Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 3, 2015

Kiến nghị xóa oan cho các học giả: Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:03 chiều

 Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 7 năm 2015.

Kiến nghị khẩn thiết của nhà giáo nhân dân, đảng viên Cộng sản Việt Nam lão thành Nguyễn Ngọc Lanh

Lời dẫn của Phạm Tôn: 17:35 chiều 11 tháng 6 năm 2015, chúng tôi nhận được bản kiến nghị toàn văn như sau:

—o0o—

Kiến nghị xóa oan cho các học giả:

Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh

 

Hà Nội, ngày  tháng 6 năm 2015

Kính gửi, kính thưa:

– Các đồng chí ủy viên Ban Bí Thư (cụ Lê Hồng Anh, thường trực)

– Các đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị (cụ Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư)

– Các đồng chí ủy viên Ban chấp hành TƯ đảng Cộng Sản Việt nam (CSVN)

– Các đồng chí đại biểu Đại hội XII đảng CSVN

– Các đồng chí tổng biên tập tạp chí Cộng Sản và báo Nhân Dân

Lời kiến nghị trân trọng, tha thiết

Đã bước qua tuổi 80, đã trên 50 năm sinh hoạt đảng, tôi là Nguyễn Ngọc Lanh, ở 117 Xã Đàn, Hà Nội, xin trân trọng và khẩn thiết đề nghị đảng CSVN xóa oan cho hai học giả: Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Từ 70 năm nay, cả hai vị này bị quy kết là “bán nước” và “tay sai” của thực dân Pháp, trong đó học giả Phạm Quỳnh bị bắt giam, rồi bị giết hại.

Có công

– Từ thời thuộc Pháp, ở bậc tiểu học khi tôi học bài thơ Ve Sầu và Kiến, bài Sống, chết mặc bay… cha tôi (thầy giáo) cho biết các tác giả các bài trên thuộc nhóm 4 học giả, nổi tiếng uyên bác một thời, là “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn“.

– Lớn lên một chút, tôi biết đầy đủ họ và tên của 4 vị.

Phạm Quỳnh
Nguyễn Văn Vĩnh
Nguyễn Văn Tố
Phạm Duy Tốn

– Đến nay, rất dễ tra cứu Từ Điển Wikipedia tiếng Việt để biết những nét lớn về tiểu sử yêu nước và sự nghiệp lớn lao của 4 vị nói trên; trong đó hai vị Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh bị quy oan. Họ là những trí thức đúng nghĩa, vì:

     1- có nhiều công trình “để đời”; thể hiện trên nhiều ngàn trang in;

     2- có thái độ tích cực trước các vấn đề xã hội.

     3- có quan điểm chính trị tiến bộ ở thời điểm họ chủ trương.

– Ngoài sự nghiệp lớn về khoa học, hai vị Nguyễn Văn VĩnhPhạm Quỳnh còn có công phổ cập chữ Quốc Ngữ, đồng thời góp phần rất lớn hoàn thiện và hiện đại hóa ngôn ngữ Việt. Tiếng Việt được như ngày nay là nhờ có sự đóng góp lớn của hai vị.

 Bị oan

– Năm 1945, ngay sau khi có chính quyền, Việt Minh ở Huế đã bắt giam và giết hại học giả Phạm Quỳnh. Ngay sau đó, nhiều bài trên các tờ báo thuộc chế độ mới đã kết tội vị này là Việt gian. Tôi đã đọc bài “Phạm Quỳnh trên bàn mổ”, với nội dung vu cáo người lương thiện.

– Lớn lên, nhà trường trung học của chế độ mới đã dạy thế hệ tôi và các thế hệ sau rằng: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là tay sai của thực dân Pháp, có tội lớn với dân tộc. Nay đã sáng tỏ: Đó là sự vu oan.

Chịu trách nhiệm và sửa chữa

– Thời gian 70 năm hai học giả chịu tiếng oan cũng chính là thời gian đảng CS lãnh đạo toàn diện đất nước: 1945-2015.

– Do vậy, về nguyên tắc, đảng CSVN chịu trách nhiệm cao nhất với nỗi oan 70 năm – trong khi tôi có mặt tới 50 năm trong đảng. Sự dằn vặt khiến tôi viết kiến nghị này kính gửi đảng – nơi có trách nhiệm sửa sai và đủ quyền lực sửa sai.

Tôi kính đề nghị:

1) Tổ chức một lễ quốc gia – trang nghiêm, long trọng – chiêu tuyết và minh oan cho hai vị; sao cho gia đình và dòng họ của hai vị thấy thỏa đáng.

2) Vinh danh hai vị đúng với công trạng và đủ bù đắp nỗi oan.

 Cấp thiết

Hiện nay đang có nhiều vụ án oan cần sửa, nhưng đây là vụ án oan lịch sử. Không nên để hậu thế đặt nó bên cạnh những vụ án oan lịch sử khác. Nó gây cái chết oan khiên và bôi nhọ danh dự suốt 70 năm cho người vô tội. Hơn nữa, sửa vụ này thực chất chỉ là tiến hành những thủ tục, không tốn kém tiền bạc so với các vụ án oan hiện thời; do vậy không thể trì hoãn vì lý do tài chính. Đã để quá lâu, có thể do chưa ai đề cập sửa chữa. Nay chính thức có kiến nghị, nếu vụ án chậm sửa một ngày, là có tội với tiền nhân thêm một ngày. Mong có sự lưu ý.

Nơi gửi

Tôi gửi kiến nghị tới 2 báo, mong góp ý công khai với đại hội sắp tới của đảng:

       1) Tạp chí Cộng Sản (baodientu@tccs.org.vn)

       2) Báo Nhân Dân (nhandandientu@nhandan.org.vn)

Ngoài ra, kính đề nghị các đồng chí – với nhiệm vụ thu thập và phản ánh ý kiến đảng viên – hãy chuyển kiến nghị này tới các địa chỉ phía trên, là những nơi có trách nhiệm và quyền hạn sửa án (mà không cần qua các tòa).

 Chú thích: Cụ Nguyễn Phú Trọng học chuyên khoa Văn, có điều kiện và có bổn phận phải biết công lao hai bậc thầy mình. Nay với cương vị tổng bí thư, trách nhiệm sửa sai của cụ càng nặng. Thời gian để cụ sửa sai không còn nhiều. Mong cụ lưu ý.

 Kính

Nguyễn Ngọc Lanh,

nguyên giáo sư Y khoa, NGND

E-mail: ngoclanhnguyen@yahoo.com.

Tôi không có điện thoại di động.

Đề nghị xóa oan cho hai vị Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh

Kg các đ/c Tổng Biên Tập báo Nhân Dân và Tạp chí Cộng Sản

Chỉ cần vào wikipedia đọc vài nét về tiểu sử và sự nghiệp của hai học giả Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta – thế hệ hậu sinh – ai cũng thấy rằng hai người này bị gọi là Việt Gian, là rất vô ơn với người xưa.

Nếu các đồng chí thấy việc xóa oan này là quá chậm (suốt 70 năm qua) và cần thiết, xin cùng làm, hoặc giúp tôi làm việc đó.

Nếu các đồng chí thấy không cần, thì cứ im lặng, không cần trả lời.

Nguyễn Ngọc Lanh

Trên quê hương yêu dấu (tuần 2 tháng 7 năm 2015)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 2:46 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 7 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 1/7/2015:

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh (1915-2015)

Người cầm lái số một những năm đầu đổi mới

Đồng chí Nguyễn Văn Linh là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta thời đổi mới. Ngay từ buổi đầu, đồng chí đã ghi đậm dấu ấn về một nhà lãnh đạo giàu bản lĩnh và có phong cách rất độc đáo. Phát biểu khai mạc Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), đồng chí nêu rõ: “Đại hội lần n
Nguyen Van Linhày phải đánh dấu sự đổi mới của Đảng ta về tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ. Đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước”.

Được bầu làm Tổng Bí thư, đồng chí nói: “Trình độ của Tổng Bí thư so với nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị, trong Ban Chấp hành Trung ương không xa cách nhau bao nhiêu, ly lai như sợi tóc, điều cốt yếu là phát huy được trí tuệ của tập thể, bổ sung cho nhau mặt mạnh, khắc phục mặt yếu, giữ vững nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách”.

Đại hội VI nêu lên quan điểm đánh giá tình hình và xử lý công việc là: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nêu lên một tấm gương tiêu biểu về việc thực hiện quan điểm đó, được mến mộ gọi là “ông nói thẳng, nói thật”.

Chỉ ba tháng sau Đại hội VI, tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai bàn và giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, khi phân tích tình hình lạm phát phi mã đang diễn ra, đồng chí nói: “Không cần phải suy nghĩ nhiều, mỗi người chúng ta đều thấy rõ, hiện nay lạm phát đang là vấn đề nghiêm trọng nổi lên trong nền kinh tế nước ta. Nó được biểu hiện trên bề mặt xã hội đến mức mà mỗi bà nội trợ, mỗi người dân đều cảm nhận được hằng ngày”.

Đến Hội nghị Trung ương lần thứ tư bàn về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế – xã hội ba năm 1988 – 1990 và năm 1988, ngày 8-12-1987, đồng chí nói thẳng với các đồng chí Trung ương: “Tuy không nói công khai, nhưng chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận là nước ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng”.

Mười ngày sau, ngày 19-12-1987, tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa VIII, thì đồng chí nêu công khai điều đó: “Nếu chúng ta không có nỗ lực lớn, không có biện pháp mới quyết liệt mà cứ tiếp tục làm theo đường mòn thì từ tình hình đang xuống dốc hiện nay, chúng ta sẽ lăn xuống đáy dốc. Như vậy thì tình hình nước nhà sẽ khó khăn lắm. Chủ nghĩa tư bản gọi đó là “phá sản”, còn chủ nghĩa xã hội thì không được quyền nói như thế. Nhưng chúng ta coi chừng đó, xuống đáy dốc rồi thì leo lên khó lắm”. Đồng chí còn nhấn mạnh: “Những sai lầm do duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp làm cho nhà nước ta làm ăn thua lỗ, chẳng những ăn hết vốn tự có mà còn ăn cả vào vốn cho vay và giúp đỡ, cả vào vốn đi vay bằng đô-la của một số nước. Nói nôm na như là nấu nồi cơm, ăn hết cơm rồi vét cháy ăn, rồi ăn luôn cả nồi. Bây giờ cái túi ta rỗng và thủng, ta phải thấy tình hình này, nhưng không bi quan, phải tìm con đường giải quyết”.

Vậy đấy! Đồng chí Nguyễn Văn Linh cái gì cũng nói thẳng, nói thật, nói tận gốc rễ vấn đề. Nói thẳng, nói thật về các vấn đề kinh tế – xã hội để rồi dẫn dắt đất nước từng bước khắc phục khủng hoảng, ra khỏi “đường hầm không lối thoát”. Nói thẳng, nói thật về các vấn đề chính trị, về xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước, về xử lý các vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế để làm cho Đảng và Nhà nước ta vững mạnh hơn, nước ta có vai trò ngày càng xứng đáng trên trường quốc tế.

Giữa lúc cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu có biến động dữ dội, chao đảo trong xu hướng đa nguyên, đa đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng Trung ương kiên trì thực hiện đổi mới có nguyên tắc – đổi mới nhưng luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…

Đồng chí Nguyễn Văn Linh tiêu biểu cho phong cách gần dân, sát dân, nghe dân nói và nói cho dân nghe, nói đi đôi với làm. Đồng chí đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng, lý luận, báo chí, văn học nghệ thuật.

Dự lễ khai giảng lớp nâng cao trình độ khóa VIII của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ngày 6-5-1987, đồng chí nói: “Để tiến hành công cuộc đổi mới ở bất cứ lĩnh vực nào, cần phải chuẩn bị trước về cơ sở lý luận. Sự khám phá về lý luận phải là tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thực tiễn”. “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí khen Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc “đã tham gia nghiên cứu, tổng kết những vấn đề thực tiễn phức tạp, tích cực ủng hộ những cách nghĩ, cách làm đổi mới đúng đắn ngay từ lúc mới nảy sinh”, nhưng lại nói: “Có lẽ hiện nay, chúng ta nên khen nhau ít thôi vì những điều chúng ta tự vừa lòng còn quá nhỏ mà những điều chưa tự vừa lòng thì quá lớn”.

Tại cuộc gặp thân mật với một số văn nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hóa, ngày 6 và 7-10-1987, khi nghe văn nghệ sĩ yêu cầu được “cởi trói”, đồng chí bày tỏ sự thông cảm. Và nói: “Hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu. Mình phải chặt chẽ với mình. Khi thấy mình là đúng, có ý thức xây dựng thì phải kiên quyết bảo vệ chân lý, phải dũng cảm”.”Tôi nghĩ dù thế nào các đồng chí cũng không nên uốn cong ngòi bút của mình”. “Phải lên án mạnh mẽ và làm sao cho toàn xã hội căm ghét cái xấu”. “Tả chân xã hội chủ nghĩa nếu không làm cho con người hướng tới tương lai tốt đẹp với một niềm tin lớn để vượt qua khó khăn trong hiện tại thì không đúng với lòng mong muốn của chúng ta. Công chúng khi thưởng thức tác phẩm của chúng ta không chỉ thấy tối sầm mà phải thấy được ánh sáng để nhảy qua bóng tối”.

Tại cuộc làm việc của Ban Bí thư Trung ương Đảng với các nhà báo trong nước ngày 25-5-1988, đồng chí nói thẳng quan điểm của mình về hai loại ý kiến “tô hồng” và “bôi đen”. “Báo chí không nên một chiều ca ngợi, tô hồng, chỉ toàn nói cái hay, cái đẹp. Báo chí chống tiêu cực không phải bôi đen chế độ mà là đẩy lùi bóng tối, làm cho ánh sáng chói chang hơn. Như người trồng lúa phải nhỏ cỏ, bắt sâu thì lúa mới lên xanh được”.

Với Báo Nhân Dân , đồng chí Nguyễn Văn Linh có sự chăm sóc chân tình, đã nhiều lần đến thăm cơ quan báo và làm việc với Ban Biên tập. Phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm Báo Nhân Dân ra số đầu (11-3-1991), đồng chí “mong muốn đội ngũ những người làm Báo Nhân Dân kiên trì học tập tư tưởng và phong cách làm báo của Bác Hồ”, “mong muốn Báo Nhân Dân cố gắng vượt bậc, khắc phục mọi khó khăn, vững vàng trong mọi tình thế, tiếp tục đổi mới, làm cho tờ báo của Trung ương Đảng tiếp tục xứng đáng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và là người bạn gần gũi, đáng tin cậy của nhân dân”.

Không phải ngẫu nhiên mà một ngày cuối tháng 5-1987, trong tư cách một cộng tác viên, đồng chí đã đích thân mang bài báo đầu tiên dưới bút danh N.V.L đến tòa soạn, mở ra chuyên mục “Những việc cần làm ngay”, nghiêm khắc phê phán những việc làm tiêu cực trong xã hội, cả trong bộ máy quản lý và lãnh đạo, từng gây chấn động dư luận trong thời kỳ đầu đổi mới.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà theo tư tưởng chỉ đạo của đồng chí, Báo Nhân Dân đã kiên trì phấn đấu cho phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ đổi mới của Đảng, kiên quyết phê phán các luận điệu sai trái; và trong quá trình chuẩn bị Đại hội VII, đã mở một cuộc thảo luận dài ngày trên mặt báo, khẳng định “đổi mới nhưng không đổi màu“, “định hướng chứ không đổi hướng“, “hòa nhập mà không hòa tan“, v.v.

Suốt cả nhiệm kỳ Đại hội VI, với vai trò là người cầm lái số một, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng tập thể Trung ương và Bộ Chính trị, vững tay chèo lái con thuyền đổi mới vượt qua mọi sóng cả gió to, tiến thẳng về phía trước. Trong bài phát biểu bế mạc Đại hội VII, đồng chí đã có “mấy lời về cá nhân”: “… Hơn bốn năm qua, tôi đã nhận được sự cộng tác, phối hợp, giúp đỡ chân tình của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương, của các cấp ủy đảng, các tập thể và cá nhân đồng chí, đồng bào. Dù biết mình có nhiều cố gắng, song tôi vẫn cảm thấy chưa làm được nhiều hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa cho dân tộc, cho đất nước. Đó là điều tôi vẫn băn khoăn”.

Thật là một lời nói thẳng, nói thật, khiêm nhường mà cao quý!

HÀ ĐĂNG

(Tháng 7-2015)

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/7/2015:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ

Chiều 30-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp bà S.Giu-oen, Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ đang có chuyến thăm, làm việc tại Việt Nam.

Nguyen Tan Dung gap Bo Truong Noi Vu My

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hoan nghênh chuyến thăm và đánh giá cao kết quả làm việc giữa bà S.Giu-oen với Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; đồng thời cho rằng, kết quả chuyến thăm sẽ đóng góp thiết thực thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực. Thủ tướng khẳng định, Việt Nam nhất quán và mong muốn cùng Hoa Kỳ nỗ lực đưa quan hệ đối tác hợp tác toàn diện song phương ngày càng phát triển sâu rộng, hiệu quả, vì lợi ích của hai nước, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Theo đó, Việt Nam mong muốn tiếp tục tăng cường quan hệ chính trị, ngoại giao tốt đẹp với Hoa Kỳ; thúc đẩy hơn nữa các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch giữa hai nước. Về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Thủ tướng đề nghị, hai bên tiếp tục thiện chí, nỗ lực đàm phán trên tinh thần dành sự linh hoạt cần thiết cho Việt Nam như tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ B.Ô-ba-ma trong các cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam nhằm kết thúc đàm phán. Thủ tướng cho rằng, TPP được ký kết không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, thương mại, đầu tư mà còn mang tầm chiến lược, góp phần tạo nền tảng đưa quan hệ hai nước phát triển bền vững, lâu dài.

Bên cạnh hợp tác kinh tế, Thủ tướng mong muốn, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; quốc phòng – an ninh; văn hóa và giao lưu nhân dân; đề nghị Hoa Kỳ hỗ trợ, hợp tác với Việt Nam trong khắc phục hậu quả đi-ô-xin; khắc phục bom mìn còn lại sau chiến tranh; bảo vệ động vật hoang dã; ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hợp tác bảo vệ nguồn nước, trong đó có việc triển khai Sáng kiến hạ nguồn Mê Công; hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực khảo sát khoáng sản, địa chất, khí tượng thủy văn.

Đề cập chuyến thăm Việt Nam diễn ra vào đúng thời điểm hai nước chuẩn bị kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Bộ trưởng S.Giu-oen khẳng định, Việt Nam và Hoa Kỳ có nhiều lĩnh vực hợp tác tiềm năng và với vai trò của mình, bà sẽ làm hết sức, đóng góp cho sự phát triển của quan hệ hai nước. “Ở mọi cấp độ trong Chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đều cam kết ủng hộ Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, vững mạnh và bền vững” – Bộ trưởng S.Giu-oen phát biểu.

Về lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã – nội dung chính trong chuyến làm việc tại Việt Nam lần này, Bộ trưởng đánh giá cao cam kết của Việt Nam trong việc chống lại nạn buôn bán động vật hoang dã và nhấn mạnh, Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ, hợp tác, chia sẻ thông tin với Việt Nam trong lĩnh vực này. Ngoài ra, Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các sáng kiến bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn nước; ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng; khảo sát địa chất, khoáng sản. Bà cho biết, sẽ chuyển những đề nghị của Việt Nam tới các thành viên Chính phủ Hoa Kỳ về hợp tác giữa hai bên trong khắc phục hậu quả đi-ô-xin và hậu quả bom mìn sau chiến tranh. Về Hiệp định TPP, Bộ trưởng S.Giu-oen cho biết, với vai trò của mình, nhất là tiếng nói trong các vấn đề về lao động và môi trường, bà sẽ cùng các thành viên Chính phủ Hoa Kỳ nỗ lực thúc đẩy để sớm kết thúc đàm phán và phê chuẩn Hiệp định.

* Chiều cùng ngày, tại Hà Nội, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Nội vụ Hoa Kỳ, do bà S.Giu-oen, Bộ trưởng dẫn đầu nhân chuyến thăm, làm việc tại Việt Nam.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 28/6/2015:

Ký kết Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam – Lào

Chiều tối 27-6, tại tỉnh Nghệ An, Bộ trưởng Công thương Việt Nam Vũ Huy Hoàng và Bộ trưởng Công thương Lào Khem-ma-ni Phôn-xê-na chính thức ký Hiệp định Thương mại biên giới giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHDCND Lào. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Phân ban Hợp tác Việt Nam – Lào và Phó Thủ tướng Chính phủ Lào Xổm-xa-vạt Lềnh-xa-vắt, Chủ tịch Phân ban Hợp tác Lào – Việt Nam chứng kiến lễ ký.

Nội dung chính của Hiệp định bao gồm các quy định hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của thương nhân, cư dân biên giới, phát triển chợ biên giới và hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại biên giới và thuận lợi hóa thương mại tại cửa khẩu; thống nhất xác định các cửa khẩu biên giới đất liền được mở phục vụ hoạt động thương mại biên giới; trên cơ sở cơ chế đặc thù của hoạt động thương mại biên giới phù hợp các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà hai nước là thành viên, dành ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu 0% cho các loại hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam và Lào; nhằm thu hút, khuyến khích đầu tư vào các khu vực biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa, dành ưu đãi 0% thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng, cũng như miễn các hàng rào kỹ thuật đối với một số mặt hàng do các nhà đầu tư Việt Nam sản xuất, nuôi, trồng tại các tỉnh biên giới của Lào khi nhập khẩu về Việt Nam.

Phát biểu ý kiến tại lễ ký, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ vui mừng nhận thấy quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt trong năm 2015 đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Đó là, quan hệ ngoại giao, chính trị được thúc đẩy mạnh mẽ, hợp tác quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường, hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực tiếp tục được quan tâm. Nổi bật là hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, giao thông giữa hai nước được đẩy mạnh. Theo đó, nhiều dự án đầu tư lớn của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào được triển khai và bước đầu mang lại kết quả thiết thực. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Việc ký kết Hiệp định Thương mại biên giới giữa hai nước sẽ tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động giao thương qua cửa khẩu, đồng thời tạo sự thống nhất để giải quyết một số vấn đề trong hoạt động thương mại biên giới, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh biên giới hai nước, đưa kim ngạch thương mại song phương đạt hai tỷ USD trong năm 2015.

Về phần mình, Phó Thủ tướng Lào Xổm-xa-vạt Lềnh-xa-vắt đánh giá, đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vì 40 năm qua, hai nước mới có Hiệp định Thương mại biên giới, qua đó góp phần quan trọng tăng cường quan hệ thương mại song phương. Chính phủ Lào và Việt Nam giao Bộ Công thương hai nước thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Hiệp định, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Nhân dịp ký Hiệp định, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam và Lào, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Lào Xổm-xa-vạt Lềnh-xa-vắt trao Huân chương, Huy chương cao quý của hai nước cho các cá nhân có thành tích xuất sắc, đóng góp cho quan hệ hai nước ngày càng phát triển.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/6/2015

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự lễ khở công Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Khu Công nghệ cao Hòa Lạc

Ngày 26-6, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN) tổ chức Lễ khởi công Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Khu Công nghệ cao (CNC) Hòa Lạc. Tới dự, có các đồng chí: nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; nguyên Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm; các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Nguyễn Quân, Bộ trưởng KH và CN; Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế T.Ư; Phạm Minh Chính, Phó Trưởng ban Tổ chức T.Ư; Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng Xây dựng; Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thượng tướng Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an; đại diện các bộ, ngành. Về phía Nhật Bản có ông Hiroshi Fudaka, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam; ông Mori Mutsuya, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam.

Phát biểu ý kiến tại Lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc là dự án lớn với tổng vốn đầu tư lên đến 450 triệu USD từ nguồn ODA của Chính phủ Nhật Bản và nguồn đối ứng của Chính phủ Việt NNguyen Tan Dung du khoi cong Hoa Lacam. Trong đó nguồn vốn ODA của Nhật Bản khoảng 400 triệu USD. Đây là một dự án có ý nghĩa hết sức quan trọng, là điều kiện để Khu CNC Hòa Lạc phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn. Năm 2018, khi dự án được hoàn thành và đi vào hoạt động, Khu CNC Hòa Lạc sẽ có diện mạo mới, điều kiện mới để phát triển vượt bậc so với trước đây, hướng tới hình thành một thành phố khoa học tầm cỡ quốc gia, làm cầu nối tiếp nhận, chuyển giao và sáng tạo công nghệ.

Thủ tướng đánh giá cao Bộ KH và CN, các bộ, ngành hữu quan, thành phố Hà Nội, chủ đầu tư, các đơn vị liên quan đã nỗ lực hết mình, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc được khởi công. Đồng thời cảm ơn người dân đã nhường đất cho dự án, cảm ơn Chính phủ Nhật Bản và mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam; khẳng định Việt Nam sẽ nỗ lực hết mình để tiếp tục cùng với Nhật Bản đưa quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Bộ KH và CN, Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc phải quyết liệt, nỗ lực trong chỉ đạo thực hiện thành công Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc, bảo đảm cho dự án được hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng; đặc biệt, không để xảy ra sai sót, tiêu cực trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Bên cạnh đó, từ thực tiễn triển khai và hoạt động, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với Đảng và Nhà nước các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp để thu hút mạnh mẽ hơn nữa hoạt động đầu tư khoa học – công nghệ cao vào Khu CNC Hòa Lạc, bảo đảm mục tiêu đã đề ra là nơi tập trung thu hút đầu tư phát triển khoa học – công nghệ cao; chuyển giao khoa học công nghệ; ươm tạo khoa học công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực khoa học – công nghệ.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/6/2015:

Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động

Ngày 28/6, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. (…)

Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh hiện có năm phòng chức năng, sáu khoa chuyên môn và một số Truong Tan Sang trao huy hieu cho vien pasteurtrung tâm đào tạo. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Viện là 380 người với 79 người (chiếm 21%) có tình độ sau đại học, trong đó có năm phó giáo sư, 14 tiến sĩ, bốn thầy thuốc ưu tú. Với nhiều nỗ lực, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tích cực thực hiện mục tiêu thanh toán bệnh dịch hạch trên toàn quốc. Với căn bệnh tả, từ chỗ phía Nam có 1.711 ca mắc (năm 1995) thì năm 2012 đã không có ca mắc. Với vai trò là Chủ nhiệm Chương trình mục tiêu quốc gia (2008-2009) về phòng, chống sốt xuất huyết (SXH), Viện đã chỉ đạo và cùng các tỉnh, thành phố trong khu vực thực hiện có hiệu quả các chương trình hanh động phòng chống SXH, giảm tỷ lệ tử vong…

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh; trao tặng Huân chương Lao động hạng ba cho PGS, TS Phan Trọng Luân, TS Vũ Thị Quế Hương, TS Cao Hữu Nghĩa do có đóng góp to lớn cho ngành y tế dự phòng. Chủ tịch nước tặng Viện bức tranh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá quý với lời căn dặn: Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang biểu dương Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu ứng dụng thành công nhiều loại vắc-xin phòng, chống dịch bệnh; đào tạo và chuyển giao kỹ thuật mới cho các cán bộ chuyên môn ở tuyến dưới về chẩn đoán và giám sát các tác nhân vi sinh có khả năng lây truyền trong cộng đồng thành đại dịch hoặc tái bùng phát thành dịch.

(…)

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi lời cảm ơn bạn bè quốc tế đã và đang hỗ trợ Việt Nam khống chế các loại dịch bệnh, bảo đảm công tác y tế dự phòng và mong các nhà khoa học, các quốc gia tiên tiến tiếp tục sát cánh cùng Việt Nam đối phó các hiểm họa y tế, dịch bệnh toàn cầu.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 27/6/2015:

Bệnh viện đầu tiên của Việt Nam đạt chất lượng quốc tế JCI

Ngày 26/6, tại Hà Nội, Tổ chức đánh giá chất lượng y tế hàng đầu thế giới (JCI) trao chứng nhận đạt chất lượng quốc tế cho Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec. Đây là bệnh viện đầu tiên ở Việt Nam và là một trong gần 800 bệnh viện trên toàn thế giới đạt chứng nhận này. JCI là bộ tiêu chuẩn cao nhất trong linh vực thẩm định chất lượng y tế đang được thế giới áp dụng với 285 điều và 1.166 yếu tố đo lường với việc lấy người bệnh làm trung tâm, đặt sự an toàn của người bệnh lên hàng đầu.

Mổ cấp cứu thành công người bệnh tại đảo Bạch Long Vĩ

Hồi 13 giờ 45 phút chiều 26/6, các thầy thuốc Bệnh viện đa khoa huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) đã thực hiện thành công ca mổ đau ruột thừa giờ thứ 24 ngay trên đảo. Người bệnh là chị Hồ Thị Kim HOa, 35 tuổi, ra thăm chồng là cán bộ đơn vị quân đội đóng quân trên huyện đảo. Trưa 26/6, chị Hoa nhập viện trong tình trạng đau bụng, kèm chán ăn, sốt cao, siêu âm có tụ dịch vùng hố chậu phải… được các bác sĩ chẩn đoán theo dõi viêm ruột thừa cấp. Sauk hi hội chẩn, các bác sĩ xác định: người bệnh bị viêm ruột thừa cấp giờ thứ 24, có nguy cơ ruột thừa vỡ, cần mổ cấp cứu ngay… Người bệnh được đưa lên phòng mổ, gây tê tủy sống và thực hiện phẫu thuật thành công. Khi đó, ruột thừa viêm đã sắp hoại tử. Dự kiến, người bệnh xuất viện sau khoảng 10 ngày tới.

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 2/7/2015:

Cấp điện mặt trời cho vùng sâu tỉnh Quảng Bình.

Sáng 1/7, tại huyện Bố Trạch, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình khởi công dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời cho hơn 1.294 hộ gia đình và 78 đơn vị dịch vụ công tại chín xã của các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch nơi điện lới quốc gia chưa đến được. Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 13.7 triệu USD từ nguồn vay ODA của Chính phủ Hàn Quốc, phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu sát biên giới Việt – Lào; góp phần xóa đoái, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh biên giới quốc gia. Dự kiến cuối năm nay, dự án sẽ đưa vào sử dụng khoảng 30% khối lượng hợp đồng, phần còn lại chậm nhất đến quý IV năm 2016 sẽ hoàn thành.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 2/7/2015:

Khánh thành Bảo tang Văn học Việt Nam

Ngày 26-6, tại Hà Nội, Bảo tàng Văn học Việt Nam (BTVHVN) đã chính thức khánh thành, đi vào hoạt động.

BTVHVN xây dựng từ năm 2005 trên khuôn viên Trại Sáng tác Quảng Bá của Hội Nhà văn Việt Nam trước kia, có ba tầng với diện tích trưng bày 2.700 m2, hiện đã có 3.454 tài liệu, hiện vật về văn học cổ và về hơn 200 nhà văn tiêu biểu được tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật, các tài liệu, hình ảnh giao lưu văn học quốc tế; lưu giữ gần 500 phim tư liệu ghi lại hình ảnh, tiếng nói các nhà văn. Sắp tới, bảo tàng tiếp tục xây dựng đề án sưu tầm giai đoạn hai về hơn 1.000 nhà văn hiện đại của thế kỷ 20, 21 và dự kiến xây dựng vườn tượng chân dung các nhà văn.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngáy 26/6/2015:

15 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam

Ngày 25-6, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm thành lập. (…)

Trong 15 năm qua, Trung tâm mở rộng phạm vi hoạt động, đã trở thành nơi hội tụ đông đảo giới trí thức khoa học xã hội, văn nghệ sĩ tâm huyết với văn hóa dân tộc, số lượng hội viên đã lên tới hàng trăm người, có nhiều đơn vị trực thuộc và cơ quan đại diện trên khắp cả nước. Trung tâm đã được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng ba; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ: Hiện nay, văn hóa đang đứng trước nhiều thử thách lớn khi chịu sự tác động của quá trình CNH, HĐH đất nước với tốc độ nhanh khi có sự xuống cấp về văn hóa, lối sống, đạo đức và sự hạn chế nguồn tài chính dành cho văn hóa. Thời gian tới, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân dộc Việt Nam cần đổi mới công tác quản lý, tổ chức nhiều hoạt động để góp phần xây dựng ngôi nhà văn hóa chung trong tình hình mới.

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 28/5/2015:

Di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê trở thành di tích đặc biệt

Ngày 27-6, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch và UBND tỉnh An Giang long trọng tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê là di tích quốc gia đặc biệt.

Sự kiện diễn ra tại chùa Linh Sơn bên núi Ba Thê – thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn (An Giang).

Óc Eo là nơi nhà khảo cổ Luis Malleret thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (École Française d’Extrême Orient) tiến hành khai quật khảo cổ đầu tiên vào năm 1944.

Oc Eo

Sau ngày đất nước thống nhất, các nhà khảo cổ, nhà khoa học VN và quốc tế tiếp tục khai quật, nghiên cứu thêm hàng loạt di chỉ ở đây, nhiều nơi khắp Nam bộ và đã phát hiện thêm vô số di chỉ, di vật cổ quý giá.

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định tại Nam bộ hơn ngàn năm về trước từng hiện diện vương quốc Phù Nam vốn được ghi chép nhiều qua các thư tịch cổ Trung Hoa, tồn tại thế kỷ I đến VII với lãnh thổ bao gồm cả Nam bộ ngày nay.

Những thực thể và các di chỉ khảo cổ này được xếp thuộc nền văn hóa có tên gọi Óc Eo, do Óc Eo là nơi phát hiện đầu tiên và có nhiều di chỉ đặc trưng, tiêu biểu nhất của nền văn minh Phù Nam.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu đó, năm 1998 khu di tích Óc Eo được công nhận là khu di tích quốc gia, và Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định xếp hạng di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê là di tích quốc gia đặc biệt.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 28/6/2015:

Chương trình “Ân tình Ví Giặm” đến với Đà Nẵng

Ngày 27-6, chương trình nghệ thuật “Ân tình Ví Giặm”, do nhóm cựu học sinh Trường trung học chuyên Phan Bội Châu, Cơ quan Thường trực Báo Nhân Dân tại Đà Nẵng và Hội đồng hương hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp thực hiện đã khai mạc tại Đà Nẵng.

Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện vinh danh những giá trị của Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh sau khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Chương trình có 16 tiết mục được nhiều nghệ nhân đến từ Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh, các CLB Ví Giặm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh biểu diễn. Toàn bộ số tiền thu được từ bán vé cũng như sự hỗ trợ, đóng góp của các cá nhân, đơn vị đã được trao tặng các CLB Ví, Giặm ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhằm góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát triển Di sản văn hóa phi vật thể quý báu này.

PV

Khai mạc Festival Văn hóa – Tinh hoa ẩm thực Việt 2015

Ngày 27-6, tại Khu đô thị Ciputra, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Báo Du lịch phối hợp Công ty cổ phần Đầu tư và Liên minh Toàn cầu cùng một số đơn vị khai mạc Festival Văn hóa – Tinh hoa ẩm thực Việt 2015. Đây là hoạt động nhằm hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia 2015 và hướng tới kỷ niệm 55 năm ngày thành lập ngành du lịch. Trên tinh thần “Thân thiện-Đoàn kết-Sôi động-Mến kháchHội nhập”, Festival tôn vinh những giá trị tinh túy trong nghệ thuật ẩm thực dân tộc. Đây cũng là dịp để thực khách Thủ đô được thưởng thức các sắc màu văn hóa ẩm thực vùng miền. Festival kéo dài đến hết ngày 28-6 với các hoạt động chính như: Ngày hội ẩm thực, Chợ phiên-Một thoáng hồn quê, diễu hành đường phố, giao lưu văn nghệ dân gian ba miền…

PV

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 30/6/2015:

Khai mạc Tuần lễ Du lịch xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tối 29/6, tại công viên ven song Hậu, Thành phố Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức lễ khai mạc Tuần lễ Du lịch xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2015. (…)

Tuần lễ du lịch xanh vùng ĐBSCL diễn ra đến ngày 4/7, với nhiều hoạt động phong phú, hấp dẫn như: hội nghị, hội thảo, hội chợ triển lãm về đầu tư, xúc tiến du lịch vùng; các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội ẩm thực, lễ hội đường phố; xúc tiến khảo sát, mở các tuyến du lịch Phú Quốc và các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, An Giang và thành phố Cần Thơ mang nét đặc trưng của vùng nhằm quảng bá thế mạnh, tiềm năng của du lịch vùng ĐBSCL, đặc biệt là du lịch sinh thái miệt vườn sông nước.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 27/6/2015:

Khai mạc Ngày hội Gia đình Việt nam năm 2015

Nhân dịp Ngày Gia đình Việt Nam (28-6), ngày 26-6, tại Trung tâm Triển lãm văn hóa, nghệ thuật Việt Nam (Hà Nội), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và UBND thành phố Hà Nội tổ chức khai mạc Ngày hội Gia đình Việt Nam năm 2015. Đến dự, có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ngành liên quan.

Với chủ đề “Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương”, Ngày hội Gia đình Việt Nam năm nay nhằm nhấn mạnh ý nghĩa và thể hiện sự trân trọng những giá trị gia đình truyền thống với những giây phút sum họp bên bữa cơm gia đình hạnh phúc, đầm ấm.

Ngày hội có nhiều nội dung và hình thức phong phú, đa dạng: Triển lãm ảnh Mái ấm gia đình Việt; giao lưu gặp mặt Gia đình mẫu mực, con cháu thảo hiền; Ngày hội Gia đình – Ngàn lời yêu thương; hội thi ẩm thực Gia đình điểm 10; diễu hành cổ động… Các hoạt động trong ngày hội đã tôn vinh, biểu dương những gia đình văn hóa tiêu biểu, con cháu thảo hiền, anh em hòa thuận, sống có văn hóa và trách nhiệm với gia đình. Qua đó, góp phần động viên, khuyến khích mọi người, mọi gia đình và xã hội có những việc làm, hành động cụ thể quan tâm tới gia đình, thiết thực xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện bình đẳng giới, tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện giảm nghèo, ngăn ngừa bạo lực gia đình. Đây cũng là cơ hội cho các gia đình giao lưu chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng xây dựng phát triển gia đình hạnh phúc bền vững, phát huy mạnh mẽ gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, thúc đẩy nâng cao chất lượng các mối quan hệ gia đình.

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 27/6/2015:

Tuyên dương các tập thể điển hình, gia đình tiêu biểu

Hưởng ứng Ngày gia đình Việt Nam (28-6), ngày 26-6, hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức Ngày hội gia đình và tuyên dương 25 tập thể chi, tổ hội phụ nữ điển hình cùng 50 gia đình tiêu biểu trong cuộc vận động xây dựng gia đình “năm không, ba sạch”. Những năm qua, các cấp Hội phụ nữ tại Thừa Thiên – Huế đã triển khai và tích cực hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt nhiệm vụ “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Hội đã hỗ trợ cho hơn 83.500 phụ nữ vay vốn với số tiền hơn 1.000 tỷ đồng; xây dựng 77 mái ấm tình thương; trao gần 4.000 suất học bổng Nguyễn Thị Định tặng học sinh nghèo hiếu học; xây dựng 312 tuyến, ngõ phố xanh – sạch – đẹp.

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 26/6/2015:

Tôn vinh những tổ ấm hạnh phúc

Sống chung không kết hôn ít được ủng hộ

Sáng 25/6, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình giao lưu “Điểm tựa gia đình” nhân Ngày gia đình Việt Nam (28/6) nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam, tuyên dương những gia đình công nhân, viên chức đã nỗ lực vượt qua khó khăn, nuôi dạy con cái chăm ngoan, học giỏi. 48 gia đình đã gặp gỡ, chia sẻ những lo toan, chật vật của cuộc sống lao động nghèo giữa chốn thị thành và cách họ yêu thương lẫn nhau, giáo dục con cái để vun đắp tổ ấm bình yên.

Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh – cho biết đây là lần thứ 6 tổ chức chương trình giao lưu “Điểm tựa gia đình”. Cùng với 48 gia đình có mặt tại buổi giao lưu các cấp công đoàn đã bình chọn được 576 gia đình tiêu biểu để từ đó lan tỏa những câu chuyện đẹp của tình yêu thương đức hi sinh trong gia đình.

* Sống chung không kết hôn ít được ủng hộ là kết quả khảo sát về các vấn đề của gia đình đương đại, vừa được Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tiến hanh trong hai tháng 5 và 6/2015 với 1.500 người tham gia. Theo nghiên cứu này, mô hình gia đình được ủng hộ nhiều nhất hiện nay là gia đình hai thế hệ, có bố mẹ và con (trên 93% ủng hộ), loại hình gia đình ít được ủng hộ nhất là gia đình sống chung không kết hôn (trên 12% ý kiến ủng hộ). Đáng chú ý là những mô hình gia đình mới như gia đình có vợ/ chồng là người nước ngoài, gia đình đồng tính… đều có tỉ lệ ủng hộ khá cao.

Vũ Thủy – L.Anh

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 26/6/2015:

Tôn vinh hạnh phúc gia đình người khuyết tật

Ngày 25/6, tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi (NTT & TMC) Hà Nội tổ chức Toạn đàm tôn vinh tình yêu và hạnh phúc gia đình của người khuyết tật lần thứ nhất, với sự góp mặt của 80 cặp vợ chồng khuyết tật tiêu biểu đến từ 27 quận, huyện của thành phố Hà Nội. Chương trình biểu dương, khích lệ, động viên những tấm gương người khuyết tật và bạn đời của họ đã có nhiều nỗ lực vươn lên, vượt khó khăn, gìn giữ hạnh phúc gia đình và đạt nhiều thành tích trong cuộc sống. Đây là cơ hội để các cặp vợ chồng khuyết tật cùng gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm vượt khó, làm kinh tế, chăm sóc gia đình.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 28/6/2015:

Giới thiệu văn hóa mẫu hệ Tây Nguyên

Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28-6), tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Ðồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), từ ngày 25 đến 28-6, diễn ra nhiều hoạt động tuyên truyền, quảng bá văn hóa dân tộc, giới thiệu với du khách những nét văn hóa truyền thống gia đình Việt Nam và những nét văn hóa gia đình mẫu hệ vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Các hoạt động bao gồm: trưng bày triển lãm, giới thiệu ảnh truyền thống gia đình mẫu hệ và tượng điêu khắc Tây Nguyên; chương trình dân ca dân vũ, các trò chơi dân tộc tại không gian làng dân tộc Ê Ðê, Mạ; trình diễn dệt thổ cẩm, đan gùi, chế tác nhạc cụ; Lễ cầu an gia đình; tái hiện một số sinh hoạt văn hóa tại bến nước Tây Nguyên…

  • Tin trang Hà Nộii báo Nhân Dân ngày 26/6/2015:

Lễ hội “Sen Trời Nam 2015”

Ngày 26/6/, Lễ hội “Sen Trời Nam 2015” khai mạc tại thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội do Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng, Công ty cổ phần TMDV và Đầu tư Lấp Lánh Sparkling phối hợp tổ chức tại Khu đô thị Phú Mỹ Hưng và kéo dài đến hết ngày 28/6. Lễ hội gồm các nội dung: Phiên chợ sen – sen trong cuojc sống đời thường, sen trong đời sống tinh thần, sen trong văn học nghệ thuật, sen trong y học; Bến Sen – tái hiejn hình ảnh đất phương nam xưa với bến song và những món ăn dân dã được làm từ sen’ Đường Sen – với nhiều hoạt động nghệ thuật, vui chơi gắn liền với sen và văn hóa dân gian; Quê Sen – khu vực giới thiệu văn hóa Đồng Tháp.

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 1/7/2015:

120 đầu bếp tranh tài Chiếc thìa vàng

Chiều 30-6, tại khu du lịch Văn Thánh (TP.HCM) đã diễn ra màn tranh tài của bảy đội đầu tiên tham gia vòng sơ kết cuộc thi Chiếc thìa vàng 2015, với 28 món ăn mang đậm hương vị quê nhà.

Ban tổ chức cho biết vòng thi này sẽ có 120 đầu bếp thuộc 40 đội thi đến từ TP.HCM, Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận và Cà Mau tham gia.

Trong đó, TP.HCM chiếm số lượng đội thi áp đảo với 26 đội và 78 đầu bếp chuyên nghiệp.

Chuyên gia ẩm thực Chiêm Thành Long cho biết những năm gần đây đã có sự du nhập của nhiều loại gia vị từ nhiều vùng miền trong nước tới TP.HCM như mắc khén, mắc mật, thảo quả, hồi, tiêu rừng… và đã được các đầu bếp sáng tạo, phá cách.

Cac dau bep tranh tai

Ông Chiêm Thành Long cho biết nhiều gia đình đã quen sử dụng gia vị tươi, chưa tính toán việc sơ chế hoặc tinh chế, làm tăng giá trị thương mại của nguyên liệu, gia vị, vì vậy những gia vị giá trị ấy vẫn chỉ khu trú ở địa phương.

Qua khám phá của cuộc thi Chiếc thìa vàng, cách sử dụng gia vị của các đầu bếp, ban tổ chức cuộc thi sẽ xác định nguồn gốc, công thức, cách chế biến, bảo quản… để gia vị đi xa hơn, phát huy hết giá trị kinh tế.

“Cùng với hành trình qua các địa phương khác, việc vẽ được bản đồ gia vị Việt Nam đồng nghĩa với việc tìm ra con đường giao thoa văn hóa ẩm thực, phát triển nền ẩm thực chuyên nghiệp, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế” – ông Long cho biết.

Theo các thành viên ban giám khảo, trong danh sách các món dự thi đã xuất hiện những món ăn với gia vị hết sức độc đáo như món lẩu bần phù sa đặc trưng miền Tây, được dẫn dắt bởi hương vị chủ đạo là nước cốt được chiết xuất từ trái bần, một loài cây dại mọc phổ biến trên các sông, rạch ĐBSCL.

Hay món khai vị gồm gỏi ngó sen tôm – gỏi cuốn vịt, atisô Đà Lạt dùng với xốt húng quế; cùng món chính là philê cá mú sao áp chảo vị cay, hương tắc, dùng với cơm cà ri – xốt trà hạt sen thể hiện sự sáng tạo và tinh tế trong việc kết hợp nguyên liệu và gia vị.

Một số đầu bếp tận dụng tối đa giá trị lá móc mật cho món chính là vịt nướng lá mắc mật – quả mắc mật nghiền – đùi vịt om sấu. Các đầu bếp Đông Nam bộ cũng không chịu kém cạnh trong việc sử dụng các loại lá gia vị, rau thơm dân dã nhưng bằng công thức chế biến mới để món ăn thêm mới lạ, như càng cua cuộn xôi, lá đinh lăng trộn dầu giấm, cá chình nướng lá bưởi, cá xốt chanh dây sầu riêng…

Các đầu bếp sẽ thi tài trong hai ngày 30-6 và 1-7 tại khu du lịch Văn Thánh.

Cuộc thi Chiếc thìa vàng mùa thứ 3 năm 2015 với chủ đề “Hương vị quê nhà – Hành trình gia vị Việt” đã kết thúc vòng thi đầu tiên tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 22 đội thi.

66 đầu bếp đất phương Nam đã mang tới những bữa tiệc với thực đơn phong phú, vừa đậm chất đồng quê của ẩm thực thời khẩn hoang vừa có những biến tấu, phá cách mới lạ trong việc dùng những nguyên liệu đồng quê, sử dụng các gia vị đặc trưng như: trái bần, lá chúc, sơn trà, nấm tràm, cỏ xước, sim…

  • Tin trang 13 báo Tuổi Trẻ ngày 28/6/2015:

Triển lãm 550 bức ảnh do người lao động nhập cư chụp

Sáng 27-6, tại TP.HCM diễn ra triển lãm 550 bức ảnh được chính người lao động chụp tại nơi ở, làm việc của họ do Trung tâm Phát triển và hội nhập (CDI) và Quỹ châu Á (TAF) tổ chức.

Trong sáu tháng phát động, những câu chuyện bằng ảnh đã thành hình từ những tay máy nghiệp dư nhưng chân thực và sinh động của người lao động nhập cư về cuộc sống tại nơi ở trọ, không gian làm việc hay những khoảnh khắc thường nhật.

Nhiều bức ảnh nói lên nỗi niềm xa quê, xa gia đình mưu sinh ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp. Có cả những ảnh nêu bật sự vất vả tăng ca, chật vật với đồng lương ít ỏi hay giá cả leo thang, không bố trí được nơi chốn ăn học cho con cái…

Thông qua triển lãm, ban tổ chức phần nào chia sẻ tâm tư của người lao động, đặc biệt kết nối, giúp họ giãi bày và góp tiếng nói về chính sách cho lao động nhập cư. Triển lãm (vào cửa miễn phí) kéo dài đến hết ngày 28-6 tại Cung văn hóa Lao động (55B Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM).

Nguoi nhap cu 1

Nguoi nhap cu 2

Lê Vân – Vũ Thủy

  • Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 30/6/2015:

Vĩnh biệt hai đại thụ của làng nhạc

Trong cùng ngày 29-6, hai cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu (91 tuổi) và nhạc sĩ Phan Nhân (85 tuổi) giã từ trần thế, để lại bao nỗi tiếc thương cho công chúng yêu nhạc Việt Nam.

Cả hai nhạc sĩ cùng được quàn tại Nhà tang lễ TP.HCM (25 Lê Quý Đôn, Q.3).

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sinh ngày 11-11-1924 tại Đà Nẵng, là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Với những đóng góp to lớn, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chống Mỹ hạng nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về 
văn học – nghệ thuật.

Phan Huynh Dieu

Âm nhạc của ông có giai điệu đẹp, trau chuốt với khoảng 100 ca khúc ở đủ thể loại: Hành khúc ngày và đêm (thơ Bùi Công Minh), Cuộc đời vẫn đẹp sao, Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây kơ-nia (thơ Ngọc Anh), Thuyền và biển (thơ Xuân Quỳnh), Anh ở đầu sông em cuối sông (thơ Hoài Vũ), Sợi nhớ sợi thương (thơ Thúy Bắc), Đội kèn tí hon, Nhớ ơn Bác, Những em bé ngoan…

Ông đã trút hơi thở cuối cùng lúc 10g15 ngày 29-6 tại Bệnh viện Thống Nhất. Lễ viếng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sẽ bắt đầu từ trưa 
30-6-2015 tại Nhà tang lễ TP. Lễ động quan lúc 5g sáng 3-7, linh cữu được hỏa táng tại nghĩa trang Phú An Viên (Q.9) và sau đó theo di nguyện của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, tro cốt của ông sẽ rải ở sông Hàn (Đà Nẵng) quê ông

Nhạc sĩ Phan Nhân tên thật là Nguyễn Phan Nhân, sinh ngày 
15-5-1930 tại Long Xuyên, An Giang. Nhạc sĩ Phan Nhân từng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam II tNhac si Phan Nhanại TP.HCM. Sau khi nghỉ hưu, ông cư trú tại TP.HCM.

Các sáng tác của nhạc sĩ Phan Nhân thắm đượm cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước. Trong đó, nổi bật nhất là bài Hà Nội – niềm tin và hi vọng. Bên cạnh đó là các ca khúc như Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara, Nhớ về Pắc Bó, Xa Hà Nội… cùng rất nhiều ca khúc cho thiếu nhi: Em là con gái má Út Tịch, Chú ếch con, Chú cừu Mộc Châu, Em là bông lúa Điện Biên

Nhạc sĩ Phan Nhân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng ba, Huy chương Thành đồng Tổ quốc, Huy chương Vì sự nghiệp văn học – nghệ thuật, Huy chương Vì sự nghiệp âm nhạc…

Nhạc sĩ Phan Nhân qua đời vào 11g45 ngày 29-6 tại nhà riêng số 193/21 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Q.3, TP.HCM. 21g cùng ngày, linh cữu được chuyển đến Nhà tang lễ TP.HCM. Lễ viếng bắt đầu từ ngày 30-6. Lễ động quan sẽ diễn ra sáng 2-7, sau đó được đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Theo di nguyện của nhạc sĩ, tro cốt sẽ được đem về thờ tại chùa Hải Tuệ 
(Q.3, TP.HCM).

Nhạc sĩ Phan Hồng Sơn – phó chủ tịch Hội Âm nhạc TP.HCM, trưởng ban ca nhạc Đài truyền hình TP.HCM – chia sẻ:

“Trước đại hội của Hội Âm nhạc TP.HCM hôm 4 và 5-6 tôi đã hay tin nhạc sĩ Phan Nhân yếu rồi. Dẫu vậy, ông cùng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu vẫn đến dự đại hội cùng chúng tôi. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu còn ngồi cùng tôi ở bàn chủ tọa và đóng góp nhiều ý kiến hữu ích.

Ngày 23-6, tôi cũng hay tin nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu bệnh nên không thể tham gia chấm thi đêm thứ tư của cuộc thi Tiếng hát mãi xanh 2015 do Đài truyền hình TP.HCM tổ chức. Khi đó tôi đã hơi lo bởi dù trước đó nhạc sĩ vẫn khá khỏe và minh mẫn, nhưng ở tuổi 91 rất khó biết trước điều gì sẽ xảy ra.

Dẫu vậy, khi hay tin hai nhạc sĩ lần lượt ra đi vào sáng nay tôi không khỏi hụt hẫng. Cả hai nhạc sĩ không chỉ là những cây cổ thụ của nền âm nhạc Việt Nam mà tác phẩm, những nghiên cứu của cả hai ông còn như những bộ sách giáo khoa cho các thế hệ nhạc sĩ kế tục.

Mỗi nhạc sĩ có một phong cách rất riêng nhưng đều để lại những ấn tượng khó phai nhạt trong lòng bạn yêu nhạc nhiều thế hệ. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu khẳng định mình với những bài tình ca lãng mạn cách mạng, còn nhạc sĩ Phan Nhân nổi danh với những bài tình ca đất nước. Và cả hai đều có nhiều sáng tác rất hay 
dành cho thiếu nhi.

Với Hội Âm nhạc TP, các nhạc sĩ là thành viên của hội đã học được rất nhiều từ hai vị nhạc sĩ cũng là những người thầy đáng kính này. Đó là chọn con đường cách mạng, làm cách mạng bằng nghệ thuật và lao động miệt mài, không ngừng nghỉ, gắn trái tim mình với nhịp đập của xã hội”

Q.N. ghi

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 1/7/2015:

Đầu giờ chiều 30-6, Nhà tang lễ TP trở nên chật chội khi dòng người yêu mến hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân đến đưa tiễn hai ông về nơi an nghỉ cuối cùng…

Hai ông đã về nằm cạnh nhau, chung một ngày, ở tuổi thượng thọ viên mãn (nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu hưởng thọ 91 tuổi, nhạc sĩ Phan Nhân hưởng thọ 85 tuổi). Hai ông đã thanh thản mỉm cười ra đi, có chăng, chỉ có nước mắt thương tiếc của những người hâm mộ là mãi còn ở lại…

Minh Trang

 dam tang Phan Huynh DieuNgười để lại cho đời những bản tình ca tuyệt đẹp…

Tôi có một may mắn lớn là thơ của mình được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, trong đó có anh Phan Huỳnh Điểu – một trong những nhạc sĩ tài hoa của đất nước, một trong những đại thụ của nền âm nhạc, của giới âm nhạc và dòng nhạc trữ tình Việt Nam chúng ta.

Trên 70 năm qua, tên tuổi và tác phẩm của Phan Huỳnh Điểu đã trở nên gần gũi, thân thiết với bao thế hệ người Việt Nam ở khắp chân trời góc biển.Phan huynh dieu va vo

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu là một biểu tượng sáng chói về tình yêu nồng nàn, say đắm, thủy chung với nhân dân, đất nước – một tình yêu khiến trái tim ta phải đập liên
hồi và thấy cuộc đời cứ trẻ mãi, cứ quay lưng lại mãi với năm tháng và tuổi già!

Với trên 20 bài thơ của tôi đã được anh phổ nhạc, nổi bật nhất là các bàiAnh ở đầu sông em cuối sông, Người ấy bây giờ đang ở đâu, Tình ca Đambri, Xa rồi sông Hậu, Chiều trên biển Cần Giờ… nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã chắp cánh cho thơ tôi bay lên, bay xa và đây quả là phần thưởng vô giá mà cuộc đời mang lại cho tôi.

Dẫu biết rằng ở tuổi 91, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu khó mà ở lại mãi với chúng ta trên cõi đời này, nhưng tin anh ra đi nghe sao đột ngột quá, đau xót quá!

Với niềm thương tiếc khôn nguôi, xin nghiêng mình chào vĩnh biệt anh – một nghệ sĩ lớn đầy tình nghĩa, đầy tài hoa của đất nước! Cảm ơn anh đã để lại cho đời những bản tình ca tuyệt đẹp.

Nhà thơ HOÀI VŨ

Tháng Sáu 26, 2015

Nhớ nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Văn Hoàn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 7 năm 2015.

Trang 5 báo Nhân Dân ngáy 23/6/2015:

NHỚ NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC NGUYỄN VĂN HOÀN

Lời dẫn của  Phạm Tôn: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn rất quan tâm chăm sóc Thượng Chi Phạm Quỳnh. Chính ông đã đứng ra “kết thúc” cuộc thảo luận của tạp chí Hồn Việt vào năm 2006 về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Và cũng vì thế, Blog PhamTon chúng tôi đã phải có hai bài, một dài, một ngắn, một nghiêm trang, một đùa cợt viết về ông là Mấy điều giám định và bổ sung tư liệuKỷ lục gia về nghiên cứu Phạm Quỳnh:  Kỷ lục gia số 2: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn người tìm ra tội phản quốc lớn nhất hiện hành của Phạm Quỳnh.

Nay ông đi xa, chẳng biết nói gì hơn chúng tôi xin đành mượn bài này của giáo sư Mai Quốc Liên đưa tiễn ông….

—-o0o—-

Con gái anh báo tin anh mất qua hộp thư điện tử cho tôi. Thật đột ngột! PGS Nguyễn Văn Hoàn tính tình vui vẻ, điềm đạm, phong tao, đang say mê góp phần vào việc kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du với tư cách Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam.

Anh thuộc thế hệ sinh viên văn học đầu tiên của nước Việt Nam kháng chiến (thời dự bị đại học ở Thanh Hóa, năm 1950, anh được học cùng các GS Trần Văn Giàu, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh…). Và khi hòa bình lập lại năm 1954, anh là một trong những cột trụ đầu tiên của Khoa Nghiên cứu văn học cổ, Trường đại học Sư phạm Hà Nội; phụ trách Tổ Cổ đại – Cận đại ở Viện Văn học vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước. Anh là một trong những người góp phần tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (năm 1965); cùng cụ Nguyễn Đức Vân, một bậc trúc nho, hoàn thành bản Truyện Kiều qua khảo sát các bản Nôm có giá trị.

Anh Nguyễn Văn Hoàn là một nhà nghiên cứu, một nhà giáo mẫu mực. Anh làm hồ sơ, làm tư liệu nghiên cứu rất kỹ, có tư liệu nghiên cứu cả ở nước ngoài (tư liệu anh để lại mấy chục hòm). Thời đó, anh có mối liên hệ quốc tế với các nhà nghiên cứu Nga, Pháp, Trung Quốc và các Việt kiều… Đặc biệt, chuyến đi Bắc Kinh (Trung Quốc) tìm tư liệu về Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du của anh đã đem về cho chúng ta những tư liệu quý giá. Đó là hồ sơ, văn thư về chuyến đi sứ vào năm 1813 của Nguyễn Du ở Trung Quốc; hành trình, công việc, văn bản… còn ghi chép, còn lưu trữ ở “Thạch thất” của Hoàng thành Bắc Kinh. Nhờ đó, chúng ta biết thêm về Nguyễn Du, nhất là về Bắc hành tạp lục, tập thơ gồm những kiệt tác của Nguyễn Du. Những ý kiến của những nhà nghiên cứu Trung Quốc về Nguyễn Du qua trao đổi với anh, chẳng hạn về bài Dương phi cố lý hay Độc Tiểu Thanh ký… thì không nhất thiết Nguyễn Du phải đến tận nơi mới làm thơ!

Gần đây, các bạn ở Đại học Bắc Kinh lại mời anh Nguyễn Văn Hoàn sang làm việc lần nữa. “Cố nhân”, “lão bằng hữu” (bạn cũ) mà!

Chuyến đi sau 50 năm. Anh đã giảng, nói chuyện về Nguyễn Du ở Đại học Bắc Kinh, ở Đại học Quảng Tây… và sau chuyến đi định mệnh mà anh cố thực hiện đó, anh đã mãi ra đi. Anh Nguyễn Văn Hoàn để lại nhiều công trình nghiên cứu giá trị về văn học cổ Việt Nam. Anh cũng là người nghiên cứu văn học I-tali-a, dịch Thần khúc của Đan-tê. Có thể nói về anh rất nhiều điều, nhưng rốt ráo, đó là một gương mặt tiêu biểu, một con người suốt đời say mê công việc, một người anh, một người cố vấn, một người bạn tốt… Mất anh, buồn và trống vắng biết bao nhiêu!

Tôi đã làm việc dưới quyền anh Nguyễn Văn Hoàn từ thời mới ra trường và mấy năm gần đây, anh cộng tác hết sức nhiệt tình và hiệu quả với Hồn Việt và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học… Tình nghĩa anh em, tình thương mến, lòng kính trọng anh… dào lên khi nghe tin anh đột ngột ra đi. Tôi không bao giờ quên giọng anh nghẹn ngào, thảng thốt báo tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần: “Anh Văn mất rồi!”. Tôi không bao giờ quên anh, gia đình thầy Đặng Thai Mai mà anh là một người rể hiền… Không bao giờ quên những tháng năm anh hướng dẫn chúng tôi đi vào khu IV bằng xe đạp để thăm quê Tiên Điền của Nguyễn Du và thăm các trận địa pháo…

Trăm năm chớp mắt có là bao” (Nguyễn Du, Thơ chữ Hán) , nhưng anh đã cống hiến, đã làm việc hết mình cho văn hóa dân tộc.

GS MAI QUỐC LIÊN

PGS Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam, sinh năm 1932, mất 17-6-2015. Lễ tang cử hành vào ngày 22-6- 2015, an táng tại nghĩa trang gia đình (Phú Thọ).

Trên quê hương yêu dấu (tuần 1 tháng 7 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 7 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 20 báo Tuổi Trẻ ngày 19/6/2015:

Đại sứ Mỹ Ted Osius nói về chuyến thăm Mỹ của  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đây sẽ là chuyến thăm lịch sử

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius dành cho Tuổi Trẻ một cuộc phỏng vấn riêng trước chuyến thăm Mỹ sắp tới của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và ngay sau hàng loạt sự kiện ngoại giao quốc phòng song phương nổi bật gần đây.

* Nhiều người rất quan tâm đến chuyến thăm Mỹ sắp tới của  Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đại sứ có thể cung cấp những thông tin gì về chuyến thăm quan trọng này?

– Đại sứ Ted Osius: Tôi không phải là người phù hợp để thông báo về thời gian chuyến thăm. Cơ quan chứDai su My tai Viet Namc năng hai nước sẽ công bố ngày giờ chính thức. Tuy nhiên, những gì tôi có thể tiết lộ là Mỹ đang chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong vài tuần tới.

Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ được đón tiếp trọng thị. Nếu chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư thành công, đó sẽ là thành tựu lớn nhất mà tôi đạt được trên cương vị đại sứ ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại.

Đó là chuyến thăm mang tính lịch sử và cực kỳ quan trọng vì nó cho thấy mối quan hệ của hai nước tiến xa như thế nào.

* Gần đây có nhiều cuộc gặp giữa quan chức quân sự cấp cao hai nước như cuộc hội kiến giữa Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tại Hà Nội, các cuộc làm việc của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh với phía Mỹ bên lề Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Đại sứ nhận định như thế nào về triển vọng thương mại quốc phòng giữa hai nước?

– Tuyên bố tầm nhìn chung mà bộ trưởng quốc phòng hai nước ký kết vào ngày 1-6 có bao gồm cam kết tăng cường thương mại quốc phòng. Tuy nhiên, như tôi được biết, cho đến giờ vẫn chưa có cam kết cụ thể nào.

Phía Việt Nam đang đánh giá nhu cầu của mình. Việt Nam đang tỏ ra rất cẩn trọng trong việc chi nguồn lực hạn chế của mình cho các quyết định quốc phòng chiến lược. Việt Nam có thể chọn nhà cung cấp hệ thống quốc phòng và dù chọn ai đi nữa, chúng tôi vẫn sẽ giới thiệu tất cả các phương án có lợi cho phía Việt Nam.

* Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với báo Tuổi Trẻ, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Việt Nam mong muốn Mỹ đóng góp bảo đảm hòa bình lâu dài trong khu vực dựa trên luật pháp quốc tế vì lợi ích hai nước. Trên thực tế, khả năng đó ra sao?

– Dù quan hệ quốc phòng hai nước vẫn còn trong giai đoạn đầu nhưng chúng ta vẫn có thể làm sâu sắc thêm. Theo biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ năm 2011, hai nước hợp tác trong năm lĩnh vực chính bao gồm các cuộc đối thoại cấp cao, hợp tác an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, các hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên Hiệp Quốc và hỗ trợ nhân đạo. Bây giờ, tuyên bố tầm nhìn chung tạo cơ hội cho hai nước thúc đẩy quan hệ quốc phòng nhiều hơn.

Về vấn đề Biển Đông, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter đề xuất các nước chấm dứt các hoạt động bồi đắp đảo và quân sự hóa, đồng thời kêu gọi sử dụng kênh ngoại giao để giải quyết tranh chấp và hạ nhiệt căng thẳng.

Tôi nghĩ phía Việt Nam hoan nghênh biện pháp này. Ngoài ra tôi cũng muốn chia sẻ rằng tất cả chín trụ cột trong quan hệ đối tác toàn diện Việt – Mỹ đều đạt sự tiến bộ. Tôi luôn tìm cách thúc đẩy sự hợp tác ở tất cả trụ cột.

* Mới đây, Hạ viện Mỹ đã bác bỏ gói hỗ trợ điều chỉnh thương mại (TAA). Việc bỏ phiếu trao quyền xúc tiến thương mại (TPA) cho Tổng thống Obama sẽ phải còn chờ đợi các vận động hành lang. Như vậy, triển vọng ký kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ ra sao?

– Quá trình đàm phán để kết thúc TPP sẽ kéo dài hơn so với kỳ vọng. Nhưng tôi vẫn lạc quan cho rằng TPP sẽ được ký kết trong năm nay.

Tôi muốn chia sẻ thêm rằng mới đây khoảng 2 tấn vải của Việt Nam đã được chuyển sang Mỹ. Đó là một tín hiệu rất đáng mừng. Và khi TPP được hoàn tất, quan hệ thương mại hai nước sẽ tăng cao nhiều hơn nữa.

* Đại sứ có thể nói gì về những hoạt động kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước sắp tới (11-7-1995 – 11-7-2015)?

– Chúng tôi không giới hạn tổ chức sự kiện trong một tháng hay một nơi. Chúng tôi tổ chức mỗi tháng ở khắp Việt Nam. Sắp tới sẽ có những chuyến thăm cấp cao giữa hai nước. Ở Mỹ cũng sẽ có những hoạt động kỷ niệm quy mô lớn. Chúng tôi coi ngày kỷ niệm quan trọng này là cơ hội tăng cường quan hệ hai nước và tạo tầm nhìn cho tương lai

Quỳnh Trung thực hiện

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 24/6/2015:

Xây dựng cột cờ Tổ quốc tại đảo Hòn La

Cột cờ Tổ quốc tiếp theo trong dự án xây dựng bảy cột cờ chủ quyền Tổ quốc tại các đảo tiền tiêu vừa chính thức khởi công tại đảo Hòn La (Quảng Bình) ngày 23-6.

Cột cờ Tổ quốc tiếp theo trong dự án xây dựng bảy cột cờ chủ quyền Tổ quốc tại các đảo tiền tiêu của cả nước do Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Sinh viên VCot co to quocN phối hợp cùng Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển VN (BIDV) thực hiện vừa chính thức khởi công tại đảo Hòn La (Quảng Bình) ngày 23-6.

Công trình với tổng kinh phí gần 1,2 tỉ đồng, được Tổng đội TNXP Xây dựng kinh tế Quảng Bình thi công có chiều cao 22,6m tại xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch.

Đây là cột cờ Tổ quốc thứ năm được khởi công sau khi đã hoàn thành công trình tại đảo Cù Lao Xanh (Bình Định), Thổ Chu (Kiên Giang) và đang thi công tại đảo Trần (Quảng Ninh), Phú Quý (Bình Thuận). Hai công trình còn lại tại các đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) và Côn Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu) hiện đã hoàn thiện thiết kế và dự tính khởi công thời gian tới.

Q.Nguyên

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/6/2015:

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp mặt Đoàn thể thao Việt Nam dự SEA Games 28

Ngày 23-6, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp gỡ thân mật và động viên các huấn luyện viên, vận động viên (VĐV) tiêu biểu của Việt Nam tham dự SEA Games 28 vừa qua. Tham dự, có Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh; lãnh đạo Tổng cục Thể dục – Thể thao cùng lãnh đạo các Liên đoàn thể thao.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang biểu dương và đánh giá cao nỗ lực của các huấn luyện viên, VĐV tại SEA Truong Tan Sang rot nuocGames đã vượt qua khó khăn, tập luyện và thi đấu, giành những thành tích đỉnh cao thể thao khu vực, mang vinh quang về cho Tổ quốc.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, tinh thần thi đấu vì mầu cờ sắc áo của Đoàn thể thao Việt Nam thể hiện lần này đã cổ vũ phong trào thể thao của đất nước; giúp bạn bè khu vực và thế giới hiểu thêm về ý chí, nghị lực, cốt cách của dân tộc Việt Nam; tăng cường tình hữu nghị với bạn bè các nước trong khu vực. Chủ tịch nước nhấn mạnh, với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước sẽ quan tâm thích đáng lĩnh vực thể thao, đồng thời mong muốn các huấn luyện viên, VĐV sẽ nỗ lực phấn đấu để đạt thứ hạng cao hơn ở kỳ SEA Games 29 và trong vòng năm năm tới, thể thao nước ta sẽ cải thiện rõ nét thứ bậc trong khu vực Đông-Nam Á, châu Á và vươn ra thế giới.

Tại buổi gặp, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các VĐV đã báo cáo thành tích đạt được trong kỳ SEA Games 28 với thành tích hoàn thành vượt chỉ tiêu thành tích đề ra với tổng số 186 huy chương các loại, trong đó có 73 Huy chương vàng, đứng thứ ba toàn đoàn, thiết lập 13 kỷ lục SEA Games. Đặc biệt xuất sắc là VĐV Nguyễn Thị Ánh Viên đoạt tám HCV, lập tám kỷ lục đại hội ở môn bơi. Nhiều môn và nhiều VĐV cũng đoạt số huy chương kỷ lục, dẫn đầu ở các nội dung thi đấu, trong đó có nhiều môn phá kỷ lục đại hội đã tồn tại hàng chục năm. Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thể dục -Thể thao và các huấn luyện viên và VĐV hứa với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ tiếp tục phấn đấu, tập luyện, đem lại vinh quang cho nước nhà ở các đấu trường thể thao khu vực, châu lục và thế giới.

* Tối cùng ngày, tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Tổng cục Thể dục – Thể thao tổ chức tổng kết, khen thưởng thành tích Đoàn thể thao Việt Nam tại SEA Games 28. (…)

Tại buổi lễ, Trưởng đoàn Thể thao Việt Nam Trần ĐứAnh vien Truong Tan Sangc Phấn báo cáo tóm tắt quá trình chuẩn bị và thi đấu tại SEA Games 28, nêu bật thành tích vượt bậc của các VĐV nước ta ở kỳ đại hội lần này, trong đó có 22/28 môn giành huy chương, 16 môn giành Huy chương vàng. 68/73 Huy chương vàng Đoàn thể thao Việt Nam giành được thuộc nhóm 12 môn thể thao cơ bản trong hệ thống thi đấu Ô-lim-pích. Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh phát biểu ý kiến khen ngợi các huấn luyện viên, VĐV của Đoàn thể thao Việt Nam đã nỗ lực thi đấu, chinh phục những đỉnh cao thành tích. (…)

Tại lễ tổng kết, VĐV Ánh Viên và Hà Thanh được trao Huân chương Lao động hạng nhì; 25 cá nhân và tập thể được trao Huân chương Lao động hạng ba; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao nhiều bằng khen tặng các tập thể và cá nhân đạt thành tích cao. Cũng nhân dịp này, các cán bộ, huấn luyện viên, VĐV Đoàn thể thao Việt Nam đã trao quà, động viên cựu VĐV điền kinh Vũ Bích Hường vượt qua khó khăn.

TTXVN và PV

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/6/2015:

150 thanh niên nông thôn tiêu biểu nhận Giải thưởng Lương Định Của

Sáng 20-6, tại Hà Nội, T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức Lễ trao Giải thưởng Lương Định Của lần thứ X. Đồng chí Hà Thị Khiết, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Dân vận T.Ư; đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, ủy viên dự khuyết T.Ư Đảng, Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn dự và trao giải.

Giải thưởng Lương Định Của là phần thưởng cao quý hằng năm dành cho thanh niên nông thôn có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, phát triển ngành nghề, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới, đóng góp tích cực vào hoạt động Đoàn, Hội ở địa phương và đơn vị. Giải thưởng năm nay được trao tặng 150 thanh niên nông thôn xuất sắc trên toàn quốc. Trong đó, có chín thanh niên là nữ, 21 thanh niên dân tộc thiểu số; hai thanh niên có trình độ thạc sĩ, 34 thanh niên có trình độ đại học, cao đẳng; 129 thanh niên trực tiếp phát triển mô hình trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế tại địa phương…

Dịp này, Ban tổ chức trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng năm cá nhân và một tập thể điển hình tiêu biểu.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/6/2015:

Hệ thống quản lý quốc gia về vắc-xin của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế

Ngày 22/6, Bộ Y tế tổ chức Lễ công nhận Hệ thống quản lý quốc gia về vắc-xin của Việt Nam đạt chuẩn quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới. Tới dự, có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam; ngài Shin Young-soo, Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương và đại diện các bộ, ban, ngành: các tổ chức quốc tế tại Việt Nam…

Theo báo cáo của Bộ Y tế, sau 14 năm chuẩn bị các điều kiện cần thiết và được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế, cho thấy Hệ thống quản lý quốc gia về vắc-xin (NRA của Việt Nam đã tuân thủ tất cả các yêu cầu đối với giám sát quản lý vắc-xin bao gồm; khung hệ thống tổng thể; ủy quyền cấp phép và tiếp thị; giám sát sau tiếp thị, bao gồm giám sát các phản ứng sau tiêm chủng; lô xuất xưởng; hệ thống phòng thí nghiệm; thanh tra giám sát các cơ sở sản xuất và kên phân phối; cấp phép và giám sát các thử nghiệm lâm sàng. Với hệ thống quản lý chất lượng vắc-xin được công nhận tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, các nhà sản xuất vắc-xin tại Việt Nam có đủ điều kiện để yêu cầu WHO tiến hành tiền thẩm định đối với các sản phẩm cụ thể. Theo đánh giá, với năng lực của Việt Nam về hệ thống quản lý chất lượng Vắc-xin, đội ngũ nhà khoa học cùng với chiến lược đầu tư, phát triển phù hợp, trong 20 đến 30 năm nữa, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia sản xuất vắc-xin nhiều nhất trên thế giới.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá cao việ NRA của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện giúp bảo đảm cung cấp vắc-xin có chất lượng cao, không chỉ cho thị trường trong nước mà còn tham gia xuất khẩu ra các nước trên thế giới. Thành công này cũng mở ra một chương trình mới, đó là đẩy mạnh việc nghiên cứu, sản xuất các loại vắc-xin. Do vậy, Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành có liên quan tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách cũng như nghiên cứu mở rộng thị trường. Đồng thời tiếp tục rà soát lại các quy trình tiêm bảo quản vắc-xin, nhất là ở vùng khó khăn để bảo đảm an toàn tiêm chủng cho trẻ.

Nhân dịp này, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng mong muốn WHO và các tổ chức quốc tế tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc nghiên cứu, sản xuất vắc-xin để vắc-xin sản xuất ở Việt Nam không chỉ phục vụ thị trường trong nước, mà còn được mở rộng tiêu thụ ra nhiều nước, để trẻ em có sức khỏe và tương lai rộng mở.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/6/2015:

Làm chủ các kỹ thuật điều trị bệnh lý tim mạch

Nhờ sự đào tạo và chuyển giao kỹ thuật từ hai Bệnh viện Chợ Rẫy và Nhi Đồng 1, đến nay các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã từng bước làm chủ kỹ thuật trong điều trị các bệnh lý tim mạch. Đây là cơ sở quan trọng để bệnh viện tiếp tục tiếp nhận, chuyển giao các kỹ thuật khác nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị của người dân trên địa bàn, giúp người bệnh không phải chuyển lên tuyến trên.

Đầu tháng 4-2014, Tổ Phẫu thuật tim, Khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Khánh Hòa thực hiện ca phẫu thuật tim hở đầu tiên dưới sự hướng dẫn của ê-kíp bác sĩ đến từ Bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh) cho người bệnh Phùng Hoài Phong, 18 tuổi, trú thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm, bị mắc bệnh thông liên thất bẩm sinh. Đến nay, sức khỏe của Phong rất ổn định. Giữa tháng 12-2014, Khoa Tim mạch can thiệp BVĐK Khánh Hòa tiếp nhận Lam chu ky thuat dieu tri benh tim machngười bệnh Trần Nhiều, 39 tuổi, ở phường Vĩnh Nguyên, TP Nha Trang, trong tình trạng bị nhồi máu cơ tim cấp nặng, khả năng tử vong cao. Sau hội chẩn, can thiệp, sức khỏe của người bệnh dần hồi phục và được xuất viện sau một tuần điều trị. Cuối tháng 10-2014, ê-kíp thông tim can thiệp cho trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh của BVĐK Khánh Hòa cũng thực hiện can thiệp thành công, điều trị dứt điểm đối với dị tật ở tim bằng phương pháp bít dù cho 13 trẻ mắc các bệnh lý tim bẩm sinh khó.

Trên đây là kết quả bước đầu của đội ngũ y, bác sĩ BVĐK tỉnh Khánh Hòa về điều trị các bệnh lý tim mạch trong khuôn khổ chương trình phối hợp, chuyển giao khoa học, kỹ thuật với các Bệnh viện Chợ Rẫy và Nhi Đồng 1 (TP Hồ Chí Minh). Để có kết quả đó là sự chuẩn bị chu đáo về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Ngay từ năm 2009, thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế, BVĐK tỉnh Khánh Hòa bắt đầu tiếp nhận các kỹ thuật tim mạch can thiệp từ Bệnh viện

Chợ Rẫy. Năm 2011, BVĐK Khánh Hòa tiếp tục tiếp nhận các kỹ thuật điều trị bệnh lý tim bẩm sinh cho trẻ em từ Bệnh viện Nhi Đồng 1. Năm 2013, triển khai đề án bệnh viện vệ tinh, Bệnh viện Chợ Rẫy tiếp tục chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật tim hở cho BVĐK tỉnh Khánh Hòa.

Trong thời gian thực hiện tiếp nhận chuyển giao, BVĐK tỉnh Khánh Hòa đã thực hiện phẫu thuật hở thành công 18 ca mắc các bệnh lý về tim, trong đó có 13 ca mắc bệnh tim bẩm sinh; bốn ca bệnh tim mắc phải; một ca phẫu thuật hở cấp cứu vết thương tim. Ngoài ra, bệnh viện cũng thực hiện thành công hơn 5.700 ca tim mạch can thiệp, can thiệp tim bẩm sinh cho hơn 200 trẻ em.

Với kết quả nêu trên, đã góp phần giảm đáng kể số người bệnh đến điều trị về bệnh lý tim mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Do vậy, sau khi đã làm chủ hoàn toàn các kỹ thuật được chuyển giao trong điều trị về bệnh lý tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy sẽ tiếp tục chuyển giao cho BVĐK tỉnh Khánh Hòa những kỹ thuật mới, khó, phức tạp hơn trong điều trị về bệnh lý tim mạch, như siêu âm trong lòng mạch vành; khoan lòng mạch vành; đo phân suất tấn máu, tắc mãn tính, tổn thương phân nhánh…

Bác sĩ Nguyễn Văn Xáng, Giám đốc BVĐK tỉnh Khánh Hòa cho biết, mỗi năm, bình quân có hơn 5.000 người bệnh bị mắc các bệnh lý về tim mạch đến khám và điều trị tại đây. Do điều kiện về con người và cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều người phải chuyển vào TP Hồ Chí Minh để điều trị. Do chi phí thực hiện can thiệp, phẫu thuật tim hiện khá cao, cộng với tốn kém lớn trong di chuyển, ăn ở khi phải vào TP Hồ Chí Minh nên nhiều người bệnh có hoàn cảnh khó khăn đã không được phẫu thuật, can thiệp kịp thời. Vì vậy, yêu cầu phát triển chuyên ngành tim mạch tại BVĐK tỉnh Khánh Hòa để điều trị hiệu quả cho người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận là rất cấp bách và cần thiết. Ngoài ra, BVĐK tỉnh Khánh Hòa sẽ tiếp tục đề xuất Bộ Y tế và các bệnh viện tuyến trên chuyển giao những kỹ thuật mới phù hợp; thiết lập hệ thống hội chẩn trực tuyến từ xa để nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị tại chỗ, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.

BÀI VÀ ẢNH: PHONG NGUYÊN

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 19/6/2015:

Máy nông nghiệp đa năng giúp nông dân bớt vất vả

Tạ Đình Huy (thôn An Mỹ, xã Thượng Vực, Chương Mỹ, Hà Nội) đã chế tạo thành công chiếc máy nông nghiệp đa năng “8 trong 1”.

Không qua trường lớp cơ khí, kỹ thuật nào nhưng với mong mỏi giúp người nông dân đỡ vất vả khi canh tác trên ruộng đồng, Tạ Đình Huy (thôn An Mỹ, xã Thượng Vực, Chương Mỹ, Hà Nội) đã chế tạo thành công chiếc máy nông nghiệp đa năng “8 trong 1”.

Học hết cấp III, để đỡ đần mẹ và em trai, Huy theo nghề sửa chữa xe máy. Ngoài sửa xe cho khách, anh tMay nong nghiephường mày mò, tìm hiểu công nghệ chế tạo thiết bị cơ khí. Xuất thân từ gia đình nông dân, Huy hiểu nỗi vất vả của bà con nông dân và nghĩ tại sao mình không làm được cái gì đó giúp bà con nông dân?

Huy bắt đầu nghiên cứu, chế tạo chiếc máy nông nghiệp với tiêu chí giá thành rẻ, sử dụng dễ dàng, hiệu quả. Huy thức cả đêm mày mò, vẽ bản thảo. Rồi chiếc máy với 7 chức năng ra đời sau hai tháng miệt mài. Ngoài cày, bừa, làm cỏ, xới tơi đất, máy còn gieo hạt, bơm nước tưới tiêu, phun thuốc trừ sâu theo cơ chế điều khiển chuyển động đơn giản, thuận tiện.

Nhờ kinh nghiệm 15 năm sửa xe, chiếc máy nông nghiệp đa năng của Huy cũng chạy bằng… động cơ xe máy. Huy cho biết nếu sử dụng động cơ xăng hoặc dầu diesel sẽ rất tốn kém. “Hiện nay nhà nào cũng có xe máy, nhiều chiếc xe cũ thường bán sắt vụn dù động cơ còn chạy tốt, mình tận dụng nó chế lại một chút là thành máy chạy nông nghiệp ngon lành. Như vậy khi máy hỏng hóc bà con rất dễ dàng đưa ra tiệm xe máy gần nhà để sửa chữa” – Huy cho biết.

Không bằng lòng với kết quả, những chiếc máy tiếp theo ra đời được Huy thiết kế nhỏ gọn hơn. Sau nhiều lần được cải tiến, giờ đây chiếc máy nông nghiệp đa năng của Tạ Đình Huy còn có thêm chức năng rạch hàng để gieo hạt.

Giá chiếc máy này từ 3 – 13 triệu đồng / sản phẩm. Không chỉ nhà nông ở Hà Nội, nhiều người các vùng lân cận, cả khách hàng tận đồng bằng sông Cửu Long cũng đặt hàng Huy. Hiện xưởng sản xuất của Huy tạo việc làm cho 10 nhân công với mức lương khoảng 5 triệu đồng/người / tháng.

Chiếc máy nông nghiệp đa năng “8 trong 1” của Tạ Đình Huy đã đoạt giải nhất chương trình “Nhà sáng chế” (số 30) phát trên kênh VTV2 và giành giải khán giả bình chọn nhiều nhất. Anh cũng vừa được chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tặng bằng khen Gương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2010 – 2015. Huy luôn dành thời gian tham gia phong trào Đoàn thanh niên địa phương, là bí thư Đoàn thôn từ năm 19 tuổi.

Ông Nguyễn Bá Sâm, chủ tịch UBND xã Thượng Vực, khẳng định: “Sản phẩm máy nông nghiệp đa năng của anh Tạ Đình Huy được bà con trong và ngoài xã đón nhận vì tiện dụng, giá hợp túi tiền nông dân. Trong thời gian tới, chính quyền rất sẵn sàng cho thuê đất và kiến nghị với ngân hàng chính sách xã hội cho vay vốn để anh Huy mở rộng xưởng sản xuất, tạo việc làm cho lao động địa phương”.

DUY NGỢI

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/6/2015:

Đưa sản phẩm từ củ nghệ vàng ra thế giới

Hiện nay, nhiều sản phẩm thuốc được chiết xuất từ cây nghệ có chất lượng, có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chữa dạ dày… được nhiều người tin dùng. Tuy nhiên, để phát triển các sản phẩm từ cây nghệ và tiến tới xuất khẩu thì vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là nguồn vốn.

Phát triển toàn diện cây nghệ

Gặp chúng tôi ở căn phòng thí nghiệm chật chội, TS Dương Ngọc Tú, Trưởng phòng Sinh dược, Phó Giám đốc kiêm điều phối viên Trung tâm nghiên cứu xuất sắc liên ngành về lĩnh vực các hợp chất thiên nhiên Việt Nam-Vương quốc Anh (ICNaP, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) say sưa nói về Dự án Phát triển toàn diện cây nghChiet xuat tu Cu ngheệ ở Việt Nam. Đây là dự án hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam và Vương quốc Anh do Hội đồng Anh và Việt Nam đồng tài trợ, nghiên cứu về các giải pháp tổng thể nhằm phát triển các sản phẩm có chất lượng cao từ cây nghệ của Việt Nam. Các tổ chức nghiên cứu của Vương quốc Anh mang đến kinh nghiệm cũng như sự hỗ trợ về công nghệ sinh học phân tử, công nghệ gien, công nghệ tinh chế, công nghệ bào chế và phát triển các dạng sản phẩm ưu việt từ curcumin, bảo đảm chất lượng và phát triển nông nghiệp bền vững. Dự án này được các nhà khoa học hai bên lựa chọn dựa trên cơ sở những thành công ban đầu mà các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học phối hợp Liên hiệp Khoa học Công nghệ hóa học và môi trường (Hội Hóa học Việt Nam) đã đạt được trong việc chiết xuất tinh nghệ từ củ nghệ vàng và hoạt chất enzyme Bromelain từ cây dứa để sản xuất thành công thực phẩm chức năng tinh nghệ và dứa. Sản phẩm Brocurma C-B xuất phát từ nguồn gốc thiên nhiên như nghệ và dứa, được sử dụng như thực phẩm chức năng an toàn nhằm tăng cường miễn dịch và khả năng đề kháng của cơ thể, tăng khả năng phòng một số bệnh, đồng thời hỗ trợ trong điều trị các bệnh nan y, hiểm nghèo nhờ hoạt tính sinh học cộng hưởng của nghệ và dứa.

(…)

Ứng dụng công nghệ xanh

TS Dương Ngọc Tú cho biết, để có được 20 gam tinh chất curcumin phải cần từ 5 đến 7 kg nghệ tươi. (…)

Tháng 5 vừa qua, tại hội chợ triển lãm nhân kỷ niệm 40 năm Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, những sản phẩm tinh bột nghệ siêu hòa tan đầu tiên mang tên Nacumin đã được trưng bày. Sản phẩm đã được đăng ký thương hiệu ở Cục Sở hữu trí tuệ và đang chờ Bộ Y tế cấp phép để đưa ra thị trường. Mới đây, tỉnh Bắc Giang cũng đã quy hoạch 8 ha để trồng nghệ, cung cấp nguyên liệu năng suất cao để sản xuất ra sản phẩm tinh bột nghệ phục vụ dự án. Trước mắt, để có thể phát triển bền vững cây nghệ với những mục tiêu đặt ra là một chặng đường rất dài, khi mà theo lộ trình đến năm 2018 dự án mới kết thúc. Những sản phẩm phụ nhằm tận dụng nguồn phế phẩm sau khi chiết xuất curcumin như thuốc bảo vệ thực vật đã được nghiên cứu và cho kết quả khả quan. (…)

Hạnh Nguyên

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/6/2015:

Xây dựng trường học và khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện đảo Lý Sơn

Ngày 22/6, Quỹ “Vũng lòng biển đảo” của báo Sài Gòn Giải Phóng đã quyên góp 100 triệu đồng, cùng Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh xây trường mầm non ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Trước đó, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã khánh thành Trường tiểu học Song Tử Tây trên đảo Song Tử Tây, huyện Trường Sa (Khánh Hòa). Trường được xây dựng trên cơ sở đóng góp của học sinh và giáo viên, nhân viên ngành giáo dục đào tạo thành phố, trị giá tám tỷ đồng.

Cùng ngày, tại huyện đảo Lý Sơn, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức khánh thành Khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt huyện đảo Lý Sơn. Khu xử lý được xây dựng trên tổng diện tích 2ha, với thời gian hoạt động là 15 năm, các hạng mục công trình được tính toán, thiết kế và xây dựng trên cơ sở đáp ứng được công suất xử lý là 15.5 tấn/ngày (do Bộ Tài nguyên và Môi trường làm chủ đầu tư). Khu xử lý được áp dụng các công nghệ như đốt, ủ mùn và chon lấp. Trong tổng công suất xử lý, công suất ủ mùn hữu cơ chiếm 58%; công suất lò đốt rác chiếm 31%; công suát bãi chon lấp chiếm 11%.

PV

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 21/6/2015:

17 tấn vải thiều Việt Nam đã xuất khẩu sang Ô-xtrây-li-a

Thương vụ Việt Nam tại Ô-xtrây-li-a cho biết, từ ngày 12 đến ngày 19/6, Công ty Rồng Đỏ đã xuất thành công 12 tấn vải thiều sang Ô-xtrây-li-a và một tấn vải thử nghiệm của Công ty Fosti và Thiên Anh Minh đã đến Sydney. Một chuyến hàng thử nghiệm gần 3.5 tấn của Công ty Ánh Sao Dương cũng sẽ đến Melboune vào đầu tuần tới. Nếu các chuyến hàng thử nghiệm đầu tiên thành công, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ ký các hợp đồng lớn hơn và cơ hội sẽ mở ra cho trái vải Việt Nam tại thị trường Ô-xtrây-li-a.

PV

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 24/6/2015:

Miễn thu phí kiểm dịch thực vật đối với quả vải tươi xuất khẩu

Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để đẩy mạnh xuất khẩu quả vải tươi của Việt Nam, đặc biệt là tới các thị trường mới mở, ngày 23/6, Cục Bảo vệ thực vật đã có văn bản gửi các đơn vị kiểm dịch thực vật yêu cầu không thu phí, lệ phí kiểm dịch thực vật đối với các lô quả vải tươi xuất khẩu bằng đường hàng không. Đồng thời, bố trí nhân lực, trang thiết bị làm thủ tục kiểm dịch thực vật nhanh nhất cho các lô quả vải tươi xuất khẩu, bao gồm cả làm ngoài giờ và ngày nghỉ, ngày lễ.

PV

  • Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 14/6/2015:

Trái cây Việt hớp hồn khách ngoại

Sau lời kêu gọi của Hiệp hội Du lịch VN tiêu thụ các loại trái cây đang vào vụ, nhiều khách sạn đồng loạt hưởng ứng triển khai.

Ngoài việc đưa trái cây miễn phí vào từng phòng, các khách sạn sử dụng trái cây trang trí khuôn viên, quảng bá sự phong phú trái cây nội địa.

 “Trái vải lạ quá”

Khác với thường lệ, khu vực phục vụ trái cây tại sảnh tiệc buffet sáng của khách sạn Rex (Q.1) trở nên nổi bật với trái vải được trang trí bắt mắt. Thay vì để trên đĩa, khoảng 30kg vải thiều được treo cao theo hình tháp cũng như đựng trong những thúng, mẹt đậm chất dân dã. Ngay dưới “tháp vải” ửng đỏ ghi rõ đặc sản vải thiều được đưa từ Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương) để du khách có đầy đủ thông tin về loại trái cây này.

(…)

Do vậy, bữa sáng khách sạn sử dụng rất nhiều trái cây, trong đó hầu hết trái cây theo mùa trong nước. Các loại trái cây ngoại nhập như táo, nho chủ yếu sử dụng để bài trí thêm vì khách hầu như không đụng đến. Theo quan sát, chỉ đến khoảng 9g sáng, gần 20kg vải thiều trong tổng số 30kg nhà hàng chuẩn bị đã được du khách sử dụng. Ước tính mỗi tháng khách sạn Rex tiêu thụ 180 – 200kg trái cây nội địa các loại.

(…)

Đa dạng cách thức tiêu thụ trái cây

Ngoài chính sách tiêu thụ trái cây tại chỗ, ông Đỗ Văn Đàn, giám đốc chuỗi khách sạn Elegance Diamond, cho biết đơn vị triển khai kế hoạch sử dụng trái cây làm quà tặng kèm cho du khách. Cụ thể, ngoài việc khách hàng sử dụng trái cây miễn phí tại phòng cũng như trong các bữa ăn, nếu khách hàng thích, đơn vị sẽ sử dụng trái cây đóng thành thùng, hộp cho khách mang về.

“Thay vì sử dụng các chương trình giảm giá để thu hút khách như trước, việc sử dụng quà tặng trái cây là hình thức khá mới lạ, hấp dẫn khách hàng. Qua đó có thể đẩy mạnh sức tiêu thụ trái cây cho nông dân” – ông Đàn chia sẻ.(…) sử dụng khá nhiều loại trái cây để trang trí. Các loại thanh long, vải, chuối… được trưng bày theo phong cách vùng quê tạo cảm giác gần gũi, mang đậm văn hóa Việt.

(…)

Lê Sơn

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 25/6/2015:

Hà Lan hỗ trợ xây dựng vùng chăn nuôi bò sữa

Chiều 24-6, Công ty FrieslandCampina VN đã chính thức tổ chức lễ khánh thành vùng chăn nuôi bò sữa bền vững tại xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, thuộc dự án “Phát triển ngành sữa bền vững tại VN” do tỉnh Hà Nam hợp tác với Chính phủ Hà Lan thực hiện.

Theo kế hoạch đến cuối năm 2018, vùng chăn nuôi này sẽ có khoảng 50 trang trại chăn nuôi bò sữa, sản xuất tối thiểu 7 triệu kg sữa/năm và tạo ra 345 việc làm cho người lao động.

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trần Quốc Huân – phó tổng giám đốc Công ty FrieslandCampina VN – cho biết: “Giải pháp hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp sản xuất sữa là phải chăm lo phát triển vùng nguyên liệu. Do đó, chúng tôi chọn cách đi về vùng nông thôn, đến với những người nông dân nuôi bò sữa, thiết lập quan hệ đối tác với họ, giúp họ tiếp cận khoa học kỹ thuật, nguồn vốn và thị trường…”.

L.Thanh.

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngáy 22/6/2015:

Giày Việt chiếm linh thị trường Brazil

Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (VTTIC – Bộ Công thương) cho biết Việt Nam đã vượt qua Indonesia, Trung Quốc, Paraguay để trở thành nhà xuất khẩu giày dép lớn nhất vào Brazil, chiếm 52.8% tổng kim ngạch nhập khẩu giày dép của nước này trong năm 2014, tương ứng khoảng 336 triệu USD.

Giai đoạn 2010-2014, xuất khẩu giày dép từ Việt Nam vào Brazil tăng bình quân 26%/ năm so với mức tăng nhập khẩu bình quân từ các nước khác của quốc gia này khoảng 15%/năm.

T.V.N.

* Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 22/6/2015:

Hơn 15.300 chiến sĩ tham gia Hành quân xanh 2015

Sáng 21-6, tại Nhà Văn hóa Thanh niên TP.HCM, Thành đoàn TP làm lễ ra quân chiến dịch Hành quân xanh lần 9, năm 2015.

Ông Nguyễn Văn Rảnh, Ủy viên Ban Thường vụ – Trưởng ban Dân vận Thành ủy, anh Nguyễn Mạnh Cường, Bí thư Thành đoàn đã tới dự lễ.

Tham gia chiến dịch có 15.312 chiến sĩ là đoàn viên thanh niên thuộc lực lượng vũ trang đang công tác tại các đơn vị  thuộc Bộ Tư lệnh TP, Bộ đội Biên phòng TP, Công an TP, Cảnh sát PCCC TP, đoàn viên thanh niên tại cơ quan quân sự, công an quận huyện, dân quân tại các phường xã.

Đồng loạt hành động sau lễ ra quân

Sau lễ ra quân cấp Thành tại Nhà Văn hóa thanh niên TP, các đội hình bắt đầu di chuyển về các quận huyện để bắt đầu chiến dịch với nhiều hoạt động khác nhau: trực chốt giao thông tại các điểm đen giao thông trên địa bàn thành phố, tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy, khởi công xây đắp đường giao thông nông thôn, bê tông hóa các con hẻm, xây dựng nhà tình bạn, tập huấn kỹ năng chống đuối nướ cho thanh thiếu nhi…

Trong khi tại Nhà Văn hoá Thanh niên TP diễn ra lễ ra quân cấp thành thì tại các quận, huyện, Quận đoàn, Huyện đoàn cũng đồng loạt tổ chức lễ ra quân với nhiều hoạt động sôi nổi và thiết thực.

Tại quận 9, sau lễ ra quân cấp quận, các chiến sĩ tình nguyện bắt đầu thực hiện các công việc của mình. Tại một con đường nhỏ bên hông UBND phường Phú Hữu, các chiến sĩ tình nguyện thuộc Công an quận cùng các đoàn viên thanh niên của Đoàn phường tất bật trộn bê tông, bưng gạch để xây dựng cửa hàng rửa xe hỗ trỡ cho thanh niên sau cai nghiện.

Trong khi đó, tại hẻm 100, đường 79, phường Phước Long B, khoảng 100 chiến sĩ tình nguyện thuộc các lực lượng cảnh sát cơ động, cảnh sát giao thông… người xúc bê tông, người đẩy xe rùa…để bê tông hóa tuyến hẻm này.

Ngoài ra, tại địa bàn quận cũng diễn ra nhiều hoạt động khác như:  tổ chức phiên tòa giả định, tuyên truyền luật cư trú, thủ tục nhập khẩu, tách khẩu…

Tại các quận khác như: quận 2, quận 4, quận 8, quận Tân Phú, Phú Nhuận…cũng đồng loạt diễn ra nhiều hoạt động của chiến dịch Hành quân xanh: chương trình trải nghiệm thực tế “Một ngày làm chiến sĩ Cảnh sát giao thông”, trao phao cứu sinh dọc tuyến Bến Vân Đồn, chương trình thực tế “Một ngày học làm chiến sĩ phòng cháy chữa cháy”, vì đường phố “15 phút không rát”…

Mỗi chiến sĩ là một chiếc cầu nối

Tại buổi lễ, chị Lâm Mỹ Trinh, UVBCN, phCong an lam tu thienó Ban Mặt trận, an ninh quốc phòng, địa bàn dân cư,  Thành đoàn TP.HCM, chỉ huy trưởng chiến dịch, cho biết chiến dịch Hành quân xanh năm nay sẽ kéo dài từ nay đến hết ngày 26-7.

Chiến dịch năm nay tập trung vào các hoạt động như: thực hiện chương trình “Nghĩa tình hành quân xanh” gắn với hoạt động đền ơn đáp nghĩa, đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức hoạt động gắn kết với các gia đình Mẹ VNAH, gia đình chính sách, thương binh, liệt sĩ;  đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ thanh thiếu nhi, trong đó chú trọng thanh thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt…

Thay mặt ban chỉ huy chiến dịch, chị Lâm Mỹ Trinh phát biểu “Với phương chăm “Khi tổ quốc cần, thanh niên sẵn sàng hành động”, tinh thần xung kích tình nguyện của thanh niên lực lượng vũ trang, chúng tôi tin rằng sẽ mang đến nhiều hoạt động ý nghĩa cho các chiến sĩ và nhiều công trình thiết thực hỗ trợ cho người dân và cho thanh thiếu nhi thành phố. Mong rằng chiến dịch sẽ là kỷ niệm đẹp của các chiến sĩ, đẹp trong suy nghĩ, trong hành động và đẹp trong cả lòng của người dân thành phố chúng ta”.

Đánh giá về hoạt động của chiến dịch Hành quân xanh, ông Nguyễn Văn Rảnh, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Thành ủy TP.HCM, cho biết qua 8 lần diễn ra những hoạt động, cử chỉ, việc làm của các chiến sĩ Hành quân xanh đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng dân, để lại những công trình ý nghĩa cho xã hội.

Ông hoan nghênh việc làm của các bạn trẻ thuộc lực lượng vũ trang và mong muốn các bạn trẻ hãy tiếp tục duy trì và phát huy tình thần xung kích vì cộng đồng trong chiến dịch này và các năm tiếp theo.

“Chính việc làm của các bạn sẽ tạo nên hình ảnh đẹp trong lòng người dân thành phố. Vì vậy hãy cố gắng hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Các bạn hãy là sợi dây tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa người dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền với Đảng”, ông Rảnh nói.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/6/2015:

Nhóm xẩm Hà Thành ra mắt MV “Xẩm Trà Đá”

Chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, nhóm Xẩm Hà Thành, chính thức giới thiệu MV “Xẩm trà đá”. Đây là một sáng tác xẩm mới, được chuyển tải từ nhiều vấn đề “nóng” của xã hội thành một liên khúc xẩm. Toàn bộ nội dung câu hát trong “Xẩm trà đá” đều được khai thác từ báo chí, cho nên có thể coi đây là các bài Xẩm được chuyển thể từ các tác phẩm báo chí. “Xẩm trà đá” có độ dài gần chin phút, với bốn bài chính, bao gồm: Tắm tri ân, Dân làng tự lo giữ rừng, Bỏ con bơ vơ và Máy bay rơi

Ra mắt an-bum Lời trái tim của ca sĩ giải Sao Mai 2013

Ca sĩ Huyền Trang – giải nhất dòng nhạc dân gian Sao Mai năm 2013 vừa ra mắt bộ đôi CD-DVD mang tên Lời trái tim.

An-bum gồm mười ca khúc: Đôi bờ sông quê (NS Đặng An Nguyên, thơ Bùi Đức Ngọc), Con sông tuổi thơ tôi(nhạc và lời Tuấn Phương), Tiếng Việt (NS Nguyễn Lê Tâm, thơ Lưu Quang Vũ), Điệu ví dặm là em (NS Quốc Nam, lời Lê Văn – Quốc Nam), Chiều mưa (NS Tuấn Phương, thơ Đỗ Quý Doãn), Thương ơi điệu ví (NS Lê An Tuyên), Tìm về lời ru (NS Đào Đăng Hoàn), Hoa nắng (NS Nguyễn Tiến), Mơ quê (NS Nguyễn Tài Tuệ),Ca dao em và tôi (NS An Thuyên).

Phát sóng vòng chung kết Đồ Rê Mí 2015

Đài Truyền hình Việt Nam vừa chính thức ra mắt 12 gương mặt thí sinh lọt vào chung kết Đồ Rê Mí 2015. Đây là chương trình truyền hình phục vụ lứa tuổi thiếu nhi (từ 5 đến 8 tuổi) với nét mới là vòng tuyển chọn được mở rộng tới tám tỉnh, thành phố trên cả nước, qua đó lựa chọn được 12 gương mặt có tài năng và tính cách đa dạng. Phần thi của các đội năm nay sẽ dành để tôn vinh ba nhạc sĩ có các ca khúc thiếu nhi nổi tiếng là Phạm Tuyên, Hàn Ngọc Bích, Phạm Trọng Cầu. Tham gia sân chơi âm nhạc này, các em nhỏ yêu ca hát có dịp thể hiện tài năng với nhiều thể loại và chủ đề như: dân ca, nhạc quốc tế, ca khúc tự chọn… Đồ Rê Mí 2015 gồm 12 chương trình, lên sóng lúc 21 giờ thứ năm hằng tuần bắt đầu từ ngày 18-6.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Trao tặng 200 tủ thuốc cho ngư dân đánh bắt xa bờ

Ngày 19/6, tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định), Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn đại diện cho Công đoàn ngành Y tế trao tặng tủ thuốc miễn phí cho 200 ngư dân đánh bắt xa bờ. Đây là một trong những hoạt động thiết thực của Bộ Y tế trong phong trào “Ngành Y tế cùng ngư dân bám biển”. Các tủ thuốc được thiết kế để có thể dễ dàng gắn cố định trên tàu, mỗi tủ có đầy đủ các loại thuốc điều trị các bệnh thường gặp và các dụng cụ sơ cứu khẩn cấp, qua đó, giúp ngư dân có thể tự chăm sóc sức khỏe trong trường hợp ở dài ngày trên biển, không tiếp cận được với các cơ sở y tế. Ngay sau khi trao tặng tủ thuốc, Sở Y tế tỉnh Bình Dịnh đã cử các bác sĩ hướng dẫn chi tiết về các loại thuốc, dụng cụ y tế cho bà con ngư dân.

PV

Khánh thành bệnh viên đạt tiêu chuẩn quốc tế tại huyện đảo Phú Quốc

Ngày 19/6, tại huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), Tập đoàn Vingroup tổ chức lễ khánh thành Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc. Đây là bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên tại huyện đảo Phú Quốc, cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao cho người dân địa phương và du khách. Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc được khởi công xây dựng từ tháng 7/2014, có tổng vốn đầu tư một nghìn tỷ đồng, với quy mô 150 giường bệnh, bao gồm 11 phòng chức năng và 10 chuyên khoa…

Nhân dịp khánh thành, bệnh viện đã triển khai nhiều chương trình ưu đãi dành cho khách hàng tới khám, chữa bệnh từ ngày 19 đến 30/6 như: Miễn phí khám cho mọi đối tượng khách hàng; giảm giá 20% trên các dịch vụ cận lâm sàng; giảm gái 20% trên tất cả các gói dịch vụ gồm gói khám sức khỏe tổng quát, gói thai sản…

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/6/2015:

Cứu nạn thuyền viên bị tai nạn lao động

Vào lúc 5 giờ 40 phút ngày 19-6, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam nhận được thông tin tàu cá NA 90331 gồm 16 thuyền viên, do ông Bùi Xuân Xim (sinh năm 1969), trú tại thôn Đại Bắc, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An) làm thuyền trưởng, đang đánh lưới vây, thì thuyền viên tên Nguyễn Đình Quyết (sinh năm 1976, thôn Đại Bắc, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An) bị đầu cẩu gẫy đập vào đầu tại vị trí 18-45N; 106-30E (cách mũi Lạch Quèn – Nghệ An 60 hải lý về phía đông nam).

Các thuyền viên trên tàu đã tìm mọi cách để băng bó vết thương, nhưng do máu trên đầu chảy nhiều, tình trạng sức khỏe của nạn nhân diễn biến theo chiều hướng xấu. Với phương châm Tính mạng con người là trên hết, lực lượng tìm kiếm cứu nạn hàng hải đã nhanh chóng, khẩn trương triển khai các biện pháp cứu nạn cho thuyền viên tàu NA 90331. Đến 9 giờ 30 phút cùng ngày, tàu SAR 411 đã tiếp cận được tàu cá NA 90331, tiến hành cấp cứu, băng bó vết thương thuyền viên Nguyễn Đình Quyết, chuyển lên tàu cứu nạn SAR 411 để về bờ. Đến 13 giờ cùng ngày, tàu SAR 411 đã đưa người bệnh về bến Cửa Lò bàn giao cho y tế 115, chủ tàu và gia đình.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/6/2015:

Chế tạo thành công chip ứng dụng trong y tế

Ngày 17-6, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo Thiết kế Vi mạch (ICDREC), Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh công bố, đơn vị đã thiết kế và chế tạo thành công Chip ADC 24-bit ứng dụng trong đo lường. Đây là sản phẩm của đề tài “Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thử nghiệm chip nén ảnh theo tiêu chuẩn JPEG2000 và chip ADC đa năng ứng dụng trong y tế” thuộc chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước. Chip ADC 24-bit có độ chính xác cao và khả năng cạnh tranh cao sẽ được ứng dụng trong lĩnh vực đo lường như đo điện kế điện tử, địa chấn kế và nhất là trong lĩnh vực y tế như: điện tâm đồ (ECG), xử lý tín hiệu y khoa…

Thành lập năm trung tâm pháp y tâm thần khu vực

Ngày 17- 6, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức lễ công bố Quyết định của Bộ trưởng Y tế về việc thành lập năm trung tâm pháp y tâm thần khu vực. Theo đó, năm trung tâm pháp y tâm thần khu vực được đặt tại các tỉnh, thành phố gồm: Phú Thọ, Thừa Thiên – Huế, Đác Lắc, Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh. Các trung tâm pháp y tâm thần khu vực có nhiệm vụ thực hiện giám định pháp y tâm thần theo quyết định trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; yêu cầu của cá nhân và tổ chức cho các đối tượng trên địa bàn mình phụ trách; bảo đảm tính chính xác và hiệu quả phục vụ công tác điều tra, giải quyết các vụ án liên quan đến giám định pháp y tâm thần của các cơ quan điều tra, tố tụng trên địa bàn được phân công…

Hơn 200 cán bộ y tế được tập huấn các biện pháp phòng, chống dịch bệnh MERS-CoV

Trong các ngày từ 17 đến 18-6, tại tỉnh Thái Nguyên, Bộ Y tế tổ chức tập huấn hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm dịch bệnh MERS-CoV, cho hơn 200 cán bộ y tế đến từ 10 sở y tế các tỉnh miền núi phía bắc và một số bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế. Tại lớp tập huấn, các cán bộ y tế, các chuyên gia trong lĩnh vực y tế dự phòng; khám, chữa bệnh hướng dẫn các bước giám sát, xử lý ổ dịch; lấy mẫu, bảo quản, vận chuyển bệnh phẩm; phòng và kiểm soát lây nhiễm MERS-CoV trong các cơ sở khám, chữa bệnh, sàng lọc, cách ly, cung ứng phương tiện và hóa chất, quy trình phòng ngừa lây nhiễm MERS-CoV trong các cơ sở khám, chữa bệnh; hướng dẫn phòng ngừa biến chứng viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và các bội nhiễm khác trên người bệnh…

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 25/6/2015:

Con em chiến sĩ Trường Sa dự trại hè tại Đà Lạt

Sáng 24-6, tại Khu du lịch LangBiang (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) diễn ra chương trình “Trại hè đại sứ hàng Việt tí hon lần thứ 5”.

Đây là năm thứ 4 liên tiếp chương trình được các nghệ sĩ thành viên CLB Đại sứ hàng Việt, Trung tâm BSA, Câu lạc bộ Doanh nghiệp Dẫn đầu – LBC, Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức.

Năm nay, chương trình thu hút 123 em nhỏ từ 4 tỉnh An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp và con em chiến sĩ Trường Sa, nhà giàn DK1.

Đặc biệt, trong số này có 3 em nhỏ đ
ến từ xóm chài nghèo tại Long Xuyên, đây là các nhân vật đời thực xuất hiện trong phim ngắn “Thì sông cứ chảy” của đạo diễn Mai Huyền Chi và Tạ Nguyên Hiệp.

Trong 05 ngày ở trại hè, các em thiếu nhi được trải qua nhiều hoạt động vui chơi, khám phá bổ ích như: thi vẽ tranh, tham quan bảo tàng Lâm Đồng, Ngày hội Em yêu khoa học tại Thung lũng Trăm năm, thăm quan khu du lịch Langbiang, viết cảm nhận tại những điểm đã tham quan, gặp gỡ, trò chuyện với các doanh nhân, các nghệ sĩ là Đại sứ hàng Việt…

Điểm nhấn của chương trình là Ngày hội Em yêu khoa học. Đây là chương trình ứng dụng mô hình STEM (viết tắt của các từ Science, Technology, EngHoc sinh truong sa du trai he Da Latineering và Mathematics), là quá trình tích hợp kiến thức giữa các môn khoa học, kỹ thuật, toán học, công nghệ, qua đó giúp học sinh hình thành kiến thức tổng hợp về các bộ môn này và hình thành kỹ năng sống.

Theo đó, các em sẽ được hướng dẫn đọc sách khoa học và kể chuyện về các nhà khoa học, làm mô hình khoa học theo sách, xem biểu diễn khoa học vui, khoa học kì thú và tự tay làm các thí nghiệm hóa học, vật lý vui, học cách chế tạo các máy móc đơn giản.

Có 10 đại sứ hàng Việt đồng hành cùng các em trong suốt chương trình, trong đó có nghệ sĩ ưu tú Kim Xuân, nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm, nghệ sĩ Quyền Linh, nhà thiết kế Sĩ Hoàng…

Qua 4 năm tổ chức, chương trình đã thu hút hơn 500 trại sinh từ khắp các tỉnh thành phía Nam, huyện đảo Cần Giờ và con em các chiến sĩ hải đảo tham dự…

Tất cả các trại sinh đều được lựa chọn theo tiêu chí: có hoàn cảnh đặc biệt, có cố gắng trong học tập, chưa từng được đi du lịch và trong độ tuổi từ 10-14 tuổi.

Lâm Thiên

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 25/6/2015:

Vĩnh biệt thầy – người truyền lửa

Tiễn biệt GS.TS Trần Văn Khê –  nhà nghiên cứu văn hóa, chuyên gia hàng đầu về âm nhạc Việt Nam, Tuổi Trẻ trân trọng giới thiệu bài viết của một trong những học trò gắn bó nhất với ông – nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng.

Thầy ơi,

Dẫu biết cuộc đời thật vô thường, ai rồi cũng sẽ đến một ngày trở về với cát bụi, nhưng chúng con – những người học trò vẫn cảm thấy một sự hụt hẫng, mất mát không gì bù đắp nổi khi người Thầy yêu dấu đã mãi mãi rời xa.

Chúng con chẳng còn cơ hội làm vui lòng Thầy bằng tiếng nhạc, lời ca; chẳng còn lúc cười đùa vui vẻ khi nghe Thầy kể chuyện; không còn dõi mắt say sưa nghe Thầy giảng những bài học về tình yêu âm nhạc bao la.

Hơn nửa đời người sống và làm việc tại nước ngoài, biết bao lần Thầy đứng trên bục giảng của nhiều đại học trên thế giới, viết hàng trăm bài nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và các nước… nhưng Thầy vẫn trăn trở nỗi niềm làm sao cho giới trẻ Việt Nam yêu mến âm nhạc Việt Nam. Sao cho lớp trẻ có thể trả lời câu hỏi: âm nhạc Việt Nam có cái gì? Âm nhạc Việt Nam hay chỗ nào?

Hành trang trở về

Thầy đã trở về, mang theo hành trang là tất cả những tư liệu góp nhặt trong nhiều năm và khối kiến thức uyên bác mà Thầy sẵn sàng chia sẻ cho nhữngTran Van Khe ai cần đến. Cũng vì mong muốn truyền bá âm nhạc dân tộc nên dẫu cho đôi chân không thể dễ dàng di chuyển, Thầy vẫn chẳng ngại ngần đi diễn thuyết ở bất cứ nơi đâu. Khi sức khỏe không cho phép, Thầy vẫn gọi chúng con lại hòa đàn, vẫn góp ý những đề án để bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc, vẫn tổ chức những buổi giao lưu, giới thiệu văn hóa Việt tại tư gia. Thầy vẫn là “người truyền lửa”, người đứng phía sau, hỗ trợ và khuyến khích những người học trò có năng lực, có tâm huyết đi theo con đường vinh danh văn hóa Việt. Những lúc đó, chúng con thấy Thầy vẫn tràn đầy nội lực. Sự uyên thâm về kiến thức; sự điêu luyện ở cách diễn giải; sự hào hứng, sôi nổi toát ra từ nét mặt, giọng nói vẫn ngự trị trong tâm hồn và thể xác của một “lão sư” trên 90 tuổi.

Thầy từng nói lên tâm nguyện của mình là căn nhà sau này sẽ được giữ lại để làm “nhà lưu niệm, nhà bảo tàng” để những ai yêu quý âm nhạc Việt Nam, yêu quý Thầy có thể đến thăm. Thầy ước mong rằng tro cốt của Thầy sẽ được để ở nơi đây, để mỗi lần ngôi nhà sáng ánh đèn của các cuộc đàn ca tài tử thì Thầy vẫn có thể cùng vui với mọi người. Thầy thường cười lớn khi nhắc nhở rằng: Thầy là một người nghệ sĩ, Thầy muốn các con nhớ đến Thầy với hình ảnh một ông già ngồi xe lăn nhưng vẫn lạc quan yêu đời, một người nghệ sĩ tuổi đã cao nhưng trái tim yêu nhạc dân tộc mãi còn trẻ trung.

Tiếng đàn tri âm…

Là một nhà nghiên cứu, Thầy đã sắp xếp công việc cũng như cho cuộc hành trình ra đi mãi mãi của đời mình một cách chu đáo. Thầy căn dặn gia đình đừng báo tin cho nhiều người biết trong lần vào bệnh viện mới đây.

Thầy không muốn mọi người lo lắng, còn chúng con thì vẫn tin rằng Thầy chỉ vào ít bữa rồi lại ra như bao lần trước. Rồi Thầy lại có thể ngồi trên chiếc xe lăn quen thuộc đi từng nơi, giới thiệu những cái hay cái đẹp trong âm nhạc Việt Nam, truyền ngọn lửa cháy bỏng từ trái tim mình đến bao thế hệ tiếp nối.

Ngay trong căn phòng bệnh viện, Thầy vẫn dành những giây phút hiếm hoi còn lại để chia sẻ những nỗi niềm suy tư trăn trở về văn hóa dân tộc, vẫn lên kế hoạch cho những chương trình kế tiếp, vẫn khuyến khích những người học trò của mình tiếp nối con đường vinh danh văn hóa Việt Nam mà Thầy theo đuổi trong suốt cuộc đời.

Nằm trên giường bệnh, bao quanh mình là hàng loạt máy móc khiến Thầy không thể tự do cử động, nhưng khi vừa tỉnh lại Thầy đã ra dấu cho biết muốn nghe tiếng đàn của nhạc sư Vĩnh Bảo. Mọi người vội tìm lại các CD lưu những bản hai Thầy từng đàn với nhau, đồng thời liên lạc với nhạc sư. Khi được báo tin, nhạc sư đã lập tức ngồi lên đàn, thu thanh hai bản và chuyển sang. Khi tiếng đàn còn thoảng bên tai Thầy thì nhạc sư đã lại ngồi thu âm và gửi sang nhiều khúc nhạc nữa.

Chúng con đã thật xúc động khi được nghe tâm sự của nhạc sư: “Ngày hôm nay, 10-6-2015, vào lúc 16g58 phút giờ Sài Gòn...”; “Hôm nay, ngày 11-6-2015, lúc 9g rưỡi sáng giờ Sài Gòn…“. “Nam xuân, Vĩnh Bảo đàn. Tặng cho GS.TS Trần Văn Khê đang bệnh. Mong rằng tiếng đàn Nam xuân này, xuất phát từ cái tâm, có thể có mãnh lực phi thường do ơn trên ban, để cho GS.TS Trần Văn Khê sớm bình phục, trở lại cuộc sống bình thường“.

Lời chúc thân thương và tiếng đàn mạnh mẽ của vị lão sư 98 tuổi như muốn truyền sang niềm tin yêu, động viên tiếp sức cho người bạn tri âm tri kỷ của mình. Chúng con đã mong muốn rằng phép lạ sẽ xảy ra như mọi lần để hai Thầy có thể thực hiện được lời hứa năm nào: “Dù cho vật đổi sao dời, chúng mình trăm tuổi vẫn ngồi bên nhau”.

Vậy mà…

Con xin kính cẩn thắp một nén hương cầu chúc cho Thầy ra đi thanh thản. Rồi đây căn nhà lưu niệm Trần Văn Khê – một địa chỉ thân quen cho những chương trình vinh danh văn hóa Việt – sẽ vắng bóng một con người uyên bác, tài hoa. Những cây đàn treo trên tường, kỷ niệm của nhiều chuyến đi, kỷ niệm của nhiều con người Thầy đã từng gặp gỡ, giờ đây nằm im lìm chịu sự phủ bụi của thời gian.

Nhưng Thầy ơi, ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc mà Thầy đã dùng cả cuộc đời mình để nhen lên và trao truyền cho nhiều thế hệ sẽ còn cháy mãi trong trái tim của những người còn nặng lòng với đất nước. Gia tài văn hóa Việt Nam sẽ mãi mãi ghi thêm vào đó tên một người con đã hiến dâng trọn cuộc đời mình vì sự nghiệp âm nhạc nước nhà.

Thầy ơi…

Học trò 
NGUYỄN THỊ HẢI PHƯỢNG

Giáo sư Trần Văn Khê từ trần

Sau gần một tháng bệnh nặng, mặc dù đã được bệnh viện và gia đình tận tình cứu chữa, chăm sóc nhưng do tuổi cao sức yếu, GS-TS Trần Văn Khê đã qua đời vào 2g55 sáng 24-6 (nhằm ngày mùng 9 tháng 5 năm Ất Mùi) tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, TP.HCM, hưởng thọ 94 tuổi.

Tang lễ của GS Trần Văn Khê được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gia đình cùng tổ chức.

Theo đúng di nguyện của giáo sư, linh cữu của ông sẽ được quàn tại nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, P.24, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Lễ viếng sẽ bắt đầu từ 12g trưa ngày 26-6-2015.

Lễ động quan được bắt đầu vào lúc 6g sáng ngày 29-6-2015.

Ngay sau lễ động quan, linh cữu sẽ được đưa đi hỏa táng tại nghĩa trang Hoa Viên Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tro cốt sẽ được đem về tư gia để mọi người thăm viếng.

GS-TS Trần Văn Khê sinh ngày 24-7-1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) trong một gia đình bốn đời là nhạc sĩ.

Sau khi hoàn thành xuất sắc chương trình tú tài vào năm 1941 tại Sài Gòn, Trần Văn Khê nhận học bổng của chính phủ thuộc địa ra Hà Nội học đại học y khoa (1941-1944). Từ năm 1944-1949, Trần Văn Khê vừa làm giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Cần Thơ, vừa làm ký giả báo Thần Chung và Việt Báo.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp với nhiệm vụ phóng viên, từ đó bắt đầu quá trình học tập và làm việc lâu dài tại Pháp. Ông đã tốt nghiệp Trường Chính trị Paris, khoa quan hệ quốc tế vào năm 1951. Tháng 6-1958, Trần Văn Khê trở thành người Việt Nam đầu tiên đậu bằng tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc tại Đại học Sorbonne hạng tối ưu với lời khen ngợi của hội đồng chấm thi cho luận án Âm nhạc truyền thống Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến âm nhạc cung đình Huế và âm nhạc tài tử miền Nam.

Từ sau khi đậu bằng tiến sĩ về âm nhạc học, Trần Văn Khê đã liên tục hoạt động và có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá âm nhạc dân tộc tại Pháp và hơn 20 trường đại học của các quốc gia trên thế giới. Ông đã có trên 200 bài viết về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc châu Á. Ông cũng đã thực hiện 25 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và vài nước châu Á để phổ biến trên thế giới. Ông cũng chính là cố vấn đặc biệt cho Ủy ban thành lập hồ sơ về đờn ca tài tử để gửi UNESCO.

Từ năm 2006, GS-TS Trần Văn Khê về ở hẳn trong nước. Chính quyền TP.HCM đã bố trí căn nhà 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh để ông sống, làm việc trong những năm cuối đời.

Nơi ở của ông gần 10 năm qua đã thật sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều người trong và ngoài nước với hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng về âm nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều loại hình đặc trưng cho các vùng miền, như: Ngẫu hứng trong âm nhạc truyền thống Việt Nam (Rao & đàn), Nghệ thuật ngâm thơ trong truyền thống Việt Nam, Nét đa dạng của đàn tranh Việt Nam, Âm nhạc cung đình Huế, Nhạc khí phương Tây trong đờn ca tài tử: làm giàu cho vốn cổ, Nghệ thuật đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ, Các loại đàn môi Việt Nam so sánh với đàn môi trên thế giới…

GS-TS Trần Văn Khê đã được tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng của thế giới và 
Việt Nam.

Q.N.

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 7 năm 2015)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 10:58 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 7 năm 2015.

CÙNG BẠN ĐỌC

Chúng tôi vui mừng thông báo với các bạn là: tính đến 6:10 ngày 26/6/2015 đã có tới 1.673.338 lượt người truy cập blog của chúng ta; ngày đông nhất lên tới 10.005 lượt người  là ngày 30/4/2011. Bài  được truy cập nhiều nhất là Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế của Phạm Tôn với 62.763 lượt người, bài thứ nhì là Chuyện 16 con người năm Ất Dậu ấy của Lê Minh Khuê với 33.389 lượt người, bài thứ ba là  Đôi lời về những ý kiến khác nhau về Thượng Chi – Phạm Quỳnh của Blog PhamTon với 31.685 lượt người, bài thứ tư là Vì sao Phạm Khuê viết được ngay bức thư gửi cụ Hồ của Blog PhamTon với 23.217 lượt người, bài thứ năm là Nguyễn Mạnh Tường – Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu của giáo sư Phong Lê với 22.538 lượt người, bài thứ sáu là Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Đức Thuận với 20.507, bài thứ bảy là Lịch sử đôi khi trớ trêu như vậy đó của Nguyễn Văn Khoan với 19.683 lượt người, bài thứ tám là Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc – Kỳ 1 của Xuân Ba với  18.835 lượt người, bài thứ chín là Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn với 17.822 lượt người, bài thứ mười là Chúng tôi đã sống như thế: Mang con đi học với 17.260 lượt người. Các bài khác lần lượt là Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam của Phạm Quỳnh (16.605), Trường hợp Phạm Quỳnh: Một cuộc bút chiến làm rầm lên của Thanh Lãng (16.478), Vài ý kiến về quan điểm phê bình mới của ông Nguyễn Văn Trung của Song Thai (16.064), Phạm Quỳnh, một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc của Nguyễn Thúc Chuyên (14.363), Trường hợp Phạm Quỳnh: Thực ra chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì “theo Tây” của Thanh Lãng (13.863), Những bước chân du ký Phạm Quỳnh của Hiền Đỗ (13.198), Chúng tôi đã sống như thế: Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ của Nguyễn Ánh Tuyết (13.178), Điện Biên Phủ 60 năm kỷ niệm sâu sắc trong lòng người cháu dâu Phạm Quỳnh: Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ – 1954 (13.033).

Chúng tôi nhận nhiều điện thoại, email của các bạn gửi đến động viên, góp ý với blog.

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã đọc và góp bài, tin, ý kiến xây dựng blog của chúng ta ngày càng lớn mạnh hơn.

Blog PhamTon

Tháng 7/2015

Địa chỉ liên lạc của chúng tôi là:

PHẠM TUYÊN: N2 P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội

Điện thoại: (+84) – 4 – 3832 5283     Mobile: (+84) – 913 043 580

Email: phamtuyen1930@yahoo.com.vn

TS NGUYỄN VĂN KHOAN (Hội Khoa học Lịch sử  Việt Nam): 02 Ngõ 219/18 Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội – Điện thoại: 090.4567.554

Hoặc

PHẠM TUÂN 14917 Village Gate Drive Spring, M.D. 20906 – USA

Email: tuanguyenph@verison.net

Hoặc

TÔN THẤT THÀNH: 82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM

Điện thoại: (+84) – 8 – 3848 0803       Mobile: (+84) – 128 358 2998

Email: thanh.phamton@gmail.com

 

 

Vô Duyên – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 1:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 1 tháng 7 năm 2015.

KVCT——*BÀI SỐ 5 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

5.- VÔ DUYÊN

(Bài đã có số lượt truy cập tính đến nay lên tới 11.776 lượt)

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Đây là bài đã lên Blog PhamTon tuần 1 tháng 11 năm 2009. Tính đến 19/9/2012 đã có 11.577 lượt người truy cập. Xin mời các bạn đọc và suy nghĩ xem vì sao bài lại được đông đảo bạn đọc đến như vậy.

—o0o—

Muốn biết vô duyên thế nào, phải hiểu có duyên làm sao. Có duyên, vô duyên, cửa miệng người ta thường nói đến luôn, mà giải nghĩa cho rõ, thật không phải dễ.

Có duyên, vô duyên theo nghĩa thông thường là may và không may. Có duyên là may mắn, vô duyên là rủi ro. Những mà phân tích cho kỹ, ý nghĩa nó còn ba lan (Như sóng, khi lên khi xuống – PT chú) rộng rãi hơn nhiều, và cũng có vẻ thiết tha thâm trầm lắm nữa.

Chữ duyên (Nguyên tác có ghi chú chữ Hán- PT chú) là chữ Hán, mà lại là chữ Phật. Nhưng cái nghĩa có duyên, vô duyên như trong tiếng ta, Hán văn ít thấy dùng. Vậy cái quan niệm duyên, vô duyên đó, có thể cho là đặc biệt nhuộm màu Việt Nam.

Duyên là nhân duyên, là cái giây (Nay thường viết là dây – PT chú) liên lạc nhân với quả, quả với nhân, trong cái vòng nhân quả vô cùng tận nó giàng (Nay thường viết là ràng – PT chú) buộc muôn loài muôn vật trong cõi trần gian. Cuộc đời là một mớ nhân duyên rất chặt chẽ, một mối quan hệ rất phức tạp. Nhất thiết sự vật đều có tương quan tương hệ với nhau cả. Không có một sự vật gì xảy ra mà không có nhân duyên, không có quan hệ với sự khác vật khác, không do một căn duyên nào mà ra, không bởi một cơ duyên nào mà tới, như có một cái giây vô hình nó buộc với mọi sự vật khác. Theo thuyết định mệnh của nhà Phật mà cả của nhà Nho nữa, người ta châu tuần trong vòng nhân quả hay lý số, đều có một cái số phận hay duyên phận đã định từ trước, nếu thuận theo duyên số đó thời mọi sự xong xuôi yên ổn, nếu trái lại duyên số đó thời mọi điều trắc trở khó khăn.

Vậy thời lấy nghĩa rất rộng mà nói, có duyên là nhất thiết thuận theo dòng nhân quả tự nhiên như có cái bản năng hay cái linh tính nó dẫn đưa run rủi, khiến cho nhất quan nhất niệm, nhất cử nhất động đều là thích hợp với cơ vi mầu nhiệm, nhịp nhàng với vận điệu thiên nhiên dường như muốn sao được vậy, “đáo xứ giai xuân” (Bất kể nơi nào đến cũng là mùa xuân – PT chú) trời chiều người chuộng may mắn lạ lùng.

Nếu là người tài giỏi khôn ngoan, mà lại có duyên may mắn như vậy, thời thật là cái diễm phúc vô song ở đời. Nhưng cũng nhiều khi người tầm thường mà có duyên may như vậy, thời người đời cho là tốt số. “Tốt số hơn bố giàu” không cần phải phẩm bình, nghị luận gì nữa.

Ví cõi đời như một sân khấu lớn, cuột đời như một tấn tuồng to, do một sức mạnh thiêng liêng màu nhiệm, -là lý số (Lý học và số học trong nho, y, lý, số – vận mệnh – PT chú) hay là nhân duyên- đã dàn bày sắp đặt sẵn, thời mỗi người đều phải đóng một vai tuồng đã định sẵn: người có duyên là người đóng đúng cái vai mình phải đóng, – dù là trung thần, liệt nữ, hay là tướng cướp, đào điên, – nên nhẹ nhàng dung dị, lanh lợi dễ thương.Trái lại, người vô duyên là người ra đóng trò lộn vai sai lớp cả, hoặc là tự phụ mà miễn cưỡng, hoặc là bất lực mà lỗi làng, không những thất bại về phần mình, mà đến dở dang cả bài kịch nữa.

Lại ví cuộc đời như một cuộc hòa nhạc lớn, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng sáo, tiếng đàn, ngũ thanh bát âm hòa hợp mà tấu thành một khúc nhạc tuyệt luân, theo dịp điệu nhiệm màu của một nhạc công thần diệu; mỗi người ta là một tay đàn, tay sáo, người đánh trống, kẻ gõ sênh, phải cho thích hợp với bản đàn chung. Người có duyên là người theo đúng dịp, cho nên lưu loát dễ nghe. Người vô duyên là người lỗi dịp ngang cung, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho nên chướng tai khó chịu.

Ấy theo nghĩa thâm trầm về triết lý thời có duyên với vô duyên là thế: có duyên là thuận theo, mà vô duyên là trái ngược cái dịp thiên nhiên của sự vật; có duyên là có giây liên lạc trong vòng nhân quả, có mối tương quan trong cõi nhân duyên, vô duyên là trùng đứt mất giây liên lạc ấy, rối lộn mất mối tương quan ấy.

Có duyên là may mắn; đã là may mắn thời không phải bàn nói chi nữa: xấu cũng nên tốt, dở cũng ra hay.

Còn như vô duyên cũng có năm bảy đường: có kẻ bất tài mà vô duyên, tưởng lẽ tự nhiên là thế, nhưng nghĩ kỹ vô duyên không phải ở bất tài, không tất nhiên bởi bất tài; bất tài mà yên phận thời dẫu không có duyên cũng không đến nỗi nào; chỉ vì bất tài mà không yên phận, không tự lượng, lại tự phụ chống chỏi với số phận, không có duyên mà miễn cưỡng cho có phận, thời bất tài mới thành ra vô duyên, mà đã vô duyên thời dễ sinh cho người chán.

Có kẻ hữu tài mà vô duyên:

Hữu tài thường nỗi vô duyên lạ đời!

Là có làm sao vậy? Cớ sao người có tài lại thường không có phận, và “chữ tài liền với chữ tai một vần”? Lại cớ sao người có sắc cũng như người có tài:

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành, cũng cùng chung một số phận không may như vậy?

Cái đó bất công quá, khiến cho ta phải trách ông Tạo-Vật là ghen kẻ sắc tài.

Nhưng mà “hữu tài” mà “vô duyên”, nghĩ kỹ có lẽ cũng không phải là chuyện “lạ đời” chi. Kẻ có tài thường cậy tài, người có sắc thường hay cậy sắc; có tài có sắc là có cái hơn người, hơn người mà biết rằng hơn người, dễ sinh lòng tự cao tự phụ. Nếu cái bí quyết màu nhiệm ở đời là thuận theo dịp điệu thiên nhiên của sự vật, không phá vòng nhân quả mà biết giữ mối tương quan thời kẻ hữu tài là người thường không có sẵn lòng thuận nhận như thế, muốn cậy ở tài mình mà can thiệp vào sự vật, thay đổi xoang điệu (Cái điệu của bản nhạc – PT chú), xáo lộn nhân duyên, đoạn tuyệt quan hệ, tự hào rằng: “nhân định thắng thiên” là thường. Nhưng “nhân định” có bao giờ “thắng thiên” được. Bởi thế nên thất bại; thất bại vị chi là vô duyên.

Nhưng vô tài mà vô duyên, dễ sinh cho người chán; hữu tài mà vô duyên dễ khiến cho người thương.

Cho nên lòng người vẫn sẵn mối liên tài (Thương người có tài mà không gặp vận tốt – PT chú); liên tài là thương cho người tài mà vô duyên vậy.

Nay vô tài mà vô duyên, muốn khỏi khiến cho người chán, chỉ nên thủ thường yên phận, đừng để cho người đời để ý đến mình làm chi, tự cam tâm chìm đắm trong đám quần chúng vô danh, thế là hơn cả.

Còn những người hữu tài mà vô duyên, cũng chẳng nên để cho thiên hạ thương tiếc làm chi, chẳng hay gì cho mình, mà cũng vô bổ cho đời. Đã không có duyên với đời, thời nên đoạn hẳn trần duyên, lánh xa cõi đời, mà đem mình gởi nơi am thanh cảnh vắng, để di dưỡng tính tình. Nếu quả có tài cao lỗi lạc thời tài ấy không bị miễn cưỡng làm vật trao đổi với đời nữa, sẽ nhờ cảnh tịch mịch mà phát triển được hoàn toàn.

Đạo Phật là nơi lánh mình thích hợp nhất cho hạng người đó.

Vo duyen

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Lạ lùng một cuốn sách dở dang

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 7 năm 2015.

LẠ LÙNG

MỘT  CUỐN SÁCH DỞ DANG

Nguyên Ngọc

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang của Nguyên Ngọc mới lên Blog PhamTon tuần 1/2/2012. Tính đến ngày 19/9/2012 đã có 10.521 lượt người truy cập.

—o0o—

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn vừa ấn hành 2000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Mở đầu tập sách 222 trang là bài viết này của nhà văn Nguyên Ngọc.

Nhà văn Nguyên Ngọc là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, những bút danh khác là Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim, tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5-11-1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, xin gia nhập quân đội, tốt nghiệp Trường Lục Quân Khu V. Hầu hết thời gian 1951-1954, hoạt động ở vùng Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên Khu V bấy giờ. Chính điều đó đã dẫn đến thành công của tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (1956), được tặng giải nhất về tiểu thuyết trong Giải Thưởng Văn Học 1954-1955 của Hội nhà Văn Việt Nam. Sau đó, cho in Mạch nước ngầm (1960) và tập truyện ngắn Rẻo cao (1961). Năm 1962, trở lại Tây Nguyên và Quảng Nam, ông tiếp tục sáng tác với bút danh Nguyễn Trung Thành. Năm 1969, có tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc nổi tiếng với truyện ngắn Rừng xà nu và tùy bút Đường chúng ta đi. Năm 1971 và 1974, phần 1 và 2 tiểu thuyết Đất Quảng, 2000 có ký sự – kịch bản phim Có một con đường mòn trên biển Đông (NXB Trẻ), 2002 Cát chảy  (NXB Trẻ), 2006 Lắng nghe cuộc sống (NXB Văn Nghệ) và Nghĩ dọc đường (NXB Văn Nghệ) ra mắt bạn đọc…

Sáng tác của Nguyên Ngọc không nhiều về số lượng, nhưng gây được ấn tượng mạnh với người đọc. Ông nhận thức rõ ràng về những hạn chế mang tính lịch sử của một thời đã qua để hướng tới sự đổi mới, đó chính là kết quả của sự nhạy cảm trong tư tưởng của nhà văn. Ông nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Dịp nhà xuất bản Tri ThứcTrung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây tổ chức buổi ra mắt bản dịch Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Phạm Quỳnh, nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Đầu thế kỷ XX, chúng ta đã có những người khổng lồ như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi. Không phải mọi kiến giải của họ đều đúng đắn, nhưng những vấn đề họ đặt ra đến nay vẫn còn tính thời sự”.

Chúng tôi xin mời  các bạn đọc nguyên văn bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang như sau:

*

*    *

Cuốn sách này của Thượng Chi Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (mười một bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn vỏn vẹn một trang; và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền… Tôi đối với Truyện Kiều, Truyện Kiều đối với tôi – hay là có thể nói, tôi đối với cô kiều, cô Kiều đối với tôi…” Kiều với Đạm Tiên, một hội một thuyền. Phạm Quỳnh với Kiều, một hội một thuyền. Cả ba một hội một thuyền vậy! Đều “tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Nhưng Phạm Quỳnh không đổ lỗi cho trời, ông nhận lỗi về mình.

Ông viết những trang cuối cùng này ở nơi có tên là biệt thự Hoa Đường và tự gọi mình là “Thiếu Hoa Đường”, nương theo tên “Lão Hoa Đường” của danh nhân Phạm Quý Thích, “vị tiền bối chân Nho ôn hòa thuần túy” mà ông cho là ông đã dại dột không biết ứng xử cho bằng “Lão Hoa Đường sinh vào thời Lê Mạt Nguyễn sơ”, là đời loạn, tự biết “phận Nho quèn” không sao đương được với thời cục rối, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu Thiếu Hoa Đường này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, “chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nhà nho mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào!…”

Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta goi là “dấn thân”) ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết “Hoa Đường tùy bút”. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, có thể là một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm.

Ở giữa tập tùy bút này là một bài có vẻ lạc giọng so với những bài khác, với cái đầu đề trông rất thản nhiên, lối kể cũng rất thản nhiên, điềm đạm, dửng dưng nữa, “Chuyện một đêm và một ngày”. Ấy vậy mà cái đêm và cái ngày ấy, mồng 9 tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương – và Phạm Quỳnh chừng nào đó ở chính trung tâm của sự kiện chấn động ấy, sự kiện cắt ngang đứt phựt cuộc đời ông – và rộng hơn, chuẩn bị cho cả đất nước bước qua một trang hoàn toàn mới của lịch sử (chính trong cái một đêm và một ngày đó Trường Chinh dã viết Văn kiện quyết định “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”). Cuối bài ông có hứa: “… (Trong một đêm và một ngày ấy) đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường?” Như ta biết, cũng là một lời hứa ảo tưởng thôi, bởi cái lịch sử ông vừa nói đó nào có cho ông “có dịp”. Nó đã hất ông ra bên lề. Ở bên lề đó, ông bắt tay chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, những trang trông rời rạc này chính là chuẩn bị cho cuộc tổng kết ấy – tôi tin vậy, bởi hai lẽ: một người như Phạm Quỳnh, vốn sống đầy suy tư, vừa có cái chất nghệ sĩ chết người của cô Kiều, vừa dẫu đã quyết về vườn chắc hẳn vẫn chưa chịu hết trách nhiệm với xã hội và nhân quần, sau cuộc lăn lộn lấm lem mấy mươi năm trong vòng danh lợi đắng cay, ắt không thể không có điều muốn nói lại với đời, và trước hết với chính mình. Lại nữa, đọc kỹ xem, chừng rời rạc vậy mà vẫn có một nhất quán: hoặc bằng đôi ba chân dung cực ngắn mà cực tinh, rất cụ thể mà sức khái quát lớn – khiến ta không thể không nhớ những trang viết nổi tiếng Các tính cách (Les caracactères) của La Bruyère; hoặc súc tích đến chỉ vẹn một trang, mỗi câu như một châm ngôn – lại khiến ta nghĩ đến La Rochefoucault; hoặc cứ như xa xôi thâm trầm bàn về căn nguyên của con người và tính người khi ngẫm nghĩ về Keyserling…; mà hóa ra tất cả đều hướng về một điều rất quán xuyến ông viết ngay từ đầu thiên tùy bút dở dang này: “Thế thái nhân tình”. Một chuẩn bị tổng kết bi quan về cuộc đời, thói đời. “Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói vậy, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào… Dù có lạc quan gì về thế sự, thấy người đời trở mặt như bàn tay, xây lưng như chớp nhóng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ồ! Thói đời đen bạc đến thế ru?… Cho đến nỗi, tham sống vốn là bản năng hàng đầu của con người, nhưng rồi trải thói đời điên đảo, “người ta dù có mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai doạ hỏi: “Muốn sống thì…” thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không.

… Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?…”

Đối lại cái bi quan cùng cực đó, Phạm Quỳnh cố đưa ra hai lối thoát: Đạo đức, mà ông gọi là “Chỉ buộc chân voi”; “Nền nếp của gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân, phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn cái thị dục vô nhai của người ta, ngăn cái xuẩn động vô ý của quần chúng… Cho nên những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn tọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được…

Thứ nhất là kẻ có trách nhiệm trị dân trị nước, lại phải thận trọng lắm, và phải nhớ rằng một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy.”

Sâu sắc lắm, tha thiết lắm, nhưng mà liệu chính ông thật có tin, khi chính ông biết những sợi chỉ ấy là vô cùng mong manh, mà “con voi” cuộc sống thì vốn hung dữ quàng xiên. Và có khi “chỉ” cũng đã đứt rồi!

Phạm Quỳnh lại vận đến đạo Phật: “Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy…” Thâm thúy lắm, nhưng rồi chính ông cũng không kịp nếm được cái mùi an tịnh thâm trầm đó!

Cũng có khi ông cố tìm một con đường khác nữa: bàn về văn học và chính trị, ông bảo nhà chính trị nên có thêm văn học, bởi nhà chính trị “nếu quả có tài năng thời tài năng ấy nhờ văn học chắc cũng được cường hóa, thâm hóa thêm ra”. Nghe chừng không thuyết phục lắm, bằng cái đoạn “phản thuyết” sau đây: “Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ làm chính trị… thời đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem ra trưng bày nơi đầu đường góc chợ được…” Kinh nghiệm đau đớn của chính ông là một. Và ai cũng biết, xưa cũng như nay, không chỉ có một.

Như ta vẫn thấy, tổng kết sự đời của một người thành công thường nhạt. Có mấy tác phẩm lớn viết về những cuộc đời suôn sẻ đâu. Kinh nghiệm đời quan trọng và đáng giá nhất là của những người ngấm đau vì đời. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một người như vậy. Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang. Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy, mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm.

Tháng 8/2011.

Tháng Sáu 7, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 2 tháng 6 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 6 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 2/6/2015:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ

Chiều 1-6, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đoàn Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ do Bộ trưởng Quốc phòng A-stơn Ca-tơ dẫn đầu đang ở thăm Việt Nam.

Bộ trưởng Ca-tơ bày tỏ vui mừng lần đầu được đến thăm Việt Nam vào năm kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước; đánh giá cao Nguyen Phu Trong gap bo truong quoc phong Mynhững thành tựu phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đạt được trong thời gian qua cũng như vị thế và vai trò ngày càng tăng của Việt Nam tại khu vực và trên thế giới. Bộ trưởng Ca-tơ cho rằng, trên cơ sở quan hệ đối tác toàn diện thiết lập tháng 7-2013, hợp tác giữa hai nước đã đạt được nhiều tiến triển tích cực, kể cả trong lĩnh vực an ninhquốc phòng; khẳng định Hoa Kỳ coi trọng và mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, đồng thời tán thành sự cần thiết tăng cường trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của chuyến thăm Hoa Kỳ sắp tới của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Liên quan vấn đề an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực và những diễn biến gần đây ở Biển Đông, Bộ trưởng Ca-tơ thông báo cho Tổng Bí thư kết quả tham dự Diễn đàn Shangri-La tại Xin-ga-po vừa qua và tái khẳng định quan điểm ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao và trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ hài lòng về những phát triển tích cực trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước sau 40 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh và 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Tổng Bí thư khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư ghi nhận sự hợp tác của Chính quyền, Quốc hội và nhiều tổ chức, cá nhân Hoa Kỳ nói chung trong việc tham gia giải quyết hậu quả chiến tranh; đồng thời cũng hoan nghênh sự hợp tác của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ với Bộ Quốc phòng Việt Nam, trong đó có việc rà phá bom mìn, tẩy độc môi trường, hỗ trợ nhân đạo và tìm kiếm quân nhân mất tích. Tổng Bí thư nhấn mạnh, Hoa Kỳ cần nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực này nhằm tăng cường lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau, tạo cơ sở cho sự phát triển của quan hệ song phương, trong đó có lĩnh vực quốc phòng.

Tại cuộc tiếp, hai bên cũng đã trao đổi về một số vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

* Ngày 1-6, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp ngài A.Ca-tơ, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đến chào nhân chuyến thăm và làm việc đầu tiên tại Việt Nam.

(…)

Bộ trưởng Quốc phòng A.Ca-tơ cho biết, Tổng thống B.Ô-ba-ma mong chờ chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp tới, cho rằng, đây là chuyến thăm lịch sử trong quan hệ của hai quốc gia. Ngài A.Ca-tơ khẳng định, 20 năm qua hai bên đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhất là khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác toàn diện năm 2013, nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng thông báo về những thảo luận đối với lĩnh vực an ninh được hai bên hợp tác, vì hòa bình, ổn định tại khu vực. Danh sách các lĩnh vực hợp tác ngày càng phong phú phản ánh quan hệ tốt đẹp Hoa Kỳ – Việt Nam.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cho rằng, đó là những tín hiệu tích cực và thể hiện quyết tâm của Hoa Kỳ nhằm tăng cường hợp tác giữa hai quốc gia. Việt Nam và Hoa Kỳ có quan điểm tương đồng liên quan hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông; mong muốn Việt Nam cùng hợp tác với Hoa Kỳ, nhất là vấn đề Hoa Kỳ nêu ra liên quan Biển Đông, đồng thời sớm thảo luận trong thời gian tới.

* Sáng 1-6, tại Hà Nội, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng hội đàm với Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, do Ngài A-stơn Catơ, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ làm trưởng đoàn sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 31-5 đến 1-6. Cùng dự, có Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Quốc phòng.

(…)

* Sáng cùng ngày, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng để định hướng hợp tác song phương trên cơ sở bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương năm 2011, bao gồm hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, trao đổi đoàn, đối thoại, tham vấn, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, khắc phục thiên tai, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ, an ninh biển…

(…)

PV VÀ CTV

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 2/6/2015:

Đẩy mạnh hợp tác an ninh biển

Hôm qua 1-6, tại trụ sở Bộ Quốc phòng đã diễn ra lễ đón chính thức Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter thăm Việt Nam theo lời mời của đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngay sau lễ đón, hai bộ trưởng đã đồng chủ trì hội đàm diễn ra hơn một giờ.

Phát biểu với báo giới sau hội đàm, hai bộ trưởng cùng cho biTau canh sat bienết hai bên sẽ có những hoạt động thiết thực để làm sâu sắc mối quan hệ giữa quốc phòng hai bên. Bằng chứng của sự thống nhất này là hai bộ trưởng đã cùng ký kết Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng. Một trong những nội dung quan trọng mà hai bên cùng thực hiện trong thời gian tới là hợp tác an ninh biển trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật pháp của mỗi bên. Phía Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ chia sẻ những kinh nghiệm, thông tin và đào tạo cho nhân viên của lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam.

Đặc biệt, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ cam kết sẽ cung cấp gói 18 triệu USD cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam để mua một số tàu tuần tra. Hoa Kỳ cũng đang hỗ trợ Việt Nam xây dựng phát triển trung tâm huấn luyện gìn giữ hòa bình cho quân đội Việt Nam.  Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sẽ sớm cử một chuyên gia về gìn giữ hòa bình sang công tác thường trực tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội để làm việc và phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Bên cạnh đó, theo hai bộ trưởng, thời gian tới Việt Nam và Mỹ sẽ tăng cường các hoạt động để khắc phục hậu quả của chiến tranh như cung cấp và tìm kiếm các thông tin về quân nhân mất tích trong chiến tranh.

Lê Thanh

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/6/2015:

Đại hội toàn quốc lần thứ VII Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Sáng 3-6, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHCHKHVKTVN) tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2015 – 2020, với sự tham dự của 589 đại biểu đại diện cho 2,8 Hoi lien hiep khoa hoc viet namtriệu hội viên trong cả nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến. (…)

Báo cáo tổng kết và các ý kiến tham luận tại Đại hội nêu rõ, nhiệm kỳ vừa qua, LHCHKHVKTVN đạt những kết quả quan trọng; trở thành tổ chức có hệ thống từ Trung ương tới địa phương. Cuối năm 2014, LHCHKHVKTVN đã có 140 hội thành viên; 49 hội thành viên thành lập tổ chức đảng, đoàn. Trong nhiệm kỳ, LHCHKHVKTVN luôn chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất, tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách, các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế – xã hội quan trọng trước khi các cấp có thẩm quyền quyết định. Các hội thành viên tích cực và đi đầu trong việc truyền bá, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao tri thức của nhân dân.

(…)

Phát biểu ý kiến tại Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững (…).

Nhân dịp này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao Huân chương Độc lập tặng GS, TSKH Đặng Vũ Minh, tái đắc cử Chủ tịch LHCHKHVKTVN và TS Trần Việt Hùng, Phó Chủ tịch LHCHKHVKTVN nhiệm kỳ khóa VI.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 2/6/2015:

Làm nông nghiệp công nghệ cao ở Phúc Thọ

Bài, ảnh: Mai Vũ

Sau dồn điền đổi thửa, huyện Phúc Thọ hình thành những vùng chuyên canh chăn nuôi tập trung, rau an toàn, trồng lúa chất lượng cao và nhất là trồng cây hoa ly cho thu nhập hơn năm tỷ đồng/ha/vụ. Trừ các khoản chi phí, mỗi ha trồng hoa ly người dân thu lãi gần một tỷ đồng, gấp 60 lần so với trồng lúa. Nguồn lợi từ những mô hình nông nghiệp công nghệ cao làm thay đổi diện mạo của một vùng đất nghèo.

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới

(…)

Nhìn những cánh đồng hoa ly đang vào độ thu hoạch hứa hẹn một vụ mùa bội thu, khó ai có thể ngờ rằng nơi đây trước kia vốn là vùng phân lũ, chậm lũ của thành phố Hà Nội. Giờ thì mọi chuyện đã khác, từ khi bắt tay vào xây dựng NTM, đất và người PhúcNguoi dan huyen Phuc Tho trong hoa ly cho thu nhap cao Thọ đã có những bước chuyển mình tích cực. Nông nghiệp được phát triển theo hướng mở để mọi thành phần kinh tế đều có thể đầu tư tham gia vào sản xuất.

Nhờ đó, giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đã đạt 250 triệu đồng/ha, giá trị trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 115 triệu đồng/ha. Đặc biệt, mô hình trồng hoa ly với 6 ha tại các xã Xuân Phú, Thanh Đa, Tam Thuấn, Võng Xuyên cũng cho thu nhập gấp 60 lần so với trồng lúa. Điển hình như gia đình ông Nguyễn Văn Nghĩa, xã Tam Thuấn đã mạnh dạn đầu tư 300 triệu đồng trên diện tích 1,5 mẫu ruộng của nhà mình để trồng hoa ly. Ông Nghĩa cho biết: “Vụ hoa Tết Ất Mùi vừa qua, giá hoa ly được bán 30 nghìn đồng/cành, trừ chi phí gia đình ông thu lãi gần một tỷ đồng…”.

Ngoài ra, các vùng chăn nuôi tập trung cũng được phát triển với các trang trại gà, nuôi bò thịt, lợn thịt quy mô lớn, bằng thức ăn sinh học cho lãi cao, không chỉ góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người từ 23,2 triệu đồng/người/năm (năm 2013) lên 25,2 triệu đồng/người/năm (năm 2014) mà còn giảm tỷ lệ hộ nghèo trên toàn huyện xuống còn 2,41% (giảm 9,49% so với năm 2010).

Đây là kết quả đáng tự hào đối với một vùng đất còn nghèo như Phúc Thọ, nhưng đã có được hướng đi đúng trong phát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền tảng xây dựng nông thôn mới (NTM). Tính đến hết năm 2014, toàn huyện đã có 10 trong số 22 xã, thị trấn đạt chuẩn NTM và phấn đấu hết năm nay sẽ có thêm bảy xã đạt chuẩn NTM.

Nở rộ những mô hình điểm

Huyện Phúc Thọ có diện tích đất tự nhiên gần 12 nghìn ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn một nửa, cộng với 96% số dân chủ yếu sống ở nông thôn, nên phần lớn người dân Phúc Thọ lấy nông nghiệp làm kế mưu sinh.

Từ thực tế đầy khó khăn này, chính quyền và người dân địa phương xác định, phải bằng mọi cách vực dậy nền nông nghiệp, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng triệt để khoa học – công nghệ cao vào sản xuất nhằm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị đất canh tác.

Nhờ đó, huyện đã có nhiều mô hình điểm làm ăn có lãi. Điển hình như gia đình ông Vũ Văn Sáu, xã Vân Phúc đã đầu tư 400 triệu đồng xây dựng khu nhà màng rộng 1.000 m2 trồng rau sạch theo công nghệ của Hà Lan. Ông Sáu cho biết: “Trước đây trồng cà chua, rau xanh bằng phương pháp truyền thống phải mất 50 ngày mới cho thu hoạch, nay áp dụng công nghệ cao thời gian thu hoạch giảm xuống còn 35 ngày. Trừ chi phí gia đình ông thu lãi từ 12 đến 15 triệu đồng/lứa…”.

Ngoài gia đình ông Sáu, ông Nghĩa làm giàu từ trồng rau an toàn và trồng hoa ly cho thu nhập cao, các hộ dân tại xã Xuân Phú cũng mạnh dạn chuyển quỹ đất xấu, khó canh tác để xây dựng hai trang trại chăn nuôi gà và lợn giống.

Theo tính toán của các xã viên, chỉ tính riêng chăn nuôi gà, mỗi năm trang trại cung cấp theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp từ 5 đến 6 lứa gà/năm (mỗi lứa 5.000 con) cho thu lãi trung bình khoảng 500 triệu đồng/lứa.

(…)

  • Trang Thành phố Hồ Chí Minh báo Nhân Dân ngày 27/5/2015:

Nhà Bè “về đích” xây dựng nông thôn mới

Nhà Bè được xem là một trong số ít địa phương khó khăn nhất của TP Hồ Chí Minh nhưng đến thời điểm tháng 3-2015, 100% các xã xây dựng nông thôn mới (NTM) của huyện đã được công nhận hoàn thành 19/19 tiêu chí. Đến Nhà Bè hôm nay, ngắm bộ mặt khang trang của huyện nghèo, khiến không ít người cảm thấy ngạc nhiên, khâm phục…

(…)

Đại hội Đảng bộ huyện Nhà Bè lần thứ 10 (nhiệm kỳ 2010 -2015) đã đưa nội dung xây dựng NTM vào một trong ba Chương trình trọng điểm của huyện. Trên Luu luong vu trang tham gia lam duong giao thongcơ sở đó, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã xây dựng thí điểm mô hình NTM ở xã Nhơn Đức và triển khai nhân rộng tại tất cả các xã còn lại.

Để triển khai thực hiện đạt kết quả như mong muốn, theo đồng chí Phạm Minh Huấn (Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy), công tác tuyên truyền rất quan trọng để người dân hiểu, ủng hộ chương trình. Năm năm qua, huyện đã tuyên truyền hơn 688 cuộc với hơn 43 nghìn lượt người tham dự; phát thanh với thời lượng hơn 1.500 phút về xây dựng NTM trên đài truyền thanh của các xã. Huyện đã phối hợp với Chi cục Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh) đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về xây dựng NTM cho 504 lượt cán bộ, đảng viên; cử cán bộ xã, huyện và người dân tham gia các đợt khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm ở địa phương khác, qua đó giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức, người dân có kiến thức, kinh nghiệm và chủ động hơn trong việc thực hiện chương trình xây dựng NTM. “Công tác luân chuyển cán bộ và bố trí cán bộ trẻ có đủ năng lực và trình độ đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong xây dựng NTM, phát huy được tính sáng tạo và thực hiện tốt kế hoạch, đề ra những giải pháp, công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả các công trình đầu tư trên địa bàn”, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Phạm Minh Huấn cho biết thêm.

Nhờ phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên cùng với tinh thần chịu khó đeo bám, kiên trì vận động nên đến cuối năm 2014, toàn huyện Nhà Bè đã có 496 hộ dân hiến hơn 24 nghìn m2 đất phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội (trị giá hơn 105 tỷ đồng). Để tránh bị động, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM huyện Nhà Bè đã chỉ đạo các xã tiến hành trước các thủ tục đầu tư, vận động nhân dân hiến đất, chứ không chờ đến khi các đề án được phê duyệt mới bắt đầu vận động. Nhờ vậy mà đến nay, có tổng cộng 64 công trình giao thông nông thôn đã được đầu tư xây dựng tại các xã NTM, bao gồm 56 tuyến đường trục xã, liên xã, ấp, các tuyến giao thông nội đồng (tổng chiều dài 43.419 m) và xây mới, sửa chữa tám cây cầu.

Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Nhà Bè Nguyễn Văn Lưu cho biết: “Các công trình được đầu tư xây dựng đã góp phần làm thay đổi diện mạo của địa phương, tạo thuận lợi cho người dân trong việc đi lại, học tập, vận chuyển hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tạo thuận lợi cho huyện để thực hiện các chương trình trọng điểm khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân như chương trình cấp nước sạch, chương trình tái định cư… ”.

Thời điểm này, tại Nhà Bè có 22 công trình đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng gồm 17 tuyến rạch, năm mương hở và cống hộp đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nuôi trồng thủy sản và dân sinh của người dân trên địa bàn huyện. Huyện đã tập trung phát triển hệ thống điện chiếu sáng (dân lập), cung cấp cho 100% số hộ dân sử dụng điện an toàn trong sinh hoạt và sản xuất.

Đến nay, 6/6 xã ở Nhà Bè đều có trường mầm non, trường tiểu học và trung học cơ sở. Trong giai đoạn 2010-2015, huyện đã đầu tư thực hiện 14 công trình trường học các cấp; giúp học sinh có nơi học tập tốt hơn so với trước. Nhà Bè còn xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa hai trung tâm văn hóa thể thao xã, 21 văn phòng ấp kết hợp tụ điểm sinh hoạt văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân địa phương.

Nhà Bè hiện nay còn có chín chợ, hai siêu thị, ba cửa hàng Coop-food hoạt động và hơn 100 điểm truy cập in-tơ-nét… giúp người dân mở mang kiến thức, sử dụng công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày cũng như phát triển sản xuất. “Một con số mà tất cả người dân Nhà Bè đều tự hào là trong tổng kinh phí thực hiện xây dựng NTM lên đến hơn 2.312 tỷ đồng, phần ngân sách thành phố chiếm 49,96% và vốn huy động từ cộng đồng (nhân dân, doanh nghiệp… ) chiếm 50,04%. Con số này thể hiện ý thức, trách nhiệm và tấm lòng của cán bộ, đảng viên và toàn thể người dân Nhà Bè trong chương trình xây dựng NTM”, Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Lưu tâm đắc cho biết thêm như vậy.

DƯƠNG MINH ANH

  • Tin trang Hà Nội báo Nhân Dân ngày 27/5/2015:

Tây tựu phát triển nghề trồng hoa bằng công nghệ cao

Sau ba năm hoàn thành xây dựng nông thôn mới, nhất là sau hơn một năm chuyển từ xã lên phường, diện mạo của phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm có nhiều thay đổi tích cực. Tuy nhiên, khó khăn lớn đối với Tây Tựu trong thời gian tới là diện tích trồng hoa bị thu hẹp, ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp vốn là thế mạnh của địa phương. 

Từ nhiều năm nay, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, nay là phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm là vựa hoa lớn của thành phố. Nhiều loại hoa mới du nhập vào nước ta, có mầu sắc đẹp, giá trị kinh tế cao như hoa ly, đồng tiền, cúc, hoa hồng… đã được người dân Tây Tựu canh tác thành công, trở thành cây trồng thế mạnh của địa phương. Tuy nhiên, do phát triển thiếu quy hoạch, nghề trồng hoa phát triển ồ ạt tại nhiều địa phương khác dẫn đến nguồn cung lớn, giá cả Tay Tuu phat trien nghe trong hoabấp bênh. Sản phẩm thường bị thương lái ép giá, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, thậm chí không ít người bị thua lỗ. Phó Bí thư Chi bộ 5, Chủ nhiệm HTX nông nghiệp Nguyễn Khắc Nhương cho biết, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ chuyên canh rau màu sang trồng hoa đã giúp Tây Tựu phát triển nhanh chóng, toàn diện. Cây hoa có giá trị, hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, rau màu. Nhờ trồng hoa, đời sống vật chất của người dân được nâng cao. Từ năm 2010, người dân Tây Tựu mạnh dạn đi đầu phát triển hoa ly đã đem lại giá trị kinh tế cao. Hoa ly được mệnh danh là “cây làm giàu” của người dân. Chỉ sau một, hai vụ trồng hoa ly, nhiều gia đình “đại thắng”, thu lãi từ vài trăm triệu đồng đến một, hai tỷ đồng. Người người trồng hoa ly, nhà nhà trồng hoa ly. Nhiều gia đình còn thuê đất tại các địa phương khác để trồng ly. Nhưng đến năm 2014, 2015, do nguồn cung hoa ly quá lớn và một số người dân không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, chất lượng hoa giảm sút, giá cả liên tục xuống thấp. Nhiều gia đình thua lỗ nặng. Vì thế, người dân rất mong muốn trong thời gian tới được theo học các lớp tập huấn kỹ thuật trồng hoa, kỹ thuật cải tạo lại đồng đất bạc màu, không phải đi thuê đất tại các xã bạn để chủ động trồng nhiều loại hoa có giá trị kinh tế cao, làm giàu trên đồng đất quê hương.

Theo báo cáo của Đảng bộ phường Tây Tựu tại Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020 vừa được tổ chức ngày 14-5, diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn phường từ gần 320 ha vào năm 2010, nay chỉ còn hơn 305 ha, do thu hồi đất thực hiện dự án. Mặc dù vậy, Tây Tựu vẫn xác định nông nghiệp, trong đó phần lớn diện tích dành để trồng hoa vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, chiếm tỷ trọng hơn 40% trong cơ cấu kinh tế địa phương. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 650 triệu đồng/ha, bình quân thu nhập đầu người đạt gần ba triệu đồng/tháng, tương đương gần 35 triệu đồng/năm. Không chỉ toàn bộ số lao động tại địa phương có việc làm ổn định, mà hằng ngày Tây Tựu còn thu hút từ 200 đến 300 lao động các địa bàn lân cận đến làm việc. Nông nghiệp phát triển mạnh cũng thúc đẩy lĩnh vực thương mại, dịch vụ phát triển theo. Tây Tựu là địa phương dẫn đầu thành phố Hà Nội hoàn thành xây dựng nông thôn mới ngay từ cuối năm 2012. Cho đến nay, số hộ dân khá, giàu của Tây Tựu đạt gần 70%, khoảng 30% số hộ dân có thu nhập trung bình và hộ nghèo chỉ còn dưới 2%. Bên cạnh kết quả đạt được, trong thời gian qua Tây Tựu vẫn còn một số vấn đề cần khắc phục như vệ sinh môi trường, nhất là việc lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng còn lỏng lẻo…

Khó khăn lớn nhất đối với Tây Tựu trong thời gian tới là tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, dẫn đến diện tích đất nông nghiệp sẽ tiếp tục bị thu hẹp, nhường chỗ cho các dự án. Người dân sẽ thiếu đất trồng hoa. Phó Bí thư Đảng ủy phường Tây Tựu Lê Văn Việt cho biết, trong những năm tới nông nghiệp vẫn được xác định là thế mạnh của địa phương. Tuy nhiên, để phù hợp với hướng phát triển đô thị, phường sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có chất lượng cao phục vụ thị trường Hà Nội và từng bước xuất khẩu. Sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, nông nghiệp sạch, tăng thu nhập cho người dân và bảo đảm vệ sinh môi trường. Phường sẽ tập trung đầu tư áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ, tạo điều kiện để nhân dân làm nhà lưới trồng các loại hoa mới, cao cấp; tiếp tục đầu tư hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng. Cùng với đó, sẽ khuyến khích người dân phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp như nghề mộc, nghề cơ khí, xây dựng…

Bí thư Quận ủy Bắc Từ Liêm Lê Văn Thư nhấn mạnh thêm, về định hướng quy hoạch, Tây Tựu sẽ phát triển theo hướng đô thị. Diện tích đất trồng hoa sẽ chỉ còn khoảng 100 ha, sản lượng hoa sẽ giảm mạnh. Vì thế, cần gắn sản xuất những loại hoa có giá trị kinh tế cao với việc phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch sinh thái. Gắn phát triển kinh tế với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của địa phương. Đặc biệt, cần phát huy thế mạnh nghề trồng hoa, để phát triển thành trung tâm quảng bá, giao dịch các sản phẩm về hoa, biến Tây Tựu trở thành đầu mối phân phối hoa lớn của cả nước.

MINH VÂN

  • Bài trang 8 báo Nhân Dân ngày 3/6/2015:

Đột phá trong đổi mới thi tuyển sinh

Xuân Kỳ

Cuối giờ chiều 2-6, thí sinh dự kỳ thi đánh giá năng lực để xét tuyển vào Ðại học Quốc gia Hà Nội (ÐHQGHN) hoàn thành ca thi cuối, kết thúc đợt một kỳ thi. Ðây là kỳ thi hoàn toàn khác với truyền thống, được coi là đi tiên phong trong quá trình đổi mới thi tuyển sinh hiện nay.

Tiếp cận phương pháp tiên tiến trên thế giới

Ðiểm mới căn bản của kỳ thi là thí sinh dự tuyển vào ÐHQGHN sẽ tham gia làm bài thi đánh giá năng lực được tổ chức vào hai đợt: Cuối tháng 5 và đầu tháng 8. Bài thi được thực hiện trên máy tính, mỗi thí sinh làm một đề thi riêng do máy tính tổ hợp từ bộ cơ sở dữ liệu đề nguồn. Ðề thi bao gồm hai phần trắc nghiệm: Bắt buộc và tự chọn. Trong đó, phần bắt buộc gồm hai phần: Tư duy định lượng (kiến thức Toán) gồm 50 câu hỏi và tư duy định tính (kiến thứDot pha trong thi tuyen sinhc Ngữ văn) gồm 50 câu hỏi. Phần tự chọn: Thí sinh chọn một trong hai nội dung: Kiến thức Khoa học Tự nhiên (gồm: Vật lý, Hóa học, Sinh học); kiến thức Khoa học Xã hội (gồm: Lịch sử, Ðịa lý, Giáo dục công dân). Ðộ khó của các câu hỏi thi thuộc mỗi phần được phân định theo tỷ lệ: 20% ở cấp độ dễ, 60% ở cấp độ trung bình và 20% ở cấp độ khó. Tổng số câu hỏi thí sinh phải thực hiện là 140 câu, tổng thời gian làm bài là 195 phút. Cơ cấu kiến thức trong phần thi bắt buộc được phân bổ gồm: 10% kiến thức trong chương trình lớp 10; 20% kiến thức trong chương trình lớp 11; 70% kiến thức trong chương trình lớp 12. Thí sinh lần lượt làm hết phần thi bắt buộc, sau đó làm phần tự chọn, mỗi câu trả lời đúng được một điểm với tổng điểm toàn bài là 140. Ngay khi kết thúc bài làm, thí sinh sẽ biết được điểm bài thi của mình.

Theo Ban Chỉ đạo tuyển sinh ÐHQGHN, mô hình tuyển sinh theo hướng đánh giá toàn diện, phổ biến ở những nơi có nền giáo dục tiên tiến như châu Âu, Bắc Mỹ, Ðông Á… Những trường đại học danh tiếng thường áp dụng tuyển sinh theo hướng đánh giá năng lực. Trong khi đó, ở nước ta, thi theo hình thức đánh giá năng lực toàn diện phù hợp với tinh thần Nghị quyết 29-NQ/T.Ư về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo (GD và ÐT). Phó Giám đốc ÐHQGHN Nguyễn Kim Sơn cho biết, với vai trò nòng cốt và tiên phong trong đổi mới hệ thống giáo dục đại học, ÐHQGHN đã có những bước đi đột phá trong công tác tuyển sinh đào tạo. Ðánh giá năng lực toàn diện là phương thức tuyển sinh tiên tiến, được áp dụng ở nhiều nền giáo dục lớn trên thế giới nhằm bảo đảm lựa chọn được những ứng viên có năng lực học tập, tư duy lô-gích, khả năng lập luận, phân tích kiến thức tổng hợp. Phương thức tuyển sinh này đã được ÐHQGHN thí điểm trong một số chuyên ngành sau đại học từ năm 2011 đến nay. Kỳ thi đánh giá năng lực được ÐHQGHN thực hiện theo đặt hàng của Bộ GD và ÐT trong lộ trình đổi mới thi và đánh giá học sinh. Kỳ thi không chỉ có ưu điểm là một bài thi chuẩn hóa, mà còn giúp thí sinh tăng cơ hội vào đại học.

Thí sinh đánh giá tích cực cách thi mới

Theo thống kê của ban chỉ đạo tuyển sinh ÐHQGHN, trong đợt một thi từ 30-5 đến 2-6, có 45.350 thí sinh đăng kư dự thi. ÐHQGHN đã bố trí, sắp xếp 21 điểm thuộc chín cụm thi khác nhau (gồm Hà Nội có ba cụm thi; Thái Nguyên, Nam Ðịnh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Ðà Nẵng mỗi nơi có một cụm thi). Ðợt một chia làm tám ca thi, mỗi thí sinh dự thi trong một ca. ÐHQGHN đã huy động số lượng 7.497 máy tính phục vụ thí sinh làm bài (trong mỗi phòng thi đều có số lượng 5% đến 10% máy tính dự phòng). Kết quả, sau tám ca thi, số thí sinh đến dự thi đạt 96% so với tổng số thí sinh đăng kư. Ðây là tỷ lệ thí sinh đến dự thi tuyển sinh vào ÐHQGHN cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Ðiều đó cho thấy kỳ thi đánh giá năng lực của ÐHQGHN theo phương thức mới đã được xã hội hưởng ứng cao. Theo Phó Giám đốc Nguyễn Kim Sơn: Ðiểm đáng mừng nhất của kỳ thi là phần mềm đã hoạt động tốt. Việc tổ chức thi, bộ đề thi, hệ thống phần mềm… có thể áp dụng trên diện rộng với số lượng thí sinh lớn hơn. Tỷ lệ dự thi cao so với đăng kư cùng với việc thí sinh làm bài thi nghiêm túc, thích ứng với cách thi mới trên máy tính cho thấy sự quan tâm của thí sinh đối với cách thức thi đánh giá năng lực của ÐHQGHN. Việc coi thi đã khác căn bản cách thi truyền thống, nhưng không có sự cố nào xảy ra. Ðây là bước đi căn bản đầu tiên trong việc đổi mới thi tuyển sinh.

Nhiều thí sinh dự thi đều cho biết quá trình thi trên máy tính không gặp trục trặc hoặc có sự cố thì đã có máy dự phòng, khắc phục kịp thời. Các thí sinh tỏ ra khá hào hứng với cách thi mới. Thí sinh Vũ Hương Sen, học sinh Trường THPT Bến Tắm (Chí Linh, Hải Dương) cho biết: Cách thức thi trên máy tính yêu cầu thí sinh phải nắm được kiến thức tốt và bao quát toàn diện vấn đề. Kỳ thi này sẽ giúp em có thêm kinh nghiệm trong kỳ thi THPT quốc gia sắp tới. Thí sinh Vương Thanh Tú, Trường THPT Thăng Long (Hà Nội) thì chia sẻ: “Do được làm quen với đề thi mẫu nên em không gặp khó khăn trong quá trình làm bài. Trong đề thi có nhiều câu hỏi mở cho nên thí sinh cũng dễ đạt được điểm số cao. Do vậy, cơ hội trúng tuyển của thí sinh sẽ nhiều hơn. Quy trình hợp lý, dễ thao tác, em không gặp khó khăn nào trong buổi thi, em nghĩ kết quả của mình khá tốt. Với bài thi này em được 106 điểm”. Trong khi đó, thí sinh Trần Minh Tâm, học sinh Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội) cho biết: “Cách thức tổ chức thi này rất hay do có thể đánh giá sát khả năng học sinh. Ðây là lần đầu trải nghiệm nhưng em thấy đề thi đánh giá khá đa dạng kiến thức của mình, yêu cầu mình phải học trải đều ra chứ không tập trung vào ba môn như trước đây”. Thí sinh Nguyễn Ái Thanh, Trường THPT chuyên Vĩnh Phúc nhận xét: “Ðề ra khá đúng để đánh giá mức học của học sinh, có câu khó, câu dễ. Em học Toán không tốt lắm thì ở bài thi này cũng thể hiện điều đó”.

Có thể nói, mặc dù vẫn còn một vài sự cố liên quan đến máy tính nhưng được khắc phục kịp thời, cho nên kỳ thi đánh giá năng lực đã tạo được những bước đột phá trong lộ trình đổi mới thi tuyển sinh hiện nay. ÐHQGHN đã phát 1.500 phiếu thăm dò ư kiến thí sinh phản hồi về cách đổi mới thi tuyển sinh năm nay và sẽ có những điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện hơn trong đổi mới thi tuyển sinh cả về tổ chức thi, ra đề, xét tuyển.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/5/2015

Tổ chức 20 trò chơi dân gian các nước

Trong hai ngày 30 và 31-5, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình vui chơi đặc biệt với chủ đề “Cùng chơi trò chơi dân gian các nước” dành tặng các em thiếu nhi nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6. Tham gia chương trình, các em có dịp hiểu biết thêm về văn hóa Việt Nam và một số nước trên thế giới, với các hoạt động vui chơi, khám phá: trình diễn trang phục các nước, múa rối nước, rối cạn, làm đồ chơi, chơi trò chơi dân gian… Đồng thời, trẻ em sẽ được tham gia các hoạt động trải nghiệm, khám phá văn hóa của các nước thông qua 20 trò chơi dân gian các nước.

Tro choi dan gian cac nuoc

Liên hoan ẩm thực Đất Phương Nam 2015

Tại Công viên Văn hóa Đầm Sen (Thành phố Hồ Chí Minh), từ ngày 29/5 đến 1/6 diễn ra Liên hoan Ẩm thực đất phương nam năm 2015, do Cục Công tác phía nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp Sở Du lịch, Hiệp hội Du lịch, thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Với chủ đề “Lời hẹn 9 dòng song”, liên hoan có 50 đơn vị thuộc các nhà hàng, khách sạn của hơn 20 tỉnh, thành phố (từ Thừa Thiên – Huế trở vào) tham gia với hơn 100 gian hàng. Bên cạnh việ thưởng thức nhiều đặc sản, du khách tham gia chương trình còn được tham quan trình diễn cách chế biến thức an, thưởng thức đờn ca tài tử và các trò chơi dân gian phong phú…

Tổng kết dự án hỗ trợ đạo diễn trẻ làm phim tài liệu

Tại Hà Nội, Trung tâm hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh (TPD – Hội Điện ảnh Việt Nam) phối hợp Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam vừa tổ chức tổng kết dự án “10 tháng 10 phim tài liệu”, nằm trong chương trình tài trợ của Bộ Ngoại giao Mỹ nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ. Từ 57 ý tưởng ban đầu của các nhà làm phim trẻ, dự án đã chọn thực hiện 10 phim trong thời gian 10 tháng. Các phim tài liệu xoay quanh nhiều vấn đề của xã hội, như: bình đẳng giới, tệ nạn xã hội, quyền phụ nữ, quyền trẻ em, cộng đồng chuyển giới, đồng tính…

Liên hoan Giai điệu sơn ca năm 2015

Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp Báo Thiếu niên Tiền Phong, Quỹ học bổng Vừ A Dính tổ chức Liên hoan Giai điệu sơn ca 2015 với chủ đề “Em yêu Tổ quốc Việt Nam”. Tham gia liên hoan có 14 đơn vị thuộc các Nhà thiếu nhi cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện, các đài phát thanh và truyền hình, đơn vị, cơ quan trường học từ khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước; 34 tiết mục lọt vào vòng chung khảo. Lễ trao giải thưởng và công diễn những tác phẩm đoạt giải được tổ chức tối 31-5 tại Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam.

Xây dựng nếp sống văn hóa tại cơ sở

Tại TP Lạng Sơn (tỉnh Lạng Sơn), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa tổ chức hội thảo “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội – Thực trạng và giải pháp” và tập huấn công tác xây dựng nếp sống văn hóa cơ sở cho 200 cán bộ nghiệp vụ cấp huyện của các tỉnh, thành phố phía bắc. Hội thảo có nhiều tham luận tập trung vào các vấn đề: quản lý lễ hội; thực trạng và giải pháp thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội…; các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; nhận thức về bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay; kinh nghiệm quản lý, tổ chức phục dựng lễ hội dân gian phù hợp tình hình hiện nay.

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2015:

Lần đầu tiên trái vải đi Mỹ

Hôm nay 30/5, lần đầu tiên 1 tấn vải thiều Lục Ngạn đầu mùa sẽ “bay” sang Mỹ. Dự kiến ngày 1/6 sẽ có lô hàng thứ hai gồm 5 tấn nhãn và mộ lô vải tiếp tục đi Mỹ, ngày 10/6 lô vải đầu tiên Mỹ và Úc nhập chính ngạch vải thiều Việt Nam, theo Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn.

Theo Cục Bảo vệ thực vật, để xuất khẩu được lô vải thiều đầu tiên vào Úc, quy định của Úc là phải có sự giám sát, kiểm tra của chuyên gia Úc về quy trình bảo quản, xử lý sau thu hoạch trước khi xuất khẩu. Mở thị trường trái cây đi Mỹ, Úc, EU rất khó khăn, thông thường mất 6-10 năm / một loại trái cây. Năm 2015, sản lượng vải thiều từ các vùng trồng chính trong nước khoảng 160.000-200.000 tấn. Vải thiều đi Mỹ đợt này có giá 30.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường 10.000đ/kg.

Lan Anh – C.V.Kinh

  • Tin trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 4/6/2015:

Saigon Co.op hỗ trợ tiêu thụ 800 tấn trái vải tươi

* Xuất khẩu trái vải sang Pháp, Nhật Bản, Malaysia, Israel…

Nguồn trái vải do Saigon Co.op ký kết với các đầu mối uy tín thông qua đề xuất của Sở Công thương và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương

Ngày 3-6, bà Nguyễn Thị Thu Thủy – phó tổng giám đốc Saigon Co.op – cho biết sẽ hỗ trợ tiêu thụ khoảng 800 tấn vải tươi từ Bắc Giang và Hải Dương, tăng gấp đôi so với năm ngoái, với thời gian dự kiến từ đầu tháng 6 đến trung tuần tháng 7-2015.

* Xuất khẩu trái vải sang Pháp, Nhật Bản, Malaysia, Israel…

Theo bà Thủy, toàn bộ hệ thống bán lẻ của Saigon Co.op sẽ đảm nhận việc tiêu thụ này. Nguồn trái vải do Saigon Co.op ký kết với các đầu mối uy tín thông qua đề xuất của Sở Công thương và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương, nên nguồn hàng khá dồi dào và đảm bảo chất lượng, nguồn gốc sản phẩm.

* Cùng ngày, Bộ Công thương cho biết vừa phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Pháp, Trung tâm Xúc tiến thương mại Bắc Giang và Công ty Thanh Bình Jeune (Pháp) tổ chức khóa tập huấn xông hơi lưu huỳnh nhằm trang bị đầy đủ kiến thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu quả vải sang thị trường EU.

Bộ Công thương cho biết số vải do học viên thực hành sẽ được đưa vào cùng lô hàng đầu tiên Công ty Thanh Bình Jeune xuất sang Pháp. Dự kiến 500kg vải thiều đầu tiên được áp dụng kỹ thuật xông hơi lưu huỳnh sẽ được chuyển bằng đường hàng không và có mặt tại Pháp trong vài ngày tới.

Sau hai lô trái vải xuất đi Mỹ và một lô sẽ đi Úc ngày 10-6, đại diện ba tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh và Bắc Giang vừa ký kết với các đối tác Nhật Bản, Malaysia, Israel biên bản ghi nhớ về hợp tác ứng dụng công nghệ cao trong nông, lâm, ngư nghiệp, trước mắt là trong chế biến bảo quản sau thu hoạch trái vải để xuất khẩu.

Theo đó, ngoài Úc và Mỹ, các đối tác kể trên sẽ hỗ trợ nông dân Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Giang xuất khẩu vải đi thêm hai quốc gia trong khu vực ASEAN là Malaysia và Singapore, đồng thời mở rộng xuất khẩu vải đi Nhật Bản và Israel.

Mục tiêu năm 2015 sẽ có khoảng 1.000 tấn vải quả tươi được xuất khẩu đi sáu nước kể trên thông qua chương trình này (chưa tính các chương trình do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các tỉnh thành và doanh nghiệp khác

T.V.N. – C.V.K. – L.ANH

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 3/6/2015:

Cứu người trong lũ dữ

Chiều 2/6, chị Đặng Thị Thu Hằng (sinh năm 1986, ngụ khu Nam Thiên, P.4, Thành phố Đà Lạt) vẫn còn hồi hộp khi nhắc đến cảnh ba mẹ con chị bị nhốt trong căn nhà sụp vì lũ cuốn. Chị Hằng nói nước lên nhanh lắm, chỉ chưa đầy nửa giờ kể từ khi đổ mưa. “Nước tràn vào nhà, tôi hoảng sợ gọi điện thoại cho chồng đang đi làm để anh chạy về. Anh về tới nhCuu nguoi trong luà thì nước đang dâng ngang ngực tôi. Nhà bị sập một bức tường, mái đổ nghiêng một bên, ép ba mẹ con vào một góc. Đứa con lớn sợ đến nỗi không dám khóc” – chị Hằng kể.

Chồng chị tìm cách bơi vào nhà cứu ba mẹ con. Lúc này đứa con lớn đứng trên một bàn cao, còn đứa nhỏ chị Hằng nâng ngang đầu để tránh bị ướt. Trong lúc chồng chị loay hoay tìm cách đưa ba mẹ con ra ngoài thì chị kêu cứu. “Một lúc sau có hai người bơi vào nhà. Một người bơi vào nhà giúp chồng tôi đục trần thạch cao, người kia trèo lên máy nhà đục tôn thông xuống. Cả nhà tôi được giải thoát bằng cách này” – chị Hằng nói.

Hai thanh niên tham gia cứu người được xác định là anh Nguyễn Đình Sơn (34 tuổi, ngụ khu Nam Thiên, P4, thành phố Đà Lạt) và anh Dương Nhạt Phong (26 tuổi, kỹ sư Công ty cổ phần Xây lắp và vật tư xây dựng 2 chi nhánh Lâm Đồng). Sơn và Phong đều ở gần nhà chị Hằng.

Theo lời anh Sơn, nhà anh cũng bị ngập nhưng ít hơn. Đang dọn đồ thì nghe tiếng kêu cứu. Lập tức anh Sơn dùng một cây gậy vừa bơi vừa dùng gậy dò dẫm để đến nhà chị Hằng. Anh Sơn vào được bên trong nhà thì vội tắt ngay cầu dao điện. Một lát sau Phong cũng bơi tới cùng phụ phá trần thạch cao, đục thủng mái tôn rồi lần lượt đưa người thoát khỏi căn nhà.

Chiều 2/6, thiếu tướng Bùi Văn Sơn, giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng, đã ký thư khen và thưởng nóng cho anh Sơn và anh Phong mỗi người 5 triệu đồng. Ông sơn cho biết đây là phần thưởng nhỏ ghi nhận lòng dung cảm và nỗi lực cứu người của anh Sơn và anh Phong, đồng thời đánh giá cao sự bình tĩnh của hai người khi đã lần lượt thực hiện đúng các thao tác cứu người trong hoàn cảnh nước ngập.

Đức Huy.

  • Bài trang Hà Nội báo Nhân Dân ngày 2/6/2015:

Tạo thêm nhiều sân chơi cho trẻ nhỏ

Giang Nam

Những ngày đầu hè này, những kiến trúc sư trẻ của nhóm Think Playgrounds (Nghĩ về sân chơi trong thành phố) đang gấp rút thi công ba sân chơi nhỏ tại phường Trung Tự (quận Đống Đa). Đến nay, đã có tám sân chơi trên địa bàn Hà Nội được Think Playgrounds cải tạo và đi vào hoạt động bằng những vật liệu tái chế, tạo thêm nhiều sân chơi cho trẻ nhỏ.

Ở những đô thị lớn, đất chật người đông như Hà Nội, phần lớn trẻ em sau giờ học bị “giam” trong bốn bức tường. Những khoảng không gian rộng rãi với nhữnTao them nhieu san choi cho tre nhog trò chơi đơn giản như cầu trượt, xích đu… cũng là thứ mà nhiều em mơ ước. Thỉnh thoảng lắm các em mới được cha mẹ đưa đi vườn hoa, công viên. Nhiều em suốt ngày làm bạn với điện thoại thông minh, trò chơi điện tử, dẫn đến bệnh cận thị, tinh thần, thể chất phát triển thiếu cân đối. Hai bạn trẻ Chu Kim Đức và Nguyễn Tiêu Quốc Đạt cùng chung ý tưởng tạo ra những không gian cho trẻ em. Nhưng phải đến khi gặp bà G.Han-xen – người Mỹ, ý tưởng này dần trở thành hiện thực khi bà G.Han-xen hướng dẫn cách thức để có thể tạo sân chơi, đồng thời hỗ trợ kinh phí thực hiện. Nhóm Think Playgrounds đã ra đời.

Làm thế nào để tạo ra những sân chơi trong điều kiện mọi không gian của thành phố đều chật hẹp và bị chiếm dụng là điều rất khó. Chỉ còn cách tận dụng những không gian xen kẹt hiếm hoi, rồi cùng những người dân tâm huyết tạo nên những không gian vui chơi công cộng cho trẻ em. Ai cũng hiểu việc này không đơn giản, khi đụng chạm đến quyền lợi của nhiều người. Khi chưa tìm được sự hỗ trợ của cộng đồng, Think Playgrounds đã có sáng kiến xây dựng sân chơi nhỏ cho trẻ em ở bãi giữa sông Hồng. Cha mẹ các em ở đây là những người tạm cư, lên Hà Nội kiếm sống, nhưng các em cũng cần có chỗ chơi, để không tham gia vào những trò chơi nguy hiểm bên dòng sông Hồng hung dữ. Với hơn 10 triệu đồng từ sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm và số tiền do chính các bạn đóng góp, một sân chơi nhỏ đã được tạo ra, đem lại không gian cho trẻ em bãi sông. Những đứa trẻ vốn chỉ quen với bãi ngô, ruộng lạc, với những trò bơi lội nguy hiểm, đón nhận sân chơi trong niềm vui khôn xiết.

Thành công của dự án này đã “kích hoạt” một loạt dự án khác. Nhóm Nghĩ về sân chơi trong thành phố tìm kiếm thêm các vật liệu khác nhau để có thể tạo ra những dụng cụ vui chơi rẻ tiền, an toàn mà vẫn hấp dẫn. Tiêu chí tạo những sân chơi là tiết kiệm nhất, an toàn nhất. Nhờ sự sáng tạo của những kiến trúc sư, những chiếc lốp xe được “hoán cải” thành xích đu. Những tấm gỗ kê hàng cũ được nhổ đinh, mài nhẵn, đóng thành nhiều món đồ chơi khác nhau, như bập bênh, hay thành chiếc “tường” gỗ giúp trẻ em có thể leo trèo mà không gặp nguy hiểm… Ngoài sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, chính người dân ở các nơi được cải tạo sân cũng tham gia quyên góp. Toàn bộ phần thi công do Nhóm đảm nhận. Hàng loạt sân chơi đã hoàn thiện và đi vào sử dụng chỉ một năm kể từ ngày Nhóm ra đời (vào tháng 5-2014). Có thể kể đến những sân chơi như: sân chơi Khu tập thể Bộ Thủy sản (ngõ 20, phố Nguyễn Công Hoan), sân chơi Tuệ Viên (phường Cự Khối, quận Long Biên), sân chơi ở phường Phương Mai (quận Đống Đa)… Ngoài ra, Nhóm còn xây dựng được một số sân chơi ở các địa phương khác, đáng kể nhất là xây một sân chơi trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi).

Việc đòi lại những không gian vui chơi cho trẻ em trong diện tích công cộng tưởng chừng rất khó, nhưng nhờ sự phối hợp cùng cộng đồng dân cư sở tại, sự việc trở nên đơn giản hơn. Việc xây dựng Khu tập thể Bộ Thủy sản (ngõ 20, phố Nguyễn Công Hoan) là một thí dụ. Khu tập thể này có một sân chơi rộng chừng 150 m2. Như mọi sân chơi khác, nó bị chiếm dụng từ lâu. Trong đó, có một quán phở đã “ngự” tại đây 20 năm. Mọi người trong khu tập thể đều thấy trẻ con thiếu chỗ chơi. Nhưng không ai nghĩ đến chuyện “giành lại” sân chơi cho bọn trẻ. Khi lãnh đạo khu dân cư biết đến mô hình tạo sân chơi bằng vật liệu giá rẻ của nhóm Think Playgrounds, các bác đã triệu tập một cuộc họp và thống nhất sẽ giành lại sân chơi cho các em. Sau đó liên lạc với Think Playground để thiết kế, xây dựng các loại thiết bị vui chơi phù hợp. Khi cả tổ dân phố cùng đồng lòng, cử đại diện đến thuyết phục, chủ quán phở đồng ý dọn hàng vào trong nhà, trả lại không gian cho tập thể. Nhiệm vụ “giải phóng mặt bằng” đã xong, nhóm Think Playgrounds bắt tay vào thi công. Sau một tháng, một sân chơi đơn giản, nhưng như là “trong mơ” với bọn trẻ khu tập thể được khánh thành. Tổng chi phí hết hơn 10 triệu đồng. Người dân khu tập thể rất vui, vì thành quả đó có sự góp sức của chính họ. Nhiều người bảo số tiền tham gia đóng góp chỉ bằng một buổi bọn trẻ đi chơi, nhưng có bao nhiêu lợi ích. Tương tự như thế, chính lãnh đạo và nhân dân địa phương là nòng cốt trong việc đòi lại không gian chung quanh để có thể tạo lập một sân chơi tại tổ 30 phường Phương Mai. Có những lúc xảy ra xung đột lợi ích gay gắt với những đối tượng chiếm dụng. Nhưng đại diện tổ dân phố cùng những kiến trúc sư trẻ với quyết tâm và lòng kiên trì đã thành công.

Hà Nội không thiếu đất xen kẹt trong các khu dân cư, không thiếu các khu vực vốn được thiết kế làm sân chơi cho trẻ em, nhất là ở những khu tập thể cũ, nhưng phần lớn chúng đang bị chiếm dụng. Việc có lấy lại được hay không, phụ thuộc rất nhiều vào lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và người dân ở chính các địa phương ấy. Nếu mọi người cùng nghĩ về những sân chơi, nghĩ về quyền lợi của trẻ em, thì việc tạo thêm nhiều sân chơi cho trẻ em trong thành phố không còn là việc khó.

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 3/6/2015:

400 bệnh nhi được chia sẻ yêu thương

Ngày 2-6, tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, 400 bệnh nhi được vui chơi, xem ca múa nhạc, kịch, xiếc và nhận quà trong chương trình “Chia sẻ yêu thương, cho con khởi đầu tốt đẹp”. 

Chương trình do báo Sức Khỏe Và Đời Sống phối hợp cùng Công ty Mead Johnson Nutrition tổ chức nhân hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em. 400 phần quà là 400 balô kéo du lịch khiến các bệnh nhi tham gia chương trình rất thích  thú.

Bác sĩ Trần Sĩ Tuấn – tổng biên tập báo Sức Khỏe Và Đời Sống – nói:

“Đây là một trong các hoạt động hướng đến cộng đồng mà nhiều năm qua báo hướng đến, như chương trình Nồi cháo tình thương do đoàn viên chi đoàn của báo mang đến cho bệnh nhi ung thư ở nhiều bệnh viện tại TP.HCM.

Với những người làm nghề y, chúng tôi hiểu trẻ em đang bị bệnh là những người cần được quan tâm chia sẻ tình thương yêu nhiều nhất”.

400 benh nhi duoc chi se yeu thuong

Dịp này, báo Sức Khỏe Và Đời Sống còn dành 20 phần quà đặc biệt (1 triệu đồng/phần) chia sẻ viện phí cho 20 bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn.

DIỆU NGUYỄN

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 3/6/2015:

Trao tặng 93 tủ thuốc cấp cứu cho ngư dân

Viện Y học Biển Việt Nam cho biết, vừa phối hợp Hội Chữ thập đỏ TP Hải Phòng trao tặng 93 tủ thuốc cấp cứu và điều trị bệnh thông thường cho bà con ngư dân thuộc quận Ðồ Sơn, Dương Kinh và huyện Kiến Thụy.

Số tủ thuốc này do cán bộ, nhân viên Viện Y học Biển Việt Nam, Công ty TNHH MTV thông tin điện tử hàng hải, Công ty CP Dược phẩm Trung ương 3… đóng góp ủng hộ. Trước đó, hơn 1.400 tủ thuốc đã được trao tặng cho ngư dân thuộc nhiều địa phương từ Phú Yên đến Thanh Hóa. Hiện các đơn vị, địa phương tiếp tục đóng góp, ủng hộ, phấn đấu đạt 30 nghìn tủ thuốc trao tặng đủ cho toàn bộ số tàu đánh bắt xa bờ.

PV

Người nặng lòng với tiếng ta

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 5:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 6 năm 2015.

PHẠM QUỲNH – NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI TIẾNG TA


P

hạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương Đường mà tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Nhưng lại sinh tại Hà Nội, số nhà I phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm, ngày 30/1/1893, cuối năm Nhâm ThìnF[1]F. Gia đình ông sớm lên Hà Nội lập nghiệp; vì cả làng hầu như chỉ có một nghề là “nghề dạy học”

Từ khi lọt lòng, Phạm Quỳnh đã èo uột. Chín tháng, mẹ đột ngột qua đời. Bà nội là cụ Cả phải bế đi xin bú chực hàng xóm, láng giềng và mớm cơm cho ăn. Còn phải chăm sóc cháu ốm đau luôn; vất vả nhất là hồi bị đậu mùa. Sau này, di chứng sót lại là khuôn mặt tuy trắng trẻo, có vẻ thư sinh, lại hơi rỗ hoa, và một bên mắt nhìn rất kém. Mãn tang vợ, ít lâu sau, cha tục huyền, sinh được một trai, đặt tên là Phạm Bái. Còn èo uột hơn cả anh.

Thân phụ là Phạm Hữu Điển, xuất thân tú tài nho học, dạy nhiều học trò. Nhưng, chính con trai, thì trước sau chỉ học được có hai chữ nho viết tên mà thôi! Năm Phạm Quỳnh lên chín, lại mất cha. Chẳng bao lâu sau, cậu bé Bái cũng mất. Bà mẹ kế còn ít tuổi, được phép nhà chồng, đi bước nữa.

Phạm Quỳnh được bà nội nuôi cho ăn học. Hai bà cháu sống cùng bà cụ Tú, vợ người tuyệt tự đã cho ông nội hưởng thừa tự một căn nhà hình ống nhỏ hẹp. Nhà này do học trò dựng để thờ thầy là cụ Dưỡng Am Phạm Hội, thân sinh chồng bà cụ Tú.

Hai bà cụ tính, dù sao cũng phải cho đứa cháu côi cút, yếu ớt “đi học cho có cái chữ, để sau này còn có cái ra mà sống với đời chứ.” Bèn cho đi học ở trường Pháp Việt gần nhà.

hinh-1

Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất ham, học nhanh lắm. Chẳng bao lâu, được vào học không mất tiền ở Trường Thông Ngôn Hà Nội (Collège des Interprètes) bên sông Hồng. Sau đó, trường này hợp nhất với trường Thành Chung Nam Định (Jules Ferry) thành trường Thành Chung Bảo Hộ (Collège du Protectorat) mà dân ta thường gọi là trường Bưởi, tức trường Chu Văn An sau này. Vẫn không mất tiền học, lại còn được học bổng.F[2]F Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu trường Thành Chung Bảo Hộ. Tuy mới 15, 16 tuổi đầu, ông đã chính thức trở thành công chức, làm thông ngôn tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Extrême-Orient) ở Hà Nội. Hằng ngày, đi bộ từ phố Hàng Trống, qua hồ Hoàn Kiếm đến dấy làm việc và học tập miệt mài. Ham học đến nỗi có lần bị khiển trách vì “lơ là công việc được giao”.

hinh-2

Thấy cụ Tú đã già và cụ Cả còn khoẻ, nhưng tuổi cũng đã cao mà hai cụ vẫn phải sớm hôm chăm lo, bận rộn vì mình, ông áy náy quá.

Năm sau, nhờ người mai mối, ông cưới cô Lê Thị Vân, con cả một gia đình ký lục, gốc nông dân. Cô cũng sinh năm Nhâm Thìn như ông, nhưng là đầu năm, có hai em gái và một em trai út. Cô này khoẻ mạnh, tươi tắn, trắng nõn nà. Tóc để đuôi gà, răng đen nhưng nhức hạt huyền, đúng như lòng ông hằng mơ ước. Chính năm 1909 này, Trường Viễn Đông Bác Cổ cử ông sang Pháp làm chức trợ giáo cho giáo sư Deloustal, giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trường Đông Phương Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Nhưng, bấy giờ, mới lấy vợ, ông không chịu đi. Trường phải thay bằng ông Phan Văn Trường.

Đôi vợ chồng son vẫn sống trong căn nhà nhỏ hình ống với hai bà cụ, nhưng ở buồng ngoài, có cửa tò vò, sát đường phố. Tiếp đó là cái sân nhỏ, có giếng nước. Rồi đến buồng hai bà cụ và bàn thờ hai cụ ông. Đây cũng là nơi kê bàn học và làm việc của Phạm Quỳnh thời trẻ. Và cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ nếp đó: học hành, viết lách, làm việc trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm. Sau một cái sân con nữa là nhà thờ cụ Dưỡng Am Phạm Hội. Trong cùng là một khoảnh vườn khá to. Giữa vườn có cây táo và một cây bồ hòn, lấy quả để giặt giũ.

hinh-3

Cuộc sống gia đình đỡ gieo neo, hai cụ đỡ vất vả, Phạm Quỳnh yên lòng, cảm thấy hạnh phúc đơn sơ mà thật quý báu vô cùng.

Cô Vân, vốn con nhà nông, hay lam hay làm, khéo quán xuyến việc nhà, lại tài nấu nướng, để chồng yên tâm đèn sách. Cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von, thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện Kiều, nhưng không biết chữ nho, cũng chẳng biết chữ quốc ngữ. Chỉ rất rành tiếng ta, nhất là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, các sự tích vùng quanh làng Lương Ngọc quê chồng, hay làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, “quê hương quan họ” của cô.

Vốn ham học, giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu tiếng ta, quí trọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh tìm thấy trong chữ quốc ngữ mới phôi thai một vũ khí chiến đấu phục vụ Tổ Quốc hợp với sức mình. Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân tộc hằng ngày qua lời ăn, tiếng nói của hai cụ bà và cô vợ trẻ yêu. Từ câu hỏi thăm sức khoẻ buổi sáng, những lời trò chuyện, bàn bạc trong hai bữa cơm đến những khi gia đình sum họp dưới đèn chuỵên vãn và cả lúc đêm khuya thanh vắng, nghe lời thỏ thẻ của cô vợ trẻ, đang lúc dào dạt yêu thương. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức Đông Tây, kim cổ mà chàng thanh niên ham học hấp thụ hằng ngày trong công việc khảo cứu tại trường Viễn Đông Bác Cổ, khiến chàng càng tin vào sức sống mãnh liệt của tiếng ta. Nhất là từ nay, đã có phương tiện thuận lợi để thể hiện trên mặt giấy. Đó là chữ quốc ngữ. Ông hăm hở lục lọi các kho tư liệu cũ nát phủ đầy bụi thời gian, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hai thứ chữ do công việc bắt buộc ông phải khổ công tự học, đến nay, đã làm chủ được rồi. Một hôm, ông sững sờ khi đọc lần đầu tiên hai bài văn tế tướng sĩ viết bằng chữ Hán của một nhà nho yêu nước chống Pháp, trong tập Lệ ngữ văn tập. Bài văn lay động mạnh tâm hồn ông. Ông bắt tay ngay vào dịch với mong muốn để nhiều người, cả Việt lẫn Pháp, có thể tiếp xúc được với ngọn lửa yêu nước thương dân ngùn ngụt cháy trong lòng nhà nho nọ. Một việc làm quá sức ông. Nhưng, với lòng kính yêu tha thiết các chiến sĩ chân đất đã dũng cảm đứng lên cứu nước trong cuộc chiến không cân sức, một mình Phạm Quỳnh đã lặng lẽ tra cứu, so sánh, nghiền ngẫm, rồi dịch ra Pháp văn, và khôn khéo đưa vào tạp chí thường kỳ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (số đặc biệt) như “một tài liệu nghiên cứu mới được phát hiện để giúp độc giả hiểu thêm về Việt Nam”

Sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng, những giờ phút nghỉ ngơi bên gia đình yêu dấu-cô vợ trẻ, bà nội, cụ Tú-thật là quý báu, bổ ích. Bên chén chè, họ bàn chuyện nhà chuyện họ tộc làng xóm ở hai quê nội ngoại, Phạm Quỳnh ghi nhớ và còn ghi chép nữa, biết bao là tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói độc đáo từ “ba nguồn suối ngôn ngữ dân gian” ấy. Có những lúc cả ba người phụ nữ như chỉ toàn nói bằng tục ngữ ca dao mà vẫn diễn đạt được trọn vẹn ý mình muốn nói. Mà còn ý nhị, dí dỏm, duyên dáng, sâu sắc hơn lời nói thường. Càng sinh động hơn hẳn những gì hằng ngày ông vẫn đọc trong sách, báo. Ông chỉ nghe; khi chưa nghe rõ thì hỏi, chứ tịnh không dám nói gì. Vì biết mình không thể nói gì hay hơn, đúng hơn các bà. Và ghi chép. Rồi suy nghĩ, nghiền ngẫm. Còn đọc thêm những gì ngưòi trước đã viết về ca dao, tục ngữ, nhất là các tập sưu tầm tục ngữ, ca dao các miền đất nước. Để so sánh, đối chiếu, cố gắng hiểu cho ra ý nghĩa đích thực của từng bài, từng câu, thậm chí từng từ. Rồi những ngày Tết nhất, những dịp giỗ chạp, các cụ các bà, trong đó có bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyên-một nhân vật nổi tiếng của Hà Nội xưa) gọi bà cụ Tú bằng mợ, và các cụ học trò cụ Dưỡng Am, như ông ký lục Đỗ Thận, ông lang Hàng Đường, v.v… đến dự, trò chuyện rôm rả, ông lại càng kinh ngạc trước sức mạnh diệu kỳ của tiếng ta, càng học thêm đựơc bao cách nói tài tình, táo bạo, thâm thuý đến bất ngờ của ngôn ngữ dân gian. Lòng say mê ấy càng tăng lên gấp bội trong những dịp ông cùng vợ về quê, ra đồng xem bà con làm ruộng, trò chuyện cùng hàng xóm láng giềng, nhất là những lúc trò chuyện cùng người thân trong gia đình. Những câu, những chữ tưởng như đã biết, đã hiểu quá rõ rồi, nay nghe lại thấy như có ý nghĩa, sắc thái mới mẻ hẳn khi được nói lên đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, lại trong cảnh thiên nhiên đồng nội đẹp tuyệt vời nơi quê nhà thân thiết. Những buổi sáng, chiều ra đồng làng xem bà con thôn Nhân Thục quê vợ cày cấy, tát nước, lắng nghe và ghi vào lòng mình những lời ca tiếng hát, điệu hò, câu ví, lời đối đáp mộc mạc, dân giã mà thâm thuý, chứa đựng những chân lý từ lao động đời sống mà ra, lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác nhận giá trị đích thực qua chính cuộc sống lao động của nhân dân. Những lúc nghỉ ngơi giữa đồng lộng gió, dưới mái điếm lợp ngói xưa mát rượi, cùng bà con ăn tạm củ khoai lang với miếng cà muối, hay củ dong riềng, Phạm Quỳnh ân cần lễ độ xách ấm đất nung, khi thì nước vối nóng khi thì nước chè tươi, rót ra bát mời từng bà con giải khát, cung kính như với những người thầy đang dạy mình tiếng Việt. Rồi những tối, sau bữa cơm chiều, cùng gia đình uống nước bên hiên nhà, có bà con mến khách Hà Nội sang chơi góp chuyện. Hoặc cùng vợ sang thăm tận nhà bà con, người làng. Đều là những dịp tốt để ông học hỏi được nhiều từ ngữ, lối ăn nói mới lạ, khác xa trong sách vở đã đọc, đồng thời giúp xác minh được không ít những câu, chữ đã biết, nhưng chưa thể yên tâm về mặt chữ hoặc nghĩa. ”Những người thầy” mà ông học được nhiều nhất, vì dám hỏi nhiều nhất, chính là người nhà. Đó là bà Ký, thân mẫu cô Vân, các em cô như cô Hợp, còn gọi là Nhỡ, cậu Tốn, còn gọi là Xuân. Cô Mai dưới cô Hợp, trên cậu Tốn thì ông ít được gặp, vì cô đã bỏ nhà đi nương nhờ cửa Phật từ nhỏ. Nhưng cô Mai lại là một nguồn từ ngữ quý giá khác về ngôn ngữ Phật giáo dân gian thuần Việt. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu người dân thường giản dị qua những người ruột thịt quyện chặt với tình yêu tiếng nói sáng trong, đậm đà sức sống Việt đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn liếng quý báu nhất ấy mà mình may mắn được hưởng cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học, nâng cao dân trí, hầu chung sức cùng toàn dân đưa đất nước tiến lên bằng người. Đó là điều cứ canh cánh bên lòng ông, chằng giây phút nào nguôi. Càng hiểu biết, càng rộng tầm nhìn, càng thêm khao khát góp phần thực hiện. “Từ khi khôn lớn, biết nghĩ đến giờ, chỉ nuôi một cái chí ở trong lòng, là đối với nhà, làm thế nào nối được nghiệp của ông cha…đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong cho quốc văn được sáng sủa; cũng biết rằng tài có khi không kịp chí, nhưng khu khuF[3]F một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi…không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu sang”F[4]

18, 19 tuổi đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Hai năm sau, một gái ra đời. Hai năm kế, lại một gái nữa… Gia đình đông đúc dần, nhưng tất cả vẫn đoàn tụ dưới mái căn nhà nhỏ hình ống được thừa tự ở đầu phố Hàng Trống. Sau này, bà cụ Tú mất được mấy năm thì ông đồng sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, với hy vọng ngây thơ là sẽ lợi dụng được Tây để thực hiện “cái chí bình sinh của mình”. Bấy giờ, ông mới bán nhà cũ đi, mang bàn thờ tổ tiên đến nhà mới thoáng rộng kiểu Tây ở số 5 phố Hàng Da. Bàn học và làm việc, theo nếp cũ, vẫn kê dọc trước bàn thờ như xưa. Phòng tiếp khách ở dưới. Hai tầng nhà này nối với hai tầng nhà kế bên bằng một cây cầu gỗ, lát gạch đỏ, hai bên chấn song chạy con tiện sơn xanh lá cây. Bà nội, vợ cùng các con ở cả bên ấy. Lũ trẻ thường chạy ùa qua cầu sang bên ông, vừa chạy vừa gọi rối rít “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Ông rất thương yêu các con, nhưng vẫn cần có cuộc sống riêng của mình. Tất cả vì “cái chí ở trong lòng”. Hằng ngày, ông vẫn đi bộ đến làm việc ở Hội Khai Trí Tiến Đức, ngay bên Hồ Gươm, cuối phố Hàng Trống. Còn nhà là toà soạn tạp chí Nam Phong rồi.

Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn, sâu sắc đăng trên Đông Dương Tạp Chí từ năm 1913, ông đã trở thành “nhà báo có hạng, văn sĩ thời danh” rồi, mặc dù mới ở tuổi hai mươi. Trong hơn bốn năm, ông dùng báo Nam Phong cổ động, vun đắp, bồi dưỡng cho chữ quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ quốc ngữ, dùng chữ quốc ngữ không những chỉ để dịch thơ văn chữ Hán, mà còn dịch cả văn, thơ, triết học, khoa học từ tiếng Pháp, sưu tầm, phiên âm thơ văn chữ nôm, dịch thơ văn chữ Hán của ông cha, tiên tổ. Đã đến lúc Phạm Quỳnh quyết định phải nâng cao lòng tin yêu của người đương thời đối với tiếng ta, bằng cách xuất ra “ cái vốn quí báu nhất” mình có, đồng thời cũng tỏ rõ ”cái chí bình sinh của mình”.

hinh-4

Ngày thứ năm, 21-4-1921, ông đăng đàn diễn thuyết về đề tài ruột, thân thiết nhất mình ôm ấp hàng mấy chục năm ròng. Ông nói với giới trí thức đương thời-mà phần lớn, nếu không sùng chữ Hán, thì lại sùng tiếng Pháp- về tiếng ta. Mà lại là về phần nôm na, dân giã nhất trong tiếng ta: Ông nói về tục ngữ, ca dao. Trước cử toạ là các văn nhân, học giả, giới thượng lưu trí thức; có cả những người Pháp uyên thâm Hán học, hiểu rành rẽ tiếng Việt, ông chân tình nói:

– Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này; thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời…F[5]

Ông nêu câu hỏi là hàng ngàn, hàng vạn năm qua, người nông dân bình thường, không biết chữ “đã lấy gì mà tả nỗi lòng?” Và khẳng định ngay:”là cái tiếng quốc âm rất quý báu của ta.” Rồi nói tiếp “ Há chẳng phải là những lời tục ngữ, câu ca dao ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ! Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một thứ văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương truyền khẩu ấy…thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đây… Tiếng Việt Nam ta, không có gì là không nói bằng phương ngôn tục ngữ được!”F[6]

Sau đó ông dẫn ra vô số tục ngữ ca dao, diễn giải ý tứ một số câu này, bình luận một số câu nọ, khiến người nghe thảng thốt, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bất giác đồng loạt vỗ tay hồi lâu tán thưởng những khi đắc ý, rồi lại say mê hào hứng như vừa khám phá ra một kho báu lâu nay chính mình đã có mà không biết, để rồi hoàn toàn bị diễn giả trẻ tuổi (bấy giờ, ông mới 28, 29 tuổi) thuyết phục. Kết thúc bài diễn thuyết, ông nói vắn tắt mà xúc động, vì đấy là những lời tâm huyết nhất:

-Dù ta học tiếng Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ Quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơnF[7]

Hơn mười năm sau, năm 1932, Tục ngữ ca dao được xuất bản thành sách trong Nam Phong Tùng Thư. Cuối bài diễn thuyết năm nào, có thêm mấy hàng chú thích: “Tục ngữ ca dao là do khẩu truyền, cho nên lắm khi vô bằng. Có khi một câu mà mỗi nơi đọc ra một khác, mỗi người hiểu ra một nghĩa. Những câu tôi chép trong bài này, hoặc sở đắc ở miệng người hoặc nhặt ở các sách người khác biên tập, chắc cũng nhiều câu không được đúng, không thể nào biết hết được. Vậy có chỗ sai lầm, xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho, tác giả có lời cảm ơn trước.”F[8]

hinh-5

Tập Tục ngữ ca dao năm 1932 ấy còn có thêm phần Phụ lục ít nhiều câu tục ngữ và ca dao. Riêng phần Phụ Lục ít nhiều câu tục ngữ xếp thành câu đối có vần và một ít ca dao đã có đến 419 cặp, phần Ca dao xếp tiếp vận có 100 cặp. Còn phần Ca dao đặt thành bài, gồm 30 bài từ bốn câu đến 44 câu, lại có chú thích rõ: “Những bài hát này hoàn toàn truyền khẩu cả, nên cứ bằng vào cửa miệng mà sao, không biết thế nào là đúng”F[9]

Mặc dù tác giả đã viết:”chắc cũng nhiều câu không được đúng”, hoặc “không biết thế nào là đúng” và đề nghị :“Vậy có chỗ sai lầm xin hải nội chư quân tử chỉ giáo cho”, vậy mà hơn mười năm sau khi sách xuất bản, hơn 20 năm sau buổi diễn thuyết tại hội Khai Trí Tiến Đức, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại (tập I) do Tân Dân xuất bản năm 1942 tại Hà Nội, khi viết về Tục ngũ ca dao vẫn phải thốt lên : “Những cái đặc sắc trong quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: Những câu tục ngữ, phương ngôn, và ca dao mà ông lựa chọn đều là những câu rất đúng, không như những câu trong mấy quyển ca dao khác phần nhiều đầu Ngô mình Sở, câu ở bài nọ chắp vào bài kia! Ông lại định nghĩa rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn, và thế nào là ca dao”. Rồi lại bình tiếp:”Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài diễn văn dài, vừa biên tập vừa bình luận, nhưng thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét nhận rất đúng. Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình…”F[10]

Một năm sau buổi diễn thuyết ấy, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, tham dự cuộc Đấu Xảo Thuộc Địa, tổ chức tại Marseille. Chỉ mang theo một cuốn nhật ký nhỏ xíu và một “bản Kiều tùy thân”, người thanh niên Việt Nam nước da trắng xanh, dong dỏng cao, có dáng “lưng tôm”, vẻ thư sinh ấy, đã tranh thủ mọi mối quan hệ bạn bè riêng tư để bốn lần đăng đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng người Việt Nam và văn hoá Việt Nam. Ở đâu, ông cũng nói sâu sắc và hấp dẫn mà chẳng hề đao to búa lớn, không cậy nhờ ở tài hùng biện mà chinh phục cử toạ ưu tú nước Pháp bằng những sự thật lịch sử, những lý lẽ hiển nhiên không thể chối cãi. Đặc biệt, ngày 22-7-1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính Trị Viện Hàn Lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn và kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh. Bức ảnh ông chụp trước khi đi Pháp, bà vợ biết chồng nhớ con vừa gửi sang. Bé gái Việt Nam xuất hiện trên báo chí Pháp năm 1922 ấy, sau này sẽ là Tiến sĩ Sorbonne Phạm Thị Ngoạn, tác giả luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong).

hinh-6

Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

– Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.”F[11]

Những lời được Viện Hàn Lâm Pháp tán thưởng đó là do chính người trong bài diễn thuyết tại quê hương năm trước, đã hào hứng, tự tin khẳng định là:

– Ngày nay, ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi…Tiếng Việt ta hay lắm…người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên.F[12]

Ngày thứ hai, 11 tháng 9-1922, ông kết thúc chuyến “Pháp du” bằng mấy dòng nhật ký:

“Tàu ở Tourane ra đi rất mau, 12 giờ rưỡi đến Hải Phòng”.

“Vào gần bến, vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội xuống đón. Tàu còn từ từ vào, mỗi phút tưởng lâu bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống, người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm, khôn nói nên lời. Bà già mạnh khoẻ, con trẻ bình yên, cửa nhà vô sự, thế là yên lòng.”F[13]

Về nước, càng rộng tầm nhìn, ông càng hăng say lao vào “công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời”.F[14]F Còn về việc riêng, ông đau đứt ruột khi mất một bé gái sáu tháng tuổi; lại mừng vì sau đó sinh được một trai khôi ngô, bèn đặt tên là Phạm Khuê, mong con sau này sẽ là một ngôi sao sáng tựa sao khuê. (Quả nhiên, sau này, Phạm Khuê trở thành Giáo sư bác sĩ y khoa, nhà giáo nhân dân, chủ tịch đầu tiên Hội Người cao tuổi Việt Nam, từng là đại biểu quốc hội).

Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều. Càng đọc càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều tuỳ thân”. Càng say Kiều, lại càng thêm mê tiếng ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn. Để lại càng thêm yêu Kiều, “đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều , trước sau chỉ có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quý báu vô cùng” (Trích từ bài Cô Kiều với tôi của Phạm QuỳnhF[15]F). Và rồi, không thể nào cứ giữ “mối tình” đó trong lòng mình được mãi, ông muốn đem chia sẻ nỗi lòng với toàn dân ta, với cả nhân dân thế giới nữa.

hinh-7

Năm 1924, ông đề nghị Hội Khai Trí tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta (8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp cả hội viên; còn thông báo cho nhân dân biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc danh sĩ trong nước thế nào”.

Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:

Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,

Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.

Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế”.F[16]

Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn. Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim “diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương Truyện Kiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn Đôn Phục soạn.17

Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:

– Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi

Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

hay là

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ…” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như môt giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”

“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy…Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra.”

Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”…”Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”

“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”

Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:

-Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta… Nhưng, còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,

Thác là thể phách còn là tinh anh.

“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, trập trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng :” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu (chúng tôi không rõ nghĩa – PT) lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.18 F[17]

Bài diễn văn kết thúc bằng lời thề tâm huyết đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.

hinh-8

Hơn hai mươi năm sau, từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên dòng sông nhỏ An Cựu, ông khởi thảo tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến văn cảm tưởng trên quyển vở học trò, viết bằng cây bút máy Waterman. Bài cuối còn dang dở là bài Cô Kiều với tôi. Phần cuối dở dang ấy, ông viết: “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…

“Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”19F[18]

Và ông đau buồn mãi vì chuyện ấy…

Vì bản thân Người chính là hiện thân của lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, yêu tha thiết đến say mê tiếng mẹ đẻ, đã cống hiến trọn đời mình cho tiếng ta, với niềm tin vững chắc là :

TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN20F[19]

21/06/1999 – 14/02/2006

* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9-2006 với nhan đề Phạm Quỳnh- Người nặng lòng với tiếng ta và bút danh Nguyễn Trung là bút danh thường dùng của Phạm Tôn từ 1973


[1] Theo Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn (Bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân – NXB Ý Việt, Paris, 1993, trang 60): Lời của người dịch: Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Études Interdisciplinaires sur le Viet Nam (Sai Gon, 1974) cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30/1/1893. Theo tác giả Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh, thì “thuyết” này đúng hơn cả, vì cũng là một năm Nhâm Thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (Cũng do ông Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2/2/1892)

[2] Theo tư liệu của Nguyễn Tâm, thư ký thường trực Ban Liên Lạc Cựu học sinh trường Bưởi-Chu Văn An: Trường Bưởi-Chuyện ngày xưa

[3] Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Tome I) của Huình Tịnh Paulus Của –SaiGon, 1895 thì từ khu khu có nghĩa là “đau đáu, mảy mảy”

[4] Trích Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh, ngày 8-7-1922. NXB Hội Nhà Văn-Hà Nội, 2004

[5] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

6 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

7 , 8 , 9 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

10 Trích Nhà Văn Hiện Đại (tập I) của Vũ Ngọc Phan, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1989

[11] Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[12] Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư-Hà Nội, 1932

[13] Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2004.

14 Trích Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh, Nam Phong Tùng Thư – Hà Nội, 1932.

15 Trích Tuyển tập và di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

[16] , 17 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

18 Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924

19 Trích Tuyển tập và Di cảo của Phạm Quỳnh, An Tiêm, Paris, 1992

20 Câu này có khắc trên đá tại khu mộ Phạm Quỳnh, trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế. Sau 1975 cho đến nay (2006), khu mộ vẫn được giữ nguyên vẹn

Tiếng ta hay lắm

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 12 năm 2013.

TIẾNG TA HAY LẮM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu và phần cuối chúng tôi trích trong bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại Hội Trí Tri (Hà Nội) ngày thứ năm 21 tháng 4 năm 1921. Đầu đề phần trích này là của chúng tôi.

*

*        *

Mới đây tôi có tiếp một cụ linh mục người quí quốc (chỉ nước Pháp – PT chú), cụ là người rất am hiểu tiếng ta mà lại thông cả chữ Hán nữa. Nhân bàn về văn quốc ngữ, tôi có phàn nàn với cụ rằng có nhiều người Đại Pháp không chịu công nhận tiếng An Nam, lại có ý phản đối, cho tiếng An Nam là không đủ dùng ở đời này, không sớm thời muộn, tất có ngày tự nhiên phải tiêu diệt đi và sẽ bị tiếng Pháp thế vào. Cụ đáp lại rằng: “Những người nói thế là xét lầm. Văn quốc ngữ ngày nay đương tấn tới, rồi cũng có ngày thành văn chương hay được. NgPham Quynh_Treười ta cứ chê rằng văn quốc ngữ phải mượn nhiều chữ Tàu, nhưng không hiểu rằng tiếng An Nam đối với chữ Hán thật là thuộc vào một cảnh ngộ  riêng, tưởng trong thế giới không có tiếng nước nào giống như thế. Chữ nho mà đem dùng sang văn quốc ngữ là thiện thị thành tiếng An Nam rồi. Ông có mượn chữ nước người, nhưng ông đọc theo giọng ông, ông lại đặt vào giữa một câu tiếng An Nam, thời chữ ấy là hóa theo An Nam rồi, còn gì là Tàu nữa. Đó là một sự rất tiện lợi cho cái quốc văn mới của các ông, vì tiếng các ông nhờ mượn chữ Tàu mỗi ngày một giàu thêm ra, mà mượn chữ Tàu thời mượn bao nhiêu cũng có thể tiêu hóa được. Không kể ngày nay nhiều người học tiếng Tây, một đôi khi cũng có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Như vậy thời văn quốc ngữ không bao lâu sẽ thành một nền quốc văn xứng đáng…”

Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này, thường nghe thiên hạ bình về văn quốc ngữ, người khen người thời hởi dạ, người chê thời đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp của một đời. Vậy nghe lời cụ linh mục là người đã nghiên cứu về tiếng ta và chữ nho thâm lắm, phán đoán mấy câu như thế, thật lấy làm vui lòng. Như thế thời  quốc văn ta có cơ thành lập được, không đến nỗi bị tiêu diệt như người ta nói. Mà nghĩ cho kỹ, tiêu diệt làm sao được? Nước ta với nước Tàu là đồng chủng đồng văn, người Tàu cai trị ta trong hơn ngàn năm, văn hóa Tàu ta đổi theo, phong tục Tàu ta bắt chước, dạy tiếng ta ta nói, ta không nói tiếng Tàu; huống ngày nay Đại Pháp sang bảo hộ là lấy cái chính khoan dung đại độ mà mở mang gây dựng cho ta, hà tằng lại có bụng muốn vùi rập phá hoại cái quốc túy của ta: không có lẽ đâu như thế. Đương khi ta còn tùy tâm về Hán học, đương khi những hàng thượng lưu trong nước còn mải miết về chữ nho, nung kinh nấu sử câu phù câu thì, thời trong dân gian những kẻ làm ruộng hái dâu, cùng là đàn bà con trẻ, nói năng với nhau bằng gì, lấy gì mà dạy bảo khuyên răn lẫn nhau, lấy gì mà truyền cho nhau cái tâm thuật làm người, những mánh khóe ở đời, những điều kinh nghiệm về việc làm ăn, những sự từng trải trong việc giao tế? Lại những khi nhớ hão thương thầm, mối tình lai láng, thời lấy gì mà giãi tỏ chút cảm thương, lòng tưởng nhớ? Con trai con gái, đời nào nước nào cũng biết dùng lời hát giọng thơ mà tỏ cái lòng ham muốn cho nhau biết, vậy mà trừ những bậc khuê môn đài các có thể lấy văn chương mà tự tỉ mình như Tư mã Văn quân, còn những kẻ tầm thường vô học thời biết lấy gì mà bày tỏ nỗi lòng? Há chẳng phải là cái tiếng quốc âm rất quí báu của ta rư? Há chẳng phải là những lời tục ngữ câu ca dao, ta thường nghe thấy trong dân gian, mà dẫu người học thức lắm khi cũng phải chịu là hay, cũng không từ dùng đến? Há chẳng phải là cái văn chương truyền khẩu kia, mẹ dạy cho con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêm khuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dưới bóng nguyệt tờ mờ? Mà cái văn chương truyền khẩu ấy, tuy chỉ xuất bản ở miệng người tuy không có sách nào biên chép, mà tôi dám quyết là một cái văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Mà cái văn chương nôm na mách qué, song thật có ý vị vô cùng, có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mỹ thuật, văn từ, phổ thông trong dân gian là bao gồm chung đúc cả ở đấy.

Cói đó thời biết giữa khi cái thế lực của Hán học còn đương lấn khắp hết cả, những người tri thức trong nước không ai chịu luyện tập đến tiếng Nôm mà tiếng Nôm còn sinh hoạt được mạnh như thế; huống bây giờ quốc dân đã biết hồi tỉnh lại mà quý chuộng tiếng nước mình, thời cái quốc âm kia thể sao mà tiêu diệt đi được, không những không tiêu diệt được, mà chắc càng tập luyện càng ngày càng hay mãi ra, sau này cũng thành một nền văn học xứng đáng, chẳng kém gì người. Ngày nay ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới, dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh Thái Tây trong quốc dân; còn cái tiếng thông thường nhật dụng thời ta đã có rồi, đã có đủ dùng rồi. Thứ tiếng thông thường ấy chính là những tục ngữ ca dao của ta đó.

(…)

Tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào, và cái văn chương truyền khẩu của ta thanh thú biết bao nhiêu. Tiếng An Nam ta hay lắm, các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quí báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà:

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương lấy cùng.

P.Q.

Tháng Năm 29, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 1 tháng 6 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 7:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 6 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/5/2015:

Tổng Bí thư tiếp; Chủ tịch nước đón, hội đàm; Thủ tướng hội kiến Tổng Thư ký LHQ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Ban Ki Mun và Phu nhân bắt đầu thăm chính thức nước ta. Sáng 22-5, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phu nhân đã chủ trì lễ đón trọng thể Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun và Phu nhân.

* Chiều 22-5, tại Trụ sở T.Ư Ðảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun Nguyen Phu Trong gap LHQđang ở thăm chính thức Việt Nam.

Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun bày tỏ vui mừng được trở lại thăm đất nước Việt Nam tươi đẹp, đúng vào dịp nhân dân Việt Nam kỷ niệm lần thứ 40 Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước; bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, phòng, chống dịch bệnh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai, đối phó và thích nghi biến đổi khí hậu; đánh giá cao vai trò, vị thế, những đóng góp quan trọng của Việt Nam trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới, hoan nghênh những nỗ lực và sự tham gia tícTruong Tan Sang gap LHQh cực, có trách nhiệm của Việt Nam vào các hoạt động của LHQ, mà nổi bật nhất là tiến hành một cách có hiệu quả Sáng kiến Một LHQ, đóng góp vào Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009, đang tích cực thực hiện vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và trong năm qua đã cử đại diện tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ; khẳng định cam kết của hệ thống LHQ và các tổ chức thành viên tiếp tục tăng cường hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và các Mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng Ngài Tổng Thư ký nhân dịp 70 năm thành lập LHQ. Tổng Bí thư đánh giá cao những nỗ lực của toàn bộ hệ thống LHQ và của cá nhân Ngài Tổng Thư ký trên cơ sở ba trụ cột là hòa bình – an ninh, phát triển và bảo đảm quyền con người; ghi nhận những sáng kiến và hoạt động của LHQ trong việc giải quyết các cuộc xung đột khu vực, cải tổ hoạt động gìn giữ hòa bình, thúc đẩy giải trừ quân bị, đồng thời huy động nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách. Tổng Bí thư bày tỏ cảm ơn sự hợp tác, hỗ trợ của LHQ dành cho Việt Nam trong khắc phục hậu quả và tái thiết sau chiến tranh, giúp đỡ Việt Nam về tài chính, chuyên gia và hỗ trợ kỹ thuật để xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội. Tổng Bí thư cho rằng, chuyến thăm lần này của Tổng Thư ký LHQ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và LHQ, khẳng định Việt Nam với tư cách một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẽ tiếp tục tham gia và đóng góp hơn nữa vào công việc chung của LHQ vì hòa bình, an ninh, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun cũng trao đổi ý kiến về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm. Tổng Thư ký LHQ trân trọng mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới thăm Trụ sở LHQ trong thời gian tới. Ðồng chí Tổng Bí thư đã cảm ơn và nhận lời mời.

* Chiều 22/5, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội kiến với Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun đang thăm chính thức Việt Nam

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 28/5/2015:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng tiếp Đoàn Thượng nghị sĩ Mỹ

Chiều 27-5, tại Trụ sở T.Ư Ðảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ðoàn Thượng nghị sĩ (TNS) Mỹ do TNS G.Mắc-kên, Chủ nhiệm Ủy ban Quân vụ Thượng viện dẫn đầu thăm Việt Nam.

TNS G.Mắc-kên chân thành cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dành thời gian tiếp Ðoàn; bày tỏ vJohn mccain va nguyen phu trongui mừng trở lại thăm Việt Nam đúng dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước; đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam trong thời gian qua, cũng như vị thế và vai trò ngày càng cao của Việt Nam tại khu vực và trên thế giới. TNS nhấn mạnh những bước tiến trong quan hệ giữa hai nước, nhất là trong hai năm triển khai quan hệ Ðối tác toàn diện; tái khẳng định Mỹ coi trọng và mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam. TNS G.Mắc-kên và Ðoàn bày tỏ mong muốn đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Mỹ, cho rằng đây là chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ hai nước, đồng thời cam kết sẽ nỗ lực để chuyến thăm đạt kết quả cao nhất. TNS G.Mắc-kên và Ðoàn bày tỏ quan tâm đặc biệt vấn đề an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở khu vực và những diễn biến gần đây ở Biển Ðông; khẳng định ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp ngoại giao, hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh TNS G.Mắc-kên trở lại thăm Việt Nam; đánh giá cao những tình cảm và đóng góp của các bạn bè Mỹ và cá nhân TNS nói riêng trong quá trình dỡ bỏ cấm vận thương mại, bình thường hóa và tích cực thúc đẩy quan hệ song phương Việt Nam – Mỹ. Tổng Bí thư bày tỏ hài lòng về những bước phát triển tích cực trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước theo khuôn khổ Ðối tác toàn diện đã được thiết lập; khẳng định chủ trương nhất quán của Ðảng và Nhà nước Việt Nam là coi trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Mỹ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước; khẳng định trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển nhằm tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư ghi nhận sự hợp tác của phía Mỹ trong việc tham gia giải quyết hậu quả chiến tranh; đồng thời, đề nghị QH, Chính quyền và TNS G.Mắc-kên cùng Ðoàn tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực này nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, tăng cường lòng tin giữa hai bên, tạo nền tảng cho sự phát triển của quan hệ song phương.

Về tình hình Biển Ðông, Tổng Bí thư khẳng định lập trường kiên định của Việt Nam bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, trước hết bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC), tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC); phản đối mọi hành vi coi thường luật pháp quốc tế, phá vỡ hiện trạng, đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/5/2015:

Góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh khu vực và trên thế giới

Chiều 23-5, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị đánh giá kết quả một năm Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình (GGHB) Liên hợp quốc (LHQ) và công bố Dự án xây dựng Trung tâm GGHB Việt Nam. Tới dự, có Ngài Ban Ki Mun, Tổng Thư ký LHQ; các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao; Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng; Thượng tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Công an; đại diện các bộ, ban, ngành ở T.Ư, các cơ quan của LHQ, Đại sứ quán, Tùy viên quốc phòng các nước và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Hội nghị thống nhất đánh giá: Nhìn lại một năm Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, lĩnh vực tham gia mới, phức tạp, khối lượng công việc lớn, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến, nhưng quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng, Nghị quyết 806 của Quân ủy T.Ư về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng và Trung tâm GGHB Việt Nam đã chủ động, tích cực chuẩn bị về mọi mặt; triển khai đồng bộ, toàn diện việc tham gia hoạt động GGHB LHQ. Theo đó, Trung tâm GGHB Việt Nam đã phát huy tốt vai trò là cơ quan tham mưu cho Quân ủy T.Ư và Bộ Quốc phòng trong điều hành, quản lý, hướng dẫn và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tham gia hoạt động GGHB LHQ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đã cử hai sĩ quan đi làm nhiệm vụ sĩ quan liên lạc tại phái bộ Nam Xu-đăng, ba cán bộ đi làm nhiệm vụ sĩ quan tham mưu quân sự tại phái bộ Cộng hòa Trung Phi. Bước đầu, các cán bộ của trung tâm được LHQ và lãnh đạo các phái bộ đánh giá cao về ý thức trách nhiệm, khả năng và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ…

Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Ngài Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun đánh giá cao hoạt động của các sĩ quan QĐND Việt Nam tại các phái bộ GGHB LHQ; bày tỏ niềm vui khi biết Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức một bệnh viện dã chiến sẵn sàng tham gia hoạt động GGHB LHQ, cho rằng, việc làm đó sẽ mang đến nhiều sự cứu trợ cho những người đang gặp khó khăn, qua đó thể hiện sự cam kết của Việt Nam đối với thế giới và bày tỏ niềm tự hào về tính đại diện của Việt Nam tại các diễn đàn thế giới.

Đánh giá cao sự đóng góp của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam vào hoạt động GGHB của LHQ, Tổng Thư ký LHQ mong muốn, thời gian tới, Trung tâm GGHB Việt Nam sẽ đào tạo thêm nhiều nhân viên có năng lực, nhiệt tình để tham gia vào hoạt động này; LHQ tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực này để Việt Nam tiến xa hơn trên con đường chia sẻ trách nhiệm, cam kết mạnh mẽ hơn để tạo nên một thế giới hòa bình hơn.

Ngài Tổng Thư ký LHQ bày tỏ sự cảm ơn về những cam kết mạnh mẽ và vai trò của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong lĩnh vực GGHB của LHQ. Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhiệt liệt chúc mừng Bộ Quốc phòng, Trung tâm GGHB Việt Nam đã đạt những thành tựu quan trọng trong thời gian qua.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Việt Nam đánh giá cao vai trò quan trọng của LHQ suốt 70 năm qua trong việc giải quyết nhiều cuộc xung đột, góp phần tích cực duy trì, bảo vệ hòa bình, an ninh quốc tế, trong đó có việc triển khai các hoạt động GGHB ở nhiều khu vực trên thế giới. Thành công đó gắn liền việc thực hiện nghiêm túc các mục tiêu của Hiến chương LHQ, tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động GGHB là phải có sự nhất trí của các bên liên quan, vô tư, không thiên vị, chỉ sử dụng vũ lực để phòng vệ và là biện pháp cuối cùng, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Việt Nam hoàn toàn ủng hộ những mục tiêu, nguyên tắc này, sẵn sàng đóng góp tích cực hơn cho những mục tiêu đó.

Thay mặt Chính phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cảm ơn sự ủng hộ, hỗ trợ quý báu của Ngài Tổng Thư ký và các cơ quan LHQ cũng như các nước đã dành cho Việt Nam thời gian qua, đồng thời đề nghị, Ngài Tổng Thư ký tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục đóng góp nhiều và hiệu quả hơn vào các hoạt động GGHB LHQ. Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tin tưởng, Việt Nam và LHQ sẽ là đối tác tin cậy, cùng hợp tác, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh trong khu vực và trên thế giới.

Nhân dịp này, Bộ Quốc phòng công bố dự án xây dựng Trung tâm GGHB Việt Nam (giai đoạn 1), tại huyện Thạch Thất (Hà Nội), rộng 7 ha, với tổng mức đầu tư 215 tỷ 938 triệu đồng, gồm: khu nhà điều hành, các khu nhà giảng đường, khu huấn luyện và khu đón, tiếp khách quốc tế, công trình nhà ở cho cán bộ, học viên.

PV

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 2/5/2015:

Truy điệu và an tang hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên

Chiều 11-5, tại Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên (Hà Giang), huyện Vị Xuyên đã tổ chức Lễ đón nhận năm bộ hài cốt liệt sĩ từ Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Hà Giang; tổ chức lễ truy điệu và an táng các liệt sĩ theo nghi thức trọng thể. Tại buổi lễ, lãnh đạo tỉnh Hà Giang, huyện Vị Xuyên, lực lượng vũ trang và người dân đã dâng hương bày tỏ lòng thành kính, tri ân trước công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Trước đó, ngày 6-5, Bộ CHQS tỉnh Hà Giang phối hợp chính quyền địa phương tổ chức quy tập năm bộ hài cốt liệt sĩ trên điểm cao 400, thuộc thôn Giang Nam, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên. Bộ CHQS tỉnh Hà Giang cũng bàn giao mẫu sinh phẩm cho cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ADN làm cơ sở chứng minh nhân thân liệt sĩ sau này.

PV

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 22/5/2015:

Hợp long cầu An Đông nối hai bờ sông Dinh

Sáng 21-5, UBND tỉnh Ninh Thuận tổ chức lễ hợp long cầu An Đông nối hai bờ sông Dinh sau bốn năm thi công.

Ông Võ Đức Triều – giám đốc Sở GTVT tỉnh Ninh Thuận – cho biết cầu An Đông là một trong tám dự án thành phần của dự án đường ven biển tỉnh Ninh Thuận, do Tập đoàn Hyundai Amco, Hàn Quốc thi công với tổng mức đầu tư 1.327 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

Cau An Dong

Tổng chiều dài 2.342m (trong đó phần cầu 1.018m), rộng 20,5m, khổ thông tàu thuyền cao 10,5m, rộng 80m. Đầu cầu phía bờ bắc thuộc phường Đông Hải, TP Phan Rang – Tháp Chàm, đầu phía nam thuộc xã An Hải, huyện Ninh Phước.

Trụ cầu sử dụng cọc khoan nhồi bêtông cốt thép, nhịp cầu thi công bằng công nghệ đúc hẫng cân bằng kết hợp dây văng lắp đặt qua bốn trụ tháp cao 14,5m tính từ mặt cầu.

Tại lễ hợp long, ông Trần Xuân Hòa, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Ninh Thuận, cho biết cầu An Đông có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển du lịch cho Ninh Thuận.

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 24/5/2015:

Tuyên dương 55 “người thợ trẻ giỏi” năm 2015

Tối 23-5, tại Bình Dương, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tổ chức liên hoan “Người thợ trẻ giỏi” toàn quốc lần thứ VI năm 2015.

Tại buổi liên hoan, Trung ương Đoàn đã tặng bằng khen và tuyên dương 55 đại biểu xuất sắc, là học sinh các trường nghề, trung cấp có thành tích học tập tốt hoặc những lao động trẻ trực tiếp tham gia sản xuất, có sáng kiến, cải tiến giúp nâng cao năng suất và hiệu quả công việc.

Năm nay, ban tổ chức nhận được 159 đề cử từ các tỉnh, thành đoàn trên toàn quốc. Các đại biểu được lựa chọn tuyên dương từ 16 tới 35 tuổi, mở rộNguoi tho gioing so với tiêu chí trước đây số tuổi nhỏ nhất phải từ 18 tuổi.

Tại liên hoan, Trung ương Đoàn đã trao tặng 350 triệu đồng từ nguồn vốn xã hội hóa để dành tặng xây dựng nhà nhân ái cho thanh niên công nhân  có hoàn cảnh khó khăn và tặng 20 tủ sách, 20 tủ thuốc cho thanh niên các khu lưu trú văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Trong những ngày diễn ra liên hoan, các đại biểu còn thăm, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại các trung tâm bảo trợ xã hội; thăm quan dây chuyền sản xuất của một số công ty tại Bình Dương; các khu nhà trọ văn hóa thanh niên.v.v…

Đặc biệt, ngày hội “Thanh niên công nhân làm theo lời Bác” diễn ra tại Trung tâm hỗ trợ thanh niên công nhân và lao động trẻ tỉnh Bình Dương với nhiều hoạt động ý nghĩa như: triển lãm ảnh Bác Hồ với công nhân, tư vấn sức khỏe, khám bệnh miễn phí cho thanh niên công nhân; bán hàng giá gốc cho công nhân.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngáy 15/5/2015:

Quảng Bình đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng

Cơ giới hóa không chỉ giúp người nông dân thoát khỏi cảnh lao động vất vả, cực nhọc mà còn là yêu cầu bức thiết nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tại Quảng Bình, việc áp dụng cơ giới hóa vào đồng ruộng góp phần tăng năng suất, chất lượng lúa và tăng thu nhập cho người nông dân.

May gat lua

Cơ giới hóa trên cánh đồng lớn

Chúng tôi về vựa lúa An Ninh, huyện Quảng Ninh vào một ngày đầu tháng tư, khi lúa đông xuân chín rộ. Nắng rát mặt người, song chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX) dịch vụ nông nghiệp Thống Nhất Nguyễn Duy Viên vẫn hào hứng đưa chúng tôi đi thăm cánh đồng lớn của một xã viên. Ông Nguyễn Ðại Ơn là nông dân có tiếng làm nhiều ruộng ở An Ninh gần 5 ha. Khi chúng tôi đến khu sản xuất của gia đình bên triền đê, ông Ơn đang kiểm tra lại chiếc máy tuốt lúa chuẩn bị cho vụ gặt mới. Dừng tay, ông nói: “Bây giờ làm ruộng khác xưa rồi, không còn con trâu đi trước, cái cày đi sau nữa. Mà với 5ha ruộng của tui, nếu cày bằng trâu thì biết khi mô cho kịp vụ. Hơn nữa, làm một sào ruộng chừ phải chịu nhiều chi phí, từ cày, bừa, giống, chăm sóc, bón phân cho đến thuê gặt. Bỏ ra chừng đó chi phí, cuối vụ thu mỗi sào 2,5 tạ lúa thì lỗ vốn là chắc. Vì thế tui quyết định mua một số máy móc phục vụ sản xuất. Số vốn bỏ ra ban đầu khá lớn, nhưng mình dùng nhiều năm thì tính ra mỗi năm chi phí lại nhỏ”.

Theo ông Ơn, để tiết kiệm chi phí khi mua máy móc, ông đã cải tiến chiếc máy phay đất thông thường thành chiếc máy có ba chức năng. Từ chiếc máy nguyên bản, ông tháo lưỡi răng phay thay bằng lưỡi cày thì chiếc máy trở thành máy cày. Rồi từ chiếc máy đó ông lắp thêm dây cua-roa để truyền lực cho bộ phận hút nước thì thành máy bơm nước. “Nếu thuê máy cả ba khâu, chi phí cao hơn đến ba lần”- ông nói. Theo chủ nhiệm Nguyễn Duy Viên, toàn HTX có 12 hộ làm ăn lớn và khá giả như ông Ơn. Những hộ này có điểm chung là diện tích sản xuất lớn và đều áp dụng cơ giới hóa sản xuất. (…)

Nhiều năm qua, An Ninh không chỉ là xã dẫn đầu phong trào thi đua sản xuất, xóa đói, giảm nghèo mà còn đi đầu trong việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp của huyện Quảng Ninh. Hiện, toàn xã có 261 máy làm đất các loại, trong đó có 250 máy phay, máy cày các loại, sáu máy gặt đập liên hợp. Vào mỗi vụ xuống giống hay thu hoạch, số phương tiện máy móc này hoạt động hết công suất, bảo đảm thời vụ, đưa hệ số sử dụng đất lên 2,9 lần.

Tại các huyện trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Bình như Lệ Thủy, Quảng Ninh và Bố Trạch, hình ảnh con trâu và cái cày hầu như không còn, thay vào đó là những chiếc máy làm đất, máy gặt đập liên hợp. Hiện chưa có số liệu thống kê số lượng máy phục vụ sản xuất nông nghiệp nhưng theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) Quảng Bình, ba khâu mất nhiều thời gian và công sức trong nghề trồng lúa là làm đất, thu hoạch và vận chuyển đã được cơ giới hóa với kết quả khá cao, tỷ lệ tương ứng là 90%, 60% và 65%. Riêng một số xã có HTX dịch vụ nông nghiệp tại Lệ Thủy và Quảng Ninh đạt tỷ lệ 100% khâu làm đất, 90% khâu thu hoạch và 100% khâu vận chuyển đã có máy móc làm thay. Ðiều đó cho thấy, HTX dịch vụ nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất.

Hình thành dịch vụ cơ giới sản xuất nông nghiệp

(…) Hai năm gần đây, tại Quảng Bình hình thành một dịch vụ mới là dịch vụ cơ giới sản xuất nông nghiệp.

Anh Nguyễn Văn Quân ở xã An Thủy (Lệ Thủy) là người sắm máy cày mở dịch vụ làm đất từ khá sớm tại địa phương. Anh cho biết, anh hợp đồng với các HTX để làm đất cho xã viên. Trong số ba máy cày của anh, có chiếc MTZ 50 công suất lớn, làm đất ở những vùng ruộng trũng rất tốt; hai chiếc máy còn lại cày những vùng ruộng hẹp mà không gây hư hại đến bờ bao, đường sá. Tính sơ bộ, công làm đất mỗi sào từ 85 đến 100 nghìn đồng, vụ đông xuân một “trâu sắt” của anh thu về hơn 50 tấn lúa, vụ hè thu khoảng 1/3 số lượng đó nữa, như vậy anh thu hơn 60 tấn lúa/năm, khoảng 270 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi gần trăm triệu đồng (…)

Ðẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp

Mô hình cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch do Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quảng Bình triển khai trong nhiều năm qua được nông dân trong tỉnh đánh giá cao. Do khoảng cách giữa vụ đông xuân và hè thu tại Quảng Bình rất ngắn, việc đưa cơ giới hóa vào khâu làm đất và thu hoạch đã giải quyết được vấn đề tranh chấp thời vụ để bảo đảm sản xuất.

Bài và ảnh: HƯƠNG GIANG

  • Tin trang 15 báo Nhân Dân Cuối Tuần số 21 (1371) 24/5/2015

Lực hút mô hình lúa Nhật    

Vì sao hơn 4.000 nông dân ở An Giang hào hứng đến thế khi tham gia mô hình “Liên kết sản xuất lúa Nhật”? Câu trả lời, đơn giản là nhờ vào mô hình này, người nông dân có một tâm thế khác để làm giàu trên chính mảnh ruộng của mình.

Lợi nhuận tối thiểu 40%

Năm 2009, UBND tỉnh An Giang ủy quyền cho Hội Nông dân tỉnh hợp tác với Công ty Angimex – Kitoku triển khai Dự án “Sản xuất lúa Nhật”. Mỗi bước đi của dự án đều rất cẩn trọng. Đến nay, An Giang đã trồng bốn giống lúa: Hana, Kinu, Akita và KZ4Lua Nhat được mang từ Nhật sang. Theo các chuyên gia lúa gạo nhận định, các giống lúa Nhật rất thích hợp để phát triển trên vùng đất nhiễm phèn ở khu vực ĐBSCL. “Nếu tính từ lúc có mặt khảo sát và trồng thử nghiệm lúa Nhật trên đất An Giang, chúng tôi đã có mặt ở đây gần 20 năm. Trong đó mất gần nửa thời gian để trồng khảo nghiệm, rồi mới triển khai rộng ra cho nông dân trồng” – ông Akira Omori, Phó Giám đốc TNHH Angimex – Kitoku cho biết.

Sau này khi đã phát triển nhanh do mức độ trồng lúa thuần thục của nông dân và lợi nhuận khá bền vững tạo lực hút cho nông dân An Giang tham gia. Theo kết quả có được rất khả quan khi diện tích trồng lúa Nhật đã phát triển vùng nguyên liệu lên 3.000 ha (trong 3 vụ) với tổng sản lượng thực mua của nông dân theo hợp đồng là hơn 30 nghìn tấn lúa hàng hóa để xuất khẩu và 2.000 tấn lúa giống. Hơn 4.000 lượt nông dân thuộc 22 xã của năm huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn và TP Long Xuyên tham gia trồng lúa Nhật, cung cấp hàng chục nghìn tấn lúa hàng hóa cho Angimex – Kitoku. Trong đó, mô hình này bảo đảm lợi nhuận tối thiểu cho nông dân 40%…

Xu thế tất yếu của liên kết qua mô hình hợp tác

Phải thấy rằng, các chuyên gia Nhật đã, đang rất chú trọng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nông dân tham gia dự án. Trong quá trình trồng lúa Nhật, nông dân An Giang được Angimex – Kitoku triển khai quy trình khép kín từ việc cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh; hỗ trợ nông dân tạm ứng trước giống, vật tư phân bón và hoàn trả vốn sau khi thu hoạch… Theo ông Akira Omori, đây là Lua Nhat 2bước tiến giúp chúng tôi gần nông dân hơn, nhất là lợi ích của nông dân cũng là lợi ích của doanh nghiệp.

Nghe đơn giản nhưng quá trình hợp tác trồng lúa Nhật cũng phải tiến triển qua nhiều giai đoạn để xác lập được “bộ khung” như hiện nay. Thực tế, phía công ty không thể đi ký từng hợp đồng với nông dân trồng lúa. Nhu cầu liên kết qua các mô hình hợp tác là xu hướng tất yếu. Cụ thể, như Hội Nông dân phường Mỹ Hòa đã thành lập 16 tổ hợp tác sản xuất lúa Nhật, hơn 60 thành viên sản xuất khoảng 560 ha. Đây cũng là mô hình đang được nhân rộng ở nhiều địa phương tỉnh An Giang. “Trồng lúa Nhật có cái sướng là biết giá bán trước khi ký hợp đồng, ổn định lâu dài giúp cho người dân yên tâm sản xuất. Song, nông dân phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy trình được hướng dẫn, nhất là sử dụng giống, gieo sạ, chăm sóc, khử lẫn, phơi khô…”-ông Sáu Bình ở xã Vọng Thê cho biết.

Mặc dù diện tích sản xuất lúa theo mô hình “cánh đồng mẫu lớn” ở ĐBSCL đang gia tăng, nhưng hiện đang “chững lại” vì một số doanh nghiệp đã không thực hiện hết các cam kết mua lúa bao tiêu với nông dân… Trong khi không ồn ào và có phần “kín kẽ”, mô hình trồng lúa Nhật, sản phẩm được tiêu thụ hết theo hợp đồng; lợi nhuận được bảo đảm, vai trò Hội Nông dân được phát huy trong việc “tổ chức lại sản xuất”. Nếu như những mô hình “Cánh đồng lớn”, “Cánh đồng liên kết” đang lần dò những bước đi chập chững thì “làm lúa kiểu Nhật” là một mô hình đã vững buớc, rất đáng được quan tâm về cách thức hợp tác khép kín!

Vĩnh Tưởng

  • Tin trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 27/5/2015:

Tàu vỏ thép đàu tiên của Vũng Tàu xuất bến

Sáng 26-5, tàu vỏ thép “Gia Hân 02” (biển đăng ký BV 99999 TS) của Công ty TNHH hậu cần thủy sản Gia Hân (TP Vũng Tàu, Bà Rịa-Vũng Tàu) đã xuất bến đi biển chuyến đầu tiên. Tàu có giá trị 35 tỉ đồng và là tàu cá đầu tiên của Bà Rịa – Vũng Tàu được đóng từ chính sách ưu đã phái triển thủy sản theo nghị định 67-2014 của Chính phủ. Trong đó vốn của chủ tàu 5 tỉ đồng, còn lại 30 tỉ đồng vay từ Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với lãi suất ưu đãi.

Tau vo thepGia Hân 02 là tàu dịch vụ hậu cần, cung cấp dầu, nhu yếu phẩm cho các tàu cá xa khơi, đồng thời thu mua hải sản trên biển, đưa về bờ. Tàu có thể chở 400 tấn hải sản, 7.000 cây đá lạnh, 100 khối nước ngọt, 250 tấn dầu DO. Tàu dài 54m, rộng 10m, trang bị 2 động cơ với công suất mỗi máy là 822CV, có thể chịu được sóng gió cấp 8, 9. Tàu được trang bị các thiết bị hiện đại như radar, định vị toàn cầu, bản đồ số cùng máy móc phục vụ vận chuyển, bốc dỡ, bơm dầu. Tàu có tám phòng ngủ, một phòng sinh hoạt chung.

Bà Nguyễn Thị Kim Liên đại diện Công ty Gia Hân, cho biết đây là tàu dịch vụ hậu cần thủy sản thứ hai của công ty (tàu trước đây đóng bằng vốn của doanh nghiệp), được ngân hàng giải quyết thủ tục nhanh, gọn nên từ khi ký hợp đồng vay vốn đến lúc hoàn thành con tàu chỉ trong vòng hai tháng. Tàu hoàn thành nhanh và xuất bến đúng vào thời vụ, nhiều tàu cá, bạn ghe đang rất cần được tiếp tế, đáp ứng nhu cầu dầu, thực phẩm.

Theo bà Liên, khi có tàu dịch vụ hậu cần thủy sản cung cấp dầu, nhu yếu phẩm ngay trên biển và mua hải sản đưa về bờ, chắc chắn sẽ giúp ngư dân, các bạn ghe bám biển dài ngày, làm ăn hiệu quả hơn gấp bội lần. “Hiện chsung tôi rất muốn đóng thêm một tàu vỏ thép nữa để làm dịch vụ hậu càn và đóng thêm nhiều tàu cá khác để mở rộng đánh bắt hải sản,làm dịch vụ trên biển. Nếu được phép, Công ty Gia Hân sẽ tiếp tục vay tiền để đóng tàu, mở rộng đánh bắt, bám biển dài ngày” – bà Liên nói.

Đông Hà

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 24/5/2015:

Cứu sống người bệnh bằng kỹ thuật ô-xy hóa qua màng ngoài cơ thể

Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, vừa cứu sống một người bệnh bị viêm cơ tim nặng bằng kỹ thuật ô-xy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO). Người bệnh tên T.H (39 tuổi), trú phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà (Thừa Thiên – Huế). Khi nhập viện, người bệnh bị sốc nặng, môi, đầu, chi tái lạnh, khó thở, hô hấp rất kém với bão hòa ô-xy máu rất thấp và chỉ còn 65%. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ chỉ định hỗ trợ tuần hoàn cơ học bằng phương pháp ECMO. Sau sáu ngày hỗ trợ kỹ thuật ECMO để duy trì sự sống, kết hợp điều trị, người bệnh dần hồi phục, trở lại hoạt động bình thường.

PV.

  • Tin trang 14 báo Tuổi Trẻ ngày 25/5/2015:

Hàng trăm bạn trẻ nhập cuộc sân chơi khoa học

Ngày 24-5, Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM đầy ắp học sinh, sinh viên tham gia Triển lãm 40 năm khoa học và công nghệ (KH&CN) TP.HCM do Sở KH&CN phối hợp với Thành đoàn TP.HCM tổ chức. 

Hàng trăm bạn trẻ là học sinh tiểu học, THCS, THPT, sinh viên các trường ĐH trên địa bàn thành phố “lăn xả” vào các hoạt động vui chơi, giải trí mang đậsan choi khoa hocm dấu ấn KH&CN như: lắp ráp mô hình với chủ đề “Tiết kiệm năng lượng”, “Rung chuông vàng về kiến thức KH&CN”, “Tư duy, lập trình cùng game”.

Trưa 24-5, trong cái nắng khá gay gắt, nhiều học sinh tiểu học của TP.HCM vẫn hào hứng với trò chơi lắp ráp mô hình robot, xe chạy bằng năng lượng mặt trời. Em Đặng Trần Thiện Nhân (học sinh lớp 4, Q.10, TP.HCM) được cha dẫn đến chơi, tự tay lắp ráp mô hình dưới sự hướng dẫn của cha rồi đưa ra nắng thử. “Tôi đọc báo biết sân chơi này nên dẫn con vào chơi. Bé chơi từ sáng đến giờ mà vẫn còn mê lắm (khoảng ba giờ)”- ông Hùng, ba Thiện Nhân, cho biết. “Mấy đứa nhỏ được chơi như thế này vừa không hại mắt mà còn biết được nhiều thứ, nhất là rèn tính kiên nhẫn, khéo léo và óc sáng tạo”. Nhiều phụ huynh có mặt tại các sân chơi trong triển lãm hôm qua cũng bày tỏ hi vọng sẽ có nhiều sân chơi KH&CN dành cho lứa tuổi học sinh, sinh viên hơn nữa.

Mỹ Dung

  • Bài trang Hà Nội báo Nhân Dân ngày 22/5/2015:

Học nhiều điều từ triển lãm thời bao cấp

Hình ảnh những bạn trẻ trật tự xếp hàng, trong tay mỗi người là tem phiếu chờ đến lượt mua bánh mì – đó là một trong những trải nghiệm tại triển lãm “Bao cấp – xếp hàng về quá khứ”. Nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến chia sẻ, thời bao cấp tuy khó khăn về vật chất, nhưng con người sống với nhau rất tình cảm. Vượt qua khuôn khổ một cuộc trưng bày, triển lãm “Bao cấp – xếp hàng về quá khứ” nhắc nhở người xem nhiều điều về giá trị của cuộc sống hôm nay.

Những bạn trẻ mới học phổ thông cơ sở được bố mẹ mua cho những chiếc điện thoại thông minh, đi những chiếc xe máy điện hàng chục triệu đồng không phải là chuyện hiếm trong nhưng năm gần đây. Nhưng họ nghĩ thế nào về hạnh phúc? ThựcThoi bao cap tế, rất nhiều bạn vẫn “kêu khổ”, vẫn so đo với bạn bè đồng trang lứa sự hơn thua về vật chất. Rất cần có sự “đối chứng” để người trẻ hiểu hơn về chính cuộc sống hôm nay.

Triển lãm “Bao cấp – xếp hàng về quá khứ” đã phần nào làm được điều đó. Khoảng 100 hiện vật thời bao cấp được trưng bày tại Trung tâm thương mại Indochina (241 phố Xuân Thuỷ, quận Cầu Giấy) đưa mỗi người tham quan về với quá khứ, một quá khứ đầy ắp những kỷ niệm. Đó là những cuốn sổ gạo “vật bất ly thân” với các hộ gia đình, nó quan trọng đến nỗi đã trở thành một câu “thành ngữ” khi nói ai đó có chuyện buồn – “buồn như mất sổ gạo”. Đó là những chiếc tem phiếu để mua thịt, mua vải may quần áo, hay nhiều nhu yếu phẩm khác… Đi kèm với những hiện vật ấy là những lời giải thích, nếu không giới trẻ ngày nay không thể hiểu nổi thế nào là bao cấp, thế nào là phân phối, thế nào là mậu dịch…

Triển lãm còn tái hiện không gian sinh hoạt của một gia đình được xem là “giàu có” thời đó, với những vật dụng đáng mơ ước của hơn 30 năm về trước như: tủ búp-phê, bàn ghế sa-lông, ti-vi đen trắng… Phòng khách và phòng ngủ chỉ được ngăn bằng một chiếc ri-đô. Nhà bếp đặt ngay cạnh giường ngủ, với một chiếc nồi áp suất do Liên Xô sản xuất. Triển lãm cũng giới thiệu những bài thơ, câu ca điển hình cho cuộc sống thời bao cấp như: “Một yêu anh có may ô/Hai yêu anh có cá khô ăn dần…” hay “Nhất gạo, nhì rau/Tam dầu, tứ muối…”. Một hiện vật gây xúc động với người tham quan là bức thư của một cậu bé gửi ba khi ba đi nước ngoài. Trong kiện hàng ba cậu gửi về, có một cục gì là lạ. Mẹ cậu nghĩ là xà phòng, đem đi giặt, nhưng không thấy ra bọt. Về sau mới biết đó là bơ – thực phẩm quen thuộc thời nay, nhưng hồi đó là của hiếm. Nhưng độc đáo nhất là tái hiện việc xếp hàng mua thực phẩm. Muốn mua hàng ở quầy “mậu dịch”, khách tham quan phải đổi tem phiếu, sau đó xếp hàng chờ đến lượt. Để tạo không khí giống như trước đây, Ban Tổ chức thi thoảng lại thông báo “hết hàng”, khiến mọi người phải chờ đợi. Hoạt động này khiến những người tham gia hết sức thích thú. Em Nguyễn Minh Hạnh, sinh viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội cho biết: “Em vẫn nghe mọi người nói về việc trước đây đi mua hàng phải xếp hàng chờ đợi rất lâu, cho nên khá tò mò. Em thấy khi đến đây mọi người xếp hàng rất trật tự. Một số bác lớn tuổi kể rằng trước đây việc xếp hàng vất vả hơn, chờ đợi lâu hơn”.

Phần lớn khách tham quan đến với “Bao cấp – xếp hàng về quá khứ” là những bạn trẻ, những người mong muốn được tìm hiểu, trải nghiệm về cuộc sống trước đây. Nhưng cũng không ít khách tham quan ở độ tuổi trung niên, những người từng sống qua thời bao cấp. Nghe nói có cuộc triển lãm về thời bao cấp, bác Nguyễn Mạnh Hùng đạp xe từ khu tập thể Thanh Xuân sang để xem và xúc động khi nhìn lại những hiện vật thân thuộc một thời. Bác chia sẻ: “Triển lãm đã nói được phần nào cuộc sống của lớp chúng tôi những năm trước. Có những chuyện mà ngày nay bọn trẻ rất khó có thể hình dung ra. Ngày xưa chúng tôi chỉ biết có chiếu bóng, có biết ti-vi là cái gì đâu? Nghe mọi người bảo có thể đem cái sân chiếu bóng về nhà mà mình không tin. Mãi sau mới biết là ti-vi. Thiếu thốn nhưng người Việt mình cũng giỏi sáng tạo để thích nghi, chẳng hạn cái lốp xe đạp hỏng thì rút lốp. Tôi chở theo cả đứa cháu nội để kể cho nó chuyện ngày xưa, để nó biết rằng cuộc sống hôm nay hạnh phúc thế nào”.

Số lượng hiện vật được trưng bày “không thấm vào đâu nếu so với triển lãm “Cuộc sống thời bao cấp” mà Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức cách đây gần mười năm. Nhưng cuộc triển lãm “Bao cấp – xếp hàng về quá khứ” vẫn có sức hút riêng. Đó là việc những bạn trẻ trực tiếp đứng ra tổ chức, điều này cho thấy một bộ phận giới trẻ biết quan tâm đến cuộc sống của những người đi trước. Mặt khác, trải nghiệm xếp hàng trước “cửa hàng mậu dịch”, để mọi người hiểu thêm về “văn hóa xếp hàng” của một thời chưa xa lắm. “Ngày nay chúng ta có cuộc sống đầy đủ hơn rất nhiều, nhưng có những thứ vẫn phải học ngày xưa. 30, 40 năm trước, việc xếp hàng nhiều khi rất chật vật, khổ sở, mua được cân gạo, lạng thịt đều khó khăn. Cũng có chuyện chen lấn xô đẩy, tuy nhiên không nhiều. Ngày xưa thiếu thốn mà mỗi người còn nhường nhịn nhau được. Đây là bài học cho mỗi người trong giáo dục lớp trẻ”, bác Nguyễn Văn Niên, một khách tham quan triển lãm nói.

Có những người muốn “xóa” ký ức thời bao cấp, khi nó gắn liền với sự thiếu thốn về vật chất. Song phần đông cho rằng, không “thi vị hóa” thời bao cấp, mà rất cần một cái nhìn trở lại để đi lên. Như nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến tổng kết, đó là một thời rất nghèo khó về vật chất mà giàu về tinh thần, con người sống với nhau rất tình cảm.

GIANG NAM

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/5/2015:

Trình diễn áo dài Việt Nam tại Mỹ

Ngày 23-5, tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ (American Museum of Natural History) diễn ra chương trình chuyên đề đặc biệt về châu Á, tuyên truyền việc bảo tồn các loài động vật hoang dã thông qua hoạt động văn hóa nghệ thuật với sự tham gia của tám quốc gia châu Á, gồm: Bu-tan, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, I-ran, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ và Việt Nam. Trong chương trình, nhà thiết kế Thuận Việt của Việt Nam giới thiệu hai bộ sưu tập áo dài Việt Nam. Bộ sưu tập “Ngũ hổ” với kiểu dáng áo dài xưa, họa tiết dân gian cùng hình ảnh chú hổ trong các tranh truyền thống; bộ sưu tập “Sắc hoa Việt” dựa trên kiểu dáng áo dài hiện đại, vải voan kết hợp những họa tiết hoa thêu tay cùng kết những bông hoa từ đá pha-lê.

Liên hoan tuyên truyền, giới thiệu sách khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Tại tỉnh Vĩnh Long, Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Liên hiệp Thư viện khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Long vừa tổ chức Liên hoan cán bộ thư viện tuyên truyền, giới thiệu sách khu vực ĐBSCL. Với chủ đề “Việt Nam – Đất nước – Con người”, liên hoan thu hút hơn 200 cán bộ thư viện của 11 tỉnh, thành phố dự thi. Kết quả, Ban tổ chức trao ba giải nhất cho các đơn vị: An Giang, Sóc Trăng và Vĩnh Long. Đây cũng là ba đơn vị đại diện Liên hiệp Thư viện khu vực ĐBSCL tham gia vòng chung khảo Liên hoan Cán bộ thư viện tuyên truyền, giới thiệu sách toàn quốc.

Trưng bày chuyên đề “Sen trên cổ vật”

Bảo tàng Lịch sử quốc gia (số 1 Tràng Tiền, Hà Nội) vừa khai mạc triển lãm mang tên “Sen trên cổ vật”. Triển lãm trưng bày khoảng 100 hiện vật, được chế từ các chất liệu ngọc, vàng, bạc, ngà… có niên đại từ thế kỷ VII – IX và thế kỷ XIX – XX. Triển lãm nhằm giới thiệu tới công chúng trong và ngoài nước về vẻ đẹp tinh túy, ý nghĩa của biểu tượng hoa sen trong tâm thức người Việt Nam. Triển lãm mở cửa đến tháng 9

Trao giải thi vẽ tranh, “Chúng em tự hào về thành phố mang tên Bác”

Tại Bảo tang Hồ Chí Minh (chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh) vừa diễn ra hội thi vẽ tranh “Chúng em tự hào về thành phố mang tên Bác”. Tham dự hội thi có 150 học sinh thuộc 36 trường mầm non, tiểu học và THCS. Hội thi tập trung ba chủ đề: Bác Hồ với tuổi thơ. Chúng em tự hào về thành phố mang tên Bác, Ước mơ của em về thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai. Kết quả, Ban tổ chức đã trao ba giải nhất gồm: tác phẩm “Xem pháo hoa Bến Nhà Rồng” của Phạm Bùi Thanh Phương (Trường mầm non Sao Mai 12), “Bác Hồ vui Trung thu với thiếu nhi” của Huỳnh Thanh Phương (Trường tiểu học Đoàn Thị Điểm) và “Tuổi trẻ quận 4 học tập Bác Hồ” của Trường THCS Tăng Bạt Hổ A

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 27/5/2015

Dòng kênh Nhiêu Lộc lung linh với 7 đóa sen vàng

Quan Âm tu viện (Q.Phú Nhuận, TP.HCM) đã long trọng cử hành lễ thắp sáng bảy đóa sen vàng trên dòng kênh Nhiêu Lộc tối 25-5.

Trong không khí hân hoan đón mừng ngày Phật đản của cộng đồng Phật giáo trong nước cũng như trên thế giới, tối 25-5 Quan Âm tu viện (Q.Phú Nhuận, TP.HBay doa senCM) long trọng cử hành lễ thắp sáng bảy đóa sen vàng trên dòng kênh Nhiêu Lộc, với sự tham dự của các vị chức sắc trong Giáo hội Phật giáo Q.Phú Nhuận, các vị lãnh đạo chính quyền địa phương và đông đảo đồng bào phật tử. Ðây là năm thứ ba Quan Âm tu viện tổ chức làm bảy hoa sen lớn trên dòng kênh Nhiêu Lộc.

Bảy đóa sen được thắp sáng suốt tuần trong mùa Phật đản (từ 8 đến 15-4 âm lịch).

Không chỉ góp phần làm không khí Phật đản trong TP thêm phần sinh động, những người thực hiện mong muốn bảy đóa sen trên dòng kênh còn có ý nghĩa nhắc nhở về ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước và vẻ đẹp của dòng kênh Nhiêu Lộc.

Cũng tại dòng kênh này, Quan Âm tu viện đã nhiều lần tổ chức phóng sinh cá.

Minh Nguyễn

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 27/5/2015:

Ra mắt múa rối nước Sài Gòn

Tối 24-5 tại Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM, Công ty TNHH nghệ thuật – giải trí Sài Gòn đã chính thức ra mắt đoàn nghệ thuật múa rối nước Sài Gòn. 

Theo ông Trần Lộc – giám đốc công ty, dựa trên 11 trò cổ tiêu biểu của múa rối nước như: Tễu, Múa rồng, Lân tranh cầu, Múa chim loan phượng, Nông nghiệp, Cáo bắt vịt, Ðốt đuốc, Ðánh cá trên sông, Bơi, Bát âm, Tứ linh, đoàn sẽ xây dựng thành hai chương trình với thời lượng 30 – 50 phút gồm chương trình biểu diễn lưu động và chương trình diễn tại địa điểm cố định để phục vụ khách nước ngoài.

Trước mắt, vào các ngày 31-5, 1 và 2-6, với sự hỗ trợ của Nhà Thiếu nhi TP.HCM, đoàn sẽ có các suất diễn miễn phí phục vụ các em thiếu nhi. Ngoài 11 trò cổ tiêu biểu của rối nước, êkip thực hiện đang xây dựng và dự kiến cuối năm cho ra mắt hai vở rối nước mới: Bác Ba Phi và Thần đồng đất Việt.

  • Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 22/5/2015:

“Vỡ rạp” vì anh chàng … Dế Mèn

 Hay tin Nhà hát Tuổi Trẻ (Hà Nội) tổng duyệt vở kịch thiếu nhi Dế Mèn phiêu lưu ký lúc 20g ngày 20-5, khán giả nhí ùn ùn kéo nhau đến rạp. 

Thế nên, sức chứa hơn 600 chỗ của rạp Tuổi Trẻ đã không đủ khi số lượng khán giả lên đến khoảng 800 người… Thế là ai đến sau thì kê ghế nhựa ngồi dọc lối đi và sát sân khấu.

Phải ngồi xem trong không gian khá chật chội, nóng bức, vậy mà đám trẻ vẫn reo hò, đáp lời, làm “quân” chỉ trỏ, mách lẻo cho anh Dế Mèn, Dế Trũi, chị Cốc, chị Xén Tóc, đại vương Ếch Cốm…

Và đây là lần đầu tiên, thế giới loài vật trong cuốn truyện đồng thoại nổi tiếng Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài được nghệ sĩ Nhà hát Tuổi Trẻ kể theo cách của mình trên sân khấu.

De men

Vẫn bám sát những chương truyện nhưng ngôn ngữ kể chuyện mang đậm ngôn ngữ của thời @ và được cộng hưởng thêm với nhiều màn nhảy múa trên nền nhạc chế từ Con bướm xinh, Gangnam style… (theo phóng tác của tác giả Vũ Hải) đã khiến không chỉ khán giả nhí mà cả người lớn cũng phải phì cười.

Trong suốt hơn 70 phút thưởng thức vở kịch, cả rạp Tuổi Trẻ liên tục ồn ào, náo động. Chỉ tiếc là mạch vui chưa được trọn vẹn.

“Tôi rất vui khi được tin Nhà hát Tuổi Trẻ dựng vở kịch về Dế Mèn phiêu lưu kýcủa cha tôi. Từ đây, đời sống của anh chàng Dế Mèn sẽ phong phú hơn.

Thế nhưng, tôi cảm thấy tiếc cho vở kịch khi nghệ sĩ vào vai chưa được tự nhiên và nhiều chỗ câu chuyện còn rơi vào khiên cưỡng vì cố nhét vào đó một lời giáo huấn nào đó…” – nhà báo Nguyễn Phương Vũ, con trai nhà văn Tô Hoài, bày tỏ.

Dế Mèn phiêu lưu ký sẽ được công diễn trong suốt mùa hè tại Nhà hát Tuổi Trẻ, bắt đầu từ ngày 24-5.

Đức Triết

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 22/5/2015:

Buộc bồi thường hơn 2.8 tỷ đồng do làm oan, sai

Sau gần hai ngày xét xử sơ thẩm vụ án ông Đinh Quang Điền, 50 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Quang Điền, Thành phố Buôn Ma Thuột và yêu cầu bồi thường do bị bắt giam oan sai 243 ngày, ngày 21/5, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh  Đắc Lắc tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Viện KSND thành phố Buôn Ma Thuột bồi thường cho ông Điền hơn 2.8 tỷ đồng là các khoản thiệt hại do ông Điền bị khởi tố, bắt tạm giam oan sai. Các khoản thiệt hại khác do ông Điền yêu cầu bồi thường, với tổng số tiền hơn bốn tỷ đồng không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trước đó, ngày 21/6/20111, từ đơn tố cáo nặc danh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với ông Đình Quang Điền về “hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 22/6, Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phê chuẩn các quyết định trên, đồng thời ra quyết định kê biên tài sản của ông Điền, thu giữ một số vật chứng liên quan. Vụ án sau đó được chuyển lên Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đắc Lắc. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắc Lắc xác định hành vi của ông Đinh Quang Điền không cấu thành tội phạm và đình chỉ điều tra. Tính đến thời điểm được tại ngoại vào ngày 20/2/2012, ông Đinh Quang Điền đã bị bắt giam oan 243 ngày.

Ngày 31/1/2013, Viện Kiểm soát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tổ chức xin lỗi công kha, đồng thời đã có quyết định chấp nhậ giải quyết bồi thường cho ông Điền tổng cộng 267 triệu đồng. Tuy nhiên, ông Điền không đồng ý và khởi kiện ra tòa.

Sau khi vụ việc xảy ra các cán bộ, nguyên là lãnh đạo Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và kiểm sát viên để xảy ra oan sai, đã bị xử lý kỷ luật với các hình thức khiển trách, cảnh cáo và điều chuyển bố trí công tác tại Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Cư M’gar, Cư Kuin…

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 12/5/2015:

Vụ 7 người oan sai ở Sóc Trăng

Truy tố 2 điều tra viên, 1 kiểm sát viên

Viện KSND tối cao vừa hoàn tất cáo trạng vụ án dùng nhục hình, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại tỉnh Sóc Trăng.

Theo đó, hai bị can bị truy tố về tội “dùng nhục hình” gồm Nguyễn Hoàng Quân (38 tuổi), Triệu Tuấn Hưng (34 tuổi) – nguyên điều tra viên, đội trưởng và đội phó đội hướng dẫn điều tra án xâm phạm nhân thân PC45 Công an tỉnh Sóc Trăng.

Phạm Văn Núi (57 tuổi) – nguyên kiểm sát viên Viện KSND tỉnh Sóc Trăng, bị truy tố về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Cáo trạng thể hiện rạng sáng 6-7-2013, tại ấp Lâm Dồ, xã Đại Ân 2, H.Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xảy ra vụ án giết người, nạn nhân là ông Lý Văn Dũng.

Ngày 21-7, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với bảy bị can Nguyễn Thị Bé Diễm, Trần Hol, Trần Cua, Thạch Mươl, Khâu Sóc, Thạch Sô Phách và Trần Văn Đỡ về tội giết người và không tố giác tội phạm.

Các quyết định đều được Viện KSND tỉnh Sóc Trăng phê chuẩn. Tuy nhiên vào các ngày 18-11 và 21-11-2013, hai đối tượng Lê Mỹ Duyên và Phan Thị Kim Xuyến đã ra tự thú, khai nhận hành vi giết nạn nhân Lý Văn Dũng để cướp tài sản.

Do xác định được oan sai nên Công an tỉnh Sóc Trăng đã hủy bỏ biện pháp tạm giam, đồng thời ra quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với bảy bị can nói trên.

Sau khi được trả tự do, bảy người này đã làm đơn tố giác trong các ngày từ 10-7 đến 20-7-2013, họ đã bị các cán bộ, điều tra viên dùng nhục hình dưới nhiều hình thức nên buộc phải khai nhận có tham gia giết ông Lý Văn Dũng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao đã xác định Nguyễn Hoàng Quân và Triệu Tuấn Hưng đã có hành vi dùng nhục hình tại trụ sở Công an tỉnh Sóc Trăng.

Cụ thể, Hưng đã dùng khóa số 8 treo cao một tay của anh Trần Văn Đỡ theo chiều thẳng đứng vào khung sắt cửa sổ, chỉ để hai đầu bàn chân chạm sàn nhà, sau đó dùng tay đánh, dùng đầu gối thúc vào bụng để ép anh Đỡ khai nhận có tham gia giết ông Dũng.

Ngoài việc treo anh Thạch Sô Phách lên cửa sổ, dùng dùi cui đánh, thúc vào bụng anh, Triệu Tuấn Hưng còn dùng khăn lau bàn gói cục nước đá lạnh đặt vào bộ phận sinh dục để ép buộc anh Phách phải khai nhận tội.

Do không chịu được đau đớn nên anh Phách đã buộc phải khai nhận có tham gia giết ông Lý Văn Dũng. Nguyễn Hoàng Quân đã túm tóc đập đầu anh Khâu Sóc vào tường, dùng tay tát vào mặt, dùng dùi cui cao su đánh vào lưng anh Khâu Sóc…

Đối với Phạm Văn Núi là kiểm sát viên được phân công thực hiện công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ngay từ giai đoạn khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ án giết ông Lý Văn Dũng.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ, Phạm Văn Núi đã không phát hiện được những thiếu sót trong quá trình khám nghiệm tử thi để yêu cầu hội đồng khám nghiệm xem xét đầy đủ nên không xác định được thời gian chết, cơ chế hình thành dấu vết.

Khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng ra quyết định khởi tố vụ án “giết người” và tiến hành các hoạt động tố tụng giam giữ, bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ đối với bảy đối tượng bị oan sai, Phạm Văn Núi được phân công nghiên cứu đã đề xuất lãnh đạo Viện KSND tỉnh Sóc Trăng phê chuẩn các quyết định của Công an tỉnh Sóc Trăng.

Do không nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật nên Núi đã không phát hiện việc cơ quan điều tra bắt khẩn cấp không đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Mặc dù các bị can không nhận tội, trình bày chứng cứ ngoại phạm, các chứng cứ trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn còn nhiều mâu thuẫn nhưng Núi không gặp trực tiếp người bị bắt để xác minh.

Viện KSND tối cao xác định từ những việc làm thiếu trách nhiệm nêu trên đã dẫn đến việc Công an tỉnh Sóc Trăng khởi tố bảy người oan sai.

Liên quan đến vụ án, một số cán bộ, chiến sĩ Công an H.Trần Đề và Công an tỉnh Sóc Trăng có sai phạm trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án đã bị Công an tỉnh Sóc Trăng xử lý kỷ luật.

Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao cũng đã có văn bản kiến nghị đến cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với ông Huỳnh Thế Đức (phó viện trưởng Viện KSND tỉnh Sóc Trăng) và ông Nguyễn Việt Hùng (trưởng phòng 1A) vì đã có vi phạm, thiếu sót chủ quan, quá tin tưởng vào tài liệu chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng cung cấp.

Tâm Lụa

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 6 năm 2015)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 6 năm 2015.

CÙNG BẠN ĐỌC

Chúng tôi vui mừng thông báo với các bạn là: tính đến 19:21 ngày 28/5/2015 đã có tới 1.671.234 lượt người truy cập blog của chúng ta; ngày đông nhất lên tới 10.005 lượt người  là ngày 30/4/2011. Bài  được truy cập nhiều nhất là Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế của Phạm Tôn với 62.763 lượt người, bài thứ nhì là Chuyện 16 con người năm Ất Dậu ấy của Lê Minh Khuê với 33.387 lượt người, bài thứ ba là  Đôi lời về những ý kiến khác nhau về Thượng Chi – Phạm Quỳnh của Blog PhamTon với 31.684 lượt người, bài thứ tư là Vì sao Phạm Khuê viết được ngay bức thư gửi cụ Hồ của Blog PhamTon với 23.208 lượt người, bài thứ năm là Nguyễn Mạnh Tường – Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu của giáo sư Phong Lê với 22.538 lượt người, bài thứ sáu là Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Đức Thuận với 20.506, bài thứ bảy là Lịch sử đôi khi trớ trêu như vậy đó của Nguyễn Văn Khoan với 19.635 lượt người, bài thứ tám là Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc – Kỳ 1 của Xuân Ba với  18.825 lượt người, bài thứ chín là Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn với 17.822 lượt người, bài thứ mười là Chúng tôi đã sống như thế: Mang con đi học với 17.260 lượt người. Các bài khác lần lượt là Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam của Phạm Quỳnh (16.605), Trường hợp Phạm Quỳnh: Một cuộc bút chiến làm rầm lên của Thanh Lãng (16.478), Vài ý kiến về quan điểm phê bình mới của ông Nguyễn Văn Trung của Song Thai (16.064), Phạm Quỳnh, một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc của Nguyễn Thúc Chuyên (14.359), Trường hợp Phạm Quỳnh: Thực ra chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì “theo Tây” của Thanh Lãng (13.862), Những bước chân du ký Phạm Quỳnh của Hiền Đỗ (13.198), Chúng tôi đã sống như thế: Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ của Nguyễn Ánh Tuyết (13.178), Điện Biên Phủ 60 năm kỷ niệm sâu sắc trong lòng người cháu dâu Phạm Quỳnh: Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ – 1954 (13.032).

Chúng tôi nhận nhiều điện thoại, email của các bạn gửi đến động viên, góp ý với blog.

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã đọc và góp bài, tin, ý kiến xây dựng blog của chúng ta ngày càng lớn mạnh hơn.

Blog PhamTon

Tháng 6/2015

Địa chỉ liên lạc của chúng tôi là:

PHẠM TUYÊN: N2 P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội

Điện thoại: (+84) – 4 – 3832 5283     Mobile: (+84) – 913 043 580

Email: phamtuyen1930@yahoo.com.vn

TS NGUYỄN VĂN KHOAN (Hội Khoa học Lịch sử  Việt Nam): 02 Ngõ 219/18 Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội – Điện thoại: 090.4567.554

Hoặc

PHẠM TUÂN 14917 Village Gate Drive Spring, M.D. 20906 – USA

Email: tuanguyenph@verison.net

Hoặc

TÔN THẤT THÀNH: 82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM

Điện thoại: (+84) – 8 – 3848 0803       Mobile: (+84) – 128 358 2998

Email: thanh.phamton@gmail.com

 

 

Chỉ buộc chân voi – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 1 tháng 6 năm 2015

KVCT

———–

*BÀI SỐ 3 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

 

 

3.- CHỈ BUỘC CHÂN VOI

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

——

Tục ngữ có câu: Chỉ buộc chân voi. Sợi chỉ mà buộc được chân con voi, một cái hãm rất mong manh mà cầm được một cái sức rất to mạnh. Phàm dùng những phương pháp, những kế hoạch thuộc về đạo lý, thuộc về tinh thần mà ngăn ngừa cầm giữ những thị dục thuộc bản năng của cá nhân, hay là những lực lượng vô ý thức của quần chúng, toàn là dùng sợi chỉ mà buộc chân con voi cả. Vì thói quen, vì giáo dục, con voi kính cẩn sợ hãi, không dám đụng chạm đến, thời sợi chỉ vẫn thiêng liêng, vẫn đủ sức cầm giữ con voi không đâm quàng đạp bậy. Nhưng nếu thốt nhiên vì duyên cớ gì, không còn lòng kính cẩn sợ hãi đó nữa, thời ôi thôi! sợi chỉ chỉ là sợi tơ mành, thấm tháp chi mà cầm giữ được chi! Con voi bấy giờ sẽ tự do chạy ùa vào trong cửa hàng đồ sứ, theo như lời ngạn ngữ tây, rồi đâm quàng đạp bậy vài cái, bao nhiêu bát kiểu đồ mẫu loảng xoảng tan nát cả.

Nền nếp của gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân, phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn cái thị dục vô nhai (không có bờ bến – PT chú) của người ta, ngăn sự xuẩn động vô ý của quần chúng. Nếu những sợi chỉ ấy mà trùng mà đứt, thời có nguy hiểm đến văn minh của loài người. Vì cả cái lâu đài văn minh của nhân loại cũng ví như hàng đồ sứ nọ, chớ để cho con voi quần chúng ùa vào mà phá bậy.

Đời này là đời mị chúng, nhất thiết cái gì cũng kêu gào đến quần chúng, không biết rằng quần chúng là một sức mạnh cần phải điều khiển, chứ không để cho phóng túng được. Quần chúng phải buộc bằng những sợi chỉ vô hình của đạo đức, luân lý, phong tục, tập quán, sợi chỉ mong manh nhưng cũng là sợi chỉ thiêng liêng, nhờ đó mà loài người mới thành xã hội có kỷ cương, nếu không thời chỉ là những đám đông ô hợp, hỗn hào, loạn tạp.

Cho nên những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn trọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được nữa.

Thứ nhất là kẻ có trách trị dân trị nước, lại càng phải thận trọng lắm và phải nhớ rằng: một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy.

Chi buoc chan voi

 

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 6 năm 2015. 

“KHÔNG NÊN ĐÀO BỚI NHỮNG CHUYỆN CŨ RA LÀM ÁN MỚI”

Thủy Trường

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới này của Thủy Trường mới lên Blog PhamTon tuần 4 tháng 3 năm 2012 mà tính đến ngày 3/7/2012 đã có 9.873 lượt người truy cập.

—o0o—

Trên Tạp chí  Thanh Tra  (Cơ quan của Thanh Tra Chính Phủ và Ngành Thanh Tra) Xuân Nhâm Thìn 2012 có viết: Nhà văn Sơn Tùng đã ghi lại lời của cụ Vũ Đình Huỳnh, bí thư tâm phúc của Bác Hồ từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1953 như sau: Bác Hồ rời Tân Trào, Tuyên Quang, Việt Bắc làm việc ở Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội; như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Chỉ huy Quân đội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản, Tổng Giám đốc Nha Công an Việt Nam; Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng, chú Liệu, chú Cận vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế, gặp cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời cụ…”.

Hai hôm sau, ông Nam báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt…”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên!”. Sau đó, trong buổi ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế đến làm việc với Bác tại nhà số 8 phố Vua Lê Thái Tổ và báo với Bác là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi!” thì Bác thu hai cánh tay vào sát ngực tựa lên mặt bàn, lặng ngắt một lúc… Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì?”. Người duỗi hai tay ra mặt bàn: “Tôi đã gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu”. (Bài Cách dùng người của Đảng và Bác Hồ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vào ngày 17 tháng 9 năm 1945, sau khi được tin ngày 23 tháng 8 Phạm Quỳnh bị bắt và ngày 6 tháng 9 bị “Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình” (và “đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”. (Báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, ngày 9 tháng 12 năm 1945).

Trong thư có đoạn:

“5. Ở các địa phương, những khuyết điểm to nhất là:

a)      Khuynh hướng chật hẹp và bao biện. Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc.

b)      Lạm dụng hình phạt. Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng (sợ hãi) (…) (Hồ Chí Minh toàn tập , tập IV, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, trang 20)

Những chỉ đạo này đã đưa đến Đại Đoàn Kết tạo nên những Đại Thành Công mà cho đến nay – 2012, vẫn không phải dễ tiếp nhận đối với một số người.

Nhưng, với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tư tưởng này đã nảy mầm trong quá trình tìm đường cứu nước bùng phát trong những năm cách mạng, kháng chiến cứu nước, và nở rộ trong xây dựng đất nước.

Rời Tổ quốc ra đi với hai bàn tay lao động “để kiếm sống”, để “xem nước Pháp và các nước khác, xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp đồng bào”, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có gần mười năm làm bồi bếp, thủy thủ, quét tuyết, đã tiếp xúc với nhiều hạng người, đã thấu hiểu được nỗi cơ cực, nhục nhã của nhiều dân tộc thuộc địa bị đàn áp, bóc lột.

Mười năm sau, Nguyễn Tất Thành đã trở thành Nguyễn Ái Quốc – lần đầu tiên bộc lộ một suy nghĩ độc đáo về sự đoàn kết trong bài Phong trào cách mạng ở Ấn Độ đăng trên Tạp chí Cộng sản, bản tiếng Pháp số 18-19, ra tháng 8-9 năm 1921. Nguyễn Ái quốc đã trình bày trong bài này một luận điểm riêng của mình: “Thảm họa của đất nước đã xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo, người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân. Hồi giáo và Phật giáo đều hiệp sức đoàn kết”.

Tiếp tục dòng tư duy này, trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) tháng 5/1924, từ nhận định: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Ở Đông Dương có hai con người: “người được bảo hộ” và “người đi bảo hộ”. “Người được bảo hộ” này là nhân dân Đông Dương bị áp bức, bị đè nén, bị hút máu xương trong cuộc đời nô lệ. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc – từ bấy giờ – đã “dàn” ra hai mặt trận ở Đông Dương: Một bên là bọn đi bóc lột, đàn áp, cùng với bè lũ tay chân, một bên là tất cả những ai chống lại chúng, không muốn bị bóc lột, đàn áp, sống kiếp nô lệ.

Ý nghĩa, tư duy, tư tưởng này của Nguyễn Ái Quốc được chính Người chính thức công bố trong một buổi giảng dạy cho các đảng viên cộng sản Đức tại Mátxcơva năm 1924 với tư cách là “một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại”. Bài giảng mang một đề mục khiêm tốn “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” (Đã công bố lần đầu tiên ở Việt Nam trong Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.467-460). Trong bài giảng này, Nguyễn Ái Quốc, có thể là người đầu tiên đã can đảm tuyên bố “cuộc đấu tranh giai cấp ở đây (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) không diễn ra giống như ở phương Tây”. Đi xa hơn nữa, Nguyễn Ái Quốc phân tích: Xã hội Đông Dương về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó (nhấn mạnh trong nguyên văn) không quyết liệt như ở châu Âu. Vì sao vậy? Theo Nguyễn Ái Quốc: Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử; nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu, mà châu Âu, là gì?” Nguyễn Ái Quốc đặt ra câu hỏi rồi tự trả lời: “Châu âu chưa phải là toàn thể nhân loại”. Do đó theo Nguyễn Ái Quốc “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó (Đông Dương). Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được, và Nguyễn Ái Quốc kiến nghị “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông” (tất nhiên trong đó có dân tộc học Việt Nam) mà thực chất là “chủ nghĩa dân tộc còn là động lực lớn nhất của đất nước”.

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, đã đưa ra thông qua tại hội nghị này “Chánh cương vắn tát, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng Sản Việt Nam – và được coi như chính cương chính thức của Đảng”.

Trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Nguyễn Ái Quốc viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt… Còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ (nhấn mạnh trong nguyên văn) và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng… ít ra làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”.

Bản Sách lược này tuy rất “tế nhị” dùng hai chữ “sách lược” (chứ không phải “chiến lược”, “đường lối”) nhưng cũng cho thấy rõ cuộc đấu tranh giai cấp, giành giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra giữa hai “giống”, hai “hạng người”, người bị áp bức và kẻ đi áp bức cùng đồng bọn tay chân, trên hai mặt trận, hai giới tuyến.

Dù sau này, trải qua một thời gian dài bạn bè quốc tế, một số cán bộ trong Quốc tế Cộng sản, trong Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiều lý do mà không hiểu, hiểu sai, phản đối quan điểm này của Nguyễn Ái Quốc – thì thực tế lịch sử cũng phải công nhận, chứng minh rằng Nguyễn Ái Quốc đã đúng.

Năm 1939, Nguyễn Ái Quốc xin ý kiến của Quốc tế Cộng sản 8 điểm về đường lối cách mạng Đông Dương, điểm 3 có nói “Phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo lôi kéo tư sản dân tộc vè phía mặt trận”. Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11/1939 cũng đã chỉ rõ: “Phải liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế… sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản, tư sản bổn xứ; trung, tiểu địa chủ có căm tức đế quốc….” (Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1977, tr.56-60)

Trước tình hình chiến tranh thế giới giữa phe đồng minh và phe phát xít sẽ diễn ra ở châu Á, Thái Bình Dương, tiên liệu thời cơ giải phóng dân tộc, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Nguyễn Ái Quốc đã nói với các đại biểu dự hội nghị những lời đúc kết bằng máu thịt của mình: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được…”

Và Người kêu gọi: “Toàn thể đồng bào trong nước không phân biệt ấu, lão (trẻ, già), sang, tiện (giàu, nghèo), Nùng, Thổ… kể cả người làm việc cho Tây, đi lính cho Tây hãy đoàn kết lại, vào Hội Việt Minh”…

Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta lại buộc phải cầm súng kháng chiến chống Pháp. Năm 1950, trên tờ Sinh hoạt nội bộ do Ban Chấp hành Liên chi khu bộ in, ký tên X.Y.Z, trong bài Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (tư liệu hiện còn lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc. Việc gì cũng phải đúng với địa điểm, điều kiện, thì giờ mới thành công”.

Sau các đợt cải cách ruộng đất, trước nhiệm vụ chiến lược củng cố miền Bắc, giải phóng miền Nam, Đảng ta, nhân dân ta đã thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đọc lời chúc mừng Đại hội Mặt trận, ngày 5/9/1955, Hồ Chủ tịch nói: “Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng hơn nữa, củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào và quá khứ của họ đã hợp tác với phe nào” (chúng tôi nhấn mạnh) (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, Chính trị Quốc gia, 1996, tr.61. Xin nhắc lại từ năm 1946, Hồ Chủ tịch đã chủ trương “tập trung nhân tài, bất phân đảng phái” (Báo Đại Đoàn Kết, số 338, 16/2/2003). (Xưa sau khi thắng Nguyên Mông vua Trần cũng đốt hết giấy tờ của cá nhân liên quan đến quân giặc).

Tại lễ bế mạc đại hội này, ngày 10/9/1955, Người lại khẳng định: “Mặt trận sẵn sàng đoàn kết tất cả những người yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, v.v… Như vậy là mặt trận sẽ bao gồm những người hiện nay tỏ ra thành tâm, thành ý phụng sự Tổ quốc, dù trước đây họ đã theo phe phái nào” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Sự Thật, 1987, tr.330. Xin lưu ý “Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, sách đã dẫn, tr.67 bỏ sót câu “như vậy… phe phái nào”. (Chúng tôi nhấn mạnh).

Những ý kiến này rất trùng hợp với một số ý kiến phê bình mà Bác Hồ đã viết trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà  (Nghệ An) ngày 17/9/1945 như sau: “Việc gì cũng do người của Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc tài cán ở địa phương vào giúp việc (Xin lưu ý: Trong chính phủ ta bấy giờ chỉ có 6 đảng viên, còn 9 người khác là ngoài đảng, thuộc thành phần tiểu tư sản). Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới” (Chúng tôi nhấn mạnh). Đối với những người không nguy hiểm lắm thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập IV, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.20).

Bác biết rõ ông Vũ Đình Hòe đã theo thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản – học thuyết bịp bợm “châu Á thuộc người châu Á”, thực ra là thuộc Nhật Bản, nhưng vẫn mời ông lên dự Hội nghị Tân Trào, giao nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Giáo Dục rồi Bộ trưởng Bộ Tư Pháp. Đó cũng là trường hợp Bác bổ nhiệm ông Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng Ngoại Giao, dù biết trước đó chính phủ Trần Trọng Kim đã mời ông cộng tác. Đó cũng là trường hợp của nhiều người mà tên, tuổi, cống hiến của họ đã làm vẻ vang cho đường lối của Đảng ta, của chủ trương đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết của Bác Hồ như Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt, Huỳnh Thúc Kháng…

“Bài học lớn nhất là Đảng ta phải độc lập suy nghĩ, giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình hình thực tế của Việt Nam. Những lúc nào ta quên điều đó, học tập một cách giáo điều kinh nghiệm nước ngoài thì khi đó cách mạng ta gặp khó khăn” (Lê Duẩn, sách Lê Duẩn, một nhà lãnh đạo lỗi lạc, Chính trị Quốc gia, 2000, tr.599). Vì “Đại đoàn kết thực sự là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của Việt Nam” (Đỗ Mười, phát biểu tại lễ kỷ niệm 65 năm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Nhân Dân số ra ngày 19/1/1995).

Ngày nay, sau bao nhiêu năm tháng thành công, chưa thành công của những bài học, của những “học phí” phải trả vấn đề “đoàn kết, đại đoàn kết với ai” một trong những di sản vô giá của Hồ Chí Minh phải được coi là “kim chỉ nam” cho hành động của chúng ta.

Phạm Quỳnh sinh năm Nhâm Thìn cách nay vừa đúng 120 năm. Năm Nhâm Thìn 2012 này, khi Tổ quốc ta đang ngày càng tiến mạnh, tiến nhanh trên con đường dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, thì ánh sáng tư tưởng đại trí, đại nhân, đại nghĩa của Hồ Chí Minh sẽ soi rọi vào đám khói đen bao phủ cuộc đời và sự nghiệp của Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã kéo dài gần 70 năm nay. Và chân lý sẽ sáng tỏ, con người thật của Thượng Chi – Phạm Quỳnh sẽ được trả lại đúng bản chất là con người Tận Trung với nước, Tận Hiếu với dân trọn cuộc đời.

T.T.

(2004-2012)

Tháng Năm 22, 2015

Ông quả là Người nặng lòng với nước

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 5 năm 2015.

ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC

Phạm Tôn

Nhân đọc bài “Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong” của Đặng Minh Phương (Tạp chí Hồn Việt số 14. Tháng 8 2008)

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương tỏ ra có con mắt tinh đời khi trích dẫn đoạn văn sau đây: “Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để rồi lấy danh nghĩa chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực tình là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”. Đó là một đoạn văn có trọng lượng trích trong tác phẩm Đời viết văn của tôi của nhà văn Việt Nam nổi tiếng Nguyễn Công Hoan, phần ông viết rõ lý do vì sao ông viết nên thiên kiệt tác Kép Tư Bền: Đó là vì ông thương…Phạm Quỳnh! (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, năm 1971). Có điều đáng tiếc là nhà báo lại gán đoạn đó cho Phạm Tôn, khiến cho Phạm Tôn mang tiếng “đạo văn” khi ông viết: “ông Phạm Tôn trên báo Xưa và Nay tháng 9-2006 viết” trước khi đưa ra đoạn văn trên. Sau đoạn văn trên ông còn thòng thêm một câu hóm hỉnh: “(xin được lưu ý ông Phạm Tôn là ông Phạm Quỳnh từng nói nước ta còn mà!)”. Quả tình Phạm Tôn tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không có hiểu biết, cũng không đủ tầm cỡ để viết những dòng nặng ký như thế… Nhưng nhân được người trên quan tâm như vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ vài điều chân thật, không phải ai cũng biết cả.

Phạm Quỳnh là con nhà nho, cháu nhà nho, chắt nhà nho, mà đều là nhà nho nghèo, loại hàn sĩ cả. Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau. Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm. Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn. Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà (Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà Nội xưa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2000). Chỉ vì ở đấy học không mất tiền. Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!

Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy. Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng, Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001). Sau đó được thả ra vì thấy là người không thuộc tổ chức hội kín nào cả (Sự tình cờ của lịch sử đã khiến con thứ mười của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Hoàn sau này lại lấy nhạc sĩ Lương Ngọc Châu cháu nội cụ Lương Văn Can vị chủ soái của Đông Kinh Nghĩa Thục).

Năm 1908, đỗ thủ khoa trường Trung học thuộc địa (Collège Du Protectorat) tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An, Phạm Quỳnh được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême – Orient). Tại đây do yêu cầu công việc, Phạm Quỳnh phải tự học Hán văn đến mức đọc và viết được văn chữ Hán. Trường Viễn Đông Bác Cổ là cả một kho tư liệu sách vở, “kho báu tri thức’ cho chàng trai hiếu học, yêu nước, thiết tha với lịch sử cha ông. Phạm Quỳnh đã tìm trong mớ giấy bản phủ bụi và tìm ra những áng văn thơ yêu nước. Ông đọc, chọn lọc trong sách Lệ ngữ Văn tập rồi dịch ra Pháp văn, đưa đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ như tài liệu tham khảo lịch sử hai bài của Nguyễn Viết Lụy tế các tướng sĩ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Từ đấy hai bài này mới được người đời biết đến (Hoàng Đạo Thúy: Nhà họ Phạm Lương Đường và chủ bút Phạm Quỳnh, bài viết theo yêu cầu của Viện Văn học ngày 5-12-1992).

Từ 1913, hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã thử sức trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh với những bài khảo cứu, bình luận văn học nghệ thuật. Đến 1917, mới 24 tuổi nhưng đã có thâm niên 9 năm công tác nghiên cứu viết lách, ông chớp thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc ngữ tạp chí Nam Phong, giành lấy cho mình và những người cùng chí hướng, yêu nước, đặc biệt yêu tha thiết tiếng ta, có chỗ để thi thố tài năng, góp sức xây dựng nền quốc học, mở mang dân trí, tăng tiềm lực cho đất nước sau này. Trên tạp chí Nam Phong, ngoài những việc không thể không làm trong một tờ báo mà thực tế là do người Pháp chi tiền và điều hành, ông đã khôn khéo đăng những bài văn yêu nước của người xưa và cả người đương thời, những bài về lịch sử chống ngoại xâm,v.v… làm nên cả một bộ bách khoa thư về lịch sử và đời sống Việt Nam phong phú. Cũng từ đó tập hợp được lực lượng yêu quốc văn, yêu quý lịch sử nước nhà, tạo điều kiện cho biết bao thanh niên nâng cao hiểu biết về nhiều mặt đời sống, vun bồi thêm lòng yêu nước sẵn có trong họ.

Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc) rồi đưa về Hà Nội giam ở nhà tù Hỏa Phan boi chau (tre)Lò, đem ra xét xử ở Hội đồng Đề hình là tòa án thực dân tàn bạo nhất thời ấy. Tất nhiên, kẻ đứng ra xét xử đều là người Pháp. Hơn nữa, dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp sẽ có tác động rất lớn, có thể nói là quyết định đối với vụ xử án này. Vì thế ông đã không phát biểu chính kiến trên Nam Phong, mà trên một tờ báo của Pháp có ảnh hướng rất lớn hồi bấy giờ. Hơn nữa viết trên báo tiếng Pháp thì tự do hơn, có thể trình bày hết ý mình, vì thời ấy báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt. Ông cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình xử vụ Phan Bội Châu. “Hội đồng Đề hình Pháp cho là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950). Tuy vậy, có lẽ vì sợ hậu quả của vụ án mà tới lúc này họ chưa thể lường được nếu xử tử hình Phan, nên vào phút chót sau một ngày xét xử, hội đồng này đã tuyên án Phan khổ sai chung thân (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

Năm 1932, Phạm Quỳnh nhận vào Huế tham gia quPham Quynh_Trean trường với ý nghĩ ngây thơ là có điều kiện để những điều mà trước nay mình chỉ có thể luận bàn trên trang giấy và bằng lời nói thì nay có cơ thực hiện được. Mười ba năm ông làm quan thì có tới hơn chín năm làm Thượng thư Bộ Học. Ông kiên quyết chủ trương người Việt phải học tiếng Việt đã, chống lại chủ trương thịnh hành thời ấy là cho học ngay tiếng Pháp từ vỡ lòng “vì là thần dân của Đại Pháp thì học tiếng Pháp sớm ngày nào hay ngày nấy, dù sao rồi cũng ra làm việc cho Tây”. Ông cố gắng rất nhiều, nhưng mới chỉ thành công ở mức bắt buộc phải học tiếng Việt đạt bằng Sơ học yếu lược mới được thi tốt nghiệp tiểu học.

Năm 1933 mới làm quan được một năm ông đã viết thư cho Lu-i Mác-ti (Louis Marty) là giám đốc chính trị tùng sự tại phủ toàn quyền Đông Dương, cũng là “bạn cũ” đồng sáng lập tạp chí Nam Phong, để bênh vực một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, nhờ Lu-i Mác-ti can thiệp giảm án. Trong thư đề ngày 18-1-1933, Phạm Quỳnh nêu rõ ông (ở Huế) viết thư này để giới thiệu em vợ là ông Lê Xuân đến gặp Lu-i Mác-ti ở Hà Nội, trình bày một việc bà mẹ vợ Phạm Quỳnh yêu cầu ông nhờ Lu-i Mác-ti giúp đỡ. Đó là vụ một chiến sĩ cộng sản 18 tuổi tên là Nguyễn Công Nghi bị bắt ở Kiến An vì một vụ “âm mưu Cộng Sản”, đã bị tòa án Kiến An kết án tù chung thân và hiện nay đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sắp bị đầy đi Côn Đảo, thậm chí đầy đi ngoài xứ Đông Dương. Anh này là em ông Nguyễn Công Kính, chủ hãng thuốc lào Giang Ký danh tiếng ở Hà Nội , một người giàu có, đáng kính và có vai vế trong xã hội, lại là người có ân nghĩa lớn với gia đình vợ Phạm Quỳnh. Ông trình bày sơ qua vụ này và đề nghị Lu-i Mác-ti can thiệp, còn gợi ý nếu không thể tha được (Vì ông tin là anh ta vô tội) thì cho đi tù ở gần Hà Nội hoặc ít nhất cũng là vùng Bắc Bộ, đừng bắt đi Côn Đảo hay những nơi quá xa xôi. Vì gia đình ấy, ông anh cả không có con chỉ trông vào anh ta kiếm con trai nối dõi, mà anh lại cHoang Hy Nguyenhưa có vợ; không được thăm nuôi thì gia đình rất lo lắng, v.v… Ông cố hết sức dùng tình cảm riêng thân mật lâu năm với Lu-i Mác-ti để xin xử nhẹ tay với người cộng sản trẻ này. Tư liệu này chúng tôi được đọc là do sau khi Lu-i Mác-ti chết, bà vợ thấy có bút tích của Phạm Quỳnh, đã gửi lại cho bà Phạm Thị Ngoạn, con gái ông cũng là tiến sĩ Xoóc-bon (Sorbonne), Pa-ri, tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction Au Nam Phong)

Ông Phạm Tuân con trai út Phạm Quỳnh sinh năm 1936, đến nay (2008) còn nhớ rất rõ và kể cho người viết bài này kỷ niệm khó quên thời thơ ấu, đặc biệt là những ấn tượng lạ lùng về những lần được thân phụ dẫn đi thăm “ông già điên” ở túp lều tranh bên bến Ngự. Năm ấy ông mới lên bốn.

Các buổi chiều, cơm nước xong, thường bác tài Mai hỏi: “Chú Miềng (chú mình, nói trại giọng miền Trung) có theo Cụ đi chơi không…Hôm nay Cụ lại đến “ông già điên đây”. Ông nhớ hồi đó không biết người ấy là ai nhưng gặp thì thấy hiền hậu, dễ thương, hay hỏi chuyện trẻ con dễ hiểu mà cũng dễ trả lời, nên ông thường bám xe đi theo cha luôn. Cha và ông già ăn mặc xuềnh xoàng, râu tóc dài, xơ xác thường vào trong nhà nhỏ to trò chuyện một lát rồi ra về. Vẻ thân mật lắm, nhất là lúc mới đến và khi sắp ra về. Cuối năm ấy ông già mất, ông Tuân mới nghe cha nói đó là Cụ Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân thì toàn quyền Va-ren (Varenne) vốn là Đảng viên Đảng Xã Hội Pháp ký quyết định “ân xá Phan Bội Châu. Tuy “được ân xá”, nhưng, thật ra ông bị giam lỏng ở bến Ngự (Huế), bị mật thám theo dõi, kiềm chế mọi hoạt động. Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đâPhan boi chau (gia)y biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Biết cảnh sống khó khăn của Phan Bội Châu, nhiều người đã gửi ngân phiếu nặc danh giúp ông tiền bạc, nhiều đến nỗi Phan Bội Châu bị phiền hà. Ông đã phải buộc lòng từ tạ bằng một bức thư với lời lẽ chân tình tha thiết. Trùm mật thám Trung kỳ Xô-nhi (Sogny) đã bủa một mạng lưới mật thám dày đặc bao vây túp lều bến Ngự. Mà hồi ấy, theo như chính lời Phan Bội Châu nói (do Lạc Nhân, nguyên thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân ghi lại đăng trên báo Tiếng Dân năm 1933) thì: “Tôi không hề kêu ca, nhưng trong nhà nhiều miệng ăn, nào là các đồng chí đi đầy về đã quá già, không biết làm gì để sống, cũng phải tới đây chung sống với tôi, nào con cháu các đồng chí, kẻ chết chém, người chết trong lao, tôi phải nuôi dưỡng vì không biết bỏ cho ai bây giờ”. Trong số đó có Phạm Công Nguyệt con trai độc nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, chưa từng được biết mặt cha. Anh được Phan Bội Châu nuôi cho ăn học tại trường Khải Định Huế đến Nha Phan Boi Chauđỗ tú tài triết học. (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

Ngày 29-10-1940, Phan Bội Châu mất, thọ 74 tuổi. Mai táng trong chiều ngày kế tiếp, theo đúng di chúc của Cụ. Ngoài những người thường ngày gần gũi bên cụ, không mấy ai dám lai vãng, sợ ty Liêm phóng theo dõi rầy rà. Theo Nguyễn Quang Tô: “hàng trăm, ngàn câu đối, văn tế được gửi trực tiếp đến nhà hoặc đăng báo, hay truyền tụng miệng cho nhau nghe… tạo thành một bầu không khí bi hùng tràn ngập khắp Trung Nam Bắc. Một số người còn gửi tiền về tòa soạn báo Tiếng Dân nhờ lo xây dựng phần mộ. Lại có những người thuộc hạng “tai to mặt lớn” đã phải lén lút chui lòn cửa sau nhà Phan để được tới trước bàn thờ Phan dâng điếu lễ và tấm lòng kính mộ.”

Không biết trong số những người “gửi ngân phiếu nặc danh”, “gửi tiền nhờ báo Tiếng Dân”, “lén lút chui lòn cửa sau” có Phạm Quỳnh không? Tôi nghĩ, công bằng mà nói, khó có thể trả lời dứt khoát là không.

Bởi, chỉ cần xua đi lớp bụi thành kiến kì thị dầy đặc đã chôn vùi cuộc đời ông suốt hơn nửa thế kỉ qua, ta thấy ngay ÔNG QUẢ LÀ NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NƯỚC.

Những dòng tôi viết trên đây chỉ là nhân đọc bài của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương mà nghĩ tới thôi, hoàn toàn không có ý trả lời, thảo luận hay tranh luận gì cả. Tôi viết chỉ là vì tâm đắc với L.T.S in trước bài ông là: “đánh giá công minh người và việc của quá khứ là việc khó. Nó cần rất nhiều điều kiện mà trước hết cần chỗ đứng nhìn, cần hiểu bối cảnh lịch sử và tư liệu lịch sử…Ngày nay chúng ta cần có thái độ cởi mở khoan dung, gạn lọc công bằng…nhưng cũng không được làm đảo lộn lịch sử, lờ mờ thật giả, đưa đến sai lệch nguy cơ cho lịch sử và cho cả hiện tại”

 Ngày 8-8-2008

Phạm Tôn

 Chú thích những chữ in trên giấy Phạm Quỳnh dùng viết thư cho Lu-i Mác-ti:

    • Bằng tiếng Pháp:
      • Palais Inpérial: Hoàng Cung
      • Cabinet Civil de Sa Majesté: Ngự tiền Văn phòng
    • Bằng chữ Hán:
      • Ngự tiền Văn phòng dụng tiên: Giấy viết thư Ngự tiền Văn phòng dùng

Thu gui Louis Marty

Muốn sống – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần thứ 5 tháng 5 năm 2015.

KVCT…..

*BÀI SỐ 2 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

2.- MUỐN SỐNG…

 Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

 Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn. Ai cũng sẵn lòng hi sinh hà bao để chuộc lấy sinh-mệnh.

Nhưng chuyện giết người lấy của, là chuyện xa xôi ít có. Cứ nghe ngay cửa miệng người ta hằng ngày đe dọa nhau thường nói: “Muốn sống thì…”. Muốn sống thì bắt sao mà chẳng chịu? Muốn sống thì tất sẵn sàng thừa nhận bất cứ điều kiện gì, dù nặng nề đến đâu mặc lòng. Đe dọa như thế là quyết có hiệu nghiệm, vì ai là người không muốn sống? Vẫn biết rằng có kẻ anh hùng liệt nữ, có người siêu việt khác thường, thà chết còn hơn chịu nhục, thà chết còn hơn bội nghĩa. Nhưng đây là nói đại đa số người ta, không phải nói một số ít những bậc phi thường. Đối với đại đa số người ta thì không ai là không muốn sống, dù phải thế nào cho được sống cùng không từ.

Lòng “muốn sống”, ham sống, tham sống, quả là cái thị dục căn bản, thiết tha thâm trầm, mãnh liệt của loài người, không những loài người, của hết thảy chúng sinh trong thế giới.

Đừng có lý luận mà hỏi sống để làm gì, sống có ích chi. Nó chỉ là cái sức bản năng vô địch xô đẩy các giống sinh vật tranh đua nhau mà sống, ăn lẫn nhau mà sống, sống rồi lại truyền thực cái sống ra, sinh sôi nẩy nở đến vô cùng, hằng hà sa số, tương diệt tương sinh, đến đầy rẫy cả không gian, đông chật cả mặt đất, dẫu cá thể có tiêu diệt biến hóa, mà toàn thể vẫn bồng bột phồn thịnh; lấy thân một con người có ý thức đứng giữa cái bể sống mênh mông bát ngát, không bến không bờ đó, có cảm giác như bị cái sóng chao tự thiên vạn cổ đưa lại, lúc nhúc những giống sinh vật, nó tràn, nó ngập, nó lôi, nó cuốn mình đi, thấy mình bé mọn cũng như trăm nghìn vạn mớ những giống đó mà cũng bị chìm đắm trong cái luồng sóng sinh hoạt vô cùng vô tận vậy.

Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy.

Vì chỉ có đạo Phật cho sống là khổ, mới giải thoát được cho ta khỏi sống, từc là khỏi khổ.

Chỉ có đạo phật mới giải, mới giã được cái độc thâm trầm vĩnh viễn của quần sinh, là cái độc “muốn sống”, ham sống, tham sống.

Người ta dù mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai dọa hỏi: “Muốn sống thì…”, thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không:

Đã không biết sống là vui,

Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương.

Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?

Chỉ có đạo Phật mới có cái hiệu quả mầu nhiệm đó…

Muon song

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút-Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

Biet thu Hoa Duong

P.Q.

Tháng Năm 21, 2015

Trên quê hương yêu dấu (tuần 5 tháng 5 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:26 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 5 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/5/2015

Khánh thành Tượng đài Bác Hồ tại thành phố Hồ Chí Minh

Sáng 17-5, trong không khí tưng bừng kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh long trọng tổ chức Lễ khánh thành và báo cáo với Ðảng bộ, nhân dân thành phố việc hoàn thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tại khu trung tâm hành chính thành phố.

Ðồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến. Tham dự buổi lễ, có nguyên Thủ tướng Tuong dai bac hoPhan Văn Khải; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; các đồng chí Bí thư T.Ư Ðảng: Hà Thị Khiết, Trưởng ban Dân vận T.Ư; Trần Quốc Vượng, Chánh văn phòng T.Ư Ðảng; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Ðảng, Nhà nước; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành T.Ư; lãnh đạo Thành ủy TP Hồ Chí Minh các thời kỳ; lãnh đạo một số tỉnh ủy, thành ủy và đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đồng chí Lê Thanh Hải dâng hoa lên Tượng đài Bác.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, đồng chí Lê Thanh Hải xúc động nêu bật tình cảm sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào miền nam, trong đó có đồng bào thành phố mang tên Người. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Tình thương yêu đặc biệt dành cho đồng bào miền nam của Bác được nhân lên bởi lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của cả nước, của đồng bào miền nam, là chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa.

Ðồng chí Bí thư Thành ủy nêu rõ, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân Sài Gòn – Gia Ðịnh – TP Hồ Chí Minh từ trước đến nay luôn tôn kính, yêu quý Bác Hồ; trong mỗi người luôn thấy Người bên cạnh. Muôn triệu tấm lòng đều vững niềm tin vào Bác, vào Ðảng, quyết chí bền gan, chiến đấu anh dũng đến ngày toàn thắng. Giữa trung tâm Sài Gòn, hang ổ của kẻ thù, trong nhiều cuộc tranh đấu sống còn, đồng bào vẫn đồng thanh hô vang: “Hồ Chí Minh muôn năm!”, không nao núng trước lưỡi lê, đầu súng, làm bạt vía quân thù. Khi Bác đi xa, ở nơi căn cứ trong vùng giải phóng, giữa lòng thành phố, trong nhiều nhà dân vùng địch tạm chiếm, bàn thờ Bác do đồng bào, chiến sĩ lập nên, ngày đêm tỏa khói hương tưởng nhớ Bác, bất chấp sự khủng bố của quân thù; ngay trong lao tù khám lớn Chí Hòa, các chiến sĩ cách mạng và người dân yêu nước vẫn kiên cường đấu tranh với địch để thọ tang Bác. Cùng với nhân dân cả nước, đồng bào, chiến sĩ TP Hồ Chí Minh vượt qua bao bão táp phong ba, hy sinh xương máu, để giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ðồng chí Lê Thanh Hải cho rằng, trên từng bước đường kháng chiến và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, trong mỗi thành quả của thành phố vinh dự được mang tên Người đều có ngọn nguồn sức mạnh vô biên, chỗ dựa tinh thần vững chắc, soi đường, chỉ lối, vẫy gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðảng bộ và nhân dân thành phố mãi mãi ghi tạc công ơn trời biển của NgưTuong dai bac ho 2ời, luôn ước ao được đón Người để thỏa lòng kính yêu. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố là ước nguyện thiết tha của Ðảng bộ và nhân dân thành phố, khẳng định tấm lòng son sắt, thủy chung của đồng bào, đồng chí đối với Ðảng, với Bác. Ðây là nơi thể hiện lòng tôn kính Bác, để dâng hoa, báo cáo với Bác kết quả phấn đấu, rèn luyện, thực hiện nhiệm vụ chính trị; nơi giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho mọi người, nhất là đối với thế hệ trẻ; là nơi nhắc nhở cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ cương vị chủ chốt của thành phố phải luôn tự soi, tự sửa, tự răn mình, rèn luyện, phấn đấu để xứng đáng với niềm tin của nhân dân và trọng trách mà Ðảng giao,…

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt hoan nghênh Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực xây dựng và hoàn thành công trình Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng vào dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Bác và 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước. Tổng Bí thư nhấn mạnh, đây là công trình văn hóa có ý nghĩa chính trị, lịch sử và nhân văn sâu sắc của nhân dân thành phố, đồng bào Nam Bộ và cũng là niềm vui chung của tất cả chúng ta (toàn văn bài phát biểu đăng trên số báo hôm nay).

Trước đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu đã thăm Triển lãm “Bác Hồ với miền nam, miền nam với Bác Hồ”, tại trụ sở HÐND và UBND thành phố. Triển lãm gồm hai phần: Tình cảm đặc biệt của Bác Hồ dành cho đồng bào miền nam và hình ảnh một số tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

* Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 104 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, 39 năm thành phố Hồ Chí Minh được vinh dự mang tên Bác và thành phố vừa khánh thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối 17/5, tại khuôn viên khu Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật đặc biệt “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”. Các đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo thành phố, các Bà mẹ Việt Nam Anh hung, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân và đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố dự.

Các tiết mục văn nghệ và chương trình giao lưu đặc biệt “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” đã tái hiện những hình ảnh thân thương của Bác qua những thước phim tư liệu quý và giai điệu ngọt ngào về tình cảm của Bác dành cho đồng bào ruột thịt và những tình cảm sâu sắc của nhân dân cả nước vãn luôn thương nhớ vị Cha già của dân tộc. Trong chương trình còn có giao lưu với một số cá nhân vinh dự được gặp Bác Hồ.

* Sáng 17/5, tại thành phố Vinh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An tổ chức khai mạc Liên hoan nghệ thuật quần chúng Tiếng hát Làng Sen toàn quốc 2015 với chủ đề “Sáng mãi tên Người”. Liên hoan năm nay thu hút hơn 800 diễn viên quần chúng của 24 đoàn nghệ thuật đến từ Lào và Thái Lan. Lễ bế mạc và trao giải liên hoan sẽ được tổ chức vào ngày 19/5.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh kết từ hơn 10 nghìn bông hoa sen tại chùa Đại Tuệ (huyện Nam Đàn, Nghệ An) đã hoàn thành và được Tổ chức Liên minh kỷ lục thế giới công nhận là “Bức tranh chân dung bằng hoa sen lớn nhất thế giới”. Bức chân dung có kích thước 4x6m, khắc họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười, vẫy tay chào, được trưng bày tại chùa Đại Tuệ từ ngày 17/5 đến hết ngày 20/5. Sau đó, bức chân dung sẽ được sấy khô, để hằng năm vào dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa ra triển lãm để nhân dân chiêm ngưỡng.

* Ngày 16/5, tại vường hoa Lý Thái Tổ (quận Hoàn Kiếm), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Trung tâm Văn hóa Kim Đồng tổ chức chương trình nghệ thuật có chủ đề “Hà Nội kết nối năm châu”. Các nghệ sĩ trong nước và bạn bè quốc tế biểu diễn các bài hát ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bài hát về Việt Nam… Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 125 Ngày sinh Bác Hồ, đồng thời tạo một không gian giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh của Thủ đô.

* Ngày 17/5, tại xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức Ngày hội thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng năm 2015, gồm các hoạt động khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho hơn 300 bà con nghèo; trao 500 suất quà cho hơn 300 bà con nghèo; trao 500 suất quà cho các gai đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; trao 10 suất quà (mỗi suất 500 nghìn đồng) cho các hộ gia đình chính sách tại xã Lộc Trì.

PV

  • Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Khánh thành Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang

Tối 19-5, tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP Tuyên Quang, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và MTTQ tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2015).

Dự Lễ có các đồng chí nguyên Tổng Bí thư: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Ngô Văn Dụ, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Trần Đại QuanTuong dai bac ho voi Tuyen Quangg, Bộ trưởng Công an; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội ; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Hà Thị Khiết, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Dân vận T.Ư; các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVTND, Anh hùng Lao động; đại biểu đại diện lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, Quân khu II, Ban Chỉ đạo Tây Bắc và các tỉnh chung quanh…

Tượng đài “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang” được xây dựng tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP Tuyên Quang, sát chân núi Thổ Sơn, nơi đây 54 năm trước (1961), Bác Hồ đã về thăm và nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Cụm Tượng đài và Đền thờ Bác Hồ có quy mô 8,5 ha, với sức chứa 20.000 người, là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, chính trị -xã hội của toàn tỉnh. Bố cục tượng đài gồm hai phần: Phía trước là nhóm tượng bảy nhân vật, trong đó tượng Bác Hồ ở vị trí trung tâm, chân dung thể hiện thời kỳ Bác Hồ về thăm và nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tháng 3-1961; sáu nhân vật đại diện cho nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang quây quần bên Bác gồm: LLVT, thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, công nhân và trí thức. Phía sau tượng đài là phù điêu, gồm ba mảng, biểu tượng chính là cây đa Tân Trào, hai mảng phù điêu hai bên khắc họa một số hình ảnh hoạt động, sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Tuyên Quang.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: Khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang là sự kiện có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, thể hiện tình cảm sắt son của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang kính dâng lên Bác đúng vào dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Người.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang tiếp tục đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa Tuyên Quang thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía bắc, xứng đáng vị thế Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến. Đồng chí nhấn mạnh, Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang – Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh – Quảng trường Nguyễn Tất Thành là công trình văn hóa có ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Tuyên Quang phải làm tốt việc quản lý, giữ gìn và khai thác hiệu quả, thiết thực, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, tấm gương vĩ đại của Bác Hồ cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.

Buổi lễ kết thúc với chương trình nghệ thuật đặc sắc, gồm các tiết mục ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, công cuộc đổi mới của đất nước và màn pháo hoa rực rỡ.

* Sáng 19-5, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo T.Ư, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp Tập đoàn Viettel tổ chức lễ khai trương Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư dự.

Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh có tên miền là http://www.hochiminh.vn, là hệ thống quản lý tập trung, thống nhất dữ liệu, tư liệu, thông tin về Hồ Chí Minh trên cơ sở tổng hợp, phân tích, chọn lọc dữ liệu từ các nguồn đang lưu giữ tại các cơ quan và đơn vị Đảng, Nhà nước; cộng đồng trong nước và quốc tế. Trang thông tin điện tử có 12 chuyên trang, chuyên mục gồm: Tin tức; Cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh; Tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh; Tác phẩm của Hồ Chí Minh; Tác phẩm viết về Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh và thế giới; Học và làm theo Bác; Kho tư liệu ảnh, âm thanh, vi-đê-ô về Hồ Chí Minh; Bảo tàng 3D…; và được thể hiện bằng hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh, cùng phiên bản trên điện thoại di động nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong nước và quốc tế.

Phát biểu ý kiến tại lễ khai trương, đồng chí Đinh Thế Huynh đề nghị bộ phận chuyên trách giúp việc Ban Bí thư về Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ, biên tập chính xác, thông qua quy trình xuất bản nghiêm ngặt, vận hành thông suốt, an toàn, thường xuyên cập nhật thông tin tư liệu mới, tiếp thu ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để trang thông tin ngày càng hoàn thiện, nội dung thông tin phong phú; là địa chỉ tin cậy góp phần tuyên truyền sâu rộng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

* Sáng 19-5, Đoàn đại biểu lãnh đạo Thành ủy; HĐND; UBND, Ủy ban MTTQ thành phố Hồ Chí Minh do đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh dẫn đầu, đã đến Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP Hồ Chí Minh (Bến Nhà Rồng) dâng hương, viếng Bác.

  • Tin trang 20 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

“Tổng thống Obama trông chờ chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng”

Đó là thông điệp mà Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony J. Blinken đưa ra trong cuộc họp báo chiều 19-5 tại TP.HCM.

“Chúng tôi rất chào đón chuyến thăm của Tổng bí thư Trọng. Tổng thống Obama đang trông chờ chuyến thăm – ông Blinken nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ – Đây là chuyến thăm đầu tiên của tổng bí thư Đảng Cộng sản VN tới Washington”  .

Ông nói chuyến thăm chứng minh “các cựu thù trong chiến tranh với nhau vẫn có thể trở thành bạn bè. obama mong Nguyen Phu Trong den MyChúng ta không những chỉ có hòa bình mà còn xây dựng được quan hệ đối tác”.

Ông Blinken đang có chuyến thăm ở VN từ ngày 16 đến 19-5 để chuẩn bị cho một loạt chuyến thăm cấp cao giữa hai nước vào cuối năm nay, trong đó sẽ có chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp tới.

Chuyến thăm của ông Blinken diễn ra trong bối cảnh tình hình ở biển Đông đang có một loạt diễn biến mới khi Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động chiếm đất ngoài biển.

Mới tuần trước, Wall Street Journal trích nguồn tin Bộ Quốc phòng nói Lầu Năm Góc đang cân nhắc phương án đưa tàu chiến và máy bay quân sự vào trong phạm vi 12 hải lý các điểm Trung Quốc chiếm đất ở biển Đông – động thái dấy lên lo ngại rằng đụng độ có thể xảy ra ở ngoài biển.

Khi được hỏi về vấn đề này, ông Blinken dầu vậy không khẳng định hay phủ nhận việc quân đội Mỹ có đưa tàu hay máy bay tới khu vực lấn đất hay không dù nói là “quan ngại” về tình hình ở ngoài biển”.

12 hải lý là phạm vi lãnh hải và thường chỉ được công nhận nếu như các điểm này được coi là đảo. Tuy vậy, theo các chuyên gia, hầu hết đây chỉ là bãi san hô ngầm hoặc là đá mà không duy trì được sự sống thì sẽ chỉ có 500m lãnh hải chứ không phải 12 hải lý như thông thường và cũng không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Theo giới quan sát, động thái đi hẳn vào 12 hải lý như vậy có thể buộc Trung Quốc phải đưa ra căn cứ cụ thể cho các tuyên bố chủ quyền của mình (Thực tế ở biển Đông là tất cả các nước mới chỉ tuyên bố chủ quyền nhưng vì tính phức tạp của tình hình, hiện chưa nước nào đưa ra rõ ràng căn cứ theo UNCLOS cho các tuyên bố chủ quyền của mình).

“Quan điểm ở đây là gây nhiều sức ép với Trung Quốc với mọi cơ hội, mà không quá gây hấn, khiến họ ngày càng không thoải mái với những gì mình đang làm” – Gregory Poling của CSIS nói với Bloomberg.

IHS Jane, tạp chí hàng đầu về quốc phòng, đánh giá khả năng Mỹ đưa tàu hay máy bay vào trong phạm vi 12 hải lý sẽ khó xảy ra trong lúc này vì sẽ dẫn tới cuộc đối đầu ngoại giao trực diện giữa hai nước.

Và trong bối cảnh Mỹ còn cần Trung Quốc trong một loạt vấn đề an ninh và kinh tế (như Triều Tiên, Iran…), Washington sẽ không muốn gây hấn với Trung Quốc vào lúc này. Nhưng họ thừa nhận khả năng Washington sẽ đưa tàu tới sát vạch 12 hải lý.

Thanh Tuấn ghi

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 16/5/2015:

Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Sáng 15-5, tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai, TP Lào Cai (Lào Cai), Ðại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì Lễ đón chính thức Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc, do Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Ủy viên Quốc vụ viện, Bộ trưởng Quốc phòng làm Trưởng đoàn sang thăm và tham dự Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, năm 2015. Cùng dự lễ đón có các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại buổi hội đàm, Ðại tướng Phùng Quang Thanh bày tỏ vui mừng được đón Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Quốc phòng và Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc sang thăm và tham dự Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết: Ðây là lần đầu tiên hai Bộ trưởng Quốc phòng gặp nhau tại biên giới của hai nước, thể hiện Việt Nam và Trung Quốc hết sức coi trọng mối quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Cuộc gặp gỡ nhằm cụ thể hóa, thực hiện sự thỏa thuận và chỉ đạo của lãnh đạo hai Ðảng, hai Nhà nước trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị, tiếp xúc cấp cao Quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc; đẩy mạnh hợp tác hữu nghị giữa lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, qua đó tăng cường tinh thần đoàn kết, tin cậy chính trị, thúc đẩy mối quan hệ và hợp tác quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc đi vào chiều sâu; củng cố niềm tin của nhân dân hai nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển lâu dài.

Thượng tướng Thường Vạn Toàn bày tỏ niềm phấn khởi được đồng chủ trì cuộc gặp gỡ cấp cao Bộ Quốc phòng hai nước tại khu vực biên giới; cảm ơn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đón tiếp Ðoàn trọng thị, chu đáo. Ðồng thời cho rằng, cuộc gặp gỡ lần này tiếp tục củng cố và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước Trung Quốc -Việt Nam và thực hiện sự quyết tâm của quân đội hai nước, góp phần xây dựng, bảo vệ biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định giữa hai nước. Thượng tướng Thường Vạn Toàn tin tưởng, với sự cố gắng chung và sự chuẩn bị chu đáo, cuộc Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2 sẽ thành công tốt đẹp; tô đậm thêm mối quan hệ hữu nghị giữa quân đội hai nước Trung Quốc – Việt Nam.

* Trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, chiều 15-5, tại TP Lào Cai (Lào Cai), Ðại tướng Phùng Quang Thanh và Thượng tướng Thường Vạn Toàn  đã chủ trì Tọa đàm hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Phát biểu ý kiến khai mạc cuộc Tọa đàm, thay mặt Bộ Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên T.Ư Ðảng, Thứ trưởng Quốc phòng nêu rõ: Giao lưu lần này diễn ra trong bối cảnh hai nước đang triển khai nhiều hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc; đánh dấu một chặng đường quan trọng trong mối quan hệ lâu đời, với dòng chảy chính là hợp tác và hữu nghị giữa hai Ðảng, hai Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc. Ðảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội Việt Nam trước sau như một, luôn coi trọng và mong muốn cùng Ðảng, Nhà nước, nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc củng cố tình hữu nghị truyền thống và xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc ngày càng phát triển ổn định, bền vững.

Cuộc Tọa đàm góp phần thiết thực xây dựng khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương biên giới Việt Nam-Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc, tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa quân đội và nhân dân hai nước.

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Nhiều hoạt động Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Trong khuôn khổ Chương trình giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2, năm 2015, sáng 16-5, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta do Ðại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng làm Trưởng đoàn và Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc do Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc làm Trưởng đoàn đã tới chào cột mốc quốc giới 112 (xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai); chứng kiến lực lượng Biên phòng hai bên phối hợp tuần tra chung; dự lễ khánh thành Nhà văn hóa hữu nghị biên giới Việt-Trung (thôn Na Lốc 3, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương); chứng kiến lễ ký kết nghĩa giữa thôn Na Lốc 4 (xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cao) và Ðội Ðiền Phòng (Nông trường Mã Hoàng Pao, huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc).

Sáng cùng ngày, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng hai nước đã đến thăm Ðồn Biên phòng Bản Lầu, thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BÐBP) tỉnh Lào Cai. Phát biểu ý kiến với cán bộ, chiến sĩ đơn vị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh, để thực hiện tốt thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam – Trung Quốc, BÐBP nói chung, Biên phòng Lào Cai và Ðồn Biên phòng Bản Lầu nói riêng cần phối hợp chặt chẽ lực lượng Công an Biên phòng Trung Quốc để bảo đảm an ninh, trật tự biên giới; tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp đỡ nhân dân hai bên biên giới phát triển, sản xuất, nâng cao đời sống và quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước…

Thăm Ðồn Biên phòng Bản Lầu, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đánh giá cao hoạt động giao lưu, phối hợp của Ðồn Biên phòng Bản Lầu với BÐBP Trung Quốc thời gian qua… và tin tưởng, thời gian tới, các hoạt động, giao lưu, phối hợp của Ðồn Biên phòng Bản Lầu nói riêng và lực lượng BÐBP Việt Nam nói chung sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác quốc phòng Việt Nam – Trung Quốc lên tầm cao mới; đóng góp thiết thực vào việc xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Chiều cùng ngày, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta do Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chủ trì lễ tiễn Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Trung Quốc về nước, kết thúc hoạt động giao lưu tại Việt Nam.

Theo Chương trình, trong hai ngày 17 và 18-5, Ðoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta sẽ tham dự các hoạt động Giao lưu hữu nghị Quốc phòng Biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 2 năm 2015, tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

PV

  • Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 16/5/2015:

Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu lần thứ 25

Theo Bộ Ngoại giao, từ ngày 14 đến 16-5, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan dẫn đầu Ðoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu lần thứ 25 diễn ra tại TP Xao Pao-lô của Bra-xin. Với chủ đề “Phụ nữ sáng tạo, nền kinh tế sáng tạo”, Hội nghị thu hút sự tham gia của gần một nghìn đại biểu, gồm các lãnh đạo và đại diện nhà nước, cùng hàng trăm chính trị gia, nữ doanh nhân và đại diện các tổ chức phụ nữ đến từ 63 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tại lễ khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá cao vai trò của Hội nghị cấp cao Phụ nữ toàn cầu trong 25 năm qua, trở thành một cầu nối thiết thực giữa nhà nước và doanh nghiệp, khuyến khích vai trò và đóng góp của các nữ doanh nhân trong phát triển kinh tế quốc gia và toàn cầu. Phó Chủ tịch nước nêu bật những thành tựu quan trọng của Việt Nam trong bảo đảm bình đẳng giới, nâng cao địa vị và phát huy sức sáng tạo của phụ nữ; đồng thời nhấn mạnh những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế đất nước. Phó Chủ tịch nước kêu gọi Hội nghị quyên góp ủng hộ phụ nữ Nê-pan vừa bị ảnh hưởng nặng nề của trận động đất; và thông báo, cùng khoản hỗ trợ 50.000 USD của Chính phủ, Ðoàn đại biểu Việt Nam quyên góp tặng 10.000 USD giúp phụ nữ Nê-pan khắc phục hậu quả thiên tai.

Chủ tịch Hội nghị cấp cao Phụ nữ Toàn cầu I-ren Nát-ti-vi-đát đã trao tặng Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan giải thưởng Lãnh đạo Nhà nước toàn cầu vì những nỗ lực nâng cao quyền năng cho phụ nữ và nhất là đóng góp tăng cường kết nối các doanh nhân nữ Việt Nam với thế giới.

* Cùng ngày, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã gặp Chủ tịch Ðảng Cộng sản (CS) Bra-xin Re-na-tu Ra-be-lu. Phó Chủ tịch nước chúc mừng Ðảng CS Bra-xin về những thành tựu to lớn và các bước phát triển mạnh mẽ những năm gần đây, nhất là thắng lợi tại cuộc tổng tuyển cử tại Bra-xin vừa qua, góp phần củng cố vai trò của Ðảng CS Bra-xin trong liên minh cầm quyền, cũng như trong đời sống chính trị, kinh tế – xã hội đất nước. Phó Chủ tịch nước khẳng định, Ðảng CS Việt Nam mong muốn tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác với Ðảng CS Bra-xin, đóng góp thiết thực, không ngừng phát triển và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.

Chủ tịch R.Ra-bê-lu bày tỏ ngưỡng mộ nhân dân Việt Nam về truyền thống lịch sử đấu tranh anh dũng và những thành tựu đổi mới to lớn; ca ngợi cuộc đời trong sáng và sự nghiệp hoạt động Cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng CS Việt Nam và sự đóng góp quan trọng và quý báu của Cách mạng Việt Nam vào kho tàng lý luận và thực tiễn của Phong trào CS và cánh tả trên thế giới. Ðồng chí khẳng định, Bra-xin coi Việt Nam là một đối tác quan trọng; mong muốn Ðảng CS hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác; và ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam giải quyết tranh chấp chủ quyền thông qua đàm phán hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế.

* Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã có cuộc gặp Thị trưởng TP Xao Pao-lô Phéc-nan-đu Át-đát. Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam mong muốn phát triển quan hệ đối tác toàn diện với Bra-xin nói chung và với TP Xao Pao-lô nói riêng. Thị trưởng P.Át-đát khẳng định, Xao Pao-lô muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt cùng có lợi với Việt Nam, sẵn sàng thiết lập quan hệ kết nghĩa, hợp tác với các địa phương Việt Nam.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 19/5/2015:

Khánh thành Khu lưu niệm Giáo sư , Việt sĩ Trần Đại Nghĩa

Sáng 18-5, Vĩnh Long long trọng tổ chức Lễ khánh thành Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viện Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư T.Ư Đảng, đã đến dự.

Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa được thiết kế theo lối không gian mở, thoáng mát, gần gũi. Tổng diện tích khu lưu niệm hơn 16.000 m2, gồm: Nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, thư viện và trung tâm tích hợp dữ liệu về khoa học và công nghệ, phòng hội thảo, chiếu phim, sinh hoạt truyền thống, quảng trường, các hạng mục phụ trợ và cảnh quan với tổng mức đầu tư gần 51 tỷ đồng.

Sau gần hai năm thi công, đến nay công trình đã hoàn thành và đưa vào quản lý sử dụng. Đặc biệt, Bộ Khoa học và Công nghệ đầu tư xây dựng TKhanh thanh khu luu niem Tran Dai Nghiarung tâm tích hợp dữ liệu khoa học công nghệ với tổng mức đầu tư 2,6 tỷ đồng, như: Cổng thông tin điện tử giới thiệu Khu lưu niệm, tích hợp thư viện điện tử về thân thế, sự nghiệp và các công trình nghiên cứu Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa; là nơi lưu trữ, quảng bá thông tin khoa học công nghệ, phục vụ khai thác sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn mới vùng ĐBSCL, đồng thời phục vụ rộng rãi cho khách tham quan, nghiên cứu, tiếp cận thông tin khoa học công nghệ quốc gia và quốc tế.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là nhà khoa học tiên phong trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những công trình khoa học của ông có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc, từ súng không giật trong kháng chiến chống Pháp đến thiết bị rà phá thủy lôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là người đứng đầu nhiều cơ quan của ngành khoa học công nghệ Việt Nam và Bộ Quốc phòng. Ông cũng là Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ đầu tiên của Việt Nam, là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam.

BÙI QUỐC DŨNG

  • Tin trang báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2015:

Trao giải thưởng Tạ Quang Bửu cho 3 nhà khoa học

Ngày 16-5 tại Hà Nội, lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2015 đã vinh danh ba nhà khoa học có công trình khoa học xuất sắc với giải thưởng trị giá 200 triệu đồng/giải và một nhà khoa học nhận giải thưởng nhà khoa học trẻ được tặng thưởng 50 triệu đồng.

Ba nhà khoa học được trao giải gồm: GS.TSKH Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin – ĐH Quốc gia Hà Nội) đoạt giải thưởng tác giả công trình xuất sắc với Pho Thu Tuong Vu Duc Dam trao giai Ta Quang Buuđề tài “Xấp xỉ và khôi phục tín hiệu có số chiều rất lớn trên lưới thưa” đăng trên Nền Móng Của Toán Học Tính Toán – tạp chí đứng thứ năm trong lĩnh vực toán học tính toán do SCImago xếp hạng; GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học – Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) đoạt giải bằng cụm công trình “Nghiên cứu tính ổn định và ổn định vi phân của một lớp bài toán quy hoạch toàn phương không lồi” đăng trên tạp chí SIAM Journal On Optimization, đứng thứ sáu về vị trí ảnh hưởng, đứng thứ bảy về chỉ số trích dẫn; PGS.TS Trần Thanh Hải (Trường ĐH Mỏ – địa chất) được vinh danh nhờ công trình “Bản chất đới trượt Tam Kỳ – Phước Sơn ở miền Trung Việt Nam: Ý nghĩa kiến tạo và sinh khoáng của nó” đăng trên Gondwana Research – tạp chí có thứ hạng cao, uy tín trong lĩnh vực địa chất. Riêng giải thưởng nhà khoa học trẻ dành cho PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp (Viện Toán học – Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) – người trước đó được công nhận chức danh PGS khi mới 29 tuổi, tác giả công trình “Một đánh giá tốt nhất có thể của ngưỡng chính tắc” đăng trên Acta Mathematica – một trong năm tạp chí toán học đỉnh cao và kinh điển nhất của các tạp chí toán học trên thế giới.

Phát biểu tại lễ trao giải, Bộ trưởng Bộ Khoa học –  công nghệ Nguyễn Quân cho biết năm 2014 là năm đầu tiên Việt Nam vượt ngưỡng hơn 2.000 bài báo đăng trên các tạp chí khoa học uy tín thuộc danh mục ISI – điều mà 10 năm trước không ai từng nghĩ đến. Ông Quân cũng bày tỏ mong muốn các nhà khoa học cùng chung tiếng nói trên các diễn đàn – trong đó có cả diễn đàn Quốc hội – để những nhà quản lý cùng chia sẻ được những khó khăn với nhà khoa học, thay đổi tư duy cũ, tạo cơ chế mới phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho khoa học Việt Nam đạt được nhiều thành quả hơn nữa.

Được biết, giải thưởng Tạ Quang Bửu của Bộ Khoa học – công nghệ được dành trao cho những tác giả có các công trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc, được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín.

Ngọc Hà.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2015:

Khánh thành Trường tiểu học Song Tử Tây, Trường Sa

Trong chuyến thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa của đoàn công tác TP.HCM số 2 (đoàn công tác số 11 của Quân chủng hải quân), các đại biểu TP.HCM đã cùng Quân chủng hải quân, Bộ tư lệnh Hải quân vùng 4 và quân dân xã đảo Song Tử Tây vừa làm lễ khánh thành Trường tiểu học Song Tử Tây.

Trường được xây kiên cố hai tầng gồm sáu phòng, trong đó gồm cả phòng nghỉ cho giáo viên và một bể Truong tren dao song tu taychứa nước 90m3. Số tiền xây dựng trường trên 8 tỉ đồng được cán bộ, giáo viên và học sinh ngành giáo dục TP.HCM đóng góp, hưởng ứng cuộc vận động “Vì Trường Sa thân yêu, vì tuyến đầu Tổ quốc” do Ủy ban MTTQ TP.HCM phát động.

Cũng trong chuyến thăm này, đoàn công tác số 2 của TP.HCM đã tặng quân dân Trường Sa số tiền và quà 10,3 tỉ đồng để góp phần xây dựng đảo. Đoàn đã đến thăm chín điểm đảo gồm: Trường Sa lớn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Đá Tây… và nhà giàn DK1/14.

* Chiều 18-5, Tỉnh đoàn Quảng Bình cùng đại diện Đoàn khối Bộ Xây dựng tại TP.HCM đã tổ chức lễ bàn giao nhà mới cho cựu binh đảo Gạc Ma Nguyễn Bá Ngọc, ở thôn Tân Hội, xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình). Anh Ngọc là nhân vật trong câu chuyện “Những người lính Gạc Ma bây giờ” đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 13-3-2015.

Cựu binh Nguyễn Bá Ngọc cho biết toàn bộ chi phí để làm ngôi nhà khoảng 100 triệu đồng, trong đó Đoàn khối Bộ Xây dựng hỗ trợ 50 triệu. Một cán bộ Huyện đoàn Bố Trạch đưa bộ khung gỗ ngôi nhà cũ của anh Ngọc lên mạng xã hội và có một người mua ủng hộ giá 12 triệu đồng. Những người thân quen biết hoàn cảnh của vợ chồng cựu binh Gạc Ma cũng đồng ý cho mượn tiền không lấy lãi. Những đồng đội của anh Ngọc từng tham gia trận hải chiến Gạc Ma ở Quảng Bình nghe tin cũng tìm đến giúp anh Ngọc mỗi người năm ba ngày công để đồng đội mình có nhà mới.

Viễn Sự – Quốc Nam

  • Tin trang 8 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2015

Bà Mai Kiều Liên được vinh danh tại Nhật Bản

Ngày 20-5 tại Tokyo (Nhật Bản), bà Mai Kiều Liên – chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty CP Sữa VN (Vinamilk) – là người VN duy nhất và là một trong ba cá nhân, tổ chức nhận được giải thưởng Nikkei châu Á lần thứ 20 trong lĩnh vực “Kinh tế và đổi mới doanh nghiệp” do báo Nikkei – nhật báo kinh tế lớn nhất tại Nhật – tổ chức.Ba Mai Kieu Lien

Đánh giá về những đóng góp của bà Liên, báo Nikkei nhận định: “… Là người tiên phong trong thị trường các sản phẩm từ sữa tại VN, Vinamilk đã giúp người tiêu dùng VN thấy được sự cần thiết của những sản phẩm dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Hiện nay công ty đang đầu tư phát triển vươn ra tầm quốc tế”.

Phát biểu tại buổi lễ, bà Mai Kiều Liên cho biết: “Đây là một vinh dự lớn lao không chỉ cho riêng cá nhân tôi mà còn cho tập thể Công ty Vinamilk, vì tất cả sự cố gắng cống hiến và sáng tạo của hơn 5.000 nhân viên Vinamilk trong gần 40 năm qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận”.

Ngoài ra, bà Liên cũng tuyên bố dành tặng toàn bộ số tiền thưởng 3 triệu yen Nhật (tương đương 500 triệu đồng) cho trẻ em Nepal đang phải gánh chịu thảm họa động đất lịch sử thông qua Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) Nhật Bản.

Quý 1-2015, doanh thu thuần của Vinamilk đạt 8.075 tỉ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2014, thị trường xuất khẩu tăng 70%.

Năm 2015, Vinamilk đặt kế hoạch doanh thu hợp nhất 39.077 tỉ đồng, tăng 9,4% so với thực hiện năm 2014. Lợi nhuận sau thuế 6.830 tỉ đồng, tăng 12,6%. Sản phẩm của Vinamilk hiện có mặt ở hơn 31 nước trên thế giới như Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, Mỹ, Úc…

H.Đăng

  • Tin trang 13 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

70,7% bác sĩ nội trú tốt nghiệp loại giỏi

Ngày 19-5, Trường đại học Y dược TP.HCM đã tổ chức lễ phát bằng tốt nghiệp sau đại học cho 1.181 nghiên cứu sinh, học viên sau đại học.

Trong đợt này có 18 nghiên cứu sinh của 10 chuyên ngành nhận bằng tiến sĩ y học và tiến sĩ dược học, 407 học viên cao học nhận bằng thạc sĩ, 92 học viên nhận bằng bác sĩ nội trú, 171 học viên nhận bằng chuyên khoa cấp II và 493 học viên nhận bằng chuyên khoa cấp I.

Theo TS Hoàng Tiến Mỹ – trưởng phòng sau đại học, năm 2014 nhà trường có đến bốn nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y học đúng thời hạn.

“Đây là con số rất đáng khích lệ. Trong đào tạo tiến sĩ y khoa, để bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đúng thời hạn rất khó. Có nhiều khóa ở trường không có nghiên cứu sinh nào bảo vệ luận án đúng hạn” – TS Mỹ cho biết.

Đặc biệt, ở bậc đào tạo bác sĩ nội trú đợt này có một học viên tốt nghiệp loại xuất sắc và có đến 65 học viên tốt nghiệp loại giỏi (tỉ lệ 70,7 ), 26 học viên tốt nghiệp loại khá.

Trần Huỳnh

  • Tin trang 11 báo Tuổi Trẻ ngày 21/5/2015:

Khánh thành khu lưu trú thứ 41 cho công nhân

Tối 19-5, tại ấp 2, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh (TP.HCM), Trung tâm Hỗ trợ thanh niên công nhân thành phố (Thành đoàn TP.HCM) đã tổ chức lễ ra mắt khu lưu trú văn hóa thứ 41 dành cho thanh niên công nhân.

Khu luu tru thu 41

Khu lưu trú có tổng cộng 45 phòng trọ. Các phòng trọ đều có gác, bếp và nhà vệ sinh riêng. Tại buổi lễ ra mắt, trung tâm đã trao một “căn phòng mơ ước” cho gia đình công nhân Thân Văn Tư và chị Nguyễn Thị Minh Nguyệt – anh chị được miễn tiền thuê phòng trong một năm. Cũng tại lễ ra mắt, trung tâm còn trao 10 phần quà cho các công nhân khó khăn, trao “Tủ sách tri thức thanh niên công nhân” cho khu lưu trú.

Anh Dương Ngọc Tuấn, giám đốc trung tâm, cho biết đến nay toàn thành phố có tổng cộng 41 khu lưu trú văn hóa dành cho thanh niên công nhân với hơn 6.500 công nhân đang lưu trú. Năm nay trung tâm dự kiến trao 10 “căn phòng mơ ước” cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn, hiện đã trao được bốn căn.

QUANG PHƯƠNG

  • Tin trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

Vụ 5 triệu Yên Nhật trong thùng loa cũ:

Công an Q.Tân Bình sẽ trả tiền cho bà Hồng

Chiều 19-5, trao đổi với Tuổi Trẻ, một cán bộ điều tra Công an Q.Tân Bình xác nhận cơ quan này đã bác đơn khiếu nại của bà Ngọt, và sẽ thành lập hội đồng tư vấn để bàn giao 5 triệu yen cho chị Hồng trong thời gian sớm nhất. “Lúc 14g, Công an Q.Tân Bình đã mời tôi đến thông báo có nhận được đơn khiếu của tôi (nộp ngày 13-5, về việc chưa được giải quyếCong an tra tien cho ba Hongt nhận lại 5 triệu yen Nhật – PV), đồng thời thông báo bằng miệng tạm ngưng giải quyết đơn khiếu nại này của tôi để giải quyết vụ việc, bà Huỳnh Thị Ánh Hồng người mua bán ve chai đã phát hiện ra 5 triệu yên trong hai thùng loa cũ cho biết. Luật sư Hà Hải (luật sư hỗ trợ pháp lý miễn phí cho bà Hồng) hỏi lý do ngưng giải quyết đơn khiếu nại, cũng như hướng giải quyết tiếp theo thì vị cán bộ này cho biết chiều 18-5, Công an Q.Tân Bình đã mời bà Phạm Thị Ngọt (40 tuổi, ngụ H.Hóc Môn) đến trụ sở thông báo đã hết thời hạn giải quyết và bác đơn khiếu nại của bà Ngọt.

Đồng thời Công an Q.Tân Bình xác định không có tranh chấp trong vụ 5 triệu yen Nhật, toàn bộ 100% tài sản sẽ phải bàn giao cho bà Hồng.

Do luật không có qui định cơ quan nào, thời gian nào, cách thức trao trả, cũng như số tiền trên phải hoán đổi từ ngoại tệ ra tiền đồng Việt Nam… rồi mới bàn giao cho bà Hồng, vì vậy trong thời gian sớm nhất Công an Q.Tân Bình sẽ thành lập một hội đồng tư vấn để tham vấn cách thức trả số tiền trên cho bà Hồng.

Chiều cùng ngày, một Cán bộ điều tra Công an Q.Tân Bình (TP.HCM), xác nhận chiều 18-5, cơ quan này đã mời bà Ngọt đến để thông báo việc bác đơn khiếu nại của bà này và sẽ giải quyết vụ việc trong thời gian sớm nhất.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Ngọt cũng xác nhận đã được Công an Q.Tân Bình mời đến và thông báo hết thời gian giải quyết đơn khiếu nại, đồng thời yêu cầu bà ký vào biên bản làm việc.

Trước đó, ngày 10-5, bà Ngọt đã gửi đơn đến Công an Q.Tân Bình yêu cầu được nhận lại số tài sản trên. Ngày 12-5, Công an Q.Tân Bình đã có văn bản trả lời cho bà Hồng là do có phát sinh tình tiết mới nên cơ quan này cần có thời gian làm rõ để bảo vệ quyền lợi cho các bên liên quan.

Đ.Thanh.

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 15/5/2015:

Khen thưởng các lực lượng bắt giữ vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác

Ngày 14/5, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công An có Thư khen gửi các lực lượng bắt vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác tại Nghệ An. Theo đó, thường bốn đơn vị: Phòng PC46, PA71, Công an tỉnh Nghệ An; Phòng 4, Cục A70; Phòng 3, Cục A71, mỗi đơn vị mười triệu đồng, trích từ Quỹ Phòng, chống tội phạm trung ương.

Trước đó, ngày 9/5, tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu (Nghệ An), Công an tỉnh Nghệ An phối hợp Cục A70, A71 bắt hai đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép sứng tê giác, thu giữ 31 chiếc sừng tê giác (trọng lượng 37kg).

Bộ trưởng Trần Đại Quang yêu cầu, Công an tỉnh Nghệ An khẩn trương khai thác các đối tượng, mở rộng điều tra và sớm đưa vụ án ra xử lý trước pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa chung; đồng thời tăng cường nắm tình hình, phát hiện, điều tra các vụ án khác.

PV.

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Khen thưởng lực lượng phá đường dây vận chuyển 31 sừng tê giác.

Ngày 19-5, UBND tỉnh và Công an tỉnh Nghệ An tổ chức trao thưởng cho Ban chuyên án 415S của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ về thành tích bắt hai đối tượng trong đường dây vận chuyển 31 sừng tê giác (Báo Nhân Dân đã đưa tin); công bố Thư khen của Bộ trưởng Công an; Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An gửi Ban chuyên án vì thành tích xuất sắc trên.

Trước đó, vào 23 giờ 40 phút ngày 8-5, tại ga Si thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, lực lượng Ban chuyên án 415S đã bắt quả tang hai đối tượng là Ðoàn Duy Ðịnh, SN 1983 trú tại xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa và Lê Thành Trung, SN 1983, trú tại xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội, đang có hành vi vận chuyển trái phép 31 chiếc sừng tê giác, tổng trọng lượng 37 kg. Ðịnh và Trung là mắt xích trong đường dây vận chuyển trái phép sừng động vật hoang dã từ nước ngoài vào Việt Nam. Chuyên án đang tiếp tục được điều tra mở rộng.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/5/2015:

Bắt tạm giam hai người trong vụ sập giàn giáo tại công trường Formosa

 Liên quan vụ sập giàn giáo tại công trường Formosa thuộc Khu Kinh tế Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh) xảy ra ngày 25-3, ngày 19-5, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Kim Chông Úc (43 tuổi) và ông Li Gia My-ông (62 tuổi), đều quốc tịch Hàn Quốc vì “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Theo kết quả điều tra ban đầu, ông Kim Chông Úc là chỉ huy trưởng công trường sản xuất, lắp đặt thùng chìm trọng lực phục vụ cảng Sơn Dương thuộc Khu liên hợp gang thép Formosa. Trước khi giàn giáo bị sập, ông Kim đã lên giàn giáo Lane 2 kiểm tra nhưng không chỉ đạo ngừng thi công khi phát hiện có sự cố nguy hiểm mà vẫn để công nhân tiếp tục làm việc. Còn ông Li Gia My-ông là Giám đốc đơn vị quản lý công nhân làm việc tại giàn giáo Lane 1 và 2 khi giàn giáo Lane 2 xuất hiện sự cố rung lắc mạnh khiến công nhân bỏ chạy, cảnh báo về độ nguy hiểm, ông Li có lên kiểm tra nhưng không chỉ đạo ngừng thi công mà vẫn yêu cầu công nhân tiếp tục làm việc, dẫn đến tai nạn nghiêm trọng.

  • Tin trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2015:

Phụ nữ bán dâm cần được bảo vệ khỏi nạn bạo hành

Tỷ lệ ly dị, ly thân, góa chồng trong nhóm phụ nữ bán dâm rất cao khiến phần lớn họ bị đè nặng về mặt kinh tế, chịu áp lực kiếm tiền nuôi con, nuôi bản thân. 

Phụ nữ nhóm này cũng bí bách trong việc tìm công việc khác, thời gian họ phải làm nghề kéo dài lâu hơn, trung bình 8 năm, độ tuổi từ khoảng 16-65 tuổi.

Đó là những thông tin của bà Nguyễn Thị Huệ, trưởng Phòng truyền thông và huy động cộng đồng, Ủy ban Phòng chống  AIDS TP.HCM chia sẻ tại hội thảo “Vấn đề bạo lực giới trong phòng, chống mại dâm, quan điểm và các giải pháp” tổ chức sáng 19-5 tại TP.HCM.

Ông Trần Ngọc Du – chi cục trưởng Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Sở Lao động – Thương binh và xã hội TP.HCM) nêu ra: Hiện nay, Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm chưa quy định biện pháp cụ thể nào về đối xử bình đẳng đối với phụ nữ bán dâm, để họ được bảo vệ như những phụ nữ khác trong những vụ án hiếp dâm và cưỡng bức tình dục khác mà họ rất dễ gặp phải trong khi hành nghề.

Theo ông Du, cuộc sống của người bán dâm vốn đã nhiều khó khăn, rủi ro thì càng cần thiết phải có giải pháp để hỗ trợ họ tăng cường các kỹ năng năng phòng ngừa, tránh khỏi nạn bạo hành.

Kết quả khảo sát của Viện Khoa học lao động xã hội về bạo lực giới trong nhóm người bán dâm dựa trên phỏng vấn 150 người bán dâm cho thấy, có trên 49% cho biết từng bị bạo hành hoặc biết phụ nữ bán dâm khác bị bạo hành, trong đó 44% bị bạo hành khi đang hành nghề.

Hầu hết phụ nữ bán dâm không trình báo với chính quyền địa phương (chiếm 46%  số người được khảo sát) do họ ngại, lo sợ việc làm vi phạm pháp luật và bản thân họ cũng chưa hiểu biết quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình.

Vũ Thủy

  • Tin trang 7 báo Tuổi Trẻ ngày 18/5/2015:

Giày dép Việt vào Mỹ tăng mạnh

Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc Công ty giày Gia Định, cho biết đơn hàng xuất khẩu giày dép sang thị trường Mỹ của công ty tiếp tục tăng mạnh do nhu cầu đặt hàng từ đối tác tăng cao kể từ đầu năm đến nay.

Hiện Gia Định đã có đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ đến hết quý 3-2015 “và không có đủ lực để làm nếu tốc độ đặt hàng tiếp tục tăng cao như hiện nay” – ông Trung thông tin.

Với sản lượng 3,2 triệu đôi giày sản xuất trong năm 2015, tương ứng khoảng 40 triệu USD, ông Trung cho biết thị trường Mỹ ước chiếm 55% trong tổng cơ cấu xuất khẩu của Gia Định, tăng gần 40% so với mức thực hiện của năm 2014.

Hiệp hội Da – giày – túi xách VN cũng xác nhận giày dép xuất vào Mỹ tăng trưởng rất mạnh, trong đó xu hướng chuyển dịch đơn hàng từ Trung Quốc sang VN.

Tính đến cuối tháng 4-2015, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép đã đạt 3,53 tỉ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, kim ngạch và tốc độ tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ đã vượt EU – vốn là thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày trong nhiều năm qua – đạt mức 1,23 tỉ USD, tăng 28,8%.

T.V.N.

  • Tin trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 15/5/2015:

Tranh cãi quyết liệt khi đụng đến sông Hương

Nhờ các chuyên gia, người dân phản biện và lãnh đạo địa phương biết lắng nghe mà hai bờ sông Hương qua bao đời nay mặc nhiên là đất công cộng, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của thành phố.

Sông Hương là trục cảnh quan chính để hình thành nên đô thị Huế. Dưới thời nhà Nguyễn, sông Hương đã được giữ gìn như là yếu tố minh đường của kinh thành Huế.

Khi người Pháp xây dựng các công trình ở bờ nam sông Hương vẫn dành hẳn dải đất ven bờ sông cho cây xanh, thảm cỏ.

Từ đó đến sau này, dải đất được xem là “đất vàng” ở hai bờ sông Hương mặc nhiên là đất công cộng, dành cho việc làm đẹp thành phố.

Vì vậy mỗi khi xuất hiện một ý tưởng xây dựng công trình ở “đất vàng” này, hoặc xây dựng gần đó nhưng làm ảnh hưởng đến “không gian vàng” này là lập tức bị cộng đồng phản đối. Những cuộc tranh cãi quyết liệt ở Huế trong ba thập niên qua, thời kỳ phát triển mạnh nhất của đô thị Huế, đều là do “đụng chạm” đến sông Hương.

Cuối thập niên 1970, công trình nhà thủy tạ ở bờ sông Hương ngay trước kinh thành Huế đang xây phần móng đã phải bỏ cuộc trước phản ứng dữ dội của dư luận.

Đầu thập niên 1980, khi tuyến kè từ cầu Phú Xuân đến chợ Đông Ba xây quá cao, nhiều người đã lên tiếng phản đối và chính quyền phải huy động lực lượng đắp đất, trồng cỏ phủ kín tình hình mới lắng dịu.

Giữa thập niên 1990, dư luận tiếp tục phản đối việc xây nhà nghỉ chuyên gia của một công ty ximăng ở bờ sông (vị trí chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay) buộc công trình này phải ngừng lại.

Đầu thập niên 2000, bờ kè ven sông ở bến đò Tòa Khâm đang xây đã bị phản ứng buộc phải hạ thấp xuống thành tuyến đi bộ gần sát mặt sông.

Đặc biệt, giữa thập niên 2000, dự án khách sạn trên đồi Vọng Cảnh ven sông Hương đã gặp sự phản đối kịch liệt, buộc phải dừng lại. Khách sạn cao tầng Tân Hoàng Cung xây cách bờ sông khoảng 300m cũng bị phản đối vì ảnh hưởng không gian sông Hương. Khu du lịch trên cồn Dã Viên mới xuất hiện trên mặt giấy phải dừng lại…

Tranh cai song Huong

Ý thức tầm quan trọng của sông Hương, tỉnh Thừa Thiên – Huế và TP Huế đã mời một đơn vị tư vấn Hàn Quốc nghiên cứu lập đề án quy hoạch chi tiết hai bờ sông Hương.

Tại cuộc hội thảo hôm 24-4 vừa qua, đơn vị tư vấn này đưa ra phương án hình thành không gian du lịch liên tục ven bờ sông Hương có bố trí một số trung tâm du lịch, phim trường, điểm nhấn khai thác dịch vụ, nghỉ dưỡng… Và ý tưởng này đã gặp ngay phản ứng của các chuyên gia quy hoạch, kiến trúc của VN.

Họ cho rằng các công trình này dù chỉ là điểm xuyết nhưng cũng ảnh hưởng đến cảnh quan đặc thù của con sông thơ mộng này. Chuyên gia quy hoạch đô thị Nguyễn Đỗ Dũng đề xuất: “Nếu năng lực chưa đủ thì nên giữ nguyên trạng hai bờ sông Hương như hiện nay, đó cũng là một chiến lược quy hoạch”.

Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch UBND TP Huế, đề nghị các nhà tư vấn Hàn Quốc không nên vội đưa ra phương án quy hoạch mà nên lắng nghe nhiều luồng ý kiến để tiếp tục nghiên cứu cách khai thác hợp lý nhất giá trị của dòng sông di sản này.

Trong khi đó, những dự án giải tỏa dân cư làm thông thoáng bờ sông Hương đã nhận ngay sự đồng tình. Đó là xóm nhà lộn xộn Bến Me trước kinh thành, khu nhà ven bờ sông đường Kim Long, khu ổ chuột gần cầu Gia Hội và phía nam cầu Dã Viên.

Thay vào đó là những dải công viên xanh mướt. “Quan điểm phải xây công trình lớn mới làm đẹp bờ sông là hoàn toàn không phù hợp với sông Hương. Chính việc phá dỡ, đập bỏ công trình không phù hợp, cộng với chăm chút hai bờ sông đã làm cho sông Hương đẹp thêm. Chính điều này đã tăng thêm điều kiện để Huế phát triển kinh tế” – nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên giám đốc Sở Văn hóa thông tin Thừa Thiên – Huế, nói.

Thái Lộc

  • Tin trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 19/5/2015

Đưa trái vải vào thị trường phía nam

Năm nay, vải thiều được mùa nên các địa phương có vùng chuyên canh dự tính sẽ có sản lượng lớn đã gấp rút lên kế hoạch tìm “đầu ra” từ khá sớm. Phương án đang được ưu tiên thực hiện là tìm cách mở rộng đường cho loại trái cây đặc sản này vào miền nam.

Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Võ Văn Quyền cho biết, vải là đặc sản nông nghiệp Trai vai vao mien namcủa hai tỉnh là Bắc Giang và Hải Dương, sản lượng vải năm nay ước đạt khoảng 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Ô-xtrây-li-a… khoảng 80.000 tấn, số còn lại tiêu thụ trong nước.

Tìm thêm “đầu ra” cho mùa vải sắp thu hoạch rộ, ngày 15-5, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Công thương TP Hồ Chí Minh cùng Sở Công thương tỉnh Hải Dương tổ chức hội nghị kết nối thương mại để tiêu thụ vải thiều. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Anh Cương, cho biết, Hải Dương hiện có khoảng 21 nghìn ha đất trồng cây ăn quả, sản lượng quả đạt khoảng 200.000 tấn/năm; trong đó diện tích trồng vải chiếm 11.000 ha, sản lượng đạt khoảng 50.000 tấn, giá trị kinh tế của cây vải đạt khoảng 430 tỷ đồng/năm. Vải thiều không giống như loại trái cây khác vì chín đồng loạt, vận chuyển khó và dễ hư hao trong điều kiện không được bảo quản tốt cho nên rất cần sự hợp tác của các địa phương, ngành hàng và doanh nghiệp (DN) trong khâu tiêu thụ.

Giám đốc Sở Công thương tỉnh Hải Dương Vũ Doãn Quang thông tin, mùa vải sớm (vải tu hú) ở Hải Dương đã được thu hoạch với khoảng 10.000 tấn, riêng vải thiều, dự ước sản lượng khoảng 40.000 tấn sẽ thu hoạch vào khoảng từ ngày 5-6 đến 5-7-2015. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn Phú cho biết thêm, đặc sản vải thiều Thanh Hà là niềm tự hào của xứ Đông xưa nay. Tại Hải Dương, hiện đã có 25 mô hình sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP với 229 ha, sản lượng đạt khoảng 1.500 tấn. Trong năm 2015, có 19 ha của 97 hộ dân trồng vải đã được cấp mã số vùng trồng đủ tiêu chuẩn đi Mỹ và giá trị của trái vải ở xứ này không ngừng tăng lên. Vải thiều Hải Dương đã có mặt tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, nhưng số lượng xuất đi còn rất khiêm tốn, chủ yếu bán ở thị trường trong nước.

Nhiều năm qua, TP Hồ Chí Minh là nơi tiêu thụ nhiều mặt hàng nông sản với số lượng lớn cho các tỉnh, trong đó có vải thiều. Phó Giám đốc Sở Công thương TP Hồ Chí Minh Nguyễn Phương Đông khẳng định, với tiềm lực và kinh nghiệm của mình, thành phố sẽ lập phương án để các nhà phân phối, thương nhân, chợ đầu mối kết nối với các DN, nhà vườn ở Hải Dương để tiêu thụ vải với số nhiều và hiệu quả.

Theo Phó Giám đốc Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ đầu mối Thủ Đức Trịnh Diệp Thanh Thảo, trong tổng số 60.000 tấn vải từ phía bắc chuyển vào nam của niên vụ 2014, chợ Thủ Đức đã tiêu thụ 37.000 tấn. Để tiêu thụ một lượng trái vải lớn trong thời gian rất ngắn, chợ đầu mối Thủ Đức đã dành riêng một khu để trái vải tập kết về và phân phối đi nơi khác và năm nay sẽ ưu tiên nhiều hơn để thương nhân kinh doanh. Ban quản lý chợ sẽ cung cấp cho ngành công thương tỉnh Hải Dương và Bắc Giang danh sách tiểu thương thu mua vải thiều, lưu lượng hàng hóa tại chợ đầu mối, diễn biến thị trường để DN đầu mối cung cấp hàng tại hai địa phương chủ động nguồn hàng đưa vào thuận tiện, tránh dồn ứ.

Năm 2014, chợ đầu mối Hóc Môn tiêu thụ 5.800 tấn vải thiều do sáu tiểu thương kinh doanh. Năm nay, chợ Hóc Môn tăng lên 11 điểm bán, thời gian bán vải thiều dài hơn, từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau. Nhằm giúp tiểu thương kinh doanh vải thiều đạt hiệu quả, ông Lê Hoàng Phong, đại diện tiểu thương ở chợ Hóc Môn đề nghị các DN ở Hải Dương cần có kế hoạch thu mua, giao nhận, giá cả bằng hợp đồng sớm. Ông Phong cũng lưu ý nhà cung cấp dùng bao bì đựng vải thiều phải đồng nhất, trọng lượng vừa phải nhằm dễ vận chuyển. Năm trước đã có tình trạng đựng vải thiều Thanh Hà vào sọt, bao xốp của nhãn hàng hóa khác làm giảm giá trị và người tiêu dùng nghi ngờ về nguồn gốc.

Đại diện Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn đề nghị các DN từ Hải Dương khi đưa vải thiều vào nam cần ký kết hợp đồng rõ ràng, hàng hóa phải bảo đảm chất lượng, giá cả ổn định, giao hàng đúng hẹn để nhà phân phối còn tổ chức đưa vào các điểm bán lẻ. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Anh Cương cam kết chính quyền và các DN Hải Dương sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đầu mối ở TP Hồ Chí Minh tiếp cận, đặt hàng, thanh toán và tiêu thụ vải thiều.

Cùng với Hải Dương, Bắc Giang là địa phương có diện tích, sản lượng vải thiều lớn cũng đang xúc tiến kế hoạch tìm đầu ra cho mặt hàng nông sản này. Ngày 14-5, UBND tỉnh Bắc Giang đã tổ chức hội nghị xúc tiến xuất khẩu, kết nối cung cầu tiêu thụ vải thiều năm 2015 ngay tại cửa khẩu đường bộ số 2, Kim Thành, TP Lào Cai (Lào Cai) nhằm tìm phương án tổ chức tốt hoạt động bến bãi, thủ tục thông quan, ký kết hợp đồng với thương nhân phía Trung Quốc (thị trường thu mua vải thiều của Việt Nam đến 90% lượng hàng xuất khẩu) cho mùa thu hoạch vải đã cận kề. Tỉnh Bắc Giang cũng đã lên kế hoạch, yêu cầu các sở, ngành, DN trong tỉnh chuẩn bị phương án đưa vải thiều vào thị trường phía nam để tham gia hội nghị xúc tiến thương mại tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 2-6 tới.

Đại diện Sở Công thương tỉnh Bắc Giang cho biết, năm nay sản lượng vải thiều của Bắc Giang ước đạt khoảng 160.000 tấn, trong đó xuất khẩu 64.000 tấn (chiếm khoảng 40% tổng sản lượng). Riêng huyện Lục Ngạn hiện có 17.500 ha vải thiều, trong đó 9.500 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 60,38 ha trồng theo tiêu chuẩn GlobalGAP để xuất sang Mỹ. Tuy nhiên, số vải thiều tiêu thụ trong nước vẫn còn rất lớn, vì thế ngành công thương Bắc Giang đang gấp rút để kết nối với TP Hồ Chí Minh nhằm giảm thiểu tình trạng ế hàng, dội chợ.

Các DN phân phối, chợ đầu mối , thương nhân ở TP Hồ Chí Minh hiện vẫn băn khoăn về giá vải thiều ở miền bắc không cao lắm, nhưng khi vào đến thị trường thành phố thì cao ngất ngưởng, phải có cách làm để giá vải thiều giảm bớt đi độ chênh lệch để dễ kinh doanh. Theo một cán bộ ở Hải Dương cho biết, vải (loại tu hú) tại Hải Dương hiện có giá tại vườn trên dưới 35.000 đồng/kg, nhưng khi đến chợ ngay tại Hải Dương giá bán đã chênh lệch 10.000 đến 15.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại các chợ truyền thống ở TP Hồ Chí Minh, giá bán loại vải này đã từ 60.000 đến 80.000 đồng/kg, cao gấp vài lần…

Thái Mỹ

  • Tin trang Hà Nội  báo Nhân Dân ngày 15/5/2015:

Lễ hội Lễ Mật nhận bằng di sản phi vật thể

UBND quận Long Biên vừa tổ chức lễ đón bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội truyền thống làng Lệ Mật. Lễ hội truyền thống làng Lệ Mật là không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của nhân dân quận Long Biên. Lễ hội tưởng nhớ chàng trai làng Lệ Mật có công cứu công
chúa, sau đó đưa nhân dân Lệ Mật khai khẩn khu đất phía tây thành Thăng Long, lập lên 13 trại ấp mà sách sử gọi là khu “Thập Tam trại”, nay là các phường thuộc quận Ba Đình. Lễ hội vẫn duy trì được nhiều nét văn hóa đặc sắc như: lễ đả ngư, múa giảo long…

  • Tin trang 4 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Tuần văn hóa Du lịch lễ hội chợ tình Khâu Vai

Từ ngày 13 đến 16/5 tại huyện Mèo Vạc (Hà Giang) diễn ra Tuần Văn hóa du lịch Lễ hội Chợ tình Khau Vai. Đây là phiên chợ đặc biệt “có một không hai” ở Việt Nam. Phiên chợ chủ yếu dành cho những đôi trai gái có mối tình trắc trở, yêu nhưng vì một lý do nào đó mà không lấy được nhau… Hằng nam, cứ đến ngày 27/3 âm lịch, họ lại vượt núi, bang rừng về hò hẹn, gặp lại người yêu cũ, cùng nhau uống rượu và tâm sự, ôn lại chuyện tình xưa. Trong khuôn khổ Tuần Văn hóa, ban tổ chức sẽ phục dựng và mở phiên chợ “phong lưu” tại xã Sơn Vĩ, huyện Mèo Vạc vào sáng 16/5.

PV

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/5/2015:

Dùng kỹ thuật cấy hạt phóng xạ điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Bệnh viện Bạch Mai vừa công bố điều trị thành công cho hai người bệnh mắc ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) bằng phương pháp cấy hạt phóng xạ.

Cấy hạt phóng xạ là phương pháp đưa các hạt phóng xạ I-125 kích thước nhỏ 4,5×0,8 mm, phát tia gam-ma năng lượng thấp vào trong tổ chức khối u, có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư tại chỗ mà không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít tới mô lành chung quanh. Thay vì phải điều trị từ sáu đến tám tuần như các phương pháp khác, thì những người bệnh UTTTL chỉ cần điều trị một lần. Ðây là một kỹ thuật hiện đại trong điều trị ung thư, nhưng để triển khai được kỹ thuật phức tạp này, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa sâu như: ung bướu, y học hạt nhân, chẩn đoán hình ảnh, thận – tiết niệu, ngoại tiết niệu, gây mê hồi sức…

PV

Khởi động Chương trình đào tạo liên tục cho cán bộ y tế

Tại hội thảo Vai trò của Hội Y học trong đào tạo liên tục cho cán bộ y tế vừa diễn ra, Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam (THYH VN) GS, TSKH Phạm Mạnh Hùng cho biết: Ở Việt Nam, hiện có hơn 400 nghìn cán bộ y tế cần được đào tạo hằng năm, trong đó có khoảng 300 nghìn cán bộ làm việc trong lĩnh vực khám, chữa bệnh (KCB) tại các cơ sở y tế. Ðược sự hỗ trợ của Bộ Y tế, THYH VN khởi động Chương trình đào tạo liên tục cho cán bộ y tế giai đoạn 2015- 2020. Thông qua lực lượng đông đảo các GS, TS, các nhà khoa học của 47 Hội chuyên khoa và 55 Hội địa phương sẽ tổ chức các lớp đào tạo liên tục, nhằm cập nhật những kiến thức, kỹ thuật tiên tiến của thế giới trong tất cả các chuyên khoa y học, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng KCB tại các cơ sở y tế trong cả nước…

PV

Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trong hai ngày 15 và 16-5, tại thị trấn Khe Tre, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế phối hợp Ban Dân tộc tỉnh và huyện Nam Ðông tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên – Huế lần thứ 11 năm 2015.

Ðịnh kỳ hai năm tổ chức một lần, Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên-Huế năm nay quy tụ hơn 200 diễn viên quần chúng và gần 300 vận động viên là đồng bào các dân tộc Cơ Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy,… đến từ các huyện Nam Ðông, A Lưới, Phú Lộc, Phong Ðiền và thị xã Hương Trà tham gia với hơn 50 tiết mục văn nghệ quần chúng đặc sắc, thuộc các thể loại dân ca, dân nhạc, dân vũ; thi đấu các môn thể thao dân tộc, như bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co và các trò chơi dân gian…

PV

  • Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 19/5/2015:

Triển lãm tranh Việt Nam – Indonesia

Vào 18g hôm nay 19-5, triển lãm mỹ thuật Sài Gòn – Yogyakarta của 12 họa sĩ Việt Nam – Indonesia khai mạc tại Hội Mỹ thuật TP.HCM. 

Những họa sĩ tham gia gồm Mai Anh Dũng, Lương Lưu Biên, Nguyễn Ngọc Ðan, Lê Hào, Siu Quý, Alan Nguyễn (Việt Nam); Sulistyo Chung, Dadi Soesanto, Budi Ubrux, Emmy Go, Agus Suwage, Titarubi (Indonesia) đều chung thế hệ 7X, 8X. Họ cùng nhau phối hợp tổ chức triển lãm này xuất phát từ nhu cầu giao lưu, tương tác.

Trong khu vực Ðông Nam Á, Indonesia là quốc gia có thị trường mỹ thuật, hoạt động mỹ thuật đương đại… lâu đời, đa dạng, sôi động vào hàng bậc nhất.

Yogyakarta cũng là thành phố có đông đảo họa sĩ đương đại Indonesia được đào tạo, sáng tác với nhiều phong cách đa dạng khác nhau, tiêu biểu cho bộ mặt mỹ thuật Indonesia.

Họa sĩ Lương Lưu Biên cho hay: “Với triển lãm này, chúng tôi – những họa sĩ cùng thế hệ giữa Việt Nam và Indonesia – mong muốn trình bày với công chúng nhiều cách thức và quan niệm sáng tác phong phú, tương đối đầy đủ về sự tương đồng hay khác biệt giữa văn hóa và mỹ thuật của hai quốc gia”. (Q.THI)

Học làm phim miễn phí với Toto 2015

Lớp học Toto (Toto film making class) – lớp học làm phim miễn phí vào mùa hè dành cho các bạn nhỏ và các bạn trẻ – đã có mặt ở Việt Nam được bốn năm. 

Năm nay, trở lại với thông điệp Chinh phục ước mơ – trở thành nhà làm phim tương lai, Toto 2015 sẽ hướng dẫn các bạn học viên 15 – 18 tuổi thực hành tất cả kỹ thuật làm phim như: viết kịch bản, quay phim, diễn xuất, dựng phim, sản xuất phim, để rồi tự tay thực hiện dự án phim đầu tiên của mình với sự tham gia của các đạo diễn, diễn viên nổi tiếng cùng với sự đồng hành của những giảng viên như nhà sản xuất phim Vũ Quỳnh Hà; các đạo diễn Nguyễn Hữu Tuấn,Trần Dũng Thanh Huy, Nguyễn Trọng Khoa, Hoàng Trần Minh Đức…

Các bạn trẻ muốn tham gia Toto 2015 có thể xem trangwww.totofilmmakingclass.vn để biết thêm thông tin chi tiết.

Các phim làm được sau khóa học sẽ ra mắt khán giả ngày 20-6, sẽ có ba phim xuất sắc nhất được chọn để trao các giải thưởng với trị giá lần lượt là 10 triệu, 7 triệu và 5 triệu đồng.

Cát Khuê

Tháng Năm 15, 2015

Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

 PHẠM QUỲNH – NHÀ VĂN HỌC LÀM CHÍNH TRỊ

 Chi Điền Hoàng Duy Từ

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc bạn đọc còn nhớ nhà nghiên cứu Chi Điền Hoàng Duy Từ, tác giả bài Những ngày cuối cùng sống ở biệt thự Hoa Đường: Phạm Thượng Chi đã dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ đăng trên Blog PhamTon tuần thứ 5 tháng 8 năm 2009. Hôm nay, chúng tôi lại xin giới thiệu với các bạn một bài viết đặc sắc của ông nhan đề Phạm Quỳnh – Nhà văn học làm chính trị. Chúng tôi chỉ lược bỏ hai đoạn thấy không cần thiết.

*

*   *

Nhân đọc tập di cảo Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng thấy ở hai bài Văn học, chính trị; Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường có những ý kiến, cảm nghĩ đáng để cho ta suy tư về vấn đề Nhà văn học làm chính trị, một vấn đề đã làm cho nhiều nhà trí thức chân chính băn khoăn không ít.

Trong thập niên đầu thế kỷ (XX – PT chú), một nhân vật đã nổi bật trên diễn đàn báo chí cũng như trong lãnh vực văn học. Đó là học giả Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, sáng lập viên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Ngòi bút của ông đã gây một tiếng vang lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn và trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Lời hùng biện của ông gây ngạc nhiên ở kinh đô Paris, trên diễn đàn Hàn Lâm Viện nước Pháp. Những bài biên tập, khảo luận dịch thuật của ông mọi người đều biết. Văn học sử đã dành cho ông một cương vị rất quan trọng, nếu không nói là hàng đầu của thượng bán thế kỷ XX.

Những phê bình gia như Vũ Ngọc Phan (1942), Phạm Thế Ngũ (1965), Lê Văn Siêu (1974)… cũng như dư luận ở trong hay ngoài nước đều công nhận học giả Phạm Quỳnh là người công đầu và rất lớn trong việc xây dựng một nền văn học quốc gia tiến bộ trên căn bản tinh hoa của dân tộc.

Như mọi người đều biết Phạm Thượng Chi luôn luôn có một niềm tin sâu xa rằng “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần, và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị”.

Để đạt được cái mục đích ấy, để thâu hồi các quyền tự trị chính trị cần thiết cho sự xây dựng một nền văn hóa quốc gia, nghĩa là để cho chính quyền thuộc địa trở về chấp hành đứng đắn và thành thật Hiệp ước Bảo hộ 1884, Phạm Thượng Chi nghĩ rằng ông phải đi vào con đường chính trị.

Chính cái quyết định này đã đem đến cho nhà văn học họ Phạm nhiều suy tư, dằn vặt giữa hai tư cách “Nhà văn học” với “Chính trị gia”.

Để có thêm ý kiến vững chắc, Phạm tiên sinh đã nghiên cứu tư tưởng của một danh nhân thế giới trong thời cận đại. Đó là cố Tổng thống (1913-1920) Thomas Wilson (1856-1924) nước Mỹ. Tổng thống Thomas Wilson sáng lập viên Hộ Quốc Liên (ONU), đoạt giả Nobel về Hòa Bình, giáo sư Đại học về khoa học Chính trị, có một địa vị quan trọng hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918). Ông Wilson đã từng tán dương nhà chính trị kiêm văn học là một hạng người cao quí, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước.

Sau đây là nguyên văn của Phạm Thượng Chi đã viết trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng:


“Nhưng đại khái ông Wilson cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn Tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm ngay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…”

Trích đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ cái suy tư cảm nghĩ của Phạm Thượng Chi và đã xác định lập trường: “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”.

*

*    *

Một vấn đề thứ hai cũng làm cho nhà học giả tài hoa và uyên bác họ Phạm suy tư và băn khoăn không kém.

Đó là vấn đề “Xuất thế” hay là “Nhập thế”. Nói một cách rõ ràng và cụ thể hơn là “chỉ làm chính trị bằng ngòi bút” hay là “thật sự tham chính”.

Chúng ta thử nghiên cứu bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng trong tập di cảo Hoa Đường tùy bút, Kiến văn, Cảm tưởng nói trên.

Lão Hoa Đường là bút hiệu của Cụ Lập Trai Phạm Quí Thích (1760-1825) và Thiếu Hoa Đường là một trong những bút hiệu của ông Phạm Quỳnh (1892-1945).

Hai người ở cùng làng Lương Ngọc, nhưng dưới triều Lê tên làng là Hoa Đường.

Do đó hai nhà văn nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 đều lấy tên làng làm bút hiệu.

Ông Phạm Quí Thích đõ tiến sĩ năm 1779, làm quan lớn dưới triều Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn. Năm đầu đời Gia Long bị gọi ra làm quan, giữ chức Thị Trung Học sĩ, tước Thích An Hầu, ông từ chối mà không được. Năm 1811 làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Sau ông cáo bệnh xin về, Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) lại có chỉ triệu ra làm việc. Lần này ông đang có bệnh, viện cớ ấy từ chối. Chủ yếu cuộc đời ông không phải là làm quan mà dạy học. Ông là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò. Ông đã làm bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều đặt lên đầu đề truyện Kiều và cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du.

Văn nghiệp của ông gồm nhiều tác phẩm, chủ yếu có Thảo Đường- Thi nguyên tập, Lập Trai văn tập, Thiên Nam long thủ liệt truyện, Chu Dịch vấn đáp toát yếu, Phó Kinh Bắc…


Viết về Phạm Quí Thích, ông Phạm Quỳnh có những dòng sau đây:

“Tôi mộ cái tài hoa danh tiết một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân Nho ôn hòa thuần túy, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu, tôn cụ là “Lão Hoa Đường” mà cho mình là “Thiếu Hoa Đường” vậy.

Cụ không hề làm thơ Nôm, nhưng chắc cụ có quen biết cụ Tiên Điền Nguyễn Du, và theo phép lịch sự của các danh sĩ đời xưa, Cụ Tiên Điền chắc có đưa cụ xem tập “Đoạn Trường Tân Thanh”, để xin đề vịnh, nhân đó mới có bài tổng vịnh trên kia, và biết đâu? có lẽ cụ có điểm duyệt và nhuận sắc (Sửa chữa, trau chuốt cho (một tác phẩm) thêm hay – PT chú) ít nhiều. Vì các tác giả đời trước không có cái lòng tự ái nhà nghề như tác giả bây giờ, và bao giờ cũng nhún nhường khiêm tốn, sẵn lòng phục thiện các bạn làng văn có tài hay các bậc tiền bối đức vọng (Đức cao vì danh vọng cao – PT chú).

Nhưng cụ không làm thơ nôm, mà thơ chữ của cụ thì hay tuyệt, Thảo Đường thi tập của cụ còn lại đến hơn ngàn bài, đều một giọng trầm hồn cao nhã, đầy một lòng ưu ái chứa chan, rõ ra nhân cách một bậc cao sĩ (Kẻ học giả thanh cao – PT chú), đạo cốt tiên phong (Như tiên phong đạo cốt, phẩm cách cao thượng – PT chú) mà vẫn hằng để chí đến việc đời.

Còn nhớ một bài “Thư hoài”, đã từng biên ra để treo trước án sách, vì đọc đi đọc lại, thấy thích hợp với tâm trí mình quá.”

THƯ HOÀI

Cố quốc sơn hà dĩ đại thù

Cố viên tùng cúc bán hoang vu

Mang mang thiên địa hoàn bô khách

Nhiễu nhiễu phong trần tụ hủ nho

Bệnh cốt bình phân thu lãnh sấu

Thần tâm nhưng bạn nguyệt luân cô

Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú

Vị vấn Tam Lư khẳng túy phần

Chi Điền tạm dịch:

Sông núi nước xưa đà khác hẳn

Cúc tùng vườn cũ nửa hoang tàn

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho

Cốt bệnh ví cùng thu núi lạnh

Lòng ta chỉ bạn mảnh trăng suông

Có người khuyên tớ vui chung rượu

Thử hỏi Tam Lư có chịu chăng?

Mênh mông trời đất thân bô khách

Nhiễu nhương phong trần phận hủ nho.

”Lão Hoa Đường” sinh vào thời Lê mạt Nguyễn sơ là đời loạn, tự biết ”phận nho quèn” không sao đương được thời cục rối ren, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết tháo thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu ”Thiếu Hoa Đường” này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân ”Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời (tùy thời, thấy mạnh thì theo để có lợi – PT chú) mị chúng (như mị dân – PT chú) này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp (Lộn xộn, tạp nhạp – PT chú) hỗn hào!…

Đọc thơ cụ Lập Trai mà thẹn không biết lập chí bằng cụ, đường xuất xử ((Kẻ sĩ) ra làm quan hoặc lui về ở ẩn – PT chú) vụng về, thật kém các cụ xa.

Nhưng cụ là cố thần nhà Lê, bị đức Cao Hoàng triệu ra làm quan, còn lấy cớ đa bệnh mà từ chối được. Đến như cụ Tiên Điền cũng đồng thời ấy, không có cớ gì thoái thác, phải miễn cưỡng mà theo thời, rồi bất đắc chí mà chết, cuộc đời có phong ba hơn, mà kết quả thành một áng văn chương tuyệt tác để làm quà cho hậu thế, há chẳng phải vì ”đã đau đớn lòng” vì ”những điều trông thấy” mới làm nên sự nghiệp đó dư? Như thế thì xuất xử cũng có năm bảy đường, và có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ “tài” vậy.

Song chữ “tài” vẫn hay liền với chữ tai một phần, chính cụ Tiên Điền đã dạy thế.”

Mấy đoạn văn trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy các vấn đề “Xuất thế”, “Nhập thế”, “Xuất sử” không phải là đơn giản.

Xuất thế, tự đặt mình ra ngoài thế cuộc, đi tu, ẩn dật, hay sống bên lề xã hội, tuyệt đối không tham dự việc đời.

Nhập thế, trái lại, hăng say xông pha gánh vác việc đời.

Xuất sử: Ra làm quan hay là ở nhà.

Ba vấn đề tối quan trọng đối với lớp sĩ phu ngày trước.

Xã hội ta hay Trung Hoa ngày trước chỉ có hai giới chính yếu là giới làm quan và giới ở nhà, nói cách khác, giới ở trong chính quyền và giới ở ngoài dân gian. Vì thế mà sự quyết định chọn một con dường đi cho đời mình: xuất thế hay nhập thế đã làm cho giới sĩ phu băn khoăn, suy nghĩ trọn đời. Lắm lúc dấn thân rồi mà còn vẫn băn khoăn. Mấy đoạn văn trên đây của Phạm Thượng Chi rất tiêu biểu cho tâm lý chung của giới sĩ phu sinh trong thời loạn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp đặc biệt như ông Nguyễn Công Trứ.

Uy Viễn Tướng Công thì lập trường rất dứt khoát. Không chút do dự, ông nói rõ ràng trong bài “Chí Nam Nhi”:

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh mà đối với núi sông

……………..

Trót sinh ra thì phải có cái chi chi

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu

Hoặc như:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vinh)

Công danh, dưới mắt Nguyễn Công Trứ, là đường đưa tới sự nghiệp, và sự nghiệp là những tinh hoa tô điểm cho trời đất, đồng thời cũng là những món quà tặng lại cho tương lai. Vì thế tiên sinh viết:

Làm sao cho bách thế lưu phương.

Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Kẻ sĩ)

Đối với dân nước, kẻ sĩ có trách nhiệm “Thượng vi đức, hạ vi dân, sắp hai chữ quân thân mà gánh vác, Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự, xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân than”.

Đến như Đệ nhất thi hào Lý Bạch, thiên hạ cho là trích tiên, là xuất thế, mà lắm lúc vẫn thổ lộ những tư tưởng nhập thế:

Trường phong phá lãng hội hữu thi

Trực quài vân phàm tế thương hải

(Đạp sóng cưỡi mây rồi có lúc

Buồm giăng gió lớn vút trùng dương)  (Hành lộ Nam)

………………………….

Như phùng Vị xuyên hiệp

Do khả đế Vương sư

(Duyên may gặp khách sang sông Vị

Vương đế mưu thần có kém ai!

(Tặng Tiền Trung Quân Thiếu Dương)

…..

Rõ ràng hơn nữa, khi An Lộc Sơn khởi loạn, Lý Bạch đã 55 tuổi, theo Vĩnh Vương Lân (con Đường Minh Hoàng) dẹp giặc An Lộc Sơn. Cái chí lớn trị loạn an dân đã thúc đẩy ông có hành động ái quốc mạnh mẽ. Cho đến khi tạ thế, loạn An Lộc Sơn chưa dẹp, Lý Bạch thường nghĩ đến quốc sự và nói:

Trung dạ tứ ngũ than

Thường vị đại quốc ưu

(Nửa đêm than thở bốn năm lần

Thường lo về việc nước)

Xem thế, tự cổ chí kim kẻ sĩ khó có thể sống ở ngoài lề xã hội. Hơn thế nữa, châm ngôn có câu: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”.

Thất phu còn có trách nhiệm thay, huống chi là sĩ phu! Cái lý tưởng sống nhàn nhã, tìm thú thanh tuyền, lánh xa trần thế, để giữ lấy cái tiết tháo thanh cao lỗi thời lắm rồi.

Trong thời cận đại này, người ta phải hăng say tích cực, phải làm mãi cho đến ngày kiệt sức.

Nhà thơ danh tiếng Robert Frost (1874-1963) giáo sư Harvard có hai câu thơ được truyền tụng như châm ngôn:

And miles to go before I sleep

And miles to go before I sleep

………………………

“Còn nhiều hải lý đường trần,

Phải đi đi nưa!, Chưa cần nghỉ ngơi”….

(Tô Giang Tử dịch)

Robert Frost muốn nói: Không bao giờ được coi là làm đầy đủ bổn phận dầu trên đường trần có khi đã đến mức cao nhất, ta vẫn phải tiến thêm nữa mới xứng đáng với thiên phú mà Ơn Trên đã ban cho.

Phạm Thượng chi ngày mới tròn 25 tuổi bước vào đời đã sáng lập một cơ quan ngôn luận lớn kiêm nhiệm luôn hai trọng trách chính yếu là chủ nhiệm và chủ bút. Như vậy, chí “nhập thế” quả là lớn lao và quyết liệt. Cái chí ấy đã đưa đến thành công. Mấy ngàn trang sách rất giá trị rải rác trên hai trăm số tạp chí Nam Phong ấn hành liên tục trên 17 năm từ 1917 đến 1934, tuyển chọn in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và 5 quyển Thượng Chi Văn tập (1943, tái bản 1962) đã là một sự nghiệp văn học khá vĩ đại. Xét cho kỹ thì phần rất lớn của khối văn nghiệp này là một khối văn học chính trị nhằm mục đích kiến tạo một nền văn học quốc gia và một nền văn chương quốc ngữ (Việt Văn) cho tổ quốc đang vươn mình lột xác chứ không phải là một văn nghiệp thuần túy văn học hay văn chương.

Hơn nữa, dư luận đều biết Phạm Thượng Chi có một niềm tin sâu xa rằng: “Nếu không có một nền văn hóa quốc gia thì không thể nào có được một sự độc lập về tư duy và tinh thần. Và do đó không thể nào có được một nền độc lập chính trị” như đã nói ở đoạn đầu.

Rồi, từ một nhà đại ngôn luận với lập trường nói trên trở thành một chính trị gia, rồi tham chính là con đường tất yếu. Ý chí đã lập thì con đường tất yếu nhất định phải đi. Thành công hay không là một vấn đề khác.

Tôi thiển nghĩ sau ngày đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945, trong những ngày hưu hạ Phạm Thượng Chi viết tùy bút Văn học, Chính trị có thể là để giải tỏa nỗi lòng. Viết ra cho vơi bớt băn khoăn, dằn vặt, những ưu tư của lòng mình, đồng thời cũng muốn cho dư luận hiểu được phần nào cái thiện chí, cái hoài bão của mình: Đem tài năng thiên phú về văn chương phụng sự quốc gia dân tộc, dùng văn học làm phương tiện tranh đấu ôn hòa trên bình diện chính trị.

Do đó, Phạm tiên sinh đã mượn chủ trương, lập luận của Tổng thống Mỹ Thomas W.Wilson để bàn về nhà văn học làm chính trị, với chủ trương là nhà chính trị mà có văn học là có tư cách hoàn toàn. Tuy nhiên, liền ngay đó, trong đoạn phản thuyết bằng một khác biệt tinh vi là “Nhà văn học thuần túy không nên làm chính trị”. Với hai chữ “thuần túy”, Thượng Chi muốn nói “Nhà văn học mà bản sắc văn học rồi ngẫu nhiên làm chính trị thì không nên.”

Phạm Thượng Chi có ở trong trường hợp “ngẫu nhiên” làm chính trị không? Tôi thiển nghĩ là không. Đúng vậy, Ông đã làm chính trị từ ngày sáng lập Nam Phong tạp chí 1917 như trên đã nói.

Đọc tiểu sử và văn thơ của ông Tiến sĩ đồng hương Phạm Quí Thích (1760-1825) “Thiếu Hoa Đường “cảm phục” Lão Hoa Đường” về văn tài cũng như về khí tiết. Khen tiền bối đã xuất sử khôn ngoan, quyết chí từ quan về ẩn dật giữ lấy tiết tháo cao thanh.

Nhưng cũng vẫn nhận thấy sự nhập thế của Cụ Tiên Điền Nguyễn Du không phải là vô ích. Mặc dầu cuộc đời có phong ba hơn nhưng những năm lăn lóc trong hoạn trường há chẳng phải vì “đã đau đớn lòng” vì “những điều trông thấy” mới cấu tạo và sáng tác được một áng văn chương tuyệt diệu: Truyện Kiều để lưu truyền hậu thế.

Thượng Chi còn tiếp: “Như thế thì xuất sử cũng năm bẩy đường, vì có lẽ chỉ khác nhau ở một chữ Tài vậy. Trong phút ấy, có lẽ Thượng Chi đã càm được đại nạn sẽ đến với mình, nên đã viết thêm một câu rất húy kỵ! “Song chữ Tài vẫn hay liền với chữ Tai một vần, chính Tiên Điền đã dậy thế!”.

Đáng tiêc thay! Và thật đáng thương thay!

(…) Giá không có cái tai nạn thảm khốc đó thì những kiến văn cảm nghĩ đã tích trữ trong 13 năm sẽ được khối óc thông minh kia sáng tạo biết bao nhiêu kiệt tác. Cố nhiên không phải là một đoạn trường tân thanh tuyệt diệu như Nguyễn Du mà là một pho sách văn học, chính trị, kinh tế, xã hội… rất quí giá cho nền văn học nước nhà trong thời kỳ canh tân kiến thiết…

C.Đ.H.D.T

Tình bạn Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

TÌNH BẠN PHẠM QUỲNH – NGUYỄN VĂN VĨNH

 Dã Thảo

Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quê quán làng Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Bố mẹ nghèo, phải bỏ làng ra Hà Nội kiếm sống và sinh ông ở 46 phố Hàng Giấy, ngày 15/6/1882. Nguyễn Văn Vĩnh hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi.

Lên tám, phải đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở Trường Thông ngôn của Pháp vừa mở ở đình Yên Phụ. Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông vẫn chăm chú nghe giảng, do đó nói và viết được tiếng Pháp. Hiệu trưởng Đác-giăng-xơ (D’Argence) chú ý và sau ba năm học, cho phép cùng thi tốt nghiệp. Ông đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi, nên được đặc cách nhận vào làm học sinh chính thức, được học bổng để theo học khóa tiếp theo (1893-1895) và đã đỗ thủ khoa khóa học này. 14 tuổi, làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai, rồi chuyển về tòa sứ Hải Phòng, Bắc Giang, ông bắt đầu cộng tác với các báo tiếng Pháp. Công sứ Bắc Giang đánh giá tài mẫn tiệp và nói tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã đặc cách bổ nhiệm làm chánh văn phòng. Khi được cử làm Đốc lý  Hà Nội cũng đưa ông về theo.

Ông giúp vận động người Việt làm đơn xin mở trường và các hội nên đã trở thành người sáng lập Hội Trí Tri, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt du học Pháp. Năm 1906 được sang Pháp giúp tổ chức và quản lý gian hàng Bắc Kỳ tại Hội chợ Thuộc địa mở ở Marseille. Học hỏi được nhiều về nghề báo và nghề in, nên khi về nước, ông từ chức ở phủ thống sứ và đứng ra làm báo và nghề in… Năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh từ Sài Gòn trở về Hà Nội làm chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, sang năm sau, kiêm cả tờ Trung Bắc tân văn, hai tờ này đều của Snây-đe (Schneider) người Pháp.

Sau Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa Trường Thông ngôn năm 1895, Phạm Quỳnh cũng học tại trường này và cũng đỗ thủ khoa năm 1908, khi trường Thông ngôn kết hợp trường Thành chung Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi). Nguyễn Văn Vĩnh đi làm công chức khi 14 tuổi, thì Phạm Quỳnh đi làm công chức năm 15 tuổi ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Chính trong thời gian làm việc tại đây, được học tập nghiên cứu nhiều, Phạm Quỳnh đã viết bài cho Đông Dương tạp chí và dần dà trở thành cây bút được bạn đọc tin cậy và cũng là cộng tác viên thường xuyên của báo.

Họ thân nhau từ đấy.

Lý do sâu xa hơn của tình thân ấy chính là cả hai đều học chữ Pháp, làm việc dưới quyền người Pháp, nhưng đều yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ và cố dốc hết tâm sức để vun trồng chăm sóc cho quốc ngữ ngày một lớn mạnh, phong phú, đủ để giữ được hồn nước. Ngay từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở như chữ quốc ngữ” (Lời tựa bản dịch Tam Quốc Chí của Phan Kế Bính), cũng tha thiết tin tưởng như sau này Phạm Quỳnh nói “Tiếng ta còn, nước ta còn” trong lễ Kỷ niệm Nguyễn Du đầu tiên ở nước ta năm 1924.

Năm 1922, hai ông cùng đi dự Đấu xảo Thuộc địa Marseille và tranh thủ đi Paris. Nguyễn Văn Vĩnh đã đi Pháp năm 1906, có kinh nghiệm hơn, lại tháo vát, có khiếu về kinh doanh, đã mua xe hơi, đưa Phạm Quỳnh đi tất cả những nơi mà Phạm Quỳnh muốn đến “xem tận mắt, nghe tận tai”. Trong Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ngày 23/7/1922, Phạm Quỳnh viết: “Sẵn có ô tô của ông V., hai anh em định suốt tuần lễ này đi xem cho thật nhiều không những trong châu thành Paris, mà đi cả các nơi phụ cận ở ngoài nữa”. Chính nhờ có ông V. tự lái xe của mình cho Phạm Quỳnh đi cùng mà hậu thế chúng ta được biết thêm bao nhiêu cảnh và người nước Pháp hồi ấy, chứ Phạm Quỳnh thì chỉ có đi bộ và đi các phương tiện giao thông công cộng, làm sao mà tung hoành theo ý mình được.

Chính vì tình bạn vong niên đó mà năm 1926 khi Thống sứ Bắc Kỳ Rơ-nê Rô-banh (René Robin) có “nhã ý” trợ cấp cho Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong thì ông đã nhân cơ hội này xin trợ cấp cho Nguyễn Văn Vĩnh mà trong thư gửi cho Robin ông trình bày là Nguyễn Văn Vĩnh đã làm rất nhiều việc cho xã hội và còn gặp khó khăn lớn hơn ông.

Cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta, mục đích chỉ là nhằm giữ hồn nước, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi trong nhân dân ta. Nhưng khi gặp được cơ hội trực tiếp đấu tranh chính trị để đem lại lợi ích cho nhân dân, nâng cao vị thế của người dân thì hai ông cũng không bỏ qua, mà luôn luôn tận dụng.

Năm 1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, Nguyễn Văn Vĩnh cùng bốn người Pháp ký tên yêu cầu chính quyền Đông Dương thả Phan Châu Trinh đang có mặt ở đấy. Vì việc này, ông đã bị Toàn quyền Pháp gọi lên đe dọa. Sau, nhờ có sự can thiệp của Hội Nhân quyền, Phan Châu Trinh được trả tự do trước hạn và đưa về quản thúc ở Mỹ Tho (1911).

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử tại Tòa Đề hình Hà Nội, bị kết sáu án chung thân và hai án tử hình. Nhà báo Phạm Quỳnh đã viết bằng tiếng Pháp trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương cộng hòa) có thế lực cả ở Đông Dương lẫn chính quốc, lên tiếng bênh vực Phan Bội Châu là “người chỉ có một tội là tội yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm” và yêu cầu khoan hồng. Kết quả là, cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân sôi nổi cả nước, Phạm Quỳnh đã góp phần giảm án cho Phan Bội Châu từ tử hình xuống chỉ còn quản thúc ở Huế, để Phan Bội Châu thành “ông Già Bến Ngự” nổi tiếng cả nước.

Năm 1930, trên diễn đàn của Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương, nhà báo Phạm Quỳnh đã lớn tiếng bênh vực công nghiệp còn non trẻ, yếu ớt của nước nhà, chống lại và làm thất bại chính sách độc quyền kinh doanh của thực dân Pháp, điển hình là đã làm phá sản chính sách độc uyền về sản xuất và bán rượu gạo ở Việt Nam của công ty Fontaine. Cũng trên diễn đàn ấy, năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị vì có lợi cho ngân hàng Pháp và có hại cho Đông Dương.

Tuy cùng một mục đích nhưng không phải khi nào hai ông cũng nhất trí với nhau về con đường và cách thức đi tới mục đích đó. Cho nên mới có cuộc tranh luận trực trị hay lập hiến sôi nổi một thời mà hai ông đứng ở hai phía đối lập . Tuy thế cả hai đều hòa nhã, chừng mực, lấy việc tìm ra con đường tốt nhất cho dân cho nước làm trọng, bình tĩnh thảo luận tìm ra chân lý. Hai ông bao giờ cũng “hòa nhi bất đồng” (tức: hòa với mọi người, nhưng không về hùa với ai) theo đúng kiểu người quân tử. Đó là một cuộc tranh luận có văn hóa.

Nhưng, rốt cuộc, tất cả những việc các ông tham gia hoạt động chính trị chỉ càng chứng tỏ là cả hai ông chỉ là những nhà văn hóa, nhà văn hóa lớn như nhà văn Nguyên Ngọc có lần gọi là “những người khổng lồ”, nhưng không thể là những nhà chính trị. Sự nghiệp các ông để lại vẫn chỉ là về văn hóa, văn học mà thôi.

Năm 1932 khi Nguyễn Văn Vĩnh đang họp Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương ở Sài Gòn thì có trát tòa án đòi tịch biên gia sản vì ông thiếu nợ do vay tiền dựng tòa soạn báo An Nam Nouveau (Nước An Nam mới). Vỡ nợ, ông phải đi sang Lào đào vàng và chết trong một cơn sốt rét ác tính, trên con thuyền độc mộc ở sông Sêbăngghi, gia sản chỉ còn hai bàn tay trắng (ngày 1/5/1936).

Lễ tang ông được tổ chức ở Hà Nội với đông đảo giới báo chí ba kỳ dưới dòng chữ kính viếng “ông tổ của nghề báo”.

Bấy giờ, Phạm Quỳnh đang ở Huế, là Tổng lý Đại thần Ngự tiền Văn phòng và Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục. Vậy mà ông lại làm một bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh, sau này có người tìm thấy khi được giao nhiệm vụ tịch thu gia sản Phạm Quỳnh khi ông bị bắt tháng 8/1945. Bài thơ có bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác, chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Người đương thời cũng thường gắn tên hai ông với nhau như trong việc kể tên bốn tác giả kiệt xuất thời đầu thế kỷ XX là “Quỳnh (Phạm Quỳnh), Vĩnh (Nguyễn Văn Vĩnh), Tố (Nguyễn Văn Tố), Tốn (Phạm Duy Tốn.

Hai ông đều là “nhưng người dân thuộc địa, qua ứng xử với nền văn hóa đô hộ, đã tiếp biến văn hóa phương Tây để tạo ra những giá trị mới (lắm khi chống lạinằm ngoài toan tính của kẻ xâm lược)” (trích bài của Hữu Ngọc, Việt Nam và “sốc văn hóa”, báo Nhân dân cuối tuần, 27/6/1999 trang 5.)

Thành ra cảm thấy … hụt hẫng khi đọc bài Nhớ “người Nam mới” đầu tiên của Thu Hà đăng trên Tuổi Trẻ chủ nhật 12/9/2010 đoạn văn sau:

“Có quá nhiều điều chúng ta hôm nay chưa biết về Nguyễn Văn Vĩnh và những người ông chịu ảnh hưởng hay chia sẻ tâm huyết (Chúng tôi nhấn mạnh-D.T.) như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Tố, các đồng chí trong Đông Kinh Nghĩa Thục…”

Hụt hẫng vì không thấy nhắc đến tên người bạn thân thiết nhất, người đồng chí đồng tâm nhất với Nguyễn Văn Vĩnh là Phạm Quỳnh.

Vì sao đến cuối năm 2010 rồi mà vẫn cứ phải né tránh một tên tuổi cả nước đã biết từ gần 100 năm nay

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/11/2010.

D.T.

Trong bài sử dụng chủ yếu tư liệu trong Từ điển văn học-bộ mới (NXB Thế Giới, 2004) và Blog PhamTon.

Phạm Quỳnh xác nhận nhà văn Bửu Đình được ân xá

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 5 năm 2015.

PHẠM QUỲNH XÁC NHẬN NHÀ VĂN BỬU ĐÌNH ĐƯỢC ÂN XÁ

 Phụ Nữ Tân Văn

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới đây, chúng tôi trích đăng tư liệu về việc nhà văn Bửu Đình, cây bút xuất sắc của Phụ Nữ Tân Văn được ân xá năm 1933, từ các trang 244 đến 247 của sách Phụ Nữ Tân Văn, phấn son tô điểm sơn hà của Thiện Mộc Lan do Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn và Công ty sách Thời Đại xuất bản tháng 1 năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

—o0o—

Ông tên thật là Nguyễn Phước Bửu Đình, sanh năm 1898 tại làng Kim Long, ngoại ô thành phố Huế. Ông là chắt trai của hoàng tử Tỉnh Gia, con trai vua Minh Mạng.

(…)

“…Chủ bút tờ Tân Thế Kỷ là ông Bửu Đình, một người trong hoàng tộc đã viết loạt bài công kích thái độ khiếp nhược của bọn quan lại trong triều đình Huế. Hơn nữa, chính ông Bửu Đình đã tổ chức nhiều cuộc nói chuyện chánh trị tại tư thất chí sĩ Phan Bội Châu ở Huế (ngày 20/3/1927) trước số cử tọa đông cỡ 500 thanh niên để công kích chế độ phong kiến mục nát của triều đình. Vì lý do ấy, ông bị triều đình bắt (Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí Việt Nam, Trí Đăng xuất bản 1973, trang 148).

Viết về Bửu Đình trong mục Nhân vật, báo Phụ Nữ Tân Văn số 218 ngày 28/9/1933 ghi:

“Đọc giả của báo này chắc còn nhớ ông Bửu Đình, chánh trị phạm, đã vượt ngục cách nay gần một năm. Ông đã thoát thân ra khỏi đảo Côn Nôn.

(…)

“Ông Bửu Đình là ai?

“Một nhà làm báo, một nhà tiểu thuyết, một nhà thi sĩ, một nhà “cách mạng”, một nhà diễn giả”.

(…)

“Bị bắt ở Huế sau cuộc diễn thuyết tại nhà cụ Phan Bội Châu, Bửu Đình tỏ ra một thái độ cao quí”

Bửu Đình là người trong hoàng tộc mà dám chống lại triều đình nên ông bị xóa tên trong hoàng phái và từ tên tộc Bửu Đình bị đổi thành Tạ Đình. Họ Tạ là họ của thân mẫu ông.

Ông bị đày đi Lao Bảo (Quảng Trị) với bản án 9 năm tù. Vào tù, Bửu Đình vẫn tiếp tục chống đối nên thực dân lưu đày ông ra Côn Đảo vô thời hạn.

Hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ đã qua, có nhiều chứng cứ cho thấy Bửu Đình đã 2 lần vượt ngục Côn Nôn. Lần thứ nhất, ông cùng ba chánh trị phạm thả bè vượt biển, phải trôi nổi đói khát trọn 27 ngày trên mặt biển mới tấp được vào vịnh Thái Lan.

Tại Thái Lan, nhóm tù của Bửu Đình sống hơn 9 tháng tại nhà lao Xiêm quốc. Tại đây nhóm tù được đối xử “dễ chịu” hơn những ngày dài tại Côn Đảo. Cuối cùng, nhà chức trách Thái Lan làm thủ tục…trả Bửu Đình và nhóm của ông về Sài Gòn rồi kế đó họ lại bị đày trở lại Côn Đảo.

Trong thời gian ấy, tại Sài Gòn một số báo Tây và báo Việt có những tin “đồn huyễn” rằng hiện nay Bửu Đình đang tu trong một ngôi chùa ở Petcha-Boury, một tỉnh nhỏ tại Thái Lan. Ông cạo đầu và mặc áo giống hệt thầy sãi Xiêm…

Đó là thời điểm gần cuối năm 1932. Sau đó, ông vượt ngục lần nữa và mất tích giữa bể khơi.

(…)

Báo Phụ Nữ Tân Văn đăng tin như sau:

ÔNG BỬU ĐÌNH ĐƯỢC ÂN XÁ

Nhơn dịp vua Bảo Đại về nước, bà Nguyễn Thị Hiếu tức là bà Bửu Đình ở Gò Công có xin ân xá cho ông Bửu Đình.

Bà Bửu Đình có cho Bổn báo hay là đã được chỉ dụ ân xá; song Bổn báo chưa có bằng cớ gì quả quyết, nên có viết thơ hỏi ông Thượng Phạm Quỳnh. Ngày nay Bổn báo đã được trả lời, xin đăng nguyên văn để làm bằng cớ chắc chắn và cảm ơn quan Thượng Phạm có lòng tốt cùng Bổn báo.

Huế, le 4 Novembre (ngày 4 tháng 11) – 1933

Palais Impérial (Hoàng Cung)

Cabinet Civil de Sa Majesté (Ngự tiền văn phòng)

A Monsieur (Gởi ông) Ng-Đức-Nhuận,

Directeur du (Giám đốc báo) Phụ Nữ Tân Văn

48, Rue (phố) Vannier – SAIGON

Quí ông Nguyễn Đức Nhuận,

Tôi có tiếp được thư của quí ông đề ngày 21 Octobre (tháng 10) 1933, hỏi thăm việc Tạ Đình (tức Bửu Đình) được Hoàng Thượng ân xá và có đính theo bản sao lục Chỉ Chuẩn về việc ấy.

Tôi sức cứu bản sao lục ấy quả y như nguyên bản và Tạ Đình đã được Hoàng Thượng Gia ân cho huyền án tha về giao cho phủ Tôn Nhơn kiểm cố, đợi ngày sau xét ra thiệt có lòng hối quá, thời phủ Tôn Nhơn sẽ tâu xin cho phục hồi Tôn tịch.

Vậy xin phúc lại để quí ông biết.

Nay kính phúc

PHẠM QUỲNH

(Phụ Nữ Tân Văn, số 225 ngày 23/11/1933)

 

Trang sau »

The Rubric Theme. Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 29 other followers