Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 17, 2015

Phạm Quỳnh vẫn được bạn đọc báo Phụ Nữ Tân Văn bầu là một trong mười đại biểu nhân dân Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 4 năm 2015.

PHẠM QUỲNH VẪN ĐƯỢC BẠN ĐỌC BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN

BẦU LÀ MỘT TRONG MƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VIỆT NAM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bản tin đăng trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) số 50 ngày 1/5/1930 và số 64 ra ngày 7/8/1930. Đầu đề là của chúng tôi.

Như vậy là sau lễ Kỷ niệm Cụ Nguyễn Du năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã bị búa rìu dư luận nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo. Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông, không để tình cảm yêu ghét nhất thời làm lầm lẫn.

Chúng tôi xin mời các bạn đọc tư liệu đáng chú ý này của một tờ báo có ảnh hưởng lớn đương thời, đáng mặt đối thủ của Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

“Phụ nữ tân văn ra đời ngày 2 Mai (tức tháng 5 – PT chú) năm 1929 đến hôm nay, 1er Mai (1 tháng 5 –PT chú) 1930 là đúng một năm. Vậy ngày hôm nay, ra số báo nầy chính là ngày kỷ niệm đệ nhất châu niên của bổn báo vậy”. (P.N.T.V. số 50 ngày 1/5/1930).

Chào mừng một năm góp mặt với văn đàn, P.N.T.V. tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả.

Đề thi đăng báo gồm có 3 phần:

  1. Một câu thai
  2. Một bài toán đố
  3. Một câu hỏi mang màu sách chánh trị, được xem như “trưng cầu ý kiến” độc giả P.N.T.V.

Câu hỏi ấy như sau:

  • Cuộc tuyển cử

Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhơn dân Đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.

NGUYỄN HỮU BÀI, Thủ tướng Nam triều

BẠCH THÁI BƯỞI, Chủ hãng tàu và mỏ than.

BÙI QUANG CHIÊU, Lãnh tụ đảng Lập hiến

VƯƠNG TỨ ĐẠI, Thượng thơ Lễ bộ

DƯƠNG VĂN GIÁO, Trạng sư

HUỲNH THÚC KHÁNG, Chủ báo Tiếng Dân

TRẦN TRỌNG KIM, Thanh tra sơ học

DIỆP VĂN KỲ, Nhà làm báo

LƯU VĂN LANG, Kỹ sư sở Tạo tác

NGUYỄN PHAN LONG, Chủ báo Đuốc Nhà Nam

LÊ QUANG LIÊM, Hội đồng Quản hạt

HOÀNG TRỌNG PHU, Tổng đốc Hà Đông

PHẠM QUỲNH, Chủ báo Nam Phong

NGUYỄN HỮU THU, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị

NGUYỄN TRÁC, Nghị trưởng Nhơn dân đại biểu viện Trung Kỳ

NGUYỄN BÁ TRÁC, Bố chánh tỉnh Bình Định

TRẦN TRINH TRẠCH, Điền chủ ở Bạc Liêu

LÊ QUANG TRINH, Y khoa Tấn sĩ

PHAN VĂN TRƯỜNG, Luật khoa Tấn sĩ

NGUYỄN VĂN VĨNH, Chủ báo Trung Bắc Tân Văn

Trong ba đầu bài thi, hai đầu bài trên thì khỏi giải nghĩa rồi, còn đầu bài thứ ba, tưởng nên bày tỏ ý kiến bổn báo vì sao mà có cuộc tuyển cử đó.

Các vị mà bổn báo liệt phương danh trên đây đèu là những vị đã từng có làm việc xã hội, bổn báo theo vần a,b,c, trong tên mà sắp thứ tự vào đây, và ví dụ nếu như có cuộc tuyển cử Việt Nam Nhơn dân Đại biểu mà các vị ấy ra ứng cử, quý độc giả có quyền bỏ thăm, thì bỏ thăm cho những vị nào.

Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bổn báo có ý tôn mà đem ra, chớ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bổn báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bổn báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.

Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:

Phải sấp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sấp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị.

Về cuộc tuyển cử này, bổn báo có đặt riêng một ban ủy viên để xét thăm.

Đến ngày khóa sổ thì ban ủy viên sẽ soạn thăm và cộng coi cho biết 10 vị nào trúng tuyển.

Vị nào nhiều thăm hơn hết thì sắp số 1, rồi tuần tự, do theo số thăm mà sấp xuống số 2, số 3 kỳ cho tới đủ số 10 vị.

Khi sấp xong sẽ soạn lại những bài đáp, coi vị nào đáp trúng theo bản kết quả đó.

Hễ bài nào được trúng y theo bảng kết quả thì trúng phần thưởng nhất, người kế đó thì lãnh phần thưởng nhì.v.v…

Nếu không có bài đáp nào trúng y theo bản kết quả thì sẽ chấm bài nào đáp trúng gần hơn hết mà phát thưởng.

  • Kết quả “Trưng cầu ý kiến”

Ban ủy viên trước hết lo chấm cuộc tuyển cử mấy ngày ròng rã soạn lựa các số thăm, lại còn phải dò đi xét lại rất cẩn thận. Chúng tôi xin lấy danh dự của cả tòa báo và các đồng nhơn trong tòa soạn mà nói quyết rằng: cuộc soạn thăm này làm rất là quang minh chánh đại, không để cho có một mẩy nào sai sót hoặc tư vị.

Khi cộng thăm gộp lại thì mười vị này trúng tuyển:

1. Phan Văn Trường               1133 thăm

2. Huỳnh Thúc Kháng            1062

3. Nguyễn Phan Long             1057

4. Diệp Văn Kỳ                       986

5. Lưu Văn Lang                    910

6. Bùi Quang Chiêu                885

7. Trần Trọng Kim                  794

8. Dương Văn Giáo                788

9. Trần Trinh Bạch                  671

10. Phạm Quỳnh                     667

(P.N.T.V số 64 ngày 7/8/1930)

Tháng Tư 16, 2015

Trên quê hương yêu dấu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:45 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 4 năm 2015,

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Tin trên báo Tuổi Trẻ ngày 9/4/2015:

Việt Nam, Trung Quốc hợp tác ổn định, lâu dài

Kết thúc chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, hai bên ra thông cáo chung khẳng định sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược theo hướng ổn định và lâu dài.

Thông cáo chung cho biết Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Hai nước sẽ thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung.

Hai bên nhất trí chú trọng đi sâu hợp tác trong các lĩnh vực, trong đó có thực hiện tốt “Quy hoạch phát tNguyen Phu Trong tham Trung Quocriển năm năm hợp tác kinh tế – thương mại Việt – Trung giai đoạn 2012-2016”, thực hiện danh mục các dự án hợp tác trọng điểm và các thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại.

Hai nước sẽ tăng cường thương mại song phương tăng trưởng ổn định, cân bằng, bền vững. Phía Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu các mặt hàng có sức cạnh tranh của Việt Nam.

Hai bên sẽ tích cực nghiên cứu việc đàm phán, ký kết Hiệp định sửa đổi về thương mại biên giới Việt – Trung, sớm bàn bạc và xác định phương án tổng thể chung về xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới; thiết thực thúc đẩy các dự án kết nối cơ sở hạ tầng.

Hai bên sẽ tăng cường hợp tác trong các ngành nghề nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ và các lĩnh vực khoa học công nghệ, y tế, kiểm nghiệm, kiểm dịch…

Phía Trung Quốc ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam đầu tư phát triển và sẵn sàng tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam đến Trung Quốc khai thác mở rộng thị trường.

Phía Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cần thiết cho các doanh nghiệp Trung Quốc sang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Hai bên tuyên bố chính thức thành lập nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và nhóm công tác về hợp tác tiền tệ, đồng ý tăng cường điều hành, phối hợp giữa các nhóm này và nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, cùng nhau thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực phát triển toàn diện.

Hai bên sẽ tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt – Trung, thực hiện tốt các văn kiện về biên giới trên đất liền giữa hai nước.

Hai nước sẽ sớm ký Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc và Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân; cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới.

Hai nước sẽ phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt – Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước.

Hai bên sẽ tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước.

Hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc.

Hai bên sẽ sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt – Trung, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển.

Hai bên sẽ cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt – Trung và hòa bình, ổn định ở biển Đông.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ trong năm nay.

TTXVN.

  • Tin trang 14 báo Tuổi Trẻ ngày 8/4/2015:

Thủ tướng Nga săn ảnh ở TP.HCM

Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã chủ động lựa chọn TP.HCM là điểm đến trong lần thứ tư tới Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ông đến trung tâm kinh tế phía Nam này của Việt Nam. 

Medvedev chup anh

Ngoài hoạt động chính thức trong ngày 7-4, ông rất thích thú khi được tham quan tìm hiểu hội trường Thống Nhất và địa đạo Củ Chi. Ở địa đạo, ông đội mũ tai bèo, đeo khăn rằn rồi khám phá các hầm và các di tích ở đây.

Ông hỏi thăm rất kỹ câu chuyện lịch sử của các điểm tham quan. Ông đặc biệt quan tâm về cách hoạt động, sinh sống của chiến sĩ du kích dưới địa đạo thời chiến tranh.

Thu tuong Medvedev tham viet nam

Rất đam mê chụp ảnh và có “đồ nghề chuyên nghiệp”, ở những địa điểm thú vị, Thủ tướng Nga đều dừng lại lấy máy riêng để tự mình chụp ảnh.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 13/4/2015:

Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Cuba hội đàm lịch sử

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro ngày 11-4 đã có cuộc hội đàm lịch sử bên lề Hội nghị cấp cao Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) tại Panama, đây là cuộc hội đàm cấp cao nhất giữa hai nước trong gần 60 năm qua, trong đó hai nhà lãnh đạo đã nhất trí tiếp tục thúc đẩy cải thiện quan hệ song phương sau nhiều thập kỷ đối đầu.

Miêu tả cuộc hội đàm kín của hai nhà lãnh đạo là mang tính “lịch sử”, ông Obama cho biết, hai nước hiện có thể chấm dứt sự đối đầu của thời kỳ chiến tranh lạnh, mặc dù ông Obama nói sẽ tiếp tục gây sức ép với Cuba về vấn đề dân chủ và nhân quyền.

“Hiển nhiên, vẫn sẽ còn những khác biệt lớn giữa hai chính phủ của chúng ta”, ông Obama nói với người đồng cấp Cuba Raul Castro tại Panama, nơi cả hai nhà lãnh đạo đều tham dự Hội nghị cấp cao OAS.

Tổng thống Mỹ nói, ông tin rằng cả hai bên có thể đưa ra những quan ngại của mình về các chính sách khác của mỗi bên tuy nhiên vẫn có thể hợp tác để thúc đẩy thương mại, du lịch và quan hệ ngoại giao.

“Chiến tranh lạnh đã kết thúc…Cuba không phải là một mối đe dọa đối với Mỹ”, ông Obama phát biểu trước các phóng viên sau đó.Cuba va My tien hanh cuoc gap lich su

Về phần mình, Chủ tịch Cuba Raul Castro khẳng định ông sẽ tiếp tục thực hiện các bước đi nhằm hướng tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sẵn sàng thảo luận về vấn đề nhân quyền cũng như các vấn đề khác.

“Chúng tôi sẵn sàng thảo luận mọi thứ nhưng chúng ta cần sự kiên nhẫn, hết sức kiên nhẫn. Một số vấn đề chúng ta có thể nhất trí nhưng có những vấn đề khác chúng ta chưa nhất trí”, Chủ tịch Cuba Raul Castro nói.

Cuộc hội đàm chính thức giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ và Cuba diễn ra sau một thỏa thuận mang tính bước ngoặt vào tháng 12-2014, khi Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro cùng tuyên bố sẽ thúc đẩy để bình thường hóa quan hệ Mỹ-Cuba, trong đó bao gồm việc khôi phục quan hệ ngoại giao song phương bị tạm ngừng từ năm 1961.

Quan hệ Mỹ-Cuba hiện đang được cải thiện và Tổng thống Mỹ Obama đang dần tiến tới việc loại Cuba ra khỏi danh sách các nước bảo trợ khủng bố. Một quan chức cấp cao của Mỹ cho biết, ông Obama sẽ đưa ra quyết định trong những ngày tới và nhiều khả năng các nghị sĩ sẽ không phản đối quyết định này.

Kể từ năm 1977, Mỹ và Cuba duy trì liên lạc thông qua các văn phòng đại diện quyền lợi tại thủ đô mỗi nước và trong những năm gần đây hai nước đã hợp tác trong vấn đề nhập cư, chống buôn lậu ma túy và những vấn đề khác

B.M

(Theo Reuters)

  • Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 14/4/2015:

Khánh thành tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc

Công trình thể hiện tinh thần và khí phách anh hùng của những người nghĩa sĩ nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Sáng 13-4, UBND tỉnh Long An đã khánh thành công trình tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc tại thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc.

Công trình được khởi công ngày 17-12-2011 nhân dịp kỷ niệm 150 năm trận đánh đồn Tây Dương lịch sử của nghĩa quân Cần Giuộc, Cần Đước.

Công trình có tổng mức đầu tư hơn 29 tỉ đồng, tọa lạc trên khu đất rộng 3.100m2 ngay trung tâm thị trấn Cần Giuộc, bao gồm nhiều hạng mục như công viên, nhóm tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc, bia văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…

Tuong dai nghia si Can Giuoc

Trong đó nổi bật là tượng đài với 11 hình tượng người cao 2,7m, thể hiện hình ảnh những nghĩa binh trong tư thế chiến đấu theo tinh thần tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

Sơn Lâm

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/4/2015:

Tổ chức Lễ tế đàn Xã Tắc tại Thừa Thiên – Huế

Sáng 12/4 (tức 24/2 năm Ất Mùi), tại đàn Xã Tắc, phường Thuận Hòa (TP Huế), tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức Lễ tế đàn Xã Tắc năm 2015. Đây là nghi lễ mang đậm tính nhân văn của nền văn mình lúa nước. Đàn Xã Tắc được vua Gia Long cho xây dựng năm 1806, lễ tế tổ chức mỗi năm hai lần, vào mùa xuân và mùa thu với nghi lễ tế cúng thần đất và thần ngũ cốc, cầu mong “quốc thái dân an”, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm.

PV.

  • Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/4/2015:

Khai mạc Lễ hội đền Bà Triệu và đón bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt

Sáng 7-4, tại đền thờ Bà Triệu ở xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa) đã khai mạc Lễ hội đền Bà Triệu và đón bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt. Tham dự có đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Sau khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và tỉnh Thanh Hóa dâng hương tưởng niệm Bà Triệu, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng đã đọc diễn văn ôn lại thân thế, sự nghiệp và công lao của Bà Triệu, trong đó khẳng định: Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí hiên ngang, khí phách quật cường của dân tộc ta, làm vẻ vang bản lĩnh phụ nữ Việt Nam.

Tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trao bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Khu di tích Bà Triệu cho tỉnh Thanh Hóa.

PV.

  • Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 10/4/2015:

Ủng hộ vụ kiện các công ty hóa chất Mỹ

Sáng 9-4, tại Hà Nội, Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAVA) tổ chức họp báo thông tin và kêu gọi ủng hộ vụ kiện của bà Trần Thị Tố Nga, một công dân Pháp gốc Việt, là nạn nhân của chất độc da cam/ đi-ô-xin trong chiến tranh ở Việt Nam. Theo đó, ngày 16-4 tới đây, Tòa án thành phố Evry thuộc vùng Pa-ri nước Pháp sẽ tiến hành tố tụng đối với vụ kiện của bà Trần Thị Tố Nga.

Trong thư, đại diện hơn ba triệu nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam, VAVA kêu gọi: Tòa án thành phố Evry nhanh chóng củng cố, hoàn tất hồ sơ, thủ tục để xét xử vụ án bênh vực quyền lợi cho nguyên đơn bà Trần Thị Tố Nga. VAVA kêu gọi các lực lượng tổ chức quốc tế ủng hộ việc đấu tranh đòi các công ty hóa chất Mỹ phải nhận trách nhiệm và tham gia cùng Việt Nam khắc phục các hậu quả của chiến tranh hóa học.

PV

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/4/2015:

Đóng điện vận hành Đường dây 220kV Vân Trì – Chèm

Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT), Ban Quản lý dự án các công trình điện Miền Bắc vừa phối hợp các đơn vị liên quan đóng điện đưa vào vận hành giai đoạn 2 dự án Đường dây (ĐZ) 220kV Vân Trì – Chèm, đoạn nối từ bờ Nam sông Hồng đến Trạm biến áp (TBA) 220kV Chèm, hoàn thành toàn bộ dự án ĐZ 220kV Vân Trì – Chèm.

Công trình được hoàn thành và đưa vào vận hành sẽ góp phần bảo đảm cung cấp điện ổn định, liên tục chDong dien 220vo thành phố Hà Nội từ mùa khô 2015 và những năm tiếp theo (đường dây có khả năng tải từ 400 – 600MW, tương ứng khoảng 20 – 25% công suất của Hà Nội hiện nay là 2.000 – 2.400MW), đồng thời tạo mạch vòng liên kết lưới 220kV với các TBA 220kV Vân Trì, Chèm và Tây Hồ.

Trước đó, vào ngày 30-12-2014, EVNNPT đã đóng điện nghiệm thu giai đoạn 1 của dự án (từ TBA 220kV Vân Trì đến bờ Bắc sông Hồng) nhằm cung cấp điện cho phụ tải khu công nghiệp Bắc Thăng Long và khu vực phía bắc Thủ đô Hà Nội.

ĐZ 220kV Vân Trì – Chèm có nhiệm vụ truyền tải công suất từ các nguồn thủy điện Tây Bắc (như Sơn La) qua ĐZ 500kV Sơn La – Hiệp Hòa và các nguồn nhiệt điện Đông Bắc (như Quảng Ninh) qua ĐZ 500kV Quảng Ninh- Hiệp Hòa về Hà Nội. Công trình khởi công tháng 12-2012 và dự kiến đóng điện đưa vào vận hành tháng 12-2013, nhưng do vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nên dự án bị chậm trễ và kéo dài cho đến thời điểm này.

Trước yêu cầu cấp bách phải đưa công trình vào vận hành để bảo đảm cung cấp điện cho Thủ đô Hà Nội, trong thời gian vừa qua, EVNNPT đã tích cực phối hợp với chính quyền địa phương và nhân dân nơi có đường dây đi qua, tìm nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, để triển khai thi công công trình, đưa đường dây vào vận hành theo kế hoạch.

Dự án ĐZ 220kV Vân Trì – Chèm là công trình trọng điểm quốc gia, có tổng mức đầu tư hơn 574 tỷ đồng. Dự án gồm hai hạng mục chính: Xây dựng mới 17km ĐZ 220kV đi qua địa phận ba huyện Mê Linh, Đông Anh và quận Từ Liêm, nối TBA 220kV Vân Trì (Đông Anh, Hà Nội) với TBA 220kV Chèm (Từ Liêm, Hà Nội); mở rộng ngăn lộ 220kV tại TBA 220 kV Chèm.

Thanh Giang

  • Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 11/4/2015:

Khánh thành công trình cấp điện vượt biển ra đảo Hòn Tre

Ngày 10-4, Tổng công ty Ðiện lực miền nam tổ chức khánh thành công trình đường dây 22 kV vượt biển cấp điện cho đảo Hòn Tre, Trung tâm hành chính huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Công trình có tổng vốn đầu tư 78,4 tỷ đồng, gồm ba hạng mục, trong đó hạng mục chính là đường dây trung thế vượt biển với chiều dài 12,9 km được thi công bởi các nhà thầu trong nước. Theo EVN SPC, đây là dự án đặc thù, bởi đường dây vượt biển thi công trên không lần đầu được thực hiện ở khu vực phía nam. Dự án được khởi công ngày 15-7-2014, nghiệm thu kỹ thuật ngày 9-2 và đóng điện vào lúc 13 giờ ngày 10-2-2015. Sau đảo Phú Quốc, Hòn Tre là đảo thứ hai ở Kiên Giang có điện lưới quốc gia, tạo tiền đề cho việc áp dụng công nghệ đường dây trên không và tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư so với cáp ngầm.

  • Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 14/4/2015:

Ngày hội văn hóa đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang

Mừng Tết cổ truyền Chool Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer, tối 12/4, tại chùa Mới, xã An Phú (huyện Tịnh Biên, An Giang) đại diện lãnh đạo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, lãnh đạo tỉnh An Giang, các ban, ngành, đoàn thể và đông đảo đồng bào các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer tỉnh An Giang đã về dự Lễ khai mạc.

Tham gia ngày hội có hơn 500 nhạc công, diễn viên và vận động viên dân tộc Khmer của năm huyện biều diễn và trình diễn trang phục truyền thống Khmer. Trong khuôn khổ Ngày hội văn hóa đã diễn ra Liên hoan văn hóa ẩm thực truyền thống, Triển lãm ảnh và trưng bày hiện vật với chủ đề “Đồng bào dân tộc Khmer An Giang chào mừng 40 năm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”… Ngày hội diễn ra đến hết ngày 14/4.

PV

Triển lãm tranh màu nước quốc tế lần thứ nhất

Triển lãm “Tranh màu nước quốc tế lần thứ nhất” do Hội Màu nước quốc tế chi nhánh tại Việt Nam (IWS Việt Nam) tổ chức vừa khai mạc tại Trung tâm thương mại Hàng Da, Hà Nội.

Triển lãm giới thiệu hơn 90 bức tranh của 51 tác giả trong nước và quốc tế, trong đó có nhiều họa sĩ của các quốc gia nổi tiếng về tranh màu nước như Mỹ, Thái Lan, Canada… Việt Nam có 15 họa sĩ tham dự, tiêu biểu là Bùi Duy Khánh, người có những bức tranh đẹp về biển. Tại triển lãm, công chúng còn được xem các họa sĩ vẽ trình diễn và nói chuyện về tranh màu nước. IWS là tổ chức màu nước phi lợi nhuận đã có mặt tại 100 quốc gia, chính thức vào Việt Nam từ tháng 5/2014.

PV.

  • Tin trang Hà Nội báo Nhân Dân ngày 14/4/2015:

Ngày sách Việt Nam lần thứ hai

Từ ngày 17 đến 21/4, tại Công viên Thống Nhất diễn ra sự kiện Ngày Sách Việt Nam lần thứ hai. Sự kiện gồm các hoạt động bổ ích như Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức chương trình Làm quen với văn học dân gian qua câu đối vào sang 19/4. Tối 19/4, Công ty cổ phần Sách Thái Hà tỏ chức Chung kết cuộc thi “Tôi đọc sách 2015”. Chiều 20/4, công bố chương trình hợp tác xuất bản cuốn sách “Chờ đến mẫu giáo thì đã muộn”. Tối 21/4 có Chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam” với các hoạt động như: Hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm về cách xây dựng và khai thác các mô hình tủ sách phụ huynh, tủ sách dòng họ; Giao lưu với các giáo viên đến từ tỉnh Thái Bình, những đơn vị đã thành công với mô hình tủ sách phụ huynh.

  • Tin trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 14/4/2015:

70 năm thành lập trường lục quân Trần Quốc Tuấn

Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn (15-4-1945 – 15-4-2015) và 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, Thieu tuong Hoang Dung (truong luc quan Tran quoc Tuan)thống nhất đất nước, ban liên lạc truyền thống (BLLTT) trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn tại TP Hồ Chí Minh vừa tổ chức buổi họp mặt các thế hệ học viên của trường. Tại buổi gặp này, các đại biểu cùng đại diện thân nhân các vị tướng lĩnh, các gia đình thương binh, liệt sĩ cùng đông đảo các thế hệ học viên của các khóa học đã ôn lại truyền thống lịch sử oanh liệt của trường (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1). Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, nhà trường đã đào tạo hơn 100 nghìn cán bộ cho quân đội, trong đó có nhiều đồng chí cán bộ lão thành đã từng tham gia từ những ngày đầu khởi nghĩa và chống thực dân pháp. Trường đã vinh dự chín lần được đón Bác Hồ về thăm và trao lá cờ đỏ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, Hiếu với dân”.

 Tiếp đón hơn 3.500 khách tàu biển quốc tế

Ngày 13-4, Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist đã đón tiếp hơn 3.500 du khách và thuyền viên (quốc tịch Mỹ, Anh, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Xin-ga-po… ) của tàu biển cao cấp Voyager of the Seas tại Tân Cảng Cái Mép, Bà Rịa – Vũng Tàu. Cùng ngày, đoàn khách này tham quan TP Hồ Chí Minh, miền Tây Nam Bộ và Vũng Tàu do Saigontourist thiết kế tua và cung cấp dịch vụ. Đoàn khách đã tham quan các công trình kiến trúc tiêu biểu mang phong cách đặc trưng Pháp thời Đông Dương như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố, tòa nhà UBND thành phố.

HL

  • Bài trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 10/4/2015:

Bán dưa hấu giúp nhân dân vùng lũ

Phạm Nga

Lũ lụt bất thường tại miền trung những ngày cuối tháng 3 vừa qua khiến cho nông dân trồng dưa hấu ở Quảng Nam điêu đứng vì bị thương lái ép giá. Các bạn thanh niên tình nguyện ở khắp mọi miền đất nước đã chung tay giúp nông dân Quảng Nam tiêu thụ hàng. Tại Hà Nội, hàng trăm bạn trẻ đã tổ chức vận chuyển, báBan dua haun hàng ủng hộ nhân dân vùng lũ.

Sau khi nhận được thông tin về nông dân trồng dưa hấu ở Quảng Nam lao đao vì bị thương lái ép giá, Đặng Như Quỳnh, trưởng nhóm tình nguyện Áo ấm biên cương lên ý tưởng giúp đỡ bà con tiêu thụ mặt hàng này. Quỳnh kêu gọi bạn bè trên mạng xã hội, các bạn sinh viên tình nguyện tại Hà Nội “vào cuộc” tìm đầu ra cho dưa hấu Quảng Nam.

Quỳnh và những thành viên trong nhóm tình nguyện đến tận Quảng Nam thu mua dưa rồi thuê xe, vận chuyển về Hà Nội bán với giá 5.000 đồng/kg. Sáng 7-4, 14 tấn dưa hấu đầu tiên đã về đến Hà Nội. Hàng trăm thanh niên tình nguyện thuộc đội thanh niên tình nguyện Thủ đô và các trường đại học đã được huy động, tổ chức bán hàng tại tòa nhà N07B3 khu đô thị Dịch Vọng, đường Thành Thái, quận Cầu Giấy; số 114 phố Nguyễn Khuyến (quận Đống Đa); số 109 phố Trần Duy Hưng (quận Cầu Giấy); số 342B phố Bà Triệu và ngõ 100 đường Trần Đại Nghĩa (quận Hai Bà Trưng); và số 8 ngõ 282/64 phố Kim Giang (quận Thanh Xuân).

Từ 5 giờ sáng, mặc dù trời mưa, lạnh, nhưng các bạn trẻ vẫn nhiệt tình làm việc. Người vận chuyển dưa từ trên xe xuống, người cân hàng, người ghi hóa đơn… Nhiều bạn tình nguyện làm “xe ôm” vận chuyển hàng đến địa chỉ mà khách hàng yêu cầu. Chỉ chưa đầy một giờ đồng hồ, 14 tấn dưa đã được bán hết. Số tiền lãi do bán dưa sẽ được chuyển về ủng hộ bà con, ưu tiên những hộ gia đình khó khăn và bị thiệt hại nhiều. Thức cả đêm đợi xe về rồi lại tất bật bán hàng, nhưng gương mặt bạn nào cũng tươi rói. Trưởng nhóm Đặng Như Quỳnh cho biết: “ Chúng em ở đây bán hàng cũng vất vả, nhưng vẫn “thua” các bạn tình nguyện trong Quảng Nam. Trong đấy đang nắng nóng, mà các bạn ấy phải ra tận ruộng, vận chuyển dưa lên xe cách cả cây số”.

Là một trong những tình nguyện viên có mặt đầu tiên tại điểm bán dưa phố Kim Giang vào sáng 9-4, Nguyễn Thị Hạnh- sinh viên Trường đại học Khoa học tự nhiên rất hào hứng. Mặc dù phải học từ 9 giờ sáng, nhưng Hạnh vẫn tranh thủ thời gian trước giờ đi học để bán hàng cùng các bạn. Rất nhiều khách hàng là sinh viên khi đến mua hàng cũng hỗ trợ các bạn tình nguyện viên bán dưa. Vũ Thanh Tùng, sinh viên Trường đại học Mỏ – Địa chất đợi từ sáng để được mua dưa, nhưng khi biết số dưa đã được mọi người đặt hàng trước, Tùng gia nhập luôn đội tình nguyện vận chuyển . Tùng chia sẻ: “Đang rảnh, em tranh thủ giúp đỡ mọi người một tay luôn, hy vọng sẽ có nhiều tấm lòng hảo tâm chung tay giúp đỡ đồng bào bị lũ. Em cũng sẽ gọi thêm các bạn giúp mọi người bán dưa”.

Hiện, Đặng Như Quỳnh mới chỉ trực tiếp kêu gọi sinh viên tình nguyện của ba trường đại học: Thương Mại, Xây dựng, Khoa học xã hội và Nhân văn tham gia hoạt động. Tuy nhiên, số lượng sinh viên của các trường tham gia rất đông. Có rất nhiều bạn trẻ ở các trường khác, biết thông tin qua mạng xã hội facebook cũng tình nguyện đến đây giúp sức. Quỳnh dự định sẽ mở thêm các điểm bán dưa ở các tỉnh Thanh Hóa, Hải Phòng, Ninh Bình,… để giúp nông dân trồng dưa tiêu thụ sản phẩm.

  • Tin trang 12 báo Tuổi Trẻ ngày 10/4/2015:

Sinh nhật ấm áp ở trường

“Con muốn được cô giáo và các bạn hát chúc mừng sinh nhật con. Nếu được như vậy, con sẽ rất vui”. Đọc lá thư của em T.N.Hà – học sinh lớp 2/1, mà lòng cô Nguyễn Thị Thu Hương – hiệu trưởng Trường tiểu học Sinh nhat o truongạc Long Quân (Q. Tân Bình, TP.HCM) – thấy rưng rưng, thương em quá.Cô Hương bồi hồi nhớ lại: “Lúc đó là vào tháng 8-2013, trong lúc đọc thư của học sinh trong hộp thư “Điều em muốn nói”, cô đọc được điều ước giản dị của em Hà và tự thấy bản thân mình còn nhiều thiếu sót với học sinh quá”. Ước mơ của em Hà giản dị đến bất ngờ, một việc hết sức đơn giản và nhỏ nhoi nhưng với em lại là điều mong ước. Từ điều ước này đã thôi thúc cô Hương nghĩ cách để biến ước mơ không chỉ của em Hà mà còn là ước mơ của nhiều học sinh khác trở thành sự thật.

Cô Thu Hương cho làm danh sách sinh nhật của tất cả học sinh trong trường. Giờ chào cờ đầu tháng, cô cho mời những em học sinh có sinh nhật trong tháng đứng lên và cho cả trường hát chúc mừng sinh nhật.Việc làm này không chỉ đem đến niềm vui, sự chờ đợi háo hức, mong ngóng đến lượt mình của các học sinh được cả trường chúc sinh nhật, mà còn lan tỏa đến cha mẹ học sinh. Vài phụ huynh vào gặp cô “mắng vốn”: “Con tôi sinh nhật tháng 7 nghỉ hè, con tôi không được cả trường hát chúc mừng sinh nhật, nó buồn, tui cũng buồn cô ơi…”. Thế là cô Hương lại nghĩ thêm cách: lần chào cờ kết thúc năm học, cô cho mời tất cả học sinh có ngày sinh nhật trong hè đứng lên để cả trường hát chúc mừng. Vậy là em nào cũng vui, phụ huynh cũng vui.

Từ ước mơ nhỏ của một em học sinh, cô Hương đã tạo nên một sự thay đổi vô cùng ý nghĩa trong cách quản lý để đem lại niềm vui, hạnh phúc đến cho tất cả học sinh của mình.

  • Bài trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 14/4/2015:

À Ố show lưu diễn châu Âu ba năm

Quỳnh Nguyễn

Sáng 13-4, Lune Entertainment (VN) và Nhà hát Scène nationale de Sénart (Pháp) công bố tour diễn vòng quanh nước Pháp và châu Âu trong suốt ba năm của À Ố show, bắt đầu từ ngày 14-6

Dự kiến, vở xiếc này sẽ trình diễn tại 60 nhà hát uy tín tại châu Âu. Trước mắt, từ tháng 6-2015 đến 6-2016, À Ố Show sẽ đi qua 26 nhà hát ở Pháp và một nhà hát ở Hy Lạp với 90 suất diễn.

Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên, một công ty giải trí tại TP.HCM phối hợp cùng đối tác quốc tế tổ chức A o showchương trình lưu diễn với hình thức cùng đầu tư và khai thác.

Phát biểu tại họp báo, ông Jean-Michel Puiffe – Giám đốc Nhà hát Scène nationale de Sénart – cho biết: “Với 30 năm kinh nghiệm trong việc chọn lựa các tác phẩm để giới thiệu đến khắp các nhà hát ở châu Âu, tôi tin tưởng rằngÀ Ố Show sẽ thu hút được sự quan tâm của công chúng châu Âu”.

Ông cũng nói thêm rằng tuy không sở hữu những công thức thành công, những kỹ thuật về biểu diễn lẫn công nghệ trình diễn thuộc loại hàng đầu thế giới nhưng cái À Ố Show có chính là mang đến những cảm xúc chân thật từ một nhóm nghệ sĩ có chất lượng hàng đầu thế giới.

À Ố Show chính thức ra mắt vào đầu năm 2013, là chương trình nghệ thuật thuần Việt được hầu hết du khách nước ngoài lựa chọn thưởng thức trong thời gian lưu trú tại VN.

Đến nay, vở diễn đã trình diễn khoảng 400 suất diễn tại Nhà hát TP.HCM, phục vụ cho du khách của hơn 70 quốc gia khác nhau.

Để chuẩn bị cho chuyến lưu diễn châu Âu lần này, À Ố Show có một năm để sáng tác bổ sung, đầu tư chất lượng diễn viên và các phương tiện kỹ thuật khác.

Theo hợp đồng ký kết ba năm giữa Lune Entertainment và Nhà hát Scène nationale de Sénart, mỗi năm đoàn gồm 25 thành viên gồm nhóm tác giả, diễn viên, nhạc công, kỹ thuật sẽ lưu diễn kéo dài từ 4-6 tháng.

Cụ thể, trong năm đầu tiên đoàn sẽ có ba đợt diễn. Đợt một sẽ bắt đầu từ 14-6 đến 4-7 tại liên hoan xiếc lớn nhất nước Pháp, Featival de Fourvière (Lyon) và kết thúc bằng những buổi diễn ở Festival Athens (Hy Lạp).

Đợt lưu diễn thứ hai sẽ diễn ra từ ngày 8-11-2015 đến 4-2-2016 và đợt thứ ba từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 7-2016 tại nhiều TP của Pháp.

Ông Võ Thành Trung – Giám đốc sản xuất của À Ố Show, chia sẻ đã có một nhà hát ở Anh, Tây Ban Nha, Canada mời đoàn đến diễn nhưng lịch diễn cho năm 2015-2016 đã kín nên những điểm đến này sẽ được cân nhắc vào thời điểm 2016-2017.

Như vậy, kể từ tháng 6-2015 đến tháng 6-2017, À Ố Show sẽ vắng mặt tại nhà hát trong nước. Thay thế các suất diễn của À Ố Show tại Nhà hát TP sẽ là hai vở Làng tôi và Sương sớm.

Ông Võ Thành Trung cũng chia sẻ thêm trong ba năm qua, vở diễn có mức đầu tư đến 20 tỉ đồng này phải bù lỗ năm tỉ đồng ở năm đầu tiên và chỉ mới có “chút ít thu hoạch” từ cuối năm 2014.

Cho vở xuất ngoại, theo ông Trung, là một quyết định đầy mạo hiểm vì nếu thuận lợi, lợi nhuận thu về cũng không bằng khai thác trong nước và nếu chẳng may không thuận lợi thì số tiền phải bù lỗ sẽ rất cao. Chưa kể việc À Ố Show “bỏ đi” sẽ khuyết mất một điểm đến của nhiều du khách nước ngoài khi đến Việt Nam.

Vì thế, ngoài tham vọng giới thiệu những tinh hoa nghệ thuật của VN tại nước ngoài qua À Ố Show, êkip này cũng đang cân nhắc tổ chức một nhóm nghệ sĩ thứ hai để tiếp tục duy trì vở diễn À Ố Show trong nước.

  • Bài trang TPHCM báo Nhân Dân ngày 10/4/2015:

Sống mãi ca khúc truyền thống cách mạng

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên

25 năm kể từ khi Liên hoan các nhóm Ca khúc chính trị (CKCT) toàn quốc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến nay mới thấy bóng dáng của các nhóm CKCT trở lại với tên gọi Liên hoan các nhóm Ca khúc truyền thống cách mạng TP Hồ Chí Minh năm 2015. Chương trình do Sở Văn hóa và Thể thao giao Trung tâm Văn hóa (TTVH) TP Hồ Chí Minh tổ chức từ ngày 2 đến 4-4 vừa qua tại sân khấu ca nhạc Sen Hồng.

Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao (VHTT) TP Hồ Chí Minh Phan Nguyễn Như Khuê, nhận định: Từ phong trào CKCT của thành phố đã dần dần lan tỏa ra nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Điều đó chứng tỏ TP Hồ Chí Minh chính là nơi khởiCa khuc truyen thong cach mang nguồn của các nhóm CKCT, đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân thành phố trong những năm đầu giải phóng nói riêng và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước nói chung.

Còn nhớ, ngay trong những ngày đầu giải phóng đã xuất hiện phong trào các nhóm Ca nhạc xung kích. Đến năm 1977, khi nhóm CKCT Lứa tuổi 49 của nước Cộng hòa Dân chủ Đức sang thăm và biểu diễn tại TP Hồ Chí Minh, thanh niên thành phố mới nhận ra: Về hình thức, đó chính là các nhóm nhạc trẻ trước đây, chỉ khác ở nội dung mang tính tích cực và tính chiến đấu cho sự nghiệp cách mạng. Phong trào các nhóm Ca khúc tuổi trẻ ra đời do Thành đoàn TP Hồ Chí Minh phát động, đến năm 1982 đổi tên thành Ca khúc chính trị.

Tham gia liên hoan năm nay có 26 nhóm, trong đó có 24 nhóm thuộc các TTVH các quận, huyện và hai nhóm thuộc Trường đại học Văn Hiến và đại học Văn hóa. Mỗi nhóm ít nhất có năm, nhiều nhất là 10 diễn viên kể cả ca sĩ lẫn ban nhạc. Ngay trong đêm khai mạc, nhóm TTVH huyện Hóc Môn đã nổi bật với ban nhạc phối khí hay, phù hợp nội dung từng ca khúc với biên chế hai guitar, hai keyboard và một bộ trống. Đây cũng là hình thức phổ biến của nhiều ban nhạc tham gia lần này. Cũng có ban nhạc thêm bớt một vài nhạc cụ để tạo mầu sắc riêng như nhóm TTVH quận Bình Thạnh bớt đi guitar để sử dụng thêm saxso và violin; hay như nhóm TTVH quận 3 chỉ sử dụng một keyboard, một guitar thùng, một violin và một trống cajon. Sử dụng trống cajon cũng là một xu thế hiện nay khi muốn dàn dựng một chương trình gọn nhẹ với mầu sắc riêng như các nhóm TTVH quận 3, quận 8, quận Tân Phú, huyện Củ Chi và Trường đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh.

Qua liên hoan lần này đã thấy nhiều nhóm có trình độ, chất lượng cao về nghệ thuật với nhiều giọng ca hay, hát bè tốt và phối âm, phối khí hài hòa, sinh động, hấp dẫn người xem. Đó là các nhóm thuộc các TTVH: quận 3, quận Phú Nhuận, quận 7, quận 11, quận 4, quận 12, quận Thủ Đức, quận 2, huyện Hóc Môn… Trong đó, nhóm TTVH quận 12 được đánh giá có phong cách biểu diễn tốt với mô hình ban nhạc vừa hát vừa đàn. Nhóm gồm ban nhạc năm người cùng ba ca sĩ hát hay, có sáng tạo trong dàn dựng. Ban nhạc hay nhất, có thể nói đó là ban nhạc của TTVH quận 7. Không chỉ điêu luyện về tay nghề, ban nhạc còn phối âm, phối khí các ca khúc truyền thống cách mạng với sáng tạo mới, hấp dẫn người xem. Một hình ảnh riêng có của TP Hồ Chí Minh trong 40 năm qua chính là sức sống mãnh liệt của phong trào thanh niên xung phong. Hình ảnh ấy đã được tái hiện trong chương trình của nhóm TTVH quận 3.

Trước sự thành công của liên hoan năm nay, Phó Giám đốc Sở VHTT thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Minh cho biết, sắp tới Sở sẽ tiếp tục tổ chức liên hoan định kỳ với tên gọi: Liên hoan các nhóm Ca khúc Trẻ.

Một nhóm đằm thắm, sâu lắng, một nhóm sôi động với những bài ca truyền thống cách mạng hấp dẫn lòng người. Cả hai nhóm thuộc Trung tâm Văn hóa quận 3 và quận 7 đã được chọn tham gia Liên hoan Nghệ thuật quần chúng Ca khúc cách mạng với đề tài Giai điệu Tổ quốc do Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) sẽ tổ chức tại sân khấu Sen Hồng (TP Hồ Chí Minh) từ ngày 10 đến 13-4 với 30 nhóm trong cả nước tham dự.

Tháng Tư 10, 2015

Kỷ lục gia số 2: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn người tìm ra tội phản quốc lớn nhất hiện hành của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 4 năm 2015.

KỶ LỤC GIA VỀ NGHIÊN CỨU PHẠM QUỲNH

Kỷ lục gia số 2: Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, người tìm ra tội phản quốc lớn nhất, hiện hành của Phạm Quỳnh.

Dân Thường

Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên phó Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam là nhà nghiên cứu nhưng chỉ chuyên “nghiên cứu” những gì ông cho là Phạm Quỳnh phạm tội. Năm 2008, tạp chí Hồn Việt có tổ chức cuộc thảo luận về Nguyễn Văn Vĩnh và PhạNguyen Van Hoanm Quỳnh, diễn ra trong bốn tháng, với bốn số nguyệt san, vỏn vẹn chỉ có sáu bài viết riêng về Phạm Quỳnh được đăng, của các tác giả Đặng Minh Phương, Thái Vũ, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Hoàn, Phạm Tôn; trong đó, riêng Phạm Tôn được đăng nhiều nhất, đến hai bài trong các số 15 và số 17. Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, không biết sao, lại được vinh dự lấy bài của ông viết nhan đề Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh trong Hồn Việt số 17 (tháng 11/2008) làm kết luận cho cuộc thảo luận trên tạp chí Hồn Việt; mặc dù bài đó lẽ ra phải là của Mai Quốc Liên, người mở ra cuộc thảo luận. Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên, giám đốc Trung tâm Quốc học Việt Nam, đồng thời cũng là Tổng biên tập báo, lại chỉ có một bài rất ngắn so với bài của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn nhan đề là Lời kết cho một cuộc thảo luận ký tên Hồn Việtđăng vào số cuối cùng của cuộc thảo luận. Nhưng chủ yếu chỉ để nhấn mạnh chính bài của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn mới là bài kết thúc.!?

Giống hệt nhà văn Thái Vũ, đăng bài Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong trên báo Tiền Phong chủ nhật năm 2005, rồi sau 3 năm suy nghĩ, sửa chữa chút ít, lại đăng trên Hồn Việt một bài nữa nhan đề Về cái chết của ông Phạm Quỳnh với nội dung giống hệt bài năm 2005. Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn cũng thế. Nhưng không đủ kiên nhẫn chờ đến 3 năm, mà cho đăng ngay sau bài Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh của ông tham gia cuộc thảo luận. Chúng tôi tin chắc chắn rằng bài đăng sau này trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học (tháng 11/2008) nhan đề Góp thêm một ít tư liệu chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh là bản gốc, bài đã bị Tổng biên tập Mai Quốc Liên đục bỏ nhiều đoạn mà Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn tâm đắc nhất. Chúng tôi dám khẳng định như vậy sau khi đã so sánh từng chữ của hai bài, cứ gạch bỏ đi một số đoạn, một số dòng của bài đăng trong tạp chí Nghiên cứu Văn Học (tức bài đăng sau) thì sẽ thành bài trước đó đăng trên Hồn Việt. Điều này chứng tỏ Giáo sư tin tưởng chắc chắn vào những gì mình đã viết là tuyệt đối đúng. Rõ ràng ông rất không hài lòng với việc đục bỏ khiến ông đau đớn của Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên. Đáng chú ý nhất là hai đoạn sau đây:

  1. Phần trích bài Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông của Nhật Hoa Khanh đăng trên Xưa và Naysố 269, phát hiện ra tờ báoQuyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ, đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương

Phạm Quỳnh, một tay cộng sự của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mại quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”.

  1. Và đoạn văn đã đưa Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Viện trưởng Viện Văn học, lên hàng kỷ lục gia số 2 sau nhà văn lão thành Thái Vũ chuyên viết về lịch sử là “Việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ

Ông đã mất công sưu tầm, dẫn ra các bài của Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Nguyễn Vạn An, rồi Xuân Ba, Phạm Tôn để lên án những người này đã bao che cho Phạm Quỳnh là sau cuộc đảo chính của Nhật, Phạm Quỳnh với chức danh Thượng thư Bộ Lại tức có quyền hành Thủ tướng, đã thảo bản Tuyên bố Độc lập ngày 13/3/1945, rồi cùng Bảo Đại và toàn thể nội các ký tên dưới đó. Sau đó ông thanh thản lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường xinh đẹp, nằm bên con sông nhỏ hiền hoà lặng lẽ chảy, nơi có cái bến đò An Cựu, được nhân dân yêu mến gọi là “Bến Cụ Phạm”.

Biet thu Hoa Duong

Ben cu Pham_2

Quả thực, ông đã rút về sống ẩn dật để trở lại với văn chương, công việc ông yêu thích nhất và cũng tỏ ra giàu tài năng nhất. Chỉ trong thời gian từ 14/3 đến 22/8/1945, ông đã cặm cụi sưu tầm tư liệu, tra cứu sách cổ, nhiều từ điển cổ, rồi bắt đầu viết bản sơ thảo giới thiệu Đỗ Phủ và tuyển chọn 51 bài thơ, rồi dịch và chú thích rất kỹ càng cho người đọc đời sau dễ hiểu Đỗ Phủ. Ông chú thích ngắn gọn, dễ hiểu nhưng tuyệt đối chính xác, theo phong cách vốn có của ông. Ông dịch thơ Đường theo cách dịch mà các nhà Nho sành thơ Đường đều công nhận là khó khăn nhất. Thơ Đường ngũ ngôn thì dịch ra thơ Việt năm chữ, đặc biệt khó nhất là thơ Đường thất ngôn cũng dịch ra thơ Việt bảy chữ.

Bao nhiêu tâm huyết đã đổ vào công trình “sơ thảo tuyển thơ Đỗ Phủ.”… Viết xong, ông gửi ngay cho người bạn cộng tác viên thân thiết củaNam Phong, nhà tuyên truyền trung thành tư tưởng và nghệ thuật của Nam Phong, duy nhất ở toàn miền Nam. Mở cả trường Trí Đức học xá để chuyên dạy quốc ngữ, dựa trên các tài liệu gốc là Nam Phong, bấy giờ đã tròn 210 số. Người đó là thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân thiết, tri kỷ của ông và cũng là người bạn thân thiết nhất mà học giả Vương Hồng Sển nhận xét là “Sống ở nơi khỉ ho cò gáy, mà có học thức hơn người”.

Sau những ngày miệt mài dịch thơ Đỗ Phủ, như để lấy đà cho bước đầu trở lại với văn đàn, ông bắt đầu viết trong quyển vở học trò bằng cây bút máy Waterman, tập Hoa Đường tuỳ bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, theo phong cách tạp văn Lỗ Tấn. Hoa Đường là bút danh ông thường dùng những năm cuối viết Nam Phong. Mới viết được đến hơn mười bài trong buổi làm việc sáng định mệnh 23/8/1945 ấy, ông còn để mở quyển vở và đặt cây bút máy Waterman nằm ngang ở trên, chắc là để chiều viết tiếp mạch văn, về đề tài thân thiết nhất với ông suốt mấy chục năm: Cô Kiều với tôi.

Tho Do Phu va Kien Van Cam Tuong

Nhưng, 2 giờ chiều hôm ấy, ông được hai sinh viên Trường Thanh Niên Tiền Tuyến – Huế, ăn mặc quân phục chững chạc, đến nói là “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Ông thản nhiên đứng dậy, mặc quần áo ra đi lên Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa để rồi không bao giờ về nữa.

Trong quyển vở học trò có 11 tên bài, bài cuối Cô Kiều với tôi. còn viết dở dang. Đặc biệt trong đó có bài số 6, Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Văn Hoàn “ăn theo” cái chú thích số 5 của Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong bài Từ suy tôn Phạm Quỳnh đến đề cao thực dân thời hậu thuộc địa đăng trên báo Đi Tới, tháng 9/1999 (XB Montreal, Canada) lặp lại điều giáo sư đã nêu 24 năm trước trong tập Trường hợp Phạm Quỳnh, xuất bản ở Sài Gòn năm 1975. Trong hai bài cách nhau 24 năm ấy, Giáo sư Nguyễn Văn Trung vẫn chỉ mới dè dặt nhận xét đó “có thể là nguyên nhân quyết định bắt giữ” và chỉ đưa vào một chú thích. Nhưng, 33 năm sau, trong hai bài có nội dung cơ bản giống nhau đăng trên Hồn Việt và tạp chí Nghiên cứu Văn học, Giáo sư nguyên Viện trưởng Nguyễn Văn Hoàn đã nâng lên thành bản án tử đối với Phạm Quỳnh: “Việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ”.

Rất tiếc là lâu nay, không được đọc bài viết nào của Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn. Dân Thường tôi và những dân thường khác ở nước ta, mong ngóng được đọc các bài mới của giáo sư để biết rõ giáo sư có thực sự là nhà nghiên cứu văn học không. Và nếu đúng là nhà nghiên cứu văn học thì không lẽ chỉ là ở đẳng cấp “kỷ lục gia số 2 về nghiên cứu Phạm Quỳnh.” ???!!!

8.2009

D.T.

Phòng mổ – Phòng dịch vụ 209 (giường 39)

Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

 

Mấy điều “giám định và bổ sung tư liệu”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 4 năm 2015.

Nhân đọc bài viết Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Hoàn (Hồn Việt 17 – Tháng 11/2008)

MẤY ĐIỀU “GIÁM ĐỊNH VÀ BỔ SUNG TƯ LIỆU”

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này, Phạm Tôi tôi viết và gửi đến Tổng biên tập tạp chí Hồn Việt ngày 30/11/2008, tức là sau khi tạp chí đã tuyên bố kết thúc cuộc thảo luận, cho nên không được đăng. Sau đó, chúng tôi còn gửi cho Tạp chí Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Văn học Việt Nam. Đây là nơi Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn từng công tác nhiều năm và cũng từng là phó viện trưởng một thời gian không ngắn. Chúng tôi nhận được điện thoại của một cán bộ lãnh đạo tạp chí báo là đã nhận được và đã đọc bài của chúng tôi. Khi chúng tôi cho biết ý định gửi bài chỉ là để có thông tin hai chiều, không dám nghĩ là bài sẽ dễ dàng được đăng, thì vị cán bộ đó tỏ ý hài long vì chúng tôi đã thông cảm với “khó khăn tế nhị” của tạp chí trong trường hợp này.

Hôm nay, để nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật và nói rõ sự thật như tinh thần các nghị quyết của các Đại hội Đảng, nhất là từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ X, chúng tôi tin chắc chắn là đại hội XII của Đảng sẽ càng đi sâu hơn vào các vấn đề còn “treo” hàng mấy chục năm nay cũng theo tinh thần đó cho nên đăng bài này.

—o0o—

Cuộc “Trao đổi – Ý kiến về trường hợp Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh” mở đầu trên Hồn Việt số 14, đến số 17 thì kết thúc, vẻn vẹn có bốn số báo. Trong Lời kết cho một cuộc thảo luận, Hồn Việt viết “với bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn – Nguyên phó viện trưởng Viện Văn học, chúng tôi tạm kết thúc (…). Cuộc trao đổi đã diễn ra một cách dân chủ, thiện chí với những ý kiến sâu sắc. Vấn đề, theo chúng tôi như thế là đã rõ” (Hồn Việt 17 – Tháng 11/2008). Nhưng, có thật là đã rõ không?

Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn viết trong bài trên “Tháng 7 năm 2008 tỉnh Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm lần thứ 130 ngày sinh nhà Chí Sĩ yêu nước Ngô Đức Kế. Tôi có bản tham luận Nhà Chí Sĩ Ngô Đức Kế, từ tù nhân Côn Đảo đến một nhà báo (…). Một bạn đồng nghiệp, giáo sư Khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi đọc bản tham luận của tôi đã hỏi:

“- Nếu như năm 1945, chiếc xe chở Phạm Quỳnh ra Hà Nội được trót lọt, rồi ông sẽ cộng tác với Chính phủ Cụ Hồ như cụ đồng liêu Bùi Bằng Đoàn thì đến nay, chúng ta nói về ông có khác không?

“Thảo luận lịch sử trên cơ sở chữ nếu thì thật là thiếu căn cứ, đối với lịch sử thì tốt hơn là hãy tìm hiểu xem tại sao một sự kiện đã xảy ra như thế! (Chúng tôi nhấn mạnh-PT).”

Có một người đã cố “tìm hiểu xem tại sao một sự kiện đã xảy ra như thế!”, đồng thời cũng đưa ra một chữnếu mà giáo sư đã cho là thiếu căn cứ. Đó là Trần Thanh Đạm. Trong bài Mấy ý kiến về nhà chính trị và nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1892-1945) đăng trong Hồn Việt 15 (Tháng 9/2008), ông viết “có lẽ điều đáng ghi nhận nhất của ông là tuy làm quan cao chức trọng như vậy cho chế độ thực dân phong kiến, song không nghe nói ông có phạm tội gì làm hại những người yêu nước và cách mạng như những tên tay sai thô bỉ và độc ác khác. (…) ông vẫn còn giữ được ít nhiều phong độ trí thức, nhiều người chê trách ông song cũng nhiều người kính nể ông. (…) Cuối đời ông diễn ra trong bi kịch và kết thúc trong thảm kịch. (…) Lịch sử ở đây công minh song cũng hơi tàn nhẫn.

“Điều đáng tiếc là cái chết của Phạm Quỳnh. Quả là ông đã gặp một tai nạn. Ông là nạn nhân đáng tiếc của tính tự phát lịch sử, kể cả lịch sử cách mạng. (…) ngoài ý muốn của các nhà cách mạng chân chính. Tiêu biểu là thái độ và tình cảm của Bác Hồ đối với ông được người đương thời làm chứng và thuật lại. Có nhiều chứng cứ và chứng nhân, song tôi chú ý lời kể của nhà thơ Huy Cận khi từ Huế trở về gặp Bác, báo cáo với Bác về chuyện Phạm Quỳnh gặp nạn ở Huế: “Bác thở dài nắm tay tôi và nói “Đã lỡ mất rồi!””. Quả đúng là tấm lòng của Bác và cũng là chính sách của Bác. Đồng thời và đồng liêu với Phạm Quỳnh còn có bao nhiêu nhân vật, nhân sĩ của chính quyền Nam triều khác như: Thái Văn Toản, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Vi Văn Định, Ngô Đình Diệm và bao nhiêu người khác nữa nhất là vị hoàng đế đương thời là Bảo Đại, chưa nói đến các vị như Bùi Kỷ, Phạm Khắc Hoàng, Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn trong chính phủ Trần Trọng Kim. Có ai bị cách mạng kết án hay xúc phạm gì đâu, nói chi đến xử tử hình. Rõ ràng là Phạm Quỳnh gặp tai nạn, tai họa rất đáng tiếc.

“Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng Phạm Quỳnh nếu (chữ này giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đã khuyên không nên dùng-PT) không gặp tai nạn không may ấy mà còn sống đến sau cách mạng thì với tài năng, tấm lòng và phẩm chất trí thức cá nhân của ông, với chính sách đoàn kết rộng rãi của Bác Hồ, nếu không tham gia cách mạng và kháng chiến, không tiếp tục đóng góp cho văn hóa học thuật, thì ông ít nhất cũng được sống an toàn, yên ổn như một người Việt Nam bình thường, như bao người khác. Riêng tôi tôi tin tưởng ông có thể như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Thái Văn Toản, Vi Văn Định. Chứng cớ là gia đình ông các con ông đều đã là những chiến sĩ yêu nước, những hiền tài giúp nước như Phạm Khuê, Phạm Tuyên, các con khác tuy ở nước ngoài song tôi không hề nghe có lời nói hay hành vi chống lại tổ quốc hay cách mạng vẫn một lòng trung với nước, hiếu với dân, dù rất đau đớn vì sự tử nạn của người cha thân yêu, song không hề bị kẻ địch và bọn xấu mua chuộc, lợi dụng, vẫn hy vọng có ngày chiêu tuyết cho cha. (…) Hơn 60 năm nay, ông là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của bao nhiêu người ở bên này hay bên kia chiến tuyến. (…) cách mạng khó giải thích thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác lợi dụng. Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. (…) Không nhập nhoạng biến xấu thành tốt, biến tội thành công, đảo điên chính tà, lẫn lộn phải trái, song đối với những nhân vật lịch sử có những số phận bi kịch như Phan Thanh Giản thế kỷ XIX, Phạm Quỳnh thế kỷ XX, thiết tưởng cần có sự đánh giá lại một lần nữa để thể hiện tấm lòng của lớp người đi sau đối với lớp người đi trước. (…) chúng ta mong mỏi sang thế kỷ XXI tinh thần Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh không chỉ bao trùm lên tất cả những người còn sống mà cũng hòa giải được cả những người đã khuất, nhất là những người cùng chịu những đau khổ, hy sinh, tổn thất do tai họa chung của dân tộc mà thủ phạm là các thế lực tham lam độc ác từ bên ngoài gây ra cho chúng ta từ thế kỷ XIX và vẫn chưa buông tha cho chúng ta cho đến thế kỷ XXI”

Đúng là lịch sử đã diễn ra như nó đã diễn ra. Nhưng đó có phải là tất yếu, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng dân không thì người đời-người đương thời và người muôn đời sau- đều có thể phán xét, có thể kết luận khác hẳn những gì đã được viết, thậm chí đã được ghi vào lịch sử

Vì sao giáo sư Nguyễn Văn Hoàn cứ cố giữ cái lập luận người dân đã chán nghe hơn 60 năm qua như thế? Có thể vì giáo sư kiên trì quan điểm “A.Q không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ” (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) như văn hào Lỗ Tấn đã viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q Chính truyện (Lỗ Tấn: Gào Thét, NXB Văn Hóa Viện Văn Học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính). Và “dưới ánh sáng” của quan điểm ấy, trong bài viết dài nhất cuộc thảo luận này, Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh, giáo sư cố gắng tìm ra thêm các tội mới gán cho Phạm Quỳnh. Căn cứ vào bài báo ta thấy các tội mới ấy như sau:

  1. “Tội” thứ nhất: “Tóm lại theo Phạm Tôn, Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Xuân Ba thì từ sau đảo chính Nhật ngày 19/3/1945, Phạm Quỳnh đã dứt khoát rời bỏ chính trường, an nhiên ngâm bài Quy khứ lai từ, trở lại vui thú bút nghiên! (…) Ngay bản thân Phạm Quỳnh cũng tuyên bố như thế. (…) có một nhà báo lặn lội từ Hà Nội vào Huế (…) để đến biệt thự Hoa Đường ở An Cựu phỏng vấn Phạm Quỳnh. Hỏi: Chúng tôi muốn biết rồi đây cụ có hoạt động về chính trị nữa không, hay trở về với văn học giới? Đáp: Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời bỏ dở ” (…) Phạm Tôn để chứng minh Phạm Quỳnh là “người nặng lòng với nước”đã dùng lại tư liệu và lập luận (Phạm Tôn không dùng lập luận-PT) của Nguyễn Phúc Bửu Tập (…) để chứng minh “tấm lòng son” của Phạm Quỳnh (…) dẫn ra bản báo cáo mật của Haelewyn, khâm sứ Trung kỳ gửi cho toàn quyền Decoux tố cáo Phạm Quỳnh đã trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung ứng cho Nhật và vẫn kiên trì đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc kỳ cho Nam triều nhưng cả hai đều bỏ qua ý kiến này trong bản mật báo “Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á”. Sự thật là cả Nguyễn Phúc Bửu Tập và Phạm Tôn đều trích nguyên văn bản mật báo, không bỏ qua ý kiến này.

Giáo sư còn dẫn việc trong cuốn Phạm Quỳnh Tuyển tập và Di cảo xuất bản ở Paris năm 1992, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Phạm Quỳnh “bài thứ 6, nhan đề Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945) cố ý bị bỏ quên” và ý kiến của Nguyễn Văn Trung, Phạm Khắc Hòe để đi đến kết luận là “tóm lại, việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc và câu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ. Sau đó việc quân Pháp tìm cách trở lại Huế thực hiện âm mưu tái chiếm Đông Dương của chính phủ De Gaulle lại khẳng định sự đúng đắn và cần thiết của việc bắt giữ đó”.

Sự thật có khác với điều khẳng định trên của giáo sư. Tuần báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 (ra ngày 9 tháng 12 năm 1945) đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương gửi Toà án Quân sự Thuận Hóa, phần nói về tội của Phạm Quỳnh có ghi “Mặc dù chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9/3/1945 nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”. Ngay từ năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương cũng không nhận định là “quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc câu kết với nhau” như giáo sư khẳng định 63 năm sau khi sự việc xảy ra

Còn việc trong Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo không có bài số 6 thì bà Phạm Thị Hoàn, người giữ bản quyền tập sách đó, năm 1993 về thăm nhà có nói với tôi chỉ vì “bài đó hoàn toàn không có tính văn chương, chỉ như là một đoạn nhật ký ghi lại tỉ mỉ sự việc mà thôi”. Chúng tôi có trong tay bản photocopy toàn bộ tập di cảo đó, viết trong một quyển vở bìa trước có in hình vua Bảo Đại, bìa sau in hình một con rồng ôm chặt lấy quả địa cầu. Bài số 6 nguyên tên là Đêm ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, sau Phạm Quỳnh xóa đi và viết lại lên trên là Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945) viết từ trang 18 đến trang 26. Trong bài Phạm Quỳnh kể lại sự việc xảy ra với mình từ khoảng 9 giờ tối hôm mùng 9 ông đang cùng con trai là Phạm Bích nói chuyện tại tư thất Bộ Lại đến 10 giờ đêm ngày mùng 10 “các cụ Cơ mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan đặc sứ (Yokohama-PT) và thảo tờ Tuyên bố Độc lập”. Bài viết kết thúc bằng câu “đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường”. Trong bài cũng ghi rõ khi Nhật đảo chính thì nhà vua và hoàng hậu còn ở Quảng Trị đến khuya đêm hôm ấy mới về, cho nên người tiếp phó lãnh sự Ishida và một võ quan nữa là Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Lại, người giữ chức vụ cao nhất sau nhà vua. Các bài khác trong tập Hoa Dường Tùy Bút – Kiến văn cảm tưởng I có tên như sau, tất cả đều mang tính văn chương, khác hẳn bài số 6: 1, Thế thái nhân tình; 2, Muốn sống… 3; Chỉ buộc chân voi; 4, Văn học, chính trị; 5, Vô duyên; 7, Con người hiểm độc; 8, Anh chàng khoác lác; 9, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường; 10, Tư tưởng Keyserling; và 11, Cô Kiều với tôi (bài này viết dở dang ở cuối trang 48). Như vậy chứng tỏ không có lý do gì để cho rằng bài đó cố ý bị bỏ quên vì là bằng chứng về việc “Phạm Quỳnh là nhân vật chính mà Nhật tìm đến để liên lạc, đề nghị thương thảo để thuyết phục nhà vua cộng tác với Nhật” như Nguyễn Văn Trung khẳng định và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn dẫn lại đã nhấn mạnh thêm. Chính trong Lời kết cho một cuộc thảo luận Hồn Việt cũng chỉ nói “đã có những hành động chính trị đáng ngờbọn Pháp Nhật cũng tìm cách lôi kéo ông (Hồn Việt17, tháng 11/2008) chứ không khẳng định như giáo sư. Sự hiểu lầm có lẽ tại mấy chữ của người viết lời mở đầu phần Di cảo là in lại trọn vẹn. Nhận ra thiếu sót này, ông Phạm Tuân con trai út của Phạm Quỳnh và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên, khi cho xuất bản tập Giải oan lập một đàng tràng (cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, 2001 tại Hoa Kỳ) đã cho in lại nguyên văn bài này từ trang 433 đến trang 439. Việc “phát hiện ra” thiếu bài này không phải là “công” của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn mà là do một số trí thức Việt Kiều vẫn nhiều năm băn khoăn cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết của Phạm Quỳnh mà họ cho là không đáng chết và tìm cách lý giải việc đó, đã phát hiện ra là sau đảo chính những người Nhật đầu tiên tiếp xúc với Nam triều đã đến gặp Phạm Quỳnh. Sự thật như chúng ta đã biết chỉ vì Bảo Đại đi săn khuya hôm đó mới về, nên sáng hôm sau mới gặp người Nhật. Còn Phạm Quỳnh vì thấy đêm hôm đó và ngày hôm sau có quá nhiều sự kiện liên quan đến những vấn đề lịch sử, cho nên ông thấy cần ghi lại rõ ràng, tỉ mỉ, đủ nhân chứng, để sau này có dịp sẽ tìm hiểu rõ ý nghĩa của những sự việc đó. Cho nên bài không có tính văn chương, chỉ ghi lại đúng sự việc, từ giờ giấc, đến những nhân vật mà không có một lời nào bình luận hoặc nói lên cảm nghĩ của mình.

Ngoài ra việc quân đội Pháp nhảy dù xuống Hiền Sỹ sáng 29/8/1945 và mười ngày sau, một đơn vị lính Pháp lại đổ bộ vào cửa biển Thuận An “để liên lạc với quan lại bản xứ lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương” cũng không liên quan gì đến Phạm Quỳnh. Vì ngay khi đến bắt ông hôm 23/8/1945, sinh viên trường Thanh niên Tiền tuyến – Huế Phan Hàm đã khám xét cẩn thận khắp nhà không hề thấy có điện đài, vũ khí, ngoại trừ một khẩu súng săn của con trai ông là Phạm Khuê lúc ấy đang đi dự mít tinh ở sân vận động Huế. Điều này đã được thiếu tướng Phan Hàm – nguyên là sinh viên Thanh niên Tiền tuyến năm xưa tường thuật rõ trong tư liệu 10 trang viết ngày 8/11/1993 và ban tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận ngày 14/11/1993 mà chúng tôi hiện có trong tay. Như vậy là đúng như Phạm Tôn, Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Xuân Ba và cả Nguyễn Vạn An viết là sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh đã từ quan về ở ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường bên sông nhỏ An Cựu, chuẩn bị trở lại với sự nghiệp văn học mà suốt đời ông yêu quý, trước hết là đọc và lựa chọn rồi dịch nghĩa 51 bài thơ Đỗ Phủ, gửi cho người bạn thân thiết ở phương Nam là thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, rồi bắt đầu khởi thảo Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn Cảm Tưởng I, mới viết đến trang 48, dở dang bài số 11, Cô Kiều với tôi thì được Ủy ban Cách mạng “mời đi họp” để rồi không bao giờ về nữa.

  1. Thật bất ngờ “tội mới” thứ hai của Phạm Quỳnh là “tôi (tức giáo sư Nguyễn Văn Hoàn ngày ấy-PT) hay trò chuyện trao đổi ý kiến với ông (tức Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh-PT), từ vụ ông bị bắt ở Huế đến tạp chí Nam Phongvà Phạm Quỳnh. Có vài ý kiến ông nói hồi đó, tôi không hiểu rõ lắm nhưng cũng không tiện hỏi thêm, chẳng hạn, theo ông, Phạm Quỳnh là một người rất kín đáo và khó hiểu, ông thú nhận là – không thể hiểu nổi Phạm Quỳnh” (trích bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn).
  2. “Tội” thứ 3 mà cũng là tội lớn nhất là “ba tên Việt gian tối nguy hiểmNgô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa” (Nhật báo Quyết Chiến, cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng – Huế, số 88 (ra ngày thứ tư 5/12/1945)) và “Phạm Quỳnh một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột vơ vét tài sản của quốc dân”(Chúng tôi nhấn mạnh-PT) (Tuần báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ số 11 (ra ngày 9 tháng 12 năm 1945)). Chắc giáo sư rất muốn nêu những tội này lên nhưng sau nghĩ kĩ lại thì thấy không ổn nên thôi. Hoặc có phần chắc chắn hơn là Hồn Việt thấy chướng quá, đưa ra vô duyên nên cắt bỏ đi. Tiếc là Hồn Việt số 17 ra muộn hơn mọi khi 2 ngày (thường lệ ra ngày 30; tháng 10 lại có 31 ngày mà ngày mùng một mới ra được) chắc là biên tập vội nên đã để sót ở phần chú thích vẫn còn số “(15) Nhật Hoa Khanh, Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông, tạp chí Xưa và Nay, Hà Nội, số 269, 10/2006”. Thành ra có chú thích số (15) nhưng trong bài chỉ có số (12), (13), (14), sau đó thì nhảy luôn đến (16), hoàn toàn không có chú thích số (15). Hơn nữa, từ 2006 khi đăng bài của Nhật Hoa Khanh công bố tư liệu đăng trên hai tờ Quyết Thắng và Quyết Chiến trên thì Xưa và Nay đã phải viết trong lời tòa soạn in bằng chữ to đậm ở trước bài báo là “vẫn còn một điểm nghi vấn. Đó là hai bài báo được viết vào tháng 12/1945, bốn tháng sau khi Phạm Quỳnh đã bị hành quyết, như vậy để nhằm mục đích gì?” (Tạp chí Xưa và Nay số 269, tháng 10/2006).

Thành ra bài của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn dài hơn bốn trang rưỡi, tên bài là Chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh mà trong suốt bài không có một chữ nào viết về cái chết của Phạm Quỳnh. Có chăng chỉ là ở phần mở đầu có mấy dòng “Sau khi gia đình Ngô Đình Diệm tìm được ngôi mộ chôn chung Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân và Phạm Quỳnh ở khu rừng Hắc Thú, gần Hiền Sĩ thuộc tỉnh Quảng Trị (1956)” (bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn). Lần trước, trong bài Bài báo “mới mà cũ” tôi có ý trách nhà văn Thái Vũ trong suốt ba trang bài báo có đầu đề Về cái chết của ông Phạm Quỳnh (Hồn Việt số 16 tháng 10/2008) mà chỉ viết về cái chết ấy có bảy dòng. Nay thì giáo sư nguyên Viện trưởng Viện Văn học lại còn “cao tay” hơn, không thèm viết lấy một chữ! Giáo sư còn điều gì e ngại chăng…?. Tất cả lập luận của ông về âm mưu liên lạc, câu kết chờ Nhật, Pháp, cứ cho là đứng vững đi nữa thì cũng chỉ đủ đến mức bị coi là “những hành động chính trị đáng ngờ” như Hồn Việt mới viết đây thôi, tức là bị nghi vấn, có thể bị bắt tạm giam, nhưng không đủ để đem đi giết, mà lại giết một cách dã man, chém nứt sọ bằng cuốc xẻng rồi mới bắn ba phát súng vào lúc đêm khuya, bên rừng vắng?!

Thật tình đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn nặng tính chất “xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm”, chúng tôi không có ý muốn đáp lại, nhưng đọc đến phần cuối thì lại thấy nên nói vài điều vì giáo sư viết “khi nói về người đã chết thì phải hết sức thận trọng, phải hết sức khách quan và trung thực, không được vì một động cơ cá nhân nào mà cố ý nói sai sự thật, dù theo hướng tô hồng hay bôi đen; hơn nữa cần nhớ rằng: trong lĩnh vực lịch sử và khoa học xã hội nói chung, dù có thiện chí cũng rất khó nắm bắt được chân lý chính xác trăm phần trăm. Trên tinh thần đó, tôi thành thật mong nhận được sự giám định và bổ sung tư liệu của đông đảo bạn đọc” (bài đã dẫn của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn).

Tôi cũng xin thành tâm cố gắng “giám định và bổ sung tư liệu” cho bài của giáo sư như trên. Mong giáo sư vui lòng nhận cho tấm lòng thành của tôi.

Phạm Tôn

30.11.2008

Chuyen mot dem mot ngay

Phần đầu bản thảo viết tay của Phạm Quỳnh bài số 6 – Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945). Ở trang 18 tập Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn Cảm Tưởng I

 

Mấy phản hồi về một bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn

Filed under: 1 — phamquynh @ 2:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 4 năm 2015.

MẤY PHẢN HỒI VỀ MỘT BÀI VIẾT CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN HOÀN

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài của giáo sư Nguyễn Văn Hoàn Góp thêm một ít tư liệu chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh được dùng làm bài kết thúc cuộc Thảo luận về Nguyễn Văn Vĩnh – Phạm Quỳnh trên tạp chí Hồn Việt năm 2008, sau đó đã được giáo sư cho đăng toàn văn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 11 cùng năm, lấy lại tất cả những phần bị tổng biên tập Hồn Việt cắt bỏ. Sau đó toàn văn bài này được Blog PhamTon đưa lên mạng.

Tình cờ lướt mạng, chúng tôi ghi được mấy phản hồi, xin mời bạn đọc xem qua để rộng đường dư luận. Đơn cử ba phản hồi như sau:

Phản hồi 1 như sau:

“Đọc bài này, độc giả nghĩ Phó giáo sư Nguyễn Văn Hoàn sẽ đưa ra những “tư liệu” mới về trường hợp của Phạm Quỳnh. Đọc xong thật thất vọng. Những “tư liệu” này chỉ là mượn một chút của Gs Nguyễn Văn Trung (công bố từ 1975), lấy lời kể của ông Phạm Khắc Hòe ( cũng chẳng có bản ghi câu nói của Phạm Quỳnh với vua Bảo Đại làm bằng chứng). Những thứ đó chẳng thể được gọi là “tư liệu”.

Có lẽ tác giả “bức xúc” trước những hoạt động xuất bản, báo chí gần đây nhằm khôi phục lại “giá trị” của Phạm Quỳnh về cả văn học lẫn chính trị nên viết một bài lủng củng, kể lể tản mạn, lung tung cả về thứ tự thời gian của các “tư liệu” lẫn ý tưởng, không xứng với ngòi bút của một học giả lớn của nước ta, chăng?”

Phản hồi 2 gửi lúc 8:15 sáng 08/01/2010, như sau:

“Bài này tôi đưa lên để rộng đường dư luận, vì nội dung của nó cũng còn nhiều vấn đề:

– Tác giả đồng ý rằng Phạm Quỳnh đã chết dưới tay chính quyền cách mạng, cụ thể là Uỷ ban Khởi nghĩa.

Tác giả không có bằng chứng gì để xác định Phạm Quỳnh quan hệ với Pháp, ngoài trừ Pháp thả một nhóm xuống Hiền Sĩ, và nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan lại bản xứ [cụ thể là ông nào? bà nào?] để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.

– Ở phần đầu, tác giả đưa ra một số dẫn chứng rằng Pham Quỳnh có quan hệ với quân Nhật. Ông Phạm Quỳnh tỏ ra ủng hộ Nhật, một kẻ thù của Pháp.

– Thế nhưng phần sau, chính tác giả lại dẫn lời Ủy ban Khởi nghĩa tuyên án Phạm Quỳnh, để hàm ý rằng Phạm Quỳnh đáng chết:

Phạm Quỳnh, một tay cộng sự của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mại quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta“.

Hóa ra ông Phạm Quỳnh bị cách mạng kết tội chết vì thân Pháp, nhưng thực tế là ông ta lại thân Nhật? Là một độc giả bình thường, tôi cũng phải đặt câu hỏi: Có gì sai trong bản kết tội của Ủy ban Khởi Nghĩa đối với ông Phạm Quỳnh không? Liệu kết luận của tác giả trong bài có hợp lý không? Liệu cái chết của ông Phạm Quỳnh là “đúng người, đúng tội”, hay là “oan uổng”?

Phản hồi 3 của tác giả Nguyễn Ước (nguyenuoc@yahoo.com), gửi lúc 09:32 sáng 7/1/2010 viết:

“Trong bài này Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn cho biết ông đã lưu ý tới vấn đề Phạm Quỳnh trong gần 50 năm (từ 1960 tới nay), thế nhưng có hai điểm xin vui lòng “nghiên cứu” lại:

  1. Phạm Quỳnh chết tại làng Cổ Bi, gần ga xe lửa Hiền Sĩ, thuộc xã Phong An, quận Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, không phải thuộc tỉnh Quảng Trị. Chi tiết này đã được khá nhiều tài liệu đề cập tới.
  2. Từ Huế đi theo đường quốc lộ 1, khoảng 20 cây số, qua cầu An Lỗ bắc ngang sông Bồ, rẽ về tay mặt, theo đường đất, đi tiếp khoảng 2 cây số là tới ga Hiền Sĩ, nằm kế cầu xe lửa Hiền Sĩ, cũng bắc ngang sông Bồ. Từ cầu An Lỗ tới nhà ga Hiền Sĩ không có cánh rừng nào. Hiền Sĩ cũng là địa danh của một làng thuộc xã Phong An, Phong Ðiền, Thừa Thiên mà lúc xảy ra vụ Phạm Quỳnh, được Ủy ban Khởi nghĩa gọi là tỉnh Nguyễn Tri Phương. Tôi biết rõ địa hình vùng này vì tôi sống ở An Lỗ hơn 10 năm, và năm 1956, từng đi xem vụ khai quật mộ phần của Phạm Quỳnh, Ngô Ðình Khôi và Ngô Ðình Huân.”

Trên quê hương yêu dấu (phần 16)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 3 tháng 4 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

* Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 3/4/2015:

Tư liệu mới về Hồ Chủ tịch trên báo Cứu Quốc

NXB Văn Hóa – Văn Nghệ đã ấn hành quyển sách Một số tư liệu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên báo Cứu Quốc do ông Vũ Văn Sạch – từng công tác trong CụcBao cuu quoc Văn thư và lưu trữ nhà nước – sưu tầm và chỉnh lý.

(…)

Những tư liệu này, theo nhìn nhận của tác giả, “đều do người đương thời viết ra và được người đương thời kiểm chứng, có những giá trị “thực lục” không thể phủ nhận”.

Có cả thảy 69 tư liệu được đánh số thứ tự trong toàn tập sách, trong đó có loại tư liệu mang nhiều ý nghĩa, như tư liệu số 62 về cuộc họp Hội đồng Chính phủ(Cứu Quốc số 2154 ra ngày 30-8-1952) có nội dung “Chỉnh đốn việc tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo”.

Bài Phụ ghi theo đó cho biết về nội dung này, Bộ Canh nông đã ra một thông tư, trong đó lưu ý cần điều tra những ruộng đất của Việt gian bị xử tử hồi khởi nghĩa 1945 nhưng chưa có quyết định tịch thu tài sản thì “cần đề ra với cơ quan tư pháp để xét xử quyết định nốt về tài sản của Việt gian ấy, rồi cũng đem tạm cấp những ruộng đất bị tịch thu”.

Bình luận về điều này trong Lời bạt của sách, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh viết: “Ý thức pháp lý về quyền sở hữu cá nhân ở đây rõ ràng khác xa lối hành xử dùng bạo lực chính trị bất chấp luật pháp để tịch thu, sung công tài sản cá nhân phổ biến ở một số thời điểm sau 1954.

Tôi nghĩ rằng những người nghiên cứu rất cần biết tới những tư liệu loại này, vì qua đó chúng ta có thể thấy rõ thêm một khía cạnh trong quá trình phát triển của Nhà nước dân tộc độc lập ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945”.

Ngoài ra, cũng từ báo Cứu Quốc, có một số thông tin về xuất xứ các bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được “nói lại cho rõ”.

Ðáng kể là trường hợp bài thơ Hồ Chủ tịch tặng cụ Võ Liêm Sơn, trước đây có nhà nghiên cứu cho rằng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (từ ngày 16 đến 22-7-1948), cụ Võ gặp cụ Hồ, và dẫn lời nhà thơ Huy Cận rằng: Sau khi cụ Võ Liêm Sơn trở về, Bác Hồ ngồi làm thơ. Viết xong, Bác bảo đồng chí liên lạc phóng ngựa đuổi theo đưa tặng cụ bài thơ Tặng Võ công.

Tuy nhiên, theo bài báo Tôi đi thăm Hồ Chủ tịch (Cứu Quốc số 1071, ngày 21-10-1948) do chính cụ Võ Liêm Sơn viết thì sau khi từ biệt Hồ Chủ tịch, “tôi sang bên Bộ Nội vụ được ba ngày thì Cụ gửi sang một cái danh thiếp sau có đề bài thơ: Hoài Liêm Sơn lão tiên sinh, như vậy là khác xa với lời thuật trước kia.

Tất nhiên, tập sách này cũng chỉ mới chọn lọc một số tư liệu về Hồ Chủ tịch từ báo Cứu Quốc theo tinh thần “xây dựng hệ thống tư liệu phục vụ việc tìm hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng cũng như lịch sử Việt Nam thời gian 1945-1954 nói chung”, vẫn còn nhiều tư liệu cùng loại từ báo Cứu Quốc chưa được tuyển chọn, cũng như việc khảo cứu và chú giải các tư liệu từ nguồn này cũng cần phải tiếp tục, bởi đây là công việc mà nói như nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: “Nếu con người không minh bạch với lịch sử thì lịch sử cũng không thể công bằng với con người”.

Lam Điền

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/4/2015:

Bên dòng kênh mới hồi sinh

Ghi chép của phóng viên Báo Nhân Dân

Dương Minh Anh

Một tin vui đầy ý nghĩa với đông đảo người dân TP Hồ Chí Minh là Dự án “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm” vừa được khánh thành, chào mừng 40 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Không chỉ cải tạo bộ mặt đô thị, dự án quan trọng này còn giúp hơn 6,3 triệu người nâng cao chất lượng cBen dong kenh moi hoi sinhuộc sống, trong đó hơn 1,2 triệu người được hưởng lợi trực tiếp từ dự án thông qua các công trình hạ tầng tiện ích.

Sau ngày giải phóng miền nam, do điều kiện kinh tế khó khăn, số lượng người nhập cư vào TP Hồ Chí Minh tăng cao cho nên không ít người dân đã chọn con kênh Tân Hóa – Lò Gốm làm nơi cư ngụ. Nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất cũng góp phần làm dòng kênh xanh khi xưa trở thành dòng nước đen với hàng nghìn căn nhà tạm bợ, nhếch nhác. Mười năm trước, với quyết tâm cải tạo bộ mặt đô thị, góp phần thay đổi cuộc sống người dân ven kênh Tân Hóa – Lò Gốm, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình Nâng cấp đô thị TP (HUUI) nhằm cải thiện các công trình dân sinh và hạ tầng xã hội trên địa bàn thông qua nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới, trong đó có Dự án “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm”.

Giám đốc HUUI Lê Thanh Liêm nhớ lại quãng thời gian giải phóng mặt bằng, tái định cư (phức tạp và kéo dài nhất) đối với hơn 12 nghìn hộ dân, trong đó có hộ bị ảnh hưởng một phần và có hộ phải giải tỏa toàn bộ. Vì nhận thấy môi trường quá ô nhiễm, hoàn cảnh cư ngụ ẩm thấp, chật chội nên không có hộ dân nào mà HUUI phải dùng biện pháp cưỡng chế. Hơn 458 căn chung cư và nền đất được bố trí cho bà con cùng với việc 969 hộ nhận tiền để tự lo nơi ở mới, đã là một thành công trong công tác vận động tuyên truyền. Không chỉ thế, các hộ dân bị ảnh hưởng một phần nhà cửa, kiến trúc còn đóng góp bằng giá trị đất của bà con bị thu hồi với tổng giá trị hơn 552 tỷ đồng… Thế rồi chỉ trong vài năm, hàng loạt cây cầu (tổng số 12 cầu) như cầu Bông, cầu Hậu Giang, cầu Lê Văn Sỹ, cầu Kiệu… được thi công đã tạo mỹ quan và giải quyết ùn tắc giao thông kịp thời.

Ðể có đường kết nối dự án, HUUI còn xây hơn 11,8 nghìn m đường giao thông kết nối các tuyến đường huyết mạch phía tây thành phố; tạo bốn khu cảnh quan cho người dân vui chơi giải trí với tổng diện tích hơn 14 nghìn m vuông; xây lắp gần tám nghìn mét cống bao thu gom nước thải, kiểm soát tình trạng ngập nước cục bộ; nạo vét 300 nghìn m khối bùn, khơi thông dòng chảy 7 km, tạo sự thông thoáng cho môi trường, mang lại bầu không khí trong lành dọc toàn bộ tuyến kênh…

(…)

Có mặt và cùng chung vui với nhân dân TP Hồ Chí Minh để ghi nhận sự thay da đổi thịt bên dòng nước trong xanh với những hàng cây đang từng ngày vươn lên cùng sự phát triển của thành phố, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi dọc một đoạn kênh (khu vực quận 6) để chứng kiến sự hồi sinh của kênh Tân Hóa – Lò Gốm. Một dòng kênh “chết” năm nào nay hồi sinh với những đoạn nước trong xanh có ghe thuyền qua lại; đoạn lại có bờ kè phẳng phiu, đoạn có cầu bắc qua kênh, có giếng tách dòng, cống bao; đoạn thì xây dựng cống hộp và đường trên cống hộp… Những công trình nêu trên kéo theo việc nâng cấp đồng bộ hệ thống hạ tầng cơ sở ở 96 khu dân cư thu nhập thấp. Có 6.305.589 người được hưởng lợi từ dự án, trong đó có 1.281.055 người được hưởng lợi trực tiếp thông qua các dịch vụ hạ tầng tiện ích như bệnh viện mới, trường học mới, mở rộng hẻm, chỉnh trang nhà ở.

(…)

Theo Giám đốc HUUI Lê Thanh Liêm, dự án đã tạo quỹ gần 350 tỷ đồng (có sự hỗ tọư của nhiều tổ chức, Truong Tan Sang du le khai truong kenh lo gomnhiều quỹ, ngân hàng…) để hỗ trợ người dân vay vốn làm ăn, sửa chữa nhà ở, sử dụng nước sạch. Bên cạnh đó là trả lại mạng lưới đường thủy và kênh thoát nước thông thoáng, môi trường văn minh hiện đại. Dự án được Ngân hàng Thế giới tài trợ gần 129 triệu USD để cải thiện tình trạng ô nhiễm và giải quyết ngập lụt cho lưu vực kênh Tân Hóa – Lò Gốm với diện tích gần 19 km2, trả lại cho nhân dân TP Hồ Chí Minh một cuộc sống ý nghĩa hơn, tích cực hơn và đầy nhân văn!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vui mừng nhận thấy, sau 10 năm, dự án hoàn thành đã tạo được bước chuyển biến lớn, làm thay đổi diện mạo các quận nghèo vùng ven trước đây, nay trở thành nơi có cảnh quan kiến trúc theo hướng hiện đại, thông thoáng và sạch đẹp; môi trường sống của người dân được tốt hơn, giá trị các ngôi nhà, đất của bà con được tăng thêm, điều kiện kinh tế hàng nghìn hộ gia đình được cải thiện rõ rệt…

Chủ tịch nước đã trồng cây lưu niệm ở nơi dự án đi qua (tại Công viên Phạm Văn Chí, phường 10, quận 6) và trao Huân chương Lao động hạng Nhì tặng HUUI. Cùng có mặt trong dịp này, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải và Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân cũng bày tỏ niềm vui và sự hạnh phúc rất lớn. Khi được hỏi về cảm nghĩ của mình, các đồng chí chỉ cười mà không bình luận nhiều. Riêng Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh Võ Văn Thưởng chia sẻ: “Các nhà báo hãy hỏi nhân dân. Niềm vui của bà con chính là câu trả lời, là “thước đo hài lòng” đối với Ðảng bộ, chính quyền thành phố”.

D.M.A.

 * Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/4/2015:

Kỷ niệm 445 năm Ngày mất Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm

Sáng 6-4, tại Khu di tích Phủ Trịnh ở xóm Thẳng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ kỷ niệm 445 năm Ngày mất Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm sinh ra, lớn lên ở làng Biện Thượng, nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. Ông là người khởi dựng giúp nhà Lê trung hưng trong thế kỷ 16, đồng thời là người đã dâng biểu xin Vua Lê đưa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, tạo tiền đề cho công cuộc khai hoang, mở cõi xuống phương nam, chinh phục đảo xa, định hình cương vực của đất nước như ngày nay.

PV

Hơn 1.600 du khách tàu biển đến Thừa Thiên – Huế

Sáng 6-4, tàu biển du lịch cao cấp Celebrity Millennium (quốc tịch Man-ta) chở theo hơn 1.600 du khách quốc tế và thuyền viên (đa số mang quốc tịch Mỹ, Ca-na-đa, Anh, Ô-xtrây-li-a…) cập cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế). Ðây là lần thứ hai tàu du lịch biển cao cấp này cập cảng Chân Mây kể từ đầu năm 2015 đến nay. Du khách đã được các đơn vị du lịch tại Huế, Ðà Nẵng đưa đi tham quan các danh thắng, di sản văn hóa thế giới và thưởng thức ẩm thực, mua sắm tại cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An và TP Ðà Nẵng… Năm 2015, dự kiến có hơn 40 chuyến tàu du lịch quốc tế đăng ký cập cảng Chân Mây với khoảng 67 nghìn du khách và 29 nghìn thủy thủ đoàn.

PV

 * Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 3/4/2015:

Lễ hội hoa anh đào Hạ Long 2015

Tối ngày 2/4, tại thành phố Hạ Long, Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Long phối hợp với Hiệp hội Văn hóa quốc tế Wanokai Nhật Bản, các đơn vị, doanh nghiệp của Nhật Bản và Việt Nam đã tổ chức Lễ hội hoa anh đào Hạ Long 2015.

Với chủ đề “Hòa bình – Thịnh vượng – Hợp tác và Phát triển”, Lễ hội hoa anh đào Hạ Long 2015 là hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; 60 năm Ngày giải phóng Khu mỏ và 42 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Nhật.

Theo Ban Tổ chức, phía Nhật Bản mang đến 500 cành hoa anh đào từ Okinawa, trong đó có 15 cây anh đào thuộc loại hoa kép, mỗi cây cao từ 2.5 đến ba mét, có tán rộng để trưng bày tại Quảng trường 30/10.

Sau phần nghi lễ là phần trao hoa anh đào tượng trưng của học sinh vùng đông bắc Nhật Bản cho các em học sinh thành phố Hạ Long và màn giao lưu văn hóa nghệ thuật với các tiết mục ca, vũ nhạc Việt – Nhật; trình diễn trang phục truyền thống, hiện đại của Việt Nam – Nhật Bản; trình chiếu ánh sang laze nghệ thuật…

PV

Ghép thành công tế bào gốc từ máu dây rốn cộng đồng

Ngày 2/4, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương (HH – TM TƯ) công bố thực hiện thành công ca ghép tế bào gốc (TBG) từ máu dây rốn cộng đồng cho người bệnh Hoàng Thị Thùy Linh, 28 tuổi (TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Sau 90 ngày, kể từ ngày được ghép TBG, người bệnh đã trở lại với hoạt động bình thường và không cần truyền máu; các chỉ số xét nghiệm đều thể hiện mảnh ghép TBG dây rốn đã phát triển ổn định… GS, TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng HH – TM TƯ cho biết, Linh mắc bện Lơ-xê-mi cấp thể M5a (ung thư máu), cần phải ghép sớm, nếu không có thể người bệnh sẽ mất đi cơ hội được cứu sống. Trước đó, em trai của người bện đã sẵn sang hiến TBG để gép cho chị gái, nhưng hai chị em không phù hợp về HLA (kháng nguyên bạch cầu). Trước đây, khi chưa có Ngân hang TBG, thì cơ hội ghép TBG cho Linh là gần như không có…

PV

* Tin trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 2/4/2015:

Tranh màu nước của họa sĩ 3 nước

22 họa sĩ đến từ ba nước Việt Nam, Malaysia, Thái Lan lần đầu tiên quy tụ trong một triển lãm có tên Tranh màu nước khai mạc vào chiều 1/4 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Mot goc trien lam

Triển lãm có sự góp mặt của 11 họa sĩ Việt Nam, 2 họa sĩ Thái Lan và 9 họa sĩ đến từ Malaysia với 46 tác phẩm chuyên đề trành thuốc nước – một loại màu nước được pha chế sẵn. Triển lãm xuất phát từ ý tưởng của các họa sĩ Malaysia với mong muốn các họa sĩ sẽ dung nguyên liệu thuộc nước này thường xuyên hơn, chuyên nghiệp hơn, thay vì chỉ dung ít ỏi để phác thảo tranh. Triển lãm kéo dài đến hết ngày 7/4 tại bảo tang. Các họa sĩ sẽ tiếp tục mở các triển lãm khác ở Malaysia.

Huệ Chi – Mai Thường

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 7/4/2015:

2 tàu khu trục Hoa Kỳ thăm Đà Nẵng

Sáng 6-4, hai tàu chiến thuộc Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ đã ghé cảng Tiên Sa thăm TP Đà Nẵng.

Hai tàu gồm tàu khu trục có tên lửa dẫn đường USS Fitzgerald (DDG 62) và tàu tác chiến gần bờ thế hệ mới USS Fort Worth (LCS 3).

Sĩ quan cao cấp phụ trách hai con tàu này là Đại tá Lê Bá Hùng, người Mỹ gốc Việt, nguyên là hạm trưởng tàu USS Lassen (DDG 82), từng ghé thăm Đà Nẵng năm 2009.

Đại diện của chính quyền TP Đà Nẵng và Vùng 3 Hải quân đã đón tiếp thủy thủ đoàn.

Tàu USS Fort Worth là thế hệ thứ hai của lớp Fredoom, loại tác chiến gần bờ (LCS), và là một trong những tàu chiến tối tân và hiện đại nhất hiện nay.

Nhiệm vụ của tàu Fort Worth cũng như sĩ quan, thủy thủ của tàu là sẵn sàng thực hiện các hoạt động tác chiến nhanh và kéo dài trên biển nhằm hỗ trợ cho chính sách của Hoa Kỳ.

Thiết kế của tàu cho phép đánh bại các đe dọa trên biển, tiếp cận và khống chế khu vực tác chiến. Fort Worth có các khả năng chiến đấu và độ linh hoạt cao trong hoạt động với các nhiệm vụ tập trung như phá mìn, tác chiến chống tàu ngầm và tác chiến chống tàu nổi.

Tàu Fort Worth được xây dựng bởi Tập đoàn Marinette Marine Corporation tại Marinette, Winscosin. So với loại tàu LCS đầu tiên, Fort Worth đã có các cải tiến như độ nổi tăng lên, sức chứa nhiên liệu tăng hơn 10% và tăng thêm chiều dài. Các cải tiến này làm tăng vận tốc cũng như tính hiệu quả của tàu.

Còn tàu USS Fitzgerald thuộc lớp Arleigh Burke. Tàu có thTau khu truc Hoa Ky tai da nangể phóng tên lửa SM-3, vũ khí phòng vệ của hải quân Mỹ do công ty Raytheon sản xuất để tiêu diệt các tên lửa đạn đạo tầm trung.

USS Fitzgerald được thiết kế với mục đích phòng vệ. Toàn bộ tàu được làm bằng thép và sử dụng động cơ tuabin khí.

Tàu dài 154m, rộng 20m, mớn nước 9,4m, tốc độ lên đến 56 km/g và tầm hoạt động hơn 8.000 km.

USS Fitzgerald được trang bị nhiều loại radar, thiết bị phục vụ chiến tranh điện tử, các bệ phóng tên lửa, hai ống phóng ngư lôi, 4 súng caliber 50 cỡ nòng 12,7 mm, 2 pháo phòng thủ gần Phalanx CIWS 20 mm.

Đây là hoạt động ngoại giao giữa hải quân hai nước nằm trong hoạt động giao lưu hải quân thường niên lần thứ 6 nhân dịp hai nước đang kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Chương trình kéo dài trong 5 ngày này, tập trung vào một loạt các sự kiện phi tác chiến và các hoạt động trao đổi kỹ năng về quân y, tìm kiếm và cứu nạn, an ninh hàng hải. Các trao đổi chuyên môn sẽ tập trung vào lĩnh vực hàng hải, kiểm soát thiệt hại trên tàu, giải cứu tàu ngầm…

Ngoài ra, các hoạt động khác bao gồm các buổi hòa nhạc, các hoạt động phục vụ cộng đồng và giao lưu thể thao. Hoạt động giao lưu trên biển sẽ cho phép tàu của hải quân hai nước thực hành Bộ Quy tắc ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển, các kỹ thuật tìm kiếm và cứu nạn, và cách điều khiển tàu.

Phát biểu tại buổi họp báo nhanh trên tàu, đại tá Lê Bá Hùng chia sẻ: “Tôi rất vui khi lần thứ 2 trở lại Việt Nam. Chúng tôi trông đợi được làm việc với Hải quân nhân dân Việt Nam trong những ngày sắp tới. Đợt giao lưu này sẽ có nhiều điểm nổi bật, một trong những hoạt động ý nghĩa nhất là thực hành giao lưu, Bộ quy tắc ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển. Đồng thời thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa hải quân hai nước”.

Nói về sự trở lại Việt Nam và tình cảm dành cho quê hương mình, đại tá Lê Bá Hùng nhấn mạnh rằng: “Việt Nam là một phần trong trái tim tôi”.

* Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 27/3/2015

Nhiều đêm nhạc nhớ Trịnh Công Sơn

20g ngày 27-3, tại Heritage Space (28 phố Trần Bình, Hà Nội), giọng hát Giang Trang sẽ hòa cùng Thanh Phương (phối khí, guitar), Vân Trang (đàn tranh), Lê Thư Hương (sáo), Trọng Kiều (piano) trình diễn đêm nhạc Hạ huyền 2. 

TDem nhac tuong nho Trinh Cong Sonưởng nhớ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, trong đêm nhạc này Giang Trang sẽ hát:Gọi tên bốn mùa, Góp lá mùa xuân, Ru em từng ngón xuân nồng, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Nhìn những mùa thu đi, Trong nỗi đau tình cờ, Người mẹ Ô Lý, Chờ nhìn quê hương sáng chói… Hạ huyền 2 cũng là tên của album với 12 ca khúc của nhạc sĩ họ Trịnh. Sau đêm diễn này, Hạ huyền 2 sẽ tiếp tục đến Pháp và Ðức trong tháng 4.

Cũng trong dịp này, vào 20g ngày 4-4 tại Cung văn hóa Hữu nghị Hà Nội, Công ty Ðông Ðô Show phối hợp với Nhà hát Nghệ thuật đương đại VN tiếp tục thực hiện đêm nhạc 14 năm nhớ Trịnh Công Sơn.

Tham gia đêm nhạc, hai ca sĩ phương Nam là Cẩm Vân và Ðức Tuấn sẽ cùng hiện diện. Ðặc biệt, lần đầu tiên khán giả Hà Nội sẽ có dịp thưởng thức nhạc Trịnh qua ngón đàn của Thế Vinh – nghệ sĩ chơi guitar một tay.

* Trong khi đó, tại TP.HCM gần như không có chương trình nhạc Trịnh lớn nào được tổ chức đúng dịp giỗ 14 năm của nhạc sĩ. Như Tuổi Trẻ đã đưa tin trên số báo ngày 14-3, chương trình ca nhạc do gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tổ chức hằng năm vào đúng dịp giỗ của ông năm nay sẽ đến trễ hơn một tháng. Lý do trễ là vì sẽ có đến bốn đêm nhạc tại bốn thành phố: TP.HCM (2-5), Bạc Liêu (9-5), Hà Nội (16-5) và Huế (23-5) thay vì chỉ một đêm tại TP.HCM như mọi năm nên cần nhiều thời gian để chuẩn bị.

Tuy nhiên như thường lệ, vào đúng ngày giỗ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1-4), nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP.HCM, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cư ngụ lúc sinh thời, sẽ mở cửa cho tất cả người hâm mộ đến thăm viếng từ 6g-16g.

Một chương trình viếng mộ nhạc sĩ tại nghĩa trang Gò Dưa cũng sẽ được câu lạc bộ những người yêu nhạc Trịnh tổ chức cùng ngày, khởi hành tại 47C Phạm Ngọc Thạch lúc 7g30. Cũng tại địa điểm trên vào 10g sẽ có buổi trao giải thưởng cuộc thi “Nhạc Trịnh trong tôi 2015” với chủ đề “Nối vòng tay lớn” do gia đình nhạc sĩ và báo điện tử Một Thế Giới đồng tổ chức.

Đức Triết – Q.N.

* Tin trang 10 báo Tuổi Trẻ ngày 7/4/2015:

Hội An gắn bia cây cổ thụ

Cây được chọn gắn bia là cây đa – thường được gọi là cây da kèn – nằm ở góc đường Trần Cao Vân – Trần Hưng Ðạo

Cây da kèn này đã có từ hàng trăm năm trước với chiều cao hơn 20m, bề ngang có nơi rộng đến hơn 4m.

Thời Pháp thuộc, nơi đây các lính lê dương thường tập thổi kèn đánh thức và báo ngủ cho doanh trại nên dân gian gọi là cây da kèn.

Cay da ken va tam bia thong tin ve lai lich cay

Ðây là một trong chín cây đa nằm trong hơn 50 cây cổ thụ với 11 chủng loại được chính quyền Hội An ghi vào danh mục cây cổ thụ được bảo vệ nghiêm ngặt.

Cùng với việc gắn bia thông tin về lai lịch cây, dưới gốc cây TP Hội An còn bố trí hai điểm lát đá xanh bậc cấp tạo chỗ ngồi nghỉ mát cho người dân và du khách. Nguồn vốn đầu tư được xã hội hóa từ hai doanh nghiệp.

H.DUY

 * Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 31/3/2015:

Chương trình “Vì ngày mai phát triển” lần 392:

Trao học bổng và xe đạp cho 200 học sinh vượt khó

Lễ trao học bổng “Ngăn dòng bỏ học” và trao tặng xe đạp cho 200 học sinh nghèo vượt khó, học giỏi do báo Tuổi Trẻ và  Tỉnh đoàn Bình Định đã diễn ra tối 30-3.

Tham dự lễ trao học bổng, phó chủ tịch UBND tỉnhTrao hoc bong cho hoc sinh Bình Định Ngô Đông Hải bày tỏ sự cảm kích đối với báo Tuổi Trẻ, Tỉnh đoàn Bình Định và nhà tài trợ là Công ty CP thực phẩm dinh dưỡng Nutifood đã triển khai chương trình này.

100 suất học bổng (mỗi suất trị giá 2 triệu đồng) và 100 chiếc xe đạp (mỗi chiếc trị giá 1,5 triệu đồng) được trao cho 200 học sinh, tổng kinh phí của chương trình là 400 triệu đồng do Công ty CP thực phẩm dinh dưỡng Nutifood tài trợ.

“Tôi cũng là một người con Bình Định, cũng có một tuổi thơ đầy kỷ niệm tuyệt vời từ quê nhà ra đi, trong tâm tưởng luôn hướng về quê hương và thông qua báo Tuổi Trẻ tổ chức chương trình cũng nhằm mục đích đó. Tôi chúc mừng các em tuy nghèo khó những giàu nghị lực, chúc các em một tương lai tươi sáng” – Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty CP thực phẩm dinh dưỡng Nutifood Trần Thanh Hải phát biểu tại buổi lễ.

Bên cạnh chương trình học bổng, sáng 31-3, báo Tuổi Trẻ, Tỉnh đoàn Bình Định sẽ phối hợp cùng UBND huyện Phù Cát khởi công nâng cấp Công viên Ngô Mây tại thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định với tổng kinh phí hơn 1 tỉ đồng, trong đó Công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng Nutifood thông qua báo Tuổi Trẻ TP.HCM đóng góp kinh phí 750 triệu đồng.

* Bài trang Hồ Chí Minh báo Nhân Dân ngày 20/3/2015:

“Hội Lim” ở phương Nam

Thành Luân

Chỉ diễn ra vỏn vẹn một ngày, “Hội Lim phương nam” tại TP Hồ Chí Minh vẫn nhận được nhiều thiện cảm của người dân thị thành, cũHoi Limng như trở thành một “món ăn” tinh thần đầy bất ngờ đối với những người con xứ Kinh Bắc đang làm ăn xa quê…

“Hội Lim phương nam” lần thứ nhất là sự kiện văn hóa thú vị được Hội đồng hương tỉnh Bắc Ninh tại TP Hồ Chí Minh tổ chức tại Công viên Lê Thị Riêng vào ngày 14-3 vừa qua. Hội Lim truyền thống đã khai mạc ở thị trấn Lim, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) gần hai tuần trước đó. Lâu nay, hội Lim được xem như sự kết tinh độc đáo của vùng văn hóa Kinh Bắc, đã được duy trì qua suốt chiều dài lịch sử. Thành ra, việc tái hiện một hội Lim tương tự hội Lim “gốc” giữa thủ phủ của phương nam đã được chú ý.

Ở một không gian khiêm nhường ấy, người ta được thưởng thức đầy đủ trò chơi dân gian lạ mắt, nào là đu tiên, đánh vật, đập niêu, chọi gà, nhảy bao bố, cho đến thi cờ người, bịt mắt bắt dê, chơi tổ tôm, bình thơ, thư pháp,… Tất cả đều rất lạ mắt, gây tò mò đối với những người thành thị, trong khi chính những người gốc xứ Kinh Bắc cũng không khỏi trầm trồ, hứng thú. Ai cũng vui vẻ, sảng khoái và cảm thấy được giải trí, thư giãn trong một ngày nghỉ cuối tuần.

Nhìn rộng ra, tái hiện “Hội Lim phương nam” đã đi đúng và trúng vào chuỗi hành động bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể dân ca quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO công nhận từ ngày 30-9-2009. Vì là một tài sản văn hóa vô giá được biểu diễn tại hội Lim mỗi năm, đã trở nên quen thuộc với những biểu tượng liền anh, liền chị, tà áo tứ thân, những câu quan họ tình tứ, sâu lắng,… nên Hội đồng hương Bắc Ninh tại TP Hồ Chí Minh cũng đồng thời tạo thêm được một sân chơi tinh thần rất ý nghĩa cho những người Bắc Ninh xa quê. Điều này là rất cần thiết trong bối cảnh nhiều người phải tha hương mưu sinh.

(…)

T.L.

Tháng Tư 4, 2015

Bạn hỏi chúng tôi trả lời

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 2:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 4 năm 2015.

 BẠN HỎI CHÚNG TÔI TRẢ LỜI

5:34 sáng 14/9/2012, bạn Bun Thoong thư điện tử thongtranphucs@yahoo.com.vn có gởi cho chúng tôi email sau: “Tôi nghe nói ngày 11/3/1945 Bảo Đại có đọc một bản tuyên ngôn độc lập do cụ Phạm Quỳnh soạn có đúng không? Nội dung thế nào? Phạm Tôn cho biết với.”

Sau thời gian tìm kiếm tư liệu, nay về việc bạn hỏi, chúng tôi xin cung cấp hai tư liệu như sau:

I/ Phần trích từ sách Việt Nam 1945-1995 của Giáo sư Lê Xuân Khoa, do Nhà xuất bản Tiên Rồng, Hoa Kỳ in năm 2009

Đến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự Tiền Văn Phòng (Thực ra là Thượng Thư Bộ Viet nam 1945-1995Lại – PT chú) (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Đại. Chính phủ  Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập” Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập có thể chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ Ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai”, Bộ Tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chánh được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy”. (Masayuki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề “Mémoires personels écrits en réponse au questionnaire des autoriés françaises de Hué sur les événements en Indochine en Mars 1945 (Hồi ký cá nhân viết để trả lời bản câu hỏi điều tra của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự kiện xảy ra ở Đông Dương tháng 3/1945)

L.X.K.

II/ Phần trích trong trang 162 bản dịch của Nguyễn Phước Tộc sách Con Rồng Việt Nam (Nguyên văn tiếng Pháp là S.M. Bao Daï Le Dragon D’Annam do Nhà xuất bản Plon, Pháp, in năm 1997) là hồi ký đứng tên tác giả là vua Bảo Đại:

“Đây là lần đầu tiên, một tuyên ngôn được toàn thể nhânLe Dragon D'Annam viên Viện Cơ mật đồng ký kết, Phạm Quỳnh, Thượng thư bộ Lại, Hồ Đắc Khải, Thượng thư bộ Hộ, Ưng Hy, Thượng thư bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, Thượng thư bộ Hình, Trần Thanh Đạt, Thượng thư bộ Học và Trương Như Đính. Ngày hôm sau, 12 tháng 3 năm 1945, tôi (tức Bảo Đại – NT chú) cho mời viên Đại sứ Yokoyama và trao cho ông ta bản tuyên ngôn độc lập này:

“Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.

“Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xứng đáng là một quốc gia độc lập, và sẽ theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á, hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.

“Vì vậy, chính phủ Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói trên.

“Khâm thử.

“Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.

Sau khi chính thức biết bản tuyên ngôn này, viên Đại sứ Nhật đến trình tôi:

  • Tâu Hoàng thượng, nước Việt Nam nhờ Hoàng thượng mà thâu hồi được nền độc lập quốc gia. Nước Nhật chúng tôi xin kính mừng. Nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng chủ quyền chính thống, và Đức Đại Nam Hoàng đế là đại diện chính thức của chủ quyền này.

Trên quê hương yêu dấu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:21 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 4 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

* Bài trang 10 báo Nhân Dân cuối tuần ngày 29/3/2015:

Trang sử đá mang tên Hạnh Phúc

Huyền Nga

Uốn lượn quanh co có chiều dài tới 160 cây số, một con đường, chỉ thuần túy dựa vào sức người, xuyên qua cả một biển đá âm u, dữ dDinh nui Hanh Phucằn nhất Việt Nam để đánh thức, để vực dậy vùng cao nguyên Đồng Văn kỳ vĩ, hoang sơ.

Khúc tráng ca của sức người

Những ngày tháng ba này, đất và người Hà Giang đang náo nức, rộn ràng đón chào con đường Hạnh Phúc vừa tròn tuổi 50. Nối liền bốn huyện Hà Giang – Yên Minh – Đồng Văn – Mèo Vạc, con đường có cái tên “độc nhất vô nhị” này đã chứng kiến cả nghìn chàng trai, cô gái hăng say, hối hả cống hiến cả quãng đời thanh xuân đẹp nhất cho từng mét đường chật vật thành hình.

Gần sáu năm với hơn hai triệu ngày công, với những dụng cụ rất đỗi thô sơ (như búa, xà beng, cuốc xẻng) cùng sự hỗ trợ của kíp mìn, thuốc nổ, hàng nghìn thanh niên xung phong (thuộc 16 dân tộc anh em ở sáu tỉnh – Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và sau này còn có thêm Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Dương…) đã làm một “cuộc trường chinh vĩ đại vào trong lòng đá”, miệt mài phá đá mở đường.

Hầu như không có sự hỗ trợ của máy móc, thứ duy nhất giúp họ vận chuyển là hai chiếc xe tải cũ mèm ỳ ạch chạy qua chạy lại và cỡ chục con ngựa thồ làm nhiệm vụ tiếp phẩm. Chỉ riêng con dốc nơi đỉnh Mã Pì Lèng “mây đạp dưới chân, trời đụng trán”, 17 chàng trai kiên cường thuộc Đội cơ dũng đã mất tới 11 tháng trời để lấn từng phân đường, “treo mình trên vách đá để đục mìn, bổ đá, khắc đá ra mà cẩn mặt đường vào vách đá đứng thành vại” (nhà văn Nguyễn Tuân), để có được 24 cây số đường mềm như dải lụa ấp ôm vách núi đá sừng sững. Có thể nói, đây là con đường được thực thi theo cách thức thủ công nhất, gian nan nhất và cũng bi tráng nhất (14 TNXP đã vĩnh viễn nằm lại nghĩa trang liệt sĩ ở Yên Minh).

“Có đường đi trên mây lên tới cổng trời”

Không chỉ dừng lại ở Hạnh Phúc, tiếp sau đó, một con đường mang tên Quyết Thắng cũng được tạo nên chỉ bằng sức người bạt núi, khoét đá đã nối liền Yên Minh – Mèo Vạc. Hai cung đường kết nối tạo thành một vòng cung ôm trọn cao nguyên Đồng Văn. Mồ hôi, nước mắt, máu xương đã đổ xuống nơi đây, để đúng nửa thế kỷ sau, thế hệ con cháu có thể ngồi xe ô- tô, ung dung thưởng ngoạn và thu vào tầm mắt cả một Công viên địa chất toàn cầu – Cao nguyên đá Đồng Văn chỉ trong có một ngày.

Dịp con đường đón tuổi 50, một tour du lịch mới, dọc theo lộ trình Hạnh Phúc đã được Trung tâm thông tin, xúc tiến du lịch (thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Giang) lên ý tưởng và chuẩn bị triển khai, nhằm biến “trang sử đá hào hùng” này trở thành một sản phẩm du lịch mới mẻ, hấp dẫn cho “mỏm tột bắc” – nơi dáng hình đất nước tạo nên nét vẽ khởi đầu.

Chọn tour du lịch “Đường Hạnh Phúc kết nối với di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh” này, du khách trong nước và quốc tế sẽ có cơ hội được quay ngược cỗ máy thời gian về với con đường, từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc. Trên hành trình ấy, ta sẽ “tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian” nơi Cổng trời Quản Bạ, ngắm vẻ tròn đầy e ấp của Núi đôi Quản Bạ hay hít căng lồng ngực bầu không khí mát lạnh nơi “đệ nhất hùng quan” Mã Pì Lèng, chiêm ngưỡng dải lụa Nho Quế lững lờ xanh biếc, đẹp như trong bức tranh thủy mặc. Rồi những phiên chợ vùng cao rực rỡ sắc màu văn hóa, những thửa ruộng bậc thang đậm nhạt bao sắc độ xanh trải dài theo dốc núi, những ngôi nhà trình tường lấp ló sau bờ rào đá, những rừng đá tai mèo lớp lớp lô xô… Không chỉ thế, những Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, khu dinh thự kiến trúc dòng họ Vương, Nghĩa trang TNXP mở đường Hạnh Phúc, Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên… đều trở thành điểm nhấn không thể bỏ qua trong suốt hành trình, giúp du khách vừa được đắm mình trong cảnh sắc núi sông hùng vĩ mà còn làm đầy hành trang yêu nước, tự hào về quá khứ của cha ông.

H.N.

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2015:

Khánh thành tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng ở Quảng Nam

Tối 24/3, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức lễ khánh thành công trình tượng đài Mẹ VN anh hùng tại khu tượng đài Mẹ VN anh hùng (phường An Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam).

Tượng đài Mẹ VN anh hùng được khởi công xây dựng từ ngày 27/7/2009, do họa sĩ Đinh Gia Thắng – hội viên Hội Mỹ thuật VN – phác họa, lấy nguyên mẫu mẹ VN anh hùng Nguyễn Thị Thứ (huyện Điện Bàn, Quảng Nam) làm biểu tượng cho gần 50.000 bà mẹ VN anh hùng trên cả nước.

 Đây được đánh giá là công trình tượng đài Mẹ VN anh hùng lớn nhất VN. Quần thể tượng đài có tổng diện tích hơn 15ha với tổng kinh phí xây dựng khoảng 410 tỉ đồng.

Tuong Me Viet Nam Anh Hung Toàn khối tượng đài có hình dáng của một ngọn núi nhô cao ở giữa và thoải dần ở hai bên. Ở chính giữa khối tượng đài là chân dung bán thân mẹ VN anh hùng. Khối tượng đài có chiều cao 18,37m, chiều rộng theo đường thẳng 84,7m, đường cong 117m. Bên trong khối tượng là nhà tưởng niệm mẹ VN anh hùng ghi danh gần 50.000 bà mẹ VN anh hùng, giới thiệu hình ảnh, cuộc đời và sự cống hiến của các mẹ đối với đất nước…

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 30/3/2015:

Đưa vào sử dụng cầu vượt ngã ba Huế

Sáng 29/3, nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Đà Nẵng, Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Đà Nẵng và Bộ Giao thông vận tải đã tổ chức lễ kháCau vuot nga ba Huenh thành và đưa vào sử dụng công trình nút giao thông khác mức ngã ba Huế, giải tỏa một “điểm đen” giao thông nhiều năm qua tại đây.

Công trình có vốn đầu tư hơn 2.000 tỉ đồng, nối ba quận Liên Chiểu, Thanh Khê và Cẩm Lệ, thi công liên tục trong 18 tháng, gồm ba tầng: tằng mặt đất cho các nhánh rẽ với đường bộ không giao với đường sắt, cầu vượt tầng 1 là vòng xuyến trên cao với các nhánh rẽ, cầu vượt tầng 2 cho các hướng ưu tiên từ Huế về trung tâm thành phố và ngược lại. Từ nay xe cộ có thể đi theo ba tuyến chính là đường Điện Biên Phủ, Tôn Đức Thắng và Trường Chinh. Riêng nhánh thứ tư đi hướng Tây Bắc sẽ được hoàn thiện vào cuối tháng 4/2015.

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng đánh giá cao khả năng chủ động của Đà Nẵng trong việc xã hội hóa, huy động các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Đánh giá về ý nghĩa công trình, ông Thăng cho rằng: “Đây không chỉ là công trình đóng góp cho sự phát triển của thành phố Đà Nẵng mà còn là một phần quan trọng trong dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1”.

Trường Trung

* Tin trong mục Dân tộc – Miền núi báo Nhân Dân ngày 18/3/2015:

Điện lưới quốc gia về vùng sâu, vùng xa Bắc Cạn

Bài và ảnh: Thế Bình

Công ty Điện lực Bắc Cạn đang khẩn trương tổ chức thực hiện dự án đưa điện lưới quốc gia về vùng sâu, vùng xa, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn tỉnh. Có điện, đồng bào dân tộc Mông, Dao, Tày…càng cảm nhận rõ hơn sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.

Cong trinh cap dien cho dong bao MongƯớc mơ thành hiện thực

Từ quốc lộ 3 rẽ vào tuyến đường đất liên thôn dài hơn năm km men theo các sườn núi, “thượng” mãi lên hai thôn vùng cao là Củm Nhá và Phia Khao, nơi có 47 hộ đồng bào dân tộc Mông, chủ yếu là hộ nghèo sinh sống trên các mỏm núi thuộc xã Lãng Ngâm, huyện Ngân Sơn. Chia sẻ với những khó khăn của đồng bào, Công ty Điện lực Bắc Cạn đã thường xuyên bám sát công trường, quyết liệt chỉ đạo đơn vị thi công khẩn trương xây dựng mạng lưới điện, lắp đặt trạm biến áp, lắp đặt cho mỗi hộ một bảng điện, một bóng điện trong nhà trước Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015 mười ngày. Khi Tết đến, Xuân về, cũng là ngày đóng điện, đưa điện lưới quốc gia đến từng gia đình, niềm vui của cả thôn, đặc biệt là các cụ phụ lão, các em nhỏ như được nhân lên gấp bội. Dịp này, Công ty Điện lực Bắc Cạn tặng mỗi gia đình một suất quà để cả hai thôn đón Tết thêm vui tươi, đầm ấm trong ánh điện lung linh.

(…)

Thực hiện dự án đưa điện lưới quốc gia về vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh, trước Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015, Công ty Điện lực Bắc Cạn đã tích cực chỉ đạo các đơn vị thi công đưa điện lưới quốc gia về sáu thôn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, trước tiến độ ba tháng nhằm giúp đồng bào đón Tết, vui Xuân thêm ý nghĩa.

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 27/3/2015:

Hoa Kỳ viện trợ không hoàn lại 700 triệu USD cho điện gió Bạc Liêu

Chiều 26-3, tại TP.HCM, Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA) ký thoả thuận viện trợ không hoàn lại khoảng 1 triệu USD cho Công ty TNHH XD-TM-DL Công Lý để nghiên cứu khả thi phát triển dự án điện gió 300MW thuộc giai đoạn 3 Dự án điện gió Bạc Liêu.

Ông Tô Hoài Dân, giám đốc công ty Công Lý cho biết giai đoạn 1 với công suất 16MW bao gồm 10 trụ tua-bin GE 1,6MW đã phát điện trên 60.000 MW.

Giai đoạn 2 đang lắp dựng 52 tua-bin GE và dự kiến phát điện vào ngày 30-4-2015.

Giai đoạn 3 sẽ được triển khai với một dự án điện gió công suất 300MW.

Hồng Nhung

* Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 29/3/2015 :

Hỗ trợ cầu truyền hình trực tuyến cho Bệnh viện quân- dân y Lý Sơn

Sáng 27-3, tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Chi nhánh Viettel Quảng Ngãi đã tổ chức bàn giao và trao hỗ trợ hệ thống cầu truyền hình trực tuyến cho Bệnh viện quân – dân y Lý Sơn.

Theo đó, hệ thống cầu truyền hình trực tuyến bao gồm: Một màn hình ti-vi 40 inh, hệ thống ca-mê-ra tự động đa hệ, đầu thu và phát tín hiệu in-tơ-nét cùng một số thiết bị đi kèm có giá trị khoảng 200 triệu đồng. Ngoài ra, còn hỗ trợ đường truyền in-tơ-nét (mỗi tháng 10 triệu đồng) cho Bệnh viện quân – dân y Lý Sơn. Hệ thống cầu truyền hình trực tuyến hoạt động giúp Bệnh viện quân – dân y Lý Sơn thuận lợi trong công tác hội nghị, giao ban ngành. Ðặc biệt, đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ của bệnh viện có điều kiện học tập nâng cao tay nghề, hỗ trợ chuyên môn từ bệnh viện tuyến trên trong công tác khám và điều trị bệnh cho người dân trong điều kiện tàu thuyền không thể ra, vào đảo khi thời tiết xấu.

PV

 * Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 29/3/2015:

Vinh danh 10 gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2014

Tối 28/3 tại Hà Nội, Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đã trao giải thưởng gương mặt trẻ Việt Nam tiêu bieru năm 2014. Giải thưởng gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu là phần thưởng cao quý của Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ Việt Nam nhằm tôn vinh cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trên các lĩnh vực.

Vinh danh 10 guong mat tieu bieu10 gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu gồm: Phạm Tuấn Huy (Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), Tiến sĩ Phan Minh Liêm (Chủ tịch hội viên sau đại học của Đại học Texas – Viện Anderson), ngư dân Lê Văn Sang (thành phố Đà Nẵng), Tráng Seo Pao (phó chủ tịch xã Hoàng Thu Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai), Nguyễn Văn Sơn (giám đốc chi nhánh Viettel Thái Nguyên), Lê Trung Thành (thuyền trưởng tàu CSB 4033 Bộ tư lệnh cảnh sát biển Vùng 2), thiếu tá Phan Mạnh Hùng (đội trưởng, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nghệ An), Thạch Kim Tuấn (vận động viên cử tạ), Quách Hoàng Nhi (học sinh lớp 5B Trường tiểu học Nam Thành Công, năm thứ 2 hệ trung cấp piano Học viện Âm nhạc quốc gia), Tiến sĩ Nguyễn Bá Hải (giảng viên Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh).

Q.Thế.

* Tin trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 29/3/2015:

Nông dân chế tạo máy xử lý rác thải

Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, ông là Ngô Thái Nguyên (49 tuổi, nông dân trú tại thôn Liên Hưng, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa đã chế tạo thành công máy xử lý rác thải phù hợp với điều kiện ở nông thôn

Khi chiếc máy xử lý rác thải của ông Nguyên tham dự cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc lần 5 – 2014”, ban giám khảo và giới chuyên môn đánh giá cao, ghi nhận sự sáng tạo của tác giả trong việc chế tạo bộ dao băm kép rất hữu hiệu. May xu ly rac

Bộ dao này có 18 lưỡi dao chính, bố trí ở bốn tầng băm gắn vào trục quay, có thể xoay thuận chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ và 16 lưỡi dao gắn vào thành máy. Khi vận hành công nghệ này, chiếc máy có thể xử lý, phân loại rác bằng động cơ, ít phải dùng nhiệt đốt rác.

Sau khi chế tạo thành công máy xử lý rác thải, ông Ngô Thái Nguyên đã đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với “Công nghệ HUD và máy xử lý rác thải” của mình. Với thành công ban đầu này, “Công nghệ HUD và máy xử lý rác thải” của ông đã đoạt giải nhất cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc lần 5 – 2014”.

Chiếc máy xử lý rác thải của ông Nguyên chế tạo có nhiều ưu điểm như quy mô nhỏ (công suất dao động 30-35m3 rác thải/7 giờ hoạt động), dễ vận hành, có khả năng phân loại, tinh chế rác để tái sử dụng làm phân vi sinh, nguyên liệu xây dựng.

Công nghệ xử lý rác thải này thân thiện môi trường, phù hợp với điều kiện nông thôn nước ta, nên có thể ứng dụng rộng rãi tại các xã đang xây dựng nông thôn mới, giá thành lắp đặt máy cũng phù hợp với nông thôn.

Hà Đồng

* Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 29/3/2015:

Chương trình Hợp xướng giao lưu Việt – Hàn tại Hà Nội

Chương trình Hợp xướng giao lưu mang chủ đề “Hòa âm bè bạn” diễn ra vào tối 29-3, tại Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam (Hà Nội) với sự tham gia biểu diễn của Dàn hợp xướng Seongnam-Civic Children’s Choir (SCCC) Hàn Quốc và Dàn hợp xướng Sol Art Vietnam. Ðây là hai dàn hợp xướng thiếu nhi của Hàn Quốc và Việt Nam đã từng biểu diễn ở nhiều quốc gia trên thế giới và đoạt nhiều giải thưởng ở trong nước và quốc tế. Chương trình là một trong những hoạt động nhằm mở rộng các mối quan hệ, thúc đẩy sự giao lưu, học hỏi, nâng cao chất lượng đào tạo và biểu diễn của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

Hà Nội đứng thứ tư trong điểm đến hàng đầu thế giới năm 2015

Trang web du lịch nổi tiếng thế giới TripAdvisor vừa công bố danh sách 25 điểm đến đáng đến nhất thế giới năm 2015 được du khách bình chọn (Top 25 destinations in the world 2015 – Travelers’ Choice). Trong đó, Hà Nội (Việt Nam) được xếp ở vị trí thứ tư. Theo nhận xét của TripAdvisor, vẻ đẹp duyên dáng của Thủ đô Hà Nội đã tồn tại từ bao đời nay, từ khu phố cổ, các di tích, kiến trúc thuộc địa cho đến những tòa nhà cao ốc hiện đại. Những hồ nước, công viên, những đại lộ rợp bóng mát và hơn 600 đền chùa miếu mạo đã tăng thêm sự hấp dẫn của thành phố này. Danh sách 25 điểm đến hàng đầu này cũng là gợi ý đáng kể để hàng triệu du khách lên kế hoạch cho các chuyến đi của mình năm 2015.

PV

* Tin trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 27/3/2015:

Khai mạc hộ sách lớn nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long

Tối 26-3, tại công viên Lưu Hữu Phước (TP Cần Thơ) diễn ra lễ khai mạc hội sách thành phố Cần Thơ và triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – những bằng chứng lịch sử và pháp lý”. Chuỗi sự kiện này do Ủy ban Nhân dân thành phố Càn Thơ phối hợp với Bộ Thông tin – truyền thông và các đơn vị như Hội Xuất bản Việt Nam, Sở Thông tin – truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng công ty cổ phần Phát hành sách Thành phố Hồ Chí Minh… tổ chức, kéo dài đến hết ngày 31/3.

Hoi sach Can ThoTham gia hội sách có 56 đơn vị xuất bản, phát hành sách trong cả nước với khoảng 1.8 triệu bản sách các loại. Nội dung gồm các hoạt động trưng bày, bán sách (giảm 10-40%, trưng bày phim ảnh, băng đĩa, thiết bị điện tử, văn hóa phẩm, đồ dùng và dụng cụ học tập. Ngoài ra còn có chương trình giao lưu giữa các nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ… với độc giả cũng như các hoạt động phát triển kỹ năng trong đoàn viên, học sinh và sinh viên.

Với triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – những bằng chứng lịch sử và pháp lý”, Bộ Thông tin – Truyền thông cho biết đây là lần thứ 22 tổ chức triển lãm về chủ đề này ở trong nước, kể từ lần triern lãm đầu tiên tại Hà Tĩnh vào tháng 6/2013. Tuy nhiên, lần triển lãm tại Cần Thơ có tư liệu dồi dào nhất.

C.Quốc – T.Trang

Tháng Ba 27, 2015

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 4 năm 2015)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:25 sáng

Cung ban doc (tuan 1 thang 4 nam 2015)

Viếng ông Phan Kế Bính

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:19 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 4 năm 2015.

VIẾNG ÔNG PHAN KẾ BÍNH

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới 2004) mục Phan Kế Bính (từ trang 1389 đến trang 1390), Vũ Thanh viết:

“(1875-30.V.1921). Nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Hiệu Bưu Văn, sinh tại làng Thụy Khuê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, trong một gia đình khoa cử. 1906, thi Hương đỗ Cử nhân nhưng không ra làm quan. Hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, rồi làm báo. 1907, phụ trách phần chữ Hán trong Đăng c???????????????????????????????ổ tùng báo (Tập báo khêu đèn gióng trống). Sau đó vào Sài Gòn biên tập báo Lục tỉnh tân văn. 1913, ra Bắc phụ trách mục Hán văn, khảo cứu văn học và lịch sử Việt Nam trên Đông Dương tạp chí. 1915, báo Trung Bắc tân văn ra đời, phụ trách phần xã luận. Từ 1919, Đông Dương tạp chí đổi thành học báo ông vẫn là biên tập chính. Không kể những bài dịch, bài báo biên khảo: Nam hải dị nhân (Người lạ vùng biển Nam) và Hưng Đạo Đại Vương (1909-15). Việt Nam phong tục (1915), Việt – Hán văn khảo (1918); Sách dịch: Tam quốc diễn nghĩa (1907), Đại Nam điển lễ toát yếu (Tóm lược chỗ cốt yếu của điển chương luật lệ nước Đại Nam, 1915-16), Đại Nam nhất thống chí (Địa chí thống nhất của nước Đại Nam, 1916), Việt Nam khai quốc chí truyện (1917), Đại Nam liệt truyện tiền biên (Truyện các nhân vật của nước Đại Nam, phần Tiền biên, 1918), Đại Nam liệt truyện chính biên (Truyện các nhân vật của nước Đại Nam, phần Chính biên 1919), và nhiều truyện khác trong Kim cổ kỳ quan. Ông mất tại Hà Nội.

Phan Kế Bính là một trong những nhà Nho đầu tiên có công dùng chữ quốc ngữ để nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu nền văn hóa, văn học cổ cận đại Việt Nam và Trung Quốc cho thế hệ độc giả mới. (…) Phan Kế Bính đặc biệt nổi tiếng với cuốn Việt Nam phong tục, công trình nghiên cứu một cách công phu những phong tục, tập quán từ bao đời nay của dân tộc. Đấy không phải là một tập sử liệu khô cứng mà được tái hiện một cách sống động qua một ngòi bút sắc sảo. Phong tục, tập quán được chia làm ba loại: phong tục gia đình (gồm 16 mục), phong tục hương đảng (34 mục), phong tục xã hội (47 mục). Cả một xã hội với những bản sắc riêng biệt, những phương thức sống và thế ứng xử tồn tại từ ngàn đời, với những hình thức tổ chức xã hội và đời sống tâm hồn của cả dân tộc được hiện lên ở bề nổi lẫn chiều sâu bí ẩn quy định sự tồn tại của chính xã hội đó. Và con người Việt Nam, vớin hững sốvphận khác nhau, từ kẻ cùng đinh đến ngườ iđứng đầu quốc gia, mà tiêu biểu là hình ảnh người nông dân, chính là điểm hội tụ sinh động của những phong tục, tập quán đó, thông qua những quan hệ xã hội vô cùng phức tạp, những ràng buộc từ nhiều phía: từ lễ nghi của một gia đình đến những quy ước của làng xã và dân tộc. Tác giả không dừng lại ở việc mô tả hiện tượng, những lời bình giá nghiên cứu của ông cũng rất khoa học. Mặc dù là một nhà Nho đắm mình trong những phong tục xưa nhưng ông vẫn có quan điểm đánh giá nhiều lúc có thể nói là cấp tiến. Ông đề cao những phong tục, tập quán tốt đẹp, ca ngợi những ngày hội tươi vui, những nghề nghiệp bình thường mà cao quý…và phê phán nghiêm khắc những hủ tục kìm hãm xã hội phát triển, đặc biệt là mặt phản động của Nho giáo làm u tối đầu óc dân ta và bao đời kìm hãm sản xuất phát triển. Bên cạnh những nhận xét uyển chuyển có tình, lý, ông vẫn không tránh khỏi những ý kiến còn bảo thủ, hay chịu ảnh hưởng của tư tưởng Âu hóa đến chỗ miệt thị dân tộc.

Không chỉ những tác phẩm biên khảo, nghiên cứu, sáng tác mà cả những cuốn sách dịch của Phan Kế Bính đến nay vẫn có giá trị, trong đó nổi bật là bản dịch Tam quốc diễn nghĩa và những cuốn sử ký khác. Phan Kế Bính đã có những đóng góp đáng kể vào bước tiến của ngôn ngữ tiếng Việt. Ngay từ đầu thế kỷ, văn phong của ông đã rất trong sáng, giản dị, thanh thoát. Chính ông là một trong những người đầu tiên chứng tỏ sức biểu hiện sinh động của chữ quốc ngữ trong lĩnh vực khoa học, báo chí và nghệ thuật mà đương thời “không ai theo kịp” (Vũ Ngọc Phan)

V.T.

VIẾNG ÔNG PHAN KẾ BÍNH

Bài Viếng ông Phan Kế Bính sau đây chúng tôi lấy nguyên văn trong sách Thượng Chi Văn Tập, NXB Văn Học tái bản năm 2006 (từ trang 993 đến 996)

Báo giới quốc văn ở Bắc kỳ mới phải một cái thương: ông cử Phan Kế Bính, biệt hiệu Bưu Văn, là trợ bút báo Trung Bắc tân văn mới tạ thế ngày 30 tháng 5 Tây năm 1921 ở nguyên quán ông là làng Thụy Khuê, thuộc huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, gần thành phố Hà Nội, thọ 46 tuổi. Ông Phan là một tay kỳ cựu trong báo giới, đặt mình vào trường ngôn luận trước sau mười bốn, mười lăn năm trời. Văn chương tài học của ông thế nào, những bậc trí thức trong quốc dân ta chắc đã biết cả; ngày nay cứ giở những tập Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn cũ, thời thấy không có tuần nào là không có tên ông trên báo. Nhưng công dịch thuật trước tác của ông, tựu trung có giá trị nhất là tập Nam hải dị nhân, hiện Chánh phủ đã có nghị định đặt làm giáo khoa thư ở các trường trung học, tập Hưng Đạo đại vương, hai quyển ấy đã in thành sách; còn tập Việt Nam phong tụcViệt Hán văn khảo đã đăng trong Đông Dương tạp chí năm xưa mà chưa từng in riêng ra sách. Nên ước ao rằng báo quán Trung Bắc tân văn, sẽ đem in xuất bản hai quyển ấy, thời chắc quốc dân sẵn lòng hoan nghênh, vì là những sách đứng đắn, có giá trị, không giống những tập thơ văn mới xuất bản gần đây.

Ông cử Phan thật là một bậc chân nho, tài học đã cao mà đức hạnh lại tốt, chẳng may mất sớm, ai biết tiếng biết người cũng phải ngậm ngùi thương tiếc; thật là một sự thiệt thòi to cho làng văn quốc ngữ ta mới nhóm thành. Hôm đưa đám ông, ngày mồng 1 tháng sáu Tây, bản chí chủ bút (tức Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong – PT chú) có đọc bài viếng như sau này để tỏ lòng thương tiếc của đồng nhân đối với ông cử Phan Kế Bính.

“Thưa các Ngài,

“Hôm nay chúng ta đến đây đưa linh cữu ông cử Phan Kế Bính ra huyệt, tôi xin phép các ngài đọc mấy lời kính viếng vong linh ông cử Phan.

“Tuy đương lúc buồn rầu này, một tiếng thở dài thương tiếc, vài hàng nước mắt chứa chan, còn bằng mấy mươi bài diễn thuyết, song một người tài học đức hạnh như ông, bình sinh đã từng cúc cung tận tụy với xã hội, đem ngọn bút tâm huyết mà cảnh tỉnh cho kẻ đồng bào, đến khi từ biệt cõi trần gian để vào trong giấc ngủ vô cùng, những người ở lại, mong nối nghiệp ông, cũng phải giải tỏ chút nhớ thương, để gọi là biểu dương cái tài đức một kẻ đàn anh đi trước, phô bày cái gương tốt cho người hậu tiến noi theo.

“Ông cử Phan vốn sinh trưởng trong nho học, lại gặp phải buổi nho học thất dụng với đời. Như người ta ra, thời dễ sinh lòng chán nản, hoặc là mang cái tư tưởng ẩn độn, hoặc là làm ra giáng bộ ngông cuồng. Hai cái thái độ ấy đều không hợp với tính cách ông là người siêng cần cẩn thận. Hồi bấy giờ giữa lúc ông Nguyễn Văn Vĩnh mới ra khai trương nghề làm báo và trước thuật bằng quốc văn ở Bắc Kỳ. Một người tân học, một người cựu học, không hẹn mà gặp nhau, khác tính mà tri ngộ. Ông Nguyễn mới xướng ra cái chủ nghĩa “vận mệnh nước Nam ta sau này hay dở thế nào là ở chữ quốc ngữ” chủ nghĩa ấy bấy giờ chắc còn chưa được mấy người hiểu rõ. Nhưng ông Phan là người trầm mặc, hay biết nghĩ xa, chắc trong bụng đã dự liệu mà hiểu rẳng cái phương châm thời thế mới là ở đó, không phải tìm đâu xa. Từ bấy đến nay, ông với ông Nguyễn không hề rời nhau, hai người như làm lần lót lẫn cho nhau, mà cùng ra tay gây dựng cái nền văn mới cho nước nhà. Sự nghiệp làm báo của ông, trước là ở Đăng cổ tùng báo, sau tới Đông Dương tạp chí, rồi tới Trung Bắc tân vănHọc báo ngày nay thế nào, đã có các ngài trong Trung Bắc báo quán tự thuật, chắc được tường hơn. Tôi nay chỉ xin tỏ lòng kính phục ông là một bậc đàn anh đã có công to với quốc văn trong buổi gây dựng này.

“Tây nho có câu rằng: “Văn tức là người”, nghĩa là người sao văn vậy, văn là cái hình ảnh chân chính của tâm tính người ta. Ông cử Phan làm người thế nào, cách giao tiếp, cách cư xử của ông thế nào, xin để các ngài đồng sự với ông trong báo quán Trung Bắc nói mới đích đáng. Nay cứ đọc văn ông cũng đủ hiểu dược nhân cách ông thế nào. Văn ông thứ nhất là có cái vẻ thuần túy. Đương buổi quốc văn mới nhóm thành, chưa có phương châm nhất định, nhà làm văn dễ hay múa may ngọn bút mà viết ra những lời chếch lệch chông chênh, giữ cho được cái vẻ thuần túy đó, thật cũng khó thay. Nhưng văn chương ông sở dĩ thuần túy cũng là bởi tính cách ông là người thuần túy! Ôi! Ở vào buổi đời này, mới cũ giao nhau, Á Âu xung đột, không những lời ăn tiếng nói thường có giọng chông chênh, mà tư cách người ta cũng không khỏi bác tạp. Mấy người đã đem thân ra trì trục với đời mà trọn đời giữ được vẹn cái nhân cách thanh cao! Ông cử Phan thật là một người như thế. Ông đã tẩm nhuần cái đạo học của Khổng Mạnh, ông lại biết đem cái đạo học ấy mà ứng dụng ra đời, nhưng ứng dụng ra một cách ôn hòa uyển chuyển, không có khăng khăng ra mặt thủ cựu, cũng không có xuẩn xuẩn mà cố theo thời, nhất thiết lấy đạo trung dung của thánh hiền làm tiêu chuẩn. Ở một thời đại cái gì cũng có ý thiên về thái quá mà biết lấy hai chữ trung dung làm đạo tu thân, làm phương xử thế, há chẳng phải là cái tâm thuật một người đạt nhân quân tử dư?

“Than ôi! Nước nhà đương buổi nhu tài, mà một người có tài học, lại có đức hạnh, không được sống lâu để làm việc công ích, thật cũng đáng tiếc thay! Nhưng mà người mất tiếng còn, những lời tâm huyết cũng còn đó, đi đâu! Sau này, ngày qua tháng lại, cách mấy mươi năm, những hàng con em ta, ta cầm quyển Nam Hải dị nhân nhờ đó mà được biết sự nghiệp các bậc anh hùng, hào kiệt, chí sĩ, cao nhân của nước nhà, tất cũng nhớ đến tên người đã có công biên tập ra sách ấy là ông cử Phan Kế Bính vậy. Còn bọn ta đã được quen biết ông, đã được đọc văn ông, thời chắc không bao giờ quên được nữa.

“Ông cử Phan ôi! Chúng tôi thương ông, chúng tôi tiếc ông, thương tiếc ông là người có đức có tài. Linh hồn ông dù lên chốn thiên đường hay rơi vào cực lạc, chắc cũng không quên cái sự nghiệp lúc sinh thời, và sẽ ra công phù hộ cho quốc văn ta ngày một tấn tới, như vậy thời dù thác cũng như còn.

“Sau này xin có lời chia buồn cùng quí quyến và các ngài trong báo quán Trung Bắc tân văn”

1921

Cha mẹ với con và anh em, chị em

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 4 năm 2015.

CHA MẸ VỚI CON VÀ ANH EM, CHỊ EM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hai phần này chúng tôi trích trong mục Nói về phong tục trong gia tộc từ trang 7 đến trang 16 sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, NXB Văn Học, 2008.

—o0o—

1. CHA MẸ VỚI CON

Cha mẹ – Hai tiếng cha mẹ, nước ta mỗi nơi gọi cũng hơi khác nhau: Nơi thì gọi là BốĐẻ, nơi thì gọi là ThầyU. Về đường ngược (Hưng Hóa) thì gọi mẹ là Bầm, về đường trong thì gọi là Bụ. Nam kỳ thì gọi cha là Tía, gọi mẹ là . Ở đây bây giờ lại nhiều người cho con gọi cha là Ba, gọi mẹ là Mẹ. Còn các nhà hiếm hoi thì chẳng cứ gì, người thì cho con gọi là Chú TViet Nam Phong Tuchím, người thì cho con gọi là Anh Chị, Cậu Mợ. Ngày xưa lại có tiếng gọi mẹ là Cái nữa, tiếng ấy thì bây giờ không đâu dùng.

Sinh con – Đàn bà có mang ai cũng muốn sinh con trai mà ít người muốn sinh con gái. Hàng xóm bà con nghe thấy sinh con trai thì mừng. Trong khi có mang, váng đầu, đau mình gọi là ốm nghén; hay thèm ăn của chua của chát, gọi là ăn dở. Đến lúc sinh sản, mời bà tám đến đỡ, con xổ ra rồi thì cắt rốn chôn nhau. Chôn phải sâu, nếu chôn nông thì con hay trớ; mà phải tránh chỗ giọt gianh kẻo về sau con chốc đầu loét mắt.

Người mẹ thì phải kiêng khem gió máy, phải nằm than. Ăn cơm chỉ ăn muối trắng hấp hay là nước mắm chưng, vài ba hôm mới dám ăn đến thịt. Đầy cữ (con trai bảy ngày, con gái chín ngày) xông muối xoa nghệ rồi mới ra đến ngoài.

Nhà nghèo nuôi con lấy, nhà giàu nuôi vú cho con. Có người cho vú đem về nhà nuôi. Cho bú độ ba, bốn tháng thì cho ăn cơm và vẫn cho bú đến ba, bốn tuổi mới thôi.

Con nhà nào ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng biết lò cò chạy chơi, là hợp vào ca thì dễ nuôi mà mai sau làm nên người.

Tục ta hỏi thăm nhau đẻ con trai hay là con gái, người có chữ thường nói lộng chương hay lộng ngõa (nghĩa là chơi ngọc hay chơi ngói). Điển ấy do ở Kinh Thi: Sinh con trai thì quý hóa mà cho chơi bằng hạt ngọc, sinh con gái thì khinh bỉ mà cho chơi bằng hòn ngói. Lại có người hỏi huyền hồ hay là huyền cân (nghĩa là treo cung hay là treo khăn mặt). Điển ấy cũng do tục Tàu: Đẻ con trai treo cái cung ngoài cửa, mà đẻ con gái thì treo cái khăn mặt. Ta dùng điển mà hỏi thăm, chớ không có tục ấy.

Cúng mụ – Trong sách Bắc hộ lục có nói rằng: Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng, thì tắm cho con, làm một bữa tiệc, gọi là đoàn du phạn (nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru). Sách Vân đài loại ngữ của ông Lê Quý Đôn thì nói rằng: Tục nước ta, đẻ con được ba ngày, làm vài mâm cỗ cúng mụ… Đến hôm đầy tháng, hôm một trăm ngày, hôm đầy tuổi tôi, đều có làm cỗ cúng gia tiên, bày tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc, dùng thơ, câu đối, đồ chơi, đồ quần áo trẻ để mừng nhau. Mà nhất là tiệc một trăm ngày là tiệc đầy tuổi tôi to hơn cả.

Cứ như tục thành phố Hà Nội bây giờ thì đẻ con ra đầy cữ đầy tháng, đầy tuổi tôi, mới làm cỗ cúng mụ. Trong lễ cúng thì dùng mười hai đôi hài, mười hai miếng trầu, cua, ốc, nham, bánh đúc v.v… Vì ta tin rằng có mười hai bà mụ nặn ra người.

Thử con- Tàu có tục để con đầy một năm thì làm tiệc thử con. Hôm ấy tắm rửa cho con sạch sẽ, mặc quần áo mới, con trai thì bày đồ cung tên, bút giấy; con gái thì bày đồ kim, chỉ, dao kéo. Lại bày những đồ chơi quý báu ở trước mặt đứa trẻ để nghiệm xem nó tham liêm ngu trí làm sao, chữ gọi là tiệc thí nhi (thử trẻ). Các nhà đại gia ở ta cũng theo dùng tục ấy, nhưng chỉ bày ít món để ấn triện, cung tên, bút mực, cày bừa, gọi là trong bốn món văn, vũ, canh, độc, để nghiệm đứa trẻ mai sau làm nghề gì mà thôi.

Thuật kiêng giữ – Con nhà nào sinh phải giờ con sát, hay phải giờ kim xà thiết tỏa, sợ mai sau khó nuôi thì cúng đổi giờ. Nhà nào sinh con muộn mằn sợ khó nuôi thì làm lễ bán cửa tĩnh hoặc cửa chùa nào cho làm con Thánh con Phật gọi là bán khoán. Bán cho cửa tĩnh thờ Đức Thánh Trần, thì đổi họ gọi là họ Trần, bán cho cửa nhà chùa thì đổi họ là họ Màu, đến mười hai tuổi mới làm lễ mà chuộc về làm con mình.

Đưa con cho người khác bế, không được đưa qua cửa, sợ mai sau nó đi ăn cắp ăn trộm. Ẵm con đi đâu, phải bôi ít nhọ chảo trên trán, hoặc cầm con dao, cái kéo hay là chiếc đũa đi theo, kẻo sợ người ta quở quang.

Con hay khóc đêm, gọi là dạ đề, thì mượn một người khác họ lấy cái cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường thì khỏi khóc. Có người lạ vào, con khóc mãi không thôi thì lấy một bó lửa ném vào trước mặt người ta thì con thôi khóc.

Con ngủ lỳ không dậy, lấy vài cái tóc mai của người ngoài phẩy vào miệng đứa trẻ thì khỏi.

Con hay trớ, lấy nước lòng đò cho uống thì khỏi.

Con nấc, lấy ngọn lá trầu không dán vào chỗ trán cho nó. Con ngủ giật mình, luộc một cái trứng gà, con trai thì cắt làm bảy miếng, con gái thì cắt làm chín miếng, và bảy hay là chín nắm cơm, hú vía cho nó rồi cho nó ăn thì nó khỏi sợ.

Con đau bụng khóc lắm, mượn người nhổ bão (nhổ cục tóc trên đầu) cho mẹ nó thì khỏi.

Con lồi rốn, mượn kẻ ăn mày cầm gậy chọc vào rốn thì khỏi.

Con chơi phải chỗ cỏ ngứa, nổi mần tịt cả mình mẩy gọi là ma tịt, thì giải một cái nón mê, tễ bẩy hoặc chín miếng trầu lá lốt cúng ông Cầu bà Quán cho nó thì khỏi.

Con lên đậu, ngoài cửa ngõ treo một bó vàng và trồng một cây lá ráy vào một cái nồi đất ở trước cửa, hoặc cài một cành kinh giới để giữ cho con được bình yên.

Con hắt hơi, thì nói : “Sống lâu, trăm tuổi, già đầu, thượng thọ” để chúc thọ cho con.

Con quặt quà quặt quẹo thì bế đứa con đưa qua cái săng người già chết thì nó được sống lâu.

Cách đặt tên – Con mới sinh ra thì thường gọi là thằng đỏ con đỏ, ở nhà quê thì thường gọi là thằng cu con đĩ, ở về vùng Thanh Nghệ thì thường gọi là thằng cò cái hĩm, chớ không mấy người mới sinh ra đã đặt tên. Đặt tên thì nhà thường dân hay bạ tên gì đặt tên ấy, hay lấy vần hoặc lấy nghĩa gần nhau với tên cha mẹ mà đặt. Ví như cha mẹ là Lần thì đặt là Thần, cha mẹ là Nhăng thì con đặt là Nhố, hoặc cha mẹ là Đào thì đặt con là Mận, cha mẹ là Sung thì con đặt là Vả, v.v… Kẻ hiếm hoi thì thường lấy tên xấu xí mà đặt cho con, như gọi là thằng Cún (con chó cún) thằng Đực (chó đực), v.v… Nhà có học thì thường kiếm những tên đẹp để đặt cho con, mà nhứt là hay tìm từng bộ chữ nho. Ví như người thì dùng toàn một bộ chữ Ngọc như anh là Hoàng thì em là Hành, là Cư, là Vũ; người thì dùng toàn một bộ chữ Thủy như anh là Giang thì em là Hoài, là Hà, là Tế, v.v…

Cho con đi học – Nhà nho gia cho con độ năm, sáu tuổi, nhà thường dân con độ mười một, mười hai tuổi thì cho con đi học. Người biết chữ thì dạy lấy, hoặc mời ông thầy trong làng. Lúc mới học phải biện lễ trầu, rượu hoặc con gà ván xôi, để ông thầy làm lễ Thánh sư, rồi dạy vỡ lòng cho con dăm ba chữ hoặc bẩy tám chữ, dần dần mới lại kén thầy mà học rộng rãi ra. Con gái thì ít người cho đi học, mà có cho đi học, đủ biên sổ sách và biết tính toán mà thôi. Về phần nhà nghèo thì con lên bảy, tám tuổi còn phải ở nhà bồng em làm đỡ cho cha mẹ, chín, mười tuổi phải tập nghề làm ăn, không mấy nhà cho đi học.

Lo lắng cho con – Con độ mười bốn, mười lăm tuổi trở lên, cha mẹ đã đem lòng lo bề gia thất, con trai thì mong dựng vợ, con gái thì mong gả chồng. Xong việc vợ chồng thì lo đến cách lập thân cho con, ngần nào lo phường lo trưởng, lo nhiêu lo xã, cho con bằng mày bằng mặt với làng nước; ngần nào lo sinh cơ lập nghiệp cho con mai sau có chỗ nương nhờ. Nước ta lắm người đẻ nhiều con, thì phải lo hết con này đến con khác, có người lo cả đời.

Xét các tục ta, sinh con ra ai cũng biết thương, biết mến, biết chăm chỉ nuôi nấng, dạy dỗ cho con nên người, nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa, thực là hết lòng hết dạ. Loài người cũng nhờ có tánh ấy mà bảo tồn được chủng loại cho mỗi ngày một sinh sôi nẩy nở thêm ra, thì lòng nhân từ ấy rất là hay lắm. Nhưng chỉ hiềm ta khi xưa chưa hiểu cách vệ sinh trong khi sinh sản, nào nằm than, uống nước tiểu, rất là một cách làm cho sinh bịnh, không trách đàn bà ta nhiều người hay sinh ra hậu sản mà ốm mòn. Đến lúc nuôi con, thì lại hay tin những điều nhảm nhí, không có bực triết học nào mà triết hết được những sự huyền hão ấy. Cho đi học, không có quy củ cách thức nào, còn phần nhiều thì học năm mười năm mà dốt vẫn hoàn dốt, cho nên trong nước một trăm người mới dược một hai người biết chữ, cũng chỉ vì cách dạy dỗ không tiên liệu đấy thôi.

Đến lúc con lớn thì lại lo thay cho con quá. Mà nào lo có ra lo, lo những ngôi thứ trong làng, lo những danh phận vô ích. Chớ nào có lo cho nên một bậc người gì, hay là thành được một nghề gì đâu. Cái lo lắng ấy, hẳn sinh ra lười biếng, hay ăn chơi. Cho nên lắm người, đời cha mẹ hàn gắn chắt chiu, làm nên giàu có, mà đến đời con thì chỉ ăn chơi chỉ phá, chẳng bao lâu mà lại hết nhẵn như không.

Cứ như Âu châu, khi sinh sản, các bà đỡ, cô đỡ chuyên môn đến đỡ, có thuốc có thang, ăn uống sạch sẽ. Khi còn thơ ấu, nuôi nấng có điều có độ, từ lúc cho bú, lúc cho ngủ, lúc cho chơi cũng có thì giờ, thực là hợp với cách vệ sinh. Khi biết học thì cho vào trường học, dạy dỗ có thứ tự, có khuôn phép. Đến lúc khôn lớn, mặc ý cho mà lập thân, không cần gì phải lo lắng thay cho nữa. Bởi vậy con ít tật bệnh, mà nhiều người thông thái, lại gây cái tính tự lập cho con.

Ít lâu nay ta cũng nhiều người nhiễm theo thói Âu châu, trong cách sinh sản, nuôi nấng, cũng đã đổi bỏ thói cũ có lẽ về sau cũng theo nhau mà đổi được hết.

 2. ANH EM, CHỊ EM

Nghĩa anh em – Anh em cùng cha cùng mẹ đẻ ra, gọi là anh em đồng bào, anh em cùng cha khác mẹ goi là anh em dị bào, nhưng tổng chi gọi là anh em ruột cả, còn anh em cùng mẹ khác cha thì gọi là anh em đồng mẫu dị phụ, anh em ấy không thân thiết gì mấy, cũng như ngoài mà thôi.

Anh em cùng một mẹ đẻ sinh ra, thì cứ theo thứ tự đẻ trước là anh, đẻ sau là em. Nhiều mẹ đẻ ra thì con vợ cả là anh, con vợ lẽ là em, không cứ gì nhiều tuổi ít tuổi. Cũng có nhà lấy vợ hầu trước, dù có đẻ con cũng không được là con cả, khi nào kén được người chính thất, đẻ con mới là con cả, cũng có nhà thì bất cứ vợ nào, hễ đẻ trước gọi là anh, đẻ sau gọi là em.

Anh em cốt lấy tình thân ái làm đầu, lá lành đùm lá rách, bênh vực giúp đỡ lẫn nhau. Ta vẫn thường cho anh em ăn chung ở lộn với nhau, hòa mục với nhau là cách vui vẻ là nhà có phúc. Nhưng thường tình thì anh em phương trưởng, phận ai người nấy lo. Nhà phong phú thì cha mẹ lập cho con một cơ nghiệp, nhà tầm thường thì ai phải lo cho thân người ấy, có tư cấp ít nhiều, chớ không mấy người ôm ấp đùm bọc lấy nhau được mãi.

Quyền lợi – Người anh cả có quyền hơn các người em. Cha mất rồi thì người anh là người thay mặt cho cha mà trông nom các em. Em còn thơ bé thì anh phải nuôi nấng, rồi phải lo dựng vợ, gả chồng cho em nữa, gọi là quyền huynh thế phụ. Gia sản cha mẹ để lại, cũng người anh cả được hưởng phần lợi hơn mà công việc trong nhà như là ma chay giỗ tết, người anh cả phải chịu phần nặng.

Nhưng cũng có khi người con út được hưởng phần lợi của cha mẹ để lại nhiều hơn các anh. Vì là anh trước đã đâu yên phận đó, còn em út ở với cha mẹ, rồi thì thừa hưởng cái cơ nghiệp ấy. Cho nên có câu tục ngữ rằng “Giàu con út, khó con út, trút sạch cửa nhà”.

Câu chuyện khuyên anh em thân nhau- Tục ta có một câu chuyện gọi là chuyện giết chó khuyên chồng: Xưa có một người chồng chơi bời thân thích với một người bạn, nay chè mai chén, ngày kia thuốc phiện, chỉ chơi với bạn mà không biết em là đâu. Người vợ khuyên can mãi chồng mà không được. Mới nghĩ ra một kế: một hôm người vợ giết một con chó cạo lông cho trắng trẻo, để trong xó nhà tối. Chồng đi chơi về khuya. Vợ nói dối rằng: Hôm nay nhỡ đánh chết một đứa trẻ, để giấu trong buồng, làm thế nào bây giờ? Chồng sợ mất vía, vào xó buồng xem, quả nhiên có một đứa trẻ nằm đó. Chồng bảo gọi em để nhờ em chôn cho. Vợ nói: Xưa nay chàng chơi thiết với người bạn, không tưởng đến chú nó, bây giờ có nạn sao nó chịu giúp mình, bất nhược nhờ người anh em còn hơn. Chồng nghe lời, cho mời bạn đến, nói chuyện đầu đuôi rồi nhờ bạn chôn hộ cho. Người bạn chôn xong, sáng mai lập tức đi báo quan để lấy công. Anh ta chỉ dẫn cho quan về tận nơi mà khám. Quan đào lên thì là con chó. Hỏi ra thì người vợ thuật chuyện mà nói cái mưu kế của mình cho quan nghe. Chồng từ đó chán người bạn mà thân với em. Câu chuyện tuy tầm thường, nhưng cũng làm được cái gương cho anh em

Chị em, chị em dâu, anh em rể- Chị em ở với nhau, cũng có tình thân ái như anh em, có câu rằng: “em ngã chị nâng, chị ngã em nâng”, ấy là thường tình của người ta. Còn về phần anh em rể, chị em dâu, thì không được thương nhau mấy. Trừ ra nhà có giáo dục, biết lấy lễ nhượng ăn ở với nhau. Còn phần nhiều là hay khủng khỉnh với nhau lắm. Có câu rằng: “Yêu nhau chị em gái, khái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể”, tục ấy cũng là một tục xấu.

Anh em, chị em ở trong nhà lủng củng, gọi là gia đình bất mục. Nhiều người vì một chút lợi gia sản của cha mẹ, đến nỗi xâu xé nhau đem nhau đi kiện, làm cho tàn gia bại sản. Thậm chí có nhà cha mẹ chết, quàn ma lại một chỗ để tranh hương hỏa, chờ cho quan xử đoán xong rồi mới cất ma. Tục ấy gọi là đồi phong bại tục, nhà nào suy đốn mới có anh em, chị em như thế.

*

*       *

Anh em chị em là bát máu sẻ đôi, tình thân thiết hơn cả người khác. Trong cách ăn ở, phải yêu mến nhau. Mà muốn cho được hòa mục mãi mãi thì lại cốt lấy chữ nhẫn làm đầu, nghĩa là nhường nhịn nhau, dẫu có kẻ ngang trái, cũng nhịn đi, rồi sẽ lấy lời khôn lẽ phải mà khuyên bảo nhau thì không bao giờ đến nỗi khích bác nhau, mặt lăng mày vực với nhau, mà trong nhà vẫn được vui vẻ, cha mẹ cũng được thỏa lòng.

Nhưng cũng chớ nên mong chờ lẫn nhau, mong nhờ nhau là một thói ỷ lại, không biết quý sự tự lập, thì là làm cho hư mất nết người. Đã đành anh em nghĩa nên cứu giúp nhau, nhưng cũng phải nghĩ kế tự lập mới được. Chớ cứ ăn không ngồi rồi rượu chè cờ bạc để chắc trông cậy về anh em chị em thì là một tính cách rất đê tiện, làm hại lây cho người có chí mà thôi.

Tháng Ba 26, 2015

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 1 tháng 4 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/3/2014:

Giao lưu nghệ thuật “Bài ca hạnh phúc”

Tối 19-3, tại Nhà hát TP Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật với chủ đề “Bài ca hạnh phúc”.

Chương trình nhằm hưởng ứng Ngày Quốc tế hạnh phúc (20-3) và kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ðồng thời, chương trình là thông điệp kêu gọi, nhắc nhở trách nhiệm của mỗi người trong việc giữ gìn tổ ấm gia đình, giữ gìn hạnh phúc của chính mình; khơi dậy việc thực hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tại chương trình, đông đảo khán giả được thưởng thức các tiết mục nghệ thuật do nhiều nhóm nghệ sĩ nổi tiếng trình diễn cùng những bài hát ca ngợi vẻ đẹp và tình yêu quê hương, đất nước; đề cao vai trò của gia đình. Ðặc biệt, khán giả đã giao lưu với hai gia đình văn hóa tiêu biểu trên địa bàn thành phố trong việc xây dựng, giữ gìn hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cháu.

PV.

* Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/3/2015:

Để hạnh phúc không từ chối một ai

Nguyễn Sĩ Đại

Mỗi con người đều có một quan niệm riêng về hạnh phúc, nhưng chung nhất, đó là sự thỏa nguyện. Với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, trước hết là độc lập, tự do. Với toàn nhân loại, đó là bình đẳng, bác ái, là sự phát triển hài hòa và bền vững. Bảo đảm tối thiểu nhất cho hạnh phúc là cơm ăn, áo mặc, nhà ở…; càng đầy đủ, giàu có càng tốt nhưng điều đó… chưa đủ. Được sống trong sự trong sạch, lành mạnh của môi trường tự nhiên và xã hội, được đáp ứng về nhu cầu tinh thần, điều đó mới quan trọng hơn.

Sự phát triển ồ ạt của khoa học kỹ thuật, thế giới đã và đang dẫn đến xu hướng kỹ trị, chạy đua tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, chạy đua quyền lực để giành lấy sự thống trị, dẫn đến những cuộc chiến tranh liên miên và ngày càng tàn khốc, trở thành mối đe dọa đối với hạnh phúc con người.

Năm 1987, khi Thời báo Tài chính nước Anh phê phán sự chậm phát triển kinh tế ở Bu-tan, nhà vua nước này, ông Dích-me Xin-ghi Dang-chúc đã trả lời: “Tổng hạnh phúc quốc gia còn quan trọng hơn tổng sản phẩm quốc nội”. Và từ sáng kiến của Bu-tan, ngày 28-12-2012, LHQ đã chọn ngày 20-3 hằng năm, ngày mặt trời nằm ngang đường xích đạo, có thời gian đêm và ngày bằng nhau, biểu tượng cho sự hài hòa, cân bằng làm Ngày Quốc tế hạnh phúc.

Việt Nam là một trong 193 nước cam kết thực hiện Ngày Quốc tế hạnh phúc, năm 2015 là năm thứ hai tổ chức ngày này.

(…)

Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là nước có chỉ số hạnh phúc hàng đầu. Điều đó thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tính ưu việt của chế độ. Song, không phải chúng ta không đứng trước những thách thức và đang chịu đựng những tai họa của sự phát triển kinh tế quá nóng, sự coi thường văn hóa… Biểu hiện của nó là môi trường tự nhiên nhiều nơi bị hủy hoại nghiêm trọng; đạo đức xã hội suy thoái; nạn xin – cho; mua – bán cả những cái không được phép làm đảo lộn mọi giá trị; hao hụt nguyên khí quốc gia. Cuộc sống và Đảng dạy ta rằng, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật để từ đó cải biến hoàn cảnh, làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

Và mong muốn lớn hơn, đó là: Hạnh phúc không từ chối một ai!

N.S.Đ.

* Tin trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 22/3/2015:

Xây cột cờ Tổ quốc trên đảo Trần

Sáng 21-3, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, tỉnh đoàn Quảng Ninh và Ngân hàng BIDV khởi công xây dựng cột cờ Tổ quốc tại đảo Trần (huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh).

Đây là một trong những cột cờ chủ quyền Tổ quốc được xây dựng tại các đảo tiền tiêu từ Bắc vào Nam: Bạch Long Vỹ (TP Hải Phòng), Cù Lao Xanh (tỉnh Bình Định), Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Côn Sơn (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), Thổ Chu (tỉnh Kiên Giang), Hòn La (tỉnh Quảng Bình).

Cột cờ trên đảo Trần có chiều cao 22,6m với tổng mức đầu tư khoảng 1,3 tỉ đồng do Tỉnh đoàn Quảng Ninh, ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV làm chủ đầu tư, đơn vị thi công xây dựng là Tổng công ty Đông Bắc – Bộ Quốc phòng. Cột cờ được xây dựng tại vị trí gần trạm rađa Hải quân 480 – điểm cao nhất của đảo Trần (cao 188m so với mực nước biển), đế trụ và móng cột cờ được xây dựng bằng bêtông cốt thép, hướng nhìn ra biển.

Cờ vải có kích thước 4m x 6m và được may bằng chất liệu vải bền vững với đặc thù gió biển.

Công trình dự kiến hoàn thiện ngày 19-5-2015, nhân dịp kỷ niệm 125 ngày sinh Bác Hồ.

Đức Hiếu

* Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 19/3/2015:

Dân hương tưởng niệm nhân 128 năm Ngày mất danh nhân Lê Thành Phương

Sáng 18-3, tỉnh Phú Yên long trọng tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm 128 năm Ngày mất danh nhân lịch sử Lê Thành Phương (1887-2015) tại Di tích cấp quốc gia Ðền thờ Lê Thành Phương (thôn Mỹ Phú, xã An Hiệp, huyện Tuy An). Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông tổ chức và lãnh đạo kéo dài ba năm (1885-1887), đánh dấu thời kỳ mở đầu và cũng là đỉnh cao của phong trào Cần Vương ở Phú Yên. Bị giặc bắt và xử tử ngày 28 tháng Giêng, năm Ðinh Hợi (1887), tại bến đò Cây Dừa (xã An Dân, huyện Tuy An ngày nay), trước khi chết, Lê Thành Phương đã khảng khái nói: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục” nghĩa là “Thà chịu chết chứ không chịu nhục”.

* Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 19/3/2015:

Công bố 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2014

Ngày 18-3, tại Hà Nội, T.Ư Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh và Quỹ Hỗ trợ Tài năng trẻ Việt Nam tổ chức gặp mặt báo chí, công bố danh sách 10 cá nhân đạt Giải thưởng Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2014.

Theo đó, các cá nhân được trao Giải thưởng đều có thành tích xuất sắc trong nhiều lĩnh vực. Cụ thể: Phạm Tuấn Huy, SN 1996, Trường đại học Khoa học tự nhiên (Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), lĩnh vực học tập; TS Phan Minh Liêm, SN 1983, Chủ tịch Hội Sinh viên sau đại học của Ðại học Texas – Viện Anderson, lĩnh vực nghiên cứu khoa học; Lê Văn Sang, SN 1985, trú 90 Mai Lão Bạng, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, TP Ðà Nẵng, lĩnh vực lao động, sản xuất, kinh doanh; Tráng Seo Pao, SN 1983, Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Thu Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, lĩnh vực lao động, sản xuất, kinh doanh; Nguyễn Văn Sơn, SN 1986, Giám đốc Chi nhánh Viettel Thái Nguyên, lĩnh vực lao động, sản xuất, kinh doanh; Lê Trung Thành, SN 1983, Thuyền trưởng tàu CSB 4033 (Bộ Tư lệnh CSB Vùng 2, Núi Thành, Quảng Nam), lĩnh vực quốc phòng; Thiếu tá Phan Mạnh Hùng, SN 1979, Ðội trưởng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Nghệ An, lĩnh vực an ninh trật tự; Thạch Kim Tuấn, SN 1994, vận động viên cử tạ, quê Bình Thuận, đang thi đấu trong mầu áo TP Hồ Chí Minh, lĩnh vực thể dục – thể thao; Quách Hoàng Nhi, SN 2004, học sinh lớp 5B, Trường tiểu học Nam Thành Công, năm thứ 2 hệ trung cấp Piano, Học viện Âm nhạc quốc gia, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; TS Nguyễn Bá Hải, SN 1984, giảng viên Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, lĩnh vực hoạt động xã hội.

Lễ trao giải, tôn vinh 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu 2014 sẽ diễn ra vào ngày 28-3, tại Hà Nội.

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 22/3/2015:

Vinh danh những người hiến tạng

Lễ vinh danh những người hiến tạng nhân đạo và vận động đăng ký hiến tạng nhân đạo đã được Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhân dân 115 và Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP.HCM) phối hợp tổ chức vào sáng 21-3.

Phát biểu tại buổi lễ, PGS.TS.BS Nguyễn Trường Sơn, giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, nhấn mạnh: chương trình ghép tạng không thể thành công nếu không có sự hi sinh tự nguyện của những người hiến tạng.

Đến nay, Bộ Y tế đã quy định về việc tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp y tế cho những người hiến tạng và đặc biệt là tặng thẻ bảo hiểm y tế cho những người hiến tạng.

Điều này thể hiện chủ trương khuyến khích toàn dân tham gia chương trình hiến tạng để mang lại cuộc sống có chất lượng cho các bệnh nhân.

Được biết, năm 1992 ca ghép thận đầu tiên được thực hiện tại Học viện Quân y. Đến nay, nước ta đã có 1.200 trường hợp ghép thận, 30 trường hợp ghép gan, 10 trường hợp ghép tim và một trường hợp ghép thận – tụy.

Hiện nhu cầu ghép tạng tại nước ta rất lớn với hơn 8.000 người bị suy thận mãn giai đoạn cuối cần được ghép thận, hơn 1.500 người cần được ghép gan, hơn 6.000 người đang chờ được ghép giác mạc và hàng trăm người đang chờ được ghép tim, phổi, tụy tạng.

Thùy Dương

* Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/3/2015:

Trao kỷ niệm chương ngành Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch tặng Đại sứ Hung-ga-ri tại Việt Nam

Ngày 17/3, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lễ trao Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch tặng Tiến sĩ Tô-đa E-xtơ, Đại sứ Hung-ga-r tại Việt Nam. Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh ghi nhận những đóng góp của bà Tô-đa E-xtơ trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Hung-ga-ri, đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, đạt nhiều hiệu quả với các chương trình hợp tác toàn diện.

* Bài trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/3/2015 :

Ấm áp giai điệu quê hương trên đất Pháp

Giáo sư HOÀNG CHƯƠNG

Khi người Hà Nội còn đang vui Tết và đón Xuân Ất Mùi, đoàn nghệ sĩ của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã lên đường sang Pa-ri (Pháp), thực hiện một hành trình giới thiệu, quảng bá nghệ thuật hát xẩm và bài chòi – hai loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộHat xam tai Phap (mai tuyet hoa)c, tại trung tâm của châu Âu. Chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại ấn tượng với bạn bè quốc tế và nhận được nhiều tình cảm của những người Việt xa quê hương.

(…)

Chúng tôi đến Pa-ri khi châu Âu đang giữa mùa lạnh giá, nhưng được sự đón tiếp nồng nhiệt của cán bộ Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp đã khiến các nghệ sĩ cảm thấy ấm áp và thân quen như ở nhà. Giám đốc trung tâm Nguyễn Thành Vượng, một người con quê hương Kinh Bắc, vốn “nằm lòng” từ nhỏ những giai điệu quan họ Bắc Ninh, rất hồ hởi, vui mừng với sự góp mặt của các nghệ sĩ nổi tiếng trong đoàn. Anh nói với tôi: “Biết thông tin đoàn sang, đã có rất nhiều bạn Pháp, bà con Việt kiều hỏi thăm và mong chờ đoàn. Một số bà con Việt kiều cao tuổi đã từng biết xẩm Hà Thành và trong ký ức của họ, xẩm gắn với một thời hoài niệm không bao giờ phai mờ về một Hà Nội xưa. Có người hỏi em, thế xẩm Ðồng Xuân, xẩm Bờ Hồ ngày trước vẫn còn hả chú. Em phải giải thích cho các bác, các cô, các chú hiểu, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đang cố gắng duy trì và phục dựng lại để xẩm không mất. Làn điệu thì vẫn thế, nhưng bên cạnh nội dung lời ca cũ, đã có thêm nhiều lời ca mới, phù hợp cuộc sống đương đại”.

Các anh ở Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp cũng cho biết, nhiều Việt kiều quê ở Bình Ðịnh và các tỉnh Nam Trung Bộ ở Pa-ri và thậm chí là nhiều vùng khác của nước Pháp đã gọi điện hỏi về đoàn khi biết có tiết mục bài chòi. Có những người đã lặn lội về Pa-ri dự buổi biểu diễn, tan cuộc vẫn còn nán lại hỏi thăm tôi và các nghệ sĩ đầy bịn rịn trước khi vội vã ra bến Mê-tờ-rô-pôn để kịp đáp chuyến tàu đêm trở về thành phố nơi họ ở. Một bác Việt kiều đã lớn tuổi cầm tay tôi lắc lắc vẻ xúc động sau khi tôi diễn xong: “Ðã lâu lắm tôi mới lại được nghe lại những làn điệu bài chòi mặn mòi quê tôi. Vui đấy mà chỉ muốn khóc ở trong lòng thôi”.

Trong nhiều buổi biểu diễn của đoàn tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp, đều có sự tham dự của đông đảo cán bộ Ðại sứ quán Việt Nam tại Pháp, cán bộ các doanh nghiệp, đơn vị và các lưu học sinh, sinh viên, người lao động Việt Nam đang công tác, làm việc tại nước bạn. Mở đầu thường là phần hát tặng của nghệ sĩ xẩm Mai Tuyết Hoa và các nghệ sĩ khác trong đoàn. Riêng phần tôi, bên cạnh bài chòi, còn phải giới thiệu, biểu diễn minh họa về nghệ thuật tuồng truyền thống theo yêu cầu của nhiều người xem, giúp cho những người con sống xa quê hương tiếp cận được những nét đẹp, những giá trị của nghệ thuật hát tuồng hay còn gọi là hát bội như ở các địa phương trong nam thường gọi.

Ấn tượng nhất với tôi là đêm diễn đầu tiên mang tên “Tết làng tôi” tại sân khấu Ban-ta (Baltard) do Hội người Việt Nam tại Pháp, Hội Sinh viên Việt Nam tại Pa-ri và Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp phối hợp tổ chức. Ðại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Ngọc Sơn cùng phu nhân, đại diện Thượng nghị viện Pa-ri và nhiều bạn bè Pháp thân thiết với Việt Nam đã đến dự. Ðiều đặc biệt là tôi đã được gặp lại nữ đồng chí Ray-mông Ðiêng, một nhà hoạt động cách mạng lão thành, người bạn thủy chung đã có nhiều đóng góp lớn lao đối với cách mạng Việt Nam. Không nhiều thời gian để quảng cáo, song nhiều người lại biết và đêm diễn đã thu hút tới 1.300 khán giả đến xem. Chương trình hôm đó có sự kết hợp biểu diễn của đoàn với các nghệ sĩ của một số đoàn nghệ thuật ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, cùng các cháu trong các câu lạc bộ văn hóa của thiếu nhi Việt kiều và sinh viên Việt Nam ở Pháp. Tiết mục cải lương của Quế Trân, Tấn Giao, Duy Khôi và ca nhạc của NSƯT Ánh Tuyết, Tuấn Mạnh được cổ vũ rất nhiệt tình, song có lẽ chiếm được nhiều tình cảm của người xem hơn cả là các tiết mục hát xẩm và bài chòi. Sau mỗi tiết mục, khán giả đã đứng dậy để vỗ tay khen ngợi nhiều lần. Nữ đồng chí Ray-mông Ðiêng không thể lên sân khấu để chúc mừng, bà bắt chặt tay và ôm hôn khi tôi đi xuống để cảm ơn. Bà nói với chúng tôi: “Cảm ơn các nghệ sĩ đã cho tôi sống lại với không khí thân quen, nồng ấm tình bạn, tình đồng chí của Việt Nam, nơi tôi đã coi như quê hương thứ hai của mình”. Tiếp nối đêm diễn đầu tiên, chương trình kết hợp này còn được lưu diễn ở hai địa điểm nữa là Ê-pa-xơ Giăng Vi-la và TP Mác-xây do Hội Hữu nghị Việt – Pháp tổ chức. Riêng ở TP Mác-xây còn có thêm tiết mục độc tấu đàn tơ-rưng của nghệ sĩ Thanh Dần, đem đến cho đồng bào Việt kiều cũng như người Pháp những âm điệu độc đáo của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ và cả những làn điệu dân ca Pháp.

Ðêm diễn của đoàn ở Ðại sứ quán Việt Nam cũng là buổi họp mặt mừng Xuân Ất Mùi của cán bộ sứ quán và các cơ quan đại diện nước ta tại Pháp, cùng đại diện nhiều tổ chức và cá nhân Việt kiều, người Việt Nam tại Pa-ri. Ðiểm nhấn trong đêm đón Xuân là chương trình văn nghệ của đoàn với các tiết mục hát xẩm, độc tấu đàn tơ-rưng và các tác phẩm âm nhạc của nhạc sĩ Giáng Son. Tôi được ban tổ chức mời lên phát biểu về thành tựu phục hồi và phát huy nghệ thuật dân tộc nước nhà và giới thiệu về môn nghệ thuật hát xẩm. Theo các cán bộ tại Ðại sứ quán Việt Nam và Trung tâm Văn hóa Việt Nam, đã lâu lắm xẩm và các nghệ sĩ hát xẩm mới lại xuất hiện trên đất Pháp. Từ Ðại sứ Nguyễn Ngọc Sơn đến các cháu sinh viên, học sinh còn nhỏ tuổi, hàng trăm người có mặt đêm đó đã chăm chú lắng nghe và tìm hiểu về những thông tin, kiến thức mà tôi cung cấp về xẩm. Cuối buổi biểu diễn và nói chuyện, nhận xét về ba đêm diễn thành công của đoàn trong mấy ngày vừa qua, Ðại sứ Nguyễn Ngọc Sơn cho biết: “Có thể nói, đây là đêm nghệ thuật dân tộc đặc sắc mà hiếm có dịp diễn ra tại Ðại sứ quán Việt Nam trong những dịp đón Xuân, vui Tết như lần này. Ðã có nhiều nghệ sĩ từ Việt Nam đến đây biểu diễn nhưng đa số là tiết mục quen thuộc, còn xẩm là lần đầu tiên”.

G.S.H.C

* Tin trang 6 báo Tuổi Trẻ ngày 2/3/2015:

Thơ Việt giữa lòng nước Mỹ

Nguyễn Phan Quế Mai (từ Atlanta)

Khi tôi đặt chân đến thành phố Atlanta theo lời mời của Trung tâm thi ca Poetry@Tech, cơn bão tuyết cũng vừa ập đến. Ðường phố im ắng, các trường học, văn phòng đóng cửa. Nhìn những bông hoa tuyết phủ trắng đất trời, tôi không khỏi thở dài: buổi đọc thơ của tôi ở Trường đại học Georgia Tech cùng với nhà thơ, cựu binh Mỹ Bruce Weigl chắc chắn… sẽ ế ẩm.

Gần đến giờ khai mạc, giáo sư Thomas Lux – giám đốc Trung tâm Poetry@Tech – lái xe đưa chúng tôi đến bãi đỗ xe của trường. Chỉ vào những chiếc xe lấp lánh Nguyen Phan Que Maiánh tuyết đang đậu thành những dãy dài, ông cười: “Khách của chúng ta đã đến”.

Bước vào khán phòng Kress Auditorium rộng rãi và ấm áp, tôi không khỏi sửng sốt: các dãy ghế đã chật kín người. Khán giả nghe thơ hôm nay không chỉ là những sinh viên mà hơn một nửa là những người lớn tuổi, tóc trên đầu đã bạc.

Ðến giờ khai mạc, hết ghế, người ta ngồi bệt ở các lối đi và xung quanh sân khấu. Nhà thơ Thomax Lux rỉ tai tôi: “Hôm nay có thơ Việt nên khác hẳn, số người tham dự đạt mức kỷ lục từ trước đến nay: 270 người”.

Trong suốt hơn một giờ, tôi và Bruce Weigl đã lần lượt đọc những bài thơ bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh và kể những câu chuyện về một Việt Nam yêu hòa bình, đang vượt qua mọi gian khó để vươn lên. Thật xúc động khi buổi đọc thơ kết thúc, tất cả mọi người đồng loạt đứng dậy, những tràng vỗ tay kéo dài, dài mãi.

Sau buổi đọc thơ, tôi đã nhận được những cái ôm đầy trìu mến của những người tham dự. Hóa ra rất nhiều trong số những người lớn tuổi có thân nhân tham chiến ở Việt Nam. Họ đã kể cho tôi nghe những câu chuyện đầy ám ảnh về nỗi đau và mất mát của gia đình mình. Những người trẻ hơn bày tỏ sự thích thú khi lần đầu tiên được nghe những bài thơ ngân lên bằng tiếng Việt và mong ước một ngày được đến Việt Nam.

(…)

Rời Trường đại học Georgia Tech, tôi đem theo bao kế hoạch về việc quảng bá nhiều hơn nữa vẻ đẹp của thi ca Việt Nam đến Atlanta. Và tôi cũng đem theo cái ôm rất chặt của cô sinh viên tên Uyên, người đã được sinh ra trên đất Mỹ và chỉ trở về Việt Nam một lần khi còn rất nhỏ. “Em đã khóc rất nhiều buổi tối hôm nay. Em sẽ sớm phải trở về quê hương, chị ạ” – Uyên thầm thì cùng tôi, khi ngoài kia, mùa đông vẫn đang vần vũ.

* Bài trang 16 báo Tuổi Trẻ ngày 19/3/2015:

Chữ nghĩa hồi hương

Nam Phú

Mươi năm trở lại đây, nhiều cuốn sách của các học giả, nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài đã tái xuất với bạn đọc trong nước ngày một thường xuyên hơn.

Và dù trải qua không ít nhọc nhằn “đường xa vạn dặm”, những quyển sách ấy vẫn đang chứng tỏ sức hấp dẫn và nghĩa lý hiện hữu của mình trước đời sống học thuật nội địa đang tỏ ra tích cực đón nhận hơn bao giờ hết.

Trong số những cuốn sách gây tiếng vang khi trở về quê nhà thì hiện tượng Tạ Chí Ðại Trường với Thần, người và đất Việt (2006), Những bài dã sử Việt (2011) có thể coi là khá đặc biệt khi chúng tạo nên cơn “sốt” tìm đọc ở bối cảnh mà môn lịch sử đang bị “lạnh nhạt”, thờ ơ.

Lối viết sử sắc sảo, giọng điệu cá nhân rõ nét và nhất là nhiều giả thuyết độc đáo, mới mẻ đã khiến các công trình của Tạ Chí Ðại Trường nhanh chóng thu hút độc giả, giúp họ tri nhận lại nhiều điểm mờ, điểm chưa hoàn tất của quá khứ.

Chu nghia hoi huongNgay tức thì, hai chuyên khảo khác của ông, Người lính thuộc địa Nam kỳ 1861-1945 (2011) và Lịch sử nội chiến ở VN 1771-1802 (2012) từng hoàn thiện trước năm 1975 cũng được tái bản, đưa ông vào hàng tác giả có lượng trích dẫn và tham chiếu thường xuyên ở nhiều bài viết, thảo luận.

Qua trường hợp Tạ Chí Ðại Trường, có thể thấy người trẻ không đến mức quay lưng với lịch sử. Có chăng là nên đặt vấn đề phải viết lịch sử như thế nào mà thôi.

Cũng ở lĩnh vực khoa học xã hội, các công trình của Trương Bá Cần (Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm củng cố cơ sở tại Nam kỳ 1862-1874, 2011), Trịnh Văn Thảo (Ba thế hệ trí thức người Việt 1862-1954, 2013; Xã hội Nho giáo VN dưới nhãn quan của xã hội học lịch sử, 2014), Nguyễn Thanh Nhã (Bức tranh kinh tế VN thế kỷ XVII và XVIII, 2013), Cao Huy Thuần (Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại VN 1857-1914, tái bản 2014), Lê Thành Khôi (Lịch sử VN từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, 2014), Nguyễn Văn Trung (Hồ sơ về lục châu học, tìm hiểu con người ở vùng đất mới, 2015)… đều thật sự có giá trị khai mở, không chỉ đối với giới chuyên môn mà với những ai quan tâm đến Việt học.

Sẽ còn phải bàn luận sâu hơn về các cuốn sách nhưng chỉ riêng việc chúng được chào đón cũng là một sự thành công. Rõ ràng sự hồi hương này không phải là kiều hối, là thứ có thể ăn ngay mà là chữ nghĩa, kiến thức có khả năng mở mang dân trí và nuôi giữ ngọn lửa hiếu tri trong nhiều thế hệ.

* Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 19/3/2015:

Ba giống ngô chuyển gen đầu tiên được phép sản xuất đại trà tại Việt Nam

Ngày 18/3, tại Hà Nội, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tổ chức công bố về việc công nhận ba giống ngô biến đổi gen của Công ty Syngenta Việt Nam, bao gồm: NK66 Bt, NK66 GT, NK66 Bt/GT, chính thức được phép đưa vào sản xuất đại trà tại Việt Nam (theo Quyết định số 69/QĐ-CT-CLT, ngày 12/3/2015). Ba giống ngô trên được tạo ra từ giống nền là giống ngô lai NK66- giống ngô có năng suất cao, chất lượng ổn định, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận chính thức và được bổ sung vào Danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam từ năm 2006. Tuy nhiên, các giống ngô biến đổi gen NK66 Bt và NK66 Bt/GT cho hiệu quả phòng trừ sâu đục thân cao; giống ngô NK66 GT có khả năng chống chịu cao với thuốc trừ cỏ gốc glyphosate; đồng cho năng suất tương đương hoặc cao hơn so với giống ngô lai NK66.

PV

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 24/3/2015:

Nắn quốc lộ để giữ một cây cổ thụ

Thái Bá Dũng

Tuyến quốc lộ 14 dù đã được hoàn thiện nhưng một cây gạo cổ thụ không bị chặt bỏ như kế hoạch ban đầu mà được đơn vị thi công giữ lại để tạo cảnh quan (…) Theo thiết kế ban đầu, để nắn thẳng tuyến đường, cây gạo nói trên sẽ bị chặt hạ, san lấp để thay thế bằng nền đường. (…) Khi công nhân và các đơn vị thi công chuẩn bị làm thì nhiều người dân bày tỏ sự tiếc nuối vì mất đi bóng cây cổ thụ.
Cay gao co thu truoc cua ngo vao Pleiku

Cây gạo này đã có từ trước đó hàng chục năm, đi vào tiềm thức nhiều người dân ở Pleiku. Ban quản lý dự án đã báo cáo lên trên.

Sau khi khảo sát đánh giá kỹ lại khúc đường này, Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh đã đồng ý để đơn vị thi công chỉnh tim đường, né qua một khoảng cách ngắn để giữ lại cây cổ thụ.

Tháng Ba 20, 2015

Nhạc sĩ Phạm Tuyên – Gửi hương cho đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 3 năm 2015.

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN – GỬI HƯƠNG CHO ĐỜI

Nguyễn Vũ

Hơn nửa thế kỷ sáng tác, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có một khối lượng sáng tác đồ sộ về đề tài cách mạng, thiếu nhi. Mới đây, ông đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Chúng tôi gặp ông vào một buổi chiều cuối tuần tại khu tập thể ngõ 40, phố Vạn Bảo (quận Ba Đình, Hà Nội). Nhâm nhi chén trà, ông chậm rãi kể chuyệnChu tich nuoc Truong Tan Sang tang giai thuong HCM cho Pham Tuyen đời và chuyện nghề.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh năm 1930 tại Hà Nội, quê cha là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hải Dương). Ông là con thứ 9 của chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh. Năm lên 3 tuổi, Phạm Tuyên theo gia đình vào Huế. Chính tại đây, tâm hồn ông được bồi đắp vốn tri thức văn hóa và âm nhạc đáng kể. Năm 15 tuổi, cha mất, mẹ cũng lâm bệnh rồi qua đời sau đó, Phạm Tuyên cùng các anh chị phải tự bươn chải lập nghiệp. Từ khi vào trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn và rồi tham gia công tác trong Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, ông bắt đầu viết nhạc. Trong những ngày lửa đạn, công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam rồi đài Truyền hình Việt Nam, ông đã góp phần động viên lớp lớp thanh niên miền Bắc tòng quân cứu nước với những ca khúc hừng hực lửa cách mạng như Chiếc gậy Trường Sơn và dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của ông là bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng sáng tác vào tháng 4/1975.

Ông cho biết: “Trong suốt cuộc đời sáng tác của tôi, nguồn động viên duy nhất mà tôi cảm thấy giúp cho mình sáng tạo không ngừng là tình yêu của nhân dân, niềm tin vào Đảng, cách mạng. Tôi muốn mang lại niềm vui cho mọi người bằng những tác phẩm của mình…”

Không chỉ nổi tiếng với những tác phẩm “theo cùng năm tháng”, nhạc sĩ Phạm Tuyên còn là nhạc sĩ của tuổi thơ với những sáng tác dành cho thiếu nhi.

Không chỉ sáng tác nhạc, ông còn dịch hàng trăm bài hát của các nước, viết 10 tập sách về thường thức âm nhạc. Ca từ trong các sáng tác của ông không cầu kỳ mà gần gũi, thấm sâu vào trong lòng quần chúng nhân dân. Hơn nửa thế kỷ sáng tác, Phạm Tuyên đã có một gia tài tác phẩm âm nhạc đồ sộ với khoảng 700 ca khúc. Những ca khúc của ông song hành cùng nhân dân và cách mạng qua mọi thời khắc lịch sử của đất nước.

Năm 2012, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học Nghệ thuật… Ông cũng được vinh danh là một trong 10 công dân ưu tú thủ đô năm 2011.

N.V.

Binh Giang Ngay Moi

Tôi thiết kế khu tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 3 năm 2015.

TÔI THIẾT KẾ KHU TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

PGS TS KTS Tôn Thất Đại, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Tôn Thất Đại sinh năm 1937 tại Hà Nội là trưởng nam của trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng điều hành trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng Tám.

—-o0—-

Tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, gia đình họ Phạm có một miếng đất nhỏ ở ngoài đồng, tại đây có mộ cụ Phạm Hữu Điển, thân sinh của Phạm Quỳnh. Ngôi mộ này có một nhà bia, sau bia là mộ Cụ.

Tháng 5/2010, khi sửa chữa nâng cấp khu mộ cụ ĐBia tuong niem nha van hoa Pham Quynhiển, tôi đã thiết kế sửa chữa lại nhà bia, ngôi mộ lát gạch men đen và xám và lát lại toàn bộ diện tích sân bằng gạch vuông đỏ Bát Tràng. Mái đắp giả ngói màu xanh lá cây, xây thêm và đắp lại cụm chim phượng trên hai cột trụ cổng vào khu lăng mộ.

Tháng 9/2014 nhạc sĩ Phạm Tuyên giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế khu tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh trên phần đất cạnh lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mảnh đất này rộng chừng 150m2. Cụ Phạm Quỳnh được an táng ở Huế tại chùa Vạn Phước, nên ở đây chỉ xây dựng một khu tưởng niệm ở nơi quê nhà để con cháu có điều kiện thăm viếng và trên mảnh đất này sẽ có thêm một số ngôi mộ của gia đình nữa.

Tôi đã thiết kế một mặt bằng tổng thể trên miếng đất cạnh khu nhà bia và lăng mộ cụ Phạm Hữu Điển. Mặt bằng này gồm một nhà bia trong có bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, sau khu nhà bia là một tường dạng cuốn thư đớn giản trên có ghi một câu của Phạm Quỳnh. Cạnh đấy là hai dãy mộ nhỏ cho người trong gia đình họ Phạm.

Những suy nghĩ của tôi khi thiết kế là khu vực này phải thấp hơn khu lăng mộ cụ Điển vì là hàng con cháu. Nhà bia là công trình quan trọng nhất. Tuy là một kiến trúc rất nhỏ nhưng phải đẹp và trang trọng. Tất cả các lăng mộ trong khu vực này đều làm rất đồ sộ, hình thức dân tộc có mái cong, nhiều hoa văn trang trí, phù điêu đắp nổi rồng phượng và nhiều màu sắc rực rỡ. Tôi nghĩ nhà bia này phải hiện đại nhưng lại phải mang tính dân tộc – qua nhiều phác thảo tôi quyết định không làm mái cong mà làm mái bằng hiện đại nhưng có bốn đầu đao trên bốn cột có những con sơn đua ra dạng kết cấu truyền thống – tất cả lát đá đen, hai cột trước với hai hàng chữ Nôm và chữ quốc ngữ hai câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”, “Tiếng ta còn nước ta còn” và chân dung Phạm Quỳnh cùng hàng chữ là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn con rể nhạc sĩ Phạm Tuyên chỉ đạo thực hiện.

Phía sau nhà bia, trước đây tôi dự định làm một bức tường dạng cuốn thư nhưng tinh giản đi để viết một câu của Phạm Quỳnh, nhưng đo đạc lại thì diện tích quá hẹp nên cuối cùng quyết định chỉ làm một bức tường nhỏ với kích thước rộng 190cm, cao 200cm, cách bậc cuối cùng của nhà bia có 160cm thôi.

Bia da den o Lang QuynhTrên bức tường này có câu: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” . Câu này do Tôn Thất Thành em ruột tôi đề xuất lấy trong bài văn cuối đời của Phạm Quỳnh Cô Kiều với tôi, viết đúng sáng 23/8/1945 định mệnh.

Ngày 22/11/2014 trên đường về Hải Dương tôi đưa bản phác thảo bức tường có câu của Phạm Quỳnh cho Pham Tuyen - Pham Dungmấy anh chị em cùng đi trong ô tô xem thì anh Phạm Dũng cháu nội Phạm Quỳnh nói là nếu câu đó là chữ viết của Phạm Quỳnh thì hay biết mấy. Thật là một ý kiến hay. Tôi liền điện thoại cho Tôn Thất Thành và ngay lập tức cháu Thành Trung, con trai em Thành tôi đã gửi từ thành phố Hồ Chí Minh ra bản photo thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo chữ ký của ông được in phóng to. Họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã phác thảo bố cục dòng chữ đó lên bức tường dự kiến . Họa sĩ Tuấn đã làm hai phương án: câu này viết thành hai dòng hay viết thành ba dòng? Tuấn và tôi đã thảo luận và quyết định viết thành 3 dòng như vậy có mạch văn khúc chiết, mạnh mẽ nổi rõ tính chất lập luận đanh thép. Hơn nữa với ba dòng chữ thì bố cục trên bức tường sẽ đầy đặn hơn, chỗ ngắt câu sẽ tạo một đường chéo đẹp. Việc tìm những tảng đá có diện tích lớn và làm được dòng chữ này cùng chữ ký của Phạm Quỳnh là công lao vất vả của họa sĩ Tuấn.

Gia dinh Pham Tuyen tai Lang QuynhTiếp đó là phần mộ của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết, vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên và cả ngôi mộ dự kiến của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng được xây dựng – những ngôi mộ này cũng thiết kế đơn giản với đường nét có góc nhọn tam giác, hình ảnh mái nhà giống bia Phạm Quỳnh để tạo nên sự nhất quán về phong cách kiến trúc. Lang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangBia và ảnh chân dung của bà Tuyết được một mái che, mái này che được cả bát hương. Ngôi mộ cũng được lát đá đen. Hai ngôi mộ của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đặt sát cạnh nhau theo dạng song táng. Vị trí các ngôi mộ khác cũng đã được ấn định trong mặt bằng tổng thể. Việc trồng cây và xây dựng ghế đá tạo nên một công viên nghĩa trang nhỏ sẽ tiếp tục được làm sau này. Cây hương nhỏ thờ thổ địa cũng được tạo hình vuông vắn đơn giản đặt xế cạnh trước nhà bia.

Tuy là một công trình kiến trúc nhỏ, nhưng tất cả con cháu chắt cụ Phạm Quỳnh đều quan tâm đóng góp trí tuệ và công sức một cách trân trọng và tích cực. Việc liên hệ công việc thiết kế, xây dựng, mua sắm vật liệu chủ yếu do Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tuyền con gái cả nhạc sĩ Phạm Tuyên đảm nhiệm với sự giúp đỡ tích cực của đồng chí Vũ Đình Năng (Nguyên nhiều năm làm bí thư Đảng ủy, kiêm chủ tịch xã Thúc Kháng huyện Bình Giang). Ông đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng khu bia tưởng niệm này mà người dân ở đây quen gọi là “Lăng Quỳnh”.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

PGS TS TKS Tôn Thất Đại

Cháu ngoại Phạm Quỳnh

 

Trên quê hương yêu dấu _ P11

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 5 tháng 3 năm 2015.

 TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 * Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/3/2015 :

Lễ đặt đá xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma

Ngày 13-3, tại xã Cam Hải Ðông, huyện Cam Lâm (Khánh Hòa), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ đặt đá xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma, nhằm ghi công và tri ân 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma, quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Khu tưởng niệm Gạc Ma được xây dựng trên khuôn viên rộng 2,5 ha, gồm các hạng mục: Tượng đài, Nhà bảo tàng, hệ thống cây xanh… Kinh phí xây dựng được trích từ nguồn đóng góp của các tổ chức công đoàn, người lao động cả nước trong chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa – Trường Sa” do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động tháng 3-2014. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành sau một năm thi công, trở thành một công trình văn hóa, điểm tham quan, giáo dục truyền thống yêu nước và giữ nước cho thế hệ trẻ; đồng thời khẳng định đảo Gạc Ma nói riêng và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói chung thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Dat da o Gac Ma* Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/3/2015:

Tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma năm 1988

Sáng 14-3, tại TP Đà Nẵng, Ban liên lạc Bộ đội Trường Sa tại Đà Nẵng tổ chức thả hoa đăng và làm lễ tưởng niệm 64 liệt sĩ hy sinh trong trận chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma (quần đảo Trường Sa) năm 1988.

Nhiều cựu chiến binh Trung đoàn 83 Công binh, Quân chủng Hải quân Việt Nam (nay là Lữ đoàn 83 Công binh -E83) đã thắp hương tưởng nhớ các đồng đội. Lễ tưởng niệm hôm nay để tưởng nhớ, tri ân những cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, góp phần giữ gìn biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay trong việc giữ vững chủ quyền quốc gia, phát huy truyền thống của cha anh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.

64 đèn hoa đăng tượng trưng cho vong linh 64 Anh hùng liệt sĩ Gạc Ma, đã được thả xuống biển Đà Nẵng, hướng về Trường Sa.

* Chiều cùng ngày, gần 500 cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu tại Trường Sa trên khắp cả nước đã có buổi gặp mặt do Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh Trường Sa tổ chức tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Tại cuộc gặp gỡ cảm động này, các cựu chiến binh đã hát cho nhau nghe những bài hát về Trường Sa, về biển và về những năm tháng hào hùng của dân tộc… Những câu chuyện về đảo chìm, đảo nổi ở Trường Sa cũng được các anh kể lại với tình cảm sâu sắc và chứa chan xúc động

Buổi gặp mặt kết thúc, những bó hoa tươi thắm, những cái bắt tay thật chặt được đồng đội trao cho nhau. Trước khi ra về, những người lính Trường Sa năm xưa lại cùng nhau hát vang bài ca Gần lắm Trường Sa của nhạc sĩ Huỳnh Phước Long – Vẫn thấy anh đang giữa sóng cồn giữ đảo. Đảo quê hương canh giữ đêm ngày giữa biển khơi…

PV và TTXVN

* Trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 13/3/2015:

Lời nhắc nhớ từ đài tưởng niệm Gạc Ma

Hôm nay 13-3-2015, một ngày trước ngày kỷ niệm 27 năm Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14-3-1988), lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma sẽ được tiến hành ở xã Cam Hải Đông (huyện Cam Lâm, Khánh Hòa).

Tròn một năm trước, ngày 10-3-2014, lời kêu gọi đóng góp cho chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa – Trường Sa” thuộc quỹ xã hội từ thiện “Tấm lòng vàng” do ông Đặng Ngọc Tùng – ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, chủ tịch hội đồng quản lý quỹ này – về việc xây một ngôi đền tưởng niệm những người con đất Việt hi sinh vì chủ quyền Tổ quốc trên biển Đông đã làm lay động hàng triệu trái tim con dân nước Việt.

Một đất nước mà mỗi trang biên niên sử đều thắm đỏ màu máu của những người con trong cuộc chiến tranh vệ quốc, và cũng không phải lần đầu tiên chúng ta xây đền tưởng niệm cho những người lính Việt. Nhưng rõ ràng việc xây dựng đài tưởng niệm Gạc Ma đã chạm một nỗi niềm thẳm sâu trong tâm thức lịch sử.

Lời kêu gọi cho chương trình này đã nhắc đến sự kiện 14-3-1988 và cũng không quên nhắc nhớ thêm: “40 năm trước, ngày 19-1-1974, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 74 sĩ quan, thủy thủ quân lực Việt Nam cộng hòa đã kiên cường chiến đấu bảo vệ đảo và hi sinh, vĩnh viễn nằm lại ở vùng biển Hoàng Sa. Máu của những người con đất Việt dù trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã đổ xuống để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam yêu dấu”…

Gạc Ma – nhưng không chỉ là Gạc Ma.

Trong câu chuyện Gạc Ma có hình bóng những tử sĩ Hoàng Sa nằm lại biển Đông một ngày tháng giêng năm 1974. Trong câu chuyện Gạc Ma nhắc cho ta về những đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ra đi từ Lý Sơn hàng bao thế kỷ trước “Hoàng Sa trời nước mênh mông, người đi thì có mà không thấy về”.

Và cũng như tiền nhân thuở đội Hoàng Sa, 64 liệt sĩ Gạc Ma cho đến nay không mấy ai trọn vẹn được hình hài để an vị giữa lòng đất mẹ. Nhiều năm tháng tìm hiểu về câu chuyện Gạc Ma, từng chứng kiến những di vật vớt lên từ con tàu bị chìm trong trận chiến tháng 3-1988, từng xem những thước phim thám sát xác tàu, từng lặng người trước mẩu xương cốt hiếm hoi vớt lên từ lòng biển lạnh, hơn bao giờ hết, chúng tôi thấu hiểu chiều kích thẳm sâu của câu thơ tưởng niệm những người lính mà thân xác đã tan vào lòng biển “Thay cho màu cỏ thanh minh là xanh rợp trời cao/Thay cho dòng tên khắc trên bia là trùng trùng sóng trắng…”.

Và chính vì điều đó, đền tưởng niệm Gạc Ma hôm nay sẽ thay cho trùng trùng sóng trắng kia khắc ghi lại tuổi tên, khắc ghi lại chiến công của những người con đất Việt đã hi sinh trên biển Đông trong công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc.

Công trình xây dựng đài tưởng niệm những người lính Gạc Ma có sự trùng hợp đầy xúc động khi đó là sự hòa quyện giữa hai đồ án “Những người nằm lại phía chân trời” và “Hành trình khát vọng”. Những người ngã xuống hôm qua chính là để cho đất nước được bền lòng bước tới tương lai. Và công trình này cũng thế, đó không chỉ là sự tưởng niệm với người nằm xuống mà còn là lời nhắc nhở với hôm nay, với mai sau.

Nhắc để không bao giờ quên rằng quần đảo Hoàng Sa, đảo Gạc Ma và những Chữ Thập, Châu Viên…, một phần máu thịt của Tổ quốc vẫn chưa về cùng đất mẹ.

Nhắc chúng ta hãy nhớ về những người lính đang ngày đêm can trường với sóng gió trùng khơi để giữ gìn vững chắc biển đảo của Tổ quốc.

Nhắc chúng ta hãy nhớ đến những đời dân trên những hòn đảo dọc dài biển Đông, chính họ đã làm nên những “cột mốc chủ quyền sống”, những “tượng đài sống” bằng chính năm tháng cuộc đời mình.

L.Đ.D.

* Tin trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 11/3/2015:

Ngư dân Thanh Hóa giong thuyền hoạt động ở Trường Sa

Ngày 10-3, nguồn tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Thanh Hóa cho biết từ đầu năm 2015 đến nay có 11 chủ tàu cá công suất lớn đăng ký hoạt động khai thác, dịch vụ kNgu dan Thanh Hoa ra khoihai thác hải sản trên các vùng biển xa trong năm 2015. Trong đó, chủ yếu là tàu của ngư dân huyện Hậu Lộc (8 tàu) và thị xã Sầm Sơn (3 tàu); các tàu có công suất từ 150-465 CV, làm nghề câu mực, chụp mực, vây khơi.

Theo bà con ngư dân huyện Hậu Lộc, thị xã Sầm Sơn, ngư trường bà con hoạt động ở vùng biển xa là quanh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, mỗi chuyến ra khơi kéo dài 2-3 tháng.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ngư dân Nguyễn Văn Tuy (trú tại thôn Thành Lập, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc) – chủ tàu cá mang số hiệu TH-90789 TS, công suất 440 CV – cho biết năm 2014 anh cùng nhiều ngư dân Thanh Hóa đã thử nghiệm đi đánh bắt hải sản tại ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa, bước đầu có hiệu quả kinh tế.

Đánh bắt hải sản ở ngư trường này, ngư dân Thanh Hóa học hỏi được nhiều kinh nghiệm đánh bắt hải sản xa bờ của bà con ngư dân vùng Nam Trung bộ, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Được biết, ngư trường truyền thống của bà con ngư dân Thanh Hóa là vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vịnh Bắc bộ. Từ năm 2014 đến nay, ngư dân tỉnh này bắt đầu tham gia khai thác hải sản ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa.

Hà Đông.

* Tin trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/3/2015:

Lễ hội Hoa Ban năm 2015

Tối 13-3, tại Quảng trường 7-5 thành phố Ðiện Biên Phủ, tỉnh Ðiện Biên tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa Ban năm 2015. Ðây là Lễ hội thường niên được tổ chức để chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và của tỉnh.

Lễ hội Hoa Ban năm nay được mở màn bằng chương trình nghệ thuật “Về miền Hoa Ban” với sự tham gia biểu diễn của hơn 200 diễn viên, đến từ Ðoàn nghệ thuật tỉnh Ðiện Biên, Trung tâm Văn hóa tỉnh, Ðoàn ca múa nhạc Nhà hát Tuổi trẻ và một số đơn vị văn hóa, lực lượng vũ trang, các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh. Với ba chương: “Cội nguồn hoa ban”, “Lời mời Ðiện Biên” và “Mường Thanh tụ hội”, chương trình nghệ thuật đặc sắc này đã đem đến cho khán giả ấn tượng mạnh mẽ về huyền thoại hoa ban của dân tộc Thái từ mối tình chung thủy, trong trắng của chàng Khum và nàng Ban.

Mỗi điệu múa, lời ca, hoa văn trang phục… của các diễn viên đều góp phần thể hiện những nét văn hóa đặc trưng trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của đồng bào 19 dân tộc anh em sinh sống ở Ðiện Biên.

Lễ hội diễn ra đến ngày 15-3 với các cuộc thi dân ca, dân vũ, âm nhạc truyền thống tại Trung tâm hội nghị văn hóa tỉnh. Theo đó, 10 đoàn đến từ các địa phương trong tỉnh sẽ tham gia thi đấu các môn thể thao và trò chơi truyền thống dân tộc; trình diễn trang phục truyền thống dân tộc; trình diễn các lễ hội truyền thống; thi ẩm thực “Hương sắc Ðiện Biên”. Cũng tại lễ hội này, các đơn vị, địa phương và doanh nghiệp sẽ tham gia trưng bày sản phẩm quà lưu niệm, thủ công truyền thống, các sản phẩm mang đậm hương vị đặc trưng của núi rừng Ðiện Biên; trưng bày các sản phẩm văn hóa về đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh; giới thiệu về hoa ban, các hình ảnh đẹp, các tài liệu hướng dẫn trồng và chăm sóc hoa ban, cung cấp giống cây hoa ban cho du khách có nhu cầu…

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 8/3/2015 :

Liên đoàn xiếc Việt Nam lưu diễn tại miền Trung

Liên đoàn Xiếc Việt Nam tổ chức lưu diễn phục vụ đồng bào một số tỉnh miền Trung từ ngày 7/3 đến đầu tháng 4/2015. Các nghệ sĩ sẽ biểu diễn tại thành phố Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng. Với chủ đề “Xiếc thú chào Xuân”, chương trình gồm nhiều tiết mục xiếc thú, ảo thuật cùng nhiều tiết mục đã đoạt giải thưởng cao tại các kỳ liên hoan xiếc khu vực và thế giới như: Đu dây trên cao, Nhào lộn trên không, Thăng bằng kiếm trên du, Nhào lộn trên dây thép, Thăng bằng trên thang, Tạo hình trên không… Trong lần lưu diễn này, các nghệ sĩ sẽ mang sân khấu bạt có sức chứa hơn 1.500 chỗ để biểu diễn.

Trải nghiệm cùng di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp đơn vị liên quan tổ chức chương trình “Về nguồn – Trải nghiệm cùng di sản văn hóa phi vật thể ở Hà Nội Xuân Ất Mùi” từ ngày 7/3 đến 10/5. Trong chương trình sẽ diễn ra nhiều hoạt động phong phú và đặc sắc như tái hiện lễ hội truyền thống và các loại hình âm nhạc, diễn xướng dân gian: ca trù, xẩm, chầu văn, chèo, múa rối nước…

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/3/2015 :

Đại hội sách cũ Hà Nội lần thứ hai

Trong hai ngày 14 và 15/3 tại 176 Thái Hà (Hà Nội), Đại hội sách cũ Hà Nội lần thứ hai đã diễn ra với sự tham gia của hơn mười đơn vị có tiếng trong kinh doanh và trao đổi sách cũ. Nhiều đầu sách quý đã được các đơn vị, cá nhân giới thiệu, như: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim bản in năm 1964; Tội ác và trừng phạt bản in năm 1973; Hoàng Xuân Hãn Lãng Sơn Yên Hồ, Bác sĩ Ai-bô-lít, Những cuộc phiêu lưu của Mít đặc và các bạn của NXB Cầu Vồng; Bắc Du Chơn Võ do Tín Ðức Thư Xã xuất bản năm 1950… Trong khuôn viên đại hội còn có khu triển lãm các câu đối Tết thời bao cấp và báo Tết qua các thời kỳ. Trong thời gian đại hội còn diễn ra các cuộc trò chuyện, trao đổi với các nhà thơ, nhà văn…

Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày quốc tế Hạnh phúc 20-3

Với chủ đề “Yêu thương và chia sẻ” Ngày quốc tế Hạnh phúc 20-3 năm nay diễn ra nhiều hoạt động với việc tổ chức Tuần lễ Hạnh phúc từ ngày 16 đến 23-3. Nổi bật là các hoạt động: lễ mừng các cặp vợ chồng cao tuổi tiêu biểu hạnh phúc bền vững; gặp gỡ, giao lưu các mẹ, các chị, gia đình có thành tích nổi bật trong công cuộc thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay… Bên cạnh đó là các hoạt động như triển lãm tranh, ảnh; đêm nhạc, đêm thơ; các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch.

17 đầu bếp tại Việt Nam so tài

Ðại sứ quán Pháp vừa họp báo giới thiệu chương trình ẩm thực mang tên “Bữa tối tôn vinh ẩm thực Pháp” nhằm cùng tôn vinh nền ẩm thực Pháp (đã được UNESCO vinh danh là di sản phi vật thể vào năm 2010), quy tụ tài năng của 1.300 đầu bếp trên toàn thế giới, sẽ diễn ra đồng thời vào tối 19-3. Tại Việt Nam, 17 đầu bếp quốc tế (trong đó có bảy đầu bếp người Việt) đã được tuyển chọn tham dự, trổ tài chế biến thực đơn bữa tối đặc biệt “kiểu Pháp” tại 17 nhà hàng.

Trình diễn 800 thiết kế trong Tuần lễ thời trang Thu Ðông 2015

Từ ngày 12 đến 15-3, tại trường quay S14 (Ðài Truyền hình Việt Nam) diễn ra Tuần lễ thời trang Việt Nam Thu Ðông năm 2015. Tuần lễ thời trang năm nay trình diễn 800 mẫu thu đông mới của 18 nhà thiết kế Việt Nam và một nhà thiết kế người I-ta-li-a. Trong bốn đêm diễn, sẽ có ba đêm trình diễn trang phục ứng dụng Ready to wear và một đêm thời trang cao cấp Haute Couture tối 15-3, giới thiệu chín bộ sưu tập của Minh Hạnh, Chula, Lan Hương, Quang Nhật, Thủy Design, Hải Long – Thế Huy, Alda Santini, Charming Lys, GenViet do 50 người mẫu trình diễn.

* Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 2/3/2015:

Khai trương tuyến vận tải khách du lịch từ Quảng Bình đi Lào và Thái Lan

Ngày 28/2, tại thành phố Đồng Hới, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình khai trương tuyến vận tải khách du lịch giữa bốn tỉnh của ba nước, gồm: Quảng Bình (Việt Nam), Khăm Muộn (Lào), Nakhon Phanom và Sakon Nakhon (Thái-Lan). Bốn tỉnh này có sự gắn kết chặt chẽ và liền kề về địa lý, đều là thành viên Hiệp hội các tỉnh của ba nước có sử dụng đường 8 và đường 12. Trước đó, ngày 4/7/2014, tại tỉnh Khăm Muộn, lãnh đạo bốn tỉnh đã họp, ký biên bản ghi nhớ mở tuyến vận tải du lịch không cố định theo hình thức hợp đồgn. Việc khai trương tuyến vận tải khách du lịch này có ý nghĩa rất quan trọng, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa ba nước.

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 11/3/2015:

Bắc Giang ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất

* Năm 2015 tỉnh Bắc Giang triển khai 11 đề tài, dự án khoa học – công nghệ cấp tỉnh, trong đó có các đề tài, dự án phục vụ nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp như: dự án “Phục tráng giống lúa bao thai lùn và nếp Phì Ðiền tại huyện Lục Ngạn, nhằm duy trì nguồn gNhan Bac Giangốc và đặc trưng của giống để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và phát triển làng nghề truyền thống”; đề tài “Nghiên cứu thực trạng sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng cây cam Ðường Canh trên địa bàn huyện Lục Ngạn”…

Ðể nâng cao hiệu quả các đề tài, dự án, tỉnh quan tâm đến đổi mới công tác xác định, đặt hàng, quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; tổ chức ký hợp đồng với các chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì thực hiện trong năm; kiểm tra tiến độ các đề tài, dự án đang thực hiện… nhằm bảo đảm việc triển khai các đề tài, dự án khoa học – công nghệ cấp nhà nước và cấp tỉnh đúng mục tiêu, nội dung, tiến độ đề ra. Trong năm nay, tỉnh triển khai thực hiện 15 mô hình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho các xã nông thôn mới; đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống.

Thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 – 2020, đến nay các đề tài, dự án khoa học – công nghệ cấp tỉnh đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống, sản xuất như: Ứng dụng công nghệ sinh học nuôi cấy mô để nhân giống chuối tiêu hồng và khoai tây sạch bệnh; nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ sản xuất lúa lai hai dòng, ba dòng đạt năng suất cao; sản xuất chế phẩm Fito – Biomix RR xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nông thôn.

 * Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 8/3/2015:

Nữ Viện sĩ, doanh nhân đưa nhiều công nghệ mới vào Việt Nam

Viện sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn (trong ảnh), Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế AIC là một trong 12 doanh nhân nữ của Việt Nam ASEAN được Hội đồng Doanh nhân nữ ASEAN (Nu vien si doanh nhan dua nhieu cong nghe moi vao Viet NamAWEN) vinh danh doanh nhân tiêu biểu hôm qua, ngày 7-3.

Viện sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã có nhiều thành tích nổi bật trong sản xuất, kinh doanh và nghiên cứu khoa học. 15 năm qua, chị Nhàn đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động nghèo. Công ty AIC do chị làm Tổng Giám đốc là doanh nghiệp đi đầu trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khó khăn và đầy thách thức như: xử lý ô nhiễm môi trường, ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục, y tế, chuẩn hóa các bộ tiêu chuẩn và chương trình dạy nghề, đào tạo hàng nghìn giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn quốc tế…

Ðáng chú ý, từ năm 2005 đến nay, Viện sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã phối hợp các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam cải tiến và đưa vào Việt Nam một số công nghệ mới, mang lại nhiều ý nghĩa xã hội phục vụ đời sống con người như: khoa học vũ trụ; ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để tạo ra rau và thực phẩm sạch; xử lý nước thải (trong đó có nước thải tại bệnh viện và đô thị); làm sạch đất nông nghiệp bị ô nhiễm, tồn dư thuốc trừ sâu và hóa chất đi-ô-xin; ứng dụng các công nghệ mới để nâng cao chất lượng đào tạo.

Ðầu tháng 2 vừa qua, Viện sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã vinh dự được Viện Hàn lâm Quốc tế về các nghiên cứu hệ thống Liên bang Nga trao tặng hai giải thưởng cao quý: Viện sĩ có thành tích xuất sắc nhất giai đoạn 2004-2014, Ngôi sao Vernadski (Ve-rơ-na-dơ-xki). Chị cũng là người phụ nữ đầu tiên của khu vực châu Á và Việt Nam được nhận giải thưởng danh giá này.

Trong 15 năm qua, với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực môi trường, y tế, giáo dục, dạy nghề, khoa học và công nghệ, Viện sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ban, ngành, địa phương tặng huân, huy chương, bằng khen và nhiều giải thưởng như: Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu nhất, Giải thưởng Sao đỏ, Giải thưởng Bông hồng vàng, Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu…

LINH NAM

* Tin trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 8/3/2015:

Nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên được UNESCO vinh danh

Ngày 18-3, TS trẻ Trần Hà Liên Phương – giảng viên bộ môn kỹ thuật y sinh Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) – cùng 14 nhà khoa học nữ xuất sắc trên thế giới sẽ được vinh danh tại lễ trao giải thưởng Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học của quỹ L’Oréal vTien si Tran Ha Lien Phuongà UNESCO (L’Oréal – UNESCO for Woman in Science) tại đại học Sorbone, Paris (Pháp).

TS Trần Hà Liên Phương là nhà khoa học nữ đầu tiên của Việt Nam được nhận giải thưởng này.

TS Phương tham gia giải thưởng với công trình nghiên cứu về hệ mixen chứa fucoidan trong ứng dụng điều trị và hỗ trợ quan sát mô ung thư tại Việt Nam. Công trình này đã được hội đồng khoa học đánh giá cao dựa trên tính hiện đại và tính khoa học cao của đề tài, hướng nghiên cứu tập trung vào những sản phẩm trị liệu ung thư thật hiệu quả, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ của các loại thuốc này.

Nghiên cứu của TS Trần Hà Liên Phương có thể giúp cho việc điều trị ung thư rẻ hơn và hiệu quả, ít phản ứng phụ hơn với hướng đi khai thác công nghệ nano để phát triển nên phương pháp điều trị mới bằng việc sử dụng fucoidan cho mục đích kép là làm chất dẫn xuất cho thuốc và tự thân là thành tố điều trị bệnh. Khi fucoidan kết hợp với thuốc điều trị ung thư thường kháng nước, phân tử hạt nano sẽ tự tạo lập nhờ vào đặc tính thân nước của fucoidan. Các hạt nano sẽ hỗ trợ quan sát các tế bào ung thư trong suốt quá trình điều trị.

GS Võ Văn Tới, trưởng bộ môn kỹ thuật y sinh Đại học Quốc tế, cho biết khi học ở Hàn Quốc, TS Phương đã làm quen với công nghệ nano trong điều chế thuốc và lúc về Việt Nam, trong bốn năm công tác tại Đại học Quốc tế, TS Phương tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này cho người Việt Nam. Trong thời gian đó, bộ môn đã dồn nhiều nguồn lực hỗ trợ cho công việc nghiên cứu của TS Phương như làm phòng lab với đầy đủ dụng cụ thí nghiệm, mở hướng mới đào tạo sinh viên để có nhân lực hỗ trợ TS Phương nghiên cứu. TS Phương là người rất chín chắn, với khả năng hiện nay, TS Phương có thể dẫn đầu hướng nghiên cứu này.

Trên thế giới cũng có một số trường đại học nổi tiếng nghiên cứu hướng này. Họ có nhiều điều kiện tốt hơn nhưng nghiên cứu của TS Phương lại đạt kết quả rất tốt phát triển theo hướng đặc biệt cho người Việt Nam và được UNESCO đánh giá cao. “Chúng tôi rất vui mừng với kết quả này” – GS Tới nói.

H.Nhung

Tháng Ba 13, 2015

Nhạc sĩ Phạm Tuyên – Người đồng hành cùng lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 3 năm 2015.

BÌNH GIANG QUÊ TA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bình Giang Quê Ta là tên một ấn phẩm đẹp, có giá trị, tiếng nói của Hội đồng hương Bình Giang tại Hà Nội. Chúng tôi may mắn có trong tay Số đặc biệt nhân kỳ họp đồng hương đầu Xuân Ất Mùi 2015 Hà Nội (chuyên đề văn học – nghệ thuật, ấn hành tại Hà Nội -2015.

Ấn phẩm có trưởng ban biên tập Giang Quân là nhà thơ, nhà bBia sach Binh Giang Que Taáo, nhà nghiên cứu văn hóa, Công dân ưu tú Thủ đô 2011, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và nhiều hội khác, với các Phó ban biên tập Vũ Phượng Ngọc là nhạc sĩ, nhà thơ, kỹ sư, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội viên Hội âm nhạc Hà Nội và Vũ Mão, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nhạc sĩ, nhà thơ, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam và nhiều hội khác. Ban biên tập gồm: Giang Quân, Vũ Phượng Ngọc, Vũ Mão, Vũ Trụ, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Trung Văn, Vũ Dương Châu. Trình bài mỹ thuật : Vũ Trụ.

Trong số đặc biệt này từ trang 114-118 có bài Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc Hải Dương của Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, thư của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan trân trọng kính gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/10/2014 « Trân trọng kính đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – có thể thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ, đa số nhân dân, có một kết luận chính thức về Phạm Quỳnh. Việc này, nếu làm được, sẽ được lòng dân, yên lòng bao nhiêu người đã mất, đang sống và cả cho mai sau ; uy tín của Mặt trận, Đảng và Nhà nước sẽ được toàn dân đề cao, ca ngợi ». Trong sách từ trang 64-76 còn có một số bài viết về nhạc sĩ Phạm Tuyên như : Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con bình dị của dòng họ Phạm (của Tiểu Vũ), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đồng hành cùng lịch sử (của Nguyễn Thụy Kha), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, gửi hương cho đời (của Nguyễn Vũ), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, và hai giờ sáng tác bài hát về Bác Hồ (Phạm Ly). Cũng ở đây công bố ba nhạc phẩm của nhạc sĩ Tổ quốc ở Trường Sa (trang 93), Bình Giang ngày mới (trang 94), và Thành Đông năm xưa, Hải Dương hôm nay (trang 95).

Nhân ngày đầu năm Ất Mùi, chúng tôi mời các bạn đọc bài Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc – Hải Dương in trong sách này và kèm đó là bài Viết tiếp chuyện bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Nhà giáo Vũ Thế Khôi mới gửi cho chúng tôi ngày cuối năm Giáp Ngọ.

—o0o—

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÙNG LỊCH SỬ

Nguyễn Thụy Kha

Việc nhạc sĩ Phạm Tuyên được vinh danh trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật cùng nhạc sĩ Văn Chung là tin vui chung cho giới nhạc sĩ Việt Nam. Với hơn 60 năm sáng tác, Phạm Tuyên là một trong không nhiều nhạc sĩ cách mạng luôn có những nhạc phẩm đồng hành cùng lịch sử.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh ngày 12/1/1930 (tức 13 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ 1929) nên ông vẫn mang tuổi Tỵ. Ông sinh tại căn nhà số 5 phố Hàng Da và là người con thứ chín của ông Phạm Quỳnh – chủ bút báo Nam Phong. Năm 3 tuổi, ông theo cha vào Huế. Chính ở đây, tâm hồn ấu thơ của Phạm Tuyên đã chìm đắm trong âm thanh nhã nhạc cung đình. Đến khi vào Quốc học Huế, Phạm Tuyên được học nhạc lý phương Tây với thầy Martin, chơi trong cùng ban nhạc với Nguyễn Tăng Hích (sau là nhạc sĩ Trần Hoàn). Phạm Tuyên bắt đầu viết ca khúc là những bài ngợi ca lịch sử như Trận Tây Kết, Sóng sông Hương… nhưng phải đến khi gia nhập quân đội, học sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, năng khiếu âm nhạc của ông mới thực sự phát lộ qua những ca khúc lính như Vào lục quân, Đường về trại, Đây khóa chuẩn bị tổng phản công và qua những ca khúc thiếu nhi như Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa. Cùng Trường thiếu sinh quân Việt Nam sang Quế Lâm (Trung Quốc) từ năm 1951 một thời gian sau, Phạm Tuyên rời quân ngũ và trở thành giáo viên văn hóa, đồng thời phụ trách văn – thể – mỹ của khu học xá Trung ương tại Quế Lâm. Nhiều ca khúc thiếu nhi còn nổi tiếng đến ngày hôm nay đã được Phạm Tuyên viết trong thời kỳ như Ngày em được quàng khăn đỏ, Chiếc đèn ông sao, Em làm trực nhật, Em vui chơi ngày hôm nay, Tiến lên đoàn viên… Phạm Tuyên về Việt Nam năm 1958 và công tác tại ban Âm nhạc Đài tiếng nói Việt Nam. Ở đây, ông vẫn tiếp tục có những ca khúc thiếu nhi hay như Em được nghe chuyện Bác Hồ… và bắt đầu một sự nghiệp sáng tác đồ sộ bằng những ca khúc như Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Bài ca người thợ rừng và đặc biệt là hợp xướng Miền Nam anh dũng và bất khuất.

Khi chiến tranh phá hoạt của Mỹ trút bom xuống miền Bắc cũng là khi âm nhạc Phạm Tuyên cất lên mạnh mẽ những giai điệu vừa hùng tráng, vừa trữ tình. Ra với đất mỏ vàng đen, ông viết Bài ca người thợ mỏNhững vì sao ca đêm. Vào tuyến lửa Quảng Bình ông viết Quảng Bình chiến thắng, Bám biển quê hương. Về đất Cảng Hải Phòng kiên cường ông viết Nếu anh Cảnh còn sống. Vào con đường Trường Sơn huyền thoại ông viết Yêu biết mấy những con đường. Bàn chân hăm hở của Phạm Tuyên đã để lại dấu vết trên mọi nẻo quê hương. Về quê lúa Thái Bình, ông viết Lá thư hậu phương, tới đồng chiêm Ninh Bình, ông viết Những cô gái đồng chiêm, sang Hà Tây nơi có phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn” ông viết Chiếc gậy Trường Sơn – một ca khúc thúc giục hàng triệu thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đến Hàm Rồng ông viết Bài ca tuổi trẻ Nam Ngạn anh hùng. Chiến tranh càng ác liệt, âm nhạc Phạm Tuyên càng bỏng cháy những khát vọng độc lập tự do. Hướng về chiến trường miền Nam, ông viết Những cánh chim Hồng Gấm cheo leo cùng đội tuần tra biên giới, ông viết Đêm trên Cha lo. Hướng về cuộc đáu tranh của thanh niên, sinh viên đô thị miền Nam, ông viết Tiếng hát những đêm không ngủ. Chia sẻ với phong trào âm nhạc chống chiến tranh ở Mỹ ông viết Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ. Quay về Hà Nội những ngày tháng Chạp 1972 đánh trả B52 bạo tàn, ông thét lên Hà Nội – Điện Biên PhủTiếng hát những đêm không ngủ. Vào những thời khắc hiếm hoi của thanh bình, ông lại thơ thới với Từ một ngã tư đường phố, Phố ngoại ô.

Đối với Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Phạm Tuyên đã có dịp được gặp Bác khi đến thăm khu học xá Trung ương ở Quế Lâm từ năm 1955. Đó là nguồn cảm xúc để ông viết ca khúc thiếu nhi Em được nghe chuyện Bác Hồ sau lần gặp ấy. Đến khi Bác vĩnh viễn ra đi, cảm xúc tiếc thương lại dâng trào chất ngất, ông đã viết Từ làng Sen, Việt Bắc nhớ Bác HồSuối Lê-nin (thơ Trần Văn Loa). Cho tới trưa 30/4/1975, khi Sài Gòn được giải phóng, Phạm Tuyên vẫn luôn nghĩ đến rằng chính giây phút thiêng liêng này của dân tộc Bác vẫn hiện diện giữa triệu triệu con tim. Bài đồng ca Như có Bác trong ngày đại thắng đã được ông viết rất nhanh và ngay lập tức được thu thanh tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi được phát ngay trên làn sóng điện vào lúc 17 giờ ngày 30/4/1975, cùng thông báo với toàn thế giới tin Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất sau 30 năm kiên cường đấu tranh. Nếu nhạc sĩ Văn Chung – người cùng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật với Phạm Tuyên lần này – Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc đã có một “hòa bình ca” nổi tiếng là Quê tôi giải phóng thì khi thống nhất đất nước, Phạm Tuyên đã có bài Thống nhất ca cũng rất nổi tiếng. Bài Thống nhất ca này ngay sau đó đã được sử dụng để kết thúc các cuộc hội họp mà trước đấy, toàn phải sử dụng bài Kết đoàn của Trung Quốc. Tình cảm của Phạm Tuyên với Bác Hồ còn được tái hiện dạt dào ngay tới ngày kỷ niệm 10 năm giải phóng năm 1975 qua ca khúc Thành phố mười mùa hoa (thơ Lệ Bình) khi Sài Gòn đã có 10 năm mang tên thành phố Hồ Chí Minh. Sau ngày thống nhất đất nước, Phạm Tuyên càng thăng hoa trong những giai điệu thanh bình, xây dựng và tin yêu như Gửi nắng cho em (thơ Bùi Văn Dung), Con kênh ta đào (thơ Bùi Văn Dung), Màu cờ tôi yêu (thơ Diệp Minh Tuyền). Màu cờ tôi yêu đã cùng Đảng đã cho ta cả một mùa xuân đã trở thành cỗ xe tam mã bằng âm thanh đưa con người đến với lý tưởng thiêng liêng.

Khi xảy ra tranh chấp quyết liệt ở biên giới phía Bắc, Phạm Tuyên đã có mặt ngay từ những ngày đầu bên bờ sông Nậm Thi (Lào Cai) để viết Tiếng đàn bên bờ sông biên giới cùng chia sẻ với chiến sĩ, đồng bào đang chắc tay súng bảo vệ biên giới. Và trong ngày lịch sử 17/2/1979 giai điệu hào hùng của bản hành khúc Chiến đấu vì độc lập tự do của Phạm Tuyên đã lại vang lên trên làn sóng điện, vang lên ở những nơi “lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp nẻo biên cương…”. Sau đó là giai điệu Một đóa hồng chiêm thơm ngát vùng Đông Bắc vàng đen và Nụ cười Bay On ca ngợi đất nước Căm Pu Chia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Bên trong một nhạc sĩ Phạm Tuyên với các ca khúc nổi tiếng dành cho người lớn, còn có một “nhạc sĩ của tuổi thơ”. Từ những nhạc phẩm đầu tay cho thiếu nhi, cho đến nay khi ông đã qua tuổi bát tuần, gia tài những ca khúc thiếu nhi của Phạm Tuyên thật là đồ sộ với những giai điệu mà không chỉ thiếu nhi mà người lớn cũng rất thích thú như Cô và mẹ, Cả tuần đều ngoan, Trường của cháu đây là trường mầm non, Chú voi con ở Bản Đôn, Gặp nhau dưới trời thu Hà Nội, Tiếng chuông và ngọn cờ, Cánh én tuổi thơ… không chỉ sáng tác, Phạm Tuyên còn phổ rất nhiều bài đồng dao thành những giai điệu dí dỏm cho các trẻ nhỏ dễ thuộc, dễ hát như Bà còng đi chợ, Bầu và bí, Gánh gánh gồng gồng, Mau mau tỉnh dậy, Nhớ ơn, Con chim chích chòe, Cái cò đi đón cơn mưa…

Nhạc sĩ Phạm Tuyên còn là nhạc sĩ dịch rất nhiều bài hát nước ngoài. Trong tập nhạc in roneo của khu học xá, ông có biết bao nhiêu lời dịch giấu tên nhưng biết bao thế hệ vẫn hát. Vào những năm 70 của thế kỉ trước, hai bài hát thiếu nhi nổi tiếng của Liên Xô là Ở trường cô dạy em thếNụ cười đã được Phạm Tuyên dịch lời rất thành công. Khi chú mèo máy Nhật Bản Đo ra ê mon vào Việt Nam, chính Phạm Tuyên cũng là người dịch lời Việt những ca khúc vui nhộn này.

Đóng góp thì lớn lao, nhưng tính tình lại rất giản dị và khiêm nhường. Đó là phẩm chất vàng của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Bằng những nhạc phẩm hơn 60 năm qua của mình, Phạm Tuyên đúng là một nhạc sĩ đồng hành cùng lịch sử với những giai điệu dễ thuộc, dễ nhớ nhưng cũng vô cùng sâu sắc.

N.T.K.

Tổ quốc ở Trường Sa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:54 sáng

To quoc o Truong Sa

Trên quê hương yêu dấu (P10)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 4 tháng 3 năm 2015.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

* Tin trong mục Thời sự và Suy nghĩ trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 5/3/2015

Hội Minh thề êm ả

Sáng 4-3 (14 tháng giêng), tôi đến làng Hòa Liễu (Hải Phòng) xem hội Minh thề. Đây là lễ hội có lịch sử lâu đời và độc đáo nhất ở Hải Phòng. Lễ hội tái dựng những nghi lễ để những người làm cán bộ, những người có chức sắc thề trước người dân sẽ làm việc thanh liêm, chính trực, không tham nhũng, tư túi của công và không dùng quyền uy bức ép nhân dân.

Lễ hội độc nhất vô nhị này có từ hơn 500 năm trước. Sau năm 1954, lễ hội Minh thề vắng bóng. Đến đầu thế kỷ 21, một số bậc cao niên trong làng bắt đầu hành trình phục dựng lễ hội, và hội Minh thề chính thức trở lại vào năm 2003.

Đúng giờ khai hội, chủ lễ dâng tế các vị thần linh, thành hoàng làng. Ba nén nhang được thắp trên ban thờ đặt trước miếu để mời thần linh về chứng kiến lời thề. Đại diện ban tế lên đọc hịch văn Minh thề.

Những nguyên tắc sống và làm việc của quan được xướng lên: “Ai dùng của công vào việc công xin thần linh ủng hộ. Ai lấy của công dùng vào việc tư, cầu thần linh đả tử… Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt”.

Sau mỗi lời hịch, trưởng thôn cùng những người được làm đại diện cho “quan” trong làng nắm tay lại đưa lên trời hô vang “xin thề”. Kết thúc nghi lễ, rượu hòa với tiết gà dâng lên thần linh được rót ra chén để “quan” và dân cùng chuyền tay nhau uống thể hiện quyết tâm thực hiện lời thề.

Trong khi nhiều lễ hội khác đang bị biến tướng, thiên hạ chen chúc nhau xin ấn cầu thăng quan tiến chức, người dân đi hội vác gậy đập nhau chỉ để tranh cướp một quả phết với ý nghĩ mang lại may mắn cả năm thì hội Minh thề vào sáng qua diễn ra rất trật tự, lịch sự.

Một lễ hội êm ả, bình lặng và không đông đúc! Nhiều người tò mò hỏi tôi rằng: Thế thì các “quan” nào tham gia thề trong hội? Xin thưa, kể từ ngày hội Minh thề được tổ chức trở lại, đã 13 lần rồi, nhưng “quan” to nhất đứng thề tại lễ là… trưởng thôn!

Hoi Minh TheTrớ trêu thay, trong bộ máy công quyền, thôn chẳng phải là một cấp hành chính, nên trưởng thôn chẳng phải là công chức nhà nước! Mà chẳng phải là công chức, là cán bộ thì lấy đâu ra cơ hội để xâm phạm của công?

Những ngày qua, các phương tiện truyền thông phản ánh tình trạng xe công mang biển xanh tràn ngập các lễ hội. Nghĩa là quan chức đi lễ, đi chùa cầu tài lộc, danh vọng rất đông. Thậm chí vì cầu danh lợi, nhiều người sẵn sàng trèo lên tường, đạp lên mọi người để tranh ấn. Có được ấn rồi lại bò mấy vòng qua gầm bàn vì… như thế mới linh!

Hội Minh thề năm nay cũng như mọi năm, kết thúc rất chóng vánh. Ở một quán nước tại làng Hòa Liễu, tôi còn nghe người ta kể lại một câu chuyện đã được kể rất nhiều, lưu truyền bao đời nay: Thời Pháp thuộc, có một viên tri huyện nổi tiếng gian ác tên là Ngô Quốc Côn.

Có một năm quan huyện Côn về Hòa Liễu (xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy) dự lễ hội Minh thề. Lúc nghe hịch văn Minh thề, quan huyện nổi da gà, dựng tóc gáy, chạy vội từ chỗ đài thề (ngoài sân) vào trong miếu ngồi, không dám nghe tiếp!

Ước gì cứ mỗi năm, vào sáng sớm 14 tháng giêng, đường về đình Hòa Liễu để dự hội Minh thề tràn ngập xe biển xanh… (xe hơi công của cơ quan nhà nước – PT chú).

Thân Hoàng

* Sáng 4/3 (ngày 14 tháng Giêng), tại chùa, đình làng Thiên Phúc, làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy (Hải Phòng), chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức Lễ hội Minh Thề – thề không thamnhunxg, không trộm cắp, không lấy của công làm của tư, thu hút đông người dân tham dự. Theo một số tài liệu và lưu truyền dân gian, lễ hội có từ thời nhà Mạc thế kỷ 16, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, đạo đức, lối sống lành mạnh, trong sạch, nhấn mạnh triết lý làm quan phải liên khiết, công tâm. Theo nghi thức, các vị bô lão và những người đứng đầu ở các làng đã đọc hịch Minh Thề, trong đó thề công tâm phụng sự việc công, không lấy của công làm của tư. Các đại biểu dự lễ thề hứa sẽ dạy bảo con cháu không được tham nhũng, phạm vào các quy định trong Minh Thề, không bao che tội phạm, chứa chấp của gian tà. (Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 5/3/2015)

* Tin trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 4/3/2015:

Đón bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt và khai hội đền Trần Thái Bình

Tối 3/3 (13 tháng Giêng), tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà (Thái Bình), UBND huyện Hưng Hà tổ chức trọng thể Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và Đền thờ các vị vua triều Trần Thái Bình – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Theo sử sách, vùng đất Long Hưng – Ngẹ Thiên, nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, là đất phát tích và dựng nghiệp của nhà Trần ở đầu thế kỷ thứ 13 – một vương triều cường thịnh, với hào khí Đông An lẫy lừng, võ công oanh liệt vào bậc nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Cả ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, vùng đát Long Hưng đều được nhà Trần tin cẩn chọn làm căn cứ xây dựng hành cung Lỗ Giang và cung điện của triều đình, trở thành hậu phương vững chắc, tập hợp quân sĩ, chuẩn bị vũ khí, lương thảo và tổ chức các đại lễ bái yết tổ tiên. Đây cũng là nơi yên nghỉ của các liệt tổ nhà Trần, của Thái tổ Trần Thừa, của các vua đầu triều Trần: Thái Tông, Thánh Tông và một phần ngọc cốt của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông…

Tại buổi lễ, thay mặt Đảng, Nhà nước, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trao Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và Đền thờ các vụ vua triều Trần cho Đảng bộ và nhân dân huyện Hưng Hà; đồng thời đánh trống khai hội đền Trần Thái Bình năm 2015. Đây là sự kiện thu hút đông đảo nhâdn ân và du khách thập phương, diễn ra trọng thể hằng năm với nhiều hoạt độvng ăn hóa dân gian.

* Sáng 3/3, huyện Nam Đàn (Nghệ An) tổ chức khai mạc lễ hội đền Vua Mai tại xã Vân Diên với sự tham dự của hàng nghìn du khách cùng nhân dân địa phương.

Lễ hội diễn ra trong ba ngày nhằm tưởng nhớ công đức Mai Hắc Đế cùng các tướng lĩnh của ông và ôn lại khí thế hào hùng của cuộc khở nghĩa chống quân xâm lước nhà Đường thế kỷ thứ 8, xây dựng nên nước Vạn An độc lập. Lễ hội năm nay đã phục hồi nghi lễ rước rước cổ truyền, nguyện cầu quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

* Trong hai ngày 2 và 3/3 (ngày 12 và 13 tháng Giêng), lễ hội Lim 2015 đã diễn ra tại thị trấn Lim, huyện Tiên Du, thu hút hàng nghìn du khách. Trong ngày chính hội 13 tháng Giêng hôm qua, chính quyền và nhân dân trong vùng đã tổ chức các nghi lễ dâng hương tại chùa Hồng Ân, lăng quận công Nguyễn Đình Diễn trên đồi Lim và tại các đình, đền, chùa khác ở các làng thuộc xã Nội Duệ, thị trấn Lim. Ban tổ chức đã dựng năm lán hát trên đồi Lim để phục vụ khách nghe quan họ và mời nghệ nhân, câu lạc bộ từ các làng quan họ gốc tham gia biểu diễn.

* Tin 1 báo Nhân Dân ngày 5/3/2015:

Lễ khai ấn Đền Trần Nam Định và phát lương Đền Trần Thương Hà Nam

Đêm 4-3 (tức 14 tháng Giêng), tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Trần, phường Lộc Vượng, TP Nam Định (Nam Định), UBND thành phố Nam Định long trọng tổ chức Lễ khai ấn đầu năm.

Lễ khai ấn đầu năm là tục lệ cổ tại Tiên Miếu nhà Trần (phủ Thiên Trường xưa) với ý nghĩa nhân văn là cầu mong cho quốc thái, dân an; thiên hạ thái bình, thịnh trị; động viên mọi người bước vào năm mới mạnh khỏe, lao động hăng say, học tập, công tác tốt. Đây là dịp để các tầng lớp nhân dân bày tỏ lòng thành kính, tri ân công đức của các bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao to lớn của vương triều Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược ở thế kỷ 13.

Sau nghi lễ dâng hương và rước ấn từ đền Cố Trạch thờ Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn sang đền Thiên Trường nơi đặt bài vị của 14 vị vua Trần và đặt ấn trước lư hương bàn thờ Trung Thiên tại nội cung, đúng 23 giờ 15 phút nghi lễ khai ấn được thực hiện theo nghi thức truyền thống.

*Tối cùng ngày, tại Đền Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân (Hà Nam), UBND huyện Lý Nhân đã tổ chức lễ phát lương, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận, gió hòa.

Nghi lễ phát lương nhằm tái hiện lịch sử về “phát quân lương” khao quân của quân đội nhà Trần khi đánh thắng giặc Nguyên Mông lần thứ ba (năm 1288). Năm 2015, Ban tổ chức phối hợp nhà đền tổ chức 30 điểm phát lương với 150.000 túi lương thảo, tạo điều kiện để du khách về dự đều được nhận lương cầu may đầu xuân.

* Tin trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/3/2015 :

Khai hội Kinh Dương Vương tại Bắc Ninh

Ngày 6/3, Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh và huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) tổ chức lễ dâng hương và khai hội Kinh Dương Vương (tại xã Đại Đồng Thành) kỷ niệm 4.894 năm đức Thủy tổ Việt Nam khai sinh mở nước. Dư hội, có đại diện các ban, ngành ở trung ương và địa phương cùng hàng nghìn nhân dân và du khách thập phương về trẩy hội. Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức thể hiện lòng thành kính, tuyên truyền, giáo dục những người con dân đất Việt nhớ về nguồn cội, tri ân đức Thủy tổ Việt Nam, phát huy truyền thống tốt đẹp từ nghìn xưa. Lễ hội diễn ra đến ngày 9/3.

P.V.

Kết thúc các hoạt động quảng bá văn học Việt Nam Xuân Ất Mùi

Chiều 6/3, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức trọng thể lễ bế mạc Hội nghị Quảng bá văn học Việt Nam lần thứ ba và Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương lần thứ hai.

Chương trình kéo dài từ ngày 2/3 đến hết ngày 6/3, tham gia có 151 đại biểu quốc tế là các nhà văn, nhà thơ, dịch giả, đại diện Nhà xuất bản đến từ 43 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cùng đông đảo các tác giả trong nước và công chúng yêu văn học. Nhiều hoạt động sôi nổi đã được tổ chức.

Hôm nay, ngày 7/3, các đại biểu quốc tế trên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chương trình giao lưu, quảng bá văn học sôi nổi, bổ ích và thắm tình hữu nghị.

P.V.

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/3/2015:

Ngày hội của người yêu thơ Việt Nam và quốc tế

Sáng 5-3 (15 tháng Giêng), lễ khai mạc Ngày thơ Việt Nam lần thứ 13 đã diễn ra tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) với sự tham gia của 151 nhà văn, nhà thơ, dịch giả đến từ 43 quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng đông đảo các tác giả và người yêu thơ Việt Nam.

Năm nay, Ngày thơ tiếp tục chủ đề “Hướng về biển đảo Tổ quốc” và được chia thành hai sân thơ là Truyền thống và Vòng tay bạn bè. Tại sân thơ Truyền thống, sau màn trống khai hội tưng bừng rộn rã, nhà thơ Hữu Thỉnh nhiệt liệt chào mừng sự người yêu thơ và bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời nhấn mạnh sự kiện này sẽ cung cấp bức tranh tổng thể về Huong ve bien dao _ ngay tho Viet Namthành tựu, giá trị, bản sắc độc đáo của nền thơ Việt Nam và mong muốn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các nhà thơ đại diện năm châu đối với sự nghiệp thi ca và xây dựng đất nước. Nhà thơ M. San-ma-uy, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Á – Phi, Chủ tịch Hội Nhà văn Ai Cập thay mặt các đoàn khách quốc tế bày tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ đối với Việt Nam, “đất nước của hòa bình, tình yêu và thi ca”. Các tiết mục đọc thơ, ngâm thơ của một số nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Việt Chiến với Tổ quốc là tiếng Mẹ, Nguyễn Thị Mai với Quà quê ra đảo, Trương Nam Hương, Anh Ngọc… đều nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của người xem. Song hành với thơ Việt Nam là các phần trình diễn và giao lưu sôi nổi của các tác giả đến từ Thái-lan, Xlô-va-ki-a, Nga, Cô-lôm-bi-a, Cu-ba, Mỹ… bằng nhiều ngôn ngữ, trong đó có những nhà thơ ngoại quốc thông thạo tiếng Việt đã làm thơ bằng tiếng Việt. Một chương trình nghệ thuật chào mừng được dàn dựng công phu với các tiết mục hát múa xen kẽ, mang đậm chất truyền thống dân tộc, do Nhà hát Tuồng Việt Nam, Ðoàn Nghệ thuật tỉnh Sơn La và năm trường đại học thực hiện.

Ở khu vực nhà Thái học, sân thơ trẻ mọi năm được thay thế bằng sân thơ Vòng tay bạn bè. Tuy trời mưa nhỏ và kéo dài đến hết buổi sáng, nhưng công chúng yêu thơ vẫn đội mưa đứng chật kín sân Thái học. Không nhiều nhà thơ Việt Nam tham gia đọc thơ, có lẽ để “nhường” cho các bạn thơ quốc tế đang khao khát tiếp cận công chúng Việt Nam. Gần 20 nhà thơ quốc tế đã đọc thơ, đã tạo nên một vườn thơ đầy hương sắc. Mỗi bài thơ là một câu chuyện kể về số phận con người, đất nước, dân tộc của các nhà thơ. Ka-ren Sít sau khi đọc xong hai bài thơ đã trân trọng tặng Hội Nhà văn Việt Nam cuốn sách tập hợp các bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được dịch và mới xuất bản tại Cộng hòa Séc. Tưởng Vĩ Văn nói tiếng Việt rất trôi chảy, tự trình bày bài thơ của mình bản Hoa ngữ và bản tiếng Việt do chính anh dịch. Một nữ nhà thơ Mỹ viết bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, đã trực tiếp đọc thơ bằng hai ngôn ngữ này, mang đến những bất ngờ thú vị. Hai nhà thơ đến từ Mông Cổ cũng có phần trình diễn thơ hết sức ấn tượng. Xen lẫn phần đọc thơ là các tiết mục văn nghệ thể hiện tinh thần yêu nước và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Bộ Tư lệnh Hải quân, Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng; các màn hát Then, hát Xẩm, hát Hầu đồng… làm nên một ngày hội đậm đà màu sắc dân gian.

Bên cạnh hai sân thơ chính, trong khuôn viên Văn Miếu – Quốc Tử Giám còn có Khu phố nghệ thuật với gần 30 gian trưng bày của các câu lạc bộ thơ, hội văn học nghệ thuật một số tỉnh, thành phố, các trường đại học; Triển lãm các tác phẩm văn học Việt Nam đã được dịch, xuất bản ở nước ngoài; Giới thiệu sách, ấn phẩm văn chương của các nhà xuất bản trong nước… cùng các hoạt động lý thú và sôi nổi như giao lưu thơ, thư pháp, trình diễn nghệ thuật dân gian, văn nghệ quần chúng. Ngày thơ năm nay không có sân thơ trẻ, nhưng các nhà thơ trẻ vẫn góp mặt ở cả hai sân thơ và các hoạt động bên lề.

Lễ khai mạc Ngày thơ Việt Nam lần thứ 13 kết thúc bằng màn thả thơ truyền thống. Với 50 áng thơ hay của các thế hệ nhà thơ Việt Nam và thế giới.

* Cùng ngày, Ngày thơ Việt Nam được hưởng ứng và tổ chức đồng loạt tại nhiều địa phương khác trên cả nước: Vĩnh Phúc, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang với chủ đề hướng về biển, đảo Tổ quốc. Riêng tại Kiên Giang, Ngày thơ Việt Nam được UBND thị xã Hà Tiên tổ chức gắn với kỷ niệm 279 năm thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các (1736 – 2015). Buổi lễ khai mạc với chương trình nghệ thuật : “Bài ca mở đất – Sáng lập Tao đàn”, tái hiện lại quá khứ hào hùng của các bậc tiền nhân đã dày công vun đắp xây dựng.

PV

* Tin trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 6/3/2015:

Trao Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông

Sáng 5/3, tạiy huện Hương Sơn, Bộ Y tế phối hợp tỉnh Hà Tĩnh tổ chức Lễ tưởng niệm 224 năm Ngày mất đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và trao Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông lần thứ ba. Dự lễ có đại diện lãnh đạo Bộ Y tế và tỉnh Hà Tĩnh. Tại buổi lễ, các đại biểu đã ôn lại thân thế, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đối với nền y học nước nhà; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, chỉ đạo và phát triển của tỉnh Hà Tĩnh đối với công tác chăm sósc ức khỏe nhân dân. Nhân dịp này, lãnh đạo Bộ của Bộ Y tế tặng 69 cá nhân công tác trong lĩnh vực y dược học cổ truyền đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp y học cổ truyền, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.

* Trước đó, tối 4/3, tại Khu du lịch sinh thái Hải Thượng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức lễ khai trương Nam du lịch Hà Tĩnh và chương trình nghệ thuật “Mạch sống cho đời” – tôn vinh đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

PV

Lần đầu tổ chức Lễ hội đền thờ Vua Lê Thái Tông tại Thành phố Sơn La

Sáng 5/3, tại thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La), Ủy ban Nhân dân thành phố Sơn La đã tổ chức Lễ hội đền thờ Vua Lê Thái Tông.

Di tích lịch sử văn bia Quế Lâm Ngự Chế và đền thờ Vua Lê Thái Tông, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia năm 1994, thuộc phường Chiềng Lề (thành phố Sơn La). Di tích văn bia là một bài thơ cảm tác của Vua Lê Thái Tông khắc lên vách hang Thẳm Ké khi nhà vua đưa quân lên miền tây bắc dẹp loạn, giữ yên bờ cõi năm 1440.

Đây là lần đâu Ủy ban Nhân dân thành phố Sơn La tổ chức Lễ hội đền thờ Vua Lê Thái Tông.

PV

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/3/2015:

Chương trình nghệ thuật “Ân tình ví, giặm” tại Hà Nội

Tại Nhà hát nghệ thuật Âu Cơ (Hà Nội), Hội Cựu học sinh Trường chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An) vừa tổ chức chương trình nghệ thuật “Ân tình ví, giặm”. Chương trình do các nghệ nhân đến từ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, Nhà hát dân ca Nghệ An, cùng các ca sĩ: Thành Lê, Đăng Thuật, Lê Mận, Vành Khuyên… tham gia biểu diễn, đưa người nghe trở về miền ví, giặm thông qua những giai điệu đầy trữ tình, sâu lắng của điệu: Ô lục soạn, Thử lòng chung thủy, Ví phường vải, Ví phường cấy, Ví phường nón, Hát bàn ghẹo…

Chương trình cũng giới thiệu những ca khúc được sáng tác dựa trên cảm hứng từ những làn điệu ví, giặm của các nhạc sĩ: An Thuyên, Trần Hoàn, Nguyễn Tài Tuệ, Nguyễn Trọng Tạo… Toàn bộ số tiền do các cựu học sinh Trường Phan Bội Châu và các khán giả quyên góp thông qua chương trình được dùng ủng hộ các nghệ nhân ví, giặm có hoàn cảnh khó khăn và các câu lạc bộ ví, giặm tại địa phương.

* Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 8/3/2015:

Tổ chức hội sách mùa xuân năm 2015

Trong hai ngày 7 và 8-3 tại Nhà sách Alpha (số 176 Thái Hà, Ðống Ða, Hà Nội), diễn ra hội “Hội sách mùa Xuân 2015″, giới thiệu khoảng 10.000 bản sách của nhiều nhà xuất bản và các đơn vị phát hành sách trong cả nước. Ðiểm nhấn của hội sách lần này là chương trình “Thế giới sách thiếu nhi kỳ thú”. Hàng trăm tựa sách cùng loạt sản phẩm dành cho thiếu nhi sẽ được giới thiệu tại đây. Hội sách sẽ giảm giá từ 20% đến 50% đối với tất cả các loại sách.

* Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 5/3/2015:

Ra mắt sách nghiên cứu về dân tộc Mông (H’Mông)

Chiều 4-3, Viện Văn học phối hợp Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Hà Nội tổ chức giới thiệu cuốn sách Những đỉnh núi du ca- Một lối tìm về cá tính H’Môngcủa nhà nghiên cứu ngữ văn và văn hóa thiểu số Nguyễn Mạnh Tiến. Nhiều kiến thức và hình ảnh về đời sống, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng,… của người Mông trong sách sẽ giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về tộc người thiểu số này.

* Tin trang 1 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 8/3/2015:

Khánh thành tượng đài hoàng thái hậu Từ Dũ

Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM sáng 7-3 đã tổ chức lễ khánh thành tượng đài hoàng thái hậu Từ Dũ đặt giữa công viên khu E, mặt hướng về cổng chính (đường Cống Quỳnh) của bệnh viện. Tượng hoàng thái hậu Từ Dũ cao 95cm, rộng 80cm, dày 45cm, làm bằng chất liệu đồng thau. Kinh phí xây dựng khuôn viên và đúc tượng hoàng thái hậu Từ Dũ khoảng 500 triệu đồng do cán bộ, viên chức bệnh viện đóng góp và mạnh thường quân hỗ trợ.

Hoàng thái hậu Từ Dũ (tên húy là Phạm Thị Hằng) sinh năm 1810, mất năm 1901. Bà là một bậc mẫu nghi thiên hạ, cả cuộc đời lo cho dân, hết lòng vì sự hưng thịnh của nước nhà, một người mẹ mẫu mực của vua Tự Đức.

Nhân đức của bà đã đi vào lòng người, nhận được sự kính trọng của triều đình và sự yêu mến của nhân dân suốt 78 năm gắn liền với triều đại nhà Nguyễn.

Tuong Tu DuTheo bác sĩ Lê Quang Thanh – giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, việc xây dựng tượng đài hoàng thái hậu Từ Dũ vừa để ghi nhớ công đức của bà vừa để nhắc nhở, giáo dục người thầy thuốc luôn luôn trau dồi y đức, tận tụy chăm sóc bệnh nhân.

L.TH.H.

* Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 2/3/2015:

86 cụ 100 tuổi ở Lâm Đồng được nhận Thiếp mừng thọ của Chủ tịch nước

86 cụ cao niên sinh năm 1915 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng sẽ được nhận Thiếp mừng thọ của Chủ tịch nước trong dịp tròn 100 tuổi. Trong số các cụ mừng thọ 100 tuổi trong năm nay có 63 cụ bà và 23 cụ ông. Ngoài các cụ cao niên người Kinh (56 cụ), còn có các cụ ông, cụ bà người dân tộc thiểu số gồm K’Ho (21 cụ) Cil (bảy cụ) và Tày (hai cụ) được Chủ tịch nước gửi Thiếp mừng thọ.

Hiện, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lâm Đồng đang phối hợp các huyện, thành phố trong tỉnh tổ chức các đoàn đến thăm, chúc mừng dịp các cụ tròn 100 tuổi và thừa ủy quyền của Chủ tịch nước trao Thiếp mừng thọ cùng quà tặng đến các cụ. Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng cũng chỉ đạo các đơn vị có liên quan tổ chức việc trao tặng trang trọng và tiết kiệm, theo đúng quy định.

Đáng chú ý, trong đợt mừng thọ các cụ 100 tuổi lần này, ngoài thành phố Đà Lạt có 19 cụ 100 tuổi, huyện Di Linh cũng có nhiều cụ sống thọ với 17 cụ tròn 100 tuổi.

* Tin trang 2 báo Nhân Dân ngày 7/3/2015:

Ra mắt Tổng đài tư vấn hỗ trợ người tiêu dùng tại Hà Nội

Ngày 6/3, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) ra mắt Tổng đài tư vấn hỗ trợ người tiêu dùng tại Hà Nội. Cục Quản lý cạnh tranh đã xây dựng và lắp đặt Tổng đài tư vấn hỗ trợ người tiêu dùng với đầu số 1800-6838 từ cuối năm 2014 với chức năng hỗ trợ, tư vấn trong trường hợp người tiêu dùng có thắc mắc, khiếu nại về hàng hóa, dịch vụ; tiếp nhận các phản ánh hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cạnh tranh trên toàn quốc.

PV.

 

Tháng Ba 6, 2015

Thư của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan gửi Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 3 năm 2015.

Thư của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan gửi Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hà Nội ngày 3/3/2015

Kính gửi Giáo sư Tiến sĩ Phan Huy Lê

Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam,

Đồng kính gửi Ông Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết

Cơ quan của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Kính thưa,

Những năm gần đây, được sự đồng ý của cơ quan Đảng Nhà nước, thông tin truyền thông, báo chí, Hội Khoa học Lịch sử đã trả lại xã hội những hiểu biết mới, đúng đắn?????? về các nhân vật lịch sử như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Sơn, Phan Anh, Chu Văn Tấn, Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế, Nhà Nguyễn, Nhà Mạc, Nhà Hồ…

Còn có một con người lịch sử nữa mà dư luận đang chờ đợi. Đó là nhà báo, Chủ bút báo Nam Phong – Thượng Chi Phạm Quỳnh với một cái chết đầy oan khuất. Nhiều trước tác của Phạm Quỳnh đã được xuất bản. Nhiều luận án Khoa học đã tiếp cận Phạm Quỳnh – Báo Nam Phong. Nhiều sách nghiên cứu về Phạm Quỳnh đã được in, phổ biến rộng rãi. Ban Tuyên giáo tỉnh Hải Dương đã có một hội thảo về Phạm Quỳnh. Tôn vinh ông là nhà văn hóa lớn. Các nhà văn, nhà báo Huế, trong đó có ông Nguyễn Khoa Điềm – nguyên ủy viên Bộ Chính trị – đã coi Phạm Quỳnh là “người có công lớn với văn hóa Huế”. Một số các vị lãnh đạo cao cấp đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai Phạm Quỳnh thắp hương, nhận sách tặng viết về Phạm Quỳnh. Blog PhamTon – đã có hàng triệu người đọc đang chờ một kết luận: đúng, sai, công ở đâu, tội chỗ nào…

Bác Hồ có dặn lại rằng: “Cụ Phạm là một con người của lịch sử. Sau này lịch sử sẽ xem xét lại…” Lịch sử – như lời Bác dặn phải chăng là Đảng, Nhà Nước, các nhà sử? Nếu tất cả không làm, liệu ta có nhớ để thực hiện lời dặn của Bác?

Kính thưa;

70 năm đã qua, khi Phạm Quỳnh bị bắt ra đi không trở lại nhà, khi đã là “công dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị xử lý mà không có tòa án, không được báo trước! Mong rằng, năm nay, Hội ta có thể phối hợp với Mặt trận Tổ quốc… có một kết luận nào đó về Phạm Quỳnh.

Trân trọng cám ơn

 Thu Nguyen Van Khoan gui mat tran to quoc

Bình Gian quê ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ bảy, tuần 2 tháng 3 năm 2015.

BÌNH GIANG QUÊ TA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bình Giang Quê Ta là tên một ấn phẩm đẹp, có giá trị, tiếng nói của Hội đồng hương Bình Giang tại Hà Nội. Chúng tôi may mắn có Bia sach Binh Giang Que Tatrong tay Số đặc biệt nhân kỳ họp đồng hương đầu Xuân Ất Mùi 2015 Hà Nội (chuyên đề văn học – nghệ thuật, ấn hành tại Hà Nội -2015.

Ấn phẩm có trưởng ban biên tập Giang Quân là nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, Công dân ưu tú Thủ đô 2011, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và nhiều hội khác, với các Phó ban biên tập Vũ Phượng Ngọc là nhạc sĩ, nhà thơ, kỹ sư, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội viên Hội âm nhạc Hà Nội và Vũ Mão, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nhạc sĩ, nhà thơ, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam và nhiều hội khác. Ban biên tập gồm: Giang Quân, Vũ Phượng Ngọc, Vũ Mão, Vũ Trụ, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Trung Văn, Vũ Dương Châu. Trình bài mỹ thuật : Vũ Trụ.

Trong số đặc biệt này từ trang 114-118 có bài Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc Hải Dương của Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, thư của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan trân trọng kính gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/10/2014 « Trân trọng kính đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – có thể thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ, đa số nhân dân, có một kết luận chính thức về Phạm Quỳnh. Việc này, nếu làm được, sẽ được lòng dân, yên lòng bao nhiêu người đã mất, đang sống và cả cho mai sau ; uy tín của Mặt trận, Đảng và Nhà nước sẽ được toàn dân đề cao, ca ngợi ». Trong sách từ trang 64-76 còn có một số bài viết về nhạc sĩ Phạm Tuyên như : Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con bình dị của dòng họ Phạm (của Tiểu Vũ), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đồng hành cùng lịch sử (của Nguyễn Thụy Kha), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, gửi hương cho đời (của Nguyễn Vũ), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, và hai giờ sáng tác bài hát về Bác Hồ (Phạm Ly). Cũng ở đây công bố ba nhạc phẩm của nhạc sĩ Tổ quốc ở Trường Sa (trang 93), Bình Giang ngày mới (trang 94), và Thành Đông năm xưa, Hải Dương hôm nay (trang 95).

Nhân ngày đầu năm Ất Mùi, chúng tôi mời các bạn đọc bài Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở nguyên quán Lương Ngọc – Hải Dương in trong sách này và kèm đó là bài Viết tiếp chuyện bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Nhà giáo Vũ Thế Khôi mới gửi cho chúng tôi ngày cuối năm Giáp Ngọ.

 —o0o—

BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.Bia Pham Quynh _ Sach

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

 Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa

PHẠM QUỲNH

(1893-1945)

Chủ bút báo Nam Phong

Hiệu Thượng Chi.

Với việc khánh thành Bia tưởng niệm Thượng Chi Phạm Quỳnh, Làng Văn Hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sỹ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Nhà giáo ưu tú

Vũ Thế Khôi

(Đã đăng trên báo Đại Đoàn Kết Số ra ngày 28/11/2014 với tiêu đề : « Dựng bia tưởng niệm nhà Văn hóa Phạm Quỳnh »)

 *

*   *

VIẾT TIẾP CHUYỆN BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Nhà giáo Vũ Thế Khôi

Ngày 08 – 02 – 2015, nhằm 20 tháng Chạp năm Giáp Ngọ, chúng tôi lại theo gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên về nguyên quán của ông là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nơi mới đây với sự tạo điều kiện của nhân dân và chính quyền địa phương họ đã dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh. Lần này là họ về thắp hương viếng mộ liệt tổ họ Phạm, theo truyền thống văn hóa cổ truyền thỉnh chư vị về các tư gia vui hưởng Tết cùng con cháu.

Tại khu Lăng mộ cụ tú Phạm Hữu Điển và Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh, mới hơn hai tháng trôi qua, đã thấy xuất hiện phía sau nhà bia một kiến trúc mới – một đoạn hậu tường ốp đá đen, khắc mấy hàng thủ bút, với chữ ký của chính cụ Thượng Chi: Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

 Tiếng là nước,

                        Có tiếng mới có nước,

                        Có quốc văn mới có quốc gia.

Thâm thúy biết bao!

Buồi chiều cùng ngày, nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Thân, cháu ngoại cụ Phạm Quỳnh, cũng các vị lãnh đạo ban ngành huyện Bình Giang tham dự Lễ khánh thành trường Phổ thông cơ sở Thúc Kháng, do công ty cổ phần Him Lam đầu tư 25 tỷ hoàn thành việc xây cất trong thời gian kỷ lục – 4 tháng! Một khuôn viên giáo dục rộng rãi khang trang, chẳng những đầy đủ lớp lang,văn phòng mà còn có cả hồ bơi và sân vận động!

Truong Binh Giang _ Vu The Khoi chup

Ảnh: VTK

Việc trường Phổ Thông Cơ Sở Thúc Khàng tọa lạc tại Làng Văn hóa Lương Ngọc tiếp nối và phát huy truyền thống giáo dục mà Thượng thư Học bộ Phạm Quỳnh đã xây nền móng bằng việc hơn tám chục năm trước đây, đầu những năm 30 của thế kỷ trước, cụ đã cho đặt trường Tổng sư của tổng Ngọc Cục ở chính làng quê này.

Vieng mo Pham Quynh o Hai Duong 18V.T.K.

Trang sau »

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 29 other followers