Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 11, 2018

KTS Tôn Thất Đại ký họa Bà Yên Bái

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:53 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 8 năm 2018.

KTS TÔN THẤT ĐẠI KÝ HỌA BÀ YÊN BÁI

Dã Thảo

Tháng 7/2018, PGS TS Kiến trúc sư Tôn Thất Đại vào Thành phố Hồ Chí Minh giảng dạy ở Đại học Hoa Sen. Ông là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình một hiệu trưởng của trường Thăng Long (Ngõ Trạm) Hà Nội Ông đến thăm gia đình em trai ở đây, chơi với hai cháu trai của em và đọc bài Bà Yên Bái, kể chuyện hai anh em ông lên Yên Bái thăm Ca chua va Meo chup voi Bac Daiem gái bà ngoại. Ông nhớ ra là lần đó, khi sắp về ông có ký họa bà một số hình ảnh. Ông em biết thế mừng lắm, nhưng ông về rồi, ông em cũng không dám gọi điện nhắc vì sợ làm anh khó xử: 40 năm rồi, còn gì, anh lại chuyển nhà mấy lần, dễ gì tìm lại được…

Ông anh rất thích trò chuyện với hai cháu nội của em, đứa lên bảy, đứa lên ba nhưng đều ham xem tranh và ham vẽ. Cháu 7 tuổi đang học lớp vẽ hè tại Nhà Văn hóa Thiếu Nhi thành phố. Thằng em đang học mẫu giáo.

Cuối tháng 7 thì con gái ông anh gửi qua internet cho con trai ông em các ký họa ấy. Tất cả ký ức 40 năm trước lại ùa về với người em. Năm 1978 đó ông ra Hà Nội ăn Tết lần cuối rồi đón cô láng giềng biết nhau từ thuở lên sáu, lên mười vào Sài Gòn mới giải phóng làm lễ cưới.

Tối mồng hai Tết Mậu Ngọ ấy, hai anh em trò chuyện và ăn bưởi ở nhà cô láng giềng chờ đến 22 giờ thì ra ga Hàng Cỏ, lên tàu đi Phú Thọ, rồi đến bến xe khách đi Thác Bà và đi bộ qua đập Thác Bà nay đã là nhà máy Thủy điện Thác Bà bề thế, về nhà bà Yên Bái. Sáng mồng 5 Tết, sắp đến ngày xa bà, không ngờ đối với ông anh là lần đầu thăm bà tại nhà mà cũng là lần cuối, có lẽ linh cảm như thế, nên ông chăm chú ký họa thật nhiều về bà, vẽ cả gian chính căn nhà. Ông em lên Yên Bái 11 lần, có lần ở đến cả tháng nên rất rành mọi việc ở nhà bà. Đây là căn nhà thứ hai sau khi di dời cả làng về Làng Mới để xây đập nhà máy thủy điện lớn nhất nước hồi đó. Nhà này, một tay cô Bình, con gái bà chọn đất, nghĩ kiểu, chặt cây làm cột, chặt nứa đan vách, kiếm lá gồi lợp mái. Nhà rất sáng. Trong ký họa ta thấy rõ toàn bộ gian chính.

Bên phải là giường bà nằm, Giữa là bàn nước tiếp khách, trước bàn thờ. Bàn thờ luôn có trang trí lá xanh phát tài và lá đỏ huyết dụ. Bà thờ mẫu, tính tình vui vẻ, dễ mến, lại có ông chồng là nho sinh nên hay làm thơ, mặc dù không biết chữ. Tết nào cũng làm thơ, nhất là khi chuyển sang nhà mới, ông em xin đọc cho ghi nhưng bà không chịu, bảo tao làm thơ vì muốn nhớ chuyện cũ người xưa thôi, chỉ đọc cho người nhà nghe, không muốn người ngoài biết. Cũng từ ông chồng, bà biết không ít các bài thuốc dân gian, có người đau ốm đến là bà ra vườn lấy lá, rễ, củ cho về sắc uống; có cô gái băng huyết, bà lên bàn thờ, lạy mấy lạy, xin nắm lá huyết dụ cho về nhà sắc uống. Nhân dân quanh vùng rất tin tài bốc thuốc trị bệnh của bà. Bà nhiều bạn bè, đều theo đạo mẫu, ai cũng vui vẻ thương yêu nhau. Song song với bàn nước bà cho kê ngay cỗ quan tài, quà tặng của mấy bà bạn thường cùng nhau thuê xe ngựa đi lễ đền, phủ vào mùa xuân. Cái chết, đối với các bà, các cụ chỉ là một sự tự nhiên, không có gì là đau buồn cả. Họ sống thanh thản, sẵn sàng đón cái chết như một lẽ thường tình. Thu qua thì đông tới thôi.

Gian nha ba Yen Bai

Trên vách trái, treo cao nhất là bằng khen của huyện Yên Bình tặng Mẹ chiến sĩ Lê Thị Hợp. Còn dưới là hàng loạt bằng khen của huyện, xã, hợp tác xã Minh Bảo tặng cô giáo và xã viên Vũ Thị Bình. Đời và đạo cứ thế gắn liền với nhau. Dưới các bằng khen là các bức ảnh bà ngoại và các em bà còn ở Hà Nội: Bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức và hai em trai: Bác sĩ Phạm Khuê, nhạc sĩ Phạm Tuyên. Tất cả ảnh ông em đem lên để yên lòng bà là mình cũng có dây, có rễ, có họ có hàng như ai. Kế tiếp vách treo bằng khen là một buồng nhỏ, có cửa sổ mở ra mặt tiền và một bàn nhỏ kê sát vách, cô Bình hằng ngày soạn bài dạy cấp một và tính công điểm hợp tác xã ở đó. Sau bàn thờ, có một cái ngách nhỏ, vừa người đi, dẫn đến một buồng vuông giápBa Yen Bai chit khan với buồng nhỏ kia. Đó là chỗ ngủ của cô Bình, nằm ở đấy, nhưng chuyện gì xảy ra ở giường bà cô đêu biết hết. Ông em lên thăm bà thường được cho ngủ chỗ ấy. Đêm nóng, cởi trần mặc quần đùi ngủ cũng được không sợ muỗi cắn vì có một con dơi làm tổ trên xà cao. Tất cả là thiết kế của cô Bình.

Bà Yên Bái tuổi thân, kém chị cả tuổi thìn bốn tuổi. Năm Mậu ngọ 1978 ấy, bà vừa 82 tuổi. Bà Chị là đệ nhất phu nhân nhưng mất năm mới 61 tuổi. Bà khổ một đời, nhưng thọ hơn nhiều. Vì bà có bao giờ thấy đời bà khổ, bà vui vì đem lại cái vui cho nhiều người. Bà hay nói cái số tôi nó thế, nghĩa là bà chấp nhận sống theo tự nhiên, sống với những cái mình tạo ra, cả đời không đòi hỏi ai cái gì, cho được ai cái gì cũng thấy vui, mất cái gì cũng không tiếc.

Sau 40 năm, ông Tôn Thất Đại tìm lại được những ký họa mình vẽ hồi ở cùng bà và nhớ về bà. Ông ngậm ngùi nói với ông em hôm chia tay tháng 7/2018, lẽ ra anh phải lên yên Bái đưa tang bà, nhưng rất tiếc là anh không được biết gì cả, có lẽ người nhận tin là người không nặng tình với bà như anh em mình…

Ba Yen Bai sau khi goi dau

Thành phố Hồ Chí Minh 30/7/2018

D.T.

Advertisements

Về hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:04 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 8 năm 2018.

VỀ “HỒI KÝ VIẾT TẠI PARIS NGÀY 28/10/1992 CỦA BÀ PHẠM THỊ THỨC”

Phạm Tôn

Năm 2007, ở Mỹ, một người Mỹ gốc Việt tên là Sơn Tùng viết bài Sau 62 năm, mở lại vụ án Phạm Quỳnh đưa lên mạng. Trong bài có viết: “Theo hồi ký của bà Phạm Thị Thức, người con gái của Phạm Quỳnh, viết năm 1992, sau khi Phạm Quỳnh bị giết, bà cùng người chị là Phạm Thị Giá đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh (…) Bà Thức cho biết Hồ Chí Minh chối, không nhận đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh và đổ tội cho cán bộ địa phương. Họ Hồ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…và trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ có thể có nhiều sai sót đáng tiếc.” (Chúng tôi nhấn mạnh – P.T.)

Chúng tôi đã hỏi tất cả những người con của bà Phạm Thị Thức còn sống, hiện đều ở Hà Nội, Việt Nam, và đều được trả lời là bà “không bao giờ viết hồi ký ở Paris cả, và cụ có bao giờ sang Pháp đâu mà viết ở đấy được. Chắc là có sự nhầm lẫn nào đấy” (email ngày 22/6/2009, từ Hà Nội). Tất cả các con bà Phạm Thị Giá, hiện đều sống ở Việt Nam, cũng đều khẳng định là gia đình Phạm Quỳnh chỉ được gặp Cụ Hồ có một lần, ngày thứ sáu, 30/8/1945, từ 11 giờ, sau khi biết tin thân phụ bị bắt. Không làm gì có chuyện gặp “sau khi Phạm Quỳnh bị giết” như Sơn Tùng viết.

Tìm hiểu qua tư liệu thì lại được biết là Sơn Tùng chỉ làm mới lại và thêm thắt đôi chút chứ không phải là người đầu tiên phát hiện ra “Hồi ký” này. Ông chỉ nói theo Trần Gia Phụng, khi vớ được “cái bọt” là cái chú thích số 57 trong một bài đại luận của Trần Gia Phụng viết nhiều năm trước dài đến 73 trang (theo bản in lại trong Giải oan lập một đàng tràng (Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, năm 2001) nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh. Nguyên văn chú thích số 57 ấy như sau: “Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội, gặp Hồ Chí Minh. Dưới đây là lời kể của bà Thức: “Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!…Sau đó, chị tôi (tên Giá) và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps (cận vệ) cho Cụ Hồ giới thiệu đến thăm cụ và hỏi chuyện (tức chuyện ông Phạm). Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về… Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ (Nguyên văn là quá vội , Trần Gia Phụng chép sai, khiến Sơn Tùng nói theo cũng sai luôn – P.T. chú) có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình (….) Những điều này cho thấy rõ tính ngụy biện của ông Hồ. Lúc Phạm Quỳnh bị giết ngày 6/9/1945, ông Hồ đã về Hà Nội lập chính phủ (2/9/1945)” (Chúng tôi nhấn mạnh-PT).

Như trên chúng tôi đã khẳng định, không có cuộc gặp nào giữa gia đình Phạm Quỳnh và cụ Hồ “sau khi Phạm Quỳnh bị giết” cả mà chỉ có duy nhất cuộc gặp vào ngày 30/8/1945, vào lúc 11 giờ, sau khi Cụ Hồ duyệt lại lần cuối bản Tuyên ngôn độc lập sẽ đọc hôm 2/9/1945. Hơn nữa, bấy giờ, cũng như từ khi sinh ra  cho đến lúc ấy, hai bà đều sống ở Hà Nội, không việc gì phải ra Hà Nội như tác giả suy luận. Còn về lời kể của bà Phạm Thị Thức theo “hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992” thì sao? Các con bà đều khẳng định không thể có hồi ký nào viết tại Paris cả vì bà chưa bao giờ sang Pháp trong suốt cuộc đời ngót trăm tuổi của mình. Vậy thì ở đâu ra “cái tư liệu quan trọng” ấy, đủ kết án Cụ Hồ là ngụy biện?

Chúng tôi kiên trì lần hỏi các em bà Thức ở nước ngoài, thì may mắn, mới đây có hồi âm. Tôi nhận được bản sao chụp lá thư bà gửi cho các em ở Pháp, do sinh sau đẻ muộn, ít được biết về cha, nay xin chị kể cho những kỷ niệm riêng về cha mà gia đình thường quen gọi là Thầy. Như bà chị là Phạm Thị Giá cũng đã viết một bức thư dài như vậy.

Tôi đọc đến đoạn cuối lá thư, thì giật mình, vì thấy một nhà nghiên cứu, một nhà sử học như Trần Gia Phụng, được gia đình Phạm Quỳnh tin cậy cho đọc thư riêng của bà chị, lại có thể trích dẫn thiếu hẳn một đoạn quan trọng như vậy.

Sau câu “… Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!” thật ra còn một đoạn nữa như sau: “Than ôi, cả Thầy Me tôi và các con đều không thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng có thể chết đi sống lại” Rồi mới đến câu “Sau đó, chị tôi và tôi (…)”.

Như bà Thức đã viết rất rõ “cả Thầy Me tôi và các con đều không thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!!” Vì lần ra đi này là trưa ngày 23/8/1945, Phạm Quỳnh bị bắt tại biệt thự Hoa Đường, trước sự chứng kiến của các con gái Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn, mấy em và cháu nội, ngoại nhỏ; còn các con trai ông như Phạm Khuê, Phạm Tuyên, … đều đi tham gia mít tinh ở sân vận động, không có nhà. Nhưng rồi, từ đấy, không bao giờ ông về Hoa Đường nữa, nên mới có câu bà Thức viết rất đau sót như trên. Cả chính Phạm Quỳnh cũng không ngờ là mình ra đi là ra đi mãi mãi. Tác giả đã suy luận ra đi tức là chết vì đã cắt bỏ đoạn bà Thức viết rất rõ trên đây; ông ra đi và cả nhà, không ai ngờ là ông không bao giờ trở về nữa.

Nghiên cứu văn bản như vậy kể cũng lạ. Lại từ đấy, suy ra những kết luận, qui kết này nọ càng lạ hơn. Thật may mà chúng tôi có được bản sao chụp này. Còn chính các con bà Thức cũng chỉ biết là bà không bao giờ sang Pháp nên không thể nào có hồi ký nào của bà viết tại Paris cả.

Chúng tôi chụp lại đây phần mở đầu và phần cuối có câu ông Trần Gia Phụng đã trích và cắt bỏ những câu không hợp ý mình.

 

(…)

Bà Phạm Thị Thức sinh năm 1915 và đã mất năm 2007.

Mong hương hồn bà được yên nghỉ, không bị xáo động bởi những bày đặt vô lối của những người đầy thành kiến, lợi dụng cả tên tuổi bà và tấm lòng thành của bà với người cha kính yêu và các em thân mến mà làm những việc bất chính, bóp méo lịch sử, bôi nhọ người khác.

Trong một dịp thích hợp, chúng tôi sẽ công bố toàn văn bức thư này, một bức thư đầy tình kính yêu người cha đã khuất của một người con gái… năm ấy đã ngót 80 tuổi rồi mà vẫn còn nhớ như in những ngày còn được sống bên người cha đức độ, tài hoa.

Viết về thầy tôi – Phạm Thị Thức

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 8 năm 2018.

VIẾT VỀ THẦY TÔI

Phạm Thị Thức

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học giả Phạm Quỳnh có 11 con gái, 3 người mất từ lúc chưa đầy tuổi tôi (thôi nôi). Có 5 người từng viết về ông là bà Phạm Thị Giá, con gái trưởng, Phạm Thị Thức con gái thứ hai và các bà Phạm Thị Hảo, Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn.

Bài này chúng tôi đã đưa lên Blog PhamTon 3/12/2009 nay phải đăng lại. Chỉ vì người Mỹ Sơn Tùng đã lặp lại sai lầm của ông Trần Gia Phụng trong bài viết ghi ngày 4/9/2011 nhan đề Sau 66 năm lịch sử và công lý nào cho vụ án Phạm Quỳnh? (tạp chí Thế Giới Mới).  Chúng tôi đã có bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?, mới đưa lên Blog PhamTon ngày 21/10/2011 mà đến ngày 05/12/2011 đã có tới 36.344 lượt người truy cập! Đủ thấy sự đăng lại bài của bà Phạm Thị Thức là cần thiết đối với các bạn quan tâm.

—o0o—

Thầy tôi, nói đến hai chữ ấy, tự nhiên hai dòng nước mắt của tôi chảy dài xuống má, ruột tôi đau quặn như đứt từng khúc! Nỗi hận này suốt đời tôi không sao có thể quên được…!!

Tôi hồi tưởng lại trong ký ức, những mẩu chuyện nhỏ về Thầy tôi…

Năm tôi 13 tuổi, tối nào tôi cũng lên ngồi bàn làm việc để viết bài cho Thầy tôi, vì Thầy tôi cho rằng chữ tôi đẹp và rõ ràng. Thầy tôi cầm quyển sách vừa dịch vừa đọc như đọc chính tả cho tôi viết. Tôi ngây thơ hỏi: Thầy phải dịch vào giấy nháp rồi để con viết chứ. Thầy thôi chỉ cười. Tôi còn nhớ là viết những học thuyết của Hippocrate gì gì đó mà tôi chẳng hiểu chi cả. Có hôm khuya quá, thấy tôi có vẻ buồn ngủ Thầy tôi bảo: “Con cố lên, chỉ còn vài trang nữa là xong thôi.”, và gọi người nhà mua cho tôi một bát chí mà phù để bồi dưỡng…

Phần đầu bài viết của bà Phạm Thị Thức.

Năm 1928, tôi học École Brieux, cours Supérieur (Trường Brieux lớp nhất – PT chú) và là học sinh giỏi nhất lớp, đồng thời cũng là nhất trường vì ở đó chỉ có đến lớp Supérieur (nhất – PT chú) là hết. Đầu năm 1929, các cô giáo cử tôi lên đọc compliment (lời chúc – PT chú) chúc Tết bà  Đốc là bà Autigeon. Các cô bảo: Em về nhà nhờ Thầy em viết giúp cho mấy câu. Tôi lo quá, nghĩ Thầy tôi bận nhiều công việc như thế, chắc có viết không. Nhưng khi tôi về nói, Thầy tôi vui lòng ngay và bảo: Con đừng lo. Thầy sẽ viết cho vài câu, nhưng con phải học thuộc lòng và đọc cho hay vào. Thế rồi tối nào Thầy tôi cũng bắt học cho rõ thuộc và đọc cho nghe, dặn nhấn mạnh khi nào nên nhìn vào giấy, thỉnh thoảng phải ngẩng đầu lên nhìn xuống dưới chỗ mọi người ngồi. Bài viết tôi học thuộc kỹ quá, cho đến nay quá 64 năm tôi vẫn còn nhớ mãi, những câu sau đây:

…C’est en obéissant à une tradition chère à tous les pays que nous venons aujourd’hui vous apporter le sincère témoignage de nos jeunes coeurs. L’année 1928 vient à peine de s’écouler, emportant dans sa fuite une année de notre existance que déjà la foule s’empresse de fêter sa jeune soeur, en qui, elle met toute sa confiance et son espoir. Que cette année qui vient marque pour vous et votre chère famille, une ère de prospérité et de joie. Qu’elle soit pour vous douce et bénie. Avec cette confiance facile de notre jeunesse pour cette année qui s’annonce de bon augure, nous formulons des voeux les plus sincères pour qu’elle soit pour vous bonne et heureuse, remplie de bonheur et exempte de tout souci… (Tạm dịch là: Nay, theo tục lệ thân thiết với mọi xứ, hôm nay, chúng con xin chuyển đến Bà tấm lòng thành của những trái tim non trẻ. Năm 1928 vừa qua đi, mang theo một năm trong cuộc sống chúng ta, mà nhân dân đã hối hả mở hội đón năm mới, năm họ đặt tất cả niềm tin và hy vọng. Mong sao năm nay sẽ đánh dấu một kỷ nguyên thịnh vượng và vui vẻ với Bà và gia đình yêu quí của Bà. Mong sao năm mới an lành và đầy ân huệ với Bà. Với lòng tin cậy giản dị của tuổi trẻ chúng con vào năm mới này, năm báo trước điềm lành, chúng con xin chúc những lời chân thành, mong sao năm mới tốt lành và hạnh phúc với Bà, tràn đầy niềm vui và tiêu tan hết mọi ưu phiền …. – PT chú) còn dài nữa, v.v… Bài đọc từ hơn nửa thế kỷ không bao giờ nhớ lại, nay bỗng có dịp nhắc lại, nên có thể nhiều chữ sai và nhiều lỗi chính tả!

Tôi đọc trôi chẩy quá đến nỗi sau đó bà Đốc ôm lấy tôi hôn và bảo “Con đọc hay quá”. Các cô giáo thì tíu tít vui mừng vì học trò của mình được bà Đốc khen…

Năm 1930 tôi đậu Certificat (Tiểu học – PT chú) và thi vào trường École normale des institutrices (Trường nữ sư phạm – PT chú). Thi concours (Tuyển – PT chú) 150 người lấy 30, trong đó chỉ lấy có 3 người vào Normale (Sư phạm – PT chú), còn 27 vào cours complémentaire (Lớp bổ túc – PT chú). Tôi được đỗ thứ 2, như vậy là trong 3 người trên cùng được bourse (Học bổng  PT chú) mỗi tháng 9 đồng. Tôi mừng quá về khoe ríu rít ở nhà. Thầy tôi bảo: “Thầy không muốn cho con nhận học bổng, sau này đỗ ra trường làm cô giáo, người ta bổ đi đâu cũng phải đi. Nhà mình, con đi học chỉ cần có kiến thức, không cần đi làm ăn lương gì cả. Con không nên nhận và để cho người đỗ thứ 4 lên thay con”. Tôi buồn quá, khóc với Me tôi. Thầy tôi thấy tôi buồn và có vẻ tiếc cái món bourse, một hôm Thầy tôi gọi vào buồng giấy và cho tôi một chồng 90 đồng bạc hoa xòe và bảo tôi: “Đây Thầy “đền” cho con 10 tháng học bổng. Con lấy muốn mua gì thì mua và yên tâm mà học hành”. Nhận được số tiền đó tôi mừng quá, tôi đi vội đến phố Hàng Khay sắm sửa bao nhiêu thứ mình vẫn thích: dentelle (Đăng ten – PT chú) viền áo, vòng đeo tay, dây chuyền đeo cổ, nhẫn, v.v và quà cho các anh các chị và các em…

Thầy tôi có bà bạn là nữ sĩ Jeanne Duclos Salesses. Bà vẫn thường đến chơi với gia đình và làm nhiều bài thơ tặng Me tôi và em bé của tôi là em Yến. Được tin bà qua đời, sau đó em tôi cũng mất, Thầy tôi có viết một bài nói về Bà, trong đó có mấy câu tôi còn nhớ: “Son souvenir est attaché à un petit être qui m’est cher, à ma petite hirondelle chérie, qui, un mois après son départ, s’est envolée dans les airs, òu elle aurait du la retrouver…”(Tạm dịch là: Kỉ niệm về Bà gắn với một sinh linh nhỏ bé thân thiết với tôi, với chim yến nhỏ yêu quí của tôi, một tháng sau khi Bà ra đi, đã bay lên trời, nơi có lẽ cháu sẽ được gặp lại bà.- PT chú)

Năm 1935, chồng tôi sang Pháp thi doctorat en médecine (Bác sĩ y khoa – PT chú) 3 năm, tôi vào Huế với Thầy Me tôi và sinh cháu Tứ ở Huế. Năm 1937 có một sự kiện làm cho tôi xúc động và nhớ mãi. Hồi đó Me tôi có mang em Phạm Tuân được độ 6 tháng thì Me tôi mắc bệnh hen rất nặng, suốt ngày tôi ngồi vuốt ngực và xoa bóp cho Me tôi, nhiều lúc thấy lên cơn hen Me tôi khó thở tưởng như nếu kéo dài có thể chết. Thầy tôi đi làm về là vào ngay buồng thăm hỏi, vuốt ve và nói chuyện động viên và an ủi sẽ khỏi, v.v…Một hôm tôi thấy Thầy tôi ngồi với hai ông docteur (Bác sĩ – PT chú), nói chuyện gì mà tôi thấy Thầy tôi nét mặt buồn rầu tôi chưa từng thấy. Tôi đoán là có chuyện gì hệ trọng lắm. Sau đó, thấy Thầy tôi vào nói với Me tôi là các ông docteur hội chẩn và khuyên nên lấy cái thai ra thì mới khỏi nguy hiểm cho người mẹ. Me tôi khóc, bảo: “Đau đớn mấy tôi cũng cố chịu được, không khi nào tôi chấp nhận cái việc đó; vì tôi nằm mơ thấy rõ ràng có một thằng bé rất thông minh xinh đẹp chạy theo xe tôi và nói “Me, cho con về với me!””. Sau đó nhờ phúc ấm tổ tiên, Me tôi qua khỏi và sinh được đứa con thứ 15 của Thầy Me tôi. Thầy Me tôi thương và quý em lắm, cứ gọi là “chú Miềng”; năm nay em đã 55 tuổi, có 5 con rồi mà gia đình vẫn quen gọi là chú Miềng.

Thầy tôi có 16 người con mà lúc nào cũng chú ý săn sóc thương yêu như nhau, chưa hề bao giờ mắng mỏ con cái. Thầy tôi rất thông minh, uyên bác, tuy không phải là docteur nhưng có một “Larouse médicale” (Từ điển Larouse y khoa – PT chú) nhiều tập. Mỗi khi con cái ốm đau, Thầy tôi đều đem ra sưu tầm tra cứu và theo đơn trong sách chữa bệnh, hiếm lắm mới phải mời đến docteur.

Tháng tám năm 1945, Thầy tôi ra đi!! Than ôi cả Thầy Me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corps (người hộ vệ – PT chú) cho Cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” Và tôi còn nghe một bà bạn là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng Cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi cụ Hồ bảo:“Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học!”

Trời ơi, oan uổng cho Thầy tôi biết bao!!! Nỗi oan này khắc sâu trong lòng chúng tôi, nỗi hận này đến kiếp nào cho khuây!…

Thầy ơi, chúng con thật là bất lực, xin cúi đầu nhận tội với Thầy.

Phạm Thị Thức

28/10/1992

Bản sao chụp phần cuối bài của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội ngày 28/10/1992.

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, người trí thức có tâm, có tình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 8 năm 2018.

GIÁO SƯ ĐẶNG VŨ HỶ, NGƯỜI TRÍ THỨC CÓ TÂM, CÓ TÌNH

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sách Đặng Vũ Hỷ cuộc đời và sự nghiệp của Trường Đại học Y Hà Nội (NXB Y học Hà Nội, 2009) có in bài của Phạm Tôn nhan đề như trên trong các trang 124-125) nhưng bị biên tập cắt xén đi một phần. Theo nếp của Blog PhamTon chúng tôi là chỉ đăng theo đúng nguyên văn bài tác giả viết, chưa qua việc biên tập của người khác, cho nên chúng tôi công bố bài này, theo đung nguyên văn đã đưa lên Blog PhamTon từ 2009.

—o0o—

Đầu thế kỷ thứ 20, chàng trai Đặng Vũ Hỷ, người dân Đất Học Nam Định, lại là con cháu Làng Quan Hành Thiện, nơi nhiều người đỗ đạt nổi tiếng cả nước, lên Hà Nội học, rồi du học Pháp, mà lại học ngành y, một ngành cao sang bậc nhất đương thời và cũng là ngành hái ra tiền nhất thời ấy. Nhưng ai biết cũng lạ là anh lại chọn ngành da liễu. Đã thế còn đi sâu vào chuyên ngành “cùi, hủi” thứ bệnh vẫn bị người đời khinh miệt… Chỉ vì hồi học ở Hà Nội, xa gia đình, những ngày nghỉ đi dạo phố phường xa hoa, anh đã nhiều lần tận mắt thấy, tự tai nghe người hủi, cùi, bệnh phong bị người đời ghê tởm, kỳ thị, phải sống tủi nhục đau khổ cả về thể xác lẫn tâm hồn như thế nào.

Về nước, anh hành nghề tự do và giảng dạy tại Đại học Y khoa Hà Nội.

Kháng chiến bùng nổ, anh nhẹ nhàng theo trường đi về cơ sở mới, tạm bợ ở Ninh Bình. Đem theo cả gia đình. Vừa giảng dạy, vừa trực tiếp chữa bệnh cho thương binh, bệnh binh. Hòa bình lặp lại trên miền Bắc, anh về lại trường Đại học Y Hà Nội và công tác tại bệnh viện Bạch Mai với cương vị cán bộ đầu ngành da liễu. Bấy giờ, đã là một giáo sư nổi tiếng, một cán bộ cao cấp, được nhiều ưu đãi, vậy mà ông vẫn không bao giờ quên những bệnh nhân phong. Ông thường về các trại, tay bắt mặt mừng các bệnh nhân phong quen biết đã lâu năm, cùng trò chuyện, thậm chí ăn uống với họ trong khi trại đã chuẩn bị sẵn cho ông một bữa chiêu đãi trọng thể. Ông còn về Quảng Ninh khi biết tin nhiều người chăn vịt ở đó bị lở loét chân sau những năm tháng theo vịt đàn. Ông sắn quần, mặc áo lót “ba lỗ”, đội mũ lá đi nhiều ngày nơi này nơi nọ, lội đủ các ruộng ngập nước mà dân bị bệnh lở loét cho biết họ đã từng chăn vịt ở đó. Về nhà dân, lại xem các vết lở ở chân dân chăn vịt, so với những vết trên chân của chính mình, rồi ghi chép, suy nghĩ để sau này ông đã chế ra một loại kem bôi chân cho những ai chăn vịt phải lội đồng hằng ngày.

Suốt đời ông học tập và nghiên cứu. Ngay đầu giường ngủ, bên tủ đêm phía phải, nơi thuận tay với nhất bao giờ cũng thấy có bộ sách sáu quyển đóng bìa da của Pháp bách khoa về chuyên ngành da liễu. Tối nào, trước khi đi ngủ, ông cũng dở vài trang và nhập tâm tất cả kho báu ấy…

Ông đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh ngay đợt I cùng không ít huân chương là những thứ mà suốt đời ông không hề ham. Ông chỉ lo làm việc, nghiên cứu khoa học. Ông sống giản dị như bất cứ người cán bộ nào, không ham tiền, càng không hám danh.

Ông không chỉ là người có tâm mà còn rất có tình. Mặc dù không khi nào thấy ông nói ra mà chỉ thể hiện qua hành động.

Ông yêu và xin cưới cô Phạm Thị Thức, con gái thứ hai của học giả Phạm Quỳnh hồi làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong nổi tiếng. Chồng tuổi Tuất, vợ tuổi Mão, sinh ra hai trai tuổi Tuất, một gái tuổi…Mão! Vậy mà cái gia đình toàn “chó” với “mèo” ấy chưa một lần to tiếng, chứ đừng nói đến cãi nhau, xào xáo. Ông không dạy các con bằng lời mà dạy bằng chính cuộc đời ông. Các con ông sau này một trai một gái lớn theo nghiệp cha làm bác sĩ. Trai út và gái út thì nghiên cứu khoa học tự nhiên: vật lý, hóa học và đều thành đạt.

 Ông thương yêu và quý trọng vợ. Mọi nỗi lo của bà ông đều san sẻ và chìa vai cùng gánh vác. Các niềm vui của vợ, ông cùng chung hưởng. Đặc biệt hai lần sinh nhật song thân bên vợ (hai cụ đều cùng tuổi Nhâm Thìn, nên bao giờ cũng cùng làm sinh nhật cho con cháu xa gần về đỡ khó khăn vất vả) vào các năm 1934 và 1942, ông bà đưa gia đình về tận Huế dự. Ông coi cha mẹ vợ như cha mẹ mình, một lòng giữ tròn chữ hiếu.

Gia Dinh Sinh Nhat 2 cu_2

Năm 1945, xảy ra gia biến. Phạm Quỳnh bị bắt rồi bị lén đưa đi thủ tiêu lúc đêm khuya nơi rừng vắng. Cả đại gia đình ở Huế được Chính phủ cho người đưa ra Hà Nội, tụ tập, sống tạm ở nhà bà chị cả là Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình, một trong hai hiệu trưởng trường Thăng Long. Tất cả hơn hai mươi con người già trẻ lớn bé đủ cả. Thương mẹ, lại thương chị còn trẻ, chồng vắng nhà mà một mình mang gánh quá nặng, bà Thức buồn lắm. Biết thế ông cho đón ngay mẹ vợ và hai em trai gái út về Nam Định, quê mình, để ở nhà rộng rãi, thoáng mát, hai tầng của  người bà con xa ở làng Vạn Lộc, phủ Xuân Trường, là vùng thôn quê yên bình. Đến toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946, bà chị cả phải đưa cả hai mươi con người đang sống ở nhà mình tản cư về quê một người bạn chồng. Biết tin này bà Thức ngày đêm lo lắng không hiểu chị và các em các cháu xoay sở ra sao nơi quê người. Được chừng sáu tháng, thì ông Hỷ lại nhờ người bà con thạo đường sá đi ra Hà Đông tìm cho được bà chị và đưa cả nhà về Nam Định bằng thuyền. Chẳng bao lâu, mẹ con bà cháu chị em lại sum họp cả ở làng Vạn Lộc. Bấy giờ ông và vợ con về sống ở Thư Điền, Ninh Bình gần nơi ông công tác. Biết vợ nhớ mẹ, lâu lâu ông lại cho đón mẹ và các em nhỏ về nhà chơi vài tháng.

Thời kháng chiến chống Mỹ, ông bị bệnh liệt rung (parkinson), có lần Nhà nước đưa ông đi chữa bệnh ở Béc-lin (Cộng hòa Dân chủ Đức). Lần ấy, cùng đi với ông có nhà nghiên cứu sử học Tôn Quang Phiệt, là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng Tám, dúng thời gian học giả Phạm Quỳnh bị thủ tiêu. Ông Tôn Quang Phiệt cố tìm gặp bằng được giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (tức Phạm Quỳnh). Hồi ấy tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.

Chuyện này, giáo sư chỉ kể lại cho con trai út, người sau này là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ba khóa liên tiếp, hiện là Ủy viên Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Người viết bài này đã được chính anh kể cho nghe vào một đêm tháng 12 năm 1972 lạnh giá, dưới bom B52 của giặc Mỹ đang rải thảm Hà Nội, mạng con người không biết có còn đến ngày hôm sau.

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ là một nhà trí thức lớn, có tâm, có tình, cả trong đời công lẫn đời tư.

Sài Gòn, ngày 26/6/2008.

                                                                                                                                    PT

 

Tháng Bảy 24, 2018

Phép màu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:19 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 8 năm 2018.

“PHÉP MÀU”

Phạm Tôn

Chuyện bắt đầu năm 1998.

Năm 1997, tôi phát hiện bị bệnh tiểu đường. Do chưa có kinh nghiệm “sống chung trọn đời với bệnh” nên năm 1998 đã bị biến chứng, hạ đường huyết, rồi xê-tôn máu do cấp cứu muộn, buồng thử máu thơm lừng mùi xê-tôn, hôn mê 15 ngày, nằm bệnh viện gần hai tháng thở ốc -xy, ăn uống bằng ống vào thẳng dạ dày, bác sĩ điều trị bảo gia đình chuẩn bị tư tưởng lo hậu sự.

Nhưng, chính lúc nằm bất động ấy, có những lúc tôi tỉnh và nghĩ rằng cuộc đời mình sắp kết thúc, nhưng không thể kết thúc vô nghĩa như vậy. Nhất là khi nghĩ về ông ngoại tôi: Phạm Quỳnh.

Hồi từ 2 đến 4 tuổi, năm nào mẹ cũng đưa mấy chị em tôi về quê nội, xứ Huế. Ở nhà ông nội nửa tháng rồi về nhà ông ngoại sống đến hết hè để các anh chị tôi đi học. Tôi rất sung sướng khi ở nhà ông ngoại, được chơi với cô, cậu và các anh em họ cùng lứa tuổi, trong sân vườn rộng, dưới cặp mắt hiền từ, đầy yêu thương của ông ngoại.

Rồi đến năm 1945, tôi vừa năm tuổi, thì thấy nhà mình ở Hà Nội bỗng đông lên khác thường, bà ngoại, các cậu, dì từ Huế ra, Nhà đông mà không vui. Và cũng không thấy ông đâu. Cả nhà mặc áo trắng, chít khăn xô trắng, tối có khi còn xúm lại gọi đồng chén, và thường nghe tiếng thì thầm nhắc đến Thầy, tức là ông ngoại.

Năm 1955, cậu tôi dạy học ở Khu học xá trung ương bên Nam Ninh, Trung Quốc về nước họp. Trước khi đi, đêm đã khuya, cậu còn đánh thức tôi dậy nói cho biết việc cần biết về ông ngoại để còn biết cách mà sống với đời. Năm ấy tôi vừa 15 tuổi. Từ đấy, tôi nhớ lại tất cả những kỷ niệm về ông ngoại còn in sâu trong trí óc non nớt của đứa trẻ chưa đến năm tuổi và cố tìm tòi những tư liệu về ông. Nhưng thật ít ỏi.

Rồi tình cờ, từ năm 1960, gia đình liên lạc được với em ruột bà ngoại tôi sống li hương đã lâu ở vùng cao Yên Bái. Bà là cả một kho chuyện về thời trẻ của ông ngoại. Mười một năm liền, tôi lên thăm bà Yên Bái, thường là vào dịp Tết. Lên chỉ để hỏi chuyện về ông. Ngoài ra, tôi còn một kho chuyện về ông nữa mà người sở hữu lại chính là mẹ tôi, trưởng nữ của ông.

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, tôi được vào làm việc ở Sài Gòn, gặp gia đình em trai út bà ngoại, tôi lại có thêm một kho tư liệu nữa. Cộng với những tư liệu, thư từ của các dì, cậu sống tản mát ở Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ gửi cho, tôi đã hình dung rõ ông tôi là con người thế nào và tấn bi kịch cuộc đời của ông đã diễn ra bí ẩn làm sao. Tôi biết mình hiểu về ông nhiều hơn bất kỳ ai trong đại gia đình, kể cả các con ông, trong đó có mẹ tôi.

Biết nhiều vậy, nhưng tôi chỉ suy nghĩ mà không dám làm gì. Vì nghĩ tư liệu của mình còn chưa đủ giải quyết mọi vấn đề đặt ra với ông tôi. Và quan trọng hơn hết, tôi không tự tin ở năng lực của mình, cả về nghiên cứu lịch sử, văn học lẫn về sức viết. Tôi tự ti trước vóc dáng ngày càng lớn của ông theo với những hiểu biết mới của tôi về ông.

Thế rồi, trong những ngày sống dở chết dở ấy, tôi đã nghĩ trên bia mộ mình sẽ ghi đúng mấy dòng Nơi đây yên nghỉ một cuộc đời lãng nhách, đầy mơ ước, lương thiện nhưng vô dụng! Và tôi quyết định tỉnh dậy sẽ bắt tay ngay vào việc của đời mình, trong lúc tài vẫn hèn như xưa, còn sức thì mọn nhất trong đời. Ít nhất cũng để người trong đại gia đình hiểu về ông như tôi, chưa nghĩ đến việc minh oan, khôi phục danh dự cho ông.

Thế rồi, tôi cũng xuất viện bằng cửa chính, không phải từ cửa sau như các bác sĩ đã nói với vợ con tôi. Hôm tôi đến cảm ơn tại khoa nội, bác sĩ trực tiếp điều trị cười và nói chính chúng tôi phải cám ơn anh, vì anh đã khỏi bệnh mà chúng tôi là người trực tiếp điều trị cũng không biết tại sao.

Nhưng tôi thì tôi biết, chính ông Ngoại đã cứu tôi, cho tôi lẽ sống để sống tiếp.

Việc đầu tiên, là bắt chước Lê Quí Đôn khi viết Quần Thư Khảo Biện đem tất cả những hiểu biết tản mạn về ông, cho vào những túi gấm. Tôi nghĩ, ít nhất cũng có ba túi. Túi lớn nhất là nặng lòng vói nước. Túi thứ hai là nặng lòng với tiếng ta. Túi thứ ba là nặng lòng với nhà.

Tôi sẽ bắt đầu với phần dễ nhất là người nặng lòng với tiếng ta. Sau đó là người nặng lòng với nhà. Và cuối cùng là người nặng lòng với nước. Vừa là phần khó viết nhất và khó được chấp nhận nhất. Vì đương thời, ai chẳng từng nghe nói, đọc được ở đâu đó những câu sáo “Phạm Quỳnh bán nước”, “Phạm Quỳnh tay sai thực dân Pháp” mà nay nói Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước thì khó chấp nhận quá.

Vậy là vừa từ bệnh viện về nhà, tôi bắt tay ngay vào viết. Nói là viết chứ thật ra chữ tôi viết hồi ấy khó ai đọc nổi, viết có cái thiếp chúc Tết chỉ có mấy hàng thôi mà phải viết nháp, vì đầu óc còn rối loạn do vụ xê-tôn máu. Tất cả trông vào cái máy chữ nhỏ. Cứ thế lần lượt mỗi năm viết được một bài. 1999: Người nặng lòng với tiếng ta. 2000: người nặng lòng với nhà và cuối cùng là Người nặng lòng với nước: 2001.

Viết xong ba bài rồi, gửi cho bà con, bạn bè trong và ngoài nước. Bà Phạm Thị Hoàn, em gái mẹ tôi ở Paris nhận được đủ ba bài này thì viết thư cho tôi hỏi có muốn in bên này không, các cô đang chuẩn bị in một tập gồm nhiều người viết về ông. Tôi trả lời là tôi không mong đứng cạnh những người mà tôi không biết là ai. Nếu có in lại Tục ngữ ca dao của ông mà cho tôi vào cuối sách thì tôi rất mừng, bao giờ tôi cũng chỉ mong được đứng sau ông mà thôi.

Nhưng đầu ra trong nước thế nào mới là chuyện đau đầu. Người ta thường nói làm ăn cần có quan hệ rộng, có nhiều mối làm ăn. Tôi xưa nay là người nhút nhát, ít giao du, nhất là với những người trong giới cầm bút, thường chỉ kính nhi viến chi, không dám lại gần, nhất là không ưa chơi bời, nhậu nhẹt, càng khó gần. Nghĩ mãi, bỗng nhớ ra trên một tuần báo nọ, có một người quen cũ, ông là em ruột bà bạn của mẹ tôi từng sống chung nhiều năm thời chiến tranh ở Hà Nội còn tạm bị Pháp chiếm. Tìm địa chỉ trên báo xong tôi đến tòa soạn, biết được nhà riêng, tôi đến thăm. May thay, vợ ông lại là bạn thân của em gái mẹ tôi hồi còn ở Huế. Thật là may mắn. Tạp chí do ông làm tổng biên tập là một tạp chí văn hóa của tôn giáo. Tôi càng mừng hơn. Từ bi, hỷ xả đúng với nếp sống của ông tôi. Tuần nào tôi cũng đi bộ đến nhà ông tổng biên tập mà tôi gọi là cậu vì là em bạn mẹ tôi, theo nếp Huế, cũng coi như em mẹ. Tôi đưa ra từng bài, kèm những tư liệu tiếng Việt và tiếng Pháp. Cứ như thế mấy tháng ròng. Mỗi lần tôi đến, bà vợ đều tươi tỉnh đón vào nhà rồi cùng chồng tiếp chuyện. Bà pha trà thơm và còn cho tôi sữa chua không đường vì biết tôi bị tiểu đường. Tôi rất cảm động. Chỉ hơi buồn vì chưa thấy ai nhắc nhờ gì đến việc đăng bài của tôi trên tạp chí của ông. Ông kể cho tôi nhiều chuyện xưa, cả chuyện nhà ông ở bên này sông An Cựu, trông sang bên kia vẫn thường thấy ông ngoại tôi đi làm và về nhà.

Giữa năm 2006 ấy, cậu Phạm Tuyên tôi vào Sài Gòn ít ngày, ông ở nhà tôi. Ông Lê Nguyên Đại, người cả gan bỏ tiền ra cùng Nhà Xuất bản Hội Nhà văn cho ra đời Thượng Chi Văn Tập (tái bản lần thứ hai, in năm tập thành một tập dày), nhờ nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh viết lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập. Nhân biết con trai Phạm Quỳnh vào Sài Gòn, lại ở ngay 82 Lý Chính Thắng gần quán Đất Phương Nam, hai ông liền mời nhạc sĩ đến quán gặp mặt. Ông nằm nghỉ trên đi văng, đến gần giờ được mời mới bảo tôi tìm xem có bài nào viết về ông thì đưa họ. Tôi tìm thì chỉ còn một bản Người nặng lòng với nước, hai bài kia đều gửi đi rồi. Thế là ông mang đi đưa cho ông Lê Nguyên Đại, tỏ lòng cảm ơn, rồi ông Đại lại đưa cho ông Trần Văn Chánh, một cộng tác viên thường xuyên của tạp chí Công Giáo và Dân tộc. Ông Chánh nhậu say về nhà tỉnh cơn say, đọc xong bài này ông mới gọi điện cho tôi, nói bài viết có thể đăng được; chỉ xin đổi tên thành Kỳ án Phạm Quỳnh. Tôi cảm ơn và nói là chúng tôi không có ý như thế, xin giữ nguyên tên cũ là Người nặng lòng với nước. Ít lâu sau, ông Chánh báo cho tôi biết là bài đã đăng, và chỉ cho cả chỗ mua tạp chí ở khuôn viên một nhà thờ đường Kỳ Đồng.

Tôi bàng hoàng, không tin là mọi sự lại diễn ra quá dễ dàng mau lẹ như vậy. Và cũng ngạc nhiên vì trái với “kế sách của tôi”, sợ bài này khó lọt, đã bố trí in bài này sau khi hai bài hiền lành kia đã ra đời trót lọt. Chỉ có thể nói đó là Phép Màu. Tôi đi mua ngay năm số tạp chí. Về nhà lại được tòa soạn gọi đến lấy nhuận bút. Tôi không lấy tiền mà chuyển tất cả thành báo. Vừa may, gặp ông Giang Quốc Chung, thư ký tòa soạn, tôi được biết Phép Màu là từ một bức thư nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu gửi cho tòa soạn sau khi đọc bài tôi viết. Ông Chung còn có nhã ý sao chụp ngay cho tôi bức thư quí giá ấy. Toàn văn như sau:

Mấy hôm sau, theo lời hẹn trước, tôi đến nhà riêng số 77 đường Thủ Khoa Huân của nhà nghiên cứu, mang theo hai bài viết trước bài này. Người trợ lý đưa tôi lên phòng cụ làm việc. Cụ đã chờ sẵn, dáng dấp hòa nhã, người cao tóc bạc, da dẻ hồng hào, mũi cao giống hệt một học giả người Pháp. Phòng nhỏ, vây kín là sách và các đồ sứ cổ, trên vẽ họa đồ… Cụ gọi tôi là “chú” rất thân tình, và kể là chính cụ khi đọc bài tôi viết do tòa soạn đưa đến đã biết là tòa soạn tán thành đăng, nhưng còn do dự một chút, vì bài viết chân thành, xác thực nhưng khác lạ quá so với cách nhìn lâu nay đã ăn sâu trong xã hội. Tòa soạn cần một người đứng ra bảo đảm cho bài viết, vì thế cụ viết lá thư bảo lãnh này, hẳn một lá thư hai trang, chữ nghĩa rõ ràng, họ tên người viết rõ ràng, không phải là bút phê bên lề trang viết của tác giả kèm chữ ký tắt của người phê. Cụ chỉ thêm hai chữ “Phạm Quỳnh” trước nhan đề của tôi để người đọc chú ý mà tìm đọc.

Có tạp chí trong tay, tôi lại đến thăm gia đình ông tổng biên tập nọ, lại uống trà, ăn sữa chua, sau đó như lệ lâu nay tôi thông tin về việc ông tôi trở lại mặt báo và đưa biếu tập san Công giáo và Dân tộc số tháng 8 năm 2006.

Tôi lại đến thăm cụ Đầu theo lệ mới hằng tuần, thì được cụ cho biết các anh ban biên tập Xưa và Nay của Hội Sử học có đến gặp cụ. Cụ có hỏi nghe nói các anh có bài này đã lâu sao không dùng thì các anh cho biết sẽ đăng vào dịp tháng 9. Thế là sau một tháng bài này đăng trên Công giáo và Dân tộc, sóng yên biển lặng, Xưa và Nay lại đăng, chỉ có nhan đề bài, là để như tôi viết, không có tên Phạm Quỳnh đứng đầu, có lẽ họ cũng nghĩ như tôi: cứ đọc rồi sẽ biết, nói trước làm gì cho thêm lôi thôi.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể, sau khi báo này đăng, ông nhận được rất nhiều lời chúc mừng. Tôi nhờ ông lĩnh nhuận bút bằng báo, ông cần bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu, còn lại thì gửi cho tôi. Do được cụ Đầu báo trước là Xưa và Nay sẽ đăng vào tháng 9 cho nên tôi gấp rút bổ sung tư liệu mới có được, chủ yếu để vào phần chú thích, nhưng nhiều tư liệu rất đắt giá khiến lập luận của bài viết càng thêm vững vàng, sắc bén hơn bài đăng ở Công giáo và Dân tộc.

Có báo mới, tôi lại đến nhà ông tổng biên tập nọ. Ông đi vắng, bà và một con trai lớn tiếp tôi, rất ân cần, thậm chí bà còn nói là bữa trước, con đưa tờ báo, cô đã nói với em Su đây là thế này thì cô phải đến toà soạn nói với họ là có bài trước lâu rồi mà sao để họ qua mặt. Tôi tặng tờ Xưa và Nay và từ đấy không đến nhà ấy nữa. Sau đó, ông mất, mà tạp chí đó cũng chưa đăng một bài nào của tôi.

Bài khó nhất lọt rồi thì những bài sau cứ lần lượt xuất hiện. Thú vị là Hà Nội đăng Người nặng lòng với nước, thì Huế đăng Người nặng lòng với nhà trên Nghiên cứu và Phát triển, Sài Gòn đăng tiếp Người nặng lòng với tiếng ta trên Công giáo và Dân tộc. Có điều vui là lần này ban biên tập yêu cầu tôi dùng bút danh khác. Tôi ký Nguyễn Trung, bút danh dùng từ 1973. Tôi hiểu, kỳ trước tạp chí đã đăng cho tôi Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước trong mục trao đổi ý kiến, nay đăng cho một bài nữa, cũng về Phạm Quỳnh thì nên ký tên khác cho ra vẻ trao đổi, không lẽ mình trao đổi với ta sao?

Hồi đó, năm 2006, 20 năm sau đổi mới rồi mà người ta còn ngại nhắc đến tên Phạm Quỳnh lắm.

Sau đó, gần như hằng tuần tôi đều được gặp cụ, có lần đến nhà, đúng giờ hẹn, thấy cụ ngồi sẵn ở gần cửa, mở cho tôi vào, vì người trợ lý đi vắng mà cụ đã hẹn trước với tôi rồi. Có lần tôi đến, gặp một bác sĩ chờ khám sức khỏe cho cụ, bác sĩ nói đến khám là theo ý kiến của ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt thường gặp cụ Đầu trao đổi ý kiến về nhiều vấn đề.

Cho đến năm 2010, tôi bị ung thư, đã mổ và hóa trị, thì chúng tôi chỉ “gặp nhau” qua điện thoại, và mỗi năm có thiếp chúc Tết nhau, cụ khích lệ tôi rất nhiều. Năm 2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mất, cụ gọi điện cho tôi kể chuyện mặc dù đi lại khó khăn vì chân sưng to nhưng cụ cố dến Hội trường Thống Nhất viếng vọng Đại tướng. Cụ nói ông Văn đáng là con người để ta phải kính phục. 24/3/2018, Thượng Chi Phạm Quỳnh được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Tôi kể lại lễ tôn vinh đó thì cụ nói lẽ ra mình phải có mặt, nhưng tiếc là không đến được.

Mãi mãi in sâu trong lòng tôi hình ảnh, lời nói ân cần và nhất là không bao giờ quên được bức thư bảo lãnh, cụ đã viết để bảo vệ một người không quen biết, vô danh tiểu tốt mà dám đứng lên nói trái lại những điều đã được ghi trong sử sách, thành định kiến xã hội từ hơn nửa thế kỷ.

Lần nào chúc Tết, tôi cũng chúc cụ sống lâu hơn Đại tướng (mất khi 103 tuổi) vì cụ cho biết vẫn còn hàng chục đầu việc định làm và cần làm.

Tôi biết, giờ này, cụ vẫn đọc và tiến hành một đầu việc nào đó.

Chúc cụ mãi mãi mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản tiếp tục cống hiến cho đất nước, quê hương như Cụ đã làm gần 100 năm nay.

TPHCM 18/7/2018

P.T.

Tháng Bảy 14, 2018

Mừng đại thọ nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu -Blog PhamTon

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:54 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 7 năm 2018

MỪNG ĐẠI THỌ

NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU (1920 – 2018)

Nhân dịp này, chúng tôi xin đăng lại toàn văn bản tin của bạn Lam Điền, trên trang 12 báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 30/7/2010, như sau:

TT – Tạp chí Xưa & Nay và NXB Thời Đại vừa ấn hành tập sách Nguyễn Đình Đầu – hành trình của một trí thức dấn thân, như một món quà nhân sinh nhật lần 90 của ông.

Sách là một tập hợp các bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã in từ trước đến nay trên Xưa & Nay. Ông là một trong số ít những người nghiên cứu ở Việt Nam chọn lĩnh vực địa dư để nghiên cứu.

Các công trình về địa bạ triều Nguyễn, các nghiên cứu bản đồ, đặc biệt là những công trình về cương vực nước Việt Nam qua các triều đại… là những đóng góp quan trọng trong lịch sử nghiên cứu địa dư của nước nhà.

Trong các bài viết, có những bài dường như ông tâm sự, gửi gắm suy nghĩ của mình về thời cuộc, về cách ứng xử giữa những người trong học giới với nhau như câu chuyện “Cụ Hồ đã giải cứu tôi”, bài viết “Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng với Công giáo Việt Nam”, “Hoàng Xuân Hãn – người góp phần xây dựng nền quốc học hiện đại”.

Đặc biệt, những tư liệu lịch sử quan trọng như bài viết “Pháp đã để mất mỏ đồng Tụ Long của Việt Nam” đã cho các thế hệ sau ý thức được những mất mát của đất nước trong thời kỳ chiến tranh.

Nguyễn Đình Đầu – Một trí thức dấn thân

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:11 chiều

Blog Pham Ton năm thứ mười, kỳ 1 tháng 8  năm 2018.

NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU – MỘT TRÍ THỨC DẤN THÂN

Phan Thành Nhơn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 483 tháng 5/2017 từ trang 26 đến trang 28.

—o0o—

Trung tuần tháng 3 vừa qua, gia đình bạn bè thân hữu, giới sử học đã chia vui cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nhân dịp sinh nhạt lần thứ 97 của ông.

Nói về quá trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, GS. Trần Văn Giàu viết: “Với anh bạn già, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu luôn kiên gan bền chí với sử học và có một tấm lòng nặng tình quê hương, mà chúng tôi thường gọi vui là “tả ao của thành phố” và nay là “tả ao của Việt Nam”.

Khi đánh giá về công trình nghiên cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, GS. Phan Huy Lê viết: “Anh Nguyễn Đình Đầu là người đi đầu trong việc khai thác kho tư liệu (địa bạ) cực kỳ phong phú này… Kết quả nghiên cứu của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu đã đặt lại một số vấn đề buộc các nhà khoa học phải kiểm tra lại nhận thức của mình”.

Nhân sự kiện này, tạp chí Xưa và Nay giới thiệu bài viết “Nguyễn Đình Đầu – Một trí thức dấn thân” cùng bạn đọc.

Nguyễn Đình Đầu – nhà “Địa bạ học”

Có những tác giả mà tên tuổi có thể được khẳng định qua chỉ một công trình. Công trình nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn đáng để được xem là một trường hợp như thế. Ngay sau khi ra đời những tập đầu tiên vào những năm 1990, bộ sách này đã gây được tiếng vang trên các diễn đàn nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước, được cả giới nghiên cứu và giới bạn đọc phổ thông đón nhận nhiệt tình. Cầm lên một quyển trong số đó, ta có thể hiểu ngay độ dày công phu, chiều sâu tổng hợp của người chủ trì công trình đó: Bác Nguyễn Đình Đầu.

Viết những lời tán dương công trình ấy, thiết nghĩ cũng là hành động thừa. Đã quá nhiều bài báo ngợi ca. Đã quá nhiều sự nhận biết và ngưỡng mộ.

Tuy nhiên chỉ khi tiếp cận với khối lượng khổng lồ các phiếu ghi chép tỉ mỉ, với rất nhiều những bản thảo khác nhau được dập ghi sửa đè, trao đổi qua lại với nhà xuất bản, với chi chít những ghi chú, với những thư từ qua lại của ông và các học giả trong ngoài nước liên quan đến việc thành hình quá trình “bạch hóa” khối tài liệu địa chính quốc gia của thế kỷ XIX, chúng ta mới thật sự hiểu rằng, tác giả đã tốn công sức thời gian và tâm huyết, nghị lực ở mức độ đáng khâm phục để làm một điều mà trước kia và có thể cả sau này, không có ai làm được, hay nói cách khác, khó có ai có được sự bền chí như ông để đi đến tận cùng hoài tâm học thuật ấy.

Một nguồn tài nguyên quý giá tưởng chừng bị khóa kỹ, đã được mở ra cho tất cả mọi người.

Và quả ngọt đã đến từ lao động ấy: khi nói đến hai từ “địa bạ”, người ta nghĩ ngay đến tên ông chứ không thể là ai khác, và khi nói đến Nguyễn Đình Đầu, người ta kính nể gọi ông là “nhà địa bạ học”.

Nguyễn Đình Đầu – nhà cương vực học

Trong lĩnh vực nghiên cứu cương vực Việt Nam qua các thời kỳ, thì có thể ví von thú vị rằng, chính ông đã trở thành “tài nguyên quốc gia”. Tài nguyên đó không nằm ở khối lượng khổng lồ các bản đồ mà ông sưu tầm được để phục vụ nghiên cứu. Tài nguyên đó nằm ở những hiểu biết đa chiều, liên ngành của ông, để có thể diễn dịch từng tấm bản đồ vô tri đó thành lịch sử dân tộc, một lịch sử của mồ hôi và xương máu. Đặc biệt, ông đã góp được một tiếng nói vô cùng quan trọng trong quá trình khẳng định chủ quyền biển đảo của đất nước, đóng góp những bằng chứng khoa học chứng minh cho chính nghĩa lịch sử của Việt Nam trong những tuyên bố chính thức của quốc gia.

Sách ông ra liên quan đến những vấn đề về cương vực, biên giới, hải đảo cũng khá là dày dặn, từ những công trình riêng có ban đầu cho đến những công trình của nhà nước – cho nhà nước những năm gần đây. Hi vọng đến một ngày nào đó, tất cả những nghiên cứu ấy sẽ được tập hợp và hệ thống hóa lại trong một “tập đại thành” về cương vực, để ghi dấu cho ông như là một nhà cương vực học hàng đầu.

Nguyễn Đình Đầu – nhân chứng lịch sử

Có thể gọi ông là con người của “hai góc nhìn, ba sự kiện”

Hiếm ai có may mắn như ông, được tận mắt chứng kiến – thậm chí ở một mức độ nào đó tham dự vào ba sự kiện lớn của dân tộc: sự kiện Giành độc-lập năm 1945, sự kiện Đạt-hòa-bình năm 1954 và sự kiện Được-thống-nhất năm 1975. Chúng ta biết rằng, Độc lập, Hòa bình, Thống nhất đã từng là niềm ước ao đằng đẵng của mấy thế hệ, trải dài qua hai thế kỷ XIX-XX.

Năm 1945, hai mươi lăm tuổi, chỉ trong vòng vài tháng – từ tháng 6 đến tháng 8 của năm, người thanh niên Công giáo Nguyễn Đình Đầu lần lượt tham gia vào bộ máy hành chính của hai chính phủ: Chính phủ Trần Trọng Kim, với tư cách Giám sát Lao công Bắc kỳ đồng thời là Hội trưởng của phong trào Thanh Lao Công (Thanh niên lao động Công giáo-JOC) Hà Nội; và chính phủ Hồ Chí Minh, với tư cách là Bí thư Bộ Kinh tế mà Bộ trưởng là Nguyễn Mạnh Hà.

Nền Độc lập của nước nhà lần đầu được khẳng định từ chính những người Việt Nam sau quá trình bị ngoại bang đô hộ tám mươi mốt năm ròng rã.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cuộc kháng chiến trường kỳ ấy đã tạo dựng đỉnh cao chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh trước quân đội Pháp, dẫn đến cuộc hòa đàm Genève. Khi đó ông Đầu đang ở Pháp, chung lập trường ủng hộ chính phủ Việt Minh như các bạn bè của ông: Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Xuân Hãn, những người cũng từng tham gia cả hai chính phủ Việt Nam hình thành năm 1945 xưa kia. Và ông thể hiện lập trường bằng hành động cụ thể: Báo Thống Nhất với chủ trương ủng hộ thống nhất đất nước, ủng hộ việc Pháp đàm phán với chính phủ Hồ Chí Minh được in ngay tại Paris và do ông Đầu làm Tổng biên tập.

Bằng Hiệp định Genève ấy, hòa bình đã được tuyên bố lập lại trên toàn lãnh thổ Việt Nam [cho dù nó một lần nữa đổ vỡ, sáu năm sau đó], sau chín mươi năm chiến đấu.

Sau hòa bình, Nguyễn Đình Đầu về sinh sống ở Sài Gòn với chuyên môn nhà giáo và nghiên cứu sử địa. Tuy nhiên, có lẽ lịch sử đã định cho ông luôn phải đóng một vai nào đó trên vũ đài chính trị quốc gia. Ông chọn cho mình con đường của “Lực lượng thứ ba” và luôn trung thành với con đường đó, một lựa chọn đem đến cho ông không ít những sóng gió phẩm bình, những ngại ngần lo sợ cũng như những tác động lôi kéo của không chỉ một bên. Ông cũng thật bản lĩnh để có thể vượt lên trên những sóng to gió lớn mà cả dân tộc đã phải chống chỏi trong thời kỳ đó.

Một lần nữa, ông xuất hiện trong những ngày cuối cùng của tháng 4/1975, như một người lao công của lịch sử, một từ khiêm tốn nhưng đã gắn bó theo ông từ ngày mới dấn thân: Thanh tra lao công, Hội Thanh niên Lao động… Ông đã đóng tròn vai, và có thể nói, góp được một phần trong kết thúc phù hợp của cuộc chuyển giao Tháng Tư.

Ông đã tham gia vào sự kiện dân tộc trọng đại thứ ba trong đời mình như vậy đó.

Sau 1975, ông vẫn tham gia tích cực vào những hoạt động chính trị và tôn giáo, trong phạm vi mà ông có thể: vai trò trong Hội Bảo trợ nhà trường những năm đầu tiên, vai trò trong Tiểu ban Nhân sĩ, trong Mặt trận Tổ Quốc, và đặc biệt có những tác động không nhỏ trong quá trình tạo dựng sự thấu hiểu giữa chính quyền và Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn. Các hoạt động nghiên cứu của ông trong phạm vi thành phố cũng như phối hợp với đội ngũ trí thức phía Bắc cũng rất nhanh chóng được tạo lập và duy trì thường xuyên.

Nếu như thời kỳ trước đó, ông đã từng là Giám đốc sáng lập của tờ báo Công giáo Sống Đạo thì xuyên suốt sau ngày Thống nhất cho đến tận hôm nay, ông miệt mài viết cho Công giáo và Dân tộc. Ông thực hiện nghĩa vụ con Chúa bằng chính ngòi bút của mình.

Với một lý lịch hoạt động như thế, chúng ta không lạ khi ông có cơ hội tiếp cận và đôi khi là được làm việc cùng những tên tuổi lớn, những yếu nhân, cho dù ở phía bên này hay bên kia, cho dù là chính trị gia hay là nhà khoa học thuần túy: Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Ngô Đình Nhu, Bửu Lộc, Phạm Ngọc Thảo, Dương Văn Minh, Lý Chánh Trung, Trần Bạch Đằng, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Văn Bình, Cao Văn Luận…

Vì lẽ ấy, xin được gọi ông là con người của hai góc nhìn lịch sử.

Phát biểu về ông, vị lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Xuất nói: “Tôi quý mến bác Nguyễn Đình Đầu như là một nhà nghiên cứu cẩn trọng, nghiêm túc… Bác đã hoàn thành những công trình rất quý báu mà không phải ai cũng có thể làm được, có những hướng khám phá độc đáo, như nghiên cứu về địa bạ, khám phá về vị trí cầu tàu thật sự mà Bác Hồ đã từ đó ra đi tìm đường cứu nước,… Cho dù quan điểm đánh giá một số sự kiện, nhân vật lịch sử giữa tôi và bác có thể có chỗ khác nhau, thì như chính bác Đầu phát biểu, tôi và bác luôn là những người bạn tâm giao, luôn luôn quý trọng nhau”.

Đó cũng là cảm nhận chung mà nhiều người, nhiều giới dành cho ông nhân sinh nhật lần thứ 97 của ông.

P.T.N

Phạm Quỳnh với Công Giáo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 7 năm 2018

PHẠM QUỲNH với CÔNG GIÁO

 Nguyễn Đình Đầu

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Nam Định, từng là bí thư Bộ Kinh tế của chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945, hiện là ủy viên ban chấp hành Hội Sử học Việt Nam, ủy viên Uy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Cụ là tác giả hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử xuất bản bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh; nổi bật là các công trình nghiên cứu về địa bạ, bản đồ, địa lý-lịch sử, đặc biệt vùng Nam bộ và Nam Trung bộ. Cụ cũng là người có bộ sưu tập hàng ngàn bản đồ, sách, đồ dùng cổ có hình bản đồ, nhất là bản đồ cổ về Việt Nam. Năm 2005 cụ nhận Giải thưởng Trần Văn Giàu (lần 2) về công trình Nghiên cứu địa bạ và ruộng đất triều Nguyễn thuộc Nam kỳ lục tỉnh. Cuối tháng 3/2009 lại nhận Giải thưởng Nghiên cứu-2008 của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu trọn đời nghiên cứu của mình. Cụ vừa hoàn thành việc tổng hợp chọn lựa và hệ thống hóa hàng trăm bản đồ về thềm lục địa và biển đảo Việt Nam có nhiều bản đồ do nước ngoài thực hiện rất tỉ mỉ về các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

 Năm 2006, cụ đọc bản thảo Người nặng lòng với nước viết về cái chết của Phạm Quỳnh của tác giả không tên tuổi, cũng chẳng quen biết, gửi nguyệt san Công giáo và Dân tộc, đã viết tay hẳn hai trang nhận xét, “bảo lãnh” để Công giáo và Dân tộc thêm vững lòng cho đăng bài đó vào số tháng 8 dưới tựa đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước. Rồi tháng 9 năm ấy, Xưa và Nay tạp chí của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng đăng bài Người nặng lòng với nước.

pham-tuyen_pham-ton_cu-dinh-dau

Đầu năm 2009, cụ khởi đăng bài Phạm Quỳnh và Công giáo liền bốn kỳ, mỗi kỳ hai trang, trên tuần báo Công giáo và Dân tộc các số từ 1693 đến 1696, từ 2/2 đến 5/3/2009. Ngoài phần mở đầu, còn lại là 15 đoạn trích Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh và hai đoạn trích từ Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập.

 Chúng tôi xin mời các bạn đọc phần mở đầu và hai phần cuối bài.

 —o0o—

Trong Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong, Nguyễn Khắc Xuyên viết nơi mục Tôn giáo: “Không kể Khổng giáo và Lão giáo mà chúng tôi đã xếp vào mục Triết học Đông Phương. Tôn giáo ở đây được quy tụ vào những tôn giáo cố hữu của dân tộc, nhất là Phật giáo… Tuy nhiên cũng có một bài giới thiệu Hồi giáo…, còn tuyệt nhiên không có ai, không có bài giới thiệu một tôn giáo rất phổ biến tại Au châu và trên thế giới: Cơ Đốc giáo hay Thiên Chúa giáo…Chúng tôi tự hỏi: phải chăng người ta đã làm việc sao nhãng lớn lao này vì cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Đốc giáo của Au châu, đúng hơn Pháp quốc thời đó”(1)

 Đúng là trong sưu tập trên 200 số tạp chí Nam Phong không có bài nào giới thiệu Cơ Đốc giáo, như đã có bài giới thiệu Phật giáo hay Hồi giáo. Sự thật viết một bài báo giới thiệu tổng quát đạo Công giáo, đâu phải chuyện dễ. Chúng ta tự hỏi ngay báo chí Công giáo xưa nay có bài báo nào giới thiệu được đầy đủ đạo Công giáo? Còn những thông tin hay nhận xét về hành đạo thì Nam Phong không hề “sao nhãng”, nếu đọc kỹ nội dung một số bài có liên quan dẫu không mang tiêu đề tôn giáo.

 Chúng tôi đã căn cứ và trích dẫn một số thông tin và biên khảo của mấy số báo có trong tay để viết bài Tạp chí Nam Phong rất trân trọng Công giáo (CGvDT số 1389 ra ngày 3/1/2003). Bài này gồm 3 mục: 1) Phạm Quỳnh: Công giáo là đạo của từ bi bác ái- 2) Nam Phong giới thiệu Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ– 3) Nam Phong giới thiệu sách Nguồn gốc tiếng Việt của cố Thi.

 Mới đây tôi được ký giả Phạm Tôn biếu cuốn Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do NXB Hội Nhà văn ấn hành bằng cách thu gom những trang nhật ký đăng trong Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (11/1925). Sách dầy 392 trang(2). Khi đọc sách này tôi rất thích thú, đặc biệt những gì liên quan đến tôn giáo và các nhà thờ Công giáo. Sau đây tôi xin trích đăng những đoạn ấy với tâm tình tri ơn và xin lỗi Phạm Quỳnh vì tưởng nhầm ông đã “sao nhãng” vấn đề Cơ Đốc giáo đáng quan tâm của thời đại. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

 (1)Nguyễn Khắc Xuyên: Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong tái bản, NXB Thuận Hóa, 2002, trang 26.

(2) Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký NXB Hội Nhà văn, 2004

 (…)

Về Hà Nội được hơn một tháng, Phạm Quỳnh liền đăng đàn Thuật chuyện du lịch ở Paris tại nhà Nhạc hội Tây Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 1922. “Cuộc diễn thuyến do Hội Khai Trí Tiến Đức chủ trương, có tới ngàn rưỡi người đến nghe trong ngót 2 giờ đồng hồ, vừa hội viên hội Khai Trí, vừa thân sĩ trong thành phố và học sinh các trường” (16). Trong diễn văn quan trọng này, Phạm Quỳnh không quên tóm tắt lại các cuộc đi thăm và nhận xét về nhà thờ Công giáo như sau:

 Bốn năm bữa trước khi rời thành Paris tôi đi xem các nhà thờ. Nhà thờ ở Paris thời lớn nhỏ kể hàng trăm cái, có mấy cái thiệt to, thiệt đẹp, thật là những công trình vĩ đại của nghề kiến trúc đời xưa. Tôi có xem nhà thờ Notre Dame là nhà thờ lớn nhất ở Paris và có lẽ ở cả Au châu nữa, chắc các ngài cũng đã biết tiếng; nhà thờ Madeleine, làm theo kiểu các thần từ Hy Lạp đời xưa, trông có bề thế uy nghiêm lắm; nhà thờ Sainte Chapelle ở khuất vào trong sân toà án tuy nhỏ mà tương truyền là một nền kiệt tác trong kiểu kiến trúc “gô-tích” (gothique), trong có bộ tượng 12 ông thánh tông đồ và những kính ngũ sắc tuyệt đẹp về thế kỉ thứ 13; nhà thờ Saint-Sulpice, quy mô hoằng vĩ, làm ghé theo kiểu Hy Lạp, dựng từ thế kỷ thứ 16-17, có lẽ là nơi giáo đường to rộng nhất ở Paris; nhà thờ Sacré Coeur ở trên đống cao xóm Montmartre, dựng theo kiểu roman và kiểu byzantin tự năm 1878 kinh phí mất hơn 30 triệu quan, có một quả chuông nặng 2 vạn 6000 cân; – đó là mấy nơi nhà thờ lớn và có tiếng nhất, còn nhiều nơi khác nữa nhỏ hơn nhưng cổ lắm, các nhà sử học, nhà khảo cổ lại lấy làm quý và đẹp hơn các nơi kia, như nhà thờ Saint Germain des Prés, Saint Germain l’Auxerrois, Saint Séverin,… tôi đều đi xem gần hết cả. Đến những nơi nhà thờ cổ ấy cùng vào xem những cổ vật quán như Musée de Cluny mới biết rằng văn hóa cũ của Pháp đã sở đắc ở đạo Gia Tô nhiều lắm. Từ đời Đại Cách mệnh trở về trước, trong khoảng 1000 năm các nghệ thuật ở nước Pháp đều chịu ảnh hưởng ở tôn giáo, hình như thấm nhuần tinh thần tôn giáo cả; bao nhiêu những đồ vật cổ ở các viện bảo tàng toàn là những đồ tế tự ở nhà thờ cả, và bao nhiêu những công trình kiến trúc lớn về đời trước toàn là nhà thờ hết. Ngày nay phong trào tư tưởng tự do mỗi ngày một thịnh, song người Pháp cũng không quên công to của giáo hội đã giúp cho văn hóa trong nước bấy lâu nay (17)

 (16) Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập. Tập V. Tái bản lần thứ 1. Bộ QGGD-Sài Gòn, 1962, trang 161

(17) Như trên, trang 210-211

“Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 7 năm 2018.

Nhân tạp chí Hồn Việt số 79 tháng 3/2014 đăng lại bài Tư tưởng chính trị và xã hội của nhóm Nam Phong – Phạm Quỳnh của giáo sư Trần Văn Giàu; xin mời các bạn đọc thêm bài sau đây:

“Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”

(Tư liệu của nhà văn anh hùng lao động Sơn Tùng)

Nhà văn Sơn Tùng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Nhân Dân ngày 22/10/2011 đăng trên trang nhất tin Triển lãm tài liệu, hiện vật về chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946:

“Sáng 21-10, tại Khu di tích Phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, khai mạc triển lãm  về chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946. Ðây là hoạt động thiết thực kỷ niệm 100 năm sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011) và 65 năm chuyến thăm ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị nguyên thủ một quốc gia độc lập (1946-2011).

Triển lãm trưng bày gần 200 tài liệu, hiện vật lưu niệm về chuyến thăm Cộng Hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946. Trong đó, có những tài liệu, hiện vật quý lần đầu được công bố như: Bản thảo một số bài phát biểu, thư, bài viết có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc kỳ Việt Nam treo tại lễ mít-tinh kỷ niệm Quốc khánh 2-9 do kiều bào ta tổ chức tại Pa-ri năm 1946; phù điêu và tranh vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian ở Pháp… Số tài liệu và hiện vật này do các cá nhân và nhiều đơn vị  ở trong nước và ở Cộng hòa Pháp, trong đó có Hội Người Việt Nam tại Pháp sưu tầm, lưu giữ và hiến tặng.”

Để bạn đọc hiểu rõ hơn về một số sự việc liên quan đến những tư liệu này, chúng tôi xin mời bạn đọc phần trích trong Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà nhà văn đã ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên công bố trên Blog PhamTon. Tư liệu chép tay này tròn 20 trang, viết xong ngày 8/12/2008 (tức 12/11 Mậu Tý) tại Hà Nội – Chiếu Văn.

*

*   *

“LÚC NÀY CÒN CỤ PHẠM QUỲNH THÌ…”

Hồ Chủ tịch, Thượng khách thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp từ 31/5 đến 20/9/1946. Ông Vũ Đình Huỳnh tháp tùng Hồ Chủ tịch. Ông Vũ Đình Huỳnh vừa nói, vừa mở tập Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp –Đ.H viết là sở cứ: …“Pháp không chịu công nhận Việt Nam độc lập mở chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ từ 23/9/1945 đang lan rộng ra Nam Trung Bộ mà lại mời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thượng khách thăm chính thức nước Pháp, đó là điều chưa từng có trong lịch sử. Còn kỳ lạ hơn, sau lễ đón nghi thức nguyên thủ quốc gia tại phi trường Le Bourget ngày 22/6/1946, Hồ Chủ tịch về nhà khách chính phủ Royal Monceau. Tại đây, liên tiếp các chính khách, các nhà văn hóa danh tiếng, các tướng lĩnh, các văn nghệ sĩ, báo giới, các đảng lớn ở Pháp… đến chào Hồ Chủ tịch.

Người đến chào Hồ Chủ tịch đầu tiên là Đại tướng Juin, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Rồi Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Moutet, Bộ trưởng Justin Godart, nhà kiến trúc sư danh tiếng Francis Jourdain, giáo sư nghị viện Privet CTS Paillet, tướng Petit, chủ tịch báo giới Cộng hòa Pháp Bayet, trạng sư Nordman, văn sĩ Bloch, bà Cotton lãnh tụ phụ nữ Dân chủ. Điều lạ là, Đảng Cộng hòa bình dân (MRP- đảng của thủ tướng Bidault) do ông Schuman chủ tịch đảng dẫn đầu đoàn, ông Francisque Gay – Bộ trưởng, ông Michelet – Bộ trưởng, ông Collin ủy viên trung ương, ông Gortais ủy viên trung ương, ông Debey- ủy viên trung ương, ông Ammury ủy viên trung ương, ông Terrenoir – ủy viên trung ương, ông Max André- trưởng đoàn đại biểu Pháp, Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau. Kế đến là đoàn Đảng Xã hội Pháp đến chào Hồ Chủ tịch gồm có bà Morty Capgras, ông Moutet – Bộ trưởng, ông Philip-Bộ trưởng, ông Luyssy nghị viên, ông Rosenfeld- Viện sĩ, ông Boutbrien- bác sĩ và các ủy viên trung ương Roux, Stble, Dechezelles… Hồ Chủ tịch từng sinh hoạt trong đảng Xã hội… các vị vui chuyện với Người suốt 8 giờ tối đến 2 giờ sáng… Đoàn Đảng Cộng sản Pháp: Hai ông bà Cachin, Thorez Phó chủ tịch chính phủ, bà Braun Phó chủ tịch Quốc hội, bà Jeannette Vemersche nghị viên, bà Vaillant Couturier nghị viên, Duclos Phó chủ tịch Quốc hội, Marty ủy viên trung ương, Mauvais ủy viên trung ương, Billoux Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Tillon Bộ trưởng Bộ quân khí…

Một đoàn văn sĩ, thi sĩ lừng danh thế giới đến chào Hồ Chủ tịch: Triolet, Aragon, Richard Bloch, Boene, Moussinac, Masson, Séghers, Pierre Emmanuel. Ông bà Joliot Curie hai nhà bác học thế giới đến chào Hồ Chủ tịch rất thân tình, đàm đạo gần hai tiếng đồng hồ. Về sau, hai nhà bác học Joliot Curie còn gặp Hồ Chủ tịch mấy lần…Lại…không thể tưởng tượng nổi, nhà danh họa Picasso gặp Hồ Chủ tịch ôm choàng lấy nhau hồi lâu! Vừa hàn huyên Picasso vừa ký họa chân dung Hồ Chủ tịch. Bức chân dung lịch sử ấy người giao cho tôi cất giữ. Hơn hai mươi năm sau tôi gặp họa, bị khám nhà nên không còn nữa.

Đến như cựu Toàn quyền Đông Dương hai lần A.Saraut cùng với con rể là Thượng sứ Sainteny đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và ôm chặt lấy Nguyễn Ái Quốc năm xưa trước quan khách trong bữa tiệc long trọng!

Trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau, Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn: ông Phan Anh, ông Bửu Hội, ông Hoàng Minh Giám, ông Nguyễn Văn Huyên, ông Trịnh Văn Bính, ông Dương Bạch Mai, ông Nguyễn Mạnh Hà, ông Tạ Quang Bửu, ông Đặng Phúc Thông, ông Huỳnh Thiện Lộc, ông Chu Bá Phượng, ông Hoàng Văn Đức. Trưởng đoàn là ông Phạm Văn Đồng. Lúc các thành viên đoàn Việt Nam vào đủ trong phòng, Hồ Chủ tịch nói với ông Phạm Văn Đồng, có ông Đỗ Đình Thiện và tôi (Vũ Đình Huỳnh): “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Người im lặng. Ông Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Mà cũng chỉ có Bác Hồ! Sau khi ở Pháp về, ngày 4/12/1945, trong phiên họp Chính phủ Người đề nghị trợ cấp hằng tháng cho hai bà Thành Thái, Duy Tân mỗi bà 500 đồng Đông Dương

Lời bình của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu năm nay 89 tuổi, vừa nhận giải thưởng “Nghiên cứu – 2008” của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu suốt đời của cụ. Trong một lần vui chuyện cụ đã kể cho chúng tôi: Năm nọ, thành phố Hồ Chí Minh có yêu cầu Giáo sư Trần Văn Giàu và cụ chủ biên một tập sách giới thiệu toàn diện về Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Khi cùng làm việc với nhau, bỗng một hôm Giáo sư Trần Văn Giàu thở dài: “Giá như bây giờ còn cụ Phạm Quỳnh, có phải là đỡ không…” Câu nói ấy vô tình gần giống hệt lời Hồ Chủ tịch nói năm 1946, trước ngày khai mạc Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau trên đất Pháp.

Tháng Sáu 29, 2018

Bà Yên Bái

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:04 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 7 năm 2018.

BÀ YÊN BÁI

Phạm Tôn

Cả nhà tôi đều gọi bà là Bà Yên Bái. Vì từ khi bà tìm ra họ hàng và chúng tôi thì bà vẫn sống ở Yên Bái cho đến cuối đời.

Năm 1960, anh họ tôi là Phạm Vinh, đích tôn của ông ngoại tôi đóng quân ở Yên Bái, thì một hôm có đồng đội đi công tác về, dẫn anh đến nhà một bà cụ. Bà nhìn anh là nói ngay “Đúng là người nhà ông Quỳnh rồi…” Và bà kể cho anh nghe bà chính là em gái bà nội. Thời con gái ở xứ Kinh Bắc bà có yêu một thư sinh họ Vũ theo Phan Bội Châu đi Đông Du sang Nhật, nhưng việc lớn không thành, anh em tản mát mỗi người mỗi nơi, anh đành xuống tóc nương nhờ cửa Phật, chờ thời cơ. Gia đình biết là con gái “tằng tịu” với một chú tiểu tu ở chùa làng thì giận lắm, đuổi khỏi nhà. Ông bà đành lén trốn lên mạn ngược. Đi mãi qua các đồn điền ca phê, cuối cùng đến Yên Bái. Năm tháng trôi qua, bà sinh được hai con gái, đặt tên là Thái, Bình, mong ước suốt đời của hai vợ chồng về nước, về nhà. Vợ chồng ông làm cu li, con gái thì cho vào địu, treo lên cành cây. Kiến cắn, bé khóc, nhưng vợ chồng vẫn phải làm việc.

Ông mất, bà ở vậy nuôi hai con, lòng thương nhớ quê nhà, nhớ họ hàng, gia đình không lúc nào nguôi.

Nhà có một mảnh vườn nhỏ nhiều cây mít, ổi, vải, dứa… mùa nào thức ấy. Nhưng bà không bán, chỉ đãi khách qua đường ghé nhà hỏi đường hoặc nghỉ mệt. Có bộ đội, công nhân đi qua, bà đều mời vào nhà uống nước chè, ăn quả tươi… Bao giờ bà cũng hỏi chuyện mà không quên hỏi “Trong đơn vị, xí nghiệp, cơ quan có ai người họ Phạm không”. Nhiều lần có người họ Phạm đến, nhưng không phải người nhà bà. Mãi đến lần này mới gặp Phạm Vinh. Từ đó, bà nhờ một anh lái xe tải ở công trường thủy điện Thác Bà có công tác xuôi về Hà Nội, tìm đến nhà tôi, đón mẹ và em gái tôi lên bà chơi nửa tháng. Anh Đạo, “con nuôi” của bà, đưa lên rồi lại đưa về tận nhà. Đến mùa hè thì chồng cô Bình là con út bà về đón tôi và em trai lên chơi gần một tháng. Bà vui lắm, đưa đi khoe khắp xóm nói là nhà mình có con, cháu chị gái lên chơi, “không phải là không có dây có rễ”. Nhờ được gặp bà mà tôi biết được những năm tuổi trẻ của ông ngoại Phạm Quỳnh. Bà bảo gặp ai cũng hỏi có quen ai họ Phạm không để tìm họ hàng bà con vì biết rằng ông là người nổi tiếng, nhiều người biết chứ ông thân sinh ra bà Lê Văn Chấn chỉ là viên ký lục ở làng, người ngoài làng ít ai biết. Bà kể cho tôi nghe chuyện ông bà ngoại tôi lấy nhau đồng tuổi Nhâm Thìn, vừa tròn 16, thường cùng nhau về quê vợ, ra đồng cùng làm cỏ với bà con, ông thì xách giỏ khoai lang và ấm nước vối, mời bà con, vừa hỏi và ghi chép các câu tục ngữ ca dao địa phương. Tôi biết sau này ông đã diễn thuyết về ca dao tục ngữ ở hội Trí Tri Hà Nội. Những chuyện bà kể giúp tôi viết được những phần rất quan trọng về thời thanh niên của học giả Phạm Quỳnh đặc biệt là trong bài Người nặng lòng với tiếng ta từng có tiếng vang ở cả Hoa Kỳ khi báo Khởi Hành đăng theo đúng bản in trong nước trên tạp chí Công giáo và Dân tộc (Sài Gòn, 2006). Một người em vợ, nhớ về một người anh rể với tất cả tình yêu thương và lòng kính trọng như thế, thật hiếm có.

Cô Thái con cả của bà thất lạc trong thời gian chiến tranh từ ngày còn nhỏ, từ đấy, bà sống với con gái út, Vũ Thị Bình. Cô Bình sau này lấy một anh xã đội trưởng du kích tên là Yết, người đã về đón anh em chúng tôi lên nhà bà nghỉ hè. Sau này, vì cô Bình không sinh được con, vợ chồng ly hôn, bà chỉ sống với cô. Hai mẹ con sớm tối có nhau, luôn thương yêu chăm sóc nhau, nhưng không hợp tính. Bà nheo đôi mắt sâu, màu mắt đã nhạt, cười hiền, nói cho tôi biết là cô tuổi Tuất, nó là con chó, hay sủa, ăn nói khó nghe, nhưng nó trung thành, nó lại là con gái mà đứng chữ nhâm nên tính nết cứng cỏi như đàn ông. Việc gì đàn ông làm được, cô mày đều làm được, nhà này sống được là nhờ cô mày. Từ gieo trồng lúa nương, đến làm nhà, đẵn gỗ, chặt tre nứa, kiếm lá gồi. Mẫu nhà cũng tự nghĩ, ra vào thuận tiện, có chỗ thờ tự, có chỗ tiếp khách, mẹ con mỗi người một chỗ nằm, nhưng lại thông nhau tiện bề chăm sóc mẹ. Cái thế nhà nó chọn, thì không ai hiểu. Nhưng bà biết, thằng Yết lấy nó vì trả ơn những ngày bị thương, ăn dầm nằm dề hàng mấy tháng trời ở nhà bà, một tay cô mày chăm sóc, mà nói bỏ là bỏ, đi lấy ngay con Muộn ở xóm dưới, chưa cưới đã phễnh bụng, vậy mà thằng Yết đi đâu cũng vênh mặt “ta sắp có con, mà là con trai”. Cứ nhất định nói là con trai. Cô Bình chọn chỗ đồi cao, trông xuống nhà vợ chồng Yết . Nó có muốn nhìn thì phải ngước mắt lên, còn cô thì nhìn xuống dưới chân là thấy ngay nhà nó. Căn nhà trên đồi lặng lẽ suốt ngày, chỉ có bà cặm cụi chăm sóc vườn mít, chuối không có ai ăn thì phơi, sấy, bỏ  vò nút lá chuối khô, có ai đến nhà lại cho mang về làm quà. Cô đi làm suốt ngày, còn đi họp hội phụ nữ, về nhà lo cơm nước cho mẹ mà nhiều khi chẳng nói lấy một lời. Bà bảo bà biết cô không vui, mà cái số bà nó thế.

Nay may thay có thằng cháu là tôi, ham nghe chuyện xưa lại thích ăn chuối sấy, và lần đầu được ăn mít sấy, cứ ngồi ăn tì tì và uống nước trà tươi vườn nhà mà nghe bà kể chuyện; có chuyện tôi biết là bà chưa kể với ai. Như chuyện ông ký lục Vũ Văn Chấn xứ Kinh Bắc có ba con gái trắng trẻo, xinh xắn. Tết năm nọ lén đi xem bói ở chùa. Thầy phán cô cả Lê Thị Vân (là bà ngoại tôi) có số “đệ nhất phu nhân”, cô thứ là Lê Thị Hợp (nhà gọi là Nhỡ, là bà Yên Bái) thì “li hương, biệt quán”, cô út Lê Thị Mai thì “đi hai lần đò”, số phải hai đời chồng. Ra về, cô cả vô tư cười thầy bói nói mò, làm gì có chuyện ấy; cô thứ hơi buồn nghĩ sao vận mình lại hẩm hiu như vậy; chỉ có cô út, chưa đến tuổi dậy thì là bỏ ngay nhà, ra Hà Nội xin tu ở chùa phố Hàng Vải. Gia đình cho người bắt về lại bỏ trốn đi xa hơn, rồi xuống tóc đi tu để tránh phải lấy hai đời chồng. Không ai ngờ thầy bói chùa làng mà phán đúng cả. Bà cười tươi nhắc lại chuyện cũ…

Nhiều năm sau khi bà ngoại tôi mất (năm 1953), bà Yên Bái mới về Hà Nội thăm gia đình tôi số 16 phố hàng Da, nhưng thật ra là muốn gặp bà em út nay đã là sư trụ trì một ngôi chùa lớn ở Thạch Bàn Gia Lâm. Gia đình tôi vẫn giữ liên lạc với bà từ xưa, nên hôm bà Yên Bái ngỏ ý muốn đi thì mẹ tôi chuẩn bị ngay và hai dì cháu cùng đi. Mẹ tôi bảo định đi vài ngày, dặn dò chúng tôi việc nhà, nhưng không ngờ, sáng đi, tối đã thấy hai dì cháu về: không ăn cả cơm chiều ở chùa. Mẹ tôi nói riêng với tôi, chuyện buồn lắm, sư già (nhà chúng tôi quen gọi bà Mai như thế, và chính bà cũng tự xưng như thế) không nhìn mặt chị, bảo “sư già thấp” (gọi như thế để phân biệt với bà Mai là “sư già cao”) lo cơm nước và hoa quả cho khách ăn rồi còn về kẻo nắng. Mẹ tôi bảo bà Yên Bái nghĩ mãi mới quyết định về chuyến này, để lá rụng về cội, chị em già sống với nhau, bà tính làm vãi, sống luôn ở chùa Thạch Bàn, đêm ngày chị em cùng tụng kinh niệm Phật, bõ những năm dài li hương biệt quán. Thế mới biết cái miệng lưỡi người đời thật đáng sợ, cái bia miệng vẫn còn, cái án “tằng tịu với người tu hành, theo giai bỏ nhà ra đi” từ đầu thế kỷ vẫn đeo đuổi bà. Bà thì cười hiền bảo với tôi, bà tuổi thân là con khỉ, chỉ sống yên trên rừng núi thôi; về đây là về chơi, thăm người xưa thăm cảnh cũ thế này là mãn nguyện rồi. Chằng còn mong gì hơn… Rồi bà lại về Yên Bái.

Nhà bà nay đã ngập trong hồ Thác Bà. Hồi làm thủy điện, người ta phải giải tỏa làng để làm lòng hồ. Mỗi cây mít, nhãn, vải, ổi được bồi thường năm đồng, dứa, chuối thì không bồi thường. Bà bảo bà không nhận bồi thường, cứ để cây mít ông bà trồng từ khi dựng nhà, các cây nhãn, vải, ổi cũng vậy, cứ để ở chỗ ông bà đã trồng. Sau này nước ngập, tôi đi trên đập Thác Bà còn nhận ra nhà cũ là nhờ cây mít ngọn cao ở bên trái đầu đập lớn. Cái gì bà cũng coi thường, chỉ quí cái tình.

Từ năm 1960 đến năm 1971, năm nào tôi cũng lên ở nhà bà, khi ít cũng ba ngày, khi dài đến cả tháng, “lợi dụng tôi hay đau ốm” phải nghỉ việc.

Đầu năm 1973, có tin Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết, cả nước vui mừng; em trai tôi cũng làm đám cưới, tôi và hai vợ chồng trẻ vẫn sống ở nhà 16 Hàng Da. Tôi nghĩ, lúc này cả nước gia đình ai cũng sum họp vui vầy bên nhau, chỉ có bà tôi là tội nghiệp, nhất là mấy năm qua, một trong hai người không còn nữa thì người còn lại sẽ rất khó sống. Vậy, Tết này, tôi phải lên thăm bà. Ngỏ ý với em trai buổi sáng thì tối hôm ấy em nói “xà kềnh” rồi anh ơi, vợ em bảo nếu anh đi Yên Bái thì cô ấy sẽ lại về nhà mẹ đẻ. Tôi đánh ngay điện lên nông trường Mộc Châu cho ông em rể chí cốt “Đưa mẹ về ngay. Anh” Như ra lệnh khẩn.

Mẹ tôi về là tôi lên đường ngay đêm đó.

Cầu Long Biên bị đánh sập, phải đạp xe qua cầu phao sang ga Đông Anh cách hơn 20km, rồi lên tàu hỏa đi Yên bái. Mờ sáng thì đến ga Yên Bái. Tôi lại đạp xe đi ngay 40km về Thác Bà. Bụng đói, trời lại lạnh, tôi tìm các quán lá ven đường, không thấy quán nào, lúc ấy mới nhớ ra hôm nay đã là 30 Tết, lại là cái Tết hòa bình, đoàn tụ đầu tiên của bao gia đình. Các nhà mổ lợn, gói bánh chưng. Đường xa, vắng ngắt, nhưng hễ thấy có xe nào đạp đến gần thì lại cố đạp nhanh, sợ gặp phải kẻ bất lương thì khổ. Trời sẩm tối, thì đến cổng nhà. Tôi giỡ cửa tre, dắt xe vào sân, chỗ có ánh đèn điện hắt ra. Vừa bước lên thềm đã nghe rõ tiếng bà tôi cười nói “Đã bảo mà, thể nào nó cũng lên mà!” Dưới ngọn đèn điện, bà ngồi trên phản, cô tôi đứng dậy đỡ cho tôi cái ba lô mà nói: Từ buổi trưa, bà đã bảo cô nhớ nấu thêm cơm, đến bữa bà còn bảo lấy liễn xới cơm ủ chăn cho cháu nó ăn kẻo nguội… Nghe cô nói, bà kéo cái chăn sợi Nam Định xám lấy ra liễn cơm. May mà tôi quyết tâm lên thăm bà, nếu không thì thật có tội.

Năm 1975, non sông liền một giải, cơ quan tôi cũng lập một văn phòng thường trực tại Sài Gòn. Tháng 6, tôi xin nghỉ phép, đưa mẹ tôi, 72 tuổi là người lớn nhất nhà và cháu Hải, 6 tuổi, con cô út là người nhỏ nhất lên thăm bà. Cả nhà, chỉ mình tôi biết đường lên đây, sợ sau này tôi đi xa, chắc không ai lên được. Mẹ tôi nghĩ đây là lần cuối gặp bà, nên muốn mang theo đủ thứ. Tôi biết sức mình yếu, nên mẹ cho vào túi du lịch thì con lại lén bớt ra. Còn cháu bé nhanh nhẹn cẩn thận thì tôi cho xách một cái đèn bão Trung Quốc to và giao nhiệm vụ “nắm tay, dẫn bà ngoại”. Như thế nó sẽ khỏi bị lạc mà mẹ tôi cũng đi chậm lại khỏi vấp ngã, vì mẹ tôi mổ mắt, hồi ấy phải đeo kính rất dầy, nặng. Chuyến đi suôn sẻ. Bà mừng lắm, hai dì cháu chuyện trò rất tâm đắc.

Mẹ tôi bảo tôi dẫn ra chợ đầu làng, mua được con cá quả (lóc) hơn nửa ký, lại mua dứa, cà chua và rau thơm rồi về nhà làm ngay bữa trưa sum họp gia đình, chờ cô Bình đi làm về thì cùng ăn. Dân Hà Nội kiệt quệ vì chiến tranh, được một bữa cơm nóng canh sốt như vậy, lại có con cá to tươi ngon thì đã cho là quá lý tưởng. Nhưng cô về, đặt dao, cuốc xong, chào mẹ tôi rồi vào ngay bếp. Bà vui vẻ nói không phải lo cơm nước, chị nó đã làm xong cả rồi, chỉ chờ cô về là ăn thôi. Thấy mẹ tôi tươi tỉnh bưng lên bát canh cá nóng hổi thơm mùi dứa thì vừa liếc nhìn cô đã nói ngay “Ăn thế này thì độc chết, bệnh như mẹ con phải kiêng kỹ lắm mới được như nay…” Mẹ con tôi đưa mắt nhìn nhau; may mà tôi đã nói cho mẹ tôi biết tính khí cô rồi. Còn cô chưa ăn, cũng bảo bà đừng ăn vội chờ cô làm món ăn lành… May mà cô đi làm suốt ngày, cho nên chuyến thăm cũng rất bổ ích cho mẹ, tôi và cả cháu Hải. Hải thấy giữa nhà có bàn thờ một “thằng bé” tay giơ cao một đóa sen, thích quá nó leo lên phản lấy cái tượng. Tôi sợ quá, bắt để lại ngay tượng Phật đản sinh lên bàn thờ. Mẹ tôi cũng bảo như thế là hư lắm. Nhưng bà chỉ cười, nó biết gì mà mắng, nó thấy đẹp thì thích thôi, trẻ con hay thích trẻ con mà. Hôm ra về, mẹ tôi và bà cứ bịn rịn mãi mới chia tay được. Còn cô chào mẹ tôi từ sớm để còn đi làm hợp tác lấy công điểm.

Năm 1978 tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội chuẩn bị đưa cô láng giềng vào Sài Gòn làm đám cưới. Tối đến khu tập thể Kim Liên bàn với anh cả và chị dâu lên “kế hoạch” hẳn hoi: Tối mồng 2 Tết, lên tàu ở ga Hàng Cỏ, thì mờ sáng sẽ đến Phú Thọ, chạy ngay ra bến xe đi Thác Bà. Mồng 3 Tết chắc dễ kiếm xe vì còn trong ba ngày Tết mà người ta cũng kiêng ngày này không lành. Quả như hai anh em đoán. Xe lên Thác Bà thuận lợi.

Tôi dẫn anh đi lên đập Thác Bà, chỉ cho anh chỗ nhà cũ của bà, rồi đi tiếp. Nhưng mấy năm chiến tranh đã làm địa hình, đường xá khác đi rất nhiều. Lên đến đầu dốc thì con đường dẫn vào một doanh trại bộ đội trước kia không có. Tôi cứ dẫn anh tôi đi theo hướng lên ngọn đồi cao nhất tìm nhà bà. Vả lại, có trong túi cái thẻ phóng viên bọc plát tích, tôi không sợ gì bộ đội dân quân, đều là “cánh ta” cả. Qua doanh trại, không ai hỏi han gì, có lẽ dân cũng thường tiện đường mà qua, thành quen với bộ đội thời bình.

Đến nhà, chỉ có cô Bình ra đón, nói là bà đang ngủ. Nhưng đã nghe tiếng bà trong nhà vọng ra “Ai đấy, có phải thằng cháu không?…” Cô dẫn hai anh em đến bên giường giới thiệu là có đến hai cháu từ Hà Nội lên thăm chứ không phải một như mọi khi. Bà ngồi trên giường giơ tay xoa đầu từng cháu một rồi cười. Cô bảo bà nay mắt mờ, suốt ngày chỉ nằm một chỗ, lúc nào cũng lơ mơ ngủ. Ăn rất ít, chỉ vui khi có mấy bà bạn đến chơi để bà có dịp khoe các con cháu bà chị nhất phẩm phu nhân. Ở được năm hôm, anh em tôi phải tính chuyện về, vì muốn về, phải qua sông lên bến xe huyện Yên Bình, mỗi ngày chỉ có một chuyến xe ca 50 ghế.

Việc quan trọng và có ý nghĩa nhất anh em tôi làm trong ngày là đến bên giường bà, để “bà điểm danh” và xoa đầu từng cháu. Ba bốn lần qua sông mà toàn là hết vé, lần cuối, tôi đứng ra lập một danh sách những người cùng chờ mua vé, ký tên vào, hẹn sáng hôm sau ra xe lấy vé. Phải có “chiêu” đó mới về Hà Nội được. Sáng đó, chúng tôi chờ bà “điểm danh” như thường lệ rồi mới đi. Cô bảo các cháu về thì bà sẽ buồn đấy, nhưng cô sẽ nói dối là hai anh em sang sông mua vé, bà không biết đâu.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp bà yêu quí. Sau này thế nào tôi không rõ. Có một bà cô con ông em bà ngoại tôi ở Sài Gòn, sau giải phóng tôi cho địa chỉ cũng thường liên lạc thư từ và gửi quà cáp biếu. Bà này cho biết là không hiểu sao lá thư nhận được cuối cùng của cô Bình có ý giận lắm, viết là “Từ nay xin đừng thư từ, quà cáp gì nữa, cứ xem như mẹ con chị trên này đã chết cả rồi”.

Tôi viết thư cũng không thấy hồi âm…

Trong lòng tôi không bao giờ phai nhòa hình ảnh, lời nói, nụ cười của bà Yên Bái.

Sài Gòn 27-6-2018

P.T.

Người nặng lòng với tiếng ta

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 7 năm 2018.

 

PHẠM QUỲNH – NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI TIẾNG TA

P

hạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương Đường mà tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Nhưng lại sinh tại Hà Nội, số nhà I phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm, ngày 30/1/1893, cuối năm Nhâm ThìnF[1]F. Gia đình ông sớm lên Hà Nội lập nghiệp; vì cả làng hầu như chỉ có một nghề là “nghề dạy học”

Từ khi lọt lòng, Phạm Quỳnh đã èo uột. Chín tháng, mẹ đột ngột qua đời. Bà nội là cụ Cả phải bế đi xin bú chực hàng xóm, láng giềng và mớm cơm cho ăn. Còn phải chăm sóc cháu ốm đau luôn; vất vả nhất là hồi bị đậu mùa. Sau này, di chứng sót lại là khuôn mặt tuy trắng trẻo, có vẻ thư sinh, lại hơi rỗ hoa, và một bên mắt nhìn rất kém. Mãn tang vợ, ít lâu sau, cha tục huyền, sinh được một trai, đặt tên là Phạm Bái. Còn èo uột hơn cả anh.

Thân phụ là Phạm Hữu Điển, xuất thân tú tài nho học, dạy nhiều học trò. Nhưng, chính con trai, thì trước sau chỉ học được có hai chữ nho viết tên mà thôi! Năm Phạm Quỳnh lên chín, lại mất cha. Chẳng bao lâu sau, cậu bé Bái cũng mất. Bà mẹ kế còn ít tuổi, được phép nhà chồng, đi bước nữa.

Phạm Quỳnh được bà nội nuôi cho ăn học. Hai bà cháu sống cùng bà cụ Tú, vợ người tuyệt tự đã cho ông nội hưởng thừa tự một căn nhà hình ống nhỏ hẹp. Nhà này do học trò dựng để thờ thầy là cụ Dưỡng Am Phạm Hội, thân sinh chồng bà cụ Tú.

Hai bà cụ tính, dù sao cũng phải cho đứa cháu côi cút, yếu ớt “đi học cho có cái chữ, để sau này còn có cái ra mà sống với đời chứ.” Bèn cho đi học ở trường Pháp Việt gần nhà.

hinh-1

Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất ham, học nhanh lắm. Chẳng bao lâu, được vào học không mất tiền ở Trường Thông Ngôn Hà Nội (Collège des Interprètes) bên sông Hồng. Sau đó, trường này hợp nhất với trường Sư phạm, Trung học Pháp Việt và trường Tiểu học thuộc trường Sư phạm, với trường sở là các khu nhà của nhà máy in Schneider gần Hồ Tây, Trường Trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) mà dân ta thường gọi là trường Bưởi, tức trường Chu Văn An sau này. Vẫn không mất tiền học, lại còn được học bổng.F[2]F Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu trường Thành Chung Bảo Hộ. Tuy mới 15, 16 tuổi đầu, ông đã chính thức trở thành công chức, làm thông ngôn tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Extrême-Orient) ở Hà Nội. Hằng ngày, đi bộ từ phố Hàng Trống, qua hồ Hoàn Kiếm đến dấy làm việc và học tập miệt mài. Ham học đến nỗi có lần bị khiển trách vì “lơ là công việc được giao”.

hinh-2Thấy cụ Tú đã già và cụ Cả còn khoẻ, nhưng tuổi cũng đã cao mà hai cụ vẫn phải sớm hôm chăm lo, bận rộn vì mình, ông áy náy quá.

Năm sau, nhờ người mai mối, ông cưới cô Lê Thị Vân, con cả một gia đình ký lục, gốc nông dân. Cô cũng sinh năm Nhâm Thìn như ông, nhưng là đầu năm, có hai em gái và một em trai út. Cô này khoẻ mạnh, tươi tắn, trắng nõn nà. Tóc để đuôi gà, răng đen nhưng nhức hạt huyền, đúng như lòng ông hằng mơ ước. Chính năm 1909 này, Trường Viễn Đông Bác Cổ cử ông sang Pháp làm chức trợ giáo cho giáo sư Deloustal, giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trường Đông Phương Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Nhưng, bấy giờ, mới lấy vợ, ông không chịu đi. Trường phải thay bằng ông Phan Văn Trường.

Đôi vợ chồng son vẫn sống trong căn nhà nhỏ hình ống với hai bà cụ, nhưng ở buồng ngoài, có cửa tò vò, sát đường phố. Tiếp đó là cái sân nhỏ, có giếng nước. Rồi đến buồng hai bà cụ và bàn thờ hai cụ ông. Đây cũng là nơi kê bàn học và làm việc của Phạm Quỳnh thời trẻ. Và cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ nếp đó: học hành, viết lách, làm việc trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm. Sau một cái sân con nữa là nhà thờ cụ Dưỡng Am Phạm Hội. Trong cùng là một khoảnh vườn khá to. Giữa vườn có cây táo và một cây bồ hòn, lấy quả để giặt giũ.

hinh-3

Cuộc sống gia đình đỡ gieo neo, hai cụ đỡ vất vả, Phạm Quỳnh yên lòng, cảm thấy hạnh phúc đơn sơ mà thật quý báu vô cùng.

Cô Vân, vốn con nhà nông, hay lam hay làm, khéo quán xuyến việc nhà, lại tài nấu nướng, để chồng yên tâm đèn sách. Cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von, thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện Kiều, nhưng không biết chữ nho, cũng chẳng biết chữ quốc ngữ. Chỉ rất rành tiếng ta, nhất là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, các sự tích vùng quanh làng Lương Ngọc quê chồng, hay làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, “quê hương quan họ” của cô.

Vốn ham học, giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu tiếng ta, quí trọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh tìm thấy trong chữ quốc ngữ mới phôi thai một vũ khí chiến đấu phục vụ Tổ Quốc hợp với sức mình. Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân tộc hằng ngày qua lời ăn, tiếng nói của hai cụ bà và cô vợ trẻ yêu. Từ câu hỏi thăm sức khoẻ buổi sáng, những lời trò chuyện, bàn bạc trong hai bữa cơm đến những khi gia đình sum họp dưới đèn chuỵên vãn và cả lúc đêm khuya thanh vắng, nghe lời thỏ thẻ của cô vợ trẻ, đang lúc dào dạt yêu thương. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức Đông Tây, kim cổ mà chàng thanh niên ham học hấp thụ hằng ngày trong công việc khảo cứu tại trường Viễn Đông Bác Cổ, khiến chàng càng tin vào sức sống mãnh liệt của tiếng ta. Nhất là từ nay, đã có phương tiện thuận lợi để thể hiện trên mặt giấy. Đó là chữ quốc ngữ. Ông hăm hở lục lọi các kho tư liệu cũ nát phủ đầy bụi thời gian, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hai thứ chữ do công việc bắt buộc ông phải khổ công tự học, đến nay, đã làm chủ được rồi. Một hôm, ông sững sờ khi đọc lần đầu tiên hai bài văn tế tướng sĩ viết bằng chữ Hán của một nhà nho yêu nước chống Pháp, trong tập Lệ ngữ văn tập. Bài văn lay động mạnh tâm hồn ông. Ông bắt tay ngay vào dịch với mong muốn để nhiều người, cả Việt lẫn Pháp, có thể tiếp xúc được với ngọn lửa yêu nước thương dân ngùn ngụt cháy trong lòng nhà nho nọ. Một việc làm quá sức ông. Nhưng, với lòng kính yêu tha thiết các chiến sĩ chân đất đã dũng cảm đứng lên cứu nước trong cuộc chiến không cân sức, một mình Phạm Quỳnh đã lặng lẽ tra cứu, so sánh, nghiền ngẫm, rồi dịch ra Pháp văn, và khôn khéo đưa vào tạp chí thường kỳ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (số đặc biệt) như “một tài liệu nghiên cứu mới được phát hiện để giúp độc giả hiểu thêm về Việt Nam”

Sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng, những giờ phút nghỉ ngơi bên gia đình yêu dấu-cô vợ trẻ, bà nội, cụ Tú-thật là quý báu, bổ ích. Bên chén chè, họ bàn chuyện nhà chuyện họ tộc làng xóm ở hai quê nội ngoại, Phạm Quỳnh ghi nhớ và còn ghi chép nữa, biết bao là tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói độc đáo từ “ba nguồn suối ngôn ngữ dân gian” ấy. Có những lúc cả ba người phụ nữ như chỉ toàn nói bằng tục ngữ ca dao mà vẫn diễn đạt được trọn vẹn ý mình muốn nói. Mà còn ý nhị, dí dỏm, duyên dáng, sâu sắc hơn lời nói thường. Càng sinh động hơn hẳn những gì hằng ngày ông vẫn đọc trong sách, báo. Ông chỉ nghe; khi chưa nghe rõ thì hỏi, chứ tịnh không dám nói gì. Vì biết mình không thể nói gì hay hơn, đúng hơn các bà. Và ghi chép. Rồi suy nghĩ, nghiền ngẫm. Còn đọc thêm những gì ngưòi trước đã viết về ca dao, tục ngữ, nhất là các tập sưu tầm tục ngữ, ca dao các miền đất nước. Để so sánh, đối chiếu, cố gắng hiểu cho ra ý nghĩa đích thực của từng bài, từng câu, thậm chí từng từ. Rồi những ngày Tết nhất, những dịp giỗ chạp, các cụ các bà, trong đó có bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyên-một nhân vật nổi tiếng của Hà Nội xưa) gọi bà cụ Tú bằng mợ, và các cụ học trò cụ Dưỡng Am, như ông ký lục Đỗ Thận, ông lang Hàng Đường, v.v… đến dự, trò chuyện rôm rả, ông lại càng kinh ngạc trước sức mạnh diệu kỳ của tiếng ta, càng học thêm đựơc bao cách nói tài tình, táo bạo, thâm thuý đến bất ngờ của ngôn ngữ dân gian. Lòng say mê ấy càng tăng lên gấp bội trong những dịp ông cùng vợ về quê, ra đồng xem bà con làm ruộng, trò chuyện cùng hàng xóm láng giềng, nhất là những lúc trò chuyện cùng người thân trong gia đình. Những câu, những chữ tưởng như đã biết, đã hiểu quá rõ rồi, nay nghe lại thấy như có ý nghĩa, sắc thái mới mẻ hẳn khi được nói lên đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, lại trong cảnh thiên nhiên đồng nội đẹp tuyệt vời nơi quê nhà thân thiết. Những buổi sáng, chiều ra đồng làng xem bà con thôn Nhân Thục quê vợ cày cấy, tát nước, lắng nghe và ghi vào lòng mình những lời ca tiếng hát, điệu hò, câu ví, lời đối đáp mộc mạc, dân giã mà thâm thuý, chứa đựng những chân lý từ lao động đời sống mà ra, lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác nhận giá trị đích thực qua chính cuộc sống lao động của nhân dân. Những lúc nghỉ ngơi giữa đồng lộng gió, dưới mái điếm lợp ngói xưa mát rượi, cùng bà con ăn tạm củ khoai lang với miếng cà muối, hay củ dong riềng, Phạm Quỳnh ân cần lễ độ xách ấm đất nung, khi thì nước vối nóng khi thì nước chè tươi, rót ra bát mời từng bà con giải khát, cung kính như với những người thầy đang dạy mình tiếng Việt. Rồi những tối, sau bữa cơm chiều, cùng gia đình uống nước bên hiên nhà, có bà con mến khách Hà Nội sang chơi góp chuyện. Hoặc cùng vợ sang thăm tận nhà bà con, người làng. Đều là những dịp tốt để ông học hỏi được nhiều từ ngữ, lối ăn nói mới lạ, khác xa trong sách vở đã đọc, đồng thời giúp xác minh được không ít những câu, chữ đã biết, nhưng chưa thể yên tâm về mặt chữ hoặc nghĩa. ”Những người thầy” mà ông học được nhiều nhất, vì dám hỏi nhiều nhất, chính là người nhà. Đó là bà Ký, thân mẫu cô Vân, các em cô như cô Hợp, còn gọi là Nhỡ, cậu Tốn, còn gọi là Xuân. Cô Mai dưới cô Hợp, trên cậu Tốn thì ông ít được gặp, vì cô đã bỏ nhà đi nương nhờ cửa Phật từ nhỏ. Nhưng cô Mai lại là một nguồn từ ngữ quý giá khác về ngôn ngữ Phật giáo dân gian thuần Việt. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu người dân thường giản dị qua những người ruột thịt quyện chặt với tình yêu tiếng nói sáng trong, đậm đà sức sống Việt đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn liếng quý báu nhất ấy mà mình may mắn được hưởng cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học, nâng cao dân trí, hầu chung sức cùng toàn dân đưa đất nước tiến lên bằng người. Đó là điều cứ canh cánh bên lòng ông, chằng giây phút nào nguôi. Càng hiểu biết, càng rộng tầm nhìn, càng thêm khao khát góp phần thực hiện. “Từ khi khôn lớn, biết nghĩ đến giờ, chỉ nuôi một cái chí ở trong lòng, là đối với nhà, làm thế nào nối được nghiệp của ông cha…đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong cho quốc văn được sáng sủa; cũng biết rằng tài có khi không kịp chí, nhưng khu khuF[3]F một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi…không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu sang”F[4]

18, 19 tuổi đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Hai năm sau, một gái ra đời. Hai năm kế, lại một gái nữa… Gia đình đông đúc dần, nhưng tất cả vẫn đoàn tụ dưới mái căn nhà nhỏ hình ống được thừa tự ở đầu phố Hàng Trống. Sau này, bà cụ Tú mất được mấy năm thì ông đồng sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, với hy vọng ngây thơ là sẽ lợi dụng được Tây để thực hiện “cái chí bình sinh của mình”. Bấy giờ, ông mới bán nhà cũ đi, mang bàn thờ tổ tiên đến nhà mới thoáng rộng kiểu Tây ở số 5 phố Hàng Da. Bàn học và làm việc, theo nếp cũ, vẫn kê dọc trước bàn thờ như xưa. Phòng tiếp khách ở dưới. Hai tầng nhà này nối với hai tầng nhà kế bên bằng một cây cầu gỗ, lát gạch đỏ, hai bên chấn song chạy con tiện sơn xanh lá cây. Bà nội, vợ cùng các con ở cả bên ấy. Lũ trẻ thường chạy ùa qua cầu sang bên ông, vừa chạy vừa gọi rối rít “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Ông rất thương yêu các con, nhưng vẫn cần có cuộc sống riêng của mình. Tất cả vì “cái chí ở trong lòng”. Hằng ngày, ông vẫn đi bộ đến làm việc ở Hội Khai Trí Tiến Đức, ngay bên Hồ Gươm, cuối phố Hàng Trống. Còn nhà là toà soạn tạp chí Nam Phong rồi.

Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn, sâu sắc đăng trên Đông Dương Tạp Chí từ năm 1913, ông đã trở thành “nhà báo có hạng, văn sĩ thời danh” rồi, mặc dù mới ở tuổi hai mươi. Trong hơn bốn năm, ông dùng báo Nam Phong cổ động, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, dùng chữ quốc ngữ không những chỉ để dịch thơ văn chữ Hán, mà còn dịch cả văn, thơ, triết học, khoa học từ tiếng Pháp, sưu tầm, phiên âm thơ văn chữ nôm, dịch thơ văn chữ Hán của ông cha, tiên tổ. Đã đến lúc Phạm Quỳnh quyết định phải nâng cao lòng tin yêu của người đương thời đối với tiếng ta, bằng cách xuất ra “ cái vốn quí báu nhất” mình có, đồng thời cũng tỏ rõ ”cái chí bình sinh của mình”.

hinh-4

Ngày thứ năm, 21-4-1921, ông đăng đàn diễn thuyết về đề tài ruột, thân thiết nhất mình ôm ấp hàng mấy chục năm ròng. Ông nói với giới trí thức đương thời-mà phần lớn, nếu không sùng chữ Hán, thì lại sùng tiếng Pháp- về tiếng ta. Mà lại là về phần nôm na, dân giã nhất trong tiếng ta: Ông nói về tục ngữ, ca dao. Trước cử toạ là các văn nhân, học giả, giới thượng lưu trí thức; có cả những người Pháp uyên thâm Hán học, hiểu rành rẽ tiếng Việt, ông chân tình nói:

– Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này; thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời…F[5]

Ông nêu câu hỏi là hàng ngàn, hàng vạn năm qua, người nông dân bình thường, không biết chữ “đã lấy gì mà tả nỗi lòng?” Và khẳng định ngay:”là cái tiếng quốc âm rất quý báu của ta.” Rồi nói tiếp “ Há chẳng phải là những lời tục ngữ, câu ca dao ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ! Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một thứ văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương truyền khẩu ấy…thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đây… Tiếng Việt Nam ta, không có gì là không nói bằng phương ngôn tục ngữ được!”F[6]

Sau đó ông dẫn ra vô số tục ngữ ca dao, diễn giải ý tứ một số câu này, bình luận một số câu nọ, khiến người nghe thảng thốt, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bất giác đồng loạt vỗ tay hồi lâu tán thưởng những khi đắc ý, rồi lại say mê hào hứng như vừa khám phá ra một kho báu lâu nay chính mình đã có mà không biết, để rồi hoàn toàn bị diễn giả trẻ tuổi (bấy giờ, ông mới 28, 29 tuổi) thuyết phục. Kết thúc bài diễn thuyết, ông nói vắn tắt mà xúc động, vì đấy là những lời tâm huyết nhất:

-Dù ta học tiếng Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ Quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơnF[7]

Hơn mười năm sau, năm 1932, Tục ngữ ca dao được xuất bản thành sách trong Nam Phong Tùng Thư. Cuối bài diễn thuyết năm nào, có thêm mấy hàng chú thích: “Tục ngữ ca dao là do khẩu truyền, cho nên lắm khi vô bằng. Có khi một câu mà mỗi nơi đọc ra một khác, mỗi người hiểu ra một nghĩa. Những câu tôi chép trong bài này, hoặc sở đắc ở miệng người hoặc nhặt ở các sách người khác biên tập, chắc cũng nhiều câu không được đúng, không thể nào biết hết được. Vậy có chỗ sai lầm, xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho, tác giả có lời cảm ơn trước.”F[8]

hinh-5

Tập Tục ngữ ca dao năm 1932 ấy còn có thêm phần Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Riêng phần Phụ Lục ít nhiều câu tục ngữ xếp thành câu đối có vần và một ít ca dao đã có đến 419 cặp, phần Ca dao xếp tiếp vận có 100 cặp. Còn phần Ca dao đặt thành bài, gồm 30 bài từ bốn câu đến 44 câu, lại có chú thích rõ: “Những bài hát này hoàn toàn truyền khẩu cả, nên cứ bằng vào cửa miệng mà sao, không biết thế nào là đúng”F[9]

Mặc dù tác giả đã viết:”chắc cũng nhiều câu không được đúng”, hoặc “không biết thế nào là đúng” và đề nghị :“Vậy có chỗ sai lầm xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho”, vậy mà hơn mười năm sau khi sách xuất bản, hơn 20 năm sau buổi diễn thuyết tại hội Khai Trí Tiến Đức, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại (tập I) do Tân Dân xuất bản năm 1942 tại Hà Nội, khi viết về Tục ngũ ca dao vẫn phải thốt lên : “Những cái đặc sắc trong quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: Những câu tục ngữ, phương ngôn, và ca dao mà ông lựa chọn đều là những câu rất đúng, không như những câu trong mấy quyển ca dao khác phần nhiều đầu Ngô mình Sở, câu ở bài nọ chắp vào bài kia! Ông lại định nghĩa rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn, và thế nào là ca dao”. Rồi lại bình tiếp:”Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài diễn văn dài, vừa biên tập vừa bình luận, nhưng thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét nhận rất đúng. Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình…”F[10]

Một năm sau buổi diễn thuyết ấy, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu Xảo Thuộc Địa, tổ chức tại Marseille. Chỉ mang theo một cuốn nhật ký nhỏ xíu và một “bản Kiều tùy thân”, người thanh niên Việt Nam nước da trắng xanh, dong dỏng cao, có dáng “lưng tôm”, vẻ thư sinh ấy, đã tranh thủ mọi mối quan hệ bạn bè riêng tư để bốn lần đăng đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng người Việt Nam và văn hoá Việt Nam. Ở đâu, ông cũng nói sâu sắc và hấp dẫn mà chẳng hề đao to búa lớn, không cậy nhờ ở tài hùng biện mà chinh phục cử toạ ưu tú nước Pháp bằng những sự thật lịch sử, những lý lẽ hiển nhiên không thể chối cãi. Đặc biệt, ngày 22-7-1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính Trị Viện Hàn Lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn và kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh. Bức ảnh ông chụp trước khi đi Pháp, bà vợ biết chồng nhớ con vừa gửi sang. Bé gái Việt Nam xuất hiện trên báo chí Pháp năm 1922 ấy, sau này sẽ là Tiến sĩ Sorbonne Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong).

hinh-6

Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

– Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.”F[11]

Những lời được Viện Hàn Lâm Pháp tán thưởng đó là do chính người trong bài diễn thuyết tại quê hương năm trước, đã hào hứng, tự tin khẳng định là:

– Ngày nay, ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi…Tiếng Việt ta hay lắm…người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên.F[12]

Ngày thứ hai, 11 tháng 9-1922, ông kết thúc chuyến “Pháp du” bằng mấy dòng nhật ký:

“Tàu ở Tourane ra đi rất mau, 12 giờ rưỡi đến Hải Phòng”.

“Vào gần bến, vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội xuống đón. Tàu còn từ từ vào, mỗi phút tưởng lâu bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống, người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm, khôn nói nên lời. Bà già mạnh khoẻ, con trẻ bình yên, cửa nhà vô sự, thế là yên lòng.”F[13]

Về nước, càng rộng tầm nhìn, ông càng hăng say lao vào “công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời”.F[14]F Còn về việc riêng, ông đau đứt ruột khi mất một bé gái sáu tháng tuổi; lại mừng vì sau đó sinh được một trai khôi ngô, bèn đặt tên là Phạm Khuê, mong con sau này sẽ là một ngôi sao sáng tựa sao khuê. (Quả nhiên, sau này, Phạm Khuê trở thành Giáo sư bác sĩ y khoa, nhà giáo nhân dân, chủ tịch đầu tiên Hội Người cao tuổi Việt Nam, từng là đại biểu quốc hội).

Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều. Càng đọc càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều tuỳ thân”. Càng say Kiều, lại càng thêm mê tiếng ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn. Để lại càng thêm yêu Kiều, “đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều , trước sau chỉ có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quý báu vô cùng” (Trích từ bài Cô Kiều với tôi của Phạm QuỳnhF[15]F). Và rồi, không thể nào cứ giữ “mối tình” đó trong lòng mình được mãi, ông muốn đem chia sẻ nỗi lòng với toàn dân ta, với cả nhân dân thế giới nữa.

hinh-7Năm 1924, ông đề nghị Hội Khai Trí tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta (8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp cả hội viên; còn thông báo cho nhân dân biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc danh sĩ trong nước thế nào”.

Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:

Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,

Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.

Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế”.F[16]

Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn. Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim “diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương Truyện Kiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn Đôn Phục soạn.17

Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:

– Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi

Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

hay là

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ…” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như môt giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”

“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy…Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra.”

Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”…”Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”

“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”

Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:

-Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta… Nhưng, còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,

Thác là thể phách còn là tinh anh.

“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, trập trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng :” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu (chúng tôi không rõ nghĩa – PT) lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.18 F[17]

Bài diễn văn kết thúc bằng lời thề tâm huyết đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.

hinh-8

Hơn hai mươi năm sau, từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên dòng sông nhỏ An Cựu, ông khởi thảo tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn cảm tưởng trên quyển vở học trò, viết bằng cây bút máy Waterman. Bài cuối còn dang dở là bài Cô Kiều với tôi. Phần cuối dở dang ấy, ông viết: “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…

“Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”19F[18]

Và ông đau buồn mãi vì chuyện ấy…

Vì bản thân Người chính là hiện thân của lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, yêu tha thiết đến say mê tiếng mẹ đẻ, đã cống hiến trọn đời mình cho tiếng ta, với niềm tin vững chắc là :

TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN20F[19]

21/06/1999 – 14/02/2006

* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9-2006 với nhan đề Phạm Quỳnh- Người nặng lòng với tiếng ta và bút danh Nguyễn Trung là bút danh thường dùng của Phạm Tôn từ 1973


[1] Theo Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn (Bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân – NXB Ý Việt, Paris, 1993, trang 60): Lời của người dịch: Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Études Interdisciplinaires sur le Viet Nam (Sai Gon, 1974) cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30/1/1893. Theo tác giả Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh, thì “thuyết” này đúng hơn cả, vì cũng là một năm Nhâm Thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (Cũng do ông Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2/2/1892)

[2] Theo tư liệu của Một số tư liệu quý về Hà Nội,  Lưu Đình Tuân tuyển dịch và chú giải, NXB Trẻ 2010)

[3] Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Tome I) của Huình Tịnh Paulus Của –SaiGon, 1895 thì từ khu khu có nghĩa là “đau đáu, mảy mảy”

[4] Trích Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh, ngày 8-7-1922. NXB Hội Nhà Văn-Hà Nội, 2004

[5] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

6 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

7 , 8 , 9 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

10 Trích Nhà Văn Hiện Đại (tập I) của Vũ Ngọc Phan, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1989

[11] Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[12] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

[13] Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2004.

14 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư – Hà Nội, 1932.

15 Trích Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[16] , 17 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

18 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

19 Trích Tuyển tập và Di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

20 Câu này có khắc trên đá tại khu mộ Phạm Quỳnh, trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế. Sau 1975 cho đến nay (2006), khu mộ vẫn được giữ nguyên vẹn

 

Ghi chú về bài viết này:

Bài này đăng báo lần đầu tiên trên Nguyệt san Kỷ Nguyên Mới số 9 (tháng 6 năm 2001) trước bài đăng trên Công Giáo và Dân tộc (số 141, tháng 9/2006) hơn năm năm. Dự tình như sau: Sau khi viết xong bài đầu tiên trong ba bài về Thượng Chi – Phạm Quỳnh tôi có đưa cho người em họ của nhạc sĩ Phạm Tuyên hồi đó còn sống ở Sài Gòn. Ông này đọc xong hỏi tôi là có muốn đăng báo không. Tôi đáp là không, thì ông hỏi ngay có phải là sợ không. Tôi đáp là có sợ, không phải là sợ về chính trị, mà là sợ vì bài viết về Thượng Chi – Phạm Quỳnh với tiếng ta mà không viết được dòng nào về Nguyễn Du và Truyện Kiều, vì chưa tìm được tài liệu. Sau đó mấy năm, ông này sang định cư ở Hoa Kỳ và lại tiếp tục nghề viết, làm báo. Nhân được ông Phạm Tuân và bà Phạm Thị Hoàn là chị, em ruột nhạc sĩ định cư ở Mỹ và Pháp gửi cho bài này, bèn cho đăng lên báo mình biên tập. Vì thế hai bài có khác nhau ở phần cuối.

Sau này, tạp chí Khởi hành xuất bản tại Mỹ, cũng lại chọn đăng bài đã đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, nhưng cho đến nay, tôi vẫn chưa được đọc bài đó, không biết có gì khác với bản gốc.

Còn bài trên Công giáo và Dân tộc lại không ký tên Phạm Tôn mà ký bằng bút danh khác là Nguyễn Trung. Đó là thay tên “theo yêu cầu của toà soạn”. Tôi bèn lấy bút danh thường dùng từ 1973. Vì tôi hiểu: tạp chí đã đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước trong mục Diễn Đàn, bút danh là Phạm Tôn, nay muốn có “một người khác” cũng viết về Phạm Quỳnh cho đúng … với nghĩa của mục này.

Tiếng ta hay lắm

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, tuần 1 tháng 7 năm 2018

TIẾNG TA HAY LẮM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu và phần cuối chúng tôi trích trong bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại Hội Trí Tri (Hà Nội) ngày thứ năm 21 tháng 4 năm 1921. Đầu đề phần trích này là của chúng tôi.

*

*        *

Mới đây tôi có tiếp một cụ linh mục người quí quốc (chỉ nước Pháp – PT chú), cụ là người rất am hiểu tiếng ta mà lại thông cả chữ Hán nữa. Nhân bàn về văn quốc ngữ, tôi có phàn nàn với cụ rằng có nhiều người Đại Pháp không chịu công nhận tiếng An Nam, lại có ý phản đối, cho tiếng An Nam là không đủ dùng ở đời này, không sớm thời muộn, tất có ngày tự nhiên phải tiêu diệt đi và sẽ bị tiếng Pháp thế vào. Cụ đáp lại rằng: “Những người nói thế là xét lầm. Văn quốc ngữ ngày nay đương tấn tới, rồi cũng có ngày thành văn chương hay được. NgPham Quynh_Treười ta cứ chê rằng văn quốc ngữ phải mượn nhiều chữ Tàu, nhưng không hiểu rằng tiếng An Nam đối với chữ Hán thật là thuộc vào một cảnh ngộ  riêng, tưởng trong thế giới không có tiếng nước nào giống như thế. Chữ nho mà đem dùng sang văn quốc ngữ là thiện thị thành tiếng An Nam rồi. Ông có mượn chữ nước người, nhưng ông đọc theo giọng ông, ông lại đặt vào giữa một câu tiếng An Nam, thời chữ ấy là hóa theo An Nam rồi, còn gì là Tàu nữa. Đó là một sự rất tiện lợi cho cái quốc văn mới của các ông, vì tiếng các ông nhờ mượn chữ Tàu mỗi ngày một giàu thêm ra, mà mượn chữ Tàu thời mượn bao nhiêu cũng có thể tiêu hóa được. Không kể ngày nay nhiều người học tiếng Tây, một đôi khi cũng có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Như vậy thời văn quốc ngữ không bao lâu sẽ thành một nền quốc văn xứng đáng…”

Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này, thường nghe thiên hạ bình về văn quốc ngữ, người khen người thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp của một đời. Vậy nghe lời cụ linh mục là người đã nghiên cứu về tiếng ta và chữ nho thâm lắm, phán đoán mấy câu như thế, thật lấy làm vui lòng. Như thế thời  quốc văn ta có cơ thành lập được, không đến nỗi bị tiêu diệt như người ta nói. Mà nghĩ cho kỹ, tiêu diệt làm sao được? Nước ta với nước Tàu là đồng chủng đồng văn, người Tàu cai trị ta trong hơn ngàn năm, văn hóa Tàu ta đổi theo, phong tục Tàu ta bắt chước, dạy tiếng ta ta nói, ta không nói tiếng Tàu; huống ngày nay Đại Pháp sang bảo hộ là lấy cái chính khoan dung đại độ mà mở mang gây dựng cho ta, hà tằng lại có bụng muốn vùi rập phá hoại cái quốc túy của ta: không có lẽ đâu như thế. Đương khi ta còn tùy tâm về Hán học, đương khi những hàng thượng lưu trong nước còn mải miết về chữ nho, nung kinh nấu sử câu phù câu thì, thời trong dân gian những kẻ làm ruộng hái dâu, cùng là đàn bà con trẻ, nói năng với nhau bằng gì, lấy gì mà dạy bảo khuyên răn lẫn nhau, lấy gì mà truyền cho nhau cái tâm thuật làm người, những mánh khóe ở đời, những điều kinh nghiệm về việc làm ăn, những sự từng trải trong việc giao tế? Lại những khi nhớ hão thương thầm, mối tình lai láng, thời lấy gì mà giãi tỏ chút cảm thương, lòng tưởng nhớ? Con trai con gái, đời nào nước nào cũng biết dùng lời hát giọng thơ mà tỏ cái lòng ham muốn cho nhau biết, vậy mà trừ những bậc khuê môn đài các có thể lấy văn chương mà tự tỉ mình như Tư mã Văn quân, còn những kẻ tầm thường vô học thời biết lấy gì mà bày tỏ nỗi lòng? Há chẳng phải là cái tiếng quốc âm rất quí báu của ta rư? Há chẳng phải là những lời tục ngữ câu ca dao, ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ? Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy chỉ xuất bản ở miệng người tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một cái văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương nôm na mách qué, song thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ, phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đấy.

Cói đó thời biết giữa khi cái thế lực của Hán học còn đương lấn khắp hết cả, những người tri thức trong nước không ai chịu luyện tập đến tiếng Nôm mà tiếng Nôm còn sinh hoạt được mạnh như thế; huống bây giờ quốc dân đã biết hồi tỉnh lại mà quý chuộng tiếng nước mình, thời cái quốc âm kia thể sao mà tiêu diệt đi được, không những không tiêu diệt được, mà chắc càng tập luyện càng ngày càng hay mãi ra, sau này cũng thành một nền văn học xứng đáng, chẳng kém gì người. Ngày nay ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh Thái Tây trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi. Thứ tiếng thông thường ấy chính là những tục ngữ ca dao của ta đó.

(…)

Tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào, và cái văn chương truyền khẩu của ta thanh thú biết bao nhiêu. Tiếng An Nam ta hay lắm, các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quí báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà:

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương lấy cùng.

P.Q.

Tháng Sáu 15, 2018

Người con trai út của học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018

NGƯỜI CON TRAI ÚT CỦA HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Dân ta thường nói “Giàu con út, khó con út”. Có phải vậy chăng…

Ông Phạm Tuân, sinh năm 1936, chính là con trai út của học giả Phạm Quỳnh. Sau một giấc mộng đẹp, mơ thấy một bé trai xinh xắn cứ theo mình về nhà, bà Lê Thị Vân sinh Phạm Tuân. Là con cưng, gọi là “chú mình”, người giúp việc nhà ở Huế hồi ấy là người miền Trung, gọi trại thành “chú Miềng”, và từ đó thành “biệt danh”, ông dùng cho đến tuổi già với người thân.

Những năm 1990, ông thường về nước thăm chị, thăm anh.

Tôi là cháu, gọi ông bằng cậu. Nhưng thường quen gọi là “chú” vì ông vẫn xưng là “chú Miềng”. Tôi thường được ông kể mấy chuyện này: Năm lên bốn tuổi, thường sau bữa cơm chiều, bác tài Mai lái xe riêng cho Thầy hay hỏi “Nào chú Miềng, có đi chơi nhà Ông già điên không?” Rồi chú theo Thầy đến Bến Ngự, có một ông già gầy yếu ra đón, rồi đưa thầy vào nhà gianh, một lát sau lại tiễn thầy, thân mật lắm. Mãi sau này, năm 1940 khi Phan Bội Châu mất, cả thành phố Huế xúc động, ông mới biết ông già mà Thầy thường đến thăm lúc chập choạng tối đó chính là chí sĩ Phan Bội Châu.

Ngày 23/8/1945, chú Miềng đang chơi đùa với cháu nội Phạm Quý, sinh năm 1940con bác cả Phạm Giao và các cháu ngoại con bà Phạm Thị Ngoạn là Nguyễn Quốc Khánh, sinh năm 1941 và em Quốc Cương , thì thấy có một xe hơi vào sân, hai thanh niên cao lớn, mặc đồ ca ki bước xuống, Phạm Quý bảo hình như Tây, nhưng không phải mà là người Việt Nam ta. Thấy một thanh niên rút súng, một người cao gầy chạy vội qua sân, đó là ông Lê Xuân em vợ Phạm Quỳnh hiện ở cùng nhà. Súng tắc đạn, không nổ. Một lát sau thì Phạm Quỳnh có con rể là Nguyễn Tiến Lãng theo hầu Thầy lên xe đi cùng hai thanh niên. Đó là lần cuối cùng Phạm Tuân gặp cha.

11 năm sau, năm 1956, nhờ ông Hoàng Hùng, thời học ở Hà Nội từng sống tại nhà Phạm Quỳnh ở số 5 phố Hàng Da, bấy giờ là bộ trưởng bộ kiến thiết chính quyền Ngô Đình Diệm biết được việc cải táng Ngô Đình Khôi bèn xin phép báo cho gia đình học giả đi cùng. Bà Phạm Thị Hảo là dược sĩ ở Sài Gòn và em trai là Phạm Tuân 20 tuổi đi cùng. Chính chàng trai đã tìm thấy ngay hài cốt cha nhờ bộ cốt dài và cạnh đó là cặp kính cận, cũng phát hiện ra một vết chém ngang trán như vết xẻng. Ngay đêm hôm cải táng, hai chị em đưa cha về khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Thế là Phạm Tuân, con trai út của học giả Phạm Quỳnh đã là nhân chứng cho ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời học giả: Phạm Quỳnh trân trọng và cố gắng giúp đỡ Phan Bội Châu, Phạm Quỳnh “được mời đến nơi làm việc” và nơi vùi thân xác Phạm Quỳnh.

Chú Miềng, con cưng của Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục, cậu thiếu niên chín tuổi con Thượng thư Bộ Lại đã về hưu và chàng sinh viên 20 tuổi ấy vẫn chỉ biết mở to mắt mà nhìn những sự việc quan trọng xảy ra trong phần đời cuối cùng của thân phụ, chỉ nhìn, ghi nhớ mãi mà chưa làm được gì. Nhưng, từ khi chàng thanh niên biết yêu và được yêu bởi một người con gái Huế thông minh, cá tính mạnh mẽ thì cuộc đời anh đã chuyển sang một chặng đường mới, gian nan, đầy trách nhiệm mà cũng nhiều ý nghĩa hơn. Sống ở Sài Gòn thời ấy, không có tiền lo lót, chạy chọt, chàng sinh viên ham văn nghệ thời ấy, từng là bạn chí cốt đồng điệu với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, đành đi lính. Gần khắp miền Trung khói lửa, hễ chồng chuyển quân đến đâu thì vợ con đùm bọc nhau theo chân đến đấy. Chỉ có một tình yêu thật sự mới khiến gia đình đó vẫn luôn ở bên nhau trong những năm tháng gian khó đó. Sau này, trong một lần anh em gặp nhau hồi những năm 1990, Phạm Tuân vui vẻ nói với anh trai Phạm Tuyên là năm 1975 ấy, hễ Chiếc gậy Trường Sơn của anh đến đâu là bọn em lại bỏ chạy sang nơi khác. Lại hỏi anh Phạm Khuê là anh có nhớ trưa 23/8/1945, anh đi mít tinh ủng hộ Việt Minh về thì biết tin Thầy đã bị bắt, anh đã vào ngay tủ súng săn đã bị niêm phong, đấm vỡ cửa tủ, nhưng súng đã bị tịch thu hết, máu chảy đầy tay anh. Ông anh trả lời là nếu lúc ấy, còn súng thì không biết việc gì sẽ xảy ra. Và ông anh nay là đại biểu Quốc hội, NGND, Viện trưởng Viện Lão khoa, chủ tịch Hội người cao tuổi Việt Nam cười hiền cùng ông em út.

Vợ làm kế toán, chồng sửa xe hơi, cuộc sống tạm ổn nơi xứ người. Rồi phát hiện ông bị đái tháo đường nặng, những vết sây sát sửa xe hơi lâu lành, sức khỏe cũng giảm sút. Gánh nặng gia đình đè lên vai bà. Nhưng bà quyết nuôi các con ăn học đàng hoàng.

Có sự chỉ bảo của hai bà chị Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn hai vợ chồng dồn tiền tích cóp bao năm nay góp cả vào việc xuất bản tập sách Giải oan lập một đàn tràng (Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, Hoa Kỳ, 2001) gồm 21 bài của các nhà văn, sử học, nhà nghiên cứu người Việt sống ở nước ngoài viết về Phạm Quỳnh và tám bài văn của Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Từ năm 2009, Blog PhamTon ra đời, mong là tiếng nói chính thức của gia đình Phạm Quỳnh và là nơi tập tập hợp những tư liệu do những tấm lòng yêu mến Phạm Quỳnh cung cấp, thì đóng góp của vợ chồng Phạm Tuân – Hoảng Hỷ Nguyên lại càng nhiều hơn. Ví như “tư liệu lạ lùng” về việc Ngự tiền văn phòng Phạm Quỳnh vừa nhậm chức đã gửi thư cho Louis Marty chánh mật thám Đông Dương xin giảm tội cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi ở Kiến An, bản quyết định của Đô trưởng Sài Gòn về việc đặt tên đường Phạm Quỳnh  ở thành phố này, rồi việc bản Tuyên bố độc lập do Phạm Quỳnh khởi thảo năm 1945 là thế nào, tiếp đến bản thảo Hoa Đường tùy bút, Bản dịch thơ Đỗ Phủ, đều được ông bà chuyển về cho nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau khi nhận được bản in  của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ông Phạm Tuân còn phản hồi là nhà báo lão thành Mạc Kinh Trần Kế Xương cầm xem đã nói là anh em bên nhà làm tốt hơn ta. Cũng như khi các bài Người nặng lòng với nước, Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn đến Mỹ đều được ông Tuân thông báo cho biết ý kiến đánh giá của tạp chí Khởi Hành (Hoa Kỳ).

Đáng chú ý là sau khi Blog PhamTon đăng bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế? thì ông Tuân cho biết ông này gặp ông đã nói là bài đó viết đúng “tôi viết chỉ để kiếm cơm thôi”

Được hai chị giao cho giữ những tư liệu về thân phụ, Phạm Tuân đã cung cấp cho nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn. Ông còn chú ý sưu tầm cả những bức ảnh xưa, quí hiếm khi tình cờ đến thăm một người quen biết như Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục đến thăm trường Thăng Long (ngõ Trạm) đứng cạnh con rể Tôn Thất Bình là một hiệu trưởng của trường, ảnh bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh và hai con trai chụp năm 1943… Và quan trọng nhất là việc ông bà Tuân – Nguyên đóng góp chủ yếu  cho việc xuất bản bộ đĩa DVD Nam Phong toàn tập, bao gồm cả luận án tiến sĩ Sorbonne của bà Phạm Thị Ngoạn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong; Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí của Nguyễn Khắc Xuyên và Nam Phong tạp chí số Tết Mậu Ngọ, tờ báo Xuân đầu tiên của nước ta.

Còn nhớ cuối năm 2000, mẹ chúng tôi bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh mất. Tôi tham gia trực linh cữu mẹ, thì nhận được điện thoại ông gọi từ Mỹ về Bạc Liêu nơi mẹ tôi sống những năm cuối đời. Trong đêm khuya, tiếng ông xúc động hỏi mẹ tôi mất như thế nào, pháp danh là gì để bên đó còn làm lễ cầu siêu. Bỗng nhiên ông trầm giọng tâm sự, các chị mỗi người mỗi việc, đã làm rất tốt việc báo hiếu cha, còn mình là con trai, lại chẳng làm được gì, chỉ vì bất tài vô dụng, nghĩ mà buồn… Nhưng cả nhà đều biết công của ông và cả nửa kia của ông nữa. Ông có thể yên tâm : Ông và vợ đã báo hiếu cha được rồi, những việc ông bà đã làm không phải ai cũng làm được. Riêng chúng tôi rất xúc động khi được ông bà trao cho giữ gìn bốn di vật của Thượng Chi Phạm Quỳnh, dù chúng tôi chỉ là cháu lại là cháu ngoại. Đó là Nhật ký 1922 tại Pháp, bản thảo Hoa Đường tùy bút và hai bức bưu ảnh ông gửi cho vợ con năm 1922.

TpHCM ngày 11/6/2018

Phạm Tôn

DVD Nam Phong tạp chí – Blog PhamTon

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018.

NHỮNG DVD TOÀN BỘ TẠP CHÍ NAM PHONG ĐẦU TIÊN ĐÃ CÓ MẶT TẠI VIỆT NAM

Đầu tháng 9-2009, những DVD toàn bộ 210 số Tạp chí Nam Phong đã có mặt tại Hà Nội và Tp.HCM. Đó là những bản đặc biệt gửi tặng gia đình học giả Phạm Quỳnh ở trong nước.

Đây là công trình sáu năm của Viện Việt Học (Institute of Vietnamese Studies, CA. 92683-USA) với sự hợp tác của gia đình học giả Phạm Quỳnh, mà người đại diện là ông Phạm Tuân, con út của học giả.

Ông Phạm Tuân đã đưa cho viện toàn bộ số Tạp chí Nam Phong gia đình còn giữ được qua cơn gia biến và 30 năm chiến tranh. Các số tạp chí này có những ghi chú, nhận xét của chính học giả Phạm Quỳnh ngay khi báo mới ra, viết bằng bút chì. Những  phần thiếu do mục nát, mất mát, ông đã báo về nước cho anh là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Và nhạc sĩ đã được Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung đầy đủ. Ông Tuân cùng mấy cháu nội, ngoại của học giả sống ở nước ngoài cũng đóng góp kinh phí thực hiện công trình này.

Nam Phong tap chi_Vien Viet Hoc

Hơn 50 chuyên viên điện toán, cư ngụ rải rác ở khắp Hoa Kỳ, phần lớn là chuyên viên trẻ và sinh viên, đã thiện nguyện góp tâm sức thực hiện. Ban đầu (năm 2004) dự trù phải làm tới 36 đĩa; nhưng nay (2009) với kỹ thuật điện toán tiến bộ, thu lại chỉ còn sáu đĩa. Đĩa 1: Giới thiệu bộ DVD-ROM, có Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Nguyễn Khắc Xuyên, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn, Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Trọng Nhân dịch từ Introduction au Nam Phong của Phạm thị Ngoạn, Ý Việt, Yerres (Pháp) và số Tết báo Nam Phong năm 1918, cũng là số báo Tết đầu tiên của nước ta. Đĩa 2: Từ số 1 đến số 42. Đĩa 3: Từ số 43 đến số 84. Đĩa 4: Từ số 85 đến số 124. Đĩa 5: Từ số 125 đến số 163. Đĩa 6: Từ số 164 đến số 210.

Chiều chủ nhật 28-6-2009, hơn một trăm văn nghệ sĩ, nhân sĩ đã tham dự buổi ra mắt công trình Toàn bộ Tạp chí Nam Phong dưới dạng DVD tại Viện Việt Học, có sự hiện diện của ông Phạm Tuân và gia đình.

Bộ DVD-ROM 6 đĩa này đã được nhiều thư viện ở Hoa Kỳ đặt mua, trong đó có Thư Viện Quốc hội Hoa Kỳ. Liên lạc Viện Việt Học: 001 (714) 755.2050.

Blog PT.

Từ thành nhà Hồ, nghĩ về Tạp chí Nam Phong và Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018.

TỪ THÀNH NHÀ HỒ,

NGHĨ VỀ TẠP CHÍ NAM PHONG VÀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Trang 5 báo Nhân Dân ra ngày 19/11/2012 có bài của Nguyên Anh Bức tranh khắc họa thành công chân dung một danh nhân lịch sử.

Phần mở đầu, viết: “Triều đại nhà Hồ tồn tại cách đây hơn sáu thế kỷ đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc, trong đó Hồ Quý Ly là một nhân vật đượHo Quy Lyc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Cuộc đời và con người ông cũng là đối tượng sáng tác của văn học, nghệ thuật sân khấu và hội họa với các góc cạnh khai thác, thể hiện nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.

Nhìn lại những tác phẩm nghiên cứu và sáng tác về Hồ Quý Ly đều có chung một khẳng định, ông là một người yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm quyết liệt để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hồ Quý Ly cũng là người mang tư tưởng cách tân với những hành động thực tế khá táo bạo nhằm đổi mới, đưa đất nước phát triển trong bối cảnh xã hội nước ta lúc đó đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Bi kịch lịch sử của Hồ Quý Ly đến nay đã phần nào sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu để từ đó hậu thế có thể nhìn rõ hơn và ghi nhận tầm vóc tư tưởng cải cách của ông cùng những đóng góp lịch sử văn hóa của thời đại ông đã tạo dựng nên, trong đó có Thành Nhà Hồ, một công trình kiến trúc độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nghiên cứu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ tiếp cận trong suốt bảy năm qua, họa sĩ Hoàng Hoa Mai đã dày công thực hiện nhiều bức tranh chân dung về nhân vật lịch sử này. (…) mong muốn thể hiện hình tượng Hoàng đế Hồ Quý Ly với những nét khắc họa ấn tượng về tính cách, dáng vóc, dung quang phù hợp với cuộc đời và sự nghiệp đầy bi kịch của ông trong giai đoạn lịch sử biến động cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.”

Trong bài Thành nhà Hồ, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã viết

“Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng, tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.Thanh nha hoTheo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với qui mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. (…) Theo các nhà khảo cổ khối lượng đá xây dựng ước tính trên 25.000m3, khối lượng đất đắp trên 100.000m3. Đó là chưa nói đến hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá qui mô khá lớn.

Thành nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành qui mô lớn, đặc biệt Hoàng thành, đàn Nam Giao xây bằng đá rất bền vững và kiên cố. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá. (…) Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đền miếu, tượng đài, lăng mộ… nhưng Thành nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới. (…) gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”” (Trích trang 3 đến 6 Tạp chí Xưa và Nay số 407 tháng 7 năm 2012).”

Bia Nam Phong

Trong những ngày Thành Nhà Hồ đang được vinh danh quốc tế là Di sản văn hóa thế giới và Nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, chúng tôi và không ít người có lòng với văn hóa, văn học, lịch sử nước nhà không khỏi trạnh lòng nghĩ tới Thượng Chi – Phạm Quỳnh và bộ tạp chí Nam Phong đồ sộ, như một bức trường thành chống ngoại xâm về văn hóa và bảo vệ quốc hồn quốc túy của dân tộc.

Hồ Quý Ly xưa nay vẫn bị kết tội là “cướp ngôi nhà Trần”, thậm chí còn là “kẻ phản quốc, đầu hàng giặc một cách nhục nhã”… Mà không phải chỉ có sử phong kiến mới kết tội Hồ Quý Ly, nhà Hồ, và do đó, luôn cả thành nhà Hồ cũng chẳng ai thèm đoái hoài đến.

Mãi đến gần đây, Hồ Quý Ly, nhà Hồ mới được nhìn nhận công bằng hơn.

Đến tháng 11/2000, Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau mấy chục năm gác bút, đã cho ra đời tác phẩm đồ sộ Hồ Quý Ly (Nhà xuất bản Phụ Nữ) Tiểu thuyết lịch sử dày đến 834 trang, vậy mà đông đảo người đọc cứ say mê tìm đọc, đọc ngốn đọc ngấu cho đã cơn khát chân lý!

Và đến nay, thì cả nước và cả thế giới đã biết đến và ca ngợi thành Nhà Hồ, một kiến trúc thành đá duy nhất còn tồn tại đến nay, sau hơn 600 năm xây dựng. Đó là vì dù sử viết thế nào thì những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn còn in dấu trong sự thật lịch sử. Và dù được công nhận hay không công nhận, nhưng tòa thành đá vẫn sừng sững, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, thách thức gió mưa, động đất, chiến tranh và thách thức cả những kẻ không ưa nhà Hồ, căm ghét Hồ Quý Ly, vì không ai dám phá một tòa thành do nhân dân đã xây trong lòng dân và được dân bảo vệ.

Bon anh Pham QuynhCũng như thế, mạng sống con người Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu ngót 70 năm nay, nhưng, những gì ông viết vẫn còn mãi trong lòng nhiều thế hệ người dân Việt có lương tri và thật lòng yêu nước. Tạp chí Nam Phong do ông đồng sáng lập và làm chủ bút phần quốc ngữ từ năm 24 tuổi, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến năm 1932, sau đó còn viết bài cho tạp chí đến năm 1934, tổng cộng 211 số (kể cả số Tết Mậu Ngọ 1918, là số báo Tết đầu tiên của nước ta). Một số bài viết đến năm 1922 được ông chọn, tập hợp thành bộ Thượng Chi văn tập ngót 1.200 trang, một số bài khác thì in thành sách trong Nam Phong tùng thư do ông làm chủ nhiệm, như Văn học nước Pháp (Đông Kinh ấn quán xuất bản, 1927), Khảo về tiểu thuyết (1929),Lịch sử và học thuyết của Voltaire (1930), L’Idéale du sage dans la philosophie Confuçéenne
(Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) in song ngữ, 1928…. và bằng Pháp văn như Essais Franco-annamites (1929-1932) 489 trang, xuất bản tại Editions Buy Huy Tin Hué 1937 và Nouveaux essais Franco-annamites, 524 trang, 1938, v.v… Đúng là cả một bức trường thành to lớn, vững chãi. DVD Nam Phong

Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 và chấm dứt hoạt động năm 1934 (hai năm cuối, do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách) đến nay đã lui vào dĩ vãng, nhiều người muốn tìm đọc mà không có, đành xem các bản trích, bản vi phim, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy. Chỉ những thư viện lớn trên thế giới mới có.

Thành nhà Hồ thì xây dựng bằng đá tảng, còn tạp chí Nam Phong thì làm bằng giấy, dễ bị thời tiết nóng ẩm, rồi mối, mọt hủy hoại. Thật bất hạnh cho văn hóa, lịch sử nước nhà…

Nhưng, may thay, tháng 6 năm 2009 người con trai út của Phạm Quỳnh và vợ đã hợp tác với Viện Việt học California (Hoa Kỳ) để giới thiệu công trình chuyển 211 số báo gồm 35.000 trang chữ từ 1917 đến 1934 vào bộ sáu đĩa DVD- Rom. Trong đĩa 1, có bản dịch ra tiếng Việt luận văn tiến sĩ Sorbonne của Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh là Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và còn có cả Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Bộ đĩa do hơn 50 người tình nguyện, phần lớn là người trẻ, đã vất vả hoàn thành trong sáu năm ròng. Gia đình Phạm Quỳnh ở Mỹ và Pháp đã biếu tặng Viện Việt học toàn bộ số tạp chí có chữ ghi chú của Phạm Quỳnh bằng bút chì mà gia đình còn giữ được, vẻn vẹn chỉ 186 số. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhờ Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung số còn thiếu. Về kinh phí làm DVD-Rom này, riêng gia đình con trai út Phạm Quỳnh là Phạm Tuân và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên đã góp 12.000 đô la, cô Nguyễn Thị Kim Ngân góp 8.500 đô la và một số người quý mến Phạm Quỳnh khác góp số chi phí còn lại.

Như vậy là hiện nay tại các thư viện lớn ở nước ta đều đã có bộ đĩa này do nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Và bức trường thành tạp chí Nam Phong lại sừng sững đứng ngay trước mắt những ai cần tìm hiểu về một thời và về một con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi Phạm Quỳnh, một con người Việt Nam chân chính.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2012.

P.T.

Một nén hương lòng – Hỷ Nguyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG

Hỷ Nguyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tác giả bài này là bà Hỷ Nguyên, tên khai sinh là Hoàng Hỷ Nguyên, cựu nữ sinh trường Đồng Khánh-Huế, là vợ ông Phạm Tuân, con trai út, tức người con thứ 15 trong số 16 người con của học giả Phạm Quỳnh.

Bà viết bài này nhân dịp giỗ học giả Phạm Quỳnh đầu tháng 9 năm 2000. Chúng tôi trích đăng sau đây bài đã đăng trên tạp chí Đại Chúng, tại Hoa Kỳ, số 59 (29-9-2000) trang 13, mà ông Phạm Tuân đã có nhã ý gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Thưa Thầy[1], cứ hàng năm, gần đến ngày giỗ Thầy, các con cháu của Thầy từ Á sHoang Hy Nguyenang Âu lại lo sửa soạn mâm cơm cúng thanh đạm mà tinh khiết dâng lên bàn thờ Thầy với tấc lòng bùi ngùi tưởng nhớ khôn nguôi. Con đây, phận dâu con, ngày được cái duyên may bước vào mái gia tộc nhà ta thì Thầy đâu có còn lưu lại nơi cõi trần gian này nữa! Thầy đã âm thầm về chốn hư-vô cùng tổ tiên dòng họ. Con chỉ thường lặng lẽ ngắm di ảnh Thầy bên tập di cảo mà thuở xưa Thầy viết còn dang dở. Đời Thầy là cả một cuộc hành trình dở dang, đầy phiêu lưu, gian truân. Thầy không đến cõi dời này để thành danh rồi hưởng thụ như muôn ngàn người thế gian vẫn sống theo lẽ thường tình ấy. Chỉ cần có một suy tư công bằng tối thiểu với chút tình thương tha nhân đúng nghĩa của nó, người ta ắt phải ngậm ngùi than lên rằng Thầy đã chọn cái kiếp làm người dân Việt để lập chí lớn thành danh và đem tinh thần cùng sở học uyên bác phụng sự cho khối đồng chủng lầm than trong họa mất nước, miên man chìm đắm trong tăm tối khổ cực thậm chí đến văn tự, chữ nghĩa nước nhà còn chưa có. Hay chỉ vừa thoạt có mà còn quá phôi thai, đơn sơ. Từ thuở tấm bé Thầy đã sớm lìa xa bậc sinh thành, lầm lũi sống đơn độc trong bàn tay nuôi dưỡng bao bọc của bà nội. Tình nội tổ thay cho tình mẫu tử? Thầy đâu được biết thế nào là tuổi thơ. Thần định mạng đã đoạt đi tuổi thơ ngây vô tư lự ở Thầy! Với hoàn cảnh thê lương phũ phàng ấy, trăm đứa trẻ khó có lấy một còn có cơ hội nên người, thành nhân xứng đáng.

Có khôn lớn chăng theo với năm tháng thì khi kịp bước vào tuổi thành niên, chỉ là lại bước vào đoạn đời lêu lổng, thất học, làm sao dám thấu được tiếng gọi tình nhà nghĩa nước nữa?? Nhưng Thầy lại quá đặc biệt, riêng biệt. Bà Cụ Cả – bà nội của Thầy, từng sớm là bậc quả phụ ở vậy thờ chồng nuôi con khi Cụ Ông bỏ mình trong cuộc dấn thân phục Việt chống Pháp, lại một lần nữa đòi đoạn gạt nước mắt, gắng gượng vươn chiếc lưng còng còm cõi, lận đận nuôi Thầy – nuôi đứa cháu mồ côi, mong sao một mai trở thành người hữu dụng, nối chí cha ông làm sáng danh dòng dõi. Người đời thường nhắc đến hai tiếng truyền thống thiêng liêng mơ mộng mà có biết đâu truyền thống của Đất Việt, Trời Nam đã là một phần như vậy đó. Từ thuở lên ba, Thầy đã mất đi tất cả nhưng Thầy đã có tiếng gọi huyền ảo kia hòa tan trong tim óc, huyết lệ của Thầy. Thế mới hay rằng cuộc sống nhung lụa đôi khi thường làm hư hỏng con người. Nhưng cảnh bần hàn mà thanh cao lại đã tạo ra được những nhân vật xuất sắc, biết rung động biết thổn thức trước những đau thương đè nặng người đồng chủng. Thầy miệt mài học tập, ngày thì theo đuổi nền tân học giữa buổi giao thời Đông – Tây gặp gỡ trên giang sơn Bồng Lạc. Đêm tối sắp xuống lại vùi đầu vào sách vở thánh hiền. Mới năm 16, lứa tuổi thiếu niên bỡ ngỡ bước vào ngưỡng cửa cuộc đời nhưng ở Thầy lại khác. Thầy đã có ngay cái vốn học thức Pháp ngữ vững vàng với danh vị Thủ khoa bậc Trung học trên toàn cõi Trung Nam Bắc – được coi là nấc thang đáng kể lắm lắm dưới thời Pháp thuộc lúc bấy giờ.

Bước đường tương lai trải rộng trước mắt Thầy. Nhưng Thầy nghe theo tiếng gọi của hồn nước, tham gia hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và bị người Pháp bắt giữ.

Thầy đâu có không biết đến Cách mạng?

Và không thấm thía với hai tiếng Cách mạng?

Cuộc dấn thân quá sớm, và thất bại; có thể đã dẫn Thầy tới một chân trời nhận thức đấu tranh thực tế hơn. Trước hoàn cảnh yếu kém cùng cực của nước nhà, nhân tài vắng bóng, dân tình thất học, điêu linh, tưởng cứ phải có một kế sách thích ứng hơn là lao mình vào thất bại này kế tiếp thất bại khác.

Sau khi được tha, với bản án cảnh cáo nghiêm khắc cùng sự quản thúc nghiêm ngặt – vì dẫu sao Thầy đang trong tuổi vị thành niên, Thầy chọn lựa và tự cô lập mình trong chức vụ quản thủ thư viện tầm thường ở Trường Viễn Đông Bác cổ, ngày lại ngày biến thành con mọt sách. Và rồi dấn mình vào nghiệp làm báo. Báo Nam Phong. Những bài báo Thầy viết ra và nhừng bài diễn thuyết hùng hồn trong những dịp Thầy đặt chân đến đất Pháp với chủ đích giới thiệu nền văn hóa, đạo lý và lịch sử quật cường của dân tộc ta cùng những tác phẩm được phổ biến bằng Pháp ngữ, trực tiếp nhắm vào dư luận chính giới Pháp; đề cập đến nhiều sự việc thời thế chính yếu, và những vấn đề sống còn thiết thực của một nước Việt bị tước đoạt mọi thứ quyền, cho phép con tin tưởng rằng đó là những tài liệu quý giá nhất để lịch sử mai sau dựa vào, cho lời phán xét nghiêm minh về cuộc đời dấn thân của Thầy cho Tổ quốc thân yêu.

Lạy Thầy, con kính yêu Thầy không chỉ ở phận dâu con. Người thiếu nữ đất Thần Kinh, tầm thường nhất trong nhiều thế hệ nữ sinh sáng chói ở ngôi trường Đồng Khánh – như con đây, lại chỉ vì có cơ duyên được đọc đầy đủ hàng ngàn trang báo ở toàn tập Nam Phong và nhiều tác phẩm của Thầy in ra khiến con bàng hoàng, hết lòng nể trọng. Lòng tôn thờ Thầy lâng lâng dâng lên. Chữ nghĩa quả là có hồn. Nó biểu lộ tư tưởng. Và từ tư tưởng dẫn đến truyền cảm. Lời nói, có thể theo gió bay đi. Nhưng tư tưởng được khắc bằng chữ nghĩa cứ còn mãi. Nó là bằng chứng trung thực, trơ trơ cùng tuế nguyệt. Phận nữ nhi bọt bèo ấy vậy mà con xin mạn phép thưa lên: “Con đã hiểu được Thầy! Kể từ giờ phút mắt con được đọc những bản văn của Thầy “Bàn về cái tinh thần lập quốc“, phân tích nền “Quốc học với quốc văn“, luận về “quốc gia dân tộc“, hay “Độc thư cứu quốc“, v.v… con đã thấu hiểu được tại sao ta cứ mãi mãi là người Việt Nam, yêu đất nước ta, thiết tha với tiếng Việt của ta, với nòi giống Lạc hồng! Con liên tưởng đến những điều nhà văn Duyên Anh khi còn sống đã thốt lên: “Tôi bàng hoàng gặp Phạm Quỳnh. Quả thật với tôi. Phạm Quỳnh là trái núi và tôi chỉ là cỏ hèn. Sở học của Pham Quỳnh mênh mông. Tư tưỏng của Ngài thấu tận đáy hồn tôi làm tôi bay bổng, khiến tôi sáng cái ngu dốt của tuổi trẻ ngông nghênh. Ôi, cả đời đọc sách, thâu tóm tất cả tinh hoa của tư tưởng, học thuật cổ kim đông tây, đãi lọc kỹ càng để phô diễn lòng mình, gửi hồn mình vào hồn đất nước, tưởng ở thời đại Phạm Quỳnh, không ai tài học hơn”.

Duyên Anh khẳng định: “Văn nghị luận của Phạm Quỳnh khuôn thước chững chạc và lôi cuốn. Ngài bàn cả chuyện triết học cao siêu huyền bí bằng cách hành văn giản dị tươi sáng. Tôi quả quyết 68 năm sau Phạm Quỳnh, không một nhà văn nào có thể luận một vấn đề siêu hình theo bút pháp chân phương sáng sủa như Ngài. Triết lý sống của Phạm Quỳnh nằm gọn trong đoạn văn: Cổ nhân có câu “độc thư cứu quốc” câu ấy phải là cái khẩu hiệu của bọn ta. Vì ta học để làm gì? Nếu mục đích của sự học chỉ là dể sung sướng lấy một thân ta thì mục đích ấy chẳng là hẹp lắm ư? Ta phải biết nghĩa vụ, biết danh dự của ta. Nhiệm vụ và danh dự ấy là học để giúp cho nước ta khỏi yếu hèn mà được cường thịnh, dân ta khỏi ngu tối mà được sáng suốt…”

Nương theo lời nhà văn Duyên Anh đã ghi: “Không cần kể Nam Phong vĩ đại, không cần kể tác phẩm lẫy lừng của Phạm Quỳnh, chỉ vài đoạn văn bày tỏ tấm lòng yêu quốc ngữ quốc văn của Phạm Quỳnh là có quyền khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn yêu nước“, con bỗng bị lôi cuốn theo tiếng nói hùng hồn, ái quốc mãnh liệt của Thầy cất lên giữa hội trường chính trị ở Viện Hàn Lâm Pháp quốc: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bởi một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ ấy… Hãy cho chúng tôi một tổ quốc để thờ. Vì đối với dân tộc Việt Nam, tổ quốc đó không thể là nước Pháp… “!

Con xin thành kính và thống thiết gào lên là con đã đọc đã nuốt từng chữ từng lời trên của Thầy không biết đến bao ngàn lần. Nó ví như nước suối nguồn tinh khiết từ ngọn thác hùng vĩ của Đất Trời đổ về lòng con. Nhưng rồi vẫn chưa hẳn chỉ đúng có như vậy. Lắm lúc, con nghẹn ngào thê thiết, có cảm tưởng như đang nuốt từng giọt lệ vào tâm can con. Con bật khóc! Khóc thương Thầy. Thầy cao cả quá. Và khóc thương cho tiếng gọi Việt Nam ngàn đời bất diệt…

Ngày giỗ Thầy năm nay vào hạ bán niên 2000 lại đang lững thững về đâu đây. Con người ta sinh ra đời ai ai cũng có ngày sinh ngày tử để cho con cháu tưởng niệm bậc sinh thành. Riêng với Thầy, ngày cỡi hạc quy tiên, Thầy đã không có một ai trong gia đình được biết rõ ràng, chính xác (…)

Lòng con bồi hồi khôn tả. Nhưng trong niềm xúc động bao la ấy, con bỗng thấy nhuốm lên chút mừng vui mà nhiều năm trước chưa bao giờ đón nhận được. Nhiều nhà văn nhà báo (…) đã bình tâm nghiêm túc đặt vấn đề xét lại, làm sống lại giá trị văn học và chính trị của nhà học giả Phạm Quỳnh”[2]

Lúc sống, Thầy ấp ủ mộng cứu nước giúp dân, một mình đã bước trên con đường thiên lý đấu tranh cô đơn cô độc, lắm lúc vẫn ngại ngùng về nỗi khó được người cùng thời biết đến, thấu cho.

Vậy nay sự việc danh dự ấy đang diễn ra trong chiều hướng thuận lợi, công bằng dành cho người khuất bóng, qua sự phản ảnh của các nhà văn nhà báo (…).

Con thầm nguyện nơi chín suối Thầy đang mỉm miệng cười thanh thoát…

Maryland, tháng 9 – 2000

H.N.


[1] Gia đình Phạm Quỳnh gọi cha là thầy, mẹ là me (Phạm Tôn chú).

[2] Những tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được in ở ngay tại đất nước quê hương ông: Mười ngày ở Huế (NXB Văn Học, 2001), Luận giải văn học và triết học (NXB Thông tin, 2003), Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà Văn – 2004), Thượng Chi văn tập (NXB Văn học – 2006), Du ký Việt Nam (NXB Trẻ – 2007), Phạm Quỳnh, Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932 – NXB Tri Thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây -2007),  v.v..Trong Từ điển Văn Học Việt Nam (NXB Thế Giới, 2004), và Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 3, 2003) đều có mục viết khách quan về Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong (Phạm Tôn chú)

Tháng Năm 31, 2018

Thượng Chi văn tập

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 6 năm 2018.

SÁCH MỚI CỦA NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN VÀ CÔNG TY NHÃ NAM

THƯỢNG CHI VĂN TẬP

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Gọi là “sách mới” dù chỉ là sách tái bản lần thứ 3, nhưng ra mắt đúng dịp Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức lễ Vinh danh học giả Phạm Quỳnh là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời đại mới.

Tối 24.3.2018 đó, tại khách sạn Rex ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, sách Thượng Chi Văn Tập đã ra mắt và bán cho người đến dự. Sách trình bày đẹp, dày 799 trang, khổ lớn 17x25cm, phát hành 1500 cuốn.

.

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Thượng Chi văn tập là bộ sách ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện những trang viết xuất sắc nhất, cũng là những đóng góp quan trọng nhất trong văn nghiệp đồ sộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Là một phần lựa từ hàng trăm bài viết từng dăng trên các số Nam Phong tạp chí, bộ sách đã chứng tỏ một sức viết, sức nghĩ đáng kinh ngạc, một tinh thần làm việc nghiêm túc, miệt mài, và một tấm lòng thiết tha, sâu nặng với vốn văn hóa nước nhà của vị học giả họ Phạm ở độ tuổi mới chỉ trong ngoài 30.

Tạp chí Nam Phong kể từ khi ra đời đến nay đã tròn 100 năm, ngòi bút Phạm Quỳnh đã ngừng viết cách nay gần hai phần ba thế kỷ, nhưng những đóng góp của vị học giả này đối với sự phát triển văn hóa Việt Nam cận hiện đại vẫn là một cột mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với hôm nay. Vì nhiều lẽ. Là vì thứ tiếng Việt được Phạm Quỳnh ra công mài giũa và cổ động trên Nam Phong đã góp phần không nhỏ vào sự định hình câu văn quốc ngữ hiện đại. Vì những nỗ lực truyền bá tri thức không mệt mỏi của ông dã giúp cho người Việt Nam lần đầu tiên được tiếp xúc với những tinh hoa văn hóa nhân loại. Vì những vấn đề quốc ngữ, quốc văn, quốc học được Phạm Quỳnh luận bàn sôi nổi 100 năm về trước vẫn còn nóng hổi và có nhiều gợi dẫn cho hôm nay tham khảo, biện bác. Và vì những suy tư, trăn trở của một cốt cách văn hóa, vượt lên trên những ứng xử cụ thể, những ồn ào của thời cuộc để làm gương cho mai hậu ngưỡng mộ mà noi theo. Tất cả những điều đó ở con người và văn nghiêp Phạm Quỳnh đều được tinh lọc trong bộ sách Thượng Chi văn tập này.

Thượng Chi văn tập ra đời trước hết là đáp ứng lòng hâm mộ của nhiều độc giả đối với văn tài Phạm Quỳnh, sau nữa, như lời tác giả, là để ghi giữ lấy sự tiêu biểu của một thời kỳ “cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học”. Bộ sách gồm 5 tập, được xuất bản lần đầu vào năm 1943 (tập 1) và hoàn tất năm 1945 (tập 5) do Đắc Lộ thư xã (tức Editions Alexandre de Rhodes Hanoi) ấn hành. Các bài trong sách vốn do Phạm Quỳnh đã viết và đăng trên Nam Phong tạp chí, tác giả chỉ “nhuận sắc, đính chính lại một đôi chút”. Vì thé, căn bản mà nói, bản in sách đầu tiên này có độ tin cậy cao và trung thực với quan điểm, thái độ của tác giả.

Năm 1962, bộ sách được Sở Tu thư, Dịch thuật và Ấn loát miền Nam Việt Nam tái bản. Trong Lời nói đầu của lần tái bản này, các tác giả biên soạn thừa nhận việc tu chỉnh một số ít “danh từ lỗi thời” như An Nam, mẫu quốc, quan toàn quyền thành Việt Nam, Pháp, ông toàn quyền… còn lại in đúng theo nguyên văn của tác giả. Tuy nhiên, qua đối chiếu một phần (do không có điều kiện rà soát toàn văn), chúng tôi nhận thấy còn có những điểu khác biệt khác so với bản in đầu tiên. Chẳng hạn như câu văn nguyên bản (1943) là: “Còn nhớ năm xưa có một ông đốc Tây ở Hà Nội làm bộ sách tập đọc cho học trò trường Pháp Việt, trong sách có một bài nói về tính xấu người An Nam, từ đầu chí cuối toàn là một giọng thóa mạ: “Người An Nam gian trá, biển lận, hay nói dối, hay ăn cắp, hay lừa thầy, hay phản chủ, v.v.” cứ thế suốt một trang”. thì bản 1962 là : “Còn nhớ năm xưa có một ông đốc Tây ở Hà Nội làm bộ sách tập đọc cho học trò trường Pháp Việt. Trong sách có một bài nói về tính xấu người Việt Nam, suốt một trang”. Đây là một trong số không nhiều những khác biệt ở bản in năm 1962 so với bản gốc năm 1943, và thật khó để có thể lý giải vì sao có sự khác biệt này. Song cần nói rằng, ấn bản năm 1962 đã được phổ biến tương đối rộng rãi và được phần đông độc giả sử dụng, tham khảo trong một thời gian dài từ nửa sau thế kỷ XX đến nay. Có lẽ phần nào vì sự phổ biến của nó mà đến năm 2006, bộ sách một lần nữa được tái bản trong nước dựa trên bản in 1962 này.

Với mong muốn tiếp tục giới thiệu những công trình khảo cứu giá trị trong kho tàng văn hóa, văn học dân tộc, đồng thời cung cấp tài liệu gốc để độc giả có điều kiện tham khảo và tìm hiểu một cách chân xác nhất, chúng tôi cho tái bản nguyên vẹn (chỉ sửa một số cách viết trái với quy tắc chính tả hiện hành và thống nhất việc sử dụng từ ngữ trong toàn văn bản) bộ sách Thượng Chi văn tập (in chung 5 tập) dựa trên ấn bản đầu tiên 1943-1945 từng được chính tác giả Phạm Quỳnh tập hợp, sửa chữa.

Bên cạnh đó, nhân dịp 100 năm Nam Phong tạp chí ra đời, việc tái bản bộ sách càng có ý nghĩa, không chỉ tôn vinh những đóng góp của học giả Phạm Quỳnh, mà còn khẳng định sức sống, sức hấp dẫn trong những trang viết của tờ tạp chí tiền phong đầu thế kỷ XX này. Vì vậy, lần tái bản này, chúng tôi cung cấp thêm một bảng phụ lục đối chiếu các bài viết trong sách với các bài đã đăng trên Nam Phong, có ghi chú rõ tên bài báo, số tạp chí và số trang để bạn đọc tiện theo dõi. Một số ảnh tư liệu về tác giả Phạm Quỳnh cũng được chúng tôi đưa vào trong sách.

Việc tái bản lần này, dù đã rất cố gắng, song khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của bạn đọc.

Xin trân trọng giới thiệu!

—o0o—

TỰ NGÔN

Nhiều bạn đọc giả có bụng yêu thường nói với tôi rằng:

  • Báo Nam Phong bây giờ ít người giữ được trọn bộ. Những bài luận thuyết khảo cứu của ông đăng trong báo, nhiều bài còn có giá trị. Chúng tôi muốn đọc mà tìm kiếm rất khó. Ông nên cho lựa chọn những bài hay, tái bản thành sách, thật là ích lợi cho chúng tôi lắm.

Tôi ngần ngại, tự nghĩ: những bài đăng báo là phần nhiều vì câu chuyện hiện thời mà viết ra, cách mười lăm, hai mươi năm về sau không còn thích hợp nữa. Vả tựu trung vàng thau lẫn lộn, lựa chọn cho được toàn bích, đáng để lưu truyền, cũng khó lắm

Song lại nghĩ rằng: báo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kỳ trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn kém thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ.

Cho nên tôi cũng vui lòng lựa lấy ít nhiều bài gọi là nghe được, cho in thành sách, đề là Thượng Chi văn tập để cống hiến các độc giả có bụng chiếu cố.

Chỉ xin nhớ cho rằng những bài này là viết tự khoảng trên dưới mười lăm hai mươi năm trước, chỉ có nhuận sắc đính chính lại một đôi chút mà thôi.

Hoa Đường Phạm Quỳnh

cẩn chí

Huế, ngày tháng 6 năm 1943

Phạm Quỳnh năm 1945

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:25 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 6 năm 2018.

PHẠM QUỲNH NĂM 1945

Phạm Tôn

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

            “Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

            “Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

            “Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

            “Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

            “Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

            “Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”[1]

            Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

            Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”[2] Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”[3] Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

            Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

(…)

            Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[4] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[5] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường.

Nhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945. Đúng lúc đang diễn ra cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế do Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế tổ chức. Từ sáng sớm, ông đã bảo các con trai lớn (trong đó có Phạm Khuê, Phạm Tuyên) và những người làm trẻ đến tham gia, còn dặn họ “nhớ mang theo cờ đỏ sao vàng”.

Sáng 30/8/1945, Hoàng Hữu Nam thưa với bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”. Bác nói: “Bất tất nhiên.” (Tức: không nhất định phải như thế, có thể có cách khác). Đầu tháng 9/1945, sau khi biết tin Phạm Quỳnh bị sát hại tại Huế, bác lại nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì” và “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Năm 1946, trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau (Pháp), Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn ta, trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng. Bác nói với ông này trước mặt Vũ Đình Huỳnh và Đỗ Đình Thiện là: “Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”; ông Phạm Văn Đồng nói: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà…”

Suốt cuộc đời mình, năm mươi ba tuổi ta, Phạm Quỳnh đã sống như một người Hà Nội chân chính, hậu duệ của những sĩ phu Bắc Hà xưa, lớp người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Tạm dịch là: Giàu sang không thể làm rối lòng, nghèo khó không thể biến đổi tiết tháo, uy vũ không thể khuất phục)”.

P.T.

[1] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

[2] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

[3] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

[4] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[5] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

—o0o—

PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

—o0o—

VĂN HÓA “CÔNG BỘC”

Hữu Thọ

(Bài đăng trên tạp chí Thời nay Xuân Giáp Ngọ 2014, trang 5 mục Góc nhin thời nay)

—o0o—

Ðầu năm thường nghĩ về văn hóa. Ðầu năm Ngọ này, mong muốn “Thần Mã” sải bước thiên lý cho nên thử bàn về “văn hóa công bộc”, “văn hóa đầy tớ” là văn hóa của cơ quan công quyền và văn hóa của cán bộ, công chức đang là một nội dung quan trọng về văn hóa hiện nay.

Ngày nay, chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định cán bộ, công chức là “công bộc”, là đầy tớ của dân. Nhưng có người hỏi “Bác Hồ xác định vị thế đó vào lúc nào?” thì trước đây trả lời câu hỏi này không dễ nhưng bây giờ có Toàn tập Hồ Chí Minh, lại có CD toàn tập thì có thể tìm thấy ngay.

Với các công cụ hỗ trợ, chúng ta có thể thấy rõ khái niệm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên lần đầu trong bức thư gửi Ủy ban các kỳ, tỉnh, huyện, làng… Bắc Bộ ngày 7-10-1945, nói rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cán bộ, đảng viên phần lớn đều có chức có quyền trong bộ máy công quyền, vị thế “công bộc” của cán bộ, viên chức đã được xác định. Bức thư đó gửi Ủy ban các cấp ở Bắc Bộ nhưng lại đăng công khai trên báo Cứu quốc nghĩa là được công bố trước toàn dân, toàn Ðảng và đội ngũ cán bộ, viên chức cả nước.

Không chỉ trong những ngày khởi đầu của chính quyền mới mà trong Di chúc dặn lại Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công chức phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Ðiều đó thấy rõ tư tưởng hết lòng vì nhân dân là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời của Người, là nền tảng của đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ của nước Việt Nam mới.

Không những ở nước ta mà nhiều nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ của Ðảng và của dân tộc hết sức coi trọng việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên.

Ngay trong các bài giảng cho lớp thanh niên chuẩn bị thành lập Ðảng được tập hợp trong sách Ðường Kách mệnh thì bài đầu tiên là Tư cách người kách mệnh với 14 điều “tự mình”, năm điều “đối với người”, bốn điều “đối với công việc”. Những nội dung đó đều nhấn mạnh trách nhiệm với nhân dân, với đất nước, với đồng bào, đồng chí… nhưng theo tôi, khái niệm “công bộc”, “đầy tớ” của dân chưa được nhắc tới.

Ðiều đó có thể thấy rõ, vị thế “công bộc”, “đầy tớ” của dân chỉ xác định rõ khi chính quyền về tay nhân dân, là trách nhiệm đặc thù, cao cả, căn bản của những người cán bộ, đảng viên, công chức trong xã hội mới. Có nghĩa rằng không làm tròn trách nhiệm “công bộc” thì thực chất không xứng đáng là cán bộ, công chức của nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nhiều nội dung, trong đó có nội dung xây dựng văn hóa trong Ðảng, trong cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị, nghĩa là văn hóa toàn bộ máy của hệ thống chính trị phải thấm nhuần “văn hóa công bộc”.

Như trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các Ủy ban Bắc Bộ cũng là với toàn quốc có trách nhiệm của cơ quan công quyền và trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Các cơ quan công quyền của nhân dân là nơi đề ra các chủ trương chính sách và điều hành chính sách thì vấn đề cơ bản phải là “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi chủ trương cũng như thủ tục hành chính trong quá trình tiếp xúc với nhân dân đều lấy sự hài lòng của dân làm thước đo. Theo tôi nghĩ, đó là nội dung cơ bản văn hóa công bộc của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Với cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là người đầy tớ của dân, không phải là nơi làm quan phát tài mà phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, không tham ô lãng phí, phù hoa, xa xỉ, không được lên mặt “quan cách mạng”, hách dịch mà phải trọng dân, kính dân, thương dân, học dân, hỏi dân, nghe dân phê bình. Ngay từ thuở mới dựng nước, Bác Hồ đã nói tới sáu căn bệnh mà cán bộ, công chức cần đề phòng và đấu tranh khắc phục, nói gọn như sau: Tự cho phép mình làm trái pháp luật / Cậy thế cậy quyền coi thường dư luận, không nghĩ đến dân / Ăn tiêu xa xỉ / Tham ô, lãng phí / Tự tung tự tác, kéo bè kéo cánh, ban phát địa vị cho bà con họ hàng mặc dù họ không đủ năng lực và phẩm chất / Chia rẽ / Kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng”, coi khinh dân gian, độc hành, độc đoán… Sau bức thư trong những ngày đầu cách mạng thành công, Người còn nói chuyện, viết nhiều bài báo để giáo dục đạo đức của cán bộ công chức và ba năm sau trong sách Sửa đổi lối làm việc, Người nói rõ thêm một số nội dung, nhưng tôi nghĩ những nội dung nêu trong bức thư của những ngày đầu thành lập chính quyền nhân dân là sâu sắc và dự báo rất sớm, rất chính xác. Tôi hiểu đó là nội dung văn hóa cơ quan công quyền, văn hóa cán bộ, công chức thể hiện “văn hóa công bộc, văn hóa đầy tớ” của bộ máy và cán bộ, công chức.

Khi nói về vị thế “công bộc”, “đầy tớ”, có đồng chí đã hỏi về vị thế lãnh đạo của Ðảng. Trong Di chúc, Người cũng yêu cầu Ðảng phải xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Vì Ðảng ta sinh ra từ lòng dân tộc, Ðảng ta chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ Tổ quốc và nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân, “thật sự là công bộc của dân”, đi sát thực tế, tôn trọng, chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu ước vọng của nhân dân thì sẽ làm giàu trí tuệ của Ðảng để có quyết sách đúng đắn và được dân tin yêu mới có thể trở thành “người lãnh đạo” thật tin cậy của nhân dân.

H.T.

—o0o—

MỖI CÁN BỘ PHẢI LÀ “ĐẦY TỚ” CỦA DÂN

(Tin đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2018, trang 15)

“Mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, môi trường làm việc nào thì mọi hành vi ứng xử phải có nghĩa, có  tình, giải quyết công việc phải xuất phát từ nền tảng tình yêu thương con người, làm điều thiện, tránh điều ác” – ông Trần Quốc Vượng

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 2 năm thực hiện chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (ngày 16/5), ông Trần Quốc Vượng – ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng – nhấn mạnh như vậy.

Đây là hội nghị trực tuyến kết nối với các tỉnh. Tại Hà Nội có sự tham dự của ông Nguyễn Xuân Phúc – ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Chính phủ; ông Trần Quốc Vượng – ủy viên Bộ Chính Trị, thường trực ban Ban Bí thư; ông Võ Văn Thưởng – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trương Ban Tuyên giáo trung ương cùng nhiều vị lãnh đạo khác.

Sau khi nghe nhiều ý kiến tham luận, ông Trần Quốc Vượng cho rằng các ngành, các địa phương trên cả nước đã có nhiều cố gắng, sáng tạo, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ông Trần Quốc Vượng cũng thẳng thắn nhấn mạnh vẫn còn không ít cơ quan, đơn vị, địa phương lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa tự giác, chưa thường xuyên rèn luyện, học tập, chưa thực sự là tấm gương cho nhân dân noi theo.

Ông Trần Quốc Vượng đề nghị tiếp tục quán triệt sâu sác tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực, lâu dài của việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, hoạt động của các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi xấu, hạ thấp uy tín lãnh tụ.

“Cần tập trung làm tốt, có hiệu quả hai nội dung: phát động phong trào thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tư tưởng của Bác trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu bức thiết của Đảng, Nhà nước trong bối cảnh kinh tế hiện nay, mà còn là mong mỏi thực sự từ mỗi gia đình. Thứ hai, tạo nên phong trào trong toàn xã hội về tình thương yêu đồng bào, đồng chí theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ hoàn cảnh  nào, môi trường làm việc nào thì mọi hành vi ứng xử phải có nghĩa, có tình, giải quyết công việc phải xuất phát từ nền tảng tình yêu thương con người, làm điều thiện, tránh điều ác” – ông Trần Quốc Vượng nêu rõ.

Trước đó, phát biểu khai mạc, ông Võ Văn Thưởng cũng cho rằng vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu thậm chí có cả cán bộ, đảng viên nắm giữ chức vụ cao trong cơ quan Đảng, Nhà nước còn thiếu tự giác, chưa thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu trong công tác và trong sinh hoạt, vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng”.

Ông Võ Văn Thưởng đề nghị “đảng viên, người đứng đầu cần thực hiện nghiêm túc quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về trách nhiệm nêu gương; quy định về công tác kiểm tra của tổ chức Đảng, giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”

Đức Bình

——————————–

Địa chỉ liên lạc của chúng tôi:

Ban chỉ đạo:

  1. Nhạc sĩ Phạm Tuyên (N2 P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 0913.043.580)
  2. Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan (02 Ngõ 219/18 Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội – Điện thoại: 090.4567.554
  3. Ông Phạm Tuân (14917 Village Gate Drive Spring, M.D. 20906 – USA.Email: tuanguyenph@verison.net)

 Tổ thư ký:

  1. Tôn Thất Thành (82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM -Mobile: (+84) – 128 358 2998 -Email: phamton@gmail.com
  2. Phạm Hồng Tuyến: Thủ đô Hà Nội, Email: hongtuyenvtv@gmail.com

 

Tháng Năm 14, 2018

Những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA PHAN CHÂU TRINH

Phan Thị Minh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 461, tháng 7 năm 2015 từ trang 19 đến trang 22. Tác giả, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh là cháu ngoại Phan Châu Trinh, từng là đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại I-ta-li-a và một số nước châu Âu khác như Luxemburg

—-o0o—-

Sau 14 năm hoạt động trên đất Pháp, ngày 28/6/1925 Phan Châu Trinh trở về Tổ quốc. Từ đó cho đến lúc qua đời (24/3/1926) chỉ trong vòng 9 tháng, mặc dầu đang bệnh nặng, Phan Châu Trinh vẫn tích cực không ngừng hoạt động trong phong trào yêu nước đang có cơ hội phát triển. Nội dung bài viết dưới đây trình bày về một số hoạt động trong những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh – đã biên soạn trên cơ sở tài liệu sao lục được tại Kho Lưu trữ hải ngoại của Pháp.

Thư khố Pháp còn lưu giữ hai bài báo tiếng Pháp (của tờ Mite) viết về cảnh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh về đến cảng Sài Gòn ngày 28/9/1925 và buổi tiệc mừng.

Tờ Indochine (Đông Dương) có bài của Dejean de la Bâtie viết: “Tàu cập bến vào 8h15, trời bắt đầu tối và mưa lâm thâm nhưng nhiều người, nhiều ô tô đợi trên bến tàu, vẫy khăn gọi tên…” Một số được lên tàu đón, vây quanh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh. Ai cũng muốn gặp Phan Châu Trinh; ông có vẻ gầy gò, má hóp, da đã nhăn nheo nhưng mắt rất sáng, nét mặt và cử chỉ rất kiên quyết dứt khoát.

Ngay trong buổi tiệc mừng tại nhà bà Chiêu Nam Lầu, cô ruột của ông Ninh, Phan Châu Trinh đã trả lời phỏng vấn và nói chuyện về quá trình của mấy ông mấy chục năm qua, phương hướng và nội dung cho cuộc vận động sắp tới. Ông vẫn nhấn mạnh cần giữ vững thế hợp pháp để đấu tranh lâu dài đòi cải cách dân chủ, mở mang dân trí và nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân.(các dòng chữ đậm, nhấn mạnh trong bài là của chúng tôi – PT)

Phan Châu Trinh tuyên bố thẳng với bọn cầm quyền sẽ ở lại Sài Gòn, lúc thì nói để chờ miền Trung bớt nóng nực mới về, lúc thì nói để chờ Toàn quyền Varenne sắp sang. Ông cũng tuyên bố sẽ sống  bằng nghề viết sách báo. Thực chất ông đã nhận định: ở Nam Kỳ bấy giờ chế độ cai trị của Pháp có phần dễ thở hơn, một phần luật pháp của Pháp được áp dụng, nhiều người đã tiếp xúc với phương Tây, đã sẵn có một phong trào đấu tranh công khai bằng báo chí dư luận, lại là vùng đất phì nhiêu, số người hằng tâm hằng sản khá đông, có thể dùng làm bàn đạp lâu dài của nhóm ông. Vì thế thâm tâm ông đã quyết định sẽ ở lại Sài Gòn, khi cần hoạt động mới ra Trung và Bắc.

Theo báo cáo của mật thám thì đến với Phan Châu Trinh ngay từ đầu có: Trần Quang Nghiêm, Lê Kim Ty, Phan Văn Trường, Lâm Hiệp Châu, Khánh Ký… phía người Pháp cánh tả có André Malraux, Paul Monin, Dejean de La Bâtie…

Mười hôm sau, Phan Châu Trinh đã đánh điện gọi người rể lớn (chồng bà Châu Liên – cha chúng tôi), Lê Ấm, dạy học ở Huế. Ngày 17/7/1925, ông Lê Ấm đã đưa bà Ngưu em gái út và Châu Lan con gái út Phan Châu Trinh (mẹ của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Phấn khởi trước tinh thần và khí thế của bà con, cảm động với niềm tin yêu tất cả dành cho mình, Phan Châu Trinh làm việc hết sức khẩn trương quên cả bệnh tật. Ông tập trung huy động lực lượng trong các tầng lớp trên mà thực dân có phần kiêng nể, đồng thời lo kiềm chế xu hướng nôn nóng manh động trong lớp trẻ tân học. Ông vừa lo ứng phó những sự kiện trước mắt vừa chuẩn bị cơ sở cho hoạt động lâu dài.

Ngày 3/8/1925, ông đi Trà Vinh cùng với ông Ninh, rể lớn Lê Ấm và con gái út Châu Lan. Ngày 7/8 lại đi Mỹ Tho… Ông đi gặp gỡ một số điền chủ và nhà kinh doanh ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Ba Động (có Nguyễn Phước Hượt, Nguyễn Huỳnh Điển, Trần Văn Kim…). Có những buổi họp kín dưới quyền ông Hợi (chồng bà Châu Lan, cha bà Nguyễn Thị Bình).

Ngày 28/8, ông mới trở về Sài Gòn, nói “dự định đi khắp Nam kỳ, nhưng sức khỏe không cho phép…”

Mục tiêu trước mắt của các lực lượng yêu nước là nhờ uy tín của Phan Châu Trinh để vận động tiền lập nhà in, ra sách báo và một số cơ sở hoạt động. Theo báo cáo của trùm mật thám Arnoux (số 3/74 ngày 24/9/1925) thì cuộc vận động của Phan Châu Trinh đạt kết quả khá lớn.

Ông khẩn trương biên soạn tài liệu diễn thuyết. Ông Ninh tích cực lo tổ chức cơ sở vật chất và làm thủ tục cần thiết, để chuẩn bị cho ông, trực tiếp cả với Sở mật thám.

Ngày 10/10/1925, ông cùng ông Ninh chủ trì cuộc họp với 5 người tại số 14 đường Martin des Pallieres, phần lớn là những nhân vật lớn, Ủy viên hội đồng như Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Nguyễn Tân Văn, Nguyễn Huỳnh Điển, các nhà điền chủ, nhà kinh doanh, trí thức và viên chức lớp trên. Có thêm Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển, Nguyễn Pho, Khánh Ký, Trương Cao Động… Họ bàn:

+ Lập một nhà hội để diễn thuyết.

+ Lập nhà in để ra một tờ báo song ngữ Việt – Pháp.

+ Xây dựng một trường văn hóa và dạy nghề.

+ Nguyễn Huỳnh Điển nhận việc lo lập nhà in để phục vụ ra báo. Ông Đốc phủ Lê Văn Mau sẽ hứa cho đất và 100.000 đồng để xây dựng trường học, nếu thiếu ông sẽ đi quyên thêm. Hội nghị trung tâm bàn  vấn đề tổ chức diễn thuyết đã cử Ủy ban 5 người gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Đốc phủ Nguyễn Tấn Sử và Nguyễn Tấn Văn. Ngày 15/10/1925, Ủy ban trên họp tại nhà Nguyễn Văn Long, có thêm ông Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển và một số người lo việc quyên góp…

Họ trao đổi những thông tin đáng mừng về những lời hứa quyên góp và quyết định sẽ thành lập một câu lạc bộ để tổ chức diễn thuyết và hội họp, giao cho ông Trường và ông Ninh nghiên cứu điều lệ và thủ tục, kể cả làm việc với Sở mật thám. Nếu “kẹt” sẽ xin Toàn quyền mới là Varenne (đảng viên Xã hội) can thiệp.

Ngày 7/11 ông đi nghỉ ở Vũng Tàu thì được tin Khải Định chết, ông đánh điện cho Khâm sứ Pasquier đề nghị lập Hội đồng xem xét nên tôn người kế vị hay chấm dứt chế độ quân chủ. Khi trao đổi với bạn bè ông cũng hiểu là khả năng đó còn xa vời như trong bài của Nguyễn Phan Long đăng báo Écho Annamite ngày 12/11/1925, “Để có chế độ cai trị trực tiếp ở Trung kỳ”. Nhưng ông cho đây là một trong những nhát búa để đánh thức dư luận về vấn đề này, tạo một khả năng mới cho tương lai.

Ngày 19/11/1925, Varenne tiếp khách tại Sài Gòn: Phan Châu Trinh đại diện Trung kỳ, Phan Văn Trường, Bắc kỳ, Nguyễn Phan Long, Nam kỳ. Đoàn gồm nhiều nhân vật quan trọng. Họ đưa thỉnh nguyện, ngoài nội dung dự kiến có thêm nội dung ưu tiên cho các hoạt động kinh doanh của người Việt.

Ngay tối hôm gặp Varenne (19/11/1925), Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết đầu tiên của ông với đề tài “Đạo đức và luân lý Đông Tây”, tại số nhà 13 và 15 đường Albert 1, có đơn xin phép chính quyền, có chủ tịch đoàn gồm Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Văn và Nguyễn Tấn Được đều là ủy viên Hội đồng. Theo báo cáo của mật thám Arnoux số 119B ngày 20/11 có khoảng 200 người nghe. Khoảng 120 người trong phòng 30 người chen chúc ở cửa và một số người ở phòng nhỏ có cửa thông sang.

Không có thủ tục giới thiệu diễn giả, Phan Châu Trinh bắt đầu nói vào 20 giờ 20 và kết thúc vào 21 giờ 30. Có 5, 6 lần vỗ tay:

Arnoux nhận xét: “Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam diễn thuyết bằng tiếng Việt ở một nơi công cộng (trước đó chỉ có vài cuộc ngắn ở Nhà Khuyến học), hơn nữa với tư cách riêng của diễn giả cần có báo cáo riêng” (có bảng tóm tắt nội dung kèm theo). Thực chất Phan Châu Trinh thông qua phân tích mặt mạnh yếu của hai nền đạo đức và luân lý, để chỉ rõ nhược điểm và tồn tại bấy giờ trong nhân dân ta, kêu gọi lòng yêu nước, ý chí tự lập tự cường, gìn giữ cái hay của mình, bỏ cái dở, học tập cái hay của người, biết đoàn kết tổ chức đoàn thể, biết truyền bá xã hội trong dân. Ông nêu gương Nhật Bản đã thành công và Trung Quốc, Triều Tiên đang mở cửa phấn đấu canh tân đất nước để kêu gọi học tập gương họ.

Lời lẽ của ông vừa hùng hồn, thiết tha chân thành, vừa đơn giản dễ hiểu, vừa chặt chẽ khôn khéo, đại diện Sở mật thám ngồi nghe cũng không bắt bẻ vào đâu được mà thính giả thì hết sức xúc động thấm thía và phấn khởi.

Diễn văn được in ra hoặc chép tay phân phát. Hiện nay chúng tôi có bản in của Tân Dân thư quán Hà Nội.

Ngày 20/11/1925, Phan Châu Trinh đã cùng hai ủy viên Hội đồng thuộc địa Nguyễn Phan Long và Nguyễn Tấn Dược gửi đơn đến chủ sở mật thám báo sẽ diễn thuyết vào ngày 27/11, cũng tại địa điểm cũ, về vấn đề “Quân chủ hay dân chủ”. Arnoux phản ánh Phủ Toàn quyền: “Lần trước chỉ nói vấn đề luân lý mà Phan Châu Trinh đã khéo léo xen vào đó nội dung đả kích triều đình Huế. Lần này chắc ông ta sẽ trực diện hơn. Xin cho biết có nên cho phép không vì kiểu nói rất Annam, khéo léo của ông ta được người bản xứ hiểu rất dễ dàng… Dù tôi cũng phải cho phái viên đặc biệt và chỉ điểm đến dự”.

Ngày 27/11, Phan Châu Trinh đã diễn thuyết về đề tài “Quân trị và dân trị” dưới sự chủ tọa của Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Dược và Trần Đình Minh, từ 20 giờ đến 21 giờ 40.

Theo báo cáo của Thanh tra Becrtin “thính giả đông hơn lần trước, khoảng 300 người, gồm đủ mặt các nhân vật cách đó mấy tiếng đã cùng Nguyễn Phan Long đến gặp Varenne. Diễn thuyết được chào mừng bằng vỗ tay nhiệt liệt”.

Phan Châu Trinh đang sốt cao, vẫn cố gắng nói rõ ràng mạnh mẽ. Ông lướt qua tệ hại của chế độ quân chủ với nạn áp bức quân chủ… Ông trình bày hình thức tổ chức chế độ cộng hòa, điển hình là Pháp, cùng với các chế độ quân chủ lập hiến mà vua cũng không khác tổng thống. So sánh các chế độ, ông đả kích các mưu đồ bảo vệ ngôi vua quân quyền, ông đặc biệt châm biếm ngôi vua dưới chế độ bảo hộ là tên đầy tớ số 1. Ông nhắc lại nền quân chủ của nước ta là sao chép từ Trung Quốc, nhân dân họ đã nhận thức được và tự giải thoát ách nô lệ. Dân Nam cần bắt chước.

Ông được vỗ tay nhiều lần, đặc biệt khi ông cầu mong Pháp sẽ thiết lập nền cộng hòa ở Đông Dương.

Sau buổi diễn thuyết này Phan Châu Trinh mệt nhiều, phổi đau. Ông phải vào điều trị ở bệnh viện Algil 15 ngày, ngày 22/12/1925 mới hơi khỏe ra viện. Ông Đào Trịnh Nhất báo tin được ông nhận làm thư ký. Được tin Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hà Nội ông đánh điện cho Toàn quyền xin ân xá.

Ngày 22/12/1925 được tin về thái độ Viện Cơ mật, Phan Châu Trinh gửi cho Khâm sứ Trung kỳ Pasquier một bức thư rất thẳng thắn.

“Ngài Khâm sứ,

Trong chuyến vào Nam kỳ cùng với ông Monguillot, Ngài đã mời tôi về Trung kỳ. Tôi đã vui vẻ nhận lời. Nhưng tình hình sức khỏe của tôi còn phải lưu lại Nam kỳ.

Nhưng ít lâu sau lời mời của Ngài, Viện Cơ mật đã mật tư cho các quan lại chức sắc trong nước để báo về việc sẽ trở về của tên Cộng sản Phan Châu Trinh, nguyên chính trị phạm, được Cộng sản giao về hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ ở Đông Dương”.

Ngài đã rõ chính kiến và tình cảm tôi đối với nước Pháp. Viện Cơ mật đã gửi lệnh đó đi khắp miền Trung thì thật lạ quá, một bên là Ngài Khâm sứ mời tôi về Trung kỳ và bên kia là lũ chó của Ngài lại chuẩn bị sẵn sàng để sủa tôi, thậm chí cắn tôi nữa.

Tôi xin Ngài vui lòng giải thích cho tôi mấy điều lạ lùng đó.

Xin kính chào Ngài.

Phan Châu Trinh – 49P Charner Sài Gòn”

Trong những ngày khỏe từ 22 đến 27/12/1925 Phan Châu Trinh tin là chỉ một tuần nữa sẽ đủ sức về Đà Nẵng thăm quê hương và con, “đổi không khí chắc sẽ khỏe hơn”. Báo cáo số 1305 viết “Phan Châu Trinh đã đủ giấy tờ, chỉ còn chờ con tàu thích hợp là đi. Có lúc ông nói định chờ Varenne vào sẽ cùng ra”.

Nhưng từ ngày 27/12 ông mệt lại, không ăn không ngủ được. Nguyên nhân do khí hậu thay đổi và làm việc quá nhiều.

Ông chuyển sang thuốc Nam, lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú ông Ninh) làng Trung Chánh (Gia Định).

Sang đầu tháng 2/1926 bệnh ông càng ngày càng nặng, phổi đau  lại thêm bệnh kiết lỵ “khi đó chưa có thuốc trị”. Bác sĩ Thinh và Đôn thấy còn ít hy vọng. Cử nhân Lê Văn Huân từ Huế vào thăm đi cùng với con gái lớn Phan Châu Trinh (bà Châu Liên có đem theo con gái nhỏ 4 tháng tuổi, chính là tôi). Ông An Cư vẫn tích cực lo tìm các thầy thuốc Nam có tiếng đến chữa cho ông. Bà Châu Liên cho biết trong thời kỳ này ông Sinh Huy (thân sinh Hồ Chủ tịch) luôn ở bên cạnh Phan Châu Trinh (thư khố lưu một báo cáo nói đến viên thầy thuốc người Trung kỳ từ Gò Công lên). Ông Trần Đình Phiên cũng từ Quảng Nam vào. Ông An Cư cho biết “đã điện mời thầy thuốc nổi tiếng Huỳnh Thúc Kháng vào sớm vì Phan Châu Trinh rất tin tưởng ông này”.

Bọn mật thám vẫn bám ông. Họ điện cho mật thám Đông Dương: “Sáng 28/2/1926, một chỉ điểm đã thăm Phan Châu Trinh tại nhà Nguyễn An Cư. Ông bị kiết lỵ đã bắt đầu phù thũng, người yếu mệt nhưng vẫn đọc báo nói chuyện”.

Khắp nơi trong nước điện về hỏi tình hình sức khỏe của ông, lo lắng và đau buồn. Thấy không còn hy vọng, ngày 18/3 ông được chuyển về 54 Pellerin để thực hiện tang lễ và các lực lượng yêu nước quyết tổ chức thật lớn. Mãi đến ngày đó mới có tin Huỳnh Thúc Kháng đã lấy đủ giấy tờ và đang trên đường vào.

Quanh Phan Châu Trinh luôn có các bạn cũ và mới, hai con gái và hai rể cùng túc trực. Lúc này ông không còn nói to được nữa nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Sáng 24/3, ngay trong ngày qua đời, khi bà Châu Liên hốt hoảng và báo tin ông Ninh bị bắt dẫn ngang quang nhà, ông vẫn bình tĩnh nói: “Đó là chuyện làm bình thường đối với người làm cách mạng”.

Niềm an ủi cuối cùng của ông là đã gặp lại người bạn chí thiết của những ngày đầu tiên dấn thân là Huỳnh Thúc Kháng, đã nói lên được lời trăng trối cuối cùng có tính tiên tri: “Độc lập dân tộc sau này sở cậy Nguyễn Ái Quốc”. Ông trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 30 ngày 24/3/1926.

Ban tang lễ gồm 16 người. Mọi việc chuẩn bị đã được lo trước cả tuần lễ: 1 hầm mộ bê tông cốt thép đã được xây tại nghĩa địa Gò Công tương tế, một quan tài kẽm đặc biệt đã được đặt làm để giữ thi hài ông 10 ngày đủ thời gian cho đại diện các tỉnh về viếng và dự tang lễ, cử hành ngày 4/4/1926.

Xinh trích dẫn đánh giá chung khá chính xác của mật thám Nam kỳ về sự kiện này: “Thật là một cuộc biểu tình vĩ đại đến nay chưa hề thấy (Manifestation grandiose inconnue jusqu’ici) không chỉ do tầm vóc của nhân vật, danh tiếng của ông ta làm cho dân chúng nô nức đến vậy, tuy mọi người đều muốn tỏ ra biết quý trọng người đã hy sinh cho lợi ích của nhân dân đất nước… Tang lễ Phan Châu Trinh còn dựa vào một phong trào quần chúng đã được đốt nóng chỉ tìm cơ hội để bùng lên. Dư luận người Nam đã nắm lấy cơ hội cái chết và tang lễ Phan Châu Trinh để thỏa mãn yêu cầu bộc lộ trạng thái tư tưởng mới của mình (son état d’esprit nouveau)”.

Chúng ta có thể nói: Bằng cả cuộc đời hoạt động không mệt mỏi ở khắp nơi và bằng cả cái chết của mình, trong lòng dân tộc, chí sĩ Phan Châu Trinh đã góp phần không nhỏ vào những bước phát triển tiếp theo của công cuộc giải phóng đất nước.

 

 

Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

PHẠM QUỲNH VẪN SỐNG TRONG LÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

Blog PhamTon

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời bốn ngày… Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972-in 3200 cuốn). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Sau khi phát hành ít ngày, sách ấy bỗDoi viet vanng “biến mất” trong các hiệu sách và tất nhiên trong tất cả các thư viện công. Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã ra đời lâu rồi, mới lại thấy sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn. Nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh. Đây là lần đầu Phạm Quỳnh xuất hiện trong lòng Tổ quốc mình, nay đã là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Sau đó 10 năm, lại 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 12 ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc số 13 (278) cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba)

Trước đó bốn năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Trong Lời nhà xuất bản (trang 8) viết: “về mặt văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển nền văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học.”

Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học (644 trang) do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu. Trong Lời giới thiệu, Trịnh Bá Đĩnh viết: “Làm nên cốt cách ngòi bút của ông là các bài luận giải, khảo cứu mà nội dung nghiêng về tư tưởng và các vấn đề học thuật. Ở đó ta thấy một sự hiểu biết uyên bác, một cách diễn giải chu đáo tỉ mỉ, một nhiệt tình quảng bá tư tưởng, được diễn tả với một văn phong chặt chẽ, khúc chiết, chắc nịch mà các độc giả trí thức chắc sẽ ưa chuộng”.

8 sach Pham QuynhNăm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh cũng 1000 bản, Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Mỗi bộ bồm ba tập, mỗi tập khoảng 650 trang, trong đó có nhiều bài của Phạm Quỳnh. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký (NXB Trí Thức, 511 trang, khổ lớn 16x24cm phát hành 600 bản, Nguyễn Hữu Sơn viết: “Học giả Phạm Quỳnh viết du ký vừa thỏa mãn hứng thú nội tâm, trình bày những cảm xúc riêng tư vừa hướng tới giới thiệu những điều trải nghiệm tai nghe mắt thấy liên quan đến mỗi thắng cảnh di tích lịch sử và đời sống xã hội nơi phương xa. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên kết nối giữa chủ thể sáng tác và phía tiếp nhận, nghĩa là bạn đọc cũng sẽ được hướng dẫn đi thamquan, du lịch, hành hương về xứ đẹp và cội nguồn lịch sử dân tộc nhờ chính các trang du ký. Du ký của Phạm Quỳnh là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”… Về phong cách nghệ thuật, du ký của Phạm Quỳnh hòa quyện được phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nghệ sĩ (…) Nhìn chung trên địa hạt du ký, có thể khẳng định Phạm Quỳnh không chỉ đứng đầu Nam Phong Tạp Chí mà cũng là nhà viết du ký xuất sắc trong suốt cả thế kỷ XX.”

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932, 1000 tập sách khổ 14, 5×20, 5. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút. Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết ngay đầu sách bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang. Ông viết đầy xúc động: “Cuốn sách này của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (11 bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn nhất vọn vẹn một trang! Và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền…” Và “Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta gọi là dấn thân)” ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết Hoa Đường tùy bút. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ, rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm”. Rồi: “Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang, Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

“Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm”.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh dày đến 1134 trang, in tới 1000 bản và chính thức bán và quảng cáo với bích chương lớn tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3 (56) năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Bẵng đi hai năm, lại thấy tác giả này xuất hiện trên Hồn Việt, một tạp chí của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước (bài 1 và 2)

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272). Nguyễn Huệ Chi viết: “Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dịch thuật hay trước tác, ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng (…) Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (Chẳng hạn bài viết về lễ tế Nam Giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết… nói riêng (…) Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được các phạm trù trừu tượng, như tư tưởng tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa được nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng, chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu càu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.”

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Vì “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, đúng như một câu thơ Kiều.

Thành phố Hồ Chí Minh 28/10/2014.

B.P.T.

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.