Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 13, 2018

Diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018

Filed under: Ý kiến,Liên hệ — phamquynh @ 9:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 4 năm 2018

DIỄN TỪ GIẢI VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH 2018

NGUYÊN NGỌC

Lời dẫn của Pham Tôn: Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 đã được đưa tin trên các báo Tuổi Trẻ, Phụ Nữ Việt Nam, Thanh Niên, thesaigontimes.vn, laodong.vn, nangluongmoi.vn, thongtinvanhoa.vn, nguoidothi.net.vn… Trên Kinh tế Sài Gòn Online có đưa tin (Chủ nhật 25/3/2018) như sau:

“Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần XI – 2018 tổ chức vào tối 24-3 tại TPHCM đã tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại”. (…)

Nguyen Ngoc chup voi Pham Tuyen

“Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh mang tên nhà văn hóa lỗi lạc Phan Châu Trinh (1872-1926). Quỹ được thành lập với sứ mệnh “Góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”. Quỹ trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, do một nhóm các trí thức tâm huyết với văn hóa của nước nhà thành lập.

Việc trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh hàng năm là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng của quỹ nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng thường niên của Quỹ bao gồm 4 hạng mục: Giải Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục, Giải Nghiên cứu, Giải Dịch thuật, Giải Việt Nam học.

Hội đồng Khoa học Quỹ bao gồm 11 thành viên: Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc – Chủ tịch, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn – Phó chủ tịch; các ủy viên gồm: Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn, GS.TS Huỳnh Như Phương, GS.TS Nguyễn Văn Trọng, GS.TS Lê Ngọc Trà, GS.TS Nguyễn Kim Sơn, PGS.TS Trần Hữu Quang, Họa sỹ Lương Xuân Đoàn, TS. Vũ Thành Tự Anh, TS. Nguyễn Đức Thành.”

Sau đây là toàn văn diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 do nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyên Ngọc trình bày tại buổi lễ

—o0o—

Giữ lời hẹn đúng từ ngày này năm trước, chúng ta lại gặp nhau, cũng trong căn phòng ấm cúng này, để chào mừng những vị tân khoa của giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018, năm thứ 11 của Quỹ và của Giải. Cho đến giờ phút này, chúng tôi nghĩ đã có thể nói lần nữa chúng ta lại có được một mùa giải đẹp.

Trước hết xin nói về giải dịch thuật. Hẳn chúng ta còn nhớ Giải Phan Châu Trinh đã bắt đầu bằng một giải dịch thuật, rồi sau đó mới mở rộng thêm các hạng mục khác, và điều ấy không hề ngẫu nhiên. Ngay từ đầu, chúng ta đã coi việc chuyển cho được sang tiếng Việt, cho người Việt và xã hội Việt, từng bước mà khẩn trương, từng bước dần cho đến toàn bộ tài sản trí tuệ tinh hoa của nhân loại là công việc vô cùng quan trọng, tới mức có tính quyết định đối với phát triển của đất nước. Cũng là thực hiện tâm nguyện khai sáng từ hơn trăm năm trước của Phan Châu Trinh. Dịch giả Nguyễn Tùng, người nhận giải ở hạng mục này năm nay có một câu nói tôi xin phép nhắc lại ở đây. Ông nói: ‘’ … chừng nào Việt Nam chưa dịch được hàng trăm cuốn sách được xem là tinh hoa của thế giới về triết học, nhân học, xã hội học v.v. thì chừng đó Việt Nam chưa có được một nền đại học đúng nghĩa về xã hội và nhân văn …’’ Quả hoàn toàn đúng, và không chỉ đối với lĩnh vực xã hội nhân văn ở Việt Nam, cũng không chỉ đối với đại học ở nước ta. Hẳn là từ mối lo sâu xa và đầy trách nhiệm và một tâm thế như vậy mà Nguyễn Tùng đã bắt tay vào công việc dịch thuật vốn không phải là chức trách chính của ông, lại hết sức khó khăn, bởi ông luôn chọn dịch những tác phẩm quan trọng nhất nhưng cũng vào loại khó nhất của những tác giả kinh điển quan trọng nhất nhưng cũng khó nhất trong lĩnh vực dân tộc học, nhân học, xã hội học, kinh tế học. Những cuốn sách như vậy là thiết yếu để đặt nền tảng căn bản cho khoa học xã hội và nhân văn trong nước. Bắt đầu là cuốn ‘’Luận về biếu tặng. Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ’’ của Marcel Mauss, người được coi là cha đẻ của ngành nhân học ở Pháp và là một trong những người sáng lập ngành nhân học trên thế giới. Mauss nhận xét rằng hành vi biếu tặng và đáp tặng trong các xã hội cổ xưa là theo nguyên tắc tương hỗ, có đi có lại, chính là hình thức kinh tế thị trường thời cổ sơ, nó thay thế hoàn toàn hệ thống mua bán bằng sự biếu tặng lẫn nhau … Bằng nhận xét tinh tế và sâu sắc, Mauss phê phán và bác bỏ việc đề cao một cách máy móc những lô gích của nền kinh tế thị trường hiện đại … qui giản con người chỉ còn là những ‘’con vật kinh tế’’. Về thực tiễn, cuốn sách này đã đóng góp lớn giúp vượt qua quan niệm từ thiện và bố thí trong các chính sách xã hội, và góp phần hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại ở Pháp và các nước tiên tiến ngày nay. Bản dịch cuốn sách gối đầu giường của mọi nhà nhân học này được Nguyễn Tùng thực hiện hết sức nghiêm cẩn, đặc biệt với một lối văn trong sáng, dễ hiểu vốn là không hề đơn giản đối với lối viết của Mauss. Ấn bản được NXB Tri thức công bố còn bao gồm một bài Claude Lévy-Straus ‘’Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss’’ và bài ‘’Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường’’ của nhà nhân học Pháp Florence Weber, cũng do Nguyễn Tùng dịch.

Dịch phẩm tiếp theo của Nguyễn Tùng là cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ của Claude Lévy-Strauss, người sáng lập nổi tiếng của trường phái cấu trúc luận trong dân tộc học và nhân học. Trước khi đi vào bản dịch, Nguyễn Tùng còn viết một bài giới thiệu dài 52 trang trình bày súc tích những tư tưởng chính của tác giả và ảnh hưởng của thuyết cấu trúc luận và của cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ đối với giới khoa học xã hội nhân văn trong suốt nửa sau thế kỷ XX. Ngược với B. Malinovski hay Radcliffe-Brown thấy ở việc một tộc người chọn một con thú hay thảo mộc làm tô tem là vì chúng cung cấp cho họ thức ăn, Lévy-Strauss cho rằng họ chọn chúng làm tô tem ‘’không phải vì chúng có thể ‘dùng để ăn’ mà do chúng có thể ‘dùng để tư duy’.’’ Nghĩa là họ nhận ra ở con thú hay thực vật ấy của tự nhiên một cái mã phản ánh cấu trúc tư duy của chính họ. Vậy nên, theo nhà nghiên cứu Jean-Pierre Vernant, cuốn sách của Lévy-Strauss vượt ra ngoài câu chuyện về định chế tô tem và trở thành gần như một thứ nhập môn cho nghiên cứu nhân học, đòi hỏi nhân học ‘’trong các phương pháp tiếp cận và cả trong triết lý về con người, đi đến những quan niệm cấu trúc luận mới mẻ trong nhân học.’’

Nhân đây, xin tiết lộ: Nguyễn Tùng có tâm sự rằng ông dịch ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ là để làm quen thêm với lối viết của Lévy-Strauss, như một kiểu tập dượt, lấy sức, trước khi ‘’tấn công’’ vào một công việc to lớn, khó khăn hơn nhiều: chuyển được sang tiếng Việt cuốn sách thuộc số những tuyệt tác đỉnh cao và quan trọng nhất của Lévy-Strauss, cuốn ‘’Tư duy hoang dại’’ (La pensée sauvage), ‘’nếu tôi còn đủ sức và đủ can đảm’’ – ông nói. Chỉ một ví dụ này thôi chắc đã đủ để cho thấy rõ thái độ, quan niệm và cách làm việc của Nguyễn Tùng đối với dịch thuật khoa học, thật rất đáng để suy nghĩ.

 Dịch phẩm thứ ba quan trọng của ông là một tác phẩm cũng rất khó và khá lạ, cuốn ‘’Xã hội diễn cảnh’’ của Guy Debord, một tác giả phái tả, phê phán triệt để xu hướng bái vật hóa và sự thống trị của hàng hóa trong khuôn khổ của xã hội tiêu thụ tư bản chủ nghĩa hiện đại. Ngay đối với một tác phẩm rất khó đọc và khó hiểu như cuốn này, Nguyễn Tùng cũng đã tìm được cách chuyển ngữ sang tiếng Việt rất chuẩn xác, trong sáng và dễ tiếp cận. Ông còn góp phần quan trọng cùng một số người khác trong một số dịch phẩm lớn và kinh điển, trong đó có cuốn sách nổi tiếng ‘’Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản’’ của Max Weber …

Nói theo cách nào đó, những đóng góp và thành tựu dịch thuật của Nguyễn Tùng  vừa được lướt qua chỉ là một phần ở cạnh công vệc chính của ông. Nguyễn Tùng trước hết và chủ yếu là một nhà nghiên cứu dân tộc học và xã hội học. Ông đã làm việc 30 năm ở Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) với tư cách là nhà dân tộc học và xã hội học, đã giảng dạy ở đại học Sorbonne (Paris), đã tham gia trong hơn 20 năm chương trình nghiên cứu về làng xã ở châu thổ Sông Hồng, đã có những công trình quan trọng được công bố, như ‘’Mông Phụ, một làng ở châu thổ Sông Hồng’’, tham gia cuốn ‘’Làng ở châu thổ Sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ’, và nhiều công trình khác’’ … Như vậy, có thể nói cho đúng hơn, đối với Nguyễn Tùng, công việc nghiên cứu khoa học của ông gắn liền chặt chẽ với công việc dịch thuật của ông, sự gắn chặt này tạo cho ông khả năng và thẩm quyền đưa đến cho người đọc Việt Nam những dịch phẩm lớn, với chất lượng và độ tin cậy cao. Trường hợp Nguyễn Tùng còn đặt ra một vấn đề lớn và quan trọng đối với nền dịch thuật, và cả với khoa học Việt Nam: vấn đề sự xuất hiện mô hình những học giả-dịch giả, cho yêu cầu của một nền dịch thuật nghiêm túc và ngày càng cấp thiết, mà chúng tôi đã nhắc đến ở đầu diễn từ này.

Xin trân trọng cám ơn dịch giả Nguyễn Tùng vì cống hiến đặc sắc, và cả vì những vấn đề quan trọng ông đã nêu lên qua sự nghiệp dịch thuật của ông.

Thưa …

Giải Vì Sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay được trao cho một nghệ sĩ: nhạc sĩ Dương Thụ, và một tập thể những người làm sách: Nhóm Nhất nghệ tinh.

Dương Thụ là một nhạc sĩ nổi tiếng. Hãy thử nghe ca sĩ Hồng Nhung, được chính Dương Thụ coi là người hát hay nhất các bài hát của ông nói về ông: ‘’ … hai nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Dương Thụ viết nhạc rất khác nhau nhưng cùng xuất phát từ suối nguồn tình cảm của tâm hồn. Họ đều là những nhà trí thức với kiến thức văn hóa rộng và sâu sắc, có thể nói ít, hiểu nhiều, sức mạnh trong nhạc và lời mang nội lực đủ để lại trong lòng người nghe một cách sâu nặng mà không cần hình thức quá lộng lẫy hay gây choáng ngợp …’’ Thanh Lam thì nói thêm, như muốn cắt nghĩa: ‘’ … Tôi cho rằng đó là hồn Việt, triết lý Việt, tinh thần Việt  …’’  Quả vậy, có lẽ nét đặc sắc của Dương Thụ trong sáng tác của ông cũng như ở con người và hoạt động xã hội của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giản dị, nhẹ nhõm, gần gũi đời sống và văn hóa dân gian, với xu hướng tinh hoa, bài bản, sang trọng, thậm chí vươn tới hàn lâm. Là dân gian thì ông biết cách khai thác đến tận cái tinh hoa của dân gian, là bác học thì ông giỏi làm cho cái bác học đó trở nên gần gũi đến dễ tiếp nhận cho đại chúng và đi vào lòng người. Lại được cọng với một tài năng thật sự về tổ chức, rất khéo léo, tháo vát và hiệu lực. Dương Thụ cũng là người có lòng tin sâu sắc ở sức mạnh của nghệ thuật khi nó đi được vào đại chúng, và phải đi vào đại chúng ở dạng tinh hoa. Bởi nâng cao năng lực thẩm mỹ và tri thức của xã hội, tạo nên đời sống thẩm mỹ và tri thức ngày càng được nâng cao của xã hội là nghĩa vụ đạo đức của nghệ thuật và của người nghệ sĩ chân chính, của nhà văn hóa. Chính vì vậy mà là tác giả của hàng loạt ca khúc nổi tiếng với âm hưởng rất riêng tinh tế và sang trọng, không thể nhầm lẫn, ông còn dành nhiều thời gian, công sức và tài năng cho những chương trình âm nhạc lớn, là người tổ chức, biên tập và tổng đạo diễn Dự án Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam, một chương trình tầm cỡ quốc gia đầu tiên tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của đủ các dòng nhạc từ Tiền chiến, Lãng mạn, nhạc Sàigòn trước năm 1975, nhạc Cách mạng, nhạc Tình ca hiện đại …; tiếp đó, từ năm 2009, là Dự án đồ sộ Điều còn mãi, một concert âm nhạc thính phòng, bao gồm cả các tác phẩm khí nhạc và ca khúc, được dàn dựng rất công phu với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ hàng đầu cùng dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Việt Nam, diễn ra định kỳ hàng năm vào dịp 2/9 và kéo dài liên tục trong nhiều năm, gây tiếng vang và ảnh hưởng lớn … Tuy nhiên phải nói rằng, trong hoạt động văn hóa xã hội, đóng góp quan trọng nhất của Dương Thụ là những hoạt động nhằm kết nối giới tinh hoa văn hóa trong và ngoài nước với công chúng, đặc biệt với giới trẻ, giới thiệu những tư tưởng đổi mới, những ý tưởng sáng tạo độc đáo thông qua việc hình thành và tổ chức thành công, vượt qua vô vàn khó khăn, chương trình Cà phê thứ bảy, một chương trình sinh hoạt văn hóa cao cấp, một kiểu salon văn hóa, thu hút những người thực sự có quan tâm đến văn hóa, đến những tư tưởng mới, đến đối thoại, tôn trọng sự khác biệt để cùng suy nghĩ. Từ 2009 đến nay, Dương Thụ đã tổ chức được hơn 800 buổi sinh hoạt Cà phê thứ bảy ở Saigon và ở Hà Nội, với sự tham gia của nhiều nhà văn hóa, khoa học, nghệ sĩ nổi tiếng trong và ngoài nước, thuyết trình và trao đổi về nhiều chủ đề khoa học, nghệ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường … Quả là một đóng góp rất to lớn, một điểm sáng cho ta còn giữ niềm tin và hy vọng, đặc biệt trong tình hình văn hóa xã hội phức tạp và đáng lo hiện nay.

Chúng ta cám ơn Dương Thụ vì cống hiến văn hóa tâm huyết, kiên trì của ông, vì tư duy văn hóa và nghệ thuật đáng để suy nghĩ của ông, cả về một mô hình sống và tổ chức đời sống xã hội một cách có văn hóa, không ồn ào mà sâu sắc và hiệu quả ông đã gợi lên qua hoạt động năng nổ của mình.

Nhân vật thứ hai cùng nhận giải thưởng Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay rất đặc biệt, đó là một tập thể đông đảo gồm hàng trăm chuyên gia và kỹ sư từng du học ở CHLB Đức trước năm 1975, từ nhiều năm nay đã lặng lẽ làm một công việc rất cụ thể, thiết thực, mà vô cùng cần thiết cho đất nước. Chúng ta chưa được biết ai trong số họ ai là người nảy ra ý tưởng đầu tiên, họ đã liên lạc, tập họp, trao đổi cùng nhau như thế nào, tính toán tổ chức lực lượng và công việc ra sao … để đi đến quyết định thành lập một tủ sách lấy tên là ‘’Tủ sách Nhất nghệ tinh’’ nhằm chọn lọc những sách chuyên ngành có giá trị nhất của NXB Europa-Lehrmittiel, tổ chức dịch ra tiếng Việt và phổ biến sâu rộng trong giới đào tạo nghề cao cấp và các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam. Cùng lúc lại dày công biên soạn và liên tục cập nhật một Từ điển thuật ngữ khoa học kỹ thuật, đến nay đã được hơn 20.000 mục từ. Đến Nay, Tủ sách đã công bố các sách: Chuyên ngành cơ khí, Chuyên nghành Cơ-Điện tử, Chuyên ngành Điện-Điện tử, Chuyên ngành kỹ thuật ô tô và xe máy hiện đại. Đang và sắp in: Chuyên ngành chất dẻo, Chuyên ngành kỹ thuật hóa học, Chuyên ngành kỹ thuật sinh học, Chuyên ngành kỹ thuật xây dựng, Chuyên ngành kỹ thuật môi trường, Chuyên ngành kỹ thuật may mặc v.v.

Dày kinh nghiệm nghề nghiệp, Nhóm đã chọn lựa những sách chuyên ngành có chất lượng cao của CHLB Đức. Chất lượng dịch các sách cũng rất cao, thỏa ứng các yêu cầu khắc khe của sách chuyên ngành đa lĩnh vực. Nhóm vừa làm việc vừa phát triển, ngày càng tập họp đông đảo chuyên gia các lĩnh vực khác nhau để hộ trợ việc dạy nghề và du nhập phương pháp vừa học vừa làm rất hiệu quả của CHLB vào Việt Nam. Tất cả các thành viên của Nhóm đều hoạt động tự nguyên và vô vị lợi.

Cộng tác chặt chẽ với NXB Trẻ và Saigon Times Foundation, Tủ sách Nhất nghệ tinh đang có sức lan tỏa mạnh, được các nhà giáo và sinh viên nhiệt tình đón nhận. Không thể không có cảm giác chúng ta đang được sống lại không khí sôi nổi khuyến học và chuộng thực nghiệm do Phan Châu Trinh khởi xướng hơn trăm năm trước. Giải Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng chào mừng Tủ sách Nhất nghệ tinh, một góc thật đẹp của xã hội hôm nay.

Thưa …

Xin được nói tiếp đến Giải Nghiên cứu năm nay, được trao cho hai nhà nghiên cứu Lữ Phương và Phan Cẩm Thượng.

Trong những năm 1960 ở Sài Gòn, Lữ Phương là cây bút chủ lực của tạp chí TIN VĂN, một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang. Tác phẩm ‘’Mấy vấn đề văn nghệ’’ của ông viết năm 1967 sớm cho thấy rõ thái độ của một trí thức dấn thân mạnh mẽ mà trầm tĩnh trong những bối cảnh xã hội phức tạp. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến, giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau 1975  ông cho xuất bản ‘’Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam’’, một công trình nghiên cứu khách quan, sâu sắc, khác hẳn với những cuốn sách tuyên truyền minh họa dễ dãi trên cùng đề tài. Từ năm 1980 bắt đầu thời kỳ mà chính ông gọi là ‘’mười năm diện bích’’ để ‘’mọi chuyện trong quá khứ được nhìn lại tận nền móng’’, bắt tay đọc lại và nghiên cứu chủ nghĩa Marx một cách căn kẽ, có hệ thống, từ nền tảng triết học và nhận thức luận, đến các vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học mác-xít, từ đó nhận thức lại mối quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội hiện thực, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, các vấn đề của công cuộc ‘’đổi mới’’, đặc biệt là tác động văn hóa của ‘’đổi mới’’ xét như một mô thức phát triển, đồng thời tăng cường trao đổi, thảo luận với các học giả trong và ngoài nước.

Tìm hiểu một cách nghiêm túc sự hình thành, phát triển và tiến hóa của chủ nghĩa Marx qua từng giai đoạn lịch sử, ông nhìn nhận ‘’mô hình Stalin là nguyên nhân sâu xa của sự khủng hoảng hiện nay của chủ nghĩa xã hội hiện thực’’ và chỉ ra sự ‘’bất toàn của việc du nhập chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam.’’ Từ đó ông đề xuất mô hình mới về xây dựng đất nước trong thời bình bằng cách phải gác lại các kết luận của mô hình cũ để ‘’ưu tiên bảo vệ con người trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa xã hội.’’

Lữ Phương khẳng định: ‘’Sự phê phán quá khứ một cách nghiêm trang chẳng hề có ý nghĩa ‘dùng súng lục’ bắn vào cái gì cả, chẳng qua là thái độ cần thiết của con người trưởng thành …’’. Ông nói: ‘’Ngay cả sự ra đời của bản thân chủ nghĩa Marx và các trào lưu tư tưởng hiện đại cũng là nhờ có môi trường xã hội ‘nơi đó cái sai không hề bị gọi là tội, cái đúng không hề được gọi là ‘duy nhất đúng’. Và vì thế ‘’đối với một thế giới biết nhạy cảm từng phút từng giờ với những hứa hẹn đổi thay, mọi đường lối mệnh danh là ‘ổn định’ tinh thần cũng chỉ có ý nghĩa là tiêu diệt bản thân đời sống tinh thần.’’ Ông thẳng thắn kiến nghị: từ bỏ chính sách  đóng cửa, từ bỏ phương pháp cách mạng bạo lực, từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp, xây dựng nhà nước hiện đại bằng hiến pháp và pháp luât, thực hiện thể chế phân quyền, chính đảng cầm quyền giao lại nhà nước cho xã hội …

Trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh cho nhà nghiên cứu Lữ Phương, Quỹ của chúng ta muốn bày tỏ lòng kính trọng và sự tán đồng rõ ràng của mình đối với một người trí thức coi sự thẳng thắn đầy trách nhiệm, dũng cảm và trung chính của người trí thức, người cầm bút, nhất là trong giai đoạn hiện nay, là nghĩa vụ đạo đức hàng đầu của mình đối với xã hội và đất nước.

Người nhận giải ở cùng hạng mục với Lữ Phương là họa sĩ Phan Cẩm Thượng, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian uyên bác và độc đáo. Trong số những người làm văn học nghệ thuật, dường như những người làm nghệ thuật tạo hình thường quan tâm, gắn bó và hiểu biết sâu hơn cả với văn hóa dân gian và dân tộc. Có thể chăng là qua sáng tạo của dân gian, họ đi tìm và nhận ra hồn cốt của văn hóa Việt, con người Việt. Tôi có một chị bạn họa sĩ, đã bỏ mười năm liền, chăm chú đi đo kích cỡ các đình chùa Việt Nam, để tìm ra cái mà chị gọi là ‘’tỷ lệ vàng’’ ở các kiến trúc cổ ấy, nắm chắc được hằng số ấy rồi, chị bảo, thì vẽ gì cũng ra ngay Việt Nam, không thể nhầm. Phan Cẩm Thượng cũng vậy, ông tự tạo cho mình một lối sống rất đặc biệt, ông từng về sống hẳn trong chùa Bút Tháp hàng chục năm, gắn bó và am hiểu tới cặn kẽ vùng Thuận Thành Kinh Bắc vốn là một vùng đất cội nguồn của văn hóa Việt, thuộc lòng đến tỉ mỉ từng ngôi chùa cổ ở đấy, từng pho tượng cổ tuyệt đẹp đến lạ lùng trong bốn ngôi chùa Mây, Mưa, Sấm, Chớp là dấu tích xưa nhất của tín ngưỡng thuần Việt, khi chưa có ảnh hưởng của Phật giáo và của phương Bắc, cho đến các chùa nổi tiếng như Bút Tháp, Phật Tích, Bổ Đà v.v. Sau Bút Tháp, Thuận Thành, ông lại về sống hẳn nhiều năm ở vùng Mường, như một người ở ẩn, chìm đắm trong văn hóa Mường. Còn vùng văn hóa Sơn Tây nổi tiếng của Quang Dũng, thì Phan Cẩm Thượng vốn đã thuộc nằm lòng từ bé … Ông là người lang thang trong đời thường và trong văn hóa dân gian, say mê và đầy ý thức để cho sự sống ấy ngấm vào mình, thành máu thịt và thành trí tuệ. Có một số dịp được ông cho đi theo, tôi kinh ngạc và thú vị thấy các nhà sư ở các chùa vùng Kinh Bắc đều gọi ông là Thầy, thật sự kính trọng coi ông là Thầy. Tôi cũng kinh ngạc, thú vị khi thấy hầu như người dân nào gặp trên đường cũng là người quen thân của ông và cũng đều gọi ông là Thầy; còn ông thì có thể kể rành rọt với tôi lai lịch, tính cách của từng người … Ông đi nhiều, chăm chú nghe và nhin, hết sức tò mò, quan sát kỹ và tinh, ghi chép, tích lũy, nghiền ngẫm, và vẽ. Rồi viết. Đến nay, Phan Cẩm Thượng đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản, đương nhiên là về nghệ thuật tạo hình Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình cổ và nghệ thuật dân gian Việt Nam, song đều là để từ đó cho ta một góc nhìn và một cách nhìn độc đáo dắt dẫn đến hiểu biết căn cốt về văn hóa Việt. Trong các tác phẩm viết của ông nổi bật một bộ sách quan trọng, đến nay đã cho ra mắt hai cuốn, hai cuốn tiếp theo sẽ hòan thành trong khoảng 4 đến 5 năm tới. Ngay từ cuốn thứ nhất, có tên là ‘’Văn minh vật chất của người Việt”, đã cho thấy đây có thể là một bộ sử của người Việt viết theo một cách riêng, một cách khác, không phải là lịch sử ‘’lớn’’ của các triều đại, các ông vua, các cuộc chiến tranh và các vị tướng lừng danh, các cuộc cách mạng chính trị …, mà là lịch sử nhỏ, tầm thường, hằng ngày và trường kỳ của con người Việt, được kể qua nền văn minh vật chất của họ, hay nói giản dị hơn, qua ‘’lời kể’’ của các đồ vật do họ làm ra để mà sinh tồn và phát triển. Vâng, các đồ vật do con người làm ra không hề câm, chúng có tiếng nói và có thể nghe được tiếng nói, lời kể của chúng, và đó là lời kể khách quan, chân thật nhất. Chẳng hạn cái cày của người Việt, vật liệu để làm ra nó, hình thù và sự biến đổi hình thù các bộ phận của nó, từ thân cày, láng cày, bắp cày, guốc cày, diệp cày, cho đến lưỡi cày, vai cày, trỗi cày, thừng kéo của cày … ,chúng kể cho ta biết, cụ thể, rõ ràng, vô cùng thật, về môi trường sống người Việt suốt mấy nghìn năm, trời đất, thổ nhưỡng, nắng mưa, ấm lạnh, bão tố, cả cái cách những con người đó tổ chức cộng đồng của mình để ứng phó với tất cả những thách thức ấy của tự nhiên, khi từ trên những núi rừng rậm rạp và đất đá phía tây họ đổ xuống châu thổ sông Hồng, sông Mã bùn lầy nhão nhoẹt, rồi lại mấy nghìn năm nữa lặn lội suốt từ Bắc vào miền Trung khô cằn nắng gió, gặp gỡ đất mới, trời mới, người mới, học cày của người Chăm … rồi lại học cày của người Chân Lạp khi tràn tới được châu thổ sông Cửu Long màu mở phù sa … Cái cày biết nói. Đồ vật biết nói. Thậm chí chúng còn kể hết sức chính xác chẳng hạn về hình dáng, và cả cách chuyển động, đi đứng của con người Việt từng nơi, từng thời. Rất khó quên đoạn Phan Cẩm Thượng viết về cái nối đất nung các bà chị ở quê ta vẫn dùng để ra ao ra sông lấy nước. Ông bảo sở dĩ hình thù nó tròn hơi méo một chút, không thể khác, nó to bằng chừng ấy không thể hơn, cũng không nhỏ hơn, là vì nó vừa bằng và giống đúng cái bụng chửa của người đàn bà Việt. Người thợ gốm Việt đã nhìn cái bụng chửa ấy mà nặn ra cái nồi đất kia …

Tiếp sau ‘’Văn minh vật chất của người Việt’’ là cuốn ‘’Tập tục đời người’’ với một phụ đề: ‘’Văn hóa tập tục của người nông dân Việt Nam thế kỷ 19 và 20’’. Phan Cẩm Thượng khẳng định trong mỗi người Việt Nam, cho đến hiện đại nhất hôm nay, đều có một người nông dân; 36 phố phường Hà Nội là từ các làng nghề nông thôn đồng bằng Bắc bộ tụ hội lên mà thành. Ông cũng định nghĩa tập tục là cái có trước pháp luật, trước cả hương ước, tức cũng là một kiểu luật của làng, do cộng đồng làng lập nên, mọi người bắt buộc phâỉ tuân theo. Tập tục là cái có trước những quy đjnh có tính bắt buộc đó; nó là cái người ta theo thói quen mà làm, mọi người vẫn làm thế ta cũng làm thế, làm thế là ‘’phải’’ với mọi người và mình cũng cho là phải, người xưa đã quen, người nay chấp nhận, thấy phải chăng và tự nguyện. Nên nó  là cái từ trong mà ra, không phải từ ngoài áp vào, từ trên ban xuống như hương ước, như luật. Nó thật về con người hơn. Thì ra với cuốn thứ hai này, Phan Cẩm Thượng tiếp tục bộ sử thật về người Việt của mình. Con đường đi bằng văn hóa của ông.

Tuy nhiên cũng có điều Phan Cẩm Thượng tập trung hiểu biết sâu vào vùng đất bắc, chủ yếu với văn hóa sông Hồng thật phong phú, chúng ta mong ông sẽ có những nổ lực tương tự đối với con người và đời sống cũng rất giàu có phương Nam, thì mới thật sự là chân dung văn hóa Việt.

Cuốn thứ ba có cái tên lạ ‘’Mày là kẻ nào?’’. Cách đây mấy thế kỷ, mày tao là cách xưng hô thông thường của người Việt, các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo và con chiên của gọi nhau đều như vậy. ‘’Kẻ’’ có nghĩa là vùng đất. Kẻ Chợ là tên xưa của Hà Nội. ‘’Mày là kẻ nào?’’ có nghĩa là mày ở đâu (mà tới đây)? Cuốn sách viết về những cuộc di chuyển của các mảng lớn con người trong suốt lịch sử tạo nên diện mạo nước ta ngày nay. Cuốn thứ tư, cuối cùng trong bộ sách này có tên là ‘’Việt Nam, thế kỷ 19’’. Tại sao lại là thế kỷ 19? Mọi sự vật thường tự bộc lộ ra sâu sắc, toàn diện nhất ở thời điểm bản lề. Ở Việt Nam thế kỷ 19 là một thời điểm như vậy, khi đất nước và xã hội từ cổ truyền chuyển sang hiện đại, bị và được xới tung lên tận nền tảng. Phan Cẩm Thượng muốn chọn đúng một thời điểm như vậy để cố gắng cung cấp bức chân dung chân thật nhất của người Việt, kết thúc bộ sử đặc biệt của ông.

Giải Phan Châu Trinh chào mừng ở Phan Cẩm Thượng một nhà văn hóa độc đáo và sâu sắc. Xin trân trọng chúc ông thật nhiều thành tựu mới.

Tân khoa của Giải Việt Nam học năm nay là hai nhà sử học Pháp Pierre Brocheux và Daniel Hémery, thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa. Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng. Có thể kể, của Brocheux: các sách ‘’Hồ Chí Minh’’, in năm 2000; ‘’Hồ Chí Minh, từ nhà cách mạng đến bức tranh thánh’’, in năm 2003;  ‘’Một lịch sử kinh tế Viêt Nam – Cây đòn gánh và chiếc xe tải’’ (2009); ‘’Châu thổ sông Cửu Long, Sinh thái, Kinh tế và Cách mạng’’; ‘’Lịch sử Việt Nam. Quốc gia có sức chống chịu mạnh mẽ’’  (2011); ‘’Công cuộc giải thực dân thế kỷ 20’’ (2012); Lịch sử Đông Nam Á. Các cuộc nổi dây, các cuộc cải cách và các cuộc cách mạng’’(2002) …; của Hémery: ‘’Các nhà cách mạng Việt Nam và chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Cổng sản, Trokiste, Quốc gia chủ nghĩa ở Sài Gòn từ 1932 đến 1937’’ (1975); ‘’Hướng dẫn nghiên cứu Việt Nam. Thư mục. Tư liệu và Thư viện ở Pháp’’ (1983); ‘’Tình trạng nô lệ quyền năng. Một lịch sử về năng lượng’’; ‘’Tiến tới một lịch sử của phát triển. Các quốc gia, các xã hội, và phát triển’’ (1988); ‘’Hồ Chí Minh. Từ Đông Dương đến Việt Nam’’ … Đặc biệt Pierre Brochueux và Daniel Hémery có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung, ‘’Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954’’ (‘’Indochine, une colonisation ambiguë’’), như lời bình luận của nhà nghiên cứu Philippe Papin, là một cuốn sách ‘’được chín muồi một cách chậm rãi, phần cốt yếu đã được biên soạn từ 1987-1988, được viết lại hoàn toàn và bổ sung trước khi ra mắt (năm 1994)’’. Philippe Papin cũng nói rằng hai tác giả ‘’đặt lại thực tế thuộc địa mà tránh các con đường đã trở thành quen cũ của lối viết sử theo truyền thống chống thực dân, để tư duy về công cuộc thực dân hóa như là sự tiếp xúc – trong giao thoa, chồng chéo – giữa hai nền văn hóa theo những mối quan hệ bất bình đẳng song mọi sự về những mối quan hệ này còn chưa được nói đến hết …’’. Tôi có biết một bản dịch (còn chưa in) cuốn sách này lấy tên là ‘’Đông dương, một nền thực dân nước đôi’’. Trong tiếng Pháp còn có từ ambivalent có nghĩa là có tính hai chiều, hai mặt, lưỡng trị, tức nước đôi. Ở đây Brocheux và Hémery không nói ambivalent, hai ông nói ambiguë, nhập nhằng, nghĩa là còn nhiều chiều hơn, nhiều mặt hơn, phức tạp hơn, chồng chéo lên nhau, khi cùng hướng, khi trái ngược nhau, đan chen, ngập ngừng. Sự độc đáo, đặc sắc của tác phẩm này chính là ở chỗ nó cố lần ra cho hết các chiều khác nhau đó, phân tích cặn kẽ, khách quan, thực tế, với những cứ liệu chứng minh hết sức phong phú. Cả về phía những kẻ đi xâm lược và cai trị, động cơ kinh tế của chủ nghĩa tư bản ráo riết đi tìm thị trường, bóc lột, đàn áp, nô lệ hóa ‘’đến thảm khốc’’ như Hoàng Xuân Hãn từng nói …  chen lẫn chồng chéo, mò mẫm, lẫn lộn với nền văn minh mà nó truyền bá, có ý thức hay nằm ngoài, thậm chí chống lại chính ý thức đó, phức tạp, tinh tế, ở trong chính sách chung của chủ nghĩa thực dân và ở trong từng con người đi thực hiện nó; lẫn phía những người bị trị và xã hội của họ, bị bóc lột, đàn áp khốc liệt, tan vỡ và bị tha hóa … đồng thời cũng lại bước vào một quá trình hiện đại hóa đương nhiên là hạn chế, với sự hình thành một nền văn hóa mới và lớp tinh hoa hiện đại ở chính dân tộc bị trị, thậm chí như là để chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài của đất nước sau khi nền thực dân đã bị đánh đổ …

Chính trong ý nghĩa đó mà cuốn sách viết về một thời đã khá xa này vẫn nhiều ý nghĩa thời sự cho suy nghĩ của chúng ta hôm nay. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Pierre Brocheux và Daniel Hémery thật thành công trong tác phẩm trằn trọc và tâm huyết này. Trong một bức thư rất ngắn gửi đến chúng ta, Brocheux, người ‘’đã cống hiến 37 năm cuộc đời nhà giáo và nghiên cứu của mình cho lịch sử của dân tộc Việt Nam và số phận của quốc gia Việt Nam’’ viết: ‘’Tôi càng dễ nhạy cảm hơn trong thức nhận về các công trình chép sử của tôi khi nó bắt nguồn từ đất nước mà tôi gọi là đất mẹ của tôi trong khi tổ quốc tôi là đất nước của cha tôi. Nhà Brocheux vốn thuộc một dòng họ vùng Normandie còn mẹ tôi lại thuộc dòng họ Trương mà cái nôi sinh thành là Phan Thiết và sau đó đã di cư về Vĩnh Long.’’ Vậy là ông viết về chính số phận ‘’đất mẹ’’ của mình trong quan hệ lịch sử khó nhọc mà cũng giàu cả sinh sôi, với tổ quốc là đất nước của cha ông. Còn Hémery thì là người đã nói về vị tiền bối mà Quỹ chúng ta mang tên như sau: ”Phan Châu Trinh là khuôn mặt sáng giá nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX vì ông đã biểu đạt một cách mạnh mẽ và sáng rõ nhất những nan đề mà các thế hệ người Viêt Nam hôm nay còn phải tiếp tục đảm nhận.’’

Thật tiếc vì lý do sức khỏe và gia đình, hai nhà sử học đã cống hiến đặc sắc cho sự hiểu biết Việt Nam đã không thể có mặt cùng chúng ta. Xin gửi đến hai ông lời cám ơn chân thành của chúng ta.

  • ●●

Thưa …

Tiếp tục chương trình khởi đầu từ ba năm trước, năm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Chúng ta đều biết, thường vẫn vậy, có những điều ta vẫn làm hằng ngày, chừng đơn giản và vô tư, như viết một bức thư, đọc một bài báo, thảo một công văn …, sang hơn chút nữa, cao hứng viết một bút ký hay một truyện ngắn, càng sang và cao hơn viết một tiểu thuyết, soạn một luận văn hay biên soạn một cuốn sách uyên bác về xã hội học, kinh tế học, triết học hay vật lý học thậm chí đến vật lý thiên văn, trình bày một lý thuyết mới về toán học cao cấp … với công cụ biểu đạt là tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ, loại chữ mà con ta đang học ở lớp một …. và coi chuyện có cái công cụ đó là đương nhiên rồi … nếu còn đôi chút băn khoăn là nắn nót viết sao cho chính xác, cho hay …   Vậy mà hóa ra chuyện đó, cái công cụ rất tuyệt cho phép ta diễn đạt đến tận chùng những gì thâm sâu, phức tạp, uyên ảo nhất trong chính ta, trong xã hội và trong tự nhiên đó không hề là đương nhiên, và cũng chỉ là mới có được đây thôi, mặc dù tiếng Việt viết bằng vần chữ cái la-tinh mà ta gọi là chữ quốc ngữ đã được Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes chế ra từ cuối thế kỷ XVII, còn vô cùng khó khăn để tồn tại, thậm chí đã từng có thể bị xóa đi mất, nếu còn thì cũng chỉ các giáo sĩ dùng để giao tiếp với các con chiên một cách thô sơ bởi sức biểu đạt của nó còn rất nghèo nàn … Số phận của nó bấy giờ càng nguy nan hơn vì bị ép từ cả hai phía: sức phản kháng quyết liệt của cả một tầng lớp được coi là trí thức ưu đẳng và cũng là độc tôn của đất nước đã mấy nghìn năm sử dụng và coi chữ Hán là cao quý thiêng liêng của Thánh hiền, mất nó đi thì vị thế xã hội của họ cũng sụp đổ; bên kia là người Pháp thống trị, cho đến tận thời các Toàn quyền Paul Bert, Paul Doumer rồi Albert Sarraut, theo như nghiên cứu của Bernard Le Calloc’h, vẫn còn rất phân vân không biết nên chọn thứ chữ gì làm chữ chính thống cho thuộc đia này đây? Đã từng có chủ trương ưu tiên muốn dùng tiếng Pháp, chữ Pháp cho Việt Nam, như họ đã làm đối với các thuộc đia của họ ở châu Phi, cho đến tận ngày nay … Nhưng rồi khá tỉnh táo, từng người trong số họ dần hiểu làm như thế là ‘’không thể và không thực tế đối với một đất nước có lịch sử phong phú và một nền văn minh đáng nể như Việt Nam’’. Vả chăng họ cũng biết dùng chữ Pháp cho đất nước này thì chẳng qua chỉ là thay cho nó một ngoại ngữ này bằng một ngoại ngữ khác. Giữa chữ Hán và chữ Pháp, còn một thứ chữ: quốc ngữ. Và số phận đã thuộc về nó, nó đã được chọn. Chữ quốc ngữ đã sống sót như thế. Tuy nhiên vấn đề là sống, chứ không phải sống sót. Nó phải tự chứng tỏ cho kỳ được sức sống mạnh mẽ, vượt trội, đủ sức và đủ sức hơn cả, để cho Việt Nam tự biểu đạt mình trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, thử nghĩ lại mà xem, khó khăn, khốc liệt biết bao nhiêu của dân tộc và nước nhà vào đầu thế kỷ XX. Cho nên, chúng tôi nghĩ, quả có một cuộc đấu tranh mất còn về mặt ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam vào thời ấy, kiên định, quyết liệt, khôn khéo, thông minh, để hiện đại hóa tiếng Việt và lối viết bằng chữ quốc ngữ của nó, hoàn thiện nó thành vũ khí sắc bén của cuộc đấu tranh văn hóa, Và đã có những chiến sĩ tiên phong của cuộc đấu tranh đó, những Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi mà Quỹ chúng ta đã vinh danh trong mấy năm qua, và bao nhiêu người khác, trong đó nổi bật lên một người vào loại đặc sắc, có cống hiến rất quan trọng: người ấy là Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm. Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mũ chữ, nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, trong lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt. Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: ‘’… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm.’’

Cuối năm 1914, do làm việc với Viễn Đông Bác Cổ mà có dịp găp Nguyễn Bá Trác bấy giờ là chủ bút của Đông Dương Tạp chí, ông bắt đầu cộng tác với tạp chí này, nhận ra sức mạnh và sự lợi hại đặc biệt của báo chí, có thể là vũ khí đầy hiệu lực cho cuộc đấu tranh để hiện đại hóa tiếng Việt và chữ quốc ngữ mà ông thiết tha ôm ấp. Nên năm 1916 khi Đông Dương tạp chí đóng cửa, ông đã lập ra tạp chí Nam Phong vào tháng Bảy năm 1917. Ngay từ số đầu tiên ra mắt, qua Nam Phong Phạm Quỳnh đã nói rõ rằng vấn đề văn hóa thật sự của chúng ta không phải là chọn lựa giữa trung thành với truyền thống Trung Hoa hay ngã theo văn hóa Pháp, mà là phải khẳng định vị trí của một nhân tố thứ ba xưa nay vẫn bị coi thường là ngôn ngữ dân tộc, để bảo vệ và phát tiển văn hóa dân tộc. Duy có nghịch lý là ngay cả một tuyệt tác hàng đầu của văn học dân tộc là Truyện Kiều của Nguyễn Du lại cũng phải viết bằng chữ Nôm là một thứ chữ đặt theo mẫu hình chữ Hán, lại còn khó và rắc rối hơn. Vả chăng cho đến lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực. Phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại. Đấy là một công việc khổng lồ. Phải tạo ra nhưng từ mới và những cách diễn đạt mới, trong vài năm hàng trăm từ mới và cách diễn đạt mới phải và đã được đặt ra, phải biên tập một bộ từ điển, phải thống nhất các quy tắc ngữ pháp, cố định hệ thống từ vựng, mượn của tiếng Pháp các mẫu hình để tạo ra một ngôn ngữ khoa học, kỹ thuật, và cả pháp lý và triết học. Phải phổ cập các chuẩn mực chinh tả, biên soạn các sách giáo khoa, chuyển sang chữ quốc ngữ các văn bản chữ Nôm và chữ Hán, định dạng các truyện kể và dân ca của văn học dân gian, cuối cùng thực hiện cho được một cách hài hòa nhất sự hòa hợp giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ trí thức. Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó, thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập. Và ông đã chứng minh hùng hồn, đồng thời khẳng định sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ mà ông đã dày sức góp công xây dựng bằng những sáng tác nhiều loại với một lối văn đẹp đẽ và sang trọng của chính ông, đến nay đều đã được tái bản hầu hết.

Về con người chính trị của Phạm Quỳnh, hôm nay chúng tôi chỉ xin nhắc lại ở đây một báo cáo nói về ông của viên Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn ngày 8 tháng Một 1945 gửi Toàn quyên Đông Dương Decoux và Trung tướng Mordant, Tổng Đại diện và là Chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, nguyên văn như sau:

’Một lần nữa, viên Thượng thư Bộ Lại (tức Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản … Tôi đã lưu ý Hoàng Đế Bảo đại rằng viên Thương thư Bộ Lại của Ngài đã lơ là các chức vụ của mình để nằng nặc đòi hỏi mở rộng các quyền của Viện Cơ Mật … Ông đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự phát triển lũy tiến theo một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Pham Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay thế chế độ ‘’bảo hộ’’ bằng một thể chế ‘’Thịnh vượng chung’’ trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không thể lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một chức vụ danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp … Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài.’’

Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời Hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước ‘’không thể lay chuyển’’.

Thưa …

Lần nữa chúng tôi xin nhắc lại điều vẫn nói cùng nhau những dịp này: Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh luôn nhận thức chính sự nghiệp và uy tín của những người nhận giải làm nên uy tìn và độ tin cậy cao của Giải. Xin trân trọng cám ơn các vị tân khoa của Giải 2018 vì điều đó, xin cám ơn các nhà khoa học và các nhà văn hóa đã sáng suốt đề cử và phản biện giúp chúng tôi trong quá trình làm giải. Xin cám ơn và xin chúc sức khỏe tất cả quý vị có mặt hôm nay.

—o0o—

Dâng hương tưởng nhớ học giả Thượng Chi – Phạm Quỳnh nhân dịp Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vừa tôn vinh Cụ là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời kỳ hiện đại

Ngày 13-4-2018 tức 28-2 Mậu Tuất, nhân tiết thanh minh, gia đình học giả Phạm Quỳnh, danh nhân văn hoá Việt Nam thời kỳ hiện đại, đã tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ Cụ tại khu mộ Cụ ở thành phố Huế.

Tham gia buổi lễ có 14 cháu, chắt, chút nội ngoại của Cụ đến từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đến dự còn có ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên- Huế. (Tin và ảnh của Nhà giáo Nhân dân Tôn Thất Thân)

 

Advertisements

Tháng Ba 25, 2018

Thư của chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

Thư của Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên ngày 7/2/2018

GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH (LẦN XI, 2018)

 Anh Phạm Tuyên kính mến,

Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, do bà Nguyễn Thị Bình đứng đầu, thành lập và hoạt động đã hơn mười năm nay, hằng năm vẫn có một giải thưởng được trao cho những nhân vật có thành tựu đặc sắc trong các lĩnh vực Nghiên cứu, Dịch thuật, Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục, Việt Nam học (dành riêng cho người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam). Từ bốn năm nay, chúng tôi còn có thêm hạng mục Tôn vinh các danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại, mà chúng tôi giới hạn về mặt thời gian từ khi có chữ quốc ngữ – từ cuối thế kỹ 19 cho đến năm 1945 (trước đó thì đã được lịch sử khẳng định, sau đó thì đã do nhà nước xác nhận). Trong bốn năm qua, ngoài hai vị tiền bối là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, chúng tôi đã tôn vinh được các danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, được dư luận rộng rãi tán thành và hoan nghênh. Năm nay, chúng tôi mong muốn được tôn vinh Cụ Phạm Quỳnh mà chúng tôi luôn nghĩ là một nhân vật hết sức xứng đáng. Chúng tôi rất mong anh và gia đình vui lòng chấp nhận đề xuất chân thành này của chúng tôi.

Lễ trao giải và tôn vinh, như thường lệ, sẽ diễn ra vào ngày 24-3-2018, đúng ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh, vào lúc 18 giờ 30 tại khách sạn REX Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin kính mời anh và các vị trong gia đình có điều kiện đến dự buổi lễ trang trọng này. Chúng tôi cũng xin đề nghị anh thay mặt gia đình có một diễn từ phát biểu trong dịp này, tập trung chủ yếu nói về những đóng góp to lớn về văn hóa của Cụ Phạm, và tinh thần yêu nước sâu sắc của cụ. Vì nội dung phong phú và thời gian có hạn của buổi lễ, chúng tôi xin đề nghị diễn từ cố gắng cô đọng trọn vẹn trong khoảng trên dưới 1000 từ.

Theo đúng điều lệ Giải, mọi thông tin về Giải đều được giữ kín cho đến khi chính thức công bố.

Đã lâu không được gặp anh, tôi mong anh vẫn luôn mạnh khỏe và có nhiều sáng tạo mới.

Xin cám ơn anh rất nhiều,

Quý mến,

Ngày 7 tháng 2 năm 2018

Hội đồng khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh

Chủ tịch

(Đã ký)

      NGUYÊN NGỌC

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

  • Trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2018

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh vừa được xướng tên tại buổi lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đêm 24-3 ở nội dung Dự án tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên (phải) thay mặt cha là Phạm Quỳnh nhận tôn vinh từ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Ảnh: L.ĐIỀN

Như vậy là tiếp theo 5 vị danh nhân vừa được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh tại dự án nói trên gồm: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi; Phạm Quỳnh (1892-1945) được xếp tên vào “ngôi đền online” do Quỹ Phan Châu Trinh lập ra, nơi sẽ tập hợp các thông tin về tiểu sử của các nhà văn hóa được vinh danh, các tác phẩm, các bài viết nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu về các nhà văn hóa này.

Một người yêu nước không thể lay chuyển

Trong diễn từ vinh danh, nhà văn Nguyên Ngọc – chủ tịch hội đồng khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – đã dùng cụm từ “một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước không thể lay chuyển” dành cho Phạm Quỳnh.

Cũng trong phần nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đời Phạm Quỳnh, tài năng và những đóng góp lớn lao cho văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam được nhắc lại.

“Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa Trường Thành chung bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm.

Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mù chữ nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt.

Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: “… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm””.

Đặt Phạm Quỳnh trước sự lựa chọn chữ quốc ngữ Latin trước buổi đầu làm quen với phương tiện ngôn ngữ do “người Tây” chỉ dạy, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh cho rằng “lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực”.

Chính điều này đặt ra nhu cầu phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại.

Và đấy là một công việc khổng lồ. Phạm Quỳnh đã dành cả đời mình để dấn bước vào công việc ấy.

“Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập” – nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.

Ghi nhận đóng góp của Lữ Phương, Phan Cẩm Thượng, Dương Thụ

Năm nay, hạng mục Nghiên cứu của giải trao cho hai cá nhân: nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng và nhà nghiên cứu Lữ Phương.

Có lẽ điểm đặc biệt của Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần này là vinh danh Lữ Phương ở lý do “vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx”.

Giải văn hóa Phan Châu Trinh cũng ghi nhận những đóng góp của Lữ Phương từ những năm 1960 ở Sài Gòn, khi ông là cây bút chủ lực của tạp chí Tin Văn – một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang.

Cùng nhận giải Nghiên cứu năm nay là nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng “vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian”.

Giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh “vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công kỹ nghệ”, và trao cho nhạc sĩ Dương Thụ “vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa”.

Giải Dịch thuật trao cho dịch giả Nguyễn Tùng “vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học”.

Giải Việt Nam học được trao cho hai nhà nghiên cứu Daniel Hémery và Pierre Brocheux “vì thành tựu đặc sắc về Việt Nam học”. Đây là hai nhà sử học Pháp thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa.

Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng, đặc biệt là cả hai có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung: Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954 (Indochine, une colonisation ambiguë) từng được nhà nghiên cứu Philippe Papin đánh giá cao.

Từng bước canh tân văn hóa

Năm nay là lần thứ 11 Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng như một hoạt động thực hiện sứ mệnh “góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”, kế tục tinh thần canh tân mà nhà văn hóa Phan Châu Trinh khởi xướng từ 100 năm trước.

Sau 10 lần trao giải, các cá nhân được tôn vinh đều là những cá nhân xuất sắc trong học giới, là những người “không quản gánh nặng đường xa” đóng góp vào con đường khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh bằng chính những công trình thiết thực của mình.

LAM ĐIỀN

Nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động khi bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

NS Phạm Tuyên xúc động khi thay bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

(Bài thu từ Phunuonline.com.vn ngày 25/3/2018)

Với những cống hiến to lớn trong công tác giáo dục, cố học giả Phạm Quỳnh – cha ruột nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã trở thành nhân vật thứ 6 được vinh danh tại lễ trao giải Văn hoá Phan Châu Trinh 2018.

Tiếp nối sự thành công của 10 mùa giải trước, lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ XI -năm 2018 đã được long trọng diễn ra vào tối ngày 24/03 tại TP.HCM với sự tham dự của nhiều lãnh đạo các cấp, cơ quan ban ngành, đoàn thể và các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa…

Đây là hoạt động được tổ chức thường niên của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018 tôn vinh các cá nhân xuất sắc nhận giải thưởng ở 4 hạng mục giải thưởng gồm: Vì Sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục (giải thưởng trao cho những người Việt hoặc người nước ngoài có những công trình văn hóa xuất sắc hay những hoạt động văn hóa – giáo dục xuất sắc tại Việt Nam); Nghiên cứu (hạng mục này dành cho những người Việt, không kể quốc tịch, có những công trình nghiên cứu xuất sắc); Dịch thuật (trao cho những người có những công trình dịch thuật xuất sắc nhằm góp phần chấn hưng văn hóa, khoa học và giáo dục, được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt); Việt Nam học (trao cho những người nước ngoài có những công trình nghiên cứu xuất sắc về Việt Nam hoặc có những công trình dịch thuật xuất sắc, dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài). Đặc biệt, BTC còn vinh danh vị Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại, là cố học giả – nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Cố học giả Phạm Quỳnh (1893 -1945) là cha ruột của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lúc sinh thời ông là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và là quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Việc ông được vinh danh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại thứ 6 trong lịch sử giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh khiến không ít người có mặt tại buổi lễ trao giải xúc động. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn khi đọc quyết định công bố kết quả đã không kiềm được cảm xúc.

Thay mặt người cha quá cố lên nhận giải thưởng cao quý, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã không nén được sự xúc động trước tình cảm và sự kính trọng mà xã hội, đất nước đã dành cho cha ông. “Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20. Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam”, nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ.

Nhà văn Nguyên Ngọc Luôn dành sự kính trọng khi nhắc về Phạm Quỳnh, nhà nghiên cứu văn hóa kiêm Ủy viên HĐ quản lý Quỹ kiêm Chủ tịch HĐ khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Nguyên Ngọc chia sẻ: “Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước “không thể lay chuyển”.

Cố học giả Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng khi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ từ năm 16 tuổi, là viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng và tự học chữ Nho đến mức uyên thâm”.

Trước cố học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn hóa sau đã được vinh danh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại như: Danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Danh nhân văn hóa Phan Châu Trinh (1872 – 1926), Danh nhân văn hóa Phan Bội Châu (1867 – 1940), Danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Danh nhân văn hóa Phan Khôi (1887-1959).

Bài và ảnh Thanh Hương

—-o0o—

Giải thưởng Phan Châu Trinh 2018 tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

( Bài trang 8 báo Thanh Niên ngày 25/3/2018)

Tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 11 diễn ra tối 24.3 tại TP.HCM, nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1893 – 1945) đã được vinh danh là Danh nhân văn hóa VN thời hiện đại.

Năm danh nhân văn hóa từng được vinh danh trước đây là Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Khôi. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 90 tuổi, con trai nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã thay mặt gia đình lên nhận giải và đọc diễn từ.

Ngoài ra, các giải thưởng chính của năm nay gồm: giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục (2 giải) được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công – kỹ nghệ, và cho nhạc sĩ Dương Thụ vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa.

Giải Dịch thuật được trao cho dịch giả Nguyễn Tùng vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học. Giải Nghiên cứu (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Lữ Phương vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx, và cho nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian. Giải Việt Nam học (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Daniel Hémery và nhà nghiên cứu Piere Brocheux vì những thành tựu đặc sắc về Việt Nam học.

Lễ trao giải được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao hằng năm nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục VN.

Lucy Nguyễn

Bài phát biểu của Nhạc sĩ Phạm Tuyên tại lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh về Nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

TẠI LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH

VỀ NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.  Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, cuốn sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng khiêm tốn, nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh.

Sau đó 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên.

Trước đó 4 năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học  do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu.

Năm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh ,chính thức được bán và quảng bá tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3  năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932,. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước

            Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút.

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết  và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết.

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Giải thưởng Văn hóa Pham Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20.

Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam.

Tháng Ba 14, 2018

Phạm Quỳnh, một sĩ phu Hà Nội

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

 

 PHẠM QUỲNH, MỘT SĨ PHU HÀ NỘI

Phạm Tôn

Năm 1908 Phạm Quỳnh đã đỗ thủ khoa năm đầu tiên của trường Trung học Bảo Hộ. Nhân dân thường quen gọi là “Thủ khoa Tây trường Bưởi”.

Pham Quynh_1922 tai PhapCũng năm 1908 ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục của cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con nhà nghèo đến mấy đời Phạm Quỳnh đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì chưa đến tuổi thành niên.

“Thủ khoa Tây” được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn, đủ mọi mặt toàn xứ Đông Pháp. Năm ấy, “công chức” Phạm Quỳnh mới mười lăm tuổi. Vốn ham hiểu biết, lại được làm việc dưới sự chỉ bảo của các “đại sư” người Pháp uyên thâm nhiều lĩnh vực, và được ở bên, ở ngay trong kho sách lớn có một không hai trong nước ta, Phạm Quỳnh thả sức học tập, đọc miệt mài, hết tra cứu, đến so sánh, lại ghi chép… đến quên cả giờ về nhà. Tại đây Phạm Quỳnh quen biết Nguyễn Văn Tố, sau này cũng là một học giả nổi tiếng, từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên của cụ Hồ.

Những năm làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) cũng chính là những năm học tập miệt mài, khổ công tự học và thành tâm, khiêm tốn học hỏi các bạn đồng nghiệp Pháp Việt đã đưa Phạm Quỳnh từ một thanh niên hiếu học trở thành một nhà nghiên cứu có kiến thứPham Quynh chu but Nam Phongc vững chắc, khá toàn diện về nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên nữa. Đặc biệt, từ một học sinh chỉ viết được có hai chữ nho tên mình, suýt bị trượt kỳ thi tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ vì bài dịch Hán văn ra Pháp văn đáng lẽ bị điểm liệt, may mà được các giám khảo nương tay cho nửa điểm mới đỗ “Thủ khoa Tây”, sau chín năm trời đã trở thành một nhà Hán học uyên thâm, có thể đọc, dịch và viết văn bằng chữ Nho thành thạo. Chủ yếu là do công tự học kiên trì và có phương pháp đúng.

Do có vốn liếng vững chắc về khoa học xã hội, năm 1913, Phạm Quỳnh đã trở thành một cây bút quen thuộc, được tín nhiệm trên Đông Dương tạp chí của người bạn cùng học trường Thông Ngôn năm nào Nguyễn Văn Vĩnh. Từ đó Phạm Quỳnh nổi tiếng với nhiều bài nghiên cứu sắc sảo, chững chạc, già dặn hơn tuổi đời hai mươi của mình rất nhiều.

Những bài báo đó “lọt mắt xanh” của Louis Marty, giám đốc Vụ Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương và cả bản thân Toàn quyền Albert Sarraut nữa. Hai con cáo già thực dân này đã quyết định dùng Phạm Quỳnh làm cầu nối giữa Pháp và Việt Nam, giữa lớp trí thức cũ Hán học và lớp trí thức mới Tây học.

Năm 1917 tạp chí Nam Phong ra đời với chủ bút phần quốc ngữ là Phạm Quỳnh, mới hai mươi bốn tuổi.

Chẳng bao lâu, tạp chí Nam Phong đã trở thành tờ báo có uy tín nhất và lớn nhất thời bấy giờ. Báo quy tụ được cả những nhà cựu học uyên thâm lẫn những người tuổi trẻ tài cao. Phạm Quỳnh dùng Nam Phong tạp chí làm cơ quan để “tài bồi” cho văn quốc ngữ trở thành tiếng nói, chữ viết chuyển tải được những sự phát triển mới trong đời sống xã hội, đủ các ngành khoa học.

Vì ông tin rằng, có tiếng mới có nước, tiếng còn thì nước không mất được.

Năm 1922, với danh nghĩa Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseilles. Ông tranh thủ diễn thuyết ở nhiều nơi để người Pháp hiểu thêm và do đó tôn trọng nước và người Việt Nam mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam mà tìm ra đường đến diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Bài nói của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ có mặt nhất loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở nơi tụ hội tinh hoa của cả nước Pháp, gây chấn động lớn khắp thủ đô Paris. Ông nói dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ khác lên những trang đã đầy chữ rồi. Ông kiên quyết bảo vệ bản sắc Việt Nam.

Những ngày ở Paris, ông đã gặp và trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc ít nhất ba lần; một lần còn được Nguyễn Ái Quốc “đích thân tổ chức bữa cơm Bắc thết khách Bắc” tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Ngày 8/9/1924, Phạm Quỳnh là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du. Trước hơn 2000 người tham dự, câu nói bất hủ của ông đã được đồng thanh tán thưởng

Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hinh Hà Nội, nơi kết án tàn bạo nhất. Phạm Quỳnh không ngần ngại viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) lớn tiếng bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả mọi người Pháp yêu nước chống quân ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân hồi ấy đòi khoan hồng cho Phan Bội Châu. Thế rồi, từ một án tử hình, tám án chung thân, hạ dần xuống mức chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Mười lăm năm cuối đời Phan Bộ Châu, nhà báo Phạm Quỳnh, rồi Thượng thư Phạm Quỳnh lúc nào cũng bênh vực, tận tụy chăm sóc ông về tinh thần và cả vật chất nữa. Cho đến năm 1940 Thượng thư Phạm Quỳnh vẫn không ít lần đến tận nhà thăm và giúp đỡ nhà chí sĩ cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.

Năm 1926, Thống sứ Bắc Kỳ René Robin có “nhã ý” trợ cấp cho tạp chí Nam Phong. Nhân cơ hội này, Phạm Quỳnh xin trợ cấp cả cho Nguyễn Văn Vĩnh mà ông trình bày trong thư gửi Robin là đã và đang làm nhiều việc mà còn gặp nhiều khó khăn hơn ông.

Ngày 4/12/1931, Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng cấp cao Đông Dương về Kinh tế-Tài chính đòi bãi bỏ chính sách độc quyền sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra một thị trường rượu ở Bắc Kỳ, có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bãi bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị.

Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục kiêm Tổng lý Đại thần Ngự Tiền Văn Phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đày ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản” ở Kiến An. Có lẽ xưa nay không có ai vừa nhậm chức lại đi làm một việc như thế, không hề nghĩ gì đến “cái ghế mình ngồi còn chưa ấm chỗ”.

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thảm trên đường đi tìm vàng tại Lào thì Phạm Quỳnh đang là Tổng lý Đại Thần Ngự Tiền Văn Phòng và Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục. Vậy mà ông lại làm bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh; Trong đó, bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục.

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ.

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

 Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp rồi dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh rút khỏi chính trường, về nhà sống ẩn dật, chuyên tâm trở lại với nghề viết mà ông hằng yêu quí. Trong những ngày biến động này, ông em vợ thấy anh rể cứ bình chân như vại thì sốt ruột quá mới khuyên anh “nên tránh đi, sang Lào chẳng hạn vì xem ra vua Lào quí anh lắm.” Thì Phạm Quỳnh thản nhiên trả lời là “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước để đem tài trí ra giúp nước”. Rồi lại cặm cụi đọc sách, viết văn.

Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongNhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945.

Tp Hồ Chí Minh, 30/08/2014

P.T.

Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí trong từ điển bách khoa và từ điển văn học bộ mới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

 PHẠM QUỲNH VÀ NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA VIỆT NAM

  Lời dẫn của Phạm Tôn: Một trong những thành tựu đáng tự hào của công cuộc Đổi Mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là sự ra đời của bộ Từ Điển Bách Khoa Việt Nam đầu tiên, đồ sộ gồm tới hơn 4000 trang, chia làm bốn tập:

–          Tập 1, 964 trang do Trung Tâm Biên Soạn Từ Điển Bách Khoa xuất bản năm 1995,

–          Tập 2, 1040 trang do Trung Tâm Xuất Bản Từ Điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002,

–          Tập 3, 880 trang, cũng do trung tâm trên xuất bản năm 2003

–          Và tập 4, tập cuối, 1172 trang, cũng do trung tâm này xuất bản năm 2005.

Là một thành tựu của đổi mới, cho nên trong tập 3 (từ vần N đến vần S) đã có mục Phạm Quỳnh, và mục Nam Phong. Lại còn có mục Pháp Việt Đề Huề.

Chúng tôi xin sao y bản chính các mục đó ra sau đây để bạn đọc tiện tham khảo.

  1. Phạm Quỳnh (trang 398, tập 3)

Phạm Quỳnh (hiệu: Thượng Chi; bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân; 1892-1945), đại thần triều Nguyễn. Quê: làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tốt nghiệp Trường Thông Ngôn. Làm việc ở Trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội. Từ 1917, chủ bút Tạp chí“Nam Phong”(x. Nam Phong). Tuyên truyền chủ trương “Pháp-Việt đề huề” (x. Pháp Việt đề huề). Những năm 1924-32, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội. Cuối 1932, vào Huế phụ trách Văn Phòng của Bảo Đại, thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ Lại của triều đình Huế. Tác giả và dịch giả một số sách văn học, triết học và tùy bút của một số tạp chí.

  1. Nam Phong (trang 29, tập 3)

“Nam Phong”, tạp chí xuất bản hằng tháng ở Hà Nội những năm 1917-34. Thành lập theo chủ trương của Toàn quyền Pháp Anbe Xarô (Albert Sarraut). Phạm Quỳnh làm chủ bút, phụ trách phần tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ; phần chữ Hán do Nguyễn Bá Trác đảm nhận. Từ 1922 trở về sau có thêm phần tiếng Pháp.

Mục đích của tạp chí là tuyên truyền chính sách bảo hộ và đề cao công cuộc “khai hóa” của Pháp ở Việt Nam. Tạp chí mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội và văn hóa-văn minh của Việt Nam và thế giới. Về văn học, “NP” chuyên về biên khảo, dịch thuật và giới thiệu sáng tác mới. Có các mục Văn uyển, Tiểu thuyết, Văn học bình luận-cung cấp cho độc giả một số kiến thức khái quát về văn học, triết học, lịch sử, địa lí; bước đầu giới thiệu văn học cổ Việt Nam bằng chữ Hán qua các triều đại; dịch ra quốc văn một số tác phẩm văn học có giá trị như thơ văn thời Lý-Trần, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, “Thượng Kinh kí sự” của Lê Hữu Trác và nhiều tác phẩm thơ văn cổ khác. Trong xu thế đề cao tinh thần “bảo tồn cổ học”, “dung hòa Đông Tây”, tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hóa và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.

  1. Pháp Việt đề huề (trang 421, tập 3)

Pháp-Việt Đề Huề chủ trương chính trị do thực dân Pháp đưa ra trong Chiến tranh thế giới I. Mục đích chính nhằm kêu gọi sự hợp tác Pháp-Việt để bảo đảm sự ổn định chính trị và huy động sức người, sức của của Việt Nam phục vụ chiến tranh đế quốc. Một số cá nhân và tổ chức chính trị thân Pháp tuyên truyền ủng hộ chủ trương này. Báo “Nam Phong” của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”. Nguyễn Văn Vĩnh và Bùi Quang Chiêu cũng hoạt động theo tinh thần đó. Thực dân Pháp cử người sang Trung Quốc vận động Phan Bội Châu ủng hộ chủ trương nói trên. Tương kế tựu kế, Phan Bội Châu viết bài “Pháp Việt đề huề chính kiến thư” yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho Việt Nam, thực tâm giúp Việt Nam tiến bộ văn minh (Năm 1925 tạp chí Nam Phong đã đăng bài viết của Phan Bội Châu trong phần chữ Hán của tạp chí-PT chú). Toàn quyền Anbe Xarô (Albert Sarraut) đã bác bỏ những yêu cầu đó. Sau này, được hỏi về lý do viết bài nói trên, Phan Bội Châu trả lời:

“Đề huề chi mà đề huề

Oán thù ta hãy còn sâu

Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què”.

 *

*       *

PHẠM QUỲNH NHÓM NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Thành tựu lớn về văn hóa của nước ta sau đổi mới là việc xuất bản bộ Từ điển Bách Khoa đồ sộ 4 tập, gồm hơn 4.000 trang, ra mắt bạn đọc từ năm 1995 đến năm 2005. Trong đó, có hai mục Phạm Quỳnh (Trang 398, tập 3) và Nam Phong (Trang 29, tập 3).

Một thành tựu lớn nữa là sự ra đời của Từ điển Văn học (Bộ mới) không kém đồ sộ với 2.300 trang do Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản năm 2004. Trong Lời nói đầu,  Ban Chủ biên Từ điển Văn học (Bộ mới) đã viết:

LỜI NÓI ĐẦU

Vào khoảng đầu những năm 80 thế kỷ XX, nhằm đáp ứng yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới của đông đảo bạn đọc, bộ Từ điển Văn học (hai tập) được Nhà xuất bản Khoa học xã hội lần lượt cho ra mắt (tập I, 1983, tập II 1984). Bộ sách đã được sự đón nhận nồng nhiệt của dư luận rộng rãi trong và ngoài nước, ghi một dấu mốc cho loại sách công cụ chuyên ngành về khoa học xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả hơn bảy năm biên soạn của một tập thể 56 nhà khoa học ngữ văn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu. Giáo sư Chủ biên đã tổ chức một Ban Biên tập gồm chín người: Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Khắc Phi, Phùng Văn Tửu, Phương Lựu, Trần Hữu Tá, Trần Đình Việt, Hoàng Trường phụ trách từng bộ phận chuyên môn của từ điển, trong đó Nguyễn Huệ ChiPhùng Văn Tửu giữ vài trò thường trực.

Sau khi sách xuất bản được ít lâu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã đề xuất việc tái bản. Tuy vậy, Ban Biên tập trao đổi ý kiến, quyết định hoãn lại một thời gian để sưu tầm thêm tư liệu, bổ sung, sửa chữa, nâng cấp bộ sách lên một bước căn bản, phù hợp với hoàn cảnh đổi mới của đất nước và phục vụ bạn đọc tốt hơn. Bộ phận thường trực phân công bổ sung danh mục từ cho bộ sách, mời thêm người cộng tác, đồng thời thông báo đến toàn thể tác giả biên soạn từ điển để mỗi người xem xét, chỉnh lý lại phần đã viết của mình.

Đến nay, sau hơn mười năm làm việc, Từ điển văn học (bộ mới) đã hoàn thành. So với bộ sách cũ (1.117 trang) thì bộ mới có dung lượng lớn hơn nhiều (2.300 trang). Về kết cấu, tuy vẫn bao gồm bốn bộ phận: tác gia, tác phẩm, tổ chức và hoạt động văn học, thuật ngữ văn họcnhưng bộ phận nào, số lượng mục từ cũng phong phú hơn hẳn trước; nhiều mục từ cũ được chỉnh sửa hoặc viết lại theo những nguồn tư liệu mới. Ở từng mục từ, tính chuyên sâu và tính phổ cập cùng lúc được nâng cao (…)

Khi bắt tay tiến hành Từ điển văn học (bộ mới), do hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân, Ban Biên tập cũ không có điều kiện tiếp tục đảm nhiệm công việc. Mặt khác, do sức khỏe có phần suy giảm, Giáo sư Chủ biên đã chủ động đề nghị bổ sung ba Chủ biên mới là Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá để cùng ông tổ chức, điều hành việc biên soạn. Ban Chủ biên mời thêm hai tác giả Đặng Thị Hảo, Vũ Thanh làm Thư ký thường trực. Bộ sách được sự cộng tác nhiệt tình của 58 tác giả và 48 cộng tác viên; riêng phần ảnh, ngoài tác giả Nguyễn Du Chi còn có sự cộng tác của 18 vị; tổng cộng là 125 người- gồm tất cả những người góp mặt từ lần in trước và những người mới tham gia trong lần biên soạn này. Hầu hết họ là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành thuộc nhiều Trường đại học, Viện nghiên cứu trong cả nước và các nhiếp ảnh gia thuộc một số cơ quan báo chí. Thời gian biên soạn kéo dài nên có mười một tác giả đã từ trần mà không kịp nhìn thấy thành phẩm. (…) Ngay trong những ngày bộ sách đang hoàn chỉnh những trang cuối thì vị Chủ biên kỳ cựu, giáo sư Đỗ Đức Hiểu, cũng không chờ đợi được mà qua đời sau một cơn bệnh kéo dài. Việc công bố ấn phẩm Từ điển văn học (bộ mới) xin được xem như một kỷ niệm thiêng liêng để tập thể tác giả không quên công lao những thành viên đã đóng góp sức lực vào bộ sách cho đến hơi thở cuối cùng (…)

Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2003.

Ban Chủ biên

TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Đáng ghi nhận là trong Từ điển Văn học do Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, xuất bản năm 1984 chỉ có 1 mục từ Nhóm Nam Phong (từ trang 121 đến trang 123) do Nguyễn Phương Chi viết mà không có mục từ Phạm Quỳnh. Trong mục từ đó viết: “(…) Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác… là những kẻ bồi bút phản động” (PT nhấn mạnh). Từ điển Văn học (Bộ mới) có mục từ Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết, và còn có từ mục Nhóm Nam Phong, vẫn do Nguyễn Phương Chi viết, nhưng quan điểm đã đổi mới hẳn.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi sinh ngày 14/7/1938, quê ở làng Đông Thượng, huyện Can Lộc Hà Tĩnh, là giáo sư ngành ngữ văn và hội viên hội Nhà văn Việt Nam từ 1984. Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa I khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia hoạt động báo chí (1960-1961) và từ 1962 là cán bộ nghiên cứu tại Viện Văn học, làm trưởng ban Nghiên cứu văn học Cổ – Cận của viện.

Một số tác phẩm đã xuất bản: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam. Thời kỳ cổ-cận đại (tiểu luận, 1983), Hoàng Ngọc Phách-đường đời và đường văn (chuyên khảo, sưu tầm, tuyển chọn, 1966)… Viết chung trong các tập Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (nghiên cứu, 1967), Từ điển Văn học (nghiên cứu và biên soạn, hai tập, 1983, 1984)… Chủ biên: Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa của dân tộc (nghiên cứu, 1981), Thơ văn Lý-Trần (sưu tầm, nghiên cứu, dịch, nhiều tập, 1977 và 1989) Suy nghĩa mới về Nhật ký trong tù (Nghiên cứu, 1990-1993), Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ (Chuyên khảo, 1992 – 1994).

Sau đây, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn hai mục từ trong Từ điển văn học (Bộ mới): 1) Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và 2) Nhóm Nam Phong do Nguyễn Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272).

*

*       *

1. Phạm Quỳnh

(17.XII.1892-20.VIII.1945). Nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam, hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, sinh ở Hà-nội, quê quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Bố là nhà Nho dạy học. Mồi côi mẹ lúc chín tháng tuổi, lên chín tuổi lại mồ côi cha, được bà nội nuôi cho ăn học. Thuở nhỏ học Trường tiểu học Pháp Việt, sau đó vào học Trường trung học bảo hộ (tức Trường Bưởi) Hà Nội. 1908, đỗ đầu bằng Thành chung, được bổ làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ (Ecole Francaise d’Etrême Orient) ở Hà-nội. Từ 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, có nhiều bài báo được mọi người chú ý. 1917, nhận lời làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí do Macty (Louis Marty) sáng lập. 1922, được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức mà ông là sáng lập viên kiêm Tổng thư ký, dự Hội chợ triển lãm Macxây (Marseille). Đến Macxây rồi lên Paris ở ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả ở Ban Chính trị và Luân lý của Viện Hàn lâm Pháp. Trở về, tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924, bị Ngô Đức Kế phản ứng mạnh mẽ. Cổ xúy việc xây dựng một nền giáo dục quốc gia, đề nghị người Pháp thiết lập bậc tiểu học bằng tiếng Việt ở Đông Dương. 1924-32, được cử làm Giảng sư Khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại Trường Cao đẳng Hà Nội. 1925-28, làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. 1929, được cử vào Hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương. Đề xướng thuyết lập hiến, giữ lại chế độ phong kiến ở Bắc và Trung Kỳ, có sự quy định rõ ràng bằng hiến pháp quyền của dân, của vua quan và của bảo hộ. 1932, Pháp đem Bảo Đại (1913-1997)về nước thay Khải Định (1882-1925), dự định thay đổi ít nhiều hình thức cai trị, ông được cử giữ chức Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Giáo dục, sau đó là Thương thư Bộ Lại (1942). 1939, việc cải cách chính trị không thành, cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả lại Bắc Kỳ cho Triều đình Huế theo đúng hiệp ước 1884 nhưng không đạt kết quả. Tháng Ba 1945, Nhật đảo chính Pháp, tuyên bố trả chủ quyền cho Nam triều. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, Phạm Quỳnh rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt ở Huế ngày 23.VIII.1945 rồi vài ngày sau qua đời ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Phạm Quỳnh là một người gắn bó với các chủ trương chính trị của Pháp giai đoạn kết thúc Đại chiến I, với tờ Nam phong tạp chído Chánh mật thám Macty điều khiển. Cũng như Nguyễn Văn Vĩnh, ông không chấp nhận các phong trào bạo động chống Pháp của lực lượng yêu nước. Nhưng giọng ông không gay gắt như Nguyễn Văn Vĩnh mà ôn hòa hơn. Ông tuyên bố không làm chính trị, chỉ làm văn hóa. Về mặt chính kiến, do xuất thân từ một gia đình phong kiến nề nếp lâu đời, ông cũng không bài xích chết độ phong kiến, muốn giữ nó cùng với đạo Nho cổ truyền mà ông cho là có nhiều mặt tích cực và đã thấm vào linh hồn tư tưởng dân tộc. Tất nhiên, ông cũng nhìn thấy những lề thói cổ hủ do chế độ phong kiến để lại, nào là lối học hư văn, tầm chương trích cú, “cái học nhai lại những bã rác của cổ nhân, không sáng lập ra được tư tưởng gì mới, cái học đưa đến nước bại dân suy”, nào là sự suy vi về đạo đức, thói cúi luồn nịnh bợ trước kẻ thống trị nước ngoài, nào là tục thờ cúng nhảm nhí của dân chúng “hễ lạy được nhiều là được nhiều phúc, nên tranh nhau mà cầu lạy, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương”… Nhưng mặc dù thế, theo ông trong xã hội Việt Nam vẫn còn những phần đáng được bảo tồn, đó là quốc túy của đất nước. Trong bài văn điếu Nguyễn Bá Học ông có dịp nói rõ:” Nay xét thân thế cụ mới biết quốc túy chính là ở đó, quốc túy chính là cái đạo tu thân xử thế của các bậc hiền nhân quân tử nước nhà, quốc túy chính là cái cách căng trì cẩn thủ, sửa mình, ở đời, làm sao cho khỏi thẹn với người trước, làm sao cho thực hành được cái lý tưởng đạo đức của các bậc thánh hiền trong nước vậy”. Khi diễn thuyết trước Viện Hàn lâm Pháp, ông cũng nói dân tộc Việt-nam không phải là một tờ giấy trắng mà là một tờ giấy đã có chữ, không thể muốn viết lên đó bất cứ điều gì theo ý ai cũng được. Vì thế, ông chủ trương điều hòa bảo thủ với tiến hóa, bởi tiến hóa “là cái thế hiển nhiên” “cả cõi Á Châu như bị lôi cuốn vào trong làn sóng đó, muốn đi trái ngược lại thì thật là vô ý thức”, nhưng lại phải điều phối sao cho “giữ được tuần tự êm đềm, không đến nỗi nhất đán thay đổi cả những phong tục tập quán, tư tưởng chế độ, khiến cho cuộc sinh hoạt ở trong dân trong nước bị đảo điên nhiễu loạn cả”. Và đó là mục tiêu gầy dựng một chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh, nhằm lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại cái hồn dân tộc: “Cái nông nỗi mất nước của ta chính là một tấn kịch nhỏ trong cái đại bi kịch Đông Tây xung đột nhau. Tây phương đem lại cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại, những cơ khí tối tân, mà tràn ngập sang Đông phương trong khoảng một thế kỷ nay làm cho các dân tộc Đông phương thất điên bát đảo, bảy nổi ba chìm, đến nay còn tê mê chưa tỉnh sự đời.” Nhưng “cái nông nổi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi, lại kèm thêm một vấn đề văn hóa nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng. […] Xưa kia có nước mất song hồn hãy còn, mà hồn vẫn còn thời nước không đến nỗi mất hẳn, nay có khác là nước đã mất mà hồn cũng thoi thóp thời nguy hiểm ấy biết là dường nào”. Trên tạp chí Nam phong Phạm Quỳnh cố gắng làm công việc dịch thuật, truyền bá cho công chúng những tinh hoa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đồng thời cũng giới thiệu cả những di sản tinh thần của cha ông như đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, ca dao tục ngữ… cả những áng văn chương cổ điển quý giá mà các cộng sự của ông đã cố gắng chọn lựa và phiên âm ra tiếng Việt trong kho sách của Trường Viễn đông bác cổ. Chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh bao hàm các hệ tư tưởng nói trên mà theo ông có thể rút được những nét tinh túy, cũng bao hàm cả ngôn ngữ dân tộc, tiếng và chữ quốc ngữ, nó chính là tinh hoa của người Việt được nhiều đời vun đắp mà thành, trong đó có nền văn chương tiếng Việt với những tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều, là linh hồn của đất nước, phải ra công giữ gìn : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” . Phạm Quỳnh đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của tầng lớp sĩ phu cũng như nhiều thanh niên tân học yêu nước buổi ấy, cho rằng ông đã lái tầng lớp trí thức đi chệch khỏi đường ray chân chính là làm cách mạng chống Pháp để tự ru ngủ mình trong cái “hồn nuớc” mơ hồ do ông nêu ra. Chủ nghĩa lập hiến của ông muốn thay đổi bộ máy quan lại Nam triều già nua bằng một lớp quan lại tân tiến cũng không có cơ sở để đứng vững, bị Nguyễn Văn Vĩnh kịch liệt phản đối, gây nên một cuộc tranh luận náo nhiệt trên nhiều tờ báo, nhưng xét cho cùng, lập hiến hay trực trị đều không đi ra ngoài vòng tay của chế độ thuộc địa.

Trên 210 số báo Nam phong Phạm Quỳnh đã viết rất nhiều và về nhiều loại. Về dịch thuật có Phương pháp luận của Đêcac (Décartes), Sách cách ngôn của Êpitet (Épictete thế kỷ I), Mác-Ôrelơ (Marc Aurèle), Đời đạo lý  của Cactông (P.Carton), thơ của Bôđơle, truyện ngắn của Cuôctơlin (G. Courteline, 1860-1928), Môpaxăng, Lôti (Loti, 1850-1923), Tuồng Lôi xích (Le Cid) và Tuồng Hòa lạc (Horace) của Cornây, hài kịch Chàng ngốc hóa khôn vì tình  trong bộ kịch của Marivô. Về khảo luận có: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lý học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết của Ruxô, Môngtexkiơ, Vônte, Triết học Ôguyxtơ Côngtơ (Auguste Comte, 1798-1857), Triết học Becxông (H.Bergson,1859-1941), Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của Buôcgiê (P. Bourget,1852-1935), Borđô (H.Bordeaux,1870-1963), Môpaxăng, Vinhi… Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn… Về văn du ký có: Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam-kỳ, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật truyện du lịch Pari, du lịch xứ Lào. Những sách viết bằng tiếng Pháp: L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne (Lý tưởng người hiền trong triết học Khổng giáo, 1928), Le paysan tonkinois à travers le parler populaire (Người nông dân Bắc Kỳ qua lời ăn tiếng nói dân gian, 1930), Poésie annamite (Thơ An-nam, 1931), Essai Franco-annamites (Tiểu luận Pháp-Việt, 1937),… Nhiều bài viết của ông đã được tập hợp trong hai bộ Nam phong tùng thưThượng Chi văn tập 5 tập (NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943). Ngoài ra, ông còn góp phần xây dựng cuốn Việt Nam tự điển do Hội Khai Trí tiến đức biên soạn gồm 10 soạn giả, nhưng chỉ mới ra được tập I (1932).

Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dich thuật hay trước tác ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng như Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát, luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (chẳng hạn bài viết về Lễ tế Nam giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế, dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết…nói riêng. Những kiến giải của ông so với ngày nay phần nào đã tỏ ra đơn giản, ít còn ai chú ý, nhưng đương thời là những ý kiến  mới mẻ. Bàn về tiểu thuyết ông đi vào cả kết cấu thể loại và cố gắng đưa ra một bẳng phân loại thích hợp với cả tiểu thuyết Đông và Tây, kim và cổ. Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được những phạm trù trừu tượng như tư tưởng, tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng việt qua thời Nam phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông-dương tạp chí, nhưng chính là với trường đào luyện của Nam phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-45, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.

 Nguyễn Huệ Chi

­

2. Nhóm Nam Phong

Nhóm trí thức Việt Nam tập hợp xung quanh tờ Nam Phong tạp chí xuất bản trong thời gian 1917-1934 tại Hà Nội. Gọi là nhóm, nhưng thực tế số người cầm bút viết cho tờ Nam Phong rất đông. Tờ tạp chí do Phạm Quỳnh làm Chủ bút, thu hút được nhiều trí thức là do nhiều nguyên nhân: việc bãi bỏ chế độ khoa cử cũ (1919) đã gây ra không ít xáo trộn trong hàng ngũ các nhà Nho. Trí thức Việt Nam thời bấy giờ đa số được đào tạo từ cái lò Nho học; nhưng Nho học đang mạt vận, các nhà Nho không còn chỗ để thi thố tài năng. Khi Phạm Quỳnh đưa ra chủ trương “bảo tồn cổ học”, “quốc túy”, “dung hòa Đông Tây”, họ cảm thấy đây là nơi ít nhiều có thể giúp mình “thế thiên hành đạo”; “quốc hồn”, “quốc túy” cũng xoa dịu tính tự ái của những kẻ có đầu óc bài Tây nhưng bất lực, yếu đuối. Còn khẩu hiệu “làm văn hóa không làm chính trị” thì sẽ làm cho hoạt động chính trị của tờ báo bớt lộ liễu, và khiến Pháp bằng lòng. Chính vì vậy, hàng loạt cây bút Nho học đã đến với Nam Phong tạp chí, giữ các mục “Văn uyển”, “Tiểu thuyết”, “Văn học bình luận”… và đem lại cho tờ báo cái “phong vị ngôn ngữ” cũng như “tinh thần Hán học”: Dương Bá Trạc, Nguyên Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư…Về sau, một số người vừa có Tây học vừa có Hán học, hoặc chỉ có Tây học, cũng ra cộng tác với Nam Phong: Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng, Đồ Đình Thạch…Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, có một phần viết bằng chữ Hán, và từ 1922 trở đi còn thêm một phần chữ Pháp. Mục đích trực tiếp của tờ báo là thay chân Đông Dương tạp chí tuyên truyền, giải thích chính sách của Pháp ở Đông Dương sau Đại chiến I, cổ vũ công việc “khai hóa” của Pháp. Ba nhân vật quan trọng đóng vai trò sáng lập tờ báo là: Macty (Louis Marty), trùm mật thám Pháp ở Phủ Toàn quyền lúc ấy, rồi đến Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (?-1945). Hai người sau cũng chính là những cây bút chủ chốt của Nhóm Nam Phong. Phạm Quỳnh viết nhiều, dịch nhiều về tất cả các vấn đề chính trị, văn học, lịch sử, triết học…nhưng không chuyên sâu một vấn đề gì, mà gặp đâu bàn đấy, nhằm giới thiệu những kiến thức phổ quát của văn hóa văn minh “Thái Tây” cho công chúng độc giả đọc Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ. Phạm Quỳnh tán dương chính sách “khai hóa” của Pháp, nhưng cũng chủ trương “bảo tồn quốc túy”. “Quốc túy” mà ông quan niệm là tinh thần và đạo lý phương Đông đã tồn tại trên đất nước ta hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là Nho, Phật, Lão. Trong bài Nước Nam trong 50 năm nữa Phạm Quỳnh viết: “Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng cái đạo Khổng khôn ngoan kia, cái đạo Lão siêu việt kia… có ngày biến mất hẳn đi được”. Phạm Quỳnh cũng chủ trương bảo tồn tất cả các tôn giáo đã từng tồn tại trong đời sống tư tưởng tình cảm của người Việt và ông trách cứ các nhà Nho là quá thực tế, là “vô thần”. Trên tờ Nam Phong Phạm Quỳnh còn ra sức cổ động cho “chủ nghĩa quốc gia”. Theo ông muốn xây dựng quốc gia phải bắt đầu từ đấu tranh xây dựng văn hóa, việc này cần thiết hơn đấu tranh chính trị. Để xây dựng văn hóa, cần phải gia nhập vào văn hóa Âu Tây, vì vậy, tờ Nam Phong đã dịch nhiều tác phẩm cũng như luận văn về văn học, văn hóa phương Tây. Để xây dựng quốc gia, phải bảo tồn, phát triển tiếng Việt: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”. Để phục vụ “chủ nghĩa quốc gia” một cách hữu hiệu, Phạm Quỳnh hô hào xây dựng một nền văn học mới, xây dựng “quốc học”, phát triển “quốc văn”, vận động mọi người học tiếng Việt. Chủ trương này được Pháp ủng hộ. Nguyễn Bá Trác, nhân vật thứ hai, từng tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, sau trở về làm công chức cho Pháp. Ở thời kỳ đầu của tờ tạp chí, Nguyễn Bá Trác phụ trách bài vở phần Hán văn, nhưng sau đó, ông bỏ vào Huế nhận một chức vụ của Nam triều, trao phần chữ Hán lại cho Lê Dư. Một trong những trụ cột nữa của báo Nam Phong là Nguyễn Hữu Tiến. Ông viết bài ngay từ những số đầu và có mặt trong suốt 17 năm tồn tại của Nam Phong. Trong khi Phạm Quỳnh chuyên về học thuật Tây phương, thì Nguyễn Hữu Tiến lại chuyên về học thuật Đông phương. Ông đã dịch Vũ trung tùy bút  của Phạm Đình Hổ, Danh Thần học (lược dịch Đại Nam liệt truyện), Mạnh Tử quốc văn giải thíchLuận ngữ quốc văn giải thích (cùng với Nguyễn Đôn Phục); đã biên dịch Giai nhân di mặc (Nét mực còn lại của giai nhân), Việt văn hơp tuyển giảng nghĩa, Cổ xúy nguyên âm, và còn viết vở tuồng Đông A song phụng. Nguyễn Hữu Tiến cũng là người viết nhiều bài ký kể lại những cuộc du ngoạn danh lam thắng cảnh của một số người trong Nhóm Nam Phong, ngày nay còn giúp ích cho việc tìm hiểu những di tích nói trên. Bên cạnh Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật cũng là một cây bút biên khảo, dịch thuật thuộc phái cựu học. Ông từng cho công bố trên Nam Phong những bài khảo luận văn hóa phương Đông, những bản dịch văn học cổ của dân tộc như Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác. Sau Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục cũng là một cây bút trụ cột của tờ Nam Phong. Ông viết nhiều, dịch nhiều. Từ 1924 trở đi, ông chuyên viết ký. Cũng như Nguyễn Hữu Tiến, ông thường ghi chép những chuyến đi thăm danh lam thắng cảnh cùng bè bạn. Văn chương ký sự của ông có một phong vị cổ kính đặc biệt. Ngoài những người trên, nhóm Nam Phong còn có nhiều người cộng tác nhưng không thường xuyên, hoặc nửa đường bỏ dở, như Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Nguyễn Tiến Lãng…Phan Khôi và Tản Đà chỉ cộng tác ở thời kỳ đầu. Trần Trọng Kim viết ít và xây dựng các công trình biên khảo của mình độc lập với Nam Phong, Hoàng Ngọc Phách viết các mục “Văn uyển”, “Bình luận văn chương” từ thời kỳ còn ở Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Đông Hồ từ miền cực Nam gửi ra đăng trên Nam Phong những tài liệu quý về Thi xã Chiêu Anh Các, và cùng Tương Phố viết những bài văn sầu thảm khóc vợ, khóc chồng…ghi lại cho văn đàn công khai những giọt lệ héo hắt của người tiểu tư sản thành thị những năm 20 thế kỷ XX. Nguyễn Tiến Lãng, một cây bút Tây học và là con rể Phạm Quỳnh, nhận trông coi tờ tạp chí sau khi Phạm Quỳnh đi làm quan, nhưng cũng chỉ được thêm hai năm, là phải đình bản…

Tóm lại hoạt động của nhóm Nam Phong là sự thực thi một đề án cải lương xã hội trong khuôn khổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Muốn cho xã hội được canh tân nhưng vẫn giữ hình thức một xã hội phong kiến thì phải đổi mới tầng lớp quan lại, cả về học vấn cũng như tư cách cá nhân. Muốn cho xã hội ấy bớt dần ngu muội tối tăm thì phải cải lương những phong tục tập quán từ nghìn xưa để lại, nhất là những hủ tục ăn sâu trong làng xã. Nam Phong đã dành nhiều thì giờ, tâm huyết, nhắn nhủ, khuyên răn, cảnh tỉnh thế giới quan trường, cũng như kêu gọi chấn chỉnh hương tục, cải tạo bộ máy hào lý ở nông thôn… chính là vì lẽ ấy. Muốn cho xã hội này bước vào cuộc cạnh tranh tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ XX mà không bị đào thải thì phải cổ vũ con đường doanh nghiệp, chí làm giàu, tinh thần tiến thủ, học hỏi cái hay cái khéo của người, bỏ bớt cái hư cái hèn của mình, để dìu dắt nhau lên cõi văn minh. Nam Phong đã để nhiều trang ca ngợi tấm gương của các nhà tư bản dân tộc, bền bỉ vượt khó khăn giành thắng lợi trên đường thực nghiệp, như Bạch Thái Bưởi (1874-1932)…cũng vì lẽ ấy. Phải nói, trên nhiều vấn đề và ở một chừng mực nào đấy, tờ tạp chí dường như đã trở lại với những kiến nghị do Đông Kinh nghĩ thục và nhà ái quốc Phan Châu Trinh đề xuất hàng chục năm về trước.

Trừ một ít cá nhân có động cơ chính trị cụ thể, đa số các thành viên trong Nhóm Nam Phong đều đã theo đuổi mục tiêu của tờ báo với một nhận thức hồn nhiên về vai trò khai hóa của nó. Hơn nữa, với một khoảng thời gian 17 năm, với 210 số báo, và với một khối lượng cộng tác viên rộng rãi từ Nam đến Bắc, bản thân tờ báo cũng biến chuyên ít nhiều về phương thức qua mấy giai đoạn, cho nên tính chất không thuần nhất trong hàng ngũ các cây bút thành viên hoặc cộng tác viên và trong nội dung bài vở Nam Phong tạp chí  là dễ hiểu.

Nam Phong tạp chí nặng về biên khảo dịch thuật và sáng tác văn học, vì vậy đối với văn hóa và văn học dân tộc trong một giai đoạn hơn mười năm, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ. Đây là tờ báo gần như duy nhất trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ XX cung cấp cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa lý…phương Đông cũng như phương Tây, một cách hệ thống và liên tục. Phải qua Nam Phong, đạo Nho cổ truyền lần đầu tiên mới được trình bày hệ thống. Cũng phải qua Nam Phong, các áng văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên âm, phiên dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học thuở bấy giờ. Nam Phong cũng là nơi thử thách, rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôi nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận, trong bước chuyển mình của văn xuôi quốc ngữ nước ta. So với Đông Dương tạp chí rõ ràng câu văn Nam Phong thâm thúy hơn, khả năng tư duy trừu tượng cao hơn hẳn, thuật ngữ mới được du nhập và Việt hóa cũng nhiều hơn nhiều. Không phải ngẫu nhiên mà thế hệ trí thức một thời, kể cả những đại biểu xuất sắc của phong trào “Thơ mới” như Xuân Diệu, đã coi Nam Phong như một “trường đào tạo” văn chương quan trọng.

Nguyễn Phương Chi.

Phạm Quỳnh trong từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

PHẠM QUỲNH

trong Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Nguyễn Duy Quý

Lời dẫn cảu Phạm Tôn: Ngày 20/4/2011, nhạc sĩ Phạm Tuyên được Giáo sư Nguyễn Duy Quý đưa cho một trang bản in thử của Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới của Trung tâm dịch thuật (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam) dự kiến sẽ xuất bản trong năm nay. Trang này có mục từ Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) do chính giáo sư biên soạn.

Để cung cấp thêm cho các bạn một tư liệu tham khảo, chúng tôi mạn phép giáo sư đưa lên Blog PhamTon.

—o0o—

Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) (1893-1945): Nhà Văn hoá kỳ tài của Việt Nam, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Hiệu Thượng Chi; bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân. Quê làng Thượng Hồng, Phủ Bình Giang (nay là Làng Lương Ngọc, Xã Thúc Kháng, Huyện Bình Giang, Tỉnh Hải Dương).

Ông sinh ngày 30/1/1893 tại Phố Hàng Trống Hà Nội. Tuổi thơ cậu bé Quỳnh đã sớm mồ côi cha mẹ. Năm 1908, đổ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp trường Thông Ngôn; sau đó đi làm tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, giữ chân thủ thư và thông ngôn. Khi đi làm được hơn một năm, ông lập gia đình. Tháng 7/1917, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Tháng 5/1919, sáng lập và Tổng Thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Những năm 1924-1932, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội; trợ bút báo France Indochine. Năm 1930, đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến. Tháng 11/1932, vào Huế nhận chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng cho Vua Bảo Đại sau lại làm Thượng thư Bộ Học. Tháng 5/1942, chuyển sang làm Thượng thư Bộ Lại.

Tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông từ nhiệm về sống ẩn dật trong Biệt thự Hoa Đường bên sông đào Phủ Cam, vùng An Cựu, Huế. Ở đây, ông dành thời gian suy ngẫm thế cuộc sự đời, viết mấy bài tuỳ bút, chọn dịch lại thơ Đường và muốn trở lại “đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”.

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông bị chính quyền mới bắt ở Huế ngày 23/8/1945; rồi ít ngày sau bị giết ở Làng Hiền Sỹ, Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1917, Tạp chí Nam Phong ra đời “Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái Nho học cũ, cùng để xướng lên một cái tư trào mới, hợp với thời thế cùng trình độ dân ta” (Nam Phong – Số 1).

Phạm Quỳnh có nhiều bài khảo cứu, dịch thuật đăng trên Nam Phong đề cập nhiều lĩnh vực văn hoá: ngôn ngữ, lịch sử, văn học, triết học, giáo dục, chính trị… Về sau tập hợp thành sách Nam Phong tùng thư, Thượng Chi văn tập.

Trên 17 năm tồn tại, Tạp chí Nam Phong có ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội. Có nhiều lời tôn vinh, ngợi ca nhưng cũng không ít lời chê bai cho rằng Nam Phong là công cụ tuyên truyền cho chính sách “Pháp – Việt đề huề”, là tay sai cho thực dân Pháp.

Trong xu thế đề cao tinh thần” “bảo tồn cổ học”, “dung hoà Đông – Tây”, Tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hoá và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu Thế kỷ XX” (Từ điển Bách khoa Việt Nam– 2003).

Năm 1924, Phạm Quỳnh có bài diễn văn ca ngợi Truyện Kiều với câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” đã bị các chí sỹ yêu nước lúc bấy giờ công kích kịch liệt, cho rằng việc tán dương Truyện Kiều là có dụng ý xấu và đề cao quá đáng. Học giả Dương Quảng Hàm bấy giờ đã viết: “Phạm Quỳnh có công lao to lớn trong việc du nhập nhiều danh từ triết học, khoa học mới và luyện cho chữ Quốc ngữ thuần thục tới mức diễn đạt được thuật ngữ mới”.

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến, song không được hưởng ứng. Năm 1939, ông tháp tùng Vua Bảo Đại sang Pháp, đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884, song việc không thành.

Ngày 8/1/1945, trong báo cáo của Thống sứ Trung kỳ Healewyn gửi Đô đốc Decoux và Tổng Đại diện Mordant, có đoạn viết: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một Quốc gia Việt Nam.. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Tháng 9/1945, khi nghe tin Phạm Quỳnh mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh lặng ngắt một lúc, rồi Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”.

Nhiều thập kỷ trôi qua trên con tim đã thôi đập. Hôm nay tác phẩm của ông đang được tái bản. Lịch sử và người đời đã nhìn nhận lại và đánh giá ông một cách công bằng. Sinh thời ông đã viết:

Chúng ta hãy khép lại quá khứ. Và bởi vì chúng ta phải chung sống, nên chúng ta hãy tránh những cuộc va chạm vô ích và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới một khẩu hiệu, một cuộc sống thực sự tôn trọng lẫn nhau”.

Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã nhận định: “Phạm Quỳnh là người mở đầu cho Văn hoá Việt hiện đại. Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc. Đó chính là hạt nhân của Lý thuyết Hội nhập Hiện đại. Nhờ lý thuyết đó, Phạm Quỳnh không bị Văn hoá Phương Tây áp đảo, ông đã dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931: Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được, vì chúng tôi đã có một Tổ quốc”.

Vai trò và giá trị của Phạm Quỳnh trong tiến trình vận động Văn hoá nước nhà Thế kỷ XX cũng như về nguyên nhân cái chết của ông đã, đang và sẽ được những người trong ngoài giới văn học, sử học nghiên cứu trên cơ sở tính khách quan, khoa học.

Nguyễn Duy Quý

(Tổng hợp)

Phạm Quỳnh trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018..

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 15/8/2014 vừa đưa tin trên trang 19

“Kết thúc phiên họp ba ngày về phong trào Wikimedia tại London (Anh), đồng sáng lập trang thông tin Wikipedia Jimmy Wales tuyên bố người Anh tin tưởng trang này hơn báo chí truyền thông của nước này.

Người Anh tin tưởng Wikipedia hơn báo chí” – ông Wales tuyên bố trong tiếng vỗ tay của những khán giả tham dự hội nghị.

AFP cho biết một cuộc thăm dò gần 2.000 người trưởng thành Anh của YouGov nhận thấy có 64% người tin tưởng tác giả của các mục trong Wikipedia đang nói lên sự thật.

Trong khi đó chỉ 61% số người tham gia khảo sát bày tỏ sự tin tưởng đối với các nhà báo của đài truyền thông BBC, 45% tin tưởng các phóng viên của các tờ báo khổ lớn như The Times The Guardian và 13% cho các nhà báo của các tờ lá cải như The Sun.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của YouGov cũng cho thấy bộ bách khoa toàn thư truyền thống của nước này là Encyclopaedia Britannica vẫn nhận được nhiều sự tin tưởng nhất cho đến hiện nay. 83% người tham gia khảo sát tin tưởng vào bộ bách khoa này.

“Tôi sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi họ tin tưởng chúng tôi hơn họ tin tưởng vào thông tin trên Encyclopaedia Britannica” – ông Wales cam kết.”

Minh chứng cho điều nay, chúng tôi xin mời quí bạn đọc phần viết về Phạm Quỳnh trong từ điển này như sau:

—o0o—

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

 “…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Ngày sinh và mất viết:

Về ngày sinh của Phạm Quỳnh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, trưởng Ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, tức 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.

Về ngày mất của Phạm Quỳnh

  • Sách Từ điển Văn học bộ mới (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936) hiện định cư tại Hoa Kỳ được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, anh và cháu Ngô Đình Diệm để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh bị hạ sát vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.

 

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 3 năm 2018.

“1917,NAM PHONG; 1932,PHONG HÓA-NGÀY NAY; 1945,CỜ GIẢI PHÓNG

 Thép Mới

Lời dẫn của Phạm Tôn: Quý II/2012, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân cho ra tập 2 sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan tuyển chọn và biên tập. Các trang 66 đến 73 có đăng bài trên đây của Thép Mới đã lên Blog PhamTon từ đầu năm 2009.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

 Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nhân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

 Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

 Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

 Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

 Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

 Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

 (…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân Việt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

 Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

 Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Tháng Ba 12, 2018

Trên quê hương yêu dấu kỳ 1 tháng 3 năm 2018

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:38 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/2/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Cần đặc biệt coi trọng ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế

Sáng 26-2, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm, làm việc, chỉ đạo công tác đối ngoại tại Bộ Ngoại giao. Cùng dự, có đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao.

Thủ tướng ân cần gửi lời thăm hỏi của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước tới toàn thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Bộ Ngoại giao và khẳng định, trong thành quả chung của đất nước có sự đóng góp quan trọng, trực tiếp, to lớn của Bộ Ngoại giao.

Thủ tướng nêu rõ, Bộ Ngoại giao cần thực hiện giữ gìn quốc phòng an ninh đất nước từ xa, từ sớm; thực hiện tốt chủ trương Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cần đưa mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, hiệu quả hơn nữa, chú ý các diễn biến thế giới, khu vực, các nước lớn. Xây dựng lòng tin, duy trì cục diện quan hệ với các nước bình đẳng, đan xen, các bên cùng có lợi.

Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh, coi trọng ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, do đó ngành cần quán triệt sâu rộng, linh hoạt, có chủ trương, cách làm sáng tạo trong công tác này. Các đại sứ, tổng lãnh sự, tham tán thương mại phải chuyển mạnh sang công tác kinh tế, nhất là phát triển thương mại, thu hút khách du lịch quốc tế. Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương cần phối hợp xây dựng đề án tăng nhanh kim ngạch thương mại. Các đại sứ quán phải tăng cường thu thập, cung cấp thông tin về thương mại, thị trường cho các bộ, ngành, doanh nghiệp trong nước; tăng cường thu hút vốn đầu tư FDI có chọn lọc. Công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo cần kịp thời, nhanh chóng, nhạy bén, mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; trước mắt cần nghiên cứu sâu một số chiến lược, chính sách của các nước lớn để tham mưu cho lãnh đạo Ðảng, Nhà nước.

Ngành ngoại giao cần hoạt động chuyên nghiệp, vững mạnh để đóng góp xứng đáng vào xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động vì người dân và doanh nghiệp; rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức “vừa hồng vừa chuyên”, là sứ giả kinh tế, văn hóa, làm tốt công tác bảo hộ công dân,… Ngoài ra, tái cơ cấu bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm phát triển nguồn nhân lực ngoại giao có sự kế thừa; thực hiện tốt chức năng ngoại giao kiến tạo phát triển…

Ðề cập các nhiệm vụ lớn thời gian tới, Thủ tướng nêu rõ, tình hình chính trị, kinh tế thế giới, các nước lớn đang thay đổi mạnh mẽ, phức tạp, biến động khó lường; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra sôi động… Tuy vậy, xu hướng hòa bình, hợp tác vẫn là chủ đạo. Do đó, việc nghiên cứu, vận dụng Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng, áp dụng Nghị quyết 01/2018/NQ-CP của Chính phủ đối với ngành ngoại giao cần cụ thể hơn nữa, quyết tâm trong hành động.

Thủ tướng đề nghị Bộ Ngoại giao siết chặt kỷ luật kỷ cương hành chính; đề cao trách nhiệm cá nhân; đi đầu trong thực hiện chủ trương, phương châm hành động của Chính phủ. Ðồng thời, đổi mới cách thức chỉ đạo, bám sát công việc, nêu cao tinh thần trách nhiệm với đất nước, nhân dân; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo điều kiện cho đất nước phát triển, nâng cao tiềm lực quốc gia. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại đa phương; kiên trì thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Ðông bằng biện pháp hòa bình, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; phát triển một nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế hiệu quả.

Với tinh thần đó, Thủ tướng mong muốn mỗi cán bộ, nhân viên ngoại giao sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận đối ngoại, luôn trung thành kiên định về đường lối, linh hoạt, sáng tạo trong hành động vì sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/12/2018:

Ban hành quy chế hoạt động của Tổ công tác 66

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Tổ công tác 66) đã ký Quyết định ban hành Quy chế hoạt động của Tổ.

Theo đó, Tổ công tác có quyền yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Ủy ban. Các bộ, cơ quan, địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của Ủy ban. Về chức năng, nhiệm vụ, Tổ công tác tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ chuẩn bị các nguồn lực về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản để Ủy ban đi vào hoạt động; chỉ đạo thực hiện việc bàn giao vốn và tài sản của doanh nghiệp về Ủy ban,…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 26/2/2018:

Giống lúa của Việt Nam chọn tạo làm lợi hơn 8.000 tỷ đồng/năm

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giống lúa do Việt Nam chọn tạo đã được chuyển giao và ứng dụng trên phạm vi cả nước đạt 4,6 triệu ha, chiếm 59% diện tích lúa cả nước.

Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa do nhà khoa học Việt Nam chọn tạo chiếm 77% diện tích cả vùng; trong đó, giống lúa chất lượng cao OM5451 đã được gieo trồng trên diện tích gần 1 triệu ha. Các giống lúa cho năng suất tăng trung bình 10% so với giống cũ, sản lượng thóc tăng thêm 1,65 triệu tấn, làm lợi cho sản xuất lúa hơn 8.000 tỷ đồng/năm.

Bên cạnh đó, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ: giống, vật nuôi, chế phẩm sinh học, quy trình công nghệ mới… của các viện, trường đã được chuyển giao, áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/2/2018:

Cả nước có gần 750 chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến nay cả nước đã xây dựng thành công 746 mô hình chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn.

Trong đó có 382 chuỗi đã được giám sát, xác nhận sản phẩm được kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi. Năm 2018, ngành nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực quốc gia, và sản phẩm chủ lực địa phương theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/2/2018:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang điện đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Đô-nan Trăm

Ngày 14-2, Chủ tịch nước Trần Đại Quang có cuộc điện đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Đô-nan Trăm.

Cuộc điện đàm diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước tiếp tục phát triển thực chất, hiệu quả, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Tổng thống Đô-nan Trăm gửi lời chúc mừng năm mới tới lãnh đạo và nhân dân Việt Nam nhân dịp Tết cổ truyền Mậu Tuất; bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong năm qua; cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, chu đáo mà lãnh đạo và nhân dân Việt Nam dành cho cá nhân ông và đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25; khẳng định Hoa Kỳ coi trọng quan hệ và vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực và sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện phát triển hơn nữa trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng những thành tựu mà Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đạt được trong năm đầu nhậm chức của Tổng thống Đô-nan Trăm; khẳng định chuyến thăm cấp nhà nước Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25 của Tổng thống Đô-nan Trăm ghi dấu ấn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển hiệu quả, ổn định của quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ; nhấn mạnh Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ và sẽ tích cực hợp tác cùng Hoa Kỳ để đưa quan hệ hai nước tiếp tục đạt những bước tiến mới và thực chất trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Đô-nan Trăm trao đổi về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, tập trung triển khai các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước; tiếp tục ưu tiên thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, coi đây là trọng tâm và động lực phát triển quan hệ hai bên. Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy các nội dung hợp tác song phương khác như giải quyết hậu quả chiến tranh, trong đó có việc triển khai dự án tẩy độc đi-ô-xin tại sân bay Biên Hòa (Đồng Nai).

Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế, trong đó khẳng định lại lập trường của hai bên về vấn đề Biển Đông; đồng thời nhất trí duy trì trao đổi, tiếp xúc, gặp gỡ cấp cao nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước ngày càng phát triển vì lợi ích của nhân dân hai quốc gia, góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/2/2018:

Ban Bí thư Họp đánh giá việc tổ chức Tết năm 2018

Sáng 23-2, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Ban Bí thư họp, đánh giá kết quả thực hiện Chỉ thị số 16 ngày 22-12- 2017 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết năm 2018. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì. Dự hội nghị, có các đồng chí Ủy viên Ban Bí thư; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư.

Sau khi nghe lãnh đạo Văn phòng T.Ư Đảng báo cáo tình hình và kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 16, ý kiến phát biểu của các đại biểu, Tổng Bí thư phát biểu ý kiến kết luận hội nghị nêu rõ, năm nay, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn sớm hơn so với mọi năm, tạo điều kiện cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản, đồng bộ, chu đáo, thiết thực và hiệu quả. Việc tổ chức đón Tết được gắn với hoạt động kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng, 50 năm Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, phát động thi đua mừng Đảng, mừng Xuân và triển khai kịp thời nhiệm vụ năm 2018.

Năm 2017, tình hình kinh tế – xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác đối ngoại thu được nhiều kết quả tích cực đáng mừng; thời tiết những ngày Tết lại rất đẹp. “Thiên thời địa lợi nhân hòa” đã tạo khí thế hào hứng, phấn khởi cho toàn dân đón Tết vui tươi với nhiều hoạt động phong phú. Công tác tổ chức Tết chu đáo, bảo đảm thiết thực, vui tươi, an toàn, tiết kiệm.

Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, đoàn thể chủ động huy động nguồn lực xã hội, có nhiều hình thức chăm lo Tết thiết thực đối với các đối tượng chính sách, người nghèo, công nhân, người lao động trực tiếp, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”; tổ chức thăm, tặng quà gia đình liệt sĩ, người có công, cán bộ lão thành cách mạng, các nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo, hộ gia đình bị thiên tai, bão lũ,… thắm đượm nghĩa Đảng tình dân và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Các địa phương kết hợp tổ chức Tết với tăng cường chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân,… Tất cả những việc làm đó đã tô đậm thêm nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tổng Bí thư cho rằng, các hoạt động lễ hội, vui chơi, giải trí bảo đảm vui tươi, an toàn, tiết kiệm, lành mạnh. Việc đi lại, an toàn giao thông có những chuyển biến tích cực so với năm trước. Các vụ việc phức tạp được quan tâm, xử lý kịp thời. Lãnh đạo địa phương về Trung ương chúc Tết các ban, bộ, ngành và cấp dưới chúc Tết cấp trên giảm mạnh so với Tết Đinh Dậu 2017. Không khí chung là các tầng lớp nhân dân vui Xuân, đón Tết phấn khởi, đầm ấm, an toàn, tiết kiệm, lành mạnh, tăng thêm niềm tin đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư lưu ý, trong dịp Tết vừa qua vẫn còn những vấn đề đáng quan tâm, rút kinh nghiệm, như tai nạn giao thông tuy giảm nhưng vẫn còn phức tạp, nhức nhối; tình trạng ùn, tắc giao thông nghiêm trọng chưa được khắc phục; ngộ độc rượu, thực phẩm; đốt pháo tại một số nơi; việc thực hiện nếp sống văn minh tại các lễ hội, khu du lịch có nơi chưa nghiêm,…

Tổng Bí thư đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo tập trung ngay cho sản xuất; tổ chức và quản lý tốt các hoạt động lễ hội, bảo đảm lành mạnh, văn minh, đúng thuần phong, mỹ tục; tổ chức thiết thực, hiệu quả phong trào Tết trồng cây. Tất cả các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, mọi cán bộ, đảng viên bắt tay ngay vào công việc với khí thế mới, động lực mới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/2/2018:

Kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Ngày 26-2, Bệnh viện Bạch Mai (Bộ Y tế) tổ chức kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2-1955 – 27-2-2018) và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhì (lần thứ hai). Chủ tịch nước Trần Ðại Quang dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo. Cùng dự, có lãnh đạo Bộ Y tế, một số bộ, ngành Trung ương và các địa phương.

Bệnh viện Bạch Mai tiền thân là nhà thương Cống Vọng được thành lập từ năm 1911, là một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước, có lịch sử vẻ vang gắn liền với lịch sử nền y học hiện đại Việt Nam. Các thầy thuốc của Bệnh viện Bạch Mai hiện đã thực hiện được nhiều công nghệ, kỹ thuật mới ngang tầm với các nước có nền y học tiên tiến trong khu vực và thế giới được ứng dụng trong khám, chữa bệnh.

Hơn 10 nghìn kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai đã được Bộ Y tế phê duyệt, trong đó có những kỹ thuật cao, chuyên sâu không chỉ được thực hiện ở Bệnh viện Bạch Mai mà còn chuyển giao cho các bệnh viện tuyến tỉnh thuộc hệ thống bệnh viện vệ tinh. Hằng năm, số lượng người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú lên đến 1,8 triệu lượt người, số người bệnh điều trị nội trú hơn 150 nghìn người. Không chỉ là địa chỉ tin cậy của người bệnh, Bệnh viện còn là cơ sở đào tạo thực hành cán bộ y tế toàn ngành và nhiều nước trên thế giới.

Chủ tịch nước Trần Ðại Quang đã trân trọng trao Huân chương Lao động hạng nhì tặng Bệnh viện Bạch Mai; trao Huân chương Lao động hạng nhất tặng Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Nhân dịp này, nhiều tập thể, cá nhân của Bệnh viện đã được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Y tế.

Phát biểu ý kiến tại lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang chúc mừng và bày tỏ sự trân trọng, tôn vinh những thành tích, đóng góp to lớn mà các thế hệ giáo sư, bác sĩ, thầy thuốc, nhân viên y tế, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành y tế nói chung, Bệnh viện Bạch Mai nói riêng đã đạt được trong thời gian qua.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng với những thời cơ, thuận lợi rất cơ bản, đồng thời cũng phải đối mặt với các nguy cơ về ô nhiễm môi trường, lây truyền các dịch bệnh nguy hiểm và những thách thức khác trong lĩnh vực y tế. Nhu cầu chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng cao và đa dạng, tạo sức ép ngày càng lớn đối với việc cung cấp dịch vụ y tế… Bối cảnh đó đòi hỏi đội ngũ giáo sư, bác sĩ, thầy thuốc, nhân viên y tế, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành y tế nói chung, Bệnh viện Bạch Mai nói riêng tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, tập trung đổi mới, thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm: Cấp cứu, khám, chữa bệnh tuyến cuối; đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng, chống dịch bệnh, hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế y tế với mục tiêu xuyên suốt là không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chủ tịch nước yêu cầu Bệnh viện cần phát triển kỹ thuật mũi nhọn chuyên sâu, nhất là về tim mạch, cấp cứu, hồi sức tích cực, chống độc, thần kinh, y học hạt nhân và ung bướu, chẩn đoán hình ảnh, hóa sinh, vi sinh… Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh; tăng cường đào tạo, luân phiên cán bộ y tế, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, từng bước khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện. Ðẩy mạnh kết hợp quân, dân y, chú trọng hỗ trợ y tế ở vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn. Triển khai sâu rộng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào tạo định hướng chuyên khoa, đào tạo chuyển giao kỹ thuật mới tiên tiến, đào tạo thông qua các chương trình hợp tác quốc tế…

Chủ tịch nước lưu ý, cán bộ, y, bác sĩ của Bệnh viện cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” và 12 điều y đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tình chăm sóc người bệnh. Tiếp tục tổ chức khám, chữa bệnh từ thiện, phát thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người bệnh có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang đề nghị Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội, Bộ Y tế và các bộ, ban, ngành địa phương liên quan quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để Bệnh viện Bạch Mai hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nỗ lực phấn đấu đưa Bệnh viện trở thành trung tâm y học và đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch nước tin tưởng, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước, Bệnh viện Bạch Mai sẽ phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, tiếp tục đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả, thành tích to lớn hơn nữa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/2/2018:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương chiến công phá vụ án đặc biệt nghiêm trọng

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có thư khen gửi Bộ Công an, Thành ủy, UBND TP Hồ Chí Minh và Công an TP Hồ Chí Minh biểu dương chiến công phá vụ án đặc biệt nghiêm trọng làm chết 5 người trong cùng một gia đình.

Sau đây là toàn văn thư khen của Thủ tướng Chính phủ:

Vào sáng ngày 15/02/2018 (tức ngày 30 Tết Âm lịch), tại đường số 7, phường Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện vụ án đặc biệt nghiêm trọng làm chết 5 người trong cùng một gia đình.

Dưới sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Bộ Công an, Thành uỷ, UBND thành phố Hồ Chí Minh và sự phối hợp chặt chẽ của Công an các tỉnh Long An và An Giang, Tổng cục Cảnh sát, Công an thành phố Hồ Chí Minh và các lực lượng chức năng, không quản ngày đêm vào đúng dịp nghỉ tết Nguyên đán, đã khẩn trương điều tra, phá án và bắt được nghi phạm gây án.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương thành tích xuất sắc của các lực lượng chức năng, đặc biệt là các đơn vị nghiệp vụ của Tổng cục Cảnh sát và Công an thành phố Hồ Chí Minh. Chiến công này góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân, nâng cao hình ảnh của người chiến sĩ Công an nhân dân.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, tiếp tục giành được nhiều thành tích hơn nữa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 24/2/2018:

Lễ khai bút đầu Xuân và hội sách tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An

Sáng 23-2, tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An, thị xã Chí Linh (Hải Dương) diễn ra Lễ khai bút đầu Xuân và khai mạc Hội sách Xuân Mậu Tuất 2018. Tại buổi lễ, các đại biểu cùng ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của thầy giáo Chu Văn An (thế kỷ 13), cũng như ý nghĩa của tục khai bút đầu xuân.

Lễ khai bút đầu Xuân tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An từ lâu đã trở thành hoạt động giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo cho các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sự biết ơn với các bậc tiền nhân.

Nhân dịp này, Hội Khuyến học thị xã Chí Linh đã trao học bổng tặng 21 học sinh có kết quả thi đại học cao nhất trong năm học 2017 – 2018. Đồng thời, một số doanh nghiệp tỉnh Hải Dương cũng đã trao 100 triệu đồng ủng hộ Quỹ Khuyến học thị xã Chí Linh. Sở Thông tin và Truyền thông Hải Dương cùng các đơn vị tham gia Hội sách Xuân trao tặng tủ sách cho Trường Hoàng Hoa Thám (thị xã Chí Linh) nhằm khuyến khích phong trào xây dựng tủ sách trường học.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn

Ngày 22-2 (tức mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Tuất), trên cánh đồng thôn Đọi Tín, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tổ chức Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn năm 2018.

Đến dự, có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thào Xuân Sùng, Chủ tịch T.Ư Hội Nông dân Việt Nam; Nguyễn Đình Khang, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam; Bùi Thị Minh Hoài, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các đồng chí lãnh đạo đại diện bộ, ngành, các tỉnh bạn, bà con nhân dân.

Sự kiện mùa xuân năm 987, vua Lê Đại Hành xuống đồng thực hiện nghi lễ cày tịch điền động viên nhân dân sản xuất nông nghiệp. Kể từ đó, Lễ tịch điền trở thành lễ hội văn hóa truyền thống, được các triều đại chú trọng tổ chức, đề cao vai trò sản xuất nông nghiệp.

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn là lễ hội truyền thống xuống đồng cày ruộng, cầu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Nghi lễ mở đầu là rước chân nhang từ đền thờ vua Lê Đại Hành về chùa Đọi; tiếp đến là lễ cáo yết xin thành hoàng làng cho mở cửa đình Đọi Tam; rước nước; lễ tắm tượng; giải hạn cầu an trên chùa Đọi.

Hội thi trang trí trâu để chọn những con đẹp nhất cày tịch điền. Đặc biệt, lễ cày tịch điền được tiến hành trọng thể với nghi thức cổ truyền “nhập thế vua Lê”. Một cụ ông đức độ, thần thái uy nghiêm được chọn, khoác áo long bào, đeo mặt nạ thực hiện nghi lễ hóa thân thành hình tượng vua Lê Đại Hành, xuống mở những xá cày đầu tiên trên thửa ruộng phù sa màu mỡ. Sau đó, đến các lãnh đạo ban, ngành, lãnh đạo tỉnh Hà Nam và đại diện các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thực hiện nghi lễ.

Năm 2018 là năm thứ 10 tỉnh Hà Nam duy trì tổ chức Lễ hội với ý nghĩa rất lớn, vừa thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, vừa khuyến khích, động viên nhân dân phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Ngày hội hiến máu “Chào Xuân hồng 2018”

Ngày 22-2, hàng nghìn cán bộ, nhân viên y tế đã tham gia hiến máu cứu người tại Ngày hội hiến máu “Chào Xuân hồng 2018” do Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tổ chức.

TS Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện Huyết học, Truyền máu Trung ương cho biết, sự kiện hôm nay tại viện là mở màn cho chuỗi ngày hiến máu trước thềm Lễ hội Xuân hồng 2018. Thời gian qua, nhiều cán bộ của viện đã hàng chục lần hiến máu, tiêu biểu như TS Trần Ngọc Quế, Giám đốc Trung tâm Tế bào gốc (50 lần), ThS Hoàng Chí Chương (86 lần), TS Nguyễn Triệu Vân, TS Ngô Mạnh Quân (36 lần)…”.

Nhờ công tác truyền thông và vận động hiến máu trước Tết, hiện nay, lượng máu dự trữ của viện còn khoảng hơn 9.500 đơn vị máu, bảo đảm nhu cầu cấp cứu, điều trị cho các bệnh viện trong khoảng 10 ngày nữa, cho đến thời điểm diễn ra Lễ hội Xuân hồng.

Theo TS Bạch Quốc Khánh, năm nay, Lễ hội Xuân hồng sẽ được diễn ra trong suốt một tuần liên tục, từ ngày 4 đến 11-3 với các điểm hiến máu hưởng ứng của Hà Nội tại quận Hà Đông, huyện Thanh Oai, Sóc Sơn. Chính hội của Lễ hội Xuân hồng năm nay lần đầu tiên sẽ diễn ra trong hai ngày 10 và 11-3 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.

Việc hiến máu của các tình nguyện viên đầu Tết nguyên đán sẽ bảo đảm cung cấp máu điều trị cho hơn 150 bệnh viện khu vực phía bắc, khắc phục tình trạng khan hiếm máu dịp Tết.

Trong dịp Xuân Mậu Tuất, nhiều cơ sở y tế đã tích cực tham gia hiến máu như: ngành y tế Bắc Ninh (gần 1.000 đơn vị máu), ngành y tế Vĩnh Phúc (gần 400 đơn vị máu), Bệnh viện Bạch Mai (351 đơn vị máu), Bệnh viện Phụ sản Trung ương (698 đơn vị máu)…

Ngày mai, 23-2, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ phát động phong trào hiến máu tình nguyện, dự kiến tiếp nhận được 150 đơn vị máu. Đúng ngày 27-2, các bệnh viện như Bệnh viện Mắt Hà Nội 2, Bệnh viện Medlatec, Bệnh viện E… cũng sẽ tổ chức hiến máu cứu người.

Cứu sống bệnh nhi bị vỡ thanh quản

Ngày 22/2, Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, đã phẫu thuật thành công cho bệnh nhi N.H.K. (11 tuổi, quê Vĩnh Long) bị vỡ thanh quản. Trúc đó, cháu K. chơi xe trượt điện ở công viên với bạn thì bị ngã, đập vùng cổ vào tay lái xe rồi ngất xỉu. Bệnh nhi được các bác sĩ nẹp cố định cổ, hỗ trợ hô hấp, chụp CT scan, làm các xét nghiệm cần thiết và được chỉ định mổ cấp cứu với chẩn đoán: Chấn thương thanh quản kín gây suy hô hấp, tràn khí dưới da, tràn khí trung thất và tràn khí ngoài màng phổi hai bên. Các bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng TP Hồ Chí Minh đã khâu nối, cố định lại các tổn thương, vi phẫu chỉnh hình thanh quản và dẫn lưu tràn khí cho bệnh nhi. Dự kiến bệnh nhi xuất viện sau khoảng 10 ngày điều trị.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/2/2018:

Khai mạc Phố sách Xuân Mậu Tuất

Sáng 18-2, tại phố 19-12 (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đã tổ chức khai mạc Phố Sách Xuân Mậu Tuất.

Tổ chức Phố Sách dịp đón xuân là hoạt động thường niên của thành phố Hà Nội. Năm nay, lần đầu tiên Phố Sách xuân được tổ chức tại phố 19-12, nơi được tổ chức thành Phố Sách cố định của Hà Nội từ tháng 5-2017.

Ngoài các gian hàng của các đơn vị hoạt động thường xuyên tại Phố Sách, Phố Sách xuân năm nay còn có thêm một số đơn vị xuất bản tham gia trưng bày, giới thiệu sách tới bạn đọc các thể loại sách phong phú, đa dạng: Sách thiếu nhi, sách văn học, sách kinh tế, khoa học kỹ thuật, sách ngoại văn, sách điện tử và thiết bị số…

Tại Phố Sách Xuân Mậu Tuất có nhiều hoạt động giới thiệu, phổ biến văn hóa đọc, trong đó, đáng chú ý là chương trình: “Đầu năm nói chuyện Tết: Trò chuyện về văn hóa tập tục của người Việt” – độc giả sẽ được gặp gỡ, giao lưu với nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng; “Ô chữ xuân” giới thiệu về Tết cổ truyền Việt Nam dưới hình thức tổ chức trò chơi đoán ô chữ (Công ty CP Văn hóa Đông A); để bé nói tiếng Anh như phong thái Đội trưởng U23 Việt Nam (Công ty CP Văn hóa Huy Hoàng); giao lưu: “We love reading”: nói về thói quen đọc sách, ý nghĩa của việc tập đọc sách cho trẻ nhỏ (Nhà xuất bản Phụ nữ)…

Ngoài ra, còn có nhiều chương trình giải trí – khám phá hấp dẫn khác như “Chào Xuân Mậu Tuất – Âm hưởng Tết dân gian” (của Công ty TNHH MTV Thương mại & Dịch vụ Văn hóa Minh Long) độc giả sẽ được tham gia các trò chơi dân gian như đập niêu, cướp cờ… và thưởng thức một số tiết mục nghệ thuật đường phố; các chương trình văn nghệ chào xuân phục vụ bạn đọc. Trong suốt thời gian diễn ra Phố Sách Xuân Mậu Tuất, Ban Tổ chức còn bố trí người viết chữ tặng khách đến tham quan.

Hoạt động của Phố Sách Xuân Mậu Tuất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đọc của nhân dân, khẳng định truyền thống hiếu học, ham đọc sách của người Hà Nội, đồng thời là sự khởi đầu của chuỗi các chương trình, hoạt động tại Phố Sách Hà Nội trong năm mới 2018, góp phần đưa Phố Sách trở thành điểm đến văn hóa ngày càng gần gũi với nhân dân Thủ đô.

Phố Sách Xuân Mậu Tuất sẽ kết thúc vào ngày 25-2.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/2/2018:

Thực hiện tiết kiệm, loại bỏ mê tín dị đoan tại nơi thờ tự Phật giáo

Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam vừa có Công văn số 31 gửi Ban Thường trực Ban Trị sự GHPG các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư về việc tăng cường nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc tại các cơ sở thờ tự Phật giáo.

Công văn nêu rõ: Nhằm tạo điều kiện cho các Chùa, Tổ đình, Tịnh xá, Thiền viện, Tu viện, Tịnh viện, Tịnh thất, Niệm Phật đường (gọi chung là Tự viện) phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trong các lễ hội, nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc Xuân Mậu Tuất 2018, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam đề nghị Ban Trị sự các địa phương hướng dẫn chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện, nhất là các tự viện là di tích lịch sử – văn hóa thực hiện tuyên truyền, vận động trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo. Ðề nghị chư Tôn đức Tăng Ni nêu cao tinh thần Bồ Tát đạo, hướng dẫn đồng bào phật tử và người dân loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong các bài giảng chú trọng việc gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục trong các lễ hội; lan tỏa giá trị từ bi, lòng bao dung, tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng tín ngưỡng…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/2/2018:

Đội Quảng Nam lần đầu đoạt Siêu cúp bóng đá quốc gia

Sau khi đoạt ngôi vô địch V-League 2017, đội Quảng Nam tiếp tục ghi dấu ấn với chiến thắng 1-0 trước đội Sông Lam Nghệ An, giành Siêu cúp bóng đá quốc gia 2017 tại trận đấu diễn ra trên sân Hàng Ðẫy chiều qua 24-2.

Trong trận đấu này, đội đương kim vô địch V-League không có sự góp mặt của chân sút ngoại binh Clau-đơ-xia, trong khi đó nhà vô địch Cúp quốc gia 2017 lại thiếu vắng thủ môn Nguyên Mạnh do chấn thương. Cả hai đội bước vào trận tranh Siêu cúp với quyết tâm cao và thi đấu khá cởi mở. Ðội Sông Lam Nghệ An chơi lấn sân, tạo ra nhiều cơ hội hơn hẳn đối thủ, song đáng tiếc những pha dứt điểm của họ thường thiếu chính xác hoặc bị hàng hậu vệ và thủ môn Văn Cường của đội Quảng Nam cản phá. Chủ động chơi phòng ngự, đội Quảng Nam tỏ ra sắc sảo trong các pha phản công. Ở phút thứ 42, trong một tình huống phối hợp đá phạt từ ngoài vòng 16 m 50, Phan Thanh Hưng treo bóng vào vòng cấm địa, cầu thủ Thi-a-gô đã băng xuống đệm bóng cận thành ghi bàn thắng cho đội Quảng Nam.

Trong suốt hiệp hai, đội Sông Lam Nghệ An đẩy cao đội hình để tìm kiếm bàn gỡ hòa, song các chân sút đội bóng này đã không thể dứt điểm thành công dù tạo ra nhiều cơ hội hơn hẳn. Trung thành với lối chơi phòng ngự phản công, đội Quảng Nam cũng bỏ lỡ một vài tình huống dứt điểm khá thuận lợi.

Ðoạt Siêu cúp quốc gia 2017 ở ngay lần đầu tham dự, đội Quảng Nam được xem như có sự khởi đầu thuận lợi hơn tại V-League 2018.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Cứu thành công cá heo dạt vào bờ

Ngày 27-2, Chi cục Thủy sản tỉnh Khánh Hòa phối hợp Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Khánh Hòa cứu thành công một cá thể cá heo trôi dạt vào vùng biển thôn Ngọc Diêm (xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa). Cá heo nặng khoảng 50 kg, có một số vết thương trên cơ thể, sức khỏe yếu, trôi dạt vào bờ được ngư dân báo cơ quan chức năng tiến hành cứu sống. Hiện, tình hình sức khỏe của cá heo đã dần ổn định, đang được chăm sóc, tiếp tục theo dõi tại Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Khánh Hòa.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Hội thảo “Thơ và những vấn đề thơ đương đại”

Sáng 27-2, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (Hà Nội) diễn ra hội thảo “Thơ và những vấn đề thơ đương đại”. Đây là hoạt động mở đầu cho Ngày thơ Việt Nam lần thứ 16 – năm 2018, sẽ được tổ chức tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám vào ngày Rằm tháng Giêng năm Mậu Tuất.

18 tham luận tại hội thảo đã tập trung vào ba chủ đề chính: Đánh giá thành tựu của thơ đương đại và những thách thức phải vượt qua; bàn về lý luận và phê bình thơ hiện nay; công chúng thơ và mối tương quan giữa thơ hàn lâm và thơ đại chúng. Một số tham luận đáng chú ý như “Thơ cách tân trong chuyển động thi ca Việt”, “Nhận diện thơ Việt từ sau đổi mới đến nay”, “Bây giờ thơ sống thế nào?”, “Thế hệ thơ đổi mới và câu hỏi thơ với công chúng”… thẳng thắn đề cập đến những thách thức của thơ đương đại, góp phần nhận diện và đưa ra những đề xuất, kiến nghị các hướng đi mang tầm vóc mới trong lao động sáng tạo thơ ca.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/2/2018:

Lễ hội Lim, hát Quan họ Bắc Ninh

Sáng 27-2 (12 tháng Giêng năm Mậu Tuất), lễ hội vùng Lim, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, Bắc Ninh chính thức vào hội, thu hút hàng nghìn người dân và du khách về dâng hương, trảy hội, nghe hát Quan họ.

Hội Lim là lễ hội lớn, được tổ chức vào dịp đầu Xuân mới, mang đậm bản sắc văn hóa vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc và cũng là một trong những lễ hội Quan họ lớn nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Năm nay, theo kế hoạch, phần lễ được tổ chức từ sáng 12 tháng Giêng với các hoạt động dâng hương tại chùa Hồng Ân, lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn trên đồi Lim. Lễ rước diễn ra vào sáng 13 tháng Giêng, từ Trường tiểu học thị trấn Lim đến đình Lim. Ngoài ra, người dân địa phương còn tổ chức rước sắc từ làng Đình Cả sang đình làng Lộ Bao và tế lễ dâng hương theo nghi thức truyền thống tại các đình, đền, chùa. Bên cạnh đó, du khách cũng được hòa mình vào không gian văn hóa Quan họ do các nghệ nhân thể hiện cùng các trò chơi dân gian; trải nghiệm nghề làm gốm Phù Lãng, tranh dân gian Đông Hồ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 18/2/2018:

Thường trực bốn cấp, khám cấp cứu cho gần 95 nghìn người bệnh

Chiều 17-2, theo báo cáo của Bộ Y tế: Trong ba ngày nghỉ Tết, 1.300 cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc tổ chức thường trực bốn cấp đầy đủ, thực hiện khám cấp cứu cho 94.830 người bệnh, nhập viện điều trị nội trú 57.305 người bệnh; thực hiện 6.393 ca phẫu thuật, trong đó 215 trường hợp phẫu thuật chấn thương sọ não (do các nguyên nhân).

Các cơ sở y tế đỡ đẻ, mổ đẻ thành công, đón 8.648 trẻ chào đời và làm thủ tục xuất viện cho 60.141 người bệnh được điều trị khỏi về nhà ăn Tết. Tổng số khám, cấp cứu do tai nạn giao thông là 16.606 trường hợp, giảm 3,73% so với ba ngày Tết Đinh Dậu năm 2017 (tổng hợp số liệu ghi nhận tại khoa khám bệnh các bệnh viện, theo lời khai của người bệnh, bao gồm nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau, chưa loại trừ số liệu trùng lặp do trường hợp chuyển tuyến đến khám tại nhiều bệnh viện). Trong đó, 9.678 trường hợp nhẹ được xử trí và cho về trong ngày; 5.491 trường hợp phải nhập viện điều trị nội trú; chuyển tuyến trên điều trị 1.349 trường hợp. Tổng số trường hợp chết do tai nạn giao thông (bao gồm cả chết trước khi đến bệnh viện) là 83 người.

Đáng chú ý, có 190 trường hợp đến khám, cấp cứu do pháo nổ (106 trường hợp đã xác minh danh tính và địa chỉ cụ thể), tăng 67 trường hợp (54,4%); 53 trường hợp nhập viện do chất nổ khác, tăng 27 trường hợp (103,8%) so với ba ngày Tết 2017. Dịp này, các bệnh viện khám, cấp cứu 1.949 ca đánh nhau, trong đó 1.099 ca phải nhập viện điều trị nội trú; có sáu trường hợp chết…

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tình hình dịch bệnh ổn định, không ghi nhận ổ dịch bệnh truyền nhiễm nhóm A tại các địa phương. Thông tin từ hệ thống trực An toàn thực phẩm (tại toàn bộ 63 tỉnh/thành phố, năm Viện khu vực trên toàn quốc) và cả trên phương tiện thông tin đại chúng, đến cuối ngày 17-2, trên toàn quốc không ghi nhận xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào. Cục An toàn thực phẩm sẽ tiếp tục phối hợp các Viện khu vực, các Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương để theo dõi, nắm thông tin và xử lý kịp thời trong trường hợp xảy ra ngộ độc thực phẩm.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 26/2/2018:

Triệt phá đường dây vận chuyển 288 bánh hê-rô-in

Ngày 25-2, Cục CSÐT tội phạm về ma túy (C47, Bộ Công an) cho biết, vừa phát hiện đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy số lượng lớn từ Lào vào Việt Nam rồi mang sang Trung Quốc tiêu thụ, do đối tượng Trần Văn Bằng, SN 1987, trú tại xã Kim Xá, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) cầm đầu.

Theo đó, khoảng 22 giờ 10 phút ngày 23-2, tại km 14 quốc lộ 3, thuộc địa bàn xã Bạch Ðằng, huyện Hòa An (Cao Bằng), C47 phát hiện hai ô-tô do đối tượng Trần Văn Bằng và Trần Tiến Thành điều khiển mang theo hê-rô-in (Bằng và Thành là hai anh em họ) đã tổ chức chặn bắt. Ðối tượng Bằng không tuân thủ mà lái ô-tô đâm thẳng vào xe của Tổ công tác. Thấy đối tượng chống đối rất liều lĩnh, lực lượng chức năng phải nổ súng trấn áp và đã bắt giữ được Bằng, trên xe thu giữ được một lượng ma túy tổng hợp. Sau đó, truy đuổi 20km bắt được đối tượng Thành. Tại hiện trường, Bằng và Thành khai nhận, đang vận chuyển hê-rô-in. Qua kiểm đếm, Ban chuyên án thu giữ 288 bánh hê-rô-in (trọng lượng 100,8kg), trị giá khoảng 57 tỷ đồng và nhiều tài liệu liên quan. Ðấu tranh điều tra mở rộng vụ án, ngay trong đêm 23-2, C47 đã bắt thêm các đối tượng liên quan, gồm: Nông Văn Hoan (31 tuổi) và Nông Tài Kinh (28 tuổi), cùng trú tại huyện Trùng Khánh (Cao Bằng); Phan Văn Hiển (tức Ðiệp, 36 tuổi), trú tại xã Trấn Hưng, huyện Vĩnh Tường.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 9/1/2018:

Xử lý nghiêm các vi phạm của Công ty TNHH Khải Đức

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình – Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý các vi phạm pháp luật của Công ty TNHH Khải Đức (thương hiệu Khaisilk). Phó Thủ tướng giao Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan chỉ đạo các lực lượng chức năng xử lý nghiêm minh các vi phạm của Công ty TNHH Khải Đức theo đúng quy định của pháp luật.

Trúc đó, Bộ Công thương đã công bố hàng loạt sai phạm của công ty ngày có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật hình sự đối với tội buôn bán hàng giả về chất lượng. Kết quả giám định chất lượng sản phẩm dệt may đối với một số mẫu sản phẩm của công ty cho kết quả kiểm tra khác (không có thành phần silk (lụa)) so với các thông tin công bố (trên nhãn hàng hóa) về thành phần nguyên liệu trong sản phẩm (“100% silk”); có dấu hiệu vi phạm pháp luật vè quản lý thuế và quản lý hóa đơn; ghi nhãn hàng hóa; che giấu thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác cho người tiêu dùng…

Tháng Hai 28, 2018

Chuyện bây giờ mới kể

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:09 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Trước Tết Mậu Tuất năm nay, nhạc sĩ Phạm Tuyên có hai vị khách không mời và cũng không ngờ tới thăm tại nhà riêng. Đó là cụ Phạm Quang Tấn, sinh năm 1940 đến từ thị xã Dĩ An Bình Dương,, vốn là Thiếu sinh quân ở đại đội mà chính nhạc sĩ là đại đội trưởng hồi ở Khu học xá Trung ương bên Trung Quốc. Và người thứ hai là cụ Vũ Văn Chỉ, sinh năm 1942 đến từ thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Cụ Tấn thì “tóc bạc, cái râu bạc” dáng tiên phong đạo cốt; cụ Chỉ thì “mày râu nhẵn nhụi” vạm vỡ, có dáng lực điền, nông dân thứ thiệt. Hai cụ đến thăm nhạc sĩ là “thay mặt cho bạn thân của hai cụ cùng học ở Học viện Nông Lâm những năm 1960”. Mất liên lạc với nhau nửa thế kỷ, mới tìm được nhau, nhờ hai phóng viên của báo Nhân Dân.

Sau Tết, nhạc sĩ là người nổi tiếng, lại là trưởng họ Phạm nhà Phạm Quỳnh, cho nên khách đến thăm nhiều, khách gọi điện thăm hỏi lại càng nhiều hơn, khiến cho tôi, người cháu thứ thiệt ở Sài Gòn, gọi nhạc sĩ bằng cậu ruột, đành phải biết phận, chờ đến chiều mồng ba mới gọi điện được cho ông.

Không phải vì tôi định chúc Tết, mà là muốn cho ông biết một chuyện mà chỉ mới nói sơ qua, ông cũng đã ngạc nhiên, nói kể ngay đi, sao lại có chuyện thế. Chuyện tôi kể là: Ông có liên quan đến việc tìm ra nơi chôn thân phụ, nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Chuyện ấy như sau: Đầu năm 1930, một đồng liêu với học giả Phạm Quỳnh gửi một người con trai ra sống ở nhà số 5 phố Hàng Da, nhờ nhà báo Phạm Quỳnh chăm nom cho con theo học ở Hà Nội. Phạm Giao và Phạm Bích là con cả và con thứ của Phạm Quỳnh ra ga Hàng Cỏ đón, vừa giơ cao tấm bảng đề tên vừa gọi to “Hoàng Hùng, Hoàng Hùng, có người đón!” Đến nhà, lên cầu thang chàng trai miền Trung đã nghe thấy tiếng ru em tha thiết, trìu mến của cô gái 17 tuổi. Đó là trưởng nữ của nhà báo tên là Phạm Thị Giá, do trắng như giá đỗ mà thành tên. Anh Hoàng Hùng nghĩ: “Ai mà được làm chồng cô này thì thật là hạnh phúc, đã ra dáng một bà mẹ hiền rồi…” Đứa bé trong lòng cô say ngủ là nhạc sĩ Phạm Tuyên sau này. Ông Hoàng Hùng học ở Hà Nội xong liền du học Pháp, ngành kiến trúc và biết tin cô gái nọ đã làm vợ một chàng trai xứ Huế, dạy học ở trường Thăng Long. Rồi chàng kiến trúc sư cũng có gia đình riêng. Một kỷ niệm đẹp, một tình yêu thoảng qua, nhưng không bao giờ phai…

Rồi năm 1945, gia đình học giả Phạm Quỳnh gặp nạn, kéo theo gia đình bà Giá cũng gặp nạn.

Năm 1956, ông Hoàng Hùng hồi đó đang làm Bộ Trưởng Bộ Kiến thiết của chính quyền Sài Gòn, được giao trách nhiệm trang trí nội thất toàn bộ Dinh Tổng thống, hằng ngày làm việc với anh em Ngô Đình Diệm là tổng thống và em trai là cố vấn Ngô Đình Nhu. Tình cờ một hôm ông Hùng được biết tin gia đình họ Ngô chuẩn bị tìm nơi chôn bố con Ngô Đình Khôi là anh ruột ông Diệm. Ông Hùng nói rõ ơn cưu mang của gia đình Phạm Quỳnh đối với mình thời thanh niên và xin cho được báo đáp bằng cách báo cho bà Phạm Thị Hảo là con gái Phạm Quỳnh hiện là dược sĩ, mở hiệu thuốc Tây ở Sài Gòn. Và chuyện bà Hảo và em trai là Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh đã thực hiện được việc cải táng đưa Phạm Quỳnh về chùa Vạn Phước, một việc mà gia đình tự mình đã cố gắng nhiều năm nhưng không sao làm được.

Nhiều năm sau, đất nước giải phóng, Bắc Nam sum họp, tôi vào thành phố Hồ Chí Minh làm phóng viên thường trú, mẹ tôi cũng vào sống cùng. Một hôm, mẹ tôi nhận được một lá thư từ Pháp gửi về, bà rất bất ngờ vì đó là thư của ông Hoàng Hùng; nhờ đó tôi mới biết được chuyện tình đơn phương của ông Hùng. Ông Hùng có ông em còn ở trong nước là ông Hoàng Liệu, sống ở đường Lê Quang Định gần chợ Bà Chiểu. Lâu lâu, ông Liệu đến thăm mẹ tôi, đưa quà “của anh Hùng gửi chị”, nhiều lần còn mời tham quan lễ hội này, nọ như lễ hội Bà Chúa Xứ, đi về bằng xe riêng cùng mấy bà cùng trạc tuổi, chụp nhiều ảnh” để còn gửi cho anh Hùng tôi”. Cứ như thế cho đến khi em gái tôi sinh con, mẹ tôi về Bạc Liêu, quê chồng em.

Nay, me tôi cũng về cõi Phật tròn 18 năm, tro cốt để tại chùa Vĩnh Nghiêm thành phố Hồ Chí Minh. Không biết ông Hoàng Hùng sau này thì thế nào…

Cuộc sống vốn vô Thường, chỉ có tình người là còn mãi.

Nhân “khai… máy chữ” đầu năm, xin có vài hàng lòng thành tưởng nhớ mẹ và những người thương ông ngoại tôi mà thương cả lũ chúng tôi là con cháu chắt Người.

Thành phố Hồ Chí Minh mồng bốn Tết Mậu Tuất (19/2/2018)

Tôn Thất Thành

Blog PhamTon tròn chín tuổi, tự tin vững bước vào năm thứ mười

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

BLOG PHAMTON TRÒN CHÍN TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC VÀO  NĂM THỨ MƯỜI

Blog PhamTon

Blog PhamTon ra đời ngày 22/2/2009, đến mồng bảy Tết Mậu Ngọ này (22/2/2018) là vừa tròn chín tuổi, bắt đầu bước vào năm thứ mười với lòng tin tưởng vào tương lai tươi sáng, phấn khởi tiến bước vững mạnh trên con đường đã chọn.

Nhân dịp này, hãy điểm qua  những năm tháng phấn đấu trước đây.

—-o0o—-

Blog Phạm Tôn đầy năm (thôi nôi)

Ngày 22/2/2010 này là Blog Phạm Tôn vừa đầy năm (thôi nôi).

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, nhân đạo và đại đoàn kết toàn dân, tinh thần nghị quyết các đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ khóa VI, nhất là khóa X là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, chúng tôi thấy không thể để kéo dài mãi tình trạng mà giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Thanh Đạm đã chỉ rõ là: “Hơn 60 năm nay, ông (Phạm Quỳnh- BPT chú) là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của bao nhiêu người ở bên này, bên kia chiến tuyến. Giằng xé đó làm cho vấn đề Phạm Quỳnh càng trở nên rắc rối, phức tạp thêm. Cách mạng khó giải thích, thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác, lợi dụng (BPT nhấn mạnh). Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. (tạp chí Hồn Việt 18- tháng 9 – 2008, trang 54).

Một số người, đa số là những người Việt sống lưu vong, đã nấp sau tấm bia trong lòng dân Việt ghi công đức Ông dể thả sức bắn phá Tổ quốc mà Ông suốt đời yêu quí, bắn phá xã hội mà suốt đời Ông mong ước và đã cố gắng góp phần xây dựng trên đất nước mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chúng tôi đã đăng tải nhiều tư liệu đáng tin cậy và những ý kiến xác đáng của các nhà văn hóa, chính trị có uy tín cùng những người đương thời chứng kiến sự việc về cuộc đời và sự cống hiến của học giả, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh cho dân, cho nước. Đông đảo đồng bào ta ở cả trong và ngoài nước đã nhiệt tình ủng hộ. Chúng tôi vui mừng báo với các bạn là cho đến nay, ngày 29/1/2010 này, đã có 260,779 lượt người truy cập blog, ngày cao nhất là ngày 11/1/2010, có đến 4,470 lượt đồng bào truy cập. Các bài được truy cập nhiều nhất là bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn  (16.524), thứ hai là bài Người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn (6.714 ), bài thứ ba là Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh của Phạm Thị Ngoạn (6.524), thứ tư là Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh (6.514), thứ năm là Vô Duyên của Phạm Quỳnh (6.502), bài thứ sáu là Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Trong cái rủi có cái may của Hồng Thanh Quang (6.201), bài thứ bảy là Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi? của Dã Thảo (5.685), bài thứ tám là Phạm Quỳnh có quan hệ thế nào với Hoàng Đạo Thúy của Dã Thảo (5.542), bài thứ chín là Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh của Nguyễn Đình Chú (5.358), bài thứ mười là Bất tất nhiên của Sông Hương (5.343) và tiếp theo là Nơi táng mộ cụ Thượng Chi của Nguyễn Đắc Xuân (5.291), Tư tưởng Keyserling của Phạm Quỳnh (5.213), Có hay không vụ “Phạm Quỳnh hất cẳng Ngô Đình Diệm” của Dã Thảo (5.019)…

Blog Phạm Tôn sống được đến hôm nay là nhờ được sự hưởng ứng, giúp đỡ của đông đảo bạn đọc xa gần đóng góp bài vở, ý kiến, cung cấp tư liệu… Trong đó có nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, các nhà sử học Văn Tạo, Đinh Xuân Lâm, … các nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đình Chú, Trần Thanh Đạm…, các nhà văn Nguyên Ngọc, Hà Khánh Linh, Trần Chiến…. Đặc biệt là sự đóng góp lớn của nhà văn Sơn Tùng, người đã tin cậy giao cho chúng tôi các tư liệu quý giá về Mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi Phạm Quỳnh mà ông từng dự định công bố trong Hội thảo (bất thành) về Phạm Quỳnh năm 1992 do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội.

Ngày 22/2/2009, một thanh niên thuộc thế hệ 8x, là chắt của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã “mừng sinh nhật” cha mình bằng một tấm thiệp nhỏ, một bên in hình Phạm Quỳnh, một bên là mấy dòng đơn sơ: “Mừng sinh nhật bố 22/2/2009, mong bố khỏe để góp phần sớm giải oan cho Cụ. Biếu bố blog Phạm Quỳnh. Đây sẽ là kênh thông tin chính thức của Phạm Tôn: https://phamquynh.wordpress.com. Con (kí tên)”. Phạm Tôn có nghĩa là “Cháu của Cụ Phạm Quỳnh” (Chữ nho, Phạm: cụ Phạm, Tôn: cháu). Từ đó mà thành tên blog.

Hiện nay, thường trực thực hiện blog chỉ có năm người. Hai con trai của Phạm Quỳnh và một người bạn chí cốt là tiến sĩ sử học lo về nội dung, cháu ngoại Phạm Quỳnh làm thư ký, lo việc cho blog ra đều kỳ và chắt ngoại Phạm Quỳnh lo tư liệu và toàn bộ các vấn đề kỹ thuật của blog. Như các bạn đã biết, từ ngày ra đời cho đến tháng đầy năm (thôi nôi) này, blog Phạm Tôn chưa hề ngừng nghỉ, cứ đúng hẹn lại có mặt, quyết không phụ lòng yêu mến của các bạn. Những ngày đầu, chúng tôi có gì mới là cống hiến các bạn ngay, không theo bài bản nào cả. Sau đó, đã dần vào nền nếp, ra hằng tuần, sớm nhất là tối thứ sáu, muộn nhất là sáng chủ nhật, cứ mỗi tháng ra bốn đến năm kỳ.

Hồi đầu, blog chúng tôi còn ít được ai biết đến. Cho nên nay có nhiều bạn yêu cầu được đọc những tư liệu quan trọng nhất về học giả Phạm Quỳnh mà chúng tôi hồi ấy đã hăm hở đưa lên hết. Vậy, nay, trong tháng đầy năm (thôi nôi) này của Blog Phạm Tôn, chúng tôi sẽ đưa lại trước hết là bốn tư liệu đặc biệt quý giá của nhà văn Sơn Tùng, sau đó, sẽ là tư liệu của thiếu tướng Phan Hàm, người trực tiếp đi bắt Phạm Quỳnh ngày 23/8/1945, tư liệu về cái gọi là “bản án tử hình Phạm Quỳnh” công bố tháng 12/1945 và một bài độc đáo của giáo sư Nguyễn Văn Trung nói Phạm Quỳnh là Điệp viên đơn tuyến của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Thêm một tuổi, Blog Phạm Tôn đã lớn lên, càng mong được bạn đọc xa gần giúp sức hơn, đọc và gửi bài, ý kiến góp ý phê bình để Blog Phạm Tôn ngày càng phục vụ sát yêu cầu chính đáng của bạn đọc hơn nhằm tìm hiểu và đánh giá ngày càng xác đáng con người và sự nghiệp của học giả, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh yêu quí của chúng ta.

Cũng nhân dịp này, Blog Phạm Tôn xin chân thành cảm ơn sự giúp sức của quí bạn, nguồn gốc sức mạnh để blog sống và cống hiến trong năm qua.

*

*     *

BLOG PHAMTON TRÒN HAI TUỔI

Blog PhamTon

Đến ngày 22/2/2011, tức ngày 20 tháng giêng Tân Mão này, hoa đào đang khoe sắc thắm trong mưa lạnh xứ Bắc, hoa mai đang vàng rực trong nắng ấm miền Nam, Blog PhamTon chúng tôi vừa tròn hai tuổi (22/2/2009-22/2/2011). Blog PhamTon đã đến với bạn đọc yêu quí hơn một trăm tuần, cung cấp đều đặn mỗi tuần ít nhất hai bài về Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Hai năm qua, chúng tôi phát hơn 306 tư liệu và đã được 741.412 lượt người truy cập, có ngày lên đến 6924

Đó quả thật là một con số không nhỏ đối với một blog cá nhân chỉ chuyên viết về một con người. Mà người ấy lại là Phạm Quỳnh. Điều đó khiến chúng tôi vui mừng nhận thấy định hướng của blog đã đáp ứng đúng yêu cầu của đông đảo bạn đọc cả trong và ngoài nước.

Chúng tôi đã tìm gặp nhà sưu tầm tư liệu nổi tiếng Trần Thanh Phương, nguyên phó tổng biên tập tạp chí Đại Đoàn Kết. Ông là người quen biết cũ, nay lại là người đạt hai danh hiệu kỷ lục gia về tư liệu của nước ta. Vậy mà khi hỏi tư liệu về Phạm Quỳnh thì lại không có gì, kể cả tạp chí Văn Học của Sài Gòn cũ số đặc biệt về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, mà trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông đã từng cho chúng tôi mượn đọc tại Hà Nội, nay cũng nói là không còn. Vì thế, chúng tôi càng cố công đi sâu vào việc tìm kiếm tư liệu về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, có đến đâu là cung cấp ngay cho bạn đọc.

Vào việc, mới biết thật là khó kiếm tư liệu về Phạm Quỳnh, nhất là những tư liệu có giá trị thực sự.

Chúng tôi tin vào quan điểm đã ăn sâu trong xã hội ta gần ba mươi năm nay là nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Chỉ có như thế mới xóa được đám bụi mù che phủ cuộc đời và sự nghiệp Phạm Quỳnh mấy chục năm nay. Chúng tôi tin ở lương tâm, trí tuệ của Nhân Dân, Những Người Làm Nên Lịch Sử. Họ sẽ lên tiếng nói rõ sự thật và bảo vệ sự thật.

Hồi đầu, chúng tôi có bao nhiêu tư liệu sưu tầm dược là hăm hở đưa ngay lên blog bấy nhiêu, hầu như hằng ngày. Nhưng chẳng bao lâu, với cái đà cứ mỗi tuần một lần, ít nhất đưa lên hai bài, “kho tư liệu” gom góp suốt mấy chục năm nay của chúng tôi gần như cạn… Thì may thay, chúng tôi bắt đầu tiếp nhận được những tư liệu mới, thật quí giá như tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh, tư liệu về việc đi bắt Phạm Quỳnh ngày 23/8/1945 do chính tay Thiếu tướng Phan Hàm viết, rồi bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh của Phạm Quỳnh giáo sư Nguyễn Đình Chú mới tìm thấy và nhiều tư liệu từ nước ngoài như trường ca về Phạm Quỳnh của nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stinus do nhà thơ Phạm Tiến Duật đem về cho, tư liệu về các lễ kỷ niệm Phạm Quỳnh ở Pháp, Mỹ năm 1992, 1999 và những tư liệu về các cuộc tranh luận nảy lửa về Phạm Quỳnh thời chế độ cũ ở Sài Gòn những năm 1960, cả những tư liệu của mật thám Pháp những năm 1920, báo cáo mật của khâm sứ Trung Kỳ về  Phạm Quỳnh tháng 1/1945… Các nhà sử học, nhà văn, nhà nghiên cứu như giáo sư Văn Tạo, nhà văn Nguyên Ngọc, Hà Khánh Linh… cũng lên tiếng nói rõ sự thật về Phạm Quỳnh. Nhờ vốn liếng được Nhân Dân tài trợ như vậy mà Blog PhamTon chúng tôi đứng vững trong hai năm qua, mỗi tuần đều đặn đến với bạn đọc yêu quí, đưa đến cho bạn đọc một hình ảnh khác, ít được biết của Phạm Quỳnh: một con người trọn đời trung với nước, hiếu với dân, một “người khổng lồ” như nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc.

Nay chúng tôi đã có các mục thường xuyên như Tìm hiểu Phạm Quỳnh nói rõ mọi điều cơ bản về con người và sự nghiệp, mục Bạn hỏi, chúng tôi trả lời sẵn sàng trả lời ngay và thẳng thắn mọi thắc mắc về Phạm Quỳnh, còn có các bài kịp thời phê bình sách, báo, phim thể hiện sai lệch, bóp méo, bôi nhọ Phạm Quỳnh… Chủ yếu, Blog PhamTon vẫn là nơi cung cấp các tác phẩm của Phạm Quỳnh, nhất là những tác phẩm ít người biết đến, đặc biệt là 11 bài viết cuối đời của ông. Chúng tôi cũng đưa thêm nhiều bức ảnh quí hiếm, độc đáo của Phạm Quỳnh

Về những người trực tiếp làm việc thường xuyên cho blog, năm trước, chúng tôi có năm, nay đã có sáu người, vẫn gồm có hai con trai Phạm Quỳnh, một bạn chí cốt của nhạc sĩ Phạm Tuyên từ thời còn là học viên Trường Lục quân Việt Nam, một cháu ngoại, một chắt ngoại và nay, thêm một chắt dâu của Phạm Quỳnh. Hai người ngoài 80 tuổi, hai người trên 70 và hai bạn trẻ 8x. Chắt nam Phạm Quỳnh, một người trẻ 8x chính là người khai sinh ra blog này, chuyên lo toàn bộ công tác kỹ thuật và tư liệu của blog. Nay, anh đã có bạn đời cùng tuổi chia sẻ nhiệm vụ không hề nhẹ nhàng này. Hai người bị đái tháo đường vẫn làm việc. Người bị ung thư đã phẫu thuật, hóa trị xong tám đợt và nay đang chờ tái khám sau mỗi sáu tháng.

Sau hai năm đến với bạn đọc, chúng tôi vui mừng nhận thấy số bạn truy cập ngày càng tăng, có nhiều bài báo, trang sách, đọc là chúng tôi thấy ngay tư liệu của mình đã được sử dụng, có cả một cuốn sách về Phạm Quỳnh cũng sử dụng nhiều tư liệu của chúng tôi, rồi một cuộc hội thảo tổ chức ở Hải Dương, quê Phạm Quỳnh, cũng cho thấy nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà báo dùng tư liệu của chúng tôi. Đặc biệt là gần đây, mục Phạm Quỳnh trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã lên đến chín trang A4 và còn ghi nhận là “blog chuyên viết về Phạm Quỳnh(tức Blog PhamTon chúng tôi) cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến!”

Gần đây, ngoài việc viết về Phạm Quỳnh, blog chúng tôi còn giới thiệu với bạn đọc về vợ và các con, các cháu nội, ngoại, con dâu, cháu dâu, và cả chắt nội Phạm Quỳnh, trong đó một số là những người nổi tiếng, có người mở ra cả một ngành ở nước ta như ngành giáo dục mầm non, ngành kiến trúc phong cảnh, có người là biên đạo múa ba lê nổi tiếng thế giới.

Thêm một tuổi, thêm nhiều trách nhiệm, bước đi cũng vững vàng hơn. Chúng tôi mong được sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của bạn đọc xa gần, những người vốn yêu kính Thượng Chi – Phạm Quỳnh, không nỡ để Ông bị chôn vùi mãi khi di sản Ông để lại vẫn còn có ích cho đời mới, và không ít điều Ông nêu ra đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.

Nhân dịp này, chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã đọc và giới thiệu cho người quen biết đọc blog, giúp đỡ tư liệu, bài vở, khuyến khích chúng tôi vững bước trên con đường đã chọn mà hai năm qua tỏ rõ là con đường đúng đắn: nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Với niềm tin vững chắc là chân lý sẽ ngày càng sáng tỏ trong Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của chúng ta.

*

*    *

Blog PhamTon TRÒN BA TUỔI

Blog PhamTon

Tuần cuối tháng hai này, Blog PhamTon vừa tròn ba tuổi.

5:00 ngày 22/2/2009, chắt của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, một thanh niên thế hệ 8x đã tặng “quà sinh nhật” cho bố mình là cái Blog PhamTon này.

Từ khi biết nghĩ, chàng trai đã thấy bố mình chắt chiu sưu tầm từng chút tư liệu về Cụ trên sách, báo rồi ghi ghi chép chép, cắt cắt, dán dán, lâu lâu lại sắp xếp rồi cất giữ kỹ càng như “kho báu”.

Năm 1998, bố bị hôn mê vì cétone máu, phải đi cấp cứu, nằm bệnh viện mất mấy tháng, tưởng không qua khỏi… Ra viện là giở ngay “kho báu” ra đọc, sắp xếp lại và cặm cụi đánh máy một bài nhan đề Người nặng lòng với tiếng ta, đem đọc cho mẹ nghe, rồi sửa và sao chụp gửi cho bà con, anh em… đọc, chỉ thế thôi! Có người bà con đọc, khen và hỏi bố có muốn in bên Mỹ không thì họ sẽ giúp, nhưng bố từ chối, nói viết chỉ để người nhà đọc. Năm sau, thì viết bài Người nặng lòng với nhà.  Năm sau nữa, viết bài Người nặng lòng với nước ngay sau khi vừa mổ mắt, chỉ đọc được bằng một mắt.

Mãi đến năm 2006, mới có một tạp chí ở Sài Gòn, sau một tháng, lại có một tạp chí ở Hà Nội cùng in bài viết cuối. Rồi một tạp chí ở Huế đăng bài Người nặng lòng với nhà. Tạp chí ở Sài Gòn lại đăng bài bố viết đầu tiên: Người nặng lòng với tiếng ta.

Hai năm sau, một tạp chí nọ mở hội thảo về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Bố lại hăm hở viết ngay bốn bài, họ đăng hai bài và vội vã “kết thúc hội thảo”, nhưng không đăng toàn văn mà cắt đầu, cắt đuôi, sửa chữ này, thay chữ nọ, đổi cả tên bài. Bố đọc mà thở dài… Các bài viết về Cụ, bố đều nhận nhuận bút bằng báo, rồi gửi cho bà con và những ai xem ra có lòng với ông mình. Rồi bố lại ghi chép, cắt dán, lại viết bài khác. Cứ thế, nhiều năm trời…

Chàng thanh niên 8x thương bố, bàn với bạn bè, rồi cùng nhau làm ra món “quà sinh nhật đặc biệt” này. Và từ đó, anh tự mình lo toàn bộ những gì thuộc về kỹ thuật như lên mạng, tra cứu tư liệu. Sau này có vợ thì lại được thêm một trợ thủ đắc lực. Cũng là một 8x.Khi mới ra đời, Blog PhamTon phát liên tục, hằng ngày, tất cả những tư liệu gom góp hằng mấy chục năm. Vì nghe nói … mệnh các blog cá nhân thường yểu, chỉ sợ chưa nói được điều cần nói thì đã ra đi… Dần dần thấy không có ai ngăn cấm, yên tâm hơn mới đi vào nền nếp để người đọc dễ tìm đọc, bèn định ra thời hạn phát blog như một tờ báo ra định kỳ: cứ mỗi tuần ra một “số” vào ngày chủ nhật đầu tuần. Sớm nhất thì phát vào thứ sáu tuần trước. Thấm thoát đã tròn ba năm.

Đến ngày 22/2/2012 đã vượt xa con số một triệu lượt người truy cập…

Ngày cao nhất lên đến hơn 10 nghìn. Đến nay, bài trên Blog PhamTon đã lên báo Xuân tạp chí Thanh Tra (Cơ quan của Thanh Tra Chính Phủ và ngành Thanh Tra) Tân Mão và Nhâm Thìn, tạp chí Nguồn Sống (Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang), vào sách Vang mãi lời bác dặn, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (NXB Công An Nhân Dân) và Phạm Quỳnh – Hoa Đường Tùy Bút (NXB Hội Nhà Văn), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (NXB Thanh Niên). Từ điển quốc tế mở Wikipedia cũng dùng không ít tư liệu của Blog PhamTon và đánh giá là blog đã cung cấp nhiều tư liệu chính xác còn ít người biết đến.

Blog PhamTon đã được bạn đọc tin yêu và bảo vệ. Các bạn viết bài, gửi tư liệu cho Blog PhamTon, nhiều bạn đọc và phát lại trên blog của mình. Khi có những bài viết nói sai về Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà blog chúng tôi lên tiếng nói lại cho rõ sự thật, thì đều được bạn đọc ủng hộ, cung cấp thêm cho nhiều tư liệu mới. Và đáng mừng là các việc làm sai trái ấy đều được sửa chữa, nhiều khi rất nhanh chóng, có khi chỉ trong một tuần. Điều đó, chứng tỏ không ít người đọc Blog PhamTon.

Sự tin yêu và bảo vệ Blog PhamTon của quí bạn đọc khiến chúng tôi càng thêm cố gắng, tin tưởng ở công việc mình đã và đang làm là chính đáng, theo đúng phương châm đề ra từ đầu là Nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Tất nhiên là về Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Blog PhamTon chúng tôi có vinh dự được công bố lần đầu tiên một số bài của các nhà văn và nhà nghiên cứu trước khi các bài đó được in trên sách, báo. Đặc biệt vinh dự là được đăng Tư liệu về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh của nhà văn, Anh hùng lao động Sơn Tùng.

Chúng tôi chỉ phát những bài viết của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, những bài viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh hoặc liên quan đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Chúng tôi vinh dự là nơi cung cấp đầu tiên cho bạn đọc 11 bài viết cuối đời của Phạm QuỳnhGiới thiệu 51 bài thơ Đỗ Phủ do ông dịch nghĩa. Đến nay, chúng tôi còn có các mục Tìm hiểu Phạm Quỳnh, Bạn hỏi, chúng tôi trả lời, Cùng bạn đọc, v.v…

Không ít sách báo đã sử dụng tư liệu phát trên blog. Có báo còn trực tiếp liên hệ với chúng tôi để có tư liệu chính xác khi viết về Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong. Thế là Blog PhamTon đã có chỗ đứng trong xã hội và là một địa chỉ đáng tin cậy.

“Lực lượng” thực hiện Blog PhamTon hiện nay chỉ có hai anh em trai nhạc sĩ Phạm Tuyên, một bạn chí cốt của nhạc sĩ từ thời cùng học Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam, người cháu và vợ chồng người chắt đồng tuổi 8x. Về lứa tuổi thì có một 2x, hai 3x, một 4x và hai 8x. Vậy mà Blog PhamTon vẫn ra đều đặn, kể cả khi có người bị ung thư phải mổ, rồi hóa trị tám đợt, có hai người bị đái tháo đường trên dưới 15 năm mấy lần cận kề cái chết, lại có cả đám cưới 8x, có sự ra đời của bé Mèo thế hệ 1x của thế kỷ 21. Có buồn, có vui, nhưng Blog PhamTon vẫn ra đều đặn, hằng tuần, sớm thì thứ sáu tuần trước, muộn nhất cũng chủ nhật đầu tuần.

Vì sao có thể làm được như vậy?

Vì cả sáu con người này đều hết lòng yêu kính Phạm Quỳnh, hợp sức cùng các con cháu khác của Phạm Quỳnh cả trong và ngoài nước, lại được sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình của quí bạn đọc, mà nay số lượt người truy cập đã vượt xa con số một triệu… Có bài chúng tôi mới phát mấy tuần, đã có tới hơn 50 nghìn lượt người truy cập. Mà đó là bài chúng tôi nói rõ quan điểm của mình là phản đối tất cả những ai nấp sau tấm bia tưởng nhớ Thượng Chi – Phạm Quỳnh dựng trong lòng người dân Việt để chống lại Tổ quốc, nhân dân yêu quí của Con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Bạn đọc quả là công bằng.

Được sự tin yêu và bảo vệ của bạn đọc yêu quí, chúng tôi sẽ cố hết sức phục vụ bạn đọc được nhiều hơn nữa, làm sáng tỏ mọi mặt về con người và sự nghiệp của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, góp phần nhỏ vào việc xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nam nay là năm Nhâm thìn, năm tuổi của Phạm Quỳnh và vợ; nếu còn, hai vị đều 120 tuổi. Dịp Tết năm nay, có không ít báo đã đi tìm “ông tổ báo xuân” là ai như Nhân Dân (bài Những tờ báo Xuân đầu tiên ở Sài Gòn), Tuổi Trẻ cuối tuần (Tìm lại tờ báo Xuân đầu tiên), Công lý, cơ quan của Tòa án Nhân dân Tối cao, (Ai là ông tổ báo Xuân?), tạp chí Nghề báo của Thành phố Hồ Chí Minh (Đi tìm tờ báo Xuân đầu tiên ở Việt Nam), tạp chí Nhà báo Huế của hội nhà báo Thừa Thiên-Huế (Nam Phong, tạp chí đầu tiên khởi xướng “tục” làm báo Tết), v.v… Và tất cả đều tìm ra câu trả lời: “ông Tổ báo Xuân” chính là Phạm Quỳnh, người chủ bút mới 25 tuổi của Tạp chí Nam Phong đã cho ra số báo Xuân Mậu Ngọ 1918 ngay khi Tạp chí Nam Phong mới ra đời được sáu tháng. Và để lại một truyền thống tốt đẹp là ra báo xuân hằng năm, hiện đã có hơn 600 số báo xuân ở Hội báo Xuân Nhâm Thìn 2012.Chuyện nhỏ này thật có ý nghĩa: Người ta không còn ngại nhắc đến tên Phạm Quỳnh nữa bắt đầu khẳng định, công nhận và tôn vinh một việc ông đã làm từ thời trẻ tuổi.

Năm rồng hứa hẹn điều gì với người sinh năm rồng 120 năm trước…

*

*    *

Tròn bốn tuổi Blog PhamTon tự tin vững bước vào năm thứ năm!

Blog PhamTon

Cầm tập báo Thời Nay Xuân Quý Tỵ 2013, thấy ngay góc bên phải trang bìa có hàng chữ đỏ thắm Tổ quốc thiêng liêng, dưới đó là hàng chữ vàng rực Năm Tỵ đáng nhớ  và hàng cuối cùng lại màu đỏ thắm, chỉ có hai chữ Niềm tin, chúng tôi cảm thấy như những hàng chữ đó “vận” ngay vào cuộc đời của Blog PhamTon chúng tôi.

Năm Quý Tỵ này, Thượng Chi – Phạm Quỳnh, con người trọn đời Trung với Nước, Hiếu với Dân vừa tròn 120 tuổi. Chúng tôi có Niềm tin là năm nay, ánh sáng của Chân lý lịch sử sẽ soi rọi  vào cuộc đời vẻn vẹn 52 năm của mình mà ông đã dốc sức vì Dân, vì Nước làm được thật nhiều việc thiện.

“Nhâm Thìn vụt qua như bóng nhạn lướt ngoài khung cửa sổ” (Vũ Khoan, trang 6 báo Thời Nay Xuân Quý Tỵ). Thời gian qua đi thật nhanh. Nhưng, “thời gian ủng hộ chúng ta” như một văn hào Xô viết đã nói. Vì chúng ta có chính nghĩa có chân lý, với thời gian, chân lý ấy, chính nghĩa ấy sẽ ngày càng sáng tỏ, tỏa rộng.

Chúng ta đang xây dựng thành công một nước Việt Nam độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Chính nhờ dân chủ ngày càng mở rộng và đi vào thực chất hơn nên mới có sự ra đời Blog PhamTon, một tờ báo mạng nhỏ” ra đều đặn mỗi tuần một kỳ, mỗi kỳ từ ba đến sáu bảy bài, Blog PhamTon là một blog cá nhân chỉ chuyên viết về cuộc đời, sự nghiệp Thượng Chi – Phạm Quỳnh và những người, những việc liên quan đến ông. Blog PhamTon lại không viết giống như người ta thường viết ngót 70 năm qua. Vậy mà Blog PhamTon vẫn yên ổn ra mắt bạn đọc đều đặn, đúng hẹn. Lớp bụi dày che phủ cuộc đời và sự nghiệp Phạm Quỳnh được xua đi bao nhiêu thì con người thật và sự nghiệp thật của ông càng hiện lên rõ ràng trước mắt đông đảo bạn đọc. Blog PhamTon ra đời ngày 22/2/2009 mà đến nay đã có số lượt người trong và ngoài nước truy cập lên đến 1.235.344 lượt, ngày cao nhất lên đến 10.005 lượt, bài được truy cập nhiều nhất lên đến, 58.173 lượt

Một học giả có uy tín lớn, sinh năm 1920 mà nay vẫn đều đặn có bài trên báo, ra sách mới. Vốn ngưỡng mộ Phạm Quỳnh, cụ đã  tận tình theo dõi giúp đỡ chúng tôi, thường xuyên động viên, khuyến khích chúng tôi cố gắng “cháo nóng húp quanh”, kiên trì với con đường đã chọn là nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật về Phạm Quỳnh.

Xuân năm nào cụ cũng gửi thiếp Tết cho chúng tôi với những lời chí tình. Năm Canh Dần 2010, Blog PhamTon  vừa đầy năm, thì cụ chúc chúng tôi “Mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc và thành đạt theo gương thân tộc nội ngoại rất đáng kính.” Năm Tân Mão, 2011, cụ chúc “luôn mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc và thành đạt.” . Năm ngoái Nhâm Thìn, 2012 cụ cũng chúc tương tự. Nhưng năm nay, Quý Tỵ, cụ lại chúc: “An vui, hạnh phúc, hanh thông, thành đạt”. Cụ còn cẩn thận viết TB (tái bút): “Mừng chú đã thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của ông Cụ.” Chúng tôi đọc mà xúc động trước hai chữ “hanh thông”, có lẽ cụ mong chúng tôi nuôi Blog PhamTon được suôn sẻ, không gặp trở ngại gì trong năm thứ năm này. Cụ còn khen chúng tôi “thành đạt trong công trình đính chính và phát triển sự nghiệp lớn lao về văn học của ông cụ” (tức Thượng Chi – Phạm Quỳnh). Chúng tôi biết mình không xứng với lời khen, nhưng hiểu điều cụ kỳ vọng ở mình mà càng thêm cố gắng. Quả là cụ đã thấu hiểu mục đích chủ yếu lập ra và tiến hành Blog PhamTon. Chúng tôi không mong gì hơn là Phạm Quỳnh được hiểu đúng như con người thật của ông, cũng như những việc thật mà ông đã làm trong suốt đời mình. Chỉ thế thôi, không đòi hỏi gì hơn, cũng không tô vẽ gì thêm, vì chính Phạm Quỳnh không cần như vậy. Chúng tôi theo đúng lời Phạm Quỳnh đã dạy là: “Nói thật, mất lòng. Nhưng nói thật vẫn hơn.”

Bốn năm qua, Blog PhamTon hoạt động đều đặn vẫn chỉ với lực lượng nhỏ nhoi: một 2x, hai 3x, một 4x và hai 8x của thế kỷ trước. Hai 8x chuyên lo về kỹ thuật và tư liệu. Vậy mà Blog PhamTon vẫn sống được là nhờ sự giúp sức của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước yêu quí Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Có cụ ông sinh năm 1930, từng vật lộn với cuộc sống ở Lào, Campuchia và Sài Gòn cũ, nhận sự gửi gắm của một người trong họ sắp lìa đời giữ gìn mấy “bảo vật” là ba số báo Nam Phong các năm 1924, 1925, 1926. Giữ gìn suốt hơn 40 năm trời, mãi đến năm Nhâm Thìn 2012, cụ mới tìm được cách liên lạc với nhạc sĩ Phạm Tuyên và chuyển đến gia đình những “bảo vật” ấy. Có vị giáo sư đại học ở Hà Nội được một bạn ở thành phố Hồ Chí Minh gửi cho bài báo có viết về Phạm Quỳnh đã gửi cho chúng tôi sử dụng trên Blog PhamTon. Có cả những bạn trẻ viết bình luận về bài trên Blog PhamTon, có bạn còn đề nghị sớm mở hội thảo về Phạm Quỳnh, mời cả khách là các nhà nghiên cứu người Pháp. Nhưng đóng góp đáng quí nhất cho chúng tôi trong bốn năm qua là nhà văn Khúc Hà Linh ở Hải Dương quê Phạm Quỳnh đã viết và xuất bản năm 2010 sách Phạm Quỳnh con người và thời gian; rồi năm 2012 lại bổ sung thật nhiều đến mức khi tái bản sách phải đổi nhan đề thành Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc, cũng ở Nhà xuất bản Thanh Niên Hà Nội. Nhà sử học Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan năm 2011 xuất bản  Phạm Quỳnh một góc nhìn, năm sau lại xuất bản Phạm Quỳnh một góc nhìn (tập 2), đều là ấn phẩm của Nhà xuất bản Công An Nhân Dân. Đặc biệt buổi ra mắt tập sách mới này đã thành cả một cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh tại Huế, nơi nhà văn hóa đã sống 13 năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên một ngôi chùa Huế. Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên-Huế đã có nhã ý gửi cho Blog PhamTon toàn bộ các bài phát biểu trong hội thảo, giúp bạn đọc có thêm nhiều thông tin mới về Phạm Quỳnh. Đến nỗi hiện nay đông đảo bạn đọc đang đòi hỏi tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan gấp rút cho ra mắt Phạm Quỳnh một góc nhìn (tập 3) hay nói đúng hơn là Phạm Quỳnh những góc nhìn từ Huế. Hội thảo Đề xuất đánh giá lại Phạm Quỳnh (báo Thanh Niên) đồng thời nêu lên câu hỏi: “Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?” (Nhà văn Tô Nhuận Vỹ) và kết luận đây “Không chỉ là chuyện của Cụ Phạm” (Nhà văn Nguyễn Khắc Phê).

Nhân dịp này, chúng tôi xin nhắc lại một chút về sự ra đời của Blog PhamTon. Đó là một nhu cầu tất yếu trong quá trình tìm cho ra con người thật và sự nghiệp thật của Phạm Quỳnh, một nhân vật nổi bật trong nửa đầu thế kỷ XX ở nước ta. Cũng là một nhân vật gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi khắp cả nước với những ý kiến đánh giá trái chiều nhau kéo dài từ những năm ông còn sống và làm việc, nhất là sau cái chết bi thảm của ông năm 1945. Việc làm trọng đại này chỉ có thể diễn ra khi đất nước ta tiến trên con đường dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh, tiếng nói của nhân dân được tôn trọng. Đáng chú ý là người đề xuất và trực tiếp cho ra đời Blog PhamTon không phải là một 2x, hoặc hai 3x, thậm chí cũng không phải là một 4x mà lại chính là một 8x của thế kỷ trước. Có lẽ đó là vì chỉ có người trẻ mới dám nghĩ lớn, làm lớn như vậy! Đó là “sáng kiến” của chàng trai chắt của Phạm Quỳnh, làm ra Blog PhamTon để làm “quà tặng sinh nhật” cho cha là cháu ngoại Phạm Quỳnh. Cho nên Blog PhamTon  mới ra đời vào sáng sớm ngày 22/2, đúng ngày mà 69 năm trước cha anh đã ra đời. Đến nỗi, nay ngày 22/2 đã trở thành ngày kỷ niệm sinh nhật của Blog PhamTon, người cha phải chuyển ngày kỷ niệm sinh nhật của mình sang ngày âm lịch năm Canh Thìn. May mà ngày đó lại là ngày rằm tháng giêng, cả nước cúng bái, sẵn cỗ bàn, không phải lo tổ chức sinh nhật như người khác. Đó là niềm vui lớn của người cha, khi nghĩ về cách báo hiếu của con mình, tuy “trẻ người” nhưng không “non dạ”.

Nhân ngày vui, mừng Blog PhamTon tròn bốn tuổi đầu đời, tự tin vững bước trên đường vào năm thứ năm, chúng tôi không khỏi có những suy nghĩ riêng tư như trên, mong được chia sẻ với bạn đọc yêu quý.

Chúng tôi mong được sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của các bạn trong và ngoài nước, nhất là những bạn đã tin yêu chúng tôi mấy năm nay, đã đọc và rủ bạn bè, người thân cùng đọc, đã gửi cho chúng tôi ý kiến, bài viết, hoặc báo cho chúng tôi biết những tin tức bài vở về Phạm Quỳnh rải rác trên sách báo xưa và nay ở trong và ngoài nước, cung cấp chất nuôi dưỡng Blog PhamTon ngày càng sát yêu cầu của bạn đọc, giải đáp được ngày càng nhiều những câu hỏi từ nhiều năm, qua nhiều thế hệ về Phạm Quỳnh… Chúng tôi có mục Tìm hiểu Phạm Quỳnh, có mục Thư bạn đọc và có cả mục Bạn hỏi, chúng tôi trả lời. Mong lắm thay những giúp đỡ của quý bạn có lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Chúng tôi tin là trong năm thứ năm này, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta như đã ủng hộ trong bốn năm qua.

“Đi đường mới biết gian lao /Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”. Chúng tôi luôn tự răn mình như thế. Nhưng cũng vững tin rằng “Núi cao lên đến tận cùng / Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”  (dịch thơ Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù)

Thành phố Hồ Chí Minh – mùng 3 Tết Quý Tỵ (12/1/2013)

B.P.T.

*

*    *

Năm GIÁP NGỌ – 2014

HY VỌNG BLOG PHAMTON “MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG”

Blog PhamTon

Năm Giáp Ngọ này khởi đầu từ ngày cuối tháng đầu năm 2014.

Năm 2014 lại mở đầu với một tin vui lớn, đem lại hy vọng cho hơn 90 triệu người dân Việtở trong và ngoài nước khi bước vào Kỷ Nguyên Vàng: Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Đây là bản Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội nước ta khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.

Tháng Giêng Giáp Ngọ cũng là tháng có ngày ra đời Blog PhamTon chúng tôi 22/2. Năm nay, Blog PhamTon bước sang tuổi thứ sáu.

Kể từ Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đến nay, cứ mỗi lần sửa đổi là mỗi lần Hiến pháp nhấn mạnh hơn đến quyền làm chủ của nhân dân, tư tưởng lấy dân làm gốc càng được khẳng định.  Cũng là mỗi lần mở đầu một thời kỳ thắng lợi mới của dân tộc ta ngày càng tiến lên dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh hơn.

“Hiến pháp sửa đổi đã thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền lực của nhân dân, phát huy dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa và bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp bổ sung một yêu cầu rất quan trọng của nhân dân đó là: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Hiến pháp lần này bổ sung vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Hiến pháp đã khẳng định nguyên tắc Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… (Báo Nhân Dân số ra ngày 10/12/2013)”

Con, cháu, chắt Phạm Quỳnh và tất cả những ai yêu kính Phạm Quỳnh bấy lâu nay càng mừng vui hơn khi trong bản Hiến pháp này ngay sau Chương I về Chế độ chính trị đã là Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (từ điều 14 đến điều 49)

Chúng tôi đặc biệt chú ý các điều sau:

“Điều 14:

  1. Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và Pháp luật.
  2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 18:                                

  1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
  2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 19: Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật

Điều 25: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin (Chúng tôi nhấn mạnh – PT), hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 40: Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó.

Điều 41:Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.”

Riêng Điều 25, chúng tôi thấy Blog PhamTon đã được hưởng trọn vẹn từ ngày đầu ra đời 22/2/2009. Đến nay, chúng tôi đang sống trong năm thứ 5, và đã có ngót một triệu rưỡi lượt người truy cập từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Cũng cần phải nhắc lại là Blog PhamTon chỉ là một blog cá nhân, lại chuyên về một đề tài là những gì liên quan đến chỉ một con người là Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Chúng tôi không nói cùng giọng với những gì vẫn thường được nói, viết trong ngót 70 năm qua ở trong nước và kiên trì nói rõ những gì chúng tôi cho là nói không đúng về Phạm Quỳnh.

Vậy mà chúng tôi chưa hề gặp khó khăn cản trở gì, thậm chí không ít tham luận tại các hội thảo, blog cá nhân và một số sách, báo còn sử dụng các tư liệu do chúng tôi công bố.

Nay, mọi người Việt vốn có lòng nhân hậu, lại đều dũng cảm, có điều kiện nói lên tâm ý thật của mình, tập trung trí tuệ toàn dân lại thì nhất định chân lý sẽ sáng tỏ, tấm gương sáng trung với nước, hiếu với dân của Thượng Chi – Phạm Quỳnh sẽ được nêu cao, góp phần đưa nước nhà rạng danh trên trái đất này.

Chính vì các lẽ đó mà chúng tôi tràn đầy hy vọng năm Giáp Ngọ – 2014 này, Blog PhamTon sẽ “mã đáo thành công”. Bởi mục đích chúng tôi đã định từ khi cho Blog PhamTon ra đời là chúng tôi không mong gì hơn Phạm Quỳnh được nhìn nhận đúng như con người và hành động thực trong cuộc đời vẻn vẹn 52 năm của ông, không bôi đen, cũng chẳng tô hồng.

Thời của Sự Thật đã đến vậy.

*

*    *

ĐÓN XUÂN ẤT MÙI – 2015, BLOG PHAMTON TRÒN SÁU TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC VÀO TUỔI THỨ BẢY

Blog PhamTon

Năm ngoái là năm nhuận, thành ra ngày Mồng một Tết Ất Mùi này là ngày 19 tháng 2 năm 2015 và chỉ sau ba ngày Tết đã là ngày 22 tháng 2, lại đúng sinh nhật Blog PhamTon chúng tôi (22/2/2009-22/2/2015). Mừng Xuân, cũng là mừng sinh nhật Blog PhamTon vậy.

Năm ngoái Giáp Ngọ – 2014, chúng tôi đã hào hứng đưa lên bài Hy vọng Blog PhamTon “mã đáo thành công”. Năm nay, một năm mùi, năm con dê, sẽ thế nào? “Hình ảnh con dê cũng là hình ảnh may mắn cho đất nước. Con dê có âm Hán Việt là Dương đồng âm với chữ Dương có nghĩa là khí thịnh. Khí thịnh tượng trưng cho điềm lành, sự phát triển của đất nước” (Trích bài Hình ảnh con dê dưới triều Nguyễn của Nguyễn Hy Khuyến, tạp chí Xưa và Nay Xuân 2015, số 456 tháng 2 năm 2015).

Hy vọng điềm lành và sự phát triển ấy cũng ứng vào Blog PhamTon chúng tôi năm nay.

Năm mới, xin nhắc lại một vài chuyện cũ…

Ngày 19 tháng chạp Giáp Ngọ, một người thân của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã “than” với nhạc sĩ là “bên này (ý nói Mỹ, nơi họ đang cư ngụ) có gửi một số bài đóng góp cho Blog PhamTon những ý kiến trái chiều, nhưng Blog PhamTon không thích nên không dùng.” Khiến chúng tôi phải lục lại những gì nhận được cuối năm 2014, hóa ra “một số bài” người đó muốn nói là nhắc đến số comment viết sau khi đọc mỗi bài, tin trên Blog PhamTon chúng tôi, mà trong kỳ trước chúng tôi đã gọi là “ném đá giấu tay”… Vì quả thực khó gọi đó là “bài đóng góp cho Blog PhamTon”, mà chỉ là những lời phỉ báng chê bai thô bạo… và không bao giờ có bút danh đàng hoàng, chỉ là những nickname kỳ quặc… Ví như trong email phát lúc 4:07 ngày 13/7/2014 vybui viết: “Phạm Tôn! Tin hai thằng CS gộc hay là tin vào người nghiên cứu chỉ căn cứ vào tư liệu, vào sự kiện lịch sử?” Hoặc nhiều email ký tên là Nặc Danh (10:55 ngày 21/12/2014 hoặc 10:48, ngày 21/12/2014). Còn trong email phát 4:49 sáng 22/12/2014 Nặc Danh có bình luận về bài Trường hợp Võ Phiến của tác giả Thu Tứ chúng tôi đưa lên Blog PhamTon tuần 4/10/2014 với giọng hằn học như sau: “Ở chế độ tự do, con người chỉ có trách nhiệm với việc mình làm. Ông Võ Phiến còn sống sờ sờ ra đó cớ sao thằng con có quyền gì nhảy xổ vào sự nghiệp viết lách của ông, có quyền định đoạt cho ông cuốn sách nào, bài nào được xuất bản, cuốn nào bài nào thì không? Phải chăng cái giòng máu đấu tố của cộng sản nó đã thấm vào thân xác thằng con trời đánh nầy! (?!) (Chúng tôi nhấn mạnh và thêm hai dấu ?!-PT chú) Lại thêm một Hổ Phụ sinh Cẩu tử!” Không lẽ đây “là bài đóng góp cho Blog PhamTon”!

8:16 chiều 23/7/2014, tác giả Thắng Dư bình luận về bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn lên Blog PhamTon tuần thứ 1 tháng 4 năm 2013 như sau: “Bài viết của ông Phạm Tôn có nhiều thông tin quý. Nhưng câu trả lời mà người đọc quan tâm là ai đã giết hại cụ Phạm Quỳnh thì ông Tôn lại quá ấu trĩ. Xin ông Tôn hãy sử dụng kiến thức về logic hình thức (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) để chỉ thẳng ra rằng, chính những người CS, cụ thể là những nhân vật chóp bu Việt minh lúc đó là thủ phạm hãm hại cụ Phạm Quỳnh.” Trong khi chúng tôi là con cháu và các nhà nghiên cứu văn học và lịch sử có lương tâm cả trong và ngoài nước đang cố công tìm cho ra tư liệu, sự kiện và những nhân chứng thực sự đã chứng kiến để tìm lại lịch sử đúng như nó đã diễn ra cách đây 70 năm trước, thì ông lại khuyên chúng tôi một câu … đơn giản, dễ dàng là “sử dụng kiến thức về logic hình thức” để kết án một cách thô bạo về một tội ác với văn hóa, lịch sử đất nước ta! Nếu không vâng lời ông thì sẽ là “quá ấu trĩ”. Không lẽ đây cũng là “bài đóng góp cho Blog PhamTon”!

Trong email phát lúc 10:48 sáng 21/12/014 Nặc Danh (lại Nặc Danh!) thực sự nổi đóa khi đọc bài Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta (Blog PhamTon 1/11/2014) như sau: “Cụ Phạm Quỳnh nếu có linh thiêng, đọc cái đề bài chắc cụ hết sức phẫn nộ! Nếu con cháu của cụ còn có chút lòng trọng thị cụ, thì họ phải viết là: “Phạm Quỳnh vẫn còn sống mãi trong lòng người Việt Nam ta” mới đúng. Nếu có ai viết Albert Einstein sống mãi trong lòng của Hitler thì cũng không khôi hài bằng”.

Chúng tôi hiểu là, đọc xong bài viết của chúng tôi liệt kê cụ thể, có kèm cả ảnh minh họa rõ ràng các sách của Phạm Quỳnh đã tái bản và xuất bản lần đầu, các cuộc hội thảo tổ chức ở Hải Dương quê gốc Phạm Quỳnh, và Huế nơi ông an nghỉ thì Nặc Danh căm giận mà không sao bác bỏ được một sự kiện nào, bèn… tức quá hóa khùng, chửi đổng vài câu… Nhưng, dù có sửa cái đề bài thành “sống mãi trong lòng người Việt Nam ta”, thì vẫn không tránh khỏi phải trả lời các câu hỏi: những người Việt Nam đó hiện sống ở đâu và mọi sách báo đó, hội thảo đó xuất bản, tổ chức ở đâu… Và rồi vẫn cứ phải trả lời là trong lòng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta mà thôi.

Nói chuyện cũ, chúng tôi lại nhớ năm 2011, mới ra mắt lần đầu sách Phạm Quỳnh Hoa đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ, nhạc sĩ Phạm Tuyên có gửi sang Mỹ cho người thân mấy bản. Sau đó, người thân này cho ông biết: Nhà báo lão thành Trần Thế Xương (bút danh Mạc Kinh, Người Luân Đôn) sau khi xem sách đã nói là rất cảm động thấy các bản thảo viết cuối đời của Phạm Quỳnh đã được xuất bản và thổ lộ “Anh em bên nhà làm tốt hơn mình”.

Và chúng tôi còn muốn nhắc lại với các bạn là ngày 22/11/2014, con cháu chắt Phạm Quỳnh ở trong nước đã về Hải Dương để dự khánh thành Bia tưởng niệm Nhà Văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc Hải Dương, mà dân địa phương quen gọi là “Lăng Quỳnh”, mặc dù ông được an táng tại Huế. Nên nói thêm là “Lăng Quỳnh” được xây dựng theo chủ trương của Đảng bộ và chính quyền địa phương. Xây dựng và khánh thành trong thời gian có đoàn cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hải Dương nghiên cứu tình hình để chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XII sắp tới, Hội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương cũng về đây làm việc với Tỉnh Ủy, Ủy ban Nhân dân, Ban Tuyên Giáo và Hội Văn học – Nghệ thuật Hải Dương . Nơi tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh xây dựng đàng hoàng bằng đá đen, “giữa thanh thiên bạch nhật” và sự đồng thuận của lòng người.

Ngay sau đó, báo Đại Đoàn Kết cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đăng bài và ảnh giới thiệu sự kiện này với đồng bào cả nước. Hai cột trước nhà bia tưởng niệm có viết hai hàng chữ Nôm và quốc ngữ câu nói nổi tiếng của Thượng Chi Phạm Quỳnh Truyện Kiều còn, Tiếng ta còn, Tiếng ta còn, Nước ta còn.

Sự thật thắng hùng biện, nữa là những lời chửi bới lèm nhèm trên mạng…

Năm Ất Mùi 2015 mong cũng là năm mang lại điều lành và sự phát triển hơn nữa cho Blog PhamTon chúng tôi vững bước sang tuổi thứ bảy trong lòng Tổ quốc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta.

*

*   *

BLOG PHAMTON TRÒN 7 TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO NĂM THỨ 8

Blog PhamTon

Ngày Blog PhamTon tròn bảy tuổi năm nay lại nhằm đúng ngày rằm tháng giêng, giống hệt như cách đây 76 năm, ngày 22/2/1940 cũng nhằm đúng ngày rằm tháng giêng năm Canh Thìn.

Ngày ấy, tại Hà Nội, trưởng nữ của nhá báo Phạm Quỳnh được bà chị dâu cả thân thiết như bạn tri kỷ và cô em kế đến ngủ nhà cô để sáng hôm sau cùng đi lễ ngày rằm. Nhưng phải đưa cô ngay đến bệnh viện Đặng Vũ Lạc lúc mờ sáng. Và cô đã sinh con trai thứ bụ bẫm, mắt to đen.

Cháu bé hiền lành lớn lên trong tình yêu thương của cả gia đình. Được năm tuổi thì thấy nhà mình bỗng đông hẳn lên. Bà Ngoại và cả các cậu, các cô ở Huế ra. Nhà đông mà không vui. Không thấy ông ngoại đâu, nhưng ai cũng thì thầm nói về ông. Kể cả khi gọi đồng chén các buổi chiều buồn sau bữa ăn hầu như yên lặng.

Bé thân với người cậu hơn mình 10 tuổi. Chính cậu dậy cho bé những chữ cái đầu đời. Rồi ngày khai trường năm bé tròn sáu tuổi, đi học ở trường Hoài Đức phố Hàng Trống, cả nhà bận rộn việc này việc nọ, chỉ có cậu khéo tay cố làm cho cháu một cái cặp bằng vỏ bao xi măng, có chỗ gài bút chì đen và xanh đỏ. Bé sướng quá. Đến trường, thấy các bạn cặp xanh, cặp đỏ, cặp da nâu, mới thấy tủi vì cái cặp vỏ bao xi măng xám của mình.

Năm chú 15 tuổi, thì người cậu dạy học ở Khu học xá trung ương bên Trung Quốc về nước họp hội nghị giáo dục. Bao giờ người đi đón cậu về và tiễn cậu đi cũng là chú. Hai cậu cháu vẫn thân thiết như xưa. Một đêm, trước khi cậu đi, bạn bè nhiều, nên khi cậu về đến nhà thì cháu đã ngủ say, giấc ngủ của tuổi đang lớn. Nhưng cậu vẫn lay cháu dậy, và cậu nói với cháu điều nhất thiết cháu phải biết là cháu sẽ lớn lên, hãy cứ tự tin sống theo lẽ phải, chỉ làm những gì mình tin là đúng, mặc cho người khác nhìn mình với cặp mắt kỳ thị, cứ lớn lên mạnh mẽ, xem như mình chẳng may sinh ra có một cái bớt đen trên mặt thế thôi… Nhiều người chê, nhưng cũng còn nhiều người nhận ra mình là người tốt. Cứ tin vào họ và sống với họ.

Từ đó, chú thường nghĩ về ông ngoại. Biết ông mình cùng lứa tuổi với người cao đẹp nhất đang lãnh đạo đất nước. Rồi cứ suy nghĩ mãi vì sao cùng lứa tuổi mà một người thì cứ ngày một lên cao, một người thì lên thật cao rồi bỗng sa chân, chôn vùi cả thân xác lẫn sự nghiệp. Chú cố sưu tầm tất cả những gì ít ỏi có dấu vết của ông ngoại còn sót lại trên miền Bắc đất nước chia cắt. Chủ yếu là nghe mẹ kể và những ký ức tuổi thơ những ngày sống ở Hoa Đường hồi từ hai đến bốn tuổi. May là chú có trí nhớ rất tốt, nhớ cả đến cảm xúc những ngày thơ bé đó, luôn mở to mắt mà nhìn đời. Mẹ kể một ông cậu đã làm hai câu thơ tả bé Mắt đen lay láy, đầu xiêu/ Gục đi lắc lại đáng yêu dường nào.

Năm 1960, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh tình cờ phát hiện ra cụ em vợ bà ngoại sống ở Yên Bình Yên Bái. Mẹ chú lên thăm, rồi hè năm ấy chàng sinh viên Học viện Nông Lâm cùng em trai lên nghỉ hè ở nhà bà. Không ngờ, bà cụ là cả một kho chuyện kể về thời trẻ, lúc Phạm Quỳnh 16 tuổi mới lấy cô chị cả đồng tuổi Nhâm Thìn. Thế là hai bà cháu cứ mải mê chuyện trò không dứt. Mà chỉ nói chuyện về một người. Cụ có trí nhớ tuyệt vời mà lại có tài kể chuyện. Những lúc kể, mắt cụ long lanh, miệng thiệt tươi như cô em ngày nào đang ngắm nhìn anh rể tài hoa mà khiêm nhường, bao dung.

Từ đó, năm nào anh cũng lên thăm bà Yên Bái. Kể cả sau Hiệp định Paris, phải đi qua cầu phao vượt sông Hồng, rồi đạp xe đến ga Đông Anh, chờ tàu đi Yên Bái, mờ sáng đến ga Yên Bái, còn đạp xe hơn 40km đến xóm nhỏ ở Thác Bà, ăn Tết với bà và cô. 11 cái Tết ảnh bỏ Hà Nội, lên miền núi.

Rồi đất nước thống nhất, anh vào Sài Gòn làm phóng viên thường trú. Cơ man nào là sách của ông ngoại, và viết về ông. Biết bao người ôm ấp nhiều chuyện về ông, sẵn sàng kể cho nghe.

Năm 1998, tình cờ anh bị cảm, nôn mửa suốt một ngày, lả đi, đến khi vợ con đi làm và luyện thi đại học về kịp nhờ người đưa đi cấp cứu, thì anh đã hôn mê do máu nhiễm xê tôn (cétonurie). Tỉnh dậy sau 15 ngày vật vã, anh nghĩ cuộc đời mình thật lãng nhách. Suốt đời vất vả ki cóp tư liệu về ông ngoại mà không dám viết. Vì sợ tư liệu còn thiếu. Còn tài năng thì làm gì có. Cứ chờ đã. Để đến bây giờ, sắp chết đến nơi rồi … Đúng là “sống để dạ, chết mang theo”. Trong khi những điều mình biết thì cả mẹ, cả các cậu, các cô đều không ai biết nhiều bằng mình. Mơ màng nghĩ vậy, rồi anh quyết định ngồi dậy được là sẽ bắt tay vào việc. Và “noi gương” Lê Quí Đôn khi viết Phủ Biên Tap Lục, luôn cho tư liệu tìm được vào các túi gấm, anh nghĩ nếu nói về ông ngoại thì nên nói những gì. Và nghĩ ngay ra là tư liệu ít nhất cũng phải chia thành ba “túi”: Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nhà Người nặng lòng với nước. Mà định khi “công bố”, thì cũng cứ theo thứ tự ấy mới mong lọt.

Sau hai tháng nằm viện, về nhà là bắt tay ngay vào việc. Ba bài lần lượt tràn ra mặt trang giấy. Mỗi năm một bài.

Năm 2006, bài cuối cùng lại đến tay một cộng tác viên của tạp chí Công giáo và Dân tộc, nhân người “dám” in sách Thượng Chi văn tập mời con trai học giả Phạm Quỳnh ngồi cùng bàn nhậu với anh. Và bài lên tạp chí. Một tháng sau, bài ấy lên tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội. Huế góp vào bằng bài Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Bài viết đầu tiên, lại ra mắt cuối cùng, cũng trên tạp chí Công Giáo và Dân Tộc.

Năm ấy, internet bắt đầu đến nước ta. Chắt ngoại của học giả Phạm Quỳnh thấy thương bố vất vả sưu tầm tư liệu, cặm cụi viết bài mà lâu lâu mới đăng được một bài; có bài còn bị đổi nhan đề, cắt đầu cắt đuôi, sửa chỗ này, thêm chỗ nọ, làm bố không vui. Bèn bàn với bạn, lập cho bố một trang mạng riêng. Chẳng những đưa lên các bài bố viết mà còn cả những bài bố cất công sưu tầm mấy chục năm qua. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm sinh nhật bố, người con mở Blog PhamTon làm quà mừng.

Từ đấy, 22/2 là sinh nhật Blog PhamTon. Ông bố đành lấy ngày rằm tháng giêng làm sinh nhật của mình.

Năm nay, vừa may, 22-2-2016 lại đúng ngày rằm tháng giêng năm Bính Tuất, “song hỷ lâm môn”, cả nhà cùng vui. Nhất là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII vừa thành công rất tốt đẹp. Mở ra một cuộc đổi mới lần thứ hai, tiếp tục và làm sâu sắc hơn tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, và lời nói đi đôi với việc làm.

Con, cháu, chắt, chút Phạm Quỳnh và những người có lương tri, thật lòng thương dân, yêu nước vốn quí trọng Ông chỉ mong mỏi có thế.

B.P.T.

22/2/2016 (Rằm tháng Giêng Bính Thân)

*

*    *

Trong không khí đầu xuân cả nước hăng hái tiến lên xây dựng cuộc đời mới dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Blog PhamTon cũng mong góp phần nhỏ của mình vào sự nghiệp chung, động viên con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh góp phần xứng đáng. Chặng đường trong chín năm qua đã cho thấy rõ sức mạnh của nhân dân khi mong muốn đem lại sự công bằng trong việc đánh giá mọi sự việc hành động của bất cứ con người nào đã vì dân vì nước mà dốc hết sức mình đem lại lợi ích về vật chất và tinh thần cho nhân dân, Tổ quốc. Trong số những người xả thân vì nghĩa cả đó, tất nhiên có Thượng Chi  Phạm Quỳnh, cha, ông, cụ của chúng tôi.

Chín năm qua, chúng tôi vui mừng nhận thấy Con người thật của Thượng Chi Phạm Quỳnh ngày càng hiện lên rỡ ràng trên các mặt báo, trong các trang sách, các chương trình phát thanh truyền hình ở CHXHCNVN ta. Trong đó, thấp thoáng dấu ấn của Blog PhamTon từ ngày và năm sinh đến những sự kiện bước ngoặt trong cuộc đời ông, trước đây viết, nói khác, nay đã chỉnh sửa lại theo đúng sự thật lịch sử. Chúng tôi chỉ mong có vậy và lúc nào cũng dốc sức phấn đấu để mong thực hiện phương châm nhìn thẳng vào sự thật, dánh giá đúng sự thật nói rõ sự thật.

Chúng tôi biết rằng chỉ có dựa vào trí tuệ của nhân dân ta cả trong và ngoài nước mới thực hiện được sự nghiệp lớn lao đó.

Vô cùng biết ơn nhân dân đã bảo vệ chúng tôi và giúp chúng tôi nói lên được sự thật về Con Người Thượng Chi Phạm Quỳnh yêu nước, thương dân. Hy vọng trong năm thứ mười này, Thượng Chi Phạm Quỳnh sẽ càng được đông đảo người dân lành Việt Nam hiểu rõ và càng yêu mến ông hơn, giúp ông thực hiện những hoài bão về tương lai rạng rỡ của nước nhà như suốt đời ông mong muốn và xả thân để thực hiện theo cách mà ông cho là đúng đắn.

Tp HCM 22/2/2018 mồng bảy Tết Mậu Tuất

B.P.T.

Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 3 năm 2018.

 PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HỌC LÀM CHÍNH TRỊ

 Chi Điền Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc bạn đọc còn nhớ nhà nghiên cứu Chi Điền Hoàng Duy Từ, tác giả bài Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường: Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ đăng trên Blog PhamTon tuần thứ 5 tháng 8 năm 2009. Hôm nay, chúng tôi lại xin giới thiệu với các bạn một bài viết đặc sắc của ông nhan đề Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị. Chúng tôi chỉ lược bỏ hai đoạn thấy không cần thiết.

*

*   *

Nhân đọc tập di cảo Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng thấy ở hai bài Văn học, chính trị; Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường có những ý kiến, cảm nghĩ đáng để cho ta suy tư về vấn đề Nhà văn học làm chính trị, một vấn đề đã làm cho nhiều nhà trí thức chân chính băn khoăn không ít.

Trong thập niên đầu thế kỷ (XX – PT chú), một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lãnh vực văn học. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, sáng lập viên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Ngòi bút của ông đã gây một tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh đô Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo luận dịch thuật của ông mọi người đều biết. Văn học sử đã dành cho ông một cương vị rất quan trọng, nếu không nói là hàng đầu của thượng bán thế kỷ XX.

Những phê bình gia như Vũ Ngọc Phan (1942), Phạm Thế Ngũ (1965), Lê Văn Siêu (1974)… cũng như dư luận ở trong hay ngoài nước đều công nhận học giả Phạm Quỳnh là người công đầu và rất lớn trong việc xây dựng một nền văn học quốc gia tiến bộ trên căn bản tinh hoa của dân tộc.

Như mọi người đều biết Phạm Thượng Chi luôn luôn có một niềm tin sâu xa rằng “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần, và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị”.

Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự trị chính trị cần thiết cho sự xây dựng một nền văn hóa quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước Bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

Chính cái quyết định này đã đem đến cho nhà văn học họ Phạm nhiều suy tư, dằn vặt giữa hai tư cách “Nhà văn học” với “Chính trị gia”.

Để có thêm ý kiến vững chắc, Phạm tiên sinh đã nghiên cứu tư tưởng của một danh nhân thế giới trong thời cận đại. Đó là cố Tổng thống (1913-1920) Thomas Wilson (1856-1924) nước Mỹ. Tổng thống Thomas Wilson sáng lập viên Hộ Quốc Liên (ONU), đoạt giả Nobel về Hòa Bình, giáo sư Đại học về khoa học Chính trị, có một địa vị quan trọng hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918). Ông Wilson đã từng tán dương nhà chính trị kiêm văn học là một hạng người cao quí, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước.

Sau đây là nguyên văn của Phạm Thượng Chi đã viết trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng:


“Nhưng đại khái ông Wilson cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn Tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm ngay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…”

Trích đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ cái suy tư cảm nghĩ của Phạm Thượng Chi và đã xác định lập trường: “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”.

*

*    *

Một vấn đề thứ hai cũng làm cho nhà học giả tài hoa và uyên bác họ Phạm suy tư và băn khoăn không kém.

Đó là vấn đề “Xuất thế” hay là “Nhập thế”. Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn là “chỉ làm chính trị bằng ngòi bút” hay là “thật sự tham chính”.

Chúng ta thử nghiên cứu bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút, Kiến văn, Cảm tưởng nói trên.

Lão Hoa Đường là bút hiệu của Cụ Lập Trai Phạm Quí Thích (1760-1825) và Thiếu Hoa Đường là một trong những bút hiệu của ông Phạm Quỳnh (1892-1945).

Hai người ở cùng làng Lương Ngọc, nhưng dưới triều Lê tên làng là Hoa Đường.

Do đó hai nhà văn nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 đều lấy tên làng làm bút hiệu.

Ông Phạm Quí Thích đõ tiến sĩ năm 1779, làm quan lớn dưới triều Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn. Năm đầu đời Gia Long bị gọi ra làm quan, giữ chức Thị Trung Học sĩ, tước Thích An Hầu, ông từ chối mà không được. Năm 1811 làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Sau ông cáo bệnh xin về, Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) lại có chỉ triệu ra làm việc. Lần này ông đang có bệnh, viện cớ ấy từ chối. Chủ yếu cuộc đời ông không phải là làm quan mà dạy học. Ông là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò. Ông đã làm bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều đặt lên đầu đề truyện Kiều và cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du.

Văn nghiệp của ông gồm nhiều tác phẩm, chủ yếu có Thảo Đường- Thi nguyên tập, Lập Trai văn tập, Thiên Nam long thủ liệt truyện, Chu Dịch vấn đáp toát yếu, Phó Kinh Bắc…


Viết về Phạm Quí Thích, ông Phạm Quỳnh có những dòng sau đây:

“Tôi mộ cái tài hoa danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tôn cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm trí mình quá.”

THƯ HOÀI

Cố quốc sơn hà dĩ đại thù

Cố viên tùng cúc bán hoang vu

Mang mang thiên địa hoàn bô khách

Nhiễu nhiễu phong trần tụ hủ nho

Bệnh cốt bình phân thu lãnh sấu

Thần tâm nhưng bạn nguyệt luân cô

Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú

Vị vấn Tam Lư khẳng túy phần

Chi Điền tạm dịch:

Sông núi nước xưa đà khác hẳn

Cúc tùng vườn cũ nửa hoang tàn

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho

Cốt bệnh ví cùng thu núi lạnh

Lòng ta chỉ bạn mảnh trăng suông

Có người khuyên tớ vui chung rượu

Thử hỏi Tam Lư có chịu chăng?

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho.

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn sơ là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối ren, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ “tài” vậy.

Song chữ “tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.”

Mấy đoạn văn trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy các vấn đề “Xuất thế”, “Nhập thế”, “Xuất sử” không phải là đơn giản.

Xuất thế, tự đặt mình ra ngoài thế cuộc, đi tu, ẩn dật, hay sống bên lề xã hội, tuyệt đối không tham dự việc đời.

Nhập thế, trái lại, hăng say xông pha gánh vác việc đời.

Xuất sử: Ra làm quan hay là ở nhà.

Ba vấn đề tối quan trọng đối với lớp sĩ phu ngày trước.

Xã hội ta hay Trung Hoa ngày trước chỉ có hai giới chính yếu là giới làm quan và giới ở nhà, nói cách khác, giới ở trong chính quyền và giới ở ngoài dân gian. Vì thế mà sự quyết định chọn một con dường đi cho đời mình: xuất thế hay nhập thế đã làm cho giới sĩ phu băn khoăn, suy nghĩ trọn đời. Lắm lúc dấn thân rồi mà còn vẫn băn khoăn. Mấy đoạn văn trên đây của Phạm Thượng Chi rất tiêu biểu cho tâm lý chung của giới sĩ phu sinh trong thời loạn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp đặc biệt như ông Nguyễn Công Trứ.

Uy Viễn Tướng Công thì lập trường rất dứt khoát. Không chút do dự, ông nói rõ ràng trong bài “Chí Nam Nhi”:

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh mà đối với núi sông

……………..

Trót sinh ra thì phải có cái chi chi

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Hoặc như:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh)

Công danh, dưới mắt Nguyễn Công Trứ, là đường đưa tới sự nghiệp, và sự nghiệp là những tinh hoa tô điểm cho trời đất, đồng thời cũng là những món quà tặng lại cho tương lai. Vì thế tiên sinh viết:

Làm sao cho bách thế lưu phương.

Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Kẻ sĩ)

Đối với dân nước, kẻ sĩ có trách nhiệm “Thượng vi đức, hạ vi dân, sắp hai chữ quân thân mà gánh vác, Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự, xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân than”.

Đến như Đệ nhất thi hào Lý Bạch, thiên hạ cho là trích tiên, là xuất thế, mà lắm lúc vẫn thổ lộ những tư tưởng nhập thế:

Trường phong phá lãng hội hữu thi

Trực quài vân phàm tế thương hải

(Đạp sóng cưỡi mây rồi có lúc

Buồm giăng gió lớn vút trùng dương)  (Hành lộ Nam)

………………………….

Như phùng Vị xuyên hiệp

Do khả đế Vương sư

(Duyên may gặp khách sang sông Vị

Vương đế mưu thần có kém ai!

(Tặng Tiền Trung Quân Thiếu Dương)

…..

Rõ ràng hơn nữa, khi An Lộc Sơn khởi loạn, Lý Bạch đã 55 tuổi, theo Vĩnh Vương Lân (con Đường Minh Hoàng) dẹp giặc An Lộc Sơn. Cái chí lớn trị loạn an dân đã thúc đẩy ông có hành động ái quốc mạnh mẽ. Cho đến khi tạ thế, loạn An Lộc Sơn chưa dẹp, Lý Bạch thường nghĩ đến quốc sự và nói:

Trung dạ tứ ngũ than

Thường vị đại quốc ưu

(Nửa đêm than thở bốn năm lần

Thường lo về việc nước)

Xem thế, tự cổ chí kim kẻ sĩ khó có thể sống ở ngoài lề xã hội. Hơn thế nữa, châm ngôn có câu: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.

Thất phu còn có trách nhiệm thay, huống chi là sĩ phu! Cái lý tưởng sống nhàn nhã, tìm thú thanh tuyền, lánh xa trần thế, để giữ lấy cái tiết tháo thanh cao lỗi thời lắm rồi.

Trong thời cận đại này, người ta phải hăng say tích cực, phải làm mãi cho đến ngày kiệt sức.

Nhà thơ danh tiếng Robert Frost (1874-1963) giáo sư Harvard có hai câu thơ được truyền tụng như châm ngôn:

And miles to go before I sleep

And miles to go before I sleep

………………………

“Còn nhiều hải lý đường trần,

Phải đi đi nưa!, Chưa cần nghỉ ngơi”….

(Tô Giang Tử dịch)

Robert Frost muốn nói: Không bao giờ được coi là làm đầy đủ bổn phận dầu trên đường trần có khi đã đến mức cao nhất, ta vẫn phải tiến thêm nữa mới xứng đáng với thiên phú mà Ơn Trên đã ban cho.

Phạm Thượng chi ngày mới tròn 25 tuổi bước vào đời đã sáng lập một cơ quan ngôn luận lớn kiêm nhiệm luôn hai trọng trách chính yếu là chủ nhiệm và chủ bút. Như vậy, chí “nhập thế” quả là lớn lao và quyết liệt. Cái chí ấy đã đưa đến thành công. Mấy ngàn trang sách rất giá trị rải rác trên hai trăm số tạp chí Nam Phong ấn hành liên tục trên 17 năm từ 1917 đến 1934, tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và 5 quyển Thượng Chi Văn tập (1943, tái bản 1962) đã là một sự nghiệp văn học khá vĩ đại. Xét cho kỹ thì phần rất lớn của khối văn nghiệp này là một khối văn học chính trị nhằm mục đích kiến tạo một nền văn học quốc gia và một nền văn chương quốc ngữ (Việt Văn) cho tổ quốc đang vươn mình lột xác chứ không phải là một văn nghiệp thuần túy văn học hay văn chương.

Hơn nữa, dư luận đều biết Phạm Thượng Chi có một niềm tin sâu xa rằng: “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị” như đã nói ở đoạn đầu.

Rồi, từ một nhà đại ngôn luận với lập trường nói trên trở thành một chính trị gia, rồi tham chính là con đường tất yếu. Ý chí đã lập thì con đường tất yếu nhất định phải đi. Thành công hay không là một vấn đề khác.

Tôi thiển nghĩ sau ngày đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945, trong những ngày hưu hạ Phạm Thượng Chi viết tùy bút Văn học, Chính trị có thể là để giải tỏa nỗi lòng. Viết ra cho vơi bớt băn khoăn, dằn vặt, những ưu tư của lòng mình, đồng thời cũng muốn cho dư luận hiểu được phần nào cái thiện chí, cái hoài bão của mình: Đem tài năng thiên phú về văn chương phụng sự quốc gia dân tộc, dùng văn học làm phương tiện tranh đấu ôn hòa trên bình diện chính trị.

Do đó, Phạm tiên sinh đã mượn chủ trương, lập luận của Tổng thống Mỹ Thomas W.Wilson để bàn về nhà văn học làm chính trị, với chủ trương là nhà chính trị mà có văn học là có tư cách hoàn toàn. Tuy nhiên, liền ngay đó, trong đoạn phản thuyết bằng một khác biệt tinh vi là “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”. Với hai chữ “thuần túy”, Thượng Chi muốn nói “Nhà văn học mà bản sắc văn học rồi ngẫu nhiên làm chính trị thì không nên.”

Phạm Thượng Chi có ở trong trường hợp “ngẫu nhiên” làm chính trị không? Tôi thiển nghĩ là không. Đúng vậy, Ông đã làm chính trị từ ngày sáng lập Nam Phong tạp chí 1917 như trên đã nói.

Đọc tiểu sử và văn thơ của ông Tiến sĩ đồng hương Phạm Quí Thích (1760-1825) “Thiếu Hoa Đường “cảm phục” Lão Hoa Đường” về văn tài cũng như về khí tiết. Khen tiền bối đã xuất sử khôn ngoan, quyết chí từ quan về ẩn dật giữ lấy tiết tháo cao thanh.

Nhưng cũng vẫn nhận thấy sự nhập thế của Cụ Tiên Điền Nguyễn Du không phải là vô ích. Mặc dầu cuộc đời có phong ba hơn nhưng những năm lăn lóc trong hoạn trường há chẳng phải vì “đã đau đớn lòng” vì “những điều trông thấy” mới cấu tạo và sáng tác được một áng văn chương tuyệt diệu: Truyện Kiều để lưu truyền hậu thế.

Thượng Chi còn tiếp: “Như thế thì xuất sử cũng năm bẩy đường, vì có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ Tài vậy. Trong phút ấy, có lẽ Thượng Chi đã càm được đại nạn sẽ đến với mình, nên đã viết thêm một câu rất húy kỵ! “Song chữ Tài vẫn hay liền với chữ Tai một vần, chính Tiên Điền đã dậy thế!”.

Đáng tiêc thay! Và thật đáng thương thay!

(…) Giá không có cái tai nạn thảm khốc đó thì những kiến văn cảm nghĩ đã tích trữ trong 13 năm sẽ được khối óc thông minh kia sáng tạo biết bao nhiêu kiệt tác. Cố nhiên không phải là một đoạn trường tân thanh tuyệt diệu như Nguyễn Du mà là một pho sách văn học, chính trị, kinh tế, xã hội… rất quí giá cho nền văn học nước nhà trong thời kỳ canh tân kiến thiết…

C.Đ.H.D.T

Tháng Hai 12, 2018

Chúc mừng năm mới Mậu Tuất

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:03 sáng

CHUC MUNG NAM MOI MAU TUAT

Phạm Quỳnh Nặng Lòng với Quốc Phục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

PHẠM QUỲNH

NẶNG LÒNG VỚI QUỐC PHỤC

Dã Thảo

“Sau phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược, những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX bước vào thế kỷ XX, thời kỳ Hoc tro chu Taybình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lòng yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước với các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế…

(…) Khi Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, thì bộ mặt xã hội đã biến đổi (…) Rồi trong thực tế, một lớp người mới đã xuất hiện làm thông ngôn, ký lục, bồi bếp hay lái xe cho quan Tây (…) tiếp thu nhanh chóng văn minh phương Tây: nói tiếng Tây, mặc đồ Tây và hớt tóc ngắn. (…) đã xuất hiện bóng dáng của cậu học trò “học chữ Tây” với chiếc bình mực lủng lẳng nơi ngón tay – thay thế cho cái nghiên ngày trước – và cái ô đen cắp trên nách”. (Trích bài Một vài hình ảnh của Hà Nội buổi giao thời đầu thế kỷ XX của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 22-24, tạp chí Xưa và Nay, số 418 tháng 12 năm 2012).

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, thời đi học trường tiểu học Pháp Việt, khi đi mít tinh đòi cho tiếp tục mở cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục phố Hàng Đào của cụ Cử Can chỉ mới 15 tuổi, nên bị Tây bắt giam một ngày một đêm rồi cũng thả vì còn vị thành niên. Hồi học trường Thông Ngôn ở Bờ Sông, và cả khi vào Trường Bưởi, rồi trở thành thủ khoa đầu tiên của trường Trung học Bảo hộ này, cũng vẫn đánh bộ quốc phục, áo dài khăn đóng. Cả khi là nhân viên trợ lý Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ, đồng sự của Nguyễn Văn Tố, tất nhiên cũng vẫn bộ quốc phục như Nguyễn Văn Tố. Ông chủ bút trẻ tạp chí Nam Phong chẳng những mặc quốc phục mà còn giữ cả búi tó củ hành nhỏ xíu như trong giấy căn cước làm năm 1918, sau khi Nam Phong ra đời một năm. Mãi đến năm 1922, trước khi đi Pháp dự khánh thành Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, “Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ.” (Trang 95 Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004). Và tất nhiên là cũng cắt đi cái búi tó củ hành. Sang Pháp, ông mới thường mặc Tây, chỉ vì: “Mình sang đây là để xem người, khônTruong Buoig phải cho người xem mình” (Sách đã dẫn, trang 95), chứ thực lòng ông vẫn thapham quynh_tre thiết với quốc phục, nặng lòng với quốc phục. Điều này thể hiện rõ nhất trong chuyến đi Pháp của ông năm ấy.

Thứ bảy 13 tháng 5 năm 1922 (ở khách sạn Terminus, Lyon), Phạm Quỳnh ghi: “những đồ quần áo trong hòm cũng không dùng đến, vì phần nhiều là quần áo An Nam cả, khi ở nhà đi, tưởng sang bên này cứ giữ quốc phục, sang đến đây mới biết rằng không tiện. Mình sang đây là để xem người, không phải cho người xem mình; như vậy mà cứ thướt tha như anh lễ sinh, đi nghênh ngang ngoài đường phố, thời khác nào như làm một cái vật “đấu xảo” giong đường cho người quý quốc xem, nghĩ nó cũng dơ dáng dạng hình quá! Bởi thế nênPham Quynh - Nguyen Van To từ ngày tới Pháp đến giờ, phải bận Âu phục luôn, trừ những khi dự các hội tiệc thời mặc quốc phục cho trọng thể. Còn nhớ mấy ngày đầu mới ăn mặc Tây, rõ phiền quá. Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ. Hôm xuống Tân Gia Ba là ngày mặc Âu phục lần thứ nhất: hôm ấy trời lại nóng nực, mình quen mặc rộng rãi thênh thang, bây giờ bó buộc như thằng hình nhân, lấy làm khổ quá; nào là quần trong, quần ngoài, nào là áo “sổ mi”, nào là “bờ-lơ-ten”(dây đeo quần – DT chú) ; khổ nhất là đeo cái “phô-côn” (cổ cồn, cổ giả – DT chú) cho ngay ngắn, thắt cái “cà-vạt” cho dễ coi. “Cà vạt” có thứ đã thắt sẵn, chỉ việc cài vào mà thôi; có thứ mình phải thắt lấy. Trước khi mua đã phải hỏi ý các ông sành mặc Tây, ông nào cũng bảo rằng thứ thắt sẵn chỉ để cho các ông già dùng, còn người trẻ phải thắt lấy mới là lịch sự. Nhưng khốn quá, mình tập thắt mãi mà nó vẫn cứ nghiêng vẹo, lệch lạc, xô xếch, răn reo, không thấy “lịch sự” một chút nào cả! Cực nhất là lúc tàu đã đến bến rồi, anh em đợi để lên ăn cơm ở cao lâu trên phố, mà mình ở trong buồng cứ loay hoay thắt với buộc mãi không xong, bấy giờ đỏ mặt tía tai lên, muốn quăng cả đi, nghĩ bụng rằng: “Thôi, chẳng Tây thì đừng Tây, mỗi lần thế này khổ quá”. Sau cũng phải nhờ có tay giúp mới buộc xong. Nhưng mà cho hay muôn sự tại thói quen cả, hôm đầu khó nhọc như thế, đến ngày thứ nhì thứ ba đã thấy dễ rồi; cách một tuần lễ thời buộc cái “cà-vạt”, thấy dung dị (dễ dàng – DT chú) như thường, và soi gương coi đã ra vẻ lắm rồi! Khi đến Marseille thời ngPham Quynh 1918hiễm nhiên như ông Tây “đặc”, tưởng hình như mình vẫn mặc Tây đã mấy mươi năm rồi; không những cách ăn mặc mà dáng bộ cũng hệt: tay bỏ túi quần, tay cầm gậy “can”, không còn ngượng ngập gì nữa. Nghĩ bụng giá bấy giờ cứ thế mà hiện hình về giữa phố Hàng Đào Hàng Ngang Hà Nội thời chắc ai cũng phải cho là một cậu “công tử bột” chân chủng! Lại nghĩ rằng nếu văn mình mà chỉ có thế thôi, thời cũng dễ quá: chỉ mất sáu trăm quan là được cái lốt văn minh như hệt, và theo “mốt” tối tân, các “công tử” nước nhà không sao theo kịp: áo thắt ngang lưng, quần nếp thẳng băng, cổ là bóng nhoáng, giầy sơn đen nháy, lại phủ một miếng da trắng ở trên cho khỏi bụi (thế mới hợp “mốt” năm nay)… Nhưng mà mình vẫn biết đã lâu rằng văn minh không phải ở cái lốt ngoài đó. Chẳng qua là đến đâu phải theo tục đó mà thôi. Nhưng mà có một điều nên biết, là người mình có tính mềm mại, uyển chuyển, không bắt chước người thì chớ đã bắt chước thì cũng chẳng kém gì ai, nhất là về cách ăn mặc, có khi người mình ăn mặc Tây lại còn óng ả riêm rúa hơn nhiều người quí quốc…

Vậy bao nhiêu hành lý để cả Marseille và chỉ đem hai cái vali đựng quần áo Tây với mấy bộ quần áo An Nam để phòng khi dùng đến; còn thiếu cái gì, lên Paris sẽ mua.” (Sách đã dẫn trang 94-97). Trong chuyến Pháp du ấy của Phạm Quỳnh, sự kiện nổi bật nhất là việc ông đăng đàn diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm Pháp. Một việc hoàn toàn do ông tự lo với sự giúp đỡ nhiệt tình, không vụ lợi của những người bạn Pháp mới quen mà đã quí trọPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhng ông. Một dịp may hiếm có để cho giới tinh hoa của nước Pháp là nước bảo hộ, “nước mẹ” hiểu rõ nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam và lòng dân ta quyết bảo vệ nền văn hóa và Tổ quốc ông cha để lại. Chính trong dịp trọng đại, nghìn năm có một đó, Phạm Quỳnh đã suy nghĩ nhiều về quốc phục để rồi hành động đúng đắn và còn có thể nói là dũng cảm nữa. Ông ghi: “Thứ bảy 22 tháng 7: “Sáng nay không đi chơi đâu, chỉ bữa ăn đi một lát, rồi về nghỉ ngơi để sửa soạn ra Hội Hàn lâm. Phân vân không biết mặc Tây phục hay mặc quốc phục. Đã có bộ jaquette, nếu mặc Tây thì cũng tùng tiệm được. Nhưng nghĩ lại, gặp những cơ hội như lúc này mà nỡ bỏ quốc phục đeo Tây phục, thì cũng tủi cái áo cái khăn anh đồ quá; thôi thì cứ mặc An Nam (DT nhấn mạnh), chỉ dẫu đi ngoài phố thiên hạ chỉ trỏ nữa cũng chẳng hề gì.” (Sách đã dẫn trang 330)

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh cu be ba Ngoanđược mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

“Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại nghe nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó (DT nhấn mạnh). Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng”  (Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004, trang 335).

Sự kiện một người dân thuộc địa lên diễn đàn Viện Hàn lâm mà được vỗ tay khiến các báo đổ xô đến xin bài diễn văn và xin cả ảnh để đăng cho nổi bật. Phạm Quỳnh hồi ấy đã diện đồ Tây xịn đi chơi nhiều nơi với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và chụp khá nhiều ảnh, vậy mà khi ấy, ông lại cho họ cái ảnh mặc áo dài bế con, vợ mới gửi sang: Trong ảnh, ông mặc áo gấm bế bé Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1921, người sau này làm luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và trở thành tiến sĩ của trường Sorbonne danh tiếng ở Paris. Tấm lòng Phạm Quỳnh với quốc phục thật sâu đậm. Pham Quynh 1930 - Truong Thang Long

Ở Hà Nội cũng như sau này về Huế, người ta vẫn thấy mỗi khi ông xuất hiện đều trong bộ quốc phục.

Ngày sinh nhật ngũ tuần của ông bà đồng tuổi nhâm thìn thì ông, bà, con trai, con gái, con dâu, con rể, cho đến các cháu mẹ còn bế trên tay, đều mặc quốc phục. Năm 2006 các bạn ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế) có đăng bài của Phạm Tôn nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà kèm ảnh đại gia đình mừng sinh nhật năm 1942 ấy, thì các bạn ở tạp chí vui mừng báo cho chúng tôi biết là cả toà soạn đều vui, vì năm ấy nước ta đăng cai hội nghị APEC, tất cả các nguyên thủ quốc gia đến dự đều mặc quốc phục Việt Nam, từ Tổng thống Pu-tin đến Bush… Chủ tịch Nguyễn Minh Triết của ta thì mặc quốc phục màu vàng. Thật là một cuộc biểu dương vẻ đẹp quốc phục ta. Sinh nhat 50 tuoi hai cu

Mùa hạ năm 1945 đặc biệt oi bức vậy mà Phạm Quỳnh, vẫn ngồi dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ, viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Tất nhiên là mặc quốc phục trang trọng theo lệ của riêng ông khi đọc sách hay viết lách.

Chúng ta may mắn có được bức ảnh năm cuối đời, khi ông tha thẩn ở khuôn viên biệt thự Hoa Đường những ngày ấy. Biet thu Hoa Duong

Thiếu tướng Phan Hàm sau này (1993) nhớ lại là trưa hôm 23/8/1945 ấy ông cùng một số bạn sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến đến đưa giấy “mời Phạm Quỳnh ra Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa làm việc” thì “ông ta thản nhiên đứng dậy, mặc áo (tất nhiên là quốc phục rồi) ra đi”.

Ngày nay, vẫn thấy còn nhiều bàn luận về việc mặc quốc phục , may quốc phục nam giới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của họa sĩ Thành Chương: “Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói, áo dài của phụ nữ và áo dài khăn đóng của nam giới luôn luôn là lễ phục gợi lên hình ảnh người Việt Nam. Đã gọi là quốc phục thì tinh thần cối lõi vẫn là hồn cốt dân tộc”. (DT nhấn mạnh) (báo Tuổi Trẻ ngày 22/12/2012)

Thành phố Hồ Chí Minh 26/12/2012.

D.T.

Nam Phong số Tết Mậu Ngọ – 1918

Filed under: Ý kiến,Báo — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2  tháng 2 năm 2018.

BÁO TẾT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA:

NAM PHONG SỐ TẾT MẬU NGỌ – 1918

Phạm Tôn

Đầu năm âm lịch, trời xuân mát mẻ, cây cối xanh tươi, hoa nở muôn màu, người Việt Nam ta khắp cả nước vui mừng ăn Tết cổ truyền. Nói là ăn, nhưng không chỉ có thịt mỡ, dưa hành, rượu ngon, trà thơm mà bao giờ cũng có câu đối đỏ và sau này là có báo Tết. Tết sắp đến là các báo đã đua nhau ra báo Tết, nở rộ như hoa mùa xuân, muôn màu, muôn vẻ, đáp ứng yêu cầu tinh thần của đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi. Mấy năm gần đây, cả nước có đến mấy trăm loại báo Xuân, đủ để đầu mỗi năm từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều tỉnh tổ chức ngày hội báo xuân, có bình bầu, phát thưởng hẳn hoi.

Nhớ lại những số báo Tết xưa vui tươi, nhẹ nhàng với văn Nhất Linh, Khái Hưng bay bướm, thơ Tú Mỡ dí dỏm và các tranh hài hước Lý Toét Xã Xệ châm biếm nhộn nhạo, không ít người cho rằng báo Tết có từ thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn tung ra năm 1932 với các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Nhưng, sự thật, còn xưa hơn nữa… Các tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí… chưa nghĩ đến việc này. Nam Phong tạp chí ra đời giữa năm 1917-Đinh Tỵ. Và ngay cái Tết đầu tiên của tờ báo mới hơn sáu tháng tuổi, chủ nhiệm kiêm chủ bút phần quốc văn đã nghĩ ngay đến việc cho ra một số báo đặc biệt ngày Tết. Bài Số Tết của báo “Nam Phong. Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết, nay ta có thể coi đó như tuyên ngôn mở màn, đặt nền móng cho lệ làm báo Xuân sau này của làng báo Việt Nam trong cả nước, thành một phong tục tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Ông đã viết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Đó là tạp chí Nam Phong số Tết Mậu Ngọ -1918. Ông là người đầu tiên đã gắn cái đặc điểm của ngày Tết vui khắp mọi nhà, vui khắp cả nước với cái nghề báo hằng ngày, gắn bó với đời sống người dân. Cũng vì ông là người yêu quí, trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một lòng tha thiết đem niềm vui đến cho đồng bào.

Cuối bài, ông còn khiêm tốn viết:

“Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít. (…) toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu vậy.

Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quà năm mới này. Có thức gì không vừa ý xin cũng rộng thứ cho: bản báo bước sang năm nay tính theo lối tổ quốc mới được là hai tuổi: nghề bánh trái đã khéo sao bằng các chị em!”.

Trong bài kế đó Mừng năm mới ký tên Nam Phong, ông viết: “Năm cũ Đinh Tỵ đã hầu qua, năm mới Mậu Ngọ đã sắp đến, đông tàn rồi lại sang xuân, ta chắc rằng cái ngày nguyên đán mới mẻ này, nhà nào nhà nấy, pháo đốt vang tai, đối hồng rực cửa, cơ đồ đổi mới, cảnh tượng khác xưa, kẻ lại người qua, không ai là không mừng rỡ mà chúc nhau rằng: “Năm cũ đã qua, năm mới đã đến, đinh tài lưỡng vượng, phúc lộc song toàn.” Nhưng hoa cát tường ở miệng người, như đua nhau phun nở trong ba ngày Tết.

Chúng ta đối với xã hội có cái trách nhiệm ngôn luận, trống sớm chuông khuya, tiếng vang khua động, đâu có nhẽ lại bỏ quá cái thì giờ quí báu ấy, mà im bặt không có một nhời nào để chúc mừng đồng bào ta hay sao? (…) vậy xin thắp hương rải hoa, hun bút mở giấy, mà mừng tuổi cho nước nhà.

Này, đồng bào ta ơi! Non cao núi nhớn, vòi vọi nghìn thu, sông cả nguồn sâu, thênh thênh một dải, dòng dõi thần minh, cùng nhau sum họp, vẫn còn đông đúc mãi mãi ở đây, dài dằng dặc không biết đâu là cùng, xa lăng lắc không biết bao giờ nghỉ, cái thế giới sau này chưa lại, ta tài nào mà biết được, ví cứ bắt chước nhời chúc của Phong Nhân đời xưa mà reo lên rằng: “Đại Nam vạn tuế! Vạn vạn tuế!” cũng chỉ là một câu thường sáo mà thôi. (…)

Đời thủa hồng hoang, ta không có thể xét được, ta chỉ cứ trong lịch sử ghi chép, mà sẽ kể bày ra như sau này.

Nghe rằng: Vua Hùng Vương dựng nước 18 đời trải 2222 năm, đến đời Thục An Dương Vương khởi lên được 50 năm; thuộc 3 đời vua nhà Triệu 59 năm; nội thuộc nước Tàu về nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, cả thảy 652 năm; vua Lý Nam Đế khởi tự năm Giáp Tí đến năm Mậu Thìn, cả thẩy 5 năm; vua Triệu Việt Vương khởi năm Kỷ Tỵ tới năm Canh Dần, cả thẩy 22 năm; ông Lý Phật tử khởi năm Tân Mão đến đăm Nhâm Tuất, cả thẩy 37 năm; lại nội thuộc về nước Tàu, nhà Tùy, nhà Đường, đời Ngũ Quí, nhà Tấn, khởi tự năm Đại Nghiệp Nguyên Niên nhà Tùy, đến năm Thiên Phúc Tam Niên nhà Tấn, cả thẩy 306 năm; ông Khúc Thừa Hiệu tự xưng Tiết độ sứ 16 năm; ông Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ 7 năm; Ngô vương Quyền 6 năm; Dương Tam Kha 6 năm; Ngô Nam Tấn vương 15 năm; Thập nhị sứ quân 2 năm; vua Đinh Tiên Hoàng đến Thiếu đế cả thẩy 13 năm; vua Lê Đại Hành đến vua Long Đĩnh, 3 đời cả thẩy 29 năm; nhà Lý khởi tự vua Thái Tổ đến bà Chiêu Hoàng, 8 đời, cả thẩy 360 năm; nhà Trần khởi tự vua Thái Tôn đến vua Thiếu đế, cả thẩy 12 đời, 174 năm; nhà Nhuận Hồ 7 năm; nhà Hậu Trần hai vua 7 năm; thuộc về nước Tàu đời Vĩnh Lạc nhà Minh 4 năm; nhà Lê độc lập khởi tự vua Thái Tổ đến vua Chiêu Tôn, 9 đời cả thảy 109 năm; nhà Mạc 3 năm; nhà Hậu Lê khởi tự vua Trang Tôn đến vua Chiêu Thống 16 đời, cả thẩy 257 năm; nhà Tây Sơn 15 năm; đến Bản Triều dựng nghiệp định đô ở Phú Xuân kinh, niên hiệu Gia Long 18 năm; Minh Mệnh 21 năm; Thiệu Trị 7 năm; Tự Đức 36 năm; Kiến Phúc 1 năm, Hàm Nghi 1 năm; Đồng Khánh 3 năm; Thành Thái 19 năm; Duy Tân 9 năm; đến đức Vạn tuế ta bây giờ kể là năm thứ 3.

Kể tóm cả lại, thời nước ta tự vua Hùng Vương dựng nước đến giờ, đã đầy 4490 năm linh. Lấy 30 năm kể làm một đời, thời người đời vua Hùng Vương, chính là ông Thủy tổ thứ 139 của chúng ta vậy.

Này các ngài ơi! Nước ta đã trải lâu ngày như vậy, mà năm năm tháng tháng ngày ngày ở trong 4400 năm linh ấy, đều là cái thì giờ của một trăm ba bốn mươi đời tổ tôn chúng ta khai sông mở núi, gây dựng nhọc nhằn, không biết bao nhiêu công trình, góp cái thái bình hạnh phúc, để cho hàng con cháu chúng ta hưởng thụ mãi đến giờ vậy.

Kể từ đời hỗn mang rồi mà thành ra bộ thuộc, thành ra quốc gia; tự thủa đóng cửa khóa ngòi, rồi mà mở mang, mà văn hóa; năm nay tiến một bước, sang năm tiến một bước, mà thành ra một cái nước hoàn toàn.

Nhưng cái tuổi nước từ trước, thì tự tay của tổ tiên chúng ta sửa sang lấy, mà làm cho dài ra. Còn như tuổi nước bây giờ về sau, thì lại là phận vị của anh em đồng bào chúng ta, phải cùng mó tay vào mà sửa sang bồi dưỡng để nối noi mới được. Gặp cái quang cảnh năm mới như thế này, chúng ta há nên dông dài lẩn thẩn mà bỏ hoài mất cái thì giờ quí báu hơn 360 ngày sắp đến này hay sao?

Này đồng bang ta ơi! Năm mới nên quí là vì cái gì? Là vì so với năm cũ có cái hiện tượng ngày rộng tháng dài vậy (…)

nước cố nhiên đã đến cái tuổi trưởng thành thật, thế nhưng mà nước không có thể tự nhiên mà trưởng thành được, sửa sang cái cơ nghiệp trưởng thành là trách nhiệm của người dân trong nước vậy.

Kìa! Lúc nào mà rậm rạp chông gai, rừng xanh nước độc, vẫn là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà mở mang sum họp, ruộng đất cấy cầy, cũng là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà đuổi giặc Nguyên, bắt tướng Hồ, đánh Chiêm Thành, lấy Chân Lạp, nhất thống sơn hà, gây dựng cơ nghiệp, cũng là một miếng đất ấy mà thôi. Dẫu trong khoảng dó, lúc trị lúc loạn, lúc phế, lúc hưng, vận hội đổi thay, vẻ này vẻ khác, mà non sông đất nước, y nguyên còn đó trơ trơ, không biết trải bao nhiêu tháng tháng năm năm, mà phía đất Nam giao vẫn tự nhiên là một nơi bất tiêu bất diệt. Rồi từ đó mà năm bảy nghìn năm, mà muôn năm, ức triệu năm, kinh cai vô số năm, cũ qua mới lại, không biết thế nào mà kể cho hết, không biết thế nào mà tính cho cùng vậy.

Chúng ta muốn mừng tuổi nước, nhưng nước vẫn sống lâu, lọ là phải mừng, chỉ nên mừng là mừng cho người ăn ở trong nước này.

Ngày tháng như thoi đưa, kiếp người không phải sắt đá. Phàm các người bẩm tinh anh của giời đất, trung tú khí của non sông, sinh ra ở trên đất nước này phỏng được bao nhiêu năm, dẫu sống lâu cho lắm, chẳng qua bảy tám chín mươi tuổi, trừ bỏ cái thời kỳ trẻ mỏ giả nua ra ngoài, thì cái thì giờ có ích với xã hội, chẳng qua chỉ ở trong khoảng độ hai ba mươi năm mà thôi.

Các ngài ơi! Kiếp trước chúng ta, chưa chắc chúng ta đã được làm người cổ nhân, kiếp sau chúng ta, chưa chắc chúng ta lại được làm người hậu tiến, chúng ta chính là một phần người trong đất nước ở kiếp này, tiêu thụ cái quang cảnh một năm (…). Bóng sáng thoáng qua, ngày sau còn rộng, phàm những sự nghiệp duy tân của nước ta, hoặc mọc mầm ở năm trước, hoặc nở trứng tự năm nay, học thuật nên làm thế nào cho cao thâm, sinh kế nên làm thế nào cho rộng rãi, chính trị nên làm thế nào cho hoàn toàn, không việc gì là không phải việc nghĩa vụ nên làm ở trong cái năm mới này cả. Vậy dám chúc già trẻ giai gái, sĩ nông công thương, cho chí hết thảy các người trong nước, nhân dịp bước lên, đua hơn ganh được, họa may ra dòng thần dõi thánh, rạng vẻ thêm hoa, đối với người xưa mà không hổ, đối với người sau mà có danh, rồi mà cái tuổi thọ của nước nhà ta, được hưởng một cái phúc lâu dài không có kỳ hạn, ấy là cũng bởi các bậc người ở trong năm mới này, không phí thì giờ, không bỏ nghề nghiệp, đồng lòng hiệp sức, tiếp ngọn nối ngành, để làm cho một ngày một dài ra vậy. Vậy nên chúng ta đương lúc thiều quang sắp đến, muốn mừng năm mới, mà lại rất mong cho 20 triệu đồng bào ta, chớ nên phụ cái năm mới này. (PT nhấn mạnh)

Nam Phong

Thật là những dòng tâm huyết, tha thiết với Tổ quốc, với đồng bào, nhất là với lớp trẻ, tràn đầy tình yêu nước thương nòi, mong cho ngày càng tiến bộ, theo kịp người.

Trên bìa số báo Tết ghi rõ Số Tết – 1918 và dưới đó là hai chữ Nam Phong to trên đầu bức tranh vẽ vị Hành Khiển Phán Quan Đinh Tỵ tay cầm cành đào trơ trụi, buồn bã chia tay với vị Hành Khiển Phán quan Mậu Ngọ tươi tỉnh, tay cầm cành đào rộ hoa. Dưới có in rõ: “In tại Đông Kinh ấn quán (Imprimerie Tonkinoise) 14 Rue du Coton (tức phố Hàng Bông – PT chú)”

Toàn số báo có tời 122 trang, với phần quốc ngữ 70 trang và phần chữ Hán 52 trang. Trong báo rải rác có đăng tới 36 bài thơ cổ, kim, có cả diễn Nôm bài Khuê oán của Tuy Lý Vương do Dương Tự Nhu dịch, kèm các bài là 43 tranh minh họa. Rồi các bài hát nói, phú như bài phú Giặc đến nhà đàn bà phải đánh của Vô Danh, với những câu Thương thay: những lúc ba đào, chút thân bèo bọt, nhà rách vách xiêu, con đau của sót. Nào phải bồ rìn chi đứng, ngoảnh mặt làm thinh, không bụt mọc chi ngồi, đến mình phải nhót (là rút mình, se mình – PT chú). Được thua, thua được chẳng kể, có người có ta. Hết còn còn hết cũng liều, rằng hai, rằng một (…) sức còn đương bẻ gãy sừng bò, sợ chi giặc cỏ, sống chết sao mình dám bỏ (…) Dẫu cơn hoạn nạn, còn lúc nghênh ngang. Chẳng sợ gì ai, chiêng không kêu cũng đấm, đành liều một chuyến, trống dẫu thủng còn tang” Những dòng đầy ẩn ý sâu xa.

Ngoài ra còn có nhiều câu đối. Có những câu như Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú/Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường, hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui. Hoặc Dán buồng học con: Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết/ Chăm chong đèn sách mới nên người của Tạ Quang Huy. Có cả Truyện Tàu Lý Khuê, Trịnh Xuân Nham dịch, Ngày xuân lữ thứ quê người của Hà Huy Sằn với câu kết buồn bã: “một tết thêm một tuổi, cảnh phù sinh chắc thọ được bao lâu, những hổ đem thân buộc vòng danh lợi” Rồi còn “tiểu thuyết mớiChén rượu năm mới, dài hơn tám trang do Nguyễn Bá Trác soạn, Nguyễn Bá Học dịch nôm. Và bài hát cô đầu, sẩm nhà trò, hành vân sang năm, hai bài tạp văn của Nguyễn Khắc Hiếu: Sợ vợ, Hai đồng xu. Và bài Hai con muỗi nói chuyện của Trần Văn Nguyên tóm dịch văn Tuyết Trang…Cuối số báo là Sách vàng những người An Nam giúp việc chiến tranh bên mẫu quốc gồm  các mục: Những bậc quan võ An Nam liệt đồng hàng với các quan Tây, kể tên ba người, Những bậc chiến sĩ tử trận, Những người bị thương và cuối cùng là Những bậc được tuyên công và được thưởng. Âu cũng là một việc không thể không làm ở một tạp chí do chính phủ Pháp tài trợ, song cũng là một cách “kể công”. Cũng như, ở ngay trang đầu, không thể không có mấy lời Kính chúc Hoàng-Thượng và quan Toàn-quyền, ký tên Nam Phong do Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết, kết thúc bằng một loạt khẩu hiệu “ Nay gặp hội Tân-xuân, xin tung hô Vạn-tuế”:

Đại-Nam Khải-định Hoàng-đế vạn tuế!

Toàn-quyền Xa-lộ đại-nhân vạn tuế! (Xa-lộ là Albert Sarraut – PT chú)

Đại-Nam cố quốc vạn vạn tuế!!

Đại-Pháp ân-quốc vạn vạn tuế!!”

Đáng chú ý là tập báo Tết này “là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới” như đã nói rõ trong bài Số Tết báo Nam Phong. Từ đó, thành một lệ tốt đẹp kéo dài hàng mấy chục năm cho toàn thể các báo nước ta là bạn đọc mua báo dài hạn thì hằng năm đều được tặng không một số báo Tết và không phải chịu trả thêm tiền “bù chênh lệch” khi báo tăng giá trong thời hạn mình đã đặt mua.

Nhân ngày Tết, nhắc lại một chút về lịch sử báo chí nước nhà, mong bạn đọc hiểu thêm một phần tấm lòng vì nước vì dân của nhà văn hóa Phạm Quỳnh chỉ qua một việc làm nhỏ của ông: mong làm cho ngày xuân của người dân thêm ý nghĩa và vui vẻ, nhưng không quên nhiệm vụ của mình với Tổ quốc.

24/12/2009

P.T.

 

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tư liệu Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (Ngày xuân, viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

NGÀY XUÂN, VIẾNG MỘ CỤ CHỦ BÁO NAM PHONG

­­­­­­­­­

Nguyễn Thụy Kha

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ-Nhạc sĩ-Nhà báo Nguyễn Thụy Kha sinh ngnguyen-thuy-kha-hinhày 7-10-1949, tại quê nhà Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Hiện nay, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1990, hiện sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nguyễn Thụy Kha tốt nghiệp đại học thông tin và Trường viết văn Nguyễn Du. Từng phụ vụ trong quân đội, từ 1972 đến 1982 là kỹ sư thông tin, từ 1982-1990 là cán bộ tuyên huấn. Sau đó, đến nay là nhà báo.

Tác phẩm đã xuất bản: Hương nắng tiếng chim (Thơ, in chung, 1982); Sóng nhà đêm biết tôi yêu (Thơ, in chung, 1986); Những giọt mưa đồng hàng (Thơ, in chung, 1987); Mắt thời gian (Thơ, 1988); Lúc ấy – biển (Thơ, 1989); Văn Cao – Người đi dọc biển (Tập truyện, 1992); Hàn Mặc Tử-Thi sĩ đồng trinh (Tập truyện, 1993); Không mùa (Thơ, 1994); Một lần thơ trẻ (Truyện ngắn, 1994); Văn Cao-Cuộc đời và tác phẩm (Biên soạn, in chung, 1995).


Vốn mến phục học giả Phạm Quỳnh, ông thường gần gũi gắn bó với nhạc sĩ Phạm Tuyên. Tháng 4 năm 2003, ông viết trên tạp chí Văn Hiến Việt Nam (Hà Nội) bài Ngày xuân viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong và gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng bản viết tay bài thơ Dưới hàng muối xanh viết ngày 2/3/2003.

—o0o—

Ở ngoại ô Huế. Một sớm se lạnh sau Nguyên Tiêu. Chúng tôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên tới chùa Vạn Phước. Nơi ấy, ở góc đồi xóm Bình An là nơi yên nghỉ đời đời của cụ Phạm Quỳnh-thân sinh nhạc sĩ và là chủ báo Nam Phong xưa kia.

Ở đấy, dưới một hàng cây muối xanh mướt là nấm mồ lặng lẽ của một nhà văn hóa từng hết lòng vì quốc ngữ. Trước cửa và mộ của cụ có đôi câu tri ngôn của cụ viết bằng chữ Nôm “Truyện Kiều còn, tiếng Ta còn- Tiếng Ta còn, nước ta còn”. Có lẽ, mọi éo le trong cuộc đời trắc ẩn của nhà báo lớn này đều khởi nguyên từ cái sự quá yêu tiếng Việt ở trong ông. Ông đã tự nhận mình là người “cúc cung tận tụy với nền quốc văn”, nhiệt liệt ca ngợi Truyện Kiều và đề xướng phong trào học Kiều. Viết về thơ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông cũng đắm đuối cùng tiếng Việt: “Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài gẩy cây đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng…”. Vì say mê với thư ngôn ngữ “độc huyền” này, sau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn (tiếng Pháp) và ra làm việc ở Viễn Đông Bác Cổ ít lâu, Phạm Quỳnh đã đứng ra chủ trì tạp chí Nam Phong từ 1/7/1917. Suốt 15 năm duy trì tạp chí (từ 1917 đến 1932)-bằng 15 năm lưu lạc nàng Kiều-Phạm Quỳnh lại dùng đúng tinh thần ngôn ngữ của Truyện Kiều để suy tôn và phát triển tiếng Việt với đầy nhiệt huyết. Bộ Nam Phong tùng thư Thượng Chi văn tập của ông là những công trình nghiên cứu đồ sộ mà ở đó, ông không ngớt ca tụng tiếng Việt. Trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Phạm Quỳnh đã được ngợi ca: “Cái công Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay thật là một công không nhỏ.” Vũ Ngọc Phan còn viết: “nói như vậy không có gì quá đáng, vì nếu đem so tạp chí Nam Phong với những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần đây (thời sau thế chiến I) như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Francaise, người ta đã thấy những tạp chí này đều thiên về một mặt văn học, thêm ít nhiều triết học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham khảo được cả học thuật tư tưởng Đông-Tây mà chuyên cả về khảo cứu cùng biên tập thơ văn cổ kim như Nam Phong tạp chí…”.

mo-pham-quynh


Phạm Quỳnh từng tuyên bố ở Pháp: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ nước ngoài in lấp dòng chữ cũ”. Có lẽ vì quá yêu tiếng Việt, lo lắng cho sự giáo dục tiếng Việt ở trong nước, ông đã nhận lời làm thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục thời Bảo Đại, mặc dù rất nhiều bạn bè đã can gián. Và cứ thế, cuộc đời của một quan đương triều buộc phải trôi theo thời cuộc.

Vị sư chủ trì chùa Vạn Phước, nơi còn lưu giữ bảng chữ “Thổ nạp Âu Á” và nơi ông ngồi đọc sách khi xưa tại Huế những lúc rảnh rang, nói về cái thế đặc biệt của ngôi chùa này với chúng tôi. Đó là vùng đồi giáp ranh giữa đồng bằng thành phố và núi nên nơi đây luôn là nơi đi lại của những người hoạt động bí mật. Thời ta thì bảo nơi đây là nơi lén lút của bọn phản cách mạng. Thời ngụy thì bảo nơi đây là nơi ẩn náu, chứa chấp bọn cộng sản. Chỉ có đến hôm nay “Vạn Phước” mới thực là vạn phước chứ không vô phước như những năm tháng trước. Có khi vì cái duyên ấy mà đất bình an trở thành nơi yên nghỉ của một nhà báo mà Tây thì bảo là thân Cộng, còn Ta thì bảo thích Tây”

Nhưng mọi bi kịch trong lịch sử đều sẽ được hóa giải ở hôm nay. Năm 2002, kỉ niệm 110 năm ngày sinh Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn Mười ngày ở Huế của ông. Những đóng góp và sai lạc của Phạm Quỳnh hẳn rồi sẽ được nhìn nhận công bằng. Niềm tin ấy dường như nằm trong đôi câu đối trên cổng con dốc vào mộ ông: “Vạn ức dòng sông nước chảy ra bốn biển biến nhơ thành sạch-Phước cho trăm họ nương về tam bảo bỏ dữ làm lành”…

nguyen-thuy-kha-tho

Chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

CHUYỆN KỂ CỦA MỘT CHIẾN SĨ XE TĂNG

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão 2011, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

–    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

–    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

–    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

–    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.