Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 22, 2015

Ông quả là Người nặng lòng với nước

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 5 năm 2015.

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôn trên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.

Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).

Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.

Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Phan boi chau (tre)Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quPham Quynh_Trean trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại cHoang Hy Nguyenhưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đâPhan boi chau (gia)y biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến Nha Phan Boi Chauđỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ. Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

 Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

 Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

    • Bằng tiếng Pháp:
      • Palais Inpérial: Hoàng Cung
      • Cabinet Civil de Sa Majesté: Ngự tiền Văn phòng
    • Bằng chữ Hán:
      • Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

Thu gui Louis Marty

Muốn sống – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 5 tháng 5 năm 2015.

KVCT…..

*BÀI SỐ 2 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

2.- MUỐN SỐNG…

 Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

 Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn. Ai cũng sẵn lòng hi sinh hà bao để chuộc lấy sinh-mệnh.

Nhưng chuyện giết người lấy của, là chuyện xa xôi ít có. Cứ nghe ngay cửa miệng người ta hằng ngày đe dọa nhau thường nói: “Muốn sống thì…”. Muốn sống thì bắt sao mà chẳng chịu? Muốn sống thì tất sẵn sàng thừa nhận bất cứ điều kiện gì, dù nặng nề đến đâu mặc lòng. Đe dọa như thế là quyết có hiệu nghiệm, vì ai là người không muốn sống? Vẫn biết rằng có kẻ anh hùng liệt nữ, có người siêu việt khác thường, thà chết còn hơn chịu nhục, thà chết còn hơn bội nghĩa. Nhưng đây là nói đại đa số người ta, không phải nói một số ít những bậc phi thường. Đối với đại đa số người ta thì không ai là không muốn sống, dù phải thế nào cho được sống cùng không từ.

Lòng “muốn sống”, ham sống, tham sống, quả là cái thị dục căn bản, thiết tha thâm trầm, mãnh liệt của loài người, không những loài người, của hết thảy chúng sinh trong thế giới.

Đừng có lý luận mà hỏi sống để làm gì, sống có ích chi. Nó chỉ là cái sức bản năng vô địch xô đẩy các giống sinh vật tranh đua nhau mà sống, ăn lẫn nhau mà sống, sống rồi lại truyền thực cái sống ra, sinh sôi nẩy nở đến vô cùng, hằng hà sa số, tương diệt tương sinh, đến đầy rẫy cả không gian, đông chật cả mặt đất, dẫu cá thể có tiêu diệt biến hóa, mà toàn thể vẫn bồng bột phồn thịnh; lấy thân một con người có ý thức đứng giữa cái bể sống mênh mông bát ngát, không bến không bờ đó, có cảm giác như bị cái sóng chao tự thiên vạn cổ đưa lại, lúc nhúc những giống sinh vật, nó tràn, nó ngập, nó lôi, nó cuốn mình đi, thấy mình bé mọn cũng như trăm nghìn vạn mớ những giống đó mà cũng bị chìm đắm trong cái luồng sóng sinh hoạt vô cùng vô tận vậy.

Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy.

Vì chỉ có đạo Phật cho sống là khổ, mới giải thoát được cho ta khỏi sống, từc là khỏi khổ.

Chỉ có đạo phật mới giải, mới giã được cái độc thâm trầm vĩnh viễn của quần sinh, là cái độc “muốn sống”, ham sống, tham sống.

Người ta dù mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai dọa hỏi: “Muốn sống thì…”, thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không:

Đã không biết sống là vui,

Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương.

Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?

Chỉ có đạo Phật mới có cái hiệu quả mầu nhiệm đó…

Muon song

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

Biet thu Hoa Duong

P.Q.

Tháng Năm 21, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 5 tháng 5 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:26 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 5 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/5/2015

Khánh thành Tượng đài Bác Hồ tại thành phố Hồ Chí Minh

Sáng 17-5, trong không khí tưng bừng kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh long trọng tổ chức Lễ khánh thành và báo cáo với Ðảng bộ, nhân dân thành phố việc hoàn thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tại khu trung tâm hành chính thành phố.

Ðồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến. Tham dự buổi lễ, có nguyên Thủ tướng Tuong dai bac hoPhan Văn Khải; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; các đồng chí Bí thư T.Ư Ðảng: Hà Thị Khiết, Trưởng ban Dân vận T.Ư; Trần Quốc Vượng, Chánh văn phòng T.Ư Ðảng; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Ðảng, Nhà nước; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành T.Ư; lãnh đạo Thành ủy TP Hồ Chí Minh các thời kỳ; lãnh đạo một số tỉnh ủy, thành ủy và đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đồng chí Lê Thanh Hải dâng hoa lên Tượng đài Bác.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, đồng chí Lê Thanh Hải xúc động nêu bật tình cảm sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào miền nam, trong đó có đồng bào thành phố mang tên Người. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Tình thương yêu đặc biệt dành cho đồng bào miền nam của Bác được nhân lên bởi lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của cả nước, của đồng bào miền nam, là chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa.

Ðồng chí Bí thư Thành ủy nêu rõ, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân Sài Gòn – Gia Ðịnh – TP Hồ Chí Minh từ trước đến nay luôn tôn kính, yêu quý Bác Hồ; trong mỗi người luôn thấy Người bên cạnh. Muôn triệu tấm lòng đều vững niềm tin vào Bác, vào Ðảng, quyết chí bền gan, chiến đấu anh dũng đến ngày toàn thắng. Giữa trung tâm Sài Gòn, hang ổ của kẻ thù, trong nhiều cuộc tranh đấu sống còn, đồng bào vẫn đồng thanh hô vang: “Hồ Chí Minh muôn năm!”, không nao núng trước lưỡi lê, đầu súng, làm bạt vía quân thù. Khi Bác đi xa, ở nơi căn cứ trong vùng giải phóng, giữa lòng thành phố, trong nhiều nhà dân vùng địch tạm chiếm, bàn thờ Bác do đồng bào, chiến sĩ lập nên, ngày đêm tỏa khói hương tưởng nhớ Bác, bất chấp sự khủng bố của quân thù; ngay trong lao tù khám lớn Chí Hòa, các chiến sĩ cách mạng và người dân yêu nước vẫn kiên cường đấu tranh với địch để thọ tang Bác. Cùng với nhân dân cả nước, đồng bào, chiến sĩ TP Hồ Chí Minh vượt qua bao bão táp phong ba, hy sinh xương máu, để giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ðồng chí Lê Thanh Hải cho rằng, trên từng bước đường kháng chiến và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, trong mỗi thành quả của thành phố vinh dự được mang tên Người đều có ngọn nguồn sức mạnh vô biên, chỗ dựa tinh thần vững chắc, soi đường, chỉ lối, vẫy gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðảng bộ và nhân dân thành phố mãi mãi ghi tạc công ơn trời biển của NgưTuong dai bac ho 2ời, luôn ước ao được đón Người để thỏa lòng kính yêu. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố là ước nguyện thiết tha của Ðảng bộ và nhân dân thành phố, khẳng định tấm lòng son sắt, thủy chung của đồng bào, đồng chí đối với Ðảng, với Bác. Ðây là nơi thể hiện lòng tôn kính Bác, để dâng hoa, báo cáo với Bác kết quả phấn đấu, rèn luyện, thực hiện nhiệm vụ chính trị; nơi giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho mọi người, nhất là đối với thế hệ trẻ; là nơi nhắc nhở cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ cương vị chủ chốt của thành phố phải luôn tự soi, tự sửa, tự răn mình, rèn luyện, phấn đấu để xứng đáng với niềm tin của nhân dân và trọng trách mà Ðảng giao,…

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt hoan nghênh Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực xây dựng và hoàn thành công trình Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng vào dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Bác và 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước. Tổng Bí thư nhấn mạnh, đây là công trình văn hóa có ý nghĩa chính trị, lịch sử và nhân văn sâu sắc của nhân dân thành phố, đồng bào Nam Bộ và cũng là niềm vui chung của tất cả chúng ta (toàn văn bài phát biểu đăng trên số báo hôm nay).

Trước đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu đã thăm Triển lãm “Bác Hồ với miền nam, miền nam với Bác Hồ”, tại trụ sở HÐND và UBND thành phố. Triển lãm gồm hai phần: Tình cảm đặc biệt của Bác Hồ dành cho đồng bào miền nam và hình ảnh một số tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

* Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 104 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, 39 năm thành phố Hồ Chí Minh được vinh dự mang tên Bác và thành phố vừa khánh thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối 17/5, tại khuôn viên khu Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật đặc biệt “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”. Các đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo thành phố, các Bà mẹ Việt Nam Anh hung, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân và đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố dự.

Các tiết mục văn nghệ và chương trình giao lưu đặc biệt “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” đã tái hiện những hình ảnh thân thương của Bác qua những thước phim tư liệu quý và giai điệu ngọt ngào về tình cảm của Bác dành cho đồng bào ruột thịt và những tình cảm sâu sắc của nhân dân cả nước vãn luôn thương nhớ vị Cha già của dân tộc. Trong chương trình còn có giao lưu với một số cá nhân vinh dự được gặp Bác Hồ.

* Sáng 17/5, tại thành phố Vinh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An tổ chức khai mạc Liên hoan nghệ thuật quần chúng Tiếng hát Làng Sen toàn quốc 2015 với chủ đề “Sáng mãi tên Người”. Liên hoan năm nay thu hút hơn 800 diễn viên quần chúng của 24 đoàn nghệ thuật đến từ Lào và Thái Lan. Lễ bế mạc và trao giải liên hoan sẽ được tổ chức vào ngày 19/5.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh kết từ hơn 10 nghìn bông hoa sen tại chùa Đại Tuệ (huyện Nam Đàn, Nghệ An) đã hoàn thành và được Tổ chức Liên minh kỷ lục thế giới công nhận là “Bức tranh chân dung bằng hoa sen lớn nhất thế giới”. Bức chân dung có kích thước 4x6m, khắc họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười, vẫy tay chào, được trưng bày tại chùa Đại Tuệ từ ngày 17/5 đến hết ngày 20/5. Sau đó, bức chân dung sẽ được sấy khô, để hằng năm vào dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa ra triển lãm để nhân dân chiêm ngưỡng.

* Ngày 16/5, tại vường hoa Lý Thái Tổ (quận Hoàn Kiếm), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Trung tâm Văn hóa Kim Đồng tổ chức chương trình nghệ thuật có chủ đề “Hà Nội kết nối năm châu”. Các nghệ sĩ trong nước và bạn bè quốc tế biểu diễn các bài hát ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bài hát về Việt Nam… Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 125 Ngày sinh Bác Hồ, đồng thời tạo một không gian giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh của Thủ đô.

* Ngày 17/5, tại xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức Ngày hội thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng năm 2015, gồm các hoạt động khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho hơn 300 bà con nghèo; trao 500 suất quà cho hơn 300 bà con nghèo; trao 500 suất quà cho các gai đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; trao 10 suất quà (mỗi suất 500 nghìn đồng) cho các hộ gia đình chính sách tại xã Lộc Trì.

PV

  • Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Khánh thành Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang

Tối 19-5, tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP Tuyên Quang, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và MTTQ tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2015).

Dự Lễ có các đồng chí nguyên Tổng Bí thư: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Ngô Văn Dụ, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Trần Đại QuanTuong dai bac ho voi Tuyen Quangg, Bộ trưởng Công an; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội ; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Hà Thị Khiết, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Dân vận T.Ư; các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVTND, Anh hùng Lao động; đại biểu đại diện lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, Quân khu II, Ban Chỉ đạo Tây Bắc và các tỉnh chung quanh…

Tượng đài “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang” được xây dựng tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP Tuyên Quang, sát chân núi Thổ Sơn, nơi đây 54 năm trước (1961), Bác Hồ đã về thăm và nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Cụm Tượng đài và Đền thờ Bác Hồ có quy mô 8,5 ha, với sức chứa 20.000 người, là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, chính trị -xã hội của toàn tỉnh. Bố cục tượng đài gồm hai phần: Phía trước là nhóm tượng bảy nhân vật, trong đó tượng Bác Hồ ở vị trí trung tâm, chân dung thể hiện thời kỳ Bác Hồ về thăm và nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tháng 3-1961; sáu nhân vật đại diện cho nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang quây quần bên Bác gồm: LLVT, thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, công nhân và trí thức. Phía sau tượng đài là phù điêu, gồm ba mảng, biểu tượng chính là cây đa Tân Trào, hai mảng phù điêu hai bên khắc họa một số hình ảnh hoạt động, sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Tuyên Quang.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: Khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang là sự kiện có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, thể hiện tình cảm sắt son của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang kính dâng lên Bác đúng vào dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Người.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang tiếp tục đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa Tuyên Quang thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía bắc, xứng đáng vị thế Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến. Đồng chí nhấn mạnh, Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang – Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh – Quảng trường Nguyễn Tất Thành là công trình văn hóa có ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Tuyên Quang phải làm tốt việc quản lý, giữ gìn và khai thác hiệu quả, thiết thực, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, tấm gương vĩ đại của Bác Hồ cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.

Buổi lễ kết thúc với chương trình nghệ thuật đặc sắc, gồm các tiết mục ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, công cuộc đổi mới của đất nước và màn pháo hoa rực rỡ.

* Sáng 19-5, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo T.Ư, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp Tập đoàn Viettel tổ chức lễ khai trương Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư dự.

Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh có tên miền là http://www.hochiminh.vn, là hệ thống quản lý tập trung, thống nhất dữ liệu, tư liệu, thông tin về Hồ Chí Minh trên cơ sở tổng hợp, phân tích, chọn lọc dữ liệu từ các nguồn đang lưu giữ tại các cơ quan và đơn vị Đảng, Nhà nước; cộng đồng trong nước và quốc tế. Trang thông tin điện tử có 12 chuyên trang, chuyên mục gồm: Tin tức; Cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh; Tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh; Tác phẩm của Hồ Chí Minh; Tác phẩm viết về Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh và thế giới; Học và làm theo Bác; Kho tư liệu ảnh, âm thanh, vi-đê-ô về Hồ Chí Minh; Bảo tàng 3D…; và được thể hiện bằng hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh, cùng phiên bản trên điện thoại di động nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong nước và quốc tế.

Phát biểu ý kiến tại lễ khai trương, đồng chí Đinh Thế Huynh đề nghị bộ phận chuyên trách giúp việc Ban Bí thư về Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ, biên tập chính xác, thông qua quy trình xuất bản nghiêm ngặt, vận hành thông suốt, an toàn, thường xuyên cập nhật thông tin tư liệu mới, tiếp thu ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để trang thông tin ngày càng hoàn thiện, nội dung thông tin phong phú; là địa chỉ tin cậy góp phần tuyên truyền sâu rộng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

* Sáng 19-5, Đoàn đại biểu lãnh đạo Thành ủy; HĐND; UBND, Ủy ban MTTQ thành phố Hồ Chí Minh do đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh dẫn đầu, đã đến Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP Hồ Chí Minh (Bến Nhà Rồng) dâng hương, viếng Bác.

  • Tin trang 20 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

“Tổng thống Obama trông chờ chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng”

Đó là thông điệp mà Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony J. Blinken đưa ra trong cuộc họp báo chiều 19-5 tại TP.HCM.

“Chúng tôi rất chào đón chuyến thăm của Tổng bí thư Trọng. Tổng thống Obama đang trông chờ chuyến thăm – ông Blinken nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ – Đây là chuyến thăm đầu tiên của tổng bí thư Đảng Cộng sản VN tới Washington”  .

Ông nói chuyến thăm chứng minh “các cựu thù trong chiến tranh với nhau vẫn có thể trở thành bạn bè. obama mong Nguyen Phu Trong den MyChúng ta không những chỉ có hòa bình mà còn xây dựng được quan hệ đối tác”.

Ông Blinken đang có chuyến thăm ở VN từ ngày 16 đến 19-5 để chuẩn bị cho một loạt chuyến thăm cấp cao giữa hai nước vào cuối năm nay, trong đó sẽ có chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp tới.

Chuyến thăm của ông Blinken diễn ra trong bối cảnh tình hình ở biển Đông đang có một loạt diễn biến mới khi Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động chiếm đất ngoài biển.

Mới tuần trước, Wall Street Journal trích nguồn tin Bộ Quốc phòng nói Lầu Năm Góc đang cân nhắc phương án đưa tàu chiến và máy bay quân sự vào trong phạm vi 12 hải lý các điểm Trung Quốc chiếm đất ở biển Đông – động thái dấy lên lo ngại rằng đụng độ có thể xảy ra ở ngoài biển.

Khi được hỏi về vấn đề này, ông Blinken dầu vậy không khẳng định hay phủ nhận việc quân đội Mỹ có đưa tàu hay máy bay tới khu vực lấn đất hay không dù nói là “quan ngại” về tình hình ở ngoài biển”.

12 hải lý là phạm vi lãnh hải và thường chỉ được công nhận nếu như các điểm này được coi là đảo. Tuy vậy, theo các chuyên gia, hầu hết đây chỉ là bãi san hô ngầm hoặc là đá mà không duy trì được sự sống thì sẽ chỉ có 500m lãnh hải chứ không phải 12 hải lý như thông thường và cũng không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Theo giới quan sát, động thái đi hẳn vào 12 hải lý như vậy có thể buộc Trung Quốc phải đưa ra căn cứ cụ thể cho các tuyên bố chủ quyền của mình (Thực tế ở biển Đông là tất cả các nước mới chỉ tuyên bố chủ quyền nhưng vì tính phức tạp của tình hình, hiện chưa nước nào đưa ra rõ ràng căn cứ theo UNCLOS cho các tuyên bố chủ quyền của mình).

“Quan điểm ở đây là gây nhiều sức ép với Trung Quốc với mọi cơ hội, mà không quá gây hấn, khiến họ ngày càng không thoải mái với những gì mình đang làm” – Gregory Poling của CSIS nói với Bloomberg.

IHS Jane, tạp chí hàng đầu về quốc phòng, đánh giá khả năng Mỹ đưa tàu hay máy bay vào trong phạm vi 12 hải lý sẽ khó xảy ra trong lúc này vì sẽ dẫn tới cuộc đối đầu ngoại giao trực diện giữa hai nước.

Và trong bối cảnh Mỹ còn cần Trung Quốc trong một loạt vấn đề an ninh và kinh tế (như Triều Tiên, Iran…), Washington sẽ không muốn gây hấn với Trung Quốc vào lúc này. Nhưng họ thừa nhận khả năng Washington sẽ đưa tàu tới sát vạch 12 hải lý.

Thanh Tuấn ghi

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 16/5/2015:

Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Sáng 15-5, tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai, TP Lào Cai (Lào Cai), Ðại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì Lễ đón chính thức Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc, do Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Ủy viên Quốc vụ viện, Bộ trưởng Quốc phòng làm Trưởng đoàn sang thăm và tham dự Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, năm 2015. Cùng dự lễ đón có các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại buổi hội đàm, Ðại tướng Phùng Quang Thanh bày tỏ vui mừng được đón Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Quốc phòng và Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc sang thăm và tham dự Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết: Ðây là lần đầu tiên hai Bộ trưởng Quốc phòng gặp nhau tại biên giới của hai nước, thể hiện Việt Nam và Trung Quốc hết sức coi trọng mối quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Cuộc gặp gỡ nhằm cụ thể hóa, thực hiện sự thỏa thuận và chỉ đạo của lãnh đạo hai Ðảng, hai Nhà nước trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị, tiếp xúc cấp cao Quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc; đẩy mạnh hợp tác hữu nghị giữa lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, qua đó tăng cường tinh thần đoàn kết, tin cậy chính trị, thúc đẩy mối quan hệ và hợp tác quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc đi vào chiều sâu; củng cố niềm tin của nhân dân hai nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển lâu dài.

Thượng tướng Thường Vạn Toàn bày tỏ niềm phấn khởi được đồng chủ trì cuộc gặp gỡ cấp cao Bộ Quốc phòng hai nước tại khu vực biên giới; cảm ơn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đón tiếp Ðoàn trọng thị, chu đáo. Ðồng thời cho rằng, cuộc gặp gỡ lần này tiếp tục củng cố và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước Trung Quốc -Việt Nam và thực hiện sự quyết tâm của quân đội hai nước, góp phần xây dựng, bảo vệ biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định giữa hai nước. Thượng tướng Thường Vạn Toàn tin tưởng, với sự cố gắng chung và sự chuẩn bị chu đáo, cuộc Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2 sẽ thành công tốt đẹp; tô đậm thêm mối quan hệ hữu nghị giữa quân đội hai nước Trung Quốc – Việt Nam.

* Trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, chiều 15-5, tại TP Lào Cai (Lào Cai), Ðại tướng Phùng Quang Thanh và Thượng tướng Thường Vạn Toàn  đã chủ trì Tọa đàm hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Phát biểu ý kiến khai mạc cuộc Tọa đàm, thay mặt Bộ Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên T.Ư Ðảng, Thứ trưởng Quốc phòng nêu rõ: Giao lưu lần này diễn ra trong bối cảnh hai nước đang triển khai nhiều hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc; đánh dấu một chặng đường quan trọng trong mối quan hệ lâu đời, với dòng chảy chính là hợp tác và hữu nghị giữa hai Ðảng, hai Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc. Ðảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội Việt Nam trước sau như một, luôn coi trọng và mong muốn cùng Ðảng, Nhà nước, nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc củng cố tình hữu nghị truyền thống và xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc ngày càng phát triển ổn định, bền vững.

Cuộc Tọa đàm góp phần thiết thực xây dựng khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương biên giới Việt Nam-Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc, tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa quân đội và nhân dân hai nước.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Nhiều hoạt động Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Trong khuôn khổ Chương trình giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, năm 2015, sáng 16-5, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta do Ðại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng làm Trưởng đoàn và Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc do Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc làm Trưởng đoàn đã tới chào cột mốc quốc giới 112 (xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai); chứng kiến lực lượng Biên phòng hai bên phối hợp tuần tra chung; dự lễ khánh thành Nhà văn hóa hữu nghị biên giới Việt-Trung (thôn Na Lốc 3, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương); chứng kiến lễ ký kết nghĩa giữa thôn Na Lốc 4 (xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cao) và Ðội Ðiền Phòng (Nông trường Mã Hoàng Pao, huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc).

Sáng cùng ngày, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng hai nước đã đến thăm Ðồn Biên phòng Bản Lầu, thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BÐBP) tỉnh Lào Cai. Phát biểu ý kiến với cán bộ, chiến sĩ đơn vị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh, để thực hiện tốt thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam – Trung Quốc, BÐBP nói chung, Biên phòng Lào Cai và Ðồn Biên phòng Bản Lầu nói riêng cần phối hợp chặt chẽ lực lượng Công an Biên phòng Trung Quốc để bảo đảm an ninh, trật tự biên giới; tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp đỡ nhân dân hai bên biên giới phát triển, sản xuất, nâng cao đời sống và quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước…

Thăm Ðồn Biên phòng Bản Lầu, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đánh giá cao hoạt động giao lưu, phối hợp của Ðồn Biên phòng Bản Lầu với BÐBP Trung Quốc thời gian qua… và tin tưởng, thời gian tới, các hoạt động, giao lưu, phối hợp của Ðồn Biên phòng Bản Lầu nói riêng và lực lượng BÐBP Việt Nam nói chung sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc lên tầm cao mới; đóng góp thiết thực vào việc xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Chiều cùng ngày, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta do Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chủ trì lễ tiễn Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc về nước, kết thúc hoạt động giao lưu tại Việt Nam.

Theo Chương trình, trong hai ngày 17 và 18-5, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta sẽ tham dự các hoạt động Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2 năm 2015, tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

PV

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 16/5/2015:

Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu lần thứ 25

Theo Bộ Ngoại giao, từ ngày 14 đến 16-5, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan dẫn đầu Ðoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu lần thứ 25 diễn ra tại TP Xao Pao-lô của Bra-xin. Với chủ đề “Phụ nữ sáng tạo, nền kinh tế sáng tạo”, Hội nghị thu hút sự tham gia của gần một nghìn đại biểu, gồm các lãnh đạo và đại diện nhà nước, cùng hàng trăm chính trị gia, nữ doanh nhân và đại diện các tổ chức phụ nữ đến từ 63 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tại lễ khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá cao vai trò của Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu trong 25 năm qua, trở thành một cầu nối thiết thực giữa nhà nước và doanh nghiệp, khuyến khích vai trò và đóng góp của các nữ doanh nhân trong phát triển kinh tế quốc gia và toàn cầu. Phó Chủ tịch nước nêu bật những thành tựu quan trọng của Việt Nam trong bảo đảm bình đẳng giới, nâng cao địa vị và phát huy sức sáng tạo của phụ nữ; đồng thời nhấn mạnh những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế đất nước. Phó Chủ tịch nước kêu gọi Hội nghị quyên góp ủng hộ phụ nữ Nê-pan vừa bị ảnh hưởng nặng nề của trận động đất; và thông báo, cùng khoản hỗ trợ 50.000 USD của Chính phủ, Ðoàn đại biểu Việt Nam quyên góp tặng 10.000 USD giúp phụ nữ Nê-pan khắc phục hậu quả thiên tai.

Chủ tịch Hội nghị cấp cao Phụ nữ Toàn cầu I-ren Nát-ti-vi-đát đã trao tặng Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan giải thưởng Lãnh đạo Nhà nước toàn cầu vì những nỗ lực nâng cao quyền năng cho phụ nữ và nhất là đóng góp tăng cường kết nối các doanh nhân nữ Việt Nam với thế giới.

* Cùng ngày, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã gặp Chủ tịch Ðảng Cộng sản (CS) Bra-xin Re-na-tu Ra-be-lu. Phó Chủ tịch nước chúc mừng Ðảng CS Bra-xin về những thành tựu to lớn và các bước phát triển mạnh mẽ những năm gần đây, nhất là thắng lợi tại cuộc tổng tuyển cử tại Bra-xin vừa qua, góp phần củng cố vai trò của Ðảng CS Bra-xin trong liên minh cầm quyền, cũng như trong đời sống chính trị, kinh tế – xã hội đất nước. Phó Chủ tịch nước khẳng định, Ðảng CS Việt Nam mong muốn tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác với Ðảng CS Bra-xin, đóng góp thiết thực, không ngừng phát triển và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.

Chủ tịch R.Ra-bê-lu bày tỏ ngưỡng mộ nhân dân Việt Nam về truyền thống lịch sử đấu tranh anh dũng và những thành tựu đổi mới to lớn; ca ngợi cuộc đời trong sáng và sự nghiệp hoạt động Cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng CS Việt Nam và sự đóng góp quan trọng và quý báu của Cách mạng Việt Nam vào kho tàng lý luận và thực tiễn của Phong trào CS và cánh tả trên thế giới. Ðồng chí khẳng định, Bra-xin coi Việt Nam là một đối tác quan trọng; mong muốn Ðảng CS hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác; và ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam giải quyết tranh chấp chủ quyền thông qua đàm phán hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế.

* Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã có cuộc gặp Thị trưởng TP Xao Pao-lô Phéc-nan-đu Át-đát. Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam mong muốn phát triển quan hệ đối tác toàn diện với Bra-xin nói chung và với TP Xao Pao-lô nói riêng. Thị trưởng P.Át-đát khẳng định, Xao Pao-lô muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt cùng có lợi với Việt Nam, sẵn sàng thiết lập quan hệ kết nghĩa, hợp tác với các địa phương Việt Nam.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 19/5/2015:

Khánh thành Khu lưu niệm Giáo sư , Việt sĩ Trần Đại Nghĩa

Sáng 18-5, Vĩnh Long long trọng tổ chức Lễ khánh thành Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viện Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư T.Ư Đảng, đã đến dự.

Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa được thiết kế theo lối không gian mở, thoáng mát, gần gũi. Tổng diện tích khu lưu niệm hơn 16.000 m2, gồm: Nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, thư viện và trung tâm tích hợp dữ liệu về khoa học và công nghệ, phòng hội thảo, chiếu phim, sinh hoạt truyền thống, quảng trường, các hạng mục phụ trợ và cảnh quan với tổng mức đầu tư gần 51 tỷ đồng.

Sau gần hai năm thi công, đến nay công trình đã hoàn thành và đưa vào quản lý sử dụng. Đặc biệt, Bộ Khoa học và Công nghệ đầu tư xây dựng TKhanh thanh khu luu niem Tran Dai Nghiarung tâm tích hợp dữ liệu khoa học công nghệ với tổng mức đầu tư 2,6 tỷ đồng, như: Cổng thông tin điện tử giới thiệu Khu lưu niệm, tích hợp thư viện điện tử về thân thế, sự nghiệp và các công trình nghiên cứu Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa; là nơi lưu trữ, quảng bá thông tin khoa học công nghệ, phục vụ khai thác sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn mới vùng ĐBSCL, đồng thời phục vụ rộng rãi cho khách tham quan, nghiên cứu, tiếp cận thông tin khoa học công nghệ quốc gia và quốc tế.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là nhà khoa học tiên phong trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những công trình khoa học của ông có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc, từ súng không giật trong kháng chiến chống Pháp đến thiết bị rà phá thủy lôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là người đứng đầu nhiều cơ quan của ngành khoa học công nghệ Việt Nam và Bộ Quốc phòng. Ông cũng là Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ đầu tiên của Việt Nam, là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam.

BÙI QUỐC DŨNG

  • Tin trang báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2015:

Trao giải thưởng Tạ Quang Bửu cho 3 nhà khoa học

Ngày 16-5 tại Hà Nội, lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2015 đã vinh danh ba nhà khoa học có công trình khoa học xuất sắc với giải thưởng trị giá 200 triệu đồng/giải và một nhà khoa học nhận giải thưởng nhà khoa học trẻ được tặng thưởng 50 triệu đồng.

Ba nhà khoa học được trao giải gồm: GS.TSKH Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin – ĐH Quốc gia Hà Nội) đoạt giải thưởng tác giả công trình xuất sắc với Pho Thu Tuong Vu Duc Dam trao giai Ta Quang Buuđề tài “Xấp xỉ và khôi phục tín hiệu có số chiều rất lớn trên lưới thưa” đăng trên Nền Móng Của Toán Học Tính Toán – tạp chí đứng thứ năm trong lĩnh vực toán học tính toán do SCImago xếp hạng; GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học – Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) đoạt giải bằng cụm công trình “Nghiên cứu tính ổn định và ổn định vi phân của một lớp bài toán quy hoạch toàn phương không lồi” đăng trên tạp chí SIAM Journal On Optimization, đứng thứ sáu về vị trí ảnh hưởng, đứng thứ bảy về chỉ số trích dẫn; PGS.TS Trần Thanh Hải (Trường ĐH Mỏ – địa chất) được vinh danh nhờ công trình “Bản chất đới trượt Tam Kỳ – Phước Sơn ở miền Trung Việt Nam: Ý nghĩa kiến tạo và sinh khoáng của nó” đăng trên Gondwana Research – tạp chí có thứ hạng cao, uy tín trong lĩnh vực địa chất. Riêng giải thưởng nhà khoa học trẻ dành cho PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp (Viện Toán học – Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) – người trước đó được công nhận chức danh PGS khi mới 29 tuổi, tác giả công trình “Một đánh giá tốt nhất có thể của ngưỡng chính tắc” đăng trên Acta Mathematica – một trong năm tạp chí toán học đỉnh cao và kinh điển nhất của các tạp chí toán học trên thế giới.

Phát biểu tại lễ trao giải, Bộ trưởng Bộ Khoa học –  công nghệ Nguyễn Quân cho biết năm 2014 là năm đầu tiên Việt Nam vượt ngưỡng hơn 2.000 bài báo đăng trên các tạp chí khoa học uy tín thuộc danh mục ISI – điều mà 10 năm trước không ai từng nghĩ đến. Ông Quân cũng bày tỏ mong muốn các nhà khoa học cùng chung tiếng nói trên các diễn đàn – trong đó có cả diễn đàn Quốc hội – để những nhà quản lý cùng chia sẻ được những khó khăn với nhà khoa học, thay đổi tư duy cũ, tạo cơ chế mới phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho khoa học Việt Nam đạt được nhiều thành quả hơn nữa.

Được biết, giải thưởng Tạ Quang Bửu của Bộ Khoa học – công nghệ được dành trao cho những tác giả có các công trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc, được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín.

Ngọc Hà.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2015:

Khánh thành Trường tiểu học Song Tử Tây, Trường Sa

Trong chuyến thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa của đoàn công tác TP.HCM số 2 (đoàn công tác số 11 của Quân chủng hải quân), các đại biểu TP.HCM đã cùng Quân chủng hải quân, Bộ tư lệnh Hải quân vùng 4 và quân dân xã đảo Song Tử Tây vừa làm lễ khánh thành Trường tiểu học Song Tử Tây.

Trường được xây kiên cố hai tầng gồm sáu phòng, trong đó gồm cả phòng nghỉ cho giáo viên và một bể Truong tren dao song tu taychứa nước 90m3. Số tiền xây dựng trường trên 8 tỉ đồng được cán bộ, giáo viên và học sinh ngành giáo dục TP.HCM đóng góp, hưởng ứng cuộc vận động “Vì Trường Sa thân yêu, vì tuyến đầu Tổ quốc” do Ủy ban MTTQ TP.HCM phát động.

Cũng trong chuyến thăm này, đoàn công tác số 2 của TP.HCM đã tặng quân dân Trường Sa số tiền và quà 10,3 tỉ đồng để góp phần xây dựng đảo. Đoàn đã đến thăm chín điểm đảo gồm: Trường Sa lớn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Đá Tây… và nhà giàn DK1/14.

* Chiều 18-5, Tỉnh đoàn Quảng Bình cùng đại diện Đoàn khối Bộ Xây dựng tại TP.HCM đã tổ chức lễ bàn giao nhà mới cho cựu binh đảo Gạc Ma Nguyễn Bá Ngọc, ở thôn Tân Hội, xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Anh Ngọc là nhân vật trong câu chuyện “Những người lính Gạc Ma bây giờ” đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 13-3-2015.

Cựu binh Nguyễn Bá Ngọc cho biết toàn bộ chi phí để làm ngôi nhà khoảng 100 triệu đồng, trong đó Đoàn khối Bộ Xây dựng hỗ trợ 50 triệu. Một cán bộ Huyện đoàn Bố Trạch đưa bộ khung gỗ ngôi nhà cũ của anh Ngọc lên mạng xã hội và có một người mua ủng hộ giá 12 triệu đồng. Những người thân quen biết hoàn cảnh của vợ chồng cựu binh Gạc Ma cũng đồng ý cho mượn tiền không lấy lãi. Những đồng đội của anh Ngọc từng tham gia trận hải chiến Gạc Ma ở Quảng Bình nghe tin cũng tìm đến giúp anh Ngọc mỗi người năm ba ngày công để đồng đội mình có nhà mới.

Viễn Sự – Quốc Nam

  • Tin trang 8 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2015

Bà Mai Kiều Liên được vinh danh tại Nhật Bản

Ngày 20-5 tại Tokyo (Nhật Bản), bà Mai Kiều Liên – chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty CP Sữa VN (Vinamilk) – là người VN duy nhất và là một trong ba cá nhân, tổ chức nhận được giải thưởng Nikkei châu Á lần thứ 20 trong lĩnh vực “Kinh tế và đổi mới doanh nghiệp” do báo Nikkei – nhật báo kinh tế lớn nhất tại Nhật – tổ chức.Ba Mai Kieu Lien

Đánh giá về những đóng góp của bà Liên, báo Nikkei nhận định: “… Là người tiên phong trong thị trường các sản phẩm từ sữa tại VN, Vinamilk đã giúp người tiêu dùng VN thấy được sự cần thiết của những sản phẩm dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Hiện nay công ty đang đầu tư phát triển vươn ra tầm quốc tế”.

Phát biểu tại buổi lễ, bà Mai Kiều Liên cho biết: “Đây là một vinh dự lớn lao không chỉ cho riêng cá nhân tôi mà còn cho tập thể Công ty Vinamilk, vì tất cả sự cố gắng cống hiến và sáng tạo của hơn 5.000 nhân viên Vinamilk trong gần 40 năm qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận”.

Ngoài ra, bà Liên cũng tuyên bố dành tặng toàn bộ số tiền thưởng 3 triệu yen Nhật (tương đương 500 triệu đồng) cho trẻ em Nepal đang phải gánh chịu thảm họa động đất lịch sử thông qua Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) Nhật Bản.

Quý 1-2015, doanh thu thuần của Vinamilk đạt 8.075 tỉ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2014, thị trường xuất khẩu tăng 70%.

Năm 2015, Vinamilk đặt kế hoạch doanh thu hợp nhất 39.077 tỉ đồng, tăng 9,4% so với thực hiện năm 2014. Lợi nhuận sau thuế 6.830 tỉ đồng, tăng 12,6%. Sản phẩm của Vinamilk hiện có mặt ở hơn 31 nước trên thế giới như Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, Mỹ, Úc…

H.Đăng

  • Tin trang 13 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

70,7% bác sĩ nội trú tốt nghiệp loại giỏi

Ngày 19-5, Trường đại học Y dược TP.HCM đã tổ chức lễ phát bằng tốt nghiệp sau đại học cho 1.181 nghiên cứu sinh, học viên sau đại học.

Trong đợt này có 18 nghiên cứu sinh của 10 chuyên ngành nhận bằng tiến sĩ y học và tiến sĩ dược học, 407 học viên cao học nhận bằng thạc sĩ, 92 học viên nhận bằng bác sĩ nội trú, 171 học viên nhận bằng chuyên khoa cấp II và 493 học viên nhận bằng chuyên khoa cấp I.

Theo TS Hoàng Tiến Mỹ – trưởng phòng sau đại học, năm 2014 nhà trường có đến bốn nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y học đúng thời hạn.

“Đây là con số rất đáng khích lệ. Trong đào tạo tiến sĩ y khoa, để bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đúng thời hạn rất khó. Có nhiều khóa ở trường không có nghiên cứu sinh nào bảo vệ luận án đúng hạn” – TS Mỹ cho biết.

Đặc biệt, ở bậc đào tạo bác sĩ nội trú đợt này có một học viên tốt nghiệp loại xuất sắc và có đến 65 học viên tốt nghiệp loại giỏi (tỉ lệ 70,7 ), 26 học viên tốt nghiệp loại khá.

Trần Huỳnh

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2015:

Khánh thành khu lưu trú thứ 41 cho công nhân

Tối 19-5, tại ấp 2, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh (TP.HCM), Trung tâm Hỗ trợ thanh niên công nhân thành phố (Thành đoàn TP.HCM) đã tổ chức lễ ra mắt khu lưu trú văn hóa thứ 41 dành cho thanh niên công nhân.

Khu luu tru thu 41

Khu lưu trú có tổng cộng 45 phòng trọ. Các phòng trọ đều có gác, bếp và nhà vệ sinh riêng. Tại buổi lễ ra mắt, trung tâm đã trao một “căn phòng mơ ước” cho gia đình công nhân Thân Văn Tư và chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt – anh chị được miễn tiền thuê phòng trong một năm. Cũng tại lễ ra mắt, trung tâm còn trao 10 phần quà cho các công nhân khó khăn, trao “Tủ sách tri thức thanh niên công nhân” cho khu lưu trú.

Anh Dương Ngọc Tuấn, giám đốc trung tâm, cho biết đến nay toàn thành phố có tổng cộng 41 khu lưu trú văn hóa dành cho thanh niên công nhân với hơn 6.500 công nhân đang lưu trú. Năm nay trung tâm dự kiến trao 10 “căn phòng mơ ước” cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn, hiện đã trao được bốn căn.

QUANG PHƯƠNG

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

Vụ 5 triệu Yên Nhật trong thùng loa cũ:

Công an Q.Tân Bình sẽ trả tiền cho bà Hồng

Chiều 19-5, trao đổi với Tuổi Trẻ, một cán bộ điều tra Công an Q.Tân Bình xác nhận cơ quan này đã bác đơn khiếu nại của bà Ngọt, và sẽ thành lập hội đồng tư vấn để bàn giao 5 triệu yen cho chị Hồng trong thời gian sớm nhất. “Lúc 14g, Công an Q.Tân Bình đã mời tôi đến thông báo có nhận được đơn khiếu của tôi (nộp ngày 13-5, về việc chưa được giải quyếCong an tra tien cho ba Hongt nhận lại 5 triệu yen Nhật – PV), đồng thời thông báo bằng miệng tạm ngưng giải quyết đơn khiếu nại này của tôi để giải quyết vụ việc, bà Huỳnh Thị Ánh Hồng người mua bán ve chai đã phát hiện ra 5 triệu yên trong hai thùng loa cũ cho biết. Luật sư Hà Hải (luật sư hỗ trợ pháp lý miễn phí cho bà Hồng) hỏi lý do ngưng giải quyết đơn khiếu nại, cũng như hướng giải quyết tiếp theo thì vị cán bộ này cho biết chiều 18-5, Công an Q.Tân Bình đã mời bà Phạm Thị Ngọt (40 tuổi, ngụ H.Hóc Môn) đến trụ sở thông báo đã hết thời hạn giải quyết và bác đơn khiếu nại của bà Ngọt.

Đồng thời Công an Q.Tân Bình xác định không có tranh chấp trong vụ 5 triệu yen Nhật, toàn bộ 100% tài sản sẽ phải bàn giao cho bà Hồng.

Do luật không có qui định cơ quan nào, thời gian nào, cách thức trao trả, cũng như số tiền trên phải hoán đổi từ ngoại tệ ra tiền đồng Việt Nam… rồi mới bàn giao cho bà Hồng, vì vậy trong thời gian sớm nhất Công an Q.Tân Bình sẽ thành lập một hội đồng tư vấn để tham vấn cách thức trả số tiền trên cho bà Hồng.

Chiều cùng ngày, một Cán bộ điều tra Công an Q.Tân Bình (TP.HCM), xác nhận chiều 18-5, cơ quan này đã mời bà Ngọt đến để thông báo việc bác đơn khiếu nại của bà này và sẽ giải quyết vụ việc trong thời gian sớm nhất.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Ngọt cũng xác nhận đã được Công an Q.Tân Bình mời đến và thông báo hết thời gian giải quyết đơn khiếu nại, đồng thời yêu cầu bà ký vào biên bản làm việc.

Trước đó, ngày 10-5, bà Ngọt đã gửi đơn đến Công an Q.Tân Bình yêu cầu được nhận lại số tài sản trên. Ngày 12-5, Công an Q.Tân Bình đã có văn bản trả lời cho bà Hồng là do có phát sinh tình tiết mới nên cơ quan này cần có thời gian làm rõ để bảo vệ quyền lợi cho các bên liên quan.

Đ.Thanh.

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 15/5/2015:

Khen thưởng các lực lượng bắt giữ vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác

Ngày 14/5, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công An có Thư khen gửi các lực lượng bắt vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác tại Nghệ An. Theo đó, thường bốn đơn vị: Phòng PC46, PA71, Công an tỉnh Nghệ An; Phòng 4, Cục A70; Phòng 3, Cục A71, mỗi đơn vị mười triệu đồng, trích từ Quỹ Phòng, chống tội phạm trung ương.

Trước đó, ngày 9/5, tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu (Nghệ An), Công an tỉnh Nghệ An phối hợp Cục A70, A71 bắt hai đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép sứng tê giác, thu giữ 31 chiếc sừng tê giác (trọng lượng 37kg).

Bộ trưởng Trần Đại Quang yêu cầu, Công an tỉnh Nghệ An khẩn trương khai thác các đối tượng, mở rộng điều tra và sớm đưa vụ án ra xử lý trước pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa chung; đồng thời tăng cường nắm tình hình, phát hiện, điều tra các vụ án khác.

PV.

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Khen thưởng lực lượng phá đường dây vận chuyển 31 sừng tê giác.

Ngày 19-5, UBND tỉnh và Công an tỉnh Nghệ An tổ chức trao thưởng cho Ban chuyên án 415S của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ về thành tích bắt hai đối tượng trong đường dây vận chuyển 31 sừng tê giác (Báo Nhân Dân đã đưa tin); công bố Thư khen của Bộ trưởng Công an; Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An gửi Ban chuyên án vì thành tích xuất sắc trên.

Trước đó, vào 23 giờ 40 phút ngày 8-5, tại ga Si thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, lực lượng Ban chuyên án 415S đã bắt quả tang hai đối tượng là Ðoàn Duy Ðịnh, SN 1983 trú tại xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa và Lê Thành Trung, SN 1983, trú tại xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội, đang có hành vi vận chuyển trái phép 31 chiếc sừng tê giác, tổng trọng lượng 37 kg. Ðịnh và Trung là mắt xích trong đường dây vận chuyển trái phép sừng động vật hoang dã từ nước ngoài vào Việt Nam. Chuyên án đang tiếp tục được điều tra mở rộng.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Bắt tạm giam hai người trong vụ sập giàn giáo tại công trường Formosa

 Liên quan vụ sập giàn giáo tại công trường Formosa thuộc Khu Kinh tế Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh) xảy ra ngày 25-3, ngày 19-5, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Kim Chông Úc (43 tuổi) và ông Li Gia My-ông (62 tuổi), đều quốc tịch Hàn Quốc vì “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Theo kết quả điều tra ban đầu, ông Kim Chông Úc là chỉ huy trưởng công trường sản xuất, lắp đặt thùng chìm trọng lực phục vụ cảng Sơn Dương thuộc Khu liên hợp gang thép Formosa. Trước khi giàn giáo bị sập, ông Kim đã lên giàn giáo Lane 2 kiểm tra nhưng không chỉ đạo ngừng thi công khi phát hiện có sự cố nguy hiểm mà vẫn để công nhân tiếp tục làm việc. Còn ông Li Gia My-ông là Giám đốc đơn vị quản lý công nhân làm việc tại giàn giáo Lane 1 và 2 khi giàn giáo Lane 2 xuất hiện sự cố rung lắc mạnh khiến công nhân bỏ chạy, cảnh báo về độ nguy hiểm, ông Li có lên kiểm tra nhưng không chỉ đạo ngừng thi công mà vẫn yêu cầu công nhân tiếp tục làm việc, dẫn đến tai nạn nghiêm trọng.

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

Phụ nữ bán dâm cần được bảo vệ khỏi nạn bạo hành

Tỷ lệ ly dị, ly thân, góa chồng trong nhóm phụ nữ bán dâm rất cao khiến phần lớn họ bị đè nặng về mặt kinh tế, chịu áp lực kiếm tiền nuôi con, nuôi bản thân. 

Phụ nữ nhóm này cũng bí bách trong việc tìm công việc khác, thời gian họ phải làm nghề kéo dài lâu hơn, trung bình 8 năm, độ tuổi từ khoảng 16-65 tuổi.

Đó là những thông tin của bà Nguyễn Thị Huệ, trưởng Phòng truyền thông và huy động cộng đồng, Ủy ban Phòng chống  AIDS TP.HCM chia sẻ tại hội thảo “Vấn đề bạo lực giới trong phòng, chống mại dâm, quan điểm và các giải pháp” tổ chức sáng 19-5 tại TP.HCM.

Ông Trần Ngọc Du – chi cục trưởng Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Sở Lao động – Thương binh và xã hội TP.HCM) nêu ra: Hiện nay, Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm chưa quy định biện pháp cụ thể nào về đối xử bình đẳng đối với phụ nữ bán dâm, để họ được bảo vệ như những phụ nữ khác trong những vụ án hiếp dâm và cưỡng bức tình dục khác mà họ rất dễ gặp phải trong khi hành nghề.

Theo ông Du, cuộc sống của người bán dâm vốn đã nhiều khó khăn, rủi ro thì càng cần thiết phải có giải pháp để hỗ trợ họ tăng cường các kỹ năng năng phòng ngừa, tránh khỏi nạn bạo hành.

Kết quả khảo sát của Viện Khoa học lao động xã hội về bạo lực giới trong nhóm người bán dâm dựa trên phỏng vấn 150 người bán dâm cho thấy, có trên 49% cho biết từng bị bạo hành hoặc biết phụ nữ bán dâm khác bị bạo hành, trong đó 44% bị bạo hành khi đang hành nghề.

Hầu hết phụ nữ bán dâm không trình báo với chính quyền địa phương (chiếm 46%  số người được khảo sát) do họ ngại, lo sợ việc làm vi phạm pháp luật và bản thân họ cũng chưa hiểu biết quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình.

Vũ Thủy

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 18/5/2015:

Giày dép Việt vào Mỹ tăng mạnh

Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc Công ty giày Gia Định, cho biết đơn hàng xuất khẩu giày dép sang thị trường Mỹ của công ty tiếp tục tăng mạnh do nhu cầu đặt hàng từ đối tác tăng cao kể từ đầu năm đến nay.

Hiện Gia Định đã có đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ đến hết quý 3-2015 “và không có đủ lực để làm nếu tốc độ đặt hàng tiếp tục tăng cao như hiện nay” – ông Trung thông tin.

Với sản lượng 3,2 triệu đôi giày sản xuất trong năm 2015, tương ứng khoảng 40 triệu USD, ông Trung cho biết thị trường Mỹ ước chiếm 55% trong tổng cơ cấu xuất khẩu của Gia Định, tăng gần 40% so với mức thực hiện của năm 2014.

Hiệp hội Da – giày – túi xách VN cũng xác nhận giày dép xuất vào Mỹ tăng trưởng rất mạnh, trong đó xu hướng chuyển dịch đơn hàng từ Trung Quốc sang VN.

Tính đến cuối tháng 4-2015, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép đã đạt 3,53 tỉ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, kim ngạch và tốc độ tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ đã vượt EU – vốn là thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày trong nhiều năm qua – đạt mức 1,23 tỉ USD, tăng 28,8%.

T.V.N.

  • Tin trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 15/5/2015:

Tranh cãi quyết liệt khi đụng đến sông Hương

Nhờ các chuyên gia, người dân phản biện và lãnh đạo địa phương biết lắng nghe mà hai bờ sông Hương qua bao đời nay mặc nhiên là đất công cộng, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của thành phố.

Sông Hương là trục cảnh quan chính để hình thành nên đô thị Huế. Dưới thời nhà Nguyễn, sông Hương đã được giữ gìn như là yếu tố minh đường của kinh thành Huế.

Khi người Pháp xây dựng các công trình ở bờ nam sông Hương vẫn dành hẳn dải đất ven bờ sông cho cây xanh, thảm cỏ.

Từ đó đến sau này, dải đất được xem là “đất vàng” ở hai bờ sông Hương mặc nhiên là đất công cộng, dành cho việc làm đẹp thành phố.

Vì vậy mỗi khi xuất hiện một ý tưởng xây dựng công trình ở “đất vàng” này, hoặc xây dựng gần đó nhưng làm ảnh hưởng đến “không gian vàng” này là lập tức bị cộng đồng phản đối. Những cuộc tranh cãi quyết liệt ở Huế trong ba thập niên qua, thời kỳ phát triển mạnh nhất của đô thị Huế, đều là do “đụng chạm” đến sông Hương.

Cuối thập niên 1970, công trình nhà thủy tạ ở bờ sông Hương ngay trước kinh thành Huế đang xây phần móng đã phải bỏ cuộc trước phản ứng dữ dội của dư luận.

Đầu thập niên 1980, khi tuyến kè từ cầu Phú Xuân đến chợ Đông Ba xây quá cao, nhiều người đã lên tiếng phản đối và chính quyền phải huy động lực lượng đắp đất, trồng cỏ phủ kín tình hình mới lắng dịu.

Giữa thập niên 1990, dư luận tiếp tục phản đối việc xây nhà nghỉ chuyên gia của một công ty ximăng ở bờ sông (vị trí chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay) buộc công trình này phải ngừng lại.

Đầu thập niên 2000, bờ kè ven sông ở bến đò Tòa Khâm đang xây đã bị phản ứng buộc phải hạ thấp xuống thành tuyến đi bộ gần sát mặt sông.

Đặc biệt, giữa thập niên 2000, dự án khách sạn trên đồi Vọng Cảnh ven sông Hương đã gặp sự phản đối kịch liệt, buộc phải dừng lại. Khách sạn cao tầng Tân Hoàng Cung xây cách bờ sông khoảng 300m cũng bị phản đối vì ảnh hưởng không gian sông Hương. Khu du lịch trên cồn Dã Viên mới xuất hiện trên mặt giấy phải dừng lại…

Tranh cai song Huong

Ý thức tầm quan trọng của sông Hương, tỉnh Thừa Thiên – Huế và TP Huế đã mời một đơn vị tư vấn Hàn Quốc nghiên cứu lập đề án quy hoạch chi tiết hai bờ sông Hương.

Tại cuộc hội thảo hôm 24-4 vừa qua, đơn vị tư vấn này đưa ra phương án hình thành không gian du lịch liên tục ven bờ sông Hương có bố trí một số trung tâm du lịch, phim trường, điểm nhấn khai thác dịch vụ, nghỉ dưỡng… Và ý tưởng này đã gặp ngay phản ứng của các chuyên gia quy hoạch, kiến trúc của VN.

Họ cho rằng các công trình này dù chỉ là điểm xuyết nhưng cũng ảnh hưởng đến cảnh quan đặc thù của con sông thơ mộng này. Chuyên gia quy hoạch đô thị Nguyễn Đỗ Dũng đề xuất: “Nếu năng lực chưa đủ thì nên giữ nguyên trạng hai bờ sông Hương như hiện nay, đó cũng là một chiến lược quy hoạch”.

Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch UBND TP Huế, đề nghị các nhà tư vấn Hàn Quốc không nên vội đưa ra phương án quy hoạch mà nên lắng nghe nhiều luồng ý kiến để tiếp tục nghiên cứu cách khai thác hợp lý nhất giá trị của dòng sông di sản này.

Trong khi đó, những dự án giải tỏa dân cư làm thông thoáng bờ sông Hương đã nhận ngay sự đồng tình. Đó là xóm nhà lộn xộn Bến Me trước kinh thành, khu nhà ven bờ sông đường Kim Long, khu ổ chuột gần cầu Gia Hội và phía nam cầu Dã Viên.

Thay vào đó là những dải công viên xanh mướt. “Quan điểm phải xây công trình lớn mới làm đẹp bờ sông là hoàn toàn không phù hợp với sông Hương. Chính việc phá dỡ, đập bỏ công trình không phù hợp, cộng với chăm chút hai bờ sông đã làm cho sông Hương đẹp thêm. Chính điều này đã tăng thêm điều kiện để Huế phát triển kinh tế” – nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên giám đốc Sở Văn hóa thông tin Thừa Thiên – Huế, nói.

Thái Lộc

  • Tin trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 19/5/2015

Đưa trái vải vào thị trường phía nam

Năm nay, vải thiều được mùa nên các địa phương có vùng chuyên canh dự tính sẽ có sản lượng lớn đã gấp rút lên kế hoạch tìm “đầu ra” từ khá sớm. Phương án đang được ưu tiên thực hiện là tìm cách mở rộng đường cho loại trái cây đặc sản này vào miền nam.

Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Võ Văn Quyền cho biết, vải là đặc sản nông nghiệp Trai vai vao mien namcủa hai tỉnh là Bắc Giang và Hải Dương, sản lượng vải năm nay ước đạt khoảng 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Ô-xtrây-li-a… khoảng 80.000 tấn, số còn lại tiêu thụ trong nước.

Tìm thêm “đầu ra” cho mùa vải sắp thu hoạch rộ, ngày 15-5, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Công thương TP Hồ Chí Minh cùng Sở Công thương tỉnh Hải Dương tổ chức hội nghị kết nối thương mại để tiêu thụ vải thiều. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Anh Cương, cho biết, Hải Dương hiện có khoảng 21 nghìn ha đất trồng cây ăn quả, sản lượng quả đạt khoảng 200.000 tấn/năm; trong đó diện tích trồng vải chiếm 11.000 ha, sản lượng đạt khoảng 50.000 tấn, giá trị kinh tế của cây vải đạt khoảng 430 tỷ đồng/năm. Vải thiều không giống như loại trái cây khác vì chín đồng loạt, vận chuyển khó và dễ hư hao trong điều kiện không được bảo quản tốt cho nên rất cần sự hợp tác của các địa phương, ngành hàng và doanh nghiệp (DN) trong khâu tiêu thụ.

Giám đốc Sở Công thương tỉnh Hải Dương Vũ Doãn Quang thông tin, mùa vải sớm (vải tu hú) ở Hải Dương đã được thu hoạch với khoảng 10.000 tấn, riêng vải thiều, dự ước sản lượng khoảng 40.000 tấn sẽ thu hoạch vào khoảng từ ngày 5-6 đến 5-7-2015. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn Phú cho biết thêm, đặc sản vải thiều Thanh Hà là niềm tự hào của xứ Đông xưa nay. Tại Hải Dương, hiện đã có 25 mô hình sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP với 229 ha, sản lượng đạt khoảng 1.500 tấn. Trong năm 2015, có 19 ha của 97 hộ dân trồng vải đã được cấp mã số vùng trồng đủ tiêu chuẩn đi Mỹ và giá trị của trái vải ở xứ này không ngừng tăng lên. Vải thiều Hải Dương đã có mặt tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, nhưng số lượng xuất đi còn rất khiêm tốn, chủ yếu bán ở thị trường trong nước.

Nhiều năm qua, TP Hồ Chí Minh là nơi tiêu thụ nhiều mặt hàng nông sản với số lượng lớn cho các tỉnh, trong đó có vải thiều. Phó Giám đốc Sở Công thương TP Hồ Chí Minh Nguyễn Phương Đông khẳng định, với tiềm lực và kinh nghiệm của mình, thành phố sẽ lập phương án để các nhà phân phối, thương nhân, chợ đầu mối kết nối với các DN, nhà vườn ở Hải Dương để tiêu thụ vải với số nhiều và hiệu quả.

Theo Phó Giám đốc Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ đầu mối Thủ Đức Trịnh Diệp Thanh Thảo, trong tổng số 60.000 tấn vải từ phía bắc chuyển vào nam của niên vụ 2014, chợ Thủ Đức đã tiêu thụ 37.000 tấn. Để tiêu thụ một lượng trái vải lớn trong thời gian rất ngắn, chợ đầu mối Thủ Đức đã dành riêng một khu để trái vải tập kết về và phân phối đi nơi khác và năm nay sẽ ưu tiên nhiều hơn để thương nhân kinh doanh. Ban quản lý chợ sẽ cung cấp cho ngành công thương tỉnh Hải Dương và Bắc Giang danh sách tiểu thương thu mua vải thiều, lưu lượng hàng hóa tại chợ đầu mối, diễn biến thị trường để DN đầu mối cung cấp hàng tại hai địa phương chủ động nguồn hàng đưa vào thuận tiện, tránh dồn ứ.

Năm 2014, chợ đầu mối Hóc Môn tiêu thụ 5.800 tấn vải thiều do sáu tiểu thương kinh doanh. Năm nay, chợ Hóc Môn tăng lên 11 điểm bán, thời gian bán vải thiều dài hơn, từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau. Nhằm giúp tiểu thương kinh doanh vải thiều đạt hiệu quả, ông Lê Hoàng Phong, đại diện tiểu thương ở chợ Hóc Môn đề nghị các DN ở Hải Dương cần có kế hoạch thu mua, giao nhận, giá cả bằng hợp đồng sớm. Ông Phong cũng lưu ý nhà cung cấp dùng bao bì đựng vải thiều phải đồng nhất, trọng lượng vừa phải nhằm dễ vận chuyển. Năm trước đã có tình trạng đựng vải thiều Thanh Hà vào sọt, bao xốp của nhãn hàng hóa khác làm giảm giá trị và người tiêu dùng nghi ngờ về nguồn gốc.

Đại diện Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn đề nghị các DN từ Hải Dương khi đưa vải thiều vào nam cần ký kết hợp đồng rõ ràng, hàng hóa phải bảo đảm chất lượng, giá cả ổn định, giao hàng đúng hẹn để nhà phân phối còn tổ chức đưa vào các điểm bán lẻ. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Anh Cương cam kết chính quyền và các DN Hải Dương sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đầu mối ở TP Hồ Chí Minh tiếp cận, đặt hàng, thanh toán và tiêu thụ vải thiều.

Cùng với Hải Dương, Bắc Giang là địa phương có diện tích, sản lượng vải thiều lớn cũng đang xúc tiến kế hoạch tìm đầu ra cho mặt hàng nông sản này. Ngày 14-5, UBND tỉnh Bắc Giang đã tổ chức hội nghị xúc tiến xuất khẩu, kết nối cung cầu tiêu thụ vải thiều năm 2015 ngay tại cửa khẩu đường bộ số 2, Kim Thành, TP Lào Cai (Lào Cai) nhằm tìm phương án tổ chức tốt hoạt động bến bãi, thủ tục thông quan, ký kết hợp đồng với thương nhân phía Trung Quốc (thị trường thu mua vải thiều của Việt Nam đến 90% lượng hàng xuất khẩu) cho mùa thu hoạch vải đã cận kề. Tỉnh Bắc Giang cũng đã lên kế hoạch, yêu cầu các sở, ngành, DN trong tỉnh chuẩn bị phương án đưa vải thiều vào thị trường phía nam để tham gia hội nghị xúc tiến thương mại tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 2-6 tới.

Đại diện Sở Công thương tỉnh Bắc Giang cho biết, năm nay sản lượng vải thiều của Bắc Giang ước đạt khoảng 160.000 tấn, trong đó xuất khẩu 64.000 tấn (chiếm khoảng 40% tổng sản lượng). Riêng huyện Lục Ngạn hiện có 17.500 ha vải thiều, trong đó 9.500 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 60,38 ha trồng theo tiêu chuẩn GlobalGAP để xuất sang Mỹ. Tuy nhiên, số vải thiều tiêu thụ trong nước vẫn còn rất lớn, vì thế ngành công thương Bắc Giang đang gấp rút để kết nối với TP Hồ Chí Minh nhằm giảm thiểu tình trạng ế hàng, dội chợ.

Các DN phân phối, chợ đầu mối , thương nhân ở TP Hồ Chí Minh hiện vẫn băn khoăn về giá vải thiều ở miền bắc không cao lắm, nhưng khi vào đến thị trường thành phố thì cao ngất ngưởng, phải có cách làm để giá vải thiều giảm bớt đi độ chênh lệch để dễ kinh doanh. Theo một cán bộ ở Hải Dương cho biết, vải (loại tu hú) tại Hải Dương hiện có giá tại vườn trên dưới 35.000 đồng/kg, nhưng khi đến chợ ngay tại Hải Dương giá bán đã chênh lệch 10.000 đến 15.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại các chợ truyền thống ở TP Hồ Chí Minh, giá bán loại vải này đã từ 60.000 đến 80.000 đồng/kg, cao gấp vài lần…

Thái Mỹ

  • Tin trang Hà Nội  báo Nhân Dân ngày 15/5/2015:

Lễ hội Lễ Mật nhận bằng di sản phi vật thể

UBND quận Long Biên vừa tổ chức lễ đón bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội truyền thống làng Lệ Mật. Lễ hội truyền thống làng Lệ Mật là không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của nhân dân quận Long Biên. Lễ hội tưởng nhớ chàng trai làng Lệ Mật có công cứu công
chúa, sau đó đưa nhân dân Lệ Mật khai khẩn khu đất phía tây thành Thăng Long, lập lên 13 trại ấp mà sách sử gọi là khu “Thập Tam trại”, nay là các phường thuộc quận Ba Đình. Lễ hội vẫn duy trì được nhiều nét văn hóa đặc sắc như: lễ đả ngư, múa giảo long…

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Tuần văn hóa Du lịch lễ hội chợ tình Khâu Vai

Từ ngày 13 đến 16/5 tại huyện Mèo Vạc (Hà Giang) diễn ra Tuần Văn hóa du lịch Lễ hội Chợ tình Khau Vai. Đây là phiên chợ đặc biệt “có một không hai” ở Việt Nam. Phiên chợ chủ yếu dành cho những đôi trai gái có mối tình trắc trở, yêu nhưng vì một lý do nào đó mà không lấy được nhau… Hằng nam, cứ đến ngày 27/3 âm lịch, họ lại vượt núi, bang rừng về hò hẹn, gặp lại người yêu cũ, cùng nhau uống rượu và tâm sự, ôn lại chuyện tình xưa. Trong khuôn khổ Tuần Văn hóa, ban tổ chức sẽ phục dựng và mở phiên chợ “phong lưu” tại xã Sơn Vĩ, huyện Mèo Vạc vào sáng 16/5.

PV

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Dùng kỹ thuật cấy hạt phóng xạ điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Bệnh viện Bạch Mai vừa công bố điều trị thành công cho hai người bệnh mắc ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) bằng phương pháp cấy hạt phóng xạ.

Cấy hạt phóng xạ là phương pháp đưa các hạt phóng xạ I-125 kích thước nhỏ 4,5×0,8 mm, phát tia gam-ma năng lượng thấp vào trong tổ chức khối u, có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư tại chỗ mà không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít tới mô lành chung quanh. Thay vì phải điều trị từ sáu đến tám tuần như các phương pháp khác, thì những người bệnh UTTTL chỉ cần điều trị một lần. Ðây là một kỹ thuật hiện đại trong điều trị ung thư, nhưng để triển khai được kỹ thuật phức tạp này, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa sâu như: ung bướu, y học hạt nhân, chẩn đoán hình ảnh, thận – tiết niệu, ngoại tiết niệu, gây mê hồi sức…

PV

Khởi động Chương trình đào tạo liên tục cho cán bộ y tế

Tại hội thảo Vai trò của Hội Y học trong đào tạo liên tục cho cán bộ y tế vừa diễn ra, Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam (THYH VN) GS, TSKH Phạm Mạnh Hùng cho biết: Ở Việt Nam, hiện có hơn 400 nghìn cán bộ y tế cần được đào tạo hằng năm, trong đó có khoảng 300 nghìn cán bộ làm việc trong lĩnh vực khám, chữa bệnh (KCB) tại các cơ sở y tế. Ðược sự hỗ trợ của Bộ Y tế, THYH VN khởi động Chương trình đào tạo liên tục cho cán bộ y tế giai đoạn 2015- 2020. Thông qua lực lượng đông đảo các GS, TS, các nhà khoa học của 47 Hội chuyên khoa và 55 Hội địa phương sẽ tổ chức các lớp đào tạo liên tục, nhằm cập nhật những kiến thức, kỹ thuật tiên tiến của thế giới trong tất cả các chuyên khoa y học, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng KCB tại các cơ sở y tế trong cả nước…

PV

Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trong hai ngày 15 và 16-5, tại thị trấn Khe Tre, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế phối hợp Ban Dân tộc tỉnh và huyện Nam Ðông tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ 11 năm 2015.

Ðịnh kỳ hai năm tổ chức một lần, Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên-Huế năm nay quy tụ hơn 200 diễn viên quần chúng và gần 300 vận động viên là đồng bào các dân tộc Cơ Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy,… đến từ các huyện Nam Ðông, A Lưới, Phú Lộc, Phong Ðiền và thị xã Hương Trà tham gia với hơn 50 tiết mục văn nghệ quần chúng đặc sắc, thuộc các thể loại dân ca, dân nhạc, dân vũ; thi đấu các môn thể thao dân tộc, như bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co và các trò chơi dân gian…

PV

  • Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2015:

Triển lãm tranh Việt Nam – Indonesia

Vào 18g hôm nay 19-5, triển lãm mỹ thuật Sài Gòn – Yogyakarta của 12 họa sĩ Việt Nam – Indonesia khai mạc tại Hội Mỹ thuật TP.HCM. 

Những họa sĩ tham gia gồm Mai Anh Dũng, Lương Lưu Biên, Nguyễn Ngọc Ðan, Lê Hào, Siu Quý, Alan Nguyễn (Việt Nam); Sulistyo Chung, Dadi Soesanto, Budi Ubrux, Emmy Go, Agus Suwage, Titarubi (Indonesia) đều chung thế hệ 7X, 8X. Họ cùng nhau phối hợp tổ chức triển lãm này xuất phát từ nhu cầu giao lưu, tương tác.

Trong khu vực Ðông Nam Á, Indonesia là quốc gia có thị trường mỹ thuật, hoạt động mỹ thuật đương đại… lâu đời, đa dạng, sôi động vào hàng bậc nhất.

Yogyakarta cũng là thành phố có đông đảo họa sĩ đương đại Indonesia được đào tạo, sáng tác với nhiều phong cách đa dạng khác nhau, tiêu biểu cho bộ mặt mỹ thuật Indonesia.

Họa sĩ Lương Lưu Biên cho hay: “Với triển lãm này, chúng tôi – những họa sĩ cùng thế hệ giữa Việt Nam và Indonesia – mong muốn trình bày với công chúng nhiều cách thức và quan niệm sáng tác phong phú, tương đối đầy đủ về sự tương đồng hay khác biệt giữa văn hóa và mỹ thuật của hai quốc gia”. (Q.THI)

Học làm phim miễn phí với Toto 2015

Lớp học Toto (Toto film making class) – lớp học làm phim miễn phí vào mùa hè dành cho các bạn nhỏ và các bạn trẻ – đã có mặt ở Việt Nam được bốn năm. 

Năm nay, trở lại với thông điệp Chinh phục ước mơ – trở thành nhà làm phim tương lai, Toto 2015 sẽ hướng dẫn các bạn học viên 15 – 18 tuổi thực hành tất cả kỹ thuật làm phim như: viết kịch bản, quay phim, diễn xuất, dựng phim, sản xuất phim, để rồi tự tay thực hiện dự án phim đầu tiên của mình với sự tham gia của các đạo diễn, diễn viên nổi tiếng cùng với sự đồng hành của những giảng viên như nhà sản xuất phim Vũ Quỳnh Hà; các đạo diễn Nguyễn Hữu Tuấn,Trần Dũng Thanh Huy, Nguyễn Trọng Khoa, Hoàng Trần Minh Đức…

Các bạn trẻ muốn tham gia Toto 2015 có thể xem trangwww.totofilmmakingclass.vn để biết thêm thông tin chi tiết.

Các phim làm được sau khóa học sẽ ra mắt khán giả ngày 20-6, sẽ có ba phim xuất sắc nhất được chọn để trao các giải thưởng với trị giá lần lượt là 10 triệu, 7 triệu và 5 triệu đồng.

Cát Khuê

Tháng Năm 15, 2015

Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

 PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HỌC LÀM CHÍNH TRỊ

 Chi Điền Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc bạn đọc còn nhớ nhà nghiên cứu Chi Điền Hoàng Duy Từ, tác giả bài Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường: Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ đăng trên Blog PhamTon tuần thứ 5 tháng 8 năm 2009. Hôm nay, chúng tôi lại xin giới thiệu với các bạn một bài viết đặc sắc của ông nhan đề Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị. Chúng tôi chỉ lược bỏ hai đoạn thấy không cần thiết.

*

*   *

Nhân đọc tập di cảo Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng thấy ở hai bài Văn học, chính trị; Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường có những ý kiến, cảm nghĩ đáng để cho ta suy tư về vấn đề Nhà văn học làm chính trị, một vấn đề đã làm cho nhiều nhà trí thức chân chính băn khoăn không ít.

Trong thập niên đầu thế kỷ (XX – PT chú), một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lãnh vực văn học. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, sáng lập viên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Ngòi bút của ông đã gây một tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh đô Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo luận dịch thuật của ông mọi người đều biết. Văn học sử đã dành cho ông một cương vị rất quan trọng, nếu không nói là hàng đầu của thượng bán thế kỷ XX.

Những phê bình gia như Vũ Ngọc Phan (1942), Phạm Thế Ngũ (1965), Lê Văn Siêu (1974)… cũng như dư luận ở trong hay ngoài nước đều công nhận học giả Phạm Quỳnh là người công đầu và rất lớn trong việc xây dựng một nền văn học quốc gia tiến bộ trên căn bản tinh hoa của dân tộc.

Như mọi người đều biết Phạm Thượng Chi luôn luôn có một niềm tin sâu xa rằng “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần, và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị”.

Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự trị chính trị cần thiết cho sự xây dựng một nền văn hóa quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước Bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

Chính cái quyết định này đã đem đến cho nhà văn học họ Phạm nhiều suy tư, dằn vặt giữa hai tư cách “Nhà văn học” với “Chính trị gia”.

Để có thêm ý kiến vững chắc, Phạm tiên sinh đã nghiên cứu tư tưởng của một danh nhân thế giới trong thời cận đại. Đó là cố Tổng thống (1913-1920) Thomas Wilson (1856-1924) nước Mỹ. Tổng thống Thomas Wilson sáng lập viên Hộ Quốc Liên (ONU), đoạt giả Nobel về Hòa Bình, giáo sư Đại học về khoa học Chính trị, có một địa vị quan trọng hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918). Ông Wilson đã từng tán dương nhà chính trị kiêm văn học là một hạng người cao quí, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước.

Sau đây là nguyên văn của Phạm Thượng Chi đã viết trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng:


“Nhưng đại khái ông Wilson cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn Tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm ngay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…”

Trích đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ cái suy tư cảm nghĩ của Phạm Thượng Chi và đã xác định lập trường: “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”.

*

*    *

Một vấn đề thứ hai cũng làm cho nhà học giả tài hoa và uyên bác họ Phạm suy tư và băn khoăn không kém.

Đó là vấn đề “Xuất thế” hay là “Nhập thế”. Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn là “chỉ làm chính trị bằng ngòi bút” hay là “thật sự tham chính”.

Chúng ta thử nghiên cứu bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút, Kiến văn, Cảm tưởng nói trên.

Lão Hoa Đường là bút hiệu của Cụ Lập Trai Phạm Quí Thích (1760-1825) và Thiếu Hoa Đường là một trong những bút hiệu của ông Phạm Quỳnh (1892-1945).

Hai người ở cùng làng Lương Ngọc, nhưng dưới triều Lê tên làng là Hoa Đường.

Do đó hai nhà văn nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 đều lấy tên làng làm bút hiệu.

Ông Phạm Quí Thích đõ tiến sĩ năm 1779, làm quan lớn dưới triều Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn. Năm đầu đời Gia Long bị gọi ra làm quan, giữ chức Thị Trung Học sĩ, tước Thích An Hầu, ông từ chối mà không được. Năm 1811 làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Sau ông cáo bệnh xin về, Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) lại có chỉ triệu ra làm việc. Lần này ông đang có bệnh, viện cớ ấy từ chối. Chủ yếu cuộc đời ông không phải là làm quan mà dạy học. Ông là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò. Ông đã làm bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều đặt lên đầu đề truyện Kiều và cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du.

Văn nghiệp của ông gồm nhiều tác phẩm, chủ yếu có Thảo Đường- Thi nguyên tập, Lập Trai văn tập, Thiên Nam long thủ liệt truyện, Chu Dịch vấn đáp toát yếu, Phó Kinh Bắc…


Viết về Phạm Quí Thích, ông Phạm Quỳnh có những dòng sau đây:

“Tôi mộ cái tài hoa danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tôn cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm trí mình quá.”

THƯ HOÀI

Cố quốc sơn hà dĩ đại thù

Cố viên tùng cúc bán hoang vu

Mang mang thiên địa hoàn bô khách

Nhiễu nhiễu phong trần tụ hủ nho

Bệnh cốt bình phân thu lãnh sấu

Thần tâm nhưng bạn nguyệt luân cô

Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú

Vị vấn Tam Lư khẳng túy phần

Chi Điền tạm dịch:

Sông núi nước xưa đà khác hẳn

Cúc tùng vườn cũ nửa hoang tàn

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho

Cốt bệnh ví cùng thu núi lạnh

Lòng ta chỉ bạn mảnh trăng suông

Có người khuyên tớ vui chung rượu

Thử hỏi Tam Lư có chịu chăng?

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho.

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn sơ là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối ren, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ “tài” vậy.

Song chữ “tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.”

Mấy đoạn văn trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy các vấn đề “Xuất thế”, “Nhập thế”, “Xuất sử” không phải là đơn giản.

Xuất thế, tự đặt mình ra ngoài thế cuộc, đi tu, ẩn dật, hay sống bên lề xã hội, tuyệt đối không tham dự việc đời.

Nhập thế, trái lại, hăng say xông pha gánh vác việc đời.

Xuất sử: Ra làm quan hay là ở nhà.

Ba vấn đề tối quan trọng đối với lớp sĩ phu ngày trước.

Xã hội ta hay Trung Hoa ngày trước chỉ có hai giới chính yếu là giới làm quan và giới ở nhà, nói cách khác, giới ở trong chính quyền và giới ở ngoài dân gian. Vì thế mà sự quyết định chọn một con dường đi cho đời mình: xuất thế hay nhập thế đã làm cho giới sĩ phu băn khoăn, suy nghĩ trọn đời. Lắm lúc dấn thân rồi mà còn vẫn băn khoăn. Mấy đoạn văn trên đây của Phạm Thượng Chi rất tiêu biểu cho tâm lý chung của giới sĩ phu sinh trong thời loạn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp đặc biệt như ông Nguyễn Công Trứ.

Uy Viễn Tướng Công thì lập trường rất dứt khoát. Không chút do dự, ông nói rõ ràng trong bài “Chí Nam Nhi”:

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh mà đối với núi sông

……………..

Trót sinh ra thì phải có cái chi chi

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Hoặc như:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh)

Công danh, dưới mắt Nguyễn Công Trứ, là đường đưa tới sự nghiệp, và sự nghiệp là những tinh hoa tô điểm cho trời đất, đồng thời cũng là những món quà tặng lại cho tương lai. Vì thế tiên sinh viết:

Làm sao cho bách thế lưu phương.

Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Kẻ sĩ)

Đối với dân nước, kẻ sĩ có trách nhiệm “Thượng vi đức, hạ vi dân, sắp hai chữ quân thân mà gánh vác, Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự, xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân than”.

Đến như Đệ nhất thi hào Lý Bạch, thiên hạ cho là trích tiên, là xuất thế, mà lắm lúc vẫn thổ lộ những tư tưởng nhập thế:

Trường phong phá lãng hội hữu thi

Trực quài vân phàm tế thương hải

(Đạp sóng cưỡi mây rồi có lúc

Buồm giăng gió lớn vút trùng dương)  (Hành lộ Nam)

………………………….

Như phùng Vị xuyên hiệp

Do khả đế Vương sư

(Duyên may gặp khách sang sông Vị

Vương đế mưu thần có kém ai!

(Tặng Tiền Trung Quân Thiếu Dương)

…..

Rõ ràng hơn nữa, khi An Lộc Sơn khởi loạn, Lý Bạch đã 55 tuổi, theo Vĩnh Vương Lân (con Đường Minh Hoàng) dẹp giặc An Lộc Sơn. Cái chí lớn trị loạn an dân đã thúc đẩy ông có hành động ái quốc mạnh mẽ. Cho đến khi tạ thế, loạn An Lộc Sơn chưa dẹp, Lý Bạch thường nghĩ đến quốc sự và nói:

Trung dạ tứ ngũ than

Thường vị đại quốc ưu

(Nửa đêm than thở bốn năm lần

Thường lo về việc nước)

Xem thế, tự cổ chí kim kẻ sĩ khó có thể sống ở ngoài lề xã hội. Hơn thế nữa, châm ngôn có câu: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.

Thất phu còn có trách nhiệm thay, huống chi là sĩ phu! Cái lý tưởng sống nhàn nhã, tìm thú thanh tuyền, lánh xa trần thế, để giữ lấy cái tiết tháo thanh cao lỗi thời lắm rồi.

Trong thời cận đại này, người ta phải hăng say tích cực, phải làm mãi cho đến ngày kiệt sức.

Nhà thơ danh tiếng Robert Frost (1874-1963) giáo sư Harvard có hai câu thơ được truyền tụng như châm ngôn:

And miles to go before I sleep

And miles to go before I sleep

………………………

“Còn nhiều hải lý đường trần,

Phải đi đi nưa!, Chưa cần nghỉ ngơi”….

(Tô Giang Tử dịch)

Robert Frost muốn nói: Không bao giờ được coi là làm đầy đủ bổn phận dầu trên đường trần có khi đã đến mức cao nhất, ta vẫn phải tiến thêm nữa mới xứng đáng với thiên phú mà Ơn Trên đã ban cho.

Phạm Thượng chi ngày mới tròn 25 tuổi bước vào đời đã sáng lập một cơ quan ngôn luận lớn kiêm nhiệm luôn hai trọng trách chính yếu là chủ nhiệm và chủ bút. Như vậy, chí “nhập thế” quả là lớn lao và quyết liệt. Cái chí ấy đã đưa đến thành công. Mấy ngàn trang sách rất giá trị rải rác trên hai trăm số tạp chí Nam Phong ấn hành liên tục trên 17 năm từ 1917 đến 1934, tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và 5 quyển Thượng Chi Văn tập (1943, tái bản 1962) đã là một sự nghiệp văn học khá vĩ đại. Xét cho kỹ thì phần rất lớn của khối văn nghiệp này là một khối văn học chính trị nhằm mục đích kiến tạo một nền văn học quốc gia và một nền văn chương quốc ngữ (Việt Văn) cho tổ quốc đang vươn mình lột xác chứ không phải là một văn nghiệp thuần túy văn học hay văn chương.

Hơn nữa, dư luận đều biết Phạm Thượng Chi có một niềm tin sâu xa rằng: “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị” như đã nói ở đoạn đầu.

Rồi, từ một nhà đại ngôn luận với lập trường nói trên trở thành một chính trị gia, rồi tham chính là con đường tất yếu. Ý chí đã lập thì con đường tất yếu nhất định phải đi. Thành công hay không là một vấn đề khác.

Tôi thiển nghĩ sau ngày đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945, trong những ngày hưu hạ Phạm Thượng Chi viết tùy bút Văn học, Chính trị có thể là để giải tỏa nỗi lòng. Viết ra cho vơi bớt băn khoăn, dằn vặt, những ưu tư của lòng mình, đồng thời cũng muốn cho dư luận hiểu được phần nào cái thiện chí, cái hoài bão của mình: Đem tài năng thiên phú về văn chương phụng sự quốc gia dân tộc, dùng văn học làm phương tiện tranh đấu ôn hòa trên bình diện chính trị.

Do đó, Phạm tiên sinh đã mượn chủ trương, lập luận của Tổng thống Mỹ Thomas W.Wilson để bàn về nhà văn học làm chính trị, với chủ trương là nhà chính trị mà có văn học là có tư cách hoàn toàn. Tuy nhiên, liền ngay đó, trong đoạn phản thuyết bằng một khác biệt tinh vi là “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”. Với hai chữ “thuần túy”, Thượng Chi muốn nói “Nhà văn học mà bản sắc văn học rồi ngẫu nhiên làm chính trị thì không nên.”

Phạm Thượng Chi có ở trong trường hợp “ngẫu nhiên” làm chính trị không? Tôi thiển nghĩ là không. Đúng vậy, Ông đã làm chính trị từ ngày sáng lập Nam Phong tạp chí 1917 như trên đã nói.

Đọc tiểu sử và văn thơ của ông Tiến sĩ đồng hương Phạm Quí Thích (1760-1825) “Thiếu Hoa Đường “cảm phục” Lão Hoa Đường” về văn tài cũng như về khí tiết. Khen tiền bối đã xuất sử khôn ngoan, quyết chí từ quan về ẩn dật giữ lấy tiết tháo cao thanh.

Nhưng cũng vẫn nhận thấy sự nhập thế của Cụ Tiên Điền Nguyễn Du không phải là vô ích. Mặc dầu cuộc đời có phong ba hơn nhưng những năm lăn lóc trong hoạn trường há chẳng phải vì “đã đau đớn lòng” vì “những điều trông thấy” mới cấu tạo và sáng tác được một áng văn chương tuyệt diệu: Truyện Kiều để lưu truyền hậu thế.

Thượng Chi còn tiếp: “Như thế thì xuất sử cũng năm bẩy đường, vì có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ Tài vậy. Trong phút ấy, có lẽ Thượng Chi đã càm được đại nạn sẽ đến với mình, nên đã viết thêm một câu rất húy kỵ! “Song chữ Tài vẫn hay liền với chữ Tai một vần, chính Tiên Điền đã dậy thế!”.

Đáng tiêc thay! Và thật đáng thương thay!

(…) Giá không có cái tai nạn thảm khốc đó thì những kiến văn cảm nghĩ đã tích trữ trong 13 năm sẽ được khối óc thông minh kia sáng tạo biết bao nhiêu kiệt tác. Cố nhiên không phải là một đoạn trường tân thanh tuyệt diệu như Nguyễn Du mà là một pho sách văn học, chính trị, kinh tế, xã hội… rất quí giá cho nền văn học nước nhà trong thời kỳ canh tân kiến thiết…

C.Đ.H.D.T

Tình bạn Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

TÌNH BẠN PHẠM QUỲNH – NGUYỄN VĂN VĨNH

 Dã Thảo

Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quê quán làng Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Bố mẹ nghèo, phải bỏ làng ra Hà Nội kiếm sống và sinh ông ở 46 phố Hàng Giấy, ngày 15/6/1882. Nguyễn Văn Vĩnh hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi.

Lên tám, phải đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở Trường Thông ngôn của Pháp vừa mở ở đình Yên Phụ. Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông vẫn chăm chú nghe giảng, do đó nói và viết được tiếng Pháp. Hiệu trưởng Đác-giăng-xơ (D’Argence) chú ý và sau ba năm học, cho phép cùng thi tốt nghiệp. Ông đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi, nên được đặc cách nhận vào làm học sinh chính thức, được học bổng để theo học khóa tiếp theo (1893-1895) và đã đỗ thủ khoa khóa học này. 14 tuổi, làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai, rồi chuyển về tòa sứ Hải Phòng, Bắc Giang, ông bắt đầu cộng tác với các báo tiếng Pháp. Công sứ Bắc Giang đánh giá tài mẫn tiệp và nói tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã đặc cách bổ nhiệm làm chánh văn phòng. Khi được cử làm Đốc lý  Hà Nội cũng đưa ông về theo.

Ông giúp vận động người Việt làm đơn xin mở trường và các hội nên đã trở thành người sáng lập Hội Trí Tri, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt du học Pháp. Năm 1906 được sang Pháp giúp tổ chức và quản lý gian hàng Bắc Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa mở ở Marseille. Học hỏi được nhiều về nghề báo và nghề in, nên khi về nước, ông từ chức ở phủ thống sứ và đứng ra làm báo và nghề in… Năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh từ Sài Gòn trở về Hà Nội làm chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, sang năm sau, kiêm cả tờ Trung Bắc tân văn, hai tờ này đều của Snây-đe (Schneider) người Pháp.

Sau Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa Trường Thông ngôn năm 1895, Phạm Quỳnh cũng học tại trường này và cũng đỗ thủ khoa năm 1908, khi trường Thông ngôn kết hợp trường Thành chung Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi). Nguyễn Văn Vĩnh đi làm công chức khi 14 tuổi, thì Phạm Quỳnh đi làm công chức năm 15 tuổi ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Chính trong thời gian làm việc tại đây, được học tập nghiên cứu nhiều, Phạm Quỳnh đã viết bài cho Đông Dương tạp chí và dần dà trở thành cây bút được bạn đọc tin cậy và cũng là cộng tác viên thường xuyên của báo.

Họ thân nhau từ đấy.

Lý do sâu xa hơn của tình thân ấy chính là cả hai đều học chữ Pháp, làm việc dưới quyền người Pháp, nhưng đều yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ và cố dốc hết tâm sức để vun trồng chăm sóc cho quốc ngữ ngày một lớn mạnh, phong phú, đủ để giữ được hồn nước. Ngay từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở như chữ quốc ngữ” (Lời tựa bản dịch Tam Quốc Chí của Phan Kế Bính), cũng tha thiết tin tưởng như sau này Phạm Quỳnh nói “Tiếng ta còn, nước ta còn” trong lễ Kỷ niệm Nguyễn Du đầu tiên ở nước ta năm 1924.

Năm 1922, hai ông cùng đi dự Đấu xảo Thuộc địa Marseille và tranh thủ đi Paris. Nguyễn Văn Vĩnh đã đi Pháp năm 1906, có kinh nghiệm hơn, lại tháo vát, có khiếu về kinh doanh, đã mua xe hơi, đưa Phạm Quỳnh đi tất cả những nơi mà Phạm Quỳnh muốn đến “xem tận mắt, nghe tận tai”. Trong Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ngày 23/7/1922, Phạm Quỳnh viết: “Sẵn có ô tô của ông V., hai anh em định suốt tuần lễ này đi xem cho thật nhiều không những trong châu thành Paris, mà đi cả các nơi phụ cận ở ngoài nữa”. Chính nhờ có ông V. tự lái xe của mình cho Phạm Quỳnh đi cùng mà hậu thế chúng ta được biết thêm bao nhiêu cảnh và người nước Pháp hồi ấy, chứ Phạm Quỳnh thì chỉ có đi bộ và đi các phương tiện giao thông công cộng, làm sao mà tung hoành theo ý mình được.

Chính vì tình bạn vong niên đó mà năm 1926 khi Thống sứ Bắc Kỳ Rơ-nê Rô-banh (René Robin) có “nhã ý” trợ cấp cho Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong thì ông đã nhân cơ hội này xin trợ cấp cho Nguyễn Văn Vĩnh mà trong thư gửi cho Robin ông trình bày là Nguyễn Văn Vĩnh đã làm rất nhiều việc cho xã hội và còn gặp khó khăn lớn hơn ông.

Cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta, mục đích chỉ là nhằm giữ hồn nước, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi trong nhân dân ta. Nhưng khi gặp được cơ hội trực tiếp đấu tranh chính trị để đem lại lợi ích cho nhân dân, nâng cao vị thế của người dân thì hai ông cũng không bỏ qua, mà luôn luôn tận dụng.

Năm 1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, Nguyễn Văn Vĩnh cùng bốn người Pháp ký tên yêu cầu chính quyền Đông Dương thả Phan Châu Trinh đang có mặt ở đấy. Vì việc này, ông đã bị Toàn quyền Pháp gọi lên đe dọa. Sau, nhờ có sự can thiệp của Hội Nhân quyền, Phan Châu Trinh được trả tự do trước hạn và đưa về quản thúc ở Mỹ Tho (1911).

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử tại Tòa Đề hình Hà Nội, bị kết sáu án chung thân và hai án tử hình. Nhà báo Phạm Quỳnh đã viết bằng tiếng Pháp trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương cộng hòa) có thế lực cả ở Đông Dương lẫn chính quốc, lên tiếng bênh vực Phan Bội Châu là “người chỉ có một tội là tội yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm” và yêu cầu khoan hồng. Kết quả là, cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân sôi nổi cả nước, Phạm Quỳnh đã góp phần giảm án cho Phan Bội Châu từ tử hình xuống chỉ còn quản thúc ở Huế, để Phan Bội Châu thành “ông Già Bến Ngự” nổi tiếng cả nước.

Năm 1930, trên diễn đàn của Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương, nhà báo Phạm Quỳnh đã lớn tiếng bênh vực công nghiệp còn non trẻ, yếu ớt của nước nhà, chống lại và làm thất bại chính sách độc quyền kinh doanh của thực dân Pháp, điển hình là đã làm phá sản chính sách độc uyền về sản xuất và bán rượu gạo ở Việt Nam của công ty Fontaine. Cũng trên diễn đàn ấy, năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị vì có lợi cho ngân hàng Pháp và có hại cho Đông Dương.

Tuy cùng một mục đích nhưng không phải khi nào hai ông cũng nhất trí với nhau về con đường và cách thức đi tới mục đích đó. Cho nên mới có cuộc tranh luận trực trị hay lập hiến sôi nổi một thời mà hai ông đứng ở hai phía đối lập . Tuy thế cả hai đều hòa nhã, chừng mực, lấy việc tìm ra con đường tốt nhất cho dân cho nước làm trọng, bình tĩnh thảo luận tìm ra chân lý. Hai ông bao giờ cũng “hòa nhi bất đồng” (tức: hòa với mọi người, nhưng không về hùa với ai) theo đúng kiểu người quân tử. Đó là một cuộc tranh luận có văn hóa.

Nhưng, rốt cuộc, tất cả những việc các ông tham gia hoạt động chính trị chỉ càng chứng tỏ là cả hai ông chỉ là những nhà văn hóa, nhà văn hóa lớn như nhà văn Nguyên Ngọc có lần gọi là “những người khổng lồ”, nhưng không thể là những nhà chính trị. Sự nghiệp các ông để lại vẫn chỉ là về văn hóa, văn học mà thôi.

Năm 1932 khi Nguyễn Văn Vĩnh đang họp Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương ở Sài Gòn thì có trát tòa án đòi tịch biên gia sản vì ông thiếu nợ do vay tiền dựng tòa soạn báo An Nam Nouveau (Nước An Nam mới). Vỡ nợ, ông phải đi sang Lào đào vàng và chết trong một cơn sốt rét ác tính, trên con thuyền độc mộc ở sông Sêbăngghi, gia sản chỉ còn hai bàn tay trắng (ngày 1/5/1936).

Lễ tang ông được tổ chức ở Hà Nội với đông đảo giới báo chí ba kỳ dưới dòng chữ kính viếng “ông tổ của nghề báo”.

Bấy giờ, Phạm Quỳnh đang ở Huế, là Tổng lý Đại thần Ngự tiền Văn phòng và Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục. Vậy mà ông lại làm một bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh, sau này có người tìm thấy khi được giao nhiệm vụ tịch thu gia sản Phạm Quỳnh khi ông bị bắt tháng 8/1945. Bài thơ có bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác, chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Người đương thời cũng thường gắn tên hai ông với nhau như trong việc kể tên bốn tác giả kiệt xuất thời đầu thế kỷ XX là “Quỳnh (Phạm Quỳnh), Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh), Tố (Nguyễn Văn Tố), Tốn (Phạm Duy Tốn.

Hai ông đều là “nhưng người dân thuộc địa, qua ứng xử với nền văn hóa đô hộ, đã tiếp biến văn hóa phương Tây để tạo ra những giá trị mới (lắm khi chống lạinằm ngoài toan tính của kẻ xâm lược)” (trích bài của Hữu Ngọc, Việt Nam và “sốc văn hóa”, báo Nhân dân cuối tuần, 27/6/1999 trang 5.)

Thành ra cảm thấy … hụt hẫng khi đọc bài Nhớ “người Nam mới” đầu tiên của Thu Hà đăng trên Tuổi Trẻ chủ nhật 12/9/2010 đoạn văn sau:

“Có quá nhiều điều chúng ta hôm nay chưa biết về Nguyễn Văn Vĩnh và những người ông chịu ảnh hưởng hay chia sẻ tâm huyết (Chúng tôi nhấn mạnh-D.T.) như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Tố, các đồng chí trong Đông Kinh Nghĩa Thục…”

Hụt hẫng vì không thấy nhắc đến tên người bạn thân thiết nhất, người đồng chí đồng tâm nhất với Nguyễn Văn Vĩnh là Phạm Quỳnh.

Vì sao đến cuối năm 2010 rồi mà vẫn cứ phải né tránh một tên tuổi cả nước đã biết từ gần 100 năm nay

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/11/2010.

D.T.

Trong bài sử dụng chủ yếu tư liệu trong Từ điển văn học-bộ mới (NXB Thế Giới, 2004) và Blog PhamTon.

Phạm Quỳnh xác nhận nhà văn Bửu Đình được ân xá

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

PHẠM QUỲNH XÁC NHẬN NHÀ VĂN BỬU ĐÌNH ĐƯỢC ÂN XÁ

 Phụ Nữ Tân Văn

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới đây, chúng tôi trích đăng tư liệu về việc nhà văn Bửu Đình, cây bút xuất sắc của Phụ Nữ Tân Văn được ân xá năm 1933, từ các trang 244 đến 247 của sách Phụ Nữ Tân Văn, phấn son tô điểm sơn hà của Thiện Mộc Lan do Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn và Công ty sách Thời Đại xuất bản tháng 1 năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

—o0o—

Ông tên thật là Nguyễn Phước Bửu Đình, sanh năm 1898 tại làng Kim Long, ngoại ô thành phố Huế. Ông là chắt trai của hoàng tử Tỉnh Gia, con trai vua Minh Mạng.

(…)

“…Chủ bút tờ Tân Thế Kỷ là ông Bửu Đình, một người trong hoàng tộc đã viết loạt bài công kích thái độ khiếp nhược của bọn quan lại trong triều đình Huế. Hơn nữa, chính ông Bửu Đình đã tổ chức nhiều cuộc nói chuyện chánh trị tại tư thất chí sĩ Phan Bội Châu ở Huế (ngày 20/3/1927) trước số cử tọa đông cỡ 500 thanh niên để công kích chế độ phong kiến mục nát của triều đình. Vì lý do ấy, ông bị triều đình bắt (Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí Việt Nam, Trí Đăng xuất bản 1973, trang 148).

Viết về Bửu Đình trong mục Nhân vật, báo Phụ Nữ Tân Văn số 218 ngày 28/9/1933 ghi:

“Đọc giả của báo này chắc còn nhớ ông Bửu Đình, chánh trị phạm, đã vượt ngục cách nay gần một năm. Ông đã thoát thân ra khỏi đảo Côn Nôn.

(…)

“Ông Bửu Đình là ai?

“Một nhà làm báo, một nhà tiểu thuyết, một nhà thi sĩ, một nhà “cách mạng”, một nhà diễn giả”.

(…)

“Bị bắt ở Huế sau cuộc diễn thuyết tại nhà cụ Phan Bội Châu, Bửu Đình tỏ ra một thái độ cao quí”

Bửu Đình là người trong hoàng tộc mà dám chống lại triều đình nên ông bị xóa tên trong hoàng phái và từ tên tộc Bửu Đình bị đổi thành Tạ Đình. Họ Tạ là họ của thân mẫu ông.

Ông bị đày đi Lao Bảo (Quảng Trị) với bản án 9 năm tù. Vào tù, Bửu Đình vẫn tiếp tục chống đối nên thực dân lưu đày ông ra Côn Đảo vô thời hạn.

Hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ đã qua, có nhiều chứng cứ cho thấy Bửu Đình đã 2 lần vượt ngục Côn Nôn. Lần thứ nhất, ông cùng ba chánh trị phạm thả bè vượt biển, phải trôi nổi đói khát trọn 27 ngày trên mặt biển mới tấp được vào vịnh Thái Lan.

Tại Thái Lan, nhóm tù của Bửu Đình sống hơn 9 tháng tại nhà lao Xiêm quốc. Tại đây nhóm tù được đối xử “dễ chịu” hơn những ngày dài tại Côn Đảo. Cuối cùng, nhà chức trách Thái Lan làm thủ tục…trả Bửu Đình và nhóm của ông về Sài Gòn rồi kế đó họ lại bị đày trở lại Côn Đảo.

Trong thời gian ấy, tại Sài Gòn một số báo Tây và báo Việt có những tin “đồn huyễn” rằng hiện nay Bửu Đình đang tu trong một ngôi chùa ở Petcha-Boury, một tỉnh nhỏ tại Thái Lan. Ông cạo đầu và mặc áo giống hệt thầy sãi Xiêm…

Đó là thời điểm gần cuối năm 1932. Sau đó, ông vượt ngục lần nữa và mất tích giữa bể khơi.

(…)

Báo Phụ Nữ Tân Văn đăng tin như sau:

ÔNG BỬU ĐÌNH ĐƯỢC ÂN XÁ

Nhơn dịp vua Bảo Đại về nước, bà Nguyễn Thị Hiếu tức là bà Bửu Đình ở Gò Công có xin ân xá cho ông Bửu Đình.

Bà Bửu Đình có cho Bổn báo hay là đã được chỉ dụ ân xá; song Bổn báo chưa có bằng cớ gì quả quyết, nên có viết thơ hỏi ông Thượng Phạm Quỳnh. Ngày nay Bổn báo đã được trả lời, xin đăng nguyên văn để làm bằng cớ chắc chắn và cảm ơn quan Thượng Phạm có lòng tốt cùng Bổn báo.

Huế, le 4 Novembre (ngày 4 tháng 11) – 1933

Palais Impérial (Hoàng Cung)

Cabinet Civil de Sa Majesté (Ngự tiền văn phòng)

A Monsieur (Gởi ông) Ng-Đức-Nhuận,

Directeur du (Giám đốc báo) Phụ Nữ Tân Văn

48, Rue (phố) Vannier – SAIGON

Quí ông Nguyễn Đức Nhuận,

Tôi có tiếp được thư của quí ông đề ngày 21 Octobre (tháng 10) 1933, hỏi thăm việc Tạ Đình (tức Bửu Đình) được Hoàng Thượng ân xá và có đính theo bản sao lục Chỉ Chuẩn về việc ấy.

Tôi sức cứu bản sao lục ấy quả y như nguyên bản và Tạ Đình đã được Hoàng Thượng Gia ân cho huyền án tha về giao cho phủ Tôn Nhơn kiểm cố, đợi ngày sau xét ra thiệt có lòng hối quá, thời phủ Tôn Nhơn sẽ tâu xin cho phục hồi Tôn tịch.

Vậy xin phúc lại để quí ông biết.

Nay kính phúc

PHẠM QUỲNH

(Phụ Nữ Tân Văn, số 225 ngày 23/11/1933)

 

Tháng Năm 8, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 3 tháng 5 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 5 năm 2015,

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/5//2015:

Hơn 103 nghìn lượt người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và ngày Quốc tế Lao động 1-5, đông đảo đồng bào, chiến sĩ cả nước và du khách nước ngoài vào tham quan cụm Di tích lịch sử – văn hóa Ba Ðình: Lăng Bác, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Ðài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ.

Trong các ngày từ 28 đến 30-4 và ngày 2 đến 3-5 (ngày 1-5, không tổ chức vào Lăng viếng Bác), có 103.642 lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có 11.355 lượt khách nước ngoài. Ðặc biệt, đúng Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước 30-4, có 26.253 lượt người vào Lăng viếng Bác, thăm nơi ở, làm việc của Người, bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.

Trong dịp nghỉ lễ, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng của TP Hà Nội và cụm Di tích lịch sử – văn hóa Ba Ðình tổ chức đón tiếp chu đáo đồng bào, nhất là các cụ già, trẻ em và khách nước ngoài vào Lăng viếng Bác; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn, trang nghiêm, thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ kính yêu.

Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó đón 18 nghìn lượt khách

Dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước 30-4 và Ngày Quốc tế Lao động 1-5, Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) đã đón 18 nghìn lượt du khách. Hai ngày nghỉ cuối tuần (2 và 3-4), lượng lợn khách lữ hành vẫn tiếp tục đổ về tham quan khu di tích. Ðể bảo đảm an toàn cho du khách, Ban Quản lý đã phối hợp với chính quyền địa phương, công an, biên phòng lập các phương án bảo vệ an ninh, cử cán bộ, chiến sĩ tham gia gìn giữ trật tự trong suốt thời gian sáu ngày lễ. Trong dịp này, triển lãm ảnh “Bác Hồ với Cao Bằng”, “Bác Hồ với công tác xây dựng và chỉnh đốn Ðảng” cũng được tổ chức tại khu di tích.

PV và TTXVN

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 1/5/2015:

Hàng vạn người về dâng hương Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Từ sáng sớm 30/4, hàng ngàn lượt người đã đổ về vũng Chùa – đảo Yến ở xã Quảng Đông (huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) dâng hương tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thượng úy Khắc Ngọc Tân Hào, độ bảo vệ khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết ngày 29/4 đã có hơn 33.000 lượt người về dâng hương Đại tướng.

L.Giang

  • Bài trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 28/4/2015:

Tháng 4 của những cựu phóng viên chiến trường

Sáng 27-4, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh (TP.HCM) đã khai mạc hai triển lãm ảnh lớn là Ký ức những con đường trong chiến tranh và 50 năm Việt Nam – chiến tranh và hòa bình. Triển lãm Ký ức những con đường trong chiến tranh của Hoàng Văn Sắc và 50 năm Việt Nam – chiến tranh và hòa bình là của nhiếp ảnh gia Nhật Bản Ishikawa Bunyo.

Lẫn trong các khán giả đến dự khai mạc triển lãm, một người đàn ông cao lớn với chiếc áo sơmi ướt đẫm mồ hôi dưới cái nóng tháng 4 của Sài Gòn mà người ta dễ nhận ra đó là cựu phóng viên chiến trường nổi tiếng Tim Page.

Thang tu cua nhung cuu phong vien chien truong

Ông đeo trên mình hai máy ảnh. Một là máy ảnh kỹ thuật số hiện đại hôm nay, cái còn lại là máy ảnh Leica “cổ lỗ” chụp phim mà ông từng chụp chiến tranh Việt Nam từ những năm 1960. Thỉnh thoảng hết phim ông lại lấy cuộn phim khác ra thay.

Bên cạnh ông là đồng nghiệp John Giannini với máy quay phim kè kè bên mình. Họ đến để dự và phỏng vấn hai đồng nghiệp Hoàng Văn Sắc cùng Ishikawa Bunyo cho đợt triển lãm ảnh tròn 40 năm ngày kết thúc chiến tranh này.

Có một chút hoài niệm bởi khi nhìn Tim Page, người ta bỗng nhớ đến cựu phóng viên chiến trường nổi tiếng người Đức Horst Faas.

Năm 1997 Horst Faas và Tim Page cùng tổ chức triển lãm Hồi niệm (Requiem) nổi tiếng thế giới về những cựu phóng viên chiến trường của cả hai phía đã bỏ mạng trong cuộc chiến ở Đông Dương.

Những đợt lễ lớn ngày 30-4 như thế này, cả Horst Faas và Tim Page đều như “hồi hương” về Sài Gòn. Nhưng năm 2012 Horst Faas đã qua đời. Năm nay chỉ còn Tim Page đến.

Trong chiến tranh, nhiếp ảnh gia Hoàng Văn Sắc là cựu phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam, được phân công chụp tình hình giao thông tuyến lửa của Khu 4 và đường Trường Sơn.

Ông có những bức ảnh nổi tiếng như Ngã ba Đồng Lộc, Đường trong mây… về những cô gái thanh niên xung phong huyền thoại, những chiến sĩ giao thông kiên cường.

Còn Ishikawa Bunyo chụp ảnh chiến tranh Việt Nam từ năm 1965. Sau chiến tranh ông vẫn theo đuổi mảng đề tài về nạn nhân chất độc da cam của cả Việt Nam và Mỹ, Hàn Quốc…

Những bức ảnh của ông trước đây từng được triển lãm ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh. Năm 2014 ông tổ chức triển lãm 50 năm Việt Nam – chiến tranh và hòa bình tại Nhật.

Giờ đây ông trao tặng toàn bộ bộ ảnh cho Bảo tàng Chứng tích chiến tranh.

Hồi tưởng về chiến tranh, Ishikawa Bunyo nói: “Tôi sinh ra ở Okinawa, nơi có nhiều người đã bị giết chết trong chiến tranh, nên khi chụp ảnh chiến tranh Việt Nam tôi nhớ về Okinawa. Tôi thấy chiến tranh ở Okinawa, Việt Nam hay Afghanistan, Iraq… hiện nay đều giống nhau, là sự chết chóc của dân thường”.

“Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên mà cánh báo giới được phép theo quân đội ra chiến trường. Nhưng vì có nhiều cảnh chết chóc của phụ nữ, trẻ em… quá nên giới quân sự sau này không muốn nữa. Điều đó thật đáng tiếc” – I. Bunyo trầm ngâm, tỏ ra tiếc rẻ.

Lịch sử đã ghi nhận điều đó. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến mà giới phóng viên chiến trường đã tạo ra những làn sóng xã hội sôi động, mạnh mẽ nhất, nhưng cũng với nhiều tên tuổi đã ngã xuống như Larry Burrows, Henri Huet, Kyoichi Sawada, Bernard Fall…

Quang Thi

“Với Việt Nam, nhiều người giờ cũng không biết cuộc chiến tranh xảy ra như thế nào. Nhiều người Nhật cũng không biết chiến tranh diễn ra như thế nào” – ông Ishikawa Bunyo nói tại buổi ra mắt.

Nhiep anh gia Hoang Van Sac

Ông nói là một phóng viên có trách nhiệm thì ông muốn lưu lại những hình ảnh này cho nhân dân thế giới.

Nhiếp ảnh gia Ishikawa là một trong những nhiếp ảnh gia hiếm hoi đến được cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh.

Từ 1965- 1968 ông sống và làm việc tại miền Nam và đến tháng 10-1972, ông đến miền Bắc Việt Nam chụp chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ.

Triển lãm ảnh 50 năm Việt Nam – chiến tranh và hòa bình trưng bày 107 ảnh của ông với năm chủ đề về chiến tranh xâm lược cũng như là sự vươn lên khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước.

Còn triển lãm Ký ức những con đường trong chiến tranh của phóng viên chiến trường Hoàng Văn Sắc gồm 93 ảnh tư liệu thuộc ba chủ đề: những con đường huyết mạch trong chiến tranh, các chiến sĩ và TNXP trên những con đường và khôi phục xây dựng các con đường sau chiến tranh.

THANH TUẤN

  • Bài trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 30/4/2015:

Nửa vòng trái đất tìm kiếm ân nhân

Một ngày cuối tháng 4-2015, có bốn người Mỹ tìm đến Phong Nha (Quảng Bình) không phải để đi tham quan hang động, mà đi tìm ân nhân đã cứu cha mình năm xưa. 

Cha của những người này là phi công ném bom và bị bắn rơi máy bay tại đây, đại úy Grubb.

Người được giao nhiệm vụ cứu viên phi công Mỹ thời điểm đó là bà Nguyễn Thị Luẫn, ở thôn Phong Nha, xã Sơn Trạch. Bà Luẫn lúc đó mới chỉ vừa học qua lớp sơ cấp về cứu thương. Lần đầu tiên cứu người sau khi hoàn thành lớp sơ cứu lại là lần mà bà không ngờ tới.

Nua vong trai dat tim kiem an nhan

Các con trai ông Grubb đến Phong Nha là Jeffrey Grubb, Roland Grubb, Stephen Grubb, Roy Grubb. Bà Luẫn xúc động lắm, khi ký ức chiến tranh ngày xưa giờ ùa trở về đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước.

Đó là một buổi trưa 26-1-1966, một tốp máy bay Mỹ ồ ạt đánh phá bến phà Xuân Sơn, thuộc xã Sơn Trạch. Từ trận địa pháo gần bến phà, pháo phòng không của đơn vị bộ đội phòng không nổ dậy trời.

Ngay loạt đạn đầu, một chiếc RF-101 bị trúng đạn bốc cháy rồi đâm sầm xuống phía tây núi đá Phong Nha. Do rơi xuống trúng vùng núi đã lởm chởm nên viên phi công Wilmer Newlin Grubb bị thương rất nặng ở chân, máu chảy đầm đìa.

“Cả đội dân quân “họp khẩn”. Cứu hay không cứu đây? Sau vài phút bàn bạc, ông Nguyễn Tựu, bí thư chi bộ thôn, quyết định phải cứu người trước đã”. Bà Luẫn được giao nhiệm vụ cứu thương. Bà thật thà kể rằng lúc đó trong lòng đã có lúc bà không muốn cứu, bởi nhìn cảnh làng xóm bị phá tan do bom Mỹ.

Nhưng rồi bà vẫn dằn lòng lại, nhanh chóng rửa vết thương và tiêm thuốc hồi sức, sau đó băng bó cẩn thận. “Viên phi công gần như ngất lịm vì mất máu quá nhiều. Nhưng ánh mắt của người phi công như muốn nói điều gì đó” – bà Luẫn nói.

Mọi chuyện tưởng chừng như rơi vào quên lãng cho đến một ngày giữa năm 2013: một “ông Tây” trẻ măng cao lớn tìm tới. Người phiên dịch đi cùng hỏi bà có phải là y tá ngày xưa từng cứu một viên phi công Mỹ trong chiến tranh ở vùng núi đá này không.

“Tui gật đầu xong là người thanh niên cao lớn đến trước mặt tui cúi người xuống rồi luôn miệng nói “cám ơn”. Tui rất bất ngờ. Thông qua người phiên dịch, tui mới biết đó chính là cháu ngoại của viên phi công Grubb gần 50 năm trước” – bà Luẫn kể. Ông Grubb đã mất sau đó khoảng chục năm.

Và giờ đây, các con cháu ông Grubb lại tìm đến. Bà nói bà thấy quá khứ chiến tranh và thù hận ngày xưa đã lùi rất xa…

Quốc Nam

  • Bài trang 5 báo Nhân Dân ngày 30/4/2015:

Những người con đất Việt trở về

Năm 1975, trên tàu hỏa về Hà Nội, qua các sân ga, tôi thấy nhiều người ôm ghì lấy nhau. Quân phục bạc mầu, vai khoác ba-lô, những người lính từ chiến trường trở về với cha mẹ, vợ con, anh em. 40 năm sau, tôi lại lênh đênh trên tàu, nhưng lần này là tàu biển trong một chuyến đi do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức, đến với những người lính đang ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc ở Trường Sa.

Trong suốt 30 năm, người Việt Nam đã phải cầm vũ khí tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, để đất nước có ngày thống nhất năm 1975. Nhưng thống nhất, hòa bình tròn 40 năm, mà giữa những ngày tháng tư năm 2015, ở Biển ĐDoan Viet kieu tham dao Song Tu Tayông, tôi lại gặp những người lính vẫn đang cầm súng canh giữ biển trời Tổ quốc. Nhìn những Anh Bộ đội Cụ Hồ tuổi đôi mươi, da đen cháy vì nắng gió biển khơi, nhưng vui vẻ, yêu đời không khác gì tôi và đồng đội hơn 40 mươi năm trước, tôi thấy se lòng. Họ đến Trường Sa từ mọi miền đất nước, người từ Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, người từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh,… Đất nước đã cố gắng lo toan để người chiến sĩ có thêm phương tiện khắc phục điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, có cuộc sống vật chất tạm đủ đầy, nhưng dù thế, cũng khó có thể khỏa lấp nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ người thân, nhớ đất liền. Và giữa Biển Đông, giữa thời bình, vẫn có những người lính hy sinh. Trên đảo Nam Yết, đứng trước bia mộ khắc tên binh nhất Nguyễn Vũ Hoàng Phương, quê ở Cam Đức, Cam Lâm, Khánh Hòa, sinh 23-4-1995, nhập ngũ tháng 9-2013, mất 14-2-2014; nhớ tới bia mộ trên đảo Song Tử Tây ghi tên liệt sĩ Tống Văn Quang hy sinh ngày 14-4-1975 – khi còn 16 ngày nữa là đến ngày Đại thắng, tôi đã không thể ngăn nổi những giọt nước mắt. Quanh tôi khi ấy, nhiều người cũng đang khóc. Họ là người gốc Việt từ Pháp, Đức, Ca-na-đa, Mỹ, Xin-ga-po, Cam-pu-chia, Ô-xtrây-lia, Áo, Séc, I-xra-en… trở về thăm Tổ quốc và đến với Trường Sa. Họ bảo với tôi, họ tự hào vì được về thăm Tổ quốc đúng dịp kỷ niệm 40 năm Ngày đất nước thống nhất. Họ đến Trường Sa để thấy chủ quyền đất nước luôn được bảo vệ, với những người lính kiên cường vững vàng cầm chắc tay súng nơi đầu sóng, để chia sẻ và thấu hiểu sự gian khổ, sức chịu đựng, ý chí của những “Anh Bộ đội Cụ Hồ”.

Tối hôm trước, lúc giao lưu văn nghệ, thấy anh Henri Đặng – người Pháp gốc Việt đứng riêng một góc, tay liên tục chấm nước mắt, tôi đi ra chỗ khác, để anh được tự nhiên. Tới khi đứng trước mộ liệt sĩ, thấy mắt anh lại đỏ hoe, tôi ngoảnh nhìn nơi khác thì anh nắm lấy tay tôi, nghẹn ngào: “Các em còn trẻ quá!”. Tôi chỉ biết nắm tay anh thật chặt.

Một buổi trưa trên boong tàu, sóng lừng ào ạt, con tàu trồi lên trụt xuống, anh Hồ Ngọc Thắng, người Đức gốc Việt đưa cho tôi xem “Chứng minh thư Quân giải phóng” được cấp năm 1972 khi anh vào chiến trường Quảng Trị. Mấy chục năm qua, sống xa quê hương nhưng tấm chứng minh thư là niềm tự hào của anh và nó luôn nằm cùng những giấy tờ tùy thân. Anh bảo, chuyến này đi là một sự kiện trọng đại của đời mình. Hai chặng đường dài nhất đất nước là vượt Trường Sơn và vượt Biển Đông anh đã trải qua. Nếu chuyến đi hơn 40 năm trước gian khổ bao nhiêu, thì chuyến này đi thanh bình bấy nhiêu, nhưng vẫn canh cánh trong anh nỗi lo bảo vệ chủ quyền biển đảo trên Biển Đông; anh thương những người lính chỉ như con cháu mình. Cũng như Henri Đặng, khi nói chuyện với tôi, anh luôn đưa khăn chấm những giọt nước mắt…

Có một điều dễ nhận ra trong suốt chuyến đi là sự hồ hởi, niềm tự hào là con dân nước Việt, của những người đến từ gần 20 quốc gia. Là con dân nước Việt, dù gặp nhau ở đâu họ vẫn là đồng bào. Nên có thể coi chuyến tàu thăm Trường Sa là nơi biểu hiện của tinh thần hòa hợp dân tộc. Nói tiếng Việt rành rẽ hay có pha âm sắc nước ngoài thì mọi người vẫn tìm được tiếng nói chung.

Lúc họ hò reo bên bàn cờ tướng. Lúc họ nắm tay nhau thành vòng tròn cùng hát Như có Bác trong ngày vui đại thắng, Nối vòng tay lớn và các bài hát về một thời hào hùng của dân tộc, về người mẹ Việt Nam. Lúc lại thấy người ở quốc gia này rủ người ở quốc gia khác đi thăm bộ đội, hay rì rầm tâm sự trên boong tàu. Lúc có người ngồi trầm ngâm, dõi ánh mắt về phía biển xa, như đang nghĩ về cuộc gặp gỡ chốc lát với người lính, người dân trên đảo.

Rồi là những cánh tay vẫy chào, những lá cờ đỏ sao vàng tung bay, những lời hẹn gặp lại và cả sự lưu luyến không muốn rời xa mạn tàu mỗi khi con tàu tạm biệt một đảo chìm, đảo nổi… Sau mỗi lần như vậy, ai cũng tâm sự với tôi rằng, sự đóng góp của mình chưa thấm gì so với Bộ đội Trường Sa.

Sóng to gió cả, con tàu bập bềnh. Chiếc xuồng máy chuyển quà sang nhà giàn nhấp nhô, vừa vọt lên cao đã khuất dạng sau con sóng lớn. Sau khi nhận thông báo vì sóng to, không thể lên được nhà giàn, mắt nhiều người nhòe lệ. Diễn viên Nhà hát ca múa nhạc Quân đội đã sẵn sàng xuống xuồng đành phải ở lại. Cũng vì thế, lần đầu tôi được chứng kiến họ hát cho bộ đội nghe qua máy điện đàm. Các anh chị hát mà mắt đỏ hoe, những giọt lệ lăn dài. Phòng chỉ huy tàu đông nghẹt. Mọi người cùng hát, hát say sưa, hát như để những người lính trên ngôi nhà giàn đang mờ tỏ trong mưa biết mọi người đang đồng lòng đứng bên họ. Và khi những người lính nhà giàn đáp lời bằng tiếng hát hào hùng được tiếp âm, khuếch đại qua loa thì tất cả lặng đi, anh bạn Nga gốc Việt bên tôi thì thầm: “Đúng là Bộ đội Cụ Hồ!”. Lúc ấy, tôi nghĩ tới con đường hòa bình, thống nhất, hòa hợp dân tộc để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc là con đường mọi người Việt Nam đã và sẽ đi qua. Và tôi tin, trên con đường đó vẫn luôn vang vọng tinh thần bài thơ Nam quốc sơn hàkhắc trên bia đá mà Các hội thánh và tổ chức Cao Đài gửi tặng bộ đội Trường Sa được gắn trên đảo Đá Lát, giữa trập trùng sóng nước Biển Đông!

BÀI VÀ ẢNH: NGUYỄN HÒA

  • Tin trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 1/5/2015:

Tưng bừng kỷ niệm 40 năm ngày đất nước trọn niềm vui

Sáng 30-4, trên đường Lê Duẩn, quận 1, TP Hồ Chí Minh, đại lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (1975 – 2015) đã được Ban Chấp hành T. Ư Đảng; Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và TP Hồ Chí Minh tổ chức trọng thể. Có hơn 38 khối với hơn 6.000 cán bộ, chiến sĩ đã tham gia diễu binh, diễu hành trong lễ kỷ niệm này. Riêng với các chương trình biểu diễn nghệ thuật, sân khấu hóa, Ban tổ chức đã huy động hơn 4.400 văn nghệ sĩ tham gia. Sự kiện này thu hút gần 600 phóng viên các báo đài, hãng thông tấn trong và ngoài nước đưa tin.

Tung bung ky niem 40 nam

Tung bung ky niem 40 nam (1)

Tung bung ky niem 40 nam (2)

Tung bung ky niem 40 nam (3)

Tung bung ky niem 40 nam (4)

Tung bung ky niem 40 nam (5)

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 23/4/2015:

Nhà máy điện gió Bạc Liêu hòa lưới điện quốc gia giai đoạn 2

Ngày 22/4, Nhà máy điện gió Bạc Liêu đã chính thức đóng điện, hòa vào lưới điện quốc gia tua-bin gió đầu tiên (giai đoạn 2) của dự án. Đến nay, mười tua-bin gió (giai đoạn 2 của dự án) đã hoàn thành, với công suất 16MW, nâng tổng công suất nhà máy lên 32MW. Theo kế hoạch, vào dịp 19/5 sắp tới, Nhà máy sẽ tiếp tục đóng điện 10 tua-bin gió hòa lưới điện quốc gia, phấn đấu đến cuối năm nay sẽ có đóng điện các tua-bin gió còn lại.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 6/5/2015:

Khai mạc chương trình Bệnh viện bay Orbis năm 2015

Ngày 5-5, tại Bệnh viện T.Ư Huế, Tổ chức Phòng, chống mù lòa quốc tế (Orbis) khai mạc chương trình Bệnh viện bay Orbis năm 2015 tại Thừa Thiên – Huế và các tỉnh miền trung. Bệnh viện bay Orbis sẽ phối hợp Bệnh viện Mắt Huế và Bệnh viện T.Ư Huế khám sàng lọc, điều trị và phẫu thuật miễn phí cho 170 người mắc các bệnh về mắt. Chương trình cũng chuyển giao kỹ thuật chăm sóc, điều trị nhãn khoa tiên tiến cho 150 bác sĩ và nhân viên y tế của các tỉnh.

Ðến nay, ngoài việc giúp đào tạo đội ngũ cán bộ, cung cấp trang, thiết bị, hỗ trợ xây dựng mạng lưới dịch vụ chăm sóc mắt, Orbis cũng đã giúp thành lập năm trung tâm nhãn nhi thân thiện với trẻ em ở Hà Nội, Huế, Ðà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Bình Ðịnh.

  • Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 29/4/2015:

Tinh hoa nghề Việt hội tụ tại Huế

Tối 28/4, Festival nghề truyền thống Huế đã khai mạc. Với chủ đề Tinh hoa nghề Việt, festival quy tụ 200 nghệ nhân là những bàn tay vàng, nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú đến từ 41 làng nghề và cơ sở làng nghề truyền thống nổi tiếng trong cả nước. Ông Nguyễn Văn Thành – chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Huế, trưởng ban tôt chức – cho biết đây là hoạt động nhằm tôn vinh nghệ nhân và quảng bá nghề truyền thống Việt Nam, nhằm chấn hung một giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc và phát triển sản phẩm du lịch. Đồng thời cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội, tăng cường đầu tư trên mọi lĩnh vực, gắn các sản phẩm nghề truyền thống với du lịch, với thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế.

Festival nghề truyền thống Huế 2015 có các hoạt động chính như: lễ tế tổ nghề, trình diễn các nghề truyền thống và trưng bày sản phẩm nghề Việt, tôn vinh và giao lưu của nghệ nhân. Tham gia Festival còn có nghệ nhân nghề truyền  thống đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và tình diễn trang phục bang chất liệu thổ cẩm truyền thống của các nước ASEAN như Philippines, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Myanmar… Các hoạt động của Festival nghề truyền thống Huế chủ yếu diễn ra bên bờ song Hương, trên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu và tại kinh thành Huế, sẽ kết thúc tối 2-5. Trong chiều 28/4, Không gian tôn vinh nghệ nhân và các làng nghề đã mở màn cùng với nhiều cuộc triển lãm các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ đặc sắc trong và ngoài nước.

TH.LỘC

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 5/5/2015:

Dịch giả Bửu Ý được Pháp trao Huân chương Cành cọ hàn lâm

Chiều 4-5 tại Huế, dịch giả, nhà giáo Bửu Ý (Huế) được Bộ GDich gia Buu Yiáo dục Cộng hòa Pháp, thông qua Đại sứ quán Pháp tại VN, trao Huân chương Cành cọ hàn lâm. 

Huân chương cao quý này dành cho những người được xem là cầu nối văn hóa – giáo dục giữa hai nước Việt – Pháp, quảng bá văn hóa Pháp tại VN và giảng dạy tiếng Pháp…

Tại lễ trao, ngài Jean-Noel Poirier – đại sứ Pháp tại VN – đã nhắc đến nhiều đóng góp to lớn trong các hoạt động giáo dục, văn hóa của dịch giả Bửu Ý.

Ngài đại sứ nhấn mạnh đến dịch giả Bửu Ý như là một người “không thể không ghé” đối với những người nói tiếng Pháp khi đến Huế…

Dịch giả Bửu Ý nguyên là giảng viên Pháp văn, trưởng khoa ngoại ngữ của Trường đại học Sư phạm Huế.

Đồng thời, ông Nguyễn Văn Mễ, nguyên chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế, cũng được phía Pháp trao Huân chương Quốc công vì đã có nhiều đóng góp trong mối quan hệ giữa Pháp với tỉnh Thừa Thiên – Huế…

Thái Lộc

  • Tin trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 6/5/2015:

Khánh Ly “gọi tên bốn mùa” ở Hà Nội và Hải Phòng

Gần một năm sau khi thực hiện tour diễn tháng 5-2014, nữ danh ca Khánh Ly trở lại thủ đô Hà Nội giới thiệu một đêm diễn chủ đề GKhanh Ly ve viet namọi tên bốn mùa vào ngày 22-5.

Không chỉ hát nhạc Trịnh, đêm nhạc lần này Khánh Ly còn hát nhiều tác phẩm của những nhạc sĩ khác như Phạm Duy, Lam Phương, Vũ Thành An…

Khánh Ly mời bốn giọng hát nữ tượng trưng cho bốn màu sắc khác nhau hát cùng mình là Ánh Tuyết, Hồng Nhung, Mỹ Linh và Uyên Linh. Ban nhạc do nhạc sĩ Dương Cầm phụ trách, Cao Trung Hiếu làm đạo diễn chương trình.

Khánh Ly muốn tạo nên sự kết nối và truyền tải cảm xúc bằng âm nhạc giữa các thế hệ, như bà đã từng chia sẻ: “Tôi mê tuổi trẻ và người trẻ. Họ cho tôi một nguồn cảm hứng lớn để tiếp tục hát và cống hiến cho cuộc đời. Tôi sẽ càng hạnh phúc hơn nếu những người trẻ gắn liền với âm nhạc của mình.”

Live concert Gọi tên bốn mùa ra mắt khán giả Hà Nội vào lúc 20g ngày 22-5 tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Hà Nội.

Ngoài ra, vào đêm 23-5, Khánh Ly cũng lần đầu gặp gỡ khán giả yêu nhạc thành phố Hải Phòng nhưng sẽ hát cùng bốn ca sĩ nam đang được yêu mến hiện nay là Tấn Minh, Quang Thành, Hà Anh Tuấn và Hoài Lâm. Đêm nhạc bắt đầu lúc 20g ngày 23-5 tại Cung Văn Hoá Thể Thao Thanh Niên Hải Phòng.

Q.N.

* Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 30/4/2015:

Khánh thành công viên đất nung Thanh Hà

 Tọa lạc tại làng gốm truyền thống thuộc khối 5 P.Thanh Hà, TP Hội An, Quảng Nam công viên văn hóa đất nung được xây dựng theo ý tưởng chủ đạo: Đất, Nước và Lửa.

Đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm thống nhất Tổ quốc, hôm nay 30-4, công viên văn hóa đất nung Thanh Hà, TP Hội An chính thức làm lễ khánh thành Cong vien dat nung Thanh Hasau ba năm xây dựng và từng bước bổ sung đa dạng các hiện vật gốm phục vụ các nhà nghiên cứu và du khách.

Tọa lạc tại làng gốm truyền thống thuộc khối 5 P.Thanh Hà, công viên văn hóa đất nung được xây dựng theo ý tưởng chủ đạo: Đất, Nước và Lửa với hình ảnh bàn chuốt làm trung tâm.

Hai khối chính của công viên được cách điệu từ hai loại lò sản xuất gốm. Lò úp là khu bảo tàng, lưu giữ những giá trị truyền thống. Lò ngửa là nhà trưng bày như sự cởi mở để phát triển giao lưu văn hóa.

Trên diện tích gần 6.000m2, công viên được bố trí thành năm khu chức năng: khu làng nghề Nam Diêu, khu trại sáng tác, khu xúc tiến thương mại, khu bảo tàng gốm và khu triển lãm ngoài trời. Ở khu bảo tàng, du khách có thể tìm hiểu về quá trình phát triển nghề gốm qua các hiện vật, mô hình, hình ảnh, phù điêu…

Đặc biệt, ở khu triển lãm ngoài trời, du khách có dịp thưởng lãm cả một thế giới thu nhỏ qua các mô hình bằng chất liệu gốm như Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội, Thành nội Huế, đô thị cổ Hội An… cũng như các kiến trúc nổi tiếng thế giới như kim tự tháp, đền Parthenon, đấu trường Coliseum, Khải hoàn môn, tháp nghiêng Pisa, nhà hát Con Sò…

Hoàng Duy

  • Tin trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 23/4/2015:

Trái vải tươi có thêm thị trường Úc

Úc chính thức mở cửa cho trái vải của Việt Nam vào thị trường nước này. Như vậy sau Mỹ, đây là thị trường khó tính thứ hai chấp nhận nhập khẩu trái vải tươi.

Bộ Nông nghiệp Úc vừa có văn bản gửi Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cho biết Úc đã chính thức mở cửa cho trái vải của Việt Nam vào thị trường nước này.

Theo Cục Bảo vệ thực vật, năm 2015 sẽ là năm đầu tiên trái vải tươi của Việt Nam xuất khẩu vào hai thị trường khó tính là Mỹ và Úc, góp phần giảm áp lực tiêu thụ và đa dạng hóa thị trường cho loại trái cây này. Hiện Cục Bảo vệ thực vật đã cấp mã số cho 10 vùng trồng vải đủ điều kiện xuất khẩu đi Mỹ và Úc. Ngoài nhà máy đóng gói đủ tiêu chuẩn, trái vải tươi của Việt Nam còn phải trải qua quá trình chiếu xạ trước khi xuất khẩu vào hai thị trường trên. Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruits) cho biết, đây là một thông tin tích cực đối với ngành trái cây Việt Nam nói chung và trái vải nói riêng. Vì vụ thu hoạch vải đã sắp bắt đầu (tháng 6). Những năm trước đây, các vùng vải ở phía Bắc như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang thường xuyên xảy ra tình trạng ùn ứ, do vải chín nhiều nhưng không thể tiêu thụ hết. Chưa kể các đầu mối chính nhập khẩu trái vải tươi của Việt Nam là Trung Quốc, cũng lợi dụng tình hình để ép giá.

TRẦN MẠNH

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 13/3/2015”

Hà Nội khai mạc Tháng Hành động vì quyền người tiêu dùng

Tối 12/3, Sở Công thương Hà Nội chính thức khai mạc chương trình Tháng “Hành động vì quyền người tiêu dùng” năm 2015. Đây là năm thứ tư Hà Nội tổ chức chương trình này. Thông điệp của chương trình năm nay là “Người tiêu dùng hãy lên tiếng”, nhằm kêu gọi người tiêu dùng tích cực lên tiếng, khiesu nại với doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh, những cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu bị xâm phạm quyền lợi khi mua sắm. Tỏng Tháng Hành động vì quyền người tiêu dùng, diễn ra từ ngày 1 đến ngày 31/3, 246 điểm bán hàng vì người tiêu dùng trên địa bàn thành phố, trong đó có 103 điểm của các doanh nghiệp sản xuất, triển khai nhiều chương trình ưu đãi hấp dẫn như bán hàng giảm gái 50% nhiều sản phẩm của ngành hàng điện tử, điện lạnh, gia dụng, công nghệ, chương trình Weekend Vàng vào ngày 14 và 15/3… Các khách hàng bị xâm phạm quyền lợi khi mua sắm, cần gọi đến tổng đài 04.1081 để được tiếp nhận, giải đáp hoặc chuyển thông tin đến cơ quan chức năng.

PV.

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 4/5/2015:

Họp dân để báo cáo về tổ chức giao thông ngã sáu Gò Vấp

Đó là chỉ đạo của Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Tín trong cuộc họp mới đây về tình hình thực hiện dự án này. Các tuyến đường thuộc phạm vi dự án xây dựng cầu vượt tại nút giao ngã sáu Gò Vấp sẽ được điều chỉnh vỉa hè rộng tối thiểu 2m; đồng thời có phương án tổ chức giao thông hợp lý khu vực để đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn.

Ông Tín giao Ủy ban Nhân dân quận Gò Vấp phối hợp với Sở Giao Thông Vận Tải tổ chức họp các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án để nghe lãnh đạo sở báo cáo, phân tích ưu/nhược điểm của từng phương án tối ưu và thuyết phục người dân chia sẻ khó khăn, ủng hộ Thành phố Hồ Chí Minh trong đầu tư xây dựng cầu vượt tại nút giao này.

Mai Hoa

Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 3 tháng 5 năm 2015.

HOA ĐƯỜNG TÙY BÚT –

KIẾN VĂN, CẢM TƯỞNG I

 Phạm Tôn

Sau khi đã đưa bài số 6 Chuyện một đêm một ngày lên blog tuần thứ 3 tháng 8, như đã hẹn từ nay chúng tôi sẽ lần lượt đưa nốt 10 bài còn lại trong số 11 bài văn cuối đời Phạm Quỳnh viết mùa hè năm 1945 tại biệt thư Hoa Đường.

Sau ngày 23/8/1945, Phạm Quỳnh bị bắt tại biệt thự Hoa Đường ở Huế, thì tất cả sách vở tài liệu liên quan đến chính trị và văn học đều bị lục xét và phần lớn bị tịch thu. May mắn là còn sót lại một quyển vở học trò trên bàn làm việc của ông, đặt ngang sẵn cây bút máy Waterman để chiều viết tiếp. Đó là tập Hoa Đường tùy bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, với bài cuối cùng Cô Kiều và tôi viết còn dở dang.

Như vậy là sau gần 30 năm lăn lộn trên trường văn học (1917-1932) và chính trị (1932-1945), chắc chắn ông đã phải đối đầu với nhiều sự tình éo le, gây cấn, cho nên trong những trang viết cuối cùng này ta thấy những điều ông nói đến như Thế thái nhân tình, Văn học và Chính trị, Muốn sống, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường… đều gần như là những lời tâm sự ông rút từ ruột gan mình muốn thổ lộ, nhắn gửi với người đời sau. Đây là bản thảo đầu tiên ông viết chỉ để mình đọc, chưa phải để đưa đi in. Tên bản thảo có ghi rõ số I, tức ý ông sẽ còn viết nhiều tập như thế nữa. Chỉ đọc qua tên một số bài như trên, chúng ta đã thấy ngay đây là một tập tạp văn, kiểu tạp văn Lỗ Tấn, mà ta biết từ nay ông quyết định sẽ viết liên tiếp nhiều tập. Nhưng chẳng may, ngay tập I mỏng cũng chưa hoàn thành, vẻn vẹn chỉ có 47 trang giấy học trò, cho nên chưa thể đoán định được ông định hướng chủ yếu về đề tài gì. Sau khi ông mất khá lâu, nhân kỷ niệm 100 năm sinh, con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn ở Paris đã công bố 10 bài vào năm 1992, trong phần II của tập sách kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh (1892-1992) Tuyển tập và Di cảo. Loại ra một bài Chuyện một đêm một ngày mà bà cho chỉ là những trang nhật ký, ghi lại những sự việc cần nhớ, để sau này dùng, chứ hoàn toàn không có tính chất nghệ thuật gì. Sau này, em trai bà là ông Phạm Tuân đã cho in toàn văn bài Chuyện một đêm một ngày này trong tập Giải oan lập một đàng tràng do Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ năm 2001. Bản Tuyển tập và Di cảo này in tại Pháp, tại nhà xuất bản An Tiêm, cả công nhân lẫn người sửa bài đều không phải là những người chuyên làm về văn học tiếng Việt, người duyệt lại là bà Phạm Thị Hoàn, lúc ấy tuổi cũng đã cao, cho nên có nhiều sai sót trong chữ nghĩa in sai, hoặc thiếu, hoặc thừa so với bản thảo Phạm Quỳnh viết chỉ để mình đọc. Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp toàn bộ 11 bài ấy, cho nên lần này công bố trên blog, chúng tôi cố gắng bám sát bản viết tay của Phạm Quỳnh mà không dùng những bài đã đăng trong Tuyển tập và Di cảo mong tránh được những sai sót đã mắc. Vì thế cũng xin báo để các bạn đã có sách Tuyển tập và Di cảo nên căn cứ vào các bài đăng trên blog của chúng tôi để rà soát lại bài có trong sách của mình.  Riêng bài số 11 Cô Kiều với tôi viết dở dang, chỉ có 3 trang, chúng tôi đăng toàn văn bằng chữ Phạm Quỳnh viết để bạn đọc trực tiếp đọc. Đó cũng là một cách tưởng nhớ người xưa.

P.T.

Thế Thái Nhân Tình- Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 3 tháng 5 năm 2015.

KVCT

—–

*BÀI SỐ 1 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

1.- THẾ THÁI NHÂN TÌNH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

—-

 

Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói thế, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới thật biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào. Nhất là đã để mình trong trường danh lợi, mới biết rõ những trạng thái ô uế ở đời. Kẻ xu nịnh mình buổi sáng là người phản bội mình buổi chiều. Kẻ tâng bốc mình hôm qua, là người thóa mạ mình hôm nay. Mà kẻ hàm ơn nhiều nhất lại là người qui oán hơn cả. Không kể phần nhiều thời lựa gió theo chiều, thấy không có lợi đến gần nữa, liền linh lỉnh lảng xa ngay, dù trước kia tỏ ra vồn vã thân mật vô cùng. Trong đám đó tìm cho được một kẻ trung hậu, kiếm cho được một người thủy chung, thật là hiếm có thay.

Vẫn biết thế, vẫn biết rằng trừ nhà đạo đức mới đem bụng thật thà cầu cho thói đời trở về trung hậu, lòng người trở lại thủy chung, chứ phận ai đã lăn lộn với đời cũng từng nếm trải mùi đời mặn lạt như thế cả. Nhưng dù không có lạc quan gì về thế sự, thấy người đời trở mặt như bàn tay, xây lưng như chớp loáng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ồ! thói đời đen bạc đến thế dư?”…

The Thai Nhan Tinh

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Đôi lời về 11 bài viết cuối đời của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 5 năm 2015.

ĐÔI LỜI VỀ 11 BÀI VIẾT CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI –  PHẠM QUỲNH

            Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa cho ra đời 2.000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Những trang cuối tập sách 222 trang là bày này, đã lên Blog PhamTon từ tuần  3 tháng 11 năm 2009. Toàn văn bài như sau:

—-o0o—-

Các bạn đang có trong tay đủ 11 bài viết cuối đời văn, cũng là cuối đời người của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Đó là 1) Thế thái nhân tình, 2) Muốn sống…, 3) Chỉ buộc chân voi, 4) Văn học và chính trị, 5) Vô duyên, 6) Chuyện một đêm, một ngày, 7) Con người hiểm độc, 8) Anh chàng khoác lác, 9) Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường, 10) Tư tưởng Keyserling và 11) Cô Kiều với tôi, là bài cuối còn dang dở…

Con số thứ tự bài, chẳng qua chỉ là để tác giả biết là đã viết được mấy bài và dễ kiểm tra về sau. Tất cả theo thứ tự thời gian. Thượng Chi Phạm Quỳnh  viết những bài này sau khi từ quan tháng 3 năm 1945 về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên bờ sông nhỏ An Cựu nắng đục, mưa trong xứ Huế. Tiếp theo công việc tuyển chọn và dịch thô 51 bài thơ của thi hào thời thịnh Đường Đỗ Phủ, người đồng cảnh, đồng điệu với ông, được xem là “để lấy đà” cho việc trở lại với văn học của ông.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân từ Hà Nội đã vào gặp và phỏng vấn Thượng Chi Phạm Quỳnh tại biệt thự Hoa Đường, nơi ông “bế môn” không tiếp khách từ lâu. Sau này, nhà báo đã viết: “Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà ra làm quan (…) Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng. Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực (…) Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.” (Trích bài đăng trên báo Tin Điển, Sài Gòn, ngày 23/3/1952). 

Có lẽ các bạn đã thấy rõ điều đó khi đọc các bài ông viết về Thế thái nhân tình, Muốn sống…, Chỉ buộc chân voi, Vô duyên, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác Tư tưởng Keyserling. Còn về bản thân, Phạm Quỳnh rất ít khi nói về bản thân, trừ vài đoạn trong các du ký như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký thì trong những bài cuối đời này chúng ta được đọc Văn học và chính trị, rõ ràng là rút ra từ kinh nghiệm quan trường mười mấy năm đau xót của ông. Rồi Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường với những lời than như “Thiếu Hoa Đường (Tức bản thân Phạm Quỳnh – PT chú) này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào …” (trích bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường). Và tâm sự đau đớn nhất đã bật lên trong bài viết cuối còn dang dở Cô Kiều với tôi. Ông viết “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền (tức Nguyễn Du – PT chú), trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: “truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…” Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

Chỉ có một bài, duy nhất trong cả văn nghiệp đồ sộ của ông. Phạm Quỳnh viết về một đêm một ngày trong đời mình. Ông như tiên đoán hậu thế sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về ngày hôm đó của đất nước nên đã ghi lại tỉ mỉ những gì tai nghe, mắt thấy trong đêm 9 và ngày 10/3/1945 ấy. Và sự thật quả đã diễn ra như ông từng nghĩ. Ông là một con người của lịch sử, sẵn sàng với mọi phán xét của lịch sử, ông chỉ chuẩn bị tư liệu cho việc phán xét đó thôi.

Một điểm xin bạn đọc lưu ý là 11 bài này không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh, cho nên ta không biết tác giả định nói gì khi viết loạt bài này. Có lẽ, chẳng qua sau bước khởi đầu lấy đà với thơ Đỗ Phủ, ông bắt đầu tùy tiện ghi lại những gì mình nghĩ ra hằng ngày. Chỉ mới là viết để một mình mình nhớ, một mình mình đọc mà thôi. Thể loại ông chọn là tạp văn, như Lỗ Tấn cuối đời đã chuyên viết thể loại này, có đến 18 tập trong tổng số 20 tập của Lỗ Tấn toàn tập. Ông có lẽ cũng định sẽ viết nhiều, cho nên sau tên ghi ở bìa tập vở học trò Hoa Đường Tùy bút, Kiến văn, cảm tưởng, ông ghi rõ con số I La Mã. Rõ ràng là ông còn định viết tiếp thật nhiều tập tạp văn khác như thế, để thể hiện trên trang giấy “ngòi bút dồi dào phong phú hơn xưa”. Nhưng, tiếc là tập vở học trò mỏng vẫn còn nhiều trang giấy trắng mà đời văn của văn hào đã dừng lại ở bài viết dở dang về đề tài gan ruột nhất của mình, viết về nhân vật đã vận vào cuộc đời mình như thế nào.

Ông chọn thể loại tạp văn, chính là chọn thể loại có thể thỏa sức tung hoành trên trường văn, trận bút, không lệ thuộc chủ đề, khuôn phép nào.

Tiếc là chim bằng đã gãy cánh khi đang dốc sức tàn để bay vút một lần nữa lên bầu trời văn học cao đẹp, mênh mông, bao la bát ngát.

Tiếc thay, thương thay một đời tài hoa, kiên cường…một lòng trung với Nước, hiếu với Dân.

TP.HCM, ngày 27/3/2009.

P.T

Tháng Năm 2, 2015

Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh – GS.Nguyễn Đình Chú

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 2 tháng 5 năm 2015.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH 120 TUỔI

CỤ QUỲNH KHÓC CỤ VĨNH[*]

(Về một bài thơ bây giờ mới được biết đến)

GS Nguyễn Đình Chú

Lời dẫn của Phạm Tôn: Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú có những bút danh: Kỳ Sơn, Phương Hoa, Đông Phong, Phương Mai, Hà Thu, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1932. Quê quán: xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1957. Từng là Chủ nhiệm Bộ môn Văn học Việt Nam trung-cận đại, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Được phong giáo sư năm 1991, Nhà giáo Nhân dânNguyen Dinh Chu năm 1998.

Ông là tác giả các sách đã xuất bản như: Văn học, tập I (giáo trình), Tác gia văn học Việt Nam, tập 2, Thơ văn Tản Đà; là đồng tác giả các sách Văn học 11, ban Khoa học xã hội, tập 1, (sách giáo khoa), Văn học 11, ban Khoa học xã hội, tập 1 (sách giáo viên) và chủ biên các sách Văn 10 tập 1 (sách giáo khoa), Văn 10 tập I (sách giáo viên), Văn 11, tập 1 (sách giáo khoa), Văn 11 tập I (sách giáo viên), Văn học 10, ban Khoa học Xã hội tập I (sách giáo khoa), Văn học 10, ban Khoa học Xã hội tập I (sách giáo viên) và đồng chủ biên các sách Văn học 10, tập I, (sách giáo khoa và sách giáo viên), Văn học 11, tập I, (sách giáo khoa và sách giáo viên), rồi Ngữ văn 6 tập 1 và 2 (sách giáo khoa). Ông cũng chủ biên sách Tác gia Văn học Việt Nam, tập 1.

Là nhà giáo trong một trường đại học công lập, tất nhiên các sách ông soạn đều theo quan điểm chính thống đương thời. Trong đó bao gồm cả các bài ông viết về Phạm Quỳnh.

Chủ nhật 20/9/2009, Nguyễn Đình Chú đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên, thắp nhang trên bàn thờ Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết là vợ nhạc sĩ, mà cũng là đồng nghiệp dạy cùng trường lâu năm với ông. Nhân dịp này, ông tặng gia đình bài viết nhỏ về một bài thơ của Phạm Quỳnh mà ông mới phát hiện. Ông cũng đồng ý để gia đình đưa lên blog hoặc đưa lên báo. Nhạc sĩ Phạm Tuyên rất cảm động trước nghĩa cử này của giáo sư Nguyễn Đình Chú và chuyển ngay cho chúng tôi bài viết mới của giáo sư về học giả Phạm Quỳnh. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với các bạn hôm nay

—o0o—

Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố) một thời được dư luận xã hội tôn là bốn học giả sáng giá nhất của đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Bài thơ này còn được hôm nay là do cụ Nguyễn Đình Khang, quê Nghi Lộc, Nghệ An, làm thư viện ở Huế trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 và từng tham gia việc tịch biên gia sản Cụ Quỳnh hồi tháng 9-1945 tại Huế, nhân đó mà thấy bài thơ trong tập bản thảo của Cụ Quỳnh, nay đọc lại cho chép. Bài thơ như sau:

Khóc Nguyễn Văn Vĩnh

Vừa mới nghe tin vội giật mình

Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh

Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng

Bảy thước tang bồng nấm cỏ xanh

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Bài thơ đúng là cho thấy tấm lòng Cụ Quỳnh đối với Cụ Vĩnh nhưng cũng để lộ nỗi lòng của Cụ Quỳnh giữa cuộc thế bấy giờ. Hậu thế hôm nay, đọc bài thơ, có ai cảm thông và cũng là cảm thương phần nào cho Cụ Quỳnh không nhỉ?

9-2009

N.Đ.C.


[*] Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882, bút hiệu là Quan Thành, Tân Nam Tử, Tông Gia, Long Gia, Mũi Tẹt Tử, Đào Thị Loan, người làng Phượng Dực, phủ Thường Tín, Hà Đông, nay là huyện Phú Xuyên,Hà Nội. Năm 1896, tốt nghiệp Trường Thông Ngôn ra làm thư ký tòa sứ các tỉnh, rồi về tòa Đốc lý Hà Nội, có được cử đi dự Đấu xảo Marseille ở Pháp (1906). Về thì xin thôi việc, mở nhà in và làm báo. Ông chủ trương nhiều tờ báo. Tờ Trung Bắc tân văn của ông là tờ báo hằng ngày đầu tiên ở nước ta. Còn Đông Dương tạp chí ra đời trước Nam Phong.

Ông còn dịch nhiều sách tiếng Pháp ra tiếng ta, cũng là đóng góp lớn nhất của ông cho văn học nước nhà, từ nhiều vở kịch của Molière đến tiểu thuyết của Victor Hugo (Những kẻ khốn nạn), A.Dumas (Ba người lính ngự lâm pháp thủ). Rồi Fénelon (Tê lê mặc phiêu liêu ký), Balzac (Miếng da lừa), Prévost (Mai nương lệ cốt), Swift (Guylive du ký)…, dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine, truyện trẻ em của Perrrault. Ông còn dịch tác phẩm của ta (Kim Vân Kiều) và Trung Quốc (Tiền Xích Bích) ra chữ Pháp…

Cuối đời, ông bỏ nghề văn để đi tìm mỏ vàng ở Lào và mất tại Sài Gòn ngày 2/5/1936.

(Theo Từ Điển Văn Hóa Việt Nam – Vũ Trọng Khánh chủ biên, NXB Văn hóa Thông tin, 2009 và Từ điển văn học bộ mới, NXB Thế Giới  – 2004)

Tháng Năm 1, 2015

Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Ho Đường

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:13 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 5 năm 2015.

ĐÚNG 70 NĂM TRƯỚC

Khi danh vọng về chiều

TÔI ĐÃ GẶP PHẠM QUỲNH

Ở BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Nguyễn Vạn An

(Bài đăng ở báo Tin Điển ngày 23/3/1952 – xuất bản tại Sài Gòn)

Sau cuộc biến chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945, mọi phương tiện giao thông giữa Trung Nam Bắc hoàn toàn trở ngại vì những cuộc dội bom tàn phá của Đồng Minh. Tôi lặn lội từ Hà Nội trở vô Nam, bằng đủ mọi cách: đi thuyền, xe hơi, xe lửa, xe kéo và đi bộ nữa để mãi tới tháng sáu tôi mới ghé được kinh thành Huế giữa lúc ông Trần Trọng Kim đang chấp quyền Thủ tướng Nam Triều và cũng giữa một ngày kinh thành Huế cũng đang bị bom đạn tơi bời.

Không hề bỏ lỡ dịp tốt để gặp gỡ các chánh khách lúc đó đang là những người của thời cuộc, tôi vinh dự được gặp hầu hết từ ông Tổng Trưởng Nội Các đến các ông Bộ trưởng có mặt tại kinh thành, và luôn cả những nhân vật có danh ở Huế.

Bài này tôi nói riêng về cuộc gặp gỡ Cụ Phạm Quỳnh.

Nói đến nhà đại học giả ấy, lẽ tất nhiên chẳng cần nửa lời giới thiệu, đồng bào toàn quốc ai nấy đều biết.

Sau cuộc “đảo lộn” Nội các Nam Triều Cụ Phạm Quỳnh về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường là biệt thự riêng của Cụ ở An Cựu, sát ngay thủ đô.

Biet thu Hoa Duong

Nghe nói Cụ “bế môn” (đóng cửa – PT chú) không tiếp khách từ hơn một tháng nay. Tôi vẫn không nản lòng, gắng đến cho bằng được. Vì tôi tin ở lời giới thiệu của Cụ Nguyễn Văn Tố và nhóm Tri Tân mà tôi là đại diện.

Sau khi cánh danh thiếp được trao qua cánh cửa sắt, tôi được mời vô phòng khách. Phạm tiên sinh trịnh trọng trong bộ quốc phục màu đen vui vẻ niềm nở tiếp tôi và không quên nói:

  • “Thật ra đã hơn một tháng nay, tôi không hề tiếp khách, nhưng coi tấm danh thiếp biết ông là một “đồng nghiệp” (quá vinh dự cho tôi!) ở Bắc mới vào nên thành thực vui vẻ muốn được hầu tiếp để biết tin tức các bạn tôi ở Hà Nội và tình hình ở Bắc ra sao…”

Đã gần 10 năm rồi, tôi mới lại được gặp Cụ Phạm lần này là lần thứ hai. Bây giờ coi Cụ mập mạp bệ vệ quan cách hơn xưa nhiều.

Trong hương trà sen, câu chuyện trở nên đầm ấm thân mật. Với nét, mặt hình như phảng phất một vẻ buồn nhẹ nhàng, ẩn kín một tâm sự riêng, với một giọng nói đều đều, tự nhiên và hấp dẫn như nói chuyện với một người thân của mình, Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà quay ra làm quan.

Tôi hỏi: “Tôi muốn biết cảm tưởng của Cụ đối với tân Nội Các hiện thời?

Cụ đáp: Nội các hiện thời toàn là những người có tài có chí, nhất là Trần Đại Nhân (Trần Trọng Kim – PT chú) thật là một người trong sạch liêm khiết mà chúng ta có thể tin cậy được. Trước khi đứng ra lập nội các, Cụ Trần cũng có đến thăm tôi và tôi cũng bày tỏ thành thực những quan điểm của tôi cho Cụ biết và những trở lực mà chúng tôi đã phải vượt qua”.

  • Chúng tôi muốn biết rồi đây Cụ có hoạt động về chánh trị nữa không, hay trở về với văn học giới?
  • “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”.

“Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.

“Ông tính coi, một nhà văn bạch đinh như tôi, vụt một cái nhảy lên cái ghế danh vọng của Triều đình thì tránh sao được những đố kỵ và ngộ nhận. Cảnh ngộ của tôi lúc ra làm quan thật phù hợp với hai câu:

Phấn vua Lê trang điểm ấy là duyên

Tay Chúa trịnh cầm quyền âu cũng nợ…

“Hồi tôi ra chấp chánh, ông cố Toàn Quyền Pasquier nói với tôi rằng: – “Nhà Vua là một người hoàn toàn Âu hóa, phải có một người bán tân bán cựu (nửa mới, nửa cũ – PT chú) ra làm cái cầu ở giữa để giúp nhà Vua”. Mà cái cầu ấy, người ta đã chọn tôi. Nhưng tôi có làm được cái gì đâu!

“Hồi sang Pháp, tôi có vận động bên Chánh Phủ Pháp thi hành đúng Hiệp Ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam Triều trên thực tế. Tôi đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc Địa). Nhưng việc đó cũng không thành.

“Suốt một đời, tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.

“Hiện thời tôi cần phải nghỉ tĩnh dưỡng trong ít lâu rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học. Tôi tin tưởng rằng Quốc văn của ta sau này sẽ tiến triển mạnh mẽ lắm. Một phần nó được hấp thụ nền cổ học Trung Hoa, một phần khác nó được ảnh hưởng rất mạnh trong nền học mới.

“… Tương lai nước ta sau này là do chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này…”

Trong câu chuyện vui vẻ, hết chuyện này qua chuyện  khác, với một giọng điệu đều đều và hùng biện, ông không hề đợi tôi hỏi mà nói thao thao không ngừng.

Phạm tiên sinh vẫn tiếp:

“Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.

“Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hóa mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp và trọng dụng. Phải tạo cho họ có trường sở, để thi thố phát triển tài năng của mình. Đôn đốc họ bất cứ trong trường hợp nào họ cũng phải đặt mình trong cái nghĩa lớn.

“Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nẩy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một TỔ QUỐC mà phụng sự là gì?

“Tôi còn nhớ trong một bức thư gửi cho ông Paul Reynaud (hồi đó là Bộ Trưởng thuộc địa) có đoạn này:

“… Chúng tôi đang đi tìm TỔ QUỐC, mà không thấy TỔ QUỐC ở đâu.

“Thưa Ngài Bộ Trưởng, Tổ quốc ấy đối với chúng tôi nhất định không phải là nước Pháp. Lời nói đó, xin Ngài đừng mếch lòng. Nó không hề có cái ý bất lương gì cả. Chính nó là tiêu biểu của sự thực đích xác. Người Việt Nam không thể coi nước Pháp làm tổ quốc được, vì trước đã có tổ quốc của mình rồi, mà cái tổ quốc đó nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển, cho chúng tôi cũng được làm cái đời dân của một quốc gia xứng đáng…”

Cụ Phạm vẫn tiếp:

“Thật vậy, trong trường hợp nào chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hóa cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả…”

Câu chuyện Cụ Phạm càng nói càng thấy nồng nhiệt. Có nhiều đoạn mà chúng tôi thấy không cần và cũng không tiện viết ra đây. Nhân bàn về văn chương Việt Nam và nói đến cuốn Kiều là một thánh thơ quốc âm. Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.

Trước khi chia tay, Cụ Phạm có ký tên tặng tôi một bức ảnh làm kỷ niệm mà tôi còn trang trọng giữ làm một lưu vật chót của một đại văn hào đã có công rất nhiều trong công cuộc xây dựng nền tảng văn học Việt Nam.

Bao Tin Dien

Đặt mình hẳn ra ngoài lề chánh trị và chánh kiến, viết bài này tôi chỉ làm cái việc của một cây viết hoàn toàn khách quan với mục đích “GHI CHÉP” không hơn không kém.

N.V.A.

40 năm ca khúc Như có bác trong ngày đại thắng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:10 chiều
Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 5 năm 2015.

40 NĂM CA KHÚC NHƯ CÓ BÁC TRONG NGÀY ĐẠI THẮNG

Thanh Tùng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đã đăng báo Thừa Thiên – Huế số đặc biệt kỷ niệm 40 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng , thẹo lệ của Blog PhamTon chúng tôi đăng theo nguyên văn bài tác giả gửi cho chúng tôi hồi 5:36 chiều 27/4/2015.

—o0o—

Ngày 30-4 năm nay tròn 40 năm bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” được phát trên Đài TNVN. “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng…” lúc đó như tiếng reo vui của cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui chiến thắng và niềm vui hạnh phúc độc lập, tự do, Bắc – Nam sum họp. “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng…” đã đi cùng năm tháng, sống mãi trong hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè trên thế giới. Tác giả bài hát – nhạc sĩ Phạm Tuyên là một nhạc sĩ cách mạng luôn có những tác phẩm đồng hành cùng lịch sử đất nước.

Những ngày hòa bình, lên Đông Bắc nhạc sĩ Phạm Tuyên viết Bài ca người thợ mỏNhững vì sao ca đêm. Trong chiến tranh phá hoại mNhac si Pham Tuyeniền Bắc nhạc Phạm Tuyên mạnh mẽ với những giai điệu vừa hùng tráng, vừa trữ tình. Vào tuyến lửa Quảng Bình ông viết Quảng Bình chiến thắng, Bám biển quê hương, Đêm Cha Lo. Đi dọc đường Trường Sơn huyền thoại ông viết Yêu biết mấy những con đường. Trở về Hà Tây quê lụa, quê hương của chiếc gậy Trường Sơn, ông viết Chiếc gậy Trường Sơn, một bài ca thúc giục hàng triệu thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Vào Thanh Hóa ông viết Bài ca tuổi trẻ Nam Ngạn anh hùng. Hướng về miền Nam anh dũng kiên cường ông viết Những cánh chim Hồng Gấm, Tiếng hát những đêm không ngủ. Chia sẻ với phong trào âm nhạc chống chiến tranh ở Mỹ ông viết Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ. Bộ ba ca khúc Màu cờ tôi yêu, Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng đã đưa nhiều thế hệ đến với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Sau ngày thống nhất đất nước, Phạm Tuyên tiếp tục thành công trong những giai điệu ca ngợi cuộc sống thanh bình, bài ca lao động như Gửi nắng cho em (thơ Bùi Văn Dung), Con kênh ta đào (thơ Bùi Văn Dung), Màu cờ tôi yêu (thơ Diệp Minh Tuyền). Ngay sau đêm đầu tiên xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc, Phạm Tuyên đã có bản hành khúc Chiến đấu vì độc lập tự do. Tiếp đó là giai điệu Một đóa hồng chiêm thơm ngát vùng biên giới Đông Bắc Tổ quốc. v.v…

Trong một số thời điểm đặc biệt, lịch sử luôn cần có một số ca khúc xuất hiện tức thời, và được hàng vạn, hàng triệu người hát vang trên những đường phố, quảng trường, cánh đồng, chiến lũy… Hạnh phúc thay những nhạc sĩ đáp ứng được yêu cầu ấy của lịch sử. Đó là Văn Cao với “Tiến quân ca”, là Đỗ Nhuận với “Chiến thắng Điện Biên”, là Lưu Hữu Phước với “Giải phóng miền Nam”. Và đó là Phạm Tuyên với “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng”. Những ca khúc “tức thời” ấy đã bộThanh Tung va Pham Tuyenc lộ tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cổ vũ hàng triệu con người tham gia vào một nhiệm vụ chính trị. Những ca khúc ấy đã đi thảng vào lòng người nhẹ nhàng và sâu sắc, không thể có lời động viên, hô hào nào sánh bằng”  – nhà thơ Bế Kiến Quốc.

Sau ngày Bác Hồ ra đi ông viết Từ làng Sen, Việt Bắc nhớ Bác Hồ, Suối Lê-nin (thơ Trần Văn Loa). Trưa ngày 30/4/1975, giải phóng Sài Gòn, Phạm Tuyên nghĩ rằng chính giây phút thiêng liêng này của dân tộc Bác vẫn hiện diện giữa triệu triệu trái tim Việt Nam. Bài đồng ca Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng đã được ông viết rất nhanh và ngay lập tức được thu thanh tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi được phát ngay trên làn sóng điện vào lúc 17 giờ ngày 30/4/1975 sau bản tin thông báo với toàn thế giới Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất sau 30 năm kiên cường đấu tranh.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể: Lúc sáng tác bài Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng tôi cũng không ngờ bài hát lại có sức lan tỏa rộng như thế, còn vượt qua biên giới Việt Nam”.

Mới gặp tôi ở Huế khi ông là khách mời dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Huế, nhạc sĩ Phạm Tuyên kể: Anh em nhạc sĩ Hà Nội, Huế, Sài Gòn hội ngộ, đang tưng bừng ca hát thì có một đoàn khách Nhật Bản tình cờ gặp và xin tham gia. Đoàn khách du lịch ấy có vài ba người biết chơi guitar, họ chỉ xin hát đúng 2 bài, bài đầu tiên là dân ca Nhật Bản rất nổi tiếng Hoa Anh Đào, bài thứ hai chính là “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng”. Bất ngờ hơn là họ lại hát bằng tiếng Nhật – khiến ông ngỡ ngàng, xúc động.  “Khi các bạn hát bài của tôi, họ hát bằng tiếng Nhật cho nên ở dưới các nhạc sĩ chỉ biết vỗ tay theo nhưng đến đoạn điệp khúc ‘Việt Nam Hồ Chí Minh’ không ai bảo ai, tất cả đều đồng thanh hát tiếng Việt – nhạc sĩ Phạm Tuyên kể.

Ngay sau đó nhạc sĩ Phạm Tuyên gặp bà trưởng tốp người Nhật hỏi tại sao bên đó lại biết bài này, bởi ngày giải phóng miền Nam Việt Nam đã qua lâu rồi? Bà trả lời: “Chúng tôi hát bài này không chỉ ca ngợi ngày chiến thắng 30/4 của các bạn mà còn ca ngợi nước Việt Nam dưới thời đại Hồ Chí Minh. Chính vì vậy trong các cuộc họp mặt đông đảo hai nước Việt – Nhật chúng tôi đều hát hai bài này”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, hồi đó ông phụ trách Ban Âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Anh em nhạc sĩ ở Đài tương đối mạnh và gần như ai cũng dồn tâm huyết vào sáng tác những ca khúc hướng về miền Nam ruột thịt. Ngày bất ngờ nghe Đài đưa tin Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, ông với các anh em đứng ngây người một lúc nghĩ “đến Tân Sơn Nhất tức là đến Sài Gòn; mà đã đến Sài Gòn thì chỉ vài ba hôm nữa thôi là giải phóng”. Ông Trần Lâm, Giám đốc Đài TNVN, giao nhiệm vụ: “chiến thắng lần này của chúng ta là vĩ đại lắm cho nên anh em viết một bài gì đó phải thật hoành tráng”.

Ngay đêm đó nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng”. Sáng hôm sau ông mang tới  Đài bản nhạc này. Lúc duyệt mọi người nhận xét bài này quá đơn giản và còn chưa chiến thắng nên anh em động viên nhau bài này sẽ chuẩn bị ngày 7/5 kỷ niệm giải phóng Điện Biên Phủ thì phát sóng. Có người làm công tác chính trị còn nói với ông rằng: “Cẩn thận không thôi lạc quan tếu vì mình chưa chiến thắng”. Vài giờ sau được tin báo: “11h trưa quân ta đã cắm cờ trên Dinh Độc lập”. Ông Trần Lâm gọi Phạm Tuyên lên trao đổi, bởi Ban Tuyên huấn Trung ương cho phép Đài TNVN phát tin vui đại thắng vào lúc 17h ngày 30/4.

Ông Trần Lâm hỏi: “Trước đây tôi có nói chuẩn bị ca nhạc hoành tráng để đón ngày chiến thắng, vậy hiện nay có những ca khúc gì cho tôi biết?” Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể ra một số bài mình đã biết. Ông Trần Lâm hỏi: “Thế ông không viết à?” Phạm Tuyên nói ông chỉ viết được một bài ngắn ngắn và hát cho ông Trần Lâm nghe. Nghe xong ông Trần Lâm nói chỉ cần bài ngắn như thế này thôi, chiều nay triệu tập đoàn ca nhạc lên để tập. Phạm Tuyên hơi ngập ngừng và bảo rằng hay là dùng những bài Giải phóng Miền Nam… Ông Trần Lâm gạt ngay.  Bây giờ dùng bài Tiến về Sài Gòn thì tiến về rồi, Giải phóng Miền Nam thì giải phóng rồi cứ phát lại những bài cũ không được, cho nên dứt khoát dựng bài này”.

“Tôi chưa bao giờ dự một buổi thu thanh cảm động như vậy. Từ nhạc sĩ Cao Việt Bách, chỉ huy dàn hợp xướng, đến những nghệ sĩ chơi nhạc cụ và người hát đều rơi nước mắt vì sung sướng khi đất nước hoàn toàn giải phóng. 4h chiều thu xong, ông Trần Lâm lên báo cho các anh ở Ban Tuyên huấn và các trưởng ban đối nội, đối ngoại của Đài đến nghe ở phòng thu. Đúng 5h chiều sau khi phát tin đại thắng ca khúc: “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” được phát liên tiếp cho đến tận 12h đêm” – nhạc sĩ Phạm Tuyên kể.

“Như có Bác Hồ trong trong ngày đại thắng” có sức sống mãnh liệt, được nhiều thế hệ người Việt hát bằng cả trái tim mình. Điều nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động nhất là cho đến nay ca khúc vẫn được khán giả hát ở bất kỳ nơi đâu, ngày lễ, tết, hoặc hội nghị, liên hoan; từ đất liền đến biên giới, hải đảo, miền núi đến miền xuôi, bộ đội hay nông dân ai cũng thuộc.

Hơn thế nữa, ca khúc “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” đã vượt ra khỏi biên giới nước nhà, lan tỏa đến nhiều nước trên khắp các châu lục. Ở Nhật Bản, ca khúc này được dịch ra tiếng Nhật và lưu hành phổ biến ở 49 tỉnh thành. Có nhiều vị khách quốc tế, dù không biết đến một câu tiếng Việt vẫn có thể nhẩm theo giai điệu bài hát trong những dịp tham gia khánh lễ. Và mấy chục năm qua những điệp khúc “Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh” vẫn vang lên bừng bừng khí thế, rộn ràng niềm vui trong những cuộc giao lưu quốc tế.

TH.T

Trên quê hương yêu dấu (tuần 2 tháng 5)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:06 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 4 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

KHOẢNH KHẮC 2 GIỜ VÀ 40 NĂM…

(Theo bài Khoảnh khắc 2 giờ và 40 năm của Song Hà và Dương Minh Anh trên trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/4/2015)

Hai mươi năm sau Ngày Sài Gòn giải phóng, ngày 30-4-1995, nữ nhà báo người Pháp Phrăng-xoa đờ Muy-dơ, sang Việt Nam. Món quà của bà tặngKhoanh khac giai phong Dinh Doc Lap Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là những bức ảnh bên trong Dinh Độc Lập hắt ra rõ số hiệu hai chiếc xe tăng Quân giải phóng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập, trên xe “lố nhố người”. Từ đây, lịch sử ghi nhận xe tăng 390 và 843 (Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2) là đơn vị đầu tiên vào Dinh Độc Lập.

40 năm sau, ngày 30-4-2015, những nhân vật trong bức ảnh “lố nhố người” – đơn vị bộ binh đầu tiên cùng xe tăng vào Phủ Đầu Rồng ấy, kể lại.

Khi nhà văn Nam Hà viết: “Xa nhau không hề rơi nước mắt/ Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt” trong bài thơ nổi tiếng “Chúng con chiến đấu”, có lẽ ông cũng không ngờ sức khái quát và lay động lại lớn đến vậy.

Trong nắng, gió tháng 4 giữa khuôn viên Dinh Độc Lập, tôi sững sờ thấy nước mắt trên những khuôn mặt đàn ông.

Họ là những người lính Đại đội 6 bộ binh (gọi tắt là C6 – Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2).

Khóc vì hạnh phúc sau 40 năm gặp lại hai chiếc xe tăng 390, 843 tiến vào Dinh Độc Lập năm nào. Họ ôm nhau, ve vuốt từng nòng pháo, từng đoạn bánh xích chiếc xe tăng đồ sộ… và lại khóc. Có thể chính sử chưa nhắc nhiều tới họ, nhưng chắc chắn, những người lính C6 ấy đã thay bao đồng đội ngã xuống để về đích đúng hẹn.

Tóc bạc trắng đầu, ánh mắt kiên nghị, đứng cạnh hai xe tăng (giờ là hiện vật lịch sử trong Dinh Thống Nhất) nguyên Trưởng Tiểu ban Quân lực Trung đoàn 9, ông Nguyễn Trọng Hải nhớ lại: “Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiến công phía đông. Nhiệm vụ ban đầu là đánh chiếm Căn cứ Nước Trong và nhiều trọng điểm khác. Quân đoàn 2 đã sử dụng Sư đoàn 304 (chủ lực là Trung đoàn 9) đánh mở màn, đánh bật Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 468 của địch, bắn cháy gần 20 xe tăng, xe bọc thép, làm chủ khu vực Nước Trong và nhận được mật lệnh: Tấn công vào nội đô Sài Gòn”.

Bên mạn xe tăng nơi mình từng ngồi cách đây 40 năm, ông Nguyễn Văn Đẩu, chiến sĩ C6 nhớ rõ mồn một: “Chiều 29-4, khoảng 17 giờ, tôi nghe anh Tỉnh (Trung tá Nguyễn Thiện Tỉnh, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 2 – PV) bảo: “Còn anh em nào lên tăng vào Sài Gòn”. Thế là anh em chúng tôi lại tức tốc leo lên đi cùng Lữ đoàn tăng 203, vừa đi vừa đánh quyết liệt đến sáng 30-4 thì đến Thủ Đức, bên này sông Sài Gòn. Phía bên kia sông, xe tăng của ngụy chống trả ác liệt. Bộ binh C6 nhảy khỏi xe tăng đánh trả nhưng nhiều đồng chí hy sinh, lúc này C6 chúng tôi còn rất ít anh em”.

Ông Nguyễn Thiện Tỉnh bổ sung: “Đúng, C6 lúc đó phân công đồng chí Trần Quốc Ái (Đại đội trưởng C6) và đồng chí Nguyễn Duy Ân (Chính trị viên C6) làm chỉ huy bộ binh đi cùng bảo vệ hai xe tăng, đánh trả địch, tiến vào nội đô. Nếu xe tăng không có bộ binh thì không tiến lên được, mà bộ binh không có xe tăng che chắn cũng khó mà đánh giữa trận địa rất trống trải. Khi xe tăng vừa húc đổ cổng Dinh Độc Lập, anh em C6 vào có nhiệm vụ bắt hết tù binh ngồi xuống bãi cỏ. Độ mươi phút sau, quân và xe tăng, xe bọc thép của ta tràn vào. Một đồng chí đeo xà cột, súng ngắn bước từ hướng xe Zeep đi thẳng vào dinh. Tôi đi cùng đồng chí ấy lên tầng hai để đồng chí ấy bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn. Sau này mới biết đó là đồng chí Phạm Xuân Thệ”.

Đã 40 năm, anh lính trẻ trung năm nào mang tên Trần Đức Tình, giờ là một lão nông chính hiệu ở làng Mai (xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) vẫn không quên giây phút lịch sử: “Đến 10 giờ ngày 30-4-1975, mũi thọc sâu của C6 tiếp tục ngồi trên hai xe tăng 843 và 390. Quân số chỉ còn khoảng 14 tay súng. Xe 843 húc vào cổng phụ Dinh Độc Lập liền bị mắc kẹt. Xe 390 liền húc tung cánh cổng chính Dinh Độc Lập, tiến thẳng vào sân dinh.

Ngay đầu cổng Dinh Độc Lập, tôi thấy một nữ nhà báo nước ngoài đang chăm chú chụp hình. Trong sân dinh, hàng chục lính vệ binh đang sẵn sàng hạ vũ khí đầu hàng. Từ trên xe tăng, bộ binh C6 chúng tôi nhảy xuống gồm: tôi (Trần Đức Tình), Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Sản, Trần Mạnh Đề, Chử Đức Hải, Nguyễn Văn Đẩu, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Xuân Tưởng…

có nhiệm vụ gom toàn bộ số lính ngụy, nhân viên, công chức Dinh Độc Lập đưa vào bãi cỏ sân dinh.

Thấy một người từ xe tăng nhảy xuống, cầm lá cờ giải phóng chạy vào sâu bên trong, tôi và Bùi Huy Linh lao theo. Tới sân thượng chỗ cột cờ, tôi dùng dao găm chặt đứt đầu dây ghì cột cờ rồi từ từ hạ lá cờ vàng ba sọc xuống để đồng chí ấy (sau này mới biết là Bùi Quang Thận) thay lá cờ giải phóng rồi kéo lên đỉnh cột vào 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975″ (…)

Chỉ ở trong Dinh Độc Lập khoảng hai tiếng, cho đến 13 giờ 30 phút ngày 30-4, đội hình mũi tiến công đột kích gồm xe tăng và bộ binh này lại nhận nhiệm vụ ra đánh chiếm, bảo vệ Tân Cảng. C6 lại tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ quản lý tốt hàng hóa trong kho, thực hiện nghiêm công tác chiến lợi phẩm.

S.H.-D.M.A.

HAI NGƯỜI LÍNH

Quốc Nam

(Trích bài Hai Người Lính trang 18 báo Tuổi Trẻ ngày 27/42015)

Họ là hai người lính ở hai bên chiến tuyến. Một người là bộ đội miền Bắc, người kia là lính thủy quân lục chiến của miền Nam. Cả hai cùng đóng quân tại vùng ranh giới Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.

Trong một buổi chiều tạm yên tiếng súng, họ cùng choàng vai nhau chụp chung một bức hình kỷ niệm. Khoảnh khắc này được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào thời điểm tháng 4-1973. Hơn 40 năm sau, tác giả bức ảnh đã cất công đi tìm lại nhân vật của mình…

Chu chi Thanh va hai nguoi linh

Tấm ảnh lịch sử

Ông Chu Chí Thành nay đã ngoài tuổi thất tuần, vẫn còn rất minh mẫn. Trong ngôi nhà có phần cũ kỹ của ông ở một con hẻm trên đường Minh Khai (Hà Nội), rất nhiều bức ảnh về cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc được ông trưng bày. Nằm ngay ở vị trí trang trọng nhất trong phòng riêng của ông là bức ảnh được phóng khá to về hai người lính khoác vai nhau – một người mặc quân phục bộ đội giải phóng, người còn lại mặc quân phục thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Sau lưng hai người là trảng cát rộng của vùng giới tuyến trải dài hơn 2km.

Ông Chu Chí Thành trầm ngâm một lúc lâu như để lục lại ký ức về khoảnh khắc này hơn 40 năm về trước. “Lúc đó, tôi cùng anh Trần Mai Hưởng, cũng là phóng viên của TTXVN, đến chốt Long Quang. Thật bất ngờ về tất cả những gì đang diễn ra ở đây” – ông Thành nói. Đó là thời điểm tháng 4-1973, tức chỉ khoảng hơn một tháng sau ngày hiệp định Paris được ký kết. Chiến sự được tạm dừng ở vùng ranh giới hai miền. Ông Thành vẫn nhớ rất rõ thời điểm ông đến chốt Long Quang, ở hai bên ranh giới vẫn chĩa súng về phía nhau. Tuy nhiên, đến buổi chiều thì mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Một nhóm bộ đội miền Bắc ra vẫy tay gọi í ới vào chốt của quân đội miền Nam ở bên kia ranh giới, mời mấy anh em qua bên này uống nước chè xanh. “Tôi cứ ngỡ là chuyện đùa. Nhưng mấy phút sau một nhóm bốn năm người lính cộng hòa kéo dây ranh giới để qua chốt của quân giải phóng” – ông Thành kể chậm rãi.

Hai bên bắt tay, chia nhau chén nước chè xanh, hút chung điếu thuốc lá Điện Biên và cùng trò chuyện cười đùa. Những người lính phía miền Nam nói giọng miền Nam cũng mang sang một chai rượu nếp đen làm quà cho bộ đội miền Bắc. Một anh lính thủy quân lục chiến thấy ông Chu Chí Thành cầm máy ảnh nên gọi: “Nhà báo ơi, chụp cho tôi với anh bộ đội giải phóng tấm hình kỷ niệm”. Nói rồi, hai người lính đến khoác vai nhau tươi cười hồn nhiên. Bấm xong mấy bức hình, ông Thành đứng trân người đến mức quên mất chuyện hỏi tên tuổi của hai người lính. “Cách đó mấy cây số về phía nam súng vẫn đang nổ, nhưng tại điểm ranh giới này họ nói chuyện với nhau rôm rả, không giống những người lính ở hai bên chiến tuyến. Nhìn cái cách mà hai người lính ấy choàng tay nhau, tôi biết rằng ngày đất nước thống nhất đã sắp đến” – ông Thành xúc động.

Hai nguoi linh

Tìm người trong ảnh

Ông Thành ở vùng giới tuyến giai đoạn này hơn ba tháng mới về Hà Nội. Từ lúc chụp bức ảnh tại chốt Long Quang cho đến khi về rửa phim, tráng ảnh xong, ông mới sững người vì đã quên hỏi tên của hai người lính đó. Tấm ảnh được ông giấu kỹ cho đến năm 2007 mới công bố. Ông đặt tên cho tấm ảnh là Hai người lính. Dù ảnh đã có tên, nhưng ông Thành nói vẫn cứ luôn canh cánh trong lòng một nỗi niềm. Ông thấy mình như còn mắc nợ vì cái sự “quên” đáng trách đó nên quyết đi tìm thông tin về hai người lính. Ông mang tấm ảnh tìm đến những người bạn từng chiến đấu tại chiến trường thành cổ Quảng Trị giai đoạn từ 1972-1973 để hỏi. (…)

Cách đây mấy năm, ông có quen một nữ phóng viên, ông cũng đưa tấm ảnh cho cô này nhờ đưa lên mạng Internet để “may có người biết”. (…)

Một cuộc điện thoại khác bất ngờ đến. Điện thoại từ ông Phan Tư Kỳ (Ông Phan Tư Kỳ, nguyên là xã đội trưởng xã Triệu Trạch thời điểm năm 1972 – 1973). “Có manh mối rồi. Ngày mai có một đoàn cựu binh C5 (đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48) ở Thạch Thất (Hà Nội) sẽ ghé về Long Quang thăm chiến trường xưa” – ông Kỳ reo lên. Đúng 9g sáng 21-4, chiếc ôtô chở đoàn cựu binh vừa đến Long Quang. (…) Đúng 16g40 cùng ngày, một cuộc điện thoại lạ bất ngờ đến. Đó là ông Đỗ Bê, nguyên là đại đội trưởng đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48. (…)

Ông Bê nối điện thoại cho chúng tôi gặp ông Đỗ Thành Chấm, là một người lính của đại đội 5.

Ông Chấm khẳng định người bộ đội trong bức hình này là bạn thân của ông từ thời niên thiếu ở thôn 2, Kim Quan, Thạch Thất, Hà Nội, tên là Dương Minh Sắc, sinh năm 1954. Hai người nhập ngũ cùng ngày và ở cùng đơn vị nhiều năm. Tuy nhiên, ông Chấm thở dài: “Tiếc là Sắc đã mất vì bệnh nặng cách đây mấy năm”.

(…)

Ông Chu Chí Thành là người vui nhất khi tìm được một người trong bức ảnh này. Ông cũng giải tỏa được nỗi niềm trong lòng mình mấy mươi năm qua. Tuy nhiên, ông vẫn rất muốn tìm lại người lính Việt Nam cộng hòa chụp chung trong bức hình đó.

“Tôi luôn xem tấm ảnh này như là biểu tượng hòa hợp của hai miền” – ông Thành nói. Khi tấm ảnh này được đăng lên ở đây, nếu người lính này vẫn còn thì hãy cho ông nhà báo chiến trường này được gặp. Hoặc ai biết anh ấy thì xin mách mối giúp.

Q.N.

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/4/2015:

Lễ hội “Thống nhất non song” tại Quảng Trị

Tối 28-4, tại Khu Di tích đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, tỉnh Quảng Trị phối hợp Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước; khai mạc ngày hội “Thống nhất non sông”; đón nhận bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt đối với di tích Ðịa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh và Chương trình nghệ thuật “Nhịp cầu thống nhất”. Ðến dự, có đồng chí Ðinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương…

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, đồng chí Ðinh Thế Huynh nhấn mạnh: Quảng Trị là tỉnh có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Ðảng bộ, quân và dân Quảng Trị trực tiếp chịu nỗi đau chia cắt đất nước. Ròng rã hơn 21 năm, nhân dân Quảng Trị đã sát cánh cùng đồng bào cả nước chiến đấu, đập tan cuồng vọng của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai “lấp sông Bến Hải”, tấn công ra miền bắc. Quảng Trị ngời sáng tám chữ vàng: Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường… Trong lễ hội thống nhất non sông hôm nay, Quảng Trị vinh dự đón nhận Bằng công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt cho di tích Ðịa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh. Bốn di tích quốc gia đặc biệt về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được công nhận ở tỉnh Quảng Trị là sự khẳng định ý chí kiên cường, tinh thần chiến đấu anh dũng ngoan cường của quân và dân ta, của đồng bào và chiến sĩ Quảng Trị, đồng thời đó cũng là chứng tích về sự khốc liệt của chiến tranh trên quê hương ta, đất nước ta, về những hy sinh, mất mát vô cùng to lớn của đồng bào, đồng chí chúng ta.

Tại buổi lễ, dưới chân Kỳ đài lịch sử đầu cầu Hiền Lương, thay mặt lãnh đạo Ðảng và Nhà nước, đồng chí Ðinh Thế Huynh đã trao Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt đối với di tích Ðịa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh cho Ðảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Nhân dịp này, đồng chí Ðinh Thế Huynh đã đến thăm công trình xây dựng khu tượng đài chiến thắng Cửa Việt, ở xã Triệu An, huyện Triệu Phong; dâng hương, dâng hoa tại Nhà lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, ở xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, đài tưởng niệm Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Ðường 9, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sĩ huyện Triệu Phong, đền tưởng niệm bờ bắc và bờ nam sông Thạch Hãn và thả hoa trên dòng sông Thạch Hãn để tưởng nhớ các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972.

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 24/4/2015:

Vụ xây dựng không phép ở bờ sông An Cựu:

Lãnh đạo thành phố Huế thừa nhận sai sót

Tại buổi họp báo chiều 23-4, ông Nguyễn Kim Dũng, bí thư Thành ủy Huế, đã nhận trách nhiệm về những sai sót trong quá trình triển khai dự án công viên dọc bờ sông An Cựu thuộc phường An Đông.

Ông Dũng nói chủ trương xã hội hóa công viên cây xanh dọc bờ sông An Cựu là đúng, được Thành ủy Huế, HĐND và UBND TP Huế chấp thuận.

Tuy nhiên, khi triển khai dự án, lãnh đạo thành phố đã có những lúng túng, sai sót trong chỉ đạo và xử lý; né tránh cung cấp thông tin cho báo chí.

“Đúng ra UBND TP Huế phải có quyết định phê duyệt dự án, rồi giao cho UBND phường An Đông thực hiện, chứ không thể đưa ra thông báo chấp thuận chủ trương chung chung. Chính quyền cần phải thông báo chủ trương, nói rõ cách làm cho người dân biết, cứ công khai rõ để tranh thủ sự đồng tình. Chính quyền ủng hộ cho công trình xây dựng khi chưa có giấy phép là sai. Khi báo chí phản ánh, có dư luận thì quay lại xử phạt doanh nghiệp, làm vậy cũng sai luôn” – ông Dũng nói.

Ông Dũng đề nghị lãnh đạo UBND TP Huế không được né tránh cung cấp thông tin cho báo chí, trong quá trình triển khai dự án có những sai sót thì phải nhận trách nhiệm, rút kinh nghiệm, để sửa chữa khắc phục.

Trả lời câu hỏi liên quan đến trách nhiệm của chính quyền khi để công trình không phép tồn tại, ông Hoàng Hải Minh, phó chủ tịch UBND TP Huế, cho biết thành phố có lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công công trình vi phạm, đồng thời xử phạt hành chính.

Về việc UBND phường An Đông giao đất cho doanh nghiệp trái thẩm quyền, ông Minh cho rằng chỉ hợp tác khai thác chứ không giao đất, không cho doanh nghiệp thuê đất. Doanh nghiệp chỉ khai thác kinh doanh nước giải khát trong phạm vi 5% diện tích công viên theo quy định.

Nguyễn Linh.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/4/2015:

Xây kè, cống kiểm soát triều:

Hàng chục ngàn dân thoát ngập

Ngày 23-4, UBND Q.8 (TP.HCM) đã bàn giao hai công trình chống ngập trên địa bàn Q.8 cho Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước TP quản lý, vận hành. Hai công trình này giúp hơn 42.000 dân tại Q.8 và một số khu vực tại Q.6 thoát cảnh ngập nước. (…) địa hình của Q.8 trũng thấp với 28 tuyến kênh rạch nên thường xuyên bị ngập nặng bởi triều cường. Đặc biệt, khu vực P.7 và P.16 được bao bọc bởi sông Cần Giuộc, kênh Tàu Hủ và rạch Bà Tàng, rạch Ruột Chong ngapNgựa nên tình trạng ngập nước trở thành nỗi khổ của người dân ở đây. Được sự quan tâm của TP, công trình xây dựng kè chắn kết hợp đường dân sinh dài hơn 5km dọc các tuyến rạch trên địa bàn P.7, Q.8 cùng với hệ thống cống thoát nước với tổng vốn đầu tư hơn 182 tỉ đồng được xây dựng từ cuối năm 2011 đến nay đã phát huy tác dụng chống ngập, góp phần ổn định cuộc sống cho 24.000 người dân.

Riêng công trình xây dựng kè (từ cầu Hòa Lục đến ngã ba sông Cần Giuộc) kết hợp với cống kiểm soát triều rạch Ruột Ngựa có tổng vốn đầu tư hơn 220 tỉ đồng không chỉ giúp người dân ở P.16, Q.8 thoát ngập mà còn giúp giảm ngập ở các khu vực Q.6. Cụ thể, phạm vi chống ngập của công trình này bao gồm các tuyến đường như: Phú Định, Hồ Học Lãm (Q.8), Kinh Dương Vương, Lý Chiêu Hoàng, Nguyễn Văn Luông (Q.6) có quy mô khoảng 500ha với hơn 18.000 người dân được hưởng lợi. Công trình còn được trang bị sáu tổ máy bơm công suất lên tới 23,33 m³/giây, sẽ phát huy được hiệu quả chống ngập khi cùng lúc xảy ra mưa lớn và triều cường.

(…) Tuyến đường Nguyễn Ngọc Cung (P.16, Q.8) trũng thấp trước đây giờ được bêtông hóa cao ráo, nhiều căn nhà ở mặt đường và nhiều hẻm đã được cải tạo khang trang hơn.

Quang Khải

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 28/4/2015:

Nhiều phạm nhân được giảm án tha tù trước thời hạn

Sáng 27-4, Trại tạm giam số 1, Hội đồng xét giảm án, tha tù TP Hà Nội tổ chức công bố quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt và tha tù trước thời hạn nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và Ngày Lao động quốc tế (1-5).

Theo đó, Trại tạm giam số 1 có 121 phạm nhân được giảm án chấp hành án phạt tù, 23 phạm nhân được tha trước thời hạn chấp hành phạt tù. Những phạm nhân được xét giảm đợt này là những người có quá trình nỗ lực, phấn đấu trong cải tạo, xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù đạt loại khá trở lên… Dịp này, tại các trại tạm giam, nhà tạm giữ do Công an thành phố Hà Nội quản lý có tổng số 177 phạm nhân được giảm án, tha thù trước hạn.

* Viện KSND tỉnh Phú Yên và Hội đồng xét giảm TAND tỉnh vừa xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho các phạm nhân đang chấp hành tại Trại giam Xuân Phước, huyện Ðồng Xuân (thuộc Bộ Công an) và phạm nhân tại các nhà tạm giữ Công an cấp huyện. Theo đó, 300 phạm nhân được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù.

PV.

  • Tin trang 9 báo Tuổi Trẻ ngày 26/4/2015:

Khánh thành Bệnh viện Đồng Nai

Sáng 25-4, tỉnh Đồng Nai khánh thành Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai mới (tại số 2 Đồng Khởi, TP Biên Hòa, Đồng Nai) với quy mô 1.400 giường bệnh. 

TS.BS. Phan Huy Anh Vũ – giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai – cho biết bệnh viện mới được chia thành hai giai đoạn đầu tư và xây dựng.

Giai đoạn 1 của dự án có quy mô 700 giường bệnh, tổng vốn đầu tư khoảng 2.000 tỉ đồng, công trình gồm 13 tầng và 2 tầng hầm với 41 khoa, trong đó có một khoa khám và điều trị ngoại trú, 28 khoa điều trị nội trú, 12 khoa nghiệp vụ kỹ thuật.

Giai đoạn 2 quy mô 700 giường với mức vốn đầu tư 1.371 tỉ đồng theo phương thức xã hội hóa. Công trình là một tòa nhà 18 tầng và một tầng hầm với tổng diện tích sàn 70.000m2, được xây dựng theo tiêu chuẩn bệnh viện cao cấp.

Cũng theo bác sĩ Vũ, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai mới là bệnh viện đầu tiên tại VN áp dụng mô hình bệnh viện không xếp hàng, trang bị nhiều hệ thống máy móc hiện đại nhất tại Việt Nam hiện nay với máy CT 256 lát cắt 2 cấp năng lượng, máy MRI 3 tesla, 3 hệ thống xét nghiệm tự đồng hiện đại, máy siêu âm màu 3D, 4D, máy X-quang kỹ thuật số…

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 24/4/2015:

Thích thú với lễ hội ẩm thực phố biển Vũng Tàu

Tối 23/4 tại hoa viên Trưng Trắc – Trưng Nhị, phường 1, Thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), Ủy ban Nhân dân thành phố Vũng Tàu đã khai mạc lễ hội ẩm thực phố biển 2015. Hàng trăng người dân địa phương và du khách đã đến thưởng thức món ăn đặc sản của các vùng miền trong nước và nước ngoài.

Tham gia lễ hội lần này có hơn 70 gian hàng của các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nổi tiếng có uy tín của thành phố Vũng Tàu như: khách sạn Petro House, nhà hàng Hera Palace, nhà hàng tiệc cưới Hải Phương.. và các món ăn đặc sản của các địa phương khác như hủ tiếu Mỹ Tho, thịt nước kiểu Nga, bánh roti Mã Lai, kem Thổ Nhĩ Kỳ…

Ngay từ trước khi khai mạc những gian hàng tại lễ hội đã mở cửa đón khách. Nhiều người dân, du khách rất thích thú, ngon miệng với các món ăn đặc sản. Lễ hội mở cửa đến ngày 26/4.

Đông Hà

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 24/4/2015:

Lâm Đồng khánh thành trung tâm hành chính nghìn tỉ đồng

Ngày 23/4, trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng đã được khánh thành sau gần bốn tháng sử dụng. Công trình được phê duyệt tổng đầu tư 1.014 tỉ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước. Khởi công xây dựng cuối năm 2009, công trình gồm hai khố nhà chin tầng và sáu tầng, ngoài ra còn có ba tầng hầm với tổng diện tích xây dựng 13.126m2, tổng diện tích sàn 56.171m2

Trung tam hanh chinh Lam Dong

Trung âm hành chính tỉnh Lâm Đồng là nơi làm việc của khoảng 1.400 cán bộ của 49 sở ngành và đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc tỉnh.

Mai Vinh

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 29/4/2015:

Đại tiệc pháo hoa bên sông Hàn

Đúng 20g35 tối 28/4, đội Fireworks for Africa đến từ đất nước Nam Phi đã bắn lên bầu trời trên song Hàn thơ mộng những laojt pháp hoa đầu tiên, chính thức khai hội Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2015 (DIFC 2015).Phao hoa

Là đội đầu tiên tham dự DIFC 2015, Fireworks for Africa mang đến cho hàng vạn du khách trong và ngoài nước màn trình diễn “Bầu trời xanh châu Phi” giữa lòng Việt Nam. Từng loạt pháo hoa bắn lên khiến người xem như lạc vào chuyến du ngoạn ngắn quay về vài thập kỷ trước của màu sắc và lịch sử đất nước Nam Phi. Điểm nhấn làm nên một phần trình diễn được đánh giá khá thành công nhờ vào nền nhạc bao gồm các bài hái nói về những sắc màu, khắc họa được ánh cầu vồng lung linh huyefn ảo, 32.000 khán giả ngồn trên khán đài và hàng vạn du khách đã vỗ tay hoan nghên Fireworks for Africa.

Đội tiếp theo là Pyrotecnico (Hoa Kỳ) có phần trình diễn dài 22 phút với chủ đề “Trọn vẹn tình yêu”. Màn trình diễn pháo hoa của Pyrotecnico sử dụng khá hài hòa các hiệu ứng và thiết kế laser được thực hiện một cách tỉ mỉ từ khởi đầu đến khi hoàn thiện. Những màn pháp đủ sắc màu được các nghệ sĩ bắn lên bầu trời trong những tràng pháo tay kéo dài của hàng vạn khan giả vang vọng sông Hàn.

Đội chủ nhà Đà Nẵng (Việt Nam) trình diễn cuối cùng trong đêm 28/4. Khác với những năm trước, đến với cuộc thi năm nay đội Đà Nẵng trình diễn “Bản giao hưởng sắc màu” với bốn phần: đất nước Việt Nam con Rồng cháu Tiên; tình yêu quê hương, đất nước, biển đảo; giới thiệu về thành phố Đà Nẵng; bản giao hưởng sắc màu. Bằng nền nhạc truyền thống, đội Đà Nẵng đã giới thiệu đến bạn bè quốc tế hình ảnh văn hóa, con người, bản sắc Việt Nam bằng vũ điệu ánh sang, sắc màu huyền ảo.

Tối mai, hai đội Howard & Sons Pyrotechnics (Úc) và Sures Firma Rodzinna (Ba Lan) sẽ thi tài để tìm ra nhà vô địch DIFC 2015.

P.Thành

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 24/4/2015:

Cụ bà Việt Nam cao tuổi nhất thế giới

Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (Vietkings) vừa cho biết Hiệp hội Kỷ lục thế giới có trụ sở tại Hồng Kông đã chính thức công nhận cụ Nguyễn Thị Trù, 122 tuổi, công dân nước CHXHCN Việt Nam, là Cụ bà cao tuổi nhất thế giới.

Theo các giấy tờ chính thức, cụ Nguyễn Thị Trù sinh năm 1893 tại Sài Gòn và như vậy cụ đã sống xuyên 3 thế kỷ 19, 20 và 21. Hiện cụ đang sống tại xã Đa PhướcCu Nguyen Thi Tru, huyện Bình Chánh, TP.HCM.

Cụ Nguyễn Thị Trù có tất cả 11 người con (3 nam, 8 nữ) nhưng hiện chỉ có 2 người con còn sống, hiện cụ đang sống với người con dâu út đã 76 tuổi.

Vietkings cho biết sức khỏe cụ Trù khá tốt, trong suốt 122 năm qua cụ chưa bao giờ bị bệnh nặng phải nhập viện, hiện ngoại trừ trí nhớ cụ đã giảm sút nhiều còn thì sức khỏe cụ vẫn rất tốt.

Dự kiến đầu tháng 6, đại diện Hiệp hội Kỷ lục TG sẽ có mặt tại Việt Nam để trao bằng xác lập kỷ lục cho cụ Nguyễn Thị Trù.

Hiệp hội Kỷ lục TG là một trong ba tổ chức xác nhập kỷ lục thế giới, hai tổ chức còn lại là Tổ chức kỷ lục thế giới có trụ sở tại Anh, đây cũng là đơn vị sở hữu Sách Kỷ lục Guiness và Liên minh kỷ lục thế giới có trụ sở tại Ấn Độ. Hiện hai tổ chức này cũng đang xem xét tài liệu, hồ sơ trường hợp cụ Nguyễn Thị Trù.

Kỷ lục về cụ bà cao tuổi nhất trước đây thuộc về cụ Misao Okawa người Nhật Bản với độ tuổi 117, tuy nhiên cụ Misao đã mất vào 1-4-2015.

Lam Điền

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 26/4/2015:

Khám phá Đà Nẵng bằng trực thăng

Tour dịch vụ bay tham quan, khám phá các danh lam thắng cảnh Đà Nẵng trên bầu trời vừa được Tổng công ty trực thăng Việt Nam khai trương

Tổng công ty trực thăng Việt Nam đưa vào khai thác tour dịch vụ bay tham quan sáng 24-4 tại sân bay Nước Mặn (Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng).

Với dịch vụ này, du khách sẽ được tham quan, ngắm các danh lam thắng cảnh từ trên không như hòn Non Nước, bay qua sông Hàn và các cầu Trần Thị Lý, cầu Sông Hàn, cầu Rồng, cầu Thuận Phước, bãi biển Đà Nẵng, chùa Linh Ứng… với thời gian bay 12 phút với giá 3 triệu đồng.Chuyen bay tham Da Nang dau tien

Mỗi chuyến bay có thể chở 5-6 hành khách. Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của khách hàng, công ty còn cung cấp các chuyến đưa khách đến các điểm du lịch nổi tiếng bán đảo Sơn Trà, TP Huế, phố cổ Hội An, Cù Lao Chàm, Thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Bình.

Bên cạnh đó, cung cấp các dịch vụ bay phục vụ khách dã ngoại, bay quay phim – chụp ảnh, bay phục vụ khảo sát, quy hoạch và đặc biệt là bay cấp cứu y tế.

Theo đại diện công ty Viet Nam Travel Mark, đơn vị độc quyền khai thác tour này cho hay, loại hình du lịch tham quan bằng trực thăng là tour còn khá mới lạ, độc đáo ở Đà Nẵng, tạo nên sự phong phú cho du lịch này.

Đối tượng du lịch nhắm tới là khách du lịch hạng sang cả trong và ngoài nước. Được biết, đây là lần đầu tiên Tổng công ty trực thăng Việt Nam đầu tư loại trực thăng chuyên dùng cho bay du lịch và lựa chọn Đà Nẵng là điểm khởi đầu tour này.

Loại trực thăng sử dụng cho dịch vụ này thuộc chủng loại EC130T2 do Airbus Helicopters sản xuất tại Pháp, chuyên dùng cho bay du lịch hiện đại nhất hiện nay.

Phan Thành

Tháng Tư 25, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 1 tháng 5 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:54 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 4 năm 2015,

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Bài trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/4/2015:

Mãi là người chiến thắng

(…)

Ngày 30-4 cách đây bốn mươi năm về trước là ngày mở ra cánh cửa hòa bình, thống nhất đất nước. Ðấy còn là cơ hội lớn để khát vọng hòa hợp dân tộc trở thành hiện thực.

Cuộc chiến kết thúc ở nơi được gọi là sào huyệt đối phương nhưng thành phố Sài Gòn vẫn không bị tàn phá, tuyệt nhiên không có cuộc “tắm máu” nào như tuyên truyền của phía bên kia. Trong giờ phút lịch sử cách đây bốn mươi năm ấy, hãng UPI đã tường thuật: Quân đội phía chiến thắng cưỡi xe tăng vào Dinh Tổng thống với nét mặt phấn khởi như vào chỗ không người, thậm chí còn xưng hô “đồng chí” với những người đứng hai bên đường cũng như đối với các nhà báo. Ðấy là tư thế, là tâm thế của đội quân chính nghĩa, có văn hóa, có tổ chức.

Sau 30-4 một ngày, giữa thành phố Sài Gòn có đêm giao hưởng hoành tráng được tổ chức tại Nhà hát Lớn. Vâng, một đêm giao hưởng do những nghệ sĩ, ca sĩ từ miền bắc vào trình diễn. Những người lính thắng trận, áo vải Tô Châu còn lấm bụi đường, còn vương nắng gió trăm miền sau cuộc hành quân thần tốc, táo bạo nhất trong lịch sử dân tộc ngỡ ngàng bước vào Nhà hát Lớn để tâm hồn hòa điệu cùng những bản nhạc nổi tiếng của nhân loại và Việt Nam. Ngày hòa bình đầu tiên của Tổ quốc được đánh dấu, chính xác hơn là được mở ra với đêm giao hưởng lộng lẫy, hoành tráng rất nhân văn ngay giữa thành phố Sài Gòn. Nhà thơ Anh Ngọc, với tư cách là một nhà thơ, nhà báo quân đội từng có mặt trong đêm giao hưởng lịch sử ấy đã làm nên những câu thơ đầy xúc động: Cát bụi đường xa khẩu súng ngọn cờ / Ngửa bàn tay gặp bàn tay nhạc trưởng/ Mở tấm lòng gặp tấm lòng giao hưởng / Bổng trầm cung bậc tìm nhau/ Sài Gòn trong ta là trái chín vẹn nguyên/ Chiến thắng đặt vào lòng hai đứa/ Một nửa anh và em một nửa

Những người thắng trận yêu hòa bình và không muốn gì hơn là hòa giải, hòa hợp với tất thảy những ai từng ở bên kia chiến tuyến. Bởi chúng ta hiểu rằng, chỉ có hòa giải, hòa hợp thì Chiến thắng 30-4 mới trọn vẹn, sức mạnh dân tộc sẽ kết tụ, nhân lên khi lòng người hồi quy một cội.

Rất nhiều tướng lĩnh, binh sĩ, quan chức, công chức của chế độ cũ được sống yên ổn và đoàn tụ trong một đất nước an bình. Có người trong số họ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của thể chế mới. KXe tang pha cong dinh doc lapể cả những người đi ra nước ngoài, nếu có thiện ý vẫn được sự đón nhận thật lòng của nhân dân Việt Nam. Bao nhiêu cuộc đi – về tình nghĩa. Tôi có một ông cậu đằng vợ, thời chiến tranh là cảnh sát của chế độ Việt Nam cộng hòa. Sau năm 1975, ông đi “học tập” vài tháng, sau đó trở về nhà chăm chỉ làm ăn cùng vợ con. Khi được bảo lãnh theo diện HO, chính quyền tạo điều kiện thuận lợi cho gia đình ông xuất cảnh sang Mỹ. Sống được một thời gian, ông trở lại quê cha đất tổ vốn ở vùng Quảng Trị khắc nghiệt, còn nhiều nghèo khó. Có lần, ông tâm sự với tôi: “Về quê sống, cậu thấy nhẹ nhõm, bình an hơn, cháu ạ!”.

Và, cả những người lính viễn chinh đã từng ném bom, nổ súng vào người dân Việt Nam, nếu thực tâm cũng sẽ có cơ hội nhận được tấm lòng nhân ái, độ lượng của chúng ta. Tôi có biết và đọc tác phẩm của giáo sư, nhà thơ B.Uây. Ông là cựu chiến binh Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam, từng đặt dấu giày lên Quảng Trị, một vùng đất khốc liệt nhất của đất nước ta thời đó từ năm 1967 đến năm 1968. B.Uây viết: Chiến tranh đã từng tước đi của tôi rất nhiều, nhưng nó cũng cho tôi thơ ca, một người con Việt Nam và tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam. Ông không nói sai sự thật, ít nhất là với những gì ông đang có. Nước Mỹ nhìn nhận ông, tác giả của 12 tập thơ, trong đó có phần quan trọng viết về chiến tranh Việt Nam là một hiện tượng thi ca. Ông cũng là cha nuôi của một cô gái Việt Nam – Nguyễn Thị Hạnh Uây.

Sau chiến tranh, những cựu chiến binh Mỹ như B.Uây trở lại Việt Nam, đất nước mà họ từng ném bom, bắn phá, mở nhiều cuộc hành quân tìm và diệt những người yêu nước. Cái họ được nhận không phải là hận thù mà là sự độ lượng bao dung. Một không khí yên bình bao trùm lên đất nước này và họ nhận được từ đó những xao xuyến thân quen, gần gũi được viết trong bài thơ Cuộc đời cô lá cờ lụa đỏNhưng tôi không cảm thấy xa lạ / Trong chính ngôi nhà đất nước tôi đã nỗ lực bỏ bom / để nó thành cát bụi. Tình cảm của ông dành cho Việt Nam rất thành thật. Thành thật yêu quý, thành thật hối hận. Không sự hối hận nào có thể trả lại sự sống cho những người vô tội bị giết chết / không giọt nước mắt nào có thể gột sạch quá khứ / không lời nào có thể trồng lại màu xanh cho một thành phố bị đốt cháy… Ăn năn hối hận bao nhiêu thì tình yêu của họ dành cho Việt Nam càng đẹp đẽ bấy nhiêu. Trong một ban mai dịu dàng bên hồ sen, B.Uây nhận ra vẻ đẹp và sức sống Việt Nam qua những hình ảnh bình dị: Sau một đêm không ngủ, tôi nghe tiếng chim dìu ban mai / về trên mặt hồ bằng tiếng hát / Trên những chiếc thuyền nan / Những người hái sen chèo ra xa giữa những bông hoa trắng muốt được ngắt ra / nhưng sẽ lại dâng lên sự sống

Nhưng hình như chưa đủ, chưa đúng như mong ước của chúng ta. Con đường hòa giải, hòa hợp còn những gập ghềnh, chông gai, những hố ngăn cách. Vẫn còn đó những kẻ thù địch không chịu nhìn vào sự thật, rắp tâm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta. Vẫn còn đó những ngộ nhận, hiểu lầm, những rụt rè, e ngại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế luôn tỏa sáng:

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công.

Giá trị, ý nghĩa lịch sử của ngày 30-4-1975 càng nâng cao nếu chúng ta thực hiện đúng lời Bác Hồ dặn. Hòa hợp, hòa giải dân tộc là một trong những mục tiêu cũng là động lực quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện thành công điều đó, chúng ta mãi là người chiến thắng.

NHÀ VĂN NGUYỄN HỮU QUÝ

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 19/4/2015:

Ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam

Tại Hà Nội, ngày 17-4, T.Ư Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam tiếp đoàn đại biểu cựu chiến binh Vì hòa bình Mỹ (VFP), do ngài Chớc Xi-rây, Phó Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn sang thăm Việt Nam, nhân dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm 40 năm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và 20 năm thiết lập quan hệ Việt Nam – Mỹ.

VFP là một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ, trong nhiều năm qua tổ chức này đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc vận động, ủng hộ, giúp đỡ VAVA tại các vụ kiện tại Mỹ, đồng thời rất tích cực vận động, quyên góp ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin ở Việt Nam… Tại buổi gặp mặt, hai bên đã trao đổi và thống nhất một số nội dung về việc VFP sẽ tiếp tục ủng hộ VAVA kiện các công ty sản xuất chất da cam sử dụng tại Việt Nam, cũng như tiếp tục giúp đỡ các nạn nhân để họ có điều kiện sống tốt hơn…

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/4/2015:

Hơn 2000 tình nguyện viên làm sạch môi trường các hồ tại Hà Nội

Sáng 19/4, tại Công viên Thống Nhất (TP Hà Nội), Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng phối hợp Tổng cụ Môi trường), Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, Liên minh nước sạch tổ chức mít-tinh hưởng ứng Ngày Trái Đất (22/4) năm 2015, có chủ đề “Nước là cốt lõi của sự phát triển bền vững và “Chung tay bảo vệ hồ Hà Nội”. Việc tổ chức sự kiện này nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề môi trường; tầm quan trọng của nước trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, kêu gọi người dân tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như thu gom xử lý chất thải, rác thải; khơi thông dòng chảy; nạo vét kênh, mương, ao, hồ và hệ thống thoát nước, nhát là bảo vệ môi trường tại các hồ trên địa bàn Hà Nội…

Sau mít-tinh, hơn 2000 tình nguyện viên tham gia các hoạt động như thu gom rác tại các hồ Bảy Mẫu, Thuyền Quang và các khu vực chung quanh hồ; đạp xe vì hồ Hà Nội. Dịp này cũng diễn ra các hoạt động: triển lãm tranh và các sản phẩm bảo vệ môi trường của các tổ chức, câu lạc bộ tình nguyện; phát tờ rơi bảo vệ môi trường; đổi rác lấy các ản phẩm thân thiện môi trường.

  • Tin trang5 báo Nhân Dân ngày 20/4/2015

Công nhận hơn 970 cây di sản Việt Nam

Ngày 19/4, tại thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam phối hợp Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm sự kiện bảo tồn cây di sản Việt Nam và lễ trao bằng công nhận cây di sản Việt Nam. Đến nay, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã nhận được hàng nghìn hồ sơ đề nghị xét duyệt và đã công nhận cây di sản Việt Nam cho hơn 970 cây thuộc 70 loài thực vật.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/4/2015:

Nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe quân và dân vùng biển, đảo

Ngày 16-4, tại TP Tuy Hòa (Phú Yên), Ban chỉ đạo quốc gia về y tế biển, đảo tổ chức hội nghị sơ kết triển khai thực hiện Ðề án “Phát triển y tế biển, đảo Việt Nam đến năm 2020″. Theo đó, ngay sau khi Ðề án được phê duyệt, các bộ, ngành, địa phương đã hỗ trợ cho hệ thống y tế ven biển, trên biển và trên các huyện đảo bằng các hoạt động thiết thực. Người dân sinh sống trên các huyện đảo, xã đảo đã được thụ hưởng chính sách ưu đãi về chăm sóc sức khỏe. Các cơ sở khám, chữa bệnh trên các huyện đảo, xã đảo và ven bờ từng bước được cải thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, giúp người dân có cơ hội được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng hơn…

Ðẩy mạnh đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện vệ tinh

Ngày 16-4, Bộ Y tế tổ chức hội nghị sơ kết thực hiện Ðề án bệnh viện vệ tinh năm 2013- 2014. Theo báo cáo, sau hai năm thực hiện đề án đã thiết lập được mạng lưới, gồm 14 bệnh viện hạt nhân (bệnh viện tuyến trên có đủ năng lực) và 48 bệnh viện vệ tinh (bệnh viện tuyến tỉnh tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật của bệnh viện hạt nhân). Các bệnh viện hạt nhân đã đào tạo được 327 lớp; chuyển giao 293 kỹ thuật, cho hơn 5.600 lượt cán bộ thuộc các bệnh viện vệ tinh, với năm chuyên khoa: Tim mạch, ngoại chấn thương, ung bướu, sản, nhi. Ðáng chú ý, hiện có 37,5% số bệnh viện trong đề án đang có xu hướng giảm tỷ lệ người bệnh chuyển tuyến; các bệnh viện vệ tinh đã làm chủ các kỹ thuật sau khi được chuyển giao, đạt tỷ lệ từ 80% đến 100%…

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/4/2015:

Phẫu thuật ghép thận thành công cho người bệnh suy thận giai đoạn cuối

Ngày 17/4, Bệnh viện Đà Nẵng đã phẫu thuật ghép thận thành công cho người bệnh Dương Thị L (SN 1971, trú quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng), được chị gái hiến thận. Ca mổ được thực hiện với đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Đà Nẵng và sự hỗ trợ của ê-kíp bác sĩ đến từ Bệnh viện Trung ương Huế do Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Phú, Giám đốc làm trưởng đoàn. Ca mổ thành công, sức khỏe người bệnh đã ổn định.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 19/4/2015:

Kêu gọi sự chung tay của mọi người bảo vệ tê giác

Ngày 18-4, tại Ðà Nẵng đã diễn ra Ngày hội “Em yêu tê giác” thu hút đông đảo học sinh đến từ các trường tiểu học trên địa bàn. Ngoài những hoạt động vui chơi, giải trí, văn nghệ… Ban tổ chức cũng tổng kết và trao 13 giải nhất, 22 giải nhì và 21 giải ba cuộc thi vẽ tranh “Yêu Tê giác” cùng một mô hình cổ động giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác. Dịp này, gần 85 nghìn học sinh của tất cả 97 trường tiểu học trên địa bàn TP Ðà Nẵng đã được trao tặng sách, truyện tranh về tê giác.

Chương trình được tổ chức nhằm kêu gọi sự chung tay của tất cả mọi người trong việc bảo vệ loài tê giác tránh nguy cơ tuyệt chủng, bắt đầu từ việc đơn giản nhất là không sử dụng sừng tê giác.

  • Tin trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2015:

Trao giải văn hóa Phan Châu Trinh lần 8

Lễ trao giải văn hóa Phan Châu Trinh lần 8 (năm 2015) vừa diễn ra tại TP.HCM vào đêm 24-3.  Nhiều nhân sĩ trí thức, người quan tâm đến tinh thần canh tân đất nước của nhà cách mạng Phan Châu Trinh đã đến dự.Trao giai van hoa PHan Chau Trinh

Giải nghiên cứu được trao cho nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân vì những công trình nghiên cứu xuất sắc về biển Đông.

Cụm công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam ở biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa của ông trong nhiều năm qua là một phần quan trọng trên mặt trận học thuật trong công cuộc đấu tranh khẳng định chủ quyền của Việt Nam về biển đảo.

Giải dịch thuật được trao cho dịch giả Nguyễn Nghị vì những thành công trong việc chuyển ngữ nhiều tác phẩm kinh điển.

Giải Việt Nam học được trao cho giáo sư Keith Weller Taylor (Mỹ – cựu binh tại chiến trường Việt Nam) vì những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu và truyền bá lịch sử – văn hóa Việt Nam.

Vì lý do sức khỏe, giáo sư Keith Weller Taylor đã không đến Việt Nam nhận giải, nhưng ông đã gửi đến một diễn từ do ông tự viết bằng tiếng Việt.

Với những hoạt động canh tân giáo dục, nhà giáo Phạm Toàn đã thay mặt nhóm Cánh Buồm nhận giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục.

Giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục lần này còn trao cho nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vì những đóng góp đặc biệt trong việc sưu tầm, sáng tạo và truyền bá âm nhạc truyền thống Nam bộ. Ở tuổi 98, nhạc sư lên sân khấu xin phép được ngồi để nói mấy lời, và ông cho biết: “Tôi năm nay 98 tuổi, vẫn còn đờn. Đó là câu trả lời cho câu hỏi rằng nhạc tài tử Việt Nam có cái gì hay”. Mọi người ồ lên, và quả thật sự nghiệp của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là cả một lời nhắn gửi sâu sắc cho những ai có ý định buông xuôi, lười biếng trong công việc.

Khởi động dự án Ngôi đền tinh hoa văn hóa VN

Một nội dung mới trong hoạt động của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh được công bố nhân dịp này là dự án “Ngôi đền tinh hoa văn hóa Việt Nam thời hiện đại” vừa được khởi động.

Đây là “ngôi đền” hiểu theo nghĩa bóng, tức là một hoạt động online, nằm trong sứ mệnh của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, bao gồm: du nhập, phục hưng, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm góp phần canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21.

Theo đó, những nhân vật đã trở thành danh nhân bởi những đóng góp cho văn hóa Việt Nam, tính từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, sẽ được hội đồng đề xuất, bình chọn và quyết định đưa vào vinh danh ở đền.

Ba danh nhân đầu tiên được vinh danh là: Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Những danh nhân tiếp sau sẽ được vinh danh trong mỗi lần trao giải Phan Châu Trinh kế tiếp.

LAM ĐIỀN.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/4/2015:

Trao 75 giải thưởng sách Việt Nam 2014

Ngày 18-4, tại Hà Nội, hưởng ứng Ngày sách Việt Nam (21-4), Hội Xuất bản Việt Nam phối hợp Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức lễ trao các Giải thưởng Sách Việt Nam năm 2014. Giải thưởng sách năm qua thu hút 44 nhà xuất bản với tổng số 479 cuốn sách dự giải, trong đó có 193 cuốn sách đẹp và 286 cuốn sách hay. Kết quả, có 75 giải thưởng được trao, trong đó 42 giải Sách hay và 33 giải Sách đẹp.

Ba giải vàng Sách hay gồm: bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của tập thể tác giả Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia – Sự Thật), Nghiệp vụ thuyền trưởng và sĩ quan boong của tác giả Tiếu Văn Kinh (NXB Giao thông vận tải), Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh của nhà thơ Hữu Thỉnh và nhóm tác giả (NXB Hội Nhà văn). Bốn giải vàng Sách đẹp thuộc về: Liêu trai chí dị (NXB Phụ nữ), Ðoàn Văn Cừ – toàn tập (NXB Hội Nhà văn), Lê Trí Dũng – Tranh ngựa (NXB Mỹ thuật), Ai từng là con nít (6 tập, NXB Trẻ).

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/4/2015:

Phát hiện nhiều tư liệu cổ thời Lê – Nguyễn tại Hà Tĩnh

Trong quá trình tiến hành khảo cứu, sưu tầm các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên địa bàn huyện Kỳ Anh, Bảo tàng Hà Tĩnh đã phát hiện một số bức trướng, đại tự, câu đối và sắc phong bằng văn tự Hán- Nôm cổ có niên đại thời Lê- Nguyễn. Các tư liệu này do nhà thờ họ Nguyễn Trinh thuộc thôn Trung Tiến, xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh cất giữ với chín sắc phong, năm câu đối, hai bức trướng và một đại tự được khắc nổi trên gỗ bằng chữ Hán với kỹ thuật cao. Bức trướng dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840) có các mặt chữ và hoa văn được khảm trai rất tinh xảo.

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 17/4/2015:

Đêm xẩm ở Heritage Space

Ba nghệ sĩ gạo cội trong làng chèo VN là NSND Thanh Hoài, NSƯT Thanh Bình, NSƯT Vũ Ngọc và nhạc công đàn dân tộc hàng đầu – NSND Xuân Hoạch tham gia đêm diễn này.

Diễn ra vào 20g ngày 17-4, chương trình gồm các thể loại xẩm: xẩm ả đào, xẩm chợ, xẩm tàu điện cùng các bài xẩm với lời thơ của các nhà thơ cổ điển và đương đại như: Anh xẩm, Cơm bụi ca, Thập ân…

Xam va doi

Với các nghệ sĩ thì đây là “cuộc chơi” cho thỏa niềm đam mê bao năm giữ gìn hồn xẩm. Với Heritage Space – đơn vị tổ chức chương trình, đêm nhạc là một cách tiếp tục khẳng định vị trí của loại hình cổ nhạc này trong đời sống âm nhạc dân tộc cũng như hi vọng góp phần đưa xẩm tới gần hơn với công chúng đương đại.

Đêm xẩm đang được bán vé trực tuyến tại http://bigtime.vn/chuong-trinh-hat-xam-565 với giá 100.000 đồng/vé, giảm 50% giá vé cho sinh viên.

  • Trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 16/4/2015:

Phim trường Hòa Phú, Củ Chi đi vào hoạt động

 Sau một thời gian giải tỏa mặt bằng và hoàn tất giai đoạn 1 xây dựng hạ tầng cơ sở, phim trường Hòa Phú của Ðài truyền hình TP.HCM (HTV) chính thức đi vào hoạt động. 

Sáng 15-4, tại buổi lễ khởi quay và đưa phim trường Hòa Phú (huyện Củ Chi) vào khai thác, ông Nguyễn Quý Hòa, tổng giám đốc HTV, cho biết: “Phim trường có diện tích 49,5ha.

Sau khi hoàn tất giai đoạn 1, phim trường sẽ tiếp tục xây dựng bốn khu hoàn chỉnh như khu giải trí công viên, phim trường ngoại cảnh, phim trường nội, công trình phụ trợ phục vụ đoàn phim… để phát triển tối đa công năng”.

Phim truong

Trong năm 2015, Hãng phim TFS của HTV sẽ sản xuất bốn phim có bối cảnh được dựng ở phim trường này. HTV cũng có dịch vụ cho thuê phim trường nếu hãng phim tư nhân nào có nhu cầu.

Hiện tại một số chương trình ca nhạc và bộ phim truyền hình Tơ hồng vương vấn (Hãng phim TFS sản xuất, đạo diễn Hồ Ngọc Xum) đang thực hiện những cảnh quay tại đây.

H.LÊ

  • Tin trang 12 báo Tuổi Trẻ ngày 10/4/2015

Trao học bổng cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số

Sáng 9-4, Quỹ học bổng Vừ A Dính đã trao 220 suất học bổng cho học sinh, sinh viên. Đây là những học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số ở ĐH Quốc gia TP.HCM, Trường ĐH Sư phạm TDTT TP.HCM, Trường Dự bị ĐH TP.HCM và Học viện Thanh thiếu niên VN – phân hiệu miền Nam, có hoàn cảnh khó khăn, phấn đấu vươn lên trong học tập. Trị giá mỗi suất học bổng cho sinh viên là 1,5 triệu đồng và học sinh là 1 triệu đồng.

Truong My Hoa trao thuong hoc bong

Từ đầu năm học 2014-2015, Quỹ học bổng Vừ A Dính đã cấp gần 5.000 suất học bổng cho học sinh, sinh viên khắp cả nước. Đây là năm thứ 16 quỹ tiến hành trao học bổng thường niên cho học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số. Toàn bộ tiền cấp học bổng do các nhà tài trợ, mạnh thường quân đóng góp.

Minh Giảng.

  • Tin trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 9/4/2015:

Xây dựng chợ đầu mối hoa Đà Lạt theo mô hình Nhật Bản

Bà Trương Mỹ Hoa – nguyên phó chủ tịch nước, chủ tịch Quỹ học bổng Vừ A Dính – trao học bổng cho sinh viên người dân tộc thiểu số đang theo học tại ĐHQG TP.HCM – Ảnh: Minh Giảng

TP.HCM được chọn liên kết đầu tiên vì đây là địa phương tiêu thụ 70% sản lượng hoa Đà Lạt. Tổng chi phí đầu tư xây dựng chợ hoa đầu mối tại Đà Lạt khoảng 164 tỉ đồng và có công suất tiêu thụ 200 triệu cành/năm.

Mô hình hoạt động chợ hoa liên kết giữa Đà Lạt và TP.HCM được đưa ra như sau: Chợ đầu mối phía TP.HCM đóng vai trò là trung tâm phân phối sẽ thu nhận đặt hàng từ các đơn vị tiêu thụ nhỏ hơn sau đó gửi đơn hàng đến chợ đầu mối phía Đà Lạt, đóng vai trò là trung tâm thu gom. Trung tâm thu gom Đà Lạt nhận hàng ký gửi từ nông dân, xử lý sau thu hoạch, lưu trữ kho lạnh và tổ chức vận chuyển đến TP.HCM.

Tiền bán hoa sau một thời gian (khoảng 7 ngày) sẽ được trả lại về phía trung tâm thu mua để trả lại cho nông dân. Giá hoa phía TP.HCM bán đi phải được căn cứ vào lịch sử bán hàng 7 ngày liên tục gần nhất.

Mô hình vận hành chợ hoa này sẽ kéo dài khoảng 2 năm đầu khi chợ hoa ra đời. Sau khi chất lượng hoa của nông dân nâng lên, chợ hoa sẽ thay đổi mô hình hoạt động. Trung tâm phân phối TP.HCM sẽ nhận đơn đặt hàng và chuyển đơn đặt hàng đến Trung tâm thu gom Đà Lạt. Giá cả sẽ do người sản xuất đưa ra và chuyển hoa đến TP.HCM. Các hợp tác, liên kết sản xuất hoa sẽ được điều phối thông qua chợ đầu mối để đảm bảo cung, cầu ít chênh lệch.

Đại diện JICA nhấn mạnh: “Mấu chốt của chợ hoa này là tiền mua, bán hoa phải được công khai, minh bạch để nông dân được biết. Chợ hoa giải quyết được việc nông dân lâu nay không quyết định được giá bán hoa của mình hoặc mù mờ về giá khi giao cho thương lái trung gian. Khuyến cáo nên dùng nguồn đầu tư công vì nếu tư nhân đầu tư chợ hoa sẽ vận hành theo hướng bị lợi ích của nhà đầu tư tư nhân chi phối”.

Kế hoạch chi tiết xây dựng chợ hoa sẽ tiến hành ngay trong tháng 4-2015 và dự kiến hình thành năm 2017.

MAI VINH

  • Tin trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 17/4/2015:

Hai tàu lực lượng tự vệ bờ biển Nhật Bản thăm Đà Nẵng

Sáng 16-4, hai tàu thuộc Lực lượng tự vệ bờ biển Nhật Bản cập cảng Tiên Sa (TP Đà Nẵng), mở đầu cho chuyến thăm hữu nghị thành phố trong bốn ngày.

Theo đó, hai tàu thuộc Lực lượng tự vệ bờ biển Nhật Bản là JS Kirisame (DD104) và JS Asayuki (DD132) chở hơn 500 sĩ quan và thủy thủ ghé thă mTP Đà Nẵng từ ngày 16 đến 19-4.

Tau Nhat den tham VN

Đoàn do đại tá Sugimoto Masaharu, chỉ huy trưởng Biên đội tàu hộ vệ số 12, làm trưởng đoàn dẫn đầu.

Trong thời gian bốn ngày tàu ở lại, thủy thủ đoàn có các buổi thăm, giao lưu với chính quyền địa phương, hải quân Việt Nam như tổ chức huấn luyện chung trên biển, giao lưu bóng chuyền với BTL Vùng 3 Hải quân, giao hữu bóng đá trong nhà với đội bóng Văn phòng UBND TP Đà Nẵng…

Phan Thành

  • Tin trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 18/4/2015:

Công khai xin lỗi ông Nguyễn Thanh Chấn

Sáng 17/4 tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Nghĩa Trung (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tổ chức buổi xin lỗi, cải chính đối với ông Nguyễn Thanh Chấn (58 tuổi) – người được trả tự do năm 2013 sau 10 năm thụ án tù oan.

Hội trường Ủy ban Nhân dân xã Nghĩ Trung chật kín bởi hàng tram người dân đến dự. Đi cùng vợ chồng ông Chấn là hai người quen thuộc trong hành trình kêu oan cho ông suốt 10 năm qua: ông Thân Văn Hoạt và bà Thân Thị Hải.

Xin loi ong Nguyen Thanh Chan

Ông Ngô Hồng Phúc, phó chánh tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại Hà Nội, đã đọc lời xin lỗi ông Nguyễn Thanh Chân. Theo ông Phúc, năm 2004 Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Giang và tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại Hà Nội đã kết án tù chung thân đối với ông Nguyễn Thanh Chấn về tội giết người. 10 năm sau, bà Nguyễn Thị Chiến (vợ ông Chấn) gửi đơn tố cáo hung thủ giét người là Lý Nguyễn Chung (người cùng thôn Me). Cùng thời gian đó, Lý Nguyễn Chung ra đầu thú và thừa nhận hành vi phạ tội của mình. Ngày 25/1/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đình chỉ ddiefu tra đối với ông Chấn vì có dủ cơ sở kết luận ông Chấn không giết người.

Ông Ngô Hồng Phúc cho biết theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường nước thì ông Chấn được bồi thường và tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại Hà Nội là cơ quan phải xin lỗi công khai và bồi thường cho ông.

Tâm Lụa

  • Bài trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 19/4/2015:

Bỏ tiền xây cầu cho dân đi

Ba năm nay, người dân qua lại cầu Bà Gần, bắc ngang đôi bờ sông Trường Giang nằm giữa hai thôn Vân Tiên (xã Bình Đào) và thôn Hưng Mỹ (xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, Quảng Nam), đã không còn thấp thỏm vì những cái chết trên cầu một thời ăn sâu vào trong tiềm thức.

Năm 2007, bà Hoa khăn gói từ TP.HCM về nơi chôn nhau cắt rốn sinh sống. Những ngày đầu hồi hương, bà nghe người dân trong vùng kể nhiều mẩu chuyện xoay quanh cầu Bà Gần rằng bấy lâu nay cầu trở thành điểm đen về tai nạn giao thông khiến người dân khiếp đảm.

“Một ngày trung tuần tháng 9-2012, tôi trực tiếp chứng kiến cảnh một phụ nữ chạy xe qua cầu, bất ngờ mất lái lộn nhào xuống sông và bị cuốn phăng theo dòng nước xiết. Cái chết đau lòng đó thôi thúc tôi tu bổ lại cây cầu” – bà Hoa chia sẻ.

Xay cau cho dan di

Và chỉ sau một tháng miệt mài thi công với sự góp công của dân làng, cây cầu Bà Gần được khoác lên mình “chiếc áo mới”. Ngày cây cầu có chiều dài gần 40m khánh thành, hàng nghìn người dân sống quanh cây cầu mừng vui và cảm kích tấm lòng hào hiệp của bà Hoa. Con số mỗi năm có cả chục người chết khi qua cầu cũng chấm dứt.

“Ba năm qua chưa có vụ tai nạn nào xảy ra trên cầu và bà con ở đây cảm thấy an tâm tuyệt đối. Bây giờ mùa mưa dù cho nước sông dâng cao, người dân cũng không sợ” – một người dân thôn Hưng Mỹ cho biết.

Nhắc đến việc làm của bà Hoa, bà Phan Thị Đường – chủ tịch Hội Chữ thập đỏ xã Bình Triều – nói: “Ngoài góp công lớn xây cầu, chị Hoa luôn nhiệt tình với công tác xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Chị đang cùng với tổ chức Hội Chữ thập đỏ nhận đỡ đầu cho những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã. Chị là tấm gương để mọi người dân ở đây học tập, noi theo”.

THANH – DUY

  • Bài trang 13 báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 19/4/2015:

Lớp học tiếng Anh ở làng chài

Trong cái nắng vàng của sáng chủ nhật, xen giữa những mái nhà tạm bợ là lớp học nhỏ trên một chiếc thuyền được xây dựng kiên cố.

Lớp học tại làng chài nghèo nằm ven sông Lạch Tray thuộc phường Ngọc Sơn (Q.Kiến An, TP Hải Phòng). Vừa thấy bóng anh Phạm Thái Huy (21 tuổi, sinh viên khoa tiếng Anh Trường đại học Hải Phòng) đi xe đạp tới, những đứa trẻ đang nô đùa trên đường làng ven sông náo nức gọi nhau đến lớp.

Cậu bé Trần Trung Thành (6 tuổi) hô lớn: “Vào lớp thôi mấy bạn ơi, thầy giáo đến”, rồi nhanh chóng chạy vút vào chiếc thuyền nhỏ để lấy túi sách được chuẩn bị sẵn đến lớp học. Tự sắp bàn học ra sàn ngay ngắn, các cô cậu học sinh với quyển vở và tấm bảng chữ cái tiếng Anh háo hức chờ đợi buổi học bắt đầu.

Thường buổi học chỉ kéo dài hơn hai giờ nhưng không khí học tập luôn sôi động với những cánh tay liên tục xung phong phát biểu.

“Cháu chỉ mong ngày cuối tuần tới thật nhanh để được đến lớp học cùng các bạn. Ở đây thầy giáo dạy dễ hiểu, lại hay có thưởng nên cháu rất thích” – Kiên, một học sinh trong lớp, nói. Cuối buổi học, các bạn nhỏ thường được giải trí bằng các hoạt động như xem phim hoạt hình hoặc trò chơi vận động liên quan đến tiếng Anh.

“Trước kia khi lớp mới hình thành, các em bỏ học thường xuyên vì than khó và thường phải phụ gia đình làm thêm việc nhà. Sau một thời gian kiên trì thuyết phục và theo đuổi, đến nay các em tiếp thu nhanh và rất thích đến lớp” – Huy chia sẻ. Mới đó mà đã nửa năm từ khi lớp học ra đời.

Lớp học hình thành từ ý tưởng của chị Phạm Thị Mến – giảng viên khoa tiếng Anh Trường đại học Hải Phòng, chủ nhiệm Câu lạc bộ English For All – và du học sinh tại Anh là Hoàng Đức Huy đề xướng.

Mỗi năm anh Huy góp 16 triệu đồng để lớp học có chi phí duy trì ổn định. Anh Huy chia sẻ: “Ngay từ khi mới thành lập đã nhận được sự hưởng ứng, ủng hộ nhiệt tình của khoa tiếng Anh Trường ĐH Hải Phòng lẫn các sinh viên tình nguyện”.

20 tình nguyện viên được chọn từ khoa chuyên ngành tiếng Anh Trường ĐH Hải Phòng phân công phụ trách từng khối lớp khác nhau.

“Mỗi tình nguyện viên tham gia chương trình được hỗ trợ 50.000 đồng mỗi buổi, nhưng các bạn thường bỏ thêm tiền túi mua bút mực, sách vở và bánh kẹo động viên các em nhỏ có thành tích học tập tốt” – chị Mến cho biết.

Ở làng chài có 24 hộ dân sinh sống đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và chỉ số ít biết chữ nên ai cũng đều mong muốn con được đến lớp học.

Ông Trần Văn Đoan (57 tuổi, quê gốc ở Hải Dương) nói về cháu ngoại Trần Văn Việt (6 tuổi) đang theo học tại lớp: “Cả nhà tôi đều không biết chữ nên mong muốn cháu được đến lớp cho bớt khổ. Ngày cuối tuần thấy cháu đi học về là lại ê a đọc tiếng nước ngoài, dù mình không hiểu nhưng trong lòng vẫn thấy phấn khởi”.

Lop hoc tieng Anh

Ông Đoan cho biết thêm trước kia khi không có lớp học cháu vẫn thường phải đi đánh cá phụ ông bà nhặt con tôm con tép, giờ có lớp học thì ông bà cố gắng làm để cho cháu đến lớp.

Nói về dự định sắp tới, anh Huy cho hay nhóm đang tổ chức tìm kiếm thêm các cộng tác viên và có ý tưởng sẽ tiếp tục mở thêm lớp xóa mù chữ vào buổi tối cho người dân trong làng chài.

TIẾN THẮNG

Có một tiệc liên hoan tao ngộ nửa đêm giữa Sài Gòn mới giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:00 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 5 năm 2015.

40 năm giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước

CÓ MỘT TIỆC LIÊN HOAN TAO NGỘ NỬA ĐÊM

GIỮA SÀI GÒN MỚI GIẢI PHÓNG

Huỳnh Biếc

(Phạm Thanh Tâm)

(Trích trong sách Dung dăng dung dẻ – NXB Trẻ 2014, các trang 6-8)

Sài Gòn 22 giờ ngày 3 tháng 5 năm 1975. Lác đác dọc đường Gia Long quẹo Pasteur, từ Sở thú trông thẳng phía dinh Độc lập toàn bộ đèn điện rực sáng, sáng choang khu quận 1, thấp thoáng bóng dáng yểu điệu quần loe đỏ, tím, áo ba lỗ… lại đã xuất hiện chập chờn chờ đónPham Thanh Tam khách, đứng nơi sấp bóng dưới hàng cây cao vút – đó là các cô “làm gái” – yên tĩnh đã trở về với Sài Gòn; còn yên tĩnh hơn bao giờ hết. An ninh tuyệt đối vì sạch bóng Mỹ với Ngụy quyền.

Thấy anh bộ đội trẻ đang bước đi thong thả tới gần, một cô gái áo mầu nõn chuối háo hức muốn làm quen. Hồi hộp, ngại ngùng mãi, rồi cô đánh bạo bước ra: “Em chào anh bộ đội! Chào anh…”. Đã để mắt và đã được biết các cô là ai, nên anh bộ đội cũng lịch sự chào lại. Anh hỏi luôn cô có chuyện gì không? Cô lúng búng, rồi cũng biểu lộ được tình cảm mừng rỡ, mong chờ quân ta về thành phố. Cô khen quân giải phóng đẹp, khỏe mạnh, hùng dũng mà hiền khô. Vừa nói cô vừa cảm nhận anh bộ đội hiền khô thiệt: thiệt thà, hòa nhã và “dễ thương” một cách “dễ sợ”…

Yên tâm ngay, cô gái chẳng còn lo gì nữa. Chẳng cần ý tứ, dò xét gì nhiều, ấp úng một chút, rồi cô thẳng thắn vào đề ngay điều cô đang khao khát: “Anh có đi chơi, … với em bây giờ không?”.

Thật bất ngờ, nhưng bình tĩnh, không nỡ chối từ ngay, anh bộ đội nảy ý vui tò mò, tinh nghịch rất hồn nhiên:

  • Cô rất xinh, con gái Sài Gòn rất đẹp. Nhưng… nhưng tôi mới Hà Nội vào, bận chiến đấu, không ai có tiền mang theo…

Như linh tính báo trước, cô đón lời ngay: – “Không sao, không sao đâu, khỏi lo: với anh thì Kỷ niệm đầu tiên – em xin hiến… mà!”.

Lại quá bất ngờ cho anh bộ đội tuổi 20  – trai tơ! Kể muốn lắm đấy – nhưng “hổng dám đâu” vì nhiều lẽ. Anh ngẩn ngơ ấp úng như thợ vụng mất kim… Hiểu ngay người trai lạ còn mới toanh “chưa bóc tem” này rất tự trọng, chẳng bao giờ nhận kiểu “tình cho không, biếu không” cô ngập ngừng tìm giải pháp “có đi có lại” sòng phẳng…

  • Hay là… anh đánh đổi cho em bằng bánh lương khô vậy! Em nghe nói bánh lương khô bộ đội thiệt là ngon! Cô cười khúc khích chữa thẹn, như chưa bao giờ thế giới lại có người lái buôn nào vô tư… đến thế. Đừng tưởng rằng anh bộ đội sẽ tỏ lòng thương hại. Mà anh xúc động rưng rưng. Rồi bỗng hồ hởi dịu dàng bảo cô gái chờ chút, anh gọi một đồng đội đang đi tới, rồi bảo cô gọi thêm hai cô gái đang bồn chồn đứng gốc cây bên kia đường.

Mỗi anh lấy từ túi dết ra ba gói lương khô đậu xanh, tổng hợp và BA 70, mời các cô cùng bóc bánh. Đã có hai bi đông nước trà Ba Đình pha sẵn mang theo. Tất cả năm người xúm lại liên hoan bên một ghế đá. Bữa “tiệc” thật ngon lành, thật giản dị và vô cùng độc đáo này đã được tổ chức tao ngộ giữa đường phố lớn trung tâm Sài Gòn mới giải phóng.

Vào lúc nửa đêm về sang, cả thành phố êm đềm giấc ngủ không ồn ào xe cộ, không còn người qua lại huyên náo.

Chỉ gió mát tiếng cười thân mật và nhẹ thoáng lá me rơi.

H.B.

Sài Gòn ngày đầu giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:58 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 5 năm 2015.

40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

SÀI GÒN NGÀY ĐẦU GIẢI PHÓNG

Nhà thơ Vương Trọng

(Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/4/2015)

Những ngày này cách đây tròn 40 năm, tôi cùng các nhà thơ Duy Khán, Gia Dũng theo cánh quân tiến vào Sài Gòn, và ở lại đấy 14 tháng liền, từ đầu tháng 5-1975 đến tháng 7-1976. Nhân dịp kỷ niệm ngày hoàn toàn giải phóng miền nam, xin giới thiệu với bạn đọc một ghi chép nhỏ cùng một bài thơ viết từ ngày đó.

Trong con mắt những người lính chúng ta, thành phố Sài Gòn những ngày mới giải phóng có nhiều điều lạ. Thứ nhất là quang cảnh hỗn độn do sự tháo chạy của ngụy quân, ngụy quyền để lại. Ðường phố nào cũng vung vãi quân phục, ba-lô lính ngụy trút ra. Dọc những trục đường về sân bay Tân Sơn Nhất, nhất là trong sân bay, không biết bao nhiêu ô-tô, xe máy vất lại khi gặp trở ngại hoặc chủ của nó đã tẩu thoát ra nước ngoài bằng đường hàng không. Trên một ngôi nhà bên đường Trương Minh Giảng, một chiếc trực thăng rơi xuống, nằm nghiêng, cánh quạt chìa hẳn ra ngoài đường phố, khiến ai đi ngang qua cũng ngước mắt nhìn lên. Chiếc trực thăng đó đã bị hỏng, cứ nằm trong tư thế chênh vênh như vậy nhiều tuần, còn ô-tô, xe máy phần nhiều còn tốt, còn xăng… nhưng lính ta không bao giờ đụng đến vì quy định nghiêm ngặt của quân đội đã được thuộc lòng trước khi vào giải phóng thành phố. Một anh bạn nhà báo nói với tôi rằng, trong mấy ngày cuối của Chiến dịch Hồ Chí Minh, mình anh đã sử dụng năm chiếc Hon-đa do chủ của nó vất lại trên đường để làm phương tiện đi lại tác nghiệp, có khi xe này hết xăng thì lấy xe khác! Ðiều lạ thứ hai là thành phố có nhiều nhà cao tầng, đường sá rộng và nhẵn, đặc biệt là xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa. Nhiều chiến sĩ ta xuất thân từ nông thôn, trước khi đến Sài Gòn chưa từng biết đến một thành phố, thậm chí một thị xã nào, chưa từng thấy một ngôi nhà hai tầng chứ nói chi đến nhà cao tầng như các khách sạn bên đường Nguyễn Huệ. Ngay những người từ Hà Nội vào cũng ngỡ ngàng nhiều thứ. Nhà cửa, đường sá chỉ là một chuyện, cái làm mọi người chú ý nhiều hơn là nếp sinh hoạt của thành phố. Vừa mới giải phóng, chính quyền cách mạng chỉ có thể tập trung vào việc bảo đảm an ninh, còn các thứ khác thì vẫn tiếp diễn theo nếp cũ. Dọc các tuyến phố có các trò giải trí để kiếm tiền như từng tốp người diễn các trò ảo thuật, bày bàn cờ thế, hoặc chọi gà… Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy một tổ gồm các chị em làm công tác quét dọn đường phố lại bị sự chỉ huy, giám sát trực tiếp của một người đàn ông đầu đội mũ phớt, tay cầm ba toong, miệng hút tẩu, gọi là cai. Ðiều ngạc nhiên lớn nhất là mỗi khi màn đêm buông xuống, tại bùng binh trước chợ Bến Thành, hàng trăm cô gái làm nghề “bán hoa” tập trung lại, để cho khách đàn ông kéo đến lựa chọn, mặc cả! Trước năm 1975, ở miền bắc nước ta không hề có một người phụ nữ nào làm nghề mại dâm, nên những chuyện diễn ra ở bùng binh đó là chuyện “chướng tai gai mắt”, “không thể chấp nhận” được đối với cán bộ và bộ đội chúng ta. Phải đến hơn nửa năm sau ngày giải phóng, chúng ta mới dẹp được “chợ người” này.

Sài Gòn có nhiều thứ lạ, nên đi xem phố là sở thích của nhiều người lính khi được phép ra ngoài doanh trại. Hơn nữa, những ngày đó, nhân dân Sài Gòn đặc biệt yêu quý bộ đội ta, nên bộ quân phục Giải phóng “có giá” vô cùng. Chủ của tất cả các phương tiện giao thông đều không lấy tiền vé bộ đội, lại bố trí cho ngồi những chỗ tốt nhất. Khi đi những tuyến xe đường dài, chủ xe còn “bao” chuyện ăn uống cho bộ đội, làm lính ta nhiều khi lâm vào hoàn cảnh khó xử, nhưng không thể thoái thác sự ưu ái đó, vì họ bảo rằng đó chỉ là một cử chỉ nhỏ thể hiện lòng biết ơn bộ đội Giải phóng. Không chỉ chủ xe ưu ái bộ đội, mà ngay các hành khách trên xe cũng đặc biệt có tình cảm với lính ta. Có người nắn sờ áo lính, khen đẹp; đặc biệt nhiều người chú ý đôi dép cao-su, loại dép đúc thời ấy lính ta thường dùng. Họ khen đẹp, khen đi nhẹ, đi êm, không phát ra tiếng động… Nghĩa là trong con mắt và ý nghĩ của người dân Sài Gòn ngày ấy, người lính chúng ta và cả những gì thuộc về người lính thật tuyệt vời. Có điều lạ nữa là khi chúng tôi mặc thường phục thì những người buôn bán mời chào: “Anh bộ đội ơi, mua cho em…”, nghĩa là người dân Sài Gòn vẫn nhận ra mình là bộ đội, điều rất khó lý giải!

Hinh ve Pham Thanh Tam

Phần đông lính chúng ta dạo phố không phải để mua bán (vì không có tiền) mà xem phố, xem những cái lạ của thành phố. Là một người lính, tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng còn là một nhà báo, nhà thơ, ngoài việc tìm những cái lạ của thành phố, tôi còn quan sát và tìm điều lạ ngay ở những người lính đi xem phố. Như trên đã nói, khi dạo phố, hầu hết lính ta đều mặc quân phục, một mặt vì dân Sài Gòn rất yêu quý bộ quân phục, hơn nữa, lính ta làm gì có thường phục để mặc, dù có đơn vị khuyến khích bộ đội trong giờ nghỉ đi dạo phố nên mặc thường phục. Thế là trong đa sắc màu của thành phố, quân phục là một gam màu quan trọng, tạo nên sắc màu đặc trưng của Sài Gòn những ngày mới giải phóng. Khi đi xem phố, lính ta thường đi theo nhóm để khỏi lạc, cùng đi, cùng về. Trong những tốp lính dạo phố, tôi đặc biệt chú ý đến những nữ quân nhân, vốn là những chiến sĩ giao liên hoạt động nhiều năm trên tuyến đường Trường Sơn, tức là người làm nhiệm vụ dẫn đường cho các đơn vị bộ đội đi từ binh trạm này đến binh trạm khác. Ở rừng, thì chiến sĩ giao liên là người thông thạo đường nhất, ban đêm không đèn đuốc vẫn đưa quân đi không lạc đường. Thế mà trên đường phố Sài Gòn, nhiều cô giao liên đã lạc, phải nhờ người chỉ đường! Nói chung các tốp lính đi dạo phố không quen biết nhau, vì không cùng đơn vị, chỉ riêng các cô giao liên là gặp được nhiều người quen vì phần đông trước khi vào giải phóng Sài Gòn, lính ta từng đi qua nhiều binh trạm, đã từng là “khách” của các cô giao liên. Trông các cô gái giao liên đi dạo phố, đâu chỉ mầu quân phục khác với chung quanh, mà còn có một điều làm tôi chú ý: mầu da sốt rét rừng của các cô cũng khác xa sắc mặt người dân thành phố. Sau khi gặp gỡ, trò chuyện và chỉ đường cho mấy cô giao liên, trở về nơi làm việc tôi viết bài thơ sau đây:

Trên đường phố Sài Gòn

Vẫn nguyên vành mũ lá sen

Vẫn đôi dép đúc vốn quen đường rừng

Vẫn quân phục cũ nửa chừng

Dáng em không lẫn giữa rừng người chen.

– Xin chào cô gái giao liên

Lạ chưa, quên mất người quen ngày nào!

( Phố phường có dễ nhận đâu

Trách em cũng chỉ một câu trách đùa)

Em nhìn, đôi mắt mở to:

– Ơ kìa, anh cũng đã vô đây rồi

Mới đi một quãng đường thôi

Mà em gặp được bao người khách quen!

Cúi nhìn túi xách của em

Lại đùa: Chiếc gậy giao liên đâu rồi?

Căng tròn quai mũ em cười

Mắt trong em ngước nhìn trời cờ bay:

– Gậy em ngày đó cầm tay

Bây chừ thành cán cờ này, đó anh!

Chia tay, ngoảnh lại mấy lần

Nhìn theo vành mũ khuất dần phố đông

Tôi đi bước bước ngập ngừng

Thương em đôi má sốt rừng còn xanh!

V.T.

*

*      *

HÃY ĐỂ THỜI GIAN TRẢ LỜI BẰNG SỰ THẬT

ETCETERA NGUYỄN

Tổng thư ký tuần báo Việt Weekly (Mỹ)

(Bài trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/4/2015)

LTS – Sinh tại Việt Nam, lớn lên tại Mỹ, mấy năm gần đây trong tư cách Tổng thư ký tuần báo Việt Weekly (Mỹ), Etcetera Nguyễn có dịp trở về Việt Nam để tác nghiệp. Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, Etcetera Nguyễn gửi tới Báo Nhân Dân bài viết nói lên suy nghĩ của mình về thực chất hoạt động “chống cộng” ở hải ngoại, về vai trò của Việt Weekly trong khi đưa tin khách quan, trung thực về tình hình đất nước… Chúng tôi trích giới thiệu với bạn đọc bài viết này (đầu đề là của Tòa soạn).

Trên bề mặt, nếu nhìn vào các sinh hoạt nổi bật ở Little Saigon (Sài Gòn nhỏ – PT chú) (California) vào tháng 4 hằng năm, đặc biệt là ngày 30-4, người Mỹ bản địa và những vị khách chưa hiểu biết một cách thấu đáo về vấn đề, vẫn bị thu hút bởi mầu vàng của lá cờ “3 sọc đỏ” được treo khắp các con phố, trục lộ chính, nơi có nhiều cơ sở thương mại của người Mỹ gốc Việt buôn bán, làm ăn. Rồi nhiều cuộc hội họp, lễ lạt mang tính chất “tố cộng” được tổ chức rầm rộ. Các hội đoàn chính trị, các chính khách địa phương tập hợp tại “Tượng đài Việt – Mỹ” ở trung tâm TP Westminster để kể lại trận chiến bị thua, về vết thương còn âm ỉ! Các sinh hoạt chính trị đó được các tờ báo của cộng đồng ghi lại, thổi lên thành “ngọn lửa căm thù chế độ cộng sản, căm thù chính phủ Việt Nam”. Việc này lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua, và tất nhiên, có tác động đến những ai bị mất mát của cải, địa vị xã hội, quyền lợi chính trị từng có trước đây. Nhìn bề mặt thì như thế, nhưng theo ghi nhận của tôi, có yếu tố “đằng sau hậu trường” đáng ngạc nhiên. Và tôi có thể khẳng định rằng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở Nam California, không cực đoan như các tờ báo cộng đồng cố tình mô tả.

Kể từ sau năm 1995, sau khi bang giao Mỹ và Việt Nam được thiết lập, đã có những người Mỹ gốc Việt đầu tiên trở về Việt Nam để tìm lại hình ảnh quê nhà thân thương, để thăm viếng; đã có những doanh gia lặng lẽ về nước tìm cơ hội làm ăn, giao thương buôn bán. Hơn 20 năm qua, các chuyến thăm thân, du lịch, giao dịch không còn là việc làm âm thầm, đơn lẻ nữa. Con đường nhỏ nay đã trở thành đại lộ thênh thang, không hạn chế bất cứ ai. Những năm gần đây, vị thế chính trị, kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế đã trở nên quan trọng, được đánh giá là một nước có nhiều tiềm năng kinh tế, phát triển tại Đông – Nam Á.Các chuyến thăm hữu nghị của các cấp lãnh đạo Việt Nam ra quốc tế và ngược lại diễn ra đều đặn, ngày một nhiều hơn… Tuy nhiên, những thông tin tích cực ở Việt Nam đã không đến được với người dân bản địa. Có chăng thì đều bị bóp méo, xuyên tạc bởi những “nhà chính trị”, các “tổ chức chính trị” có quan điểm khác với Chính phủ Việt Nam. Bức tranh thực tế của đất nước đã bị một lớp sương mù bao phủ, làm nhiễu loạn có mục đích. Vậy mục đích, động cơ của các “nhà hoạt động chính trị cộng đồng” là gì?Họ muốn điều gì để rồi luôn luôn có thái độ thù nghịch với Chính phủ Việt Nam?

Nếu như trước đây, các cá nhân hám danh lợi, các tổ chức và hội đoàn chính trị từng có tham vọng “lật đổ chế độ cộng sản” bằng bạo lực, để phục hồi quyền lực đã có một thời, thì theo thời gian, họ biết rằng không thể làm được điều đó vì không có khả năng, thực lực. Khi biết không thể làm thay được quyền lãnh đạo đất nước, các “nhà hoạt động chính trị” này lại nỗ lực tự biến mình thành một thứ chính quyền trong cộng đồng nhỏ, họ áp đặt “chủ nghĩa chống cộng cực đoan” lên người có cùng cảnh ngộ. Họ muốn biến “cộng đồng tị nạn” thành một tập thể cực đoan, luôn hô hào chống cộng dưới mọi hình thức để trục lợi cho cá nhân, tổ chức của mình. Quyền lợi chính trị này không đến từ Việt Nam, mà đến từ chính nước sở tại vào mùa tranh cử hai hoặc bốn năm một lần ở các cấp từ tiểu bang tới liên bang. Để có lá phiếu của cử tri gốc Việt, các ứng cử viên người bản xứ tìm đến vận động, xin hay “mua” từ những nhà lãnh đạo cộng đồng qua chiêu bài “chống cộng”, hay “dân chủ, tự do, nhân quyền”. Vào mùa tranh cử, các tổ chức chống cộng cấu kết với các cơ quan “truyền thông chống cộng” thao túng sinh hoạt cộng đồng. Các khó khăn, vấn nạn xã hội, hiện tượng tiêu cực ở Việt Nam là “nguyên liệu tốt” cho những nhà hoạt đầu chính trị cộng đồng nhào nặn thành “bánh vẽ”, tạo nên chiếc khiên đỡ, che đậy các động cơ chính trị tư lợi. Vào dịp đó, cộng đồng Việt ở Nam Cali thường hoạt động rất sôi nổi, đây là dịp cho những tay hoạt đầu chính trị nhảy ra chiếm diễn đàn để chống cộng, để chụp mũ nhau loạn xạ, bất kể đúng sai, nhao nhao muôn vàn hình thức “chống cộng” như biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam, đòi tự do cho “nhà bất đồng chính kiến” v.v… Biểu tình chống phá Việt Nam để tạo tiếng vang, ghi thành tích; biểu tình đe dọa, chụp mũ lẫn nhau là cộng sản để cạnh tranh buôn bán xảy ra thường xuyên (và biết đâu là giành cho được ngân sách tranh cử rơi vào túi của họ?). Chiếc bánh quyền lợi được chia đều cho một thiểu số tổ chức đấu tranh, các tay lãnh đạo cộng đồng; một số tờ báo, cơ quan truyền thông chống cộng cũng được hưởng quyền lợi thông qua việc quảng cáo tranh cử. Vì thế, quyền lợi vật chất, chính trị của một thiểu số sẽ tiếp tục tồn tại, nếu đa số người Mỹ gốc Việt thiếu thông tin khách quan, trung thực về Việt Nam.

Trong sự ngột ngạt đó, từ năm 2006, các phóng viên Việt Weekly quyết định tìm về Việt Nam làm tin tức tại chỗ. Với chủ trương đi tận nơi, tìm hiểu đưa tin khách quan, trung thực để một làn gió mới về thông tin từ Việt Nam được đưa thẳng tới cộng đồng. Đã có hàng loạt phóng sự về đời sống vùng miền, các cuộc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp từ người dân đến các cấp lãnh đạo từ địa phương tới trung ương… Hoạt động này mang lại nhiều điều mới mẻ, khác lạ giúp kiều bào khắp nơi trên thế giới thấy và hiểu hơn về Việt Nam. Đặc biệt là những chuyến đi thăm biển, đảo được Nhà nước Việt Nam, qua Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức các năm gần đây, đã cho thấy thực chất những gì đang diễn ra ở vùng biển chủ quyền đất nước, giúp độc giả ở hải ngoại hiểu hơn tình hình thực địa chủ quyền biển, đảo. Từ năm 2013 tới nay, cá nhân tôi, là phóng viên người Mỹ gốc Việt duy nhất hiện sống và làm việc công khai thường trực tại Việt Nam. Tôi đã có cơ hội đi nhiều nơi, tự mình tìm hiểu đời sống thực tế của người dân. Tới đâu tôi cũng chú ý lắng nghe, ghi nhận tường tận và cụ thể những câu chuyện người thật, việc thật. Hỏi chuyện, đại đa số người dân đều muốn yên ổn làm ăn. Họ cố gắng làm việc với ước mong một cuộc sống ngày càng khá hơn. Ai nấy đều muốn hòa bình để làm kinh tế. Điều gây ấn tượng nhất đối với tôi khi làm việc ở Việt Nam chính là thế hệ trẻ. Trong những ngày ở Việt Nam, tôi chọn bờ hồ Gươm ở Hà Nội làm “văn phòng lưu động” vừa làm báo, vừa ngồi vẽ tranh cho du khách, tôi có cơ hội thấy nhiều học sinh, sinh viên ra đây gặp khách ngoại quốc để thực tập tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Nhật, v.v. Tôi chia sẻ với những ước vọng của họ, những hoạt động xã hội của họ và nghĩ đến đất nước trong tương lai. So với Mỹ hay những nước phương Tây, Việt Nam còn nhiều điều cần đổi mới, cần chấn chỉnh từ luật pháp tới hành pháp, từ kinh tế tới giáo dục và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng tựu trung, so với thời trẻ của tôi hồi còn ở trong nước, giới trẻ hiện nay sống vui, có điều kiện hơn nhiều. Những người ngoại quốc đến làm ăn, du lịch ở Hà Nội và các vùng miền mà tôi đã gặp đều nhận xét tích cực, lạc quan về con người, đất nước Việt Nam. Mùa Giáng sinh vừa qua, tôi có dịp về quê nội ở Nam Định. Về thăm quê, tôi kinh ngạc khi thấy vô số nhà thờ lớn nhỏ, cũ mới đan xen nhau theo từng họ đạo. Tôi đã ghi hình các buổi lễ với vài nghìn giáo dân đứng tràn ra ngoài đường phố. Sau Tết Nguyên đán, tôi lại có dịp tham quan, ghi nhận nhiều lễ hội ở miền bắc. Người dân được tự do bày tỏ tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo của mình. Những gì tôi thấy thực tế ở Việt Nam là hoàn toàn khác so với hình ảnh Việt Nam “đàn áp tôn giáo” được nói đến ở hải ngoại…

Ở hải ngoại, phần lớn người Mỹ gốc Việt chọn thái độ im lặng để sống yên ổn. Con cái họ đã thành công trong công việc, nhiều người lớn tuổi đã về hưu hưởng phúc lợi xã hội. Sự thầm lặng của đám đông không đồng nghĩa với cực đoan mà chúng ta thấy. Số đông này vẫn có những mối liên hệ trực tiếp với Việt Nam. Số đông này ngày càng hiểu hơn khi được tiếp cận với các thông tin khác nhau đến từ mạng xã hội, đến từ các cơ quan truyền thông như Việt Weekly. Do đó, việc thông tin trực tiếp, khách quan từ báo chí độc lập như Việt Weekly đã góp phần tích cực, thuyết phục với những người xa xứ. Bản thân tôi có được một chút kinh nghiệm làm báo ở Việt Nam nhờ sống tại chỗ, tham gia nhiều sự kiện diễn ra hằng ngày ở Hà Nội. Các bài viết, phóng sự, video chúng tôi thực hiện trong thời gian qua, được độc giả khắp nơi đón nhận và khen ngợi, động viên. Độc giả đòi hỏi chúng tôi đi nhiều hơn, làm nhiều hơn nữa, để giúp họ được hiểu biết Việt Nam hơn. Đó chính là phần thưởng và động lực, nguồn động viên cho công việc báo chí của Việt Weekly.

40 năm suy nghĩ về sự kiện lịch sử 30-4, là một nhà báo sống ở nước ngoài trở về Việt Nam làm việc, tôi thấy công việc của mình ngày càng thú vị, hữu ích hơn cho độc giả của Việt Weekly ở khắp nơi trên thế giới. Có lẽ, chọn lựa trở về của tôi và anh chị em trong Việt Weekly chẳng khác nào những “con cá dám vượt vũ môn” từ một cộng đồng xa xôi, vẫn còn một nhóm người cực đoan, chống phá Nhà nước Việt Nam. Hãy cứ để thời gian trả lời bằng sự thật. Và chúng tôi, các nhà báo nguyện làm công việc khách quan, trung thực, để cung cấp những thông tin chính xác, nhanh nhạy đến người ở ngoài nước, không may mắn có được cơ hội tiếp cận thực tế.

E.N.

*

*    *

Chương trình cầu truyền hình đặc biệt

Hà Nội – Huế – TP Hồ Chí Minh Nghĩa tình sắt son

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/4/2015)

Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2015) và kỷ niệm 55 năm kết nghĩa ba thành phố Hà Nội – Huế – Sài Gòn, tối 11-4, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp Đài PT – TH Hà Nội, Đài PT – TH Thừa Thiên – Huế và Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tổ chức cầu truyền hình đặc biệt: “Hà Nội – Huế – TP Hồ Chí Minh – Nghĩa tình sắt son“.

Chương trình diễn ra tại ba điểm cầu: Cột cờ Hà Nội (Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam)- Quảng trường Ngọ Môn (TP Huế) và Hội trường Thống nhất (TP Hchuong trinh nghia tinh sat sonồ Chí Minh). Đến dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và các đồng chí lãnh đạo ba thành phố và Bộ Công an. Tham dự chương trình, có các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng LLVT, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cựu chiến binh, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và đông đảo nhân dân của ba thành phố.

Cầu truyền hình đặc biệt được tổ chức, nhằm nêu bật sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc và chặng đường dài chiến đấu, hy sinh của quân và dân cả nước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó có phần đóng góp quan trọng của quân và dân ba thành phố Hà Nội – Huế -TP Hồ Chí Minh. Chương trình diễn ra trong hơn 120 phút thể hiện tình nghĩa keo sơn, gắn bó thủy chung giữa ba thành phố kết nghĩa, đại diện cho ba miền bắc, trung, nam, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử và quá trình 40 năm xây dựng và phát triển của ba thành phố lớn. Nhiều ca khúc hào hùng đi vào lòng người dân Việt Nam đã được các ca sĩ của ba thành phố biểu diễn trên sân khấu các đầu cầu truyền hình chào mừng ngày hội lớn của dân tộc, như: Đôi bờ Hiền Lương, Hát cho dân tôi nghe, Hà Nội – Huế -Sài Gòn, Bài ca thống nhất, hoạt cảnh:Năm cánh quân – tiến về Sài Gòn…

Đan xen các cuộc gặp gỡ là các phóng sự, phim tư liệu và giao lưu trực tiếp với những hồi ức của nhiều nhân chứng lịch sử,… góp phần tái hiện chiến dịch Hồ Chí Minh và thời khắc lịch sử của ngày thống nhất đất nước. Đó là câu chuyện đầy cảm động của những thành viên trong đội du kích 11 cô gái sông Hương kể về khát vọng chiến đấu của những người con xứ Huế để mong có ngày thống nhất, đón Bác Hồ vào thăm; là những ký ức của nhà thơ Trần Đăng Khoa về những năm tháng không thể nào quên với hình ảnh lao động và chiến đấu của hậu phương lớn miền bắc dành cho tiền tuyến lớn miền nam; chia sẻ của bà Hoàng Thị Khánh, Trưởng Ban liên lạc Cựu tù chính trị và Tù binh TP Hồ Chí Minh về cuộc đấu tranh của phụ nữ miền nam cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đặc biệt là những kỷ niệm đẹp và đầy cảm xúc trong ngày đầu tiếp xúc giữa bộ đội ta và nhân dân thành phố Sài Gòn mới giải phóng của đại tá, họa sĩ Phạm Thanh Tâm, một trong những văn nghệ sĩ quân đội đầu tiên đi theo Quân đoàn 2 tiến vào thành phố khi đó…

Khach tham quan trien lam chuyen de tuong tung bi giam

Chương trình được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và hai Đài PT-TH Hà Nội, Thừa Thiên – Huế cùng nhiều đài truyền hình địa phương trong nước.

 

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 5 năm 2015)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 2:46 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 5 năm 2015.

CÙNG BẠN ĐỌC

Chúng tôi vui mừng thông báo với các bạn là: tính đến 19:21 ngày 23/4/2015 đã có tới 1.668.239b lượt người truy cập blog của chúng ta; ngày đông nhất lên tới 10.005 lượt người  là ngày 30/4/2011. Bài  được truy cập nhiều nhất là Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế của Phạm Tôn với 62.762 lượt người, bài thứ nhì là Chuyện 16 con người năm Ất Dậu ấy của Lê Minh Khuê với 33.387 lượt người, bài thứ ba là  Đôi lời về những ý kiến khác nhau về Thượng Chi – Phạm Quỳnh của Blog PhamTon với 31.684 lượt người, bài thứ tư là Vì sao Phạm Khuê viết được ngay bức thư gửi cụ Hồ của Blog PhamTon với 23.199 lượt người, bài thứ năm là Nguyễn Mạnh Tường – Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu của giáo sư Phong Lê với 22.538 lượt người, bài thứ sáu là Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Đức Thuận với 20.483, bài thứ bảy là Lịch sử đôi khi trớ trêu như vậy đó của Nguyễn Văn Khoan với 19.561 lượt người, bài thứ tám là Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc – Kỳ 1 của Xuân Ba với  18.825 lượt người, bài thứ chín là Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn với 17.822 lượt người, bài thứ mười là Chúng tôi đã sống như thế: Mang con đi học với 17.260 lượt người. Các bài khác lần lượt là Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam của Phạm Quỳnh (16.604), Trường hợp Phạm Quỳnh: Một cuộc bút chiến làm rầm lên của Thanh Lãng (16.477), Vài ý kiến về quan điểm phê bình mới của ông Nguyễn Văn Trung của Song Thai (16.063), Phạm Quỳnh, một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc của Nguyễn Thúc Chuyên (14.357), Trường hợp Phạm Quỳnh: Thực ra chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì “theo Tây” của Thanh Lãng (13.859), Những bước chân du ký Phạm Quỳnh của Hiền Đỗ (13.198), Chúng tôi đã sống như thế: Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ của Nguyễn Ánh Tuyết (13.177), Điện Biên Phủ 60 năm kỷ niệm sâu sắc trong lòng người cháu dâu Phạm Quỳnh: Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ – 1954 (13.029).

Chúng tôi nhận nhiều điện thoại, email của các bạn gửi đến động viên, góp ý với blog.

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã đọc và góp bài, tin, ý kiến xây dựng blog của chúng ta ngày càng lớn mạnh hơn.

Blog PhamTon

Tháng 5/2015

Địa chỉ liên lạc của chúng tôi là:

PHẠM TUYÊN: N2 P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội

Điện thoại: (+84) – 4 – 3832 5283

Mobile: (+84) – 913 043 580

Email: phamtuyen1930@yahoo.com.vn

Hoặc

PHẠM TUÂN 14917 Village Gate Drive Spring, M.D. 20906 – USA

Email: tuanguyenph@verison.net

Hoặc

TÔN THẤT THÀNH: 82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM

Điện thoại: (+84) – 8 – 3848 0803

Mobile: (+84) – 128 358 2998

Email: thanh.phamton@gmail.com

Ngày đất nước trọn niềm vui và niềm tin của tác giả bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 5 năm 2015.

40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày đất nước trọn niềm vui và niềm tin của tác giả bài hát

Như có Bác trong ngày đại thắng

Thanh Tùng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đã đăng trên báo trang 4 số Tiền Phongkỷ niệm ngày thống nhất, ngày nối tròn một vòng Việt Nam” cuối tháng 4/2010 với nhan đề Ngày đất nước trọn niềm vui. Nhưng ở đây, theo lệ của Blog, chúng tôi đăng theo nguyên văn bản thảo tác giả gửi cho chúng tôi “xem chơi”, sau khi được phép của ông.

—o0o—

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học kể: Ngày 4-10-2002, nhân gặp nhà thơ Huy Cận (thành viên phái đoàn của Chính phủ lâm thời từ Hà Nội vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại) ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, ông có hỏi về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, nhà thơ Huy Cận trả lời: “Chính Bác đã nói: Đã lỡ mất rồi

Hồi ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên chưa được gặp Bác Hồ nhưng ông được nghe nhà thơ Huy Cận truyền lại lời nhắn gửi. Bác Hồ nói: Cụ Phạm là người của lịch sử, hãy để lịch sử sau này, đánh giá lại, các con cháu cứ yên tâm đi theo cách mạng.

Khôi ngô ngay từ khi mới lọt lòng mẹ, cụ thân sinh mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong nhị thập bát tú. Ứng với lời tiên tri, sau này ông trở thành đại biểu quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Việt Nam, Nhà giáo Nhân dân, vị giáo sư nổi tiếng về lão khoa, đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong ngành Y tế, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi. Ông là GS Phạm Khuê.

Em trai ông, nhạc sĩ Phạm Tuyên nổi tiếng với bài Như có Bác trong ngày đại thắng mà cả đất nước Việt Nam ai cũng biết hát. Hồi năm ngoái qua Xiêm Riệp, đến các khu đền tháp Angkor, chỗ nào tôi cũng gặp một ban nhạc dân tộc của những người khuyết tật, nạn nhân của thảm hoạ diệt chủng. Anh bạn hướng dẫn viên nói đây là du khách Việt Nam, tức thì dàn hợp xướng không chuyên này chuyển sang trình bày bài Như có Bác trong ngày đại thắng. và du khách lại rút ví bỏ vào cái thùng đan bằng mây những tờ tiền giấy. Tôi kể chuyện này với nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông cười hồn hậu và bật mí: Tết vừa rồi có một vị lãnh đạo cao cấp đến thăm tôi. Ông nói rất chân tình: Đi nước ngoài bọn tôi chỉ biết hát mỗi một bài Như có Bác trong ngày đại thắng. Các bạn cũng biết bài đó và vỗ tay hát theo, chỗ thì bằng tiếng nước họ chỗ thì bằng tiếng Việt Nam, nhưng nhịp điệu thì rất chuẩn. Phạm Tuyên sáng tác bài Như có Bác trong ngày đại thắng vào đêm 28-4-1975, đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam tập và thu âm ngay trong buổi chiều ngày 30-4 để phát sóng trong bản tin thời sự đặc biệt lúc 17h, chính thức công bố với cả thế giới chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Đi vào con đường âm nhạc từ trong kháng chiến chống Pháp, tên tuổi và sự nghiệp của Phạm Tuyên được khẳng định từ đầu thập niên niên 60 với nhiều ca khúc cho nhiều lứa tuổi. Nhiều sáng tác cho thiếu nhi đã trở thành bài hát truyền thống qua nhiều thế hệ như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Hát dưới cờ Hà Nội, Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội, Đêm pháo hoa, Cô và mẹ… Nhiều ca khúc của ông từ hồi đó đã trở thành ngành ca, thành nhạc hiệu của nhiều chương trình phát thanh như Bài ca người thợ rừng, Bài ca người thợ mỏ, Bám biển quê hương, Yêu biết mấy những con đường, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Từ làng Sen, Đêm Cha Lo, Từ một ngã tư đường phố.

Sự nghiệp âm nhạc của Phạm Tuyên đã có khoảng hơn 600 ca khúc. Ông viết nhiều và viết rất nhanh. Có những ca khúc đánh dấu một thời điểm lịch sử, một thời khắc thiêng liêng, một sự kiện trọng đại, một chiến dịch như: Chiếc gậy Trường Sơn, Miền Nam anh dũng và bất khuất (hợp xướng), Con kênh ta đào… Bài Từ Làng Sen Phạm Tuyên sáng tác sau ngày Bác ra đi. Thập niên 80 từ tứ của nhạc phẩm này ở Nghệ Tĩnh xuất hiện các hội thi Hát từ Làng Sen, một phong trào ca hát về Bác Hồ lan toả khắp các địa phương. Dần dần hội thi phát triển lên qui mô toàn quốc, tổ chức 5 năm một lần. Như có Bác trong ngày đại thắng viết trước khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử hai ngày. Gửi nắng cho em…viết đầu năm 1976, “khi hai miền cùng vào một vụ chiêm”… “cùng vào mùa một ngày vui thống nhất…”. Ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do được ông sáng tác ngay trong đêm đầu tiên của ngày xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc – năm 1979. Có thể coi đây là ca khúc mở đầu cho một dòng nhạc xuất xứ từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc với những bài rất hay như Gửi em ở cuối sông Hồng, Tình yêu trên dòng sông Quan họVì thế có người nói rằng các ca khúc Phạm Tuyên là một biên niên sử bằng âm nhạc.

Hơn thế nữa Phạm Tuyên còn là một nhạc sĩ viết về Đảng hay nhất với các tác phẩm tiêu biểu: Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Màu cờ tôi yêu, Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể, hồi lên chiến khu Việt Bắc ông học trường Pháp lý. Có cái hay là ở trường này được học ngoại ngữ và được giác ngộ về Đảng nhờ một số sách do các ông Lê Đạt, ông Đặng Đình Hưng cho. Sách viết về chủ nghĩa cộng sản in bằng tiếng Pháp. Nhiều ca khúc viết về Đảng sau này của ông là sự giải mã kiến thức, sự giác ngộ từ sách tiếng Pháp. Ví dụ như thơ Aragon có câu khiến lúc đó ông phải giật mình: Đảng cho tôi màu xanh nước non nhà. Hay nhà văn chiến sĩ Cộng sản Pháp Paul Vaillant – Couturier nói rằng: Chủ nghĩa Cộng sản là Mùa xuân của nhân loạiNhờ thế ông mới có bài Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng Đảng đã cho ta cả một mùa xuân…

Màu cờ tôi yêu là một kỷ niệm với Diệp Minh Tuyền. Có lần Diệp Minh Tuyền giãi bày: bây giờ viết về Đảng khó thật. Phạm Tuyên bảo đúng  là khó nhưng không thể không viết, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Sau đó, ở trên máy bay Diệp Minh Tuyền đưa cho Phạm Tuyên một bài thơ về Đảng. Ông đọc thấy hay, trong đó có câu ông cứ nhấn đi nhấn lại ý của tác giả: Suốt đời lòng dặn giữ lời/Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau…

Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Bám biển quê hương, Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Chiếc gậy Trường Sơn, Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày đại thắng. Gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên dịp ông vào dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Huế tôi hỏi: Vì sao người viết Như có Bác trong ngày đại thắngvẫn chưa được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh? Ông cười và lại dẫn lờicủa tỷ phú Bill Gates: “Cuộc sống vốn không công bằng, phải tìm cách thích nghi và vượt lên nó”.

Đúng như thế, cuộc sống vốn không công bằng với gia đình Phạm Tuyên nhưng ông đã hoà nhập, thích nghi để vượt qua mọi trở ngại, vượt lên chính mình. Ông có người em ruột tốt nghiệp đại học Văn Khoa, ở miền Nam không tránh khỏi đi lính. Sau này anh em gặp nhau ở Mỹ, chú em nói: Cây gậy Trường Sơn của anh văng đến đâu là em phải chạy khỏi chỗ đấy… Biết Phạm Tuyên qua Mỹ, nhiều người nể trọng nhưng cư dân mạng bên ấy lắm kẻ chửi ông ra rả, cho ông là đứa con bất hiếu. Ông cười, khi về đến nhà mở mạng lại thấy có người viết: Phạm Tuyên là đứa con rất có hiếu.

Ông thường nói cuộc đời nhiều khi cũng gặp trắc trở nhưng bản thân tôi lại may mắn được gặp nhiều người tốt. Ví dụ: Sau khi tốt nghiệp Trường Lục quân về làm Đại đội trưởng Trường Thiếu sinh quân ông được Hiệu trưởng là Lê Chiêu giới thiệu vào Đảng. Sau này gặp lại ông Lê Chiêu nhạc sĩ Phạm Tuyên hỏi, việc anh giới thiệu một người có lý lịch như tôi vào Đảng thì có gặp phiền phức gì cho bản thân hay không? Ông Lê Chiêu bảo, cũng có chút ít thôi nhưng không sao; ai hỏi thì mình bảo Tuyên là người tốt, cần được kết nạp, mà nếu có là con quan Thượng thư thì chắc phải là con của bà ba, bà tư, tức là thuộc thành phần không bóc lột… Lúc đó đâu có ai biết rằng Phạm Tuyên là con của bà cả, và quan Thượng thư đầu triều như cụ Phạm Quỳnh lại chỉ có duy nhất một vợ. Ngày trước cụ Phạm có một công trình nghiên cứu về ca trù. Công trình này về sau Viện Âm nhạc Việt Nam đã in lại. Nhân đọc cuốn sách này có người hỏi Phạm Tuyên: Cuộc đời ông cụ chắc đã gặp khá nhiều đào nương? Nhạc sĩ Phạm Tuyên bảo, ngày trước, nếu có ai hỏi ông về chuyện tế nhị này thì ông trả lời: tôi lấy vợ sớm… Gặp người tò mò hơn thì cụ bảo: Gặp đào nương không bao giờ tôi nghĩ chuyện gì khác. Tôi lấy vợ sớm nên nó chỉ bằng con mình thôi. Tôi không bao giờ có ý nghĩ gì khác với các đào nương ngoài thưởng thức và nghiên cứu nghệ thuật hát ca trù. Thời kỳ làm quan ở Huế cũng có những lúc người ta mời cụ xuống đò. Cụ từ chối nhẹ nhàng: Con gái tôi đã lớn rồi…

Nhân vào Huế, bạn bè đồng hành từ Hà Nội và thân hữu ở Huế cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên sắm sửa lễ vật, hương hoa dâng lên cụ Thượng Chi ở nơi cụ an nghỉ phía trước chùa Vạn Phước. Trước mộ phần cụ Thượng Chi nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ niềm vui và niềm tin về sự cởi mở của giới nghiên cứu trong việc nhìn nhận đánh giá lại các nhân vật lịch sử. Ông rất mong muốn được chứng kiến một sự giải toả về cụ thân sinh và gia đình mình.

Có những người dấn thân trong một bối cảnh lịch sử phức tạp, đầy biến động và đầy thử thách. Bản thân họ cũng gặp những mâu thuẩn, bế tắc không thể giải quyết nổi dẫn đến những ứng xử đầy tính nghịch lý bởi ranh giới giữa cái đúng và cái sai không rõ ràng. Phạm Quỳnh là một nhân vật điển hình, nổi bật lên trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận – hiện đại, nhưng lại gây nên nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau. Gần đây, nhiều tác phẩm với hàng nghìn trang sách của cụ Thượng Chi đã được in lại; nhiều bài viết nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh đã được đăng tải trên các tờ tạp chí, các tờ báo có số lượng phát hành lớn là một tín hiệu rất đáng mừng. Cụ Thượng Chi đã trở lại vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam và trong tình cảm của đông đảo độc giả. Trong tiến trình đổi mới, đất nước ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh, đã có một cách nhìn khác về những nhân vật từng bị đối xử không thấu tình đạt lý.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên và tác giả bên mộ cụ Thượng Chi

Độc giả nhiều thế hệ viếng mộ cụ Thượng Chi

Huế, 26-3-2010

TH.T

Tháng Tư 17, 2015

Phạm Quỳnh vẫn được bạn đọc báo Phụ Nữ Tân Văn bầu là một trong mười đại biểu nhân dân Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 4 năm 2015.

PHẠM QUỲNH VẪN ĐƯỢC BẠN ĐỌC BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN

BẦU LÀ MỘT TRONG MƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VIỆT NAM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bản tin đăng trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) số 50 ngày 1/5/1930 và số 64 ra ngày 7/8/1930. Đầu đề là của chúng tôi.

Như vậy là sau lễ Kỷ niệm Cụ Nguyễn Du năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã bị búa rìu dư luận nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo. Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông, không để tình cảm yêu ghét nhất thời làm lầm lẫn.

Chúng tôi xin mời các bạn đọc tư liệu đáng chú ý này của một tờ báo có ảnh hưởng lớn đương thời, đáng mặt đối thủ của Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

“Phụ nữ tân văn ra đời ngày 2 Mai (tức tháng 5 – PT chú) năm 1929 đến hôm nay, 1er Mai (1 tháng 5 –PT chú) 1930 là đúng một năm. Vậy ngày hôm nay, ra số báo nầy chính là ngày kỷ niệm đệ nhất châu niên của bổn báo vậy”. (P.N.T.V. số 50 ngày 1/5/1930).

Chào mừng một năm góp mặt với văn đàn, P.N.T.V. tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả.

Đề thi đăng báo gồm có 3 phần:

  1. Một câu thai
  2. Một bài toán đố
  3. Một câu hỏi mang màu sách chánh trị, được xem như “trưng cầu ý kiến” độc giả P.N.T.V.

Câu hỏi ấy như sau:

  • Cuộc tuyển cử

Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhơn dân Đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.

NGUYỄN HỮU BÀI, Thủ tướng Nam triều

BẠCH THÁI BƯỞI, Chủ hãng tàu và mỏ than.

BÙI QUANG CHIÊU, Lãnh tụ đảng Lập hiến

VƯƠNG TỨ ĐẠI, Thượng thơ Lễ bộ

DƯƠNG VĂN GIÁO, Trạng sư

HUỲNH THÚC KHÁNG, Chủ báo Tiếng Dân

TRẦN TRỌNG KIM, Thanh tra sơ học

DIỆP VĂN KỲ, Nhà làm báo

LƯU VĂN LANG, Kỹ sư sở Tạo tác

NGUYỄN PHAN LONG, Chủ báo Đuốc Nhà Nam

LÊ QUANG LIÊM, Hội đồng Quản hạt

HOÀNG TRỌNG PHU, Tổng đốc Hà Đông

PHẠM QUỲNH, Chủ báo Nam Phong

NGUYỄN HỮU THU, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị

NGUYỄN TRÁC, Nghị trưởng Nhơn dân đại biểu viện Trung Kỳ

NGUYỄN BÁ TRÁC, Bố chánh tỉnh Bình Định

TRẦN TRINH TRẠCH, Điền chủ ở Bạc Liêu

LÊ QUANG TRINH, Y khoa Tấn sĩ

PHAN VĂN TRƯỜNG, Luật khoa Tấn sĩ

NGUYỄN VĂN VĨNH, Chủ báo Trung Bắc Tân Văn

Trong ba đầu bài thi, hai đầu bài trên thì khỏi giải nghĩa rồi, còn đầu bài thứ ba, tưởng nên bày tỏ ý kiến bổn báo vì sao mà có cuộc tuyển cử đó.

Các vị mà bổn báo liệt phương danh trên đây đèu là những vị đã từng có làm việc xã hội, bổn báo theo vần a,b,c, trong tên mà sắp thứ tự vào đây, và ví dụ nếu như có cuộc tuyển cử Việt Nam Nhơn dân Đại biểu mà các vị ấy ra ứng cử, quý độc giả có quyền bỏ thăm, thì bỏ thăm cho những vị nào.

Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bổn báo có ý tôn mà đem ra, chớ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bổn báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bổn báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.

Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:

Phải sấp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sấp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị.

Về cuộc tuyển cử này, bổn báo có đặt riêng một ban ủy viên để xét thăm.

Đến ngày khóa sổ thì ban ủy viên sẽ soạn thăm và cộng coi cho biết 10 vị nào trúng tuyển.

Vị nào nhiều thăm hơn hết thì sắp số 1, rồi tuần tự, do theo số thăm mà sấp xuống số 2, số 3 kỳ cho tới đủ số 10 vị.

Khi sấp xong sẽ soạn lại những bài đáp, coi vị nào đáp trúng theo bản kết quả đó.

Hễ bài nào được trúng y theo bảng kết quả thì trúng phần thưởng nhất, người kế đó thì lãnh phần thưởng nhì.v.v…

Nếu không có bài đáp nào trúng y theo bản kết quả thì sẽ chấm bài nào đáp trúng gần hơn hết mà phát thưởng.

  • Kết quả “Trưng cầu ý kiến”

Ban ủy viên trước hết lo chấm cuộc tuyển cử mấy ngày ròng rã soạn lựa các số thăm, lại còn phải dò đi xét lại rất cẩn thận. Chúng tôi xin lấy danh dự của cả tòa báo và các đồng nhơn trong tòa soạn mà nói quyết rằng: cuộc soạn thăm này làm rất là quang minh chánh đại, không để cho có một mẩy nào sai sót hoặc tư vị.

Khi cộng thăm gộp lại thì mười vị này trúng tuyển:

1. Phan Văn Trường               1133 thăm

2. Huỳnh Thúc Kháng            1062

3. Nguyễn Phan Long             1057

4. Diệp Văn Kỳ                       986

5. Lưu Văn Lang                    910

6. Bùi Quang Chiêu                885

7. Trần Trọng Kim                  794

8. Dương Văn Giáo                788

9. Trần Trinh Bạch                  671

10. Phạm Quỳnh                     667

(P.N.T.V số 64 ngày 7/8/1930)

Trang sau »

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 29 other followers