Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 14, 2017

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

VĂN TẾ NAM PHONG CHỦ BÚT PHẠM THƯỢNG CHI TIÊN SINH

 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo đã nghỉ hưu Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, thành phố Huế, từng có bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007) từ trang 36 đến trang 47. Mới đây, ông có nhã ý gửi cho chúng tôi bài Văn tế Nam Phong Chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn để bạn đọc thưởng thức thêm một nét hoài cổ của người đương thời với chúng ta

Vinh Ba_Pham Tuyen

—o0o—

Hỡi ơi!

Trời còn nổi gió hướng Nam,[1]

Đất đã khóc người xứ Bắc.[2]

Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muôn thuở: Tiếng ta còn,[3]

Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất.[4]

Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?

Lão già Thiên nỡ nào quá quắt!

Nhớ tiên sinh xưa,

U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi,[5]

Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật.

Buổi li loạn can qua trùm sông núi, người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo, mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây,

Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân, đứa ăn gan hút máu, thằng bóp cổ đè đầu, nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật.

Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục, ôi thôi thì bạch quỉ tung hoành,

Quan văn, quan võ mang áo thụng bài ngà, ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất.

Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí, ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh Nghĩa Thục, Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường,[6]

Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền, hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài, Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất.[7]

Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn tràn,

Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất.

Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?

Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát?

Thôi đành,

Phận dại nương phép thi thư ,

Tuổi thơ theo đòi nghiên bút.

Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử, Trường Thông Ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa,

Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương, Viện Bác Cổ tiếp thu thêm kiến thức.

Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật, với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa,

Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga, cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực

Chí đã quyết nâng cao văn hóa, Thổ Nạp Á Âu ấy đúng phương châm,

Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiển Hoàng triều chọn làm chiến lược.

Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học, mới toan cầu độc lập hùng cường

Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh, hầu sớm đạt an bang tự lực.

Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu, bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta,

Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn, buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc.

Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo: sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn,

Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền: khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức

Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết, Ta da vàng gan lớn lớn gan,

Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm, Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt.

Mộng Vị Thủy[8] phò trợ minh vương,

Giấc Nam Kha [9]viễn trình bắc khuyết.

Rời Nam Phong tạp chí, xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang

Nhận Lại bộ Thượng Thư, đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc.

Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân

Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hòa thương thuyết.

Ý chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!

Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!

Hay đâu,

Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương;

Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức.

Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố, bao mừng vui được sức thổi bùng lên

Vành khăn tang trùm kín một gia đình, mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt

Uy vũ bất năng khuất,[10] bút Nam Phong nay hết quét ngang trời,

Lương mọc kỳ hoại hồ,[11] gươm Văn Khúc[12] cam đành chôn dưới đất.

Ôi thôi,

Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ

Nhiều nuối tiếc, hóa ra toàn có thật.

Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài,

Xót xa khóc người đã khuất.

Hỡi ơi!

Hồn có linh thiêng,

Niệm tình thượng hưởng

Tháng 3.2009

N.P.V.B.


[1] Gió hướng Nam: Nam Phong, tên tạp chí do ông sáng lập và làm chủ bút từ 1917-1932. Khi thôi tham chính, mùa hạ năm 1945, ông Phạm Quỳnh có ý trở lại với sự nghiệp văn chương nghiên cứu đang dang dở của mình.

[2] Ông phạm Quỳnh quê ở tỉnh Hải Dương thuộc miền Bắc nước ta.

[3] Trích từ câu nói thời danh của Phạm tiên sinh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

[4] Ông mất tại một vùng hoang vắng, làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên.

[5] Phạm tiên sinh sinh năm 1893, lúc bấy giờ sau Hiệp ước Patenôtre, Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là vùng bảo hộ, còn Trung Kỳ thuộc Hoàng triều Nguyễn, nhưng dưới sự giám sát của Khâm sứ Pháp.

[6] Ông Phan Châu Trinh chủ trương phong trào Duy Tân, nhưng mất sớm vào năm 1926

[7] Ông Nguyễn Thái Học (1904-1930) bị xử tử tại Yên Bái ngày 17/6/1930, sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại.

[8] Xưa Khương Tử Nha câu cá ở sông Vị, chờ thời cơ giúp nhà Châu diệt Trụ vương.

[9] Giấc mộng Nam Kha là giấc mộng của  một người học trò nghèo mơ thấy mình đỗ đạt giúp vua.

[10] Trích từ câu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sống trong giàu có không mê đắm, trong nghèo khó không đổi thay, dưới cường quyền không khuất phục) nhằm ca tụng khí tiết của người quân tử.

[11] Trích từ câu: “Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, thánh nhân kỳ suy hồ!” (Núi Thái đổ sụp sao, cây gỗ tốt mục nát sao, bậc thánh nhân suy tàn sao!), lời than của Khổng phu tử khi lời giảng của ông không được mọi người tin theo.

[12]Ngôi sao trong Tử vi ứng với người có tài về văn học. Gươm Văn Khúc: Sức mạnh của văn hóa

Advertisements

Người nặng lòng với nước – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 9 năm 2017.

Mùng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Các bạn đọc bài này có thể sẽ thắc mắc vì sao năm 2006, tháng 8, trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay lại đăng bài Người nặng lòng với nước đều của tác giả Phạm Tôn, mà sao hai bài không hoàn toàn giống hệt nhau và cũng chẳng có bài nào giống hệt bài chúng tôi đăng dưới đây. Lý do là như sau…

Năm 2006 ấy, với khí thế đổi mới sôi nổi khắp cả nước đón chào Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng tôi quyết tâm với tràn đầy lòng tin tưởng ở sự nghiệp đổi mới, hoàn chỉnh bài viết sơ thảo từ năm 2001. Bản đầu tiên tới tay nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, là người tôi cho là có ”con mắt xanh”. Anh nhận ra ngay đây là bài có thể ra đời trong thời cơ này. Trong khi là người viết, chúng tôi còn do dự, chỉ mong hai bài Người nặng lòng với tiếng ta (viết năm 1999) và Người nặng lòng với nhà (viết năm 2000) ra đời trót lọt mới tính đến chuyện cho bài này ra đời. Nhưng anh Trần Văn Chánh đã đưa tạp chí Công giáo và Dân tộc, lại được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đọc và viết cho bức thư hai trang ”bảo lãnh”, nên mới ra đời suôn sẻ như vậy, trước sự ngỡ ngàng của tác giả và không ít người hiểu biết.

Sau đó, do có thêm tư liệu mới, tôi đã viết thêm một hai đoạn. Cho nên bài đăng trên Công giáo và Dân tộc là đăng nguyên văn, không thêm không bớt một chữ nào, nhưng vẫn không có các đoạn mới thêm đó. Bài sau này đến tạp chí Xưa và Nay, lại có sự biên tập thêm bớt nữa, cho nên đã khác lại càng khác với bài trên Công giáo và Dân tộc.

Đến bản trên blog lần này, do có thêm tư liệu, xác định được chính xác hơn một số lời nói, tình tiết, chúng tôi lại sửa chút ít, để đảm bảo sự chính xác tối đa về tư liệu lịch sử, trước khi đưa đến bạn đọc, nên lại khác đi một chút nữa.

Có điều, nội dung cơ bản ba bài vẫn như nhau, cho nên chúng tôi để nguyên ở cuối bài ngày tháng hoàn thành.

Hơn nữa, như các bạn đã đọc blog chúng tôi thì biết, chúng tôi luôn đăng theo đúng bản thảo của tác giả mà không lấy những bản đã bị cắt xén, sửa chữa

Vài hàng mạo muội trình bày để bạn đọc thông cảm sao một bài của một tác giả mà lại có đến ba bản khác nhau.

—o0o—

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Hinh 1_NuocCòn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”1

Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”

Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant.Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”2

Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh,  một con người nặng lòng với nước.

Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”3Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”4 Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn, Cảm tưởng I. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được hơn chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”.

Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?

Chúng ta hãy bắt đầu từ trước khi ông được ”mời ra làm việc” trưa 23/8/1945.

Một sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến-Huế được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời Phạm Quỳnh ra làm việc”5 Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”6 Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.

Hinh 2_NuocKhi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,7 bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lHinh 3_Nuocên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).8 Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.9

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt . Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

Hinh 4_NuocTrong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn  Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu!”10

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tayHinh 5_Nuoc. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì.”11Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. SHinh 6_Nuocau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin  ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng  đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.

Hinh 7_Nuoc

Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để Hinh 8_Nuocrủ rỉ kể lại một chuyện xưa. Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị bắt. Sau đó ít lâu, lại được bạn bè từ Huế cho biết dân chúng đang rất xôn xao về vụ Cụ bị xử tử hình. Nhân một dịp được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi”.12Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch13

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà.14

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, người con thứ mười của Phạm Quỳnh Hinh 9_Nuocmay mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)15

Cụ Tấn còn kể tiếp:

“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận”17

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể .(Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh – Thượng Chi). Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá vào bình phong của mộ hàng chữ Quốc ngữ câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Hinh 10_Nuoc

Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?

Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.18

Chương I mở đầu bằng hai câu:

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

Còn trong chương VI, có những câu:

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng19

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

P.T.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chíThế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.


1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

5 Theo tập tư liệu viết tay 10 trang của thiếu tướng Phan Hàm viết chiều ngày 8/11/1993 và Tuyên huấn Thừa Thiên-Huế nhận chiều 14/11/1993

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

7 Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001

8 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

9 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

10 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

11 Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997

12 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

13 Giáo sư  Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

14 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000

15 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

16, 17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

18 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

19 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam(trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

Tháng Tám 27, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí (1934

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:09 chiều

Blog PhanTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

 DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN

TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917-1934) (*)

Nguyễn Đức Thuận

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 485 tháng 7 năm 2017, trong trang 33 và các trang 36-39)

Những năm đầu thế kỉ XX, do những biến động về đời sống xã hội, do những đòi hỏi thẩm mỹ mới của đối tượng tiếp nhận văn chương, nền văn học của nước nhà đã từng bước được hiện đại hóa, chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, báo và tạp chí mở rộng khắp từ Nam chí Bắc. Báo chí ra đời là một sự kiện mới, tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội cận đại ở nước ta, và là một trong những thành quả tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam hiện đại… Ngoài những nội dung thông tin, các báo và tạp chí thời ấy đều có mục văn chương. Trên con đường phát triển của báo chí, thành tố văn chương ngày càng được mở rộng, gia tăng. Trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại, cũng như hiện nay, báo chí có quan hệ khăng khí máu thịt với văn chương theo hai chiều tương hỗ. Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương mà lôi cuốn người đọc và ngược lại, văn chương nhờ báo chí mà đến được người đọc một cách phổ biến rộng rãi. Khi nhìn nhận vè quá trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, nhiều ý kiến đã khẳng định vai trò của báo chí trong việc góp phần xây dựng nền văn học mới. Nghiên cứu diện mạo và thành tựu của Văn trên Nam Phong tạp chí, bước đầu chúng tôi muốn góp phần khắc phục một “khoảng trống” trong việc nghiên cứu về văn chương trên các báo và tạp chí đã hiện diện trên văn đàn nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ XX.

Từ trước đến nay, Nam Phong tạp chí đã trở thành một đối tượng thể hiện sự khác biệt, mâu thuẫn về quan điểm nhìn nhận và đánh giá, thậm chí có những ý kiến trái ngược nhau. Đến nay, đi qua thời gian gần một trăm năm, vấn đề nhìn nhận đã khác. Bình tĩnh đọc lại với ý thức thực sự cầu thị, chắc chắn chúng ta sẽ rút ra được những kết luận khoa học và có ích.

Nhìn tổng quát, việc nghiên cứu Văn trên Nam Phong mới giới hạn ở một số vấn đề về tác giả và tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, ngay cả trong những vấn đề thuộc về Văn trên Nam Phong tạp chí đã được nghiên cứu, ở mỗi thời kỳ, ở mỗi khu vực, nhiều ý kiến cũng còn chưa thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, kể cả một số nhận định của các nhà nghiên cứu văn học ở nước ngoài (1)

Báo chí thời đó có thể xem “là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách xây dựng câu văn xuôi. Nó còn là nơi sưu tầm phổ biến vốn văn học cổ điển của nước nhà, giới thiệu văn học Pháp và Trung Quốc. Quan trọng hơn cả, nó là nơi hầu hết các nhà văn bấy giờ và về sau rèn luyện ngòi bút của mình”(2). Với Phạm Quỳnh, ông chủ trương canh tân đất nước bằng văn hóa, tiếp nhận văn hóa văn minh phương Tây, đồng thời bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, trên tinh thần “Thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”. Muốn vậy, ông chủ trương phải xây dựng cho được một nền quốc học, quốc văn, mở mang dân trí, đưa đất nước tới con đường thực hiện chủ trương chính trị quân chủ lập hiến của mình. Một tinh thần “Thổ nạp Á – Âu” mà thời điểm nước nhà không chỉ bị thực dân tấn công bằng văn hóa và giáo dục, là cần thiết. Ông đã dùng tờ tạp chí Nam Phong như một công cụ hợp lý và có hiệu quả để hành động, thực hiện ý đồ chính trị của mình. Đó là phương hướng cải cách văn hóa, văn học nước nhà trên lập trường dân tộc, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, bảo tồn tiếng nói, văn hóa, văn học của nước nhà.

Sự nghiệp của Nam Phong tạp chí phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tờ tạp chí ở vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, cũng là một hành trình khá dài, trí đã cùng và lực đã kiệt. Về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn (như cuộc cách mệnh thi ca mở đầu từ tháng 3/1932 và trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn 1933), Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học dân tộc.

Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng vẫn thuộc về sản phẩm của một thời kỳ văn hóa, văn học của Việt Nam, cần phải được nghiên cứu thật khách quan và công bằng.

Bước sang đầu thế kỷ XX, những yếu tố của một xã hội hiện đại đã xuất hiện ở nước ta. Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại – xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học. Nhưng bắt tay vào xây dựng một nền văn học mới quả là gặp muôn vàn khóa khăn. Bởi lẽ, “Có biến đổi được nhu cầu của nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ mới biến đổi được tính chất của văn học. Một thời đại văn học này phân biệt được với một thời đại văn học trước hoặc sau nó là ở chỗ khác nhau của lý tưởng thẩm mỹ và nhu cầu nghệ thuật” (3) Lực lượng nào có thể làm được việc ngày? Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra. Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học. Nhưng sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới (chữ quốc ngữ la-tinh) và tư duy sáng tạo mới (thi pháp sáng tác). Cần phải có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp và khắc phục sự đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu thé kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là nguyên thủ và giữ vai trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời. Thời gian khắc phục sự “đứt gãy” và chuyển đổi tư duy văn học trên văn đàn nước ta là khoảng hai mươi năm (từ đầu thập niên mười đến đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước). Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ. Đó là sự phát triển phong phú và đặc sắc về các thể loại văn học của giai đoạn 1930-1945. Và khi ấy, Nam Phong đã trở nên bất cập rồi bị bỏ lại ở phía sau trên con đường hiện đại hóa văn học của nước nhà.

Nam Phong tạp chí hoạt động từ tháng 7 năm 1917 đén tháng 12 năm 1934 thì đình bản. Văn trên Nam Phong tạp chí có vai trò và vị trí như thế nào trong tương quan với văn đương thời trên các báo và tạp chí khác trước và sau giai đoạn này? Đây là một vấn đề thú vị, nhưng phải có điều kiện nghiên cứu ở một công trình khác. Ở đây chỉ có thể nhìn nhận khái quát như sau: Một số thể loại văn học tuy xuất hiện ở báo chí Nam bộ trước Nam Phong tạp chí, nhưng thực sự lại chưa có thành tựu, chưa có lý luận định hướng sáng tác, do đó cũng chưa tạo ra được những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học trên phạm vi cả nước. Mặc dù sáng tác của Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Larazo Phiền (1887) ra đời từ rất sớm, nhưng chỉ như một đốm sáng lóe lên rồi vụt tắt trên bầu trời văn học cuối thể kỷ XIX. Nam Phong tạp chí đã bước đầu thành công trong mục đích “xây dựng một nền quốc học và quốc văn” mới cho nước ta, tạo nền móng khá vững chắc và chuẩn bị những điều kiện cần thiết, ban đầu cho sự phát triển của văn học nước nhà theo hướng hiện đại hóa. Văn trên Nam Phong tạp chí có cả cũ và mới và đã đạt được thành tựu cả về chất và lượng, trong đó đã có dấu hiệu của những hoa trái đầu mùa (4). Nam Phong tạp chí là một trong những nơi “đầu nguồn” của văn chương hiện đại. Trong tiến trình của lịch sử văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, vai trò của Nam Phong là vai trò mở đầu. Cùng với một số báo chí và tạp chí khác của đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí chủ yếu tựa như đã làm những công việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc sinh nở – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy sự nghiệp hơn 17 năm của Nam Phong không tạo ra được một cuộc “cách mệnh thi ca”, hay cũng không tạo ra được một trào lưu văn xuôi lãng mạn của Tự lực văn đoàn hoặc trào lưu hiện thực phê phán ở giai đoạn sau, nhưng Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì là cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học. Văn trên Nam Phong tạp chí đã kế thừa văn truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu những cái mới của văn phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, để xây dựng và phát triển thành một nền văn học bước đầu mang tính chất hiện đại, hiện đại từ ngôn ngữ, thể loại đển một số yếu tố mang tính thi pháp, như nhân vật, kết cấu và phong cách văn chương. Trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học của nước nhà, Nam Phong tạp chí đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại trên nhiều phương diện. Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác, thời đó, Nam Phong tạp chí  là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Nhìn từ góc độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật. Trong tiến trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong tạp chí như một dòng sông, có dòng trong dòng đục. Ở nơi dòng trong, hòa cùng với nhiều mạch nguồn trong khác của các báo chí đương thời, nó đã đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945. Còn nơi dòng đục, đó là một phần không nhỏ những tác hại về nội dung của văn chương trên Nam Phong tạp chí. Bên cạnh những bài của mục “Luận thuyết” thuộc về các vấn đề quan hệ với thời thế, chính trị của tờ tạp chí này, mà trong phạm vi của luận án không đặt ra việc nghiên cứu, ngay trong nhiều tác phẩm thuộc phần Văn ở đây, cũng có tác phẩm đã đề cao sự bảo hộ của “Đại Pháp”, tuyên truyền bằng văn học cái thuyết “Pháp Việt đề huề”, vốn đã làm không ít người ngộ nhận và mắc sai lầm về tư tưởng chính trị, trên con đường đấu tranh cứu nước. Đó là điều cần nhận rõ và cần phê phán!

Khác với nhiều tờ báo và tạp chí khác, Nam Phong tạp chí kể từ khi mới xuất bản, đã có định hướng, có trình bày lý luận và lí thuyết một số thể loại mới của văn học, có tổ chức, có khích lệ, dìu dắt để các cây bút mở đầu trên cả nước ta sáng tác, làm văn theo hướng hiện đại hóa, ảnh hưởng của văn đàn Nam Phong là rất lớn. Nhiều người đã từ “trường học” Nam Phong mà trở thành các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học… Nam Phong tạp chí đóng vai trò “bà đỡ” cho nhiều cây bút văn chương, nhất là những cây bút văn xuôi xuất hiện và trưởng thành. Trong việc làm đó Nam Phong có định hướng, và có một ý thức rõ rệt; vừa bền bỉ, lại vừa cố gắng. Nhiều tác giả, tuy tác phẩm đến nay chỉ còn được coi như những “bài tập” mở đầu cho một nền văn học mới, nhưng tên tuổi và một số sáng tác của họ vẫn như những “cái đinh” đóng vững chắc vào trong lịch sử văn học của nước nhà. Thời kỳ này, một số báo và tạp chí khác ngoài Bắc cũng đã tham gia vào quá trình đổi mới, hiện đại hóa nền văn học. Nhưng Nam Phong tạp chí là một tạp chí tham gia một cách tự giác nhất và đầy đủ nhất trên cả hai phương diện: lý thuyết và thực tiễn sáng tác. Nam Phong đã chủ động mở “cửa sổ nghệ thuật” sang hướng phương Tây, đã tạo dựng được nhiều thể loại văn học mới. Các thể loại văn học của nền văn học hiện đại, chẳng hạn như tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch nói… đã xuất hiện trên Nam Phong. Thể loại văn xuôi thuộc loại hình tự sự ra đời và đã trưởng thành. Nó đã tiếp nhận hình thức kết cấu, nhân vật, hành văn, ngôn ngữ…của thi pháp hiện đại, như: kết cấu theo nội tâm nhân vật, mang đậm yếu tố bi kịch, nhân vật gần với cuộc sống thực, từ bỏ dần lối văn biền ngẫu, cú pháp thiếu chặt chẽ, dùng nhiều từ Hán – Việt nặng nề… góp phần tạo những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới và hiện đại hóa văn học những năm sau. Trên Nam Phong tạp chí đã xuất hiện những bài viết mang tính chất nghiên cứu, lý luận, phê bình sắc sảo, nghiêm túc và hiện đại. Đồng thời có nghĩa là, Nam Phong tạp chí cũng đã có những cây bút nghiên cứu, lý luận, phê bình của văn học quốc ngữ theo hướng hiện đại đầu tiên trên văn đàn nước nhà. Rồi đây, không lâu sau, ở giai đoạn 1930-1945, văn đàn sẽ xuất hiện những nhà văn – những cây bút phê bình, nghiên cứu, lý luận văn học nổi tiếng, như: Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Lê Thanh, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai… Nhưng một số cây bút nghiê cứu, lý luận không chuyên trên Nam Phong cũng đã đem đến một ngọn gió mới cho một thể văn vốn còn quá hiếm trong tiến trình hàng ngàn năm của nền văn chương dân tộc. Công việc nghiên cứu, phê bình văn học mang tính chất mở đầu ấy của Nam Phong là rất đáng ghi nhận. Việc phát triển và làm cho sâu sắc là công việc của những thế hệ tiếp sau! Bởi vì, xây dựng một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học cho có thành tựu, cũng không thể là công việc của mười, hai mươi năm, hay của một thế hệ!

Văn trên Nam Phong có cả cũ và mới. Cũ ở chỗ, Nam Phong tạp chí đã cho đăng một số lượng rất nhiều thơ làm theo thể thơ cổ điển, nhất là thể thất ngôn bát cú Đường luật của những tác giả cựu học cuối mùa. Trên Nam Phong cũng có cả thể biền văn: văn tế, câu đối, và những câu tản văn cân đối nhịp nhàng… Nhưng mới ở chỗ, Văn trên Nam Phong tạp chí cũng đã có những thể loại văn học mới mà trước đó chưa hiện diện ở văn đàn nước ta. Đó là văn xuôi, gồm: tiểu thuyết (có đoản thiên, có trường thiên), truyện ngắn, có các thể ký quốc ngữ la-tinh; có cả nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, là thể loại văn học mà gia tài ông cha ta chưa có, và nếu có để lại thì vốn quá mỏng manh. Lại còn có cả kịch nói, dịch thuật chữ Hán, chữ Nôm và chữ Tây… Những cây bút tân học đã đem đến cho Văn trên Nam Phong không chỉ là những tri thức mới. Những thể loại văn xuôi quốc ngữ mới của nước ta, đến Nam Phong mới bước đầu được định hình, hoặc nếu trước đây đã có cũng “chỉ như như một cánh chim lạ đáp xuống cánh đồng văn học của nước ta”, và chỉ đến Nam Phong, chúng mới được đẩy lên một cách có ý thức, đạt được sự hoàn thiện về thể loại, cả chất lượng cũng như số lượng của tác phẩm. Bấy nhiêu thể loại văn mới đó đã dần thay thế cho những thể loại văn học xưa cũ, và đó cũng là dấu hiệu cơ bản của một nền văn học hiện đại.

Số lượng các sáng tác, nghiên cứu, văn dịch… trên Nam Phong tạp chí là rất đáng ghi nhận, tạo nên một nền văn học quốc ngữ mới, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và đời sống văn chương từ giai đoạn đầu thế kỷ bấy giờ và nhiều năm sau… Nhiều cây bút “sáng giá” đã viết cho Nam Phong, thế nên Nam Phong tạp chí là tờ báo thu hút được số đông bạn đọc đương thời. Họ đã thực sự lấy sáng tác, nghiên cứu văn chương làm nghề nghiệp, mặc dù họ phải đối mặt với cuộc sống cực kỳ khó khăn. Nhưng qua thực tiễn sáng tác, nghiên cứu Nam Phong tạp chí cũng đã bồi dưỡng , dìu dắt, đào tạo được một lực lượng sáng tác văn xuôi mới, những cây bút mở đầu của nền văn chương hiện đại, trong đó có nhiều tác giả có vị trí, có tên tuổi trong thể loại văn học mới, thể loại đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Sáng tác của họ, nhìn khắt khe, có thể chỉ như là những “bài tập” cho một số thể loại của văn xuôi quốc ngữ, nhưng rõ ràng là cũng đã có thành tựu. Sau này, một lớp người cầm bút sáng tác thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản xuất hiện, khi đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy nghệ thuật mới, Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước đòi hỏi của đời sống văn chương và nhu cầu của đời sống xã hội.

Bên cạnh việc xây dựng một nền quốc học, Nam Phong tạp chí đồng thời đã gắn với việc xây dựng một nền quốc văn mới, trong đó dùng chữ quốc ngữ là văn tự chủ yếu để làm công cụ cho bạn đọc tiếp nhận văn chương. Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với một lớp công chúng tiếp nhận mới. Do tính chất phổ biến của chữ quốc ngữ, vì là kết quả của những cuộc vận động học tập của nhóm Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ XX, nên từ Nam Phong tạp chí,  nhiều người đã có thêm những tri thức mới trên nhiều phương diện của đời sống, trong đó văn học là phần tri thức quan trọng mà Nam Phong đã cung cấp cho độc giả.

Nam Phong tạp chí đã gắn văn học với các hoạt động văn hóa và những quan điểm văn hóa. Xây dựng quốc học để làm nền móng xây dựng quốc văn, đó là mục tiêu của Nam Phong. Cùng với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Nam Phong tạp chí đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình sử dụng, hoàn thiện và sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ trong xã hội nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Nhiều ngôn từ mới trên mục “Từ Vựng” mà Nam Phong cung cấp cho độc giả và công chúng thời ấy, đến nay vẫn còn có giá trị sử dụng trong kho tàng ngôn từ tiếng Việt. Tiếng nói của nước nhà, dù sao cũng phải một lần chịu ơn những gì mà hàng ngàn bài thơ, bài văn của các nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật, phê bình… đã đăng trên Nam Phong tạp chí, góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn từ dân tộc.

Đề tài, nội dung các sáng tác của Văn trên Nam Phong đã gần với cuộc sống hiện thực, theo thời gian, xa dần tính chất “tải đạo” và khuôn mẫu của văn chương trung đại những thế kỷ trước. Tuy chưa thể xem là thành tựu cơ bản, nhưng Nam Phong tạp chí cũng đã góp phần làm đổi mới văn pháp của một số thể loại văn học, nhất là văn xuôi nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX.

Là tạp chí, báo chí, Nam Phong tạp chí đã tạo nên được sự gắn bó mật thiết giữa báo chí với sự phát triển của văn chương và ngôn ngữ văn chương. Tính chất “cộng sinh” này đã giúp cho văn chương và báo chí cùng song song tồn tại và phát triển dài lâu. Đây cũng là một trường hợp khá tiêu biểu để báo chí hiện đại ngày nay tham khảo.

Nam Phong tạp chí đã trang bị cho lớp thanh niên trí thức ở những năm đầu thế kỷ XX một “hành trang tri thức” khá phong phú về nhiều phương diện, nhất là về văn hóa, văn học để rồi từ đó họ sẽ kế thừa, phát triển nối tiếp tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đổi mới trong lĩnh vực văn học, là tiền đề cho ra đời những trào lưu văn học mới, tạo nên một nền văn học mới – văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 và những năm sau.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thành tựu và diện mạo phần Văn trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi nhận thức rằng: ở nơi “đầu nguồn” của văn học Việt Nam hiện đại, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nhiều năm qua, chúng ta còn chưa khai thác một cách đầy đủ vào gia tài còn rất bề bộn và giàu có của văn chương dân tộc hồi đầu thế kỷ XX. “Ở trong còn lắm điều hay” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Đi qua thời gian ngót một trăm năm, Nam Phong tạp chí nói riêng cũng như nhiều báo chí, tạp chí khác nói chung đã rách nát, hư hỏng. Chúng ta cảm thấy xót xa và tiếc! Nhiều người còn ngần ngại và né tránh đi vào khai thác và nghiên cứu khu vực văn học trên các báo chí, tạp chí của giai đoạn này. Nếu vượt qua được những rào cản tâm thức “vô hình” để đến với khu vực và giai đoạn văn học “đầu nguồn” này một cách khoa học và nghiêm túc, khách quan và công bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ còn nhận về được một di sản văn chương mà giá trị của nó có nhiều hơn chúng ta tưởng.

Từ đây, các nhà nghiên cứu văn học sẽ có đủ tư liệu và bằng chứng để khẳng định rõ ràng hơn về sự hình thành và phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời đó cũng là cơ sở để làm sáng tỏ và lí giải sâu sắc những thành tựu phong phú, đặc sắc của văn học giai đoạn sau – giai đoạn văn học 1930-1945.

——————

Chú thích:

(*) Xem Nguyễn Đức Thuận, Văn trên Nam Phong tạp chí ( Diện mạo và thành tựu), NXB. VH, HN, 2008.

(1) Nguyễn Đức Thuận, “Tình hình nghiên cứu phần Văn trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) từ 1975 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, Viện KHXH Việt Nam, năm 2005, tr.117-125.

(2) Nhóm Lê Quý Đôn, Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, NXB, Xây Dựng, Hà Nội, 1957, tr.132.

(3) Trương Tửu, Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam, NXB. Xây Dựng, Hà Nội, 1958, tr.229

(4) Xem Nguyễn Đức Thuận, Đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí, NXB. VH, HN, 2013.

(5) Nguyễn Khắc Xuyên, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong , NXB. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

 

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 9 năm 2017.

KỶ NIỆM 72 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

– Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

– Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

– Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

– “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Tháng Tám 14, 2017

Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi – Phạm Quỳnh

Filed under: Báo — phamquynh @ 7:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

MỘT VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO NÒI GIỐNG CHÚNG TÔI

 Phạm Quỳnh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Theo gợi ý của bạn Nguyễn Trọng Hiền, một kiều bào ta hiện sinh sống ở Mỹ, địa chỉ email hn90250@gmail.com, chúng tôi đã tìm và đăng trên blog này bài diễn văn học giả Phạm Quỳnh đọc tại phiên họp của Ban Khoa học Luân lý và Chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ngày 22/7/1922.

Do tầm quan trọng lịch sử của bài này, chúng tôi không trính như lệ thường của blog mà đăng nguyên văn theo bản dịch của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên dịch theo bài in trong cuốn Le Viet-nam-Problèmes Culturels et Politiques (Essais 1922-1932) do bà Phạm Thị Ngoạn tập hợp và Ý Việt xuất bản tại Pháp.

Bản tiếng Việt này in trong Phạm Quỳnh Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) do nhà xuất bản Tri Thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội xuất bản năm 2007.

—o0o—

Thư tịch cổ của nước Nam chúng tôi thường nói đến các đấng cao minh, những vị bằng học thức, bằng tâm trí, bằng sự trải đời trải người, cũng như bằng cuộc sống tĩnh lặng, những con người xa lánh những rối loạn xã hội và những cuộc tranh giành chính trị, nên đã thấu suốt mọi vấn đề liên quan đến sự thịnh vượng của quốc gia và hạnh phúc của dân chúng. Những khi nguy biến, hay mỗi khi có chuyện can hệ đến vận mệnh quốc gia, đích thân nhà vua, hay các vị đại thần, các quan chức, hoặc nói chung là những ai quan tâm đến quyền lợi tổ quốc, đều quen tới tham vấn họ. Bao giờ họ cũng đưa ra những lời khuyên sáng suốt, thông thái. Và lời khuyên của họ hầu như bao giờ cũng được nghe theo.

Trước con mắt các đồng bào tôi, Viện Hàn lâm quốc gia Pháp, thánh đường của văn hóa Pháp, là nơi ngự trị của các nhà hiền triết cổ xưa, của các bậc đại thần cố vấn của Nhà nước và nhân dân. Các bậc nho gia thức giả nước tôi có một ước vọng khao khát là khi đến Pháp thì có dịp gặp một ai đó trong số các bộ óc sáng láng ấy, để được nghe những lời chỉ bảo về rất nhiều vấn đề mà cuộc tiến hóa tinh thần, luân lý và chính trị của nuớc tôi đang đặt ra. Ngẫu nhiên mà vinh dự lớn lao ấy lại được dành cho một nhà báo tầm thường, mà dù thiếu những phẩm chất đưa lại cho ông ta vinh dự ấy, song bù lại, ông có lòng yêu mến nồng nhiệt đất nước mình và sự thán phục sâu sắc đối với nước Pháp. Có được hạnh phúc đặc biệt này là nhờ sự quan tâm của Ngài bí thư thường trực Viện Hàn lâm, mặc dù chương trình nghị sự của phiên họp đã định trước, nhưng Ngài vẫn muốn cho tiếng nói yếu ớt của một người nước Nam được vang lên ở chốn trang nghiêm này như tiếng vọng xa xăm của những niềm hy vọng, những điều ta thán, những nỗi ước nguyện của giới tinh hoa trí thức của cả một dân tộc. Xin Ngài hãy nhận ở đây lòng biết ơn chân thành của tôi.

*

* *

Thưa các ngài, bốn mươi năm qua, dân nước Nam sống dưới sự bảo hộ của nước Pháp. Những ngẫu nhiên của lịch sử dã muốn như vậy. Ban đầu chúng tôi coi tình trạng này như là một việc bị áp đặt do nền chính trị yếu kém của chúng tôi không cho phép chống lại một kẻ đi chinh phục mạnh bạo hơn nhiều. Nhưng dần dần, trong khi chung sống, chúng tôi ngày càng hiểu biết các ngài rõ hơn. Chúng tôi biết rõ hơn về nước Pháp và vị thế của nó trên thế giới. Và dưới tác động của vẻ duyên tinh thần Pháp, chúng tôi dần dần bị cuốn hút, bị chinh phục bởi nền văn hóa và nền văn minh của các ngài. Đồng thời chúng tôi cũng nhận ra những thứ một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi còn thiếu để sống nổi trong thế giới hiện đại. Sinh ra từ một trong những nền văn minh lâu đời nhất ở Châu Á, dân tộc chúng tôi nhiều thế kỷ nay sống tách rời với thế giới bên ngoài, sống bằng lặng trong một xã hội gia trưởng theo thứ luân lý Khổng-nho nặng nề và khắc khổ. Ngập đầu vào việc tôn sùng Hán văn cổ, nó luôn luôn bàng quan với tất cả những trào lưu tư tưởng lớn đã khuấy động thế giới Tây phương từ biết bao lâu nay. Xa cách với những trào lưu đã khai sinh một hình thái văn minh mới, và xa cách với nền văn minh này khi đã trở thành công thức sống cho các dân tộc hiện đại, chúng tôi rơi vào tình trạng thiếu thốn mọi thứ gì cần thiết để thích ứng với cuộc sống đó. Thế là giờ dây, chúng tôi đang hướng về nước Pháp, nơi chúng tôi thấy những truyền thống tinh thần bảo đảm chắc chắn cho những ý đồ chính trị tốt đẹp của nước Pháp, để nhờ nước Pháp giúp chúng tôi trong cuộc thích ứng này bằng cách đưa lại cho chúng tôi một nền giáo dục có thể làm cho chúng tôi một ngày nào đó trở thành một dân tộc hiện đại. Chính vì thế, mà sau sự thù địch ban đầu, một sự thù địch có thể giải thích được là do việc bị chinh phục và chiếm đóng thô bạo, ngày nay, giới tinh hoa nước Nam đã hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền Pháp, hơn thế nữa, còn hoàn toàn trông cậy nước Pháp chăm lo cho công việc học hành và giáo dục của mình. Đấy thực sự là một việc cảm động, thậm chí có thể là sự kiện duy nhất trong lịch sử nhân loại, việc một dân tộc này tin tưởng ở một dân tộc khác giúp đỡ cho vận mệnh tương lai của mình. Hiển nhiên là tinh thần cao cả của nước Pháp, nền văn hóa đầy chất nhân văn của nó, luôn luôn được các dân tộc ngưỡng mộ. Không phải là hiếm thấy, thậm chí ta thường thấy các dân tộc bị áp bức, sống dưới ách đô hộ của nước khác, hướng về nước Pháp như một xứ sở của những tư tưởng lớn lao phóng khoáng, những tư tưởng tự do và độc lập. Nhưng trường hợp một dân tộc hai mươi triệu người, có một quá khứ lâu dài, một lịch sử tốt đẹp và những truyền thống đáng kính, sống dưới sự phụ thuộc chính trị của chính nước Pháp mặc dù nó không hề muốn thế, lại khẳng định ý muốn nhờ nước Pháp dẫn dắt để học cách sống hiện đại, tôi tin là sự kiện này không phải dễ thấy. Chính vì vậy nước Pháp, khi chiếm giữ cái được gọi là lãnh thổ Á châu rộng lớn của nó, thì đồng tời cũng chiếm giữ các tâm hồn; nó có bổn phận với chính nó, có bổn phận với loài người và với lịch sử, nó phải dẫn dắt một cách chính trực các dân tộc ở vùng này thực hiện số mệnh của họ. Đấy là một phương diện của công cuộc “thực dân hóa” mà nhiều “nhà thực dân” nhiều khi có thể không biết tới, bởi vì dường như bây giờ đang có cái mốt là  hễ cứ nói đến các thuộc địa và công cuộc thực dân hóa, thì người ta chỉ nói về sự khai khẩn, sự sinh lợi và chỉ nhằm đến việc giáo dục dân “bản xứ” theo cái đích quá ư vị lợi này.

Quan niệm như vậy về công cuộc “thực dân hóa” – cứ tạm gọi hành động của nước Pháp tại các nước nằm trong tầm ảnh hưởng của nó như vậy – còn xa mới là một cách hiểu tốt dẹp khi đem áp dụng cho một dân tộc lâu đời như dân tộc chúng tôi. Chúng tôi hài lòng nhận thấy đó không phải là quan niệm của bản thân chính phủ Pháp, nó không đến nỗi quá ý thức về vai trò “thực dân” của mình cũng như các quyền lợi riêng của mình để không tính đến các khát vọng thầm kín của cả một dân tộc.

Từ đó mà nảy sinh một vấn đề – một vấn đề lớn mà, trong vai trò người diễn đạt tự nguyện cho đồng bào mình, tôi mong mỏi được nhận những ý kiến sáng suốt của các bậc thầy danh tiếng đang lắng nghe lời tôi nói lúc này. Vấn đề đó là: một khi dân nước Nam đã có ý muốn nhiệt thành được giáo dục để sống theo đời sống hiện đại, thì nước Pháp bảo hộ đình làm cách gì để đáp ứng nguyện vọng ấy? Quan niệm của nước Pháp ra sao đối với việc điều hành công cuộc giáo dục ấy? Đây là vấn đề mà chính quyền Bảo hộ sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi đã rất lúng túng và thực sự chưa giải quyết được một cách thật thỏa đáng. Hiện có hai luận điểm. Luận điểm của “chủ nghĩa thực dân” có từ lâu, cho rằng dân nước Nam càng được học thì càng có thêm vũ khí chống lại sự đô hộ của Pháp, cho nên cứ duy trì họ trong tình trạng này càng lâu càng tốt, không cần phải cho họ học nghề nghiệp kỹ thuật để trở thành những thợ giỏi, những đốc công lành nghề, những viên chức thạo việc; sẽ là nguy hiểm cho ảnh hưởng của Pháp nếu cung cấp cho họ nền văn hóa tinh túy của Phương Tây, vả lại họ cũng không thể tiếp thu được cái thứ đó. Đó là một luận điểm thiển cận, ích kỷ, không xứng với các truyền thống hào hiệp của nước Pháp; một luận điểm hết sức bất công đối với năng lực trí tuệ của nòi giống chúng tôi vốn bao đời nay luôn say mê học hỏi, biết thưởng thức, tôn thờ văn chương và biện luận. May sao, đó không phải là luận điểm thắng thế. Còn đây là luận điểm thứ hai, khoan dung hơn, và đã được thừa nhận chính thức: đó là đưa lại cho người Nam một nền học vấn không chỉ dừng lại ở bậc cơ sở, nó đi dần từ thấp lên cao, gọi là đi theo từng bước tiến hóa của họ. Chính là nhờ được gợi ý từ luận điểm này mà chính quyền Bảo hộ những năm gần đây đã tăng thêm nhiều trường tiểu học, mở trường trung học và đặt mầm mống của trường đại học. Tất nhiên, việc đó chưa phải là lý tưởng, nhưng là một khởi đầu tốt đẹp, và chúng tôi rất biết ơn những người đã khởi xướng nó.

Nhưng ở đó nổi lên những khó khăn, chúng thực sự trở thành một vấn đề phải giải quyết trong việc giáo dục chủng tộc. Nếu như công việc được tiến hành với một dân tộc vô học hay một dân tộc mới sinh sống trên một vùng đất mới, một dân tộc không có quá khứ và lịch sử, thì chẳng hề có những khó khăn này. Khi đó ta chỉ việc đào tạo nó, nhào nặn nó ở chừng mức cao nhất theo hình ảnh nước Pháp, tóm lại là đồng hóa nó, “Pháp hóa” nó dần dần bằng cách đưa lại cho nó nền giáo dục Pháp ngày càng nâng cao theo đà tiến hóa của nó (cách nói này ở đây rất chính xác). Nhưng như tôi đã nói, dân nước Nam không phải là một tờ giấy trắng; đó là một cuốn sách cổ chứa đầy những dòng chữ được viết bằng một thứ mực không thể tẩy xóa từ bao đời nay; không một chất thử nào có thể tẩy xóa chúng được hoàn toàn và người ta không thể tự do muốn viết gì vào đấy thì viết. Người ta chỉ có thể đóng lại cuốn sách cổ đó theo một cách mới, bày biện nó theo lối hiện đại hơn, chứ đừng mơ tới việc viết vào đó một thứ chữ xa lạ đè lên thứ chữ đã có từ ngàn xưa. Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần phải biết đưa lại cho người Nam thứ giáo dục nào để khi truyền bá cho họ thứ văn hóa hiện đại bậc cao mà họ cần có thì không phải là “phi dân tộc hóa” họ, làm họ mất đi bản sắc dân tộc và cá tính lịch sử của mình, biến họ thành một trong những dân tộc vô định hình, không sinh khí, không còn nét độc đáo nào nữa, như một số thuộc địa cũ của Pháp đã bị sa vào (PT nhấn mạnh). Ở đây cũng có hai luận điểm. Một cho rằng vì người dân nước Nam cho đến tận bay giờ vẫn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên cần có thời gian làm cho ảnh hưởng Pháp chiếm ưu thế ở họ, muốn thế cần phải dạy tiếng Pháp rộng rãi để đến một ngày nó trở thành tiếng nói chính thức duy nhất của nước này, tiếng nước Nam sẽ dần biến mất hoặc chỉ còn sống lay lắt như một thứ thổ ngữ đơn giản. Khi mà tất cả trẻ em nước Nam đèu nói tiếng Pháp thì nước Nam đã tiến một bước lớn trên con đường tiến bộ. Luận điểm này nghe có vẻ đậm đà, tròn trịa, nhưng nó có đúng không? Nó đã tính sát thực tế chưa? Liệu ở đây người ta có nhầm lẫn giữa ngôn ngữ và văn hóa là hai cái khác nhau, cái này không nhất thiết bao hàm cái kia? Liệu đã có thể nói một việc biết nói tiếng Pháp khá thành thạo là đủ nắm được văn hóa Pháp không? Biết đâu nền văn hóa đó lại chẳng thấm vào đầu óc dân nước Nam tốt hơn thông qua chính tiếng nước Nam? Cứ cho rằng một ngày nào đó tất cả trẻ em nước Nam biết nói lúng búng mấy từ tiếng Pháp – bởi vì để nắm vững một thứ tiếng ngoại quốc khác với tiếng chúng tôi như tiếng Pháp thì cần phải nỗ lực, phải làm việc, phải kiên trì, phải có ý chí điều này không phải mọi trí thức đều làm được, mà chỉ là việc của bộ phân tinh hoa – khi mà tất cả trẻ em nước nam nói một thứ tiếng Pháp “giả cầy” nhưng đồng thời lại không học được tiếng mẹ đẻ do không đem dạy trong nhà trường nữa, liệu như thế có thật sự là bước tiến bộ lớn đối với chúng tôi không? Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thật sự, sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ dầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp? Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán lẫn chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?

Luận điểm thứ hai vẻ như là luận điểm chính thức thì ít cực đoan hơn và có để ý tới những sự chuyển đổi; nhưng thực chất nó cũng gần như luận điểm đầu ở chỗ nó cũng thực hiện sự đồng hóa, một sự đồng hóa từ từ và ít thô bạo hơn. Nó không tuyên bố tiếng Pháp là bắt buộc đối với tất cả dân nước Nam, nhưng nó cũng chỉ để cho tiếng nước Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở đầu bậc tiểu học. Luận điểm này hợp lý hơn, công minh hơn luận điểm trước chăng? Chúng tôi không nghĩ thế, và điều khẳng định ý kiến của chúng tôi là kết quả của nền giáo dục chính thống. Những người Nam học trường Pháp ngày càng có xu hướng mất chất người Nam, song đâu có vì thế mà học gần hơn với các thầy người Pháp trừ chỗ giống thầy ở bề ngoài.

Nhiều người thậm chí du học ở Pháp khi về nước đầy những học vị và bằng cấp đã hầu như quên hết tiếng mẹ đẻ và trở thành người mất gốc trên chính quê hương mình. Và Chính phủ định dựa vào những người đó để truyền bá trong dân chúng tư tưởng và ảnh hưởng Pháp thì thực là không thu được lợi lộc gì, bởi vì khi không nói được hay nói kém tiếng nói của đồng bào mình thì làm sao họ có thể có chút ảnh hưởng gì đến đám đồng bào kia? Chưa kể là, đôi khi thậm chí họ đi đến chỗ không gây được thiện cảm với dân chúng và họ tự nguyện bỏ quốc tịch Nam chuyển sang quốc tịch Pháp. Trong khi những người Nam học hành theo kiểu Pháp bị “phi Nam hóa” như vậy thì các nhà nho cũng co cụm lại, bắt đầu tìm hiểu tư tưởng Pháp bằng cách đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire qua bản dịch tiếng Hán!

Việc giáo dục người Nam của nước Pháp vậy là đã trở thành một vấn đề vô cùng phức tạp, chưa được xem xét rõ ràng và với sự khách quan cần thiết. Nó là vấn đề sống còn đối với dân tộc chúng tôi và toàn bộ tương lai của chúng tôi là tùy thuộc vào cách nó được giải quyết.

Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, nhưng người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thông lâu đời của chủng tộc mình.

Cần sử dụng những phương cách nào để đạt được mục đích đó? Vấn đề này đòi hỏi phải được đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ, phải được vạch ra từ một cách nhìn vượt lên trên mọi điều nhỏ nhặt về chính sách ở bên nước Nam hoặc ở bên chính quốc. Như tôi đã nói, đây là một vấn đề thực sự đặt ra cho việc giáo dục chủng tộc mà nhà tư tưởng, nhà xã hội học cũng như nhà chính khách đều quan tâm như nhau. Đây là một vấn đề mà nhân danh đồng bào của tôi, tôi muốn được thấy ánh sáng chiếu rọi từ các bậc thầy danh tiếng của Viện Hàn lâm nước Pháp.

Nhưng dù Chính phủ Pháp chọn giải pháp nào cho là thích hợp với vấn đề này, đồng bào tôi vẫn hoàn toàn tin tưởng vào thiên tài giáo dục của nước Pháp. Để kết thúc bài phát biểu ngắn này, tôi xin phép dẫn ra đây một đoạn dài trong bài của một Giáo sư đại học Pháp quốc viết sau chuyến đi khảo cứu ở Viễn Đông trở về. Khi nói đến lòng nhiệt thành của giới thanh niên Trung Quốc hiện nay đối với tư tưởng và văn hóa Pháp, tác giả đã bày tỏ những điều không chỉ đúng cho giới trẻ nước Nam, mà còn đúng với toàn thể cho giới tinh hoa trí thức nước Nam nữa:

“Chính là với tư cách một tổ quốc chung của những con người có đầu óc tự do, trong tư cách mẹ đẻ của những học thuyết giải phóng chính trị và xã hội mà nước Pháp đã thu hút được thanh niên Trung Hoa đang khao khát tự do và công lý. Cái họ thích nhất ở Pháp, đó là đất nước của các “nhà triết học”, của Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte, đất nước của các nhà sử học như Michelet, của các nhà thơ như Hugo, của các nhà hùng biện như Jaurès, những con người bằng ngôn ngữ tuyệt diệu của họ nói lên được cả cái thiên tư đặc trưng của nước Pháp lẫn cái lý tưởng chung của nhân loại.

“Nếu đã là như vậy, nếu như giới trẻ Trung Hoa có một thứ bản năng sáng suốt và một sự gần gũi trong lựa chọn đã hướng cả về giới trí thức Pháp để tìm ở đó người dắt dẫn tự nhiên của họ, thì thờ ơ trước tiếng gọi đó chẳng phải là có lỗi sao? Chính vào lúc nhiều dân tộc Viễn Đông muốn thoát khỏi tình trạng biệt lập từ xa xưa của họ, Trung Hoa đã hướng đến các bậc thầy Pháp và nói: “Hãy nắm lấy lớp thanh xuân nước tôi, hãy truyền cho họ khoa học, phương pháp, luật pháp và triết học của các ngài. Chúng tôi muốn được học để tự giải phóng. Hãy đưa lại cho chúng tôi những khả năng đi vào xã hội của các dân tộc tự do, không phải như một người khách được lịch sự mời ngồi trong phòng khách, mà như một dân tộc có nền văn hóa tinh thần cao, những con người sẽ cùng làm việc với các ngài cho nền hòa bình của thế giới. Hỏi có nhiệm vụ nào cao đẹp hơn? Chắc chắn nó sẽ khó khăn, nó đòi hỏi nhiều tới ý chí kiên trì theo đuổi. Nhưng nếu ở cả hai nước người ta tin tưởng vững chắc vào tầm quan trọng của nó thì nhiệm vụ này sẽ đi đến kết thúc tốt đẹp…”

Và tác giả kết luận:

“Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hóa kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hòa giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang. Những lợi lộc vật chất ở đó không ngăn cản được cảm nhận của kẻ thấy mình bị bóc lột: nó hiểu rằng không lợi lộc nào bù đắp nổi cảnh bạo hành chính nó phải gánh chịu. Từ đó mà có những yêu sách liên tiếp và ngày càng chua chát khó chịu, và những xung đột không lối thoát. Ngược lại, một ảnh hưởng thuần trí tuệ và luân lý, được chấp nhận một cách tự do và thậm chí là được cầu khẩn, như trường hợp nước Trung Hoa đang trông đợi ở nước Pháp đây, chỉ càng làm cho hai dân tộc quyến luyến nhau lâu dài. Ta chẳng phải trả giá cho những cuộc chinh phục này bằng máu và nước mắt. Những cuộc chinh phục này cũng chẳng làm ai ghen tức:  trong lĩnh vực tư tưởng, cạnh tranh là tự do. Ở thế kỷ XX, chỉ một nước Pháp, dù chiến thắng mà vẫn trung thành với thiên tư mang bản chất người của mình, là duy nhất xứng đáng với những cuộc chinh phục tinh thần ấy.”*

Tôi còn biết nói gì thêm vào những lời lẽ hùng hồn cao cả này, nếu không muốn nói rằng chính là ở Pháp đã có những đầu óc cao siêu, những trái tim hào hiệp đang xem xét vấn đề giáo dục của chúng tôi từ một tầm cao thật sự xứng với một ý thức Pháp và một tấm lòng thanh thản cả gan nhìn về tương lai?

Nhưng “các dân tộc cũng gống như các cá nhân, vào thời khắc quyết định vẫn thường thiếu đầu óc tưởng tượng cần thiết để nhận rõ được các quyền lợi đích thực của họ. Những kẻ vẫn còn nô lệ vào những châm ngôn chính trị từ đời nảo đời nào vẫn chẳng học nổi điều gì bổ ích, họ đang kiệt sức khi cứ đi mãi về những hướng chẳng dẫn họ đi tới đâu, và mù tịt lướt ngang bên cạnh cái đích mới mẻ mà lẽ ra họ phải tìm tới…”

Những con người suy tư có nhiệm vụ khơi gợi cho những con người hành động cái đầu óc tưởng tượng cần thiết này để nhận biết các quyền lợi đích thực của họ và chỉ cho họ thấy cái đích mới mà họ cần hướng mọi nỗ lực vào đấy. Phải chăng ta có thể tìm thấy những con người suy tư hào hiệp và sáng suốt ấy ở ngay trong ngôi nhà cổ xưa này của trí tuệ và minh triết nước Pháp, ngôi nhà đã bao đời nay làm nổi danh nước Pháp trên toàn thế giới?

Paris, 22-7-1922

P.Q.


* L’ébranlement du monde jaune (Sự rung chuyển của thế giới da vàng) của X.X.X. (tức giáo sư Lévy-Bruhl), Revue de Paris (Tạp chí Paris) 15/10/1920

Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 8 năm 2017.

Mừng tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NAM PHONG TẠP CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

NGƯT. Vũ Thế Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này do Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Trong luận văn khoa học tổng kết 15 năm điền dã khảo cứu về Hướng Thiện hội đền Ngọc Sơn (hình thành trước 1836 và hoạt động trong suốt thế kỷ XIX) như một cơ sở văn hóa – xã hội sâu xa của phong trào Duy tân – Nghĩa thục, trên cơ sở 3 sơ đồ về sự truyền thừa tư tưởng giáo dục dân tộc, nhân bản và hướng Thiện (xem Phụ lục), chúng tôi đã đề xuất khái niệm “hậu Đông Kinh Nghĩa Thục”. Ngôi nghĩa thục trung ương trên phố Hàng Đào chỉ hoạt động được 7 tháng thì bị đàn áp, nhưng ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng thay vì bạo động non do các lãnh tụ Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục khởi xướng, vẫn tiếp tục tác động sâu rộng và dài lâu khắp Nam Bắc. Khắp đô thị và nông thôn vẫn ngầm tuôn chảy những mạch tư tưởng dân tộc và dân chủ mà ĐKNT đã kịp khai thông. Các tư thục của ông đồ làng – những cơ sở văn hoá – xã hội rộng khắp của tầng lớp “Nho sĩ bình dân” (thuật ngữ do nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện đề xuất, đối lập với “Nho sĩ quan lại”) – vẫn âm thầm hoạt động trong các làng xã, phường thôn. Từ đền Ngọc Sơn đến tận chùa Nhã Nam ở Cần Thơ người ta vẫn giảng những bài Đạo Nam kinh thấm đậm hồn Duy tân: Hợp đoàn thể, Khuyến nông, Khuyến công, khyuến thương, Khuyến nữ học[i]. Cư sĩ Thiều Chửu vẫn mở các lớp dạy chữ quốc ngữ, soạn và in sách quốc ngữ (mỏng, chỉ một tay sách 16 trang) truyền bá đạo lí dân tộc và khoa học thường thức, phát không cho dân nghèo[ii]. Tác động do đường lối “giáo dục quốc dân” của ĐKNT sở dĩ sâu rộng là vì nó thực sự mang tính cánh mạng, chứ không phải là “cải lương”, như quy kết của một số nhà nghiên cứu mang cái dớp của phái Proletkult mà Lenin đã phê phán. Gọi là “cách mạng” vì ĐKNT chủ trương thay hẳn nền giáo dục Nho học cổ hủ cốt đào luyện “thần dân bù nhìn chỉ biết làm theo lệnh trên”, bằng một sách lược tân học văn minh (“Văn minh tân học sách”) “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm đào tạo những công dân biết độc lập suy nghĩ và tự hành động[iii]. Để đạt mục tiêu đó các nhà Nho dứt khoát vứt bỏ thiên kinh địa nghĩa nghìn năm, thay nó bằng “tân thư” với những khái niệm hoàn toàn mới như quốc thể, quốc dân, dân chủ, nghị viện, lập hiến, xã hội, đoàn thể, công nghĩa, công ích, khoa học thực nghiệp v.v…

Nam Phong tạp chí không nằm ngoài sự ảnh hưởng của tư trào hậu ĐKNT, dẫu không thể không chịu sự tác động của quan Chánh mật thám Marty ở Phủ toàn quyền Đông Dương, người trực tiếp sáng lập và tài trợ cho tạp chí. Thì Quan Chánh đã chẳng cố công tác động đến cả Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp đấy thôi! Kết quả (và cả hậu quả) ra sao, ngày nay mọi người đều rõ.

Bất chấp việc danh tính Chánh mật thám Marty lù lù trên trang bìa, Nam Phong tạp chí vẫn trở thành diễn đàn uy tín dẫn đạo được quốc dân trong “buổi giao thời”. Ấy là nhờ vị Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có tinh thần tự chủ văn hóa đã tuyên ngôn rõ ràng, có học vấn thông kim bác cổ, có nhân cách kẻ sĩ đàng hoàng, lại có tài tổ chức, nên đã tập hợp được một đội ngũ trên trăm rưởi tác gỉả tài ba thuộc đủ khuynh hướng xã hội-chính trị, nhưng đều là những cây bút nghiêm túc và xuất sắc, từ các bậc đàn anh từng tham gia Đông Kinh nghĩa thục như Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, đến lớp hậu sinh có tư tưởng cấp tiến như sáng lập viên Việt Nam Quốc dân đảng Phạm Tuấn Tài và đảng viên Cộng sản tương lai Lê Mạnh Trinh.

Trong bài phát biểu năm 1922, kí giả Phạm Quỳnh, cố ý mặc quốc phục áo the đen và đóng khăn xếp, đã khôn ngoan mượn lời lẽ của một học giả Pháp để nói thẳng với chư vị viện sĩ Hàn lâm Đại Pháp rằng: “Trong tình hình thế giới hiện nay, sự thống trị chính trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, dù là văn hoá kém hơn, chỉ có tính tạm thời. Không một cộng đồng dân cư nào còn chịu được nữa cảnh bị bảo hộ. Một dân tộc chỉ cần có một chút ý thức về mình thôi, thế là nó liền mong muốn được tự chủ. Không cách gì hoà giải nổi một dân tộc biết rõ là mình bị áp bức với một chính quyền ngoại bang” (VTK nhấn)[iv]. Trước đó 2 năm, trong bài viết “Độc thư cứu quốc (mừng các ông tân khoa trường đại học)”, hướng tới thế hệ trí thức trẻ nước Việt, ông đặt thẳng ra trước họ cái nhiệm vụ chính ông đang thực hiện bằng tờ báo của mình: “…Người ta học là vị chân lí, vị nhân loại, ta học nên vị nước trước nhất, sự học của ta phải là cái học cứu quốc vậy” (Nam Phong, số 36, tháng 6 – 1920).

Rõ ràng ông Chủ bút Nam Phong tạp chí không có ý định hạn chế trong phạm vị mấy điều cải lương nhỏ giọt của “mẫu quốc Đại Pháp” mà nuôi hoài bão “thể (tức thể theo, dựa theo – VTK) cái chủ nghĩa khai hoá” của chính quyền bảo hộ để làm đại sự –  kế tục khéo léo hơn, ôn hòa hơn trong tình thế mới đường lối “khai dân trí”, “chấn dân khí” nhằm cứu nước của Duy tân-Đông Kinh nghĩa thục. Vậy sao có thể quy kết chụp mũ là ông “chỉ phục vụ chính sách nô dịch của thực dân’, “làm tay sai, bán nước”?!

Phạm Quỳnh đã thực hiện đường lối giáo dục cứu nước trên hơn 2 vạn trang Nam Phong tạp chí như thế nào? Các bài vở bàn bạc về các vấn đề giáo dục, kể cả tranh luận giữa các ý kiến trái chiều, vô cùng phong phú. Trong phạm vi tham luận này xin phép chỉ đề cập một vấn đề, từng được Văn minh tân học sách của ĐKNT nêu lên hàng đầu trong đường lối giáo dục quốc dân của các nhà nho Duy tân:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,

Phải đem ra tính trước dân ta…

Vấn đề còn đặc biệt thời sự là vì người ta đang đua nhau dạy tiếng Anh cho cả trẻ mẫu giáo. Thậm chí có vị lãnh đạo nọ còn định biến tiếng Anh thành “ngôn ngữ thứ nhất” tại Việt Nam, khi bản thân chưa phân biệt nổi thế nào là “ngôn ngữ thứ nhất” (trong môi trường các nước đa ngữ, như Áo, Canada v.v…) và thế nào là “ngoại ngữ thứ nhất”!

Ông Phạm Quỳnh kiên trì đấu tranh thực sự cho việc dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ La tinh hóa làm công cụ chuyển tải tri thức phổ thông thay cho tiếng Pháp. Chuyện bây giờ tưởng như đương nhiên, hóa ra không hề dễ dàng trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ và chính quyền thực dân chủ trương biến dân Việt thành những con vẹt nói tiếng Pháp ngô ngọng như thổ dân ở các thuộc địa châu Phi của họ. Lại nữa, như các tiểu mục trên Nam Phong phản ánh, một bộ phận người Việt thăng tiến nhanh chóng nhờ “vào làng Tây”, tức trở thành những ông Tây An Nam, vì vụ lợi đòi dạy cho con em họ tiếng Pháp ngay từ ấu học, để chúng thành Tây con, nhanh chóng kiếm được vị trí “sáng rượu sâm-banh, tối sữa bò”. Ông chủ bút Nam Phong gọi chủ trương đó là “tư tưởng kì khôi”, là đem “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống cam tâm tự diệt vậy”. Kế thừa phương châm của ĐKNT, coi chữ quốc ngữ không phải là phương tiện làm nô bộc để vinh thân phì gia, mà là “hồn trong nước”, Chủ bút họ Phạm kiên trì gắn kết Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc học – Quốc hồn. Ngay từ bài đầu tiên trên Nam Phong bàn về giáo dục, lại là giáo dục cho phụ nữ, ông đã khẳng định: “Phàm phổ thông giáo dục mà dạy bằng tiếng ngoại quốc nhiều, là thất sách cả. Đối với con trai còn hại, huống chi là con gái” (NP, số 4/1917). Theo ông, chỉ quốc ngữ gắn liền với quốc văn, quốc học và quốc hồn mới xây dựng được nhân cách Việt vững vàng để tiếp thu văn minh Pháp và nhân loại. Hướng tới các quan thực dân định đoạt vận mệnh nền giáo dục ở thuộc địa, ông nhẹ nhàng than trách Học chính tổng quy-1917 của Toàn quyền Albert Sarraut là nó “chỉ để cho tiếng Nam một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng có chút ý nghĩa gì ở bậc tiểu học”. Ông khéo léo gợi ý họ: “Có hợp lý hơn chăng, tốt hơn chăng là đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học tốt bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự (chúng tôi nhấn – VTK), sau đó từ nền giáo dục này lựa chọn nghiêm túc những thành phần ưu tú có thể tiếp tục học lên và dạy cho họ tiếng Pháp như thứ ngoại ngữ đầu tiên để chuẩn bị cho họ theo học các trường trung học, kỹ thuật và cao đẳng ở Đông Dương cũng như ở Pháp?”… Trích  đến dẫn đến đây, tôi phải tạm ngắt ngang, để lưu ý quý vị quan điểm quốc học toàn diện sâu sắc làm nền tảng cho quốc hồn của vi Thượng thư bộ học tương lai (10 năm sau, 1932!) – mà nền giáo dục XHCN của chúng ta, từ cuộc Cải cách giáo dục năm 1950 – 51 theo tả khuynh kiểu Proletcult, đã từ bỏ, do đó đã tạo nên “khoảng trống đáng sợ” như cả Bộ trưởng Giáo dục Dân chủ Vũ Đình Hòe[v] lẫn Thứ trưởng Giáo dục Cộng sản Nguyễn Cảnh Toàn[vi] đã chỉ ra. Trong bài diễn thuyết trích dẫn trên đây, kí giả Phạm Quỳnh gợi ý tiếp các quan Đại Pháp về phương hướng đặt cơ sở văn hóa của nền quốc học như sau: “…Và ở bậc trung học nên chăng là dành một vị trí cho chữ Hán, thứ chữ với chúng tôi cũng như tiếng Latin với tiếng Pháp, cả chữ Hán với chữ Latin đều là những môn nhân văn thực sự của hai dân tộc chúng ta?”.

Học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra là một nhà giáo dục học uyên thâm và tiên tiến khi thuyết minh cho chư vị viện sĩ Hàn lâm Pháp về cứu cánh, tức mục đích cuối cùng, hay như thuật ngữ thời thường hiện nay – “mô hình đầu ra” của một nền giáo dục chân chính: “Nếu mục đích tối cao của giáo dục là góp phần phát triển đầy đủ con người, nếu nhân cách con người luôn luôn trước hết là kết quả của môi trường và chủng tộc, rồi là của nền tảng nhân sinh và vũ trụ là cái ở mọi thời và mọi nước đều tạo nên con người, cũng đúng là cái đã đặt nền móng cho văn hóa Pháp, thì chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải là những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa vẫn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình”.[vii]

Rõ ràng không ngẫu nhiên ông “Vua tân thời” Bảo Đại chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư bộ Học.

Và cũng hoàn toàn có lí, khi vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”[viii].

[i] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Hội Hướng Thiện đền  Ngọc Sơn,  một cơ sở văn hoá – xã hội sâu  xa của phong trào Duy tân –  Đông Kinh nghĩa thục. – bản tiếng Pháp in trong sách Vietnam – le moment moderniste, Publications de l’Université de Provece 2009, tr. 79 – 93; toàn văn bản tiếng Việt có thể tìm đọc trên các mạng Talawas; dongtak.net (mục Đông tác giao lưu); lichsuvn.com; vanhien.vn; tóm  lược: Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đến trường Đông Kinh nghĩa thục. – Tạp chí Xưa và Nay, số 283, tháng 5 – 2007.

[ii] Tham khảo: VũThế Khôi – Cư sĩ Thiều Chửu với nền giáo dục bình dân. – Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 – 2002.

[iii] Tham khảo: Vũ Thế Khôi – Tính cách mạng trong đường lối “giáo dục quốc dân” của Đông Kinh nghĩa thục. -Bài đã công bố ở hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ” tổ chức ở Đại học Hoa Sen TP Hồ Chí Minh ngày 18 – 12 – 2008; đăng trong Kỷ yếu cùng tên, NXB Văn hóa Sài Gòn & Đại họa Hoa Sen – 2009, tr. 67 – 88; có thể tìm đọc toàn văn trên các trang mạng: hocthenao.vn; dongtac hncity. Org; event.hoasen.edu.vn

[iv] Phạm Quỳnh: Tiểu luận. Viết bằng  tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. Phạm Toàn giới thiệu và biên tập. – NXB Tri Thức, Hà Nội 2007, tr.410.

[v] Vũ Đình Hòe: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cuối 1945 – đầu 1946. – Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, N21/2003 và N1+2/2004; Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004.

[vi] Nguyễn Cảnh Toàn: Chữ Nho với nền văn hóa Việt Nam. – Tạp chí Hán Nôm, N4(59)/2003.

[vii] Tlđd ở chú thích 4., tr.408.

[viii] Vũ Đình Hoè: Nguồn gốc của Hội Truyền bá Quốc ngữ. – Tạp chí Xưa & Nay, số 51, tháng 5 – 1998.

Tháng Bảy 31, 2017

Dựng bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

DỰNG BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

(Bài đăng trang 9 báo Đại Đoàn Kết số 332 ngày 28/11/2014)

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyệBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongn Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa PHẠM QUỲNH (1893-1945);

Chủ bút báo Nam Phong hiệu Thượng Chi.

V.T.K.

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8năm 2017.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ ĐBia tuong niem nha van hoa Pham Quynhiển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế tại chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang QuynhTrên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho Pham Tuyen - Pham Dungmấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang QuynhTiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc. Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangBia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

 

Tháng Bảy 30, 2017

Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

BÀN PHIẾM VỀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên Tạp chí Nam Phong số 84 tháng 6 năm 1924. Tức là hai năm sau cuộc gặp gỡ tại Paris (Pháp) giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và nhiều người yêu nước khác. Khi viết bài báo tâm huyết, có tầm nhìn xa và đặc sắc này, Phạm Quỳnh mới 31 tuổi, đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

So sánh văn minh Đông phương với Tây phương, còn vấn đề nào to tát bằng! Những đọc đến đầu đề đã lấy làm sợ thay. Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau.

Trong một cõi Tây phương mà văn hóa nước Pháp không giống văn hóa nước Anh, văn hóa nước Anh lại khác văn hóa nước Đức; nay nói chung văn hóa Tây phương thời là chỉ văn hóa nước nào? Tức cũng như nói chung văn hóa Đông phương là chỉ văn hóa Ấn Độ, hay là văn hóa Nhật Bản, hay là văn hóa Trung Hoa? Vẫn biết rằng các nhà nghị luận là dùng phép tổng quát, chỉ gồm lấy những tính cách chung của văn hóa cả một phương mà không xét đến những sự đặc biệt trong văn hóa của từng nước, và cứ đại để mà xét như thế thời văn hóa nước Pháp dẫu khác với nước Đức, nhưng cũng là đại đồng tiểu dị, sánh với nhau còn gần hơn là sánh với văn hóa nước Tàu hay nước Nhật vậy. Song nhà nghị luận muốn khái quát cho đích đáng thời phàm những văn chương, triết học, mĩ thuật, tôn giáo, luân lí, chính trị của các nước Thái Đông, Thái Tây đời xưa đời nay, ít ra cũng phải thiệp liệp và lĩnh lược được hết, thời phán đoán mới khỏi sai lầm, nghị luận mới được xác đáng. Bậc thiên tài như thế, cổ kim đã được mấy người?

Hiện nay có nhà đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã từng đem một cái tư tưởng rất cao mà phê phán về văn minh Thái Tây. Nhưng ý kiến tiên sinh siêu việt quá, dẫu có cái đạo vị thâm trầm, cái mùi thơ ngào ngạt, mà tưởng không thiết cho sự yêu cầu của tâm trí người ta đương buổi Á, Âu xung đột này.

Lại mấy năm trước có một nhà làm sách Nhật Bản tên là Okakura Kakuzo, học vấn uyên bác, kiêm thông cả Hán học cùng Âu học, soạn một quyển sách nghĩa lí cũng sâu sắc, khám phá được nhiều điều, đều là “Lý tưởng Đông phương” (Les Idéaux de L’Orient, par Okakura Kakuzo, nguyên bản tiếng Anh, có dịch ra tiếng Pháp)  nhưng lập luận có ý thiên vì lòng ái quốc, cho rằng nước Nhật ngày nay là cái kho bảo tàng chung để chứa cả tinh hoa của thế giới.

Xem như thế thì so sánh văn minh Đông-Tây thật không phải là sự dễ. Các bậc tài cao học rộng còn chưa xét được đến nơi, tôi đây đâu dám tự phụ.

Song người nước ta bây giờ đương đứng giữa nơi hợp lưu hai cái văn hóa khác nhau, trước mắt có cái cảnh hai dòng nước đổ lộn, chưa biết rồi sau trong đục ra thế nào. Kẻ bi quan cho rằng nước càng xa nguồn tất càng đục; kẻ lạc quan cho rằng nước có đổ lộn sức mới to. Bi quan hay lạc quan, chẳng qua là theo cái ý riêng của mỗi phái mà dự tưởng sự kết quả về sau này. Còn hiện nay thời cũng chửa ai biết ra thế nào cả, lòng còn phân vân, trí còn bối rối, chửa hay nên đối phó với phong trào ra sao.

Cứ thực ra thì kẻ thức giả trong nước ta bây giờ, người nào cố ý không để tâm đến những chuyện xa xôi ấy thì chớ, còn những người còn biết trọng điều nghĩa lí ở đời, còn biết cho rằng ngoài sự danh lợi còn có những lẽ quan thiết cho nhân tâm thế đạo hơn, thời xem ra ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cho nên nhất là trong hạng thanh niên, kẻ không có chí bị đắm đuối trong cuộc ăn chơi phóng túng đã đành, kẻ có chí cũng đến hãm hại vào chốn sầu thảm chán chường.

Cái bi kịch về tinh thần đó, cái thảm trạng trong tâm trí đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật của Trung Hoa mà thôi, di truyền tự thượng cổ, tích lũy đã lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng của nước mình, cúc cung tận tụy, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải chia sẻ ra lắm đường, nên giữ được cái vẻ thản nhiên yên ổn.

Kịp đến buổi phong hội mở mang, Á – Âu giao thiệp, thời sự xung đột hai cái văn hóa Đông-Tây bắt đầu từ đấy. Trong bấy lâu, tuy cứ bề ngoài mà xét tựa hồ như có bên thắng bên bại, bên tiến bên lùi, tình thế đã rõ ràng ra đó, nhưng cứ thực sự thời người mình đối với bên nào cũng còn lúng túng dở dang, chưa quyết hẳn theo một phương châm nhất định. Bởi thế nên chí hướng phất phơ, tâm hồn phảng phất, thần trí không được thư xướng mà trong lòng như mang một nỗi áy náy không yên.

Cũng muốn nhắm mắt mà theo mới, nhưng theo mãi rồi đến đâu? Nếu kết quả chỉ gây ra một giống không Âu không Á, nửa Tây nửa Đông, tầm phơ tầm phất, lốc cốc lông bông, không nhà không nước, không cha không ông, thời cũng là uổng công vô ích mà lại để hại về sau. Cũng muốn khư khư mà giữ cũ, nhớ lấy câu “giấy rách giữ lề”, nhưng mà lại lắm nỗi dở dang, “bỏ thương vương tội”; những cái nguyên nhân tích nhược trong bấy lâu đeo đẳng mãi thật cũng khốn!

Ấy tình trạng những kẻ thức giả trong nước ta thuộc về vấn đề văn hóa có cái vẻ bối rối mà thảm thương như thế. Đối với tình trạng ấy, trách sao có lắm người sinh ra những tư tưởng chán đời. Không phải đời đáng chán, bởi lòng không yên, trí không định, nên sự nghiệp đến hững hờ, mà công danh đến đểnh đoảng. Mà lòng không yên, trí không định, là bởi cái vấn đề văn hóa chửa giải quyết xong.

Xét cho cùng, cái nguyên nhân của mọi sự chếch lệch trong xã hội, mọi nỗi bất bình trong lòng người không phải là thuộc về luân lí, không phải là thuộc về chính trị, chính là một cái vấn đề văn hóa ấy vậy.

Văn hóa là gì? Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần người ta thế nào cho được thập phần tốt đẹp, để nẩy nở ra những công trình to tát, sự nghiệp lớn lao mà đem tư cách một quốc dân đến tuyệt phẩm. Ví người ta như cái cây, thời văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, kết quả sinh hóa, để tô điểm cho cái vườn hoa của thế giới.

Nay mầm Hồng chồi Lạc của ta cũng không phải là giống cỏ hèn của Tạo vật; sao nỡ để cho đến khô héo mà úa tàn? Bởi vì ta bấy lâu lúng túng chưa biết cách vun xới cho phải đường. Cứ trồng theo lối cũ thời chỉ gây được một giống cây non bộ, coi nó nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nơi nắng cả gió to được mấy nả. Muốn trồng theo lối mới thời cũng chỉ mọc ra ngoài một loài tầm gửi giây leo, quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt đứng sao!

Nhân tài nước ta cũng như cái dây tầm gửi, cây non bộ đó, mong sao có ngày chiếm được địa vị vẻ vang trên thế giới?

Cho nên cái vấn đề văn hóa đối với nước ta là quan hệ lắm. Vấn đề này có giải quyết được phải đường, thời nước ta mới có được nhân tài xứng đáng; nước ta có nhân tài xứng đáng, thì mới mong sinh tồn tự lập được ở đời.

Tôi không dám tự phụ rằng đã tìm được cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng bấy lâu nay, từ khi khôn lớn biết tư tưởng đến giờ, vẫn lấy làm băn khoăn khắc khoải, lúc nào cũng như canh cánh trong lòng, tưởng như sự hạnh phúc cả một đời, sự vận mệnh cả một nước là quan hệ ở đó. Tôi không phải là người “đa tư đa cảm” như các bạn thanh niên đời nay; nhưng bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng biết khổ vì một cái lí tưởng suông. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng trong trí không có một cái lí tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình, thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lí riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi. Nhưng nói thế là để tỏ rằng, đối với cái vấn đề văn hóa này, thành thực và sốt sắng là dường nào.

Vẫn biết rằng một lòng thành thực sốt sắng thật chưa đủ giải quyết được một vấn đề quan trọng mà khó khăn, nhưng không có tư cách gì khác nữa thời thế cũng đủ để cùng các anh em đồng chí trong nước giãi bày chút ý kiến riêng.

Bọn ta sống giữa đời Đông-Tây giao thiệp, Âu-Á một nhà, đối với văn hóa Tây phương, đối với văn hóa Đông phương, đối với tinh thần Âu châu, đối với tinh thần Á châu, phải nên có một thái độ như thế nào? Ấy cả cái vấn đề là gồm trong một câu đó.

Gần đây đã thành một câu khẩu đầu hễ bàn đến văn minh Âu-Á thì nói nên phải điều hòa hai bên, giữ lấy cái hay mà bỏ cái dở. Tôi đây cũng tin ở sự điều hòa đó, vẫn lấy bốn chữ “Thổ nạp Âu-Á” làm lời cảnh huấn riêng. Song nói dễ mà làm khó; văn minh không phải là vị thuốc, có thể cứ đồng cân mà hòa lấy cho đúng liều được. Văn minh là một vật không hình thể, không trọng lượng; văn minh là thuộc về tinh thần vậy.

Muốn điều hòa hai cái tinh thần khác nhau, phải biết dùng trí tuệ một cách sáng suốt khôn ngoan, phải biết khảo sát: thương lượng, biện biệt, phán đoán, rồi mà châm chước cho thích trung. Khó lắm thay! Lại khó hơn nữa, là cách giáo dục trong nước tuyệt nhiên không giúp được tí gì cho sự điều hòa ấy, không những không giúp được tí gì mà lại hầu như ngăn trở cho không thành được. Vì rằng muốn điều hòa tất phải có hai bên, mà nay giáo dục chỉ chuyên về một bên, bên kia không biết đến, thì còn điều hòa cái gì? Hiện nay cái hiện tượng đã rõ rồi đấy: phần nhiều những bậc thiếu niên tuấn tú trong nước, từ thuở nhỏ chỉ theo về một đường Tây học, đối với văn học Đông phương, đối với lịch sử nước nhà, đang nhiên không biết một tí gì, như thế thời còn biết điều hòa là sự gì nữa? Muốn điều hòa, phải tham bác cả đôi bên, nghiền ngẫm cho thâm thúy, rồi mới châm chước cho vừa phải. Nếu chỉ độc chuyên một phương diện, thời thành ra thiên lệch rồi.

Cho nên cái vấn đề văn hóa ở nước ta càng xét ra lại càng thấy khó khăn phiền phức vô cùng.

Trước hết có một cách giải quyết cái vấn đề ấy, mới coi tựa hồ như giản dị ổn thỏa hơn cả, một số nhiều trong quốc dân ta ngày nay như mơ màng mà khuynh hướng về hết. Kể giản tiện thì cách này giản tiện thật, giản tiện quá! Là cứ thuận dòng nước mà chảy xuôi, không cần phải bận lòng đến sự gì nữa. Nghĩa là xóa hẳn cái vấn đề đi, cho là không cần phải đề khởi ra làm gì. Ngày nay các nước Âu Tây cường thịnh nhất trong thế giới, văn hóa của các nước ấy chắc là hay ho tốt đẹp vô cùng. Ta cứ việc nhắm mắt mà theo, hà tất phải nghĩ quanh nghĩ quẩn cho phiền. Có ngày theo được đến nơi, rồi cũng sẽ được như người ta, có lo gì? Và văn hóa ấy ngày nay có thế lực rất mạnh, cơ hồ muốn tràn ngập cả thế giới. Dẫu ta không muốn theo, cái phong trào nó cũng lôi cuốn ta đi. Miễn cưỡng phải theo, thà rằng vui lòng mà theo còn hơn.

Nói rút là theo phái ấy thời vấn đề văn hóa ở nước ta là một câu chuyện hão huyền, bất tất phải bàn đến. Nghĩ cũng tiện thật, nhưng mà nghĩ kĩ có lẽ chưa tiện chút nào. Dẫu nay không muốn bàn đến mà rồi có ngày cũng phải bàn. Nếu không liệu sớm ngay từ giờ, rồi càng ngày càng thêm khó. Xưa nay không có nước nào bỏ căn bản mình mà thành lập được bao giờ. Phàm sự văn hóa là phải vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nếu bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái “dã tràng xe cát bể Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì!” Tự mình không có gốc sẵn mà đi mượn của người, thời như người vay lãi mà ăn, sớm trưa tất có ngày phá sản. Tình cảnh ấy rất là nguy ngập. Người Nam ta nếu túy tâm về Âu hóa mà không hồi cố đến căn bản mình, thời không khác gì người đi vay nợ mà ăn, tất có ngày vỡ nợ. Ví Âu hóa mà có cách nào hóa được hẳn như người Tây, thời còn hạnh phúc nào bằng, chúng ta xin sẵn lòng kí cả hai tay. Nhưng cái lẽ không thế được; cổ kim không có bao giờ có sức biến hóa đến căn bản như thế. Nếu trong khi biến hóa mà không khéo châm chước điều hòa, thời có cái nguy gây ra một giống dở dang bác tạp, căn bản cũ mất hết mà tính cách mới không thành, tức là một cái quái vật trong nhân quần, không biết liệt vào chủng loại nào. Giống quái vật ấy chỉ biết xuẩn động quấy rối, không biết sáng khởi kiến thiết bao giờ.

Giống quái vật ấy là cái ác ma của xã hội, càng ngày càng nhiều thời xã hội đến diệt vong. Nói thế không phải là nói quá, cái triệu chứng đã nghiệm thấy ngay quanh mình vậy.

Như vậy thời dẫu người nhiệt thành Âu hóa, vì có cái trí phán đoán sáng suốt, tất phải hiểu rằng sự điều hòa là sự cần. Cái thuyết thuận dòng xuôi chảy, nhắm mắt mà theo phong trào, là một cái thuyết sai lầm vậy. Nay đã biết điều hòa là sự cần, thời phải nên điều hòa ra làm sao? Như trên kia đã nói, sự này là thuộc về tinh thần, về trí tuệ, không thể cân nhắc đo lường được, không thể kê ra cân lượng như cái đơn thầy thuốc vậy. Phải tùy ở mỗi người biết khéo dụng trí khôn mà châm chước có thích nghi. Song cũng phải có mấy cái phàm lệ chung để định cái thái độ của người mình đối với hai văn hóa Đông, Tây như thế nào.

Trước hết hẳn phải định nghĩa văn hóa là gì. Như đã giải ở trên, văn hóa là gồm cách đoàn luyện tinh thần người ta. Văn hóa là dịch tiếng Tây culture, nghĩa đen là cách cấy trồng. Người ta ví như cái cây thì văn hóa là cách vun trồng cho nẩy nở được hết cái tinh hoa. Cây có trồng cây mới tốt, người có hóa người mới hay; văn minh với dã man khác nhau là một bên có văn hóa, một bên không. Như vậy thời văn hóa là một sự cần, một dân một nước không thể khuyết được. Nước ta xưa nay vẫn xưng là “văn hiến chi bang”, nghĩa là đời nào cũng có văn hóa, nên người thuần, tục tốt, xã hội chỉnh đốn, lịch sử vẻ vang. Nay gặp đời giao thông, thế không thể không ra tiếp thụ văn minh mới, thâu thái mà điều hòa với cái tinh thần cố hữu của mình. Ta phải tìm cách gây lấy một nền văn hóa riêng cho nước ta, tham bác cả hai tinh thần Âu, Á. Đó không phải là sự mơ tưởng viển vông, chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn vậy. Kẻ thức giả trong nước phải nhận chân lấy cái trách nhiệm đó mà ra sức đảm đương. Lại là việc lâu dài, không thể kể hàng tháng hàng năm, cũng không thể thành công kết quả ngay được. Nhưng phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, muốn tìm phương tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được, còn ngoại giả không có đường lối nào nữa. Xin quốc dân ta nhớ lấy cho rằng, cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hóa. Vấn đề văn hóa còn quan hệ hơn vấn đề chính trị vậy.

Đó là điều cốt yếu, mong những nhà có chí trong nước để tâm suy xét, vì trong bài này không thể nói cho hết ý được.

Nay đã biết sự văn hóa là quan hệ, việc điều hòa văn hóa là sự cần, thời phải biết cách đối đãi hai cái văn hóa Đông, Tây ra thế nào.

Ngày nay vì thời thế, quốc dân ta mỗi ngày một khuynh hướng về đường Tây học. Phần nhiều cũng là thuận dòng nước chảy xuôi, như trên kia đã nói có lẽ không mấy ai nghĩ đến cái tính cách, cái giá trị của Tây học thế nào. Hay là có, có nghĩ đến cái giá trị sự học, nghĩ đến nhiều, nhưng nghĩ rằng học hết tiểu học thì có thể làm được vài chục đồng một tháng, hết trung học thời được dăm chục đồng, mà hết cao đẳng thời được một trăm đồng, không kể còn những phẩm hàm chiếu đối, danh dự xóm làng là phụ thêm ở ngoài nữa. Cái giá
trị đó tuy cũng đáng trân trọng thật, nhưng quyết không phải là giá trị chân chính của sự Tây học. Nay bất luận vì cớ gì mà người nước ta xô theo Tây học, đã theo cũng phải biết rõ tính cách sự học thế nào. Tính cách ấy, muốn phân tích ra cho tường thì phiền phức lắm, nhưng có thể tóm tắt lại đại khái bằng một câu như sau này: học thuật của Thái Tây là học thuật về sự vật, văn hóa của Thái Tây là văn hóa về sự vật. Người Âu Tây từ xưa đến nay chỉ chuyên chủ khảo sát sự vật, mà làm thế là chỉ có một mục đích lợi dụng cho người ta được phú cường…(“…” là do bị kiểm duyệt xóa)

Các hiền triết phương Đông không thiết gì đến sự vật, chỉ chủ dạy người ta sửa mình theo Đạo đức, và ăn ở với nhau trong xã hội cho êm thấm. Ấy cái đặc sắc, cái giá trị của văn hóa Đông phương là thế. Nếu cứ biệt lập ra một thế giới, không can thiệp đến ngoài, thời Đạo đức cũng đủ làm cho xã hội hòa bình. Nhưng cái văn minh đạo nghĩa ấy nhất đán phải ra xung đột với cái văn minh công lợi của Tây phương kia, thời không sao địch nổi, chỉ thấy hết phen thất bại ấy đến phen thất bại khác, rồi mà càng ngày càng sút đi, hầu như không còn có cơ hưng thịnh lên được nữa.

Hai văn hóa đã có tính chất khác nhau như thế, thời đối với văn hóa Tây phương ta phải có cái chủ ý thâu thái, mà trong khi thâu thái phải biết khéo kén chọn; đối với văn hóa Đông phương ta phải có cái chủ ý bảo tồn, mà trong khi bảo tồn phải biết khéo phát huy.

Nói rằng thâu thái, lại nói rằng kén chọn, là không thể cứ toàn thể, cứ y nhiên mà thâu nhập được; phải biết phân tích, phải biện biệt các phần mà chỉ chọn lấy phần nào có bổ ích cho sự tăng tiến của ta mà thôi. Việc này là thuần ở cái tài khôn khéo của mỗi người, không thể định cách thức sẵn được. Nhưng có một điều cốt yếu, là rất không nên câu nệ. Học Tây mà câu nệ là hỏng.

Nói rằng bảo tồn, lại nói rằng phát huy, là cũng có cái ý phân biệt ở trong đó, phần nào là phần cốt yếu thì phải nên giữ gìn, mà lại tỏ rạng cho sáng sủa thêm ra. Vì rằng văn hóa Đông phương ta ngày nay đương qua một hồi yếm thế, không những ta cần phải bảo tồn lấy, mà ta lại cần phải biểu dương lên. Đối với văn hóa Âu Tây ta nên hoài nghi bao nhiêu, thời đối với văn hóa Á Đông ta lại phải nên đôn đốc bấy nhiêu. Người Âu mê tín ở khoa học, người Á mê tín ở đạo đức. Sự mê tín trên có lẽ không chính đáng, vì đối với sự vật mà mê tín. Sự mê tín dưới có thể thừa nhận được, vì đối với một cái lí tưởng mà mê tín. Lí tưởng ấy cho rằng có thể lấy đạo đức, lấy nhân nghĩa mà giáo hóa người đời sửa sang phong tục, chỉnh đốn xã hội, mưu sự hạnh phúc cho nhân quần và sự hòa bình trong thiên hạ. Lí tưởng ấy ta phải nên trân trọng, vì là cái tinh túy của văn hóa Đông phương ta; ta phải nên giữ gìn cho khỏi bị những phong trào mới nó lay chuyển đến đổ nát đi mất. Ta phải nên phát huy ra để làm cái đuốc sáng soi con đường tiến hóa cho nước ta.

Như vậy thời văn hóa Tây phương là gồm ở khoa học; văn hóa Đông phương là gồm ở Đạo học. Đối với khoa học ta phải nên có lòng công lợi, đối với đạo học ta phải nên có bụng chân thành. Hai đàng là cần cả, không đàng nào khuyết được. Nếu có Khoa học mà không có Đạo học thời như có vỏ mà không có ruột, không có khoa học thời như có ruột mà không có vỏ, không thể xông pha được với đời. Cho nên hai bên phải điều hòa hai cái văn hóa Đông, Tây vậy.

Nói tóm lại, cả cái vấn đề văn hóa nước ta là ở sự phân biệt và điều hòa hai mối Đạo học và Khoa học vậy. Điều đó tựa hồ như tầm thường ai cũng biết, mà về phần riêng tôi phải suy nghĩ trong nhiều năm mới hiểu thấu được hết lẽ. Nhưng đến khi hiểu được rồi thời thấy trong lòng được khoan khoái, trong trí được vững vàng, không còn băn khoăn khắc khoải như trước nữa. Điều đó tuy tầm thường như thế mà tôi hiểu được cho là một sự phát minh đáng kỉ niệm trong một đời. Còn sự phát minh nữa, cũng tầm thường cho thiên hạ mà cũng đáng kỉ niệm cho riêng tôi, là phát minh được một cái phương tiện để giúp cho sự điều hòa như trên kia. Sự tác dụng thiết yếu nhất của thần trí người ta là sự tư tưởng. Dẫu văn hóa phương nào nước nào cũng là phát nguyên ở một mối tư tưởng trong lòng người mà ra. Nhưng nếu cái tư tưởng ấy cứ u u âm âm ở trong lòng, thời như vô hình vô trạng, không biết đâu mà dò xét được. Tất phát biểu ra lời nói mới gọi là thành hình. Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng, mà tư tưởng tất phải do lời nói mới biểu lộ ra được, thời lời nói cũng tức là cái cơ quan “thực hiện” của tư tưởng, lời nói quan hệ vô cùng. Nay người trí thức ở nước ta – là nói người trí thức mà thôi, còn kẻ tầm thường thời có mấy khi dùng đến tư tưởng – từ xưa đến nay, tư tưởng bằng tiếng gì? Có thể nói rằng các nhà cựu học hầu hết tư tưởng bằng chữ Nho cả, mà các bậc tân học cũng phần nhiều tư tưởng bằng chữ Pháp hết. Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hồ nghĩ ra một cái lí tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn thành câu rõ ràng, hoặc diễn u âm trong trí. Như thế thời nhà Nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ Nho, mà nhà Tây học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng của mình bằng chữ Tây. Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nửa thành ra Tây hay Tàu vậy. Huống nhiều khi lại là tư tưởng mượn!

Tôi lấy cái đó làm khổ tâm, bèn nghĩ ra một cách phương tiện để bổ cứu, cách phương tiện này chính là sự nghiệp tôi về đường quốc văn. Tôi nghĩ rằng: Cớ sao người nước ta không tư tưởng bằng tiếng ta? Hoặc cho tiếng ta còn non nớt, thời có tập đến dùng đến mới thành ra già dặn được. Vả lại lời nói già dặn là ở như tư tưởng già dặn. Chỉ sợ tư tưởng còn non nớt, không sợ lời nói non nớt. Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rằng: phàm tư tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả. Thí nghiệm trong bấy lâu, xem ra cũng hơi có kiến hiệu. Lại nhận ra rằng cách đó chính là một cách rất diệu để giúp cho sự điều hòa hai cái văn minh như trên kia, vì những tư tưởng trong sách Tây sách Tàu phải diễn ra tiếng ta cả, khác nào qua cái óc ta lọc đi một lần dễ cho sự “tiêu hóa” biết dường nào! Nếu cứ để trườn trườn như trong sách, cứ giữ nguyên chất của người ta, thời chỉ dùng đến sức kí ức để nhớ lấy và truyền đi lắm khi hãy còn sống sượng, trí não không thể dung nạp được, không thể “tiêu hóa” được, chỉ giao dịch ở ngoài cửa miệng mà thôi. Nay đem đàn diễn ra tiếng ta, tức là biến nhuyễn ra cho dễ dung hòa vào khí huyết tinh túy của ta, cho dễ cùng nhau điều hòa trong óc ta vậy. Mấy sự “phát minh” đó, thật là tầm thường, chẳng lấy gì làm lạ lùng cả. Nói ra đây, thật là lời “bàn phiếm”; nhưng có ai chưa kịp nghĩ tới thời cũng mong giúp được cho sự nghiên cứu về vấn đề văn hóa một đôi phần vậy.

 

 

Tạp chí Nam Phong – 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:42 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 8 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/2017 – 1/7/2017)

TẠP CHÍ NAM PHONG, 100 năm nhìn lại (1917-2017)

Theo nguồn tin riêng của Blog PhamTon chúng tôi: Sáng thứ bảy, ngày 15/7/2017, tại thư viện Trung ương – Hà nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Tạp chí Xưa và Nay tổ chức cuộc tọa đàm “Tạp chí Nam Phong, 100 năm nhìn lại (1917 – 2017)”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc chủ trì buổi tọa đàm.

Mở đầu, nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Cụ Phạm Quỳnh – chủ bút Nam Phong – lên giới thiệu bộ đĩa in lại đầy đủ 210 số tạp chí Nam Phong thêm số báo Tết Mậu Ngọ 1918 là số báo Tết đầu tiên của nước ta, tiểu luận Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bản tiếng Việt do Phạm Trọng Nhân dịch từ nguyên văn tiếng Pháp, và Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên, được những người bạn Việt kiều ở Mỹ in lại gửi về biếu Thư viện Quốc gia và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Sau đó, nhà sử học Dương Trung Quốc trân trọng giới thiệu người tham luận đầu tiên là Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú. Giáo sư đã 89 tuổi. Giáo sư nói đại ý: Tôi có món nợ là đã viết bài phê phán Phạm Quỳnh. Sau năm 1954, tôi viết phản đối Phạm Quỳnh trong bài “Thực chất cuộc tranh luận giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh”. Năm 1958, trong giáo trình giảng ở đại học, tôi xếp Phạm Quỳnh vào văn nô dịch với Nguyễn Văn Vĩnh. Đến 1960, tôi đã nhận ra vấn đề. Năm 1965, tôi được khen và cảm thấy xấu hổ đã có lỗi lầm với Cụ Phạm. – “Lịch sử không làm lại được, nhưng nhận thức lại lịch sử thì vẫn luôn có.

Tiếp đó nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, tham luận với đề tài “Nam Phong tạp chí với vấn đề giáo dục”. Chủ bút họ Phạm đã kiên trì gắn kết  Quốc ngữ – Quốc văn – Quốc hồn.

Kế đến Tiến sỹ Nguyễn Đức Thuận, người đã tự mình dày công sưu tầm được đủ 210 tập Nam Phong tạp chí và làm sao chụp toàn bộ. Năm 1986 ông đã làm luận án Tiến sỹ về Nam Phong, nhan đề “Văn trên Nam phong tạp chí”, đã xuất bản thành sách.

Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên điểm lại những phê phán của văn học mới với Phạm Quỳnh, từ nhóm Lê Quý Đôn năm 1960 đến những lời nặng nề nhất của Đặng Thai Mai trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, đến cuốn “Chủ đích Nam Phong” của Nguyễn Văn Trung…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn tham luận về cuốn sách Du ký của Phạm Quỳnh do ông biên soạn và giới thiệu. Sau đó, đến tham luận của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

Giáo sư Nguyễn Nhật Vượng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) dự kiến sẽ tổ chức một hội thảo quốc tế tại đại học Quốc gia Hà Nội vào cuối năm nay nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong.

Ông Phan Bá Hoành – chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Dương tham luận, giới thiệu Hải Dương có hơn 1000 nhân vật lịch sử, mong muốn giới trẻ nhìn lại lịch sử và tìm thấy những bài học.

Do thời gian chỉ giới hạn trong một buổi sáng, buổi tọa đàm đã diễn ra rất xúc tích.

Kết thúc buổi toạ đàm, nhà sử học Dương Trung Quốc tuyên bố bế mạc. Ông nói: “Thời gian là thuốc thử hiện hình, nhưng cũng là chất cường toan có thể xóa đi ký ức”.

Tháng Bảy 14, 2017

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

  • Thu từ Tạp chí Sông Hương online, 21/58 ngày 7/7/2017:

Dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm 100 năm Tạp chí Nam Phong

Sáng ngày 1/7,  Hội đồng họ PhạmThừa Thiên Huế đã tổ chức lễ dâng hương – tưởng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh nhân  kỷ niệm 100 năm  Tạp chí Nam Phong.

Tại buổi lễ, ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên Huế đã khái quát lại quá trình hoạt động, những đóng góp, cống hiến của cụ Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn hóa Việt Nam.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892.  Cụ Phạm là dịch giả, nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại trường Viễn Đông bác cổ. Từ năm 1913, cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, lúc mới 25 tuổi, cụ đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí. Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Là một Nho sĩ Bắc Hà, quê ở Hải Dương, sinh trưởng ở Hà Nội nhưng cụ Phạm rất nặng lòng với Huế. Lần đầu tiên đến Huế, cụ đã xem Huế là quốc hồn của Việt Nam.

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Kênh quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ chính là thông tin đại chúng và văn học. Thời kỳ này, báo chí Quốc ngữ phát triển rất nhanh, nhưng vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ quốc ngữ của báo chí thực sự nở rộ khi Đông Dương Tạp chí và Nam Phong tạp chí ra đời. Hai tờ tạp chí này có cách viết, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng câu chuẩn hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ.

Tờ Nam Phong tạp chí kế tiếp sự nghiệp truyền bá Quốc ngữ nhưng phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các cây bút chủ lực của Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong văn bản hành chính, đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học.

Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hóa, chuẩn hóa kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Cuộc đời của Cụ Phạm gắn liền với Tạp chí Nam Phong. Sự nghiệp văn hóa lẫn chính trị của Cụ được thực hiện thông qua tờ tạp chí này với sự tham gia của các đông nghiệp cùng chí hướng trên suốt một chặng đường dài.

Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “ Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên Tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời ký đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…. Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới…Đối với nên văn hóa cũ của nước ta, ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân…Văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả”.

Phương Anh

 

 

Phạm Quỳnh, một sĩ phu Hà Nội

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, tuần 2 tháng 7 năm 2017

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

 PHẠM QUỲNH, MỘT SĨ PHU HÀ NỘI

Phạm Tôn

Năm 1908 Phạm Quỳnh đã đỗ thủ khoa năm đầu tiên của trường Trung học Bảo Hộ. Nhân dân thường quen gọi là “Thủ khoa Tây trường Bưởi”.

Pham Quynh_1922 tai PhapCũng năm 1908 ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục của cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con nhà nghèo đến mấy đời Phạm Quỳnh đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì chưa đến tuổi thành niên.

“Thủ khoa Tây” được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn, đủ mọi mặt toàn xứ Đông Pháp. Năm ấy, “công chức” Phạm Quỳnh mới mười lăm tuổi. Vốn ham hiểu biết, lại được làm việc dưới sự chỉ bảo của các “đại sư” người Pháp uyên thâm nhiều lĩnh vực, và được ở bên, ở ngay trong kho sách lớn có một không hai trong nước ta, Phạm Quỳnh thả sức học tập, đọc miệt mài, hết tra cứu, đến so sánh, lại ghi chép… đến quên cả giờ về nhà. Tại đây Phạm Quỳnh quen biết Nguyễn Văn Tố, sau này cũng là một học giả nổi tiếng, từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên của cụ Hồ.

Những năm làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) cũng chính là những năm học tập miệt mài, khổ công tự học và thành tâm, khiêm tốn học hỏi các bạn đồng nghiệp Pháp Việt đã đưa Phạm Quỳnh từ một thanh niên hiếu học trở thành một nhà nghiên cứu có kiến thứPham Quynh chu but Nam Phongc vững chắc, khá toàn diện về nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên nữa. Đặc biệt, từ một học sinh chỉ viết được có hai chữ nho tên mình, suýt bị trượt kỳ thi tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ vì bài dịch Hán văn ra Pháp văn đáng lẽ bị điểm liệt, may mà được các giám khảo nương tay cho nửa điểm mới đỗ “Thủ khoa Tây”, sau chín năm trời đã trở thành một nhà Hán học uyên thâm, có thể đọc, dịch và viết văn bằng chữ Nho thành thạo. Chủ yếu là do công tự học kiên trì và có phương pháp đúng.

Do có vốn liếng vững chắc về khoa học xã hội, năm 1913, Phạm Quỳnh đã trở thành một cây bút quen thuộc, được tín nhiệm trên Đông Dương tạp chí của người bạn cùng học trường Thông Ngôn năm nào Nguyễn Văn Vĩnh. Từ đó Phạm Quỳnh nổi tiếng với nhiều bài nghiên cứu sắc sảo, chững chạc, già dặn hơn tuổi đời hai mươi của mình rất nhiều.

Những bài báo đó “lọt mắt xanh” của Louis Marty, giám đốc Vụ Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương và cả bản thân Toàn quyền Albert Sarraut nữa. Hai con cáo già thực dân này đã quyết định dùng Phạm Quỳnh làm cầu nối giữa Pháp và Việt Nam, giữa lớp trí thức cũ Hán học và lớp trí thức mới Tây học.

Năm 1917 tạp chí Nam Phong ra đời với chủ bút phần quốc ngữ là Phạm Quỳnh, mới hai mươi bốn tuổi.

Chẳng bao lâu, tạp chí Nam Phong đã trở thành tờ báo có uy tín nhất và lớn nhất thời bấy giờ. Báo quy tụ được cả những nhà cựu học uyên thâm lẫn những người tuổi trẻ tài cao. Phạm Quỳnh dùng Nam Phong tạp chí làm cơ quan để “tài bồi” cho văn quốc ngữ trở thành tiếng nói, chữ viết chuyển tải được những sự phát triển mới trong đời sống xã hội, đủ các ngành khoa học.

Vì ông tin rằng, có tiếng mới có nước, tiếng còn thì nước không mất được.

Năm 1922, với danh nghĩa Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseilles. Ông tranh thủ diễn thuyết ở nhiều nơi để người Pháp hiểu thêm và do đó tôn trọng nước và người Việt Nam mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam mà tìm ra đường đến diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Bài nói của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ có mặt nhất loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở nơi tụ hội tinh hoa của cả nước Pháp, gây chấn động lớn khắp thủ đô Paris. Ông nói dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ khác lên những trang đã đầy chữ rồi. Ông kiên quyết bảo vệ bản sắc Việt Nam.

Những ngày ở Paris, ông đã gặp và trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc ít nhất ba lần; một lần còn được Nguyễn Ái Quốc “đích thân tổ chức bữa cơm Bắc thết khách Bắc” tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Ngày 8/9/1924, Phạm Quỳnh là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du. Trước hơn 2000 người tham dự, câu nói bất hủ của ông đã được đồng thanh tán thưởng

Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hinh Hà Nội, nơi kết án tàn bạo nhất. Phạm Quỳnh không ngần ngại viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) lớn tiếng bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả mọi người Pháp yêu nước chống quân ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân hồi ấy đòi khoan hồng cho Phan Bội Châu. Thế rồi, từ một án tử hình, tám án chung thân, hạ dần xuống mức chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Mười lăm năm cuối đời Phan Bộ Châu, nhà báo Phạm Quỳnh, rồi Thượng thư Phạm Quỳnh lúc nào cũng bênh vực, tận tụy chăm sóc ông về tinh thần và cả vật chất nữa. Cho đến năm 1940 Thượng thư Phạm Quỳnh vẫn không ít lần đến tận nhà thăm và giúp đỡ nhà chí sĩ cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.

Năm 1926, Thống sứ Bắc Kỳ René Robin có “nhã ý” trợ cấp cho tạp chí Nam Phong. Nhân cơ hội này, Phạm Quỳnh xin trợ cấp cả cho Nguyễn Văn Vĩnh mà ông trình bày trong thư gửi Robin là đã và đang làm nhiều việc mà còn gặp nhiều khó khăn hơn ông.

Ngày 4/12/1931, Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng cấp cao Đông Dương về Kinh tế-Tài chính đòi bãi bỏ chính sách độc quyền sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra một thị trường rượu ở Bắc Kỳ, có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bãi bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị.

Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục kiêm Tổng lý Đại thần Ngự Tiền Văn Phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đày ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản” ở Kiến An. Có lẽ xưa nay không có ai vừa nhậm chức lại đi làm một việc như thế, không hề nghĩ gì đến “cái ghế mình ngồi còn chưa ấm chỗ”.

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thảm trên đường đi tìm vàng tại Lào thì Phạm Quỳnh đang là Tổng lý Đại Thần Ngự Tiền Văn Phòng và Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục. Vậy mà ông lại làm bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh; Trong đó, bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục.

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ.

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

 Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp rồi dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh rút khỏi chính trường, về nhà sống ẩn dật, chuyên tâm trở lại với nghề viết mà ông hằng yêu quí. Trong những ngày biến động này, ông em vợ thấy anh rể cứ bình chân như vại thì sốt ruột quá mới khuyên anh “nên tránh đi, sang Lào chẳng hạn vì xem ra vua Lào quí anh lắm.” Thì Phạm Quỳnh thản nhiên trả lời là “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước để đem tài trí ra giúp nước”. Rồi lại cặm cụi đọc sách, viết văn.

Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongNhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945.

Tp Hồ Chí Minh, 30/08/2014

P.T.

Trả lại sự sáng trong cho Phạm Quỳnh – Hà Khánh Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017.

TRẢ LẠI SỰ SÁNG TRONG CHO PHẠM QUỲNH

Hà Khánh Linh, Nhà văn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Hà Khánh Linh, tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, sinh tại Huế, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại Thừa Thiên Huế. Hiện ở tại số 24/7 đường Chế Lan Viên, thành phố Huế.

Những tác phẩm đã xuất bản gồm có Thúy, tiểu thuyết, nhà xuất bản Văn Nghệ Giải Phóng, 1973; Nụ cười Ápxara, tập truyện, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, 1983; Là bóng hay là hình, tập truyện, NXB Tác Phẩm Mới, 1986; Chiến tranh và sau chiến tranh, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 1989; Rừng và cái chết con thiên nga, tiểu thuyết, Hội văn nghệ Thừa Thiên-Huế, 1992; Góa phụ Paris, tập truyện, NXB Văn Học, 1993; Trăng cứu rỗi, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1995; Những bọt bóng màu, thơ, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Con gái người cung nữ, tiểu thuyết, NXB Phụ Nữ, 1999; Vũng Chân Mây, tập truyện, NXB Đà Nẵng, 1999; Ngày ấy, Trường Sơn…, Hồi ký, NXB Hội Nhà Văn, 2000; Vì người mà tôi làm vậy, tập truyện, NXB Hội Nhà Văn, 2001; Người cắm hoa nhà thờ, tiểu thuyết, NXB Văn Học, 2002; Người kinh đô cũ, tiểu thuyết, NXB Hội Nhà Văn, 2004; …Và đàn bà, tập truyện, NXB Văn Nghệ, 2007; Phùng Quán viết Trăng Hoàng Cung, tự truyện, NXB Thuận Hóa, 2007; Ôi trần gian, tiểu thuyết, NXB Thanh Niên, 2008…

Từ lâu nhà văn Hà Khánh Linh đã quý mến học giả Phạm Quỳnh và coi  “Vấn đề Phạm Quỳnh là vấn đề của lương tâm thời đại”. Với tâm thức đó, bà đã viết bài báo này vào cuối năm 2006.

—-o0o—

Sinh ra và lớn lên tại Huế, sau chiến tranh được sống và được làm việc ở Huế, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều với các giới đồng bào, càng thêm hiểu tâm tình bà con với những ai đã từng yêu quý và sống hết mình với Huế, vì nước vì dân. Năm 1945, sau khi cùng phái đoàn chính phủ vào Huế tước ấn kiếm và dự lễ thoái vị của Bảo Đại, ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch, nhà thơ Huy Cận đã không quên nói lên tâm tình của dân Huế. Sau này, ở tuổi ngoài tám mươi, ông đã hai lần kể lại rành rọt cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh câu chuyện xưa mà ông không bao giờ quên: “Năm 1945, cuối tháng 8, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh Nông của chính phủ Cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện Cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “ĐÃ LỠ MẤT RỒI!”

Đầu năm 2005, tôi đã được đọc bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, đăng trên tạp chí Khoa học và Ứng dụng số 2-2005, và bài Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỉ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005 thì cuối năm đó lại được đọc loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Rồi đến năm 2006, tôi được đọc các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, và Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung Phạm Quỳnh người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Tôi còn được đọc bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Tôi cũng đã đọc bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12 tháng 6-2006. Và mới đây là bài trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005, Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh cũng của Vương Trí Nhàn. Còn mới nhất là bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục…Tôi cũng đọc các sách của Phạm Quỳnh mới tái bản ở nước ta như Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Luận giải văn học và triết học Thượng Chi văn tập của các nhà xuất bản Văn Học và Hội Nhà Văn. Càng đọc tôi càng thấm thía lời nhà thơ Huy Cận nói với nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Càng đọc kỹ những dòng chữ Cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của Cụ.” Và tôi càng thương tiếc vô hạn học giả Phạm Quỳnh, đau xót trước cái chết oan ức của ông. Vì thế tôi đặc biệt chú ý đến một bài báo mới đăng trên tạp chí Xưa và Nay.

Trong số 269, tháng 10/2006 tạp chí có đăng bài của Nhật Hoa Khanh: Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông. Do yêu mến Phạm Quỳnh tác giả đã nhiều năm cố công tìm hiểu về cái chết bí ẩn của ông, đã gặp nhiều người, tìm tòi nhiều tư liệu và cuối cùng đã tìm được hai tờ báo khổ nhỏ phát hành hẹp tại Huế năm 1945. Đó là nhật báo Quyết Chiến khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân Cách mạng Huế”. Số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945 có đăng bản tin: “Ba tên Việt Gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án Quân sự tỉnh Thuận Hóa” (tức là Huế), sau đó đăng trên tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số bốn trang, là “cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ.” Số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩ tỉnh Nguyễn Tri Phương”, mà không có ai đứng tên thay mặt ký cả.

Trong lời tòa soạn in chữ đậm,  cỡ lớn, chính tạp chí Xưa và Nay cũng thấy cần nhấn mạnh “ở đây vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn (Thật ra là ba – PT chú) tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (chúng tôi nhấn mạnh – HKL).

Lệ thường, khi cần xử tử một kẻ gây tội ác lớn, người ta thường thông báo càng rộng rãi, càng kịp thời, càng được nhiều người chú ý và vì thế tác dụng răn đe các kẻ xấu khác càng lớn. Hơn nữa, việc xử tử cũng thường tổ chức càng công khai, càng đông người tận mắt được thấy kẻ thủ ác phải bị trừng phạt, càng có tác dụng ngăn ngừa tội ác. Nhưng, trường hợp “xử tử ba tên Việt gian tối nguy hiểm” này lại diễn ra khác hẳn. Trong số 267 tháng 9/2006, tạp chí Xưa và Nay đăng bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn có đoạn: “Người canh gác xưởng (ép dầu tràm, nơi giam giữ Phạm Quỳnh cuối cùng-HKL chú) kể: Một đêm đầu tháng 8 ta, trăng lưỡi liềm, khoảng 11 giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra cho ăn cơm (…) Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò (…) gần 1 giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người”

“Xử tử” vào 1 giờ đêm, ở một nơi hoang vắng, giữa đêm trăng mờ. Thật lạ lùng cho cách “xử tử” này. Quả là có một không hai trên đời!…

Chắc hẳn là ba tháng sau khi thủ tiêu Phạm Quỳnh, người xưng là cấp trên có quyền sinh quyền sát trong tay ấy mới nghĩ ra được cách ra thông báo để hợp pháp hóa vụ giết hại mờ ám, lén lút và tàn bạo mình đã tự ý gây ra trong đêm trăng non nọ?…Để rồi suốt hơn 60 năm trời Cách mạng Việt Nam phải chịu tiếng đã giết oan một con người nặng lòng với nước với dân như Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh, con người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, đã sống 13 năm cuối đời tại Huế, đã viết những dòng tâm huyết cuối cùng tại Huế (tập Hoa Đường tùy bút: Kiến văn, cảm tưởng và 51 bài thơ Đỗ Phủ còn dịch dở dang). Và cũng đã gửi lại nắm xương tàn trong khuôn viên chùa Vạn Phước xứ Huế. Dân Huế yêu quý ông, đã tự nhiên bảo nhau gọi bến đò An Cựu trước biệt thự Hoa Đường xưa của ông là Bến Cụ Phạm. Và tôi tin là hình ảnh ông, tư tưởng của ông còn sống mãi trong lòng người dân xứ Huế, vốn nặng tình và trọng nghĩa.

Tôi tin là giống như mặt trời lên thì xua tan bóng tối, đất nước ta ngày càng tiến lên xã hội công bằng dân chủ văn minh thì những đám mây đen, bụi bẩn bấy lâu che mờ gương sáng của ông cũng sẽ tiêu tan cùng với các thế lực đen tối, cực tả một thời đã làm ô danh cách mạng Việt Nam.

Huế, những ngày mưa cuối năm 2006

H.K.L

Ghi thêm:

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác là cộng tác viên nhiệt thành của tạp chí Nam Phong rồi trở thành bạn tri âm tri kỷ từ lâu của học giả Phạm Quỳnh. Cho nên, sau khi từ quan về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên con sông nhỏ An Cựu để chuẩn bị quay trở lại với nghiệp văn của mình, Phạm Quỳnh đã bắt đầu “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ Trung Quốc đồng cảnh với ông. Dịch được 51 bài, ông tin cậy gửi cả nguyên văn chữ Hán do tay ông chép và các bản dịch thô của mình cho Đông Hồ, người mà ông tin cậy ở cả cái tâm và cái tài. Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đàu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó là nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Chúng tôi đã sống như thế: Nhiệm vụ chưa hoàn thành

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 7 năm 2017.

PHẦN IV: VƯỢT NÚI CHẶNG CUỐI CÙNG

NHIỆM VỤ CHƯA HOÀN THÀNH

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 396 đến trang 408.)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tBa Tuyet sach chung toi da song nhu theổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 11g giờ ngày 23/4/2014 bài Mang con đi học đã được 17.234 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.131 lượt người truy cập.

*

*     *

Về cuối đời, mọi việc đều có thể gọi là “hòm hòm”, duy còn một việc lớn mà chúng tôi chưa thể làm được, cứ canh cánh trong lòng, nhất là nhà tôi. Đó là làm sao để khôi phục lại sự nghiệp của cụ thân sinh – học giả Phạm Quỳnh. Đây cũng là nguyện vọng của tất cả con cháu trong đại gia đình. Suốt đời con cháu luôn ghi nhớ lời tâm niệm trước đây của cụ: “Đối với nhà, làm thế nào để nối nghiệp cha ông; đối với nước, làm thế nào để giúp cho quốc hồn được tỉnh táo, nước được độc lập, dân được hạnh phúc”. Nhất là hai anh em Phạm Khuê và Phạm Tuyên khi chọn con đường đi theo cách mạng, hết lòng phục vụ Tổ quốc cũng là để thực hiện nguyện ước của người cha kính yêu. Giáo sư Phạm Khuê, anh ruột của Phạm Tuyên, là người thầy thuốc hết lòng cứu chữa bệnh nhân ngay từ ngày đầu kháng chiến gian khổ ở chiến trường cũng như sau này khi đất nước được hòa bình thống nhất. Ông là Nhà giáo nhân dân đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ, có biết bao học trò hâm mộ và noi gương, từng là đại biểu Quốc hội và là nhà hoạt động quốc tế ở lĩnh vực y học người cao tuổi, người đã xứng đáng nhận được nhiều huân chương và giải thưởng cao quý của nước nhà. Lúc sinh thời, ông luôn khắc khoải trong lòng về vụ án oan khuất của cha mình. Nhiều lần ông đau khổ tâm sự với Phạm Tuyên – em mình: “Tại sao người ta lại giết cha đến hai lần, một lần về thể xác, một lần về sự nghiệp văn học?!” Đó cũng là nỗi đau giày vò Phạm Tuyên không kém anh mình. Chỉ tiếc là Giáo sư Phạm Khuê không còn để chứng kiến sự thay đổi theo chiều hướng tích cực về việc đánh giá con người và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh.

Gần mươi năm, nhất là chừng dăm năm lại đây, giới trí thức nước nhà đã gióng lên hồi chuông lấy lại công bằng cho những nhân vật nổi tiếng đã từng bị hàm oan trong lịch sử. Phạm Quỳnh là một trường hợp chịu nhiều oan sai nhất, gây chấn động dư luận trong và ngoài nước từ trước đến nay.

Trong gia đình, thế hệ con chỉ còn lại mình nhà tôi trong nước để lo đại sự này (ngoài nước cũng chỉ còn có chú em trai út là Phạm Tuân). Ông vô cùng lo lắng, dành nhiều thời gian để sưu tầm, nghiên cứu và trao đổi tài liệu với nhiều người cũng đang tâm huyết, dành nhiều công sức và trí tuệ mong làm sáng tỏ sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh.

Có người trước đây đánh giá nhầm Phạm Quỳnh như giáo sư Nguyễn Đình Chú nay cũng nhận định lại: “Chính Phạm Quỳnh mới là người có công gây dựng nền văn học nước nhà. Ông không chỉ là người thực hành mà có cả học thuyết”.

Khi nghiên cứu tạp chí Nam Phong, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận ra rằng: “Tờ tạp chí Nam Phong và ông chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có công lao rất lớn với việc xây dựng nền văn học hiện đại ở nước ta. Phạm Quỳnh quả là một người yêu nước thực sự và là một nhà văn hóa lớn – rất tiếc đã bị thủ tiêu một cách oan uổng.

Công lao lớn của Nam Phong và Phạm Quỳnh là:

1)              Định hướng sáng suốt và đúng đắn cho công cuộc hiện đại hóa văn học nước nhà: Cách tân văn học theo mô hình phương Tây hiện đại trên cơ sở phát huy truyền thống văn học của dân tộc gọi là bảo tồn “quốc hồn quốc túy”, “Đông Tây kết hợp”, “Thổ nạp Á Âu”. Đặc biệt chú trọng xây dựng nền văn xuôi quốc ngữ, nhất là thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn hiện đại.

2)              Đào tạo nhà văn Việt Nam hiện đại theo định hướng trên. Phải có đủ tài năng, uy tín và tâm huyết như Phạm Quỳnh mới có thể làm được công việc này: tập hợp những nhà Tây học số một, đủ sức phiên dịch và giới thiệu các thể loại văn học phương Tây hiện đại, đồng thời lôi cuốn được những nhà Hán học, cổ học hàng đầu của nước ta để phiên dịch, phiên âm, biên soạn, chú giải các tác phẩm văn học cổ Việt Nam, từ văn bác học đến văn dân gian.

Riêng Phạm Quỳnh thì làm cả hai việc trên, vì ông vừa thạo Pháp văn, vừa thông Hán học.

Nền văn học nước ta hôm nay cũng đang đòi hỏi một cách bức xúc phải đổi mới để theo kịp thời đại. Chúng ta đang cần một Phạm Quỳnh khác, tất nhiên với yêu cầu cao hơn. Thiếu một người như vậy, công cuộc đổi mới chỉ có tính chất tự phát, hướng đi chưa xác định”.

Nhà văn Nguyên Ngọc trong nhiều bài báo đã coi Phạm Quỳnh là một trong những người khổng lồ đầu thế kỷ XX và nhiều trí thức thời nay đã coi ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa lớn.

Sự kiện đáng quan tâm nhất là đêm 29/11/2007, Trung tâm Ngôn ngữ Văn hóa Đông Tây đã tổ chức cuộc giới thiệu và phát hành cuốn Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Phạm Quỳnh. Đây là cuốn sách nhằm giới thiệu với người Pháp về con người và văn hóa Việt Nam do NXB Tri Thức ấn hành, về các vấn đề: Việt Nam – Tâm hồn và bản chất (Nguyễn Xuân Khánh dịch), Việt Nam – Ở giao điểm của các nền văn minh (Nguyên Ngọc dịch), Việt Nam – Chủ nghĩa dân tộc và chế độ bảo hộ Pháp (Nguyễn Quốc Chiến dịch), Việt Nam – Những vấn đề văn hóa và chính trị (Phạm Xuân Nguyên dịch), với lời giới thiệu tâm huyết của Phạm Toàn. Hôm đó hội trường rất đông, có nhiều nhà văn hóa, nhà văn, nhà phê bình, nhà sư phạm, dịch giả nổi tiếng đến dự như Hữu Ngọc, Nguyễn Đình Chú, Nguyên Ngọc, Huệ Chi, Chu Hảo, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Xuân Nguyên, Thúy Toàn, Nguyễn Quốc Chiến, Vũ Thế Khôi… Đông nhất là các nhà văn trẻ và sinh viên của các trường đại học. Nhiều người lên tieu luanphát biểu, mỗi người nói một khía cạnh khác nhau, nhưng đều ca ngợi giá trị tác phẩm của học giả Phạm Quỳnh, không chỉ ở cuốn Tiểu luận này mà còn nhiều tác phẩm khác và tỏ nguyện vọng tha thiết khôi phục sự nghiệp của cụ.

Không chỉ những người ở thế hệ đi trước đã đánh giá cao nhiều tác phẩm của cụ, mà ngày nay nhiều người vẫn còn ngỡ ngàng khi đọc Tiểu luận này. Nhà văn hóa Phạm Toàn trong lời giới thiệu đã viết: “Đọc Phạm Quỳnh cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, cái ấn tượng đầu tiên sau đó còn tiếp tục theo đuổi ta, ấy không chỉ là sự khâm phục chiều sâu bác học và tầm cao ái quốc của tác giả. Ấn tượng lớn hơn nữa, còn đáng yêu hơn nhiều, càng quyến rũ ta vô cùng, ấy là lòng yêu cái đẹp (nhất là cái đẹp của con người và tiếng nói bình dân) của bậc chí sĩ đó…”. “Những lời Phạm Quỳnh viết cách đây gần một trăm năm mà sao vẫn thấy nó đương đại với chúng ta hôm nay, trong thập niên đầu của thế kỷ XXI…”

Những điều mà chúng tôi thấy phấn khởi vô cùng là lực lượng đông đảo các bạn trẻ, với con mắt trong sáng, họ dễ nhìn thấy Phạm Quỳnh đúng là một người yêu nước, tôn trọng văn hóa dân tộc thực sự, khi đọc thấy trong Tiêu luận: “Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc của mình, bởi vì người An Nam đã từng có một Tổ quốc…”. Hoặc khi đọc đoạn viết về “Chủ nghĩa quốc gia Đông Dương” trích từ tờ Revue du Pacifique của một tác giả Pháp (cũng trong Tiểu luận này): “Trong số những người thuộc “phái trẻ Việt Nam” chỉ có một số ít đáng mặt coi là quốc gia chủ nghĩa qua một số tư tưởng nền tảng của họ: đó là phái ông Phạm Quỳnh ở Bắc kỳ. Ông đã dùng hết tài năng văn học và sự am hiểu ngôn ngữ của mình vào việc phát triển tư tưởng dân tộc. Ông muốn có được một thứ tiếng nước Nam hoàn thiện, được nâng cao lên, có thể vượt lên việc dùng tiếng Pháp. Ông muốn duy trì triết học truyền thống được cập nhật và thích ứng với nhu cầu của đồng bào mình. Ông muốn cứu vớt nền văn minh nước Nam khỏi sự Âu hóa vội vàng mà ông thấy đó là tác hại vì một khi công việc đó làm hủy hoại thần thái giống nòi thì nó cũng hủy hoại luôn ngay cả tư tưởng về Tổ quốc. Những tư tưởng hoàn toàn đáng nể trọng và được bảo vệ một cách rất đáng chiêm ngưỡng này, vả chăng lại không được nói ra dưới dạng một chủ nghĩa quốc gia hiếu chiến đối với nước Pháp. Ông đủ khôn ngoan để vẫn coi uy quyền nước Pháp là cần thiết. Ông chấp nhận nó, thậm chí ông còn thích nó hơn tất cả các uy quyền nào khác, nhưng ông đòi hỏi ở nó một chủ nghĩa tự do và một thái độ vô tư để nó phải tôn trọng nước Nam, cho phép nước Nam dưới sự che chở yên ổn của nó được phát triển hết mức bản sắc độc đáo của mình”.

Và các bạn trẻ cũng dễ thấy những lời dưới dây là một ý tưởng đẹp: “Chúng ta hãy khép lại quá khứ và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới khẩu hiệu một chính sách thực sự tôn trọng lẫn nhau”.

Với cách nhìn nhận không bị ràng buộc bởi định kiến nên các bạn trẻ có được sự đánh giá rất thẳng thắn và công bằng. Nguyễn Thị Thu Nguyên, một giảng viên văn học trẻ, khoa Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã phát biểu: “Giờ đây khi mọi việc đã ngã ngũ, thật dễ dàng cho ta khi nói đến tính ảo tưởng trong các kiến nghị của Phạm Quỳnh. Song mấy ai nghĩ rằng, khi sự nghiệp không thành, mọi ước vọng đều có thể coi là “ảo tưởng”! Các nhà Cần Vương “phò” một triều đình rệu rã mà không ảo tưởng? Các nhà trí thức mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục và tổ chức phong trào Đông du đầu thế kỷ XX ở Việt Nam thì trông đợi vào những ảo tưởng nào? Và tất cả những chí sĩ đó cũng chẳng thua gì về ảo tưởng so với các nghĩa sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị bêu đầu. Hoặc giả những nghĩa sĩ cung cấp dòng máu trong tiếng trống Xô Viết Nghệ Tĩnh thì bớt ảo tưởng hơn? Tất thảy vẫn đang là ảo tưởng được diễn đạt theo những cách khác nhau mà thôi”.

Bùi Mạnh Hảo, một luật sư trẻ rất yêu văn học và rất quan tâm đến những cuộc tranh luận về Truyện Kiều, mới đây đã viết thư cho nhà tôi, trong đó có đoạn: “Tầm mức lớn lao thật sự của ông nhà (Học giả Phạm Quỳnh) theo cháu nghĩ, đó là nhà tư tưởng lớn của đầu thế kỷ XX. Mọi quốc gia, mọi dân tộc đều có thể chung sống hòa bình nếu họ hiểu được nhau trên cơ sở hội nhập, giao thoa các nền văn hóa, văn minh, đặc biệt trục Đông-Tây và tỉnh táo, cùng với tính kiên nhẫn cần thiết thì không cần phải chiến tranh. Vì vậy, ông nhà có làm văn hóa cũng là để kiên trì phục vụ cho mục tiêu của lý tưởng này. Tư tưởng này rất kỳ lạ, chỉ có những người tường tận các nền văn minh nhân loại và văn hóa tính của các dân tộc mới nhìn xa đến như vậy; lòng yêu nước thương dân trong tư tưởng này cùng với tính cách mạng đặc trưng không kém hơn Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Lịch sử là không thể thay đổi, nhưng những gì thuộc về thiên tài và vĩ đại lại cần đến trọng tài thời gian tựa hồ như âm bản hiện dần lên thành dương bản vậy…”.

Cách nhìn nhận trong sáng, thẳng thắn và công bằng đó đã giúp cho tinh thần chúng tôi thuộc thế hệ con đã đến tuổi xế chiều bớt lo lắng vì chưa làm được bao nhiêu để khôi phục sự nghiệp của cụ thân sinh.

Hôm đó rất nhiều người, nhất là các bạn trẻ mua sách của học giả Phạm Quỳnh, họ còn muốn lấy cả chữ ký của chúng tôi, khiến Phạm Tuyên và cả tôi phải ký liên tục, mỏi cả tay, nhưng rất vui.

Trong phòng khách nhà tôi, nơi trang trọng nhất có treo một bức hoành phi sao lại từ chùa Vạn Phước (ngôi chùa mà cụ thân sinh chúng tôi là một trong những người góp phần gây dựng và thường hay đến đó đọc sách), nội dung viết bằng chữ nho THỔ NẠP ÂU Á, được nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã cắt nghĩa: “Ông (tức là Phạm Quỳnh) là người đã chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu giữ gìn cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được”. Con cháu trong gia đình họ Phạm đều thấu hiểu tinh thần đó và sống theo gương cụ.

Hiện nay, không chỉ gia đình chúng tôi mà khá đông người dân, nhất là giới trí thức đều mong muốn đén một ngày (càng sớm càng tốt) bản án Phạm Quỳnh sẽ được lịch sử phán xét một cách công bằng, như lời Hồ Chủ tịch đã nói với hai bà chị của nhà tôi khi có gia biến năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, rồi sẽ được lịch sử đánh giá lại”. Chúng tôi chỉ mong lịch sử sẽ phán xử công minh đối với con ngươi và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh. Những gì đúng, những gì sai cần được khẳng định với chứng cứ xác thực, chớ nên chỉ dựa vào dư luận theo kiểu dư luận của cái làng Mùi mà Lỗ tấn đã viết trong AQ chính truyện: “Còn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí rằng: AQ không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bán. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!” (Lỗ Tấn, Gào thét, NXB Văn hóa, Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính). Bây giờ tài liệu về học giả Phạm Quỳnh sưu tầm được cũng đã rất nhiều, có thể tới hàng vạn trang sách, bài báo và những chứng cứ của người cùng thời. Hơn nữa, trong giai đoạn đổi mới và cởi mở của đất nước, chúng ta có thể nghe tiếng nói của nhiều phía nhằm đi đến những nhận định một cách khách quan, khoa học về con người và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh, đừng để hậu thế luôn mắc nợ với tiền nhân.

“Thời gian như thứ thuốc hiện hình” là bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc đăng trên báo Lao động cuối tuần (số 35 từ ngày 29-31/8/2008) có đoạn viết: “Một nhạc sĩ cách mạng danh tiếng bao năm vẫn khắc khoải với cái chết của cha mình- một vị Thượng thư lại cũng là một nhà văn hóa danh tiếng, trong biến cố lịch sử này (cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945). Cho dù giới sử học đã tìm ra những văn bản do chính quyền địa phương ban hành xác nhận vị Thượng thư đã từ quan ấy bị “cách mạng trừng trị”. Nhưng danh tiếng của nhà văn hóa đó ngày một được khẳng định, tự nó cũng nói lên một điều gì đó về sức mạnh của thời gian, nhất là nhiều tác phẩm của ông đã được in lại”. Đúng, với lịch sử, thời gian là thứ thuốc hiện hình, khiến cho chúng tôi càng thêm hy vọng lịch sử sẽ trả lại giá trị đích thực cho người làm nên giá trị đó.

Cũng với hy vọng đó, ngay giữa năm 2008, Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lịch sử Việt Nam đã gửi thư lên các cấp lãnh đạo của tỉnh Hải Dương và huyện Bình Giang (quê hương của học giả Phạm Quỳnh) với nội dung như sau: “…Nhiều người mong muốn chúng ta quan tâm đến cống hiến về văn hóa, báo chí…của học giả Phạm Quỳnh, quê ở Bình Giang. Tôi cũng tán thành và đề nghị các đồng chí xem xét có thể mở một cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề là: Học giả Phạm Quỳnh với tờ báo Nam Phong”.

Cầu mong cho điều đó chóng được thực hiện trong một ngày không xa!

LỜI BẠT

Thế là cuộc sống của mỗi chúng tôi đã trải qua được hơn 70 năm, so với tuổi thọ ngày nay thì cũng được xếp vào hạng trung bình. Nếu trời cho sống thêm ít năm nữa thì sẽ được lãi. Cầu mong cho những ngày tới sẽ là cuộc sống có lãi: khỏe mạnh, vui tươi và có ích. Ngẫm lại trong hơn 70 năm qua hai chúng tôi đã yêu thương gắn bó với nhau và đã làm những việc có ích cho cuộc đời. Hơn nữa, chúng tôi lại tự đặt ra cho mình phương châm sống là đừng có ảo tưởng mà dễ bị vỡ mộng và cũng đừng có quá kỳ vọng mà dễ bị thất vọng, nên tinh thần chúng tôi luôn được thanh thản.

Mỗi chúng tôi, ai cũng thừa kế được từ gia đình mình những ngọt bùi, những cay đắng, mà nỗi khổ lại chiếm đa phần. Chính nhờ đó, trên con đường đời chúng tôi đã có những nỗi khổ để mà thử sức, để mà vượt qua, để mà lớn lên và để mà chiến thắng số phận. Và hai chúng tôi đã bên nhau giành lấy hạnh phúc từ trong những nỗi khổ ấy.

Cuộc sống vốn không công bằng, phải tìm cách thích nghi với nó”, lời của Bill Gates, một trong rất ít nhà tỷ phú giàu nhất nước Mỹ, cũng là giàu nhất thế giới, thế mà nghiệm. Ở đâu cũng có bất công, chúng ta không chỉ thích nghi mà còn cần phải tìm cách xóa bỏ bất công, nhưng thật khó, bởi cuộc sống vốn bất công! Vậy thì cần phải sống như thế nào? Hãy yêu thương nhau! Hãy làm việc đi! Chỉ có tình yêu và công việc mới vượt qua bất công. Phải nói rằng những ngày được yêu thương và được làm việc là những ngày hạnh phúc. Và chúng tôi đã hạnh phúc và vẫn cảm thấy hạnh phúc cho tới tận bây giờ, bởi chúng tôi vẫn thương yêu nhau, vẫn làm việc đều đặn cho đến tận hôm nay. Chúng tôi vẫn bảo nhau cứ làm việc đi! Cứ yêu thương nhau đi! Cuộc sống của mình chắc chắn hạnh phúc, vì hạnh phúc không tự trên trời rơi xuống. Đó là điều trải nghiệm sâu sắc nhất của đời người và đó là triết lý sống của chúng tôi.

Cầu mong cho cuộc sống của con cháu chúng tôi sau này sẽ tốt đẹp hơn cuộc sống của ông bà cha mẹ chúng. Biết làm người tử tế có ích cho cuộc đơi, đó là lẽ sống mà chúng tôi muốn truyền lại cho con cháu sau này.

N.A.T.

Tháng Bảy 2, 2017

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí ra đời

(Tin đăng trên www.tuoitre.vn lúc 15:33 ngày 01/07/2017)

Sáng 1-7, tại khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh (phường Trường An, TP Huế) đã diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí – một trong những ấn phẩm báo chí chữ quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam – ra đời.

Buổi lễ do đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế chủ trì. Tham dự buổi lễ gồm những nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa và cả những người dân sống gần khu vực mộ phần cụ Phạm Quỳnh.

Trong không khí trang nghiêm, mọi người có mặt tại buổi lễ đều kính cẩn nghiêng mình để tưởng nhớ đến nhà chí sĩ Phạm Quỳnh – người có công tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để thay thế tiếng Hán và tiếng Pháp vào đầu thế kỷ 20.

Ông Phạm Hữu Thanh Tùng, đại diện hội đồng họ Phạm tại Huế, cho biết hội đồng đã cùng nhiều nhà nghiên cứu Huế dày công sưu tập được hơn 40 tác phẩm của cụ Phạm Quỳnh và gần như trọn bộ hơn 200 ấn phẩm Nam Phong tạp chí.

“Đây đều là những tư liệu quý phục vụ trong việc nghiên cứu văn học, báo chí. Nếu có cơ hội chúng tôi sẽ phối hợp với các bên liên quan để mở một cuộc triển lãm về cụ Phạm Quỳnh” – ông Tùng nói.

Cụ Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu.

Cụ Phạm Quỳnh cũng là chủ bút và chủ biên của tờ nguyệt san Nam Phong tạp chí, xuất bản số đầu tiên vào ngày 1-7-1917.

Tờ nguyệt san này là một trong những ấn phẩm báo chí dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu – Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ nho.

Nhật Linh

  • Trần Biên Hòa 17:38 01/07/2017

Tôi ngưỡng mộ cụ Phạm Quỳnh từ năm học lớp 9 ở miền Nam (1973), khi thầy giáo dạy môn văn giới thiệu cụ và công lao phổ biến chữ quốc ngữ qua Nam Phong tạp chí.

  • hồng ngự 22:02 01/07/2017

chân lý cuối cùng vẫn là chân lý

  • dongle 21:17 01/07/2017

Sao ở Huế không có tên đường Phạm Quỳnh nhỉ?

  • Kim Dung 19:13 01/07/2017

Làm thế nào tiếp cận được những tư liệu hay những bài báo của cụ , về cụ . Ngưỡng mộ , thành kính Cụ , nhạc sỹ Phạm Tuyên và gia đình . Chúc hậu duệ của cụ bình yên ,

  • Trần Quang 20:19 01/07/2017

Cụ dưới suối vàng cũng yên lòng.

  • Vũ Vinh 09:48 02/07/2017

Tôi đã được đọc một số bài viết của Cụ Phạm Quỳnh và thấy Cụ thực là một người yêu nước, yêu văn hoá Việt. Tôi tin rằng sự công bằng của lịch sử sẽ trả lại chỗ đứng xứng đáng cho Cụ với tư cách nhà văn hoá, nhà khai phóng của Việt Nam.

  • Pham Han 08:31 02/07/2017

Nhà nước ta nên có 1 chương trình, dự án dài hạn 5 ,10 năm hoặc hơn nữa, về dịch thuật tất cả các văn bản chữ Nôm, Việt ngữ hóa tất cả các từ và văn bản Hán Nôm ra 1 hệ Việt ngữ thống nhất và lưu hành chính thống trong cả nước và thế giới, để các thế hệ mai sau dễ tiếp cận, đồng thời cắt các từ hán trong văn chương Việt Nam.

  • Nguyễn Ngọc Lanh 11:56 02/07/2017

Cụ Phạm được xếp đứng đầu Tứ Đại Học Giả nước ta khi cụ sống và hoạt động văn hóa (Quỳnh – Vĩnh – Tố – Tốn).

Qua hoạt động văn hóa, cụ còn đóng góp lớn cho việc phổ biến chữ quốc ngữ.

Tháng Bảy 1, 2017

Lễ tưởng niệm 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Lễ tưởng niệm nhân 70 năm ngày mất của cụ Phạm Quỳnh tại Huế

Sáng ngày 13-9-2015, nhằm ngày mồng 1-8 năm Ất Mùi, tại chùa Vạn Phước, thành phố Huế, Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và gia đình cụ Phạm Quỳnh tổ chức lễ dâng hương tại mộ phần và lễ cầu siêu tại chùa cho cụ Thượng Chi nhân tròn 70 năm ngày mất của cụ.

Nhân dịp này các nhà báo Hoàng Phước, Thanh Tùng (Phạm Hữu Thanh Tùng), Thuỷ Trường đã kịp hoàn thành và tổ chức ra mắt cuốn sách “Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế”. Tác phẩm được hình thành từ những bài viết đã in trên các báo in, báo điện tử, một số tham luận trong Pham Tuyen dang huong truoc mo Pham Quynhbuổi ra mắt cuốn “Phạm Quỳnh – một góc nhìn”, tập 2, do Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một nhà nghiên cứu người Huế, sinh sống ở Hà Nội, tổ chức bản thảo, NXB Công an nhân dân ấn hành. Buổi ra mắt và giới thiệu cuốn sách này do Thường trực Hội Đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế và Trung tâm Du lịch Huế xưa Huế nay tổ chức (tại Huế) vào tháng 8-2012.

“Phạm Quỳnh – Những góc nhìn từ Huế” do NXB Thuận Hoá ấn hành đầu tháng 9-2015. Sách dày 200 trang, khổ 13x19cm. Cuốn sách tiếp tục đưa ra những góc nhìn khác nhau, những góc nhìn mới, và cởi mở, nhằm tiếp tục nhận diện lại chân dung nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh một cách trung thực; góp phần thẩm thấu hơn nữa những giá trị văn hoá thuộc về học giả đa tài Phạm Quỳnh và những góc khuất lịch sử cần được làm sáng tỏ.

Chúng tôi xin giới thiệu bài phát biểu của nhà báo Phạm Hữu Thanh Tùng, Uỷ viên Thường trực Hội đồng Toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, và một số hành ảnh tại buổi lễ tưởng niệm cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Cụ Phạm Quỳnh mất ngày mồng 6 tháng 9 năm 1945, và nằm lại ở vùng gò đồi Hiền Sĩ, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau mười năm “cát bụi chân ai”, như là một sự ngẫu nhiên của định mệnh, cụ được cải táng về chùa Vạn Phước, ngày trước là ấp Bình An, thuộc Phủ Dương Xuân. Sinh thời, những lúc mỏi mệt, căng thẳng, sau giờ làm việc cụ Phạm thường lên đây thư giản, tĩnh tâm, tìm về nơi chốn thanh thản của tâm hồn.

Mộ phần cụ Phạm tựa lưng vào chùa Vạn Phước, phía trước là chùa Thiền Lâm.

Nơi đây từng là dinh phủ của Thái sư Bùi Đắc Tuyên và các công quán của triều Tây Sơn. Vì thế, ở dưới cửu tuyền chắc là ngày ngày cụ được đọc sách, bình thơ, ngẫm sự đời, luận bàn nhân sinh thế sự cùng các bậc trung thần và văn nhân như: Ngô Thời Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngọc Hân công chúa. v.v…

Sau một cuộc đời oan nghiệt, còn có gì đáng quý hơn là ngày ngày cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh được yên vui trong tiếng chuông chùa và tiếng gõ mõ, cầu kinh giải oan bạt độ.

Sinh thời cụ Phạm là dịch giả, nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị. Thời trai trẻ cụ đã làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ. Từ năm 1913 cụ đã có nhiều bài báo gây sự chú ý trên tờ Đông Dương tạp chí. Năm 1917, cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí. Năm 1922, với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức, cụ sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Macxây, rồi lên Paris diễn thuyết ở nhiều diễn đàn.

Cụ Phạm là người tiên phong trong quảng bá Quốc ngữ, dùng chữ Việt thay chữ Hán và chữ Pháp. Cụ để lại câu nói nổi tiếng: Truyện Kiều còn tiếng ta còn; Tiếng ta còn nước ta còn.

Le dang huong Pham QuynhNăm 1932, đang làm Chủ bút Nam Phong tạp chí, ở Hà Nội, thì cụ Phạm được triệu về kinh giữ chức Thượng thư Bộ Học, rồi Thượng thư Bộ Lại, kiêm quản Tổng lý Ngự tiền văn phòng. Thời kỳ dấn thân quan trường cụ Phạm kiên trì đấu tranh cho độc lập chủ quyền, tự trị của dân tộc; cụ thể là đòi khôi phục quyền hành của triều Nguyễn trên cả ba kỳ. Cụ đề xướng thiết lập nhà nước quân chủ lập hiến, được vận hành bằng hiến pháp, quy định rõ quyền của dân, quyền của vua quan, và của chính quyền bảo hộ. Nhưng chủ trương cải cách chính trị của cụ Phạm đã không thành trong bối cảnh Nhật Pháp đánh nhau, đồng thời là “đêm trước của cách mạng vô sản” ở Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nội các Trần Trọng Kim thành lập, cụ Phạm rút lui khỏi chính trường về làm dân, sống ở biệt thự Hoa Đường, bên bờ sông An Cựu.

Lễ giỗ lần thứ 70 của cụ Phạm được tổ tại Huế trong ngày hôm nay, 1-8, và tại Từ đường, ở Hà Nội, vào ngày mồng 4 tháng 8 năm Ất Mùi – 2015.

Hôm nay, các nhà sư ở Tổ đình Vạn Phước sẽ làm lễ cầu siêu, giải oan bạt độ cho cụ Phạm. Trước lễ cầu siêu Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế cùng con cháu nội ngoại tổ chức lễ dâng hương cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh tại mộ phần.

Đến dâng hương cụ Phạm Quỳnh, ngoài đại diện Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế, nội thân, ngoại thân, còn có sự hiện diện của đoàn đại biểu Hội Đồng Họ Phạm Quảng Nam – Đà Nẵng, Hội Đồng Họ Phạm làng Thanh Thuỷ Thượng, thị xã Hương Thuỷ, dòng họ Phạm có gốc ở Phủ Hạ Hồng, tỉnh Hải Dương. Nhiều vị trí thức, văn nghệ sĩ tại cố đô Huế, những người kính trọng, ngưỡng mộ tài năng, nhân cách của cụ Thượng Chi; có sự ảnh hưởng tích cực của cụ trên con đường hoạt động văn hóa nghệ thuật của mình đã đến dâng hương và dự lễ cầu siêu.

Phạm Hữu Thanh Tùng

Một số hình ảnh tại lễ tưởng niệm

Ảnh: Anh Tú

 Hoi Dong Ho Pham dang huong le tuong niem pham quynh

Gio cu Pham Quynh

Dai dien ho Pham lang Thanh Thuy Thuong dang huongNha tho Nguyen Khoa Diem dang huongNha tho Ngo MinhNha bao Thanh Tung phat bieu tai le dang huongNhac si Pham Tuyen tam su chuyen doiNha su hoc Duong Trung Quoc phat bieu

 

 

 

 

Tháng Sáu 30, 2017

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí thử tìm một cách lí giải

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:36 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 7 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1/7/2017)

Nhân 100 năm NAM PHONG TẠP CHÍ, thử tìm một cách lý giải

Nguyễn Đình Chú

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 484 từ trang 48 đén trang 53 và trang 65)

Nam Phong tạp chí ra đời với vai trò chủ bút Phạm Quỳnh (trừ hai năm cuối) từ năm 1917 đến năm 1934, gồm 210 số, tính đến nay vừa tròn 100 năm tuổi. Có thể nói đây là tạp chí bề thế nhất trong lịch sử tạp chí, báo chí ở nước ta trong thế kỷ XX, kể cả hiện nay. Nhưng cũng là tạp chí bị dồi lên dồi xuống, bị biến thành dây co của hai loại quan điểm đánh giá đối lập nhau như nước và lửa… và số phận của Nam Phong tạp chí cũng gần với số phận của ông chủ bút Phạm Quỳnh, vẻ vang bao nhiêu thì bi thảm cũng bấy nhiêu. Mà đây không chỉ là chuyện của bút giấy, đây còn là chuyện liên quan đến tính mạng một con người.

Người mở đầu công kích ông chủ bút là cụ Nghè chí sĩ Ngô Đức Kế, sau 13 năm tù Côn Đảo, ra Hà Nội làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, với bài bút chiến nhan đề “Luận về chánh học cùng tà thuyết”. Công kích bài diễn văn của chủ bút Phạm Quỳnh đọc tại buổi lễ Kỷ niệm Nguyễn Du do Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức tại Hà Nội ngày 8/91924. Theo cụ Nghè Ngô, những gì Phạm Quỳnh tán dương Truyện Kiều “Thiệt là “con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ, tà thuyết mê dân đến thế là cùng”. Với cụ, Truyện Kiều chỉ là thứ “ai dâm sầu oán đạo dục tăng bi”. Ông chủ bút Nam Phong im lặng. Nhưng cuộc bút chiến của cụ Nghè Ngô vẫn mở ra một giai đoạn tranh luận về Truyện Kiều kéo dài trong nhiều năm. Đặc biệt vào năm 1930, nhân việc Phan Khôi công kích Phạm Quỳnh im lặng không trả lời cụ Nghè Ngô là “học phiệt”, Phạm Quỳnh đã lên tiếng cho rằng mình im lặng vì không có 13 năm Côn Đảo và cuộc bút chiến này chỉ là chuyện “hàng thịt nguýt hàng cá” trong nghề báo chí. Trước tình hình này, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng bênh vực chí sĩ họ Ngô và tiếp tục chê bai Truyện Kiều. Cuộc bút chiến của hai nhà chi sĩ chỉ trực tiếp đụng đến ông chủ bút Phạm Quỳnh nhưng gián tiếp cũng là với Nam Phong tạp chí.

Đúng là số phận ông chủ bút Nam Phong ngay ở thời Pháp thuộc đã gặp phải sự quy kết không kém phần nặng nề. Tuy thế, dưới thời Pháp thuộc, thanh danh của Tạp chí Nam Phong gắn liền với chủ bút Phạm Qynhf vẫn theo thời gian mà tỏa sáng… Năm 1933, trong “Phê bình và cáo luận”, Thiếu Sơn đã viết: “Có nhiều người không biết đọc văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà có được cái tri thức phổ thông tạm đủ sinh hoạt ở đời. Có nhiều ông đồ Nho chỉ đọc Nam Phong mà cũng biết được đại khái những văn chương học thuật của Tây phương”. Nhà thơ Đông Hồ, từng là cộng tác viên của Nam Phong, trên tờ báo Sống ngày 9/4/1935, cũng đã viết: “Người đồng chí yêu quý thì đã đành, người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng. Tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng. Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh dự đặc biệt như Nam Phong vậy”. Năm 1942, Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, nghiên cứu toàn diện, công phu về Nam Phong tạp chí, đã viết: “Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khiếm khuyết của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong tạp chí làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề về Đạo giáo, muốn biết  văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca từ đời Lý Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lích sử nước Nam, tiểu sử các danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ Hy Lạp, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu được. Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với văn đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều”. Riêng về ông chủ bút Phạm Quỳnh, tác giả Nhà văn hiện đại cũng đã nhận định: “Ông là ngời chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái tư tưởng. Lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình. Không mất bản sắc mà vẫn có cơ tiến hóa được”. “Nam Phong tạp chí được rực rỡ như thế cũng vì được người chủ trương là một nhà văn, học vấn đã uyên thâm, lại có biệt tài, có lịch duyệt. Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì. Từ thơ văn cho đến triết lý, Đạo giáo cho đến chính trị xã hội, không một vấn đề nào là không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy”.

Ở các đô thị tạm chiếm trước năm 1945 vẫn là sự tiếp tục đánh giá cao vai trò của Nam Phong tạp chí cùng ông chủ bút Phạm Quỳnh. Năm 1948, theo tác giả Chủ đích Nam Phong là Nguyễn Văn Trung thì Đào Đăng Vĩ trong cái buổi diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Huế, Sài Gòn đã ví Phạm Quỳnh là Descartes và nói về Phạm Quỳnh như sau: “Mặc dù cuộc đời chính trị của ông rất bị bàn cãi, tất cả dư luận văn giới Việt Nam ngày nay đều ca tụng tài năng hiếm hoi của Phạm Quỳnh và những công lao mênh mông mà ông đã làm cho tiếng nói và văn chương quốc gia”. Năm 1949, Hạo Nhiên Nghiêm Toàn trong Việt Nam văn học sử toát yếu thì nhận định: “Ảnh hưởng của Nam Phong rất lớn, không những gây dựng cho tiếng ta có đủ chữ phô bày hết mọi tính tình, ý niệm, lại phổ thông hóa những điều đại cương thiết yếu trong các học thuyết Đông Tây, mới cũ, và những điểm chính trong văn hóa cổ Việt như lễ nghi, phong tục, văn chương…”.

Ở miền Nam từ sau 1954 đến 1975, Nam Phong tạp chí cũng được sống lại một cách vẻ vang. Chu Đăng Sơn – Trần Việt Sơn  với Luận đề về nhóm Tạp chí Nam Phong (1961), Nguyễn Duy Diễn với Luận đề về Nam Phong (1961), Phạm Văn Diêu với Việt Nam văn học giảng bình (1961), Đàm Xuân Thiều và Trần Trọng San với Việt văn độc bản (1961), Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961), Thanh Lãng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1969), Doãn Quốc Sỹ với Văn học và tiểu thuyết (1972)… kẻ ít người nhiều, người nói kiểu này người nói kiểu khác, đã thành một dàn đồng ca ca ngợi Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thanh Lãng cho rằng Nam Phong là tạp chí có ảnh hưởng nhất từ xưa đến nay, là văn đàn tụ tập tất cả những nhà văn hóa thời danh nhất của thế hệ này và “dưới ngọn cờ Phạm Quỳnh, cả một đoàn nghệ sĩ tiến bước dùng dũng!”. Muốn hiểu văn học Việt Nam hồi này không gì tốt bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, là tất cả văn học thế hệ 1913-1932 nếu đem đốt Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913-1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch… Trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều đẹp, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người đều tuân theo, chữ Nam Phong chế ra người ta đều dùng. Người ta coi Nam Phong như bậc thầy. Riêng Nguyễn Văn Trung với thái độ khách quan trong khoa học, với Chủ đích Nam Phong (1975) thì đã làm một cuộc phỏng vấn nhiều người để biết thái độ hai chiều khen chê Nam Phong trong đó khen vẫn là chính.

Ở nước ngoài, Meillon, Giám độc viện Pháp – Việt (Institut Franco – Vietnamien) đã viết về Phạm Quỳnh như sau: “Phạm Quỳnh là tay cự phách trong văn giới Việt Nam ở tiền bán thế kỷ XX. Tạp chí Nam Phong đã đăng tải từ năm 1917 đến năm 1934 nhiều dịch phẩm và những bài khảo luận về Hán văn, Pháp văn và Việt văn. Ông đã để lại nhiều tác phẩm nào sách khảo luận tiểu thuyết, nào dịch văn, chứng tỏ một tay học vấn uyên bác và văn tài lỗi lạc. Vừa là một đại văn hào, một diễn thuyết gia tài ba vừa là chính trị gia xuất chúng, Phạm Quỳnh đã góp rất nhiều công lao vào cuộc thành tựu của nền quốc ngữ” (Đại cương văn học Việt Nam, Lời dịch của Nguyễn Thọ Dực, 1961). Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Việt kiều) trong Introduction à la littérature vietnamienne (Dẫn luận văn học Việt Nam), Paris 1969, cũng viết: “Nhóm Nam Phong đã tạo những huy hiệu cao cả và tìm kiếm con đường của mình”. Cũng tại Pháp, năm 1973, con gái chủ bút Nam Phong là Phạm Thị Ngoạn đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài Tìm hiểu tạp chí Nam Phong viết bằng tiếng Pháp, đến năm 1993 được dịch ra tiếng Việt. Nhân 100 năm sinh Phạm Quỳnh, có Phạm Quỳnh 1892-1992 Tuyển tập và di cảo (Bản quyền Phạm Thị Hoàn – An Tiêm – Paris).

Chuyện nhà chí sĩ Ngô Đức Kế năm 1924 và tiếp sau là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng năm 1930 lên án Phạm Quỳnh mới chỉ là thế. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí bị phủ nhận, bị lên án, là chuyện của miền Bắc sau năm 1954, một khi mà yêu cầu củng cố lập trường giai cấp vững chãi, xác định quan điểm địch – ta ngày một tăng trưởng trong đời sống chính trị xã hội. Ỏ miên Bắc năm 1957, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, được coi là viết theo quan điểm Mác xít của nhóm Lê Quý Đôn đã phê phán Nam Phong tạp chí. Tuy thế vẫn chưa phủ nhận trơn nó khi còn viết: “Nhưng dù lên án đúng mức, cũng không thể không ghi công lao lớn cho Nam Phong về vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển văn học”. Về trước, người ta còn hoài nghi khả năng của tiếng ta. Với Nam Phong, không ai còn chối cãi là tiếng ta chưa phải là một ngôn ngữ văn học, là một ngôn ngữ đang hiện đại hóa. Người ta có thể bảo văn của Nam Phong rườm rà, khễnh khạng, véo von, nhưng không có thể bảo đó không phải là văn. Tiếp đó, đẩy mạnh việc lên án chủ bút Phạm Quỳnh một cách gay gắt, khốn nỗi, lại chính là người đang viết những dòng chữ này. Ngày đó, nhân vớ được một tài liệu của mật thám Đông Dương nói về quan hệ giữa chủ bút Phạm Quỳnh với thực dân Pháp, trong khi ngồi trông con ở phòng cấp cứu của bệnh viện B, tôi đã viết bài “Thực chất cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12 năm 1960. Bài viết không đồng tình với thái độ nhẹ tay của nhóm Lê Quý Đôn về Nam Phong tạp chí và khẳng định “Cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều thực chất là một cuộc dấu tranh chính trị trên lĩnh vực học thuật. Chính trị ở đây là chính trị của những người yêu nước luôn luôn quan tâm tới lợi ích của đất nước dân tộc và chính trị của bọn tay sai bán nước thể hiện trung thành quyền lợi của bọn thực dân phong kiến thống trị”. Bài viết đã gây ra một cuộc tranh luận và tổng kết cuộc tranh luận, khốn nỗi, nhà nghiên cứu Tuấn Nghi lại nghiêng về phía tôi. Từ cuộc tranh luận này ở miền Bắc, tại Sài Gòn cũng có cuộc tranh luận tiếp theo về việc đánh giá Nam Phong tạp chí. Năm 1965, tạp Pháp, Maurice Durant trong công trình Mélanges sur Nguyễn Du đã lược thuật bài viết của tôi. Năm 1962, giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập IV do Lê Trí Viễn và tôi biên soạn, trong phần viết về “Văn học hợp pháp” do Lê Trí Viễn chấp bút lại đã liệt Nam Phong tạp chí vào cái gọi là “Văn học nô dịch” tức là thứ văn học phục vụ chính sách cai trị của thực dân Pháp. Cùng chung không khí này sư phụ của tôi, giáo sư Đặng Thai Mai, trong chuyên luận Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900-1925) đã thêm một lần lên án Nam phong tạp chí “một công cụ hết sức tốt của chủ nghĩa thực dân trong mười mấy năm ròng” và phủ nhận chủ bút Phạm Quỳnh. Xu hướng kết tội Nam Phong và Phạm Quỳnh vẫn tồn tại sau 1975. Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988) vẫn viết: “Trước sau đại chiến (1914-1918), thực dân cho bọn tay sai Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh ra Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, loại sách Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn học Pháp, vừa đề xướng một tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu đánh lạc hướng quần chúng”.  “Phạm Quỳnh đã cổ động cho văn hóa điều hòa tân cựu, thổ nạp Á Âu, hô hào xây dựng nền quốc văn mơn trớn, lôi kéo cả cựu học lẫn tân học,… đề cao Pháp, lái thanh niên trí thức vào hoạt động văn hóa, văn học, đánh vào lòng tham danh vọng của họ”… Đúng là một thời do yêu cầu khẳng định lập trường cách mạng mà như thế với Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Thế nhưng giữa cái thời buổi “lập trường” lên ngôi như thế, tác giả của Kép tư bền (Nguyễn Công Hoan) trong Đời viết văn của tôi khởi thảo năm 1957, hoàn thành năm 1969, in năm 1971 lại đã viết: “Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi  lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị là một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng là một người dân mất nước, ai không đau lòng, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra truyện Kép tư bền là một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha anh đương hấp hối”.

Cuộc kéo co giữa hai quan điêm hai hệ quy chiếu trên thân phận Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong là như thé… Nhưng xem ra thời gian và xu thế đổi mới của đất nước đã và đang ủng hộ Nam Phong tạp chí và chủ bút Phạm Quỳnh. Cứ ra các hiệu sách lớn trong Nam ngoài Bắc sẽ thấy hầu hết văn nghiệp của Thượng Chi Phạm Quỳnh đã được in lại. Theo nhịp độ biến chuyển của thời tiết nhận thức, việc đánh giá của giới học thuật đã hạ nhiệt dần và trở lại tôn vinh trong không ít sách nghiên cứu, luận văn, luận án. Nếu tôi không lầm thì trong vài chục năm trở lại đây. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một trong số ít người ngốn giấy mực của đất nước nhiều nhất. Trong xu thế “của Xéda trả lại cho Xéda”, câu chuyện gặp gỡ giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến (Việt kiều) năm 1922 tại Paris để hội đàm về con đường cứu vận nước do Lê Thanh Cảnh vốn là bạn học với Nguyễn Tất Thành ở Quốc học Huế, lúc này là phiên dịch cho đoàn Bảo Đại sang Paris bố trí, viết hồi ký kể lại, được nhiều người biết đến. Rồi sách báo đó đây còn nói sau cái chết của cụ Phạm, Bác Hồ có nói: “Cụ Phạm là một nhân vật lịch sử. Cụ Phạm nếu còn thì sẽ có ích cho đất nước”. Và Tố Hữu vốn là Bí thư tỉnh bộ Việt Minh Thừa Thiên – Huế ngày Cách mạng tháng Tám. Khi có người hỏi về chuyện cái chết của họ Phạm, thì đã nói đó là điều mình ray rứt bao nhiêu năm nay. Những câu chuyện như thế thực hư đến đâu chưa rõ nhưng đã hỗ trợ rất đáng kể cho xu thế nhận thức lại họ Phạm. Còn kẻ bỉ nhân này đã qua cái thời ngựa non háu đá, biết mình sai nên năm 1990, trong Tác gia văn học Việt Nam tập I, cũng đã đổi giọng được chút ít như sau: “Phạm Quỳnh viết đủ thứ đủ loại như vậy và đương thời đã tạo được một uy danh không nhỏ, nhưng cũng đương thời dưới con mắt của nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, thì chỉ là cậu bé đang “lom lem những học thuyết ông Mạnh ông Lư”, “bập bẹ những cách ngôn họ Trang họ Liệt” và sau này, dưới con mắt học giải Đặng Thai Mai thì là người “đủ tiếng Tây để lòe người Việt, và đủ tiếng Việt để lòe người Tây”… Ấy mới hay: Chưa cần biết động cơ gì, sống trên đất nước ta, hễ cứ dính với kẻ thù ngoại bang thì trước hết phải chịu sự phán xét, sự phủ nhận đó. Mặc dù, nói cho công bằng, ngoài phần độc tố gây  hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học Việt Nam trong thời cận đại này”. Năm 1991, nhân dịp vào Huế, tôi đã đến viếng mộ Phạm tiên sinh. Ngoài ra, tôi còn qua việc hướng dẫn luận văn luận án mà nhờ các môn đệ của mình trang trải thêm món nợ với Tiên sinh. Cuốn sách Văn trên Nam Phong tạp chí vốn là luận án Tiến sĩ xuất sắc của TS. Nguyễn Đức Thuận (nay là PGS.TS) ra mắt bạn đọc năm 2008 (Nxb. Văn học) là sản phẩm của ý đồ đó.

Bạn đọc kính mến!

Hiện tượng Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí không phải là hiện tượng duy nhất. Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… gần 100 năm qua trong đời sống học thuật của nước nhà cũng là thế. Họ bị biến thành giây co của hai hệ quy chiếu đối địch nhau quyết liệt. Nhưng thời gian và xu thế đổi mới của đất nước lại đã và đang ủng hộ họ. Tôi, ít nhiều cũng là người trong cuộc và tự mình cũng có sự chuyển biến trong nhận thức. Không giấu gì quý bạn, bao nhiêu năm nay, một câu hỏi cứ xoáy vào đầu óc tôi, buộc phải tìm câu trả lời: Tại sao trước những hiện tượng giấy trắng mực đen sờ sờ ra đó, không ai có thể thêm bớt, xóa dập gì mà người khen người chê ngược nhau như nước và lửa vậy? Lý thuyết tiếp nhận văn học không thiếu. Bản thân tôi, không làm lý luận văn học nhưng cũng thích nghĩ điều này điều nọ có tính chất lý thuyết, chủ yếu là từ thực tiễn nghiên cứu của bản thân mà nghĩ ra lý thuyết. Với cách đó, tôi đã nói đến quy luật cộng hưởng trong tiếp nhận văn học, rộng ra là văn bản nói chung là vô cùng phức tạp. Hi vọng có dịp sẽ trình bày thấu đáo với bạn đọc. Gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, lý thuyết diễn ngôn đang được các bạn trẻ đón nhận nồng nhiệt. Tôi hiểu không biết có đúng không, lý thuyết diễn ngôn là của phương Tây và sản phẩm trước tiên là của các nhà ngôn ngữ học mà các nhà lý luận văn học đã tiếp nhận. Nội dung cốt lõi của nó là sự tôn trọng quyền uy của ngôn ngữ. Nếu đúng thế thì đó là một biện pháp bảo vệ giá trị những hiện tượng văn hóa văn học như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… Nhưng với tôi, lại muốn có một cách lý giải nữa về những trường hợp này với hai ý chính sau đây:

  1. Trở lại với hiện tượng kéo co giữa hai hệ quan điểm đánh giá như trên đã nói, có thể thấy nguồn gốc của sự đối lập chính là do: bên tôn vinh là theo văn hóa luận đơn thuần và phi chính trị. Bên kết tội là xuất phát từ nhãn quan chính trị dù đó là các chí sĩ cứu nước trước hay giới Mácxit về sau. Còn với tôi hôm nay thì muốn từ nhận thức cuộc sống để đến nhận thức văn học, văn hóa. Đúng là vậy. Tùy theo cách nhận thức cuộc sống đơn giản hay phức tạp, phiến diện hay đa diện sẽ có kết quả nhận thức văn hóa văn học khác nhau, thậm chí đối địch nhau như trong các trường hợp đang nói. Cuộc sống của nhân loại trong đó có cuộc sống Việt Nam vốn có hai quy luật tồn tại cơ bản là độc lập (Indépendant) và phụ thuộc lẫn nhau (Interdépendant). Mà độc lập một khi bị ngoại xâm thì cũng có hai phương án: bạo động và không bạo động… Chỗ khác nhau giữa nước ta với không ít quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới là ở chỗ với nước ta, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Cha ông thuở trước đã vậy, con cháu sau này cũng vậy. Ai không theo phương án này sẽ bị lên án. Tuy nhiên, từ ngày thực dân Pháp xâm lược rồi thống trị nước ta, thì những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đã đi theo phương án hai, không chống Pháp mà có quan hệ với Pháp, làm việc với Pháp nên bị kết tôi. Phan Châu Trinh một thời bị các sử gia Mácxít đặt dưới Phan Bội Châu vì Phan chủ trương “Bất bạo động. Bạo động tắc tử”. Phan Bội Châu được đánh giá cao vị chủ trương bạo động nhưng khi chuyển sang chủ trương Pháp Việt đề huề thì bị coi là một điểm đen trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của đường lối cách mạng bạo động nhưng năm 1946, ký Hiệp đinh 6/3 và Hòa ước Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), đặt Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp là theo phương án phụ thuộc lẫn nhau mà kẻ thù thì rêu rao là bán nước nhưng nhân dân thì nhiệt liệt hoan nghênh sự sáng suốt, bản lĩnh cao cường.

Nhận thức về sự sống của đất nước từng liên quan đến nhận thức đánh giá Nam Phong tạp chí với chủ bút Phạm Quỳnh cũng như với mấy trường hợp tương tự đó là như thế. Còn như thừa nhận có quy luật phụ thuộc lẫn nhau (khác phụ thuộc) song song với quy luật độc lập thì chính đó sẽ là mảnh đất sống của những người như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, sẽ là cơ sở khoa học, là phương pháp luận nhận thức công lao của các vị với nước nhà, là cách lý giải về sự hồi sinh, sự ủng hộ của thời gian với các vị.

  1. Cũng là từ nhận thức cuộc sống mà nhận thức các hiện tượng văn học văn hóa đang nói. Còn có vấn đề nhận thức về tương quan giữa động cơ và hiệu quả trong sự sống. Phải chăng đã có sự khác nhau giữa đất nước ta trong một thời so với thế giới đó đây là ta thì coi trọng động cơ hơn hiệu quả. Còn họ thì ngược lại. Động cơ gì không cần biết. Chỉ căn cứ vào hiệu quả mà đánh giá. Bởi lẽ động cơ là thứ không có hình hài, không phải là vật thể, thường là do suy tưởng mà nói tới, mặc dù cũng vào căn cứ này nọ và trong thực tế cũng có đúng có sai. Nhưng chuyện đúng sai cũng không đơn giản. Trong khi hiệu quả thì ai ai cũng trông thấy dược, và nếu là hiệu quả tốt thì người đời sẽ được hưởng, có trường hợp với muôn đời. Các lãnh tụ Cần vương về động cơ cao đẹp là yêu nước và từ đó quyết tâm cứu nước được hậu thế mãi mãi tôn vinh. Nhưng hiệu quả thì vẫn thất bại, chưa giành lại được nước nhà. Trong khi với họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm là những người đã không chống Pháp, lại còn cộng tác với Pháp để hậu thể, không phải tất cả nhưng có một bộ phận, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đã lên án, kết tội thì thực tế, họ đã tạo ra những hiệu quả có lợi cho đất nước trong muôn đời. Xin quý vị bạn đọc đừng bắt tôi diễn giải nhiều thêm chỉ nói qua một chút. Hàng ngày chúng ta cầm tờ báo để đọc, hỏi ai là người khai mở đầu tiên, nếu không là Trương Vĩnh Ký. Cuối tuần chúng ta đến Nhà hát Tuổi Trẻ xem kịch nói chứ không phải tuồng chèo, hỏi ai là người góp sức buổi đầu bằng cách dịch tác phẩm kịch nói của Pháp để người Việt Nam ta biết thế nào là kịch nói mà xây dựng ngành kịch nói Việt Nam. Hàng ngày chúng ta, con em chúng ta đọc tiểu thuyết hiện đại có cấu trúc nghệ thuật khác tiểu thuyết chương hồi vốn gốc Trung Hoa, hỏi ai là người đầu tiên giới thiệu trên văn đàn Việt Nam thế nào là tiểu thuyết hiện đại một cách khá cơ bản như thế để giúp các nhà văn Việt Nam từ mô phóng mà sáng tạo thêm nếu không phải là Thượng Chi Phạm Quỳnh. Hiện nay đất nước có một nền văn xuôi tiếng Việt bề thế sáng giá như thế, hỏi ai là những người đặt nền xây móng đầu tiên nếu không là họ Trương, họ Nguyễn, họ Phạm… Tôi xin được nói thật ý nghĩ của tôi hiện nay là: Trương Vĩnh Ký là người tiên phong của công cuộc hiện đại hóa văn hóa và phần nào cũng là văn học Việt Nam thời cận đại. Dù với Trương chủ yếu mới là trên phương diện thực thi còn về lý thuyết thì chưa có gì đáng kể. Đến Nguyễn Văn Vĩnh thì vẫn là thực thi nhưng đã có ít nhiều lý thuyết. Còn Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí thì đã đi bằng hai chân: lý thuyết và thực thi… đáng coi là nhà đạo diễn của công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học nước nhà của những năm 20 của thế kỷ XX.

Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí, với phương châm khoa học là Recherche, nghĩa là tìm đi rồi tìm lại, hiện tại tôi đã tìm đến cách lý giải Nam Phong tạp chí gắn với chủ bút Phạm Quỳnh là như thế. Mong có sự chỉ bảo của quý vị bạn đọc.

Chú thích:

  1. Trong bài viết này, một số tư liệu, tôi đã lấy từ công trình của TS. Nguyễn Đức Thuận.

Gần đây nhất, trên tờ Đại Đoàn Kết – Tinh hoa Việt số 47 từ ngày 10/3 đến 23/3/2017 có bài “Chuyện ít được biết về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh: “Một mối thân tình” của nhà văn Sơn Tùng viết ngày 8/12/2008 (12/11 – Mậu Tý). Ở mục: “Ghi theo lời Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh” cho biết: “Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ… nói với ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản và Vũ Đình Huỳnh: Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới nhớ ra thì đã trễ, giờ chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp cụ Phạm Quỳnh trao thư tôi mời cụ”. Ngày 31/8/1945, vào lúc 10 giờ 30, sau khi biết Phạm Quỳnh bị bắt, hai con gái của cụ là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức muốn xin gặp Hồ Chủ tịch, thì Người đã tiếp hai chị em tại phòng khách và nói: “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành với cụ nhà ở Huế… Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ, khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội…” . Chị Phạm Thị Giá dâng thư lên Hồ Chủ tịch. Người chuyển sang ông Vũ Đình Huỳnh dặn chuyển sang Bộ Nội vụ và nói: “Những chuyện hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam nhá”. Ở mục “Cụ Đào Nhật Vinh ở số 13 phố Nguyễn An Ninh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Quê ở Trực Ninh, Nam Định” cho biết cụ Vinh là người năm 1913, từng làm việc trên tàu Viễn Dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành, từ 1919 đến 1923, thân giao với Nguyễn Ái Quốc đã kể nhiều chuyện trong đó có chuyện: “Ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh mấy lần đến nhà ông Tạ Văn Cấn đàm đạo với cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc”, “Đầu tháng 7/1922, tôi trong Hội chợ… đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm”. Ngày 13/7, tôi đến sớm làm bữa cơm Bác thiết khách Bắc. Tôi tự hỏi vị khách quý nào mà cụ Nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi. Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng… Chỉ có ba vị trong phòng thôi, và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa. Tôi được dự đồng bàn đồng bữa với ba vị và hầu chuyện.

Tháng Sáu 15, 2017

Nửa giờ với cựu thủ tướng Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 6 năm 2017.

NỬA GIỜ VỚI CỰU THỦ TƯỚNG PHẠM QUỲNH

Thanh Tịnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan về Huế, vừa gởi cho chúng tôi bài này. Trong Từ điển văn học bộ mới của nhà xuất bản Thế Giới năm 2014, mục từ Thanh Tịnh từ trang 1635-1636 viết:

“(12.XII.1911-17.VII.1988), Nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Các bút danh khác: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trịnh Thuần (sau 1945). Tên thật Trần Văn Ninh. Từ sáu tuổi, được đổi là Trần Thanh Tịnh. Nguyên quán: xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Nguồn văn nghệ dân gian phong phú của Thừa Thiên – Huế đã sớm ảnh hưởng đến ông. Phần lớn thơ văn của ông đều bắt nguồn từ giọng hò câu hát trên sông nước quê hương. Thanh Tịnh được học chữ Nho đến 11 tuổi, rồi tiếp tục học tiểu học và trung học ở Huế.

Khi đi học ông đã ham thích văn chương. Hai nhà văn Pháp nổi tiếng Đôđê và Môpaxăng có ảnh hưởng không nhỏ đến văn phong của Thanh Tịnh sau này. 1933, đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn làm thơ và cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị… sáng tác đầu tay: Cha làm trâu, con làm ngựa (Thần kinh tạp chí, 1934).

Ông không thành công trong lĩnh vực viết truyện dài (Xuân và Sinh, 1944), nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn. Tập thơ Hận chiến trường (1937) và nhiều bài khác đăng trên các báo ở Huế và Hà Nội mang phong cách lãng mạn đậm nét. Thơ ông, trong những bài tiêu biểu nhất như Tơ trời với tơ lòng, Vì đàn câm tiếng, Rồi một hôm, Muôn bến… thường mượt mà, tinh tế, hàm súc nhưng hơi buồn và in rõ dấu ấn bâng khuâng, thơ mộng của truyền thống văn hóa, tinh thần xứ Huế. Thành công hơn cả trong chặng đường sáng tác này là các tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943) trong đó có nhiều truyện đẹp, trong sáng và gợi cảm.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ. Gia nhập bộ đội 1948, tham gia phụ trách Đoàn kịch Chiến thắng của Bộ Tổng tư lệnh Quân độ nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến, ông khai sinh ra hình thức độc tấu. Nghệ thuật trình diễn độc đáo này rất được phổ biến trong nhân dân. (…)

Từ năm 1954, tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông viết nhiều thơ trữ tình, thơ đả kích, ca dao, độc tấu, nhận xét nhỏ, hồi ký… đăng trên các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Phụ nữ, Tiền phong, Tổ quốc, Thiếu niên tiền phong, v.v… Tác phẩm chính sau cách mạng: Sức mồ hôi (thơ, 1954), Những giọt nước biển (tập truyện ngắn, 1956), Đi từ giữa một mùa sen (truyện thơ, 1973), Thơ ca (tuyển tập, 1980)…Thơ của ông giai đoạn này có sự chuyển biến rõ rệt. Do có nhiều gắn bó với nhân dân, ông phấn đấu “ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đậm màu dân gian”. Ông viết nhiều ca dao, một số bài rất quen thuộc với người đọc (Nghe lThanh Tinhời Bác dạy, Sức mồ hôi, Dân no thì linh cũng no…). Mảng thơ trữ tình của giai đoạn này nhìn chung không trội. Ông viết thiếu lắng đọng, tinh tế, trừ một số bài đã kế thừa, phát huy một cách tích cực phong cách lãng mạn, trong phần thành công nhất của chính tác giả trước đây (Nhớ Huế quê tôi, Gặp lại). Truyện thơ Đi giữa một mùa sen gồm tám đoạn, dài non hai ngàn câu, kể về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh từ lúc chào đời đến năm 15 tuổi… đây là một công trình lao động nghệ thuật công phu của Thanh Tịnh. Ông sưu tầm tài liệu và viết trong nhiều năm. Tác phẩm viết dưới hình thức kể chuyện, mang đậm phong cách dân gian và hợp với giọng điệu tâm tình của thơ ông.

Tập truyện ngắn Những giọt nước biển phần lớn gồm những bài ông viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Mỗi truyện như một bài thơ nhỏ, ghi lại hình ảnh những người nông dân bình thường miền xuôi cũng như miền núi, gan dạ một cách hồn nhiên, dung cảm một cách lặng lẽ, hoạt động phục vụ sự nghiệp chiến đấu chống ngoại xâm.

Nhìn chung tác phẩm Thanh Tịnh đậm chất trữ tình. Thông qua tâm hồn tác giả hiện thực cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc, không phải chỉ ở bề ngoài, mà ở cái linh hồn sâu kín bên trong. Văn Thanh Tịnh gợi cảm, đằm thắm và trong sáng. Như Thạch Lam nhận xét, tác phẩm của Thanh Tịnh “truyện ngắn nào hay đều có chất thơ và bài thơ nào hay đều có cốt truyện”. Thanh Tịnh mất ở Hà Nội.

Trần Hữu Tá

* Bài sau đây đăng trên Việt Nam Tân báo số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945 tức là sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập. Chức vụ cuối cùng Phạm Quỳnh giữ trong triều đình Huế là Thượng Thư Bộ Lại, như chức thủ tướng chính phủ.

Bài này góp thêm một chứng cứ khách quan nữa bác bỏ các luận điệu bịa đặt, vu khống nói rằng Phạm Quỳnh “câu kết với Nhật” hoặc “nằm im chờ Pháp đến giải cứu” hòng phục hồi chức vụ và quyền lợi của các kẻ bán nước như một số người đương thời và hậu thế từng đưa ra để “kết tội ông cho xứng với bản án tử hình mà ông đã phải chịu tháng 9/1945”.

—o0o—

Một buổi chiều nắng nhạt trong biệt thự Hoa Đường gần bờ song An Cựu. Tôi đưa giấy nhờ người nhà đem vào để xin yết kiến. Hai phút sau Phạm Tướng công đã lộ hình trong khung cửa giữa. Mắt nhìn vào mảnh giấy, một lát ông nhìn tôi rồi cười hỏi:

  • Anh Thanh Tịnh đấy à? Thế mà tôi nhìn mãi chữ ký không nhận ra.

Tôi không bỏ dịp tốt:

  • Cụ cho biết cảm tưởng của cụ đối với Nội các mới.

Với nụ cười vẫn giữ luôn trên môi ông nói:

  • Cảm tưởng thì tốt lắm. Tôi rất hoan nghênh Nội các mới. Các vị Bộ trưởng mới, phần nhiều tôi đã biết người biết tiếng cả. Riêng cụ Trần Trọng Kim lại nhiều dây liên lạc đằm thắm hơn. Bạn làng báo cũ với nhau kia mà!
  • Thế bây giờ cụ nhất định về tĩnh dưỡng ở đây?

Một cái nhìn tươi mới tiếp theo sau cái vỗ vai thân mật, Phạm Tướng công nói:

  • Vâng, về ở đây để tiện việc tra cứu những sách vở xưa.

Mấy hôm về đây, tôi chỉ bận sắp lại những tài liệu cũ và mấy bộ sách chữ Hán.

Ông vừa nói vừa dẫn tôi đi xem cái thư viện đặc biệt của ông. Đặc biệt vì đó là một phòng làm việc có gần mười cái tủ sách vây quanh. Trong đó sách lớn có nhỏ có sắp đặt rất thứ tự và bìa thì đóng dấu bạc hay chạy chữ vàng đủ thứ.

Ông đưa cho tôi xem mấy quyển sách Ma doctrine (Học thuyết của tôi – PT chú) của A.Hitler và La tragédie de la Jeunesse allemande (Thảm kịch của tuổi trẻ Đức –  PT chú) của Noth, quyển lịch sử duy tân nước Nhật Bản trong 50 năm đầu bằng chữ Hán, và một tập giấy cắt trong nhật trình Pháp bàn về vấn đề Diến Điện và Đại Đông Á rồi quay nhìn tôi:

  • Đến 54 tuổi tôi mới về được với công việc nghiên cứu thích thú nhất của đời tôi. Đấy anh xem tờ Nam Phong xưa có phải là một cơ quan chính trị đâu. Tôi nghĩ văn hóa là căn bản tinh thần của một chủng tộc, cho nên – là một nhà báo, là nhà học giả – tôi phải theo đuổi đến kỳ cùng. Cho đến sau cùng có vấn đề trực trị xướng lên, tôi mới đưa ra đề nghị Lập hiến. Thế rồi sự tình cờ đưa tôi ra làm chính trị. Biết là không phải con đường chính của mình, tôi cũng phải theo. Rồi mấy mươi năm trong bể hoạn, tôi biết rõ nhân tình thế thái lắm anh ạ!

Biet thu Hoa Duong

Câu “biết rõ nhân tình thế thái lắm” ông dấn từng chữ một rồi đưa dài ra nên nghe có vẻ mỉa mai và chua chát lạ lùng. Ngừng một lát để mơ màng nhìn mấy quyển sách mà chừng ông âu yếm lắm ông nhìn tôi rồi tiếp:

  • Anh còn nhớ ngày chúng tôi qua Pháp (chỉ chuyện Phạm Quỳnh tháp tùng nhà vua Bảo Đại sang Pháp năm 1939 – PT chú) không? Để bàn về chuyện Bắc Kỳ đấy. Nhưng qua bên ấy nhằm lúc các nhà chính trị đi nghỉ mát cả. Thế là không biết bàn với ai. Cho đến lúc được tin ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ là Hoàng thượng cùng tôi và ba người nữa đáp máy bay về nước.

Tôi nhận thấy trong lời nói sau cùng của ông có vẻ ngao ngán buồn buồn. Tôi tự nhiên sực nhớ đến hai câu thơ của tôi:

Như chàng sứ giả chẳng thành công.

Trở lại môn quan ứa lệ lòng.

Tình cờ mắt ông lại nhìn đến mấy pho Kinh Phật, ông liền nói:

  • Trước kia tôi rất ham nghiên cứu về Phật giáo, trước cả hồi người ta lập Phật Học hội khắp ba kỳ. Vì Khổng giáo là đạo nhập thế, Phật giáo trái ngược lại là đạo xuất thế. Còn Lão Tử lại chuyên về mặt tiêu cực hơn…

Thấy ông đi hơi xa, tôi liền hỏi:

  • Cụ cho biết có phải đức Hoàng thượng muốn lưu cụ lại để lập Viện Hàn lâm Việt Nam không?

Lại nụ cười khi trước hiện ra.

  • Đó chỉ là một tin đồn. Sau ngày phục mạng Hoàng thượng để ra về, tôi không xin thêm điều gì cả. Nhọc lắm anh ạ. Tôi phải tĩnh dưỡng nhiều lắm. Vả lại bây giờ công việc chính trị cần hơn vấn đề văn hóa. Miễn sao bổ dưỡng cho thể chất tráng kiện trước rồi đòi hỏi đến thực phẩm tinh thần sau.

Sau một nụ cười khó hiểu ông lại nói:

  • Chúng tôi bây giờ là những cô đào già, ca Nam ai, Nam bằng nhiều lần quá thành nhàm tai nên không ai muốn nghe nữa. Thời đã mới cần người mới để hát những bài ca mới hơn… Nhưng thôi, bỏ những chuyện viển vông ấy đi, tôi đã hiện nguyên hình là nhà báo thì nói chuyện về báo vui hơn. Lúc nào tờ Việt Nam Tân báo cần những người trợ bút không công, tôi sẽ vui lòng giúp quý báo…

Rời khỏi biệt thự Hoa Đường ra về tôi cảm thấy như vừa rời khỏi một thư viện.

Thanh Tịnh

————————————-

Tư liệu do Dương Phước Thu, Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế sưu tầm và chú thích.

Nguồn Việt Nam Tân báo, số 33 ra ngày 2 tháng 5 năm 1945.

Lúc đương chức Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh ở nhà “công vụ”, nơi hiện đóng là Nhà văn hóa thành phố Huế. Nguyên trước là chỗ đất đóng trường Hậu Bổ.

Phạm Quỳnh trong thế giới danh nhân – Đại từ điển của Nhật Bản in năm 2013

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 6 năm 2017

PHẠM QUỲNH TRONG THẾ GIỚI DANH NHÂN – ĐẠI TỪ ĐIỂN CỦA NHẬT BẢN IN NĂM 2013.

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bạn Nguyễn Trọng Hiền (địa chỉ email hn90250@yahoo.com), con trai họa sĩ Nguyễn Cát Tường (Lemur), định cư tại Hoa Kỳ vừa gửi hồi 13:19 ngày 13/6/2014 tư liệu nguyên văn chữ Nhật như sau:

Pham Quynh Tieng Nhat(PHẠM QUỲNH

Hiệu là Thượng Chi, 17/12/1892-6/9/1945? Trí thức Việt Nam, chính trị gia, sinh tại Hà Nội, tốt nghiệp trường Thông Ngôn năm 1908, vào làm thông ngôn tiếng Pháp tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Hoạt động văn bút, ông viết cho Đông Dương Tạp Chí (1913), trở thành Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Nam Phong Tạp Chí (1917). Nhân dịp Triển Lãm (Đấu Xảo) Các Nước Thuộc Địa (1922) ông đã đi Pháp. Trong Nam Phong Tùng Thư, ông đã cho xuất bản Văn Minh Luận, Ba Tháng Ở Paris, Văn Học Nước Pháp, Chính Trị Nước Pháp, Khảo Về Tiểu Thuyết, v.v… (1928-1932) cũng có tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Năm 1943, đã xuất bản Thượng Chi Văn Tập, 5 cuốn, là tuyển tập các bài đã đăng trên Nam Phong Tạp Chí. Một mặt hoạt động văn bút, một mặt giữ chức Ngự Tiền Văn Phòng của triều Nguyễn (1932), trở thành Học Bộ Thượng Thư (1933), Lại Bộ Thượng Thư (1942). Sau khi Nhật Bản thanh toán Đông Dương của thực dân Phápbằng vũ lực vào tháng 3 năm 1945, ông đã từ chức. Tháng 8 cùng năm, ông đã bị thế lực Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) bắt, sau đó bị xử tử.)

 

 

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.