Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 15, 2018

Người con trai út của học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018

NGƯỜI CON TRAI ÚT CỦA HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Dân ta thường nói “Giàu con út, khó con út”. Có phải vậy chăng…

Ông Phạm Tuân, sinh năm 1936, chính là con trai út của học giả Phạm Quỳnh. Sau một giấc mộng đẹp, mơ thấy một bé trai xinh xắn cứ theo mình về nhà, bà Lê Thị Vân sinh Phạm Tuân. Là con cưng, gọi là “chú mình”, người giúp việc nhà ở Huế hồi ấy là người miền Trung, gọi trại thành “chú Miềng”, và từ đó thành “biệt danh”, ông dùng cho đến tuổi già với người thân.

Những năm 1990, ông thường về nước thăm chị, thăm anh.

Tôi là cháu, gọi ông bằng cậu. Nhưng thường quen gọi là “chú” vì ông vẫn xưng là “chú Miềng”. Tôi thường được ông kể mấy chuyện này: Năm lên bốn tuổi, thường sau bữa cơm chiều, bác tài Mai lái xe riêng cho Thầy hay hỏi “Nào chú Miềng, có đi chơi nhà Ông già điên không?” Rồi chú theo Thầy đến Bến Ngự, có một ông già gầy yếu ra đón, rồi đưa thầy vào nhà gianh, một lát sau lại tiễn thầy, thân mật lắm. Mãi sau này, năm 1940 khi Phan Bội Châu mất, cả thành phố Huế xúc động, ông mới biết ông già mà Thầy thường đến thăm lúc chập choạng tối đó chính là chí sĩ Phan Bội Châu.

Ngày 23/8/1945, chú Miềng đang chơi đùa với cháu nội Phạm Quý, sinh năm 1940con bác cả Phạm Giao và các cháu ngoại con bà Phạm Thị Ngoạn là Nguyễn Quốc Khánh, sinh năm 1941 và em Quốc Cương , thì thấy có một xe hơi vào sân, hai thanh niên cao lớn, mặc đồ ca ki bước xuống, Phạm Quý bảo hình như Tây, nhưng không phải mà là người Việt Nam ta. Thấy một thanh niên rút súng, một người cao gầy chạy vội qua sân, đó là ông Lê Xuân em vợ Phạm Quỳnh hiện ở cùng nhà. Súng tắc đạn, không nổ. Một lát sau thì Phạm Quỳnh có con rể là Nguyễn Tiến Lãng theo hầu Thầy lên xe đi cùng hai thanh niên. Đó là lần cuối cùng Phạm Tuân gặp cha.

11 năm sau, năm 1956, nhờ ông Hoàng Hùng, thời học ở Hà Nội từng sống tại nhà Phạm Quỳnh ở số 5 phố Hàng Da, bấy giờ là bộ trưởng bộ kiến thiết chính quyền Ngô Đình Diệm biết được việc cải táng Ngô Đình Khôi bèn xin phép báo cho gia đình học giả đi cùng. Bà Phạm Thị Hảo là dược sĩ ở Sài Gòn và em trai là Phạm Tuân 20 tuổi đi cùng. Chính chàng trai đã tìm thấy ngay hài cốt cha nhờ bộ cốt dài và cạnh đó là cặp kính cận, cũng phát hiện ra một vết chém ngang trán như vết xẻng. Ngay đêm hôm cải táng, hai chị em đưa cha về khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Thế là Phạm Tuân, con trai út của học giả Phạm Quỳnh đã là nhân chứng cho ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời học giả: Phạm Quỳnh trân trọng và cố gắng giúp đỡ Phan Bội Châu, Phạm Quỳnh “được mời đến nơi làm việc” và nơi vùi thân xác Phạm Quỳnh.

Chú Miềng, con cưng của Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục, cậu thiếu niên chín tuổi con Thượng thư Bộ Lại đã về hưu và chàng sinh viên 20 tuổi ấy vẫn chỉ biết mở to mắt mà nhìn những sự việc quan trọng xảy ra trong phần đời cuối cùng của thân phụ, chỉ nhìn, ghi nhớ mãi mà chưa làm được gì. Nhưng, từ khi chàng thanh niên biết yêu và được yêu bởi một người con gái Huế thông minh, cá tính mạnh mẽ thì cuộc đời anh đã chuyển sang một chặng đường mới, gian nan, đầy trách nhiệm mà cũng nhiều ý nghĩa hơn. Sống ở Sài Gòn thời ấy, không có tiền lo lót, chạy chọt, chàng sinh viên ham văn nghệ thời ấy, từng là bạn chí cốt đồng điệu với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, đành đi lính. Gần khắp miền Trung khói lửa, hễ chồng chuyển quân đến đâu thì vợ con đùm bọc nhau theo chân đến đấy. Chỉ có một tình yêu thật sự mới khiến gia đình đó vẫn luôn ở bên nhau trong những năm tháng gian khó đó. Sau này, trong một lần anh em gặp nhau hồi những năm 1990, Phạm Tuân vui vẻ nói với anh trai Phạm Tuyên là năm 1975 ấy, hễ Chiếc gậy Trường Sơn của anh đến đâu là bọn em lại bỏ chạy sang nơi khác. Lại hỏi anh Phạm Khuê là anh có nhớ trưa 23/8/1945, anh đi mít tinh ủng hộ Việt Minh về thì biết tin Thầy đã bị bắt, anh đã vào ngay tủ súng săn đã bị niêm phong, đấm vỡ cửa tủ, nhưng súng đã bị tịch thu hết, máu chảy đầy tay anh. Ông anh trả lời là nếu lúc ấy, còn súng thì không biết việc gì sẽ xảy ra. Và ông anh nay là đại biểu Quốc hội, NGND, Viện trưởng Viện Lão khoa, chủ tịch Hội người cao tuổi Việt Nam cười hiền cùng ông em út.

Vợ làm kế toán, chồng sửa xe hơi, cuộc sống tạm ổn nơi xứ người. Rồi phát hiện ông bị đái tháo đường nặng, những vết sây sát sửa xe hơi lâu lành, sức khỏe cũng giảm sút. Gánh nặng gia đình đè lên vai bà. Nhưng bà quyết nuôi các con ăn học đàng hoàng.

Có sự chỉ bảo của hai bà chị Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn hai vợ chồng dồn tiền tích cóp bao năm nay góp cả vào việc xuất bản tập sách Giải oan lập một đàn tràng (Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, Hoa Kỳ, 2001) gồm 21 bài của các nhà văn, sử học, nhà nghiên cứu người Việt sống ở nước ngoài viết về Phạm Quỳnh và tám bài văn của Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Từ năm 2009, Blog PhamTon ra đời, mong là tiếng nói chính thức của gia đình Phạm Quỳnh và là nơi tập tập hợp những tư liệu do những tấm lòng yêu mến Phạm Quỳnh cung cấp, thì đóng góp của vợ chồng Phạm Tuân – Hoảng Hỷ Nguyên lại càng nhiều hơn. Ví như “tư liệu lạ lùng” về việc Ngự tiền văn phòng Phạm Quỳnh vừa nhậm chức đã gửi thư cho Louis Marty chánh mật thám Đông Dương xin giảm tội cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi ở Kiến An, bản quyết định của Đô trưởng Sài Gòn về việc đặt tên đường Phạm Quỳnh  ở thành phố này, rồi việc bản Tuyên bố độc lập do Phạm Quỳnh khởi thảo năm 1945 là thế nào, tiếp đến bản thảo Hoa Đường tùy bút, Bản dịch thơ Đỗ Phủ, đều được ông bà chuyển về cho nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau khi nhận được bản in  của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ông Phạm Tuân còn phản hồi là nhà báo lão thành Mạc Kinh Trần Kế Xương cầm xem đã nói là anh em bên nhà làm tốt hơn ta. Cũng như khi các bài Người nặng lòng với nước, Người nặng lòng với tiếng ta của Phạm Tôn đến Mỹ đều được ông Tuân thông báo cho biết ý kiến đánh giá của tạp chí Khởi Hành (Hoa Kỳ).

Đáng chú ý là sau khi Blog PhamTon đăng bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế? thì ông Tuân cho biết ông này gặp ông đã nói là bài đó viết đúng “tôi viết chỉ để kiếm cơm thôi”

Được hai chị giao cho giữ những tư liệu về thân phụ, Phạm Tuân đã cung cấp cho nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn. Ông còn chú ý sưu tầm cả những bức ảnh xưa, quí hiếm khi tình cờ đến thăm một người quen biết như Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục đến thăm trường Thăng Long (ngõ Trạm) đứng cạnh con rể Tôn Thất Bình là một hiệu trưởng của trường, ảnh bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh và hai con trai chụp năm 1943… Và quan trọng nhất là việc ông bà Tuân – Nguyên đóng góp chủ yếu  cho việc xuất bản bộ đĩa DVD Nam Phong toàn tập, bao gồm cả luận án tiến sĩ Sorbonne của bà Phạm Thị Ngoạn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong; Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí của Nguyễn Khắc Xuyên và Nam Phong tạp chí số Tết Mậu Ngọ, tờ báo Xuân đầu tiên của nước ta.

Còn nhớ cuối năm 2000, mẹ chúng tôi bà Phạm Thị Giá, trưởng nữ của học giả Phạm Quỳnh mất. Tôi tham gia trực linh cữu mẹ, thì nhận được điện thoại ông gọi từ Mỹ về Bạc Liêu nơi mẹ tôi sống những năm cuối đời. Trong đêm khuya, tiếng ông xúc động hỏi mẹ tôi mất như thế nào, pháp danh là gì để bên đó còn làm lễ cầu siêu. Bỗng nhiên ông trầm giọng tâm sự, các chị mỗi người mỗi việc, đã làm rất tốt việc báo hiếu cha, còn mình là con trai, lại chẳng làm được gì, chỉ vì bất tài vô dụng, nghĩ mà buồn… Nhưng cả nhà đều biết công của ông và cả nửa kia của ông nữa. Ông có thể yên tâm : Ông và vợ đã báo hiếu cha được rồi, những việc ông bà đã làm không phải ai cũng làm được. Riêng chúng tôi rất xúc động khi được ông bà trao cho giữ gìn bốn di vật của Thượng Chi Phạm Quỳnh, dù chúng tôi chỉ là cháu lại là cháu ngoại. Đó là Nhật ký 1922 tại Pháp, bản thảo Hoa Đường tùy bút và hai bức bưu ảnh ông gửi cho vợ con năm 1922.

TpHCM ngày 11/6/2018

Phạm Tôn

Advertisements

DVD Nam Phong tạp chí – Blog PhamTon

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018.

NHỮNG DVD TOÀN BỘ TẠP CHÍ NAM PHONG ĐẦU TIÊN ĐÃ CÓ MẶT TẠI VIỆT NAM

Đầu tháng 9-2009, những DVD toàn bộ 210 số Tạp chí Nam Phong đã có mặt tại Hà Nội và Tp.HCM. Đó là những bản đặc biệt gửi tặng gia đình học giả Phạm Quỳnh ở trong nước.

Đây là công trình sáu năm của Viện Việt Học (Institute of Vietnamese Studies, CA. 92683-USA) với sự hợp tác của gia đình học giả Phạm Quỳnh, mà người đại diện là ông Phạm Tuân, con út của học giả.

Ông Phạm Tuân đã đưa cho viện toàn bộ số Tạp chí Nam Phong gia đình còn giữ được qua cơn gia biến và 30 năm chiến tranh. Các số tạp chí này có những ghi chú, nhận xét của chính học giả Phạm Quỳnh ngay khi báo mới ra, viết bằng bút chì. Những  phần thiếu do mục nát, mất mát, ông đã báo về nước cho anh là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Và nhạc sĩ đã được Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung đầy đủ. Ông Tuân cùng mấy cháu nội, ngoại của học giả sống ở nước ngoài cũng đóng góp kinh phí thực hiện công trình này.

Nam Phong tap chi_Vien Viet Hoc

Hơn 50 chuyên viên điện toán, cư ngụ rải rác ở khắp Hoa Kỳ, phần lớn là chuyên viên trẻ và sinh viên, đã thiện nguyện góp tâm sức thực hiện. Ban đầu (năm 2004) dự trù phải làm tới 36 đĩa; nhưng nay (2009) với kỹ thuật điện toán tiến bộ, thu lại chỉ còn sáu đĩa. Đĩa 1: Giới thiệu bộ DVD-ROM, có Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Nguyễn Khắc Xuyên, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn, Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Trọng Nhân dịch từ Introduction au Nam Phong của Phạm thị Ngoạn, Ý Việt, Yerres (Pháp) và số Tết báo Nam Phong năm 1918, cũng là số báo Tết đầu tiên của nước ta. Đĩa 2: Từ số 1 đến số 42. Đĩa 3: Từ số 43 đến số 84. Đĩa 4: Từ số 85 đến số 124. Đĩa 5: Từ số 125 đến số 163. Đĩa 6: Từ số 164 đến số 210.

Chiều chủ nhật 28-6-2009, hơn một trăm văn nghệ sĩ, nhân sĩ đã tham dự buổi ra mắt công trình Toàn bộ Tạp chí Nam Phong dưới dạng DVD tại Viện Việt Học, có sự hiện diện của ông Phạm Tuân và gia đình.

Bộ DVD-ROM 6 đĩa này đã được nhiều thư viện ở Hoa Kỳ đặt mua, trong đó có Thư Viện Quốc hội Hoa Kỳ. Liên lạc Viện Việt Học: 001 (714) 755.2050.

Blog PT.

Từ thành nhà Hồ, nghĩ về Tạp chí Nam Phong và Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018.

TỪ THÀNH NHÀ HỒ,

NGHĨ VỀ TẠP CHÍ NAM PHONG VÀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Trang 5 báo Nhân Dân ra ngày 19/11/2012 có bài của Nguyên Anh Bức tranh khắc họa thành công chân dung một danh nhân lịch sử.

Phần mở đầu, viết: “Triều đại nhà Hồ tồn tại cách đây hơn sáu thế kỷ đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc, trong đó Hồ Quý Ly là một nhân vật đượHo Quy Lyc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Cuộc đời và con người ông cũng là đối tượng sáng tác của văn học, nghệ thuật sân khấu và hội họa với các góc cạnh khai thác, thể hiện nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.

Nhìn lại những tác phẩm nghiên cứu và sáng tác về Hồ Quý Ly đều có chung một khẳng định, ông là một người yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm quyết liệt để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hồ Quý Ly cũng là người mang tư tưởng cách tân với những hành động thực tế khá táo bạo nhằm đổi mới, đưa đất nước phát triển trong bối cảnh xã hội nước ta lúc đó đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Bi kịch lịch sử của Hồ Quý Ly đến nay đã phần nào sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu để từ đó hậu thế có thể nhìn rõ hơn và ghi nhận tầm vóc tư tưởng cải cách của ông cùng những đóng góp lịch sử văn hóa của thời đại ông đã tạo dựng nên, trong đó có Thành Nhà Hồ, một công trình kiến trúc độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nghiên cứu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ tiếp cận trong suốt bảy năm qua, họa sĩ Hoàng Hoa Mai đã dày công thực hiện nhiều bức tranh chân dung về nhân vật lịch sử này. (…) mong muốn thể hiện hình tượng Hoàng đế Hồ Quý Ly với những nét khắc họa ấn tượng về tính cách, dáng vóc, dung quang phù hợp với cuộc đời và sự nghiệp đầy bi kịch của ông trong giai đoạn lịch sử biến động cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.”

Trong bài Thành nhà Hồ, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã viết

“Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng, tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.Thanh nha hoTheo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với qui mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. (…) Theo các nhà khảo cổ khối lượng đá xây dựng ước tính trên 25.000m3, khối lượng đất đắp trên 100.000m3. Đó là chưa nói đến hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá qui mô khá lớn.

Thành nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành qui mô lớn, đặc biệt Hoàng thành, đàn Nam Giao xây bằng đá rất bền vững và kiên cố. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá. (…) Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đền miếu, tượng đài, lăng mộ… nhưng Thành nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới. (…) gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”” (Trích trang 3 đến 6 Tạp chí Xưa và Nay số 407 tháng 7 năm 2012).”

Bia Nam Phong

Trong những ngày Thành Nhà Hồ đang được vinh danh quốc tế là Di sản văn hóa thế giới và Nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, chúng tôi và không ít người có lòng với văn hóa, văn học, lịch sử nước nhà không khỏi trạnh lòng nghĩ tới Thượng Chi – Phạm Quỳnh và bộ tạp chí Nam Phong đồ sộ, như một bức trường thành chống ngoại xâm về văn hóa và bảo vệ quốc hồn quốc túy của dân tộc.

Hồ Quý Ly xưa nay vẫn bị kết tội là “cướp ngôi nhà Trần”, thậm chí còn là “kẻ phản quốc, đầu hàng giặc một cách nhục nhã”… Mà không phải chỉ có sử phong kiến mới kết tội Hồ Quý Ly, nhà Hồ, và do đó, luôn cả thành nhà Hồ cũng chẳng ai thèm đoái hoài đến.

Mãi đến gần đây, Hồ Quý Ly, nhà Hồ mới được nhìn nhận công bằng hơn.

Đến tháng 11/2000, Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau mấy chục năm gác bút, đã cho ra đời tác phẩm đồ sộ Hồ Quý Ly (Nhà xuất bản Phụ Nữ) Tiểu thuyết lịch sử dày đến 834 trang, vậy mà đông đảo người đọc cứ say mê tìm đọc, đọc ngốn đọc ngấu cho đã cơn khát chân lý!

Và đến nay, thì cả nước và cả thế giới đã biết đến và ca ngợi thành Nhà Hồ, một kiến trúc thành đá duy nhất còn tồn tại đến nay, sau hơn 600 năm xây dựng. Đó là vì dù sử viết thế nào thì những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn còn in dấu trong sự thật lịch sử. Và dù được công nhận hay không công nhận, nhưng tòa thành đá vẫn sừng sững, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, thách thức gió mưa, động đất, chiến tranh và thách thức cả những kẻ không ưa nhà Hồ, căm ghét Hồ Quý Ly, vì không ai dám phá một tòa thành do nhân dân đã xây trong lòng dân và được dân bảo vệ.

Bon anh Pham QuynhCũng như thế, mạng sống con người Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu ngót 70 năm nay, nhưng, những gì ông viết vẫn còn mãi trong lòng nhiều thế hệ người dân Việt có lương tri và thật lòng yêu nước. Tạp chí Nam Phong do ông đồng sáng lập và làm chủ bút phần quốc ngữ từ năm 24 tuổi, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến năm 1932, sau đó còn viết bài cho tạp chí đến năm 1934, tổng cộng 211 số (kể cả số Tết Mậu Ngọ 1918, là số báo Tết đầu tiên của nước ta). Một số bài viết đến năm 1922 được ông chọn, tập hợp thành bộ Thượng Chi văn tập ngót 1.200 trang, một số bài khác thì in thành sách trong Nam Phong tùng thư do ông làm chủ nhiệm, như Văn học nước Pháp (Đông Kinh ấn quán xuất bản, 1927), Khảo về tiểu thuyết (1929),Lịch sử và học thuyết của Voltaire (1930), L’Idéale du sage dans la philosophie Confuçéenne
(Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) in song ngữ, 1928…. và bằng Pháp văn như Essais Franco-annamites (1929-1932) 489 trang, xuất bản tại Editions Buy Huy Tin Hué 1937 và Nouveaux essais Franco-annamites, 524 trang, 1938, v.v… Đúng là cả một bức trường thành to lớn, vững chãi. DVD Nam Phong

Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 và chấm dứt hoạt động năm 1934 (hai năm cuối, do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách) đến nay đã lui vào dĩ vãng, nhiều người muốn tìm đọc mà không có, đành xem các bản trích, bản vi phim, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy. Chỉ những thư viện lớn trên thế giới mới có.

Thành nhà Hồ thì xây dựng bằng đá tảng, còn tạp chí Nam Phong thì làm bằng giấy, dễ bị thời tiết nóng ẩm, rồi mối, mọt hủy hoại. Thật bất hạnh cho văn hóa, lịch sử nước nhà…

Nhưng, may thay, tháng 6 năm 2009 người con trai út của Phạm Quỳnh và vợ đã hợp tác với Viện Việt học California (Hoa Kỳ) để giới thiệu công trình chuyển 211 số báo gồm 35.000 trang chữ từ 1917 đến 1934 vào bộ sáu đĩa DVD- Rom. Trong đĩa 1, có bản dịch ra tiếng Việt luận văn tiến sĩ Sorbonne của Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh là Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và còn có cả Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Bộ đĩa do hơn 50 người tình nguyện, phần lớn là người trẻ, đã vất vả hoàn thành trong sáu năm ròng. Gia đình Phạm Quỳnh ở Mỹ và Pháp đã biếu tặng Viện Việt học toàn bộ số tạp chí có chữ ghi chú của Phạm Quỳnh bằng bút chì mà gia đình còn giữ được, vẻn vẹn chỉ 186 số. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhờ Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung số còn thiếu. Về kinh phí làm DVD-Rom này, riêng gia đình con trai út Phạm Quỳnh là Phạm Tuân và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên đã góp 12.000 đô la, cô Nguyễn Thị Kim Ngân góp 8.500 đô la và một số người quý mến Phạm Quỳnh khác góp số chi phí còn lại.

Như vậy là hiện nay tại các thư viện lớn ở nước ta đều đã có bộ đĩa này do nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Và bức trường thành tạp chí Nam Phong lại sừng sững đứng ngay trước mắt những ai cần tìm hiểu về một thời và về một con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi Phạm Quỳnh, một con người Việt Nam chân chính.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2012.

P.T.

Một nén hương lòng – Hỷ Nguyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 6 năm 2018

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG

Hỷ Nguyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tác giả bài này là bà Hỷ Nguyên, tên khai sinh là Hoàng Hỷ Nguyên, cựu nữ sinh trường Đồng Khánh-Huế, là vợ ông Phạm Tuân, con trai út, tức người con thứ 15 trong số 16 người con của học giả Phạm Quỳnh.

Bà viết bài này nhân dịp giỗ học giả Phạm Quỳnh đầu tháng 9 năm 2000. Chúng tôi trích đăng sau đây bài đã đăng trên tạp chí Đại Chúng, tại Hoa Kỳ, số 59 (29-9-2000) trang 13, mà ông Phạm Tuân đã có nhã ý gửi cho chúng tôi.

—o0o—

Thưa Thầy[1], cứ hàng năm, gần đến ngày giỗ Thầy, các con cháu của Thầy từ Á sHoang Hy Nguyenang Âu lại lo sửa soạn mâm cơm cúng thanh đạm mà tinh khiết dâng lên bàn thờ Thầy với tấc lòng bùi ngùi tưởng nhớ khôn nguôi. Con đây, phận dâu con, ngày được cái duyên may bước vào mái gia tộc nhà ta thì Thầy đâu có còn lưu lại nơi cõi trần gian này nữa! Thầy đã âm thầm về chốn hư-vô cùng tổ tiên dòng họ. Con chỉ thường lặng lẽ ngắm di ảnh Thầy bên tập di cảo mà thuở xưa Thầy viết còn dang dở. Đời Thầy là cả một cuộc hành trình dở dang, đầy phiêu lưu, gian truân. Thầy không đến cõi dời này để thành danh rồi hưởng thụ như muôn ngàn người thế gian vẫn sống theo lẽ thường tình ấy. Chỉ cần có một suy tư công bằng tối thiểu với chút tình thương tha nhân đúng nghĩa của nó, người ta ắt phải ngậm ngùi than lên rằng Thầy đã chọn cái kiếp làm người dân Việt để lập chí lớn thành danh và đem tinh thần cùng sở học uyên bác phụng sự cho khối đồng chủng lầm than trong họa mất nước, miên man chìm đắm trong tăm tối khổ cực thậm chí đến văn tự, chữ nghĩa nước nhà còn chưa có. Hay chỉ vừa thoạt có mà còn quá phôi thai, đơn sơ. Từ thuở tấm bé Thầy đã sớm lìa xa bậc sinh thành, lầm lũi sống đơn độc trong bàn tay nuôi dưỡng bao bọc của bà nội. Tình nội tổ thay cho tình mẫu tử? Thầy đâu được biết thế nào là tuổi thơ. Thần định mạng đã đoạt đi tuổi thơ ngây vô tư lự ở Thầy! Với hoàn cảnh thê lương phũ phàng ấy, trăm đứa trẻ khó có lấy một còn có cơ hội nên người, thành nhân xứng đáng.

Có khôn lớn chăng theo với năm tháng thì khi kịp bước vào tuổi thành niên, chỉ là lại bước vào đoạn đời lêu lổng, thất học, làm sao dám thấu được tiếng gọi tình nhà nghĩa nước nữa?? Nhưng Thầy lại quá đặc biệt, riêng biệt. Bà Cụ Cả – bà nội của Thầy, từng sớm là bậc quả phụ ở vậy thờ chồng nuôi con khi Cụ Ông bỏ mình trong cuộc dấn thân phục Việt chống Pháp, lại một lần nữa đòi đoạn gạt nước mắt, gắng gượng vươn chiếc lưng còng còm cõi, lận đận nuôi Thầy – nuôi đứa cháu mồ côi, mong sao một mai trở thành người hữu dụng, nối chí cha ông làm sáng danh dòng dõi. Người đời thường nhắc đến hai tiếng truyền thống thiêng liêng mơ mộng mà có biết đâu truyền thống của Đất Việt, Trời Nam đã là một phần như vậy đó. Từ thuở lên ba, Thầy đã mất đi tất cả nhưng Thầy đã có tiếng gọi huyền ảo kia hòa tan trong tim óc, huyết lệ của Thầy. Thế mới hay rằng cuộc sống nhung lụa đôi khi thường làm hư hỏng con người. Nhưng cảnh bần hàn mà thanh cao lại đã tạo ra được những nhân vật xuất sắc, biết rung động biết thổn thức trước những đau thương đè nặng người đồng chủng. Thầy miệt mài học tập, ngày thì theo đuổi nền tân học giữa buổi giao thời Đông – Tây gặp gỡ trên giang sơn Bồng Lạc. Đêm tối sắp xuống lại vùi đầu vào sách vở thánh hiền. Mới năm 16, lứa tuổi thiếu niên bỡ ngỡ bước vào ngưỡng cửa cuộc đời nhưng ở Thầy lại khác. Thầy đã có ngay cái vốn học thức Pháp ngữ vững vàng với danh vị Thủ khoa bậc Trung học trên toàn cõi Trung Nam Bắc – được coi là nấc thang đáng kể lắm lắm dưới thời Pháp thuộc lúc bấy giờ.

Bước đường tương lai trải rộng trước mắt Thầy. Nhưng Thầy nghe theo tiếng gọi của hồn nước, tham gia hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và bị người Pháp bắt giữ.

Thầy đâu có không biết đến Cách mạng?

Và không thấm thía với hai tiếng Cách mạng?

Cuộc dấn thân quá sớm, và thất bại; có thể đã dẫn Thầy tới một chân trời nhận thức đấu tranh thực tế hơn. Trước hoàn cảnh yếu kém cùng cực của nước nhà, nhân tài vắng bóng, dân tình thất học, điêu linh, tưởng cứ phải có một kế sách thích ứng hơn là lao mình vào thất bại này kế tiếp thất bại khác.

Sau khi được tha, với bản án cảnh cáo nghiêm khắc cùng sự quản thúc nghiêm ngặt – vì dẫu sao Thầy đang trong tuổi vị thành niên, Thầy chọn lựa và tự cô lập mình trong chức vụ quản thủ thư viện tầm thường ở Trường Viễn Đông Bác cổ, ngày lại ngày biến thành con mọt sách. Và rồi dấn mình vào nghiệp làm báo. Báo Nam Phong. Những bài báo Thầy viết ra và nhừng bài diễn thuyết hùng hồn trong những dịp Thầy đặt chân đến đất Pháp với chủ đích giới thiệu nền văn hóa, đạo lý và lịch sử quật cường của dân tộc ta cùng những tác phẩm được phổ biến bằng Pháp ngữ, trực tiếp nhắm vào dư luận chính giới Pháp; đề cập đến nhiều sự việc thời thế chính yếu, và những vấn đề sống còn thiết thực của một nước Việt bị tước đoạt mọi thứ quyền, cho phép con tin tưởng rằng đó là những tài liệu quý giá nhất để lịch sử mai sau dựa vào, cho lời phán xét nghiêm minh về cuộc đời dấn thân của Thầy cho Tổ quốc thân yêu.

Lạy Thầy, con kính yêu Thầy không chỉ ở phận dâu con. Người thiếu nữ đất Thần Kinh, tầm thường nhất trong nhiều thế hệ nữ sinh sáng chói ở ngôi trường Đồng Khánh – như con đây, lại chỉ vì có cơ duyên được đọc đầy đủ hàng ngàn trang báo ở toàn tập Nam Phong và nhiều tác phẩm của Thầy in ra khiến con bàng hoàng, hết lòng nể trọng. Lòng tôn thờ Thầy lâng lâng dâng lên. Chữ nghĩa quả là có hồn. Nó biểu lộ tư tưởng. Và từ tư tưởng dẫn đến truyền cảm. Lời nói, có thể theo gió bay đi. Nhưng tư tưởng được khắc bằng chữ nghĩa cứ còn mãi. Nó là bằng chứng trung thực, trơ trơ cùng tuế nguyệt. Phận nữ nhi bọt bèo ấy vậy mà con xin mạn phép thưa lên: “Con đã hiểu được Thầy! Kể từ giờ phút mắt con được đọc những bản văn của Thầy “Bàn về cái tinh thần lập quốc“, phân tích nền “Quốc học với quốc văn“, luận về “quốc gia dân tộc“, hay “Độc thư cứu quốc“, v.v… con đã thấu hiểu được tại sao ta cứ mãi mãi là người Việt Nam, yêu đất nước ta, thiết tha với tiếng Việt của ta, với nòi giống Lạc hồng! Con liên tưởng đến những điều nhà văn Duyên Anh khi còn sống đã thốt lên: “Tôi bàng hoàng gặp Phạm Quỳnh. Quả thật với tôi. Phạm Quỳnh là trái núi và tôi chỉ là cỏ hèn. Sở học của Pham Quỳnh mênh mông. Tư tưỏng của Ngài thấu tận đáy hồn tôi làm tôi bay bổng, khiến tôi sáng cái ngu dốt của tuổi trẻ ngông nghênh. Ôi, cả đời đọc sách, thâu tóm tất cả tinh hoa của tư tưởng, học thuật cổ kim đông tây, đãi lọc kỹ càng để phô diễn lòng mình, gửi hồn mình vào hồn đất nước, tưởng ở thời đại Phạm Quỳnh, không ai tài học hơn”.

Duyên Anh khẳng định: “Văn nghị luận của Phạm Quỳnh khuôn thước chững chạc và lôi cuốn. Ngài bàn cả chuyện triết học cao siêu huyền bí bằng cách hành văn giản dị tươi sáng. Tôi quả quyết 68 năm sau Phạm Quỳnh, không một nhà văn nào có thể luận một vấn đề siêu hình theo bút pháp chân phương sáng sủa như Ngài. Triết lý sống của Phạm Quỳnh nằm gọn trong đoạn văn: Cổ nhân có câu “độc thư cứu quốc” câu ấy phải là cái khẩu hiệu của bọn ta. Vì ta học để làm gì? Nếu mục đích của sự học chỉ là dể sung sướng lấy một thân ta thì mục đích ấy chẳng là hẹp lắm ư? Ta phải biết nghĩa vụ, biết danh dự của ta. Nhiệm vụ và danh dự ấy là học để giúp cho nước ta khỏi yếu hèn mà được cường thịnh, dân ta khỏi ngu tối mà được sáng suốt…”

Nương theo lời nhà văn Duyên Anh đã ghi: “Không cần kể Nam Phong vĩ đại, không cần kể tác phẩm lẫy lừng của Phạm Quỳnh, chỉ vài đoạn văn bày tỏ tấm lòng yêu quốc ngữ quốc văn của Phạm Quỳnh là có quyền khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn yêu nước“, con bỗng bị lôi cuốn theo tiếng nói hùng hồn, ái quốc mãnh liệt của Thầy cất lên giữa hội trường chính trị ở Viện Hàn Lâm Pháp quốc: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bởi một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ ấy… Hãy cho chúng tôi một tổ quốc để thờ. Vì đối với dân tộc Việt Nam, tổ quốc đó không thể là nước Pháp… “!

Con xin thành kính và thống thiết gào lên là con đã đọc đã nuốt từng chữ từng lời trên của Thầy không biết đến bao ngàn lần. Nó ví như nước suối nguồn tinh khiết từ ngọn thác hùng vĩ của Đất Trời đổ về lòng con. Nhưng rồi vẫn chưa hẳn chỉ đúng có như vậy. Lắm lúc, con nghẹn ngào thê thiết, có cảm tưởng như đang nuốt từng giọt lệ vào tâm can con. Con bật khóc! Khóc thương Thầy. Thầy cao cả quá. Và khóc thương cho tiếng gọi Việt Nam ngàn đời bất diệt…

Ngày giỗ Thầy năm nay vào hạ bán niên 2000 lại đang lững thững về đâu đây. Con người ta sinh ra đời ai ai cũng có ngày sinh ngày tử để cho con cháu tưởng niệm bậc sinh thành. Riêng với Thầy, ngày cỡi hạc quy tiên, Thầy đã không có một ai trong gia đình được biết rõ ràng, chính xác (…)

Lòng con bồi hồi khôn tả. Nhưng trong niềm xúc động bao la ấy, con bỗng thấy nhuốm lên chút mừng vui mà nhiều năm trước chưa bao giờ đón nhận được. Nhiều nhà văn nhà báo (…) đã bình tâm nghiêm túc đặt vấn đề xét lại, làm sống lại giá trị văn học và chính trị của nhà học giả Phạm Quỳnh”[2]

Lúc sống, Thầy ấp ủ mộng cứu nước giúp dân, một mình đã bước trên con đường thiên lý đấu tranh cô đơn cô độc, lắm lúc vẫn ngại ngùng về nỗi khó được người cùng thời biết đến, thấu cho.

Vậy nay sự việc danh dự ấy đang diễn ra trong chiều hướng thuận lợi, công bằng dành cho người khuất bóng, qua sự phản ảnh của các nhà văn nhà báo (…).

Con thầm nguyện nơi chín suối Thầy đang mỉm miệng cười thanh thoát…

Maryland, tháng 9 – 2000

H.N.


[1] Gia đình Phạm Quỳnh gọi cha là thầy, mẹ là me (Phạm Tôn chú).

[2] Những tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được in ở ngay tại đất nước quê hương ông: Mười ngày ở Huế (NXB Văn Học, 2001), Luận giải văn học và triết học (NXB Thông tin, 2003), Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà Văn – 2004), Thượng Chi văn tập (NXB Văn học – 2006), Du ký Việt Nam (NXB Trẻ – 2007), Phạm Quỳnh, Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932 – NXB Tri Thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây -2007),  v.v..Trong Từ điển Văn Học Việt Nam (NXB Thế Giới, 2004), và Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 3, 2003) đều có mục viết khách quan về Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong (Phạm Tôn chú)

Tháng Năm 31, 2018

Thượng Chi văn tập

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 6 năm 2018.

SÁCH MỚI CỦA NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN VÀ CÔNG TY NHÃ NAM

THƯỢNG CHI VĂN TẬP

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Gọi là “sách mới” dù chỉ là sách tái bản lần thứ 3, nhưng ra mắt đúng dịp Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức lễ Vinh danh học giả Phạm Quỳnh là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời đại mới.

Tối 24.3.2018 đó, tại khách sạn Rex ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, sách Thượng Chi Văn Tập đã ra mắt và bán cho người đến dự. Sách trình bày đẹp, dày 799 trang, khổ lớn 17x25cm, phát hành 1500 cuốn.

.

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Thượng Chi văn tập là bộ sách ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện những trang viết xuất sắc nhất, cũng là những đóng góp quan trọng nhất trong văn nghiệp đồ sộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Là một phần lựa từ hàng trăm bài viết từng dăng trên các số Nam Phong tạp chí, bộ sách đã chứng tỏ một sức viết, sức nghĩ đáng kinh ngạc, một tinh thần làm việc nghiêm túc, miệt mài, và một tấm lòng thiết tha, sâu nặng với vốn văn hóa nước nhà của vị học giả họ Phạm ở độ tuổi mới chỉ trong ngoài 30.

Tạp chí Nam Phong kể từ khi ra đời đến nay đã tròn 100 năm, ngòi bút Phạm Quỳnh đã ngừng viết cách nay gần hai phần ba thế kỷ, nhưng những đóng góp của vị học giả này đối với sự phát triển văn hóa Việt Nam cận hiện đại vẫn là một cột mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với hôm nay. Vì nhiều lẽ. Là vì thứ tiếng Việt được Phạm Quỳnh ra công mài giũa và cổ động trên Nam Phong đã góp phần không nhỏ vào sự định hình câu văn quốc ngữ hiện đại. Vì những nỗ lực truyền bá tri thức không mệt mỏi của ông dã giúp cho người Việt Nam lần đầu tiên được tiếp xúc với những tinh hoa văn hóa nhân loại. Vì những vấn đề quốc ngữ, quốc văn, quốc học được Phạm Quỳnh luận bàn sôi nổi 100 năm về trước vẫn còn nóng hổi và có nhiều gợi dẫn cho hôm nay tham khảo, biện bác. Và vì những suy tư, trăn trở của một cốt cách văn hóa, vượt lên trên những ứng xử cụ thể, những ồn ào của thời cuộc để làm gương cho mai hậu ngưỡng mộ mà noi theo. Tất cả những điều đó ở con người và văn nghiêp Phạm Quỳnh đều được tinh lọc trong bộ sách Thượng Chi văn tập này.

Thượng Chi văn tập ra đời trước hết là đáp ứng lòng hâm mộ của nhiều độc giả đối với văn tài Phạm Quỳnh, sau nữa, như lời tác giả, là để ghi giữ lấy sự tiêu biểu của một thời kỳ “cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học”. Bộ sách gồm 5 tập, được xuất bản lần đầu vào năm 1943 (tập 1) và hoàn tất năm 1945 (tập 5) do Đắc Lộ thư xã (tức Editions Alexandre de Rhodes Hanoi) ấn hành. Các bài trong sách vốn do Phạm Quỳnh đã viết và đăng trên Nam Phong tạp chí, tác giả chỉ “nhuận sắc, đính chính lại một đôi chút”. Vì thé, căn bản mà nói, bản in sách đầu tiên này có độ tin cậy cao và trung thực với quan điểm, thái độ của tác giả.

Năm 1962, bộ sách được Sở Tu thư, Dịch thuật và Ấn loát miền Nam Việt Nam tái bản. Trong Lời nói đầu của lần tái bản này, các tác giả biên soạn thừa nhận việc tu chỉnh một số ít “danh từ lỗi thời” như An Nam, mẫu quốc, quan toàn quyền thành Việt Nam, Pháp, ông toàn quyền… còn lại in đúng theo nguyên văn của tác giả. Tuy nhiên, qua đối chiếu một phần (do không có điều kiện rà soát toàn văn), chúng tôi nhận thấy còn có những điểu khác biệt khác so với bản in đầu tiên. Chẳng hạn như câu văn nguyên bản (1943) là: “Còn nhớ năm xưa có một ông đốc Tây ở Hà Nội làm bộ sách tập đọc cho học trò trường Pháp Việt, trong sách có một bài nói về tính xấu người An Nam, từ đầu chí cuối toàn là một giọng thóa mạ: “Người An Nam gian trá, biển lận, hay nói dối, hay ăn cắp, hay lừa thầy, hay phản chủ, v.v.” cứ thế suốt một trang”. thì bản 1962 là : “Còn nhớ năm xưa có một ông đốc Tây ở Hà Nội làm bộ sách tập đọc cho học trò trường Pháp Việt. Trong sách có một bài nói về tính xấu người Việt Nam, suốt một trang”. Đây là một trong số không nhiều những khác biệt ở bản in năm 1962 so với bản gốc năm 1943, và thật khó để có thể lý giải vì sao có sự khác biệt này. Song cần nói rằng, ấn bản năm 1962 đã được phổ biến tương đối rộng rãi và được phần đông độc giả sử dụng, tham khảo trong một thời gian dài từ nửa sau thế kỷ XX đến nay. Có lẽ phần nào vì sự phổ biến của nó mà đến năm 2006, bộ sách một lần nữa được tái bản trong nước dựa trên bản in 1962 này.

Với mong muốn tiếp tục giới thiệu những công trình khảo cứu giá trị trong kho tàng văn hóa, văn học dân tộc, đồng thời cung cấp tài liệu gốc để độc giả có điều kiện tham khảo và tìm hiểu một cách chân xác nhất, chúng tôi cho tái bản nguyên vẹn (chỉ sửa một số cách viết trái với quy tắc chính tả hiện hành và thống nhất việc sử dụng từ ngữ trong toàn văn bản) bộ sách Thượng Chi văn tập (in chung 5 tập) dựa trên ấn bản đầu tiên 1943-1945 từng được chính tác giả Phạm Quỳnh tập hợp, sửa chữa.

Bên cạnh đó, nhân dịp 100 năm Nam Phong tạp chí ra đời, việc tái bản bộ sách càng có ý nghĩa, không chỉ tôn vinh những đóng góp của học giả Phạm Quỳnh, mà còn khẳng định sức sống, sức hấp dẫn trong những trang viết của tờ tạp chí tiền phong đầu thế kỷ XX này. Vì vậy, lần tái bản này, chúng tôi cung cấp thêm một bảng phụ lục đối chiếu các bài viết trong sách với các bài đã đăng trên Nam Phong, có ghi chú rõ tên bài báo, số tạp chí và số trang để bạn đọc tiện theo dõi. Một số ảnh tư liệu về tác giả Phạm Quỳnh cũng được chúng tôi đưa vào trong sách.

Việc tái bản lần này, dù đã rất cố gắng, song khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của bạn đọc.

Xin trân trọng giới thiệu!

—o0o—

TỰ NGÔN

Nhiều bạn đọc giả có bụng yêu thường nói với tôi rằng:

  • Báo Nam Phong bây giờ ít người giữ được trọn bộ. Những bài luận thuyết khảo cứu của ông đăng trong báo, nhiều bài còn có giá trị. Chúng tôi muốn đọc mà tìm kiếm rất khó. Ông nên cho lựa chọn những bài hay, tái bản thành sách, thật là ích lợi cho chúng tôi lắm.

Tôi ngần ngại, tự nghĩ: những bài đăng báo là phần nhiều vì câu chuyện hiện thời mà viết ra, cách mười lăm, hai mươi năm về sau không còn thích hợp nữa. Vả tựu trung vàng thau lẫn lộn, lựa chọn cho được toàn bích, đáng để lưu truyền, cũng khó lắm

Song lại nghĩ rằng: báo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kỳ trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn kém thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ.

Cho nên tôi cũng vui lòng lựa lấy ít nhiều bài gọi là nghe được, cho in thành sách, đề là Thượng Chi văn tập để cống hiến các độc giả có bụng chiếu cố.

Chỉ xin nhớ cho rằng những bài này là viết tự khoảng trên dưới mười lăm hai mươi năm trước, chỉ có nhuận sắc đính chính lại một đôi chút mà thôi.

Hoa Đường Phạm Quỳnh

cẩn chí

Huế, ngày tháng 6 năm 1943

Phạm Quỳnh năm 1945

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:25 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 6 năm 2018.

PHẠM QUỲNH NĂM 1945

Phạm Tôn

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

            “Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

            “Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

            “Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

            “Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

            “Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

            “Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”[1]

            Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

            Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”[2] Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”[3] Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

            Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

(…)

            Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[4] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[5] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường.

Nhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945. Đúng lúc đang diễn ra cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế do Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế tổ chức. Từ sáng sớm, ông đã bảo các con trai lớn (trong đó có Phạm Khuê, Phạm Tuyên) và những người làm trẻ đến tham gia, còn dặn họ “nhớ mang theo cờ đỏ sao vàng”.

Sáng 30/8/1945, Hoàng Hữu Nam thưa với bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”. Bác nói: “Bất tất nhiên.” (Tức: không nhất định phải như thế, có thể có cách khác). Đầu tháng 9/1945, sau khi biết tin Phạm Quỳnh bị sát hại tại Huế, bác lại nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì” và “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Năm 1946, trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau (Pháp), Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn ta, trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng. Bác nói với ông này trước mặt Vũ Đình Huỳnh và Đỗ Đình Thiện là: “Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”; ông Phạm Văn Đồng nói: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà…”

Suốt cuộc đời mình, năm mươi ba tuổi ta, Phạm Quỳnh đã sống như một người Hà Nội chân chính, hậu duệ của những sĩ phu Bắc Hà xưa, lớp người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Tạm dịch là: Giàu sang không thể làm rối lòng, nghèo khó không thể biến đổi tiết tháo, uy vũ không thể khuất phục)”.

P.T.

[1] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

[2] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

[3] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

[4] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[5] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

—o0o—

PHỤ MẪU DÂN HAY LÀ CÔNG BỘC DÂN?

            Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn một bài Phạm Quỳnh viết đăng trên tạp chí Nam Phong số 102 (tháng 1 và 2 năm 1926) từ trang 1 đến trang 4.

Nhận thấy bài văn còn có tính thời sự trong tình hình hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đưa lên Blog PhamTon  để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo, dù đã quá xưa cũ, 90 năm rồi còn gì…

Nhân tiện, cũng để biết hai chữ công bộc  đã được dùng khá lâu ở nước ta để gọi những nhân viên, quan chức chính quyền nhà nước tận lòng phục vụ nhân dân.

—o0o—

Theo cái lý tưởng cũ của Á Đông thời quan là “dân chi phụ mẫu”, nghĩa là quan đối với dân có cái oai quyền, có cái trách nhiệm, có cái bụng thương yêu chăm chút, dạy bảo ân cần, như cha mẹ đối với con cái vậy. Lý tưởng ấy là một lý tưởng gốc của xã hội cổ nước Tàu và nước ta theo về cái “chế độ gia trưởng”. Đứng đầu một nhà là người cha; đứng đầu một nước là ông vua, tức là cha chung cả nước; vua ủy quyền cho bách quan để trông nom việc nước, cai trị muôn dân, bách quan thay quyền thế mệnh vua, ở trong phạm vi quyền chức mình, cũng được cái địa vị tôn trọng, cũng có cái trách nhiệm lớn lao như vua; địa vị tôn trọng là được muôn dân kính trọng như cha như mẹ, trách nhiệm lớn lao là phải mưu sự hạnh phúc cho dân, như cha mẹ đối với con vậy. Nhà là cái đoàn thể thiên nhiên của trời đất dựng ra; nước chẳng qua là một cái nhà lớn, phạm vi có to tát hơn mà thể cách cũng vẫn là một. Thế gọi là cái “chế độ gia trưởng”, nghĩa là lấy gia đình làm khuôn mẫu cho cả quốc gia, cả xã hội, và định cái chủ quyền trong nước cũng như cái chủ quyền một nhà.

Về đời phong tục còn thuần hậu, việc nước còn giản đơn, dân trí chửa mở mang, nhân tâm còn chất phác , thời cái lý tưởng ấy rất là hay lắm. Nước ta cũng như các nước khác ở cõi Á Đông này, lập quốc là do cái lý tưởng ấy, mà xã hội ta giữ được bền chặt cho đến giờ cũng là nhờ ở cái chế độ ấy. Cho nên các tiên dân ta đều lấy đó làm điều cốt yếu trong cái công phu giáo hóa cho đời. Đối với kẻ cầm quyền thời lấy những cái gương các minh quân lương tể đời xưa mà răn dạy, khiến cho kẻ làm vua thời mong cho được cái đức cao ông thánh nhân như vua Nghiêu vua Thuấn, kẻ làm quan cũng cầu cho được cái tư cách bậc hiền nhân như Y Doãn Chu công. Còn đối với dân thời đã được những bậc thánh hiền như thế cầm cương nẩy mực, chỉ lối đưa đường, chỉ dạy cho cái nghĩa vụ biết phục tòng người trên, như ngọn cỏ theo gió, không phải khó nhọc gì, vì phàm người trên chủ trương thi thố là chỉ có một cái mục đích lợi ích cho người dưới mà thôi.

Ở cái thời đại Đường Ngu, cái xã hội Hi Hoàng như thế, thời cái chế độ gia trưởng ấy thật là hoàn toàn thích hợp.

Nhưng mà đời mỗi ngày một đổi, người mỗi lúc một khác, cuộc sinh hoạt càng phiền phức, lòng đạo đức càng suy vi, cái chế độ ấy dần dần không thích hợp nữa. Người trên đã không phải là thánh hiền cả, mà người dưới vẫn cứ phải phục tòng hoài, người trên tất lợi dụng người dưới để thỏa cái lòng tư dục của mình, bởi đó mà cái chế độ gia trưởng ở Đông phương đã biến hẳn ra cái chính thể chuyên chế. Đối với chính thể này thời vua quan là thần thánh, mà kẻ bình dân là trâu ngựa, đất bùn. Một bên gồm hết cả các quyền lợi, một bên không có một cái quyền lợi nào, đến cái quyền làm người cũng không được trọn vẹn, vì sinh mệnh tài sản của dân là ở trong tay kẻ cầm quyền cả. Chính thể ấy thật là trái với cái lý tưởng như trên kia; sở dĩ còn duy trì được là vì hai cớ: một là học thuật luân lý cũ chưa đến nỗi tuyệt hẳn, cho nên vua quan dẫu có kẻ xằng, nhưng cũng có người hay, đời đời kế tiếp được cái tinh thân lập quốc của tiên dân; hai là dân trí không có lối mở mang, chửa thoát li khỏi cái chế độ gia trưởng, đã trụy lạc vào cái chính thể chuyên chế, đời đời triền miên trong vòng khuôn hắc ám, trừ có cái phong trào nào ở ngoài tràn ngập đến mà lôi cuốn đi, không thời vĩnh kiếp mơ màng ở trong đám tối mà không mong được trông thấy ánh sáng mặt trời.

Ngày nay cái phong trào ấy ở Tây phương đã truyền tới đây, càng ngày càng mạnh, lay chuyển cả nền móng cái xã hội cổ nước Nam này. Nhất diện thời dân trí đã rạng mở, người dân đã biết coi mình là giống người, có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi, chứ không phải giống trâu ngựa ở dưới quyền vua quan nữa. Nhất diện thời cái học thuật cổ, cái lý thuyết cũ làm phương châm cho kẻ mục dân (vua, quan, “kẻ chăn dân” – PT chú), ngày nay đã tuyệt hẳn, kẻ làm quan bây giờ hầu coi luân lý đạo đức xưa như mớ giấy lộn, đống tro tàn, không ai muốn ngó tới nữa.

Thời thế đã thay đổi, lòng người đã khác xưa như thế, mà cái chế độ quan trường vẫn cứ giữ như cũ thì thể sao được? Quan vẫn muốn tự coi mình, dân cũng hãy còn coi quan là bậc “phụ mẫu dân” thì thật là trái hẳn với cái xu hướng đời nay. Không những trái với cái xu hướng đời nay mà lại là một sự giả dối không thực nữa. Dối mình, dối người, dối kẻ ngu dân mà lợi dụng cái oai thừa thủa trước, cái quyền hão bây giờ, để làm một cái kế doanh lợi riêng cho mình, ấy cái tâm lý tầm thường ấy đã làm cho một phần trong quan trường nước ta đắc tội với quốc dân nhiều lắm.

Cái tình trạng quan trường bây giờ thế nào, phàm người trí thức trong nước ai cũng đã rõ cả, không cần phải tả ra đây làm gì. Chắc người hay cũng có, nhưng kể dở không phải là không nhiều, và những thói tham ô có lẽ lại thịnh hành hơn cả từ xưa đến giờ. Có kẻ độc miệng đã nói một câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, lời tuy quá khắc, nhưng tưởng cũng có khi không sai vậy. Chính cụ Thân Trọng Huề năm xưa đã thuật lại câu ấy trong mấy bài “Chấn chỉnh quan trường” của cụ đăng trong báo này. Cụ là một bậc tai mắt trong quan trường,  mà trông thấy cái tệ của quan trường, cũng phải nóng lòng sốt ruột, lên tiếng hô hào, dùng những lời kích thiết để cảnh tỉnh bà con. Nhưng mà xem ra cũng là vô hiệu cả, cụ đã phải phàn nàn rằng cụ nói không khác gì như “người diễn thuyết ở giữa sa mạc” vậy. Là bởi quan trường ở nước ta ngày nay đã đến bậc không thể lấy sự đạo đức, sự nhân nghĩa mà chấn chỉnh được. Phải nhờ pháp luật của nhà nước, lời công luận của quốc dân, họa may mới chữa sửa nổi.

Về phần Chính phủ thì nay được quan Toàn quyền mới là tay lĩnh tụ một dân đảng lớn bên Đại Pháp, ba mươi năm nay ở Nghị viện vẫn giữ một cái chủ nghĩa bênh vực cho kẻ bình dân, kẻ lao động những phường tham quan ô lại, chắc không dung nào (là Alexandre Varenne, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, nghị sĩ, luật sư, nhà báo – PT chú). Mỗi lần có những thủ đoạn bác tước (bóc lột tàn tệ – PT chú), hay là những sự hành vi tệ lạm của bọn đó mà tố cáo tới tai ngài, chắc ngài sẽ hết sức trừng trị. Vậy ta có thể vững dạ trông mong ở cái bụng công minh của quan thủ hiến Chính phủ Bảo hộ, không sợ có kẻ tìm phương ủng tắc (che đậy sự thật – PT chú) vậy.

Nhưng cốt nhất là về phương diện quốc dân ta. Ông văn sĩ Marquet trong bài diễn thuyết về “Tiền đồ nước Nam” đã dịch trong bản chí một kỳ trước, có nói mấy câu như sau này, thật như vẽ được cái tâm lý của người dân ta đối với quan trường.

“… Quan trường nước Nam không ra gì, là dân An Nam cũng không ra gì: dân nào quan ấy, thật là đáng lắm… Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu sự lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan: thế là dân cũng xấu, chứ không phải một (như chỉ có – PT chú) quan xấu. – Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cả cho mấy người đầu sở, thì chẳng hóa ra tiện quá dư? – vả lại các ông có muốn tôi nói thực một câu này không: mỗi người An Nam là một ông quang ngầm đó; ai cũng có cái hi vọng làm quan hết cả!”

Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa, mà quốc dân vẫn cứ giữ mãi những cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Ngày nay những tư tưởng bình đẳng, tự do, cộng hòa, dân chủ, đã truyền bá sang nước ta. Những người có học thức, có tư tưởng, phải nhận lấy cái chức trách “tiên giác” (thức tỉnh trước – PT chú) mà đem những tư tưởng ấy giảng giải trong dân gian, khiến cho bỏ hết những cái thiên kiến hủ lậu từ trước đi, mà lập nhiễm lấy những điều hay lẽ phải thích hợp với thời thế bây giờ.

Một cái thiên kiến rất trái ngược với đời nay, và hiện còn phổ thông trong dân gian lắm, là cái thiên kiến coi quan là “dân chi phụ mẫu”, sợ quan như sợ cha mẹ, sợ thánh thần. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên quan mới có kẻ tác ác tác hại được đến thế. Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế nên xã hội nước ta vốn là một xã hội rất bình đẳng, không có hạng quí tộc, không có hạng bình dân, nghiễm nhiên phân ra hai đẳng cấp: quan là kẻ có quyền, dân là kẻ không quyền, quan là kẻ ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, dân là kẻ chân lấm tay bùn, dầu sương dãi nắng, quan là bọn “tư bản”, dân là bọn “lao động”! Bởi dân sùng phụng mê tín quan như thế, nên kẻ nào chưa được quan thì cầy cục cho kỳ được, kẻ nào đã được quan thì hết sức mà giữ lấy, cử quốc (cả nước – PT chú) đều xô đẩy nhau về một đường ấy, ngoại giả không còn có học vấn, không còn có tư tưởng, không còn có sự nghiệp, không còn có công danh gì nữa, bao nhiêu cái khôn cái khéo chỉ dùng để “ăn quẩn” lẫn nhau, diễn ra trong xã hội một cái bi kịch có thể gọi là cái bi kịch “gà què ăn quẩn cối xay!”

Ấy cái thiên kiến ấy là một thiên kiến phải mau mau mà trừ khử đi cho hết.

Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là “dân chi công bộc” đó.

Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời này.

Quan Toàn Quyền Varenne trong bài diễn thuyết ở Hội đồng Chính phủ vừa rồi, đoạn viếng đức Khải Định có câu nói rằng: “Tôi thành tâm cảm động mà kính viếng vong linh đức Hoàng đế thủa sinh thời đã biết làm một người công bộc trung thành với nước nhà và một người bạn thân hết lòng với Bảo hộ.”

Phái hủ lậu, phái hương nguyện, nghe thấy gọi “Thiên tử” là “Công bộc” như thế, chắc rùng mình, sửng sốt, chép miệng, thở dài mà than rằng: “Đời này thật là đời luân thường đảo ngược thật!”

Không! Luân thường không đảo ngược gì cả, chỉ có tư tưởng người ta rộng ra hơn trước mà thôi. Tư tưởng người ta rộng ra hơn trước nên không mê tín những cái huy hiệu hão huyền nữa, biết rằng vua quan cũng là người như mọi người, cũng là con trong một nước cả, nếu có biết cúc cung tận tụy với nước, biết đem thân hi sinh cho nước, biết hết lòng thờ dân thờ nước, như người đầy tớ có nghĩa thờ ông chủ nhà có nhân, thời mới đáng tôn đáng trọng, chứ không phải chỉ đội một cái danh hiệu cũ, thừa sự mê hoặc của công chúng mà mong được ăn trên ngồi chốc người ta đâu.

Nhà văn nước Pháp đã nói rằng: Trong tiếng Pháp, không tiếng gì đẹp bằng tiếng Servir, nghĩa là “phụng sự”. Phụng sự là đem hết tài lực, hết tâm tư, mà thờ một cái chủ nghĩa, một cái lý tưởng cao, hoặc là thờ dân, hoặc là thờ nước, hoặc là thờ đạo, hoặc là thờ Trời, càng tận trung tận thành với cái tôn chỉ mình bao nhiêu, càng có công với đời bấy nhiêu. Duy đáng khinh đáng bỉ là những kẻ chỉ biết “thờ” cái lợi riêng của mình, phụng sự cái sự “Hà bao (hầu bao, túi đựng tiền – PT chú) chủ nghĩa” mà thôi.

Cho nên ở các nước văn minh người ra ngợi khen những kẻ có công với nước không tôn là “cha mẹ dân” bao giờ mà gọi là “công bộc nước” (serviteurs du pays). Ông quốc trưởng, ông quân chủ, chẳng qua là kẻ “đệ nhất công bộc” trong một nước mà thôi. Cái tiếng “công bộc” đó vẻ vang tốt đẹp biết dường nào!

Muốn làm một kẻ “Công bộc” cho xứng đáng, phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ vậy. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “cha mẹ” dân mà bề trong làm “đầy tớ” riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những sự hành vi bất chánh đáng của mình, thì thật là dễ lắm, mà cũng hèn lắm. Cho nên, ai ôi! làm “công bộc” mới khó,  chứ làm “tư bộc” vẫn dễ, làm “công bộc” mới danh giá, chứ làm “tư bộc” thật đê hèn!

Cái huy hiệu “công bộc” dã tốt đẹp như thế, cái địa vị công bộc đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” mới mẻ này. Các ngài làm như thế là tỏ ra người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng đời nay và bớt được lòng oán giận của công chúng. Hồi Đại Cách mệnh nước Pháp, đảng quý tộc thấy lòng công phẫn của dân đã nổi lên, biết không sao địch nổi, bèn đồng lòng tự nguyện xin nhường lại cả các đặc quyền cho công dân; nhờ cái thái độ ôn hòa đó mà sau dân đảng với quý phái không đến nỗi xung đột nhau cho lắm. Gương mặt lịch sử đã rõ đấy, kẻ tri thức nên biết theo.

Còn về phần quốc dân ta thời nên nhận chân rằng nay đã đến cái thời kỳ “thay bậc đổi ngôi” đây, và từ giờ trở đi đối với quan trường không nên nệ theo cái tỉ lệ “phụ mẫu” nữa mà nên quyết theo cái tỉ lệ “công bộc”.

P.Q.

—o0o—

VĂN HÓA “CÔNG BỘC”

Hữu Thọ

(Bài đăng trên tạp chí Thời nay Xuân Giáp Ngọ 2014, trang 5 mục Góc nhin thời nay)

—o0o—

Ðầu năm thường nghĩ về văn hóa. Ðầu năm Ngọ này, mong muốn “Thần Mã” sải bước thiên lý cho nên thử bàn về “văn hóa công bộc”, “văn hóa đầy tớ” là văn hóa của cơ quan công quyền và văn hóa của cán bộ, công chức đang là một nội dung quan trọng về văn hóa hiện nay.

Ngày nay, chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định cán bộ, công chức là “công bộc”, là đầy tớ của dân. Nhưng có người hỏi “Bác Hồ xác định vị thế đó vào lúc nào?” thì trước đây trả lời câu hỏi này không dễ nhưng bây giờ có Toàn tập Hồ Chí Minh, lại có CD toàn tập thì có thể tìm thấy ngay.

Với các công cụ hỗ trợ, chúng ta có thể thấy rõ khái niệm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên lần đầu trong bức thư gửi Ủy ban các kỳ, tỉnh, huyện, làng… Bắc Bộ ngày 7-10-1945, nói rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cán bộ, đảng viên phần lớn đều có chức có quyền trong bộ máy công quyền, vị thế “công bộc” của cán bộ, viên chức đã được xác định. Bức thư đó gửi Ủy ban các cấp ở Bắc Bộ nhưng lại đăng công khai trên báo Cứu quốc nghĩa là được công bố trước toàn dân, toàn Ðảng và đội ngũ cán bộ, viên chức cả nước.

Không chỉ trong những ngày khởi đầu của chính quyền mới mà trong Di chúc dặn lại Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công chức phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Ðiều đó thấy rõ tư tưởng hết lòng vì nhân dân là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời của Người, là nền tảng của đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ của nước Việt Nam mới.

Không những ở nước ta mà nhiều nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ của Ðảng và của dân tộc hết sức coi trọng việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên.

Ngay trong các bài giảng cho lớp thanh niên chuẩn bị thành lập Ðảng được tập hợp trong sách Ðường Kách mệnh thì bài đầu tiên là Tư cách người kách mệnh với 14 điều “tự mình”, năm điều “đối với người”, bốn điều “đối với công việc”. Những nội dung đó đều nhấn mạnh trách nhiệm với nhân dân, với đất nước, với đồng bào, đồng chí… nhưng theo tôi, khái niệm “công bộc”, “đầy tớ” của dân chưa được nhắc tới.

Ðiều đó có thể thấy rõ, vị thế “công bộc”, “đầy tớ” của dân chỉ xác định rõ khi chính quyền về tay nhân dân, là trách nhiệm đặc thù, cao cả, căn bản của những người cán bộ, đảng viên, công chức trong xã hội mới. Có nghĩa rằng không làm tròn trách nhiệm “công bộc” thì thực chất không xứng đáng là cán bộ, công chức của nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nhiều nội dung, trong đó có nội dung xây dựng văn hóa trong Ðảng, trong cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị, nghĩa là văn hóa toàn bộ máy của hệ thống chính trị phải thấm nhuần “văn hóa công bộc”.

Như trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các Ủy ban Bắc Bộ cũng là với toàn quốc có trách nhiệm của cơ quan công quyền và trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Các cơ quan công quyền của nhân dân là nơi đề ra các chủ trương chính sách và điều hành chính sách thì vấn đề cơ bản phải là “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi chủ trương cũng như thủ tục hành chính trong quá trình tiếp xúc với nhân dân đều lấy sự hài lòng của dân làm thước đo. Theo tôi nghĩ, đó là nội dung cơ bản văn hóa công bộc của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Với cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là người đầy tớ của dân, không phải là nơi làm quan phát tài mà phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, không tham ô lãng phí, phù hoa, xa xỉ, không được lên mặt “quan cách mạng”, hách dịch mà phải trọng dân, kính dân, thương dân, học dân, hỏi dân, nghe dân phê bình. Ngay từ thuở mới dựng nước, Bác Hồ đã nói tới sáu căn bệnh mà cán bộ, công chức cần đề phòng và đấu tranh khắc phục, nói gọn như sau: Tự cho phép mình làm trái pháp luật / Cậy thế cậy quyền coi thường dư luận, không nghĩ đến dân / Ăn tiêu xa xỉ / Tham ô, lãng phí / Tự tung tự tác, kéo bè kéo cánh, ban phát địa vị cho bà con họ hàng mặc dù họ không đủ năng lực và phẩm chất / Chia rẽ / Kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng”, coi khinh dân gian, độc hành, độc đoán… Sau bức thư trong những ngày đầu cách mạng thành công, Người còn nói chuyện, viết nhiều bài báo để giáo dục đạo đức của cán bộ công chức và ba năm sau trong sách Sửa đổi lối làm việc, Người nói rõ thêm một số nội dung, nhưng tôi nghĩ những nội dung nêu trong bức thư của những ngày đầu thành lập chính quyền nhân dân là sâu sắc và dự báo rất sớm, rất chính xác. Tôi hiểu đó là nội dung văn hóa cơ quan công quyền, văn hóa cán bộ, công chức thể hiện “văn hóa công bộc, văn hóa đầy tớ” của bộ máy và cán bộ, công chức.

Khi nói về vị thế “công bộc”, “đầy tớ”, có đồng chí đã hỏi về vị thế lãnh đạo của Ðảng. Trong Di chúc, Người cũng yêu cầu Ðảng phải xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Vì Ðảng ta sinh ra từ lòng dân tộc, Ðảng ta chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ Tổ quốc và nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân, “thật sự là công bộc của dân”, đi sát thực tế, tôn trọng, chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu ước vọng của nhân dân thì sẽ làm giàu trí tuệ của Ðảng để có quyết sách đúng đắn và được dân tin yêu mới có thể trở thành “người lãnh đạo” thật tin cậy của nhân dân.

H.T.

—o0o—

MỖI CÁN BỘ PHẢI LÀ “ĐẦY TỚ” CỦA DÂN

(Tin đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 17/5/2018, trang 15)

“Mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, môi trường làm việc nào thì mọi hành vi ứng xử phải có nghĩa, có  tình, giải quyết công việc phải xuất phát từ nền tảng tình yêu thương con người, làm điều thiện, tránh điều ác” – ông Trần Quốc Vượng

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 2 năm thực hiện chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (ngày 16/5), ông Trần Quốc Vượng – ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng – nhấn mạnh như vậy.

Đây là hội nghị trực tuyến kết nối với các tỉnh. Tại Hà Nội có sự tham dự của ông Nguyễn Xuân Phúc – ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Chính phủ; ông Trần Quốc Vượng – ủy viên Bộ Chính Trị, thường trực ban Ban Bí thư; ông Võ Văn Thưởng – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, trương Ban Tuyên giáo trung ương cùng nhiều vị lãnh đạo khác.

Sau khi nghe nhiều ý kiến tham luận, ông Trần Quốc Vượng cho rằng các ngành, các địa phương trên cả nước đã có nhiều cố gắng, sáng tạo, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ông Trần Quốc Vượng cũng thẳng thắn nhấn mạnh vẫn còn không ít cơ quan, đơn vị, địa phương lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa tự giác, chưa thường xuyên rèn luyện, học tập, chưa thực sự là tấm gương cho nhân dân noi theo.

Ông Trần Quốc Vượng đề nghị tiếp tục quán triệt sâu sác tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực, lâu dài của việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, hoạt động của các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi xấu, hạ thấp uy tín lãnh tụ.

“Cần tập trung làm tốt, có hiệu quả hai nội dung: phát động phong trào thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tư tưởng của Bác trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu bức thiết của Đảng, Nhà nước trong bối cảnh kinh tế hiện nay, mà còn là mong mỏi thực sự từ mỗi gia đình. Thứ hai, tạo nên phong trào trong toàn xã hội về tình thương yêu đồng bào, đồng chí theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ hoàn cảnh  nào, môi trường làm việc nào thì mọi hành vi ứng xử phải có nghĩa, có tình, giải quyết công việc phải xuất phát từ nền tảng tình yêu thương con người, làm điều thiện, tránh điều ác” – ông Trần Quốc Vượng nêu rõ.

Trước đó, phát biểu khai mạc, ông Võ Văn Thưởng cũng cho rằng vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu thậm chí có cả cán bộ, đảng viên nắm giữ chức vụ cao trong cơ quan Đảng, Nhà nước còn thiếu tự giác, chưa thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu trong công tác và trong sinh hoạt, vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng”.

Ông Võ Văn Thưởng đề nghị “đảng viên, người đứng đầu cần thực hiện nghiêm túc quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về trách nhiệm nêu gương; quy định về công tác kiểm tra của tổ chức Đảng, giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”

Đức Bình

——————————–

Địa chỉ liên lạc của chúng tôi:

Ban chỉ đạo:

  1. Nhạc sĩ Phạm Tuyên (N2 P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 0913.043.580)
  2. Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan (02 Ngõ 219/18 Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội – Điện thoại: 090.4567.554
  3. Ông Phạm Tuân (14917 Village Gate Drive Spring, M.D. 20906 – USA.Email: tuanguyenph@verison.net)

 Tổ thư ký:

  1. Tôn Thất Thành (82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM -Mobile: (+84) – 128 358 2998 -Email: phamton@gmail.com
  2. Phạm Hồng Tuyến: Thủ đô Hà Nội, Email: hongtuyenvtv@gmail.com

 

Tháng Năm 14, 2018

Những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA PHAN CHÂU TRINH

Phan Thị Minh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 461, tháng 7 năm 2015 từ trang 19 đến trang 22. Tác giả, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh là cháu ngoại Phan Châu Trinh, từng là đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại I-ta-li-a và một số nước châu Âu khác như Luxemburg

—-o0o—-

Sau 14 năm hoạt động trên đất Pháp, ngày 28/6/1925 Phan Châu Trinh trở về Tổ quốc. Từ đó cho đến lúc qua đời (24/3/1926) chỉ trong vòng 9 tháng, mặc dầu đang bệnh nặng, Phan Châu Trinh vẫn tích cực không ngừng hoạt động trong phong trào yêu nước đang có cơ hội phát triển. Nội dung bài viết dưới đây trình bày về một số hoạt động trong những ngày tháng cuối đời của Phan Châu Trinh – đã biên soạn trên cơ sở tài liệu sao lục được tại Kho Lưu trữ hải ngoại của Pháp.

Thư khố Pháp còn lưu giữ hai bài báo tiếng Pháp (của tờ Mite) viết về cảnh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh về đến cảng Sài Gòn ngày 28/9/1925 và buổi tiệc mừng.

Tờ Indochine (Đông Dương) có bài của Dejean de la Bâtie viết: “Tàu cập bến vào 8h15, trời bắt đầu tối và mưa lâm thâm nhưng nhiều người, nhiều ô tô đợi trên bến tàu, vẫy khăn gọi tên…” Một số được lên tàu đón, vây quanh Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh. Ai cũng muốn gặp Phan Châu Trinh; ông có vẻ gầy gò, má hóp, da đã nhăn nheo nhưng mắt rất sáng, nét mặt và cử chỉ rất kiên quyết dứt khoát.

Ngay trong buổi tiệc mừng tại nhà bà Chiêu Nam Lầu, cô ruột của ông Ninh, Phan Châu Trinh đã trả lời phỏng vấn và nói chuyện về quá trình của mấy ông mấy chục năm qua, phương hướng và nội dung cho cuộc vận động sắp tới. Ông vẫn nhấn mạnh cần giữ vững thế hợp pháp để đấu tranh lâu dài đòi cải cách dân chủ, mở mang dân trí và nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân.(các dòng chữ đậm, nhấn mạnh trong bài là của chúng tôi – PT)

Phan Châu Trinh tuyên bố thẳng với bọn cầm quyền sẽ ở lại Sài Gòn, lúc thì nói để chờ miền Trung bớt nóng nực mới về, lúc thì nói để chờ Toàn quyền Varenne sắp sang. Ông cũng tuyên bố sẽ sống  bằng nghề viết sách báo. Thực chất ông đã nhận định: ở Nam Kỳ bấy giờ chế độ cai trị của Pháp có phần dễ thở hơn, một phần luật pháp của Pháp được áp dụng, nhiều người đã tiếp xúc với phương Tây, đã sẵn có một phong trào đấu tranh công khai bằng báo chí dư luận, lại là vùng đất phì nhiêu, số người hằng tâm hằng sản khá đông, có thể dùng làm bàn đạp lâu dài của nhóm ông. Vì thế thâm tâm ông đã quyết định sẽ ở lại Sài Gòn, khi cần hoạt động mới ra Trung và Bắc.

Theo báo cáo của mật thám thì đến với Phan Châu Trinh ngay từ đầu có: Trần Quang Nghiêm, Lê Kim Ty, Phan Văn Trường, Lâm Hiệp Châu, Khánh Ký… phía người Pháp cánh tả có André Malraux, Paul Monin, Dejean de La Bâtie…

Mười hôm sau, Phan Châu Trinh đã đánh điện gọi người rể lớn (chồng bà Châu Liên – cha chúng tôi), Lê Ấm, dạy học ở Huế. Ngày 17/7/1925, ông Lê Ấm đã đưa bà Ngưu em gái út và Châu Lan con gái út Phan Châu Trinh (mẹ của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Phấn khởi trước tinh thần và khí thế của bà con, cảm động với niềm tin yêu tất cả dành cho mình, Phan Châu Trinh làm việc hết sức khẩn trương quên cả bệnh tật. Ông tập trung huy động lực lượng trong các tầng lớp trên mà thực dân có phần kiêng nể, đồng thời lo kiềm chế xu hướng nôn nóng manh động trong lớp trẻ tân học. Ông vừa lo ứng phó những sự kiện trước mắt vừa chuẩn bị cơ sở cho hoạt động lâu dài.

Ngày 3/8/1925, ông đi Trà Vinh cùng với ông Ninh, rể lớn Lê Ấm và con gái út Châu Lan. Ngày 7/8 lại đi Mỹ Tho… Ông đi gặp gỡ một số điền chủ và nhà kinh doanh ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Ba Động (có Nguyễn Phước Hượt, Nguyễn Huỳnh Điển, Trần Văn Kim…). Có những buổi họp kín dưới quyền ông Hợi (chồng bà Châu Lan, cha bà Nguyễn Thị Bình).

Ngày 28/8, ông mới trở về Sài Gòn, nói “dự định đi khắp Nam kỳ, nhưng sức khỏe không cho phép…”

Mục tiêu trước mắt của các lực lượng yêu nước là nhờ uy tín của Phan Châu Trinh để vận động tiền lập nhà in, ra sách báo và một số cơ sở hoạt động. Theo báo cáo của trùm mật thám Arnoux (số 3/74 ngày 24/9/1925) thì cuộc vận động của Phan Châu Trinh đạt kết quả khá lớn.

Ông khẩn trương biên soạn tài liệu diễn thuyết. Ông Ninh tích cực lo tổ chức cơ sở vật chất và làm thủ tục cần thiết, để chuẩn bị cho ông, trực tiếp cả với Sở mật thám.

Ngày 10/10/1925, ông cùng ông Ninh chủ trì cuộc họp với 5 người tại số 14 đường Martin des Pallieres, phần lớn là những nhân vật lớn, Ủy viên hội đồng như Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Nguyễn Tân Văn, Nguyễn Huỳnh Điển, các nhà điền chủ, nhà kinh doanh, trí thức và viên chức lớp trên. Có thêm Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển, Nguyễn Pho, Khánh Ký, Trương Cao Động… Họ bàn:

+ Lập một nhà hội để diễn thuyết.

+ Lập nhà in để ra một tờ báo song ngữ Việt – Pháp.

+ Xây dựng một trường văn hóa và dạy nghề.

+ Nguyễn Huỳnh Điển nhận việc lo lập nhà in để phục vụ ra báo. Ông Đốc phủ Lê Văn Mau sẽ hứa cho đất và 100.000 đồng để xây dựng trường học, nếu thiếu ông sẽ đi quyên thêm. Hội nghị trung tâm bàn  vấn đề tổ chức diễn thuyết đã cử Ủy ban 5 người gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Đốc phủ Nguyễn Tấn Sử và Nguyễn Tấn Văn. Ngày 15/10/1925, Ủy ban trên họp tại nhà Nguyễn Văn Long, có thêm ông Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Huỳnh Hiển và một số người lo việc quyên góp…

Họ trao đổi những thông tin đáng mừng về những lời hứa quyên góp và quyết định sẽ thành lập một câu lạc bộ để tổ chức diễn thuyết và hội họp, giao cho ông Trường và ông Ninh nghiên cứu điều lệ và thủ tục, kể cả làm việc với Sở mật thám. Nếu “kẹt” sẽ xin Toàn quyền mới là Varenne (đảng viên Xã hội) can thiệp.

Ngày 7/11 ông đi nghỉ ở Vũng Tàu thì được tin Khải Định chết, ông đánh điện cho Khâm sứ Pasquier đề nghị lập Hội đồng xem xét nên tôn người kế vị hay chấm dứt chế độ quân chủ. Khi trao đổi với bạn bè ông cũng hiểu là khả năng đó còn xa vời như trong bài của Nguyễn Phan Long đăng báo Écho Annamite ngày 12/11/1925, “Để có chế độ cai trị trực tiếp ở Trung kỳ”. Nhưng ông cho đây là một trong những nhát búa để đánh thức dư luận về vấn đề này, tạo một khả năng mới cho tương lai.

Ngày 19/11/1925, Varenne tiếp khách tại Sài Gòn: Phan Châu Trinh đại diện Trung kỳ, Phan Văn Trường, Bắc kỳ, Nguyễn Phan Long, Nam kỳ. Đoàn gồm nhiều nhân vật quan trọng. Họ đưa thỉnh nguyện, ngoài nội dung dự kiến có thêm nội dung ưu tiên cho các hoạt động kinh doanh của người Việt.

Ngay tối hôm gặp Varenne (19/11/1925), Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết đầu tiên của ông với đề tài “Đạo đức và luân lý Đông Tây”, tại số nhà 13 và 15 đường Albert 1, có đơn xin phép chính quyền, có chủ tịch đoàn gồm Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Văn và Nguyễn Tấn Được đều là ủy viên Hội đồng. Theo báo cáo của mật thám Arnoux số 119B ngày 20/11 có khoảng 200 người nghe. Khoảng 120 người trong phòng 30 người chen chúc ở cửa và một số người ở phòng nhỏ có cửa thông sang.

Không có thủ tục giới thiệu diễn giả, Phan Châu Trinh bắt đầu nói vào 20 giờ 20 và kết thúc vào 21 giờ 30. Có 5, 6 lần vỗ tay:

Arnoux nhận xét: “Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam diễn thuyết bằng tiếng Việt ở một nơi công cộng (trước đó chỉ có vài cuộc ngắn ở Nhà Khuyến học), hơn nữa với tư cách riêng của diễn giả cần có báo cáo riêng” (có bảng tóm tắt nội dung kèm theo). Thực chất Phan Châu Trinh thông qua phân tích mặt mạnh yếu của hai nền đạo đức và luân lý, để chỉ rõ nhược điểm và tồn tại bấy giờ trong nhân dân ta, kêu gọi lòng yêu nước, ý chí tự lập tự cường, gìn giữ cái hay của mình, bỏ cái dở, học tập cái hay của người, biết đoàn kết tổ chức đoàn thể, biết truyền bá xã hội trong dân. Ông nêu gương Nhật Bản đã thành công và Trung Quốc, Triều Tiên đang mở cửa phấn đấu canh tân đất nước để kêu gọi học tập gương họ.

Lời lẽ của ông vừa hùng hồn, thiết tha chân thành, vừa đơn giản dễ hiểu, vừa chặt chẽ khôn khéo, đại diện Sở mật thám ngồi nghe cũng không bắt bẻ vào đâu được mà thính giả thì hết sức xúc động thấm thía và phấn khởi.

Diễn văn được in ra hoặc chép tay phân phát. Hiện nay chúng tôi có bản in của Tân Dân thư quán Hà Nội.

Ngày 20/11/1925, Phan Châu Trinh đã cùng hai ủy viên Hội đồng thuộc địa Nguyễn Phan Long và Nguyễn Tấn Dược gửi đơn đến chủ sở mật thám báo sẽ diễn thuyết vào ngày 27/11, cũng tại địa điểm cũ, về vấn đề “Quân chủ hay dân chủ”. Arnoux phản ánh Phủ Toàn quyền: “Lần trước chỉ nói vấn đề luân lý mà Phan Châu Trinh đã khéo léo xen vào đó nội dung đả kích triều đình Huế. Lần này chắc ông ta sẽ trực diện hơn. Xin cho biết có nên cho phép không vì kiểu nói rất Annam, khéo léo của ông ta được người bản xứ hiểu rất dễ dàng… Dù tôi cũng phải cho phái viên đặc biệt và chỉ điểm đến dự”.

Ngày 27/11, Phan Châu Trinh đã diễn thuyết về đề tài “Quân trị và dân trị” dưới sự chủ tọa của Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tấn Dược và Trần Đình Minh, từ 20 giờ đến 21 giờ 40.

Theo báo cáo của Thanh tra Becrtin “thính giả đông hơn lần trước, khoảng 300 người, gồm đủ mặt các nhân vật cách đó mấy tiếng đã cùng Nguyễn Phan Long đến gặp Varenne. Diễn thuyết được chào mừng bằng vỗ tay nhiệt liệt”.

Phan Châu Trinh đang sốt cao, vẫn cố gắng nói rõ ràng mạnh mẽ. Ông lướt qua tệ hại của chế độ quân chủ với nạn áp bức quân chủ… Ông trình bày hình thức tổ chức chế độ cộng hòa, điển hình là Pháp, cùng với các chế độ quân chủ lập hiến mà vua cũng không khác tổng thống. So sánh các chế độ, ông đả kích các mưu đồ bảo vệ ngôi vua quân quyền, ông đặc biệt châm biếm ngôi vua dưới chế độ bảo hộ là tên đầy tớ số 1. Ông nhắc lại nền quân chủ của nước ta là sao chép từ Trung Quốc, nhân dân họ đã nhận thức được và tự giải thoát ách nô lệ. Dân Nam cần bắt chước.

Ông được vỗ tay nhiều lần, đặc biệt khi ông cầu mong Pháp sẽ thiết lập nền cộng hòa ở Đông Dương.

Sau buổi diễn thuyết này Phan Châu Trinh mệt nhiều, phổi đau. Ông phải vào điều trị ở bệnh viện Algil 15 ngày, ngày 22/12/1925 mới hơi khỏe ra viện. Ông Đào Trịnh Nhất báo tin được ông nhận làm thư ký. Được tin Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hà Nội ông đánh điện cho Toàn quyền xin ân xá.

Ngày 22/12/1925 được tin về thái độ Viện Cơ mật, Phan Châu Trinh gửi cho Khâm sứ Trung kỳ Pasquier một bức thư rất thẳng thắn.

“Ngài Khâm sứ,

Trong chuyến vào Nam kỳ cùng với ông Monguillot, Ngài đã mời tôi về Trung kỳ. Tôi đã vui vẻ nhận lời. Nhưng tình hình sức khỏe của tôi còn phải lưu lại Nam kỳ.

Nhưng ít lâu sau lời mời của Ngài, Viện Cơ mật đã mật tư cho các quan lại chức sắc trong nước để báo về việc sẽ trở về của tên Cộng sản Phan Châu Trinh, nguyên chính trị phạm, được Cộng sản giao về hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ ở Đông Dương”.

Ngài đã rõ chính kiến và tình cảm tôi đối với nước Pháp. Viện Cơ mật đã gửi lệnh đó đi khắp miền Trung thì thật lạ quá, một bên là Ngài Khâm sứ mời tôi về Trung kỳ và bên kia là lũ chó của Ngài lại chuẩn bị sẵn sàng để sủa tôi, thậm chí cắn tôi nữa.

Tôi xin Ngài vui lòng giải thích cho tôi mấy điều lạ lùng đó.

Xin kính chào Ngài.

Phan Châu Trinh – 49P Charner Sài Gòn”

Trong những ngày khỏe từ 22 đến 27/12/1925 Phan Châu Trinh tin là chỉ một tuần nữa sẽ đủ sức về Đà Nẵng thăm quê hương và con, “đổi không khí chắc sẽ khỏe hơn”. Báo cáo số 1305 viết “Phan Châu Trinh đã đủ giấy tờ, chỉ còn chờ con tàu thích hợp là đi. Có lúc ông nói định chờ Varenne vào sẽ cùng ra”.

Nhưng từ ngày 27/12 ông mệt lại, không ăn không ngủ được. Nguyên nhân do khí hậu thay đổi và làm việc quá nhiều.

Ông chuyển sang thuốc Nam, lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú ông Ninh) làng Trung Chánh (Gia Định).

Sang đầu tháng 2/1926 bệnh ông càng ngày càng nặng, phổi đau  lại thêm bệnh kiết lỵ “khi đó chưa có thuốc trị”. Bác sĩ Thinh và Đôn thấy còn ít hy vọng. Cử nhân Lê Văn Huân từ Huế vào thăm đi cùng với con gái lớn Phan Châu Trinh (bà Châu Liên có đem theo con gái nhỏ 4 tháng tuổi, chính là tôi). Ông An Cư vẫn tích cực lo tìm các thầy thuốc Nam có tiếng đến chữa cho ông. Bà Châu Liên cho biết trong thời kỳ này ông Sinh Huy (thân sinh Hồ Chủ tịch) luôn ở bên cạnh Phan Châu Trinh (thư khố lưu một báo cáo nói đến viên thầy thuốc người Trung kỳ từ Gò Công lên). Ông Trần Đình Phiên cũng từ Quảng Nam vào. Ông An Cư cho biết “đã điện mời thầy thuốc nổi tiếng Huỳnh Thúc Kháng vào sớm vì Phan Châu Trinh rất tin tưởng ông này”.

Bọn mật thám vẫn bám ông. Họ điện cho mật thám Đông Dương: “Sáng 28/2/1926, một chỉ điểm đã thăm Phan Châu Trinh tại nhà Nguyễn An Cư. Ông bị kiết lỵ đã bắt đầu phù thũng, người yếu mệt nhưng vẫn đọc báo nói chuyện”.

Khắp nơi trong nước điện về hỏi tình hình sức khỏe của ông, lo lắng và đau buồn. Thấy không còn hy vọng, ngày 18/3 ông được chuyển về 54 Pellerin để thực hiện tang lễ và các lực lượng yêu nước quyết tổ chức thật lớn. Mãi đến ngày đó mới có tin Huỳnh Thúc Kháng đã lấy đủ giấy tờ và đang trên đường vào.

Quanh Phan Châu Trinh luôn có các bạn cũ và mới, hai con gái và hai rể cùng túc trực. Lúc này ông không còn nói to được nữa nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Sáng 24/3, ngay trong ngày qua đời, khi bà Châu Liên hốt hoảng và báo tin ông Ninh bị bắt dẫn ngang quang nhà, ông vẫn bình tĩnh nói: “Đó là chuyện làm bình thường đối với người làm cách mạng”.

Niềm an ủi cuối cùng của ông là đã gặp lại người bạn chí thiết của những ngày đầu tiên dấn thân là Huỳnh Thúc Kháng, đã nói lên được lời trăng trối cuối cùng có tính tiên tri: “Độc lập dân tộc sau này sở cậy Nguyễn Ái Quốc”. Ông trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 30 ngày 24/3/1926.

Ban tang lễ gồm 16 người. Mọi việc chuẩn bị đã được lo trước cả tuần lễ: 1 hầm mộ bê tông cốt thép đã được xây tại nghĩa địa Gò Công tương tế, một quan tài kẽm đặc biệt đã được đặt làm để giữ thi hài ông 10 ngày đủ thời gian cho đại diện các tỉnh về viếng và dự tang lễ, cử hành ngày 4/4/1926.

Xinh trích dẫn đánh giá chung khá chính xác của mật thám Nam kỳ về sự kiện này: “Thật là một cuộc biểu tình vĩ đại đến nay chưa hề thấy (Manifestation grandiose inconnue jusqu’ici) không chỉ do tầm vóc của nhân vật, danh tiếng của ông ta làm cho dân chúng nô nức đến vậy, tuy mọi người đều muốn tỏ ra biết quý trọng người đã hy sinh cho lợi ích của nhân dân đất nước… Tang lễ Phan Châu Trinh còn dựa vào một phong trào quần chúng đã được đốt nóng chỉ tìm cơ hội để bùng lên. Dư luận người Nam đã nắm lấy cơ hội cái chết và tang lễ Phan Châu Trinh để thỏa mãn yêu cầu bộc lộ trạng thái tư tưởng mới của mình (son état d’esprit nouveau)”.

Chúng ta có thể nói: Bằng cả cuộc đời hoạt động không mệt mỏi ở khắp nơi và bằng cả cái chết của mình, trong lòng dân tộc, chí sĩ Phan Châu Trinh đã góp phần không nhỏ vào những bước phát triển tiếp theo của công cuộc giải phóng đất nước.

 

 

Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

PHẠM QUỲNH VẪN SỐNG TRONG LÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

Blog PhamTon

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời bốn ngày… Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972-in 3200 cuốn). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Sau khi phát hành ít ngày, sách ấy bỗDoi viet vanng “biến mất” trong các hiệu sách và tất nhiên trong tất cả các thư viện công. Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã ra đời lâu rồi, mới lại thấy sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn. Nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh. Đây là lần đầu Phạm Quỳnh xuất hiện trong lòng Tổ quốc mình, nay đã là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Sau đó 10 năm, lại 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 12 ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc số 13 (278) cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba)

Trước đó bốn năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Trong Lời nhà xuất bản (trang 8) viết: “về mặt văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển nền văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học.”

Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học (644 trang) do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu. Trong Lời giới thiệu, Trịnh Bá Đĩnh viết: “Làm nên cốt cách ngòi bút của ông là các bài luận giải, khảo cứu mà nội dung nghiêng về tư tưởng và các vấn đề học thuật. Ở đó ta thấy một sự hiểu biết uyên bác, một cách diễn giải chu đáo tỉ mỉ, một nhiệt tình quảng bá tư tưởng, được diễn tả với một văn phong chặt chẽ, khúc chiết, chắc nịch mà các độc giả trí thức chắc sẽ ưa chuộng”.

8 sach Pham QuynhNăm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh cũng 1000 bản, Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Mỗi bộ bồm ba tập, mỗi tập khoảng 650 trang, trong đó có nhiều bài của Phạm Quỳnh. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký (NXB Trí Thức, 511 trang, khổ lớn 16x24cm phát hành 600 bản, Nguyễn Hữu Sơn viết: “Học giả Phạm Quỳnh viết du ký vừa thỏa mãn hứng thú nội tâm, trình bày những cảm xúc riêng tư vừa hướng tới giới thiệu những điều trải nghiệm tai nghe mắt thấy liên quan đến mỗi thắng cảnh di tích lịch sử và đời sống xã hội nơi phương xa. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên kết nối giữa chủ thể sáng tác và phía tiếp nhận, nghĩa là bạn đọc cũng sẽ được hướng dẫn đi thamquan, du lịch, hành hương về xứ đẹp và cội nguồn lịch sử dân tộc nhờ chính các trang du ký. Du ký của Phạm Quỳnh là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”… Về phong cách nghệ thuật, du ký của Phạm Quỳnh hòa quyện được phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nghệ sĩ (…) Nhìn chung trên địa hạt du ký, có thể khẳng định Phạm Quỳnh không chỉ đứng đầu Nam Phong Tạp Chí mà cũng là nhà viết du ký xuất sắc trong suốt cả thế kỷ XX.”

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932, 1000 tập sách khổ 14, 5×20, 5. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút. Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết ngay đầu sách bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang. Ông viết đầy xúc động: “Cuốn sách này của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (11 bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn nhất vọn vẹn một trang! Và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền…” Và “Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta gọi là dấn thân)” ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết Hoa Đường tùy bút. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ, rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm”. Rồi: “Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang, Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

“Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm”.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh dày đến 1134 trang, in tới 1000 bản và chính thức bán và quảng cáo với bích chương lớn tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3 (56) năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Bẵng đi hai năm, lại thấy tác giả này xuất hiện trên Hồn Việt, một tạp chí của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước (bài 1 và 2)

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272). Nguyễn Huệ Chi viết: “Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dịch thuật hay trước tác, ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng (…) Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (Chẳng hạn bài viết về lễ tế Nam Giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết… nói riêng (…) Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được các phạm trù trừu tượng, như tư tưởng tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa được nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng, chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu càu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.”

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Vì “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, đúng như một câu thơ Kiều.

Thành phố Hồ Chí Minh 28/10/2014.

B.P.T.

Xuân trong hầm pháo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

XUÂN TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN PHỦ – 1954

 

Xuan trong ham phaoTranh sơn dầu của họa sĩ Phạm Thanh Tâm

Kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ, trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam đã mở chương trình giao lưu đặc sắc, hùng tráng Điện Biên Phủ bản giao hưởng Hòa Bình với những nhân chứng từng tham gia trận đánh Điện Biên Phủ 1954 oai hùng. Bên cạnh những nhân vật lớn, cỡ tướng, tá, anh hùng kể lại những chiến công trời long đất lở… lại có một nhân vật kể lại câu chuyện “nhỏ” mình từng tham dự ở một “góc rất nhỏ”, nhưng đã khiến hàng triệu con tim Việt Nam và người nước ngoài ở cả trong và ngoài nước rung động khi nghe chính người trong cuộc, một nghệ sĩ múa 81 tuổi, kể tỉ mỉ, đầy xúc động về kỷ niệm thời mình là một cô gái 21 tuổi, được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ở đại đoàn pháo binh 351 và múa lượn tại hầm pháo số 2, ngay đêm đầu tiên pháo binh Việt Nam khai hỏa, trên trận địa Him Lam, mở đầu Đại thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, oanh liệt sau này. Các pháo thủ bắn một loạt thì văn công lại múa hát một bài cho đến khi có lệnh chuyển xuống phục vụ đơn vị pháo cao xạ phòng không

May thay, có họa sĩ Phạm Thanh Tâm người cùng đại đoàn, ký họa tại chỗ ngay, nên chúng ta đã có bức tranh sơn dầu quý báu này.

Sau chiến thắng, cô gái múa trở lại thăm những chàng lính trẻ nhớ mặt mà chưa biết tên của mình ở căn hầm số 2 thân thương, nhưng chỉ còn là tan hoang, đổ nát, máu rơi, thịt nát. Các chiến sĩ xem múa đêm ấy đều hy sinh khi đang đánh giặc bên cỗ pháo. Khi nghệ sĩ múa trẻ run rẩy không còn đứng vững được trước những đau thương quá sức chịu đựng như thế, cô tựa vào một bức vách hầm, thì có người mách nhỏ, “đừng bám vào, để các anh yên, trên vách còn dính nhiều máu, thịt của các anh để lại khi hầm pháo nổ tung…”

Tất cả chỉ còn là tan hoang, đổ nát, chan hòa nước mắt… Các cô gái xin đi thăm mộ các anh còn đắp sơ sài và cố tìm những đóa hoa mua tím còn sót lại sau những trận địch dội bom, đạn tơi bời, cố cắm mỗi mộ một, hai bông.

Cái giá trả cho chiến thắng vĩ đại thật là quá lớn, mà cũng rất giản dị…

Những người anh hùng ấy chỉ còn trong bức tranh của họa sĩ Phạm Thanh Tâm và trong trái tim cô gái trẻ, sáu mươi năm sau (khi đã là thiếu tá, chính trị viên phó Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) vẫn còn rung động trái tim lão cựu chiến binh hơn 80 tuổi…

Người múa họa sĩ vẽ trong tranh, trong hầm pháo số 2 đêm đó là chị Vũ Thị Lương, vợ của anh Phạm Vinh, người trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh. Và cũng chính chị đã kể cho hàng chục triệu khán giả truyền hình Việt Nam và quốc tế câu chuyện không thể quên ở Điện Biên Phủ năm 1954.

P.T.

 

Lịch sử một bức tranh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 5 năm 2018.

LỊCH SỬ MỘT BỨC TRANH

Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Minh Tiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mùa sớm nắng chiều mưa Sài Gòn, chiều 22/9, giữa hai trận mưa, Họa sĩ , Nhà báo Phạm Thanh Tâm, một người Hà Nội, lại một lần nữa đi xe taxi, chống can inox bốn chân đến thăm một người bạn vong niên mới quen mà đã như thân thiết. Có lẽ vì cùng là người Hà Nội, lại cùng có chung những người thân thiết.

Xuan trong ham phaoSau mấy tuần trà ướp trong một bông sen do người Hà Nội tặng chủ nhà, và trò chuyện thân mật, tin cậy, chân thành về những chặng đường và những con người cả hai đều từng trải qua và quen biết, họa sĩ tặng chủ nhà một tập sách quí, bề thế của Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành nhân kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ nhan đề Trang sử vàng Điện Biên Phủ -Họa sĩ, Nhà báo Phạm Thanh Tâm- in song ngữ Việt Anh, khổ 33×26.5, do Richard di San Marzano thiết kế mỹ thuật.

Trong sách, chúng tôi may mắn thấy có hai điều mình muốn tìm hiểu lâu nay. Đó chính là bài Lịch sử một bức tranh (trang 76) viết về chính bức tranh chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ. (Tính đến ngày 5/10/2014 đã có 13.013 lượt người trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ truy cập.)

Trong bài có kể rõ trong đội văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy có cả vợ chồng đích tôn của Phạm Quỳnh là Phạm Vinh và Vũ Thị Lương “cô gái múa lượn” trong tranh, cả hai cùng chạc tuổi với họa sĩ mới 21, 22 tuổi.

Và một bài nữa viết về chính họa sĩ nhan đề Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa (trang 90).

60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi 60 năm Giải phóng Hà Nội, Blog PhamTon xin trân trọng giới thiệu với các bạn cả hai bài trên.

—o0o—

Nếu ai có dịp đến tham quan nhà Bảo tàng Quân đội, chắc chắn không thể nào bỏ qua gian phòng trưng bày những bảo vật về chiến dịch Điện Biên lịch sử.

Trong số những bảo vật lưu niệm về tranh và ảnh của gian phòng có một bức tranh của họa sĩ quân đội Phạm Thanh Tâm.

Không gian của bức tranh là một căn hầm pháo 105 ly. Nòng pháo vươn qua lỗ châu mai về phía Điện Biên. Hai càng pháo bám chắc hai bên vách hầm trong tư thế sẵn sàng nhả đạn – nổi lên giữa hai càng pháo là 4 cô gái mặc áo tứ thân đang uyển chuyển duyên dáng trong một điệu múa dân tộc. Chung quanh là những gương mặt các chiến sĩ pháo thủ đang say sưa thưởng thức điệu múa.

Năm 1954, năm thứ 9 của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp. Đội văn công Sư đoàn vừa ăn tết xong thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân đi Điện Biên. Lúc đó chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Sư đoàn gần cây số 14 trên đường Tuyên Quang đi Yên Bái. Đội đi Điện Biên gồm: Nguyễn Đức Phong đội trưởng, kiêm chính trị viên và các thành viên: Minh Tiến, Trọng Lanh, Hàn Đức Trọng, Xuân Sách, Phạm Vinh và các cô Vũ Thị Lương, cô Tý, cô Ngọc, cô Minh, tổ nhạc có: Nguyễn Bính (vi-ô-lông, ác-coóc-đê-ông), Ngọc Cương (nhạc sĩ kiêm đàn măng-đô-lin, Vương Cát Định (ghi-ta), Thịnh Đen (chẻo). Múa và nhạc kiêm ca hát và đóng kịch. Đoàn không có ca sĩ nổi danh như chị Kim Ngọc ở văn công Sư đoàn 312. Biết làm sao được, chiến sĩ thì nhiều nghệ sĩ thì hiếm phải tự lo lấy tất cả. Không có thầy, thầy cũng là trò, trò cũng là thầy. Múa xong là hát, hết hát thì sang đóng kịch. Kết thúc vai diễn, lại ngồi đốt những liều thuốc phụ (rơ-le) xin được của Pháo để có ánh sáng biểu diễn.

Đêm đầu tiên chúng tôi vượt bến Âu Lâu – Yên Bái. Ôi một đêm kỳ diệu! Cả đoạn sông Thao thượng nguồn vang lên bản Trang su vang Dien Bien Phutráng ca lịch sử. Quân ta như một con rồng khổng lồ bao gồm các sư đoàn chính quy, các đơn vị bộ đội địa phương, các đội dân công, nhân dân phục vụ thuyền bè. Tất cả đã theo lệnh của Bác Hồ và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiến vào Tây Bắc giải phóng Điện Biên. Dòng sông Thao sục sôi như nổi bão tố. Người qua sông, ngựa qua sông, xe đạp, xe thồ gồng gánh qua sông. Xe pháo rùng rùng chuyển động. Chân đất, chân giày, mũ lá, nón mê, đầu trần, thuyền nhỏ, thuyền to nhấp nhô chen nhau cắt ngang dòng sông lịch sử. Tất cả tiến vào Tây Bắc vượt “Núi vút ngàn trùng xa” trong nhịp bước “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ” mà vẫn tràn đầy lạc quan để đi đến ngày thắng lợi. Trong đoàn quân vĩ đại ấy có Đội văn công của Sư đoàn Côn, Pháo 351 với đội múa trẻ trung đang độ tuổi 18, đôi mươi.

Ban ngày chúng tôi tập lại các bài ca điệu múa. Khi mặt trời bắt đầu xuống núi, toàn bộ lại lên đường hòa vào dòng thác đại quân và dân công cùng chảy ra tiền tuyến. Chính trong lúc hành quân đêm, nhóm múa chúng tôi có thời gian để sáng tác điệu múa mới (chưa có ai học sáng tác bao giờ). Mỗi đêm hành quân là mỗi đêm có những sáng kiến mới để chuẩn bị cho ban ngày tập luyện. Những ngày gian khổ ấy sao mà thương nhau thế, vượt qua Pha Đin trong mây vờn đỉnh dốc, rét buốt thấu xương, vượt Lũng Lô trong lửa bom rừng cháy “Chân không giày rớm máu, thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành quân tới Điện Biên, tổ múa chúng tôi đã sáng tác xong điệu múa tạm đặt tên là Vui sản xuất. Ý nghĩa của điệu múa muốn động viên chiến sĩ yên tâm đánh giặc, vì đã có hậu phương yên vui sản xuất để tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Động tác múa chèo thì học ở cụ Năm Ngũ trước hết, nhạc cũng học truyền khẩu rồi về hát lại để Ngọc Cương ghi lại cho vi-ô-lông của Bính Kính và cho các nhạc cụ khác đệm theo. Biên soạn múa và lời ca thì làm tập thể, cuối cùng mọi người cũng vừa ý. Quần áo múa thì góp lại mỗi người một mảnh dù trắng (của chiến sĩ cho làm kỷ niệm) đem nhuộm xanh đỏ. Thợ may là bốn cô nữ chiến binh. Thế rồi điệu múa đã được diễn cho chiến sĩ xem đêm đầu tiên tại mặt trận Điện Biên như ở phần đầu chuyện kể.

Đội văn công Sư đoàn sau đêm diễn đã chuyển sang phục vụ đơn vị pháo cao xạ ở gần khu vực đồi Độc Lập. Ba ngày sau chúng tôi hành quân trở lại căn hầm pháo cũ để tiếp tục phục vụ đợt 2 của chiến dịch. Thật không ngờ, chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại các pháo thủ ở căn hầm số 2 đã bắn những viên đạn pháo đầu tiên vào Him Lam, mở đầu cho chiến thắng Điện Biên. Tất cả 7 chiến sĩ hy sinh. Máu của họ còn vương đầy vách hầm. Nơi biểu diễn điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” đầy những mảnh đạn.

Chúng tôi tìm đến những ngôi mộ còn đỏ màu đất như mới, viếng những người anh hùng và đặt lên nấm mồ một cành hoa sim tím của núi rừng Điện Biên giữa những tiếng khóc nức nở của 4 cô gái văn công Sư đoàn.

Những pháo thủ đang yên giấc ngàn thu và tất cả chúng tôi lúc bấy giờ không ai nghĩ rằng hình ảnh của họ và 4 cô gái văn công Sư đoàn trong điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” sẽ sống mãi trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ đại tá Phạm Thanh Tâm.

Hà Nội, tháng 5 năm 1998.

NSND Đ.M.T.

Tháng Tư 29, 2018

Phan Châu Trinh trong lịch sử dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:36 sáng

Blog PhamTon, năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

PHAN CHÂU TRINH TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

Nguyễn Văn Khánh*

(Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 488 tháng 10 năm 2017 từ trang 11 đến trang 17)

Phan Châu Trinh là nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động chính trị có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam, nhưng trên hết ông là một chí sĩ yêu nước lớn của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Từ sau khi ông mất (năm 1926) đã bắt đầu có những bài viết, công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông, với những quan điểm và cách nhìn nhận đánh giá khác nhau. Có ý kiến cho rằng Phan Châu Trinh là nhà chính trị cải lương, rằng ông “không tin ở lực lượng của nhân dân” và “ chủ trương lợi dụng Pháp để mở mang dân trí” “hoàn toàn là một ảo tưởng”1. Vì vậy, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh cũng rất hạn chế”. Cho đến trước thời kỳ Đổi mới ( năm 1986) quan điểm đánh giá về Phan Châu Trinh cũng vẫn chưa có sự thay đổi. Ngay trong công trình Lịch sử Việt Nam, Tập II, được coi là “chính sử “ do Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) biên soạn và xuất bản vào năm 1985 cũng viết: “ sai lầm lớn của Phan Châu Trinh là đã chống lại biện pháp vũ trang bạo động cứu nước, coi bạo động là chết…Bài xích đấu tranh vũ trang, Phan Châu Trinh đã tách mình ra khỏi một sức mạnh truyền thống lâu đời của ông cha trong đấu tranh chống ngoại xâm là vũ trang khởi nghĩa”2. Nhận xét về con đường cứu nước của Phan Châu Trinh, các tác gỉa cuốn sách cho rằng với việc yêu cầu thực dân Pháp tiến hành những biện pháp cải lương như: ‘kén chọn hiền tài’, ‘hưng lợi trừ hại’, ‘mở đường sinh nhai cho dân nghèo, rộng đường ăn nói cho thân sĩ’ để ‘dân được yên nghiệp làm ăn’, Phan Châu Trinh ‘đã sa vào con đường cải lương chủ nghĩa một cách không tự giác”3.

Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, bằng cách nhìn nhận và tư duy mới, cách đánh giá về Phan Châu Trinh cũng dần thay đổi theo quan điểm phát triển và khuynh hướng càng ngày càng toàn diện và khách quan hơn. Không chỉ có tư tưởng chính trị mà cả hoạt động văn chương cũng như toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh cũng đã được giới học thuật quan tâm nghiên cứu và được giới thiệu trong nhiều hội thảo khoa học, nhất là trong dịp kỷ niệm 80 ngày mất của Phan Châu Trinh (năm 2006) cũng như trong nhiều sự kiện được tổ chức liên quan đến Phong trào Duy tân ở Trung Kỳ hồi đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, vào các năm 2001 và 2003, tác giả Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), cháu ngoại của Phan Châu Trinh đã lần lượt cho xuất bản hai tập sách 4trong đó tập hợp giới thiệu nhiều tư liệu mới sưu tầm được trong văn khố Pháp, nhất là ở Aix-en-Provence về cuộc đời và hoạt động cứu nước của ông. Trên cơ sở đó, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã tổ chức và cho xuất bản bộ sách Phan Châu Trinh toàn tập gồm 3 tập5 giới thiệu khá đầy đủ và hệ thống toàn bộ các trước tác của Phan Châu Trinh, trong đó có nhiều tài liệu về ông hoặc do ông biên soạn trong thời kỳ sinh sống và hoạt động ở Pháp (từ 1911 đến 1925).

Những dấu mốc lớn trong cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ, Hy Mã; tự là Tử Cán. Cha ông là Phan Văn Bình, làm Quản cơ sơn phòng, sau có tham gia phong trào Cần Vương được giao đảm trách việc quân lương, nhưng do bị hiềm khích và hiểu lầm nên đã bị sát hại vào năm 1887. Mẹ ông là Lê Thị Trung, xuất thân trong một gia đình vọng tộc cũng ở huyện Tiên Phước, Quảng Nam.

Hồi nhỏ, Phan Châu Trinh theo cha đi học chữ Hán và học võ. Sau khi cha mất, ông về quê sống với người anh trai và tiếp tục đi học. Mãi đến năm 1900, Phan Châu Trinh mới đỗ Cử nhân ở trường thi Thừa Thiên. Năm sau, năm 1901, ông lại đi thi và đỗ Phó bảng, đồng khoa với Tiến sĩ Ngô Đức Kế và Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Với học vị Phó bảng Phan Châu Trinh được bổ làm Thừa biện – một chức quan nhỏ ở Bộ Lễ trong triều đình Huế. Nhưng cuộc đời làm quan dưới một triều đình hủ bại không mang lại tự do và niềm vui cho ông. Để bày tỏ nỗi chán chường, năm 1903,  ông có làm bài thơ “ Kinh thành nguyên đán” nói về cuộc sống vô vị, tẻ nhạt ở chốn kinh thành. Làm việc ở Bộ Lễ được khoảng hơn 2 năm6, đến năm 1904, ông từ quan về quê rồi sau đó đi chu du với bạn bè cùng chí hướng như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp…

Đầu năm 1905, khi đến tỉnh Bình Định, gặp đúng kỳ khảo hạch hàng năm, ba ông đã lẻn vào trường thi làm một bài thơ, một bài phú ký tên chung là Đào Mộng Giác. Trong bài thơ Chí thành thông thánh Phan Châu Trinh đã chất vấn các học trò rằng: “ Muôn dân làm tôi tớ dưới ách cường quyền mà sao các anh vẫn còn say sưa trong giấc mộng cử nghiệp? Nếu mãi trăm năm cam chịu sỉ nhục thì biết ngày nào mới thoát khỏi chỗ cũi lồng?”7. Khi tới Nha Trang, nghe tin đồn có tàu Nhật Bản đậu ở cảng Cam Ranh, các ông tìm đến, nhưng đến nơi mới biết đó là tàu Nga đang chờ tiếp ứng cho hạm đội Thái Bình Dương. Sau khi ở Phan Thiết một thời gian ngắn để chữa bệnh, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quí Cáp quyết định mở cuộc tuyên truyền vận động duy tân.

Đầu năm 1906, Phan Châu Trinh ra Hà Nội gặp gỡ một số sĩ phu tiến bộ rồi vào Trung Kỳ gặp Ngô Đức Kế, sau lại quay ra Hà Nội và lên Yên Thế để tiếp kiến Hoàng Hoa Thám. Trở lại từ căn cứ Yên Thế, Phan Châu Trinh đi xuống Hải Phòng rồi sang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để gặp Phan Bội Châu lúc bấy giờ đang trên đường sang Nhật Bản để thực hiện kế hoạch đông du. Trong cuộc nói chuyện, Phan Châu

Trinh ủng hộ hoạt động đưa du học sinh sang Nhật du học, nhưng lại kịch liệt phản đổi chủ trương cầu viện nước ngoài và con đường bạo động của Phan Bội Châu.

Trong khoảng 2 tháng trên đất Nhật Bản8 hai nhà chí sĩ họ Phan lại tiếp tục gặp gỡ, bàn thảo nhưng không đi đến kết quả. Sau khi về nước (vào khoảng tháng 5,6 năm 1906)9, ngày 15/8/1906, Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Bô (Paul Beau), gọi là Đầu Pháp chính phủ thư trong đó nêu các nguyên nhân khiến nước ta phải chịu ách đô hộ của ngoại bang chủ yếu là do sự hủ bại của triều đình nhà Nguyễn và chính sách bao che, thiển cận, coi thường người Việt Nam của Chính phủ thuộc địa. Nhằm thay đổi hiện trạng của đất nước, ông yêu cầu Chính phủ Pháp phải thực hiện cải cách tại Việt Nam, làm cho nước mạnh dân giàu.

Tháng 8 năm 1907, Phan Châu Trinh được Trường Đông Kinh Nghĩa thục mời ra diễn giảng tại Hà Nội. Ngoài các buổi diễn thuyết, ông còn viết bài cho tờ Đăng cổ tùng báo. Trong bài Hiện trạng vấn đề sau này được Huỳnh Thúc Kháng in lại trên báo Tiếng Dân số 613, ngày 9/8/1933, ông nêu phương châm: “Không nên trông người ngoài, trông người ngoài thì chắc ngu; không nên bạo động, bạo động thì chắc chết”.

Dưới ảnh hưởng tư tưởng của ông, phong trào duy tân cải cách từ tỉnh Quảng Nam bắt đầu phát triển mạnh và lan ra các tỉnh khác trên các lĩnh vực hoạt động chủ yếu: mở trường dạy chữ quốc ngữ và dạy học theo lối mới; mở hiệu buôn, dệt vải, trồng cây; cắt tóc ngắn, mặc quần áo theo kiểu Âu, bỏ hủ tục… Nhưng không dừng lại ở các phong trào đó, tư tưởng cải cách càng thâm nhập vào quần chúng thì càng biến thành hành động bạo lực. Từ tháng 3 năm 1908, phong trào Duy tân đã phát triển thành phong trào chống đi phu, giảm thuế với hình thức ngày càng quyết liệt. Hàng ngày xuất hiện hàng chục cuộc biểu tình của nông dân, trong đó có những cuộc biểu tình kéo dài nhiều ngày, thậm chí nông dân còn kéo đến bao vây cả phủ huyện đường (Tam Kỳ, Hòa Vang). Để chống lại phong trào nổi dậy của nông dân, chính quyền Pháp đã thẳng tay khủng bố, đàn áp các cuộc biểu tình, bắt bớ những người tham gia…

Mặc dù không có bằng chứng cụ thể, nhưng Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúi Cáp bị vu cho là đã xúi dục nông dân nổi dậy nên bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 3 năm 1908, Phan Châu Trinh bị đưa từ Hà Nội về Huế để triều đình xử tội, và ngay sau đó, ông bị đày ra Côn Đảo. Tháng 6 năm 1910, nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, Phan Châu Trinh được phóng thích nhưng lại bị quản thúc tại Mỹ Tho. Không chấp nhận cảnh một người tù giam lỏng, bị theo dõi thường  xuyên, ông xin đi Pháp. Tháng 3/1911, Phan Châu Trinh được đưa sang Pháp cùng  với người con trai tên là Phan Châu Dật, lúc đó mới 14 tuổi.

Trong 14 năm ở Pháp (từ năm 1911 đến năm 1925) Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục tuyên truyền tư tưởng cải cách, đồng thời tích cực hoạt động trong cộng đồng Việt kiều yêu nước.

Hoạt động đầu tiên của Phan Châu Trinh sau khi đến Pháp là kiến nghị Chính quyền Pháp sửa đổi lại việc xử án ở Việt Nam, nhất là ở Bắc và Trung Kỳ. Ngoài ra, Phan Châu Trinh còn viết báo, tổ chức diễn thuyết nhằm làm cho dư luận ở Pháp biết rõ ràng hơn về nguyên nhân biến cố năm 1908 tại Trung Kỳ. Cũng nhờ các ý kiến của ông mà chính quyền thực dân đã xem xét và can thiệp với chính quyền Nam triều để giảm án cho hàng chục người bị bắt sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ vào đầu năm 1908. Đặc biệt, trong những năm đầu ở Pháp, Phan Châu Trinh đã tập trung thời gian và sức lực để viết hai tác phẩm quan trọng, gồm Đông Dương chính trị luậnPháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam 10 .

Ngoài báo chí và viết sách, Phan Châu Trinh còn tổ chức nhiều buổi nói chuyện, diễn thuyết trước sự tham gia của đông đảo Việt kiều để nói lên nỗi thống khổ của người dân thuộc địa, thân phận lệ thuộc của đất nước dưới ách đô hộ của người Pháp nhằm phê phán chính sách bất công của chính quyền thực dân, khích lệ lòng yêu nước của những người Việt Nam xa xứ.

Một mảng hoạt động rất quan trọng nữa của Phan Châu Trinh trên đất Pháp là tham gia Hội ái hữu và các tổ chức yêu nước. Năm 1912 khi Hội đồng bào thân ái được thành lập, Phan Châu Trinh đã tham gia trong ban lãnh đạo hội. Trên cơ sở Hội này, đến năm 1914, Phan Châu Trinh cùng một số nhà cách mạng khác như Phan Văn Trường, Khánh Ký thành lập Hội những người yêu nước Nam. Về sau Hội này được trao lại cho Nguyễn Ái Quốc.

Trong những năm Đại chiến thế giới thứ Nhất, do có thái độ phản đối chính sách bắt lính của chính quyền Pháp ở Paris nên cùng với Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh bị khép tội làm gián điệp cho Đức và bị bắt giam ở nhà tù Santé (Prison de la Santé) từ tháng 9 năm 1914 đến mãi tháng 7 năm 1915 mới được thả. Sau khi ra tù, ông đã soạn tập thơ Santé thi tập với trên 200 bài thơ.

Đầu năm 1919, với sự giúp sức của Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, một bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam ký tên Nguyễn Ái Quốc đã được gửi đến Hội nghị Versaille nhằm đòi các quyền tự do dân chủ và quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam. Tháng 7 năm 1922, nhân vua Khải Định sang Pháp, Phan Châu Trinh viết Thất điều thư kể bẩy tội đáng chém của ông ta gồm: Tôn lập quân quyền, thưởng phạt không công bằng, thích sự quì lạy, xa xỉ vô độ, trang phục không đúng phép, sang Pháp làm việc ám muội.

Không chấp nhận chế độ cai trị của chính quyền thực dân phong kiến, trên đất Pháp Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục ngoan cường và kiên trì đấu tranh chống lại các chính sách hà khắc của Pháp và vua quan triều Nguyễn. Ông đã nhiều lần gửi kiến nghị đến Hội Nhân quyền, Nghị sĩ M.Moutet, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa A. Sarraut11 hay Quan ba Jules Roux… để phê phán chính sách thống trị của chính quyền thực dân ở Đông Dương, đồng thời bày tỏ ý kiến về các quyền tự do dân chủ mà nhân dân Việt Nam cần được hưởng.

Tuy nhiên, chán nản vì hoạt động nhiều năm ở Pháp nhưng không đạt kết quả, Phan Châu Trinh đã đề nghị Chính phủ Pháp cho về nước. Nhưng lẫn lữa mãi đến khi sức khỏe Phan Châu Trinh suy kiệt, Chính phủ Pháp mới chấp thuận để ông trở về Tổ quốc vào tháng 6 năm 1925. Sau khi về nước, mặc dù sức khỏe không tốt nhưng trước khi mất mấy tháng, Phan Châu Trinh vẫn cố gắng tổ chức hai bài diễn thuyết với tiêu đề: Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa, và Đạo đức và Luân lý Đông Tây. Hai bài diễn thuyết của ông đã có sức lay động rất lớn đối với các tầng lớp thanh niên ở Sài Gòn lúc đó.

Tư tưởng chính trị và con đường cứu nước của Phan Châu Trinh

Đầu thế kỷ XX, dưới tác động của các điều kiện lịch sử mới ở trong nước và quốc tế, trong phong trào dân tộc có tính chất tư sản ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại đồng thời hai khuynh hướng cứu nước: một khuynh hướng chủ trương bạo động khởi nghĩa chống Pháp để giành độc lập dân tộc mà người đại diện là Phan Bội Châu; còn một khuynh hướng khác do Phan Châu Trinh đề xướng lại chủ trương thực hiện cải cách đất nước, làm cho nước mạnh dân giàu, nhờ đó mà tránh được thân phận bị nước ngoài đô hộ. Khuynh hướng thứ hai có thể coi là sự tiếp nối và hiện thực hóa nhiều mục tiêu của phong trào duy tân do các sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng từ cuối  thế kỷ XIX , tiêu biểu như Phạm Phú Thứ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Lộ Trạch …và nhất là Nguyễn Trường Tộ.

Tuy nhiên, so với những người có tư tưởng duy tân vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh có một trường độ sâu rộng và một phạm vi ảnh hưởng rộng lớn hơn rất nhiều. Có thể nói, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đề xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ, dân quyền ở Việt Nam12. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến Phan Châu Trinh sớm hình thành tư tưởng dân chủ, cải cách? Có thể có nhiều nguyên nhân nhưng có thể nêu ra ba nguyên nhân chính: Thứ nhất là về mặt gia đình, Phan Châu Trinh tuy xuất thân là con nhà võ, cha ông có tham gia phong trào Cần vương nhưng lại bị chính những người cùng phái sát hại, và rốt cuộc con đường vũ trang chống Pháp cũng không tránh khỏi thất bại. Thứ hai, quê hương ông ở tỉnh Quảng Nam nằm rất gần hai thương cảng Đà Nẵng và Hội An, là cửa ngõ thông thương và có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc và tiếp thu các tư tưởng  mới từ bên ngoài. Thêm vào đó, Phan Châu Trinh có hơn hai năm sống và làm việc ở Kinh đô nên đã tận mắt chứng kiến bộ mặt hủ lậu và bản chất ươn hèn của vua quan triều đình Huế13. Chính những lý do đó đã thúc đẩy Phan Châu Trinh sớm đoạn tuyệt với tư tưởng phong kiến, kể cả tư tưởng bạo động chống Pháp để hướng đến các tư tưởng dân chủ, tiến bộ hơn.

Ngay trong khoảng thời gian làm việc ở triều đình Huế, Phan Châu Trinh đã tìm đọc các sách có chứa đựng những tư tưởng dân chủ của Phương Tây và thế giới qua các tân thư tân văn của Trung Quốc, Nhật Bản. Nhờ đó, ông hiểu rằng học khoa cử là lạc hậu, nhưng không biết phải khắc phục bằng cách nào. Đến khi được tiếp xúc với tư tưởng mới, ông mới tìm thấy lối thoát. Trong sách Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan Châu Trinh đã kể lại rằng, “năm 1902 (năm Nhâm Dần), tôi được đọc sách mới do ông Đào Nguyên Phổ tặng và lấy làm sướng quá và nói: Đây là lúc dùng cái khùng cái ngu này vậy”14. Từ đó, ông càng hăng hái tuyên truyền chống chế độ phong kiến, nhất là tập đoàn vua quan triều đình Huế, và cổ súy cho tư tưởng dân chủ. Quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh đã đạt đến độ tương đối chín muồi (hoàn thiện) sau mấy năm được đọc các sách mới (tân thư, tân văn), và nhất là được tiếp xúc với nhiều trí thức có tư tưởng tiến bộ ở cả trong và ngoài nước, trong đó có một khoảng thời gian ở Quảng Đông ( Trung Quốc) và Nhật Bản. Tư tưởng đó được thể hiện rất rõ trong thư gửi Toàn quyền Bô (Paul Beau) với tiêu đề Đầu Pháp Chính phủ thư. Trong Thư gửi Toàn quyền Đông Dương Phan Châu Trinh viết: “… một dân tộc đến 20 triệu người, kẻ có học thức cũng đến vài mươi vạn, mà tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn  hèn… đã bao năm nay người Nam ở dưới bóng cờ Bảo hộ, mà đến bây giờ ngày một yếu hèn…15. Sau khi nêu 3 nguyên nhân khiến bộ máy quan lại Nam triều hủ bại,  nhân dân khốn khổ do Chính phủ Bảo hộ dung túng cho quan lại Việt Nam, Chính  phủ khinh rẻ người dân Việt Nam, và Quan lại Việt Nam lợi dụng những kẽ hở ấy mà hà hiếp người dân, Phan Châu Trinh đề nghị chính quyền Pháp cải cách chính trị, thành thực khai hóa cho nhân dân Việt Nam. Ông nhấn mạnh: “ Nếu Chính phủ thật sẵn lòng đổi hết chính sách đi, kén chọn người hiền tài, trao quyền bính cho, lấy lễ mà tiếp, lấy thành mà đãi, cùng nhau lo toan việc lấy lợi trừ hại ở trong nước, mở đường sinh nhai cho dân nghèo, rộng đường ăn nói cho thân sĩ, báo quán cho mở rộng để thông đạt tình dân, thưởng phát cho nghiêm chỉnh để khuyên răn quan lại, còn đến những việc đổi pháp luật, bỏ khoa cử, mở trường học, đặt tòa tu thư, dạy lớp sư phạm, cho đến học công thương, học kỹ nghệ và các ngạch sưu thuế, đều cải lương dần dần, thế thì dân được yên nghiệp làm ăn, sĩ thì vui lòng giúp việc cho Chính phủ”16. Theo Phan Châu Trinh, để chống lại phong kiến Nam triều hủ bại và thực hành chế độ dân chủ ở Việt Nam thì phải tiến hành cải cách toàn diện nhằm vào ba mục tiêu: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Khai dân trí là chống lối học từ chương trích cú, bỏ khoa cử, bài trừ hủ tục; học chữ quốc ngữ; truyền bá những kiến thức khoa học thường thức. Ông chủ trương phải mở trường học, dùng thơ ca, sách vở, báo chí diễn thuyết để mở mang đầu óc con người. Phan Châu Trinh lên án gay gắt chủ nghĩa tôn quân; ông nghiêm khắc chỉ trích chủ nghĩa gia trưởng và những phong tục cổ hủ. Muốn xã hội phát triển thì cần phải phá bỏ mọi thói hư tật xấu. Vượt lên trên tầm nhận thức của nhiều nho sĩ cùng thời, Phan Châu Trinh cho rằng nguyên nhân sâu xa làm cho nước ta bị đế quốc nước ngoài đô hộ là vì dân ta vừa nghèo về kinh tế vừa thua kém về tri thức, hiểu biết. Bởi vậy,  để khắc phục tình trạng đó trước hết cần mở mang dân trí. Phải dùng chữ quốc để học những môn học, những kiến thức khoa học thực dụng, thiết thực đáp ứng yêu cầu của đời sống người dân chứ không phải học những thứ văn thơ phù phiếm của người xưa, nhất là văn chương cử nghiệp của các triều đại phong kiến phương Bắc. Phan Châu Trinh kêu gọi: “ Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quí báu tặng cho đồng bào, là “Chi bằng Học”17. Có thể nói, trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, tư tưởng khai dân trí của Phan Châu Trinh thực sự là một cuộc canh tân, “làm cho dân tộc thay đổi tư duy cũ kĩ để vươn lên tầm nhận thức mới cao hơn, phù hợp với sự phát triển của thời đại”18 .

Chấn dân khí là thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường của người dân, làm cho người dân giác ngộ được quyền và nghĩa vụ của mình để thoát khỏi mọi áp chế phong kiến. Tư tưởng về dân quyền của Phan Châu Trinh càng ngày càng phát triển hoàn thiện, nhất là trong những năm sinh sống và hoạt động ở Pháp nhờ được tiếp xúc nhiều hơn với các tư tưởng dân chủ tư sản. Trong Thất điều thư gửi vua Khải Đinh vào tháng 7 năm 1922, Phan Châu Trinh viết: “Theo các học thuyết Âu châu mà nói, sao gọi là nước? Là hiệp dân lại mà thành nước; sao gọi là triều đình? Là những người được ủy quyền cho, phải thuận theo ý kiến của dân mà làm những việc lợi dân ích nước” 19. Tư tưởng này bắt nguồn từ quan điểm của những nhà khai sáng Pháp như Montesquieu, JJ.Rousseau …khi cho rằng quyền lực không phải do Chúa trời hay Thần thành ban phát mà bắt nguồn từ ý chí của nhân dân. Theo Phan Châu Trinh, lịch sử được làm ra bởi nhân dân; dân chủ có được là do đấu tranh của người dân, bởi vậy phải làm cho dân ý thức được sức mạnh của mình. Có như vậy, nhân dân mới dám đấu tranh chống lại cường quyền và nạn lạm nhũng của chế độ phong kiến để tạo dựng một xã hội dân chủ, trong đó người dân nắm quyền lực tối cao.

Hậu dân sinh là mục tiêu sau cùng nhưng lại quan trọng nhất vì khai dân trí,  chấn dân khí là để vị nhân sinh nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Phan Châu Trinh, muốn thực hiện được mục tiêu này phải xóa bỏ mọi tàn dư, chướng ngại của chế độ phong kiến. Ông chủ trương phát triển công nghiệp, lập xưởng thợ, lập hội khai hoang, mở đồn điền; lập hiệu buôn, mở mang thương nghiệp. Ông đề xuất chương trình lập các hội trồng cây, dệt vải, hội buôn, sản xuất hàng nội hóa, chấn hưng kinh tế đất nước. Phan Châu Trinh nhận thức được rằng để tránh bị lệ thuộc vào ngoại bang, cần phải chấn hưng nghề nghiệp, nâng cao tiềm lực kinh tế, tài chính của đất nước. Để nâng cao đời sống nhân dân còn phải bài trừ các hủ tục, chống mê tín dị đoan, bỏ tệ nạn cờ bạc, rượu chè; xây dựng lối sống lành mạnh, tân tiến như cắt tóc ngắn, để răng trắng, ăn mặc quần áo kiểu Âu châu…Rõ ràng, quan điểm “Hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh đã làm thay đổi căn bản nhận thức của cả giới sĩ phu và người dân Việt Nam lúc bấy giờ về những yêu cầu (dân sinh) thiết thân của cuộc sống con người. Quan điểm đó đã thể hiện tinh thần “vị nhân sinh”, mang tính thực tiễn sâu sắc, thể hiện rõ “tinh thần đổi mới căn bản “ trong tư tưởng của nhà chí sĩ họ Phan.

Để thực hiện cải cách đất nước làm cho dân mạnh nước giàu, Phan Châu Trinh  cho rằng cần phải dựa vào Chính phủ Pháp theo phương châm “ỷ Pháp cầu tiến bộ”. Đã chủ trương dựa vào Pháp, tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ Pháp để duy tân thì không phải cầu viện nước ngoài, không cần bạo động chống Pháp. Quan điểm này  của Phan Châu Trinh khác căn bản so với quan điểm của Phan Bội Châu. Trong khi Phan Bội Châu chủ trương đi tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài (trước hết là Nhật Bản, rồi sau trông cậy vào sự giúp đỡ của Chinh phủ Trung Hoa dân quốc, thậm chí của cả Đức) để tiến hành bạo động đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp giành độc lập dân tộc thì Phan Châu Trinh lại nói: “Không bạo động, bạo động tất chết! Không  trông người ngoài, trông người ngoài thì tất ngu!”20. Giải thích về sự khác nhau này, trong cuộc đối thoại với Thống Đốc Nam Kỳ vào đầu năm 1910 tại nhà ngục Côn Đảo, Phan Châu Trinh đã nói: “Người nước Nam chui núp dưới chính thể chuyên chế đã trên ngàn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập, dẫu có cậy sức nước ngoài, chỉ diễn cái trò “ đổi chủ mà làm đầy tớ lần thứ hai”, không có ích gì. Vả lại, nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh cả hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo…Dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấy. Còn theo chính kiến “ cậy sức nước ngoài” thì nó quanh co khúc chiết, mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình, Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng, người Nhật chắc gì hơn người Pháp”21. Phan Châu Trinh quan niệm chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách đất nước chỉ là một “thủ đoạn” , nói cách khác là biện pháp tạm thời. Ông giãi bày: “Muốn cho quan Pháp tin nên tôi phải lấy thuyết “ý Pháp” để làm đất đứng” . Ông cũng bộc bạch thẳng thắn rằng: “ Tôi chủ trì thuyết “ỷ Pháp” nên thủ đoạn phải đến tự trị. Tự trị là việc lớn không phải chuyện dễ, việc không thành cũng chết…”22.

Như vây, trong hoàn cảnh nước ta ở thế yếu, kinh tế nghèo nàn, trình độ dân trí còn thấp thì không thể đòi độc lập được ngay, mà trước hết cần phải dựa vào Chính phủ Pháp để chống lại bộ máy cường quyền cùng vua quan phong kiến với biết bao thói hư tật xấu, các phong tục tập quán, lối sống cổ hủ, lạc hậu; đồng thời thực hiện đường lối cải cách với phương châm: Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh để phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, giáo dục, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường sức mạnh của đất nước. Đó là một con đường, một hướng đi mới nhằm thoát khỏi thân phận nô lệ của một nước bị đô hộ. Nhưng sai lầm của Phan Châu Trinh cũng như của Phan Bội Châu chính là ở chỗ các ông còn mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, muốn trông cậy vào sự giúp đỡ của nước ngoài và từ bên ngoài để cứu dân cứu nước. Nhận thức sai lầm ấy của hai nhà yêu nước họ Phan sau này đã bị Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh phê phán, và rốt cuộc cũng đều dẫn tới bế tắc và thất bại.

Phan Châu Trinh trong phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX

Phan Châu Trinh là nhà dân chủ đầu tiên, tiêu biểu nhất ở Việt nam đầu thế kỷ XX. Xuất phát từ nhận thức cho rằng tình trạng yếu kém và lệ thuộc Chính phủ Pháp của đất nước ta chủ yếu là do sự hủy hoại, kìm hãm của chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Chính vì vậy, ông đề xướng tư tưởng dân chủ, và kiên quyết chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, xóa bỏ các quan điểm, phong tục tập quán phong kiến hủ bại. Thái độ dám công khai “tuyên chiến” với tư tưởng phong kiến chuyên chế của Phan Châu Trinh là một thái độ dũng cảm, bất chấp mọi thế lực cường quyền. Ông đã từng nói: “Không phải tôi không biết quan Pháp nghi kỵ, quan Nam oán ghét…. Nhưng tôi không sợ hiềm nghi, không nề nguy hiểm chạy ra nước ngoài khi ca, khi khóc ở nước người, đứng giữa bốn bể đều thù địch, lấy sức mình để tranh đấu như sợi tóc ngàn cân, hy sinh tính mạng làm đích cho chúng bắn vào để cầm cái sống trong cái chết, gần đến chỗ chết cũng không hối hận”23. Về tư tưởng phản phong kiến, trước đây, không ít ý kiến cho rằng Phan Châu Trinh mới chỉ tuyên truyền chống lại những mặt xấu xa, hủ bại, lạc hậu của bộ máy quân quyền phong kiến chứ không chủ trương chống lại toàn bộ chính quyền phong kiến, càng không muốn xóa bỏ chế độ phong kiến24. Nhưng căn cứ vào những tài liệu mới thu thập được thì Phan Châu Trinh chủ trương chống phong kiến khá mạnh mẽ và toàn diện, và càng về sau, quan điểm phản phong của ông càng quyết liệt, triệt để hơn. Theo bức thư của viên mật thám Pháp tên là Jolin thì trong cuộc trao đổi giữa Phan Châu Trinh với Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh diễn ra tại Marseille vào tháng 5 năm 1922, “Phan Châu Trinh muốn lật đổ Nam triều để lập quốc hội nước Nam lãnh đạo đất nước cùng với Chính phủ Pháp, không cần có vua nữa, phải làm cho dân Nam hiểu quyền dân và luật pháp để có tự do như dân Pháp”25. Quan điểm dân chủ của Phan Châu Trinh đã có sự phát triển hoàn thiện thêm và được thể hiện rõ qua bài diễn thuyết của ông tại Sài Gòn vào tháng 11 năm 1925 dưới tiêu đề Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa. Theo ông, dân trị tức là pháp trị; muốn xây dựng nhà nước theo mô hình các nước tư bản Âu châu, thì phải thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập. Phan Châu Trinh quan niệm ba quyền đó là “ quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp đều riêng ra, không liên hiệp trong tay một người nào”26. Đã là nhà nước pháp trị, thì khi có điều gì phạm luật, “ người nào cũng như người nấy, từ ông Tổng thống cho đến một người dân nhà quê cũng đều chịu theo pháp luật như nhau”27. Tư tưởng của Phan Châu Trinh về nhà nước pháp quyền là sự phản ánh hình bóng của bộ máy đệ tam cộng hòa đại nghị của Pháp28 mà ông đã có nhiều năm tìm hiểu ngay tại chính quốc. Tư tưởng đó thực chất là tư tưởng dân chủ tư sản. Đánh giá về nội dung này trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, GS.Trần Văn Giàu đã viết: “Đường lối khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đường lối chống chủ nghĩa thực dân Pháp nhằm giành lại độc lập tự chủ, lập chế độ quân chủ lập hiến hay chế độ cộng hòa dân chủ, và nhằm đưa nước nhà phát triển theo Tây phương, thực chất là tư tưởng tư sản chớ không phải cái gì khác”29.

Vào đầu thế kỷ XX, đất nước ta đang chìm đắm giữa đêm trường nô lệ của chế độ thực dân phong kiến. Xuất phát từ tinh thần yêu nước, nhiều sĩ phu yêu nước Việt Nam đã cố gắng đi tìm kiếm các con đường cứu nước khác nhau. Phan Bội Châu và những sĩ phu có tư tưởng bạo động thì chủ trương tập hợp lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang để giành độc lập dân tộc. Còn Phan Châu Trinh lại cho rằng lúc bấy giờ, kinh tế nước ta còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp kém, nên không đủ sức giành lại độc lập từ tay người Pháp. Bởi vậy theo ông, kế sách tốt nhất là phát triển thực lực  làm cho dân giàu nước mạnh bằng cách thực hiện cải cách đất nước theo phương châm Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Ông nói: “Không mở mang dân trí, không để dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị và học hội, thương hội, diễn thuyết là một liều thuốc hay để trị bệnh”30. Bằng cách đó, Phan Châu Trinh đã khai mở một con đường, một hướng đi mới để mong đưa đất nước và nhân dân ta thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ. Để đạt được mục tiêu cải cách đất nước, đòi hỏi phải thay đổi một cách căn bản cả trong tư duy và hành động. Xét trên quan điểm phát triển, tư tưởng và các quan điểm về dân quyền, dân chủ, dân sinh của Phan Châu Trinh mang tính chất cách mạng, và là một bước tiến dài trên con đường tìm kiếm giải pháp cứu nước của các nhà chí sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Phan Châu Trinh nhận thức được rằng, mục đích cuối cùng của Việt Nam là phải giành được độc lập, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng để đạt đến mục đích ấy, trước hết cần phải thức tỉnh ý thức tự cường dân tộc, phải đưa nhân dân thoát khỏi sự chìm đắm, mê muội của chế độ quân chủ chuyên chế. Phan Châu Trinh đề xướng chủ trương “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” là để khẳng định ý thức tự cường dân tộc, rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể “tự khai hóa”31 . Đó cũng là một cách để đối lập và phản đối chính sách “khai hóa văn minh” mà thực dân Pháp và chính quyền thuộc địa ở Đông Dương thường rêu trao tuyên truyền và đầu độc các tầng lớp nhân dân Việt Nam.

Nếu đứng trên quan điểm bạo lực hoặc lấy chủ trương bạo động của Phan Bội Châu làm hệ qui chiếu thì có thể coi quan điểm của Phan Châu Trinh là cải lương32, là “hoạt đầu”. Nhưng đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ, dân quyền, dân sinh của Phan Châu Trinh thực sự có tính tích cực, tiến bộ và cách mạng. Bằng chứng cụ thể là các quan điểm cải cách của ông chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng thu phục được sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân từ sĩ phu tiến bộ đến giới công thương, viên chức, và đông đảo nông dân. Tư tưởng cải cách ấy từ hình thức ôn hòa lúc khởi đầu đã mau chóng biến thành sức mạnh vũ lực quật khởi của nhân dân, trước hết là nông dân chĩa mũi nhọn vào chính quyền thực dân phong kiến nhằm chống sưu, thuế và đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Nếu soi rọi vào thực tế đó thì không thể cho rằng Phan Châu Trinh là nhà cải lương, rằng ông “không tin tưởng ở quần chúng nhân dân”33.

*

Rõ ràng, Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệt thành, sâu sắc, một người có tư tưởng dân chủ cấp tiến nhất trong các sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Không sợ hy sinh, gian khổ, bất chấp mọi cường quyền, thủ đoạn, cũng giống như Phan Bộii Châu, Phan Châu Trinh đã suốt đời hoạt động và đấu tranh kiên trì cho mục đich vì dân vì nước. Ông đã từng nói về Phan Bội Châu nhưng cũng là những lời gan ruột tự nói về mình: “Phan Bội Châu là người rất phụ khí, dám làm việc lớn mà không tiếc thân, sức tự tin rất mạnh, bắt buộc chủ nghĩa nào đã làm dầu đến chết cũng không thay đổi” và ông thừa nhận rằng “Tôi  (tức Phan Châu Trinh – TG) cũng thế”34. Để  cho khách quan hơn, xin dẫn ra đây nhận định của nhà Việt Nam học hàng đầu của Pháp – GS. Daniel Hémery: “Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh theo tôi là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hóa và chính trị Việt Nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề (les problèmatiques) đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải và mãi mãi còn phải đảm nhận”35. Những nan đề ấy chính là các vấn đề dân chủ, dân trí, dân sinh. Có thể nói, mặc dù còn có những hạn chế, thậm chí sai lầm nhất định nhưng Phan Châu Trinh đã dành cả cuộc đời mình, một lòng một dạ dũng cảm dấn thân và kiên trì tranh đấu cho tương lai của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân bất chấp tù dày, gian khổ, cường bạo. Hình ảnh của Phan Châu Trinh với “ Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió đã gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói”36 như lời ca ngợi của Phan Bội Châu khi ông tạ thế, mãi mãi là tấm gương sáng chói trên con đường cải cách và phát triển đất nước, vì Tổ  quốc Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

————————-

  • GS,TS. Khoa Lịch sử , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.

1 Trần Văn Giàu (chủ biên) (1957): Lịch sử Việt Nam, Nxb. Xây Dưng, Hà Nội, tr.218.

2 Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) (1985): Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.121.

3 Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) (1985): Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.122.

4 Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh): Phan Châu Trinh qua giới thiệu những tài liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, Tập 1: 2001, Tập II: 2003.

5 Phan Châu Trinh (2005): Toàn tập, Nxb. Đà Nẵng.

6 Điều này ông viết trong Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Nxb.Đà Nẵng, tr.289.

7 Theo Lời giới thiệu Thơ văn Phan Châu Trinh trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập 1, Sđd, tr.16

8 Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà nẵng, Quyển 1 tập 1, tr.87, 88.

9 Đây là theo lời kể của Phan Châu Trinh do Huỳnh Thúc Kháng ghi lại. Xem Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Sđd, tr.154.

10 Xem Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Nxb. Văn Học. Tác phẩm Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam của Phan Châu Trinh được giới thiệu trong cuốn sách trên của Nguyễn Q Thắng từ trang 251 đến trang 285. Ngoài ra, có thể tham khảo thêm Phan Châu Trinh Toàn tập, Tập 1, Sđd, tr.28 và 30.

11 Albert Sarraut (1872-1962) đã hai lần làm Toàn quyền Đông Dương vào các năm 1911-1914 và 1917-1919.

12 Nguyễn Văn Xuân(1995): Phong trào Duy tân, Nxb. Đà Nẵng, tr.107

13 Trần Văn Giàu (chủ biên) Lịch sử Việt Nam, sđd, 1975, tr.215.

14 Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Nguyễn Q.Thắng,  Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, NXB Đà Nẵng, 1992, tr.269

15 Phan Châu Trinh toàn tập, tập II, NXB, Đà Nẵng, 2005, tr.53

16 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, Sđd, tr.64.

17 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, Sđd, tr. 69.

18 Trần Mai Ước (2013): Từ tư tưởng “ Khai dân trí” của Phan Châu Trinh suy nghĩ về đổi mới giáo dục ở

nước ta hiện nay trong Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 42, năm 2013, tr.115.

19 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập III: Nxb. Đà Nẵng, tr.

20 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập II, tr.69.

21 Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2001): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, Quyển 1 tập 1, Sđd, tr.153.

22 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.275.

23 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr. 271.

24 Trần Văn Giàu (chủ biên) (1957): Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.241.

25 Theo mật thư cuả mật thám Jolin gửi Guesde ngày 11/5/1922. Tài liệu 403, SPCE 373, CAOM trong Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2003): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Tập II, Nxb. Đà Nẵng, tr.284.

26 Nguyễn Văn Dương (1995): Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB. Đà Nẵng, tr. 817.

27 Nguyễn Văn Dương (1995): Tuyển tập Phan Châu Trinh, Sđd, tr.816.

28 Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập I, Sđd, tr.41.

29 Trần Văn Giàu (1975): Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, Tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.120.

30 Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.276.

31 Trần Mai Ước (2012): Tư tưởng chính trị của Phan Chau Trinh, Triết học, số 9 (256), tr.92.

32 Tôn Quang Phiệt (1958): Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhan dân Việt Nam, Nxb.Văn Hóa, Hà Nội, tr.70

33 Chương Thâu (1982): Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, Nxb.Hà Nội, tr.87.

34 Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam trong Nguyễn Q Thắng (1992): Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Sđd, tr.273.

35 Dẫn theo Nguyên Ngọc (2002): Kỷ yếu Tọa đàm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh, Tam Kỳ, Quảng Nam, tr.71.

36 Điếu văn của Phan Bội Châu trong Phan Châu Trinh Toàn tập (2005), Tập I, Sđd, tr.74, 75.

Kiến trúc nghề truyền thống của gia đình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

KIẾN TRÚC NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: KTS Tôn Đại là con trai cả của Trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh là Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình một hiệu trưởng của trường Thăng Long (Ngõ Trạm). Bài đăng trên tạp chí Kiến trúc (của Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam) số 274 tháng 2/2018 từ trang 37 đến trang 39.

—o0o—

Gia đình tôi có 5 người làm nghề kiến trúc. Đó là vợ chồng tôi: Tôn Đại và Nguyễn Thị Thanh Thủy, con gái út của tôi – Tôn Ánh Hồng, hai cháu ngoại là Nguyễn Phi Anh và Vũ Tôn Thiên Châu. Một cháu nữa cũng có năng khiếu hội họa, nhưng cháu lại thích nội thất hơn nên đã không học kiến trúc. Nhiều năm gắn bó với nghề, nhiều thế hệ gắn bó với nghề – nên có thể nói: Kiến trúc là nghề truyền thống của gia đình tôi.

Hai vợ chồng tôi cùng học lớp Kiến trúc Khoa xây dựng, trường Đại học Bách Khoa, khóa 1 (từ năm 1956-1961). Chúng tôi được học vẽ với những nghệ sĩ nổi tiếng của nước ta – Cô Nguyễn Thị Kim – Nhà điêu khắc nổi tiếng và thày – Giáo sư Ngô Huy Quỳnh dạy vẽ chúng tôi nhiều nhất. Thày Quỳnh đưa chúng tôi đi vẽ tại các địa điểm tham quan như: Chùa chiền, công trình cổ và các công trình kiến trúc Pháp tại Hà Nội… Sinh viên lớp chúng tôi được tập thói quen đi đâu cũng vẽ ký họa. Có lần đi thực tập ở Lào Cai, ra bờ sông vẽ ký họa chiếc cầu biên giới còn suýt bị công an biên phòng bắt.

Năm 1961, sau khi ra trường, tôi được làm việc tại Cục Thiết kế Dân dụng, Thanh Thủy làm tại Viện Quy hoạch. Tôi thiết kế các công trình kiến trúc dưới sự chỉ dẫn của KTS Đoàn Ngọ. Tôi và hai anh Trịnh Hồng Triển và Nguyễn Kim Chi thường được cơ quan giao vẽ những công trình để triển lãm ở trong nước hay đưa đi nước ngoài. Còn Thanh Thủy thì được giao làm Xưởng trưởng Xưởng Cây xanh, giải quyết vấn đề kiến trúc cảnh quan, thường xuyên đi công tác các tỉnh. Có lần thiết kế cảnh quan cho Lăng Bác Hồ, xưởng phải vào tận các tỉnh miền Nam mua cây và chở ra bằng 2 máy bay quân sự. Công trình này được tiến hành như một chiến dịch, từ khảo sát ở các tỉnh, mua cây, vận chuyển ra Hà Nội, thi công suốt, đêm vận chuyển cây từ sân bay về công trình và trồng cây lớn vào những hố đào sẵn theo thiết kế. Khi Thanh Thủy làm Giám đốc, Trung tâm Kiến trúc Phong cảnh của Hội KTS Việt Nam đã nhận đề tài khoa học “Tổ chức quản lý môi trường cảnh quan đô thị” (KC11-11). Đề tài được Hội đồng đánh giá xuất sắc. Có hai thực nghiệm của đề tài này là Làng Kiến trúc phong cảnh và Trà Hoa Viên: Làng kiến trúc phong cảnh được hoàn thành với 24 ngôi nhà 2 tầng, Trà Hoa Viên thì lần lượt được xây dựng ở Triển lãm Giảng Võ, Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng và ở Võng Thị bên bờ Hồ Tây. Ngoài ra, Thanh Thủy còn xây dựng Vườn Văn, một vườn cảnh lớn 1 ha ở quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Thủy cũng hay vẽ ký họa những cảnh, những cây mình thích, sưu tầm các đóa hoa, lá cây thành những bộ sưu tập để làm tài liệu thiết kế và dạy học. Là TS.KTS, bà cũng hướng dẫn một số luận văn thạc sỹ và phản biện những luận văn Cao học Kiến trúc. Hoạt động đoàn thể rất nhiệt tình, Thanh Thủy bao giờ cũng tích cực bênh vực quyền lợi phụ nữ, luôn luôn ở trong BCH Công đoàn bộ và đảm nhiệm nữ công. Bà cũng rất yêu nghề. Đi trong vườn cây, nâng niu từng đóa hoa, chăm sóc từng khóm cây, dường như đó là những giây phút hạnh phúc nhất vì tôi thấy nét mặt Thủy tươi vui rạng rỡ.

Thế hệ KTS thứ hai trong gia đình tôi là ThS.KTS Tôn Ánh Hồng. Theo nghề của mẹ Thủy, Ánh Hồng là một KTS phong cảnh. Hồng đã cùng mẹ viết cuốn sách Kiến trúc Phong cảnh Việt Nam. Được đào tạo ở đại học Xây dựng, Ánh Hồng cũng ham hội họa, vẽ nhiều tranh thuốc nước và ký họa. Hội họa cũng giúp nhiều cho việc sáng tác kiến trúc cảnh quan và cả thiết kế công trình. Hồng có năng khiếu âm nhạc, một KTS ham hội họa và âm nhạc thì tâm hồn sẽ phong phú, sáng tạo kiến trúc sẽ thuận lợi hơn. Cũng như bố và mẹ, Ánh Hồng cũng tham gia giảng dạy ở đại học, hướng dẫn đồ án cho sinh viên kiến trúc. Vì có vốn ngoại ngữ Nga, Anh, Pháp khá tốt nên Tôn Ánh Hồng còn có kế hoạch dịch một số tác phẩm kiến trúc cảnh quan nổi tiếng để làm tài liệu thiết kế và giảng dạy cho các KTS và sinh viên kiến trúc.

Thế hệ KTS thứ ba trong gia đình tôi là KTS Nguyễn Phi Anh, cháu ngoại tôi. Mẹ của Phi Anh là cô giáo Tôn Nữ Ánh Ngọc, chị gái của Ánh Hồng. Phi Anh học kiến trúc tại Đại học Xây dựng, tốt nghiệp năm 2011, đang làm việc tại Phòng Kỹ thuật Xây dựng Cục phục vụ ngoại giao đoàn – Bộ Ngoại giao. Phi Anh cũng say mê hội họa. Chồng là nhà tạo mẫu túi thời trang, Phi Anh giúp chồng trong việc tạo mẫu và vẽ những hoa văn, những hình trang trí lên mẫu rất rực rỡ và sinh động. Mỗi năm tết đến, Phi Anh lại vẽ tặng ông bà ngoại một hình con giáp của năm một cách ngộ nghĩnh, phản ánh óc hài hước của một nghệ sỹ.

Thế hệ thứ ba của gia đình còn có Vũ Tôn Thiên Châu, con gái của Ánh Hồng. Cháu Châu hiện đang học Khoa Kiến trúc trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Hồi nhỏ cháu thường vẽ những tranh ngộ nghĩnh tặng ông. Nay là một sinh viên kiến trúc, cháu say sưa vẽ ký họa bằng chì và bút sắt. Hồi nhỏ cháu đã tỉ mỉ làm mô hình những ngôi nhà bằng giấy cứng tặng ông, nay lại say sưa làm các mô hình thể hiện đồ án môn học.

Gia đình chúng tôi yêu nghề kiến trúc, nhiều thành viên của gia đình làm nghề nên có thể trao đổi nghiệp vụ cho nhau dễ dàng, trao đổi kinh nghiệm cho nhau thường xuyên. Các tài liệu sách báo có thể sử dụng chung, không lãng phí. Thêm vào đấy, hội họa, âm nhạc cũng là truyền thống, làm chúng tôi thêm gắn bó. Mỗi lần họp gia đình là ồn ào, tưng bừng. Yêu nghề kiến trúc đối với chúng tôi còn là yêu chính gia đình mình, cuộc sống thật thú vị và hạnh phúc.

Vợ chồng tôi và con gái Ánh Hồng đều là KTS nhưng cũng là những thày, cô giáo. Đó là truyền thống của ba tôi để lại, ông là một trong những Hiệu trưởng Trường Thăng Long nổi tiếng. Cái nghề thầy giáo đã truyền đến chúng tôi, cô con gái lớn Ánh Ngọc của tôi không là KTS nhưng là cô giáo giảng dạy Văn ở trường phổ thông. Nghề nghiệp của gia đình là một vốn quý giá. Chúng tôi may mắn có được nghề KTS và nghề giáo – Có lẽ, sẽ không dừng ở 3 thế hệ KTS, gia đình chúng tôi sẽ cố gắng gìn giữ truyền thống quý báu này.

PGS.TS. KTS Tôn Đại

Thăm biệt thự Hoa Đường

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

THĂM BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Ngày 14-4-2018 tức 29-2 Mậu Tuất, chúng tôi gồm cháu nội và cháu ngoại của cụ Phạm Quỳnh sau khi thắp nhang tương niệm ở khu mộ đã tìm về biệt thự Hoa Đường ở Huế , nơi ông chúng tôi  đã sống những ngày cuối cùng của đời mình. Chúng tôi đi dọc theo sông An Cựu, hỏi rất nhiều người về ngôi biệt thự xưa  nhưng không một ai biết. Chỉ có một chi tiết của ngôi biệt thự mà chúng tôi đã nghe nói là cái château d’eau (tháp nước) cũ, dấu tích duy nhất còn lại để chúng tôi tìm. Đi mãi, vòng đi vòng lại vẫn không thấy.

Cuối cùng, may mắn chúng tôi tìm được một bác xe ôm già có biết “ biệt thự của cụ Thượng”. Bác vui vẻ, tận tình đi trước dẫn đường cho xe chúng tôi theo. Cái tháp nước cổ đây rồi! Nhưng khung cảnh chung quanh hoàn toàn khác hẳn với trí tưởng tượng của chúng tôi Đó là những căn nhà nhếch nhác, luộm thuộm, không còn chút bóng dáng nào của ngôi biệt thự xưa. Hỏi những người sống ở đó cũng không ai biết đây là biệt thự Hoa Đường . Họ đều là những người ở nơi khác đến.

Còn một bến đò nhỏ trên bờ sông An Cựu trước biệt thự Hoa Đường, nhân dân quanh vùng quen gọi là “Bến Cụ Phạm” hoặc “Bến Cụ Thượng”.

Trong lòng chúng tôi trào lên một nỗi thương cảm, ngậm ngùi . Chỉ còn biết ghi lại vài tấm ảnh với cái château d’eau cổ, “chứng nhân” của một thời kỳ huy hoàng cho đến những ngày cuối đời của ông chúng tôi ở nơi ông đã viết nên những trang bất hủ trong “Hoa Đường tuỳ bút”!

Nhà giáo Nhân Dân

Tôn Thất Thân

Biết ơn những con người nhân hậu mà dũng cảm

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

 

 BIẾT ƠN

    NHỮNG CON NGƯỜI NHÂN HẬU MÀ DŨNG CẢM

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: “Quý II/2012, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân cho ra tập 2 sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan tuyển chọn và biên tập. Các trang 272 đến 284 có đăng bài trên đây của Phạm Tôn đã lên Blog PhamTon từ tuần 1 tháng 9 năm 2012.

—o0o—

Những người biết rõ về Thượng Chi – Phạm Quỳnh thì rất nhiều. Vì Ông là một nhân vật nổi bật hồi nửa đầu thế kỷ XX trong cả nước ta với những hoạt động đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ người Việt Nam. Nhưng, những ai dám lên tiếng nói rõ sự thật về Ông khi Ông đang bị chôn vùi cả thể xác lẫn danh dự hơn nửa thế kỷ qua thì chẳng được mấy người… Vì lẽ đó, con, cháu, chắt trong đại gia đình Phạm Quỳnh thật vô cùng biết ơn những Con Người nhân hậu mà dũng cảm đó. Và những người có lương tri cả nước đều vui mừng đón nhận mỗi bằng chứng quí giá, cũng như những đánh giá công bằng, xác đáng mà các vị dám đưa ra công luận và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc công bố đó trước nhân dân, lịch sử.

Chúng tôi vô cùng biết ơn giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, các nhà nghiên cứu Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Phạm Thị Nhung, Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Đầu, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Vương Trí Nhàn, giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Bá Đĩnh, Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Văn Chánh, Khúc Hà Linh các nhà văn, nhà thơ, dịch giả Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quốc Chiến, Trần Đăng Khoa, Khúc Hà Linh, Hà Khánh Linh, Xuân Ba, Lê Minh Khuê, Hồng Thanh Quang, Trần Chiến, các nhà giáo Nguyễn Thúc Chuyên, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Đức Thuận, Vũ Thế Khôi, nhà báo Thép Mới, Thanh Tùng, Lại Văn Sâm…

Chúng tôi biết ơn nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý (1900-1994). Ông là người bạn thân thiết, lại là người bà con với Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh thuộc họ bên ngoại nhà ông. Ngày 19/4/1991, ở tuổi đại thọ ông đã mời nhạc sĩ Phạm Tuyên đến nhà và vừa nói về thân phụ nhạc sĩ vừa cho xem các văn bản cổ và đọc cho nghe các bản do chính ông dịch ra quốc ngữ: Trích gia phả họ Hoàng Đạo, phụ bên ngoại (do Hoàng Đạo Thành biên soạn, viết), Phả ký học trò viết (do Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết) ghi lại thành một cuộn băng ghi âm đầy. Sau đó, ông còn cẩn thận viết ngày 16/7/1991 và gửi cho nhạc sĩ một bản Các việc tiếp theo. Nhờ đó mà gia đình biết rõ về hoàn cảnh gia đình và cuộc sống của Phạm Quỳnh từ nhỏ tới lớn. Ông còn cẩn thận vẽ cả sơ đồ căn nhà Phạm Quỳnh ở từ khi chào đời cho dến năm 1918. Là người bạn tâm giao, ông biết rõ và từng can dự vào các bước ngoặt trong cuộc đời Phạm Quỳnh, kể cả việc quyết định vào Huế tham chính và từ bỏ nghề báo. Chính Hoàng Đạo Thuý đã viết bản tham luận bảy trang sẽ đọc tại cuộc hội thảo do Viện Văn học dự định tổ chức năm 1992 tại Hà Nội.

Chúng tôi cũng biết ơn nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Đúng lúc đứng ở đỉnh cao danh vọng và uy tín lớn với hàng trăm tác phẩm nổi tiếng được nhân dân cả nước yêu mến, năm 1972 nhà văn lão thành cho ra mắt giữa thủ đô Hà Nội cuốn Đời viết văn của tôi (Nhà xuất bản Văn Học, in 3.200 cuốn) trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác nên truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Phần đó như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.” Sau khi phát hành ít lâu, cuốn sách ấy bỗng “biến mất” trên các giá sách cả ở các hiệu sách lẫn các thư viện, tủ sách phục vụ công chúng. Mãi đến năm 1996, mười năm sau đổi mới, mới lại thấy sách ấy được Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản, nhưng với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn! Nhưng, hai trang 181-182 vẫn còn nguyên phần nói về việc nhà văn đã viết Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Người “chịu trách nhiệm xuất bản” là Đinh Quang Nhã. Hồi Nhà xuất bản Văn Học in năm 1972 tại Hà Nội, chưa có “chức danh” này.

Con, cháu, chắt Phạm Quỳnh còn biết ơn Thiếu tướng Phan Hàm.

Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng viết ngày 8/11/1993, Tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận chiều 14/11/1993, xin trích đăng phần Thiếu tướng kể về việc đi bắt Phạm Quỳnh để bạn đọc có điều kiện biết được sự thật đã xảy ra như thế nào. Thiếu tướng Phan Hàm viết như sau:

“Tôi chỉ xin kể lại việc đi bắt Phạm Quỳnh. Còn các nơi khác không rõ chi tiết, chỉ biết chung chung:

“Tôi nhận lệnh, nghiên cứu thì được biết thêm là trong nhà Phạm Quỳnh cũng như nhà Ngô Đình Khôi đều có rất nhiều súng ống. Vì vậy buổi sáng hôm ấy, anh Hồ và tôi phải cải trang đi trinh sát địa hình trước. Kết quả chỉ biết được đích xác nhà (biệt thự Hoa Đường), sân, còn trong nhà không rõ. Đến trưa, ông Phan Tử Lăng trực tiếp chỉ thị cho tôi: đến trại Bảo An binh, ông ta sẽ phối thuộc cho hai tiểu đội lính Bảo An (một tiểu đội do tôi chỉ huy, một tiểu đội cho anh Việt chỉ huy) để giúp vào việc đi bắt hai tên Việt Gian đầu sỏ này. Ông ta còn nói thêm: “Bắt được rồi đem về lao Thừa Phủ, rồi báo xuống sân vận động Huế người ta biết, mở màn cuộc mít tinh.”

“Mệnh lệnh rất ngắn mà chúng tôi mang theo chỉ thấy nói “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Tôi được trang bị một khẩu súng lục St.Etienne 6.35. Khi xe của tôi vòng vào sân, thấy Nguyễn Tiến Lãng trong nhà chạy ra. Lúc bấy giờ trên áo tôi đã có cái băng cờ đỏ sao vàng nên Lãng biết, toan chạy. Tôi đưa súng lên bắn thì kẹt đạn, nên bắt lên xe luôn. Anh Hồ lên lầu bước vào phòng Quỳnh đang chuẩn bị nghỉ trưa. Đưa giấy “mời” ra ông ta thản nhiên đứng dậy mặc áo ra đi.

“Tôi lục soát khắp nhà (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) chẳng thấy súng đạn đâu cả ngoài khẩu súng săn cỡ 12 ly của con trai ông ta và ít đạn săn. Con trai của ông ta là Phạm Khuê cũng đi dự mít tinh, ở nhà chỉ còn hai cô con gái là học sinh trường Khải Định trước đây” (…) “Đây là ý kiến tôi muốn đóng góp với những bản tổng kết quân sự, Đảng, chính quyền của tỉnh nhà.

Nhớ đâu viết đấy. Miễn là nói lên sự thật (Chúng tôi nhấn mạnh-PT)”

Người thứ tư chúng tôi biết ơn là bà Phạm Thị Minh, tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Châu Trinh, nguyên đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại Ý và một số nước châu Âu như Luxembourg v.v…. Nhân sang Pháp tìm tư liệu về ông ngoại mình, bà đã tìm thấy và “tặng” lại cho tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn sống ở Pháp tờ sao chụp Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant là tư liệu chứng tỏ Phạm Quỳnh đã chống Pháp và yêu nước như thế nào.

Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…

Gặp hai con gái Phạm Quỳnh ở Pháp là Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn, bà đã kể lại chuyện gặp nhà văn Sơn Tùng, được nghe ông nói về tình thân giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh và còn cẩn thận viết tay một bản xác nhận chuyện đó, không e ngại gì. Toàn văn bản viết tay như sau:

GHI LẠI TẶNG CHỊ PHẠM NGOẠN VÀ PHẠM HOÀN

            Tôi là Lê Thị Kinh tức là Phan Thị Minh, trước khi đi qua Paris tôi có gặp ông Sơn Tùng là một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử đồng thời là thương binh loại nặng (co rút cả hai tay) đã vui lòng kể cho tôi một số chuyện ông được nghe qua cụ Đào Nhật Vinh (tức Bùi Di, tức Bùi Lâm) ngày xưa đã gần gũi cụ Hồ thời kỳ cụ Hồ còn tên là Tất Thành đi làm trên tàu thủy (cùng đi với nhau từ Argentine đến Terre de feu, được Tất Thành dạy học chữ quốc ngữ). Sau ông này về làm adjudant ở bệnh viện Val de Grâce, hay đến 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường (hai ông nghè ta và tây) và Nguyễn Ái Quốc… Ông Đào Nhật Vinh kể lại: lúc đó ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương – PT ghi chú) đưa bản án đề nghị “xử tử Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh” thì cụ Hồ đã bác(Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Ông Vinh ỷ thế là chỗ thân tình đã chạy vào phản đối: “Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân và những tên đã chống phá cách mạng?” Cụ Hồ đã trả lời nghiêm nghị: “Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú xồn xồn lên như vậy. Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới, tôi quyết định như vậy là đúng…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra, vào gặp cụ Hồ và báo “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… đó không phải là người xấu!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Tôi đi nghiên cứu ở Archives d’Outre Mer ở Aix-en-Provence có thấy được một số báo cáo của agents của mật thám Pháp báo là đầu tháng 5-1922 có một cuộc gặp của cụ Phan Châu Trinh với cụ Phạm Quỳnh và ông Nguyễn Văn Vĩnh mà nó không ghi được nội dung, chỉ nghe được ông Vĩnh kể lại nhưng chúng không tin và có tin hai người này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – PT ghi chú) có gặp ông Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) tại Paris hoặc ở Tours nhưng nó không ghi được nội dung. (Đó là năm 1922 khi hai người qua dự đấu xảo thuộc địa tại Marseille). Sau đó ông Nguyễn Văn Vĩnh ở lại mấy tháng, được ông Phan Văn Trường đưa đi Mayence, Berlin, Vienne rồi mới trở về Pháp và về Việt Nam.

                                                                                                                 Paris 20-1-1994

                                                                                                                  Phan Thị Minh

Người cuối cùng, chúng tôi biết ơn là Nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng. Biết nhà văn qua tư liệu của bà Phan Thị Minh và còn biết cả chuyện ông định công bố tư liệu động trời về việc Hồ Chủ tịch phản đối việc sát hại Phạm Quỳnh tại hội thảo về Phạm Quỳnh năm 1992 do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội, nhạc sĩ Phạm Tuyên và một người anh vợ, nguyên biên tập viên Nhà xuất bản Sự Thật, đã đến gặp. Nhưng không may, phải lúc nhà văn bệnh nặng, không tiếp được. Mãi sau này, đến năm 2008, nhà văn Sơn Tùng mới có sức khoẻ và có thời giờ viết hẳn 20 trang chép tay về “bậc danh nhân văn hoá” Thượng Chi – Phạm Quỳnh để “ký thác” cho nhạc sĩ Phạm Tuyên và đồng ý cho công bố trên Blog PhamTon.

Sau đó, chúng tôi đã chia làm bốn phần và tự đặt đầu đề để bạn đọc dễ theo dõi với lời dẫn và lời bình của chúng tôi. Bao gồm Phần I: “Bất tất nhiên”, Phần II: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? (…) đó không phải là người xấu!”, Phần III: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…”, Phần IV: Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chức “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc”.

MẤY LỜI KÝ THÁC

Thân gửi: Nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí.

Thưa Anh,

Đời cầm bút của tôi: viết báo, viết văn, chí thành với đề tài lịch sử và danh nhân Bác Hồ.

Sống trước viết.

Từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1970, tôi dấn thân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước; xông pha khắp ba miền Bắc-Trung-Nam tìm tòi, tích lũy vốn sử liệu về các nhân vật lịch sử ,sự kiện, khảo sát, khảo chứng,… Năm 1971, tôi bị thương nặng trong trận giặc Mỹ đánh phá quyết liệt vùng hậu cứ miền Đông Nam Bộ. Sau gần một năm cáng thương qua Trường Sơn, tôi được về lại Thủ đô Hà Nội.

Chiến tranh có kết thúc. Vết thương chiến tranh trên cơ thể chỉ khép lại khi người mang vết thương ấy tắt nghỉ! Gần 40 năm qua, vừa vật lộn với vết thương mỗi khi tái phát hành hạ, vừa moi cái vốn tích lũy được mà viết, viết cho vơi bớt nỗi đau! Cho đến ngày hôm nay, tôi mới viết được trên 20 đầu sách, đã xuất bản. Bản thảo còn đang viết tiếp, vốn có rồi mà chưa viết được bao nhiêu; một số bậc danh nhân trong đó có danh nhân văn hóa Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã chuẩn định mà chưa thực hiện được. Giờ đây, tôi đã ngoài tám mươi, liệu còn làm xong được những chuẩn định? Vì vậy tôi thành tâm chép lại những điều tôi sưu tầm được về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh, xin trân trọng ký thác tới gia đình bậc danh nhân văn hóa Phạm Quỳnh. Ngày 27/3/2011, biết tin nhà văn không được khoẻ, bệnh mới trở nặng, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã đến thăm. Bên giường bệnh, bà Mai vợ nhà văn cho biết ông vừa qua cơn bạo bệnh, nay đã tỉnh táo, nghe được mà chưa nói được, nhưng “tin là ông sẽ dần bình phục như đã từng vượt qua bao lần thập tử nhất sinh trong đời”.

Chúng tôi tin rằng vẫn còn nhiều Con Người nhân hậu, biết rõ về cuộc sống và cả cái chết “bí ẩn” của Thượng Chi – Phạm Quỳnh… Và mong rằng các vị có tấm lòng nhân hậu ấy có thêm chí dũng cảm như những vị trên đây, mạnh dạn nói ra điều mình biết rất rõ mà bao năm nay vẫn phải canh cánh giữ trong lòng, rấm rứt trong dạ, khi biết mà chưa nói ra để người hiền hàm oan hơn nửa thế kỷ. Nếu được như vậy thời sẽ làm sáng tỏ được mọi “uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong” (Tên một bài viết của nhà văn Xuân Ba trên báo Tiền Phong năm 2005) trả lại cho ông đúng vị trí của mình trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử văn học nước nhà, tránh cho thế hệ trẻ, tương lai của đất nước khỏi lầm lẫn và có thêm một tấm gương trung với nước, hiếu với dân ngời sáng để noi theo.

Con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh và tất cả những người dân Việt lương thiện, yêu nước thương nòi cũng sẽ biết ơn các vị đã có lòng nhân hậu, lại thêm cái chí dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, dám bảo vệ sự thật lịch sử về Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Đó cũng là một cách góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thật sự.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2011

(Bổ sung 26/2/2017)

P.T.

Tháng Tư 13, 2018

Diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018

Filed under: Ý kiến,Liên hệ — phamquynh @ 9:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 2 tháng 4 năm 2018

DIỄN TỪ GIẢI VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH 2018

NGUYÊN NGỌC

Lời dẫn của Pham Tôn: Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 đã được đưa tin trên các báo Tuổi Trẻ, Phụ Nữ Việt Nam, Thanh Niên, thesaigontimes.vn, laodong.vn, nangluongmoi.vn, thongtinvanhoa.vn, nguoidothi.net.vn… Trên Kinh tế Sài Gòn Online có đưa tin (Chủ nhật 25/3/2018) như sau:

“Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần XI – 2018 tổ chức vào tối 24-3 tại TPHCM đã tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại”. (…)

Nguyen Ngoc chup voi Pham Tuyen

“Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh mang tên nhà văn hóa lỗi lạc Phan Châu Trinh (1872-1926). Quỹ được thành lập với sứ mệnh “Góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”. Quỹ trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, do một nhóm các trí thức tâm huyết với văn hóa của nước nhà thành lập.

Việc trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh hàng năm là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng của quỹ nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh là một trong những hoạt động văn hóa quan trọng thường niên của Quỹ bao gồm 4 hạng mục: Giải Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục, Giải Nghiên cứu, Giải Dịch thuật, Giải Việt Nam học.

Hội đồng Khoa học Quỹ bao gồm 11 thành viên: Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc – Chủ tịch, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn – Phó chủ tịch; các ủy viên gồm: Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn, GS.TS Huỳnh Như Phương, GS.TS Nguyễn Văn Trọng, GS.TS Lê Ngọc Trà, GS.TS Nguyễn Kim Sơn, PGS.TS Trần Hữu Quang, Họa sỹ Lương Xuân Đoàn, TS. Vũ Thành Tự Anh, TS. Nguyễn Đức Thành.”

Sau đây là toàn văn diễn từ Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018 do nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyên Ngọc trình bày tại buổi lễ

—o0o—

Giữ lời hẹn đúng từ ngày này năm trước, chúng ta lại gặp nhau, cũng trong căn phòng ấm cúng này, để chào mừng những vị tân khoa của giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018, năm thứ 11 của Quỹ và của Giải. Cho đến giờ phút này, chúng tôi nghĩ đã có thể nói lần nữa chúng ta lại có được một mùa giải đẹp.

Trước hết xin nói về giải dịch thuật. Hẳn chúng ta còn nhớ Giải Phan Châu Trinh đã bắt đầu bằng một giải dịch thuật, rồi sau đó mới mở rộng thêm các hạng mục khác, và điều ấy không hề ngẫu nhiên. Ngay từ đầu, chúng ta đã coi việc chuyển cho được sang tiếng Việt, cho người Việt và xã hội Việt, từng bước mà khẩn trương, từng bước dần cho đến toàn bộ tài sản trí tuệ tinh hoa của nhân loại là công việc vô cùng quan trọng, tới mức có tính quyết định đối với phát triển của đất nước. Cũng là thực hiện tâm nguyện khai sáng từ hơn trăm năm trước của Phan Châu Trinh. Dịch giả Nguyễn Tùng, người nhận giải ở hạng mục này năm nay có một câu nói tôi xin phép nhắc lại ở đây. Ông nói: ‘’ … chừng nào Việt Nam chưa dịch được hàng trăm cuốn sách được xem là tinh hoa của thế giới về triết học, nhân học, xã hội học v.v. thì chừng đó Việt Nam chưa có được một nền đại học đúng nghĩa về xã hội và nhân văn …’’ Quả hoàn toàn đúng, và không chỉ đối với lĩnh vực xã hội nhân văn ở Việt Nam, cũng không chỉ đối với đại học ở nước ta. Hẳn là từ mối lo sâu xa và đầy trách nhiệm và một tâm thế như vậy mà Nguyễn Tùng đã bắt tay vào công việc dịch thuật vốn không phải là chức trách chính của ông, lại hết sức khó khăn, bởi ông luôn chọn dịch những tác phẩm quan trọng nhất nhưng cũng vào loại khó nhất của những tác giả kinh điển quan trọng nhất nhưng cũng khó nhất trong lĩnh vực dân tộc học, nhân học, xã hội học, kinh tế học. Những cuốn sách như vậy là thiết yếu để đặt nền tảng căn bản cho khoa học xã hội và nhân văn trong nước. Bắt đầu là cuốn ‘’Luận về biếu tặng. Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ’’ của Marcel Mauss, người được coi là cha đẻ của ngành nhân học ở Pháp và là một trong những người sáng lập ngành nhân học trên thế giới. Mauss nhận xét rằng hành vi biếu tặng và đáp tặng trong các xã hội cổ xưa là theo nguyên tắc tương hỗ, có đi có lại, chính là hình thức kinh tế thị trường thời cổ sơ, nó thay thế hoàn toàn hệ thống mua bán bằng sự biếu tặng lẫn nhau … Bằng nhận xét tinh tế và sâu sắc, Mauss phê phán và bác bỏ việc đề cao một cách máy móc những lô gích của nền kinh tế thị trường hiện đại … qui giản con người chỉ còn là những ‘’con vật kinh tế’’. Về thực tiễn, cuốn sách này đã đóng góp lớn giúp vượt qua quan niệm từ thiện và bố thí trong các chính sách xã hội, và góp phần hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại ở Pháp và các nước tiên tiến ngày nay. Bản dịch cuốn sách gối đầu giường của mọi nhà nhân học này được Nguyễn Tùng thực hiện hết sức nghiêm cẩn, đặc biệt với một lối văn trong sáng, dễ hiểu vốn là không hề đơn giản đối với lối viết của Mauss. Ấn bản được NXB Tri thức công bố còn bao gồm một bài Claude Lévy-Straus ‘’Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss’’ và bài ‘’Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường’’ của nhà nhân học Pháp Florence Weber, cũng do Nguyễn Tùng dịch.

Dịch phẩm tiếp theo của Nguyễn Tùng là cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ của Claude Lévy-Strauss, người sáng lập nổi tiếng của trường phái cấu trúc luận trong dân tộc học và nhân học. Trước khi đi vào bản dịch, Nguyễn Tùng còn viết một bài giới thiệu dài 52 trang trình bày súc tích những tư tưởng chính của tác giả và ảnh hưởng của thuyết cấu trúc luận và của cuốn ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ đối với giới khoa học xã hội nhân văn trong suốt nửa sau thế kỷ XX. Ngược với B. Malinovski hay Radcliffe-Brown thấy ở việc một tộc người chọn một con thú hay thảo mộc làm tô tem là vì chúng cung cấp cho họ thức ăn, Lévy-Strauss cho rằng họ chọn chúng làm tô tem ‘’không phải vì chúng có thể ‘dùng để ăn’ mà do chúng có thể ‘dùng để tư duy’.’’ Nghĩa là họ nhận ra ở con thú hay thực vật ấy của tự nhiên một cái mã phản ánh cấu trúc tư duy của chính họ. Vậy nên, theo nhà nghiên cứu Jean-Pierre Vernant, cuốn sách của Lévy-Strauss vượt ra ngoài câu chuyện về định chế tô tem và trở thành gần như một thứ nhập môn cho nghiên cứu nhân học, đòi hỏi nhân học ‘’trong các phương pháp tiếp cận và cả trong triết lý về con người, đi đến những quan niệm cấu trúc luận mới mẻ trong nhân học.’’

Nhân đây, xin tiết lộ: Nguyễn Tùng có tâm sự rằng ông dịch ‘’Định chế tô tem ngày nay’’ là để làm quen thêm với lối viết của Lévy-Strauss, như một kiểu tập dượt, lấy sức, trước khi ‘’tấn công’’ vào một công việc to lớn, khó khăn hơn nhiều: chuyển được sang tiếng Việt cuốn sách thuộc số những tuyệt tác đỉnh cao và quan trọng nhất của Lévy-Strauss, cuốn ‘’Tư duy hoang dại’’ (La pensée sauvage), ‘’nếu tôi còn đủ sức và đủ can đảm’’ – ông nói. Chỉ một ví dụ này thôi chắc đã đủ để cho thấy rõ thái độ, quan niệm và cách làm việc của Nguyễn Tùng đối với dịch thuật khoa học, thật rất đáng để suy nghĩ.

 Dịch phẩm thứ ba quan trọng của ông là một tác phẩm cũng rất khó và khá lạ, cuốn ‘’Xã hội diễn cảnh’’ của Guy Debord, một tác giả phái tả, phê phán triệt để xu hướng bái vật hóa và sự thống trị của hàng hóa trong khuôn khổ của xã hội tiêu thụ tư bản chủ nghĩa hiện đại. Ngay đối với một tác phẩm rất khó đọc và khó hiểu như cuốn này, Nguyễn Tùng cũng đã tìm được cách chuyển ngữ sang tiếng Việt rất chuẩn xác, trong sáng và dễ tiếp cận. Ông còn góp phần quan trọng cùng một số người khác trong một số dịch phẩm lớn và kinh điển, trong đó có cuốn sách nổi tiếng ‘’Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản’’ của Max Weber …

Nói theo cách nào đó, những đóng góp và thành tựu dịch thuật của Nguyễn Tùng  vừa được lướt qua chỉ là một phần ở cạnh công vệc chính của ông. Nguyễn Tùng trước hết và chủ yếu là một nhà nghiên cứu dân tộc học và xã hội học. Ông đã làm việc 30 năm ở Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) với tư cách là nhà dân tộc học và xã hội học, đã giảng dạy ở đại học Sorbonne (Paris), đã tham gia trong hơn 20 năm chương trình nghiên cứu về làng xã ở châu thổ Sông Hồng, đã có những công trình quan trọng được công bố, như ‘’Mông Phụ, một làng ở châu thổ Sông Hồng’’, tham gia cuốn ‘’Làng ở châu thổ Sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ’, và nhiều công trình khác’’ … Như vậy, có thể nói cho đúng hơn, đối với Nguyễn Tùng, công việc nghiên cứu khoa học của ông gắn liền chặt chẽ với công việc dịch thuật của ông, sự gắn chặt này tạo cho ông khả năng và thẩm quyền đưa đến cho người đọc Việt Nam những dịch phẩm lớn, với chất lượng và độ tin cậy cao. Trường hợp Nguyễn Tùng còn đặt ra một vấn đề lớn và quan trọng đối với nền dịch thuật, và cả với khoa học Việt Nam: vấn đề sự xuất hiện mô hình những học giả-dịch giả, cho yêu cầu của một nền dịch thuật nghiêm túc và ngày càng cấp thiết, mà chúng tôi đã nhắc đến ở đầu diễn từ này.

Xin trân trọng cám ơn dịch giả Nguyễn Tùng vì cống hiến đặc sắc, và cả vì những vấn đề quan trọng ông đã nêu lên qua sự nghiệp dịch thuật của ông.

Thưa …

Giải Vì Sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay được trao cho một nghệ sĩ: nhạc sĩ Dương Thụ, và một tập thể những người làm sách: Nhóm Nhất nghệ tinh.

Dương Thụ là một nhạc sĩ nổi tiếng. Hãy thử nghe ca sĩ Hồng Nhung, được chính Dương Thụ coi là người hát hay nhất các bài hát của ông nói về ông: ‘’ … hai nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Dương Thụ viết nhạc rất khác nhau nhưng cùng xuất phát từ suối nguồn tình cảm của tâm hồn. Họ đều là những nhà trí thức với kiến thức văn hóa rộng và sâu sắc, có thể nói ít, hiểu nhiều, sức mạnh trong nhạc và lời mang nội lực đủ để lại trong lòng người nghe một cách sâu nặng mà không cần hình thức quá lộng lẫy hay gây choáng ngợp …’’ Thanh Lam thì nói thêm, như muốn cắt nghĩa: ‘’ … Tôi cho rằng đó là hồn Việt, triết lý Việt, tinh thần Việt  …’’  Quả vậy, có lẽ nét đặc sắc của Dương Thụ trong sáng tác của ông cũng như ở con người và hoạt động xã hội của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giản dị, nhẹ nhõm, gần gũi đời sống và văn hóa dân gian, với xu hướng tinh hoa, bài bản, sang trọng, thậm chí vươn tới hàn lâm. Là dân gian thì ông biết cách khai thác đến tận cái tinh hoa của dân gian, là bác học thì ông giỏi làm cho cái bác học đó trở nên gần gũi đến dễ tiếp nhận cho đại chúng và đi vào lòng người. Lại được cọng với một tài năng thật sự về tổ chức, rất khéo léo, tháo vát và hiệu lực. Dương Thụ cũng là người có lòng tin sâu sắc ở sức mạnh của nghệ thuật khi nó đi được vào đại chúng, và phải đi vào đại chúng ở dạng tinh hoa. Bởi nâng cao năng lực thẩm mỹ và tri thức của xã hội, tạo nên đời sống thẩm mỹ và tri thức ngày càng được nâng cao của xã hội là nghĩa vụ đạo đức của nghệ thuật và của người nghệ sĩ chân chính, của nhà văn hóa. Chính vì vậy mà là tác giả của hàng loạt ca khúc nổi tiếng với âm hưởng rất riêng tinh tế và sang trọng, không thể nhầm lẫn, ông còn dành nhiều thời gian, công sức và tài năng cho những chương trình âm nhạc lớn, là người tổ chức, biên tập và tổng đạo diễn Dự án Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam, một chương trình tầm cỡ quốc gia đầu tiên tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của đủ các dòng nhạc từ Tiền chiến, Lãng mạn, nhạc Sàigòn trước năm 1975, nhạc Cách mạng, nhạc Tình ca hiện đại …; tiếp đó, từ năm 2009, là Dự án đồ sộ Điều còn mãi, một concert âm nhạc thính phòng, bao gồm cả các tác phẩm khí nhạc và ca khúc, được dàn dựng rất công phu với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ hàng đầu cùng dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Việt Nam, diễn ra định kỳ hàng năm vào dịp 2/9 và kéo dài liên tục trong nhiều năm, gây tiếng vang và ảnh hưởng lớn … Tuy nhiên phải nói rằng, trong hoạt động văn hóa xã hội, đóng góp quan trọng nhất của Dương Thụ là những hoạt động nhằm kết nối giới tinh hoa văn hóa trong và ngoài nước với công chúng, đặc biệt với giới trẻ, giới thiệu những tư tưởng đổi mới, những ý tưởng sáng tạo độc đáo thông qua việc hình thành và tổ chức thành công, vượt qua vô vàn khó khăn, chương trình Cà phê thứ bảy, một chương trình sinh hoạt văn hóa cao cấp, một kiểu salon văn hóa, thu hút những người thực sự có quan tâm đến văn hóa, đến những tư tưởng mới, đến đối thoại, tôn trọng sự khác biệt để cùng suy nghĩ. Từ 2009 đến nay, Dương Thụ đã tổ chức được hơn 800 buổi sinh hoạt Cà phê thứ bảy ở Saigon và ở Hà Nội, với sự tham gia của nhiều nhà văn hóa, khoa học, nghệ sĩ nổi tiếng trong và ngoài nước, thuyết trình và trao đổi về nhiều chủ đề khoa học, nghệ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường … Quả là một đóng góp rất to lớn, một điểm sáng cho ta còn giữ niềm tin và hy vọng, đặc biệt trong tình hình văn hóa xã hội phức tạp và đáng lo hiện nay.

Chúng ta cám ơn Dương Thụ vì cống hiến văn hóa tâm huyết, kiên trì của ông, vì tư duy văn hóa và nghệ thuật đáng để suy nghĩ của ông, cả về một mô hình sống và tổ chức đời sống xã hội một cách có văn hóa, không ồn ào mà sâu sắc và hiệu quả ông đã gợi lên qua hoạt động năng nổ của mình.

Nhân vật thứ hai cùng nhận giải thưởng Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục năm nay rất đặc biệt, đó là một tập thể đông đảo gồm hàng trăm chuyên gia và kỹ sư từng du học ở CHLB Đức trước năm 1975, từ nhiều năm nay đã lặng lẽ làm một công việc rất cụ thể, thiết thực, mà vô cùng cần thiết cho đất nước. Chúng ta chưa được biết ai trong số họ ai là người nảy ra ý tưởng đầu tiên, họ đã liên lạc, tập họp, trao đổi cùng nhau như thế nào, tính toán tổ chức lực lượng và công việc ra sao … để đi đến quyết định thành lập một tủ sách lấy tên là ‘’Tủ sách Nhất nghệ tinh’’ nhằm chọn lọc những sách chuyên ngành có giá trị nhất của NXB Europa-Lehrmittiel, tổ chức dịch ra tiếng Việt và phổ biến sâu rộng trong giới đào tạo nghề cao cấp và các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam. Cùng lúc lại dày công biên soạn và liên tục cập nhật một Từ điển thuật ngữ khoa học kỹ thuật, đến nay đã được hơn 20.000 mục từ. Đến Nay, Tủ sách đã công bố các sách: Chuyên ngành cơ khí, Chuyên nghành Cơ-Điện tử, Chuyên ngành Điện-Điện tử, Chuyên ngành kỹ thuật ô tô và xe máy hiện đại. Đang và sắp in: Chuyên ngành chất dẻo, Chuyên ngành kỹ thuật hóa học, Chuyên ngành kỹ thuật sinh học, Chuyên ngành kỹ thuật xây dựng, Chuyên ngành kỹ thuật môi trường, Chuyên ngành kỹ thuật may mặc v.v.

Dày kinh nghiệm nghề nghiệp, Nhóm đã chọn lựa những sách chuyên ngành có chất lượng cao của CHLB Đức. Chất lượng dịch các sách cũng rất cao, thỏa ứng các yêu cầu khắc khe của sách chuyên ngành đa lĩnh vực. Nhóm vừa làm việc vừa phát triển, ngày càng tập họp đông đảo chuyên gia các lĩnh vực khác nhau để hộ trợ việc dạy nghề và du nhập phương pháp vừa học vừa làm rất hiệu quả của CHLB vào Việt Nam. Tất cả các thành viên của Nhóm đều hoạt động tự nguyên và vô vị lợi.

Cộng tác chặt chẽ với NXB Trẻ và Saigon Times Foundation, Tủ sách Nhất nghệ tinh đang có sức lan tỏa mạnh, được các nhà giáo và sinh viên nhiệt tình đón nhận. Không thể không có cảm giác chúng ta đang được sống lại không khí sôi nổi khuyến học và chuộng thực nghiệm do Phan Châu Trinh khởi xướng hơn trăm năm trước. Giải Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng chào mừng Tủ sách Nhất nghệ tinh, một góc thật đẹp của xã hội hôm nay.

Thưa …

Xin được nói tiếp đến Giải Nghiên cứu năm nay, được trao cho hai nhà nghiên cứu Lữ Phương và Phan Cẩm Thượng.

Trong những năm 1960 ở Sài Gòn, Lữ Phương là cây bút chủ lực của tạp chí TIN VĂN, một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang. Tác phẩm ‘’Mấy vấn đề văn nghệ’’ của ông viết năm 1967 sớm cho thấy rõ thái độ của một trí thức dấn thân mạnh mẽ mà trầm tĩnh trong những bối cảnh xã hội phức tạp. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến, giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau 1975  ông cho xuất bản ‘’Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam’’, một công trình nghiên cứu khách quan, sâu sắc, khác hẳn với những cuốn sách tuyên truyền minh họa dễ dãi trên cùng đề tài. Từ năm 1980 bắt đầu thời kỳ mà chính ông gọi là ‘’mười năm diện bích’’ để ‘’mọi chuyện trong quá khứ được nhìn lại tận nền móng’’, bắt tay đọc lại và nghiên cứu chủ nghĩa Marx một cách căn kẽ, có hệ thống, từ nền tảng triết học và nhận thức luận, đến các vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học mác-xít, từ đó nhận thức lại mối quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội hiện thực, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, các vấn đề của công cuộc ‘’đổi mới’’, đặc biệt là tác động văn hóa của ‘’đổi mới’’ xét như một mô thức phát triển, đồng thời tăng cường trao đổi, thảo luận với các học giả trong và ngoài nước.

Tìm hiểu một cách nghiêm túc sự hình thành, phát triển và tiến hóa của chủ nghĩa Marx qua từng giai đoạn lịch sử, ông nhìn nhận ‘’mô hình Stalin là nguyên nhân sâu xa của sự khủng hoảng hiện nay của chủ nghĩa xã hội hiện thực’’ và chỉ ra sự ‘’bất toàn của việc du nhập chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam.’’ Từ đó ông đề xuất mô hình mới về xây dựng đất nước trong thời bình bằng cách phải gác lại các kết luận của mô hình cũ để ‘’ưu tiên bảo vệ con người trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa xã hội.’’

Lữ Phương khẳng định: ‘’Sự phê phán quá khứ một cách nghiêm trang chẳng hề có ý nghĩa ‘dùng súng lục’ bắn vào cái gì cả, chẳng qua là thái độ cần thiết của con người trưởng thành …’’. Ông nói: ‘’Ngay cả sự ra đời của bản thân chủ nghĩa Marx và các trào lưu tư tưởng hiện đại cũng là nhờ có môi trường xã hội ‘nơi đó cái sai không hề bị gọi là tội, cái đúng không hề được gọi là ‘duy nhất đúng’. Và vì thế ‘’đối với một thế giới biết nhạy cảm từng phút từng giờ với những hứa hẹn đổi thay, mọi đường lối mệnh danh là ‘ổn định’ tinh thần cũng chỉ có ý nghĩa là tiêu diệt bản thân đời sống tinh thần.’’ Ông thẳng thắn kiến nghị: từ bỏ chính sách  đóng cửa, từ bỏ phương pháp cách mạng bạo lực, từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp, xây dựng nhà nước hiện đại bằng hiến pháp và pháp luât, thực hiện thể chế phân quyền, chính đảng cầm quyền giao lại nhà nước cho xã hội …

Trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh cho nhà nghiên cứu Lữ Phương, Quỹ của chúng ta muốn bày tỏ lòng kính trọng và sự tán đồng rõ ràng của mình đối với một người trí thức coi sự thẳng thắn đầy trách nhiệm, dũng cảm và trung chính của người trí thức, người cầm bút, nhất là trong giai đoạn hiện nay, là nghĩa vụ đạo đức hàng đầu của mình đối với xã hội và đất nước.

Người nhận giải ở cùng hạng mục với Lữ Phương là họa sĩ Phan Cẩm Thượng, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian uyên bác và độc đáo. Trong số những người làm văn học nghệ thuật, dường như những người làm nghệ thuật tạo hình thường quan tâm, gắn bó và hiểu biết sâu hơn cả với văn hóa dân gian và dân tộc. Có thể chăng là qua sáng tạo của dân gian, họ đi tìm và nhận ra hồn cốt của văn hóa Việt, con người Việt. Tôi có một chị bạn họa sĩ, đã bỏ mười năm liền, chăm chú đi đo kích cỡ các đình chùa Việt Nam, để tìm ra cái mà chị gọi là ‘’tỷ lệ vàng’’ ở các kiến trúc cổ ấy, nắm chắc được hằng số ấy rồi, chị bảo, thì vẽ gì cũng ra ngay Việt Nam, không thể nhầm. Phan Cẩm Thượng cũng vậy, ông tự tạo cho mình một lối sống rất đặc biệt, ông từng về sống hẳn trong chùa Bút Tháp hàng chục năm, gắn bó và am hiểu tới cặn kẽ vùng Thuận Thành Kinh Bắc vốn là một vùng đất cội nguồn của văn hóa Việt, thuộc lòng đến tỉ mỉ từng ngôi chùa cổ ở đấy, từng pho tượng cổ tuyệt đẹp đến lạ lùng trong bốn ngôi chùa Mây, Mưa, Sấm, Chớp là dấu tích xưa nhất của tín ngưỡng thuần Việt, khi chưa có ảnh hưởng của Phật giáo và của phương Bắc, cho đến các chùa nổi tiếng như Bút Tháp, Phật Tích, Bổ Đà v.v. Sau Bút Tháp, Thuận Thành, ông lại về sống hẳn nhiều năm ở vùng Mường, như một người ở ẩn, chìm đắm trong văn hóa Mường. Còn vùng văn hóa Sơn Tây nổi tiếng của Quang Dũng, thì Phan Cẩm Thượng vốn đã thuộc nằm lòng từ bé … Ông là người lang thang trong đời thường và trong văn hóa dân gian, say mê và đầy ý thức để cho sự sống ấy ngấm vào mình, thành máu thịt và thành trí tuệ. Có một số dịp được ông cho đi theo, tôi kinh ngạc và thú vị thấy các nhà sư ở các chùa vùng Kinh Bắc đều gọi ông là Thầy, thật sự kính trọng coi ông là Thầy. Tôi cũng kinh ngạc, thú vị khi thấy hầu như người dân nào gặp trên đường cũng là người quen thân của ông và cũng đều gọi ông là Thầy; còn ông thì có thể kể rành rọt với tôi lai lịch, tính cách của từng người … Ông đi nhiều, chăm chú nghe và nhin, hết sức tò mò, quan sát kỹ và tinh, ghi chép, tích lũy, nghiền ngẫm, và vẽ. Rồi viết. Đến nay, Phan Cẩm Thượng đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản, đương nhiên là về nghệ thuật tạo hình Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình cổ và nghệ thuật dân gian Việt Nam, song đều là để từ đó cho ta một góc nhìn và một cách nhìn độc đáo dắt dẫn đến hiểu biết căn cốt về văn hóa Việt. Trong các tác phẩm viết của ông nổi bật một bộ sách quan trọng, đến nay đã cho ra mắt hai cuốn, hai cuốn tiếp theo sẽ hòan thành trong khoảng 4 đến 5 năm tới. Ngay từ cuốn thứ nhất, có tên là ‘’Văn minh vật chất của người Việt”, đã cho thấy đây có thể là một bộ sử của người Việt viết theo một cách riêng, một cách khác, không phải là lịch sử ‘’lớn’’ của các triều đại, các ông vua, các cuộc chiến tranh và các vị tướng lừng danh, các cuộc cách mạng chính trị …, mà là lịch sử nhỏ, tầm thường, hằng ngày và trường kỳ của con người Việt, được kể qua nền văn minh vật chất của họ, hay nói giản dị hơn, qua ‘’lời kể’’ của các đồ vật do họ làm ra để mà sinh tồn và phát triển. Vâng, các đồ vật do con người làm ra không hề câm, chúng có tiếng nói và có thể nghe được tiếng nói, lời kể của chúng, và đó là lời kể khách quan, chân thật nhất. Chẳng hạn cái cày của người Việt, vật liệu để làm ra nó, hình thù và sự biến đổi hình thù các bộ phận của nó, từ thân cày, láng cày, bắp cày, guốc cày, diệp cày, cho đến lưỡi cày, vai cày, trỗi cày, thừng kéo của cày … ,chúng kể cho ta biết, cụ thể, rõ ràng, vô cùng thật, về môi trường sống người Việt suốt mấy nghìn năm, trời đất, thổ nhưỡng, nắng mưa, ấm lạnh, bão tố, cả cái cách những con người đó tổ chức cộng đồng của mình để ứng phó với tất cả những thách thức ấy của tự nhiên, khi từ trên những núi rừng rậm rạp và đất đá phía tây họ đổ xuống châu thổ sông Hồng, sông Mã bùn lầy nhão nhoẹt, rồi lại mấy nghìn năm nữa lặn lội suốt từ Bắc vào miền Trung khô cằn nắng gió, gặp gỡ đất mới, trời mới, người mới, học cày của người Chăm … rồi lại học cày của người Chân Lạp khi tràn tới được châu thổ sông Cửu Long màu mở phù sa … Cái cày biết nói. Đồ vật biết nói. Thậm chí chúng còn kể hết sức chính xác chẳng hạn về hình dáng, và cả cách chuyển động, đi đứng của con người Việt từng nơi, từng thời. Rất khó quên đoạn Phan Cẩm Thượng viết về cái nối đất nung các bà chị ở quê ta vẫn dùng để ra ao ra sông lấy nước. Ông bảo sở dĩ hình thù nó tròn hơi méo một chút, không thể khác, nó to bằng chừng ấy không thể hơn, cũng không nhỏ hơn, là vì nó vừa bằng và giống đúng cái bụng chửa của người đàn bà Việt. Người thợ gốm Việt đã nhìn cái bụng chửa ấy mà nặn ra cái nồi đất kia …

Tiếp sau ‘’Văn minh vật chất của người Việt’’ là cuốn ‘’Tập tục đời người’’ với một phụ đề: ‘’Văn hóa tập tục của người nông dân Việt Nam thế kỷ 19 và 20’’. Phan Cẩm Thượng khẳng định trong mỗi người Việt Nam, cho đến hiện đại nhất hôm nay, đều có một người nông dân; 36 phố phường Hà Nội là từ các làng nghề nông thôn đồng bằng Bắc bộ tụ hội lên mà thành. Ông cũng định nghĩa tập tục là cái có trước pháp luật, trước cả hương ước, tức cũng là một kiểu luật của làng, do cộng đồng làng lập nên, mọi người bắt buộc phâỉ tuân theo. Tập tục là cái có trước những quy đjnh có tính bắt buộc đó; nó là cái người ta theo thói quen mà làm, mọi người vẫn làm thế ta cũng làm thế, làm thế là ‘’phải’’ với mọi người và mình cũng cho là phải, người xưa đã quen, người nay chấp nhận, thấy phải chăng và tự nguyện. Nên nó  là cái từ trong mà ra, không phải từ ngoài áp vào, từ trên ban xuống như hương ước, như luật. Nó thật về con người hơn. Thì ra với cuốn thứ hai này, Phan Cẩm Thượng tiếp tục bộ sử thật về người Việt của mình. Con đường đi bằng văn hóa của ông.

Tuy nhiên cũng có điều Phan Cẩm Thượng tập trung hiểu biết sâu vào vùng đất bắc, chủ yếu với văn hóa sông Hồng thật phong phú, chúng ta mong ông sẽ có những nổ lực tương tự đối với con người và đời sống cũng rất giàu có phương Nam, thì mới thật sự là chân dung văn hóa Việt.

Cuốn thứ ba có cái tên lạ ‘’Mày là kẻ nào?’’. Cách đây mấy thế kỷ, mày tao là cách xưng hô thông thường của người Việt, các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo và con chiên của gọi nhau đều như vậy. ‘’Kẻ’’ có nghĩa là vùng đất. Kẻ Chợ là tên xưa của Hà Nội. ‘’Mày là kẻ nào?’’ có nghĩa là mày ở đâu (mà tới đây)? Cuốn sách viết về những cuộc di chuyển của các mảng lớn con người trong suốt lịch sử tạo nên diện mạo nước ta ngày nay. Cuốn thứ tư, cuối cùng trong bộ sách này có tên là ‘’Việt Nam, thế kỷ 19’’. Tại sao lại là thế kỷ 19? Mọi sự vật thường tự bộc lộ ra sâu sắc, toàn diện nhất ở thời điểm bản lề. Ở Việt Nam thế kỷ 19 là một thời điểm như vậy, khi đất nước và xã hội từ cổ truyền chuyển sang hiện đại, bị và được xới tung lên tận nền tảng. Phan Cẩm Thượng muốn chọn đúng một thời điểm như vậy để cố gắng cung cấp bức chân dung chân thật nhất của người Việt, kết thúc bộ sử đặc biệt của ông.

Giải Phan Châu Trinh chào mừng ở Phan Cẩm Thượng một nhà văn hóa độc đáo và sâu sắc. Xin trân trọng chúc ông thật nhiều thành tựu mới.

Tân khoa của Giải Việt Nam học năm nay là hai nhà sử học Pháp Pierre Brocheux và Daniel Hémery, thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa. Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng. Có thể kể, của Brocheux: các sách ‘’Hồ Chí Minh’’, in năm 2000; ‘’Hồ Chí Minh, từ nhà cách mạng đến bức tranh thánh’’, in năm 2003;  ‘’Một lịch sử kinh tế Viêt Nam – Cây đòn gánh và chiếc xe tải’’ (2009); ‘’Châu thổ sông Cửu Long, Sinh thái, Kinh tế và Cách mạng’’; ‘’Lịch sử Việt Nam. Quốc gia có sức chống chịu mạnh mẽ’’  (2011); ‘’Công cuộc giải thực dân thế kỷ 20’’ (2012); Lịch sử Đông Nam Á. Các cuộc nổi dây, các cuộc cải cách và các cuộc cách mạng’’(2002) …; của Hémery: ‘’Các nhà cách mạng Việt Nam và chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Cổng sản, Trokiste, Quốc gia chủ nghĩa ở Sài Gòn từ 1932 đến 1937’’ (1975); ‘’Hướng dẫn nghiên cứu Việt Nam. Thư mục. Tư liệu và Thư viện ở Pháp’’ (1983); ‘’Tình trạng nô lệ quyền năng. Một lịch sử về năng lượng’’; ‘’Tiến tới một lịch sử của phát triển. Các quốc gia, các xã hội, và phát triển’’ (1988); ‘’Hồ Chí Minh. Từ Đông Dương đến Việt Nam’’ … Đặc biệt Pierre Brochueux và Daniel Hémery có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung, ‘’Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954’’ (‘’Indochine, une colonisation ambiguë’’), như lời bình luận của nhà nghiên cứu Philippe Papin, là một cuốn sách ‘’được chín muồi một cách chậm rãi, phần cốt yếu đã được biên soạn từ 1987-1988, được viết lại hoàn toàn và bổ sung trước khi ra mắt (năm 1994)’’. Philippe Papin cũng nói rằng hai tác giả ‘’đặt lại thực tế thuộc địa mà tránh các con đường đã trở thành quen cũ của lối viết sử theo truyền thống chống thực dân, để tư duy về công cuộc thực dân hóa như là sự tiếp xúc – trong giao thoa, chồng chéo – giữa hai nền văn hóa theo những mối quan hệ bất bình đẳng song mọi sự về những mối quan hệ này còn chưa được nói đến hết …’’. Tôi có biết một bản dịch (còn chưa in) cuốn sách này lấy tên là ‘’Đông dương, một nền thực dân nước đôi’’. Trong tiếng Pháp còn có từ ambivalent có nghĩa là có tính hai chiều, hai mặt, lưỡng trị, tức nước đôi. Ở đây Brocheux và Hémery không nói ambivalent, hai ông nói ambiguë, nhập nhằng, nghĩa là còn nhiều chiều hơn, nhiều mặt hơn, phức tạp hơn, chồng chéo lên nhau, khi cùng hướng, khi trái ngược nhau, đan chen, ngập ngừng. Sự độc đáo, đặc sắc của tác phẩm này chính là ở chỗ nó cố lần ra cho hết các chiều khác nhau đó, phân tích cặn kẽ, khách quan, thực tế, với những cứ liệu chứng minh hết sức phong phú. Cả về phía những kẻ đi xâm lược và cai trị, động cơ kinh tế của chủ nghĩa tư bản ráo riết đi tìm thị trường, bóc lột, đàn áp, nô lệ hóa ‘’đến thảm khốc’’ như Hoàng Xuân Hãn từng nói …  chen lẫn chồng chéo, mò mẫm, lẫn lộn với nền văn minh mà nó truyền bá, có ý thức hay nằm ngoài, thậm chí chống lại chính ý thức đó, phức tạp, tinh tế, ở trong chính sách chung của chủ nghĩa thực dân và ở trong từng con người đi thực hiện nó; lẫn phía những người bị trị và xã hội của họ, bị bóc lột, đàn áp khốc liệt, tan vỡ và bị tha hóa … đồng thời cũng lại bước vào một quá trình hiện đại hóa đương nhiên là hạn chế, với sự hình thành một nền văn hóa mới và lớp tinh hoa hiện đại ở chính dân tộc bị trị, thậm chí như là để chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài của đất nước sau khi nền thực dân đã bị đánh đổ …

Chính trong ý nghĩa đó mà cuốn sách viết về một thời đã khá xa này vẫn nhiều ý nghĩa thời sự cho suy nghĩ của chúng ta hôm nay. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Pierre Brocheux và Daniel Hémery thật thành công trong tác phẩm trằn trọc và tâm huyết này. Trong một bức thư rất ngắn gửi đến chúng ta, Brocheux, người ‘’đã cống hiến 37 năm cuộc đời nhà giáo và nghiên cứu của mình cho lịch sử của dân tộc Việt Nam và số phận của quốc gia Việt Nam’’ viết: ‘’Tôi càng dễ nhạy cảm hơn trong thức nhận về các công trình chép sử của tôi khi nó bắt nguồn từ đất nước mà tôi gọi là đất mẹ của tôi trong khi tổ quốc tôi là đất nước của cha tôi. Nhà Brocheux vốn thuộc một dòng họ vùng Normandie còn mẹ tôi lại thuộc dòng họ Trương mà cái nôi sinh thành là Phan Thiết và sau đó đã di cư về Vĩnh Long.’’ Vậy là ông viết về chính số phận ‘’đất mẹ’’ của mình trong quan hệ lịch sử khó nhọc mà cũng giàu cả sinh sôi, với tổ quốc là đất nước của cha ông. Còn Hémery thì là người đã nói về vị tiền bối mà Quỹ chúng ta mang tên như sau: ”Phan Châu Trinh là khuôn mặt sáng giá nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX vì ông đã biểu đạt một cách mạnh mẽ và sáng rõ nhất những nan đề mà các thế hệ người Viêt Nam hôm nay còn phải tiếp tục đảm nhận.’’

Thật tiếc vì lý do sức khỏe và gia đình, hai nhà sử học đã cống hiến đặc sắc cho sự hiểu biết Việt Nam đã không thể có mặt cùng chúng ta. Xin gửi đến hai ông lời cám ơn chân thành của chúng ta.

  • ●●

Thưa …

Tiếp tục chương trình khởi đầu từ ba năm trước, năm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trân trọng tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Chúng ta đều biết, thường vẫn vậy, có những điều ta vẫn làm hằng ngày, chừng đơn giản và vô tư, như viết một bức thư, đọc một bài báo, thảo một công văn …, sang hơn chút nữa, cao hứng viết một bút ký hay một truyện ngắn, càng sang và cao hơn viết một tiểu thuyết, soạn một luận văn hay biên soạn một cuốn sách uyên bác về xã hội học, kinh tế học, triết học hay vật lý học thậm chí đến vật lý thiên văn, trình bày một lý thuyết mới về toán học cao cấp … với công cụ biểu đạt là tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ, loại chữ mà con ta đang học ở lớp một …. và coi chuyện có cái công cụ đó là đương nhiên rồi … nếu còn đôi chút băn khoăn là nắn nót viết sao cho chính xác, cho hay …   Vậy mà hóa ra chuyện đó, cái công cụ rất tuyệt cho phép ta diễn đạt đến tận chùng những gì thâm sâu, phức tạp, uyên ảo nhất trong chính ta, trong xã hội và trong tự nhiên đó không hề là đương nhiên, và cũng chỉ là mới có được đây thôi, mặc dù tiếng Việt viết bằng vần chữ cái la-tinh mà ta gọi là chữ quốc ngữ đã được Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes chế ra từ cuối thế kỷ XVII, còn vô cùng khó khăn để tồn tại, thậm chí đã từng có thể bị xóa đi mất, nếu còn thì cũng chỉ các giáo sĩ dùng để giao tiếp với các con chiên một cách thô sơ bởi sức biểu đạt của nó còn rất nghèo nàn … Số phận của nó bấy giờ càng nguy nan hơn vì bị ép từ cả hai phía: sức phản kháng quyết liệt của cả một tầng lớp được coi là trí thức ưu đẳng và cũng là độc tôn của đất nước đã mấy nghìn năm sử dụng và coi chữ Hán là cao quý thiêng liêng của Thánh hiền, mất nó đi thì vị thế xã hội của họ cũng sụp đổ; bên kia là người Pháp thống trị, cho đến tận thời các Toàn quyền Paul Bert, Paul Doumer rồi Albert Sarraut, theo như nghiên cứu của Bernard Le Calloc’h, vẫn còn rất phân vân không biết nên chọn thứ chữ gì làm chữ chính thống cho thuộc đia này đây? Đã từng có chủ trương ưu tiên muốn dùng tiếng Pháp, chữ Pháp cho Việt Nam, như họ đã làm đối với các thuộc đia của họ ở châu Phi, cho đến tận ngày nay … Nhưng rồi khá tỉnh táo, từng người trong số họ dần hiểu làm như thế là ‘’không thể và không thực tế đối với một đất nước có lịch sử phong phú và một nền văn minh đáng nể như Việt Nam’’. Vả chăng họ cũng biết dùng chữ Pháp cho đất nước này thì chẳng qua chỉ là thay cho nó một ngoại ngữ này bằng một ngoại ngữ khác. Giữa chữ Hán và chữ Pháp, còn một thứ chữ: quốc ngữ. Và số phận đã thuộc về nó, nó đã được chọn. Chữ quốc ngữ đã sống sót như thế. Tuy nhiên vấn đề là sống, chứ không phải sống sót. Nó phải tự chứng tỏ cho kỳ được sức sống mạnh mẽ, vượt trội, đủ sức và đủ sức hơn cả, để cho Việt Nam tự biểu đạt mình trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, thử nghĩ lại mà xem, khó khăn, khốc liệt biết bao nhiêu của dân tộc và nước nhà vào đầu thế kỷ XX. Cho nên, chúng tôi nghĩ, quả có một cuộc đấu tranh mất còn về mặt ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam vào thời ấy, kiên định, quyết liệt, khôn khéo, thông minh, để hiện đại hóa tiếng Việt và lối viết bằng chữ quốc ngữ của nó, hoàn thiện nó thành vũ khí sắc bén của cuộc đấu tranh văn hóa, Và đã có những chiến sĩ tiên phong của cuộc đấu tranh đó, những Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi mà Quỹ chúng ta đã vinh danh trong mấy năm qua, và bao nhiêu người khác, trong đó nổi bật lên một người vào loại đặc sắc, có cống hiến rất quan trọng: người ấy là Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm. Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mũ chữ, nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, trong lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt. Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: ‘’… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm.’’

Cuối năm 1914, do làm việc với Viễn Đông Bác Cổ mà có dịp găp Nguyễn Bá Trác bấy giờ là chủ bút của Đông Dương Tạp chí, ông bắt đầu cộng tác với tạp chí này, nhận ra sức mạnh và sự lợi hại đặc biệt của báo chí, có thể là vũ khí đầy hiệu lực cho cuộc đấu tranh để hiện đại hóa tiếng Việt và chữ quốc ngữ mà ông thiết tha ôm ấp. Nên năm 1916 khi Đông Dương tạp chí đóng cửa, ông đã lập ra tạp chí Nam Phong vào tháng Bảy năm 1917. Ngay từ số đầu tiên ra mắt, qua Nam Phong Phạm Quỳnh đã nói rõ rằng vấn đề văn hóa thật sự của chúng ta không phải là chọn lựa giữa trung thành với truyền thống Trung Hoa hay ngã theo văn hóa Pháp, mà là phải khẳng định vị trí của một nhân tố thứ ba xưa nay vẫn bị coi thường là ngôn ngữ dân tộc, để bảo vệ và phát tiển văn hóa dân tộc. Duy có nghịch lý là ngay cả một tuyệt tác hàng đầu của văn học dân tộc là Truyện Kiều của Nguyễn Du lại cũng phải viết bằng chữ Nôm là một thứ chữ đặt theo mẫu hình chữ Hán, lại còn khó và rắc rối hơn. Vả chăng cho đến lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực. Phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại. Đấy là một công việc khổng lồ. Phải tạo ra nhưng từ mới và những cách diễn đạt mới, trong vài năm hàng trăm từ mới và cách diễn đạt mới phải và đã được đặt ra, phải biên tập một bộ từ điển, phải thống nhất các quy tắc ngữ pháp, cố định hệ thống từ vựng, mượn của tiếng Pháp các mẫu hình để tạo ra một ngôn ngữ khoa học, kỹ thuật, và cả pháp lý và triết học. Phải phổ cập các chuẩn mực chinh tả, biên soạn các sách giáo khoa, chuyển sang chữ quốc ngữ các văn bản chữ Nôm và chữ Hán, định dạng các truyện kể và dân ca của văn học dân gian, cuối cùng thực hiện cho được một cách hài hòa nhất sự hòa hợp giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ trí thức. Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó, thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập. Và ông đã chứng minh hùng hồn, đồng thời khẳng định sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ mà ông đã dày sức góp công xây dựng bằng những sáng tác nhiều loại với một lối văn đẹp đẽ và sang trọng của chính ông, đến nay đều đã được tái bản hầu hết.

Về con người chính trị của Phạm Quỳnh, hôm nay chúng tôi chỉ xin nhắc lại ở đây một báo cáo nói về ông của viên Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn ngày 8 tháng Một 1945 gửi Toàn quyên Đông Dương Decoux và Trung tướng Mordant, Tổng Đại diện và là Chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, nguyên văn như sau:

’Một lần nữa, viên Thượng thư Bộ Lại (tức Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản … Tôi đã lưu ý Hoàng Đế Bảo đại rằng viên Thương thư Bộ Lại của Ngài đã lơ là các chức vụ của mình để nằng nặc đòi hỏi mở rộng các quyền của Viện Cơ Mật … Ông đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự phát triển lũy tiến theo một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Pham Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay thế chế độ ‘’bảo hộ’’ bằng một thể chế ‘’Thịnh vượng chung’’ trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không thể lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một chức vụ danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp … Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài.’’

Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời Hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước ‘’không thể lay chuyển’’.

Thưa …

Lần nữa chúng tôi xin nhắc lại điều vẫn nói cùng nhau những dịp này: Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh luôn nhận thức chính sự nghiệp và uy tín của những người nhận giải làm nên uy tìn và độ tin cậy cao của Giải. Xin trân trọng cám ơn các vị tân khoa của Giải 2018 vì điều đó, xin cám ơn các nhà khoa học và các nhà văn hóa đã sáng suốt đề cử và phản biện giúp chúng tôi trong quá trình làm giải. Xin cám ơn và xin chúc sức khỏe tất cả quý vị có mặt hôm nay.

—o0o—

Dâng hương tưởng nhớ học giả Thượng Chi – Phạm Quỳnh nhân dịp Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vừa tôn vinh Cụ là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời kỳ hiện đại

Ngày 13-4-2018 tức 28-2 Mậu Tuất, nhân tiết thanh minh, gia đình học giả Phạm Quỳnh, danh nhân văn hoá Việt Nam thời kỳ hiện đại, đã tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ Cụ tại khu mộ Cụ ở thành phố Huế.

Tham gia buổi lễ có 14 cháu, chắt, chút nội ngoại của Cụ đến từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đến dự còn có ông Phạm Hữu Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm Thừa Thiên- Huế. (Tin và ảnh của Nhà giáo Nhân dân Tôn Thất Thân)

 

Tháng Tư 12, 2018

Chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 5 năm 2018.

CHUYỆN KỂ CỦA MỘT CHIẾN SĨ XE TĂNG

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão 2011, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

–    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

–    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

–    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

–    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Tháng Ba 25, 2018

Thư của chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:47 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

Thư của Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên ngày 7/2/2018

GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH (LẦN XI, 2018)

 Anh Phạm Tuyên kính mến,

Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, do bà Nguyễn Thị Bình đứng đầu, thành lập và hoạt động đã hơn mười năm nay, hằng năm vẫn có một giải thưởng được trao cho những nhân vật có thành tựu đặc sắc trong các lĩnh vực Nghiên cứu, Dịch thuật, Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục, Việt Nam học (dành riêng cho người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam). Từ bốn năm nay, chúng tôi còn có thêm hạng mục Tôn vinh các danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại, mà chúng tôi giới hạn về mặt thời gian từ khi có chữ quốc ngữ – từ cuối thế kỹ 19 cho đến năm 1945 (trước đó thì đã được lịch sử khẳng định, sau đó thì đã do nhà nước xác nhận). Trong bốn năm qua, ngoài hai vị tiền bối là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, chúng tôi đã tôn vinh được các danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, được dư luận rộng rãi tán thành và hoan nghênh. Năm nay, chúng tôi mong muốn được tôn vinh Cụ Phạm Quỳnh mà chúng tôi luôn nghĩ là một nhân vật hết sức xứng đáng. Chúng tôi rất mong anh và gia đình vui lòng chấp nhận đề xuất chân thành này của chúng tôi.

Lễ trao giải và tôn vinh, như thường lệ, sẽ diễn ra vào ngày 24-3-2018, đúng ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh, vào lúc 18 giờ 30 tại khách sạn REX Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin kính mời anh và các vị trong gia đình có điều kiện đến dự buổi lễ trang trọng này. Chúng tôi cũng xin đề nghị anh thay mặt gia đình có một diễn từ phát biểu trong dịp này, tập trung chủ yếu nói về những đóng góp to lớn về văn hóa của Cụ Phạm, và tinh thần yêu nước sâu sắc của cụ. Vì nội dung phong phú và thời gian có hạn của buổi lễ, chúng tôi xin đề nghị diễn từ cố gắng cô đọng trọn vẹn trong khoảng trên dưới 1000 từ.

Theo đúng điều lệ Giải, mọi thông tin về Giải đều được giữ kín cho đến khi chính thức công bố.

Đã lâu không được gặp anh, tôi mong anh vẫn luôn mạnh khỏe và có nhiều sáng tạo mới.

Xin cám ơn anh rất nhiều,

Quý mến,

Ngày 7 tháng 2 năm 2018

Hội đồng khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh

Chủ tịch

(Đã ký)

      NGUYÊN NGỌC

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

  • Trang 1 báo Tuổi Trẻ ngày 25/3/2018

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh vừa được xướng tên tại buổi lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đêm 24-3 ở nội dung Dự án tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên (phải) thay mặt cha là Phạm Quỳnh nhận tôn vinh từ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Ảnh: L.ĐIỀN

Như vậy là tiếp theo 5 vị danh nhân vừa được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh tại dự án nói trên gồm: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi; Phạm Quỳnh (1892-1945) được xếp tên vào “ngôi đền online” do Quỹ Phan Châu Trinh lập ra, nơi sẽ tập hợp các thông tin về tiểu sử của các nhà văn hóa được vinh danh, các tác phẩm, các bài viết nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu về các nhà văn hóa này.

Một người yêu nước không thể lay chuyển

Trong diễn từ vinh danh, nhà văn Nguyên Ngọc – chủ tịch hội đồng khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – đã dùng cụm từ “một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước không thể lay chuyển” dành cho Phạm Quỳnh.

Cũng trong phần nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đời Phạm Quỳnh, tài năng và những đóng góp lớn lao cho văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam được nhắc lại.

“Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa Trường Thành chung bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm.

Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mù chữ nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt.

Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: “… Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm””.

Đặt Phạm Quỳnh trước sự lựa chọn chữ quốc ngữ Latin trước buổi đầu làm quen với phương tiện ngôn ngữ do “người Tây” chỉ dạy, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh cho rằng “lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực”.

Chính điều này đặt ra nhu cầu phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại.

Và đấy là một công việc khổng lồ. Phạm Quỳnh đã dành cả đời mình để dấn bước vào công việc ấy.

“Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập” – nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.

Ghi nhận đóng góp của Lữ Phương, Phan Cẩm Thượng, Dương Thụ

Năm nay, hạng mục Nghiên cứu của giải trao cho hai cá nhân: nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng và nhà nghiên cứu Lữ Phương.

Có lẽ điểm đặc biệt của Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần này là vinh danh Lữ Phương ở lý do “vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx”.

Giải văn hóa Phan Châu Trinh cũng ghi nhận những đóng góp của Lữ Phương từ những năm 1960 ở Sài Gòn, khi ông là cây bút chủ lực của tạp chí Tin Văn – một tạp chí văn nghệ có xu hướng tiến bộ, cương quyết bảo vệ các giá trị của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh chiến tranh có sự can thiệp của ngoại bang.

Cùng nhận giải Nghiên cứu năm nay là nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng “vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian”.

Giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh “vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công kỹ nghệ”, và trao cho nhạc sĩ Dương Thụ “vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa”.

Giải Dịch thuật trao cho dịch giả Nguyễn Tùng “vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học”.

Giải Việt Nam học được trao cho hai nhà nghiên cứu Daniel Hémery và Pierre Brocheux “vì thành tựu đặc sắc về Việt Nam học”. Đây là hai nhà sử học Pháp thường được coi là những người có thẩm quyền hơn cả về lịch sử Đông Dương và Việt Nam thời thuộc địa.

Hai ông là tác giả của một loạt công trình quan trọng, đặc biệt là cả hai có một tác phẩm nổi tiếng cùng viết chung: Đông Dương, một công cuộc thực dân hóa nhập nhằng, 1858-1954 (Indochine, une colonisation ambiguë) từng được nhà nghiên cứu Philippe Papin đánh giá cao.

Từng bước canh tân văn hóa

Năm nay là lần thứ 11 Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng như một hoạt động thực hiện sứ mệnh “góp phần phục hưng, du nhập, khởi phát, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm phục vụ công cuộc canh tân văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 21”, kế tục tinh thần canh tân mà nhà văn hóa Phan Châu Trinh khởi xướng từ 100 năm trước.

Sau 10 lần trao giải, các cá nhân được tôn vinh đều là những cá nhân xuất sắc trong học giới, là những người “không quản gánh nặng đường xa” đóng góp vào con đường khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh bằng chính những công trình thiết thực của mình.

LAM ĐIỀN

Nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động khi bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

NS Phạm Tuyên xúc động khi thay bố nhận giải Danh nhân Văn hóa VN thời hiện đại

(Bài thu từ Phunuonline.com.vn ngày 25/3/2018)

Với những cống hiến to lớn trong công tác giáo dục, cố học giả Phạm Quỳnh – cha ruột nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã trở thành nhân vật thứ 6 được vinh danh tại lễ trao giải Văn hoá Phan Châu Trinh 2018.

Tiếp nối sự thành công của 10 mùa giải trước, lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ XI -năm 2018 đã được long trọng diễn ra vào tối ngày 24/03 tại TP.HCM với sự tham dự của nhiều lãnh đạo các cấp, cơ quan ban ngành, đoàn thể và các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa…

Đây là hoạt động được tổ chức thường niên của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Lễ trao giải Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2018 tôn vinh các cá nhân xuất sắc nhận giải thưởng ở 4 hạng mục giải thưởng gồm: Vì Sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục (giải thưởng trao cho những người Việt hoặc người nước ngoài có những công trình văn hóa xuất sắc hay những hoạt động văn hóa – giáo dục xuất sắc tại Việt Nam); Nghiên cứu (hạng mục này dành cho những người Việt, không kể quốc tịch, có những công trình nghiên cứu xuất sắc); Dịch thuật (trao cho những người có những công trình dịch thuật xuất sắc nhằm góp phần chấn hưng văn hóa, khoa học và giáo dục, được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt); Việt Nam học (trao cho những người nước ngoài có những công trình nghiên cứu xuất sắc về Việt Nam hoặc có những công trình dịch thuật xuất sắc, dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài). Đặc biệt, BTC còn vinh danh vị Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại, là cố học giả – nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Cố học giả Phạm Quỳnh (1893 -1945) là cha ruột của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lúc sinh thời ông là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và là quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Việc ông được vinh danh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại thứ 6 trong lịch sử giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh khiến không ít người có mặt tại buổi lễ trao giải xúc động. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn khi đọc quyết định công bố kết quả đã không kiềm được cảm xúc.

Thay mặt người cha quá cố lên nhận giải thưởng cao quý, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã không nén được sự xúc động trước tình cảm và sự kính trọng mà xã hội, đất nước đã dành cho cha ông. “Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20. Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam”, nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ.

Nhà văn Nguyên Ngọc Luôn dành sự kính trọng khi nhắc về Phạm Quỳnh, nhà nghiên cứu văn hóa kiêm Ủy viên HĐ quản lý Quỹ kiêm Chủ tịch HĐ khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – Nguyên Ngọc chia sẻ: “Hôm nay Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại một con người như vậy, một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước “không thể lay chuyển”.

Cố học giả Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng khi tốt nghiệp thủ khoa trường Thành chung Bảo hộ từ năm 16 tuổi, là viên chức trẻ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nổi tiếng và tự học chữ Nho đến mức uyên thâm”.

Trước cố học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn hóa sau đã được vinh danh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại như: Danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Danh nhân văn hóa Phan Châu Trinh (1872 – 1926), Danh nhân văn hóa Phan Bội Châu (1867 – 1940), Danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Danh nhân văn hóa Phan Khôi (1887-1959).

Bài và ảnh Thanh Hương

—-o0o—

Giải thưởng Phan Châu Trinh 2018 tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

( Bài trang 8 báo Thanh Niên ngày 25/3/2018)

Tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 11 diễn ra tối 24.3 tại TP.HCM, nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1893 – 1945) đã được vinh danh là Danh nhân văn hóa VN thời hiện đại.

Năm danh nhân văn hóa từng được vinh danh trước đây là Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Khôi. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 90 tuổi, con trai nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã thay mặt gia đình lên nhận giải và đọc diễn từ.

Ngoài ra, các giải thưởng chính của năm nay gồm: giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục (2 giải) được trao cho nhóm dịch sách Nhất Nghệ Tinh vì đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục công – kỹ nghệ, và cho nhạc sĩ Dương Thụ vì đóng góp đặc sắc quảng bá văn hóa và tri thức tinh hoa.

Giải Dịch thuật được trao cho dịch giả Nguyễn Tùng vì những công trình dịch thuật đặc sắc về nhân học. Giải Nghiên cứu (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Lữ Phương vì những công trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa Marx, và cho nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng vì những công trình đặc sắc nghiên cứu văn hóa dân gian. Giải Việt Nam học (2 giải) được trao cho nhà nghiên cứu Daniel Hémery và nhà nghiên cứu Piere Brocheux vì những thành tựu đặc sắc về Việt Nam học.

Lễ trao giải được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao hằng năm nhằm vinh danh các cá nhân xuất sắc đã và đang có những nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp canh tân văn hóa và giáo dục VN.

Lucy Nguyễn

Bài phát biểu của Nhạc sĩ Phạm Tuyên tại lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh về Nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười, kỳ 1 tháng 4 năm 2018.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

TẠI LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH

VỀ NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.  Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, cuốn sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng khiêm tốn, nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh.

Sau đó 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên.

Trước đó 4 năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học  do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu.

Năm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh ,chính thức được bán và quảng bá tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3  năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932,. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước

            Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút.

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết  và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết.

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Giải thưởng Văn hóa Pham Châu Trinh (lần XI.2018) đã đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo giới trí thức trong cả nước khi vinh danh nhà văn hóa Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa và tinh thần yêu nước sâu sắc của Cụ đầu thế kỷ 20.

Đối với con cháu Cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn và là một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của Cụ cho nền văn hóa Việt Nam.

Trang sau »

Blog tại WordPress.com.