Với sự cay cú, thủ đoạn đổi trắng thay đen, Le Nguyen viết bừa rằng hòa hợp là “thủ đoạn chính trị, là chiêu trò gian manh”, rồi thóa mạ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài…!

Hãy khoan bàn đến những nội dung khác của bài viết này, chỉ riêng việc muốn hòa hợp và hòa giải mà lại đòi đánh đổ Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng đã được Hiến định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì thử hỏi những người này hòa hợp với ai, hòa giải với ai? Trong bài viết này, Le Nguyen còn dẫn phát biểu của ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống chế độ Sài Gòn, để thóa mạ ông và những người Việt Nam ở nước ngoài đang nỗ lực cùng Đảng và Nhà nước Việt Nam đẩy nhanh hòa hợp, chỉ vì ông Nguyễn Cao Kỳ đã phát biểu mong muốn mọi công dân Việt Nam trên toàn thế giới đoàn kết nhau lại, hợp sức xây dựng đất nước.

Là một dân tộc đã trải qua quá nhiều đau thương, mất mát trong các cuộc chiến tranh, thế nhưng bản chất hòa hiếu đã ăn sâu vào tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử, sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, các triều đại phong kiến trước đây không những ban hành các chính sách để ổn định, cấu kết lòng dân, hòa hợp dân tộc mà còn thể hiện bao dung, hòa hiếu với cả kẻ thù. Hơn bảy thế kỷ trước, sau khi lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan cuộc xâm lăng lần thứ ba (năm 1288) của nhà Nguyên, bắt được hòm tờ biểu của một số người Việt gửi cho quân Nguyên để xin được làm quan (như ngày nay thường gọi đó là Việt gian phản quốc), nhưng Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Vua Trần Nhân Tông đã có hành động “vô tiền, khoáng hậu” là ra lệnh đốt hết các bức thư ấy và không truy cứu một ai. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng “Thượng hoàng sai đốt đi để yên lòng những kẻ phản trắc” (Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Thời Đại, TP HCM năm 2013, tr.318). Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ 15, Lê Lợi luôn chăm chút, chú ý tới tình đoàn kết quân dân. Ông tạo điều kiện để: “những người lầm đường theo giặc, nếu hối cải trở về với Tổ quốc thì tha thứ cho đái tội lập công” (Đào Duy Anh – Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB Văn hóa Thông tin, H.2002, tr.318). Sau khi đánh tan quân xâm lược, phẫn nộ trước những tội ác dã man mà quân xâm lược gây ra, nhiều người khuyên nhà vua hãy giết hết số quân Minh đã đầu hàng, Vua Lê Thái Tổ đã dụ những lời vô cùng nhân đức: “Việc phục thù trả oán là thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người là bản tính của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới muôn đời, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử xanh, tiếng thơm sẽ truyền mãi tới ngàn thu, há chẳng lớn ư!” (Lê Quý Đôn – Đại Việt Thông sử, NXB Khoa học xã hội, H.1978, tr.70). Tương tự, sau khi chiến thắng quân Thanh, Vua Quang Trung không những chiêu nạp và nuôi dưỡng tất cả tù binh, tàn binh quân Thanh, mà còn sai thu nhặt xác quân giặc trên các chiến trường chôn cất và lập đàn cúng tế,…

Trong hơn nửa thế kỷ của thời đại mới đấu tranh vì độc lập, chủ quyền dân tộc, và xây dựng, phát triển đất nước, hòa hợp dân tộc luôn là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mấy chục năm trước “Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền” (Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu) không chỉ chia đôi đất nước, mà còn chia cắt cả lòng người, len lỏi vào từng gia đình của người dân Việt Nam. Thấu hiểu nỗi đau mất mát do chiến tranh gây ra, nhận thức nghiêm túc về việc mọi người Việt Nam phải đoàn kết, đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm, ban hành các chủ trương, chính sách nhằm thực hiện hòa hợp dân tộc, được biểu hiện cụ thể qua Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị khẳng định: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp đó là Nghị quyết số 23-NQ/TW năm 2008 của BCH T.Ư Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Chỉ thị 45-CT/TW năm 2015 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 36 về chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài và tại Đại hội lần thứ XII Đảng ta khẳng định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”.

Cùng với những chủ trương, chính sách nhất quán về hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực để các chủ trương, chính sách này nhanh chóng đi vào cuộc sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Bên cạnh các chương trình hành động tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó hơn nữa với quê hương, đất nước; phát huy tiềm năng trong hợp tác kinh tế, đầu tư, kinh doanh,… là xây dựng các cơ chế luật pháp phù hợp về xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, đầu tư kinh doanh; quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam… Các hoạt động tập hợp, vận động, gắn kết người Việt Nam ở trong và ngoài nước ngày càng có nội dung phong phú và hình thức đa dạng hơn, như tổ chức các đoàn kiều bào tiêu biểu về thăm đất nước dịp Quốc khánh, Quốc giỗ Vua Hùng, trại hè cho thanh niên, sinh viên kiều bào… Nổi bật trong thời gian gần đây là các chương trình Xuân Quê hương; người Việt Nam ở nước ngoài với chủ quyền biển, đảo; tổ chức đại lễ cầu siêu;… Hằng năm gần 300 lượt chuyên gia, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tích cực đóng vai trò làm cầu nối quan trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế; cùng với đó là hàng nghìn doanh nghiệp của bà con đã và đang đầu tư với số vốn hàng tỷ USD. Không chỉ đóng góp kiều hối, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực đóng góp công sức, trí tuệ, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ đồng bào trong nước, vận động các cá nhân, tổ chức của nước sở tại hỗ trợ cho các dự án xã hội ở Việt Nam như xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục… Đây thật sự là nguồn lực quý báu góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Chủ trương, chính sách, những việc làm hữu ích chính là sự tiếp nối tinh thần hòa hiếu của dân tộc, cho thấy “dòng máu Lạc Hồng” vẫn chảy trong trái tim mọi người Việt Nam chân chính, yêu nước và nỗ lực để đất nước giàu mạnh. Trong hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, đã kể một câu chuyện xảy ra ở quê bà (Duy Xuyên, Quảng Nam) về đám tang một người nguyên là sĩ quan của chế độ “Việt Nam cộng hòa” đã đi định cư ở Mỹ 20 năm; theo nguyện vọng của ông, thi hài được đưa từ Mỹ về Việt Nam mai táng. Và theo bà kể thì “người đọc điếu văn là con trai một liệt sĩ cách mạng, cháu một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” (Nguyễn Thị Bình – Hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước, NXB Tri thức, H.2012, tr.212). Đó một trong vô vàn thí dụ chứng minh, với cái tâm đen tối, những kẻ như Le Nguyen không hướng tới sự hòa hợp chân chính.

Việt Phước

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/1/2017:

2.206 học sinh đoạt học sinh giỏi quốc gia lớp 12 THPT năm 2017

Đại diện Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) ngày 25-1 cho biết, đã hoàn thành chấm thi kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2017.

Theo đó, kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2017 đã diễn ra trong ba ngày (từ ngày 5 đến 7-1), gồm các bài thi viết, thực hành trong các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc và thi lập trình trên máy vi tính môn Tin học. Tổng số 2.206 học sinh lớp 12 của các tỉnh, thành phố và Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; các trường đại học: Sư phạm Hà Nội, Vinh, Sư phạm TP Hồ Chí Minh; phổ thông vùng cao Việt Bắc; THPT năng khiếu thuộc Trường đại học Tân Tạo được công nhận đoạt các giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong kỳ thi học sinh giỏi
năm nay.

Dẫn đầu về số lượng học sinh đoạt giải là Hà Nội (146 học sinh), Hải Phòng (92 học sinh), Nghệ An (88 học sinh), Hải Dương (82 học sinh), Nam Định (77 học sinh),…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Hội chữ xuân Đinh Dậu 2017

Từ ngày 21-1 đến 11-2 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) diễn ra Hội chữ Xuân Đinh Dậu 2017 với nhiều hoạt động hấp dẫn, trong đó nổi bật là triển lãm thư pháp với chủ đề “Tôn sư trọng đạo” và hoạt động viết chữ đầu Xuân. Triển lãm thư pháp năm nay giới thiệu gần 30 tác phẩm thư pháp bằng chữ Hán – Nôm và chữ Quốc ngữ, được tuyển chọn từ hơn 70 tác phẩm thuộc hàng chục câu lạc bộ thư pháp ở Thủ đô. Trong khuôn khổ Hội chữ, ban tổ chức còn trưng bày các sản phẩm làng nghề Hà Nội như: gốm sứ, dệt, thêu, giấy, tranh dân gian, chạm khắc gỗ, đúc đồng…

  • Trang báo Nhân Dân ngày 23/1/2017:

Lưu giữ gần 27 nghìn nguồn gien cây trồng

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), đang bảo tồn, lưu giữ gần 27 nghìn nguồn gien cây trồng và 657 mẫu cây sinh sản vo otinsh; thu nhập 120 mẫu giống cây ăn quả bổ sung vào danh mục hơn 6.000 nguồn gien cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm; quản lý thống nhất và cập nhậ cơ sở dữ liệu cho 16 nghìn nguồn gien đang lưu giữ; cấp phát 800 lượt nguồn gien cùng các thông tin liên quan của 382 nguồn gien lúc và cây ngũ cốc, 57 nguồn gien rau các loại, 408 nguồn gien cây họ đậu…

Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân và bình ổn giá cả thị trường Tết Đinh Dậu 2017, Siêu thị Big C Thăng Long đã chuẩn bị hơn 500 mặt hàng bánh, mứt, kẹo; hơn 5.000 tấn rau, củ, quả các loại; hơn 1.000 tấn sản phẩm thịt gia súc, gia cầm (tăng từ 20% đến 30% so với Tết năm trước), 95% số sản phẩm này được cung cấp từ các doanh nghiệp uy tín trong nước, bảo đảm về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm…

Tin: Vũ Sinh (TTXVN)

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Ngày Thơ Việt Nam “Đồng hành và Sáng tạo cùng đất nước”

Hội Nhà văn Việt Nam vừa cho biết: Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 15 năm 2017 diễn ra vào rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu (ngày 11/2) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, với chủ đề “Đồng hành và sáng tạo cùng đất nước”.

Ngày Thơ năm nay có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, sẽ có Không gian thơ thiếu nhi Việt Nam; Sân thơ truyền thống, Sân thơ trăm miền, Con đường thi nhân lần đầu tiên được mở, giới thiệu các nhà thơ Việt Nam tiêu biểu; Triển lãm 60 năm Hội Nhà văn Việt Nam. Các tỉnh: Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Ninh sẽ giới thiệu nghệ thuật truyền thống đặc sắc như làm gốm, văn hóa Mo Mường, cồng chiêng…

Ngày Thơ Việt Nam diễn ra ở nhiều địa phương. Riêng tại tỉnh Thái Nguyên, sẽ được tổ chức trang trọng tại An toàn khu Định Hóa, nơi 70 năm trước Bác Hồ viết bài thơ Nguyên Tiêu

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 16/1/2017:

Thương tiếc người thầy, người bạn lớn

May mắn được biết, được học và cùng làm việc với Giáo sư (GS) Võ Quý từ năm 1958 cho đến nay đã tròn 59 năm, đối với tôi, GS Võ Quý vừa là người thầy, người đồng chí, người anh vô cùng kính trọng và quý mến. Ông là tấm gương sáng cho các thế hệ học tập, noi theo về đạo đức trong sáng và thủy chung với nghề nghiệp của một nhà giáo.

Giáo sư Võ Quý sinh ngày 31-12-1929 tại huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông là một nhà giáo, nhà khoa học rất nổi tiếng ở trong nước và quốc tế. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, GS Võ Quý đã dạy ở các trường trung học ở Hà Tĩnh. Đến khi chiến thắng Điện Biên Phủ, GS Võ Quý ra bắc, có một thời gian ông được học bổ túc ở Nam Ninh, Trung Quốc. Sau khi về nước, ông tham gia giảng dạy ở Khoa Sinh, nghiên cứu chuyên sâu về chim tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTHHN), nay là Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Ông đã đảm nhiệm nhiều cương vị công tác khác nhau: giảng viên, Trưởng phòng Đào tạo (1975 – 1980), Chủ nhiệm Khoa Sinh học (1980 – 1990)… Năm 1985, ông là người sáng lập ra Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (thuộc Trường ĐHTHHN), nay là Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thuộc ĐHQGHN và giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm.

Là người sáng tạo, GS Võ Quý kết hợp hài hòa giữa việc giảng dạy đào tạo với vấn đề nghiên cứu khoa học. Ngoài nhiệm vụ là một nhà giáo ở Trường ĐHTHHN, GS Võ Quý đã thực hiện nhiều dự án nghiên cứu về chim, về các loài động vật quý hiếm, về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường và về hậu quả của chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Năm 1981-1990, GS Võ Quý là Phó Chủ nhiệm chương trình cấp Nhà nước nghiên cứu về vấn đề tài nguyên thiên nhiên và môi trường, khi đó tôi cũng là một thành viên trong ban chủ nhiệm đó. Ngoài ra, ông cũng giữ những chức vụ như: Ủy viên thường vụ Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Khoa học và Công nghệ về Chương trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; Ủy viên Ủy ban 10-80 Chủ tịch Hội Sinh thái học Việt Nam; Phó Chủ tịch Tổng hội các ngành sinh học Việt Nam. Đối với quốc tế, ông là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Hội đồng Vườn quốc gia và Khu bảo tồn quốc tế (WCPA/IUCN), Hội đồng quốc tế về Bảo vệ các loài nguy cấp (SSC/IUCN)…

Sự đóng góp của GS Võ Quý về lĩnh vực giáo dục và đào tạo là rất lớn. Dưới mái Trường ĐHTHHN, GS Võ Quý đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy sinh học cho đất nước. Học trò của ông, nhiều người đã thành danh và có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Ông không những đào tạo về nghiên cứu khoa học mà còn là người biết kết hợp chặt chẽ linh hoạt trong lý thuyết và thực tế, giúp người học nắm được kiến thức và thực tiễn. Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi học được từ GS Võ Quý kinh nghiệm là chỉ dựa vào giáo trình một phần, quan trọng là từ cơ sở lý thuyết đưa ra thực tế như thế nào. Nếu người dạy không cập nhật và tiếp cận với tình hình thực tế của từng địa phương thì sẽ không nắm được mỗi địa phương có đặc điểm hệ sinh thái và phát triển kinh tế – xã hội, tập quán khác nhau như thế nào. Học phải đi đôi với hành, lý thuyết vô cùng quan trọng, nhưng nếu không ứng dụng và áp dụng thì lý thuyết đó cũng không phục vụ được cho cuộc sống. Những người học tập được cái đó, thì quá trình truyền đạt kiến thức sẽ hấp dẫn sinh viên.

Khoảng năm 1980, GS Võ Quý được GS Tôn Thất Tùng giao phụ trách nghiên cứu về ảnh hưởng chất độc hóa học đến môi trường và sức khỏe con người Việt Nam. GS Võ Quý đã tổ chức một đoàn cán bộ khoa học, trong đó có tôi đi vào các tỉnh phía nam để nghiên cứu về chất độc hóa học. Ngoài ra, GS Võ Quý đã cùng các đồng nghiệp, các nhà khoa học tổ chức nhiều đợt khảo sát, điều tra về đa dạng sinh học, đặc biệt đối với khu hệ chim. Nhờ những đợt nghiên cứu đi sâu vào thực địa đã giúp ông có thêm nhiều tài liệu về sự phân bố của các loài chim. Cho đến nay, Việt Nam của chúng ta đã có hơn một nghìn loài chim, trong đó có rất nhiều đặc hữu và quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ. Trong quá trình nghiên cứu khoa học, ông đã công bố hơn 100 công trình trên các tạp chí trong nước và quốc tế. Đây là một tài liệu rất có giá trị trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nước nhà.

Với sự đóng góp to lớn đó, Đảng và Nhà nước tặng thưởng ông nhiều Huân chương, Huy chương cao quý như: Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Lao động hạng ba; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Thực vật trĩ, động vật trĩ năm 2012; Công trình Át Lát năm 2005… Ngoài ra, GS Võ Quý còn giành một số giải thưởng quốc tế như Huy chương vàng của tổ chức bảo vệ thế giới Hồng Kông; Bằng danh dự Global 500 của Liên hợp quốc; năm 2003, GS Võ Quý vinh dự là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên và là người châu Á thứ hai được nhận Giải thưởng Hành tinh xanh của Nhật Bản…

Sự đóng góp của GS Võ Quý về đào tạo và nghiên cứu khoa học là rất lớn với đất nước, với mục đích làm sao cho đất nước Việt Nam phát triển bền vững. Năm 2016, GS Võ Quý viết một cuốn sách tuyển chọn các công trình nghiên cứu của ông. Cuốn sách là một công trình khoa học có chất lượng cao, đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mang tính thời đại về môi trường và đa dạng sinh học. GS Võ Quý đã để lại cho đời những ấn tượng sâu sắc về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây là một tấm gương sáng cho các thế hệ học tập và noi theo về đạo đức trong sáng và thủy chung với nghề nghiệp của một nhà giáo. Chính vì thế, khi biết tin GS Võ Quý – người thầy, người bạn, người đồng chí đã qua đời, tôi vô cùng thương tiếc và xin gửi lời chia buồn với gia đình và cơ quan. Tôi nguyện với vong linh ông, sẽ cùng bạn bè và đồng nghiệp tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp giảng dạy và đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học của nước nhà.

GS, TSKH Đặng Huy Huỳnh

Nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật, Phó Chủ tịch Hội

Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam

 

Tháng Một 31, 2017

Dạ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Dạ…

Lời dẫn của Phạm Tôn: 11:37 sáng mồng 2 Tết Đinh Dậu (29/1/2017) nhà văn Trần Chiến gửi cho chúng tôi bài viết ngắn mà đặc sắc này, đăng trên báo Thừa Thiên – Huế Tết Đinh Dậu 2017

—o0o—

Tôi sống Hà Nội, lớn lên chỉ biết Huế qua sách vở, mấy bài hát. Ấn tượng sâu đầu tiên về cố đô lại có sắc thái hài hước. Anh bạn họa sĩ từ đây ra kể chuyện “cua” gái: thấy cô bán hàng dễ thương tớ buông lời tán “Em ơi sao em xinh thế?”. “Dạ”. “Đất trời này dễ em là hoa hậu rồi”. “Dạ”. “Tối nay đi chơi với anh nha, giờ ấy chỗ ấy được không?”. “Dạ”. Sáng hôm sau: “Em ơi sao tối qua không ra để anh đợi zdoài, bận hay sao?”. “Dạ”. “Tối nay nhé, vẫn chỗ cũ giờ cũ, không thì anh chết đấy”. “Dạ”. Cuối cùng họa sĩ cáu: “Em còn cái “dạ” nào dọn nốt cho anh xơi”.

Chuyện nửa đùa nửa thật, nhưng làm ta miên man nghĩ về một vùng đất có những con người kín đáo, hấp dẫn nhưng khó hiểu, không dễ gần. Tính cách Huế chăng? Sau này tôi đưa chi tiết này vào tiểu thuyết “Đèn vàng”. Rồi biết thêm “đặc điểm” nữa: trời mưa, ai trú lại thì không phải người Huế. Và câu thơ Thu Bồn “Con sông dùng dằng con sông không chảy, sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.

Một người nữa “giới thiệu” cho tôi khám phá Huế là Phạm Quỳnh. Trước đây nhắc đến học giả này còn nhiều úy kỵ, nguyen-khoa-diem-dang-hoa-truoc-tuong-pham-quynhgiờ khác dần: in sách, nhắc công lao văn hóa… Ngày đặt tượng ở mộ ông gần đây ông Nguyễn Khoa Điềm có dự. Du ký Mười ngày ở Huế đăng tạp chí Nam Phong năm 1918, Phạm Quỳnh cho biết ông thích lăng Gia Long chừng nào: “… giản dị hơn cả, nhưng có cái vẻ hùng tráng, thực là biểu được cái chí to tát một ông vua sáng nghiệp”, “… không ưa những sự hư văn vô ích”. Và cất lời chê: “Đại để từ lăng Thiên Thụ, qua Hiếu lăng, Xương lăng, đến Khiêm lăng, cái hư văn càng xuống càng thịnh, mà cái vẻ thuần phác hùng hồn lúc đầu càng mất dần đi vậy”. Đọc mấy câu trên, tôi có chuyến ngược dòng Hương ngoạn mục, (đâu như) qua ngã ba Tuần lên bờ cuốc bộ hơn cây số nữa tới lăng Gia Long. Một vùng trời xanh cao, bên dưới lơ thơ bóng thông, leo chầm chậm từng bậc cấp long lở, ngắm nghía hai trụ biểu đơn sơ, trước đây chắc hùng dũng lắm… “A, ta đang được tiếp cận với những gì rất mơ hồ trong lịch sử đây”. Sau này, tôi lại có được tâm thế ấy khi đến Văn Miếu, Võ Miếu, những nơi vắng vẻ. Chen chúc trong dòng du lịch đông đúc ở chỗ khác, dường như không hình dung quá khứ rõ bằng.

Với trải nghiệm này, tôi ưa sống chậm, một mình mỗi khi về Huế. Đi bộ dưới nắng lâu cũng quen, nhất là với cảm giác dưới mỗi bước chân mình là một bề dầy lịch sử. Đường Điện Biên Phủ bụi bậm lúc nào cũng như công trường, rẽ trái có chùa Từ Đàm, mộ Phan Bội Châu, rẽ phải là chùa Vạn Phước, mộ Phạm Quỳnh, quãng nữa là tư gia bạn mới “khánh thành” ngôi nhà sàn thơm mùi cá nướng. “Làng” Kim Long nhiều gái đẹp “dụ dỗ” cả vua, phố cổ Bao Vinh sầm uất một thời. Tôi ưa một cây cầu – đâu như Dã Viên – đến nỗi bất chấp luật lệ đi bộ ngược chiều, để ngắm dòng Hương, hòn đảo (cồn) và những con thuyền phía dưới, may không bị phạt. Rồi về bờ Nam ngồi, ngắm làn da đã đen hơn, nghĩ mình có thể trầm mặc thế này rất lâu được.

Huế, với tôi còn có những con người, đa phần vong niên. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhỏ nhẹ giảng giải về vị trí “cân phân” của kinh thành xưa. Và hai ông Phan. Thầy Nguyễn Hữu Châu Phan cho tôi xem thư viện rất đẹp, tặng bộ Nghiên cứu Huế đồ sộ dù mới gặp lần đầu. Từ chỗ ở, vài lần tôi đáp xe “căng hải” đến phố Cao Bá Quát, nhà Hồ Tấn Phan. Gầy yếu, mắt sâu hoắm, khẽ khàng, ngồi giữa đám đồ cổ, ông nói về trận lụt lớn thiệt hại cho cố đô nhưng nhờ đó mà ông khai quật được “văn hóa sông Hương”. Tôi chả hiểu mấy về đồ cổ, cử động dón dén chỉ sợ làm tổn hại đến chân đèn giá nến bình tích điếu ống “vứt” ngổn ngang xung quanh. Nhưng sợ nhất là để lọt những câu kiểu “Nói “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán – Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường” nó khiên cưỡng, Miên Thẩm Miên Trinh so thế nào với Siêu Quát được”; một nhận xét không “duy Huế”. Hồ Tấn Phan làm tôi tiếc vì chưa được gặp nhiều trí thức trẻ nơi đây, để nghe tâm tình, những phản biện của họ về vài sự kiện gây chút xáo động, như nhà nghiên cứu “chuyên pháp lam” nọ vượt Hải Vân vào Đà Nẵng… Dù gì thì gì, thật khó hình dung một Huế hiện đại.

van-nghe-si-truoc-tuong-pham-quynhLâu không vào rồi, chả phải để làm gì, có khi chỉ ngồi bên sông, chẳng nghĩ ngợi, nhìn đường xá không tắc tỵ, xe cộ không tranh hơn nhau một nửa của một phần tư phút. Biết đâu tiếng “dạ” rơi xuống…

                                                                                                                        Trần Chiến

                                                                                                Báo Thừa Thiên – Huế tết Đinh Dậu 2017

Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh đang được đặt ra – GS. Đinh Xuân Lâm

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

YÊU CẦU ĐÁNH GIÁ LẠI PHẠM QUỲNH ĐANG ĐƯỢC ĐẶT RA

GS. Đinh Xuân Lâm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày Quốc khanh năm nay, 2/9/2009, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm đã viết rất thẳng thắn là: “trước đây, khi lên lớp thời kỳ lịch sử Việt Nam trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do chưa nắm được các nguồn tư liệu cần thiết, lại thiếu một sự phân tích đánh giá thật sự khách quan, khoa học, tôi cũng đã đánh giá không đúng (…) tạp chí Nam Phong với cây bút chính là Phạm Quỳnh”. Và nay, ông đã viết Lời giới thiệu cho tập sách Nhà Văn Hóa Lớn Phạm Quỳnh là “một sưu tập công phu một số bài viết từng được công bố trên các báo chí, do tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan thực hiện (…) để góp phần vào việc đánh giá đúng đắn nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh” dự định sẽ xuất bản nay mai.

Chúng tôi xin phép được công bố bài viết đó, với nhan đề do chúng tôi chọn, lấy ý từ bài của giáo sư là Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh đang được đặt ra.

Xin mời các bạn cùng đọc bài viết quan trọng này.

—o0o—

Tôi được biết đến tác giả Phạm Quỳnh từ rất sớm, khi đang còn là học sinh cấp tiểu học trước năm 1945, nhờ ông thân sinh tôi là một công chức nhỏ có đặt mua Tạp chí Nam Phong hằng tháng. Nhưng do trình độ lúc đó còn thấp kém nên hầu như không hiểu gì. Phải đến khi lên các lớp nhì, lớp nhất trường Tiểu học Pháp-Việt (tương đương các lớp 4 và 5 cấp phổ thông cơ sở hiện nay) mới được học bài Cung chiêm các tôn lăng trong sách giáo khoa thời đó mà tôi rất thích, cho đến tận bây giờ hơn 70 năm đã trôi qua mà tôi còn có thể đọc thuộc lòng từng đoạn dài, phần do nhạc điệu của câu văn, phần do tính hiếu kỳ của tuổi trẻ bị hấp dẫn bởi các phong cảnh thiên nhiên mỹ lệ của xứ Thần kinh. Thế rồi khi lớn lên theo học bậc trung học cùng với việc mở rộng diện đọc sách báo tôi đã đọc các cuốn Người nông dân xứ Bắc Kỳ qua ngôn ngữ bình dân, Ba tháng ở Paris… Và ngày càng thấy hứng thú, để rồi đến lúc trực tiếp đọc qua tiếng Pháp các tập Tiểu luận Pháp-Việt (Essai Franco-Annamite) thì tác giả Phạm Quỳnh đã trở thành một tác giả lớn mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi dạy trung học tại Thanh Hóa, tuy là giáo viên ngành xã hội, chủ yếu là dạy Văn và Sử, nhưng tôi vốn có ham thích về lích sử từ trước nên sau năm 1954 được cử đi học đại học, tôi chọn ngành lịch sử rồi trở thành một cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Cận-Hiện đại Việt Nam tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội).

Được phân công giảng dạy Lịch sử Cận đại Việt Nam (1858-1945), trước đây khi lên lớp thời kỳ lịch sử Việt Nam trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do chưa nắm được các nguồn tư liệu cần thiết, lại thiếu một sự phân tích đánh giá thật sự khách quan, khoa học, tôi cũng đã đánh giá không đúng như cho rằng: “Tạp chí Nam Phong với cây bút chính là Phạm Quỳnh  – cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính sách của thực dân Pháp ở Việt Nam…với Tạp chí Nam Phong đã hình thành một hệ thống tư tưởng nô dịch, văn hóa duy tâm phản động, chống chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa Cộng Sản trên các lĩnh vực chính trị, triết học, văn học, sử học…” Cũng như nhận định về các nhóm Nam Phong của Phạm Quỳnh, Trung Bắc Tân Văn của Nguyễn Văn Vĩnh ở ngoài Bắc. “Nhóm Phạm Quỳnh nêu lên thuyết Quân chủ lập hiến, Quân Dân Cộng Trị, còn nhóm Nguyễn Văn Vĩnh lại đề cao tư tưởng Trực Trị như kiểu Canada trong đế quốc Anh, mơ ước thành lập một chính thể Cộng hòa Pháp-Việt, mà thực chất cả hai khuynh hướng đó đều là công nhận nền thống trị của đế quốc Pháp, cầu xin một vài điều cải lương vụn vặt…”

Rõ ràng là trong sự nhận định đánh giá đó, chúng tôi chưa thấy hết được sự biến đổi phức tạp của xã hội Việt Nam trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), cùng với sự du nhập phương thức bóc lột mới của chủ nghĩa tư bản và sự phân hóa xã hội ngày càng thêm sâu sắc, nên tôi đã có một số nhận định giản đơn như vậy mà chưa chú ý đúng mức đến nền tảng dân tộc của các thuyết đó trên cơ sở một tinh thần yêu nước truyền thống, chưa thấy được rằng trong những điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, các thuyết Quân Chủ Lập Hiến, Quân Dân Cộng Trị của Phạm Quỳnh cũng như thuyết Trực Trị của Nguyễn Văn Vĩnh cũng là sự biểu lộ tinh thần dân tộc ở một chừng mực nhất định, đành rằng là còn yếu!

Đến khi Cách Mạng Tháng Tám thành công năm 1945, tin Phạm Quỳnh bị sát hại đã làm cho tôi băn khoăn khó hiểu vì đối với tôi Ông vẫn là một nhà báo lớn, một học giả có tài đáng kính. Mãi tới gần đây mới thấy một số tác phẩm của Phạm Quỳnh được in lại và được độc giả đánh giá cao, tên tuổi Phạm Quỳnh được nhắc lại trên báo chí, trong các cuộc họp tuy chưa nhiều nhưng một cách đúng mức hơn, thấu tình đạt lý hơn. Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh được đặt ra trong sự mong đợi được giải quyết thỏa đáng, không chỉ là hậu duệ của Ông mà còn của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Đó cũng là tính khoa học chặt chẽ kết hợp với tính nhân văn cao cả trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn lại gia đình Phạm Quỳnh vào mùa thu năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”.

Và sự thật thì con cháu Cụ Phạm, với truyền thống gia đình, nghe theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành những cán bộ trung thành với Đảng, với Tổ Quốc, với Nhân Dân, có những đóng góp to lớn vào khoa học, nghệ thuật, vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc trước kia và hiện nay.

Để góp vào việc đánh giá đúng đắn nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh, công trình Nhà Văn Hóa Lớn Phạm Quỳnh là một sưu tập công phu một số bài viết từng được công bố trên các báo chí, do tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan thực hiện, sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều tư liệu, ý kiến từ nhiều phía, để bạn đọc suy ngẫm trước khi đi tới một “phán xét” cuối cùng có cơ sở vững chắc, khách quan và khoa học.

Ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 năm 2009.

GS. Đ.X.L.

Nhìn nhận Phạm Quỳnh dưới góc độc quan điểm Hồ Chí Minh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:23 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NHÌN NHẬN PHẠM QUỲNH DƯỚI GÓC ĐỘ QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH

Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan

(Bài trong sách Thượng Chi – Phạm Quỳnh từ trang 83 đến trang 101)

Ngày 26 tháng 12 năm 1920, trong lần tham dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tán thành đi theo đường lối của Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế 3, Đệ tam quốc tế) và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Tán thành “đi” theo Quốc tế Cộng sản, có lẽ Nguyễn Ái Quốc nghĩ nhiều về đường lối ủng hộ các dân tộc, thuộc địa giành độc lập trong đó có Tổ quốc Việt Nam, về một điểm tựa, một hậuThuong Chi Pham Quynh phương lớn mạnh, duy nhất bấy giờ cho cách mạng Việt Nam.

Trước và sau năm 1920 cho đến 1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài về sự tàn bạo của các đế quốc, về nỗi khổ đau của các dân tộc thuộc địa nô lệ, đã ra báo Le Paria, thành lập “Hội Liên hiệp Thuộc địa”, trong khi Đảng Cộng sản Pháp và cả Quốc tế Cộng sản chưa làm gì được nhiều về vấn đề này.

Năm 1923, dự Đại hội Quốc tế Nông dân, được bầu vào Ban chấp hành quốc tế này, thuộc Quốc tế Cộng sản, đúng ra phải theo đúng chủ trương của Quốc tế Cộng sản về “giai cấp nông dân”, “đấu tranh giai cấp”, “tiêu diệt địa chủ”. Nhưng năm 1924, trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ”, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn bác bỏ luận điểm “đấu tranh giai cấp là hòn đá tảng để xem xét người đó có phải là đảng viên cộng sản hay không?” bằng một lập luận mới, chưa có ai trước. Nguyễn Ái Quốc nêu lên, rằng: “đấu tranh giai cấp ở Đông Dương không quyết liệt như ở phương Tây” và đề nghị: “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước”. Khẳng định ý kiến mình, Nguyễn Ái Quốc “yêu cầu” – như một dạng chỉ thị, phân công: “đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm”. (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 1), NXB, Chính trị Quốc gia, 1995)

Đến Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc còn dùng những danh từ nặng nề hơn về “các đồng chí Quốc tế Cộng sản chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng của Lênin về vấn đề thuộc địa, “cảnh cáo” rằng “tôi sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần, sẽ thức tỉnh các đồng chí”.

Năm 1930, với “Chính cương, Điều lệ tóm tắt” khi thống nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam “chia giai cấp địa chủ ra đại, trung, tiểu”, lôi kéo các tầng lớp trí thức vào hàng ngũ Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã bị “phê bình” là “quốc gia chủ nghĩa”. Và Đảng Cộng sản Việt nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã không được chính thức công nhận là một chi bộ của Quốc tế Cống sản.

Bất đồng ý kiến với Nguyễn Ái Quốc, lo lắng cho chặng đường tiếp sau, Quốc tế Cộng sản đã điều động Trần Phú đang học tập tại trường đại học của những người lao động Phương Đông (còn gọi là trường Stalin, mang tên Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản), quán triệt những chỉ thị mới của Quốc tế Cộng sản như “đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương”, “thủ tiêu Điều lệ, Chính cương cũ” (của Nguyễn Ái Quốc), lập Ban chấp hành mới.

Sau đó ít lâu, khi những chỉ thị này đã được căn bản thực hiện, Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản.

Có thể sự “bất đồng” này liên quan đến việc Nguyễn Ái Quốc, sau Đại hội V Quốc tế Cộng sản, đáng lẽ được nhận tiền và và về châu Á, Trung Quốc, Đông Dương nhưng Ban Phương Đông và Quốc tế Cộng sản trì hoãn mãi (để xem xét, cân nhắc?).

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc đã xin phép được rời Mátxcơva, không được phụ cấp tài chính, không có giấy giới thiệu với Đảng Cộng sản Trung Quốc, với tổ chức “Những người yêu nước tại địa phương sẽ đến…”

Để “văn kiện hóa” chỉ thị của mình, để giúp Trần Phú có cơ sở “pháp lý”, ngày 13 tháng 10 năm 1930, Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bấy giờ có trụ sở ở Thượng Hải – Trung Quốc đã có thư gửi Đảng Cộng sản Đông Dương khoanh vào những điểm trọng tâm như sau:

  1. Động lực cách mạng ở Đông Dương là giai cấp công nhân và nông dân. Đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc là địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp tri thức xét trong toàn bộ sẽ dao động…
  2. Cốt lõi của cách mạng điền địa là triệt để tiêu diệt bọn địa chủ. Đừng rơi vào sai lầm nguy hiểm là phân địa chủ thành loại “tốt” và “xấu” (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr.274-283)

Ngày 3 tháng 8 năm 1934, sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh (với khẩu hiệu mang đầy đủ quan điểm của Quốc tế Cộng sản “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” thông qua chỉ đạo trực tiếp của ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Phong Sắc tại Trung Kỳ), bị đàn áp, Nguyễn Ái Quốc bị “mất tích”, khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương “khẳng định lại tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương, chỉ rõ động lực chủ yếu cách mạng Đông Dương là giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng hiện nay là nhen lên và tổ chức ở khắp nơi đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất…” (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, 2004, tr.104)

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhiều lần yêu cầu và cũng đã được Quốc tế Cộng sản cung cấp tài chính “buộc” phải chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sớm thấy “có gì đó không đúng với thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam”. Về phần mình, qua nhìn nhận tình hình Đông Dương, trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sắp xảy ra do chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Đức khởi xướng, Quốc tế Cộng sản cuối cùng cũng đã thay đổi ý kiến, tức là chấp thuận quan điểm mới, chính xác của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề các dân tộc thuộc địa đấu tranh cách mạng giành giải phóng dân tộc.

Từ ngày 25 tháng 7 đến 20 tháng 8 năm 1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản đã đề ra và chủ trương “cần phải thành lập mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản để tập hợp các khuynh hướng chính trị, xã hội, tín ngưỡng khác nhau để chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh. Mặt trận thống nhất sẽ có những hình thức khác nhau ở các nước, những nét riêng của từng nước mà trình độ, đặc điểm kinh tế xã hội, quan hệ giai cấp và phong trào quần chúng khác nhau”. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr. 116)

Mặc dù trong bài tham luận của đồng chí Lê Hồng Phong đọc tại phiên họp lần thứ 9, chiều ngày 28 tháng 7 năm 1935, trong Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản còn nói: “Chính quyền Xô viết (Nghệ Tĩnh) mới chỉ tịch thu ruộng đất của những địa chủ có trên 100 mẫu (khoảng 30 ha). Giới hạn này đã làm giảm mất nhiều khí thế đấu tranh giành ruộng đất của nông dân, vì trong các tỉnh mà chính quyền Xô viết được thành lập, chỉ có rất ít đại địa chủ”. Lê Hồng Phong còn phát biểu rằng “đó là tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả PGS Trần Thành; Hoàng Tùng; PTS Nguyễn Văn Khoan; PTS Lê Văn Tích; PTS Trình Mưu; PGS, PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm; Lê Doãn Hợp (Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Nghệ An); Đồng chí Lê Hồng Phong, một lãnh tụ xuất sắc của Đảng, NXB CTQG, II, 1997, tr 85 và 91. Xin lưu ý rằng, theo một số tư liệu, Nguyễn Ái Quốc, bấy giờ đang ở Mátxcơva “có góp ý kiến” vào các bản tham luận của Hoàng Văn Nọn, Minh Khai). Cuối bản tham luận, đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương, chi bộ trực thuộc Quốc tế Cộng sản, đang giữ vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, kết luận: “Công nhân và nông dân (không có các tầng lớp khác – NVK) ở xứ thuộc địa xã hội này của Pháp, hướng về Mátxcơva, chưa chan hy vọng và tin tưởng. Và họ mang trong tâm trí và trên miệng họ tên tuổi Stalin vĩ đại, quen thuộc và thân yêu, cái tên vang dội như một lời hiệu triệu chiến đấu cho cuộc cách mạng, chống đế quốc và phong kiến”.

Cho dù Lê Hồng Phong tự ý hay buộc phải “lấy lòng” Quốc tế Cộng sản và Stalin, tình hình thực tiễn ở Việt Nam do phép kết luận rằng ngày 28 tháng 7 năm 1935 là ngày “khai tử, chấm hết cho quan điểm đấu tranh giai cấp kiểu phương Tây trong xã hội phương Đông, cụ thể là ở Việt Nam, trong một xứ thuộc địa đế quốc cai trị, đang tiến hành cuộc đấu tranh giành giải phóng dân tộc. (Năm 1950, trong bài “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử” đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ ở Việt Bắc, ký tên X.Y.Z, Bác Hồ viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc” (Nguyễn Văn Khoan, Đi tới mùa xuân –Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Công an Nhân dân, 2007)

Trong thời gian Mặt trận Bình dân thắng cử ở Pháp, tại Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư và ngày 30 tháng 10 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đã “thay đổi chiến sách” trên những điểm chủ yếu sau:

  1. “Hiện thời ở Đông Dương, đế quốc Pháp là kẻ thù áp bức dân tộc, bóc lột quần chúng lao động, là địch nhân chung (khác với chỉ thị Quốc tế Cộng sản đã coi “cách mạng thổ địa là hàng đầu”)
  2. Phải liên hợp các giai cấp trong toàn dân tộc… chống chế độ thuộc địa…
  3. Không những phải thâu phục đa số thợ thuyền mà còn cần phải thâu phục quảng đại quần chúng nông dân và tiểu tư sản thành thị. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.155)

Tháng 9 năm 1937, Hội nghị mở rộng, Ban Trung ương Đảng “kiểm điểm, đánh giá sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào qua hai năm thực hiện Mặt trận dân chủ” đã phê bình “các đồng chí mắc phải bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết có đám người ấy thôi mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp khác (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 6), NXB, Chính trị Quốc gia, 2000, tr.201-262)

Ngày 26 tháng 6 năm 1940, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, khóa này do Nguyễn Văn Cừ (Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương, họp khóa 6 vào tháng 3, năm 1938, bị thực dân Pháp bắt vào tháng 6 năm 1940, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.249) làm Tổng Bí thư (Trường Chinh dược cử vào Ban Chấp hành Trung ương tại hội nghị lần thứ 7, tháng 11 năm 1940) đã ra lời kêu gọi “toàn dân đứng dậy đấu tranh trong hàng ngũ mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương”. Lời kêu gọi – tuyên ngôn này ra đời sau khi đế quốc Pháp quy hàng Hitler. Trung ương Đảng coi đây là “cơ hội tốt có một không hai để đánh đổ đế quốc thuộc địa” và kêu gọi tinh thần đoàn kết rộng rãi từ các bậc thương lưu trí thức (chúng tôi nhấn mạnh vì Phạm Quỳnh là thành viên của các “bậc” này) đến các hàng viên chức, hội tề, cho đến các công, nông, binh các lớp dân chúng cần lao và các chị em phụ nữ và các giới, tất cả những ai yêu nước” (Chúng tôi nhấn mạnh vì theo lời Hồ Chí Minh: “Hễ là người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước và mỗi người yêu nước theo cách của họ chứ không phải chỉ có đảng viên cộng sản mới yêu nước hoặc cộng sản là người yêu nước hơn”)

Sau khi Nguyễn Ái Quốc về nước (đầu năm 1941), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Pác Bó (Cao Bằng) vào tháng 5 ngày 19 năm 1941 gồm có Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt… do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã bầu Trường Chinh làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định: “Cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc”. Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc (bao gồm cả sĩ, nông, công, thương, binh, các tôn giáo, dân tộc…-NVK) còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Do đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu cần có những thay đổi căn bản trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới và chỉ rõ: “Phải thống nhất lực lượng cách mạng toàn Đông Dương, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất thành mặt trận cách mạng chung”.

Để thực hiện đường lối đoàn kết rộng rãi ấy, đường lối đại đoàn kết, Hội nghị đã thành lập “Mặt trận Việt Minh” (Những sự kiện lịch sử Đảng (tập 1), NXB, Sự Thật 1975, tr.513-515). Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Nông dân phải vào Nông dân cứu quốc hội; phụ nữ vào Phụ nữ cứu quốc hội; trẻ em vào Nhi đồng cứu quốc hội; binh lính vào Binh lính cứu quốc hội; các bậc văn sĩ, phú hào vào Việt Nam cứu quốc hội (Báo Việt Nam độc lập, số 133, tháng 12 năm 1941 nguyên bản lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội).

Nhân dịp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB. Chính trị Quốc gia, 1996, tr.198)

Tháng 8 năm 1943, nhận định ràng sau thất bại nặng nề ở Stalingrát, phát xít Đức đang đứng trước nguy cơ thua trận cuối cùng, thời cơ khởi nghĩa sắp đến dần, cần phải tập trung, thống nhất lực lượng đông đảo hơn nữa, để một lần nữa nói rõ quan điểm của Việt Minh, báo Việt Nam Độc lập số 12 ra ngày 21 tháng 8 năm 1943, với khẩu hiệu “Tiến lên vũ trang khởi nghĩa” đã nhắc nhở: “Chúng ta phải nhớ rằng lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, bán buôn, người làm việc cho Tây (tức thực dân, đế quốc Pháp – NVK), người đi lính cho Tây (Bản gốc lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam) (Chúng tôi nhấn mạnh)

Như vậy là đã quá rõ ràng. Phạm Quỳnh, một nhà viết báo, viết văn, một người “vào bậc thượng lưu trí thức”, một người đã “làm việc cho Tây” cũng đã được Đảng Cộng sản Đông Dương và Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh cũng như Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1935 đưa vào diện đoàn kết – đoàn kết rộng rãi – đại đoàn kết, để cùng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai năm sau khi bài viết này công bố – bài viết mà nhiều nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử Đảng, nghiên cứu Hồ Chí Minh nghĩ rằng “chỉ có Bác, với tư cách của mình mới viết được rõ ràng như vậy”, cũng đúng vào tháng 8 – tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã tổng khởi nghĩa giành được chính quyền, giành thắng lợi to lớn, bước đầu rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất cuối cùng sẽ đến vào năm 1975.

Có thể cho phép chúng ta suy luận là khi ở khu căn cứ Việt Bắc, Khu Giải phóng, nơi đã thành lập Ủy ban nhân dân – Hồ Chí Minh đã nghĩ tới một chính phủ của nước Việt Nam mới trong tương lai gần. Và một trong những thành phần của chính phủ ấy là sự có mặt của các bậc “thượng lưu, trí thức, văn sĩ, phú hào”, cả những người “đã đi lính cho Tây, làm việc cho Tây”. Lịch sử sau này đã ghi lại một danh sách dài những vị trí đó, từ vua Bảo Đại, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, các Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, Phạm Phú Tiết… và các Bộ trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim như Phan Anh, Trịnh Đình Thảo… cùng rất nhiều trí thức tư sản khác: Lê Văn Hiến, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Phúc Thông, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, ngay cả những Tổng đốc đã một thời “đàn áp” cộng sản như Vi Văn Định…

Như vậy, công bằng mà xét, Phạm Quỳnh cũng được đứng vào hàng ngũ những người kể trên.

Nhưng không phải riêng Phạm Quỳnh mà nhiều người khác, trước tháng 8 năm 1945 đã bị quy tội là “theo Pháp”, “phản động”… “làm cho Pháp”. Đúng vậy, nhưng Phạm Quỳnh vẫn được xếp trong “danh sách” những người “làm việc cho Tây, đi lính cho Tây”, để thu hút vào Việt Minh, để đoàn kết với mọi “giai tầng” khác. Phạm Quỳnh “phản động” nhưng chưa có chứng cứ gì trực tiếp đàn áp phong trào cộng sản, làm chỉ điểm. Còn giữ chức Thương thư Bộ Lại, Bộ Học, như bài viết trước đã nói, cũng chỉ để làm vì, để lấy cớ làm việc khác mà mình ưa thích mà thôi.

Phạm Quỳnh yêu nước theo cái cách của ông làm “quân chủ lập hiến”. Ngoài ra ông viết báo, viết sách “mở tai, mở mắt” cho đồng bào, tài sản trí tuệ của ông để lại cho dân, cho nước không phải là nhỏ. Ý kiến của Phạm Quỳnh về mặt tư tưởng đã không thống nhất với các đảng viên cộng sản. Xin nhớ rằng trên báo Thanh niên, từ năm 1925, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) có căn dặn các hội viên thanh niên: “phải tôn trọng ý kiến người khác”, “phải biết hy sinh ý kiến”.

Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Phạm Quỳnh cần được làm rõ, vì tư thù cá nhân, vì “vô chính phủ”, vì e ngại khi bọn Pháp vào Thuận An hỏi về Phạm Quỳnh (trong khi chưa có chứng cứ gì là Phạm Quỳnh liên lạc với chúng (Tham khảo sách Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa, năm 1956 dạy học ở Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn: “Trường hợp Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương chức Thủ tướng) là một học giả yêu nước, nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hòa…”, tr56). Có một thực tế là những người con của Phạm Quỳnh cũng rất “ôn hòa”. 13 người con trai, gái, cô Giá thì là vợ Tôn Thất Bình, Hiệu trưởng Trường Thăng Long (nơi quy tụ những Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Quang Đạm…), cô Thức là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, chuyên gia ngành da liễu Chính phủ Cụ Hồ, cô Phạm Thị Hảo – vợ dược sĩ Phùng Ngọc Duy, cô Phạm Thị Ngoạn – vợ Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng từng là “trợ thủ” của tướng Nguyễn Sơn ở Liên khu 4 (bà Ngoạn đã đỗ tiến sĩ văn chương ở Pháp). Còn ông Phạm Khuê là Viện trưởng Viện Lão khoa, ông Phạm Tuyên là “Nhạc sĩ của nhân dân” với bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Còn phải kể đến cô Phạm Thị Hoàn, vợ nhạc sĩ Lương Ngọc Châu mà ông Châu là cháu nội cụ cử Lương Văn Can, tác giả bài hát mà các anh vệ quốc quân thường hát: “Một đi là không trở về…” Cũng có thể nghiêm khắc hay thông cảm mà nói rằng trong số hơn 10 người con của Phạm Quỳnh cũng có người vì nhiều lý do đã “hồi cư” ra nước ngoài… nhưng gia đình này đã không trực diện làm gì hại đến dân tộc, Tổ quốc. Họ đã ít nhiều nghe theo lời Hồ Chí Minh: “Nên nghĩ đến tương lai, chuyện giáo dục, chuyện cải thiện mức sống (vật chất, tinh thần) của nhân dân”. Họ đã thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng (Tư liệu của gia đình Phạm Quỳnh, trong buổi gặp với gia đình Phạm Quỳnh năm 1945). Cũng nên đối chiếu thêm trường hợp các con trai, con gái của Phạm Quỳnh mất cha, cùng chung một lần với Ngô Đình Diệm mất anh (Ngô Đình Khôi) và cháu (Ngô Đình Huân, con trai Ngô Đình Khôi). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Khi dân chúng bị ức hiếp nổi dậy, lỗi lầm không thể tránh khỏi và chuyện bị thảm đã xảy ra. Nhưng tôi vẫn luôn luôn tin rằng nhân dân sẽ vượt lên trên những lỗi lầm đó. Ông (Ngô Đình Diệm) có những điều oán hận chúng tôi, ta hãy nên quên đi”. (Stanley Karnow, Viet Nam: A History (Lịch sử Việt Nam), New York, 1991, bản dịch của Lê Xuân Khoa)

Khi được tin Phạm Quỳnh không còn nữa, có thông tin cho rằng Bác Hồ đã nói: “Các chú làm hỏng việc rồi”. “Việc” có thể là “việc” của Bác đã suy nghĩ về cách mời Phạm Quỳnh làm gì đó cho “việc” dân, “việc” nước chăng? Dù sao cũng đã lỡ rồi nhưng cũng rất cần “lịch sử đánh giá lại” Cụ Phạm như lời Hồ Chí Minh…

Tháng 5/2011

“Trả lại César những gì của César” – Đoàn Văn Cầu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/201)

“TRẢ LẠI CÉSAR NHỮNG GÌ CỦA CÉSAR”

Đoàn Văn Cầu

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là lời dẫn nhập cho tập Hành trình nhật ký gồm ba bài du ký của Phạm Quỳnh đã đăng trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, được con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn đưa in chung vào một tập, gồm các bài Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ Pháp du hành trình nhật ký, xuất bản thành sách lần đầu tại Paris, Pháp, năm 1997 (NXB Ý Việt) và in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ năm 2002 (NXB An Tiêm)

Chúng tôi cho đăng theo đúng bản in đầu, chỉ đổi đầu đề thành “Trả lại César những gì của César”, chữ mượn trong bài, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về học giả Phạm Quỳnh.

Thành thật xin lỗi tác giả vì chúng tôi chưa tìm được cách liên hệ với ông đã mạn phép đăng khi chưa được phép.

—o0o—

–          Một thời đại

–          Một cách nhìn

–          Một nỗi niềm

MƯỜI NGÀY Ở HUẾ

MỘT THÁNG Ở NAM KỲ

PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÝ

Tôi xin trân trọng giới thiệu 3 tập du ký dẫn thượng của Phạm Quỳnh tiên sinh, đã được lần lượt đăng tải trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, nay để chung vào một ấn phẩm lấy tên là Hành trình nhật ký, do Ý Việt xuất bản tại Paris và Văn Nghệ tại Hoa Kỳ phát hành.

Thân thế và sự nghiệp của tiên sinh phổ cập từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến thôn quê, giới thức giả không ai không biết, hà tất phải rườm rà nhắc lại, mọi người đều công nhận tiên sinh là một nhà báo lỗi lạc, một học giả, văn hào, chính trị gia có tầm vóc lớn.

Tiên sinh ra đời 8 năm trước thế kỷ 20, đại thế vận hành đang chuyển mình trên mọi địa hạt, ở khắp nơi, trưởng thành trong một thời đại mang ấn dấu của nhiều biến cố phi thường:

–          Trên lãnh vực Quốc tế: cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa, cách mạng đỏ ở Nga, thế chiến thứ nhất, Nhật Bản canh tân, cao trào thực dân…

–          Trên lĩnh vực Quốc nội: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh…

Tiên sinh lìa đời trong cơn lốc của Cách Mạng Tháng Tám, khi chưa tới tuổi lão niên.

Mồ côi cha mẹ từ thửa ấu thơ, được bà nội nuôi nấng chăm sóc. Vốn bẩm sinh thông minh mẫn tiệp, lại có chí và nghị lực, mới 16 tuổi tiên sinh đã đỗ thủ khoa bằng Cao đẳng Tiểu học thời bấy giờ. Tuy vậy cái sở đắc thành đạt của tiên sinh không do trường ốc mà ở trường đời. Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, tài năng của tiên sinh được tôi luyện qua văn đàn và diễn đàn… Là người có cá tánh, có bản lãnh, giòng dõi sĩ phu, tâm tư bén nhạy, bản chất năng động, lại đứng giữa cơn xoáy của những luồng tư tưởng đối cực, nhưng nhiễu nhương thời cuộc, lẽ dĩ nhiên tiên sinh không chạy theo xu hướng thời thượng, – là an nhàn hưởng thụ, hay dùng đại ngôn hô hào cho có lệ, – mà đã tích cực dấn thân với tâm huyết và cái khí quy kết trong cái mà tôi mạo muội gọi lài “TINH THẦN PHẠM QUỲNH”.

Nói đến tinh thần là nói đến cái lòng, cái chí, cái trí, cái đức, cái dũng của một danh nhân có lý tưởng cao cả hay hành động xuất chúng. Lòng ấy là lòng yêu nước, chí ấy là trường kỳ đeo đuổi mục tiêu, trí ấy là học vấn cao thâm mà thực tiễn, đức ấy bao gồm đạo lý cá nhân và đức lý chính trị, dũng ấy là dám làm dám chịu, bất chấp nguy hiểm, thị phi.

Tinh thần ấy bàng bạc qua các trứ tác của tiên sinh, bằng Quốc văn hay Pháp ngữ, qua các buổi đăng đàn diễn thuyết, qua các cuộc mạn đàm, tiếp xúc, đối thoại, thậm chí qua những giòng văn miêu tả cảnh vật như sẽ thấy trong 3 tập du ký nói trên.

Công ơn của tiên sinh về bảo vệ Quốc ngữ, cổ xúy Quốc học, không ai có thể phủ nhận. Tiên sinh đã kịch liệt chống đối ý đồ của thực dân định lấy Pháp ngữ làm ngôn ngữ phổ thông như đã xảy ra ở một số thuộc địa khác. Tiên sinh cũng đã liên hồi đòi hỏi Việt ngữ phải có một chỗ đứng xứng đáng trong học trình…

Với quan niệm “văn dĩ tải đạo”, tiên sinh đã tuyển lựa phổ biến những giá trị Đông Tây kim cổ, kèm theo những lời khuyến cáo, kêu gọi, có khi như van lơn cầu khẩn. Luận thuyết của tiên sinh rất rõ ràng giản dị, nhưng cũng có những điều “ý tại ngôn ngoại”, phải tinh mới thấy được cái thâm ý của tiên sinh. Tiên sinh đề nghị, thúc giục, nhưng không bao giờ kích động. Điều đó, một phần do tính ôn hòa của tiên sinh, một phần do đường lối “hòa hoãn” của tiên sinh, một trong những cớ làm cho người đời có nghi vấn về thái độ và tư thế chính trị của tiên sinh.

Người ta không hiểu lập trường “bảo hoàng” của tiên sinh ở thời điểm cao trào dân chủ, không hiểu chủ trương “thỏa hiệp” trước sự lấn áp trắng trợn của đế quốc.

Phải chăng vì hư danh mà tiên sinh chấp nhận dấn thân vào hoạn lộ? – Người đời đã không hiểu lập trường chủ trương đó, đường lối xuất xử đó nằm trong “chính lược” tiên sinh đã tự vạch cho mình, sau khi đã trắc lượng thời cuộc chứ chẳng phải vị lợi, vị danh. Trong thâm tâm có lẽ tiên sinh nghĩ rằng thời đó thực dân còn quá mạnh, dân tâm còn khảng tảng, dân trí chưa cao, tình hình quốc tế chưa có gì thuận lợi cho một cuộc cách mạng bạo lực, thì đành phải chấp nhận một biện pháp “chiết trung”: dựa vào “chính thống” (nhà vua) để đòi hỏi chính quyền Bảo hộ giữ chữ TÍN, trao trả lại quyền uy công chính cho nước nhà. Muốn thể hiện điều đó thì phải có “thế” bằng cách giữ một vai trò chủ chốt trong triều đình. Đối với Pháp, nếu chưa có thời cơ để quyết liệt đối kháng thì đành ẩn nhận “đề huề”, nhưng không bao giờ sơ khoáng trong mục tiêu tối hậu là nền Độc Lập của nước nhà. “Gặp thời thế, thế thời phải thế”, tiên sinh chắc đã suy ngẫm nhiều đến chữ “thời” và chữ “tùy” của cổ nhân.

Hai tài liệu sau đây làm sáng tỏ luận cứ nói trên:

1. Bức thư riêng của tiên sinh, hồi đó là Ngự Tiền Văn Phòng Đại Nội, gửi ông Louis Marty, Giám đốc Chính Trị Vụ Phủ Toàn Quyền Đông Dương, thư đề ngày 30 tháng 12 năm 1933. (Tài liệu riêng của gia đình tiên sinh).

“…Người ta không ý thức và hiểu được rằng một người Pháp và một người Việt có thể có cảm tình với nhau, một tình thân hữu chân thành, mà không phản lại nước mình. Điều đó vượt qua tâm thức của họ.

“…Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, tất nhiên với căn bản xấu xa của nó, và một “trật tự” mới tôn trọng nhân phẩm hơn, nhưng không phải trong chốc lát mà tạo lập ra được; tôi đã sống giữa tất cả những mâu thuẫn đó, đã cố gắng hài hòa để đi đến một sự triển khai khôn ngoan, thực hiện được sự tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi đã vấp vào một bức tường “thiếu cảm thông”.

“Tôi vẫn tự an ủi bằng niềm tin chắc chắn vào nhiệm vụ cần thiết tôi đang đảm nhận. Hiện nay tôi chỉ cảm thấy “thân phận nô dịch”, nhưng rất có thể nó cũng sẽ có phần cao quý của nó.

“Đã hẳn rằng tôi có thể lánh mình trong tháp ngà, tự mãn trong đời sống yên hàn êm ấm của một đạt nhân văn gia theo nguyện vọng thiết tha của lòng tôi. Nhưng tôi nhận thấy có bổn phận phải rời bỏ tâm ý đó…Tôi trái ư? Tôi phải ư?

“Thành ra tôi đã lâm vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu như sau:

““Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tôi, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!

““Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!

“Và cái “trường hợp” của tôi làm thiên hạ khó chịu; họ tìm cách giải thích, thuyết minh đủ mọi lối, và họ vẫn không hiểu.

““Có lẽ họ chỉ có thể hiểu khi hoàn cảnh cho phép tạo dựng được một “thỏa hiệp án” giữa “chủ nghĩa quốc gia Việt Nam” và “chế độ thực dân Pháp”.

“Tôi tin rằng sự dung hòa có thể thành công được. Nhưng trong khi “thỏa hiệp án” ấy chưa được thực hiện, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương”…*

2. Bản báo cáo ngày mùng 8 tháng 1 năm 1945 của Khâm sứ Haelewyn gửi Toàn quyền Decoux (Tài liệu do thân hữu gia đình cung cấp).

““Một lần nữa, viên Thượng Thư Lại Bộ (Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản… Ông (Phạm Quỳnh) đòi hỏi chúng ta, trong thời gian ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay chế độ Bảo Hộ bằng một thể chế “Thịnh Vượng Chung”, trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, Ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của Ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm Ông vào một chức vị danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, Ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài”.

Đọc qua hai tài liệu này mới rõ rằng, muốn triệt thấu “Tinh Thần Phạm Quỳnh” không thể chỉ căn cứ vào những sự kiện trước mắt, mà phải thấy được tiền ý của tiên sinh. “Thỏa hiệp, Đề huề” không phải là chiêu bài duy nhất trong sách lược của tiên sinh. Cái “bất biến” trong “Tinh Thần Phạm Quỳnh” là lòng yêu nước. Cái “vạn biến” là chủ trương đường lối tùy theo thời thế. “Anh hùng bất luận thắng bại”, tiên sinh có thể tính sai một nước cờ, nhưng tiên sinh nhất định không phải là một người phản dân hại nước.

Lý tưởng của tiên sinh là một lý tưởng cao cả. Những lời kêu gọi của tiên sinh là những lời cổ võ chính đáng.

Những truyền đạt của tiên sinh vẫn có giá trị cho đến ngày nay. Tiên sinh mất đi giữa lúc đang có hoài bão trở lại văn đàn. Sự vắng mặt của tiên sinh là một mất mát thiệt thòi lớn cho mọi người.

“Cái quan luận định”, đã đến lúc thấy rõ “nỗi niềm” của tiên sinh.

“Trả lại César những gì của César”

Đó là điều mong muốn và chờ đợi của giới thức giả chuộng Công Lý.

Viết tại Rockville, Maryland, Hoa Kỳ

Mùa xuân Đinh Sửu (1997)

Đ.V.C.

———–

(*) Trần Gia Phụng, trong Trường hợp Phạm Quỳnh, nhận xét về lá thư này như sau: “Chú ý: đây là thư của một người bạn gởi cho một người bạn, chứ không phải là báo cáo chính trị của một Thượng thư Nam Triều gởi cho viên Giám đốc Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương. Đặc biệt, bức thư này được lưu giữ trong gia đình Louis Marty, do bà quả phụ Marty gởi cho bà Phạm Thị Ngoạn (thứ nữ của Phạm Quỳnh) mượn để sao y năm 1960. Lúc đó bà Marty sống tại Cahors, Département du Lot (Vùng Massif Central)” (Chú thích số 44, trang 339 tập Giải oan lập một đàng tràng (Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, năm 2001).

Tháng Một 17, 2017

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh – Vĩnh Ba

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ  2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vĩnh Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo Vĩnh ba ở thành phố Huế đã viết bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007). Chúng tôi trân trọng trích đăng sau đây, mời các bạn đọc bài viết giàu tâm huyết và trí tuệ này.

*

* *

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Đó là câu nói hàm súc rất hay khi đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật lớn lao của tác phẩm này từ một học giả Việt Nam. Câu nói này không những bao hàm một am hiểu sâu xa, một nhìn nhận nghệ thuật về Truyện Kiều – một áng văn chương tuyệt tác có một không hai của nền văn học nước ta – mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ và rất sâu sắc. Trong câu nói đó, ta còn thấy được người phát ngôn đã đánh giá cao và đúng vai trò của văn hoá, nhất là văn học trong sự sống còn của một tộc người sống trong nền văn hoá đó. Có thể rút ra nhiều điều bổ ích nữa từ quan điểm này trong thời kì hiện nay lúc mà đang có rất nhiều lời kêu gọi giữ gìn bản sắc dân tộc trước cao trào hội nhập và toàn cầu hoá. Vì sao truyện Kiều còn thì tiếng ta còn? Vì sao tiếng ta còn thì nước ta còn? Đó là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tác giả câu nói đó chính là nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

1. Sơ lược thân thế Phạm Quỳnh

(…) Ông sinh năm 1892 tại Hà Nội nhưng quê quán làng Thượg Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm thị Ngoạn[1]..

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương tạp chí do Nguyễn văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn Lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương Tạp Chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút phần quốc ngữ: Tạp chí Nam Phong. Năm 1922 ông được chọn làm Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, nhưng qua đầu năm 1925 Phạm Quỳnh ly khai với Hội, không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa. Cũng trong năm 1922 ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức tham dự hội chợ triển lãm Marseille. Trong thời gian 3 tháng ở lại Paris ông đã diễn thuyết nhiều lần ở Nghị viện Pháp và Ban chính trị và luân lí của Viện Hàn lâm Pháp quốc. Tháng 11 năm 1932 ông vào Huế để tham chính, lãnh chức Đổng lí Ngự tiền văn phòng, Thượng thư bộ Học rồi thượng thư bộ Lại. Năm 1939, ông lại một lần nữa đi Pháp với Bảo Đại để điều đình với Chính phủ hầu mong lấy lại Bắc kỳ cho triều đình Huế. Kể từ khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời ông rút khỏi chính trường và có ý định trở lại nghiệp cũ.

Phạm Quỳnh để lại cho đời Thượng Chi văn tập, tuyển tập các bài viết rất có giá trị của một nhà báo được xếp vào lớp tiền phong của nền báo chí nước ta, và một số lượng các bài báo khác đã đăng tải trên Đông DươngNam Phong. Trong thời kì phôi thai của chữ quốc ngữ, không mấy ai có thể quên được sự đóng góp của ông và các học giả như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật,.. những người đồng thời với Phạm Quỳnh và cộng tác với ông trong tạp chí Nam Phong.

2. Phạm Quỳnh làm báo

Khi làm chủ bút báo Nam Phong từ 1917 – 1932, lúc vừa 25 tuổi, ông chủ trương thuyết lập hiến, tiếp thu văn hoá phương Tây để nâng cao dân trí và lần hồi dành lại chủ quyền tự trị đất nước dựa vào hiệp ước Patenôtre 1884 (tức là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp).

Trong bài viết “Quốc học và Chính trị” trên báo Nam Phong số 165,1921 ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy…. Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.” Nay chúng ta có một nền quốc văn không thua kém gì ai thì xét trong buổi đầu mới manh nha của chữ quốc ngữ, của nền báo chí và của văn học viết, há không trân trọng sự đóng góp của Phạm tiên sinh sao?

Về điều này, Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã nhìn nhận: “Cái công của Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ….Trong 16 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến…… Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết Cổ La-Hy, chỉ đọc Nam Phong là có thể hiểu biết được…”.[2]

Tuy nhiên, ta cũng cần biết nền quốc học đó đã được xây dựng trên quan điểm nào? Trên hoành phi còn lại hiện nay ở chùa Vạn Phước, Huế, ta còn có thể thấy thủ bút 4 chữ吐 納 歐 亞 “Thổ nạp Âu Á” của chính Phạm tiên sinh. Thổ nạp Âu Á là nhả ra những cái lạc hậu cũ và thu nhập vào những tinh hoa của văn minh phương Tây và phương Đông. Bốn chữ này có thể xem là bao quát được quan điểm của tạp chí Nam Phong, chỉ ra phương hướng xây dựng nền quốc học theo ý đồ của Phạm Quỳnh.

(…)

Chính Phạm Quỳnh đã nói đến cái bản sắc dân tộc đó trong một bài diễn văn trước mặt thực dân Pháp tức Ban lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp: “Chúng tôi là một nước có một nền văn hoá cũ, chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng có thể viết gì lên cũng được. Tức là tờ giấy có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ thuở nhỏ cho đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay kết quả chỉ làm người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hoá được Tây, hẳn thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.”[3]

Lần khác ông đã dám đứng trước Nghị Viện Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hoá Việt Nam: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một cuốn sách dầy đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hằng mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của người Pháp kia. ”[4] Quả là những lời diễn thuyết hùng hồn và sâu sắc vô cùng của một người tràn trề tình yêu đất nước trên mặt trận văn hoá.

Truyện Kiều mà Phạm Quỳnh đề cập đến trong câu nói thời danh của ông chẳng qua là một biểu tượng của nền văn hiến mấy ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, là bản sắc dân tộc quý giá mà muôn đời trước cha ông ta để lại được thể hiện qua thành tựu văn học. Nó thể hiện đỉnh cao của nền thi ca dân tộc mà thông qua đó ngôn ngữ, cách diễn đạt, tầm hiểu biết, trình độ cảm nhận của một tộc người đã bộc lộ. Rất nhiều điển cố, hình tượng văn học, thi ca ngôn ngữ Trung quốc được Việt hoá thành một vốn liếng văn hoá cho ta bên cạnh bản sắc riêng của dân tộc ta. Ta giữ được vốn liếng văn hoá tập quán đáng quý của cha ông qua yêu thích, trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu truyện Kiều thì còn tiếng nói, còn dân tộc giống nòi, đó là một lẽ tất nhiên mà ai ai cũng nhận ra. Tiếc thay vì bất đồng quan điểm chính trị khiến cuộc bút chiến truyện Kiều đã xảy ra giữa các sĩ phu yêu nước thời đó. Bình tâm mà xét, ta thấy rằng Phạm tiên sinh rõ ràng muốn xây dựng và phát triển một nền quốc học dựa trên bản sắc tốt đẹp của dân tộc và có tiếp thu tiến bộ của cộng đồng nhân loại. Điều quan trọng hơn như ta đã thấy qua một số trích dẫn trên rằng cái mục tiêu cuối cùng Phạm Quỳnh muốn nhắm đến là một nền độc lập chính trị cho một quốc gia có dân trí.

3. Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí với hơn 210 số, mỗi số hơn 100 trang là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ. Tạp chí Nam Phong mỗi tháng xuất bản một kỳ, giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh Ấn Quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội.[5] Phạm Quỳnh đã nói rõ ý đồ của ông khi nhận làm Nam Phong như sau:

Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…”[6] (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Theo nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, tập III tr. 129 thì đối với Phạm Quỳnh, việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ từ ngày viết trên Đông Dương tạp chí, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa một nền học thuật mới thay thế cho Hán học suy tàn. Luôn thể Phạm Quỳnh muốn dần dà gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Ngày nay Thượng Chi văn tậpDu Ký Việt Nam, Luận giải Văn học Triết học,vv… đã được tái bản có thể giúp ta thấy được sự nghiệp to tát của Nam Phong tạp chí. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đã phần nào thực hiện được cái tôn chỉ mà tờ báo đã đề ra: xây dựng một nền quốc văn khá vững vàng mang bản sắc dân tộc. Trong Tự điển Văn Học Việt Nam (NXB Văn Hoá – Thông in, Hà Nội, 1993) Phạm Quỳnh lại có tên bên cạnh các tác giả khác. Điều đó cho thấy nay ông đã được công nhận trở lại là một nhà văn hoá Việt Nam.

Phạm Quỳnh cũng như bao nhà yêu nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 đều biết rằng dân trí của ta đương thời còn lạc hậu. Nền Hán học đã bộc lộ sự bất lực của mình trước nền văn minh kĩ thuật phương Tây ngày càng tiến bộ. Ngay cả ở Trung quốc các chí sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… đều từ bỏ chế độ phong kiến quân chủ để tìm đến các lí tưởng nhân quyền, dân chủ và tự do mà các triết gia phương tây như Montesquieu, Voltaire, J.Rousseau,… đề xướng. Nhưng để tiếp thu được các tư tưởng tiến bộ phương Tây và bảo thủ được cái quốc hồn quốc tuý thì không thể không xây dựng một vốn liếng ngôn ngữ Việt Nam nhằm diễn đạt các tư tưởng mới mẻ đó. Quả nhiên trong lãnh vực này Nam Phong đã đóng một vai trò quan trọng. Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đã nhận xét: “Ông là người đã chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hoá Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hoá được.”[7]

Có thể nói Phạm Quỳnh đã tiếp nối con đường được mở ra trước đó của Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông cùng quan điểm với cụ Phan Tây Hồ khi chọn con đường nâng cao dân trí, khai hoá cho đồng bào và đấu tranh bất bạo động. Trước khi rời Nhật Bản về nước, Phan Chu Trinh đã tâm sự với các đồng chí trong phong trào Duy Tân: “Tôi có định kiến rồi, công việc chúng ta làm ngày nay chỉ nên chú trọng vào việc khai hoá cho đồng bào mình, tiến được bước nào chắc bước ấy, mới mong có hi vọng về sau. Còn như chủ nghĩa muốn làm mau, muốn lấy võ lực mà bạo động trong nước hay là sức người để nối quân cách mệnh, việc ấy tất nhiên phải thất bại, tiếp đến dân bị khủng bố, nhuệ khí bị nhụt đi. Không có ích gì, tôi không tán thành cái chủ trương ấy[8]

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong VNVHSGƯTB đã tóm tắt sự nghiệp văn hoá của Phạm Thượng Chi tiên sinh như sau: (…)

– Ông đã đấu tranh cho câu văn quốc ngữ. (Học tiếng Việt, viết văn quốc ngữ, luyện văn xuôi, văn nghị luận, dùng Hán Việt âm,…)

– Ông đã khởi công xây dựng một nền học mới. (Học tập thâu thái Tây Phương, soạn Tự điển, phiên dịch sách vở nước ngoài,..)

– Ông đã cùng giúp cho văn nghệ tiến bộ. ( Mở ra các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… còn giá trị đến ngày nay,..)

– Ông đã lập được một tạp chí có giá trị: Nam Phong tạp chí. Theo nhà phê bình Thiếu Sơn “nhiều người không biết văn Tây văn Tàu có thể chỉ nhờ đọc Nam Phong mà có được cái trí thức phổ thông về văn chương và học thuật Đông Tây”. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đó là một “bách khoa toàn thư” (Sđd tr.244-247).

Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, thế hệ 1932 đã viết “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 –1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hoá thế hệ 1913 –1932. Câu nói trên đây quả không phải là quá đáng. Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919- V.B) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đêm đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 –1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. Nói như vậy để các bạn ghi nhận thế giá và uy tín của Nam Phong nó to tát đến như thế nào.Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.” (Sđd tr.16-17). Dẫu đây là một ý kiến có phần chủ quan nhưng Thanh Lãng cũng đã cho ta thấy được sự đóng góp có một không hai trong thời kì đầu của công cuộc phát triển nền quốc văn nước ta.

Quả nhiên, Phạm Quỳnh đã thực hiện được ước nguyện của mình với Nam Phong tạp chí. Ông đã tập hợp được một số trí thức tân học và cựu học để xây dựng một nền quốc học, tạo được một cao trào nâng cao dân trí sôi nổi, gây được một thế lực dân tộc khá mạnh. Ta không nên hiểu những thành tựu của Nam Phong tạp chí là của riêng Phạm Quỳnh mà là dưới sự dẫn dắt lèo lái tài ba của ông. Một lớp thanh niên đông đảo đã hưởng được ơn ích từ sự mở mang từ kiến thức đến tinh thần qua đọc báo Nam Phong, làm cơ sở cho phát triển nền văn chương học thuật sau này. Để hiểu rõ hơn đóng góp của tạp chí Nam Phong trong thời kì văn học này đòi hỏi một công trình nghiên cứu nghiêm túc và dày công, điều đó ở ngoài nội dung của bài viết này.

4. Phạm Quỳnh tham chính

Khi Phạm Quỳnh được ra chấp chính với chức vụ Đổng lý Ngự Tiền Văn Phòng, rồi Thượng Thư bộ Học tháng 11 năm 1932, trong dân chúng truyền tụng câu vè: “Giấc Nam Kha khéo bất bình / Bừng con mắt dậy thấy mình Thượng Thư.” Quả là oái oăm cho một học giả rất nghiêm túc như ông. Có phải vì tham chức quyền mà ông rời bỏ sự nghiệp văn học của mình chăng?

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước. Vị vua Tây học này đã thực hiện ý đồ tân hoá và trẻ hoá đội ngũ bằng cách thay 6 vị lão thần thượng thư của Cơ Mật Viện bằng những người trẻ tuổi “Âu Á kiêm thông” trong đó có hai gương mặt sáng giá là Phạm Quỳnh (bộ Học) và Ngô Đình Diệm (bộ Lại). Dân gian nhắc nhở sự kiện này qua bài thơ châm biếm: Năm cụ khi không rớt cái ình / Đất bằng sấm dậy xứ Thần Kinh. Tuy nhiên sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh không phải là điều khiến ông được nhắc nhiều về sau.

Hiện nay đã có những đánh giá rất sâu sắc về những đóng góp của Phạm Quỳnh về mặt văn hoá. Còn về chính trị thì ta nên tham khảo ý kiến cách đây hơn 60 năm của Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn. Viên quan thầy người Pháp này đã không nhầm khi viết trong báo cáo ngày 08.01.1945 cho Toàn Quyền Decoux và Tổng đại diện Mordant về Phạm Quỳnh:

Viên Thượng Thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của mình.

Một lần nữa, vị Thượng Thư bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng Thư bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà Vua những biểu hiện của một chủ quyền trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh còn doạ sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với vua Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vụ chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.

Tôi lưu ý Ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyến nổi của nền độc lập Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho đến nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản.”(Chúng tôi nhấn mạnh – PT) [9]

Hoá ra việc viết văn làm báo rồi làm chính trị của Phạm Quỳnh đều phát xuất từ một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc vì một nền văn hoá nước nhà, vì một nền độc lập chính trị cho Tổ Quốc. Để hiểu hơn nữa việc Phạm Quỳnh tham gia chính trị thì có lẽ ta tin được một người đương thời với ông: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Trong Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học, Hà Nội, 1971) Nguyễn công Hoan đã viết:

Khi viết truyện Kép Tư Bền tôi liên tưởng tới bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm chính là trường hợp Phạm Quỳnh! … Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, ông được cấp 600 đồng mỗi tháng. Món tiền này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng, trái với ý mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm.

Bi kịch của Phạm Quỳnh là ở đây. Ông đã đem cái hồn nhiên của một người làm công tác văn học vào sân khấu chính trị, ôm cái ảo tưởng chân lí sẽ thắng cường quyền, tin vào việc đấu bằng nghị trường, bất bạo động sẽ giành được chủ quyền cho Tổ quốc Việt Nam mến yêu của ông. Ông đã quá thơ ngây khi trích dẫn ngay trên bìa báo Nam Phong lời của Roosevelt: Có ngang tầm với nhau mới có chuyện bình đẳng (Il n’y a que ceux qui sont des égeaux sont égeaux) và tuyên bố với Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà nội ngày 06.11.1931 dưới hình thức một bức thư ngõ rằng “chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu. Tổ quốc ấy, thưa Ngài Tổng trưởng, không thể nào là nước Pháp được”[10]. Chính trị không giản dị như thế. Phạm Quỳnh biết mình lầm, ông đã rất tiếc cho lòng tin của ông vào nước Pháp văn minh trí thức với lí tưởng công bằng, tự do và bác ái.

5. Phong cách Phạm Quỳnh

Sau khi đã hiểu được tâm tình của Phạm Quỳnh, ta nên tìm hiểu một chút về nhân cách của ông. Ông sống rất giản dị, không nặng nề phô trương hình thức và thế lực như Nguyễn Văn Vĩnh. Phạm Thế Ngũ trong sách đã dẫn có trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ Nữ Tân Văn ngày 18.06.1931 và ngày 16.07.1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, cho ta thấy rõ ràng sự tương phản nói trên. Về Phạm Quỳnh thì “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi toà soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh……. Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự cao mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”, còn về ông Nguyễn Văn Vĩnh thì “Tầng trên lầu là toà soạn báo Trung Bắc Tân Văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”[11]

Tương truyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trước một lò trầm và mặc khăn đen áo dài như đang cử hành một nghi lễ. Quốc phục khăn đen áo dài luôn luôn được ông mặc, nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc nước nhà của Phạm tiên sinh. Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làm cho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi. Có người cho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất là với một thanh niên Tây học ta mới thấy quí một nếp nhà còn được gìn giữ và tự hào. Điều nhắc nhở chúng ta là mới đây trong hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo lớn của thế giới như Nga, Mỹ , Trung Quốc, Pháp,.. đã hân hạnh được tặng và mặc bộ quốc phục như trên.

Khi mới hai mươi mấy tuổi đầu, ông đã tập hợp được những người lớn tuổi cùng cộng tác. Chính ông đồ Nguyễn bá Học đã công khai khâm phục tài năng của người trai trẻ này qua câu nói “Bách tuế lão ô bất như sơ sinh phượng hoàng” (Con quạ già 100 tuổi cũng không bằng con phượng hoàng mới sinh). Khi khăn đen áo dài diễn thuyết trước Quốc Hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hoá của Việt Nam, Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhưng đã làm trí thức Pháp kinh sợ với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nước nồng nàn hơn các trí thức Việt Nam Tây học khác tại Pháp có bằng cấp cao hơn nhiều. Giải thích việc tránh cuộc bút chiến về truyện Kiều với ông đồ Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh đã nói, “Bất luận tài học ông Nghè Ngô như thế nào, ông có điều hơn đứt tôi là ông đã vì nước mà phải tù tội… Nếu thành ra một cuộc cãi lộn thì tất phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ, ông mục cho tôi là văn sĩ lóp lép thì tôi nể gì ông mà không tặng ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá còn ra sự thể gì.”[12]

Không thích ông phải kể đến nhóm Phong Hoá. Họ đã làm vè như sau: Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai là sừ Uỳnh / Một sừ béo núng rung rinh / Một sừ lểu dểu như hình cò hương / Không vốn liếng chẳng ruộng nương / Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu… (Báo Phong Hoá số 14 ngày 22.07.1932). Phê bình một học giả từng diễn thuyết trước Nghị viện Pháp bằng thơ vè như thế chỉ làm tăng thêm thế giá của Phạm Quỳnh.

Một người nữa không mấy thích Phạm Quỳnh là Đổng lí Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hoè. Khi vua Bảo Đại sai ông soạn đạo dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách nói chung thì ông Hoè lại thảo tờ Chỉ (thấp thua 2 cấp: Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Lại bộ Thượng thư Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên. Phạm Khắc Hoè viết: “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14.03.1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua bộ Lại nói chuyện.”[13] Thâm nho như Phạm Quỳnh mà lại xử sự như thế thật là quá mã thượng.

Xét về hai mặt đức tài, Phạm Quỳnh đúng là một sĩ phu có thực học và công phu hàm dưỡng dẫu rằng ông thường tự khiêm tốn gọi mình là “một anh đồ nhà quê”. ( un lettré compagnard)

6. Nơi an nghỉ cuối cùng của Phạm Thượng Chi

Phạm Quỳnh mất năm 1945 khi mới 53 tuổi lúc đang mang trong lòng bao hoài vọng cống hiến cho nền văn hoá nước nhà sau khi rút khỏi vũ đài chính trị. Ông sống ở Huế khá lâu, 13 năm và cũng gởi nắm xương tàn trên đất Huế, chùa Vạn Phước.

Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) và bên hông phải của chùa Từ Đàm. Sinh tiền, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này lúc thư nhàn để đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hoà thượng trụ trì chùa lúc ấy. Chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông cũng rất thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn Phật giáo lược khảo. Âu cũng là một thiện duyên mà giờ đây giác linh Phạm Tiên sinh còn nghe được tiếng chuông và lời kinh của đấng Từ Phụ. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ biểu ở cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương câu nói lừng danh của ông “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Ở bình phong tiền có câu “Tiếng ta con, nước ta còn” viết bằng chữ Quốc ngữ. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (南 風 主 筆 范 瓊 尚 之 遺體 – Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi), bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật (乙 未 年 十 二 月 十 八 日 – Ngày 18.12. năm Ất Mùi, 1956) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa thiên-Huế vào Huế (có tư liệu nói ông được đem vào từ rừng Hắc Thú, Quảng Trị). Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (男 范 璧 仝 弟 妹 等 恭 誌 – Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi). Trong chùa Vạn Phước cũng còn nhiều di vật của ông. Ở nhà học của tăng sinh là hoành phi có câu Thổ nạp Âu Á, thủ bút của ông. Có tư liệu cho rằng hiện có một hoành phi tương tự tại nhà của người con trai ông là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong hiên của điện thờ chính chùa Vạn Phước về phía trái khi đi vào còn có bức ảnh lớn hình Phạm tiên sinh đang làm việc tại văn phòng.

Biệt thự Hoa Đường thuộc đường Hải Triều (xưa là đường Vạn Vạn) nhìn ra sông An Cựu. Ngày xưa đây là một ngôi nhà 2 tầng xây theo kiểu Tây mà bây giờ chỉ còn lại cái tháp nước bên hông nhà trơ gan cùng tuế nguyệt. Cả khuôn viên đã bị lấn chiếm bởi những người không bà con gì với Phạm Quỳnh. Tất cả là những căn nhà tôn lụp xụp hoặc nhà trệt thấp, nhỏ như một xóm lao động nghèo khó. Khó ai có thể tưởng tượng được đây từng là một biệt thự xinh đẹp của một quan đầu triều ngày nào.

Dâu bể đã đổi thay nhưng lòng ngưỡng mộ Phạm Thượng Chi tiên sinh vẫn còn mãi trong lòng bao nhân sĩ Việt Nam.

Tháng 05/2007.

V.B.


[1] Bà là con thứ 6 của Phạm Quỳnh và là vợ của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng là chủ bút Nam Phong ở giai đoạn cuối 1933-1934. Ông Lãng về sau đã theo tướng Nguyễn Sơn và tiếp tục các hoạt động văn hóa. Bà còn có bút hiệu là Liên Trang, đã từng viết một luận án tiến sĩ văn chương về những đóng góp của Nam Phong tạp chí trong buổi đầu của nền quốc học Việt Nam.

[2] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập 4, NXB Hội Nhà văn, trang: 134-136.

[3] Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ Tư, 19/7/1922.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư, tập III, trang 149.

[5] Theo nhà báo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 5/11/2005

[6] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 129.

[7] Vũ Ngọc Phan, sđd, trang 98

[8] Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1968.

[9] Theo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 12/11/2005.

[10] Báo Nam Phong số 166, Octobre 1931, phần phụ lục tiếng Pháp.

[11] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[12] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[13] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 154.

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917-1.7.2017)

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tháng Một 16, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Chúc mừng năm mới Đinh Dậu

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:19 chiều

chuc-mung-nam-moi-dinh-dau

Tháng Một 1, 2017

Tọa đàm về Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong ở Hải Dương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

 Toạ đàm về

Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

ở Hải Dương

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi Blog PhamTon tuần 1 tháng 7/2010 đăng tin về cuộc tọa đàm về học giả Phạm Quỳnh tại Hải Dương theo bản tin trên báo Tiền Phong cuối tuần sô 25, bạn Khúc Hà Linh ở Hải Dương lại vừa gửi cho chúng tôi bài tường thuật tỉ mỉ về cuộc tọa đàm trên. Chúng tôi xin trích đăng để các bạn cùng đọc.

*

*  *

Quê Phạm Quỳnh là làng Hoa Đường( bây giờ là Lương Ngọc) xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, một vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Đây là đất đãi ngoại, chỉ thành đạt khi đi ra ngoài, thành ra đã có bao nhiêu những bậc văn nhân, trí thức tìm về Hà thành lập nghiệp. Cụ tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh cũng trong số đó. Cụ ra Hà Nội làm ăn rồi sinh Phạm Quỳnh tại nhà số 1 Hàng Trống. Chẳng ai ngờ mấy chục năm sau, người con trở thành chủ bút báo Nam Phong, một tạp chí đã gây dấu ấn trong làng báo làng văn nước Việt từ đầu thế kỷ trước.

Trải bao nhiêu biến cố thăng trầm, tháng 6 năm nay, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam 21-6-2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến tổ chức một cuộc tọa đàm về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”, như để tri ân người có công trong làng baó chí một thời…

Trong phòng họp trang trọng có tấm phông nổi lên các hàng chữ “Toạ đàm về Học giả Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong” với bức chân dung nhà báo Phạm Quỳnh, vận quốc phục, khăn đóng, phía sau là chữ Hiếu. Không gian cuộc tọa đàm đã tạo không khí nghiêm trang trước một nhân vật lich sử sống cách chúng ta chưa đến bẩy chục năm.

Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở trung ương và địa phương. Như: giáo sư Văn Tạo- nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư Huệ Chi; giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của 2 Nhà xuất bản Lao ĐộngThanh Niên ở Hà Nội về dự.

Ở địa phương, có các đồng chí lãnh đạo báo Hải Dương, Đài phát thanh truyền hình, Hội Nhà Báo,   Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hoá thể thao- Du lịch tỉnh và các nhà báo trong tỉnh.

Bí thư  huyện uỷ Bình Giang, Chủ tịch xã Thúc Kháng,  quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh,  và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc toạ đàm làm cho không khí càng thêm thân mật

Sau lời phát biểu khai mạc của bà Đặng Thị Bích Liên, uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giáo sư Văn Tạo phát biểu có tính cách đề dẫn.

Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú tiếp lời, ông rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông  có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nạp Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của (Âu) vào Việt Nam và phô bầy những giá trị tốt đẹp của (Á )với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hoá như bây giờ ta thường nói.

Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh sinh viên và xã hội …Nhạc sĩ Phạm Tuyên tỏ ra rất cảm động trước cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý.

Với 15 lượt phát biểu ý kiến của đại biểu các cơ quan trung ương và địa phương, của các vị giáo sư, nhà sử học, nhà báo nhà văn, nhà nghiên cứu và lời giới thiệu cuốn sách mới xuất bản Phạm Quỳnh, con người và thời gian của chính tác giả Khúc Hà Linh, cuộc tọa đàm đã toát lên một điều: Trong sự nghiệp báo chí nước nhà, những năm 1917 đến 1932, tạp chí Nam Phong xứng đáng được tôn vinh, và Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút đã rất có công trong việc chuyển tải văn hoá phương tây vào Việt Nam và tiếp thu những giá trị văn hoá để hội nhập làm cho ngôn ngữ nước nhà càng phong phú mà không làm mất đi vẻ đẹp của tiếng Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh yêu nước trong điều kiện của ông, với cách suy nghĩ của ông. Ông muốn tài bồi một nền quốc văn quốc học theo phương pháp lấy cái tốt đẹp của phương tây, để bổ sung vào cái tốt đẹp của phương đông, cụ thể là Việt Nam

Kết luận cuộc Toạ đàm, nhà báo Nguyễn Thanh Cải, tỉnh uỷ viên, giám đốc Đài Phát thanh truyền hình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Hải Dương, cho rằng qua bẩy chục năm, đủ để kiểm chứng, nhận định về một con người và sự nghiệp, với những trước tác khá đồ sộ để lại cho đời sau. Ông cũng cho rằng, tuy còn những ý kiến quan điểm khác nhau, nhưng tất thảy  các nhà khoa học, các nhà sử học nhà nghiên cứu đều trân trọng Phạm Quỳnh với những gì ông đã cống hiến cho đất nước. Đó là một văn sĩ tài danh, nhà báo có hạng, một con người có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tôn vinh tiếng mẹ đẻ, trân trọng Truyện Kiều, con người đã có công tích cực trong  canh tân văn hoá làm sống lại hồn nước. Nhà báo Nguyễn Thanh Cải  sẽ báo cáo với lãnh đạo tỉnh tiếp tục nghiên cứu và đề xuất có những hình thức kỉ niệm tương xứng với học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong, coi đó là sự tri ân của các thế hệ làm báo của tỉnh với học giả, nhà văn nhà báo Phạm Quỳnh- một người con của quê hương Hải Dương.

K.H.L

1913: Nam Phong; 1932: Phong Hoa, Ngày Nay; 1945: Cờ Giải Phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

1913: NAM PHONG ; 1932: PHONG HÓA, NGÀY NAY; 1945: CỜ GIẢI PHÓNG

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 5/8/2014 đưa tin:

Xét đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Bảo tàng Báo chí Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam quản lý, sẽ lưu giữ, phát huy giá trị của di sản báo chí Việt Nam; là nơi ghi nhận, tôn vinh sự đóng góp của báo chí và các nhà báo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Báo chí Việt Nam cũng là nơi để người dân, các nhà khoa học, các nhà báo trong nước và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ văn hóa, điểm tham quan, du lịch. Dự kiến, Bảo tàng Báo chí Việt Nam sẽ khánh thành vào năm 2015 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2015).”

Nhân dịp này, chúng tôi mời quí bạn đọc tư liệu sau mà ít người biết vì ít được nhắc tới: Đó là tư liệu được nhà báo nổi tiếng Thép Mới công bố trong hai ấn phẩm.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nthep-moi2hân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm 1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

  1. Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

Noi san Nhan Dan hoc anh truong chinh lam bao Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

(…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân VSong dong su nghiep bao chiiệt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí-P2: Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 2: NAM PHONG TẠP CHÍ

1.      Gốc gác và trường hợp ra đời

“Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy có tấm bảng đề hai chữ Nam Phong làm bằng Hán tự, đó tức là nơi toà soạn của báo Nam Phong, còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức là nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh. Nam Phong mỗi tháng có một kỳ, hèn chi trong toà soạn không có cái vẻ đông người nhộn nhịp như ở các báo khác. Qua lớp nhà dưới lên trên lầu mới là nơi làm việc của Phạm tiên sinh. Buổi chúng tôi lại thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện với chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài bốn chục, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Tiện đây để bổ túc chương trên và cũng để thấy rõ sự tương phản giữa hai người, biểu hiện cho hai khuynh hướng của thời đại, chúng tôi cống hiến bạn đọc một đoạn về Nguyễn Văn Vĩnh cũng dưới con mắt của phóng viên Đào Hùng trong một số báo Phụ Nữ Tân Văn kế sau (16/7/1931).

“Ở giữa thành phố Hà Nội, mặt tiền trông ra hồ Hoàn Kiếm, một toà nhà lầu đứng nghênh ngang như có ý phô bày trước con mắt muôn người qua lại cái vẻ lớn lao hùng vĩ. Trên các khung cửa đều có gắn những chữ bằng đồng chói lọi như Trung Bắc Tân Văn, Học báo, Âu Tây tư tưởng, Niên lịch thông thư v.v… Từng dưới là cửa hàng bán sách vở, liếc mắt ngó qua thì thấy nào là Ba người ngự lâm pháp thủ, Những kẻ khốn nạn, nào là Nho giáo, Kim Vân Kiều, và các sách dịch về Âu Tây tư tưởng.

“Tầng trên lầu là toà soạn Trung Bắc Tân Văn, Học báo L’Annam nouveau (Nước An Nam mới – PT chú) người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người, khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm, vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ, và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường. “Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thơ từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh sáng suốt, cử chỉ tự nhiên nói cười vui vẻ…”)

Trên đây là những hàng mở đầu một bài của ông Đào Hùng trong báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn (18/6/1931), khi lần đầu ra Bắc tìm viếng báo Nam Phong. Bài phỏng vấn này đặc biệt cho ta hay gốc gác và trường hợp ra đời của tờ báo, qua lời của chính chủ nhân như sau:

“Tạp chí Nam Phong ra đời 1917 nhưng thật ra thì đã có lâu và không phải tôi đứng tên sáng lập. Lúc trước nó là một bộ Âu Châu chiến sử xuất bản hồi Âu chiến, viết bằng chữ Hán, chủ tâm chỉ viết cho người Tầu bên Trung Hoa đọc thôi. Nguyên hồi dó chính phủ Đông Pháp thấy ở bên Thanh Đảo người Đức làm báo chữ Tầu in hàng muôn số phát không cho dân chúng, chuyên nói về chiến tranh và tán dương nước Đức Chính phủ Đông Pháp cũng lo cái thế lực của người Đức ở bên Tầu mỗi ngày một lớn bèn vời tôi lên phủ Toàn quyền, bảo tôi cùng ông Nguyễn Bá Trác làm một tờ báo chữ Nho lấy các tin tức của sở điện tín Arip, nói rộng chuyện chiến tranh, viết bài kể từ nguyên nhân gốc rễ cuộc Âu chiến, tuyên bố hết những việc tàn khốc dã man của người Đức. Các bài thì ký tên người Tàu và báo cũng in ra hàng muôn số rồi đem sang Trung Quốc phát không, để làm cách chống lại cuộc tuyên truyền của bên địch và đánh đổ thế lực của Đức ở Viễn Đông. Vậy trong mấy năm, tờ Âu Châu chiến sử chỉ là một tờ báo chữ Hán và không có lưu hành trong xứ Đông Dương. Đến năm 1917 thì phủ Toàn quyền mới bàn với tôi rằng sẵn có các tin tức và bài vở đó thì nên mở ra một bản quốc văn để làm một cái cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện và cùng với bạn đồng nghiệp Đông Dương tạp chí là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc…”

Những lời thuật trên có thể coi như đã nói lên tất cả sự thật về mầm mống tờ Nam Phong, nếu ta thêm vào vai trò cốt yếu một nhân vật người Pháp, Louis Marty (Trưởng phòng Chính trị Đông Dương) người cầm đầu tất cả công việc nói trên tại phủ Toàn quyền.

2.      Mục đích

Vậy tờ báo do chính nhà cầm quyền Pháp lập ra với một mục đích chính trị rõ rệt, hơn nữa một mục đích chính trị cấp thời, phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận chiến bấy giờ. Do đó ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở trang đầu ngay trên hai chữ lớn NAM PHONG, mấy hàng chữ Pháp nhỏ “L’information Française: La France devant le monde –Son rôle dans la guerre des nations” (Thông tin Pháp: Nước Pháp trước thế giới – Vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh các nước – PT chú). Thấy ở bìa sau tờ báo một hình vẽ mà người ta đã giải thích là “Rồng Nam phun lửa (Theo chúng tôi là phun bạc – PT chú) diệt Đức tặc”. Thấy ở bên trong, những bài tin tức hoặc bình luận về chiến tranh rất dồi dào nhất là ở phần Hán văn. Thấy ngay ở vài bài quốc văn, một giọng tuyên truyền tán tụng quá hăng, như dưới ngòi bút của Tuyết Huy: “Vái trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc”. (Số 2)

Ngoài mục đích cấp thời ấy tất nhiên Marty cũng còn nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem những cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng và dưới khẩu hiệu “khai hoá”, gây một cơ sở vững chắc là cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ, tức cũng là cái mục đích của tờ Đông Dương tạp chí khi trước.

Còn về phía người Việt khi đứng ra biên tập tờ báo, phải chăng họ chỉ có biết phục vụ chủ trương ấy. Ở dây có lẽ cũng cần điểm qua các cá nhân. Ở mấy số đầu ta thường thấy một giọng tán tụng đôi khi quá trắng trợn dưới ngòi bút của Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác. Ta không nên quên, hai ông đó đều là những người “đới tội lập công”. Tuyết Huy thì sau vụ Duy Tân đi Côn Đảo dược ân xá trở về. Tiêu Đẩu thì xuất ngoại bất hợp pháp, lang thang bên Tàu bên Xiêm, trở về đem ngòi bút ký giả Hán văn đến đầu quân Marty. Riêng với Phạm Quỳnh, trở lại bài phỏng vấn của Đào Hùng, ông có tuyên bố chủ ý của ông khi làm tờ báo như sau: “Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chứ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan để bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” (Lời này trong ẩn ý Phạm Quỳnh phải hiểu rành rọt và nôm na ra là: “Tờ báo không phải tôi cầu cạnh, chạy chọt mà có –như lắm kẻ chạy chọt để được Tây cho một cái manchetle (Tên báo – PT chú) – chẳng qua Tây thấy tôi có tài, nên vời tôi, muốn DÙNG tôi cho mục đích của họ – mà tôi ưng nhận là vì thấy có thể LỢI DỤNG để làm việc cho cái mục đích của tôi”

Cái việc LỢI DỤNG nhau này, thật ra rất tế nhị. Ở ngoài không dễ nhìn ra. Mà bên trong cũng không luôn luôn suông sẻ. Nhất là đối với một đối phương tầm cỡ như Marty. Thanh Lãng cho rằng đem cái sứ mạng khai hoá nhân đạo của Đại Pháp – cũng như cái tiêu ngữ Tự do – Bình đẳng – Bác ái ra mà cực lực tán dương (ngay ở số đầu) chính là cách chửi xỏ, nói móc bọn thực dân ngồi đó – Chẳng biết có phải do đề xuất của Marty không mà về sau báo luôn luôn nêu ra bìa ngoài câu châm ngôn: “Có đồng đẳng mới bình đẳng” (Íl n’y a d’égaux qu’entre semblables). Nghĩa là phải đạt trình độ như người mới nên đòi hỏi bình đẳng với người. Nam Phong không phải không có những bài làm cho vài người Tây tức giận, cho là bài Pháp, lên tiếng đả kích trên báo L’avenir du Tonkin (Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú), sau đó Phạm Quỳnh đã phải hết sức biện bạch, vuốt ve.)

Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn. Điều đó ông có nói rõ trong “Nhời nói đầu” số Nam Phong ra mắt. Sau nữa cũng cần thêm vào một mục đích thầm kín khác mà mới đầu người chủ trương Nam Phong không dám nói lên nhưng dần dà ông đã hướng tới là gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Tất nhiên làm ba công việc trên là với sự công nhận, sự thoả hiệp hoặc sự trục lợi của người Pháp nữa – là điều ta sẽ có dịp xét sau – song cũng hiển nhiên đó là ba mục tiêu mà Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã đặt ra và để công thực hiện.

P.T.N.

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí: P1_ Lược thuật thân thế Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 1: LƯỢC THUẬT THÂN THẾ PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh bút hiệu Thượng Chi hoặc Hồng Nhân hoặc Hoa Đường nữa, nguyên quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1892, vào học trường Bảo Hộ (tức trường Thông ngôn cũ) Hà Nội. Năm 1908, ông thi ra đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học rồi vào làm tại Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Học Viện (École Française d’Êxtrême-Orient). Thời gian này đã rất bổ ích cho ông để đọc sách và học thêm chữ Hán. Có thể nói cái căn bản học giả nơi ông về sau này là được định hướng và gây dựng trong thời kỳ ấy.

  • Tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh ra năm 1913, ông có trợ bút, viết những bài dịch thuật văn học và tư tưởng, đó là bước đầu trong nghề văn. Rồi năm 1917 với sự bảo trợ của Louis Marty, Trưởng phòng Chính trị tại phủ Toàn quyền, ông cho ra tờ Nam Phong. Ông là chủ bút, chuyên viết mục luận thuyết và dịch văn chương Pháp. Năm 1922, ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện hội Khai Trí Tiến Đức, dự cuộc hội chợ triển lãm Marseille. Ông ghé Marseille rồi lên Paris, ở lại ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả trước ban chính trị và luân lý của Hàn Lâm viện. Giới thuộc địa và báo chí Pháp bắt đầu chú ý đến Phạm Quỳnh. Khi về nước, ông nghiễm nhiên trở thành nhân sĩ số một đất Bắc, nổi danh về cây bút ký giả và học giả. Làm chủ bút Nam Phong, lại làm Tổng thư ký hội Khai Trí Tiến Đức, ông cổ xuý cho việc gây dựng một nền văn học quốc gia, tranh đấu đòi người Pháp thiết lập bậc Tiểu học Việt Nam. Từ năm 1925, ông được cử làm giảng sư về khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao Đẳng Hà Nội. Năm 1929 ông được cử vào Đại hội nghị Kinh tài Đông Dương (cùng với Nguyễn Văn Vĩnh). Khoảng 1930, trước phong trào nổi dậy và đòi hỏi của dân Việt Nam ngày thêm gay gắt, người Pháp dự tính thay đổi chế độ cai trị của họ. Phạm Quỳnh xướng lên thuyết lập hiến chủ trương phải quy định rõ ràng bằng hiến pháp, quyền của dân, của vua quan và của Bảo hộ. Năm 1932, để thoả mãn phần nào những khát vọng của dân ta, người Pháp đem Bảo Đại 20 tuổi về nước, nói là để mở một kỷ nguyên quân chủ văn minh mới. Tháng 11 năm ấy Phạm Quỳnh được mời vào Huế lãnh chức Thượng thư sung Ngự Tiền văn phòng Đổng lý.
  • Bảo Đại lập nội các, cử Phạm Quỳnh làm Tổng lý kiêm Thượng thư Bộ Giáo Dục và toan thi hành những cải cách lớn. Nhưng công việc không đưa tới kết quả nào. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn làm quan ở Huế cho tới 1939 lại cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả Bắc kỳ lại cho triều đình Huế (theo đúng hiệp ước 1884). Cuộc vận động chưa xong thì đại chiến bùng nổ. Pháp thua Đức ở Âu châu nhường cho Nhật Bản đổ bộ vào Đông Dương. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại mời Trần Trọng Kim lập chính phủ thân Nhật.

Phạm Quỳnh mất sau ngày Cách mạng tháng 8

P.T.N.

Chúc mừng năm mới 2017

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 12:26 sáng

chuc-mung-nam-moi-2017

Tháng Mười Hai 18, 2016

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 2 tháng 12 năm 2016)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Đô-nan Trăm

Ngày 14-12, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Đô-nan Trăm.

Thủ tướng Chính phủ đã chúc mừng ông Đ.Trăm được bầu là Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ.

Tổng thống đắc cử Đ.Trăm đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, những tiến triển tích cực trong quan hệ hai nước và khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ.

nguyen-xuan-phuc-goi-dien-donald-trumpHai nhà lãnh đạo đã trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian tới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo

Ngày 9-12, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc trực tuyến, phổ biến, quán triệt Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị. Có 12 nghìn đại biểu tham dự.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo. Dự Hội nghị, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Trần Đại Quang; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Ủy viên T.Ư Đảng, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư. Tại các điểm cầu ở 63 tỉnh, thành phố, có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở tỉnh, thành phố, bí thư, phó bí thư huyện ủy.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nghị quyết rất quan trọng, đề cập một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đặc biệt quan tâm và hoan nghênh. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở (Toàn văn bài phát biểu đăng số báo hôm nay).

nguyen-phu-trong-nghi-quyet-trung-uong-4Hội nghị nghe đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư phổ biến, quán triệt nghị quyết và Kế hoạch thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị. Đồng chí phân tích sâu năm nội dung: Vì sao Ban Chấp hành T.Ư phải tiếp tục ban hành nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Mục đích, yêu cầu, phạm vi, quan điểm chỉ đạo và quá trình chuẩn bị Nghị quyết; Những nội dung cơ bản của Nghị quyết; Dự báo một số khó khăn và hướng khắc phục trong quá trình thực hiện Nghị quyết; Một số vấn đề và Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Phát biểu ý kiến kết luận Hội nghị, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ, sau hội nghị này, các đại biểu cần tiếp tục nghiên cứu kỹ, nắm chắc, quán triệt sâu sắc nội dung của Nghị quyết, nhất là nhận diện cho được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhận thức rõ quan điểm chỉ đạo nêu trong Nghị quyết để từ đó quán triệt cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc, thấy được sự cần thiết phải kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khẩn trương xây dựng chương trình hành động của cấp mình, đồng thời kiểm tra việc xây dựng chương trình hành động của cấp dưới, đặc biệt là việc tổ chức thực hiện chương trình hành động, xác định rõ những việc cần làm, sát tình hình thực tế, đem lại hiệu quả thật sự. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm trước Đảng, trước dân, phát huy tinh thần đoàn kết, khẩn trương, tính cực tổ chức thực hiện Nghị quyết, nhưng không nóng vội, hoặc trông chờ, làm hình thức. Việc tổ chức học tập Nghị quyết phải hoàn thành trong tháng 1-2017.

Đồng chí Đinh Thế Huynh nhấn mạnh, trong quá trình thực hiện, cần nắm vững các nhiệm vụ, giải pháp, liên hệ chỉ ra những biểu hiện suy thoái trong đơn vị để có biện pháp khắc phục. Tập trung xử lý những vụ việc, vấn đề nổi cộm, bức xúc. Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình năm 2016 phải gắn với kiểm điểm thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để tự phê bình và phê bình có kết quả cao, cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, những biểu hiện suy thoái, từ đó có kế hoạch, biện pháp khắc phục. Nơi có vấn đề phức tạp, cần cử cán bộ theo dõi chỉ đạo, đôn đốc thực hiện nghiêm túc. Các cơ quan chức năng tập trung nghiên cứu, rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết, đúng tiến độ, bảo đảm cho việc thực hiện Nghị quyết có hiệu quả. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các tổ chức đảng phải tích cực tổ chức thực hiện đồng bộ các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, nhất là gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trước mắt tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2016, bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ năm 2017, tổ chức cho nhân dân đón Tết Nguyên đán vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm,…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Doanh nghiệp ASEAN đóng vai trò động lực liên kết kinh tế khu vực

Ngày 8-12, tại Hà Nội, diễn ra Hội nghị cấp cao Kinh doanh ASEAN 2016. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến. Đây là năm thứ ba được tổ chức, hội nghị năm nay lần đầu quy tụ các nhà lãnh đạo ASEAN trong lĩnh vực kinh doanh, tài chính nhằm phản ánh sự phát triển đã đạt được trong khu vực, thảo luận các biện pháp vượt qua những thách thức và xác định những cơ hội quan trọng cho tăng trưởng, hợp tác và phát triển.

nguyen-xuan-phuc-doanh-nghiep-aseanPhát biểu ý kiến tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Việt Nam đang cùng các nước ASEAN quyết tâm tiếp tục củng cố, làm sâu sắc hơn liên kết ASEAN, xây dựng Cộng đồng ASEAN vận hành theo luật lệ thật sự hướng tới người dân, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích cho người dân; có quan hệ rộng mở với các đối tác có vai trò và vị thế ngày càng quan trọng ở cả khu vực và toàn cầu. ASEAN không chỉ là thị trường rộng lớn với dân số hơn 600 triệu người, mà còn là khu vực kinh tế có quy mô GDP đạt gần 3.000 tỷ USD, đang phát triển mạnh mẽ với cộng đồng doanh nghiệp (DN) ASEAN năng động, sáng tạo.

Thủ tướng khẳng định, từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng ASEAN lớn mạnh, gắn kết. Việt Nam đánh giá cao sự ủng hộ của các quốc gia thành viên ASEAN và sự hợp tác hiệu quả của cộng đồng DN, của các nhà đầu tư ASEAN và các đối tác đối với tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập. Tại Việt Nam đang có 22 nghìn dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn 300 tỷ USD. Hiện Việt Nam có hơn 600 nghìn DN đang hoạt động, 3,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, hướng tới mục tiêu có hơn 1 triệu DN vào năm 2020. Bên cạnh là thành viên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam đã ký tham gia 12 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có độ mở tiêu chuẩn cao, mở ra không gian hợp tác và phát triển rộng lớn với 55 quốc gia, đối tác, trong đó có các nước G7; 15 trong số 20 nước thuộc nhóm G20.

Thủ tướng nêu rõ, thế giới và khu vực ASEAN đang phải đối mặt những thách thức to lớn trên nhiều lĩnh vực về an ninh, kinh tế, lương thực, tiền tệ, biến đổi khí hậu, chủ nghĩa bảo hộ đang có nguy cơ trở lại… Tuy nhiên, chúng ta cũng có nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc hình thành Cộng đồng ASEAN, các khối thương mại tự do quy mô lớn tiêu chuẩn cao… Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN đoàn kết đẩy mạnh kết nối kinh tế, phát triển hạ tầng giao thông và liên kết mềm nhằm tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng thương mại, đầu tư và dịch vụ qua biên giới, xây dựng thị trường ASEAN thống nhất, hiệu quả. Từng thành viên ASEAN không thể phát triển nếu chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn mà cần đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu sâu hơn và vươn lên các giá trị gia tăng cao hơn. Theo đó, cộng đồng DN ASEAN có vai trò là chủ thể, là động lực của tiến trình liên kết kinh tế và khởi xướng các ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp, tạo động lực mới trong phát triển thương mại và đầu tư.

Thủ tướng tin rằng, hội nghị này thảo luận và chia sẻ cởi mở về các định hướng, các cơ hội thúc đẩy hợp tác đầu tư, kinh doanh trong khu vực ASEAN; đồng thời bày tỏ mong muốn các DN, các nhà đầu tư ngoài khu vực sẽ tìm thấy cơ hội hợp tác cùng có lợi với các đối tác ASEAN. Chính phủ Việt Nam cũng đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và chào đón tất cả các DN ASEAN và quốc tế đã chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư tin cậy và hấp dẫn.

* Sau phiên khai mạc, hội nghị bước vào phiên thảo luận chính với phần diễn thuyết của các lãnh đạo DN hàng đầu khu vực, tập trung vào các chủ đề: đánh giá các chính sách trong AEC, chính sách trong khu vực hiện tại; giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam và ASEAN; thương mại, đầu tư xuyên biên giới trong khu vực… Các lĩnh vực tăng trưởng như: hàng tiêu dùng, phát triển cơ sở hạ tầng, hàng hóa, năng lượng, tài chính ngân hàng, các phương tiện truyền thông và công nghệ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Chính phủ nỗ lực hành động để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết, hợp tác, vươn tầm thế giới

Ngày 5-12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) phối hợp tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2016 (VBF 2016) với chủ đề: Nâng cao vai trò khu vực kinh tế tư nhân-Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài vì sự phát triển hài hòa của kinh tế Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Cùng dự có đông đảo đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư; Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam Ousmane Dione; các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp (DN) trong nước và nước ngoài.

VBF là cơ chế đối thoại liên tục, chặt chẽ giữa Chính phủ Việt Nam với cộng đồng các DN trong nước và quốc tế nhằm cải thiện các điều kiện kinh doanh cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của khối DN tư nhân (DNTN), thuận lợi hóa môi trường đầu tư, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam. Diễn đàn VBF 2016 có ý nghĩa quan trọng nhằm chỉ ra những rào cản trong kinh doanh, kiến nghị các giải pháp năng lực cho khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) Việt Nam; đồng thời thông qua đó góp phần giúp Chính phủ hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giúp DN tìm hướng đi đúng…

nguyen-xuan-phuc-chinh-phu-no-luc-hanh-dong-de-cong-dong-doanh-nghiep-viet-nam-gan-ketPhát biểu ý kiến tại diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, DN Việt Nam là bao gồm cả các DN FDI đã đăng ký cấp phép (có tư cách pháp nhân Việt Nam) và các DN trong nước. Đây là định hướng lớn của Chính phủ về hình thành cộng đồng DN Việt Nam gắn kết, hợp tác hiệu quả trong một nền kinh tế quốc gia thống nhất. Thủ tướng cũng chia sẻ với diễn đàn một số vấn đề quan trọng:

Trước hết, Chính phủ Việt Nam cam kết tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chính sách pháp luật, cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo mọi điều kiện để khu vực KTTN phát triển mạnh mẽ.

Thứ hai, Thủ tướng kêu gọi cộng đồng DN Việt Nam chủ động, tích cực tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế thông qua đa dạng hóa các hoạt động đầu tư, trong đó chú trọng hình thức hợp tác công-tư (PPP). Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; nâng cao khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Thứ ba, tăng cường hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển giữa khu vực KTTN trong nước và khu vực FDI trong nền kinh tế quốc gia. Chính phủ Việt Nam cam kết tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các DN FDI phát triển tại Việt Nam; bày tỏ hy vọng các DN FDI với thế mạnh về tài chính, năng lực quản trị, thị trường… có những cam kết và hành động cụ thể, thực chất để hỗ trợ, tăng cường liên kết, thúc đẩy các DN trong nước cùng phát triển trên cơ sở hài hòa giữa các bên.

Về phía DN FDI, Chính phủ mong muốn có sự kiên trì hợp tác đầu tư, đặt niềm tin vào các cải cách của Việt Nam, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến, đào tạo nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm quản trị, có trách nhiệm với xã hội, chung tay cùng với Việt Nam bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tính bền vững của môi trường và sự trong lành của môi trường sống cho Việt Nam.

Thủ tướng bày tỏ, các nhà đầu tư hãy đến với Việt Nam bằng khối óc, tức công nghệ hiện đại, quản lý tiên tiến và trái tim, tức đề cao chuẩn mực, đạo đức kinh doanh và văn hóa DN. Chính phủ Việt Nam sẽ không đón chào những nhà đầu tư coi Việt Nam là nơi chuyển giá, là nơi để trốn trách nhiệm môi trường, đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản và giá trị cốt lõi mà nhà đầu tư đã cam kết.

Thứ tư, mặc dù đánh giá cao vai trò của khu vực FDI nhưng Thủ tướng cho rằng, nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển vững mạnh không thể không có một khu vực KTTN trong nước tăng trưởng hiệu quả, lớn mạnh. Đây không phải là quan điểm mâu thuẫn mà ngược lại, bổ trợ và tương tác thuận chiều cho nhau, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo sức sống và sức phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Chính phủ khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho người dân phát triển kinh tế. Quan điểm xuyên suốt của Chính phủ là mọi DN, dù tư nhân hay FDI đều bình đẳng trước pháp luật, khuyến khích tinh thần hợp tác và liên kết chuỗi giá trị, cạnh tranh lành mạnh.

Thứ năm, về phía Chính phủ, Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành tiếp thu, nghiên cứu những đề xuất, kiến nghị phù hợp của diễn đàn này để sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật liên quan. Thủ tướng yêu cầu, Chính phủ, các bộ, ngành nghe phản hồi nhưng phải có biện pháp xử lý, giải quyết đúng mức, kịp thời, không phải nghe để biết, để đó. Chính phủ sẽ nỗ lực hành động để cộng đồng DN Việt Nam có thể gắn kết cùng nhau hợp tác, lớn mạnh trên sân nhà – trong nền kinh tế quốc gia Việt Nam và vươn ra thế giới thành công…

VBF 2016 bước vào phiên thảo luận chính với các chủ đề: Tăng cường liên kết giữa khu vực KTTN trong nước với đầu tư nước ngoài trong mọi lĩnh vực, ngành nghề; thu hút đầu tư của khu vực tư nhân theo hướng phát triển xanh và bền vững. Nội dung thảo luận tập trung vào: tăng cường năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi cung ứng, sản xuất toàn cầu cho các DN nhỏ và vừa; thúc đẩy công nghiệp phụ trợ; cải thiện cơ sở hạ tầng, cơ chế PPP, BOT; thị trường vốn; cải thiện môi trường kinh doanh; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Sau mỗi phiên thảo luận đều có phản hồi từ lãnh đạo các bộ, ngành của Việt Nam.

Cách tốt nhất để Chính phủ Việt Nam bảo đảm sự tăng trưởng là duy trì ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng tầm cỡ thế giới, nỗ lực nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động, cải thiện hoạt động kinh doanh. Hiệp hội DN Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) rất nỗ lực hỗ trợ sự thành công của các thành viên thông qua thúc đẩy một môi trường kinh doanh lành mạnh ở Việt Nam và củng cố quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Virginia B.Foote – Chủ tịch AmCham

Việt Nam đang tiếp tục trở thành tâm điểm của sản xuất thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam muốn đạt trình độ tăng trưởng mới thì phải tích cực tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu; thu hút FDI có giá trị gia tăng cao, thiết lập kết nối giữa nhà cung cấp nội địa và thế giới.

Kyle F.Kelhofer – Giám đốc quốc gia cấp cao IFC tại Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia

HÀ THANH GIANG – Ảnh: TRẦN HẢI

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho 230 mẹ

Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh vừa tổ chức lễ truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho 230 mẹ. Đồng chí Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy và đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND thành phố đến dự.

Ban Thường vụ Thành ủy đã trân trọng gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình các mẹ và chúc thân nhân các mẹ luôn mạnh khỏe, tiếp tục là điểm tựa tinh thần về lòng yêu nước cho các thế hệ con cháu. Đồng thời, bày tỏ niềm tự hào vì đất nước có những người con được sinh ra bởi những bà mẹ Việt Nam vĩ đại và anh hùng, không hành động cao cả nào có thể sánh được với việc hiến dâng những người con yêu quý nhất cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Việc truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự ghi nhận của Tổ quốc đối với công lao trời biển và sự hy sinh vô bờ bến của các mẹ. Hiện, TP Hồ Chí Minh có 5.127 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó có 294 mẹ còn sống.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang:

Cần xây dựng đi đôi với bảo vệ Thương hiệu quốc gia

Ngày 30-11, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang gặp mặt Đoàn đại biểu 88 doanh nghiệp (DN) đạt Thương hiệu quốc gia năm 2016. Dự buổi gặp mặt có Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh, Chủ tịch Hội đồng Thương hiệu quốc gia.

Chương trình Thương hiệu quốc gia do Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương phối hợp các bộ, ngành, địa phương tổ chức hai năm một lần. Năm 2016 có 88 DN đạt Thương hiệu quốc gia. Dù còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các DN đạt Thương hiệu quốc gia đã nỗ lực vươn lên, phát huy tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, từng bước nâng cao uy tín, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu DN, tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa chất lượng cao, giá thành hợp lý, cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài; tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì tăng trưởng cả về doanh thu và lợi nhuận, giữ vững được thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2015, tổng doanh thu của các DN đạt Thương hiệu quốc gia là hơn 662 nghìn tỷ đồng, giá trị xuất khẩu hơn hai tỷ USD; tạo việc làm cho hơn 500 nghìn lao động; đóng góp gần 1.800 tỷ đồng cho công tác bảo đảm an sinh xã hội…

tran-dai-quang-can-xay-dung-di-doi-voi-bao-ve-thuong-hieu-quoc-giaPhát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Đại Quang ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương, chúc mừng những thành tích, đóng góp của các DN đạt Thương hiệu quốc gia cũng như của cộng đồng DN, doanh nhân cả nước; đánh giá cao Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương, các bộ, ngành, địa phương, Ban Thư ký Chương trình đã tích cực chỉ đạo triển khai và đạt được những kết quả quan trọng trong hoạt động xây dựng và quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua Chương trình Thương hiệu quốc gia.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, mỗi quốc gia trên thế giới đều mong muốn khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế, tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó thu hút tối đa các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững. Hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ở mức độ tự do hóa sâu rộng với các đối tác thương mại hàng đầu thế giới đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, các DN đạt Thương hiệu quốc gia cần tiếp tục tích cực triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, bám sát các mục tiêu và giá trị mà Chương trình Thương hiệu quốc gia đang hướng tới, đó là: Bảo đảm uy tín, chất lượng sản phẩm thông qua hệ thống sản xuất, kinh doanh tiên tiến và năng lực tài chính lành mạnh. Không ngừng đổi mới, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Nỗ lực nâng cao vị thế cạnh tranh của DN ở trong nước và ngoài nước.

Xây dựng Thương hiệu quốc gia cần đi đôi với việc bảo vệ Thương hiệu quốc gia, đấu tranh mạnh mẽ với việc làm hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Các DN có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia năm nay cần tăng cường liên kết, hợp tác với các nhà khoa học cũng như liên kết trong sản xuất, kinh doanh, giữ vững Thương hiệu quốc gia, hình thành chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.

Ghi nhận và chia sẻ với những kiến nghị, đề xuất của các DN đạt Thương hiệu quốc gia, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đề nghị Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương, các bộ, ngành liên quan nghiêm túc nghiên cứu các kiến nghị, đề xuất của các DN, chủ động tháo gỡ khó khăn, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh thuận lợi để hỗ trợ các DN nói chung và doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia nói riêng tiếp tục phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng hình ảnh Việt Nam với các giá trị “Chất lượng – Đổi mới – Sáng tạo – Năng lực tiên phong”.

Chủ tịch nước mong muốn và tin tưởng các DN đạt Thương hiệu quốc gia, cộng đồng DN, doanh nhân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong hội nhập kinh tế quốc tế, xứng đáng là động lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Hà Nội thành lập tổ công tác tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp

Sáng 28-11, UBND TP Hà Nội phối hợp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị “Gặp mặt, đối thoại với doanh nghiệp năm 2016” để lắng nghe, nắm bắt và giải quyết những khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

Tới dự có các đồng chí: Hoàng Trung Hải, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội; Nguyễn Đức Chung, Uỷ viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND TP Hà Nội và đại diện các đơn vị của thành phố, cùng đại diện hơn 400 doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp và các nhà đầu tư.

Năm 2016, Hà Nội đã quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.Thành phố đã triển khai đồng bộ tám nhóm giải pháp chính như ban hành các kế hoạch, đề án về hỗ trợ doanh nghiệp; ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử; tổ chức đối thoại, tháo gỡ khó khăn; triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ; tháo gỡ khó khăn trong các lĩnh vực tín dụng, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, đất đai…

Nhờ đó, năm 2016 Hà Nội đã thu hút được vốn đầu tư ngoài ngân sách đạt 424 nghìn tỷ đồng, thành lập mới gần 23 nghìn doanh nghiệp. Riêng số vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,6 lần, vốn đăng ký doanh nghiệp trong nước tăng 42%, vốn đầu tư xã hội tăng 10% so với năm 2015. Các thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kê khai – nộp thuế, thông quan… được đơn giản hoá, rút ngắn thời gian, ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Dư nợ cho vay của Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp đạt 225,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,69 lần so với cuối năm 2015… Thành phố và các sở ngành, hiệp hội đã liên tục tổ chức hơn 100 hội nghị đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận vốn, đất đai, thị trường tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ và thực thi chính sách… Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng, nghỉ hoạt động chưa giảm so với năm 2015. Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp đã nêu nhiều khó khăn, vướng mắc trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, việc nộp thuế, đầu tư hạ tầng…

Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội Đỗ Quang Hiển cho rằng, hiện nay vẫn chưa có hành lang pháp lý, chính sách đặc thù cho khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm, đầu tư gọi vốn cộng đồng và các chính sách ưu đãi thuế cho nhà đầu tư cá nhân, cơ chế đối ứng đầu tư từ Nhà nước cho các quỹ đầu tư tư nhân… Chúng ta đang hội nhập kinh tế thế giới, cho nên cách làm và phương thức hoạt động cũng phải hòa nhịp với thương trường quốc tế. Doanh nghiệp khởi nghiệp cần “cú huých” mạnh hơn để phát triển hiệu quả.

Đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ chia sẻ, thời gian qua thành phố chưa có cơ chế, chính sách để “níu chân” những doanh nghiệp lớn vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp sau khi di dời khỏi trung tâm Hà Nội thì thường chuyển hẳn sang các tỉnh, thành phố khác, làm mất nhiều cơ hội việc làm và phát triển công nghiệp của Thủ đô.

Các ý kiến này đều được lãnh đạo TP Hà Nội trả lời trực tiếp tại hội nghị, yêu cầu các sở ngành liên quan rà soát lại và trả lời doanh nghiệp. Từ tháng 1-2017, Thành phố sẽ thành lập tổ công tác đặc biệt tiếp nhận các kiến nghị và giải quyết cho doanh nghiệp. Hà Nội cũng sẽ thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm của thành phố, hình thành trung tâm khởi nghiệp sáng tạo và có cơ chế xã hội hóa để tăng hiệu quả.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Hải mong muốn các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục mạnh dạn đề xuất các ý kiến, nêu lên các khó khăn để thành phố kịp thời nắm bắt, đưa ra các giải pháp tháo gỡ. Trong thời gian tới, Hà Nội tiếp tục xác định cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đầu tư, sản xuất – kinh doanh là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ hội nhập. Thành phố sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp để tạo chuyển biển rõ nét trong nâng cao năng lực cạnh tranh, chỉ số PCI; tiếp tục dành nguồn lực thích đáng để hỗ trợ doanh nghiệp, chủ động nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, xoá bỏ rào cản bằng nhiều hình thức…, cam kết luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong phát triển, xây dựng Thủ đô, đất nước.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Hà Nội triển lãm “Mỗi làng một sản phẩm”

Tối 9-12, tại khu vực vườn hoa Lý Thái Tổ và phố Lê Thạch (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), UBND thành phố Hà Nội đã khai mạc triển lãm “Mỗi làng một sản phẩm” kết hợp trình diễn không gian ánh sáng. Các đồng chí: Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Đức Chung, Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tới dự.

Triển lãm gồm 40 gian hàng trưng bày, giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chất lượng cao với thiết kế đẹp đến từ các làng nghề truyền thống của Hà Nội. Tại triển lãm năm nay có màn trình diễn không gian ánh sáng với 35 loại đèn trang trí khác nhau. Chương trình kéo dài tới hết ngày 11-12.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/12/2016:

Đóng điện vận hành Đường dây 220kV Phan Thiết – Phú Mỹ 2

Ban Quản lý dự án các công trình điện miền Trung (CPMB) vừa đóng điện đưa vào vận hành Đường dây 220kV Phan Thiết – Phú Mỹ 2. Dự án do Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) làm chủ đầu tư, CPMB quản lý điều hành dự án với tổng mức đầu tư 1.195 kV từ Trạm biến áp 220kV Phan Thiết (Bình Thuận) đến Trạm biến áp 220kV Khu công nghiệp Phú Mỹ 2 (Bà Rịa – Vũng Tàu), tổng chiều dài 140,14km. Sự kiện này góp phần quan trọng truyền tải công suất từ các Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Sơn Mỹ vào hệ thống điện quốc gia, tăng cường công suất và giảm tổn thất cho hệ thống điện, tạo liên kết lưới điện 220kV khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 11/12/2016:

Trao Giải thưởng Sáng tạo xanh lần thứ nhất

Tối 10-12, tại Hà Nội, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp T.Ư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức Gala Chung kết và Trao Giải thưởng Sáng tạo xanh lần thứ nhất.

Mục tiêu của Giải thưởng, nhằm tìm kiếm, giới thiệu và phổ biến các ý tưởng, mô hình tiêu biểu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của các em học sinh, sinh viên, qua đó, tạo ra những thay đổi tích cực về nhận thức và hành động của cộng đồng, nhất là giới trẻ đối với môi trường. Đối tượng dự thi, là thanh niên, nhi đồng trong độ tuổi từ sáu đến 30 tuổi đang sinh sống và học tập tại Việt Nam.

Ban tổ chức đã nhận được gần 1.500 bài dự thi của các cá nhân, nhóm tác giả đến từ 50 tỉnh, thành phố, tập trung vào các lĩnh vực như: tiết kiệm năng lượng; bảo tồn đa dạng sinh học; tái chế, xử lý rác thải, nước thải, khí thải… Dựa trên tiêu chí, Ban tổ chức đã lựa chọn ra 30 tác phẩm để trao giải, trong đó có tám tác giả xuất sắc nhất sẽ trình bày trực tiếp với Hội đồng cố vấn tại đêm chung kết để chấm điểm và trao giải nhất, nhì: Kết quả, giải nhất (nhóm tiểu học và trung học cơ sở) thuộc về tác phẩm: Hệ thống hút và xử lý tràn dầu (nhóm tác giả học sinh Trường tiểu học Đăng Chấn, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang); giải nhất (nhóm trung học phổ thông) thuộc về tác phẩm Cột đo nước, tốc độ nước, tự động chiếu sáng ban đêm tích hợp bắt côn trùng gây hại, cảnh báo nguy hiểm đặt tại các ngầm – đập tràn (nhóm tác giả học sinh Trường THPT số 4 Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; giải nhất (nhóm sinh viên và thanh niên) thuộc về tác phẩm Nghiên cứu, thiết kế chế tạo dây chuyền sản xuất tấm lợp (trần, vách, sàn nhà) không sử dụng sợi a-mi-ăng (nhóm tác giả Xí nghiệp Liên hợp Z751, Tổng cục Kỹ thuật). Ngoài ra Ban tổ chức trao 27 giải nhì, ba, khuyến khích cho các tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm xuất sắc.

Bên lề Gala Chung kết và Trao giải, cũng đã diễn ra Triển lãm Ý tưởng “Sáng tạo xanh”, nhằm giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu của Giải thưởng Sáng tạo xanh, với các sản phẩm tái chế, sản phẩm thân thiện với môi trường của các tổ chức, câu lạc bộ, cá nhân yêu môi trường…

* Tối 10-12, tại TP Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc), diễn ra Lễ tuyên dương các công trình, đề tài, sản phẩm sáng tạo toàn quốc. Hoạt động nằm trong Festival “Sáng tạo trẻ” lần thứ chín năm 2016, do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức. Tại buổi lễ, Ban tổ chức đã tuyên dương, trao phần thưởng tặng các tác giả của 34 đề tài, giải pháp sáng tạo xuất sắc, được lựa chọn từ 219 hồ sơ đề cử do 44 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc… trên cả nước gửi dự thi.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 4/12/2016:

Đà Nẵng mở đường bay thẳng đến Đài Bắc

Ngày 2/12, tại TP Đà Nẵng, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp Hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc) bằng máy bay Airbus A320 với 180 ghế đồng hạng phổ thông. Lịch khai thác giữa Đà Nẵng – Đài Bắc được thực hiện ba chuyến khứ hồi mỗi tuần, vào các ngày thứ ba, sáu và chủ nhật. Chuyến bay từ Đà Nẵng đi Đài Bắc có số hiệu BL162, cất cánh tại sân bay quốc tế Đà Nẵng lúc 11 giờ. Chiều ngược lại từ Đài Bắc có số hiệu BL163, cất cánh tại sân bay quốc tế Đào Viên (Đài Bắc) lúc 15 giờ 40 phút. Tổng thời gian bay là 2 giờ 35 phút.

Đóng điện Trạm biến áp 110 kV Đồng Đăng

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa nghiệm thu, đóng điện đưa vào vận hành Trạm biến áp 110 kV Đồng Đăng. Công trình được xây dựng trên địa bàn xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, do EVNNPC làm chủ đầu tư, với tổng mức đầu tư hơn 66 tỷ đồng, công suất 2×40 MVA (trước mắt lắp một máy biến áp 40 MVA) và tuyến đường dây nhánh rẽ 110 kV mạch kép dài 0,125 km. Khi đi vào vận hành, công trình góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương; nâng cao độ ổn định, an toàn, tin cậy, giảm tổn thất điện năng

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Lễ hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ

Ngày 9-12, tại Hà Nội, diễn ra lễ hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Tới dự, có đại diện Ban Giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích (VNOSMP), Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam T.Ô-xi-ớt, đại diện Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DPAA) và Văn phòng MIA Hoa Kỳ tại Hà Nội.

Đại diện phía Việt Nam đã bàn giao cho đại diện phía Hoa Kỳ bốn bộ hài cốt và các đội hỗn hợp khai quật được trong đợt tìm kiếm hỗn hợp lần thứ 125 từ tháng 10 đến 12-2016. Số hài cốt này đã được các chuyên gia pháp y hai nước giám định chung tại Hà Nội, kết luận có thể liên quan các trường hợp quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh Việt Nam và đề nghị chuyển về Ha-oai, Hoa Kỳ, để xác minh thêm. Đây là đợt trao trả hài cốt quân nhân Hoa Kỳ lần thứ 140 kể từ năm 1973.

Tại buổi lễ, đại diện Chính phủ Hoa Kỳ cảm ơn và đánh giá cao chính sách nhân đạo, thiện chí và sự hợp tác ngày càng hiệu quả của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong công tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ còn mất tích từ thời chiến tranh.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Không thể làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Ngày 12-12, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 8-12-2016, Hải quân Trung Quốc tổ chức kỷ niệm cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nêu rõ:

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cộng đồng quốc tế đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo này.

Hoạt động nói trên của Trung Quốc không thể làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đi ngược lại xu thế phát triển quan hệ hiện nay giữa hai nước, gây phức tạp tình hình. Việt Nam kiên quyết phản đối”.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Triển khai Quyết định đặc xá năm 2016

Sáng 1-12, hầu hết các trại giam trên cả nước tổ chức công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2016 cho những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù và những phạm nhân đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện được đặc xá năm 2016 theo quy định của pháp luật.

Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá năm 2016 dự lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước tại Trại giam Phú Sơn 4 (Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an). Trại giam Phú Sơn 4 có 97 phạm nhân được đặc xá lần này.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nhấn mạnh, kế thừa và phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam, tính riêng từ năm 2008 đến nay, thực hiện Luật Đặc xá, Nhà nước thực hiện sáu đợt đặc xá tha tù trước thời hạn cho 81.795 phạm nhân và 917 người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Qua kiểm tra và báo cáo của các địa phương, hầu hết những người được đặc xá trở về nhanh chóng được nhập lại hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, có công ăn việc làm, sớm ổn định cuộc sống.

Nhiều người tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, được chính quyền và nhân dân ghi nhận; tiếp tục học tập, tốt nghiệp đại học, nâng cao trình độ năng lực cống hiến cho xã hội, làm giàu chính đáng cho bản thân và gia đình; phát huy tay nghề được học tập trong quá trình chấp hành án, mở cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, cơ khí, làm kinh tế trang trại… có thu nhập cao, chính đáng, thu hút giải quyết nhiều lao động cho xã hội, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, các hoạt động xã hội từ thiện ở địa phương nơi cư trú.

Trao quyết định cho đại diện các phạm nhân được đặc xá, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình căn dặn: Đặc xá là bước đầu của con đường hướng thiện, trước mắt còn nhiều thử thách, cám dỗ, thậm chí đe dọa của người xấu, kẻ ác. Phó Thủ tướng tin tưởng những người được đặc xá sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tự tin, vững vàng trong cuộc sống. Đối với những phạm nhân chưa được hưởng đặc xá, Phó Thủ tướng mong rằng, các phạm nhân tiếp tục cố gắng học tập, cải tạo, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động, cải tạo để đủ điều kiện hưởng khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

* Sáng 1-12, tại Trại giam Thanh Xuân (Hà Nội), Bộ Công an tổ chức Lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2016 cho 109 phạm nhân. Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an dự.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thứ trưởng Nguyễn Văn Thành biểu dương cán bộ, chiến sĩ Trại giam Thanh Xuân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng thời chúc mừng những người được đặc xá trở về đoàn tụ với gia đình, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Thứ trưởng nhấn mạnh, đặc xá thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Quá trình xét đặc xá bảo đảm công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Thứ trưởng đề nghị chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp tạo điều kiện giúp đỡ cho người được đặc xá xóa bỏ mặc cảm, tạo công ăn việc làm để họ ổn định cuộc sống.

* Ngày 1-12, tại Trại tạm giam số 1 (Hà Nội), Công an TP Hà Nội tổ chức lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với các phạm nhân đang thụ án tại đây. Sau quy trình rà soát, xét duyệt công khai và minh bạch, 36 phạm nhân đủ điều kiện đã được trao quyết định đặc xá.

Dù thời gian làm việc năm nay gấp so với mọi năm, nhưng với tinh thần và trách nhiệm cao, Hội đồng đặc xá Trại tạm giam số 1 đã làm việc khẩn trương, công tâm, rà soát kỹ lưỡng không để sót lọt các đối tượng đủ điều kiện.

* Sáng 1-12, Trại giam Hồng Ca, trực thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an, đóng tại huyện Trấn Yên (Yên Bái) tổ chức lễ công bố đặc xá tha tù trước thời hạn cho 58 phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam.

Thời gian qua, Trại giam Hồng Ca đã làm tốt việc quản lý, giáo dục và tuyên truyền công tác đặc xá cho các phạm nhân. Với tinh thần công khai, dân chủ, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, đúng đối tượng và điều kiện quy định, năm nay số lượng đặc xá tha tù trước thời hạn tại Trại giam Hồng Ca chỉ bằng một phần tư số lượng hằng năm, nhưng 58 đối tượng này đều nỗ lực phấn đấu, ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo để được hưởng khoan hồng. Nhân dịp này, Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên tỉnh Yên Bái tiến hành tư vấn, giới thiệu việc làm cho các phạm nhân được đặc xá.

* Sáng 1-12, tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Phú Yên tổ chức lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước cho sáu phạm nhân có đủ điều kiện được hưởng đặc xá năm 2016. Đây là chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta; thể hiện tính nhân văn truyền thống của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, phấn đấu rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

* Ngày 1-12, Công an tỉnh Cà Mau công bố quyết định đặc xá năm 2016, tha tù trước thời hạn cho bảy phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, nhà tạm giữ thuộc: Công an TP Cà Mau, huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Trần Hồng Quân cho biết: Các phạm nhân được tha tù trước thời hạn đều chấp hành tốt các nội quy, quy định trong quá trình cải tạo, thụ án. Sau khi hòa nhập cộng đồng, tuy phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng các phạm nhân phải dũng cảm vượt qua thử thách, không ngừng học hỏi điều hay, lẽ phải để từ bỏ con đường phạm tội, trở thành công dân tốt, giúp ích cho xã hội.

* Ngày 1-12, Trại giam Đác Tân và Đác Trung trên địa bàn tỉnh Đác Lắc đã làm thủ tục đặc xá cho 111 phạm nhân theo Quyết định của Chủ tịch nước. Trong đó, Trại giam Đác Trung đóng trên địa bàn huyện Cư M’gar có 60 phạm nhân được đặc xá tha tù trước hạn. Số phạm nhân được đặc xá còn lại thuộc Trại giam Đác Tân, trên địa bàn huyện M’Đrắc.

Sau phần công bố quyết định đặc xá, Ban tổ chức đã thực hiện các thủ tục để trả tự do cho phạm nhân. Các phạm nhân được cấp giấy chứng nhận đặc xá, được cấp quần áo mới và chi phí tàu xe về quê…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Công bố đặc xá tha tù trước thời hạn năm 2016

Sáng 30-11, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước phối hợp Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, tổ chức họp báo quốc tế công bố Quyết định đặc xá cho những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù, những phạm nhân đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có điều kiện được đặc xá theo quy định của pháp luật.

Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, đồng chí Giang Sơn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chủ tịch nước công bố hai quyết định đặc xá. Trong đó: Quyết định đặc xá, tha tù trước thời hạn cho 4.180 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện được hưởng đặc xá và quyết định đặc xá cho 186 người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, 18 người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1-12-2016.

Đặc xá năm 2016 một lần nữa tiếp tục khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy định của phạm nhân.

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước khẳng định: Quá trình xét quyết định đặc xá được thực hiện chặt chẽ, công khai, công bằng, chính xác, bảo đảm dân chủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Quyết định đặc xá lần này đã có những quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được đề nghị đặc xá và các trường hợp không đề nghị đặc xá. Do đó, số phạm nhân được đặc xá lần này ít hơn so với các lần đặc xá trước.

Lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an cho biết: Trong số 4.180 phạm nhân được đặc xá có 14 người mang quốc tịch nước ngoài. Phạm nhân được đặc xá nhiều tuổi nhất là 84 tuổi, trẻ tuổi nhất là 16 tuổi; 144 phạm nhân phạm tội xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế được đặc xá, số tiền nộp phạt bổ sung là hơn 700 triệu đồng. Tổng số tiền thu về trong đợt đặc xá này là hơn tám tỷ đồng.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Đồng bào công giáo chung tay xây dựng nông thôn mới

Ngày 30-11, tại tỉnh Phú Yên diễn ra Hội nghị giao ban Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam các tỉnh, thành miền trung – Tây Nguyên năm 2016.

Hội nghị đã đánh giá kết quả thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, sống “Tốt đời đẹp đạo” trong đồng bào công giáo; đề ra nhiệm vụ thi đua phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian qua, đồng bào công giáo các tỉnh khu vực miền trung – Tây Nguyên đã có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Tại Phú Yên, 14 giáo xứ, giáo họ cùng giáo dân đã góp kinh phí xây dựng nhà văn hóa thôn, xây dựng bảy tuyến đường giao thông nông thôn ở giáo họ Đồng Cháy, huyện Tuy An.

Đồng bào công giáo tỉnh Quảng Bình cũng đã đóng góp hàng trăm ngày công lao động, hàng chục nghìn mét vuông đất để bê-tông hóa đường giao thông nông thôn. Điển hình như ở huyện Tuyên Hóa, bà con giáo dân hiến hơn 8.000m2 đất, góp hơn 3.000 ngày công lao động, ước tổng trị giá hơn 2,5 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại tỉnh Lâm Đồng, nhiều khu dân cư có đồng bào công giáo sinh sống là những điểm sáng về phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy. Qua bình xét cuối năm 2016, có 98% hộ gia đình công giáo đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”.

Phát huy kết quả đạt được, Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam đã phát động phong trào thi đua năm 2017 với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững; giáo dân nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước, kính chúa.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/12/2016:

Trưng bày 64 bảo vật Hoàng cung triều Nguyễn

Ngày 6-12, tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế và Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp tổ chức triển lãm “Bảo vật Hoàng cung triều Nguyễn”, hưởng ứng Tuần lễ vàng kích cầu du lịch tại di sản Huế lần thứ ba năm 2016 (từ ngày 24 đến 30-12-2016).

64 bảo vật quý hiếm được giới thiệu đến công chúng là kim ấn, kim sách, bảo kiếm hoặc những đồ tự khí, những vật dụng phản ánh đời sống sinh hoạt, nghi lễ cung đình triều Nguyễn làm bằng các chất liệu quý hiếm như vàng, ngọc, đá quý, được lưu truyền qua nhiều đời.

Sau năm 1945, hầu hết các bảo vật của triều Nguyễn được đưa ra Hà Nội để bảo đảm an toàn trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt và được lưu giữ cẩn thận. Đây là lần đầu TP Huế đón nhận số lượng lớn bảo vật triều Nguyễn trở về đất cố đô. Triển lãm mở cửa từ ngày 6-12 đến 5-1-2017.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Khai mạc Tuần văn hóa In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam năm 2016

Tối 8-12, tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (TP Thái Nguyên) đã khai mạc Tuần văn hóa In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam năm 2016.

Đoàn In-đô-nê-xi-a do bà Ve-ni A.Alam-si-a, Giám đốc/Chuyên gia Batik dẫn đầu cùng các nghệ nhân vẽ batik truyền thống In-đô-nê-xi-a. Đoàn Ma-lai-xi-a do công chúa Bang Tê-reng-ga-nu dẫn đầu với 25 thành viên tham gia. Đoàn chủ nhà Việt Nam có 30 nghệ nhân dệt thuộc sáu dân tộc thiểu số (Mông, Dao, Thái, Chăm, Tày, Pà Thẻn) cùng với nhóm nghệ nhân khuyết tật Kym Việt và học sinh sinh viên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tuần Văn hóa diễn ra từ 6-12 đến 11-12. Trong khuôn khổ Tuần văn hóa sẽ diễn ra nhiều hoạt động như: Trưng bày đặc trưng văn hóa ba nước; mặt nạ truyền thống ASEAN; hướng dẫn vẽ, nhuộm Batik, thêu Việt Nam; trình diễn làm đồ mỹ nghệ; thi nấu món ăn Hồi giáo, cơm chay; quay phim, dựng phim, chiếu phim về văn hóa mỗi quốc gia; thi hái trà, sao trà, pha trà, thưởng trà…

Ra mắt tác phẩm “Gia tộc Tổng thống V.V.Pu-tin”

Ngày 8-12, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp Hội Hữu nghị Việt – Nga, Hội Hữu nghị Nga – Việt, Nhà xuất bản Công an nhân dân tổ chức lễ ra mắt tác phẩm “Gia tộc Tổng thống V.V.Pu-tin” của nhà văn người Nga A-lếch-xan-đrơ Pu-tin.

Tới dự, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật T.Ư, Tổng Giám đốc VOV. Tham gia buổi lễ có Tham tán Công sứ Đại sứ quán LB Nga tại Việt Nam V.Búp-li-cốp; Quyền Giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Việt Nam V.Na-ta-li-a; Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bu-i-a-nốp; đại diện các cơ quan hữu quan.

Tại buổi lễ, các đại biểu khẳng định, việc dịch cuốn sách sang tiếng Việt là một sự kiện ý nghĩa, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước Việt Nam và LB Nga, nhất là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Nhân dịp này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bu-i-a-nốp trao Huy chương tặng đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, vì những đóng góp cho sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – LB Nga.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Từ ngày 28/11 đến 3/12, tại thủ đô A-đi A-bê-ba của Ê-ti-ô-pi-a diễn ra Hội nghị lần thứ 11 của Ủy ban liên chính phủ Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Ngày 30/11, với sự thống nhất của toàn thể hội nghị, Ủy ban chính thức ra nghị quyết công nhận “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Việc Tín ngưỡng được UNESCO vinh danh là tin vui to lớn đối với tỉnh Nam Định (nơi được vinh dự thay mặt cả nước chủ trì xây dựng hồ sơ trình UNESCO) nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

  • Trang 12 báo Tuổi Trẻ ngày 11/12/2016:

Hơn 720 cặp đôi công nhân được hỗ trợ đám cưới

Chị Thái Thị Hoài Sơn, phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ thanh niên công nhân TP.HCM, cho biết trung tâm đã xây dựng văn phòng hỗ trợ đám cưới thanh niên công nhân, là nơi tư vấn, hỗ trợ trọn gói các dịch vụ cưới cho các bạn công nhân. Hằng năm, thông qua việc tổ chức đám cưới tập thể, đến nay trung tâm đã hỗ trợ miễn phí đám cưới cho hơn 720 cặp đôi.

Ngoài ra, các bạn công nhân tổ chức lễ cưới không trùng dịp lễ cưới tập thể vẫn có thể đến văn phòng để được hỗ trợ với giá ưu đãi. Trung tâm sẵn sang giúp các bạn để ngày hạnh phúc được trọn vẹn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2016

Ngày 12-12, tại Hà Nội, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2016. Theo đánh giá của Ban tổ chức, số lượng và chất lượng các công trình tham dự năm nay cao hơn những năm trước. Trong số 103 công trình tham dự, Ban tổ chức đã chọn trao 77 giải thưởng và tặng phẩm cho 78 công trình (có hai công trình cùng một chủ đề nhận chung một giải thưởng). Hai giải nhất thuộc về hai công trình: “Phật viện Đồng Dương – Một phong cách của nghệ thuật Chăm Pa” (tác giả Ngô Văn Doanh) và “Nghệ thuật diễn xướng Mo Mường” (Chủ biên: PGS, TS Kiều Trung Sơn và các cộng sự Bùi Văn Thành, Nguyễn Tuệ Chi, Bùi Huy Vọng).

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Học sinh Hà Nội đoạt sáu Huy chương Ô-lim-pích các môn khoa học trẻ quốc tế

Ngày 12-12, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết, cả sáu học sinh của Thủ đô (đại diện cho đoàn học sinh Việt Nam) tham dự Ô-lim-pích các môn khoa học trẻ quốc tế lần thứ 13 tại In-đô-nê-xi-a đều đoạt giải gồm: Hai Huy chương vàng, hai Huy chương bạc và hai Huy chương đồng. Hai Huy chương vàng và hai Huy chương bạc lần lượt thuộc về các học sinh: Nguyễn Ngọc Đức, Phan Minh Đức; Nguyễn Nga Nhi và Phạm Quốc Khánh (Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam). Hai Huy chương đồng thuộc về hai học sinh: Phan Hà Linh, Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam; Đặng Nguyễn Tiến Đạt, Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ. Năm nay, kỳ thi có 49 đoàn thuộc 48 nước tham dự với tổng số 276 học sinh dự thi. Kỳ thi dành cho học sinh lứa tuổi 15; mỗi học sinh đều trải qua các bài thi trắc nghiệm, lý thuyết và thực hành (thuộc ba lĩnh vực: Vật lý, Hóa học và Sinh học).

Phẫu thuật thành công khối u cổ nặng 1,2kg

Ngày 12-12, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng cho biết, vừa phẫu thuật thành công khối u cổ lớn cho một người bệnh là bà Y.B, 58 tuổi, quê ở tỉnh Kon Tum, người dân tộc Giẻ Triêng bị ung thư tuyến giáp. Khối u vùng cổ đã xuất hiện 18 năm, ngày một lớn khiến người bệnh ăn uống khó khăn, giọng nói nhỏ và khó thở khi nằm ngửa. Khi đến khám tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, các bác sĩ kết luận có khối u ở tuyến giáp rất lớn, chèn ép vào bó mạch cảnh bên trái và đẩy lệch khí quản hoàn toàn sang phải khiến người bệnh ăn uống khó, kèm khó thở khi nằm. Các kết quả xét nghiệm cho thấy, người bệnh bị ung thư tuyến giáp và chỉ định phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp. Ngày 6-12, các bác sĩ đã tiến hành mổ và tách bóc thành công khối u nặng 1,2 kg cho người bệnh. Hiện, sức khỏe người bệnh đang dần ổn định.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 11/12/2016:

Kết nối du lịch ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế

Từ ngày 6 đến 9/12, Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình tổ chức chương trình khảo sát điểm đến du lịch Quảng Bình và hội nghị kết nối du lịch ba tỉnh Quảng Bình – Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế. Để hình thành các sản phẩm du lịch chung trong thời gian tới, ba tỉnh ký kết biên bản liên kết đẩy mạnh khai thác tuyến du lịch “Con đường di sản miền trung”; “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại” và các tuyến du lịch hành lang kinh tế Đông – Tây.

Sáng 10/12, tại khu du lịch Mẫu Sơn, Lộc Bình (Lạng Sơn), Công ty Cổ phần núi tuyết Mẫu Sơn, tổ chức khởi công dự án xây dựng khu vui chơi giải trí và du lịch sinh thái núi tuyết Mẫu Sơn. Công trình đầu tiên là tuyến cáp treo từ xã Bằng Khánh đén khu vực Chân Mây trên đỉnh Mẫu Sơn, với tổng chiều dài 5.7 km, công suất vận chuyển 2.000 người/giờ tương đương 1,6 triệu người/năm với tổng vốn đầu tư hơn 3.500 tỷ đồng.

Áp dụng phẫu thuật bằng rô-bốt

Ngày 10-12, tại TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Bình Dân đưa kỹ thuật phẫu thuật bằng rô-bốt vào việc điều trị người bệnh là người lớn. Đây là nơi đầu tiên ở Việt Nam áp dụng kỹ thuật phẫu thuật bằng rô-bốt đối với người lớn, đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong việc áp dụng công nghệ cao vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Với phẫu thuật rô-bốt từ trạm điều khiển cách xa bàn mổ, các phẫu thuật viên có thể điều khiển cánh tay rô-bốt quay 540 độ, di chuyển tự do ở sáu góc độ và vận động tinh vi, điều mà bàn tay con người không thực hiện được. Nhờ đó rô-bốt có khả năng phẫu thuật ở những vị trí hẹp, sâu và khó tiếp cận.

Tiêu hủy 606 tấn hải sản đông lạnh không an toàn

Sáng 10-12, các ngành chức năng tỉnh Quảng Bình tổ chức kiểm kê và tiêu hủy 606,4 tấn hải sản đông lạnh thu mua trước ngày 30-8-2016 có hàm lượng Cadimi vượt ngưỡng. Các loại hải sản đông lạnh có hàm lượng Cadimi vượt ngưỡng gồm nhiều loại như: ghẹ xanh, ghẹ sao, cá ngừ trơn, ngừ bong, cá bống suôn, mực chan chu và một số loại cá nục. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình Lê Văn Lợi, các cơ sở có số hải sản nhiễm độc buộc phải tiêu hủy sẽ được đền bù 100% giá trị.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Đại hội đồng lần thứ ba Hội thánh Mennonite Việt Nam

Ngày 1/12, tại TP Hồ Chí Minh, Đại hội đồng lần thứ ba của Hội thánh Mennonite (Tin lành) Việt Nam đã khai mạc với sự tham dự của 280 đại biểu là các tín đồ đến từ 24 tỉnh, thành phố. Tại Đại hội đồng, Phó Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ Trần Tấn Hùng đánh giá cao việc các chức sắc, chức việc, tín hữu của Hội thánh đã cùng đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia nhiều phong trào lao động sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hóa mới, phong trào đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo… tuân thủ mục đích và đường hướng hoạt động của Hội thánh. Đại hội đồng lần thứ ba của Hội thánh Mennonite Việt Nam đã báo cáo công tác nhiệm kỳ 2012-2016, tổ chức bồi linh – thông công và tiến hành bầu Ban trị sự, thông qua kế hoạch nhiệm kỳ 2016-2020. Đại hội đồng sẽ kết thúc vào ngày hôm nay.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 3/12/2016:

Hội nghị Y học từ xa châu Á lần thứ 10

Trong các ngày từ 1 đến 3/12, tại Hà Nội, Hội Ngoại khoa Việt Nam và Hội Phẫu thuật nội soi – Nội soi Việt Nam phối hợp Bệnh viện hữu nghị Việt – Đức tổ chức Đại hội lần thứ 13 Hội Ngoại khoa Việt Nam; hội nghị Khoa học Ngoại khoa và Phẫu thuật nội soi – Nội soi toàn quốc năm 2016 và Hội nghị Y học từ xa châu Á lần thứ 10 (ATS 2016). Tại các hội nghị, có hơn 250 báo cáo khoa học được các giáo sư, bác sĩ, nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và ngoài nước trình bày.

Hội nghị ATS 2016 là một trong những hội nghị khoa học uy tín nhất của châu Á được tổ chức luân phiên hằng năm tại một quốc gia trong khu vực. Đây là sự kiện khoa học quan trọng lần đầu được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của hơn 450 đại biểu, đến từ 22 quốc gia và được kết nối các điểm cầu của 15 nước châu Á.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 3/12/2016:

Tưởng niệm 50 năm vụ thảm sát Bình Hòa (Quảng Ngãi)

Sáng 2/12, tại xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm 50 năm Ngày xảy ra vụ thảm sát Bình Hòa (3/12/1966 – 3/12/2016)

Trước đó, đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, một số sở, ngành và huyện Bình Sơn, xã Bình Hòa, Hội Nhà văn đảo JEJU Hàn Quốc… đã đặt hoa tại bia tưởng niệm Bình Hòa – nơi 430 thường dân bị sát hại. Vụ thảm sát Bình Hòa xảy ra từ ngày 1 đến ngày 3/12/1966, quân Nam Triều Tiên mà cụ thể là lữ đoàn Rồng Xanh đã tiến hành vụ thảm sát Bình Hòa ở năm địa điểm: Buồn đất nhà ông Trắp, hố bom Truông Đình, dốc Rừng, đồi Chồi Giữa và đám ruộng giếng xóm Cầu, giết hại tổng cộng 430 người dân xã Bình Hòa, trong đó có 269 phụ nữ; 174 trẻ em, trong đó có nhiều trẻ em sơ sinh.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 4/12/2016:

Tuyên dương học sinh đoạt giải Ô-lim-pích quốc tế và học sinh đạt điểm xuất sắc nhất kỳ thi THPT quốc gia năm 2016

Tối 3-12, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức Lễ tuyên dương học sinh đoạt giải Ô-lim-pích quốc tế và học sinh đạt điểm xuất sắc nhất kỳ thi THPT quốc gia năm 2016. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Năm 2016, Việt Nam cử bảy đoàn với 37 học sinh tham dự các kỳ Ô-lim-pích quốc tế. Kết quả, 35 trong tổng số 37 học sinh dự thi đoạt giải gồm: Tám Huy chương vàng, 14 Huy chương bạc, 11 Huy chương đồng và hai Bằng khen. Đáng chú ý, đây cũng là năm đầu tất cả các đoàn tham dự Ô-lim-pích quốc tế đều có học sinh đoạt Huy chương vàng, trong đó một Huy chương vàng ở môn Sinh học sau 15 năm chờ đợi. Tại kỳ thi khoa học, kỹ thuật quốc tế được tổ chức ở Mỹ, đoàn Việt Nam có sáu dự án dự thi (gồm tám học sinh) và đoạt được bốn giải ba.

Kỳ thi THPT quốc gia năm 2016 có hơn 900 nghìn thí sinh dự thi, trong đó có nhiều thí sinh đạt điểm cao. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn, tuyên dương năm thí sinh đạt điểm xuất sắc nhất đến từ các trường: Chuyên THPT Phan Bội Châu (Nghệ An), THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định), THPT chuyên Ngoại ngữ, Trường đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), THPT Phạm Văn Đồng (Đác Lắc), với tổng điểm thi từ 28,5 điểm trở lên. Tại lễ tuyên dương, có năm học sinh đoạt Huy chương vàng được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; ba học sinh đoạt Huy chương vàng (hai năm liên tiếp) được nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng những kết quả mà các em học sinh đã đạt được. Thủ tướng nhấn mạnh, để có được kết quả cao, các thầy giáo, cô giáo, phụ huynh, học sinh đã trải qua hành trình gian nan, nỗ lực vượt bậc trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Đằng sau những tấm huy chương, những bằng khen của các con, các cháu là biết bao công lao khó nhọc, những hy sinh thầm lặng của những bậc làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của ngành giáo dục và đào tạo trong công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, huấn luyện, góp phần nâng cao thành tích cho đội tuyển quốc gia Việt Nam tại các kỳ Ô-lim-pích quốc tế và tổ chức thành công kỳ thi THPT quốc gia năm 2016 phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Thủ tướng cho rằng, đất nước đang bước vào kỷ nguyên của một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một trong những yêu cầu tiên quyết đặt ra là sự sẵn sàng về nguồn nhân lực, đạt trình độ sánh ngang với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn. Vì vậy, muốn sánh vai các cường quốc năm châu thì việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mang tính chất quyết định và có như vậy, chúng ta mới xây dựng một Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trong thế giới hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.

Để bảo đảm sẵn sàng chiến lược này, ngoài cố gắng của từng cá nhân, thế hệ trẻ Việt Nam, ngành giáo dục và đào tạo phải đổi mới toàn diện về lượng, về chất, không những đào tạo kiến thức, chuyên môn mà phải thật sự mang tinh thần kiến tạo phát triển. Hệ thống giáo dục các trường đại học phải là những mô hình tiên tiến về quản trị và tổ chức, về con người, chất lượng, mục tiêu, phương pháp giảng dạy, môi trường văn hóa và năng lực hội nhập quốc tế. Có như vậy, từ những kỳ Ô-lim-pích quốc tế, những cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế, những học sinh xuất sắc trong kỳ thi THPT quốc gia mới hy vọng về tương lai nước ta có được những nhà kỹ nghệ, nhà khoa học, nhà văn hóa, doanh nhân như Bin Ghết, Thô-mát Ê-đi-xơn, Giắc Ma… ở Việt Nam.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Cộng đồng người Việt tại Pháp tổ chức hòa nhạc ra mắt đĩa CD Tổ quốc yêu thương

Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Pháp, tối 3-12, tại Nhà hát Ét-pa-xơ Nơn-ly ở thủ đô Pa-ri, đã diễn ra chương trình hòa nhạc ra mắt đĩa CD Tổ quốc yêu thương của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Chương trình do Dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện Ru-ăng biểu diễn dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Clốt Bren-đen, một người rất yêu mến Việt Nam và Dàn hợp xướng Hợp ca quê hương của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Tham dự, có Đại sứ – Trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh tổ chức UNESCO Lê Hồng Phấn cùng đại diện Hội người Việt Nam tại Pháp, Hội hữu nghị Pháp – Việt, Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp; các hội đoàn, các cơ quan ngoại giao cùng đông đảo bạn bè Pháp, Việt kiều ở Pháp và châu Âu.

CD Tổ quốc yêu thương có hai phần nội dung. Phần một, tập hợp những tác phẩm âm nhạc Việt Nam nổi tiếng, ca ngợi quê hương, đất nước như: Ca ngợi Tổ quốc của Hồ Bắc, Du kích sông Thao của Đỗ Nhuận, Hồi tưởng của Hoàng Vân, Việt Nam quê hương tôi của Đỗ Nhuận, Tổ quốc yêu thương của Hồ Bắc… Phần hai là các ca khúc ca ngợi biển, đảo của Tổ quốc và công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh hải như: Tình em biển cả của Nguyễn Đức Toàn, Tổ quốc gọi tên mình của Đinh Trung Cẩn, Đất nước bên bờ sóng của Thái Văn Hóa; Lướt sóng ra khơi của Thế Dương… Theo bà Ngân Hà, người chỉ huy Dàn hợp xướng Hợp ca Quê hương, CD được thực hiện và dành làm quà tặng, quảng bá, giới thiệu về đất nước, văn hóa và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/12/2016:

Ba em bé ở Thái Nguyên chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm

Sáng 4-12, hai ca phẫu thuật đón ba em bé chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện thành công tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Đây là bệnh viện đầu tiên của các tỉnh trung du miền núi phía bắc thực hiện thành công kỹ thuật này. GS, TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế cùng lãnh đạo bệnh viện trực tiếp thực hiện ca mổ trên. Ba cháu bé là con của hai sản phụ: Chu Thị Huyền, trú xã Khôi Kỳ và Trần Thị Diện, trú xã Ký Phú, cùng huyện Đại Từ (Thái Nguyên). Sự kiện trên đã đưa Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện A Thái Nguyên trở thành một trong 22 trung tâm hỗ trợ sinh sản trên toàn quốc thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Phát hiện người nghiễm vi-rút Zika đầu tiên tại Đồng Nai

Tối 4/12, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đồng Nai Huỳnh Minh Hoàn xác nhận có ca nhiễm vi-rút Zika đầu tiên tại tỉnh. Trước đó, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh có thông báo về trường hợp nhiễm vi-rút Zika là một phụ nữ 24 tuổi, mang thai 29 tuần, ngụ tại khu phố 10, phường An Bình, TP Biên Hòa. Ngay trong chiều 4/12, Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Nai đã triển khai phun hóa chất diệt muỗi trên diện rộng tại khu phố 10, phường An Bình nhằm khống chế không để xảy ra người mắc mới trong khu vực.

Hôm nay (5/12), Sở Y tế Đồng Nai sẽ tổ chức cuộc họp khẩn để triển khai công tác chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh do vi-rút Zika gây ra tại phường An Bình.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

Khi tình yêu đặt vào giọng hát

Giọng trầm ấm chất chứa bao nhiêu niềm thương yêu của NSƯT Quang Lý vang vọng khắp nhà tang lễ TP hôm qua. Ông đã ra đi nhẹ nhàng, trong một phút…Nhưng niềm tiếc thương của những người ở lại thì cứ dài mãi. Dài như tiếng hát… Ai cũng nhớ về nụ cười và ánh mắt hiền của Quang Lý.“Từ ngày còn là một ca sĩ ít người biết đến ở Đài phát thanh Giải phóng đến khi trở thành một nghệ sĩ danh tiếng, nụ cười, ánh mắt, cách ứng xử của anh chẳng hề thay đổi” NSƯT Ngọc Mai nhắc.Ai cũng xuýt xoa về thái độ nghiêm túc, tử tế, chỉn chu với nghề nghiệp của Quang Lý. “Cho đến những ngày gần đây, trước giờ lên sân khấu vẫn còn thấy anh complet caravate nghiêm chỉnh, đứng bên cánh gà luyện thanh. Các nghệ sĩ trẻ có khi lại đến trễ giờ, có lúc không kịp ráp nhạc…” nhạc sĩ Quỳnh Hợp kể. “Nhưng nói đến Quang Lý là nói về những gì dung chứa trong giọng hát…” nhạc sĩ Trần Xuân Tiến bình luận.

quang-lyĐánh giá khách quan nhất về giọng hát tất nhiên là khán giả. Ông Lương Văn Lý (Công ty luật Phước và các cộng sự) tâm sự: “Thế là tôi đã bỏ lỡ cơ hội được thật sự làm bạn với anh Quang Lý, anh là giọng ca mà tôi thích nhất trong các nam ca sĩ Việt Nam, mặc dù đã có vài lần gặp, chào hỏi anh trong một số buổi chiêu đãi. Chất giọng ấm tình cảm và âm vực rộng của anh rất thu hút với tôi, cho tôi những khoảnh khắc đắm chìm hay bay bổng với từng nốt nhạc, từng từ anh hát. Dù là những bài ca được sáng tác trong chiến tranh hay trong hòa bình, tôi cảm nhận được rõ nhất nỗi niềm, tình cảm, mong ước của người nhạc sĩ gửi gắm qua giọng ca Quang Lý. Và hơn nữa, tôi lại nghe như giọng hát của anh phân biệt được rõ ràng nỗi khao khát hòa bình thống nhất với mong ước dựng xây, yêu thương. Nỗi lòng ấy là của nhạc sĩ nhưng để người nghe cảm được, phải thông qua tài năng ca sĩ…”. Như để chứng minh, trên loa vừa nghe da diết: “Em ơi, tuy 
giờ đây hai miền còn cách xa/ Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta/ Nhưng không thể xóa được hình bóng em…”, thoắt đã chuyển giọng thiết tha, tự tin: “Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào…”.

Bà Nguyễn Thế Thanh kể như “được cởi tấm lòng”: “Ngoài giọng hát trời cho, lao động nghệ thuật cần mẫn, nghiêm cẩn, Quang Lý có điều đặc biệt là khi nghe ông hát, hình tượng âm nhạc của bài ca như hoàn toàn trở thành của ông. Tất cả tâm hồn, tình cảm của ông được đặt vào từng ca từ, khiến cho ca khúc như bay lên, tình cảm người nhạc sĩ khi sáng tác như sống dậy. Từng có nhiều thời gian làm việc với Quang Lý trong lĩnh vực văn hóa, tôi biết điều đó không phải đến một cách tự nhiên. Ngoài việc rèn luyện kỹ thuật âm nhạc, Quang Lý rất có ý thức trau dồi, học hỏi những cái bên ngoài âm nhạc để đưa vào âm nhạc. Ông chịu khó đi dự những buổi họp mặt nhạc sĩ, những buổi nói chuyện truyền thống của các nhóm, câu lạc bộ; ông lắng nghe những kinh nghiệm sống, ứng xử; ông hỏi cặn kẽ hoàn cảnh ra đời của những ca khúc, tích lũy những câu chuyện trong quá khứ cũng như thời sự… Tất cả những điều đó ông bồi dưỡng cho giọng ca của mình, nâng lên giá trị của âm nhạc”.

NSƯT Ngọc Mai quay trở lại với những dung chứa của giọng ca Quang Lý. Bà bảo: “Thời của chúng tôi, nghiệp cầm ca là cuộc đời, là đam mê, là tình yêu, không bị vướng víu bởi cuộc mưu sinh dù cuộc sống rất cơ cực, không bị chi phối bởi hình thức dù luôn phải giữ hình ảnh đẹp trong mắt khán giả. Tình yêu với con người, với quê hương, đất nước, khao khát chân – thiện – mỹ trong cuộc đời đều đặt vào giọng hát nếu là ca sĩ, đặt vào ca từ nếu là nhạc sĩ. Tất nhiên, Quang Lý là một nghệ sĩ tiêu biểu cho tinh thần ấy”. Nhạc sĩ Trần Xuân Tiến đồng tình, nói như kết luận: “Quang Lý là một giọng ca cách mạng, không chỉ với nghĩa ông hát nhạc cách mạng. Giọng hát của ông giúp người nghe bồi dưỡng tâm hồn mình, lớn thêm tình yêu với quê hương, đất nước, con người, cuộc đời. Nghe ông hát, thấy tình yêu đời trong từng hơi thở”.

Giọng Quang Lý đang hát: “Hội ngộ rồi chia ly, cuộc đời vẫn thế/ Dẫu là mặt trời nồng nàn khát khao, hay đêm mịt mù lấp lánh ngàn sao… Người yêu ơi dù mai này cách xa/ Mãi mãi diệu kỳ là tình yêu chúng ta…”.

Hôm nay chúng ta phải chia ly NSƯT Quang Lý, nhưng giọng ca mang tình yêu vào hồn thính giả ấy vẫn ở lại…

Phạm Vũ

“Chất giọng ấm tình cảm và âm vực rộng của anh rất thu hút với tôi, cho tôi những khoảnh khắc đắm chìm hay bay bổng với từng nốt nhạc, từng từ anh hát.

Thính giả LƯƠNG VĂN LÝ

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 13/12/2016:

Cứu tàu cá chở các nhà khoa học gặp nạn

Một đoàn gồm chín nhà khoa học thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội đi trên tàu cá của ngư dân ra vùng biển Cồn Cỏ (Quảng Trị) lấy mẫu nước biển nghiên cứu đã gặp nạn và được ứng cứu.

Chiều 12-12, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Trị cho biết, đến chiều cùng ngày đã cứu thành công tất cả 13 người trên tàu cá QT 21126 TS bị nạn trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ. Trong đó có 9 nhà khoa học thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội.

Hiện các nhà khoa học đã được đưa vào bờ trong tình trạng sức khỏe tốt. Tàu cá QT 21126 TS sau khi được lai dắt vào bờ gần phao số 0 đã bị sóng đánh chìm.

Danh tính các nhà khoa học thuộc ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) gồm: Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ (35 tuổi, trưởng đoàn), Trần Mạnh Tú (35 tuổi), Lưu Việt Dũng (29 tuổi), Nguyễn Thành Nam (34 tuổi), Nguyễn Mạnh Hà (35 tuổi), Lâm Tuấn Mạnh (24 tuổi), Đặng Minh Quân (23 tuổi), Đặng Ngọc Thăng (26 tuổi), Nguyễn Quốc Biên (22 tuổi). Ngoài ra, bốn thuyền viên trên tàu cá cũng được cứu nạn an toàn.

Theo Bộ chỉ huy biên phòng Quảng Trị, đơn vị này nhận được tín hiệu cấp cứu của tàu cá QT 21126 TS vào chiều 11-12. Vị trí bị nạn tại tọa độ 160 59’ vĩ bắc, 107022’ kinh đông (cách bờ biển Quảng Trị 10 hải lý).

Thời điểm này trên biển mưa to, gió lớn, biển động mạnh. Bộ chỉ huy biên phòng Quảng Trị ngay lập tức điều tàu cứu nạn cùng 13 cán bộ chiến sĩ ra tìm kiếm vị trí tàu bị nạn.

Sau ba giờ tìm kiếm, tàu cứu hộ phát hiện tàu cá bị nạn nhưng thời tiết quá xấu nên phải thả neo song song để đề phòng trường hợp xấu nhất. Tàu cá có khả năng bị gãy trục co nhớt, chết máy.

Đến 5g30 ngày 12-12, khi thời tiết đã ổn định, lực lượng cứu hộ đã tiếp cận được tàu cá và đưa toàn bộ 9 nhà khoa học sang tàu cứu hộ rồi lai dắt tàu cá vào bờ.

Tuy nhiên, do tàu cá đã bị mục, nên khi lai dắt vào bờ đã bị sóng đánh vỡ và chìm tại vị trí phao số 0. Bốn thuyền viên trên tàu cá sau đó cũng được đưa sang tàu cứu hộ vào bờ an toàn.

Đến khoảng 10g ngày 12-12, toàn bộ 13 người trên tàu cá QT 21126TS cập cảng Cửa Việt (H.Gio Linh, Quảng Trị).

Quốc Nam

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Kỳ họp thứ 8 Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 28 đến 30-11-2016, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 8. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, xử lý và đề nghị thi hành kỷ luật một số đảng viên và tổ chức đảng như sau:

1- Đối với đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015

Trên cương vị là Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Huỳnh Minh Chắc đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy trình, quy định về công tác cán bộ và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong việc đề nghị, tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về tỉnh Hậu Giang để giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

2- Đối với đồng chí Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2015-2020

Trên cương vị là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015, đồng chí có phần trách nhiệm với các khuyết điểm, vi phạm trong việc đề nghị tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sai phạm trong việc chỉ đạo Công an tỉnh cấp biển số xe công cho xe tư nhân để Trịnh Xuân Thanh lưu thông trái quy định.

Là Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020, với trách nhiệm là người đứng đầu, đồng chí đã buông lỏng lãnh đạo, thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

3- Đối với đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương

Đồng chí Trần Lưu Hải đã thiếu trách nhiệm khi ký công văn của Ban Tổ chức Trung ương về việc cho tỉnh Hậu Giang được tăng thêm một Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có khuyết điểm trong việc ký văn bản trả lời Tỉnh ủy Hậu Giang về thực hiện quy trình nhân sự tăng thêm một cấp ủy viên nhiệm kỳ 2015-2020 đối với Trịnh Xuân Thanh.

4- Đối với đồng chí Bùi Cao Tỉnh, nguyên Vụ trưởng, nguyên Trợ lý đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương

Đồng chí Bùi Cao Tỉnh chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu nội dung công văn của Ban Tổ chức Trung ương về việc cho tỉnh Hậu Giang được tăng thêm một Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

5- Đối với đồng chí Trần Thị Hà, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương

Đồng chí Trần Thị Hà có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc thẩm định quy trình, thủ tục, điều kiện và tiêu chuẩn để trình cấp có thẩm quyền tặng thưởng Huân chương và danh hiệu Anh hùng Lao động cho Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC); tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Huân chương cho Trịnh Xuân Thanh.

6- Đối với đồng chí Trần Anh Tuấn, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Trần Anh Tuấn có vi phạm, khuyết điểm trong việc thẩm định, cho ý kiến về việc tiếp nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch và xếp lương công chức cho Trịnh Xuân Thanh; thiếu kiên quyết, không đề xuất, kiến nghị với Bộ Công thương để thu hồi, hủy bỏ các quyết định sai trái trong việc tiếp nhận, bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh.

7- Đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Nguyễn Duy Thăng có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc thẩm định, đề xuất cấp có thẩm quyền phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, nhiệm kỳ 2011-2016 đối với Trịnh Xuân Thanh.

Những vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí nêu trên đã ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, tạo dư luận xấu trong xã hội.

Xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật:

– Cảnh cáo đồng chí Bùi Cao Tỉnh, nguyên Vụ trưởng, nguyên Trợ lý đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

– Khiển trách đồng chí Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2015-2020.

– Khiển trách đồng chí Trần Thị Hà, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương.

– Các vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Trần Anh Tuấn, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ chưa đến mức phải thi hành kỷ luật. Yêu cầu Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, sâu sắc và có biện pháp khắc phục.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với hai đồng chí: đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015 và đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

– Xem xét xử lý đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ theo Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

8- Đối với tập thể Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ 2011-2016 có các vi phạm, khuyết điểm sau:

– Không kịp thời sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của Ban cán sự đảng theo quy định của Bộ Chính trị; thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, dẫn đến vi phạm, khuyết điểm trong việc thẩm định, cho ý kiến về tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch, xếp lương công chức và đề nghị phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang cho Trịnh Xuân Thanh; thẩm định đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng cho Tổng công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) và Trịnh Xuân Thanh.

– Chưa kịp thời chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị trong Bộ tham mưu, đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định về công tác cán bộ và công tác thi đua, khen thưởng.

Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên đã ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự đảng và của Bộ Nội vụ. UBKT Trung ương yêu cầu Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, sâu sắc và có biện pháp khắc phục kịp thời.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ luật một số cán bộ liên quan đến vụ Trinh Xuân Thanh

Ngày 8-12-2016, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét thi hành kỷ luật một số cán bộ liên quan đến vụ Trịnh Xuân Thanh. Sau khi xem xét các báo cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư (số 50-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016; số 51-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016 và số 52-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016), Ban Bí thư đã kết luận như sau:

1- Đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư

Đồng chí Trần Lưu Hải, với cương vị là Ủy viên T.Ư Đảng,Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư đã thiếu trách nhiệm khi ký ban hành công văn của Ban Tổ chức T.Ư về việc được tăng thêm chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011 – 2016 có nội dung trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có khuyết điểm trong việc ký công văn trả lời Tỉnh ủy Hậu Giang về thực hiện quy trình nhân sự tăng thêm một cấp ủy viên nhiệm kỳ 2015 – 2020 đối với Trịnh Xuân Thanh.

2- Đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010 – 2015

Đồng chí Huỳnh Minh Chắc, với cương vị là Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy trình, quy định về công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong việc đề nghị, tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về tỉnh Hậu Giang để giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

3- Đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Nguyễn Duy Thăng có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc thẩm định, đề xuất cấp có thẩm quyền phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011 – 2016 đối với Trịnh Xuân Thanh.

Những vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây bức xúc và tạo dư luận xấu trong xã hội.

Xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Bí thư thống nhất rất cao (100% bằng phiếu kín) đã quyết định:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư.

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010 – 2015.

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 10/12/2016:

Phá đường dây mua bán trái phép hóa đơn hơn 1.000 tỷ đồng

Ngày 9/12, Công an TP Hà Nội cho biết vừa triệt phá đường dây mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng với số lượng lớn,s ử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt tiền thuế VAT.

Cơ quan an ninh điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Hồng Yến (44 tuổi, TP Hà Nội), Đại Ngọc Hải (26 tuổi, tỉnh Quảng Ninh), Đại Khánh Hà (23 tuổi, tỉnh Quảng Ninh) để điều tra về tội “mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng”.

Kết quả điều tra ban đầu xác định bị can Yến có vai trò cầm đầu đã chỉ đạo bị can Hải và Hà mua lại pháp nhân của một số công ty hoạt động kém hiệu quả, bao gồm cả con dấu và hóa đơn với giá từ 30-40 triệu đồng để tổ chức xuất, bán hóa đơn giá trị gia tăng trái phép. Hình thức mua bán sẽ được tính mỗi hóa đơn có giá trị ghi trên đó dưới 20 triệu đồng, nhóm của Yến bán cho các doanh nghiệp với giá từ 200.000-300.000 đồng. Còn hóa đơn ghi trên 20 triệu đồng nhóm của Yến bán với giá bằng 2-3% tổng giá trị ghi trên hóa đơn. Các doanh nghiệp phải thanh toán cho nhóm của Yến bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Khách hàng phải tự hoàn thiện hợp đồng mua bán để Yến ký, sau đó chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng hợp thức, Yến sẽ chỉ đạo người của mình đi rút tiền và thanh toán với khách.

Từ các chứng cứ, tài liệu thu thập được, cơ quan an ninh điều tra xác định từ năm 2012 đến nay, nhóm của Yến đã xuất bán hóa đơn trái phép với số tiền ghi trên hóa đơn ước tính 1.000 tỉ đồng, gây thất thu cho Nhà nước hơn 100 tỉ đồng.

Khám xét nơi tổ chức mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng, cơ quan an ninh điều tra đã thu giữ tang vật gồm 49 bộ dấu công ty, nhà hàng; hơn 200 quyern hóa đơn cùng nhiều chứng từ, séc, sổ sách ghi chép…

Thân Hoàng

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 6/12/2016:

Phú Yên kỷ luật Đảng hai cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên vừa công bố kết quả kỳ họp lần thứ 10, quyết định thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khiển trách đối với hai đồng chí là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo ngành cấp tỉnh và địa phương do vi phạm trong công tác quản lý, điều hành.

Theo đó, hai đồng chí phải thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khiển trách là Phạm Đình Phụng, Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa; Nguyễn Ngọc Linh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Phú Yên.

Những vi phạm của các đồng chí này gây hậu quả xấu, làm giảm uy tín bản thân và ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền ở địa phương; gây dư luận không tốt trong nội bộ và quần chúng.

Thu hồi thẻ nhà báo hai cán bộ lãnh đạo Báo Thanh Niên

Ngày 5-12, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn ký quyết định thu hồi Thẻ nhà báo số hiệu IBT01621 thời hạn 2016-2020 đối với ông Đặng Ngọc Hoa, Phó Tổng Biên tập Báo Thanh niên. Theo Quyết định số 2184/QĐ-BTTTT ngày 5-12, ông Đặng Ngọc Hoa bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Cùng ngày, tại Quyết định số 2185/QĐ-BTTTT, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký quyết định thu Thẻ nhà báo số hiệu IBT01627 thời hạn 2016-2020 của ông Võ Văn Khối, lý do ông Khối đã bị xử lý kỷ luật cách chức Ủy viên Ban Biên tập, Tổng Thư ký tòa soạn Báo in Báo Thanh niên tiếng Việt. Quyết định trên yêu cầu Báo Thanh niên có trách nhiệm thu hồi thẻ nhà báo của hai người nêu trên và gửi về Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) trước ngày 18-12 tới.

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

12 năm tù cho nguyên chủ tịch huyện Kỳ Anh

Chiều 2-12 TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Bổng – nguyên chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh – 12 năm tù giam về tội cố ý làm trái quy định Nhà nước trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng dự án Formosa.

Đồng thời tuyên phạt bị cáo Phạm Huy Tường (nguyên trưởng Phòng TN-MT huyện Kỳ Anh) 11 năm tù; bị cáo Lê Xuân Nghinh (nguyên bí thư Đảng ủy xã Kỳ Long), Lê Quang Hà (nguyên phó chủ tịch UBND xã Kỳ Long) 10 năm tù; bị cáo Lê Anh Đức (nguyên cán bộ Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng thị xã Kỳ Anh) 8 năm tù.

Ngoài ra, bị cáo Hồ Xuân Cường (nguyên cán bộ Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Kỳ Anh) và Lê Công Diếu (nguyên chủ tịch UBND xã Kỳ Phương) cũng lĩnh án 3 năm tù.

Tòa còn buộc bị cáo Bổng và Tường mỗi bị cáo phải bồi thường hơn 1,6 tỉ đồng. Bị cáo Nghinh, Hà và Đức mỗi bị cáo bồi thường hơn 1,5 tỉ đồng. Diếu và Cường mỗi bị cáo phải bồi thường hơn 142 triệu đồng.

Trước đó trong phiên tranh tụng, bị cáo Bổng kêu oan, cho rằng số tiền thất thoát trong quá trình hợp thức hóa đất công thành đất đền bù khoảng 400 triệu đồng, không phải 10 tỉ đồng.

Còn bị cáo Tường cho rằng phạm tội vì phải tuân lệnh của chủ tịch huyện là bị cáo Bổng. “Cấp trên bảo cứ ký đi nên tôi phải nhắm mắt ký” – bị cáo Tường thừa nhận.

Trong quá trình diễn ra phiên tòa, phía huyện Kỳ Anh đã có văn bản đề nghị tòa xem xét lại phần đất công ích và số tiền sai phạm để giảm tội cho các bị cáo. HĐXX cho rằng đây là đề nghị không thể chấp nhận nên đã giữ nguyên tội trạng của các bị cáo.

Trước khi tuyên án, HĐXX nhận định hành vi của các bị cáo rất nghiêm trọng, gây thiệt hại ngân sách nhà nước hơn 10 tỉ đồng, hiện số tiền này không thể thu hồi. Do đó cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa.

Văn Định

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

Hơn 1,1 triệu lao động thất nghiệp

Kết quả khảo sát thị trường lao động việc làm quý 3-2016 vừa được Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục Thống kê công bố chiều 2-12 cho thấy cả nước hiện có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp (tăng 29.000 người so với quý trước).

Trong đó có gần 420.000 người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ĐH trở lên hơn 200.000 người, CĐ chuyên nghiệp trên 122.000 người, còn lại là trung cấp chuyên nghiệp.

Theo ông Đào Quang Vinh – viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐ-TB&XH), thị trường lao động đang có sự mất cân đối ở một số nghề, khi rất nhiều người có trình độ chuyên môn là kế toán, kiểm toán, tài chính ngân hàng nhưng lại không có nhiều doanh nghiệp tuyển các vị trí này.

So với quý 2, thất nghiệp tăng cả về tỉ lệ và số lượng, tập trung nhiều nhất ở nhóm thanh niên và người có trình độ chuyên nghiệp, kỹ thuật. Số người thất nghiệp dài hạn (trên 12 tháng) chiếm gần 23% tổng số người thất nghiệp.

Đức Bình

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Đình chỉ hoạt động Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt

Ngày 28-11, UBND thành phố Đà Nẵng ra Quyết định đình chỉ hoạt động của Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt lý do đình chỉ bao gồm: Công tác quản lý, điều hành giữa Thời báo Làng nghề Việt và Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt thiếu sự thống nhất, làm trở ngại công tác quản lý nhà nước về báo chí tại TP Đà Nẵng.

Thời báo Làng nghề Việt không tuân thủ việc thông tin báo cáo về hoạt động của cơ quan đại diện tại Đà Nẵng theo Quyết định số 54/2008/QĐ-UBND ngày 12-12-2008 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc Ban hành Quy định về quản lý nhà nước đối với chi nhánh, văn phòng đại diện của các tổ chức thuộc Trung ương và địa phương khác đặt tại TP Đà Nẵng. Thời báo Làng nghề Việt và Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt không chấp hành các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tại Đà Nẵng, không bảo đảm điều kiện thành lập và hoạt động cơ quan đại diện theo quy định tại Thông tư số 13/2008/TT-BTTTT ngày 31-12-2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Thời gian đình chỉ hoạt động ba tháng kể từ ngày ký văn bản. Hết thời gian đình chỉ mà Thời báo Làng nghề Việt không thực hiện các quy định tại Khoản 1, Điều 2 Quyết định này thì sẽ bị thu hồi Quyết định cho phép đặt cơ quan đại diện tại TP Đà Nẵng.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Biểu dương Công an tỉnh Phú Thọ triệt phá thành công vụ mua bán, vận chuyển 300 bánh hê-rô-in

Chiều 28-11, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ gửi thư khen Công an tỉnh Phú Thọ về thành tích vừa triệt phá vụ mua bán, vận chuyển 300 bánh hê-rô-in.

Phó Thủ tướng bày tỏ vui mừng và biểu dương Công an tỉnh Phú Thọ đã điều tra, triệt phá thành công nhóm đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy với số lượng lớn, bắt giữ bốn đối tượng, thu 300 bánh hê-rô-in, đồng thời bảo đảm an toàn tính mạng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chuyên án và nhân dân địa phương.

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao thành tích xuất sắc của các cán bộ, chiến sĩ tham gia vào chiến công này, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Phó Thủ tướng tin tưởng trong thời gian tới, dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ, Công an tỉnh Phú Thọ sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Nhân dịp này, Phó Thủ tướng giao Bộ Công an đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân theo quy định, trích từ Quỹ phòng, chống tội phạm trung ương thưởng cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ.

Tháng Mười Hai 15, 2016

Lễ giỗ Nguyễn Du một sinh hoạt văn hóa của Hội Kiều học Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:39 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

Trang 125 tạp chí Nghiên cứu Văn học số 11.2016

(Viện Văn Học– Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

LỄ GIỖ NGUYỄN DU MỘT SINH HOẠT VĂN HÓA

CỦA HỘI KIỀU HỌC VIỆT NAM

Năm 2016, nhằm hướng tới kỷ niệm 200 năm mất của Đại thi hào (1820-2020), sáng kiến tổ chức ngày giỗ 10/8 Bính Thân (10.9.2016) tưởng nhớ Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du của Hội Kiều học Việt Nam được tỉnh Hà Tĩnh đồng thuận và nhiệt liệt ủng hộ. Có thể thấy, từ 1945 đến nay chưa có một Lễ giỗ nào với một Danh nhân văn hóa tầm thế giới lại được tổ chức một cách long trọng thành kính và hoành tráng như lễ giỗ này.

Lễ giỗ được tổ chức tại nhà thờ chính với bài văn tế Đại thi hào do nhà thơ Hoài Yên soạn và nhà giáo Vũ Ngọc Khôi đọc trong bầu không khí thiêng liên trầm mặc. Không gian Nghi Xuân hôm đó rất đẹp. Trời nắng nhẹ, gió mát dường như rất phù hợp với lời văn:

Mây Hồng Lĩnh khi tan khi hợp/thiết tha câu hữu cảm tất thông

Nước Lam giang lúc đục lúc trong/khẩn khoản chữ hữu cầu tất ứng.

Ông Đặng Quốc Vinh, Phó Chủ tịch tỉnh đọc lời tri ân với Nguyễn Du. Tiếp đó là bài phát biểu của giáo sư Phong Lê, Chủ tịch Hội Kiều học. Giáo sư Phong Lê một lần nữa khẳng định lại giá trị của Truyện Kiều khi dẫn ý của Mộng Liên đường chủ nhân về “con mắt trông sáu cõi và tấm lòng nghĩ tới ngàn đời” và ý của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” để đề cao con mắt và tấm lòng tác giả. Ông cũng khẳng định về giá trị mang tính nhân loại trong tác phẩm Nguyễn Du như khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, quyền con người, giá trị gia đình, yêu cầu bình đẳng giới và truyền thống văn hóa Việt Nam khi bình luận ý kiến của bà Katherinne Muleh – Marine, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du và nhắc lại những câu lẩy Kiều của các vị tổng thống, phó tổng thống Mỹ từng đọc để một lần nữa đề cao giá trị về của tin lòng tin như câu thơ Nguyễn Du: Của tin gọi một chút này làm ghi.

Nhà Kiều học Thế Anh thay mặt Hội tặng bức thư pháp do chính tay cụ viết bốn câu thơ Tố Hữu bằng chữ Nôm: Tiếng thơ ai động đất trời / Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du / Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày cho Bảo tàng Nguyễn Du. Những câu thơ ấy là một lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa kết thúc lễ giỗ 196 năm ngày mất của Đại thi hào.

Tổ chức ngày giỗ danh nhân văn hóa Nguyễn Du là một biểu hiện biết ơn của hậu sinh, cũng là một ngày thiêng trong tâm linh người Việt vốn coi trọng tình cảm uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là một sinh hoạt văn hóa rất đáng phát huy. Phải thế chăng mà trong suốt thời gian hành lễ, đất trời Nghi Xuân rất phong quang, giao hòa nhưng khi hóa văn thì lư hương bốc cháy và tối hôm đó, cả ngày hôm sau Hà Tĩnh có một trận mưa rất to – một trận mưa nhuần rửa núi sông (thơ Nguyễn Trãi)

Tấm lòng của hậu sinh đã được tiền nhân chứng giám?!

Thu Hương

Nhạc sĩ Phạm Tuyên làm đêm nhạc ở tuổi 88

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN LÀM ĐÊM NHẠC Ở TUỔI 88

(Báo Tuổi Trẻ trang 16 ngày 14/12/2016)

Được coi là “người chép sử bằng âm nhạc”, đến tuổi 88, nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức một đêm nhạc quy mô lớn có tên Nhớ và quên vào ngày 14-1-2017 tại Trung tâm hội nghị quốc gia (Hà Nội).

Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài hơn nửa thế kỷ, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác trên 700 ca khúc về nhiều chủ đề, hướng đến nhiều tầng lớp, trong đó có hơn 200 tác phẩm dem-nha-pham-tuyendành cho thiếu nhi. Với “kho tàng” âm nhạc đồ sộ như vậy, Nhớ và quên được xem như “đêm nhạc dành cho nhiều thế hệ”.

Có mặt tại buổi giới thiệu đêm nhạc chiều 13-12, dẫu đã ở tuổi “cổ lai hi” nhưng nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn cho thấy sự hoạt bát, hóm hỉnh. Ông nói đêm nhạc có tên Nhớ và quên vì ở đó “có những cái cần được quên và có những điều buộc phải nhớ”.

Với đông đảo khán giả, có nhiều bài hát của Phạm Tuyên mà chỉ cần nghe tên là nhiều người nhớ ngay ra giai điệu như Như có Bác trong ngày đại thắng, Chiếc gậy Trường Sơn, Những ngôi sao ca đêm, Gửi nắng cho em, Thành phố mười mùa hoa, Cánh én tuổi thơ, Mùa xuân tình bạn, Chiếc đèn ông sao, Chú voi con ở bản Đôn, Trường chúng cháu là trường mầm non…

Chính vì nhiều bài hát của Phạm Tuyên phổ biến từ Nam ra Bắc và gắn với ký ức của nhiều người nên đêm nhạc có sự tham gia của nhiều thế hệ ca sĩ nổi tiếng: NSND Trung Kiên, NSND Trần Hiếu, NSND Thanh Hoa; ca sĩ Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Lan Anh, Thanh Lam, Tùng Dương, Vũ Thắng Lợi…

Bên cạnh những ca khúc theo dòng lịch sử và những sáng tác về tình yêu, một mảng ca khúc không thể thiếu là những bản nhạc thiếu nhi sẽ do dàn hợp xướng với 100 em nhỏ và các giọng ca nhí là Nhật Minh (quán quân Giọng hát Việt nhí 2016) và Jayden Trịnh (top 4 Thần tượng âm nhạc nhí 2016) thể hiện.

Đêm nhạc do Phạm Hoàng Nam đạo diễn, nhạc sĩ Lưu Hà Anh hòa âm và biên tập âm nhạc, nhà báo Lại Văn Sâm dẫn chương trình.

“Với ba phần về tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu gia đình và tình yêu thế hệ tương lai, tôi muốn mang đến khán giả một đêm nhạc gắn với ký ức, hồi tưởng; vì thế yếu tố tinh giản, hài hòa được đặt lên hàng đầu, không cần những hiệu ứng sân khấu hay cũng không dùng múa minh họa” đạo diễn Phạm Hoàng Nam nói.

Danh Anh

ve-dem-nhac-pham-tuyenTHÔNG TIN LẤY TỪ FANPAGE CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

[THÔNG BÁO BÁN VÉ – ĐÊM NHẠC PHẠM TUYÊN] – NGÀY 14/01/2017

*Thời gian: 20h Thứ bảy, 14/01/2017

*Địa điểm: Trung tâm hội nghị Quốc Gia (Cổng số 1 Đại lộ Thăng Long, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội)

*Giá vé:
– 600.000 đ : Vị trí ghế hàng T, U, V, W, X, Y, Z (Tầng 2)
– 800.000 đ : Vị trí ghế hàng A đến hàng S (Tầng 2) và hàng UU đến ZZ (Tầng 1)
– 1.000.000 đ: Vị trí ghế hàng JJ đến TT (Tầng 1)
– 1.200.000 đ: Vị trí ghế hàng DD đến HH và hai cánh ngoài hàng L đến BB (Tầng 1)
– 1.500.000 đ: Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng T đến BB (Tầng 1)
– 2.000.000 đ (Vip): Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng K đến R và hai cánh từ C đến H (Tầng 1)
– 2.500.000 đ (SVip): Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng C đến H (Tầng 1)
ƯU ĐÃI KHI MUA VÉ THEO NHÓM
1. Nhóm mua từ 5 đến dưới 10 vé sẽ được giảm 2% trên tổng giá trị các vé.
1. Nhóm mua từ 10 đến dưới 50 vé sẽ được giảm 5% trên tổng giá trị các vé.
2. Nhóm mua từ 50 đến dưới 100 vé sẽ được giảm 10% trên tổng giá trị các vé.
3. Nhóm mua từ 100 vé trở lên sẽ được giảm 15% trên tổng giá trị các vé
HÌNH THỨC MUA VÉ+ Liên hệ qua inbox
=> page Nhạc sĩ Phạm Tuyên+ Gửi tin nhắn đăng kí nhận vé
=> Trên trang web: http://kidmediavn
=> Hòm thư: kidmediavn@gmail.com
+ Liên hệ trực tiếp số điện thoại : 043.8439.439 / ‪096.803.4200. NHẬN ĐĂNG KÝ MUA VÉ BẮT ĐẦU TỪ NGÀY 5/12/2016.
*Lưu ý: Sau khi các bạn đăng ký và thanh toán tiền vé chúng tôi sẽ gửi cho các bạn một tin nhắn xác nhận mua vé thành công. Vé chính thức sẽ được chuyển đến khách hàng từ ngày 20/12/2016.
Chân thành cảm ơn!

cho-ngoi-dem-nhac-pham-tuyen

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.