Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 14, 2017

Đông Hồ với tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:07 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 3 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

ĐÔNG HỒ VỚI TẠP CHÍ NAM PHONG VÀ PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân đã viết trong bài Đông Hồ, một nhà thơ, nhà giáo tâm huyết trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 25/3/2001 như sau : “Nhà thơ Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, tự là Trác Chi, còn có hiệu là Hòa Bích, Thủy Cổ Nguyệt, sinh năm 1906 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Mồ côi từ bé, ông được người bác là ông Lâm Hữu Lân – một trí thức Nho học – nuôi dạy. Sớm yêu thích văn chương, Đông Hồ đọc nhiều thơ văn chữ Hán và tích cực hưởng ứng phong trào đề cao tiếng Việt, quảng bá chữ quốc ngữ trên tạp chí Nam Phong.

Sau khi tốt nghiệp ngành sư phạm, Đông Hồ dạy học tại Trường Tiểu học Hà Tiên (1924). Để thực hiện chí nguyện của mình là vun đắp, dựng xây nền quốc văn, Đông Hồ đã âm thầm phản ứng lại chương trình giảng dạy của Pháp bằng cách hướng học sinh học thêm Việt văn, rèn luyện chữ quốc ngữ. Ông bắt đầu cộng tác với tạp chí Nam Phong (1925), đồng thời giúp cho học trò của mình tập viết văn gửi đăng báo này.

Theo gương của thi hào Rabindranath Tagore, ngày 30/10/1926, Đông Hồ lập nên Trí Đức học xá tại Hà Tiên.

Bài diễn văn đọc trong ngày khai trường Trí Đức học xá của Đông Hồ đã được đăng trọn vẹn trên Nam Phong số 115 (tháng 3/1927)

Theo đó, Đông Hồ nói rõ mục đích của trường là dùng chữ quốc ngữ để “khai trí tiến đức”.

Cùng với hoạt động giáo dục, Đông Hồ còn làm thơ, viết văn đăng trên Nam Phong, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo… Ông thực sự nổi tiếng với tập lệ ký Linh Phượng (đăng trên Nam Phong số 128, 4/1928). Đó là một tác phẩm viết bằng văn xuôi và thơ, bày tỏ nỗi niềm của một người đàn ông khóc vợ –  tâm trạng thực sự của Đông Hồ với người vợ quá cố của mình. Bài ký sự “Thăm đảo Phú Quốc” và “Phủ Đông Hồ” của nhà thơ, với giọng văn hào sảng ca tụng các thắng cảnh ở Hà Tiên và những chiến tích oanh liệt, cũng đã được nhiều người tán thưởng.

Năm 1932 Đông Hồ xuất bản tập “Thơ Đông Hồ” (NXB Nam Ký thư quán, Hà Nội, 1932) tập hợp nhiều bài thơ của ông đã đăng trên báo Nam Phong

Năm 1935, Đông Hồ lên Sài Gòn chủ trương tuần báo Sống. Báo này chỉ ra được 30 số, nhưng với thời gian ngắn ngủi ấy, Đông Hồ đã làm được hai điều có ý nghĩa: thu hút được nhiều cây bút đứng đắn, tiến bộ viết cho Sống; thực hiện được một tờ báo đầu tiên ở Nam Bộ viết đúng chính tả (theo Nguyễn Hiến Lê, xem “Đông Hồ – Mộng Tuyết”, Võ Văn Nhơn biên soạn, NXB Hội Nhà văn, 1992. (…)

Có thể nói, đối với Đông Hồ, việc dạy học cũng như viết văn, làm thơ, thậm chí việc xuất bản, làm báo hay phát hành sách cũng không chỉ thuần túy là một nghề nghiệp để kiếm sống, đó còn là một phương tiện để ông thể hiện cái khát vọng mãnh liệt của mình từ thuở bé:  trau dồi, vun đắp, xây dựng nền văn hóa nước nhà ngày càng đẹp đẽ.

Phải chăng vì lý do đó mà Đông Hồ không cam phận sống cuộc đời yên ổn, nhàn hạ của một nhà giáo, khép mình vào chương trình giảng dạy của Pháp, lại cố lội ngược dòng: lôi cuốn học sinh học tiếng Việt, mở Trí Đức học xá để quảng bá tiếng Việt, trong khi phong trào chung lúc ấy là nắm lấy tiếng Pháp để tìm một chỗ đứng trong xã hội?

Khi con đường giáo dục thất bại, Trí Đức học xá bị đóng cửa, Đông Hồ đã viết những vần thơ buồn bã:

Thôi đành chịu người thua cảnh ngộ

Cảnh không may thực khó mà nên

Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên

Năm năm ba bận tình duyên lỡ làng!”

(Trích “Đông Hồ – Mộng Tuyết”)

Cắt nghĩa sự hình thành thiên hướng của Đông Hồ, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến bốn nguồn ảnh hưởng:

Một là mảnh đất Hà Tiên, quê hương Đông Hồ, nơi ít chịu tác động của văn minh phương Tây, vẫn còn lưu giữ nhiều nếp cổ. Hà Tiên còn là vùng đất có phong cảnh thiên nhiên đặc biệt đủ cả sông, hồ, núi, biển, lại có truyền thống thơ văn Nôm từ thời Chiêu Anh Các.

Hai là sự giáo dưỡng ân cần chu đáo của người bác đỡ đầu là nhà nho Lâm Hữu Lân, vốn là người rất trọng thơ văn chữ Nôm và rất cấp tiến trong quan niệm sống.

Ba là ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong, tờ báo mà Đông Hồ bắt đầu đọc từ năm 15 tuổi và xem nó như một phương tiện rèn luyện tiếng Việt.

Cuối cùng là dấu ấn của thi sĩ Tagore trong cuộc đời Đông Hồ. Tagore từng lập một tịnh xá ở gần Calcutta, đặt tên là Santiniketan, để dạy một số thanh niên cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần thiên nhiên. Tagore quan niệm: có học tiếng mẹ đẻ thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được. Còn Đông Hồ thì lập Trí Đức học xá, suốt đời say sưa với “Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên”, một lòng vun đắp nó (xem “Đông Hồ – Mộng Tuyết”)

(…)

Là nhà văn, Đông Hồ đã đi một bước dài từ thơ cũ đến thơ mới, từ văn xuôi biền ngẫu đến văn xuôi hiện đại. Ông cũng có những công trình khảo cứu mà giá trị tư liệu rất lớn.

Là người thầy của Trí Đức học xá những năm 1920 – 1930 đến Đại học Văn Khoa Sài Gòn những năm 1960, Đông Hồ đã để lại những dấu ấn khó quên trong lòng nhiều thế hệ học trò. Chính vì thế mà trên bia mộ của ông, ngoài những dòng chữ tưởng nhớ của gia đình còn có hai câu thơ của một môn sinh Trí Đức học xá:

“Ân sâu nghĩa nặng tình dài

Khóc thầy, khóc mãi biết đời nào nguôi”

—o0o—

Năm 1934, sau 211 số báo (Kể cả số Tết Mậu Ngọ – 1918, tờ báo Tết đầu tiên của nước ta) Tạp chí Nam Phong đình bản. Nhân dịp này, trong bài Nam Phong đình bản, Đông Hồ Lâm Tấn Phác xúc động ghi nhận : “Tôi  cầm mấy số báo, vui vui, rồi như có một tia sáng chạy qua óc tôi, tôi nghĩ: “Thì ra quốc văn ta có thể diễn nổi những cảnh sắc sáng sủa, những cảm tình lãng mạn của thơ Tây, và cũng có thể diễn nổi những ý tứ thâm trầm, những tư tưởng cao thượng của thơ Tàu.

Tôi tỉnh ngộ. Tôi thấy rằng nước ta còn có chữ, giống ta còn tiếng nói. Quốc văn ta có nghèo hèn kém cỏi gì đâu. Tôi bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học quốc ngữ. Cái duyên của tôi với báo Nam Phong cũng bắt đầu từ đó, mà cái cảm tình của tôi đối với tiếng nước nhà càng đằm thắm mặn mà cũng bắt đầu từ đó (…)

Nam Phong sở dĩ làm cảm động được lòng người, kêu gọi được cái tâm hồn phất phơ của người tuổi trẻ về với non sông đất nước một cách âu yếm thiết tha là nhờ ở quốc ngữ tiếng nước nhà (…)

“Ai bảo đọc Nam Phong mà không có cảm tình đó ít nhiều, tôi cho là một lời nói gượng mà thôi. Chớ tôi biết có nhiều người, mấy năm gần đây, tư tưởng, chủ nghĩa trái với Nam Phong, ý kiến trái với Phạm Quỳnh, nhưng vẫn mua Nam Phong, đọc Nam Phong. Mỗi lần được tập Nam Phong vẫn trân trọng giữ gìn. Rồi đóng bìa da, gáy mạ vàng tốt đẹp, xem làm một vật quí ở tủ sách gia đình.

Người đồng chí yêu quí thì đã đành; người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng, tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng. Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí, nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh hạnh đặc biệt như báo Nam Phong vậy.

Lạ lùng thay! mà cũng vẻ vang thay!

(Trích Nam Phong đình bản, báo Sống, ngày 9/4/1935)

—o0o—

Năm nay 2017, năm Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi thì báo Tuổi Trẻ số ra ngày 1/3/2017 có bản tin Tiếp nhận di sản của nhà thơ Đông Hồ của hai bạn Nguyễn Triều và Tấn Đức:

“Tỉnh Kiên Giang đang tiến hành các thủ tục để tiếp nhận di sản của đôi vợ chồng tài hoa – nhà thơ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết, cũng như dự kiến sẽ phục dựng Trí Đức học xá – trường tư thục đầu tiên do nhà thơ Đông Hồ sáng lập để dạy chữ quốc ngữ.

Di sản của nhà thơ Đông Hồ bao gồm khu nhà lưu niệm “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” hiện tọa lạc trên con đường mang tên ông tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đây là ngôi nhà do vợ ông là nữ sĩ Mộng Tuyết dựng lên và hoàn thành năm 1995 để lưu giữ, bảo tồn và tôn vinh giá trị di sản về thân thế, sự nghiệp của hai người. Những hình ảnh, di bút, sách báo về sự nghiệp văn chương của đôi vợ chồng tài hoa được bảo quản và trưng bày tại đây. Nhà lưu niệm từ khi hoàn thành đã là điểm đến tham quan, tìm hiểu “văn hóa Hà Tiên” của giới nghiên cứu và người hâm mộ trong, ngoài nước.

Làm hồ sơ công nhận di tích

Hiện các di bút, tài liệu sách báo quý, di vật và ngôi nhà của nhà thơ Đông Hồ – nữ sĩ Mộng Tuyết đang xuống cấp. Năm 2007, nữ sĩ Mộng Tuyết qua đời, nhà lưu niệm theo di chúc được giao cho người cháu họ là bà Nguyễn Thị Thanh Hoa trông coi cho đến nay. Bà Hoa vốn là giáo viên, không lập gia đình riêng, có nhiều năm cùng sống và chăm sóc nữ sĩ Mộng Tuyết. Nay đã ở tuổi 70, bà Hoa có nguyện vọng trao gửi di sản của vợ chồng nhà thơ để Nhà nước tiếp quản, tôn tạo và bảo tồn.

Bà Hoa cho hay lâu nay bà sống một mình và gìn giữ phần di sản này với sự quan tâm chu đáo của chính quyền thị xã Hà Tiên. “Nhưng tôi biết mình cũng không thể cưỡng lại quy luật thời gian, nên tranh thủ khi đầu óc còn minh mẫn, tôi viết đơn và gặp trực tiếp chính quyền thị xã Hà Tiên với mong mỏi nơi này tiếp tục được duy trì để không bị mai một và mãi mãi được hậu thế biết đến” – bà Hoa nói.

Mới đây, lãnh đạo Sở Văn hóa – thể thao (VH-TT), UBND thị xã Hà Tiên đã gặp trực tiếp bà Hoa để lắng nghe nguyện vọng của bà. Sau đó, Sở VH-TT đã có tờ trình và được UBND tỉnh Kiên Giang chấp thuận chủ trương tiếp nhận nhà lưu niệm Đông Hồ thành tài sản nhà nước. UBND thị xã Hà Tiên được giao làm thủ tục tiếp nhận, duy trì và bảo vệ nhà lưu niệm, khu mộ nhà thơ Đông Hồ. Ông Diệp Hoàng Du – giám đốc Sở VH-TT tỉnh Kiên Giang – cho biết cùng với việc tiếp nhận nhà lưu niệm Đông Hồ, cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu sắp xếp nơi thờ cúng và bố trí nơi ở, sinh hoạt cho bà Hoa theo nguyện vọng của bà. Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng sẽ hoàn tất hồ sơ để công nhận khu lưu niệm Đông Hồ là di tích văn hóa cấp tỉnh.

Sẽ phục dựng Trí Đức học xá

Một điều không phải ai cũng biết là nhà lưu niệm “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” được xây dựng ngay khu vực “Trí Đức học xá” trên khu đất của gia đình nhà thơ Đông Hồ, vốn có tổng diện tích lên đến 6.600m2. Ngoài diện tích khu lưu niệm rộng 350,8m2 hiện nay, phần còn lại đã được trưng dụng xây dựng trường mẫu giáo.

Thời người Pháp cai trị khắp Đông Dương, các trường học do Pháp mở đều lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, còn tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Điều này đã làm cho thầy giáo Đông Hồ băn khoăn và thôi thúc ông tự mở Trí Đức học xá ngay tại nhà mình. Trường dạy toàn tiếng Việt cho bất kỳ ai muốn học, nhằm mục đích “dùng quốc văn để dạy con trẻ biết yêu nước nhà”. Buổi học đầu tiên khai giảng vào ngày 30-10-1926. Đây được xem là ngôi trường duy nhất ở miền Nam lúc ấy lấy tiếng Việt để giảng dạy. Học giả Phạm Quỳnh khi ấy viết trên tạp chí Nam Phong: “Trí Đức học xá muốn bày tỏ cho thiên hạ biết rằng tiếng nước nhà có thể dạy con em nước nhà, bất tất phải mượn đến tiếng ngoại quốc”. Sự ra đời của một ngôi trường dạy toàn quốc ngữ trong bối cảnh này đã khiến chính quyền thuộc địa và người Pháp bất an, dùng nhiều biện pháp o ép để trường phải đóng cửa, nghỉ giảng vào cuối năm 1934. (Cũng là năm Tạp chí Nam Phong đình bản – PT chú)

UBND tỉnh Kiên Giang cũng vừa chấp thuận đề xuất của Sở VH-TT về việc không bố trí công trình khác trên phạm vi trường mẫu giáo (hiện không còn hoạt động) để giữ đầy đủ quỹ đất của Trí Đức học xá. “Trí Đức học xá có vai trò và vị trí rất lớn về mặt lịch sử.

Với quỹ đất được khôi phục này đủ để phục dựng không gian Trí Đức học xá và xây dựng nơi trưng bày truyền thống lịch sử văn hóa, di sản văn học của Hà Tiên, là địa điểm văn hóa đặc trưng của Hà Tiên nói riêng và Kiên Giang nói chung” – ông Diệp Hoàng Du nói.

Nhà thơ Đông Hồ (1906 – 1969) tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên. Ông được đánh giá là nhà giáo, nhà văn hóa, nhà thơ danh tiếng của nền văn hóa Việt Nam.

Ông đột tử ngay trên bục giảng Đại học Văn khoa Sài Gòn ngày 25-3-1969 khi đang bình giảng cho sinh viên bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang.

Nguyễn Triều – Tấn Đức

—o0o—

121 trang sách cuối tập I bộ Du Ký Việt Nam (Tạp chí Nam Phong 1917-1934) – NXB Trẻ, 2007, từ 518 đến 639) in bài Cảnh Vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm sao lục (số 150 đến 154 Tạp chí Nam Phong từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1930).

Lời tòa soạn của P.Q. viết:

“Ở Hà Tiên có một trường tư thục tên là “Trí Đức học xá”, do mấy nhà giáo dục nhiệt thành về quốc văn khởi xướng lên, mục đích là dùng quốc văn để dạy học trò, muốn bày tỏ cho thiên hạ biết rằng tiếng nước nhà có thể dạy được con em nước nhà, bất tất phải mượn đến tiếng ngoại quốc vậy.

Trường này đã có kết quả tốt: cứ xem những bài quốc văn nhỏ của các nam nữ học sinh soạn mà bản chí đã đăng độ trước, nhan đề là Bông hoa đầu mùa, thì đủ biết.

Các nhà chủ trương trường Trí Đức đã lấy quốc văn làm khí cụ, lại lấy quốc gia làm tinh thần. Dùng quốc văn để dạy cho con trẻ biết yêu mến nước nhà, còn cách giáo dục nào đích đáng bằng!

Muốn cho con trẻ yêu mến nước nhà thì phải cho con trẻ thông thuộc nước nhà, hiểu biết cả lịch sử, địa lý, lễ giáo, phong tục, nhỏ từ cách sinh hoạt trong dân gian, lớn đến các kỷ cương về đạo lý, ngõ hầu mới có lòng thiết tha đến nơi quê hương tổ quốc của mình. Lại trước khi biết đến cái tổ quốc lớn là cả toàn thể quốc gia, phải biết cái tổ quốc nhỏ là nơi địa phương mình sinh trưởng đã. Bởi thế nên các nhà giáo dục trường Trí Đức bấy lâu vẫn ân cần dạy cho học trò biết cái tổ quốc nhỏ của mình là đất Hà Tiên. Mấy năm nay, thầy trò cùng biên tập, được mấy trăm trường giấy đầy, khảo về phong cảnh nhân vật đất Phương Thành, đề là Cảnh vật Hà Tiên.

Vì hâm mộ cái chủ nghĩa chấn chỉnh quốc văn, phụng sự quốc gia của báo Nam Phong này, nên gửi cả tập ra đăng báo. Bản chí sẽ lựa lọc mà đăng dần, trước là để đáp lại cái thịnh tình của các bạn đồng chí ở Hà Tiên, sau là để biểu dương cái gương tốt của Trí Đức học xá cho quốc dân được biết và mong sẽ có người noi theo vậy.

P.Q.

Năm 1945, sau cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3, Phạm Quỳnh từ quan về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên con sông nhỏ An Cựu chuẩn bị trở lại với nghiệp văn của mình. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc đồng cảnh với ông. Ông tìm đọc Đỗ Phủ, lựa ra những bài mình tâm đắc nhất, dịch thô được 51 bài thơ thì gửi cả cho thi sĩ Đông Hồ, cộng tác viên nhiệt thành của Tạp chí Nam Phong, rồi trở thành người bạn tri kỷ, có tâm, có tầm, người đồng chí thân thiết với ông từ nhiều năm nay.

Sau khi Đông Hồ mất (3/1969) bà vợ là nhà thơ Mộng Tuyết thu xếp sách vở, tài liệu của chồng đã bắt gặp tập bản thảo này. Trong đó Phạm Quỳnh tự tay chép các bài thơ Đỗ Phủ bằng chữ Hán và viết bản dịch nghĩa của mình theo đúng số chữ trong câu thơ Đỗ Phủ. Bấy giờ tập này đã đóng thành sách, bìa da đỏ, chữ mạ vàng, được nhà thơ Mộng Tuyết mang sang Paris. Và ngày 11/9/1974 bà trao tận tay nhà thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, tác giả Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong)

Lá thư cuối cùng của nữ sĩ Mộng Tuyết

Mùa hạ năm 1945 ấy, Đông Hồ đang sống cùng nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò và bạn đời của ông tại Hà Tiên. Huế và Hà Tiên không phải là xa xôi cách trở gì lắm, vậy mà những sự biến tày trời, đổ tai họa xuống đời Phạm Quỳnh, hai ông bà không hay biết gì hết. Bức thư cuối cùng trong đời của nữ sĩ Mộng Tuyết viết ở tuổi 94 từ Hà Tiên gửi cho chúng tôi đã nói rõ điều kỳ lạ đó: Rõ ràng vụ bí mật, lén lút thủ tiêu Phạm Quỳnh đêm 6/9 rạng ngày 7/9/1945 ở nơi rừng hoang Hắc Thú nọ của một số người ở Thừa Thiên Huế không ai muốn phổ biến rộng rãi. Đó là một sự thật kỳ lạ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết viết ngày 29/12/2006 một bức thư dài tới bốn trang giấy A4. Mở đầu là những dòng sau: “Được đọc bài viết của cháu về Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh làm cho bác ngẩn ngơ. Vì bác xa xôi, vẫn không biết rõ hoặc nghe về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, cứ ngỡ là không có điều gì bất thường khi Cụ vào Huế trở về sau.” Và tiếp đó, thư nhiều lần nhắc lại câu “Bác thật xúc động khi đọc bài của cháu viết về cái chết của cụ Thượng Chi!!!” Rồi “Đọc bài cháu viết về cái chết của Cụ Phạm Quỳnh mà bác vô cùng xúc động. Và lạ lùng là tin động trời như vậy mà ở trong này, bác và bác Đông Hồ không biết gì cả.” Tiếp đó là “bài báo cháu viết làm cho bác biết thêm nhiều điều mà bác vẫn không có được biết tin tức mảy may nào! (…) bác chưa từng nghĩ đến việc đời lại xảy ra như vậy!!! Bác viết cho cháu mà lòng bác rất “bức xúc” không biết việc đời nó lại xảy ra như vậy đối với gia đình…” Rồi cụ còn nhắc, ở tuổi 94 là “Các tác phẩm của Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh đã in lại có bán ở đâu cháu cho biết để bác nhờ cháu mua giúp bác.” Và còn tế nhị viết “Cháu biết không, ở cái tuổi 94 của bác này, thì bác viết một bức thư này cháu cũng không đọc được nữa rồi.”

Bài báo mà chúng tôi gửi cho nữ sĩ Mộng Tuyết là bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước đang trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 8 năm 2006.

Nữ sĩ sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang và mất tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang ngày 1/7/2007.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2/2/2010

Tôn Thất Thành

(…)

Tháng Ba 2, 2017

Trên quê hương yêu dấu kỳ 1 tháng 3 năm 2017

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 1:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 3 năm 2017.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân 25/2/2017:

Hội nghị toàn quốc về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến

Ngày 24-2, tại Trụ sở T.Ư Ðảng, Ủy ban Kiểm tra T.Ư tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Ðảng năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự, phát biểu ý kiến chỉ đạo. Dự hội nghị, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Ðinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư; Trần Quốc Vượng, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Phạm Minh Chính, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng ban Tổ chức T.Ư; Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy Hà Nội; đồng chí Nguyễn Văn Nên, Bí thư T.Ư Ðảng, Chánh Văn phòng T.Ư; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra T.Ư; đại diện lãnh đạo các ban của Ðảng ở T.Ư, các ban cán sự đảng, đảng đoàn; thường trực các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc T.Ư, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc T.Ư,…nguyen-phu-trong-voi-cac-dai-dien-hoi-nghi

Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, đồng chí Trần Quốc Vượng nêu rõ, năm qua, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Ðảng được triển khai theo tinh thần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và đã đạt những kết quả quan trọng.

Ðồng chí Trần Quốc Vượng đề nghị các đại biểu phát huy trí tuệ, dân chủ, tập trung thảo luận đánh giá chính xác, khách quan, đúng mức kết quả công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng năm qua, nhất là những mô hình, cách làm mới; đồng thời chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, yếu kém, khuyết điểm; dự báo những nhân tố, vấn đề mới tác động đến quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra và hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp. Phân tích nêu rõ các nội dung, giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, trọng tâm là thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; chú ý trao đổi những biện pháp tăng cường giám sát, nắm tình hình tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những nơi có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nơi có vấn đề phức tạp nảy sinh, vấn đề bức xúc mà đảng viên và nhân dân phản ánh, tạo cơ sở và sự chủ động cho công tác kiểm tra, giám sát. Từ thực tiễn và yêu cầu, công tác kiểm tra, giám sát thời gian tới, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của Ðảng trong công tác xây dựng Ðảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói riêng.

Sau khi nghe các đại biểu thảo luận, phát biểu ý kiến chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, điểm sáng nổi bật của năm 2016 là Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã vào cuộc rất tích cực, quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng ở Trung ương đã diễn ra khá sôi động, có nhiều việc làm và làm được nhiều việc, có kết quả rõ rệt, được dư luận đồng tình, đánh giá cao, tạo ra một làn gió mới, niềm tin mới.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng và chặt chẽ, trong đó lấy phòng ngừa, xây là chính. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng là để kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”; đồng thời, kiên quyết xử lý những tổ chức đảng, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Ðảng, đến sự phát triển của đất nước (Toàn văn bài phát biểu đăng trên số báo hôm nay).

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 17/2/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm làm việc tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc

Sáng 16-2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm, làm việc tại Khu công nghệ cao (KCNC) Hòa Lạc (Hà Nội). Cùng dự có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, lãnh đạo một số bộ, ngành T.Ư, UBND thành phố Hà Nội.

KCNC Hòa Lạc có quy mô 1.586 ha, nằm trên địa bàn hai huyện Thạch Thất và Quốc Oai. Ban quản lý KCNC Hòa Lạc đã được giao 1.530 ha, hiện còn 56 ha đang thực hiện các thủ tục thu hồi đất theo quy định; đã bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) 1.343 ha. Do KCNC Hòa Lạc đang trong giai đoạn tập trung GPMB và xây dựng cơ sở hạ tầng, cho nên việc thu hút đầu tư chưa đạt kết quả như mong đợi. Hệ thống hạ tầng nhiều giai đoạn, thiếu đồng bộ do thiếu ngân sách; một số quy định, cơ chế, chính sách chưa phù hợp thực tế mô hình, tính chất của KCNC; cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư áp dụng chưa nhất quán… Trên cơ sở đó, Ban quản lý KCNC Hòa Lạc đề xuất một số giải pháp, kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành, TP Hà Nội để KCNC được xây dựng và phát triển đúng mục tiêu, đáp ứng vai trò chiến lược về phát triển khoa học công nghệ (KHCN).

nguyen-xuan-phuc-tai-khu-cong-nghe-cao-hoa-lacTại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng, cần xác định mục đích chính của KCNC là tăng cường tiềm lực KHCN, sáng tạo công nghệ mới cho đất nước, cho nên không “ép” tốc độ thu hút đầu tư. Phó Thủ tướng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ mạnh dạn giao thêm quyền cho Ban quản lý, thật sự vào việc, tận dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,…

Phát biểu ý kiến kết luận buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Chính phủ có chủ trương ban hành một Nghị định mới về cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho sự phát triển của KCNC Hòa Lạc trong thời gian ngắn tới. Thủ tướng cho rằng, cần phải đầu tư mạnh vào nghiên cứu sáng tạo thì mới đem lại giá trị gia tăng cao và sức cạnh tranh toàn cầu chứ không chỉ ứng dụng KHCN, vấn đề quan trọng là làm sao hiện thực hóa thành công định hướng này trong vòng 5 hay 10 năm tới. Thủ tướng cũng chỉ ra nhiều hạn chế, bất cập của KCNC như số lượng dự án công nghệ cao còn quá ít so với các KCNC, khu công nghiệp điện tử khác trong cả nước. GPMB kéo dài 20 năm qua chưa xong, cho thấy chúng ta chưa có quyết tâm chính trị cao; sự đóng góp cho phát triển nền KHCN Việt Nam chưa được cao như kỳ vọng.

Thủ tướng yêu cầu cán bộ, nhân viên Ban quản lý KCNC Hòa Lạc phải thay đổi cách nghĩ, cách làm tốt hơn, sàng lọc và thu hút nhiều nhà đầu tư để sản xuất các sản phẩm có hàm lượng KHCN cao, có chất lượng cao, sức cạnh tranh, tạo dựng thương hiệu cho KCNC. Ngoài việc ươm nhân tài, KCNC phải có cơ chế để thu hút trí tuệ các nhà khoa học giỏi của Việt Nam. Các bộ, ngành liên quan phải coi KCNC Hòa Lạc là dự án trọng điểm cần ưu tiên nguồn vốn, thường xuyên có các cơ chế, chính sách hỗ trợ; luôn có sự kiểm tra, giám sát. Lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành thường xuyên quan tâm, trực tiếp xuống lắng nghe ý kiến để tháo gỡ mọi khó khăn trong quá trình phát triển. Thủ tướng lưu ý, KCNC Hòa Lạc không phải đơn thuần là khu công nghiệp mà phải là hình mẫu của nền kinh tế Việt Nam thu nhỏ trong tương lai, các thực thể kinh tế hoạt động trên nền tảng công nghệ cao, đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu KHCN, lấy sáng tạo là động lực phát triển. Thủ tướng cũng yêu cầu không xây thêm trường đại học trong KCNC này.

Thủ tướng cho ý kiến về một số đề xuất, kiến nghị của KCNC Hòa Lạc. Trong đó, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu TP Hà Nội phải hỗ trợ, cùng Ban quản lý giải quyết dứt điểm công tác GPMB cho KCNC trong năm 2017. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống hạ tầng ngoài KCNC, nhất là tính tới các phương án kết nối giao thông thuận lợi như xe buýt, kể cả tính tới nghiên cứu đầu tư hệ thống đường sắt; xây dựng KCNC Hòa Lạc thành trung tâm khởi nghiệp, nhất là công nghệ thông tin, sinh học. Chính phủ ủng hộ chủ trương ưu tiên nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, nâng cao tiềm lực KHCN. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành khi xây dựng cơ chế, chính sách phải lưu ý đặc thù KCNC; triển khai xúc tiến đầu tư cấp Chính phủ vào KCNC và các dự án đầu tư phải bảo đảm các yếu tố “xanh, sạch”, phát triển bền vững, trở thành một thành phố đáng sống.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Đoàn công tác Chính phủ đã tới thăm Làng Phần mềm FPT. Hiện, Tập đoàn FPT là nhà đầu tư lớn nhất tại KCNC Hòa Lạc với hai dự án Làng Phần mềm FPT và Trường đại học FPT. Trong đó, Dự án Làng Phần mềm là dự án đầu tiên và lớn nhất trong lĩnh vực phần mềm với 5.000 lập trình viên, cán bộ, nhân viên; hiện đang nghiên cứu, triển khai 250 dự án cho hơn 100 khách hàng Nhật Bản. Doanh thu xuất khẩu phần mềm của FPT năm 2016 đạt 230 triệu USD, tăng 24% so năm 2015. Trường đại học FPT hiện đang đào tạo khoảng 3.000 sinh viên công nghệ thông tin. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn công tác cũng tới thăm khu sản xuất công nghệ cao của VNPT Technology, thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) tại KCNC Hòa Lạc. Đây là cơ sở chuyên sản xuất các loại thiết bị công nghệ thông tin, viễn thông, điện thoại thông minh, thiết bị đầu cuối… chất lượng cao của VNPT.

Nhân dịp thăm và làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đồng chí lãnh đạo trồng cây lưu niệm tại khuôn viên trụ sở Ban Quản lý KCNC Hòa Lạc.

Hiện, Khu công nghệ cao Hòa Lạc đã có 36 dự án hoạt động với khoảng hơn 10 nghìn người đang làm việc và học tập; 12 dự án đang xây dựng; 30 dự án đang thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư. Riêng năm 2016, Ban quản lý KCNC Hòa Lạc thu hút chín dự án với tổng vốn đăng ký 4.330,4 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2016 đạt 2,436 tỷ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1,271 tỷ USD.

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 15/2/2017:

Lãnh đạo GTVT TP.HCM “cà phê sáng” với báo chí

Sở GTVT TP.HCM đã mời nhiều phóng viên tại TP.HCM đến sở và các phòng ban để cùng chia sẻ, bàn luận về tình hình giao thông TP. Ông Bùi Xuân Cường – giám đốc sở – cho biết sẽ có những buổi cà phê sáng như vậy vào sáng thứ ba của tuần thứ 3 hằng tháng, địa điểm cố định tại căngtin của sở và diễn ra khoảng 1 giờ.

Ông Cường khẳng định ban giám đốc sở sẽ cố gắng “triệu tập” đầy đủ các lãnh đạo phòng ban… để đến cà phê với các phóng viên. Ông cho rằng TP.HCM có hàng ngàn kilômet đường sá, hàng ngàn cầu cống, vỉa hè, công trình giao thông… Các nhà báo là người thường xuyên ghi nhận thông tin, có những hiến kế về giao thông và thông qua các cuộc cà phê sáng định kỳ, sở muốn lắng nghe lẫn chia sẻ thông tin nhằm có những giải pháp tốt hơn nữa cho giao thông TP.HCM.

Lãnh đạo Sở GTVT cũng nói những cuộc cà phê sáng này phụ trách và quan tâm đến giao thông TP.HCM

Viễn Sự

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 16/2/2017:

Hòa lưới điện quốc gia tổ máy 1 Thủy điện Trung Sơn

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, ngày 15-2, tổ máy 1 (công suất 65 MW) Nhà máy Thủy điện Trung Sơn chính thức hòa lưới điện quốc gia thành công. Dự án Thủy điện Trung Sơn gồm bốn tổ máy, tổng công suất 260MW, tổng mức đầu tư hơn 410 triệu USD, được xây dựng trên sông Mã thuộc địa phận xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa; là dự án thủy điện quy mô lớn đầu tiên ở Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ vốn.

Dự kiến, công trình hoàn thành toàn bộ vào tháng 8-2017, cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, góp phần chống lũ về mùa mưa, cấp nước về mùa khô cho tỉnh Thanh Hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương và bảo đảm an ninh quốc phòng khu vực tây Thanh Hóa.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/2/2017:

Khai trương siêu thị nông sản an toàn UCAmart thứ năm tại Hà Nội

Ngày 13-2, Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam, Liên hiệp HTX tiêu thụ nông sản an toàn Việt Nam đã khai trương siêu thị UCAmart thứ năm tại Hà Nội. Tới dự có các đồng chí: Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Võ Kim Cự, lãnh đạo UBND, Liên minh HTX các địa phương và hơn 100 HTX, doanh nghiệp sản xuất nông sản an toàn…

Phát biểu ý kiến tại lễ khai trương, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh biểu dương sáng kiến của Liên minh HTX Việt Nam trong việc thành lập Liên hiệp HTX tiêu thụ nông sản an toàn Việt Nam.

Phó Chủ tịch nước mong muốn chuỗi siêu thị UCAmart tiếp tục được nhân rộng trong cả nước. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nông nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi để thích ứng với tình hình mới về chất lượng an toàn nông sản. Ngành nông nghiệp và Liên minh HTX Việt Nam cần xây dựng hành lang pháp lý cho các HTX phát triển, nhất là các HTX ở vùng sâu, vùng xa tham gia sản xuất, tiêu thụ nông sản an toàn.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 15/2/2017:

Gia Lai phát triển các mô hình cà phê chất lượng cao

Hiện, tỉnh Gia Lai đã xây dựng và phát triển các mô hình cà-phê chất lượng cao đạt tiêu chuẩn 4C (Bộ Nguyên tắc chung cho cộng đồng cà-phê thế giới) với diện tích 2.326 ha. Tham gia các mô hình có 15 nhóm nông hộ với 1.300 thành viên. Qua đánh giá, bình quân mỗi ha cà phê chất lượng cao có mức lợi nhuận từ 75 đến 80 triệu đồng, tăng khoảng 15% so với trước.

* Tại tỉnh Đác Lắc hiện có hơn 44 nghìn hộ tham gia sản xuất cà phê có chứng nhận, xác nhận với diện tích 64.10 ha, sản lượng đạt 226.100 tấn cà phê nhân. Tham gia chương trình sản xuất, các hộ, doanh nghiệp được các đơn vị chức năng tập huấn về bộ tiêu chuẩn, nguyên tắc của chứng nhận, xác nhận để canh tác bền vững trên vườn cà phê. Hơn nữa, sản phẩm cà phê nhân có chứng nhận, xác nhận cũng cao hơn từ 30 đến 60 USD/tấn so với cà phê không có chứng nhận, xác nhận.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 21/2/2017:

Tàu công-ten-nơ hơn 18 nghìn TEU cập cảng Cái Mép – Thị Vải

Chiều 20/2, Margretthe Maersk, một trong những tàu công-ten-nơ trọng tại lớn nhất thế giới hiện nay, đã cập Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT), thuộc hệ thống cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) an toàn tuyệt đối. Việc “siêu tàu” cập cảng CMIT thành công một lần nữa khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của cụm cảng nước sâu này đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực phía nam và cả nước. Để bảo đảm an toàn cho việc tàu cập và rời cảng, Cục Hàng hải Việt Nam đã thống nhất phương án đón “siêu tàu” này, đề ra nhiều tình huống giả định sẵn sàng ứng phó khi xảy ra sự cố.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 19/2/2017:

Ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu

Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến về việc thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của Đề án Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu. Cụ thể, căn cứ vào các quy định liên quan của Luật Đầu tư công, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan tiến hành thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của Đề án; đề xuất cơ quan chủ trì thẩm định báo cáo tiền khả thi của Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 19/2/2017:

Ngư dân Quảng Trị được mùa cá cơm

Những ngày qua, hàng chục tàu của ngư dân hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh (Quảng Trị) trở về bờ sau nhiều ngày đánh bắt trên biển, với những khoang tàu đầy ắp cá cơm. Ước tính, mỗi tàu đánh bắt được từ 1,5 đến 2,5 tấn cá cơm. Với giá bán gần 25.000 đồng/kg, trừ chi phí mỗi tàu thu được từ vài chục đến hơn trăm triệu đồng. Hầu hết cá cơm được các thương lái thu mua ngay tại cảng cá để đưa vào lò hấp phơi làm cá khô

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 14/2/2017:

Jetstar miễn phí vé chiều về khi bay đến Ô-xtrây-li-a

Ngày 13-2, Hãng hàng không Jetstar Pacific cho biết, Jetstar Airways, thành viên của Jetstar Group công bố mở hai đường bay thẳng giá rẻ giữa Việt Nam và Ô-xtrây-li-a, thực hiện chương trình miễn phí vé chiều về, mức giá từ 3,43 triệu đồng giữa TP Hồ Chí Minh – Xít-ni (tần suất bốn chuyến/tuần) và TP Hồ Chí Minh – Men-bơn (ba chuyến/tuần), khứ hồi giá 0 đồng. Lần đầu, Jetstar Group có đường bay thẳng đường dài giá rẻ giữa Việt Nam và Ô-xtrây-li-a bằng máy bay Boeing 787 Dreamliner, có 21 ghế khoang thương gia, 314 ghế hạng phổ thông. Vé được mở bán từ 18 giờ ngày 13-2 đến hết ngày 16-2.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/2/2017:

Triển khai biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam

Ngày 26-2, tại Hà Nội, Văn phòng Đề án biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Khởi động biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam”. Để tổ chức biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã thành lập Ban Chủ nhiệm Đề án và quyết định bổ nhiệm 37 Trưởng ban biên soạn chuyên ngành.

Năm 2017 là năm khởi đầu hoạt động của các Ban biên soạn chuyên ngành với nhiệm vụ xây dựng đề cương các quyển chuyên ngành.

Tại hội thảo, có hơn 30 báo cáo tham luận của các Ban biên soạn chuyên ngành, trình bày những thuận lợi, khó khăn của mỗi ban khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề cương quyển chuyên ngành và trao đổi về công tác tổ chức biên soạn. Nhiều Ban biên soạn chuyên ngành đã nêu ý kiến về việc mỗi quyển sẽ có bao nhiêu mục từ và các mục từ được lựa chọn như thế nào, sự phối hợp giữa các Ban biên soạn chuyên ngành cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/2/2017:

Ngân hàng sữa mẹ đầu tiên tại Việt Nam

Ngày 17-2, Ngân hàng sữa mẹ thí điểm đầu tiên tại Việt Nam được khai trương tại Bệnh viện Phụ Sản – Nhi (TP Đà Nẵng). Ngân hàng sữa mẹ này được thí điểm thiết lập và vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế, được Quỹ từ thiện Margaret A.Cargill tài trợ. Dự kiến, ngân hàng sữa mẹ sẽ cung cấp cho nhóm trẻ có nhu cầu, nhất là trẻ sinh non tháng, nhẹ cân, hoặc bệnh lý với khoảng cho 3.000 đến 4.000 trẻ nhỏ/năm.

Ngân hàng sữa mẹ này sẽ là cơ sở để Bộ Y tế xem xét nhân rộng mô hình trên cả nước, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/2/2017:

Tiếp nhận hơn chín nghìn đơn vị máu tại Lễ hội Xuân hồng

Sáng 18-2, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội), Viện Huyết học – Truyền máu T.Ư phối hợp Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện TP Hà Nội và Hội Thanh niên vận động hiến máu Hà Nội tổ chức Lễ hội Xuân hồng lần thứ mười (năm 2017). Tới dự, có nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh; Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng.

Lễ hội Xuân hồng năm 2017 với thông điệp “Hiến giọt máu đào – Trao đời sự sống”. Tính đến cuối ngày 18-2, lễ hội thu hút hơn 20 nghìn người tham gia hiến máu, tiếp nhận được hơn chín nghìn đơn vị máu phục vụ nhu cầu cấp cứu và điều trị tại hơn 170 bệnh viện khu vực miền bắc. Trong số hơn 20 nghìn người tham gia hiến máu lần này, có không ít gia đình (gồm bố, mẹ, anh, chị, em) đã nhiều lần hiến máu trong nhiều năm liên tục.

le-hoi-xuan-hongTheo ban tổ chức, qua chín năm tổ chức, lễ hội trước đây đã tiếp nhận gần 51 nghìn đơn vị máu, góp phần quan trọng bảo đảm lượng máu cho điều trị. Để ghi nhận sự tham gia, hưởng ứng tích cực của các tập thể, cá nhân tại Lễ hội Xuân hồng, Bộ Y tế đã trao Bằng khen tặng mười tập thể và mười cá nhân có nhiều đóng góp trong công tác hiến máu tình nguyện.

Cũng tại lễ hội, ban tổ chức đã nhấn nút khởi động chương trình “Ngày thế giới tôn vinh người hiến máu” (14-6) do Việt Nam đăng cai tổ chức trong năm nay.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 19/2/2017:

Việt Nam đoạt bảy Huy chương vàng ảnh quốc tế tại Ấn Độ

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam cho biết, tại Cuộc thi ảnh quốc tế lần thứ hai – năm 2017 do Hiệp hội Nhiếp ảnh Kotrung Uttarpara – KUPA (Ấn Độ) tổ chức, với sự tham gia của 237 tác giả thuộc 45 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, hai tác giả Việt Nam là Trần Thị Thu Đông và Lê Hoàng Nhân đã đoạt hai Huy chương vàng (HCV) với các tác phẩm Thu hoạch muối và Chăn vịt No2.

Trước đó, cũng tại Ấn Độ, trong khuôn khổ cuộc thi ảnh quốc tế lần thứ ba “Mircle – Điều kỳ diệu 2017”, có ba tác giả Việt Nam nhận HCV là Lê Hoàng Nhân (tác phẩm Chăn vịt No2); Thân Nguyên (tác phẩm Thức ăn cho vịt No2) và Võ Đình Khoa (tác phẩm Hạnh phúc tuổi già). Cùng thời gian, trong Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Love for Art 2017” do Liên đoàn Nhiếp ảnh Ấn Độ tổ chức, dưới sự bảo trợ của FIAP, tác giả Trần Hữu Hòa của Việt Nam xuất sắc giành hai HCV với các tác phẩm Cứu và Săn mồi trong mưa.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/2/2017:

Công bố 11 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa công bố danh sách 11 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Hạn Khuống (nghệ thuật trình diễn dân gian của người Thái ở Yên Bái); Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ, đền Mẫu Âu Cơ (Phú Thọ); Lễ Tịch điền (Hà Nam); Lễ hội đền Trần Thương và Hội vật Liễu Đôi (Hà Nam); Lễ hội Bổ Đà (Bắc Giang); Lễ hội chùa Keo (Thái Bình); Lễ hội đền Đuổm (Thái Nguyên); Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La (Tuyên Quang); Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá Buông của người Khmer (An Giang); Hát Sắc bùa Phú Lễ (nghệ thuật trình diễn dân gian của Bến Tre).

Biểu diễn ca nhạc cổ truyền Việt Nam “Nhạc cửa đình” tại Hà Nội

Tối 18-2, tại Trung tâm Văn hóa Pháp, Hà Nội, diễn ra chương trình ca nhạc cổ truyền Việt Nam “Nhạc cửa đình” với sự tham gia của các NSND: Thanh Hoài, Nam Thu, Minh Gái, Xuân Hoạch, Mạnh Phong và các nghệ sĩ: Thanh Bình, Vũ Ngọc, Văn Chính, Thúy Ngân. Chương trình xây dựng theo nghi thức của một lễ hội làng Việt ở chốn đình xưa với nhiều lối hát dân gian Bắc Bộ như tuồng, chèo, hát cửa đình, xẩm, hát đúm, hát ru, hát cò lả…; cùng các trích đoạn tuồng, chèo, hát xẩm: Quan Âm Thị Kính, Kim Nham, Hồ Nguyệt Cô, Sơn Hậu…

Văn hóa với du lịch trong thế giới hội nhập

Là chủ đề hội thảo quốc tế diễn ra ngày 18-2, tại TP Tuy Hòa, do UBND tỉnh Phú Yên, Trường đại học quốc gia văn hóa Moscow và Trường đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức; với sự tham gia các nhà khoa học đến từ 15 quốc gia trên thế giới. Các đại biểu thảo luận về vai trò của văn hóa và du lịch trong thế giới đương đại; những vấn đề cấp thiết liên quan đến lĩnh vực văn hóa và du lịch tại Việt Nam; chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động du lịch gắn với văn hóa ở một số nước trên thế giới. Tại hội thảo, lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên đã mời gọi các nhà đầu tư phát triển du lịch, du khách trong và ngoài nước đến với Phú Yên, vùng đất được mệnh danh là xứ sở của “Hoa vàng cỏ xanh”.

Phim Cha cõng con tranh giải LHP quốc tế Boston

Bộ phim Cha cõng con của đạo diễn Lương Đình Dũng vừa được lựa chọn tham gia Liên hoan phim (LHP) quốc tế Boston lần thứ 15, sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 17-4. Đây là một LHP độc lập và uy tín của Mỹ. Theo đó, Cha cõng con cùng nhiều bộ phim quốc tế khác sẽ được trình chiếu và tranh giải ở 17 hạng mục của LHP. Được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên viết năm 1995, bộ phim là câu chuyện đầy cảm động về tình phụ tử thiêng liêng. Với kịch bản hay và hấp dẫn, đại diện của điện ảnh Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo dấu ấn tại sự kiện uy tín này.

Hà Tĩnh phát hiện nhiều tài liệu Hán – Nôm cổ

Bảo tàng Hà Tĩnh vừa sưu tầm được 37 cuốn sách, tư liệu bằng văn tự Hán – Nôm cổ quý hiếm do một gia đình ở xóm Đông Nam, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc lưu giữ. Các tài liệu gồm: một số sách, tư liệu in dập trên chất liệu giấy dó theo lối chữ Chân và một số tài liệu viết tay theo phương pháp viết chữ Hán cổ. Theo Bảo tàng Hà Tĩnh, đây là lần đầu phát hiện số lượng lớn văn tự Hán -Nôm cổ quý hiếm trên địa bàn; các tư liệu có giá trị lớn về lịch sử, khảo cổ, dân tộc học và ngôn ngữ chữ viết cổ. Bảo tàng sẽ mời các chuyên gia dịch thuật để phục vụ công tác nghiên cứu.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 17/2/2017:

Tặng 1.000 dặm thưởng cho hội viên mới Bông Sen Vàng

Ngày 16/2, Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) cho biết, từ nay đến hết ngày 31/12/2017, khách hàng lần đầu đăng ký thành hội viên của chương trình Bông Sen Vàng, sẽ được tặng 1.000 dặm thưởng. Khi đăng ký gia nhập, khách hàng cần nhập mã trieusenvang vào ô Mã khuyến mại. Hội viên chương trình có nhiều quyền lợi tùy theo hạng thẻ sở hữu, như sử dụng phòng chờ Thương gia, được mời thêm một người thân; ưu tiên tại quyền làm thủ tục, cửa lên máy bay, quầy nối chuyến, khu vực an ninh và khu vực xuất, nhập cảnh; được gắn thẻ hành lý ưu tiên và thêm hành lý miễn cước,…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 18/2/2017:

Quảng Ngãi khai quật khảo cổ khẩn cấp tháp Núi Bút

Ngày 17-2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi phối hợp đoàn chuyên gia đến từ Hà Nội tiến hành khai quật khảo cổ khẩn cấp tháp Núi Bút tại phường Nghĩa Chánh, TP Quảng Ngãi.

Theo các chuyên gia văn hóa và các nhà khảo cổ đến từ Hà Nội, tại hiện trường tháp Núi Bút đã phát lộ rất nhiều phế tích gạch Chăm-pa, qua đó khẳng định tại đây có một công trình kiến trúc của người Chăm. Vì vậy, việc khai quật khảo cổ khẩn cấp là hết sức cần thiết. Tổng diện tích khai quật 400 m2, thời gian thực hiện trong 30 ngày.

Quảng Bình công bố các sản phẩm du lịch mới

Ngày 17-2, Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình họp báo thông tin các hoạt động chính, sản phẩm mới trong mùa du lịch năm 2017 và khai trương website du lịch Quảng Bình bằng tiếng Anh với địa chỉ http://www.quangbinhtourism.com. Theo đó, từ ngày 25 đến 27-3, tại Hà Nội, tỉnh Quảng Bình tổ chức chương trình “Quảng Bình trong lòng Thủ đô”. Cuối tháng 6, tổ chức “Lễ hội hang động Quảng Bình năm 2017”; Giải bóng chuyền bãi biển các đội mạnh toàn quốc diễn ra từ ngày 20 đến 23-4; Giải bơi trẻ toàn quốc vào tháng 7; Tuần lễ văn hóa – du lịch tại TP Đồng Hới từ ngày 25 đến 30-4. Đồng thời, Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình tổ chức khai trương các sản phẩm du lịch mới, như: tuyến du lịch tham quan trường quay phim Kong: Skull island; tuyến chinh phục Thác Chày; trải nghiệm thung lũng Hamada – hang Trạ Ang khai trương các cơ sở lưu trú cao cấp, nhà hàng đạt chuẩn mới…

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Thực hiện thành công ca ghép phổi đầu tiên tại Việt Nam

Cháu Ly Chương B., 7 tuổi bị mắc bệnh giãn phế quản bẩm sinh lan tỏa hai phổi vừa được các bác sĩ Học viện Quân y 103 phối hợp các chuyên gia Nhật Bản thực hiện ghép phổi thành công. Đây là bước tiến mới trong chuyên ngành ghép tạng ở Việt Nam, mang lại hy vọng cho những bệnh nhân cần được ghép phổi.

Học viện Quân y là một trong những trung tâm ghép tạng lớn của quân đội và cả nước. Sau những thành công về ghép thận, ghép gan, ghép tim và ghép khối tụy – thận, năm 2016, Học viện Quân y xác định nghiên cứu triển khai ghép phổi trên người là một nhiệm vụ trọng tâm.

Ngày 14-11-2016, Học viện Quân y đã cùng với Bệnh viện Nhi Trung ương lựa chọn cháu Ly Chương B., 7 tuổi, quê ở xã Bát Đại Sơn (huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) để chẩn đoán. Sau khi tiếp nhận bệnh nhân, Học viện đã tiến hành khám, xét nghiệm, mời chuyên gia trong, ngoài nước hội chẩn, chẩn đoán và kết luận cháu Ly Chương B. bị giãn phế quản bẩm sinh lan tỏa hai phổi, biến chứng suy hô hấp, tâm phế mạn, suy dinh dưỡng độ ba, có chỉ định ghép phổi.

7 giờ sáng ngày 21-2, các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 – Học viện Quân y đã phối hợp với chuyên gia Nhật Bản thực hiện thành công ca ghép phổi cho cháu Ly Chương B.. Người cho phổi là bố và bác ruột của cháu Ly Chương B..

GS, TS Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân y cho biết, êkíp phẫu thuật đã phẫu thuật lấy hai thùy dưới của hai người cho và ghép vào phổi của cháu bé. Ca ghép kéo dài đến 17 giờ 30 phút cùng ngày.

Sau mổ, cả bố và bác ruột của cháu Ly Chương B. đều ổn định. Riêng cháu Ly Chương B. đang được điều trị tích cực, các chỉ số sinh tồn đều ổn định nhưng bệnh nhi còn rất nhiều vấn đề cần phải theo dõi sát sao trong thời gian tới.

Theo Giám đốc Học viện Quân y, ca ghép phổi đầu tiên này có nhiều điểm khó khi thể trạng bệnh nhi rất yếu. Các ca ghép thông thường chỉ lấy tạng từ một người, nhưng đây là lấy tạng từ hai người nên phải hết sức cẩn thận khi dùng các thuốc ức chế miễn dịch.

GS Quyết thông tin thêm, đây là ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại Việt Nam, nằm trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu ghép thùy phổi hoặc một phổi từ người cho sống và người chết não” do Học viện Quân y thực hiện. Từ tháng 6-2016 đến tháng 10-2016, Học viện đã xây dựng đề cương nghiên cứu, cử cán bộ đi khảo sát, trao đổi kinh nghiệm về ghép phổi tại Bệnh viện Đại học Okayama, Nhật Bản và đón đoàn chuyên gia của nước bạn sang trao đổi kinh nghiệm, tư vấn về ghép phổi cho Học viện.

Thiên Lam

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/2/2017:

Cứu người bệnh sau sáu giờ ngừng tuần hoàn

Các bác sĩ Khoa Cấp cứu A9 (Bệnh viện Bạch Mai) vừa áp dụng kỹ thuật hạ thân nhiệt chỉ huy cứu một người bệnh sau hơn sáu giờ ngừng tuần hoàn. Người bệnh tên là Sằm Văn T, nam, 39 tuổi (quê Vị Xuyên, Hà Giang) được chuyển từ Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên về Khoa Cấp cứu A9 trong tình trạng hôn mê sâu, đồng tử giãn to. Sau khi được hồi sức tích cực và hội chẩn cấp cứu, người bệnh được chỉ định thực hiện kỹ thuật hạ thân nhiệt chỉ huy. Sau ba ngày kết thúc liệu trình điều trị, người bệnh đã tự thở, có ý thức và sức khỏe dần ổn định.

Các bác sĩ cho biết, đây là trường hợp được cứu sống hết sức hy hữu vì khi nhập viện, người bệnh được tiên lượng rất xấu do hôn mê sâu, thời gian cấp cứu ngừng tuần hoàn kéo dài. Ðến nay đã có nhiều người bệnh ngừng tim được cứu sống nhờ kỹ thuật này.

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 19/2/2017:

66 ca ghép gan thành công

Sau hơn 10 năm thực hiện ghép gan ở người, hiện cả nước đã thực hiện được 66 ca ghép gan, trong đó có 34 trường hợp ghép gan từ người cho sống, 32 từ người cho chết não. Người được ghép gan lớn tuổi nhất là 74 tuổi, nhỏ nhất 7 tháng tuổi. Tuy ghép gan ở VN đã tiếp cận được các kỹ thuật hiện đại của các nước phát triển nhưng vẫn còn một số hạn chế trong chăm sóc hậu phẫu và điều trị sau ghép.

GS.BS Phạm Gia Khánh- chủ tịch Hội Ghép tạng VN – cho biết như vậy tại hội thảo quốc tế về ghép gan từ người cho sống, do Bệnh viện Chợ Rẫy phối hợp cùng Hội Ghép tạng VN và nhóm nghiên cứu quốc tế về ghép gan từ người cho sống tổ chức ngày 18/2 tại TP.HCM

Theo GS Gia Khánh, hiện cả nước có 5 trung tâm ghép tạng là các bệnh viện: Quân y 103, Việt Đức, Nhi trung ương (Hà Nội), Chợ Rẫy và Nhi Đồng 2 (TP.HCM). Bắt đầu từ năm 2010, ca ghép gan từ người cho chết não đầu tiên được thực hiện và tăng dần theo thời gian.

L.TH.H

  • Trang 19 báo Tuổi Trẻ ngày 20/2/2017:

Nhật vinh danh chàng trai Việt dũng cảm cứu người

Chàng thanh niên người Việt tên Dang Van Mong đã bất chấp cái lạnh 2 độ C nhảy xuống kênh vớt người đàn ông không may bị té ngã. Theo truyền thông Nhật Bản, ngày 17-2, cảnh sát huyện Yanaghikawa, tỉnh Fukuoka, Nhật Bản đã đến trao thư cảm ơn cho anh Dang Van Mong, 27 tuổi, vì hành động nghĩa hiệp ra tay cứu sống một người đàn ông 51 tuổi không may bị rơi xuống kênh.

Ông Nakamura Takashi, cảnh sát trưởng huyện Yanaghikawa cho biết sự việc xảy ra vào khoảng 23h đêm Giáng sinh 24-12-2016.

Tối hôm đó, anh Dang Van Mong đi vào trung tâm thành phố để cảm nhận không khí Giáng sinh tại đây.

Đến khoảng 23h, khi đang trên đường trở về ký túc xá, anh bất ngờ nghe một tiếng động lạ. Sau đó, anh nghe tiếng người kêu cứu từ dưới dòng kênh có độ sâu khoảng 1,6m.

Không do dự, anh cởi áo khoác rồi nhảy xuống vớt người đàn ông lên. Cả người ướt sũng, anh bế người đàn ông bị nạn chạy bộ tìm nơi sơ cứu. Trên đường đi, anh có vẫy vài chiếc ôtô nhưng không xe nào dừng lại.

Cuối cùng, anh bế được người đàn ông này đến một cửa hàng tiện lợi cách nơi xảy ra vụ việc khoảng 50m, cùng mọi người ở đây sơ cứu, sưởi ấm cho nạn nhân.

Nói về việc này, người đàn ông bị nạn cho biết ông rất biết ơn anh Mong vì nếu không có anh Mong chắc chắn ông sẽ chết dưới dòng kênh lạnh.

Trong khi đó, anh Mong vui vẻ cho biết anh cảm giác như mình là một Ông Già Noel làm được việc tốt là cứu người trong đêm Giáng sinh.

Theo cảnh sát trưởng Nakamura Takashi, tối hôm đó trời rất lạnh. Nhiệt độ bên ngoài xuống còn 2 độ C.

Tú Anh

(từ Nhật Bản)

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Đội U18 Việt Nam thắng đội U19 Thái-lan 3-1

Ngày 22-2, tại Côn Minh (Trung Quốc), trong khuôn khổ Giải bóng đá trẻ quốc tế ASEAN – Côn Minh 2017, đội tuyển U18 Việt Nam đã có trận thắng 3-1 trước đội tuyển U19 Thái-lan. Đội bóng nước ta chơi tiến công ngay từ đầu và liên tục vây hãm khung thành của đối phương. Tuy nhiên, U19 Thái-lan lại mở tỷ số trước.

Đến phút 34, sau những nỗ lực, trong một pha sút phạt trực tiếp, tiền vệ trẻ Minh Dĩ đã gỡ hòa 1-1. Trong hiệp hai, Việt Cường và Công Minh ghi thêm hai bàn thắng cho U18 Việt Nam ở các phút 73 và 82. Như vậy, U18 Việt Nam đã kết thúc giải đấu với bốn điểm có được sau khi hòa U19 Vân Nam (Trung Quốc) 1-1 và để thua U19 Tứ Xuyên (Trung Quốc) 0-1.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Đào tạo trình độ tiến sĩ chuyên ngành Phật học

Ngày 22-2, tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập Viện Trần Nhân Tông. Đây là cơ sở giáo dục đầu tiên của Việt Nam tiên phong trong đào tạo nhân lực chất lượng cao về Phật học.

Để Viện hoạt động hiệu quả, Đại học Quốc gia Hà Nội đã xây dựng đề án, điều tra khảo sát, trao đổi về định hướng lâu dài trong nghiên cứu và đào tạo, nhất là kiến tạo chương trình đào tạo thí điểm tiến sĩ Phật học và các định hướng đào tạo ngắn hạn khác. Dự kiến khóa đào tạo tiến sĩ Phật học đầu tiên của Việt Nam sẽ tuyển sinh vào tháng 9-2017.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 15/2/2017:

Công nhận cây lim xanh nghìn năm tuổi ở Yên Thế là Cây di sản Việt Nam

Ngày 14/2, tại xã Xuân Lương, UBND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tổ chức Lễ đón Bằng công nhận cây lim xanh nghìn năm tuổi là Cây di sản Việt Nam; khai mạc Lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Yên Thế lần thứ nhất và khai trương Khu du lịch tâm linh, sinh thái Xuân Lung – Thác Ngà.

Cây lim xanh đại cổ thụ 1.100 năm tuổi ở trung tâm khu vực làng Xuân Lung, xã Xuân Lương; nằm trong quần thể các di tích lịch sử cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Cây có dáng thẳng, cao hơn 45m, gốc to sáu đến bảy người ôm, đây là loài cây gỗ lớn, có giá trị quý hiếm. Tại buổi lễ, đại diện Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã trao Bằng công nhận Cây di sản Việt Nam đối với cây lim xanh nghìn năm tuổi cho cán bộ, nhân dân huyện Yên Thế.

Lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Yên Thế lần thứ nhất có nhiều hoạt động độc đáo, hấp dẫn như: tiệc trà và triển lãm giới thiệu sản vật địa phương; trò chơi dân gian; hội diễn văn nghệ quần chúng, trang phục dân tộc đẹp…

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 26/2/2017:

Phát hiện loài lan mới trên đỉnh Hòn Bà

Các nhà khoa học Nga và Việt Nam vừa công bố loài lan mới có tên Podochilus rotundipetala Aver & Vuong cùng bốn ghi nhận mới thuộc họ lan (Orchidaceae) được phát hiện trên Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà (tỉnh Khánh Hòa) trong một chương trình nghiên cứu từ năm 2014 đến 2016.

loai-lan-moiÔng Trương Bá Vương – thành viên nhóm nghiên cứu Viện Sinh học nhiệt đới – cho biết loài Podochilus rotundipetala Aver & Vuong được tìm thấy trong kiểu rừng kín thường xanh ở độ cao từ 1.400 – 1.500m của khu bảo tồn.

Đặc điểm của loài này là cây mọc trên đá, thân thẳng, mảnh, không phân nhánh, bẹ lá bao bọc dọc thân, thân dài từ 8-17cm. Lá nhiều, xếp 2 hàng, hình elip. Phát hoa màu trắng, hơi tím, mọc trên đỉnh của thân, ngắn, mang từ 2-7 hoa, có khi đến 10 hoa.

Ông Vương cho biết loài này đến bây giờ chỉ được ghi nhận ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.

Thanh Trúc

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 26/2/2017:

Giải cứu 13 con khỉ, thả về thiên nhiên

Chỉ trong một ngày (23/2), Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã nhận được thông báo về việc giải cứu thành công 13 con khỉ được phát hiện tại ba tỉnh Tây Ninh, Ninh Thuận và Lâm Đồng. Đây đều là những con khỉ bị nuôi nhốt lâu năm.

Trường hợp đầu tiên được phát hiện tại một khách sạn trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. ENV làm việc với Phòng cảnh sát kinh tế Ninh Thuận kiểm tra khách sạn phát hiện 9 con khỉ đuôi dài tại đây. Cả 9 con khỉ đã được đưa về thả tại Vường quốc gia Núi Chúa.

Hạt Kiểm lâm tỉnh Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng cho biết đã thả 2 con khỉ đuôi lợn trước đó bị nuôi làm cảnh tại một quán karaoke về Vườn quốc gia Cát Tiên. Còn tại Tây Ninh, một tình nguyện viên đã giải cứu 1 con khỉ đuôi dài bị giữ tại khuôn viên quán cà phê ở huyện Châu Thành, đưa về thả tại Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát, tỉnh Tây Ninh.

Mới đây nhất, một con khỉ bị xích tại một đường ray thuộc Đà Lạt (Lâm Đồng) cũng được giải cứu, sau đó được đưa về Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/2/2017:

10 tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật

Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa có Quyết định tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật năm 2017. Đây là các giải thưởng cao quý dành tặng các tác giả, đồng tác giả có tác phẩm, cụm tác phẩm đặc biệt xuất sắc về văn học, nghệ thuật, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có 10 tác giả (trong đó ba tác giả đã mất) được Chủ tịch nước ký Quyết định tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Gồm: GS,TS, NSND Lê Ngọc Canh (sách: Đại cương nghệ thuật Múa, Nghệ thuật múa Chèo, Nghệ thuật múa tộc người Mạ); NSND Chu Thúy Quỳnh (các tiết mục múa: Mùa xuân trên bản H’Mông, Hoa xuân đất nước, Hầu văn Xá Thượng); TS Trần Đình Ngôn (Kịch bản sân khấu: Duyên nợ ba sinh, Nàng chúa ong, Những vần thơ thép); Nhà nghiên cứu sân khấu Mịch Quang (sách: Đặc trưng nghệ thuật Tuồng, Khơi nguồn mỹ học dân tộc); GS, NSND Trọng Bằng (ca khúc: Bão nổi lên rồi, Chúng ta là chiến sĩ công an, Vang mãi bản tình ca, Nhịp máy khoan, Giao hưởng thơ: Người về đem tới niềm vui, Hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng: Trường ca Tây Bắc – Điện Biên Phủ, Khởi nhạc phóng tác: Chào thiên niên kỷ mới, nhạc phim Cù Chính Lan – người chiến sĩ trẻ); nhạc sĩ, TS Doãn Nho (Thanh xướng kịch: Trẩy hội Đền Hùng, Hoa Lư Thăng Long – Bài ca dời đô, Giao hưởng: Khúc tưởng niệm, Liên khúc Giao hưởng 3 chương: Chiến thắng); PGS Triệu Đạt Hiền (bút danh Chu Minh, tác phẩm ca khúc: Tên Người đẹp mãi Bến Tre, Non nước tên Người, Ngày ấy Người đi dặm dài thế kỷ, Hòa tấu thính phòng: Trio cho pi-a-nô, vi-ô-lông và vi-ô-lông-xen, Khí nhạc: công-xéc-tô Tuổi trẻ cho pi-a-nô và dàn nhạc giao hưởng). Ba tác giả đã mất được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh là: Nhà văn Nguyễn Xuân Thiều (truyện thiếu nhi: Khúc hát mở đầu, tiểu thuyết: Huế mùa mai đỏ); nhà văn Trần Hữu Mai (Tiểu thuyết: Đêm yên tĩnh, Người lữ hành lặng lẽ); nhạc sĩ Hoàng Phi Hồng (bút danh Hoàng Hà, Cẩm La; tác phẩm Giao hưởng hợp xướng: Côn Đảo, ca khúc: Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn, Cùng hành quân giữa mùa xuân, Đất nước trọn niềm vui, Tiếng rừng dương).

56 tác giả, đồng tác giả và 11 cố tác giả có đóng góp xuất sắc cho nền văn học, nghệ thuật được tặng Giải thưởng Nhà nước.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 16/2/2017:

Khánh thành Trường TH School dạy học theo chương trình quốc tế

Ngày 15-2, tại Hà Nội, Tập đoàn TH tổ chức khánh thành Trường TH School. Đây là hệ thống trường học bao gồm các bậc học từ mầm non đến THPT với quy mô và cơ sở vật chất hiện đại. TH School sẽ áp dụng mô hình giáo dục toàn diện theo chương trình tiên tiến của thế giới; học sinh học toàn bộ bằng tiếng Anh. Sau khi tốt nghiệp THPT, học sinh sẽ đạt được chứng chỉ Alevel có giá trị trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng tới việc trang bị kiến thức về lịch sử, văn hóa Việt Nam để bảo đảm mục tiêu phát triển toàn diện cả trí lực và thể lực.

Với quy mô dạy học mầm non với 17 lớp, tiểu học 25 lớp, THCS 24 lớp và THPT 21 lớp, trường cũng thu hút một đội ngũ quản lý, giáo viên, chuyên gia tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm, đã tham gia giảng dạy các chương trình quốc tế, tham gia xây dựng và vận hành các kỳ thi quốc gia của nước Anh…

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/2/2017:

Ba nhà khoa học Việt Nam có công trình được công bố trên tạp chí vật lý hàng đầu thế giới

Ngày 21/2, thông tin từ Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, vừa qua công trình “Mô tả vi mô đồng thời mật độ mức và hàm lực phóng xạ của hạt nhân nguyên tử” đã được đăng tải trên tạp chí Physical Review Letters. Ba tác giả này là: PGS.TS Nguyễn Quang Hưng (Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng); Nghiên cứu sinh Lê Thị Quỳnh Hương (Trường đại học Khánh Hòa, Nha Trang) và TSKH Nguyễn Đình Đăng làm việc tại Viện RIKEN (Nhật Bản). Theo GS, TS Lê Hồng Khiêm, Viện trưởng Viện Vật lý, để đăng được trên Physical Review Letters, các công trình phải qua được phản biện của các chuyên gia hàng đầu thế giới và thỏa mãn tiêu chí: công trình nghiên cứu phải giải quyết, hoặc làm những bước căn bản để giải quyết, những vấn đề cấp thiết đang tồn tại. Đây là lần đầu một công trình chỉ có các nhà khoa học Việt Nam thực hiện, được đăng tải trên Physical Review Letters.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 21/2/2017:

Tuyên dương các học sinh dũng cảm cứu người gặp nạn

Ngày 23-2, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) có công văn gửi Sở GD và ĐT Nghệ An và Bình Dương về việc tuyên dương, tuyên truyền việc làm tốt của học sinh.

Cụ thể, học sinh Nguyễn Đức Ngọc, lớp 11 I, Trường THPT Đặng Thúc Hứa, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đã kịp thời đưa người bị tai nạn giao thông trong trạng thái nguy kịch đến bệnh viện và được cấp cứu kịp thời; học sinh Nguyễn Thanh Lộc lớp 7A6 và Ông Như Bảo Thạch lớp 6A1, Trường THCS Phú Cường, TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đã có hành động mưu trí, dũng cảm canh bắt nghi can trộm tài sản của công dân.

Để có cơ sở tuyên truyền, nhân rộng tấm gương của các học sinh trong các cơ sở giáo dục, Bộ GD và ĐT đề nghị lãnh đạo hai Sở GD và ĐT tỉnh Nghệ An và Bình Dương có hình thức động viên khen thưởng kịp thời.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/2/2017:

Giao lưu học sinh sinh viên các dân tộc thiểu số phía Nam

mot-tiet-muc-mua-cua-sinh-vien-nguoi-khmerTrong hai ngày 25 và 26-2, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Căn cứ Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền nam – Căn cứ Tà Thiết, tỉnh Bình Phước, đã diễn ra chương trình giao lưu học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tiêu biểu các trường văn hóa, thể thao và du lịch khu vực phía nam lần thứ bảy – năm 2017. Với Chủ đề: “Mừng Xuân mới – Đoàn kết – Dạy tốt – Học tốt”, chương trình nhằm khích lệ học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số phấn đấu và thi đua học tập tốt. Cuộc giao lưu có nhiều hoạt động như: cắm trại, thi đấu thể thao, biểu diễn và giao lưu nghệ thuật…

Ghi nhớ hợp tác về quyền tác giả

Tại Hà Nội, Cục Bản quyền tác giả vừa tổ chức hội nghị các tổ chức đại diện quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhằm đánh giá những khó khăn, vướng mắc, tìm giải pháp thúc đẩy hoạt động của các tổ chức nêu trên một cách hiệu quả. Thời gian qua, hoạt động của các tổ chức đại diện quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở nước ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần đưa các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan vào đời sống xã hội. Tại hội nghị, ba đơn vị là Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam và Hội bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc Việt Nam đã ký ghi nhớ hợp tác trong thời gian tới.

Sôi nổi Hội chợ sách cũ Hà Nội

Từ ngày 24 đến 26-2, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức Hội chợ sách cũ Hà Nội 2017 tại sân Hồ Văn. Bên cạnh những hoạt động trao đổi, kinh doanh sách cũ, Hội chợ sách cũ Hà Nội cũng trưng bày sách qua các thời kỳ, trong đó nhiều cuốn sách, bộ sách cũ có giá trị, ghi dấu các giai đoạn lịch sử của Thủ đô và đất nước. Nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo cũng được tổ chức trong hội chợ, cung cấp các tài liệu và sách tham khảo, nghiên cứu về các danh nhân văn hóa, lịch sử.

Liên hoan nghệ thuật Ca trù Hà Nội

Tại Trung tâm văn hóa làng Vạn Phúc, Hà Đông (Hà Nội), vừa diễn ra Liên hoan nghệ thuật Ca trù Hà Nội năm 2017 do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức. Liên hoan nhằm đánh giá về hoạt động chuyên môn diễn xướng của các giáo phường, các ca nương, kiểm kê lại phong trào ca trù trên địa bàn, đồng thời là dịp để các tài năng trẻ nghệ thuật ca trù giao lưu, nâng cao trình độ và kỹ thuật hát. Liên hoan năm nay có 30 ca nương ở các giáo phường thuộc bảy quận, huyện tham dự. Kết quả, Ban tổ chức đã trao 32 giải thưởng, trong đó có mười giải A1, bảy giải A2 cho các ca nương và hai giải đặc biệt tặng Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Khướu, cao tuổi nhất dự liên hoan và ca nương Nguyễn Thục Trinh, nhỏ tuổi nhất.

Tổ chức Tuần lễ thời trang thu đông 2017

Từ ngày 24 đến 26-2, tại Hà Nội, diễn ra Tuần lễ thời trang thu đông 2017. Trong ba đêm trình diễn, công chúng có dịp thưởng thức 1.000 mẫu thiết kế mới của 14 nhà thiết kế. Tuần lễ thời trang thu đông năm nay đề cao các bộ sưu tập mang tính ứng dụng, ủng hộ trào lưu du lịch và hoạt động thường ngày. Những bộ trang phục được trình diễn trong hai đêm thời trang ứng dụng thiên về phong cách tối giản, kết hợp một số phụ kiện tạo cảm giác thoải mái cho người mặc.

Liên hoan ẩm thực quốc tế Hội An

UBND thành phố Hội An (Quảng Nam) phối hợp Công ty Tổ chức sự kiện ẩm thực Hội An vừa công bố giới thiệu Liên hoan ẩm thực quốc tế Hội An 2017, diễn ra từ ngày 22 đến 26-3 tại Hội An. Tham gia Liên hoan có 12 đầu bếp đến từ 12 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cùng 12 nhà hàng thuộc các cơ sở kinh doanh của Hội An. Các đầu bếp sẽ chế biến món ăn của đất nước mình tại 12 quầy hàng từ nguồn nguyên liệu chính của địa phương. Trong đêm khai mạc, Chủ tịch Hiệp hội đầu bếp quốc tế Tô-mát An-đê Gúc-lơ sẽ trao giấy chứng nhận “Hội An – Thủ phủ ẩm thực của Việt Nam” cho chính quyền TP Hội An.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 14/2/2017:

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, người dành cả cuộc đời cho sự nghiệp khoa học và giáo dục

GS Nguyễn Cảnh Toàn (trong ảnh) sinh ngày 28-9-1926 ở vùng quê có truyền thống hiếu học, thuộc xã Đông Sơn, huyện Đô Lương (tỉnh Nghệ An), là người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp khoa học và giáo dục.

nguyen-canh-toan

Năm 1944, ông thi đỗ tú tài toàn phần và thi đỗ vào một trường đại học (ĐH) khoa học ở Hà Nội để học chứng chỉ toán học đại cương. Năm 1946, Chính phủ ta mở lại các trường ĐH, ông ra Hà Nội, thi lấy chứng chỉ Toán học đại cương và đỗ đầu, sau đó trở lại quê hương để tham gia công tác kháng chiến. Năm 1947, ông được bố trí dạy toán ở Trường Trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1951, ông được điều đi dạy ĐH (khoa học cơ bản và sư phạm cao cấp) tại khu học xá T.Ư ở Nam Ninh (Trung Quốc). Năm 1956, ông được bố trí dạy cho hai trường là ĐH Sư phạm (SP) Hà Nội và ĐH Tổng hợp. Ngày 29-1-1956, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 24-6-1958, ông bảo vệ thành công luận án TS toán học tại Trường ĐH Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp và đây là một trong những luận án TS đầu tiên của người Việt Nam bảo vệ ở nước ngoài (Liên Xô cũ). Năm 1963, ông bảo vệ thành công luận án TSKH đầu tiên về khoa học cơ bản làm ở trong nước và bảo vệ ở Liên Xô. Năm 1966, tại hội nghị Toán học quốc tế họp ở Mát-xcơ-va, ông đã báo cáo phát minh mới nhất của mình gọi là “hình học siêu phi Ơ-clít”. Tháng 9-1966 ông được đề bạt làm Hiệu phó Trường ĐHSP Hà Nội rồi chuyển sang làm Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội II năm 1967. Năm 1975, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường ĐHSP I mới (Trường ĐHSP Hà Nội ngày nay). Đầu năm 1976 ông được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục (cũ), tham gia Đảng đoàn của Bộ.

Năm 1989 ở tuổi 63, GS Nguyễn Cảnh Toàn được Đảng và Nhà nước cho nghỉ quản lý để chuyên làm công tác khoa học và trở thành chuyên gia cao cấp của Bộ Giáo dục (cũ) và của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày nay. Năm 2001 ông nghỉ hưu nhưng vẫn làm việc với tư cách là một nhà khoa học như: làm chủ nhiệm đề tài, giảng chuyên đề, chấm luận án, viết báo, viết sách. Ngoài ra, ông là một trong những người sáng lập ra Hội Toán học Việt Nam và giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội; sáng lập ra Tạp chí Toán học và tuổi trẻ, đồng thời là Tổng Biên tập từ ngày thành lập (năm 1964) đến tháng 8-2005. GS Nguyễn Cảnh Toàn còn tham gia giảng dạy và viết sách, như cuốn: Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy và nghiên cứu Toán học. Là tác giả, chủ biên, hiệu đính nhiều cuốn từ điển như Danh từ Toán học Nga – Việt, Danh từ Toán học Anh – Việt, Từ điển thuật ngữ Toán học. Ông cũng là thành viên Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa và là thành viên biên soạn.

Dành cả cuộc đời cho sự nghiệp khoa học và giáo dục, lao động bền bỉ, không mệt mỏi cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, đã tạo nên chân dung GS Nguyễn Cảnh Toàn là một trong số những nhà toán học đầu tiên của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nhà quản lý giáo dục, nhà sư phạm lớn, nhà giáo mẫu mực đầy tâm huyết. Nói đến GS Nguyễn Cảnh Toàn là nói đến những đóng góp sáng tạo được đúc kết trong các công trình khoa học tiêu biểu trong các lĩnh vực toán học và khoa học giáo dục. Những kết quả nghiên cứu được phản ánh trong các công trình thuộc lĩnh vực toán học rất sâu sắc và đạt trình độ khoa học cao, đủ để hình thành một “nhánh nghiên cứu mới”. Các quan điểm của ông đều có quan hệ biện chứng xoay quanh trục “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” mà ông đã nêu ra từ những năm 1960 giữa lúc “dạy học truyền thụ một chiều” còn phổ biến. “Nội lực là quyết định, ngoại lực là hỗ trợ” là triết lý được ông quán triệt đến mức trở thành nhạy cảm khoa học, thành niềm tin và bản lĩnh dám chịu trách nhiệm trong việc đưa ra những chủ trương táo bạo đã gặt hái không ít thành công. Nhiều công trình của GS Nguyễn Cảnh Toàn hiện nay đang là hành trang của những người nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực tổ chức tự học; phát triển tư duy sáng tạo, biện chứng; phát triển chương trình và tổ chức đào tạo giáo viên cũng như tái cấu trúc hệ thống các trường sư phạm với tiếp cận đào tạo giáo viên phải diễn ra trong bối cảnh tác nghiệp tại nhà trường phổ thông.

Phương pháp duy vật biện chứng được GS Nguyễn Cảnh Toàn vận dụng sáng tạo, độc đáo giữa dạy và học, giữa nghiên cứu khoa học và giáo dục. Phương pháp đó được quán triệt xuyên suốt trong các công trình nghiên cứu lĩnh vực toán học và khoa học giáo dục. Ba cuốn sách dạy cách sáng tạo toán học tiêu biểu cho tư tưởng đó trong số hàng trăm công trình khoa học của ông là “Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy và nghiên cứu Toán học” dành cho học sinh phổ thông, nghiên cứu sinh, giáo viên và những người nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy học toán học nói riêng; “Tập cho học sinh giỏi toán làm quen với nghiên cứu toán học”; “74 câu chuyện học toán thông minh, sáng tạo”. Có thể coi đây là ba cuốn sách về “sáng tạo học” trong lĩnh vực toán học. Mặt khác, với quan điểm giáo viên dù dạy ở cấp nào, bộ môn nào cũng phải thực hành hoạt động nghiên cứu khoa học, ông là người tiên phong đề ra chủ trương đưa hoạt động nghiên cứu khoa học vào trường phổ thông.

Với sự nhạy cảm khoa học đặc biệt, GS Nguyễn Cảnh Toàn đã phát hiện ra nhiều nội lực tiềm ẩn và các quy luật chi phối và đề xuất, chỉ đạo kiên quyết, kiên trì thực hiện nhiều chủ trương táo bạo, phản ánh tư duy chiến lược giáo dục phong phú, có nhiều điểm độc đáo mang màu sắc Việt Nam. Những cống hiến khoa học to lớn, độc đáo của GS Nguyễn Cảnh Toàn là kết quả trải nghiệm hoạt động tự học, sáng tạo, cả cuộc đời cống hiến cho khoa học với lao động miệt mài, bền bỉ cho đến tận những ngày trước khi đi về cõi vĩnh hằng.

Với những đóng góp to lớn cho khoa học và giáo dục nước nhà, GS Nguyễn Cảnh Toàn được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và nhiều Huân, Huy chương cao quý; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…

GS, TS ĐINH QUANG BÁO
Nguyên Hiệu trưởng Trường đại học
Sư phạm Hà Nội

  • Trang 17 báo Tuổi Trẻ ngày 23/2/2017:

Xác lập quan điểm mới cho những khoảng trống lịch sử

Sáng 22-2 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử VN” do GS.NGND Phan Huy Lê – chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử VN – trình bày.

GS Phan Huy Lê đã nêu những thành tựu nổi bật mới trong nghiên cứu suốt chiều dài lịch sử VN. Theo đó, bên cạnh văn hóa Đông Sơn thì việc nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Óc Eo đã đạt được nhiều thành tựu. Ba nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo tồn tại ở ba miền Bắc, Trung, Nam đều phát triển rực rỡ và bổ sung cho nhau.

Trong thời kỳ Bắc thuộc, đã có thêm những cơ sở để khẳng định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan kéo dài gần tròn 10 năm (713-722) chứ không phải chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, bùng nổ và thất bại trong năm 722. Điều đặc biệt, cuộc khởi nghĩa không chỉ quy tụ nhân dân trong nước mà còn liên kết với nhiều quốc gia xung quanh như Chân Lạp, Chăm Pa…

phan-huy-leGhi nhận công lao nhà Nguyễn

GS Lê nhấn mạnh: “Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757 chúa Nguyễn đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ – không gian sinh tồn của nước VN. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.

Tuy nhiên, GS Lê cũng nhắc lại hai tội lớn của nhà Nguyễn là để mất nước vào tay quân Pháp và quá bảo thủ, từ chối tất cả các đề nghị canh tân đất nước của nhiều nhà trí thức tiến bộ. “Nhìn nhận về lịch sử phải hết sức khách quan và cái gì khách quan của lịch sử mới tồn tại lâu dài được. Còn cái gì mà trong một tình thế thời sự nào đó ta phải tôn vinh hoặc hạ thấp thì nó chỉ tồn tại trong một điều kiện nhất định nào đó. Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mạng cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan, trung thực”.

Những khoảng trống lịch sử

Phần thứ hai của bài thuyết trình, GS Phan Huy Lê thẳng thắn chỉ ra nhiều khoảng trống lịch sử nguy hiểm trong tư duy, nhận thức về lịch sử VN hiện nay. Ông cho rằng nhận thức về lịch sử VN hiện nay vẫn xuất phát từ truyền thống thời quân chủ, đó chủ yếu là lịch sử của các vương triều, của nhà vua, các triều thần, còn lịch sử nhân dân rất mờ nhạt. Lịch sử của các dân tộc thiểu số không được nhắc đến. Sử học hiện đại VN trong một thời gian dài cũng chỉ trình bày nặng về lịch sử người Việt.

“Vì vậy, trên cả nước thì chỉ có lịch sử miền Bắc là được trình bày có ngọn nguồn từ thời nguyên thủy đến thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Bắc thuộc đến thời phong kiến, cận đại, hiện đại. Còn lịch sử của Nam Trung bộ chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ 16, lịch sử Nam bộ chỉ bắt đầu từ thế kỷ 17. Trước đó lịch sử ở hai vùng đất này ra sao thì chúng ta bỏ trống. Đó là một khoảng trống lịch sử cực kỳ nguy hiểm. Vì từ khoảng trống này đã làm nảy sinh nhiều nhận thức tùy tiện, bất lợi cho chủ quyền lãnh thổ VN hiện nay. Tôi nhớ mãi là sau năm 1975 khi chúng tôi vào miền Nam, nhiều trí thức trong đó đã nói rằng họ rất băn khoăn khi nhân dân hỏi thì không biết trả lời thế nào về lịch sử Nam bộ trước khi người Việt vào khai phá. Nếu lấy từ thế kỷ 17 người Việt vào khai phá Nam bộ thì người ta sẽ đặt câu hỏi ngược lại vậy lịch sử của Nam bộ, của Sài Gòn trước đó thế nào? Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Rõ ràng đây là nhận thức phiến diện tạo thành một khoảng trống lịch sử. Vì sao nước ta có 54 dân tộc mà chỉ có tôn vinh lịch sử của người Việt, gạt bỏ các dân tộc khác ra ngoài?” – ông Lê trăn trở.

Xác lập quan điểm lịch sử mới

Lời giải mà GS Phan Huy Lê đưa ra để san lấp các khoảng trống lịch sử đó là cần phải xác lập một quan điểm, nhận thức mới về lịch sử VN. “Một quan điểm tuy không được đưa vào các văn kiện của Liên Hiệp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử. Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng. Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó”.

GS Lê lấy ví dụ Trung Quốc trước đây cũng viết lịch sử đất nước chủ yếu là của người Hán, nhưng bước sang đầu thế kỷ 21 thì quan điểm đó đã thay đổi, bây giờ họ trình bày lịch sử của Trung Hoa bao gồm nhiều tộc người như người Hán, người Mãn Thanh, người Mông và cả các vương triều phi Hán như nhà Nguyên, nhà Thanh…

Nếu xác lập quan điểm lịch sử mới này, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vấn đề Nam bộ.

“Lãnh thổ VN hiện nay đã được nhiều tổ chức quốc tế công nhận – tức là một lãnh thổ hợp pháp, nên tất cả những gì diễn ra trên lãnh thổ này, kể cả đất liền, hải đảo và hải phận đều là một bộ phận của lịch sử và văn hóa VN.

Như vậy, lịch sử VN không chỉ là lịch sử của một bộ phận người Việt mà là lịch sử của tất cả các dân tộc nằm trong đại gia đình các dân tộc VN, trong đó bao gồm cả các dân tộc trước đây đã từng có nhà nước riêng như người Chăm, người Khmer… Tất cả các nền văn hóa từng tồn tại trên lãnh thổ VN đều là di sản của văn hóa VN, đều là bộ phận tạo thành của văn hóa VN” – GS Lê nêu quan điểm mới về nhận thức lịch sử VN.

Cũng từ nguyên tắc này, với cuộc kháng chiến chống Pháp thì cần nghiên cứu trình bày cả vùng chiếm đóng của Pháp, trong đó bao gồm cả Hà Nội thời kỳ Pháp chiếm đóng, cả quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại.

Tương tự, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) cũng cần nghiên cứu sâu hơn về những vùng tạm chiếm ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, và cả lịch sử của VN cộng hòa. GS nói rõ hơn: “Trước đây ta vạch ra ranh giới của địch và ta và chỉ trình bày phía ta đã làm mất đi căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền với lãnh thổ VN. Quan điểm lịch sử mới này vừa là thực tế lịch sử vừa là bộ phận có tính chất khách quan trung thực và là căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền VN trên bộ, đặc biệt là 
trên biển, hải đảo”.

GS.TS sử học Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng việc trình bày lịch sử ở từng khu vực trong lãnh thổ VN không nhất thiết cứ phải dựa trên mối quan hệ là sự đoàn kết mà có khi sự mâu thuẫn, đối lập, chiến tranh… trong từng giai đoạn lịch sử cũng là những mối quan hệ cần trình bày khách quan.

“Nói về VN mà lại không có các vương triều phía Nam thì không đảm bảo tính toàn vẹn. Không thể nói vấn đề các vương quốc phía Nam là vấn đề “nhạy cảm”, không nên nói. Vua Gia Long với sự cố gắng hết sức của mình đã đem lại sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chúng ta như hôm nay thì sao không đưa ông ấy vào lịch sử?” – GS Ngọc đặt câu hỏi.

PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học, còn trăn trở thêm là chúng ta chưa được đọc các công trình viết một cách kỹ lưỡng về nhiều vấn đề thời hiện đại như cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, hợp tác hóa nông nghiệp…

“Chúng tôi viết khách quan trung thực về những sự kiện lịch sử đã xảy ra nhưng xuyên suốt vẫn vì lợi ích của dân tộc, đất nước” – PGS.TS Trần Đức Cường khẳng định.

Nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học bảo vệ đất nước

Ông Võ Văn Thưởng – ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên giáo trung ương – chia sẻ những vấn đề mà các nhà sử học băn khoăn, trăn trở cũng là những vấn đề mà những người làm công tác tuyên giáo đang phải đối mặt và tìm cách giải quyết. Dù lịch sử có liên quan rất lớn với chính trị, nhưng các cơ quan lãnh đạo luôn nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng, bảo vệ đất nước.

Vũ Viết Tuân

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/2/2017:

Đêm nhạc tưởng nhớ ca sĩ, nhạc sĩ Trần Lập tại Hà Nội

Tưởng nhớ ca sĩ, nhạc sĩ Trần Lập nhân ngày giỗ đầu của anh, gia đình Trần Lập phối hợp Ban nhạc Bức Tường cùng bạn bè và những người hâm mộ anh tổ chức đêm nhạc “Trần Lập – Hẹn gặp lại” vào tối 26-2 tại Cung thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

Ðêm nhạc tưởng niệm Trần Lập (trong ảnh) do đạo diễn Phạm Hoàng Nam dàn dựng, để thực hiện lời hứa cuối cùng “Hẹn gặp lại” với bạn bè và công chúng của người ca sĩ, nhạc sĩ tài hoa – linh hồn của Ban nhạc rock Bức tran-lapTường nổi tiếng khi bước vào cuộc đấu tranh cuối cùng với bệnh tật. Hình ảnh can trường của người nghệ sĩ đối mặt, chống chọi với thực tế khắc nghiệt bằng một tinh thần lạc quan, yêu đời, truyền tải những thông điệp về tình yêu thương, lòng nhân ái và quả cảm, đã truyền cảm hứng cho nhiều người.

Ðêm nhạc tưởng nhớ cũng là sự tôn vinh sự nghiệp và những cống hiến của Trần Lập với âm nhạc trong hơn 20 năm qua 25 bản rock hay nhất, chứa đựng những thông điệp của tác giả đến với xã hội, với cộng đồng, khắc họa lại hình ảnh của “người thủ lĩnh rock Việt” một thời vang danh tại các tụ điểm âm nhạc trẻ. Bên cạnh Ban nhạc Bức Tường, đêm nhạc còn có sự góp mặt của hai nhóm Ngũ Cung, Microwave và các ca sĩ: Tùng Dương, Phạm Anh Khoa, Tạ Quang Thắng, Hà My, Hoàng Mario, Tuấn RC, Dũng Recycle…

Trong khoảng hơn mười năm, từ năm 1995 đến 2006, Trần Lập và Ban nhạc Bức Tường đã đưa rock Việt lên đỉnh cao của thời hoàng kim, định dạng về phong cách biểu diễn và tư tưởng âm nhạc mà sau đó nhiều nhóm rock đã hoạt động và đi theo Bức Tường. Ðó là sự kết hợp của yếu tố truyền thống, lịch sử, kết hợp giữa xưa cũ và hiện tại, dễ thuộc, dễ nhớ và đi vào lòng người, được khán giả yêu thích. Anh và Ban nhạc Bức Tường đã nhận được nhiều danh hiệu và giải thưởng âm nhạc và trở thành ban nhạc rock có số lượng người hâm mộ lớn nhất Việt Nam.

Trần Lập sinh năm 1974 tại Hà Nội, quê gốc Nam Ðịnh, đã theo học kỹ thuật biểu diễn và thanh nhạc tại khoa Sân khấu Trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội từ năm 1993 đến 1997 và cũng đã tốt nghiệp khoa Kinh tế Ðại học quốc gia Hà Nội. Anh và một số bạn bè thành lập Ban nhạc rock Bức Tường vào năm 1995, đảm nhận vai trò trưởng nhóm và là người đã sáng tác 30 ca khúc chính cho nhóm biểu diễn với nhạc phẩm nổi tiếng Ðường đến đỉnh vinh quang. Bên cạnh hoạt động âm nhạc, Trần Lập còn tham gia các chương trình truyền hình, làm MC và giám khảo của chương trình Giọng hát Việt mùa thứ nhất. Trần Lập bị ung thư và qua đời vào ngày 17-3-2016 ở tuổi 41 sau gần nửa năm kiên cường đấu tranh với bệnh tật.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/2/2017:

Vở Kiều mở màn chuyên đề sân khấu năm 2017 tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Hoàn thành dàn dựng và ra mắt người xem từ tháng 11-2016, nhưng đến ngày 18-2 vừa qua, vở Kiều mới chính thức được Nhà hát kịch Việt Nam công diễn phục vụ khán giả Thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Vở diễn đã để lại nhiều ấn tượng với người xem bởi sự đầu tư công phu và những thử nghiệm táo bạo trên sân khấu.

Vở Kiều do nhà văn Nguyễn Hiếu chuyển thể từ tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, NSND Anh Tú biên kịch và đạo diễn với diễn xuất của các nghệ sĩ tài năng của Nhà hát kịch Việt Nam. Ðược biên tập và dàn dựng rút ngắn về dung lượng so với nguyên tác, nhưng vở diễn vẫn giữ nguyên những giá trị của tác phẩm, phản ánh giá trị hiện thực của xã hội loạn lạc, đầy rẫy bất công và thân phận của người phụ nữ thời phong kiến, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp của tình yêu, lòng hiếu thảo, thủy chung, sự bao dung, vị tha và của vẻ đẹp tài, sắc, chí khí anh hùng… Vở diễn cũng thể hiện được phần nào tính dự báo của nguyên tác Truyện Kiều về những vấn đề xã hội khi đồng tiền và quyền lực không chân chính lên ngôi, sẽ làm đảo lộn nhiều giá trị, trong đó có những giá trị đạo đức tốt đẹp.

Vở Kiều của Nhà hát kịch Việt Nam đã kết hợp sinh động và hấp dẫn những hình thức hát, múa và động tác hình thể trong các cảnh diễn, xuyên suốt là hình ảnh hoa sen làm nền trên sân khấu từ khi hé nở, sung mãn đến tàn khô, héo úa như hàm ý chứa đựng, bổ khuyết cho thân phận của một nàng Kiều tài sắc bị đày ải. Hình ảnh vươn lên của hoa sen thanh khiết giữa bùn đen đã mang nhiều ý nghĩa bởi vượt lên tất cả chính là sự dâng hiến những cái đẹp, cái tinh túy nhất cho tình yêu, cho cuộc đời. Nghệ sĩ trẻ Diễm Hương đã thể hiện thành công một nàng Kiều không cam chịu số phận mà còn biết đấu tranh quyết liệt cho quyền lợi và hạnh phúc của bản thân. Vở Kiều có số lượng nghệ sĩ, diễn viên của nhà hát tham gia đông kỷ lục, lên tới hơn 60 người, trong đó có nhiều nghệ sĩ tài năng được công chúng yêu mến như: Diễm Hương (vai Thúy Kiều), Tạ Minh (vai Từ Hải), Tô Dũng (vai Kim Trọng), Khuất Quỳnh Hoa (vai Thúy Vân), Xuân Bắc (vai Hồ Tôn Hiến), Phú Ðôn (vai gã bán tơ), NSND Lan Hương (vai vợ gã bán tơ)… Ðược biết, sau buổi công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, vở Kiều sẽ được biểu diễn liên tục tại Rạp Nhà hát kịch Việt Nam với giá vé từ 300 đến 500 nghìn đồng/người.

vo-kieu

Việc chính thức công diễn vở Kiều phục vụ công chúng trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội là sự kiện mở đầu cho một loạt vở diễn và các chương trình biểu diễn của Nhà hát kịch Việt Nam trong năm 2017 với định hướng đổi mới, thu hút công chúng, gắn với thị trường mà vẫn giữ vững được tính nghệ thuật và chính luận của một đơn vị sân khấu quốc gia. Ðây cũng là sự kiện mở đầu cho loạt chương trình sân khấu chuyên đề theo kế hoạch hoạt động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Bên cạnh việc tiếp tục biểu diễn tại Hà Nội và lưu diễn tại các tỉnh trong cả nước những vở: Hăm-lét, Biệt đội Báo đen, Bệnh sĩ, Trong mưa dông thấy nắng, Khát vọng, Lâu đài cát, v.v, trong năm nay, Nhà hát kịch Việt Nam sẽ tiếp tục dàn dựng các vở diễn kinh điển thế giới như: Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Uy-li-am Sếch-xpia (NSND Anh Tú đạo diễn), vở Hồng Lâu Mộng dựa theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Trung Quốc Tào Tuyết Cần (Chua Soo Pong đạo diễn) và vở Lão hà tiện của đại văn hào Mô-li-e (NSND Tuấn Hải đạo diễn).

Kim Thúy

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Kỳ họp thứ 11 Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 15 đến 17-2-2017, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 11. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận các nội dung sau:

1 – Về kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cá nhân liên quan.

Ban cán sự đảng (BCSĐ) Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2008 – 2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát; để xảy ra các vi phạm trong công tác thẩm định, phê duyệt, chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, điều chỉnh địa điểm xả thải và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Để xảy ra các vi phạm nêu trên, trách nhiệm thuộc về đồng chí Nguyễn Minh Quang, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư BCSĐ, nguyên Bộ trưởng với cương vị là người đứng đầu; đồng chí Bùi Cách Tuyến, nguyên Ủy viên BCSĐ, nguyên Thứ trưởng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường và đồng chí Nguyễn Thái Lai, nguyên Ủy viên BCSĐ, nguyên Thứ trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về những vi phạm thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và cùng chịu trách nhiệm về các vi phạm, khuyết điểm của BCSĐ Bộ Tài nguyên và Môi trường; đồng chí Mai Thanh Dung trong thời gian giữ chức vụ Cục trưởng Cục thẩm định, đánh giá tác động môi trường và đồng chí Lương Duy Hanh, Cục trưởng Cục kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường đã thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Những vi phạm, khuyết điểm của BCSĐ Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đồng chí nêu trên là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.

2 – Về kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh và các cá nhân liên quan.

Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh các nhiệm kỳ 2004 – 2011, 2011 – 2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án; để xảy ra các vi phạm trong thẩm định, phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Để xảy ra các vi phạm nêu trên, trách nhiệm chính thuộc về đồng chí Võ Kim Cự trong thời gian giữ cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư BCSĐ, Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng ban quản lý Khu kinh tế (2008 – 2010) và trách nhiệm của đồng chí Hồ Anh Tuấn, Trưởng ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng (2010 – 2016); các đồng chí: Lê Đình Sơn, Đặng Quốc Khánh, Dương Tất Thắng và Nguyễn Nhật trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh có phần trách nhiệm.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh các nhiệm kỳ trong thời gian từ 2005 – 2016 đã thiếu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với Ban cán sự đảng UBND tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện dự án Formosa Hà Tĩnh.

Những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh và các đồng chí Võ Kim Cự, Hồ Anh Tuấn là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.

UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh và các đồng chí Lê Đình Sơn, Đặng Quốc Khánh, Dương Tất Thắng, Nguyễn Nhật tổ chức kiểm điểm sâu sắc, nghiêm túc rút kinh nghiệm; đồng thời, chỉ đạo kiểm điểm, xem xét kỷ luật đối với những cán bộ thuộc thẩm quyền theo kết luận của UBKT Trung ương.

3 – Về giải quyết tố cáo đồng chí Nguyễn Văn Thiện, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Lê Kim Toàn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định.

Qua giải quyết tố cáo, UBKT Trung ương kết luận: Đồng chí Nguyễn Văn Thiện và đồng chí Lê Kim Toàn có trách nhiệm về các khuyết điểm, vi phạm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định trong công tác tuyển dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm một số cán bộ không đúng quy định của Đảng, Nhà nước.

UBKT Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định, đồng chí Nguyễn Văn Thiện và đồng chí Lê Kim Toàn kiểm điểm trách nhiệm, đề xuất hình thức xử lý, báo cáo UBKT Trung ương xem xét.

UBKT Trung ương đề nghị Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo thanh tra toàn diện việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

4 – Cũng trong kỳ họp này, UBKT Trung ương đã cho ý kiến về một số dự thảo văn bản trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng và một số vấn đề khác.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/2/2017:

Kết luận thanh tra về công tác bổ nhiệm cán bộ tại Thanh tra Chính phủ

Ngày 23-2, Thanh tra Chính phủ cho biết, Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông báo Kết luận thanh tra về việc thực hiện các quy định của pháp luật về bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý của Thanh tra Chính phủ (giai đoạn từ ngày 1-1-2015 đến 30-6-2016).

Theo đó, trong khoảng thời gian nêu trên, Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định bổ nhiệm 48 trường hợp; bổ nhiệm lại 21 trường hợp; kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo đến thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu bốn trường hợp… Thông báo kết luận thanh tra nêu rõ: Trong giai đoạn được thanh tra, Thanh tra Chính phủ đã áp dụng các văn bản của Ðảng, pháp luật của Nhà nước làm căn cứ pháp lý để thực hiện việc bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý. Ðồng thời, ban hành văn bản quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn đối với các chức danh bổ nhiệm và trình tự bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo đến thời điểm nghỉ hưu.

Tuy nhiên, có một quyết định điều động, bổ nhiệm không ghi thời hạn giữ chức vụ; ba trường hợp ban hành quyết định bổ nhiệm lại chậm so với quy định. Ngoài ra, có hai trường hợp được điều động, bổ nhiệm ngang cấp tại hai đơn vị vượt quá số lượng cấp phó so với quy định.

Qua thanh tra, Bộ Nội vụ kiến nghị Tổng Thanh tra Chính phủ chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với các hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện trình tự điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại để khắc phục, thực hiện đúng quy định trong thời gian tiếp theo; không thực hiện việc bổ nhiệm (bao gồm điều động ngang cấp) tại các đơn vị đã có đủ số lượng cấp phó theo quy định.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/2/2017:

Bộ Công thương kỷ luật các cán bộ đi lễ trong giờ làm việc

Ngày 23-2, Bộ Công thương cho biết, vừa qua, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh đã quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét mức độ vi phạm và khuyến nghị hình thức kỷ luật đối với ông Bùi Quang Hưng, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xuất khẩu thuộc Cục Xúc tiến thương mại, về hành vi đi lễ đầu năm trong giờ làm việc.

Sau khi cân nhắc các tình tiết, Hội đồng đã bỏ phiếu kín thống nhất khuyến nghị Bộ trưởng Công thương áp dụng hình thức kỷ luật hạ bậc lương đối với ông Bùi Quang Hưng. Ngày 22-2, Bộ trưởng Công thương ký Quyết định kỷ luật với hình thức hạ bậc lương đối với ông Hưng.

Theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Hội đồng kỷ luật của Cục Xúc tiến thương mại cũng đã họp xem xét, đề nghị hình thức kỷ luật đối với viên chức và người lao động thuộc Trung tâm Hỗ trợ xuất khẩu đi lễ đầu năm trong giờ hành chính. Hội đồng thống nhất đề nghị hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với bảy cán bộ cấp phòng của Trung tâm và khiển trách đối với hai viên chức và người lao động khác.

Lãnh đạo Bộ Công thương nhất trí với đề nghị này và ngày 23-2 đã ủy quyền Cục trưởng Xúc tiến thương mại ký quyết định kỷ luật đối với các cá nhân nêu trên.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Nguyên Tổng giám đốc Vinashinlines và đồng phạm Giang Kim Đạt lĩnh án tử hình

Sau một tuần mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, chiều 22-2, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên án phạt bốn bị cáo trong vụ án tham ô tài sản xảy ra tại Tổng công ty TNHH MTV Vận tải viễn dương Vinashin (Vinashinlines).

Trong số ba bị cáo bị xét xử về tội “Tham ô tài sản”, Tòa đã tuyên phạt mức án tử hình đối với hai bị cáo: Trần Văn Liêm (sinh năm 1955, nguyên Tổng giám đốc Vinashinlines) và Giang Kim Đạt (sinh năm 1980, nguyên quyền Trưởng phòng kinh doanh Vinashinlines); tuyên phạt tù chung thân đối với bị cáo Trần Văn Khương (sinh năm 1951, nguyên Kế toán trưởng Vinashinlines). Bị cáo Giang Văn Hiển (sinh năm 1950, bố đẻ bị cáo Giang Kim Đạt) bị tuyên phạt 12 năm tù về tội “Rửa tiền”.

Tòa tuyên thu hồi số tiền hơn 260 tỷ đồng mà các bị cáo đã chiếm hưởng bất chính, và trao trả nguyên đơn dân sự là Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin. Tại phiên tòa, hầu hết các bị cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội. Các luật sư bào chữa cho các bị cáo đưa ra luận cứ cho rằng, các bị cáo không phạm tội tham ô tài sản; đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung và xem xét lại tội danh của các bị cáo. Quan điểm của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại tòa cho rằng: Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xác định: Trong số các bị cáo, bị cáo Liêm đóng vai trò chỉ đạo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đạt giữ vai trò đồng phạm tích cực, còn bị cáo Khương giữ vai trò đồng phạm.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 23/2/2017:

Xử phạt hành chính Báo điện tử Văn nghệ 30 triệu đồng

Chiều 22-2, Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) vừa quyết định xử phạt vi phạm hành chính 30 triệu đồng đối với Báo điện tử Văn nghệ. Theo đó, Báo điện tử Văn nghệ đã xuất bản thêm chuyên trang có tên miền vannghetre.net không có giấy phép, vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định số 159/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Cùng ngày, Cục Báo chí có văn bản gửi Tổng Biên tập Báo điện tử Văn nghệ yêu cầu kiểm tra thông tin đã đăng; đồng thời báo cáo kết quả bằng văn bản tới Cục Báo chí trước ngày 24-2-2017. Trước đó, ngày 21-2, chuyên trang Văn nghệ trẻ (có tên miền vannghetre.com.vn) của Báo điện tử Văn nghệ đăng bài viết “Lại thêm một vụ cán bộ dùng xe công gắn biển giả?…”, trong đó có nội dung thông tin Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đang sử dụng xe công nghi gắn biển số giả và có giá trị vượt quá tiêu chuẩn theo quy định.

Ngày 22-2, Chánh Văn phòng Thành ủy Đà Nẵng cung cấp thông tin cho báo chí, khẳng định nhiều thông tin trong bài viết nêu trên là không chính xác.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/2/2017:

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm

Thực hiện chương trình giám sát chuyên đề của Quốc hội (QH) khóa XIV, ngày 15-2 tại Hà Nội, Đoàn giám sát của QH có cuộc làm việc với các bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế và Công thương về việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP), do Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển, Trưởng Đoàn giám sát chủ trì. Tham dự buổi làm việc có lãnh đạo một số ủy ban của QH; các bộ, ngành, đơn vị hữu quan và các thành viên Đoàn giám sát.

Tại buổi làm việc, thành viên Đoàn giám sát đã nghe trình bày báo cáo và thảo luận về tình hình thực thi chính sách, pháp luật về quản lý ATTP giai đoạn 2011- 2016, những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý ATTP trong tình hình mới và đề xuất những kiến nghị, giải pháp. Theo báo cáo của Bộ Y tế, kết quả giám sát liên tục từ năm 2011 đến tháng 10-2016 cho thấy, cả nước ghi nhận 1.007 vụ ngộ độc thực phẩm với 30.395 người mắc, 25.617 người đi viện và 164 người chết. Nguyên nhân gây ngộ độc chủ yếu do vi sinh vật (chiếm 40,2%); do độc tố tự nhiên chiếm 27,9%, do hóa chất chiếm 4,3% và còn 268 vụ không xác định được nguyên nhân.

Đánh giá các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến ATTP, đại diện các bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế nhận định: Tình hình sử dụng chất cấm, lạm dụng hóa chất, kháng sinh, chất bảo quản, sử dụng phụ gia trong chế biến ngày càng phức tạp. Điều kiện vệ sinh ATTP trong các khâu sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cũng như trong khâu bảo quản, sơ chế, giết mổ chưa đáp ứng quy định vệ sinh ATTP. Phần lớn thực phẩm tươi sống chưa có nhãn mác, dấu hiệu nhận diện và thông tin về nguồn gốc xuất xứ. Buôn lậu thực phẩm qua biên giới còn diễn biến rất phức tạp. Ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng xảy ra ở nhiều địa phương nhưng đối tượng gây ra lại không bị xử phạt một cách nghiêm khắc… Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, ở nhiều địa phương mặc dù tổ chức thanh tra, kiểm tra nhiều nhưng tỷ lệ xử lý thấp, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, vẫn còn sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các ngành có liên quan. Nhiều địa phương chưa chuyển hướng mạnh sang thanh tra đột xuất như chỉ đạo của Chính phủ nên hiệu quả thanh tra không cao. Bên cạnh đó, theo một số đại biểu, việc thực thi pháp luật ở nhiều địa phương còn hình thức, dàn trải, chưa đạt yêu cầu.

Phát biểu ý kiến kết luận tại cuộc họp, Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển đề nghị cần làm rõ vai trò của bộ, ngành, địa phương, nhất là cấp huyện, xã. Nhiều vi phạm xảy ra trong thời gian qua chính quyền không nắm được, cho thấy năng lực có vấn đề hoặc do thiếu trách nhiệm hoặc do hiện tượng bao che… Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, công tác phối hợp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện trong lĩnh vực này.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 17/2/2017:

Chấm dứt hoạt động năm tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long

Tỉnh Quảng Ninh vừa thông qua đề xuất của UBND thành phố Hạ Long về việc chấm dứt toàn bộ hoạt động của năm tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long, gồm các tàu: Bài thơ 28, QN-5828 của Công ty CP đầu tư Thương mại và Dịch vụ du lịch Bài Thơ; Thiên Cung 08, QN-1697 của Công ty TNHH Dịch vụ và Thịnh Vượng; Vạn lý, QN-6838 của Công ty TNHH Vạn Lý; Cửu Long 09 QN-2782 của Công ty Hoàng Đắc Khắc; Hải âu 08 QN-1667 của ông Trần Văn Sô.

Từ năm 2014 đến nay đã xảy ra nhiều vụ cháy tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long. Ben cạnh nguy cơ dễ cháy, các tàu cũ được lưu hành nhiều năm, tàu vỏ gỗ hoán cải… luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, các chỉ số an toàn kém, ảnh hưởng đến tính mạng con người và hình ảnh du lịch Vịnh Hạ Long.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 16/2/2017:

Thông tin chính thức về vụ việc phức tạp tại Giáo xứ Song Ngọc (Nghệ An)

Chiều 15-2, tỉnh Nghệ An thông tin chính thức về vụ việc phức tạp tại Giáo xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) liên quan đến sự cố ô nhiễm môi trường biển miền trung do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra.

Tỉnh Nghệ An đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí thông tin vụ việc một cách kịp thời, trung thực để người dân hiểu, chấp hành đúng quy định của pháp luật; tránh để bị lợi dụng, lôi kéo vào những việc làm sai trái. Các cơ quan pháp luật của tỉnh Nghệ An sẽ kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm pháp luật gây ra vụ việc phức tạp này.

Trước đó, ngày 10-2-2017, Linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu soạn thảo “thư ngỏ” kêu gọi các linh mục và cộng đoàn các Giáo xứ Hiệp Thông, cầu nguyện cho giáo dân Giáo xứ Song Ngọc đi gửi đơn khởi kiện Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Tòa án Nhân dân thị xã Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 14-2-2017. Thực hiện chỉ đạo của Linh mục Nguyễn Đình Thục, từ sáng sớm 14-2 có khoảng 500 giáo dân tập trung tại Giáo xứ Song Ngọc để đi vào tỉnh Hà Tĩnh. Khi đến khu vực xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu (Nghệ An), lực lượng Cảnh sát giao thông đã tổ chức phân làn các phương tiện tham gia giao thông khác đi vào một làn đường và đoàn giáo dân đi vào một làn đường để tránh ách tắc giao thông.

Tuy nhiên, đoàn giáo dân không chấp hành và tiếp tục đi hàng 3, hàng 4 lấn sang làn đường của xe ô-tô, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông, có nguy cơ làm tắc nghẽn giao thông. Lực lượng Công an đã tuyên truyền, vận động giáo dân tập kết các phương tiện vào bãi đất trống bên lề đường để lãnh đạo tỉnh Nghệ An trực tiếp đối thoại với Linh mục Thục và bà con giáo dân. Trong quá trình tập kết vào bãi đất trống, Linh mục Thục đã chỉ đạo dừng xe ô-tô bảy chỗ ngồi ngay giữa quốc lộ 1A. Khi xe dừng, các đối tượng ngồi trong xe không chịu mở cửa buộc lực lượng Cảnh sát giao thông phải cẩu xe và người ngồi trên xe để giải phóng ách tắc giao thông; một số giáo dân quá khích cố tình không chấp hành cho nên đã xảy ra xô xát giữa giáo dân và lực lượng Công an. Lợi dụng sự việc này, Linh mục Thục cho rằng mình bị lực lượng Công an đánh bị thương cho nên đã điện thoại thông báo cho các chức sắc, giáo dân lân cận đến giúp đỡ.

Đến 16 giờ cùng ngày, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, đồng chí Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An cùng một số linh mục đến hiện trường để tuyên truyền, vận động giáo dân không nên có các hoạt động quá khích và yêu cầu Linh mục Thục chỉ đạo giáo dân quay về. Sau đó, một số đối tượng phản động, chống đối đã kích động giáo dân kéo lên quốc lộ 1A (khu vực lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ) để gây áp lực; một số đã ném gạch, đá vào lực lượng chức năng làm 16 cán bộ bị thương (trong đó có đồng chí Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An) và làm hư hỏng ba xe ô-tô. Cơ quan Công an đã bắt giữ quả tang 21 đối tượng ném gạch, đá vào lực lượng làm nhiệm vụ…

 

Tháng Ba 1, 2017

Từ thành nhà Hồ, nghĩ về Tạp chí Nam Phong và Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ  chín, kỳ 1 tháng 3 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

TỪ THÀNH NHÀ HỒ,

NGHĨ VỀ TẠP CHÍ NAM PHONG

VÀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Trang 5 báo Nhân Dân ra ngày 19/11/2012 có bài của Nguyên Anh Bức tranh khắc họa thành công chân dung một danh nhân lịch sử.

Phần mở đầu, viết: “Triều đại nhà Hồ tồn tại cách đây hơn sáu thế kỷ đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc, trong đó Hồ Quý Ly là một nhân vật đượHo Quy Lyc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Cuộc đời và con người ông cũng là đối tượng sáng tác của văn học, nghệ thuật sân khấu và hội họa với các góc cạnh khai thác, thể hiện nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.

Nhìn lại những tác phẩm nghiên cứu và sáng tác về Hồ Quý Ly đều có chung một khẳng định, ông là một người yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm quyết liệt để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hồ Quý Ly cũng là người mang tư tưởng cách tân với những hành động thực tế khá táo bạo nhằm đổi mới, đưa đất nước phát triển trong bối cảnh xã hội nước ta lúc đó đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Bi kịch lịch sử của Hồ Quý Ly đến nay đã phần nào sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu để từ đó hậu thế có thể nhìn rõ hơn và ghi nhận tầm vóc tư tưởng cải cách của ông cùng những đóng góp lịch sử văn hóa của thời đại ông đã tạo dựng nên, trong đó có Thành Nhà Hồ, một công trình kiến trúc độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nghiên cứu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ tiếp cận trong suốt bảy năm qua, họa sĩ Hoàng Hoa Mai đã dày công thực hiện nhiều bức tranh chân dung về nhân vật lịch sử này. (…) mong muốn thể hiện hình tượng Hoàng đế Hồ Quý Ly với những nét khắc họa ấn tượng về tính cách, dáng vóc, dung quang phù hợp với cuộc đời và sự nghiệp đầy bi kịch của ông trong giai đoạn lịch sử biến động cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.”

Trong bài Thành nhà Hồ, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã viết

“Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng, tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Thanh nha hoTheo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với qui mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. (…) Theo các nhà khảo cổ khối lượng đá xây dựng ước tính trên 25.000m3, khối lượng đất đắp trên 100.000m3. Đó là chưa nói đến hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá qui mô khá lớn.

Thành nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành qui mô lớn, đặc biệt Hoàng thành, đàn Nam Giao xây bằng đá rất bền vững và kiên cố. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá. (…) Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đền miếu, tượng đài, lăng mộ… nhưng Thành nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới. (…) gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”” (Trích trang 3 đến 6 Tạp chí Xưa và Nay số 407 tháng 7 năm 2012).”

Bia Nam Phong

Trong những ngày Thành Nhà Hồ đang được vinh danh quốc tế là Di sản văn hóa thế giới và Nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, chúng tôi và không ít người có lòng với văn hóa, văn học, lịch sử nước nhà không khỏi trạnh lòng nghĩ tới Thượng Chi – Phạm Quỳnh và bộ tạp chí Nam Phong đồ sộ, như một bức trường thành chống ngoại xâm về văn hóa và bảo vệ quốc hồn quốc túy của dân tộc.

Hồ Quý Ly xưa nay vẫn bị kết tội là “cướp ngôi nhà Trần”, thậm chí còn là “kẻ phản quốc, đầu hàng giặc một cách nhục nhã”… Mà không phải chỉ có sử phong kiến mới kết tội Hồ Quý Ly, nhà Hồ, và do đó, luôn cả thành nhà Hồ cũng chẳng ai thèm đoái hoài đến.

Mãi đến gần đây, Hồ Quý Ly, nhà Hồ mới được nhìn nhận công bằng hơn.

Đến tháng 11/2000, Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau mấy chục năm gác bút, đã cho ra đời tác phẩm đồ sộ Hồ Quý Ly (Nhà xuất bản Phụ Nữ) Tiểu thuyết lịch sử dày đến 834 trang, vậy mà đông đảo người đọc cứ say mê tìm đọc, đọc ngốn đọc ngấu cho đã cơn khát chân lý!

Và đến nay, thì cả nước và cả thế giới đã biết đến và ca ngợi thành Nhà Hồ, một kiến trúc thành đá duy nhất còn tồn tại đến nay, sau hơn 600 năm xây dựng. Đó là vì dù sử viết thế nào thì những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn còn in dấu trong sự thật lịch sử. Và dù được công nhận hay không công nhận, nhưng tòa thành đá vẫn sừng sững, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, thách thức gió mưa, động đất, chiến tranh và thách thức cả những kẻ không ưa nhà Hồ, căm ghét Hồ Quý Ly, vì không ai dám phá một tòa thành do nhân dân đã xây trong lòng dân và được dân bảo vệ.

Bon anh Pham QuynhCũng như thế, mạng sống con người Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu ngót 70 năm nay, nhưng, những gì ông viết vẫn còn mãi trong lòng nhiều thế hệ người dân Việt có lương tri và thật lòng yêu nước. Tạp chí Nam Phong do ông đồng sáng lập và làm chủ bút phần quốc ngữ từ năm 24 tuổi, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến năm 1932, sau đó còn viết bài cho tạp chí đến năm 1934, tổng cộng 211 số (kể cả số Tết Mậu Ngọ 1918, là số báo Tết đầu tiên của nước ta). Một số bài viết đến năm 1922 được ông chọn, tập hợp thành bộ Thượng Chi văn tập ngót 1.200 trang, một số bài khác thì in thành sách trong Nam Phong tùng thư do ông làm chủ nhiệm, như Văn học nước Pháp (Đông Kinh ấn quán xuất bản, 1927), Khảo về tiểu thuyết (1929),Lịch sử và học thuyết của Voltaire (1930), L’Idéale du sage dans la philosophie Confuçéenne
(Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) in song ngữ, 1928…. và bằng Pháp văn như Essais Franco-annamites (1929-1932) 489 trang, xuất bản tại Editions Buy Huy Tin Hué 1937 và Nouveaux essais Franco-annamites, 524 trang, 1938, v.v… Đúng là cả một bức trường thành to lớn, vững chãi. DVD Nam Phong

Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 và chấm dứt hoạt động năm 1934 (hai năm cuối, do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách) đến nay đã lui vào dĩ vãng, nhiều người muốn tìm đọc mà không có, đành xem các bản trích, bản vi phim, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy. Chỉ những thư viện lớn trên thế giới mới có.

Thành nhà Hồ thì xây dựng bằng đá tảng, còn tạp chí Nam Phong thì làm bằng giấy, dễ bị thời tiết nóng ẩm, rồi mối, mọt hủy hoại. Thật bất hạnh cho văn hóa, lịch sử nước nhà…

Nhưng, may thay, tháng 6 năm 2009 người con trai út của Phạm Quỳnh và vợ đã hợp tác với Viện Việt học California (Hoa Kỳ) để giới thiệu công trình chuyển 211 số báo gồm 35.000 trang chữ từ 1917 đến 1934 vào bộ sáu đĩa DVD- Rom. Trong đĩa 1, có bản dịch ra tiếng Việt luận văn tiến sĩ Sorbonne của Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh là Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và còn có cả Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Bộ đĩa do hơn 50 người tình nguyện, phần lớn là người trẻ, đã vất vả hoàn thành trong sáu năm ròng. Gia đình Phạm Quỳnh ở Mỹ và Pháp đã biếu tặng Viện Việt học toàn bộ số tạp chí có chữ ghi chú của Phạm Quỳnh bằng bút chì mà gia đình còn giữ được, vẻn vẹn chỉ 186 số. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhờ Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung số còn thiếu. Về kinh phí làm DVD-Rom này, riêng gia đình con trai út Phạm Quỳnh là Phạm Tuân và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên đã góp 12.000 đô la, cô Nguyễn Thị Kim Ngân góp 8.500 đô la và một số người quý mến Phạm Quỳnh khác góp số chi phí còn lại.

Như vậy là hiện nay tại các thư viện lớn ở nước ta đều đã có bộ đĩa này do nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Và bức trường thành tạp chí Nam Phong lại sừng sững đứng ngay trước mắt những ai cần tìm hiểu về một thời và về một con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi Phạm Quỳnh, một con người Việt Nam chân chính.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2012.

P.T.

Biết ơn những con người nhân hậu mà dũng cảm

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:27 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 3 năm 2017.

Mừng Tạp chí Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

 BIẾT ƠN

    NHỮNG CON NGƯỜI NHÂN HẬU MÀ DŨNG CẢM

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: “Quý II/2012, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân cho ra tập 2 sách Phạm Quỳnh – một góc nhìn của tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan tuyển chọn và biên tập. Các trang 272 đến 284 có đăng bài trên đây của Phạm Tôn đã lên Blog PhamTon từ tuần 1 tháng 9 năm 2012.

—o0o—

Những người biết rõ về Thượng Chi – Phạm Quỳnh thì rất nhiều. Vì Ông là một nhân vật nổi bật hồi nửa đầu thế kỷ XX trong cả nước ta với những hoạt động đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ người Việt Nam. Nhưng, những ai dám lên tiếng nói rõ sự thật về Ông khi Ông đang bị chôn vùi cả thể xác lẫn danh dự hơn nửa thế kỷ qua thì chẳng được mấy người… Vì lẽ đó, con, cháu, chắt trong đại gia đình Phạm Quỳnh thật vô cùng biết ơn những Con Người nhân hậu mà dũng cảm đó. Và những người có lương tri cả nước đều vui mừng đón nhận mỗi bằng chứng quí giá, cũng như những đánh giá công bằng, xác đáng mà các vị dám đưa ra công luận và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc công bố đó trước nhân dân, lịch sử.

Chúng tôi vô cùng biết ơn giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, các nhà nghiên cứu Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Phạm Thị Nhung, Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Đầu, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Vương Trí Nhàn, giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Bá Đĩnh, Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Văn Chánh, Khúc Hà Linh các nhà văn, nhà thơ, dịch giả Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quốc Chiến, Trần Đăng Khoa, Khúc Hà Linh, Hà Khánh Linh, Xuân Ba, Lê Minh Khuê, Hồng Thanh Quang, Trần Chiến, các nhà giáo Nguyễn Thúc Chuyên, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Đức Thuận, Vũ Thế Khôi, nhà báo Thép Mới, Thanh Tùng, Lại Văn Sâm…

Chúng tôi biết ơn nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý (1900-1994). Ông là người bạn thân thiết, lại là người bà con với Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh thuộc họ bên ngoại nhà ông. Ngày 19/4/1991, ở tuổi đại thọ ông đã mời nhạc sĩ Phạm Tuyên đến nhà và vừa nói về thân phụ nhạc sĩ vừa cho xem các văn bản cổ và đọc cho nghe các bản do chính ông dịch ra quốc ngữ: Trích gia phả họ Hoàng Đạo, phụ bên ngoại (do Hoàng Đạo Thành biên soạn, viết), Phả ký học trò viết (do Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết) ghi lại thành một cuộn băng ghi âm đầy. Sau đó, ông còn cẩn thận viết ngày 16/7/1991 và gửi cho nhạc sĩ một bản Các việc tiếp theo. Nhờ đó mà gia đình biết rõ về hoàn cảnh gia đình và cuộc sống của Phạm Quỳnh từ nhỏ tới lớn. Ông còn cẩn thận vẽ cả sơ đồ căn nhà Phạm Quỳnh ở từ khi chào đời cho dến năm 1918. Là người bạn tâm giao, ông biết rõ và từng can dự vào các bước ngoặt trong cuộc đời Phạm Quỳnh, kể cả việc quyết định vào Huế tham chính và từ bỏ nghề báo. Chính Hoàng Đạo Thuý đã viết bản tham luận bảy trang sẽ đọc tại cuộc hội thảo do Viện Văn học dự định tổ chức năm 1992 tại Hà Nội.

Chúng tôi cũng biết ơn nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Đúng lúc đứng ở đỉnh cao danh vọng và uy tín lớn với hàng trăm tác phẩm nổi tiếng được nhân dân cả nước yêu mến, năm 1972 nhà văn lão thành cho ra mắt giữa thủ đô Hà Nội cuốn Đời viết văn của tôi (Nhà xuất bản Văn Học, in 3.200 cuốn) trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác nên truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Phần đó như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.” Sau khi phát hành ít lâu, cuốn sách ấy bỗng “biến mất” trên các giá sách cả ở các hiệu sách lẫn các thư viện, tủ sách phục vụ công chúng. Mãi đến năm 1996, mười năm sau đổi mới, mới lại thấy sách ấy được Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản, nhưng với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn! Nhưng, hai trang 181-182 vẫn còn nguyên phần nói về việc nhà văn đã viết Kép Tư Bền chỉ vì thương… Phạm Quỳnh! Người “chịu trách nhiệm xuất bản” là Đinh Quang Nhã. Hồi Nhà xuất bản Văn Học in năm 1972 tại Hà Nội, chưa có “chức danh” này.

Con, cháu, chắt Phạm Quỳnh còn biết ơn Thiếu tướng Phan Hàm.

Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp tư liệu 10 trang viết tay của Thiếu tướng viết ngày 8/11/1993, Tuyên huấn Thừa Thiên Huế nhận chiều 14/11/1993, xin trích đăng phần Thiếu tướng kể về việc đi bắt Phạm Quỳnh để bạn đọc có điều kiện biết được sự thật đã xảy ra như thế nào. Thiếu tướng Phan Hàm viết như sau:

“Tôi chỉ xin kể lại việc đi bắt Phạm Quỳnh. Còn các nơi khác không rõ chi tiết, chỉ biết chung chung:

“Tôi nhận lệnh, nghiên cứu thì được biết thêm là trong nhà Phạm Quỳnh cũng như nhà Ngô Đình Khôi đều có rất nhiều súng ống. Vì vậy buổi sáng hôm ấy, anh Hồ và tôi phải cải trang đi trinh sát địa hình trước. Kết quả chỉ biết được đích xác nhà (biệt thự Hoa Đường), sân, còn trong nhà không rõ. Đến trưa, ông Phan Tử Lăng trực tiếp chỉ thị cho tôi: đến trại Bảo An binh, ông ta sẽ phối thuộc cho hai tiểu đội lính Bảo An (một tiểu đội do tôi chỉ huy, một tiểu đội cho anh Việt chỉ huy) để giúp vào việc đi bắt hai tên Việt Gian đầu sỏ này. Ông ta còn nói thêm: “Bắt được rồi đem về lao Thừa Phủ, rồi báo xuống sân vận động Huế người ta biết, mở màn cuộc mít tinh.”

“Mệnh lệnh rất ngắn mà chúng tôi mang theo chỉ thấy nói “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc”. Tôi được trang bị một khẩu súng lục St.Etienne 6.35. Khi xe của tôi vòng vào sân, thấy Nguyễn Tiến Lãng trong nhà chạy ra. Lúc bấy giờ trên áo tôi đã có cái băng cờ đỏ sao vàng nên Lãng biết, toan chạy. Tôi đưa súng lên bắn thì kẹt đạn, nên bắt lên xe luôn. Anh Hồ lên lầu bước vào phòng Quỳnh đang chuẩn bị nghỉ trưa. Đưa giấy “mời” ra ông ta thản nhiên đứng dậy mặc áo ra đi.

“Tôi lục soát khắp nhà (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) chẳng thấy súng đạn đâu cả ngoài khẩu súng săn cỡ 12 ly của con trai ông ta và ít đạn săn. Con trai của ông ta là Phạm Khuê cũng đi dự mít tinh, ở nhà chỉ còn hai cô con gái là học sinh trường Khải Định trước đây” (…) “Đây là ý kiến tôi muốn đóng góp với những bản tổng kết quân sự, Đảng, chính quyền của tỉnh nhà.

Nhớ đâu viết đấy. Miễn là nói lên sự thật (Chúng tôi nhấn mạnh-PT)”

Người thứ tư chúng tôi biết ơn là bà Phạm Thị Minh, tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Châu Trinh, nguyên đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại Ý và một số nước châu Âu như Luxembourg v.v…. Nhân sang Pháp tìm tư liệu về ông ngoại mình, bà đã tìm thấy và “tặng” lại cho tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn sống ở Pháp tờ sao chụp Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant là tư liệu chứng tỏ Phạm Quỳnh đã chống Pháp và yêu nước như thế nào.

Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp  quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…

Gặp hai con gái Phạm Quỳnh ở Pháp là Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn, bà đã kể lại chuyện gặp nhà văn Sơn Tùng, được nghe ông nói về tình thân giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh và còn cẩn thận viết tay một bản xác nhận chuyện đó, không e ngại gì. Toàn văn bản viết tay như sau:

GHI LẠI TẶNG CHỊ PHẠM NGOẠN VÀ PHẠM HOÀN

            Tôi là Lê Thị Kinh tức là Phan Thị Minh, trước khi đi qua Paris tôi có gặp ông Sơn Tùng là một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử đồng thời là thương binh loại nặng (co rút cả hai tay) đã vui lòng kể cho tôi một số chuyện ông được nghe qua cụ Đào Nhật Vinh (tức Bùi Di, tức Bùi Lâm) ngày xưa đã gần gũi cụ Hồ thời kỳ cụ Hồ còn tên là Tất Thành đi làm trên tàu thủy (cùng đi với nhau từ Argentine đến Terre de feu, được Tất Thành dạy học chữ quốc ngữ). Sau ông này về làm adjudant ở bệnh viện Val de Grâce, hay đến 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường (hai ông nghè ta và tây) và Nguyễn Ái Quốc… Ông Đào Nhật Vinh kể lại: lúc đó ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương – PT ghi chú) đưa bản án đề nghị “xử tử Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh” thì cụ Hồ đã bác(Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Ông Vinh ỷ thế là chỗ thân tình đã chạy vào phản đối: “Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân và những tên đã chống phá cách mạng?” Cụ Hồ đã trả lời nghiêm nghị: “Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú xồn xồn lên như vậy. Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới, tôi quyết định như vậy là đúng…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra, vào gặp cụ Hồ và báo “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… đó không phải là người xấu!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Tôi đi nghiên cứu ở Archives d’Outre Mer ở Aix-en-Provence có thấy được một số báo cáo của agents của mật thám Pháp báo là đầu tháng 5-1922 có một cuộc gặp của cụ Phan Châu Trinh với cụ Phạm Quỳnh và ông Nguyễn Văn Vĩnh mà nó không ghi được nội dung, chỉ nghe được ông Vĩnh kể lại nhưng chúng không tin và có tin hai người này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – PT ghi chú) có gặp ông Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) tại Paris hoặc ở Tours nhưng nó không ghi được nội dung. (Đó là năm 1922 khi hai người qua dự đấu xảo thuộc địa tại Marseille). Sau đó ông Nguyễn Văn Vĩnh ở lại mấy tháng, được ông Phan Văn Trường đưa đi Mayence, Berlin, Vienne rồi mới trở về Pháp và về Việt Nam.

                                                                                                                 Paris 20-1-1994

                                                                                                                  Phan Thị Minh

Người cuối cùng, chúng tôi biết ơn là Nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng. Biết nhà văn qua tư liệu của bà Phan Thị Minh và còn biết cả chuyện ông định công bố tư liệu động trời về việc Hồ Chủ tịch phản đối việc sát hại Phạm Quỳnh tại hội thảo về Phạm Quỳnh năm 1992 do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội, nhạc sĩ Phạm Tuyên và một người anh vợ, nguyên biên tập viên Nhà xuất bản Sự Thật, đã đến gặp. Nhưng không may, phải lúc nhà văn bệnh nặng, không tiếp được. Mãi sau này, đến năm 2008, nhà văn Sơn Tùng mới có sức khoẻ và có thời giờ viết hẳn 20 trang chép tay về “bậc danh nhân văn hoá” Thượng Chi – Phạm Quỳnh để “ký thác” cho nhạc sĩ Phạm Tuyên và đồng ý cho công bố trên Blog PhamTon.

Sau đó, chúng tôi đã chia làm bốn phần và tự đặt đầu đề để bạn đọc dễ theo dõi với lời dẫn và lời bình của chúng tôi. Bao gồm Phần I: “Bất tất nhiên”, Phần II: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? (…) đó không phải là người xấu!”, Phần III: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…”, Phần IV: Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chức “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc”.

MẤY LỜI KÝ THÁC

Thân gửi: Nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình kính quí.

Thưa Anh,

Đời cầm bút của tôi: viết báo, viết văn, chí thành với đề tài lịch sử và danh nhân Bác Hồ.

Sống trước viết.

Từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1970, tôi dấn thân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước; xông pha khắp ba miền Bắc-Trung-Nam tìm tòi, tích lũy vốn sử liệu về các nhân vật lịch sử ,sự kiện, khảo sát, khảo chứng,… Năm 1971, tôi bị thương nặng trong trận giặc Mỹ đánh phá quyết liệt vùng hậu cứ miền Đông Nam Bộ. Sau gần một năm cáng thương qua Trường Sơn, tôi được về lại Thủ đô Hà Nội.

Chiến tranh có kết thúc. Vết thương chiến tranh trên cơ thể chỉ khép lại khi người mang vết thương ấy tắt nghỉ! Gần 40 năm qua, vừa vật lộn với vết thương mỗi khi tái phát hành hạ, vừa moi cái vốn tích lũy được mà viết, viết cho vơi bớt nỗi đau! Cho đến ngày hôm nay, tôi mới viết được trên 20 đầu sách, đã xuất bản. Bản thảo còn đang viết tiếp, vốn có rồi mà chưa viết được bao nhiêu; một số bậc danh nhân trong đó có danh nhân văn hóa Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã chuẩn định mà chưa thực hiện được. Giờ đây, tôi đã ngoài tám mươi, liệu còn làm xong được những chuẩn định? Vì vậy tôi thành tâm chép lại những điều tôi sưu tầm được về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh, xin trân trọng ký thác tới gia đình bậc danh nhân văn hóa Phạm Quỳnh. Ngày 27/3/2011, biết tin nhà văn không được khoẻ, bệnh mới trở nặng, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã đến thăm. Bên giường bệnh, bà Mai vợ nhà văn cho biết ông vừa qua cơn bạo bệnh, nay đã tỉnh táo, nghe được mà chưa nói được, nhưng “tin là ông sẽ dần bình phục như đã từng vượt qua bao lần thập tử nhất sinh trong đời”.

Chúng tôi tin rằng vẫn còn nhiều Con Người nhân hậu, biết rõ về cuộc sống và cả cái chết “bí ẩn” của Thượng Chi – Phạm Quỳnh… Và mong rằng các vị có tấm lòng nhân hậu ấy có thêm chí dũng cảm như những vị trên đây, mạnh dạn nói ra điều mình biết rất rõ mà bao năm nay vẫn phải canh cánh giữ trong lòng, rấm rứt trong dạ, khi biết mà chưa nói ra để người hiền hàm oan hơn nửa thế kỷ. Nếu được như vậy thời sẽ làm sáng tỏ được mọi “uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong” (Tên một bài viết của nhà văn Xuân Ba trên báo Tiền Phong năm 2005) trả lại cho ông đúng vị trí của mình trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử văn học nước nhà, tránh cho thế hệ trẻ, tương lai của đất nước khỏi lầm lẫn và có thêm một tấm gương trung với nước, hiếu với dân ngời sáng để noi theo.

Con, cháu, chắt Thượng Chi – Phạm Quỳnh và tất cả những người dân Việt lương thiện, yêu nước thương nòi cũng sẽ biết ơn các vị đã có lòng nhân hậu, lại thêm cái chí dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, dám bảo vệ sự thật lịch sử về Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Đó cũng là một cách góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thật sự.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2011

(Bổ sung 26/2/2017)

P.T.

Tháng Hai 15, 2017

Blog PhamTon tròn 8 tuổi, tự tin vững bước tiến vào năm thứ 9

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:46 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, tuần 2 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/2017)

BLOG PHAMTON TRÒN 8 TUỔI, TỰ TIN VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO NĂM THỨ 9

Blog PhamTon

Lời dẫn của Phạm Tôn: Năm Đinh Dậu này, chúng tôi muốn kỷ niệm Blog PhamTon tròn 8 tuổi, tự tin, vững bước vào năm thứ 9 bằng một hình thức khác mọi năm.

Đầu tiên, đăng lại bài năm ngoái là một năm có sự trùng hợp kỳ lạ giữa âm lịch và dương lịch của ngày ra đời Blog PhamTon là 22.2 nhằm đúng ngày rằm tháng Giêng năm Canh Thân. Tiếp đó là qua một số ý kiến bạn đọc đã gửi blog cho thấy mối liên hệ giữa Blog PhamTon và bạn đọc tại hai miền Nam, Bắc nước ta và cư ngụ ở nước ngoài.

—o0o—

Ngày Blog PhamTon tròn bảy tuổi năm nay lại nhằm đúng ngày rằm tháng giêng, giống hệt như cách đây 76 năm, ngày 22/2/1940 cũng nhằm đúng ngày rằm tháng giêng năm Canh Thìn.

Ngày ấy, tại Hà Nội, trưởng nữ của nhá báo Phạm Quỳnh được bà chị dâu cả thân thiết như bạn tri kỷ và cô em kế đến ngủ nhà cô để sáng hôm sau cùng đi lễ ngày rằm. Nhưng phải đưa cô ngay đến bệnh viện Đặng Vũ Lạc lúc mờ sáng. Và cô đã sinh con trai thứ bụ bẫm, mắt to đen.

Cháu bé hiền lành lớn lên trong tình yêu thương của cả gia đình. Được năm tuổi thì thấy nhà mình bỗng đông hẳn lên. Bà Ngoại và cả các cậu, các cô ở Huế ra. Nhà đông mà không vui. Không thấy ông ngoại đâu, nhưng ai cũng thì thầm nói về ông. Kể cả khi gọi đồng chén các buổi chiều buồn sau bữa ăn hầu như yên lặng.

Bé thân với người cậu hơn mình 10 tuổi. Chính cậu dậy cho bé những chữ cái đầu đời. Rồi ngày khai trường năm bé tròn sáu tuổi, đi học ở trường Hoài Đức phố Hàng Trống, cả nhà bận rộn việc này việc nọ, chỉ có cậu khéo tay cố làm cho cháu một cái cặp bằng vỏ bao xi măng, có chỗ gài bút chì đen và xanh đỏ. Bé sướng quá. Đến trường, thấy các bạn cặp xanh, cặp đỏ, cặp da nâu, mới thấy tủi vì cái cặp vỏ bao xi măng xám của mình.

Năm chú 15 tuổi, thì người cậu dạy học ở Khu học xá trung ương bên Trung Quốc về nước họp hội nghị giáo dục. Bao giờ người đi đón cậu về và tiễn cậu đi cũng là chú. Hai cậu cháu vẫn thân thiết như xưa. Một đêm, trước khi cậu đi, bạn bè nhiều, nên khi cậu về đến nhà thì cháu đã ngủ say, giấc ngủ của tuổi đang lớn. Nhưng cậu vẫn lay cháu dậy, và cậu nói với cháu điều nhất thiết cháu phải biết là cháu sẽ lớn lên, hãy cứ tự tin sống theo lẽ phải, chỉ làm những gì mình tin là đúng, mặc cho người khác nhìn mình với cặp mắt kỳ thị, cứ lớn lên mạnh mẽ, xem như mình chẳng may sinh ra có một cái bớt đen trên mặt thế thôi… Nhiều người chê, nhưng cũng còn nhiều người nhận ra mình là người tốt. Cứ tin vào họ và sống với họ.

Từ đó, chú thường nghĩ về ông ngoại. Biết ông mình cùng lứa tuổi với người cao đẹp nhất đang lãnh đạo đất nước. Rồi cứ suy nghĩ mãi vì sao cùng lứa tuổi mà một người thì cứ ngày một lên cao, một người thì lên thật cao rồi bỗng sa chân, chôn vùi cả thân xác lẫn sự nghiệp. Chú cố sưu tầm tất cả những gì ít ỏi có dấu vết của ông ngoại còn sót lại trên miền Bắc đất nước chia cắt. Chủ yếu là nghe mẹ kể và những ký ức tuổi thơ những ngày sống ở Hoa Đường hồi từ hai đến bốn tuổi. May là chú có trí nhớ rất tốt, nhớ cả đến cảm xúc những ngày thơ bé đó, luôn mở to mắt mà nhìn đời. Mẹ kể một ông cậu đã làm hai câu thơ tả bé Mắt đen lay láy, đầu xiêu/ Gục đi lắc lại đáng yêu dường nào.

Năm 1960, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh tình cờ phát hiện ra cụ em vợ bà ngoại sống ở Yên Bình Yên Bái. Mẹ chú lên thăm, rồi hè năm ấy chàng sinh viên Học viện Nông Lâm cùng em trai lên nghỉ hè ở nhà bà. Không ngờ, bà cụ là cả một kho chuyện kể về thời trẻ, lúc Phạm Quỳnh 16 tuổi mới lấy cô chị cả đồng tuổi Nhâm Thìn. Thế là hai bà cháu cứ mải mê chuyện trò không dứt. Mà chỉ nói chuyện về một người. Cụ có trí nhớ tuyệt vời mà lại có tài kể chuyện. Những lúc kể, mắt cụ long lanh, miệng thiệt tươi như cô em ngày nào đang ngắm nhìn anh rể tài hoa mà khiêm nhường, bao dung.

Từ đó, năm nào anh cũng lên thăm bà Yên Bái. Kể cả sau Hiệp định Paris, phải đi qua cầu phao vượt sông Hồng, rồi đạp xe đến ga Đông Anh, chờ tàu đi Yên Bái, mờ sáng đến ga Yên Bái, còn đạp xe hơn 40km đến xóm nhỏ ở Thác Bà, ăn Tết với bà và cô. 11 cái Tết ảnh bỏ Hà Nội, lên miền núi.

Rồi đất nước thống nhất, anh vào Sài Gòn làm phóng viên thường trú. Cơ man nào là sách của ông ngoại, và viết về ông. Biết bao người ôm ấp nhiều chuyện về ông, sẵn sàng kể cho nghe.

Năm 1998, tình cờ anh bị cảm, nôn mửa suốt một ngày, lả đi, đến khi vợ con đi làm và luyện thi đại học về kịp nhờ người đưa đi cấp cứu, thì anh đã hôn mê do máu nhiễm xê tôn. Tỉnh dậy sau 15 ngày vật vã, anh nghĩ cuộc đời mình thật lãng nhách. Suốt đời vất vả ki cóp tư liệu về ông ngoại mà không dám viết. Vì sợ tư liệu còn thiếu. Còn tài năng thì làm gì có. Cứ chờ đã. Để đến bây giờ, sắp chết đến nơi rồi … Đúng là “sống để dạ, chết mang theo”. Trong khi những điều mình biết thì cả mẹ, cả các cậu, các cô đều không ai biết nhiều bằng mình. Mơ màng nghĩ vậy, rồi anh quyết định ngồi dậy được là sẽ bắt tay vào việc. Và “noi gương” Lê Quí Đôn khi viết Phủ Biên Tap Lục, luôn cho tư liệu tìm được vào các túi gấm, anh nghĩ nếu nói về ông ngoại thì nên nói những gì. Và nghĩ ngay ra là tư liệu ít nhất cũng phải chia thành ba “túi”: Người nặng lòng với tiếng ta, Người nặng lòng với nhà Người nặng lòng với nước. Mà định khi “công bố”, thì cũng cứ theo thứ tự ấy mới mong lọt.

Sau hai tháng nằm viện, về nhà là bắt tay ngay vào việc. Ba bài lần lượt tràn ra mặt trang giấy. Mỗi năm một bài.

Năm 2006, bài cuối cùng lại đến tay một cộng tác viên của tạp chí Công giáo và Dân tộc, nhân người “dám” in sách Thượng Chi văn tập mời con trai học giả Phạm Quỳnh ngồi cùng bàn nhậu với anh. Và bài lên tạp chí. Một tháng sau, bài ấy lên tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội. Huế góp vào bằng bài Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Bài viết đầu tiên, lại ra mắt cuối cùng, cũng trên tạp chí Công Giáo và Dân Tộc.

Năm ấy, internet bắt đầu đến nước ta. Chắt ngoại của học giả Phạm Quỳnh thấy thương bố vất vả sưu tầm tư liệu, cặm cụi viết bài mà lâu lâu mới đăng được một bài; có bài còn bị đổi nhan đề, cắt đầu cắt đuôi, sửa chỗ này, thêm chỗ nọ, làm bố không vui. Bèn bàn với bạn, lập cho bố một trang mạng riêng. Chẳng những đưa lên các bài bố viết mà còn cả những bài bố cất công sưu tầm mấy chục năm qua. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm sinh nhật bố, người con mở Blog PhamTon làm quà mừng.

Từ đấy, 22/2 là sinh nhật Blog PhamTon. Ông bố đành lấy ngày rằm tháng giêng làm sinh nhật của mình.

Năm nay, vừa may, 22-2-2016 lại đúng ngày rằm tháng giêng năm Bính Tuất, “song hỷ lâm môn”, cả nhà cùng vui. Nhất là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII vừa thành công rất tốt đẹp. Mở ra một cuộc đổi mới lần thứ hai, tiếp tục và làm sâu sắc hơn tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, và lời nói đi đôi với việc làm.

Con, cháu, chắt, chút Phạm Quỳnh và những người có lương tri, thật lòng thương dân, yêu nước vốn quí trọng Ông chỉ mong mỏi có thế.

B.P.T.

22/2/2016 (Rằm tháng Giêng Bính Thân)

 

Ý kiến bạn đọc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917-1/7/2017)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

1

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vừa nhận được thư điện tử của bạn Trần Sơn Bình (binh.transon@gmail.com) phát hồi 3:19 sáng ngày 11/4/2011. Toàn văn như sau: “Cháu là cháu ruột và cũng là cháu đầu của bác sỹ Ngô Văn Quỹ. Tình cờ tìm được bài viết này sau 4 năm ngày ông cháu mất, cháu và mẹ cháu (Ngô Phương Hồng) đều rất xúc động. Lúc ông đang nằm viện là thời gian cháu đang ở Pháp, cháu kịp về gặp ông đúng một ngày trước khi ông mất.

Cháu xin thay mặt gia đình, gửi lời cảm ơn đến bác / ông Tôn Thất Thành và mọi người tham gia blog Phạm Quỳnh về bài viết. Cháu xin phép được đưa bài viết này lên facebook cá nhân để chia sẻ với mọi người trong gia đình.

Xin chúc các bác / ông luôn mạnh khỏe và tiếp tục những công việc mà ông cháu và các bác đã theo đuổi.

Trân trọng,

Trần Sơn Bình.

—————-

Tran Son Binh

Mobile: 0912 42 62 81”

Nhân đây, để bạn đọc xa gần có thêm tư liệu về một con người đáng kính, một nhân cách cao thượng luôn sống hết mình vì mọi người, lại là một con người tài hoa, chúng tôi xin đăng lại sau đây bài viết về bác sĩ Ngô Văn Quỹ đã phát trước đây trên Blog PhamTon.

Vĩnh biệt bác sĩ Ngô Văn Quỹ

VIỆC NGHĨA CUỐI CÙNG CÒN DANG DỞ CỦA “CHÀNG TRAI” 87 TUỔI

  Tôn Thất Thành, Nhà báo

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bác sĩ Ngô Văn Quỹ sinh năm 1920 tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội năm 1954 từng làm bác sĩ pháp y ở Hà Nội, mổ hơn 2000 ca, và công tác ở các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Viện K Hà Nội, bệnh viện E, bệnh viện Ung Bướu và giảng dạy tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 11/11/2006, tại thành phố Hồ Chí Minh.

Là một bác sĩ, tất nhiên ông viết nhiều bài báo, tập sách về y học, nhưng ông lại nổi tiếng hơn với những bài báo tập sách viết và sách biên soạn hoặc dịch về các vấn đề lịch sử văn hóa và thời sự. Ông chỉ xuất bản một tập ký và tùy bút là Con tàu mang tên nỗi nhớ (NXB Văn Học, 1998). Ông cộng tác viết bài thường xuyên trong nhiều năm cho các báo Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Pháp Luật, v.v…

Chúng tôi đăng dưới đây bài viết của nhà báo Tôn Thất Thành ngay sau khi ông mất, mong bạn đọc hiểu rõ hơn con người và tấm lòng của ông đối với việc nghĩa.

—o0o—

Tôi biết chị Nguyễn Thị Nghệ, người mà anh yêu suốt đời từ năm 1958. Nhưng được cùng công tác với chị tại phòng tư liệu báo Nhân Dân Hà Nội, 15 năm sau tôi mới được biết anh, quen anh và dần dà trở thành người bạn vong niên của anh lúc nào không biết.

Anh sinh năm 1920 tại huyện Nguyệt Hồ, tỉnh Hưng Yên. Hồi đầu Cách mạng tháng Tám, anh đã cùng đồng đội trẻ áp tải ra tận Hà Nội nguyên vẹn 45kg vàng dân Nam Bộ quyên góp ủng hộ nhà nước cộng hòa dân chủ non trẻ, hưởng ứng Tuần Lễ Vàng. Anh mê viết báo từ ấy, viết đủ các lĩnh vực: y học, văn chương nghệ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóa… đặc biệt, anh hăng hái, nhiệt tình đấu tranh cho lẽ phải, minh oan cho những ai bị oan khuất, chiến đấu cho chân lý không mệt mỏi.

Là bác sĩ, lại từng công tác nhiều năm ở ngành pháp y, vì “yêu lẽ phải, mong muốn các xác chết “nói” lên được sự thật gần gũi nhất với bản chất vụ án, để tránh các oan khuất có thể xảy ra cho người vô tội”. Sau này làm phó giám đốc bệnh viện Ung Bướu, rồi nghỉ hưu, nhưng anh vẫn nặng tấm tình ấy của người bác sĩ pháp y năm nào. Năm 1997, báo Pháp Luật, một tờ báo anh thường cộng tác có đăng Vụ án vườn cam; bị cáo trẻ Huỳnh Văn Minh bi tuyên án tử hình vì hai tội hiếp dâm và giết người. Tòa báo có gửi hồ sơ vụ án đến cho anh nghiên cứu. Với kinh nghiệm của người từng nhiều năm làm công tác pháp y, anh thấy ngay là “có vấn đề”. Biên bản khám nghiệm tử thi ghi nhận các đầu ngón tay nạn nhân móng đều cắt ngắn, vậy mà thân thể bị cáo lại có vết xước da dài 2.5cm, rộng 0.2cm. Vết thương được khám 4 ngày sau vụ án mà vết xước vẫn còn… rướm máu! Mà lại là do bàn tay móng cắt sát gây ra. Đó là điều cực kỳ vô lý… Chàng trai không có tội, không thể để anh ta chết oan được…

Mấy năm sau, được biết ngày 9/11/2001, tỉnh Bến Tre sẽ thi hành án tử hình, thế là anh tức tốc bỏ tiền túi lấy ngay vé máy bay bay ra Hà Nội. Và ông lão 81 tuổi là anh đã ngồi ngoài đường suốt trưa nắng gắt, cốt sao gặp được người có thể giúp mình cứu một người trẻ tuổi anh chưa hề quen biết. Anh đã trực tiếp gặp phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, là người luôn chăm lo cho lớp trẻ, trình bày mọi lý lẽ và xin giảm án cho bị cáo. Nhờ vậy, Huỳnh Văn Minh chỉ bị án chung thân, thoát chết trong gang tấc! Nhưng anh vẫn chưa vui, vì mình mới chỉ làm được tới đó, biết làm sao được…

Anh yêu công lý và quyết đấu tranh cho công lý được sáng tỏ như thế đó. Quên tuổi già, sống mãi tuổi đôi mươi hồi tham gia Cách mạng tháng Tám. Tháng giêng 2004, bộ Y Tế tổ chức mừng thượng thọ anh tại Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Minh Triết bấy giờ là bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đã tặng anh một bó hoa đẹp với lời chúc: “Tôi xin chúc mừng chàng thanh niên 84 tuổi”. Lời chúc…lạ tai mà ai nấy đều phải nhận là đúng.

Vốn được anh chị coi như em, lại biết anh thường quan tâm những chuyện gì, thấy nguyệt san Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước (số 140, tháng 8/2006) tôi gửi cho anh, đề địa chỉ theo trí nhớ là 12 Nguyễn Thị Huỳnh. Rồi số 141, tháng 9/2006 lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta, tôi vội gửi cho anh theo địa chỉ trên. Đến khi có trong tay bán nguyệt san Xưa và Nay (số 267, tháng 9/2006), cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đăng bài Người nặng lòng với nước viết về học giả Phạm Quỳnh, tôi càng mừng rỡ gửi cho anh ngày 2 tháng 10. Nhưng, ngày 7 tháng 10 thì bưu điện trả lại. Vì không đúng…địa chỉ! May mà có số điện thoại nhà anh, tôi gọi và con út anh, cháu Ngô Phương Điệp, cho biết: địa chỉ của anh thật ra là 12/2 Nguyễn Thị Huỳnh. May mà hai lần trước đều đến tay anh.

Hai bố con tôi tức tốc đem báo đến tận nhà cho anh. Lâu nay, thấy anh khỏe mạnh, đi xe Honda 81 chỗ này chỗ nọ, nên tôi lười, chỉ nhờ bưu điện. Không ngờ, đến nhà mới biết anh ngã bệnh đã một tháng rồi, nằm bệnh viện 20 ngày không khá lên chút nào, anh về nhà uống thuốc Đông y và châm cứu. Lúc tôi đến, anh nằm trên giấy báo lót dưới mình, mặc quần đùi, áo ba lỗ, nói thều thào. Tôi đưa anh tờ Xưa và Nay, anh xem qua đầu đề rồi nói khẽ: “Báo đăng, chưa đủ…Phải có một cái gì đó lớn hơn, cho mọi người cùng biết việc này…” Rồi anh bảo tôi là anh có một tài liệu dày ở Pháp mới gửi về, nói về Phạm Quỳnh khá nhiều, rồi anh bảo con gái lên tìm ở chỗ bên phải tủ sách, nhưng cháu tìm không thấy. Anh bảo, hôm nào tôi đứng lên được tôi lên nhà lấy cho. Tôi biếu anh hộp sữa, con gái anh nói anh chẳng chịu ăn gì, ghét cả sữa, chỉ muốn ăn trứng luộc thôi.

Chiều thứ 7 tuần sau, bố con tôi lại đến thăm anh. Anh nằm trên chiếu, mặc quần ngủ và áo ba lỗ vì trời rất nóng. Tôi biếu anh tập bản thảo các bài về Phạm Quỳnh đã đăng báo ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Anh bảo đó là công việc anh muốn làm trong những năm tháng còn lại, lâu nay anh nghĩ nhiều về học giả này và đã sưu tầm tư liệu, dự định làm một kịch bản phim hẳn hoi. Anh tiếc là bộ phim truyền hình dài tập Ngọn nến hoàng cung chiếu thời gian qua đã mô tả nhân vật Phạm Quỳnh sai lạc nhiều quá, khiến người xem hiểu lầm ông là người xấu, nhỏ nhen và tham quyền cố vị, muốn làm tay sai cho Pháp đến cùng. Hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử, nhất là với những phát hiện gần đây cho thấy đó là một người hết lòng vì nước vì dân. Anh nói rõ ràng từng tiếng một: “Phải có một bộ phim đáp trả lại bộ phim ấy, mà chắc chắn hay hơn nhiều vì trung thực và có cơ sở vững chắc, không phải là những suy đoán, hư cấu…vấn đề bây giờ là tìm cho ra được một đạo diễn dám thí mạng, làm cho được thật hay…Tôi suy nghĩ nhiều rồi, tôi ngồi dậy được là tôi bắt tay ngay vào việc thôi. Tư liệu nhiều lắm. Còn sống được mấy năm nữa, tôi muốn làm được một việc thật có ý nghĩa…” Anh vẫn uống thuốc Đông y và châm cứu. Nhưng khổ nỗi là uống thuốc này mà uống sữa thì lại bị tiêu chảy, từ sáng đến giờ ba lần rồi.

Chiều thứ bảy 21/10 bố con tôi lại đến thăm anh. Anh mệt mỏi, suốt đêm qua không ngủ được, bất kỳ cử động nào cũng làm anh đau nhức không chịu nổi. Anh phải ngồi cho đỡ nhức. Rồi vất vả lắm mới lại nằm xuống được để… “tiếp khách” là bố con tôi! Anh còn nói nhiều chuyện vui về việc nằm lâu thì đau như thế nào… Tôi thấy, con gái út anh, và cả con rể anh, phóng viên Đoàn Hiệp của báo Sài Gòn Giải Phóng đều gầy đi từng tuần tôi gặp. Thấy anh mệt, tôi xin về mấy lần, anh vẫn còn muốn trò chuyện mãi, và mấy lần nhắc lại câu: “Cuốn sách đó có nhiều tư liệu về Phạm Quỳnh, nhất định tôi sẽ đưa cho, tôi mà lên gác được là tôi tìm thấy ngay thôi…” Anh vẫn nhiệt tình, chu đáo như xưa.

Thứ bảy kế tôi bận không thăm anh được. Thứ bày 4/11, tôi đến anh, hy vọng anh đã khá hơn. Nhưng anh con rể cho biết anh vừa nhập bệnh viện hôm qua. Tôi đến lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy, phòng cấp cứu tim như được chỉ, thì anh đang được tiếp máu lần thứ nhất và thở ốc-xi. Con gái út anh trông nom. Tôi ra hiệu để yên anh nằm nghỉ, nhưng cháu khẽ chạm vào chân anh, anh mở mắt, nhận ngay ra tôi. Anh cố nói: “Xin lỗi…” Con anh phải nhắc: “Bố đừng nói nữa, có khó thở không…?”. Vì nếu khó thở thì phải ngưng truyền máu ngay. Tôi chưa kịp hiểu anh định nói gì, nên nói vui sao anh em mình hay gặp nhau ở bệnh viện quá nhỉ. Năm 1998 tôi bị tai biến mạch máu não, vào bệnh viện Nguyễn Trãi cấp cứu, mở mắt ra đã thấy anh cùng bác sĩ Trần Cửu Kiến bạn anh đang đứng ngay gần. Tôi thật không ngờ! Đây là lần cuối cùng tôi được nghe anh nói và hai từ anh nói khó khăn lúc đó là: “Xin lỗi”. Người như anh làm sao có lỗi được.

Thứ bảy 11/11, tôi gọi điện đến nhà anh, hy vọng anh đã về và sẽ gặp anh tại nhà. 14 giờ 35, giọng cháu Điệp run run: “Bố cháu vừa mất lúc 12 giờ 50”.

Tôi chở vợ tôi vốn cũng thân thiết với cả hai anh chị như tôi, đến ngay nhà, mong được nhìn mặt anh lần cuối. Anh mặc com-lê xanh, nằm phẳng dẹp trên giường; trên bụng đặt một nải chuối xanh. Bàn nhỏ cạnh giường có một bức ảnh lạ; cháu Điệp nói không biết bố cháu chụp hồi nào mà không giống mấy. Cháu kể: 11 giờ 30 thứ năm bố cháu nhất định đòi về nhà; sáng nay còn ăn sữa…

Anh nằm ngay cạnh cửa sổ phòng khách, gần lối ra vào. Giữa phòng khách là bàn thờ chị Nghệ, người yêu suốt đời của anh, anh tự lập bàn thờ, treo có đến ba bức ảnh to của chị từ thời con gái, đến trung niên và lúc tuổi đã cao. Anh bảo tôi: “Để bà ấy ở đấy tôi đi đâu về đều gặp; trước khi ăn cơm cũng mời bà ấy được một câu.” Hồi chị Nghệ mất, anh bắt tất cả các cây trong vườn nhà hằng ngày vẫn được chị tưới, bón phải “chịu tang”, đeo khăn trắng hết. Nhớ lại chuyện ấy, thấy vạt vạn niên thanh xanh mướt, như anh bao giờ cũng trẻ, năng nổ, sẵn sàng giúp người, tôi xin anh con rể cho mấy ngọn về trồng. Đoàn Hiệp đang bận túi bụi, chắc hiểu lòng tôi, bứt công việc tang gia ra cắt cho tôi năm nhánh. Năm nhánh ấy, nay tôi trồng trong một chậu treo xanh mướt, có dán hình anh tươi cười ôm cháu ngoại, thật đúng là anh, dưới có dòng chữ “Anh Ngô Văn Quỹ (1920-11/11/2006, 21/9 Bính Tuất)”.

Sáng nào trước khi làm việc, bắt đầu một ngày mới tôi đều tưới cây, thấy anh tươi cười. Và những ngọn vạn niên thanh anh trồng, chị chăm, nay tôi chăm, vợ con tôi cũng chăm cho mãi xanh tươi, để mãi nhớ về anh chị, những con người thật đáng làm người.

30 tháng 11 năm 2006

Tôn Thất Thành

* Trong bài có sử dụng tư liệu của bài Vĩnh biệt chàng thanh niên 87 tuổi của Ngô Ngọc Ngũ Long báo Sài Gòn Giải Phóng số 14/11/2006

2

Bạn Mình Yêu Họ Những người thầy lớn trong đời / Kim Dung / Kỳ Duyên bình luận về bài Từ một “vụ án” đã sáng tỏ trên Blog PhamTon viết về trường hợp hàm oan trong nhiều năm của nhà báo Quang Đạm, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, một cây bút lý luận sắc xảo, uyên bác.

“Mới đây, rất may, tình cờ mình đọc được bài viết này minh oan cho ông (https://phamquynh.wordpress.com/2013/06/28/tu-mot-vu-an-da-sang-to/) của tác giả Thủy Trường. Còn khi đó, mọi cánh cửa đều đã đóng lại […]”

TỪ MỘT “VỤ ÁN” ĐÃ SÁNG TỎ

                                                      Thủy Trường

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong những ngày kỷ niệm Cách Mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay, chúng tôi cảm động nhận được bài của bạn Thủy Trường viết về một trong những con người đã một lòng trung với Nước, hiếu với Dân, nhưng có thời gian đã không được hiểu đúng, thậm chí còn bị nghi là phản dân hại nước, nhưng họ vẫn giữ vững một tấm lòng son với Dân với Nước, lặng lẽ chờ đợt sự phán xét công minh của Nhân dân, của Lịch sử. Có lẽ, đó cũng là một nét anh hùng của con người Việt Nam chúng ta…

—o0o—

Biết tôi có quen biết với gia đình anh Quang Đạm, nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân Dân, nhiều nhà báo, kể cả ở báo Nhân Dân, đôi ba thế hệ hỏi: “Tại sao ông Đạm, tri phủ Hà Trung (Thanh Hóa) thời chính phủ ngụy thân Nhật Trần Trọng Kim, “chui vào Đảng”, bị khai trừ, mà con lại “leo” lên được Uỷ viên Trung ương Đảng? Thế là Đảng mất cảnh giác à?”

Thật là những câu nói sai trái, thiếu hiểu biết, độc ác.

Và câu chuyện “mất cảnh giác” ấy hiện vẫn còn lưu hành đâu đó. Đã đến lúc cần làm sáng tỏ.

Những năm 1939-1949, tôi sống ở làng Vạn Hà, huyện lỵ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Là học trò của cô giáo Nguyễn Thị Sâm, tôi biết chồng cô là “Thầy lục sự” Tạ Quang Đệ (Lục sự là một chức danh chính quyền cũ, lo liệu việc văn thư, hành chính, giấy tờ, yêu cầu phải biết chữ quốc ngữ, Pháp văn, chữ Hán, chữ Nôm…). Nhà tôi ở cạnh nhà cô Sâm nên vẫn thường qua lại. Năm 1941, tôi vào “Xì cút” – Hướng Đạo sinh, đoàn Vạn Hà do thầy giáo Nguyễn Chương (sau này là vệ sĩ của Bác Hồ) và thầy Đệ phụ trách.

Trước Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, từ một đề nghị nào đó của “các anh” bên đoàn thể – có thể có ý kiến của Tạ Quang Bửu – anh ruột Tạ Quang Đệ (Tạ Quang Bửu là người được Đảng ta giữ liên lạc, yêu cầu lãnh đạo “Xì cút” đứng về phía Việt Minh), Tạ Quang Đệ được bổ nhiệm làm tri phủ Hà Trung, giáp ranh hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình.

Tại sao không làm quan đầu một huyện, phủ khác? Sau này, anh Đạm* mới cho biết là “ý của “các anh” đưa mình về Hà Trung là nơi có chiến khu Hòa – Ninh – Thanh (Hòa Bình – Ninh Bình – Thanh Hóa), rồi chiến khu Ngọc Trạo.”

Làm tri phủ “đệm”, nên trước ngày 19/8/1945, tri phủ Tạ Quang Đệ đã liên hệ với Việt Minh, bàn giao “triện”, sổ sách, vũ khí và ra Hà Nội sau đó mấy hôm, theo một “lệnh” nào đó.

Đến Thủ đô, Tạ Quang Đệ đi dạy học ở trường Thăng Long, rồi nhận công tác ở phòng Tham mưu do Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) làm trưởng phòng. Ngày 3/9/1945, Trưởng Ban Thông tin liên lạc của Phòng Tham mưu là Hoàng Đạo Thúy (bạn Hướng Đạo của Tạ Quang Bửu) chỉ định Tạ Quang Đệ làm Tổ trưởng Tổ Mật mã, có nhiệm vụ “biên soạn một luật mật mã mới về vô tuyến điện cho quân đội ta”.Tạ Quang Đệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được coi là “ông tổ mật mã của quân đội ta”. Công trình khoa học này, gần đây đã được nhà nước trao tặng giải thưởng Khoa học Quốc gia cho Tạ Quang Đệ cùng cộng sự.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo cơ quan lên Việt Bắc, Tạ Quang Đệ viết báo tường nội bộ. Bài báo của Tạ Quang Đệ đã “lọt vào mắt xanh” của đồng chí Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh. Sau đó, Tạ Quang Đệ được điều động về báo Sự thật với bút danh Quang Đạm, nổi tiếng với những bài xã luận, những bài tranh luận về pháp luật với Vũ Đình Hòe. Anh dịch tài liệu của Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cộng Sản Liên Xô bằng chữ Pháp sang tiếng Việt, do một đài vô tuyến điện của ta được chính phủ Diến Điện (Miến Điện) cho đặt ở Rangun, thu rồi phát về Việt Nam. Anh còn dịch nhiều tài liệu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ra tiếng Việt phục vụ Trung ương Đảng, Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh (như Trì cửu chiến – đánh lâu dài, Thực tiễn luận – bàn về thực tiễn). Anh là người duy nhất dịch được các chữ Hán cổ Bác Hồ viết theo lối tốc ký.

Năm 1954, về Hà Nội, Quang Đạm nhận nhiệm vụ ủy viên (thường trực) Ban Biên tập Báo Nhân Dân, là người về sau cùng của tòa soạn, sau khi báo đã xuống nhà in, cũng là người đến sớm nhất để thay mặt tòa soạn ghi nhận những ý kiến nhận xét của Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh về tờ báo mới in xong. Là đại biểu Đảng Lao động Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã Hội Thống Nhất Đức, anh đã đọc bài tham luận có tựa đề Đổi mới là sáng tạo, chân lý là cụ thể. Anh đã tham gia phái đoàn Hoàng Quốc Việt, sang thăm Triều Tiên khi Triều Tiên  đang “kháng Mỹ”.

Trong những năm cuối thập kỷ 60 thế kỷ trước, anh bị “người ta” cho là “đã dẫn nhà chức trách lùng bắt cộng sản ở Thiệu Hóa”. Theo lời anh kể cho tôi: “Có việc ấy, những đáng lẽ dẫn người đi thẳng đến thôn, nơi có cộng sản họp, anh lại cho ô tô bóp còi, đi vòng vèo để cộng sản biết mà chạy thoát”. Người có công, mang tội, anh bị chi bộ “khai trừ, lưu Đảng” – “bằng miệng”. Sự kiện được đưa lên Liên chi ủy báo Nhân Dân, Tổng Biên tập – Hoàng Tùng – Ủy viên Trung ương, thấy không phải việc nhỏ, nên đã cử người lên xin ý kiến đồng chí Trường Chinh, thay mặt Trung ương phụ trách mảng Tuyên huấn lúc bấy giờ.

Người được cử đi về nói lại rằng: “Theo anh Năm (bí danh đồng chí Trường Chinh) quyền là ở cơ sở, phải làm đúng thủ tục tổ chức Đảng. Đề nghị các anh lên xin ý kiến anh Ba (đồng chí Lê Duẩn)”. Người đi báo cáo với anh Ba về nói: “Đồng ý với đồng chí Trường Chinh. Tùy chi bộ”.

Tin đưa về đến tòa soạn thì Đảng viên Quang Đạm đã được nghỉ công tác, nghỉ sinh hoạt Đảng một thời gian rồi. Thế là việc khai trừ, lưu Đảng coi như đã xong.

Không có công tác, tiền lương bị hạ, không được sinh hoạt Đảng… anh Quang Đạm buồn lắm và rất đau khổ. Nhưng có lẽ người đau khổ nhất là vợ anh, cô giáo Sâm, cô kể cho tôi nghe: “Gia đình anh Bửu là nơi mà cô Liên, ông Cả (anh chị ruột Bác Hồ) thường đến nghỉ ngơi, trốn tránh khi có khó khăn. Mẹ anh Bửu, Đạm là nữ sĩ Sầm Phố, đã chăm nom cô Liên, ông Cả rất chu đáo. Có lần, trên Việt Bắc, Bác Hồ gặp anh (Quang Đạm) hỏi: “Bà cụ hồi này còn làm thơ nữa không? “Chắc là họ nhầm thôi”.

Có thể nói, “làm như vậy” là không được đúng, nên sau 1975, anh có được đi họp cuộc này, cuộc nọ, “mời dự các buổi thời sự” ghi rõ trong giấy là “dành cho cán bộ cao cấp”.

Cuốn sách Nho giáo, anh viết theo gợi ý của đồng chí Trường Chinh, mấy năm mới xong không được phép xuất bản vì Nho giáo là “hủ nho”, “phong kiến”, “phản động”. Sống thanh đạm, gia đình anh vẫn tin tưởng Đảng, không một lời kêu ca, oán trách.

Năm 1989, biết tôi là đồng đội với Đặng Xuân Kỳ – con trai đồng chí Trường Chinh, anh Đạm nhờ tôi gửi “Anh Năm” (đồng chí Trường Chinh) một thư viết tay trên một mảnh giấy nhỏ vài dòng. Tôi nhờ Đặng Xuân Kỳ chuyển, Đặng Xuân Kỳ nói:

– Hôm sau, cụ tới đây, anh cứ đưa trực tiếp thư của chú Đạm.

Hôm đồng chí Trường Chinh đến nhà Đặng Xuân Kỳ ở khu Giảng Võ, Kỳ kéo tôi ra cụ Năm:

– Đây là đồng chí bạn Lục quân của con, được chú Đạm nhờ chuyển bức thư.

Đồng chí Trường Chinh mở bức thư không dán, đọc ngay rồi bảo tôi:

– Đồng chí bảo Đạm cứ yên tâm. Đại hội (Đảng) xong tôi sẽ giải quyết dứt điểm cho Đạm. Tôi là một trong hai người giới thiệu Đạm vào Đảng, tôi có trách nhiệm.

Việc chưa xong thì đồng chí Trường Chinh đã “đi theo Bác”.

Tôi hỏi Tạ Quang Ngọc, con trai anh Đạm, bấy giờ đã là Thứ trưởng Bộ Thủy sản.

–          Ai là người thứ hai giới thiệu?

–          Chú Mười Hương

Nhân chuyến đi công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin đến gặp đồng chí Mười Hương, xin đồng chí cho biết một số việc và trình bày sự việc của anh Đạm.

Ngồi trầm ngâm một lát, “ông trùm tình báo Việt Cộng Mười Hương” nói:

–          Sắp tới tôi ra Hà Nội, sẽ làm rõ việc này.

Một ngày khoảng năm 2000-2001 gì đó, Tạ Quang Ngọc đón tôi đến khu nghỉ Hồ Tây gặp đồng chí Mười Hương, người Đảng viên lão thành nói giọng buồn rầu:

–          Hôm trước, tôi và đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến Ban Tổ chức Trung ương Đảng, lục tìm quyết định khai trừ cậu Đạm, bằng văn bản, nhưng không có, hoàn toàn không có. Quyết định miệng, không có văn bản, thủ tục khai trừ – chi bộ – liên chi bộ họp bao giờ, bao nhiêu đảng viên dự, ý kiến ra sao, tỷ lệ đồng ý, không đồng ý là bao nhiêu, chủ tịch, thư ký là ai ký vào… tất cả đều không có. Đã không có thì làm sao phục hồi được.

Tôi và Tạ Quang Ngọc ra về.

Ít lâu sau, Tạ Quang Ngọc được bầu vào Trung ương Đảng, rồi giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy sản. Nhớ tới câu đồng chí Lê Đức Thọ nói với vợ một cán bộ cao cấp (B.C.T.) bị quy kết oan sai, rằng: “Đảng không thể ra văn bản sửa sai được, mà chỉ sửa bằng sự việc cụ thể thôi…”, tôi nghĩ trường hợp này của anh Đạm có thể cũng là như vậy. Tôi nhân đó cũng nói đôi lời với Tạ Quang Ngọc; Tạ Quang Ngọc nói: “Cậu mợ tôi, trước khi mất vẫn tin rằng mình không có gì sai, vẫn tin tưởng Đảng”.

Trường hợp này, khiến tôi liên tưởng đến “vụ án” Phạm Quỳnh.

Không có biên bản, tòa án, không rõ ai là chánh án, thẩm phán, thư ký tòa, có hay không có luật sư, hay là có biên bản nhưng đã “mất”, “thất lạc”… Dù ba tháng sau khi Phạm Quỳnh mất đã công bố trên báo chí, nhưng nay, nếu thấy là chưa phải, chưa đúng, cần “giải oan” cho người bị oan, cũng chẳng có cơ sở pháp lý gì để xem xét lại.

Cũng giống như các vụ “Nhân văn – Giai phẩm”, “Vụ chống Đảng” (có cả Lê Trọng Nghĩa – một trong những nhà lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội) đã được sửa sai: cho in thơ, tặng giải thưởng, cho phục hồi danh dự… nhưng chưa có (hay đã có mà công luận không biết) văn bản.

Bằng việc cho tái bản sách của Phạm Quỳnh, in sách về Phạm Quỳnh, chấp nhận “Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn”, thiết nghĩ đó đã là “văn bản” trả lời vụ việc rồi. Chưa kể đến những động tác khác rất đáng hoan nghênh, “nhân nghĩa”, ân tình của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Và như vậy, “có thể” coi như vụ án Phạm Quỳnh đã khép lại. Thượng Chi ở dưới suối vàng đã “nhàn du tiên cảnh”. Con cháu Phạm Quỳnh theo lời Bác Hồ dặn, cũng đã “vững tâm đi theo cách mạng” vì “Cụ Phạm – lời Bác Hồ – là con người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này” – họ đã cùng với các nhà khoa học, chính trị, lịch sử, văn hóa có thể thưa với Bác Hồ rằng: “Thưa Bác, theo lời Bác dặn, lịch sử đã đánh giá đúng Cụ Phạm, xin Bác vui lòng”.

T.T.

———————–

(*) Tên thường gọi là Tạ Quang Đệ. Khi lên Việt Bắc những năm kháng chiến chống Pháp, Tạ Quang Đệ công tác ở báo Sự Thật với đồng chí Trường Chinh. Một lần bài đưa đến nhà in, bị mưa xóa nhòa tên tác giả, biết là bài của anh Đệ, là em anh Tạ Quang Bửu, tòa soạn đặt luôn tên tác giả là Quang Đạm. Đạm là chữ có từ cách “nói lái” các chữ Lam (tên con gái), Ngọc (tên con trai) và Đệ (tên bố). Từ Lam Ngọc Đệ thành Lê Ngọc Đạm.

3

Bạn Tâm Lê (email: letamsaigon@gmail.com) gởi ngày 25/9/2015 vào lúc 12:24.

Chào Anh,

Tôi rất quan tâm đến những nội dung trong quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế.Khi sách được giới thiệu trong ngày ra mắt ,tôi có vào các nơi đặt mua sách trên mạng thì tìm không thấy.Sau đó tôi có viết thư gửi anh Phạm Bá Thanh Tùng thì mới được biết quyển này không có bán trên thị trường và anh Tùng có cho em biết anh còn một số quyển.Vậy em kính xin Anh có thể nhín cho em một quyển,với lời thiết tha mong mỏi được Anh chấp nhận.Em ở BếnTre,nhưng em có mấy người em làm việc ở Sài Gòn,nếu được sự đồng ý của Anh ,em sẽ nhờ mấy đứa em đến nhận giùm.Trong khi chờ đợi sự đồng ý của Anh ,em chân thành cám ơn Anh rất nhiều.

Lê Minh Tâm.

Vào lúc 17:42 ngày 26/9/2015, Blog Pham Tôn đã viết:

Chào anh Lê Minh Tâm,

Lần đầu tiên tiếp xúc với anh, tôi xin tự giới thiệu. Tôi là Tôn Thất Thành sinh năm 1940. Hiện sống tại 82 đường Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TPHCM, số điện thoại bàn là 08-3848 0803. Xin nói để anh rõ anh Thanh Tùng ở xa không rõ tình hình của tôi, cho tới nay tôi chỉ có một bản sách đó với lời đề tặng nên dù rất quý anh tôi cũng không thể nhín cho anh được. Mong anh thông cảm. Với nhiệt tình của anh, tôi đã liên hệ với người tặng sách tôi, xin gửi cho tôi thêm một bản. Khi nào có sách, tôi sẽ báo anh biết. Trong lúc chờ đợi, mong anh cũng tự giới thiệu cho tôi biết về anh đôi chút, vì mong rằng chúng ta còn quan hệ lâu dài.

Chúc anh mạnh khỏe

Tôn Thất Thành

6:54 chiều 26/9/2015, bạn Tâm gởi:

Kính gửi Bác Tôn Thất Thành,

Con tên Lê Minh Tâm ,con sinh năm 1971,hiện con ở tại xã Giao Long ,huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre.Số điện thoại của con là 01649904041.

Trước tiên con xin lỗi Bác về cách xưng hô của con trong email trước con gửi cho Bác vì con không đoán được tuổi tác .Con biết Bác là do Bác Phạm Bá Thanh Tùng giới thiệu  khi con tìm hoài mà không thấy trên thị trường bán quyển “Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế”.Con quyết tâm đi tìm quyển này vì con rất hâm mộ những chính kiến của Cụ Quỳnh lúc sinh thời qua mấy tư liệu ghi chép lại,nhưng trải qua các thời kỳ có những ý kiến trái chiều,đến nay thì đã được tháo gỡ phần nào ,ngoài đó con không biết thế nào chứ trong con có lúc trà dư tửu hậu con có mấy người quen cũng hay bàn luận về cụ Quỳnh.Con đã đọc “Mười ngày ở Huế,Một tháng ở Nam Kỳ,Du ký Việt Nam” của Cụ Phạm Quỳnh.Vì vậy khi quyển Phạm Quỳnh -những góc nhìn từ Huế được giới thiệu ra mắt nhân ngày kỵ cơm Cụ,con rất trông đợi nhưng cuối cùng qua Bác Tùng và Bác cho hay là không có bán trên thị trường,con cũng hơi buồn nhưng với quyết tâm tìm kiếm cho bằng được dù chỉ bằng 1% con cũng cố gắng.Đến hôm nay thì theo lời Bác con cũng phần nào nuôi hy vọng .Con cám ơn Bác trước khi được Bác tiếp chuyện.Con kính chúc Bác và gia đình mạnh khỏe ,hạnh phúc và vạn sự như ý .Con kính chào Bác .

              Con -Lê Minh Tâm.

Vào lúc 5:58 chiều 28/9/2015 bạn Tâm gửi

Kính gửi Bác,

Em con vừa báo tin đã đến nhà Bác nhận quyển sách ,con vô cùng cảm ơn Bác và vô cùng xúc động khi được Bác quan tâm giúp đỡ cho con hoàn thành tâm nguyện của mình.

Kính chúc Bác mạnh khỏe và hạnh phúc.Kính chào.Lê Minh Tâm.

4

Lời dẫn của Pham Tôn: Hồi này ở Hoa Kỳ có lưu hành một tư liệu của một nhà sử học nói về cái chết của học giả Phạm Quỳnh. Tài liệu nhà sử học này căn cứ vào là Hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức, con gái thứ hai của Phạm Quỳnh. Vì thế mới có chuyện trao đổi này giữa bạn đọc và chúng tôi

Ngày 10/10/2009 bạn NÓI THẬT (Thư điện tử: noithat0@yahoo.com.vn) hỏi:

“Thưa ông Phạm Tôn,

Tôi đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net, sau có đường link mà tìm ra blog của ông. Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm.

Tuy vậy, có một điểm mâu thuẫn rất lớn mà tôi không thể không hỏi ông. Trong entry (tôi tạm gọi như vậy theo ngôn ngữ blog) “Về hồi ký viết tại Paris ngày 28/10/1992 của bà Phạm Thị Thức”, ông khẳng định gia đình cụ Phạm Quỳnh đoan chắc cụ bà Phạm Thị Thức chưa bao giờ xuất ngoại sang Pháp nên không thể có hồi ký đó. Nhưng trong entry này, ông lại viết “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước. Sau năm 1975, còn có hai bà chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức cùng ông anh là bác sĩ Phạm Khuê vẫn ở Hà Nội và một em gái ông là bà Phạm Thị Giễm sống ở Đà Lạt, đến năm 1988 mới sang Pháp đoàn tụ gia đình”. Đọc nguyên văn đoạn này, ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở. Nếu như vậy, hẳn là có thể có chuyện bà Thức ở Paris và bà Thức viết hồi ký chứ.

Thưa ông, xin ông vui lòng giải đáp thắc mắc này. Xin cảm ơn ông.”

Thư trả lời

“Kính gửi bạn Nói Thật,

Tối qua, tôi mới nhận được thư của bạn. Tôi cảm ơn bạn đã “đọc khá kỹ loạt bài về cụ Phạm Quỳnh trên www.sachhiem.net”, sau đó còn tìm ra và đọc blog của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã viết “Tôi trân trọng những tư liệu lịch sử mà ông hẳn đã rất kỳ công tìm kiếm”.

Do đó, tôi vội trả lời ngay điều mà bạn “không thể không hỏi”. Bạn viết: “đọc nguyên văn đoạn này, ai ai cũng hiểu là chỉ có ông Phạm Tuyên ở lại Việt Nam còn toàn bộ những anh em khác, con của Phạm Quỳnh đều đã sang Pháp ở.” Ở đây tôi xin lưu ý là chính bạn đã trích, “Duy nhất nay chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.” Đó là nguyên văn đoạn này trong bài Nhà văn, nhà báo Phan Thứ Lang, người phát hiện ra Phạm Quỳnh có tới… bốn bà vợ. Chúng tôi đưa lên blog tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 . Điều đó có nghĩa là chữ nay, hẳn phải là trước tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 một thời gian không lâu. Và sự thật chính là ở chỗ này. Bạn bỏ sót chữ nay nên mới suy luận như trên. Sự thật là sau khi bà Phạm Thị Giễm là em gái nhạc sĩ Phạm Tuyên sang Pháp đoàn tụ gia đình năm 1988 thì năm 2000 bà chị gái lớn là Phạm Thị Giá qua đời, rồi đến năm 2003 là giáo sư Phạm Khuê, và đến năm 2007 thì bà Phạm Thị Thức là chị gái thứ 2 cũng qua đời. Như vậy là ngoài bà Phạm Thị Giễm sang Pháp, ba anh chị kia đều qua đời chứ không ai sang Pháp cả. Do đó, khoảng tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009 (nay) duy nhất chỉ có nhạc sĩ Phạm Tuyên ở trong nước.

Rất cám ơn bạn đã quan tâm đến học giả Phạm Quỳnh và bắt đầu đọc blog của chúng tôi, lại còn viết thư cho chúng tôi. Mong bạn sẽ là một bạn đọc trung thành và nếu có thể là một cộng tác viên của blog chúng tôi.

Kính thư,

Phạm Tôn

www.phamquynh.wordpress.com

“9:46 tối 3/11/2009, bạn Nói Thật đã có hồi đáp:

Thưa ông Phạm Tôn,

Cảm ơn ông đã hồi đáp. Đúng là tôi đã đọc không kỹ, xin cáo lỗi.

Theo thiển ý của tôi, ông nên lập một thư mục riêng cho những trước tác của cụ Phạm Quỳnh để bạn đọc cần tư liệu có thể tìm kiếm theo hệ thống thuận tiện hơn.

Là một người xa lạ nhưng tôi thực lòng mong mỏi án oan của cụ Phạm Quỳnh được làm rõ và công khai trước công luận. Những người có chức trách cần có một thái độ ứng xử đàng hoàng, dũng cảm hơn. Dân không có thờ lầm người bao giờ, tôi tin cuộc đời và nhân cách đẹp đẽ của cụ Phạm Quỳnh được nhân dân hiểu rõ và trân quý.

Chúc ông và gia đình dồi dào sức khỏe.

Kính,

NÓI THẬT

 

Trên quê hương yêu đấu kỳ 2 tháng 2 năm 2017

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 2 năm 2017

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/2/2017:

Kỷ niệm trọng thể 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Ðại Quang dự

Sáng 9-2, tại tỉnh Nam Ðịnh, Tỉnh ủy, HÐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nam Ðịnh long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9-2-1907- 9-2-2017). Ðến dự, có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; nguyên Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh; Chủ tịch nước Trần Ðại Quang; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam; Ðinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư; Phạm Minh Chính, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư; Trần Quốc Vượng, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư; Võ Văn Thưởng, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Ðinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, nhiều đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, đại diện các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước; các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVT nhân dân; quê hương và gia đình, dòng họ Tổng Bí thư Trường Chinh.ky-niem-110-ngay-sinh-truong-chinh

Các đồng chí nguyên Tổng Bí thư Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Lê Ðức Anh gửi lẵng hoa chúc mừng.

Mở đầu Lễ kỷ niệm là chương trình nghệ thuật đặc sắc ca ngợi Ðảng, Bác Hồ; thân thế, sự nghiệp của Tổng Bí thư Trường Chinh và công cuộc đổi mới của đất nước, của quê hương Nam Ðịnh.

Ðọc diễn văn kỷ niệm, đồng chí Ðoàn Hồng Phong, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Nam Ðịnh nêu bật những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Trường Chinh đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc; tình cảm của đồng chí dành cho quê hương và tấm lòng quê hương đối với đồng chí. Diễn văn nêu rõ, đồng chí Trường Chinh là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhà lãnh đạo kiệt xuất của Ðảng và cách mạng Việt Nam; nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Trường Chinh rất kiên định, phong phú và sôi động. Với cương vị ba lần làm Tổng Bí thư, hơn 20 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công giữ nhiều trọng trách lớn của Ðảng, Nhà nước, ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí cũng hết lòng vì Ðảng, vì nước, vì dân; vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Phẩm chất đạo đức cách mạng, trí tuệ và tài năng của đồng chí luôn tỏa sáng trong mọi hoàn cảnh, nhất là ở các bước ngoặt quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Ðồng chí Trường Chinh đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư của Ðảng lần đầu tiên vào năm 1941. Ðây là thời điểm dân tộc ta ở trong thời kỳ vô cùng đen tối. Ngay sau đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), đồng chí đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Ðảng, ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và ra chủ trương tiến hành Tổng khởi nghĩa, kịp thời chuyển hướng chiến lược, nắm bắt đúng thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, với tầm nhìn xa trông rộng, với tư duy lý luận sắc sảo, nhạy bén và kinh nghiệm thực tiễn sống động; đồng chí Trường Chinh đã chủ động đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương đổi mới đất nước. Ðại hội VI của Ðảng đã đi vào lịch sử dân tộc ta với tư cách là Ðại hội của Ðổi mới, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước hơn 30 năm qua khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới mà Tổng Bí thư Trường Chinh là người đề xuất và khởi xướng.

Diễn văn nêu rõ, kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Nam Ðịnh nguyện chung sức đồng lòng, đoàn kết thống nhất, quyết tâm xây dựng Nam Ðịnh phát triển nhanh, bền vững hơn theo hướng hiện đại, xứng đáng là quê hương của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, góp phần cùng cả nước, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ðại diện thế hệ trẻ, em Nguyễn Ngân Hà, học sinh lớp 12, Văn 2, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Ðịnh phát biểu, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Ðảng, Bác Hồ; thành kính tri ân Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyện tiếp tục nêu cao tinh thần học tập, biến lòng khâm phục các vị tiền bối cách mạng thành hành động cụ thể, dưỡng tâm trong, rèn chí sáng, góp phần xây dựng Nam Ðịnh và đất nước ngày càng phát triển.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 4/2/2017:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn

Ngày 3-2 (mồng 7 tháng Giêng năm Đinh Dậu), Chủ tịch nước Trần Đại Quang dự và thực hiện nghi lễ cày tịch điền tại Lễ hội Tịch điền ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Cùng dự, có nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư, tỉnh Hà Nam cùng đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh.

Đây là năm thứ chín Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được tổ chức tại nơi cách đây 1.030 năm, Vua Lê Đại Hành về cày chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-du-le-hoi-tich-dien-doi-sonruộng tịch điền, khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp. Tại lễ hội diễn ra nhiều nghi lễ truyền thống, đặc biệt là nghi lễ cày tịch điền được tổ chức trang trọng. Chủ tịch nước Trần Đại Quang cùng lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghi lễ cày tịch điền bằng hình thức cày máy, nhằm phát động phong trào cơ giới hóa nông nghiệp.

Phát biểu ý kiến tại Lễ Tịch điền, Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh, trong hàng nghìn lễ hội truyền thống diễn ra khắp các vùng miền cả nước, Lễ hội Tịch điền tổ chức hằng năm đã trở thành nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được Nhà nước ghi danh “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Đây là lễ hội văn hóa mang ý nghĩa khuyến nông sâu sắc, đề cao tinh thần trọng nông, vai trò của nhà nông.

Chủ tịch nước đánh giá: Việc duy trì tổ chức Lễ hội Tịch điền của tỉnh Hà Nam có ý nghĩa rất lớn, vừa thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, vừa khuyến khích, động viên nhân dân phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Chủ tịch nước cho rằng, trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, tình hình kinh tế trong nước và khu vực còn gặp nhiều khó khăn, vấn đề an ninh lương thực ngày càng quan trọng. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao. Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, đồng chí, đồng bào cả nước ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Chủ tịch nước mong muốn, tỉnh Hà Nam và các địa phương trong cả nước đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu nông sản chất lượng cao ra thế giới, góp phần nâng cao đời sống của người nông dân, xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp.

Nhân dịp này, tỉnh Hà Nam tổ chức lễ đón nhận Bằng công nhận Lễ Tịch điền Đọi Sơn là “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”, đồng thời biểu dương, khen thưởng 26 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Nhân dịp về dự Lễ Tịch điền, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã dâng hương, đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng Liệt sĩ tại Đền thờ các Anh hùng Liệt sĩ tỉnh Hà Nam. Chủ tịch nước đã đến thăm và kiểm tra dây chuyền chế biến sản phẩm của Công ty TNHH Hội Vũ, chuyên ngành chế biến rau quả xuất khẩu.

* Ngày 3-2 tại xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã diễn ra lễ khai hội Đền Mẫu Âu Cơ. Mở đầu lễ hội là lễ tế thành hoàng làng và phần rước kiệu, rước lễ vật từ đình làng về đền Mẫu Âu Cơ, tri ân công đức Tổ Mẫu Âu Cơ, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa… Lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ là một trong những lễ hội lớn, mở đầu cho nhiều hoạt động lễ hội đặc sắc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

* Cùng ngày, tại vùng hạ lưu sông Đà Rằng đổ ra cửa biển Đà Diễn thuộc TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên diễn ra hội đua thuyền rồng truyền thống của người dân vùng sông nước. Mỗi xã, phường thuộc TP Tuy Hòa thành lập một đội tranh tài. Mỗi thuyền đua gồm 24 vận động viên là những người khỏe mạnh, tuổi đời 18 đến hơn 35. Thuyền đua có hình con rồng gắn với tín ngưỡng của ngư dân và được giữ gìn cẩn thận ở các miếu thờ, đến kỳ đua mới làm lễ hạ thủy. Hội đua thuyền thể hiện nét văn hóa đặc trưng vùng ven sông, ven biển Phú Yên, cầu mưa thuận, gió hòa, một mùa đánh bắt hải sản bội thu.

* Ngày 3-2, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức Triển lãm “Chào Xuân Đinh Dậu 2017”, trưng bày 92 tác phẩm của 29 tác giả là họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc. Triển lãm mở cửa đến ngày 10-2, tại Trung tâm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, 29 Hàng Bài (Hà Nội).

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 3/2/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm và khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

Ngày 2-2, tại Hà Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ấn nút khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) tại Nông trường VinEco Hà Nam. Tham dự có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư; các tỉnh, thành phố phía bắc.

nguyen-xuan-phuc-tham-va-khoi-dong-san-xuat-nong-nghiep-cong-nghe-caoDự án VinEco Hà Nam (xã Xuân Khê và xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) là một trong 14 nông trường của Công ty TNHH Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp VinEco. Dự án có diện tích 180 ha với tổng số vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng. Trong đó, khu cánh đồng mẫu lớn rộng gần 130 ha, khu nhà kính I-xra-en công nghệ cao quy mô 5 ha và các khu vực hỗ trợ sản xuất. Dự kiến đến cuối năm 2017, VinEco Hà Nam sẽ hoàn thiện hạ tầng cơ sở, triển khai sản xuất trên toàn bộ diện tích dự án.

Khu nhà kính số 1 được Thủ tướng ấn nút khởi động có diện tích 8.300 m2, công suất trung bình khoảng 150 tấn/năm cho nhóm rau ăn lá. Nhà kính sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tự động và kiểm soát các thông số nước, không khí và sinh trưởng cây trồng theo công nghệ của I-xra-en. Trên khu đất sản xuất đồng ruộng với diện tích gần 130 ha, VinEco Hà Nam cũng sẽ triển khai phát triển khoảng 15 sản phẩm chủ lực với sản lượng từ 20 đến 30 tấn/ngày phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tinh thần kiến tạo của Chính phủ là phát triển một nền nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, thông minh, hướng vào phục vụ 100 triệu dân với thực phẩm, lương thực sạch và tiến tới xuất khẩu. Do đó, lời giải cho bài toán nông nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp tư nhân cùng hợp tác xã (HTX) chất lượng cao làm nông nghiệp; cần khuyến khích khởi nghiệp nông nghiệp, áp dụng điện toán đám mây để có nền nông nghiệp thông minh ở Việt Nam. Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vận động các ngân hàng có gói hỗ trợ cần thiết cho đầu tư NNCNC từ 60 nghìn tỷ đồng nâng lên 100 nghìn tỷ đồng. Đồng thời yêu cầu các địa phương quy hoạch ruộng đất theo hướng mở rộng hạn điền; đầu tư hạ tầng để hỗ trợ NNCNC; các bộ, ngành sửa đổi chính sách hướng vào NNCNC.

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cũng như HTX đầu tư vào NNCNC, bảo vệ quyền lợi chính đáng và thương hiệu nông sản Việt Nam. Thủ tướng sẽ trực tiếp cùng các ngành tham gia giới thiệu những sản phẩm NNCNC, sản phẩm nông nghiệp sạch của Việt Nam ra thị trường thế giới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/2/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm mô hình chế biến tôm tại Cà Mau

Chiều 5-2, tại Cà Mau, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn công tác Chính phủ thăm Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú – doanh nghiệp thủy sản hàng đầu Việt Nam.

Tập đoàn Minh Phú sở hữu vùng nuôi rộng lớn với hơn 900 ha tự nuôi tôm, cùng hơn 12 nghìn ha nuôi tôm sinh thái liên kết và hơn 100 nghìn ha của các hộ nuôi tôm trong chuỗi cung ứng, cung cấp con giống, thức ăn, thuốc, quy trình nuôi.

Với hơn mười công ty thành viên cùng trang thiết bị hiện đại, công suất chế biến của Minh Phú hiện đạt hơn 300 tấn tôm nguyên liệu/ngày, và sản phẩm có mặt tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với tổng doanh thu mỗi năm hơn 10 nghìn tỷ đồng. Riêng năm 2016 vừa qua, tuy chịu nhiều tác động của thị trường thế giới nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu của Minh Phú vẫn đạt hơn 500 triệu USD.

Phát biểu ý kiến tại buổi đến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương những nỗ lực của Minh Phú trong thời gian qua, không chỉ là doanh nghiệp tiêu biểu về xuất khẩu thủy sản, đóng góp hơn 20% thị phần ngành tôm nước nhà, góp phần giúp ngành tôm Việt Nam luôn là một trong ba nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới… mà Minh Phú còn là đơn vị có đóng góp tích cực cho cộng đồng, cho xã hội, đặc biệt là đã tạo công ăn, việc làm ổn định cho hơn 14 nghìn lao động.

thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-tham-mo-hinh-che-bien-tom-tai-ca-mauThủ tướng yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn Minh Phú trong thời gian tới nỗ lực hơn nữa mở rộng vùng nuôi tôm sạch, vùng tôm sinh thái dưới tán rừng, biến những thửa rừng nghèo thành những rừng tôm sinh thái thân thiện với môi trường nhưng năng suất cao hơn, giúp người nuôi tôm có thu nhập tốt hơn, bền vững hơn. Thủ tướng cho rằng, dưới tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, tình hình cây lúa đang gặp khó thì doanh nghiệp ngành tôm cả nước đang hết sức nỗ lực, phấn đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu mười tỷ USD. Là đơn vị xuất khẩu tôm chủ lực của nước nhà, Minh Phú cần phải đóng góp tích cực hơn nữa vào mục tiêu chung này.

* Trước đó, nhân dịp đầu Xuân mới Đinh Dậu, trong chuyến công tác tại các tỉnh Tây Nam Bộ, Thủ tướng đã tới thăm, tặng quà một số đồng chí lão thành cách mạng đang sinh sống tại TP Cần Thơ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017

Trao giấy chứng nhận dự án đầu tư Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất

Chiều 6/2, Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi tổ chức lễ trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dự án Khu liên hợp dự án sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất.

Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại Văn bản số 152/TTg-CN, ngày 25/1/2016 cho Tập đoàn Hòa Phát trên cơ sở kế thừa dự án Liên hợp thép Guang Lian Dung Quất đã đầu tư 10 năm nhưng đình trệ. Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 60 nghìn tỷ đồng, công suất bốn triệu tấn/năm với các sản phẩm chủ yếu gồm thép xây dựng, thép cuộn, sử dụng công nghệ lò cao khép kín tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường theo mô hình đã được Hòa Phát triển khai thành công tại tỉnh Hải Dương. Dự án được chia làm hai giai đoạn đầu tư xây dựng trong bốn năm: giai đoạn 1 gồm một triệu tấn thép dài xây dựng và một triệu tấn thép dài chất lượng cao; giai đoạn 2 là hai triệu tấn thép dẹt cán nóng phục vụ cơ khí chế tạo. Dự án sau khi đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho khoảng 8.000 lao động và dự kiến doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm…

Gần 3.600 tỷ đồng và 311 triệu USD đầu tư vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 6/2, tại TP Vũng Tàu, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức họp mặt doanh nghiệp và nhà đầu tư nhân dịp xuân mới Đinh Dậu, đồng thời trao tám giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 3.600 tỷ đồng và 311 triệu USD. Những dự án này thuộc các lĩnh vực như sản xuất đồ gỗ nội thất, sản xuất kính nổi siêu trắng, sản xuất tấm bạt, màn, xây dựng căn hộ du lịch nghỉ dưỡng, khách sạn, sản xuất tôn mạ kẽm, tôn mạ mầu và ống thép mầu, sản xuất bia…

JPA mở đường bay mới Hà Nội – Buôn Ma Thuột

Ngày 6/2, Hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines (JPA) công bố mở đường bay mới Hà Nội – Buôn Ma Thuột, tần suất ba chuyến khứ hồi/tuần bằng máy bay Airbus A320, loại 180 ghế đồng hạng phổ thông. Lịch khai thác bắt đầu từ ngày 9/3 tới, với giá từ 290 nghìn đồng/chặng. Đây là đường bay thứ 38 trong mạng bay nội địa và quốc tế của JPA, nằm trong chương trình thương hiệu kép cùng hãng Vietnam Airlines. Dịp này, JPA bán vé giá rẻ trong ba ngày liên tục từ 11 giờ ngày 6 đến hết ngày 8/2, với giá 38 nghìn đồng/chặng

  • Trang 14 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Thí điểm sử dụng hệ thống xe buýt năng lượng mặt trời trên đảo Cát Bà

Sáng 10-2, tại Hải Phòng đã triển khai chương trình thử nghiệm xe buýt điện sử dụng năng lượng mặt trời tại đảo Cát Bà (huyện Cát Hải) – một trọng điểm du lịch của Việt Nam. Ðây là dự án trong “Kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh TP Hải Phòng” – hợp tác giữa TP Hải Phòng và TP Ki-ta-kiu-siu (Nhật Bản). Dự án cũng được thí điểm ứng dụng xe buýt thân thiện với môi trường đầu tiên tại Việt Nam. Xe buýt này không sử dụng nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu…) cho nên không làm phát sinh khí thải có hại; xe có thể chạy liên tục ở khoảng cách dài tới 160 km với tổng trọng lượng khách vận chuyển 50 người. Ngoài năng lượng mặt trời, hệ thống pin của xe có thể nạp từ nguồn điện sinh hoạt, tiện lợi trong thời gian không có mặt trời hoặc mưa dài ngày… Dự kiến, 10 xe buýt điện sẽ được triển khai áp dụng trong năm 2018 và trong năm 2020 sẽ triển khai áp dụng 30 xe.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 8/2/2017:

Thực hiện thành công hai cặp ghép thận được đổi chéo

Ngày 7-2, Bệnh viện Chợ Rẫy họp báo cho biết, vừa thực hiện thành công hai cặp ghép thận được đổi chéo từ người cho còn sống. Ðây là hai cặp ghép thận đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện ghép thận đổi chéo.

Trong đó người thứ nhất được bố dượng cho thận, người thứ hai được mẹ ruột cho thận. Do hai cặp cùng có nhóm máu B nên bác sĩ tư vấn để hai cặp ghép có thể đổi người cho thận để ghép chéo và đã được hai gia đình đồng ý. Sau khi đổi chéo, kháng thể của hai người nhận không còn chống lại kháng nguyên của người cho nữa và ở cặp thứ hai còn hòa hợp miễn dịch đến 50%. Hiện sức khỏe của các người bệnh đã ổn định.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Cứu bảy ngư dân trên tàu cá bị đâm chìm giữa biển

Sáng 4-2, Đồn Biên phòng Cảng Gianh (Quảng Bình) cho biết, đơn vị vừa tổ chức tiếp nhận, kiểm tra sức khỏe cho bảy ngư dân trên tàu cá bị đâm chìm khi ra khơi khai thác hải sản sau Tết Đinh Dậu 2017.

Trước đó, lúc 12 giờ ngày 3-2, tại khu vực biển cách đông nam cửa Gianh, tỉnh Quảng Bình khoảng 11 hải lý, tàu cá QB 1981 TS gồm bảy thuyền viên do anh Trần Văn Minh ở tổ dân phố 2, phường Hải Thành, TP Đồng Hới làm thuyền trưởng đang trên đường ra đánh bắt hải sản thì đâm va với tàu hàng NĐ 2795 làm tàu cá bị chìm. Cả bảy thuyền viên đã được tàu NĐ 2795 cứu vớt an toàn. Gần 22 giờ cùng ngày, tàu hàng NĐ 2795 đưa số thuyền viên cứu được vào cửa Gianh và tiến hành thỏa thuận đền bù.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Công bố giải thưởng chất lượng khám chữa bệnh

Sáng 10-2, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh công bố Giải thưởng chất lượng Khám chữa bệnh. Đây là hoạt động trong hàng loạt chương trình hành động nhằm nâng cao năng lực quản lý chất lượng bệnh viện giai đoạn từ 2015 – 2025 của ngành y tế TP Hồ Chí Minh. Ban tổ chức đã trao giải nhất cho sản phẩm “Quy trình báo động đỏ” của BV Nhi Đồng 1; trao hai giải nhì cho sản phẩm “Khoa khám bệnh thông minh” của BV Nhân dân Gia Định và sản phẩm “Bệnh án điện tử” của bệnh viện (BV) quận Thủ Đức; trao ba giải ba cho sản phẩm “Phòng khám Đa khoa vệ tinh tại Trạm Y tế” của BV quận Thủ Đức, “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng kháng sinh” của BV Nhân dân Gia Định, “Chương trình giám sát trực tuyến kê đơn thuốc” của BV Nhi Đồng 1.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 13/2/2017:

Nét đẹp ở lễ hội Hội An

Phố cổ Hội An (Quảng Nam) dịp Tết nguyên tiêu ngày 11/2 vừa qua có nhưng hình ảnh thật dễ thương. Phố cổ tràn ngập người dân và du khách về dự hội, nhưng tất cả đều diễn ra trong yên bình, lịch sự, không chen lấn, xô đẩy. Ai đến trước xếp trước, người khuyết tật được ưu tien nhường bước. Hàng người xếp hàng dài ở đường Nguyễn Huệ để vào miếu Quan Công – chùa Ông hay trong khuôn viên hội quán Phúc Kiến, hội quán Quảng Đông đều như thế: vui vẻ đợi chờ, nói năng lịch thiệp, nhỏ nhẹ. Dịp này du khách quốc tết đổ về Hội An cũng khá đông

Hoàng Duy

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/2/2017:

Khai mạc Hội Lim Xuân Đinh Dậu 2017

Hội Lim năm 2017 được tổ chức trong hai ngày 8 và 9-2 (tức ngày 12 và 13 tháng Giêng năm Đinh Dậu). Ban tổ chức dâng hương tại chùa Hồng Ân, lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn trên đồi Lim, sau đó là lễ rước sắc từ đình làng Lộ Bao sang đình làng Đình Cả và tế lễ dâng hương theo nghi thức truyền thống tại các đình, đền chùa ở các làng thuộc xã Nội Duệ, thị trấn Lim, Liên Bão (Tiên Du, Bắc Ninh).

Phần hội gồm các màn hát quan họ tại sáu lán trại và trên sân khấu lễ hội. Bên cạnh đó, có các trò chơi dân gian như đu tiên, vật truyền thống, bịt mắt bắt dê, đập niêu, chọi gà, giao lưu văn nghệ… Lễ hội năm nay có thêm điểm mới, bên cạnh các địa điểm hát quan họ trên đồi Lim, ban tổ chức bố trí các canh hát quan họ theo lề lối truyền thống tại nhà một số nghệ nhân ở các làng thuộc thị trấn Lim…

* Ngày 7-2 (tức ngày 11 tháng Giêng năm Đinh Dậu), lễ hội cầu ngư làng Thai Dương Hạ, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà và làng Thai Dương, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang (Thừa Thiên – Huế) chính thức diễn ra tại các sân đình làng và trên phá Tam Giang, thu hút hàng nghìn người dân, du khách khắp nơi về dự. Đây là lễ hội truyền thống có từ khoảng 500 năm trước, được tổ chức đều đặn ba năm một lần, với quy mô lớn, gồm nhiều hoạt động tái hiện các sinh hoạt văn hóa của ngư dân vùng biển.

  • Trang 14 báo Tuổi Trẻ ngày 5/2/2017:

Cù Lao Chàm đón tết đầu tiên có điện

Bà con đảo Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, TP Hội An, Quảng Nam) đã vui vẻ tận hưởng một cái tết đầu tiên với mạng lưới điện quốc gia.

Cụ Đinh Thị Hoang (87 tuổi, thôn Bãi Ông) chia sẻ: “Nằm mơ tôi cũng không dám tin có ngày đảo của mình thoải mái xài điện. Bây chừ tôi về với ông bà tổ tiên cũng yên tâm vì năm nay bà con Cù Lao Chàm đón một cái tết hân hoan không thua kém so với người dân trong đất liền, bởi điện đã về với xã đảo”.

Hòa chung niềm vui của bà con, ông Mai Quốc Bảo (phó chủ tịch UBND xã Tân Hiệp) không giấu niềm vui sướng khi được dón tết trong ánh đèn của điện lưới quốc gia. Ông bảo nói: “Năm nay bà con trên đảo sắm sửa đón tết mạnh hơn mọi năm. Ai cũng háo hức đón mùa xuân đầu tiên có điện lưới sử dụng 24/24 giờ mà không bị ngắt quãng”.

Toàn xã đảo Tân Hiệp có tổng cộng 3.000 người dân, sinh sống chủ yếu ở thông Bãi Ông và thôn Cấm. Từ ngày 2/9/2016, những mét cáp ngầm cuối cùng đã hoàn thành ở khu vực Bãi Chồng và cả đảo Cù Lao Chàm chính thức sử dụng nguồn điện lưới quốc gia.

Thanh Ba

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/2/2017:

20 tiểu cảnh độc đáo tại triển lãm hoa “tiệc yêu”

Từ ngày 11 đến 15-2, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội), diễn ra triển lãm hoa “Tiệc yêu” chào đón Ngày lễ tình nhân.

Triển lãm quy tụ hơn 20 nghệ nhân hoa ở Hà Nội với nhiều tiểu cảnh đặc sắc như: “Suối hoa”, “Hẹn hò”, “Câu chuyện tình yêu”, “Kết tinh”, “Sắc màu tình yêu”…, được kết từ các loại hoa tươi, hoa đất, hoa lụa. Bên cạnh đó là các hoạt động: trang trí bánh cho Ngày lễ tình yêu, trình diễn nhạc giao hưởng.

Chung kết cuộc thi Người đẹp Kinh Bắc năm 2017

Tối 10-2, tại Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, TP Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), diễn ra chung kết cuộc thi Người đẹp Kinh Bắc năm 2017 với chủ đề “Du Xuân trảy hội miền Quan họ”. Từ 144 thí sinh dự thi, Ban tổ chức đã chọn 27 thí sinh xuất sắc vào vòng chung khảo.

Trong đêm chung kết, các thí sinh trình diễn các nội dung: trang phục áo dài truyền thống, trang phục Quan họ, trang phục áo tắm và trang phục dạ hội. Kết quả, Người đẹp Kinh Bắc thứ nhất thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Hồng Ngọc; Người đẹp Kinh Bắc thứ hai Chu Thị Xuyến; Người đẹp Kinh Bắc thứ ba Hoàng Thị Thanh Huyền.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/2/2017:

Hội thảo quốc tế về nghệ thuật và văn hóa thời Lý

Ngày 9/2, tại Trung tâm văn hóa Kinh Bắc, TP Bắc Ninh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND tỉnh Bắc Ninh và Đại học Luân Đôn (Vương quốc Anh), tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Nghệ thuật và văn hóa thời Lý ở Việt Nam”, thu hút đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật thời Lý, những nền tảng hình thành và phát triển các loại hình nghệ thuật của người Việt mang bản sắc rieng bên cạnh những yếu tố hỗn dung văn hóa. Đặc biệt, một số tham luận trình bày những cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn hóa nghệ thuật thời Lý, giới thiệu những phát hiện mới về khảo cổ, lịch sử, di sản văn hóa thời Lý, phân tích vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển của văn hóa, nghệ thuật thời nay.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017:

Tàu du lịch biển đưa nhiều khách quốc tế đến miền trung

Sáng 6-2, tàu du lịch biển quốc tế Celebrity Millenium thuộc Hãng tàu Royal Caribbean Cruises Lines (Mỹ) đã đưa 2.150 du khách quốc tế và hơn 950 thủy thủ đoàn cập cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế).

Đây là chuyến tàu du lịch biển quốc tế đầu tiên đến cảng Chân Mây trong năm mới Đinh Dậu. Theo Công ty CP Cảng Chân Mây, trong năm nay, dự kiến cảng sẽ đón khoảng 54 chuyến tàu du lịch biển các loại, đưa hơn 113 nghìn du khách quốc tế và khoảng 45 nghìn thủy thủ đoàn đến tham quan các danh lam thắng cảnh và thưởng thức ẩm thực tại các tỉnh miền trung Việt Nam.

Chiều cùng ngày, tàu biển M/S Coral Discoverer của Công ty TNHH Destination Asea mang theo 52 khách du lịch, trong đó có 49 người quốc tịch Mỹ cập cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị cùng các cơ quan chức năng đã tổ chức lễ đón và chúc mừng các vị khách nhân dịp năm mới.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/2/2017:

Phát hiện hệ thống di tích khảo cổ tiền sử trong hang động núi lửa ở Đác Nông

Ngày 6/2, PGS, TS Nguyễn Trung Minh, Giám đốc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, các nhà nghiên cứu thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vừa phát hiện nhiều di tích và di vật khảo cổ trong các hang động núi lửa ở Công viên Địa chất núi lửa Krông Nô (Đác Nông). Các di vật khảo cổ gồm: đá nguyên liệu và các công cụ đá, dụng cụ bằng gốm, xương động vật đầu tiên trong hang động núi lửa ở Việt Nam, mở ra một hướng nghiên cứu mưới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông – Nam Á

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Khai bút đầu Xuân tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An ở Hải Dương

Sáng 4/2, tỉnh Hải Dương tổ chức Lễ Khai bút đầu năm tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An (thị xã Chí Linh). Nghi lễ khai bút diễn ra trang trọng, sau đó là nghi lễ dâng hương, dâng chữ. Cũng tại lễ khai bút đã diễn ra triển lãm lịch sử khoa bảng và các di tích nho học trên đất Hải Dương; triển lãm các tác phẩm thư pháp chữ Hán, chữ Quốc ngữ với chủ đề “Tôn sư trọng đạo”. Hội Khuyến học thị xã Chí Linh vinh danh 16 học sinh có thành tích cao trong kỳ thi đại học năm 2016.

Nét đẹp văn hóa khai bút đầu Xuân đã được phục dựng tại đền thờ nhà giáo Chu Văn An từ xuân Nhâm Thìn 2012 và đã trở thành hoạt động văn hóa, giáo dục ý nghĩa mỗi dịp Xuân về.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 5/2/2017:

Đón khách quốc tế đầu tiên sử dụng thị thực điện tử đến TP Hồ Chí Minh

Chiều 4/2, tại Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh, Cục Quản lý xuất, nhập cảnh tổ chức lễ đón và tặng quà vị khách quốc tế đầu tiên sử dụng thị thực điện tử Việt Nam đến TP Hồ Chí Minh. Đó là ông Ri-chát Ken-nét Uyn-xơn (Vương quốc Anh)

Trước đó, ông Ri-chát đã đề nghị được cấp thị thực điện tử để nhập cảnh vào Việt Nam từ ngày 3/2/2017 đến 5/3/2017, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã cấp thị thực điện tử đầu tiên cho ông trong ngày 1/2/2017, ngày Nghị định 07/2017/NĐ-CP của Chính phủ về việc triển khai cấp thị thực điện tử cho khách quốc tế có hiệu lực.

Thị thực điện tử Việt Nam (E-visa) được áp dụng cho công dân của các nước có hộ chiếu hợp lệ, muốn đến Việt Nam với mục đích du lịch, nhập cảnh Việt Nam có thể trực tiếp cấp visa Việt Nam cho người nước ngoài mà không cần thông qua các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài như trước.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 5/2/2017:

Lãnh đạo TP.HCM đối thoại với thiếu nhi

Người lớn cần học để hiểu các em

Ngày 4/2, lãnh đạo TP.HCM đã dành cả buổi sáng để gặp gỡ, lắng nghe tiếng nói của 160 thiếu nhi tiêu biểu, đại diện cho thiếu nhi TP. Đây là cuộc trò chuyện thường niên vào mỗi đầu năm với lãnh đạo TP dành cho các em.

nguoi-lon-can-hoc-de-hieu-cac-emÔng Đinh La Thăng – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy – gọi đây là “cuộc trò chuyện thân tình giữa những người bạn khác tuổi”. Còn Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Quyết Tâm chia sẻ: “Cuộc gặp gỡ này được lãnh đạo TP mong đợi để hiểu các em đang nghĩ gì, mong muốn điều gì cho TP, cho môi trường học tập, vui chơi của các em”.

Cũng tham gia chương trình còn có Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP Tất Thành Cang lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể TP.

Học ở thiếu nhi sự thân chân thành, thẳng thắn

Phát biểu tại buổi đối thoại, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong nói ông rất xúc động và ấn tượng khi nghe các em thiếu nhi nói : “Tuổi nhỏ mà ý tưởng lớn, sắc sảo, không chỉ nói chuyện học, chuyện chơi của mình mà còn quan tân đến cộng đồng và những người xung quanh. Tôi hoàn toàn tin tưởng các em sẽ là những chủ nhân xứng đáng trong tương lai của TP” – ông Phong khẳng định.

Bí thư Thành ủy TP Đinh La Thăng chia sẻ ông đến cuộc gặp gỡ trong tâm trạng vừa vui vừa lo. Lo vì có những việc mà các em phản ảnh năm trước, dù TP đã có nhiều nỗ lực vẫn chưa giải quyết hết được như nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn… “Các cháu nói thẳng, hỏi thẳng, rất ngắn gọn, súc tích. Lãnh đạo TP- qua cuộc gặp gỡ này – học được ở các cháu sự thẳng thắn, vô tư, chân thành và trách nhiệm” – ông Thăng nói.

Ông Thăng yêu cầu các sở, ban, ngành ghi nhận cụ thể từng vấn đề mà các em thiếu nhi đặt ra, có phân công cụ thể để thực hiện, có phản hồi kết quả. “Có các cháu giám sát, các cô chú phải làm việc nghiêm túc, tích cực hơn” – bí thư Thành ủy chân tình.

  • Trang 8 báo Nhân Dân 2/2/2017:

Vĩnh biệt nhạc sĩ Hoàng Dương

Đêm mồng 3 Tết Đinh Dậu, PGS, Nhà giáo Ưu tú, nhạc sĩ Hoàng Dương – tác giả của ca khúc Hướng về Hà Nội nổi tiếng, trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 85. Thêm một nhạc sĩ gạo cội của làng nhạc Việt Nam đi về cõi xa xăm.

Nhạc sĩ Hoàng Dương tên khai sinh là Ngô Hoàng Dương. Ông sinh ngày 12-10-1933 tại Hà Nội, là con trai Trúc Khê – Ngô Văn Triện, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đầu thế kỷ 20 (hiện có tên đường ở Hà Nội). Có lẽ cái gien di truyền và cả cuộc đời hoạt động chìm nổi của người cha đã đưa Hoàng Dương đến với âm nhạc và cách mạng rất sớm.

Năm 1945, ông đã tiếp xúc với thời đại mới qua người anh họ là nhạc sĩ Phạm Văn Chừng. Ông bắt đầu học thổi sáo trúc, chơi đàn măng-đô-lin và ghi-ta cùng với học hát. Năm 1948, ông tham gia Đội tuyên truyền văn nghệ Thành Đội Hà Nội ở tuổi 15. Năng khiếu âm nhạc đã dắt dẫn ông vào Khu Bốn năm 1950 để học lớp huấn luyện âm nhạc do nhạc sĩ Tạ Phước phụ trách. Hoàng Dương viết không nhiều ca khúc (chủ yếu là tác phẩm khí nhạc), nhưng lại có những tác phẩm nổi tiếng. Bên cạnh ca khúc Hướng về Hà Nội trữ tình, hành khúc Quân về Hà Nội của ông được thanh niên, học sinh hát vang trong ngày tiếp quản Thủ đô.

Cùng với việc sáng tác ca khúc như: Hướng về Hà Nội, Gửi mẹ miền Nam, Gửi Huế mến yêu…, Hoàng Dương cùng một số người bạn tìm đến thầy Nguyễn Đình Phúc ở phố Dã Tượng học đàn vi-ô-lông-xen. Năm 1956, khi Trường Âm nhạc Việt Nam thành lập, Hoàng Dương rời Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương về giảng dạy bộ môn vi-ô-lông-xen tại trường. Ông là một trong những người sáng lập bộ môn này và giảng dạy cho đến khi về hưu. Vừa tiếp nhận kiến thức từ thầy Nguyễn Đình Phúc, ông còn tiếp nhận thêm từ thầy Phạm Huy Quỹ học vi-ô-lông-xen ở Trường “Pháp quốc Viễn đông nhạc viện” từ năm 1927. Bởi thế Hoàng Dương bên cạnh năng khiếu tiếp nhận còn có năng khiếu giảng dạy, đã trở thành một người thầy mẫu mực đào tạo ra thế hệ nghệ sĩ chơi “cây đàn nói tiếng người” này. Không ai xa lạ, cậu con trai trưởng Ngô Hoàng Quân của ông là một trong những nghệ sĩ vi-ô-lông-xen xuất sắc nhất Việt Nam hiện nay. Nghệ sĩ Trần Thị Mơ – con dâu ông, cũng là một nữ nghệ sĩ hàng đầu về vi-ô-lông-xen. Nghệ sĩ trẻ Ngọc Xuân – người Quảng Bình – học trò ông cũng đã đem tới cho cây đàn này nhiều cách diễn trẻ trung, mới lạ. Chị từng chơi bài Hướng về Hà Nội trong vi-đê-ô âm nhạc nổi tiếng của mình.

Con người sáng tạo âm nhạc luôn thôi thúc khiến Hoàng Dương bung phá mình trong khá nhiều thể loại. Từ những tiểu phẩm nhỏ cho vi-ô-lông-xen như Mơ về trái núi Thiên Thai, Biến tấu trên chủ đề dân ca Thái… đến những tác phẩm thính phòng cho nhiều nhạc khí như Bài ca chung thủy, Hát ru, Sonatine, Bài ca Hạ Long cho vi-ô-lông, flate và pi-a-nô. Ông còn viết cho các nhạc khí khác độc tấu như các bản nhạc: Tây Nguyên tươi đẹp cho ác-coóc-đê-ông, Bài ca không lời cho pi-a-nô và flate. Sáng tác của Hoàng Dương luôn có cấu trúc vững chãi, một lối tư duy nặng sức triết lý. Có những tác phẩm lớn của ông được xây dựng trên nền móng chắc chắn của tiểu phẩm như: Capriccio cho vi-ô-lông-xen, flate và pi-a-nô sau trở thành bản Concerto số 1 viết cho vi-ô-lông-xen và dàn nhạc. Ông còn chú ý khai thác những nhạc khí dân tộc như: Khúc nhạc tâm tình cho thập lục và dàn nhạc dân tộc, Biển cả tình yêu cho hòa tấu dàn nhạc… Âm nhạc cho phim hoạt hình Giai điệu mà Hoàng Dương viết như một tác phẩm khí nhạc độc lập, nhưng lại rất ăn nhập với phim, lôi cuốn bởi giai điệu đẹp đến kỳ lạ. Các ca khúc của Hoàng Dương luôn mang phẩm chất của ca khúc nghệ thuật dành cho giọng hát có phần đệm pi-a-nô. Cũng bởi thế, những ca khúc của ông rất kén người thưởng thức.

Nhạc sĩ Hoàng Dương luôn cập nhật thông tin âm nhạc thế giới, cho nên ông không lạc hậu trước thời cuộc. Mười năm đọc và bàn bạc cùng ông về các bản thảo mà ông gửi in tại Tạp chí Âm nhạc nơi tôi làm việc, lúc nào cũng thấy một Hoàng Dương dễ chịu và lắng nghe với nụ cười mỉm thân thiện. Những bài viết của ông về các nhạc sĩ thuộc trường phái “Tiên phong” đã cho thấy sự thâm hậu trong kiến thức. Chẳng những viết về các nhạc sĩ “Tiên phong” đương đại, ông còn viết về nhạc sĩ “Tiên phong” thời trung cổ như Guy-lôm Đờ Ma-sô qua tài liệu ông đọc trên các báo nước ngoài. Viết về nhà soạn nhạc Mô-da với hai kỳ tạp chí, chỉ có Hoàng Dương mới phát hiện ra cái sâu sắc ở Mô-da qua tên bài viết “Cuộc cách mạng của Mô-da hay là sự đăng quang của cái tôi”.

Ngoài công việc, những người yêu nghệ thuật thường xuyên gặp vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Dương trong các đêm hòa nhạc ở Nhà hát thành phố Hà Nội. Người thiếu nữ năm xưa đã đứng tuổi nhưng vẫn còn giữ nguyên nét đẹp đài các của thiếu nữ Hà Nội mà Tô Ngọc Vân đã đưa vào bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ”. Nhờ bà chăm lo gia đình và nuôi nấng con cái, nhạc sĩ Hoàng Dương mới có thể hết lòng phụng sự âm nhạc đến phút chót cuộc đời.

Mười năm trước, nhạc sĩ Hoàng Dương đã vinh dự được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Ra đi ở tuổi 85, chắc chắn lòng ông thật thanh thản khi đã vắt kiệt mình cho một đam mê từ thuở thiếu thời.

Nguyễn Thụy Kha

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 11/2/2017:

Biểu dương các đơn vị bắt giữ vụ vận chuyển ma túy tại Nam Định

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia) biểu dương các đơn vị chức năng phát hiện, bắt giữ vụ vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh hê-rô-in tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh.

Cụ thể, Phó Thủ tướng biểu dương Công an tỉnh Nam Ðịnh và Cục Hải quan TP Hải Phòng trong việc phát hiện, bắt giữ thành công vụ buôn bán, vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh hê-rô-in tại huyện Nghĩa Hưng. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an, Bộ Tài chính đề xuất hình thức khen thưởng phù hợp cho Công an tỉnh Nam Ðịnh và Cục Hải quan TP Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Bộ Công an tập trung chỉ đạo Công an tỉnh Nam Ðịnh phối hợp các lực lượng chức năng liên quan mở rộng điều tra, triệt phá tận gốc đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy nêu trên.

  • Trang 3 báo Tuổi Trẻ ngày 11/2/2017:

Vụ buôn máy phát điện bị tuyên án:

Ông Nguyễn Văn Thành vô tội

Nguồn tin của báo Tuổi Trẻ tại TAND cấp cao tại TP.HCM ho hay phiên họp giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán của tòa ngày 10/2 đã chấp nhận kháng nghị của Viện KSND cáp cao tại TP.HCM hủy 2 bản án sơ thẩm (TAND huyện Bình Chánh) và phúc thẩm (TAND TP.HCM), tuyên đình chỉ vụ án đối với ông Nguyễn Văn Thành (63 tuổi, ngụ Q5, TP.HCM).

Trước đó, ông Thành bị bản án trên tuyên 1 năm tù (hưởng án treo) cho tội kinh doanh trái phép đối với việc buôn bán các tổ máy phát điện. Vụ án này do đại tá Nguyễn Văn Quý (nguyên trưởng Công an huyện Bình Chánh, liên quan vụ quán Xin Chào) khởi tố (Tuổi Trẻ đã thông tin).

Sau khi bản án có hiệu lực, ông Thành đã có đơn xin kháng nghị giám đốc thẩm, cho rằng mình không có tội. TP.HCM đã có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng ông Thành không có tội.

Hoàng Điệp-Gia Minh

Tháng Hai 3, 2017

Trên quê hương yêu dấu kỳ (1 tháng 2 năm 2017)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 24/1/2017:

2 người làm oan ông Chấn lãnh án tù

Sau 5 ngày xét xử và nghị án kéo dài, Sáng ngày 23-1 TAND tỉnh Bắc Giang đã ra phán quyết đối với hai bị cáo Đặng Thế Vinh (nguyên trưởng phòng 10 Viện KSND tỉnh Bắc Giang), Trần Nhật Luật (nguyên phó trưởng Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) trong vụ án “làm sai lệch hồ sơ vụ án” gây oan sai cho ông Nguyễn Thanh Chấn (56 tuổi, ngụ Bắc Giang) – người được trả tự do năm 2013 sau gần 10 năm thụ án tù oan.

HĐXX nhận định ông Luật chịu trách nhiệm chính trong việc điều tra vụ án giết người xảy ra tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang vào tháng 8-2003 nhưng không làm hết chức trách nhiệm vụ được giao.

Ông Vinh được Viện KSND tỉnh Bắc Giang phân công thực hiện việc kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án. Sau khi vụ án kết thúc điều tra, ông Vinh tiến hành phúc cung thì ông Chấn kêu oan, tố cáo bị điều tra viên đánh đập.

Tuy nhiên, khi hoàn tất hồ sơ để chuyển tới TAND xét xử, ông Vinh tự ý rút bỏ hai biên bản hỏi cung với nội dung ông Chấn kêu oan, tố bị bức cung ra khỏi hồ sơ.

HĐXX cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, xét xử khiến ông Chấn bị oan.

Tuy nhiên do các bị cáo không có tư thù, không hưởng lợi nên không có cơ sở quy kết tội cố ý làm sai lệch hồ sơ, cùng quan điểm với đề nghịm của đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa, HĐXX chuyển tội danh cho hai bị cáo sang tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

HĐXX tuyên phạt ông Luật 12 tháng tù, ông Vinh 8 tháng tù.

Thân Hoàng

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Tạm cấp 1.680 tỷ đồng bồi thường sự cố môi trường biển lần 2

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo về việc tạm cấp kinh phí lần 2, với số tiền 1.680 tỷ đồng lấy từ khoản tiền Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh bồi thường người dân bốn tỉnh miền trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển.

Theo đó, tỉnh Hà Tĩnh nhận là 560 tỷ đồng, Quảng Bình 760 tỷ đồng, Quảng Trị 160 tỷ đồng và Thừa Thiên – Huế 200 tỷ đồng. Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương sử dụng số tiền nêu trên để thực hiện thanh toán, chi trả bảo đảm đúng đối tượng, đúng định mức, tránh sai sót không thu hồi được kinh phí.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Bồi thường ông Huỳnh Văn Nén hơn 10 tỷ đồng

Ngày 17-1, tại TP Phan Thiết (Bình Thuận), Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Thuận đã tổ chức họp báo thông tin về việc giải quyết bồi thường đối với ông Huỳnh Văn Nén, người bị tù oan hơn 17 năm.

Quá trình giải quyết bồi thường cho ông Huỳnh Văn Nén của TAND tỉnh Bình Thuận được bắt đầu từ ngày 25-4-2016, khi TAND tỉnh Bình Thuận thụ lý “Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” của ông Huỳnh Văn Nén cho đến ngày 12-1-2017, khi phía người bị thiệt hại chấp nhận đề nghị bồi thường của TAND tỉnh.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Xử phạt hơn 21 tỷ đồng với các vi phạm về dược phẩm, thực phẩm

Ngày 17-1, báo cáo tổng kết công tác đấu tranh buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Ban Chỉ đạo 389 Bộ Y tế cho biết, Bộ Y tế vừa phối hợp một số đơn vị thuộc Bộ Công an cùng lực lượng Quản lý thị trường, Công an huyện Gia Lâm (Hà Nội) kiểm tra xe ô-tô đang chở dược liệu, kho hàng của hộ kinh doanh dược liệu đã phát hiện 374 loại dược liệu với tổng trọng lượng 45,9 tấn chưa rõ nguồn gốc xuất xứ.

Trong năm 2016, Ban Chỉ đạo 389 Bộ Y tế đã thanh tra, kiểm tra 137 cơ sở dược phẩm, phát hiện 111 vụ vi phạm, tổng số tiền truy thu là 9,21 tỷ đồng. Trong lĩnh vực thực phẩm, tổng số vụ phát hiện vi phạm là 133 vụ và số tiền truy thu là 12,54 tỷ đồng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết, trong thời gian cao điểm Tết Nguyên đán, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng có chiều hướng gia tăng, nhất là các mặt hàng thực phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng… Chính vì vậy, Bộ Y tế đề nghị các đơn vị đẩy mạnh thanh, kiểm tra tại các địa bàn trọng điểm, khu vực cửa khẩu, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực y tế…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010-2015

Ngày 17-1-2017, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015. Sau khi xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư (số 59-BC/UBKTTW, ngày 5-1-2017), Ban Bí thư đã kết luận như sau:

Trong thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã để xảy ra tình trạng nội bộ mất đoàn kết; thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có khuyết điểm về một số vi phạm trong công tác cán bộ và giải quyết tố cáo; thực hiện không nghiêm Quy chế làm việc của Đảng ủy và Cơ quan…

Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên đã ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo và uy tín của Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước, gây dư luận không tốt trong Cơ quan Đảng ủy Ngoài nước.

Căn cứ Quy định số 263-QĐ/TW, ngày 8-10-2014 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm, Ban Bí thư quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010 – 2015.

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 18/1/2017:

Thoát án tử hình nhờ áp dụng Bộ luật hình sự mới

Ông Nguyễn Văn Hiến, chánh án TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, cho biết sáng 17/1 cơ quan này nhận được quyết định của TAND tối cao về việc chuyển hình phạt của bị án Lê Thị Hường (42 tuổi, hộ khẩu thường trú xã Xà Bang, H.Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) từ án tử hình xuống còn 20 năm. Tử tù này thoát án tử là nhờ vào việc áp dụng các điều khoản mới của Bộ luật hình sự 2015 và nghị quyết của Quốc hội.

Năm 2014, Lê Thị Hường lần lượt bị tòa án hai cấp tuyên phạt mức án tử hình về tội “giết người”. Đến tháng 7/2014, Lê Thị Hường có đơn xin giảm án tử hình gửi Chủ tịch nước. Trong quá trình chờ thi hành án thì Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực và chiếu theo quy định trong bộ luật mới, Lê Thị Hường được giảm án.

Đông Hà

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 22/2/2017:

Bắt tạm giam Trần Thị Nga về tội tuyên truyền chống Nhà nước

Ngày 21/1, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Hà Nam thực hiện các quyết định khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt tạm giam và khám xét nơi ở đối với Trần Thị Nga (40 tuổi), ngụ P.Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, Hà Nam) về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Bị can Trần Thị Nga bị bắt vì có hành vi đưa một số video, clip, bài viết lên mạng Internet. Khám xét nơi cư ngụ, cơ quan điều tra thu giữ nhiều tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Y án 30 năm tù với bị cáo Phạm Công Danh

Ngày 24-1, sau gần một tháng xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao (TAND) tại TP Hồ Chí Minh đã tuyên án vụ án thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng Việt Nam do Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB), nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh (Tập đoàn Thiên Thanh), cùng các đồng phạm gây ra.

Theo đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã bác đơn kháng cáo kêu oan, xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của 25 bị cáo, tuyên y án sơ thẩm; đồng thời bác toàn bộ kháng cáo của 27 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về phần dân sự, khởi tố vụ án, các biện pháp tư pháp. Hội đồng xét xử nhận định, bị cáo Phạm Công Danh là người có vai trò chính, chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật trong thời gian dài, thủ đoạn tinh vi, thiệt hại là đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, cấp sơ thẩm kết án Phạm Công Danh và đồng phạm phạm tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, “Vi phạm các quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” là có căn cứ, đúng người đúng tội. Hội đồng xét xử tuyên giữ nguyên mức án 30 năm tù giam đối với bị cáo Phạm Công Danh.

Đóng vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo Danh cho nên các bị cáo: Phan Thành Mai (nguyên Tổng giám đốc VNCB) lĩnh 22 năm tù; Hoàng Đình Quyết (nguyên Phó giám đốc VNCB – Chi nhánh Sài Gòn) lĩnh 19 năm tù; Mai Hữu Khương (nguyên Giám đốc VNCB – Chi nhánh Sài Gòn) lĩnh 20 năm tù. Tòa buộc bị cáo Danh có trách nhiệm hoàn lại cho VNCB hơn 63 tỷ đồng là số tiền gây thiệt hại cho VNCB trong hành vi lập khống corebanking. Bị cáo Danh và tập đoàn Thiên Thanh cũng phải liên đới bồi thường cho VNCB hơn 6.000 tỷ đồng cả gốc và lãi từ các hành vi vi phạm rút hoặc vay từ VNCB… Tòa buộc bà Hứa Thị Phấn trả lại 851 tỷ đồng là vật chứng trong hành vi cố ý làm trái quy định, trả cho ngân hàng, nộp lại 97 tỷ đồng là vật chứng. Tòa thu hồi 5.190 tỷ đồng là vật chứng của các bị cáo trong vụ án liên quan đến bà Trần Ngọc Bích và các cá nhân khác vay vào ngày 26-8-2013 của VNCB để trả lại cho ngân hàng. Tòa cũng quyết định khởi tố vụ án cố ý làm trái quy định của Nhà nước liên quan hành vi của Phạm Thị Trang và khởi tố vi phạm quy định cho vay của nhóm HĐ Tín dụng.

Tòa kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án để xem xét trách nhiệm của các đối tượng, gồm: Phạm Thị Trang, Hứa Thị Phấn, Vũ Thị Như Thảo, Trần Trọng Nghĩa; đồng thời xem xét biện pháp tư pháp đối với số tiền chênh lệch Danh đã trả cho ông Thanh, bà Bích.

Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát cấm xuất cảnh với những người đã bị khởi tố và đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự tại tòa phúc thẩm, tòa cho biết việc cấm xuất cảnh là biện pháp hành chính, trong quá trình điều tra vụ án giai đoạn 2, nếu xét thấy cần thiết, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an sẽ có quyết định.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng và bà Hồ Thị Kim Thoa

Thủ tướng Chính phủ vừa ký các quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng và bà Hồ Thị Kim Thoa.

Theo đó, tại Quyết định số 106/QĐ-TTg ngày 24-1, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Công thương nhiệm kỳ 2011 – 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng, do đã có những vi phạm về công tác cán bộ khi giữ chức vụ Bộ trưởng Công thương nhiệm kỳ này và Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thi hành kỷ luật tại Quyết định số 388-QĐNS/TW ngày 3-11-2016.

Tại Quyết định số 107/QĐ-TTg ngày 24-1, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Công thương.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Ủy ban Thường vụ QH ban hành Nghị quyết về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng

Ngày 21-1, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH), Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân đã ký ban hành Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng.

Theo đó, căn cứ Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Luật Tổ chức QH số 57/2014/QH13, Nghị quyết số 33/2016/QH14 ngày 23-11-2016 của QH về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ hai, QH khóa XIV; Văn bản số 2726-CV/VPTW ngày 20-11-2016 của Văn phòng T.Ư Đảng về việc thông báo ý kiến Ban Bí thư; đồng thời trên cơ sở Tờ trình số 27/TTr-CP của Chính phủ ngày 16-1-2017; Báo cáo thẩm tra số 314/BC-UBPL14 ngày 19-1-2017 của Ủy ban Pháp luật của QH và ý kiến của các thành viên Ủy ban Thường vụ QH tại phiên họp thứ 6, Ủy ban Thường vụ QH đã ban hành Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 về việc xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng.

Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 quyết nghị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011- 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng do đã có những vi phạm về công tác cán bộ khi giữ chức vụ Bộ trưởng trong nhiệm kỳ này và Ban Bí thư T.Ư Đảng đã thi hành kỷ luật tại Nghị quyết số 388-QĐNS/TW ngày 3-11-2016.

Nghị quyết giao Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xử lý kỷ luật đối với ông Vũ Huy Hoàng; giao Chính phủ khẩn trương nghiên cứu, trình QH xem xét, quyết định việc ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy định của luật về cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để xử lý công bằng, nghiêm minh các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả khi đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ra khỏi bộ máy nhà nước.

Nghị quyết số 344/NQ-UBTVQH14 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

VNA là nhà vận chuyển khách lớn thứ tư Đông – Nam Á

Ngày 24-1, đại diện Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) cho biết, theo thống kê từ Trung tâm hàng không châu Á – Thái Bình Dương (CAPA), năm 2016, VNA trở thành nhà vận chuyển hành khách lớn thứ tư khu vực Đông – Nam Á, lưu lượng vận chuyển năm 2016 đạt hơn 20 triệu lượt khách, sau các hãng Air Asia, Lion Air và Garuda Indonesia. Đồng thời, hãng cũng vượt qua Singapore Airline và Thai Airways để trở thành hãng hàng không truyền thống lớn thứ hai khu vực Đông – Nam Á, sau Garuda Indonesia về lưu lượng vận chuyển với 20,6 triệu lượt khách năm 2016, tăng 19% so cùng kỳ.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 21/1/2017:

100% số hộ dân ở TP Hồ Chí Minh được cấp nước sạch

Ngày 20/1, UBND thành phố Hồ Chí Minh công bố việc hoàn thành cấp nước sạch cho 100% số hộ dân trên địa bàn thành phố. Trong hai năm qua, thành phố có thêm 390 nghìn hộ dân được cấp nước sạch, nâng tổng số hộ được cấp nước sạch trên địa bàn TP Hồ Chí Minh  lên 1,9 triệu hộ, đạt chỉ tiêu 100%. TP Hồ Chí Minh sẽ mở rộng hệ thống cấp nước, phấn đấu đến năm 2019 đầu tư thêm hơn 1.000 km đường ống cấp nước, hoàn thành hai nhà máy nước Kênh Đông và Thủ Đức 4 trong năm 2008

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 16/1/2017:

Triểu khai liệu pháp tế bào trong điều trị bệnh ung thư

Nhóm các nhà khoa học thuộc Trường đại học Y Hà Nội đang tiếp nhận và triển khai ứng dụng liệu pháp tế bào miễn dịch trong điều trị bệnh ung thư từ các chuyên gia Nhật Bản. Với liệu pháp này, bệnh nhân sẽ được lấy khoảng 10 – 30 ml máu ngoại vi để phân lập các tế bào miễn dịch, nuôi cấy và hoạt hóa các chức năng chuyên biệt của các tế bào này trong môi trường đặc biệt. Sau khi đủ số lượng và có được các chức năng mong muốn (chức năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư) tế bào miễn dịch sẽ được truyền trở lại cơ thể người bệnh, tạo ra hàng rào tế bào miễn dịch đủ mạnh chống lại các tế bào ung thư.

Hiện nhóm nghiên cứu của Trường đại học Y Hà Nôi đã thực hiện tách chiết, nuôi cấy và hoạt hóa tế bào miễn dịch của một số người bệnh ung thư, cho kết quả khá tốt. Đây là giai đoạn khởi đầu quan trọng cho việc ứng dụng liệu pháp này trong điều trị ung thư thời gian tới.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Cứu sống mẹ con sản phụ mắc hội chứng hiếm gặp

Các bác sĩ Bệnh viện E vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật hy hữu, cứu sống mẹ, con sản phụ mắc hội chứng Marfan có biến chứng hở van tim động mạch chủ nặng, phồng động mạch chủ ngực, suy tim. Đây là bệnh lý có tính di truyền, bất thường về gien dẫn tới rối loạn cấu trúc tổ chức liên kết gây bệnh ở nhiều cơ quan, như mắt và hệ tim mạch…

Khi thai nhi sang tuần 16, các bác sĩ phải phẫu thuật để thay van tim và thay đoạn động mạch chủ cho sản phụ. Đến giai đoạn thai kỳ ở tuần 37, khi sản phụ xuất hiện trở lại hiện tượng mệt mỏi, khó thở, các bác sĩ chuyên ngành sản khoa, tim mạch, gây mê… đã hội chẩn và quyết định mổ và đã cứu được cả mẹ và con.

GS, TS Lê Ngọc Thành, Giám đốc Bệnh viện E cho biết, gia đình lựa chọn nơi sinh con phải “hội tụ” đủ hai yếu tố sản và tim trong cùng một bệnh viện là “bí quyết” cứu sống bé thành công. Đây là một bước tiến của ngành y tế Việt Nam.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Chuỗi ngày hội Chủ nhật đỏ 2017 tiếp nhận 31.880 đơn vị máu

Chuỗi ngày hội vừa kết thúc đã xác lập kỷ lục mới về số máu tiếp nhận được với 31.880 đơn vị máu. Con số trên vượt ngoài sức tưởng tượng của những người tham gia tổ chức Chủ nhật đỏ. Bởi lẽ, khi chuẩn bị cho mùa hiến máu tình nguyện lần thứ IX này, Ban Tổ chức đưa ra chỉ tiêu tiếp nhận 25.000 đơn vị máu.

Thông điệp “Hiến máu cứu người – Sinh mệnh bạn và tôi” xuyên suốt trong các mùa Chủ nhật đỏ, trở thành lời kêu gọi biết sống vì nhau bởi mỗi giọt máu cho đi là một cuộc đời ở lại. Với số lượng máu kỷ lục mà Chủ nhật đỏ mang lại sẽ giúp cho khoảng 50.000 bệnh nhân đang chờ máu trên cả nước có cơ hội được sum họp ăn Tết cổ truyền sắp tới cùng người thân và gia đình.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Thăm hỏi, giúp đã 79 hộ dân bị cháy nhà tại Nha Trang

Chiều 19-1, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đã đến thăm hỏi, động viên, tặng quà 79 hộ dân đang ở tạm tại Khu ký túc xá Trường cao đẳng Y tế Khánh Hòa, sau vụ cháy xảy ra đêm 17-1 ở cồn Nhất Trí, phường Vĩnh Phước, TP Nha Trang (Khánh Hòa). Phó Thủ tướng đã trao 79 suất quà của Chính phủ tặng các hộ bị mất nhà cửa, mỗi suất trị giá 2 triệu đồng.

Nói chuyện với người dân, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho rằng, vụ cháy là sự cố đáng tiếc, gây thiệt hại lớn về tài sản, rất may mắn là người dân đều an toàn tính mạng. Đây là bài học lớn, người dân phải hết sức cẩn thận trong công tác phòng cháy, chữa cháy. Phó Thủ tướng nêu rõ, trước mắt chính quyền địa phương cần tạo điều kiện để bảo đảm cho các hộ dân bị thiệt hại đón Tết đầm ấm, không bị thiếu đói trên tinh thần an toàn, tiết kiệm.

Trước đó, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa, Phó Thủ tướng đã nghe báo cáo về vụ cháy và công tác khắc phục hậu quả. Sau sự cố, ngoài việc bố trí nơi ở tạm cho 79 hộ gồm hơn 400 người, tỉnh hỗ trợ mỗi hộ bị thiệt hại về nhà 20 triệu đồng, 15 kg gạo, hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ cho các gia đình để chi tiêu dịp Tết Nguyên đán,… Phó Thủ tướng yêu cầu lãnh đạo tỉnh ngay sau Tết, triển khai xây dựng khu tái định cư, giúp người dân ổn định nơi ở lâu dài; rà soát lại các khu dân cư tương tự cồn Nhất Trí, đánh giá công tác quy hoạch, phòng cháy, chữa cháy, không để xảy ra những vụ việc tương tự.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Tiếp viên tàu SE1 trả lại khách gần 100 triệu đồng để quên

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) cho biết, sáng sớm 24-1, sau khi tiễn khách xuống ga Đồng Hới, trong lúc dọn dẹp, vệ sinh toa xe, tiếp viên phụ trách toa 9 tàu SE1 Nguyễn Thị Thanh (Đoàn tiếp viên đường sắt Phương Nam) phát hiện một túi xách mầu đen do hành khách để quên. Trước sự chứng kiến của hành khách trên tàu, tổ tàu đã mở túi xách, bên trong túi có hơn 79 triệu đồng và 780 ơ-rô, tổng trị giá gần 100 triệu đồng; một hộ chiếu mang tên Đỗ Hải Đăng. Tổ tàu đã liên lạc được với anh Đăng, bàn giao tài sản cho ga Huế để chuyển lại cho hành khách. Các nhân viên ga Huế đã trao tận tay anh Đăng lúc 15 giờ ngày 24-1. Hành động đẹp của tiếp viên Nguyễn Thị Thanh đã được Bộ trưởng Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa gửi thư khen.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị WEF

Chiều 20-1, trong khuôn khổ Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tại TP Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự hai phiên họp về “Phương cách ASEAN trong thế giới phân mảng” và “Bản sắc ngành chế tạo ASEAN”; tiếp Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) A.Gu-ri-a và Chủ tịch Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) H.I-si-ghe.nguyen-xuan-phuc-tham-du-hoi-nghi-wef

Tại các phiên họp về ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu bật các thành tựu phát triển của ASEAN, đánh giá cao nguyên tắc đồng thuận và “Phương cách ASEAN” tạo nên bản sắc của ASEAN; cho rằng ASEAN cần thực hiện hiệu quả lộ trình Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tranh thủ tốt các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác, nhằm thu hút đầu tư, thương mại vào khu vực; khẳng định Việt Nam đóng góp quan trọng, có trách nhiệm củng cố sự đoàn kết và đồng thuận ASEAN, nỗ lực cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh.

* Tại buổi tiếp Tổng Thư ký OECD A.Gu-ri-a, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và OECD; mong muốn hai bên tiếp tục phát huy hợp tác đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu, công nghiệp công nghệ cao, đầu tư, tài chính… Thủ tướng đề nghị OECD phối hợp và hỗ trợ Việt Nam tổ chức Năm APEC 2017; chia sẻ thông tin, quan điểm về các vấn đề kinh tế toàn cầu cùng quan tâm tại các hội nghị, diễn đàn quốc tế. Thủ tướng mời Tổng Thư ký OECD tham dự Tuần lễ cấp cao APEC tại Việt Nam vào cuối năm 2017. Tổng Thư ký A.Gu-ri-a khẳng định, OECD sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực mà phía Việt Nam đề nghị, cũng như tham gia các hoạt động của năm APEC Việt Nam 2017.

* Tại buổi tiếp Chủ tịch JETRO H.I-si-ghe, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những đóng góp của JETRO trong việc thúc đẩy đầu tư, thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng, chế tạo, công nghệ thông tin…; mong muốn JETRO phát huy hơn nữa vai trò cầu nối hiệu quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản; đồng thời mời Chủ tịch H.I-si-ghe tham dự Hội nghị cấp cao doanh nghiệp APEC tại Việt Nam vào cuối năm nay. Chủ tịch JETRO H.I-si-ghe chia sẻ mong muốn đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế – thương mại giữa hai nước và khẳng định, trên thực tế, JETRO đang tiến hành nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ các công ty Nhật Bản đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm và làm việc với Tập đoàn Holcim, một trong những tập đoàn hàng đầu Thụy Sĩ về vật liệu xây dựng.

* Tối 20-1 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Du-rích, kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị WEF từ ngày 18 đến 20-1 tại Thụy Sĩ theo lời mời của Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 18/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê chủ trì Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản

Sáng 17-1, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đã chủ trì Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản.

Phát biểu ý kiến tại buổi tọa đàm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Nhật Bản là quốc gia tài trợ ODA hàng đầu giúp Việt Nam, đồng thời là quốc gia đầu tư nước ngoài đứng thứ hai, có lượng khách du lịch xếp thứ ba và là đối tác thương mại thứ tư của Việt Nam. Năm 2016, Việt Nam thu hút thêm hai tỷ USD từ hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, đưa tổng giá trị đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam đạt 42 tỷ USD.

Thủ tướng đánh giá cao vai trò quan trọng của doanh nghiệp hai nước; cho rằng đây là những bông hoa đẹp đóng góp quý báu vào việc vun đắp quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản phát triển bền vững. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, năm 2017, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu vào tốp đầu các quốc gia ASEAN về môi trường đầu tư, và mong muốn Nhật Bản sẽ trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê cho biết, trong chuyến thăm lần này, đại diện Chính phủ và doanh nghiệp hai nước đã có các cuộc thảo luận năng động và hiệu quả. Theo Thủ tướng A-bê, hiện ASEAN là trung tâm tăng trưởng của thế giới, và Việt Nam nằm ở trung tâm đó. Hiện có hơn 1.600 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam. Thủ tướng A-bê đánh giá cao các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào tiến trình phát triển của Việt Nam thông qua các hoạt động đầu tư, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ. Thủ tướng A-bê khẳng định, Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam.

nguyen-xuan-phuc-nhat-ban* Trong khuôn khổ chuyến thăm, tại Hà Nội, sáng 17-1, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đã tiếp đồng chí Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê đánh giá cao quan hệ hợp tác giữa Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, đạt những kết quả thực chất, góp phần tăng cường hợp tác và phát triển quan hệ giữa hai nước Nhật Bản – Việt Nam

Ðồng chí Phạm Minh Chính vui mừng nhận thấy, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện và thực chất với sự tin cậy cao về chính trị. Ðánh giá cao hoạt động của Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt cũng như vai trò quan trọng của Ngài Chủ tịch T.Ni-cai, đồng chí Phạm Minh Chính mong muốn Thủ tướng S.A-bê tiếp tục ủng hộ và hỗ trợ để Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước phối hợp chặt chẽ, hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản.

* Sáng cùng ngày, tại Hà Nội, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê có cuộc gặp Giám đốc Ðại học Quốc gia Hà Nội và một số cán bộ, sinh viên của Trường đại học Việt – Nhật. Giám đốc Ðại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Kim Sơn bày tỏ mong muốn Thủ tướng S.A-bê tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Trường đại học Việt – Nhật. Thủ tướng S.A-bê nhấn mạnh, Trường đại học Việt – Nhật là nơi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho cả hai nước; mong muốn các sinh viên trong nhà trường học tập chăm chỉ, đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam, cũng như sự phát triển trong quan hệ hợp tác hai nước.

* Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam: Chiều 17-1, Thủ tướng Nhật Bản S.A-bê và Phu nhân đã rời Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam trong hai ngày 16 và 17-1, theo lời mời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 19/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Viện Nghiên cứu Ma-lích

Chiều 17-1 (giờ địa phương), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến sân bay quốc tế Du-rích, Thụy Sĩ, bắt đầu chương trình dự Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) từ ngày 17 đến 21-1 theo lời mời của Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp. Đón Thủ tướng và Đoàn, có Đại sứ Việt Nam tại Thụy Sĩ Phạm Hải Bằng; Đại sứ, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Giơ-ne-vơ Dương Chí Dũng cùng cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sĩ, Phái đoàn Việt Nam tại Giơ-ne-vơ.

nguyen-xuan-phuc-va-gs-ma-lich* Chiều 18-1 (giờ Việt Nam), tại Du-rích, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Viện Nghiên cứu Ma-lích P.Ma-lích. Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh Viện Nghiên cứu Ma-lích tích cực triển khai hợp tác với các cơ quan và địa phương của Việt Nam; nhấn mạnh, Việt Nam đang tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế, xây dựng bộ máy hành chính thống nhất, đồng bộ và hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Thủ tướng đề nghị, Chủ tịch P.Ma-lích và Viện Nghiên cứu tiếp tục triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác với Việt Nam, quan tâm chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ các bộ, ngành và địa phương của Việt Nam.

Chủ tịch P.Ma-lích thông báo với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc các hoạt động hợp tác tại Việt Nam, trong đó có việc triển khai hợp tác với Học viện Hành chính quốc gia và phối hợp với UBND thành phố Hải Phòng về ứng dụng mô hình quản trị hệ thống vào phát triển bền vững đô thị; mong muốn thúc đẩy triển khai các chương trình, dự án hợp tác với các bộ, ngành và viện nghiên cứu của Việt Nam.

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới tham quan Nhà máy sản xuất sô-cô-la Lindt nổi tiếng của Thụy Sĩ tại TP Du-rích.

  • Trang 21 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Chủ tích WEF C.Sơ-oáp

Chiều 18-1 (giờ địa phương), Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã tham dự các hoạt động tại Hội nghị thường niên lần thứ 47 Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ở TP Đa-vốt, Thụy Sĩ.

Tại cuộc gặp làm việc với Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị WEF duy trì tổ chức Hội nghị WEF Mê Công; hỗ trợ Việt Nam kết nối với các tập đoàn và chuyên gia hàng đầu của WEF, tư vấn chính sách trong lĩnh vực năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển nông nghiệp công nghệ cao… Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam; mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, nhất là theo mô hình đối tác công-tư (PPP).

nguyen-xuan-phuc-va-wefSau buổi gặp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Chủ tịch WEF C.Sơ-oáp dự lễ ký Thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và WEF về phát triển nền kinh tế Việt Nam tự cường trước tương lai. Theo thỏa thuận, WEF sẽ hỗ trợ Việt Nam kết nối với mạng lưới các doanh nghiệp và chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của WEF; phối hợp với Việt Nam nghiên cứu và tư vấn chính sách trong những lĩnh vực Việt Nam quan tâm…

★ Tại cuộc hội kiến với Thủ tướng Áo C.Cơn bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Áo công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, thúc đẩy Liên hiệp châu Âu (EU) sớm ký chính thức và phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), ủng hộ Việt Nam ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020-2021. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Áo C.Cơn đánh giá, quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp; nhất trí triển khai các hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong năm 2017, sớm họp Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế và thương mại.

★ Tại cuộc gặp Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) T.Na-ca-ô bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch T.Na-ca-ô nhất trí thúc đẩy triển khai các dự án cơ sở hạ tầng, chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế, giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2020, phối hợp chuẩn bị tốt cho Hội nghị cấp cao Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) lần thứ sáu tại Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị ADB tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi thương mại, đầu tư trong hợp tác tiểu vùng Mê Công.

★ Tại cuộc gặp Chủ tịch Tập đoàn Microsoft B.Xmít, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Tập đoàn Microsoft tiếp tục đầu tư vào Việt Nam gắn với chuyển giao công nghệ cao. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mời Chủ tịch Tập đoàn Microsoft tham dự Hội nghị cấp cao doanh nghiệp APEC vào tháng 11-2017 tại TP Đà Nẵng. Chủ tịch Tập đoàn Microsoft B.Xmít khẳng định mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh mạng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp phần mềm.

★ Tối 18-1, tại buổi đối thoại với các tập đoàn thành viên WEF trong lĩnh vực tài chính với sự tham dự của Giám đốc điều hành WEF P.Râu-xlơ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu bật các thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và nỗ lực cải cách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong năm vừa qua; khẳng định quyết tâm của Chính phủ về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh hơn nữa cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh; phấn đấu năm 2017 đạt các chỉ tiêu chủ yếu về môi trường kinh doanh bằng mức trung bình của bốn nước hàng đầu ASEAN (ASEAN-4).

★ Tại Trung tâm hội nghị của WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp với phóng viên của các cơ quan thông tấn, báo chí quốc tế đang có mặt tại Đa-vốt, Thụy Sĩ để thông tin về các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị thường niên WEF 2017.

Phát biểu ý kiến với phóng viên các hãng, cơ quan thông tấn báo chí quốc tế về những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế, thương mại, đầu tư ở Việt Nam thời gian qua, cũng như quyết tâm của Chính phủ Việt Nam xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển và phục vụ người dân, phục vụ doanh nghiệp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh vai trò quan trọng của giới truyền thông trong việc chuyển tải kịp thời, chính xác tình hình Việt Nam tới đông đảo cộng đồng quốc tế; khẳng định, Việt Nam luôn chào đón các cơ quan truyền thông, báo chí quốc tế vào Việt Nam để chứng kiến và phản ánh từng bước tiến trên chặng đường phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam.

★ Trong khuôn khổ Hội nghị WEF lần thứ 47 tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, ngày 19-1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự phiên thảo luận “Tương lai nền sản xuất dưới góc độ chiến lược khu vực”.

Phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, một trong những định hướng của Việt Nam là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đổi mới, sáng tạo, trong đó tập trung phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, bắt kịp làn sóng cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 có hơn một triệu doanh nghiệp, hỗ trợ khoảng 600 doanh nghiệp với 2.000 dự án trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo để thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, năm 2017, Việt Nam đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Các hoạt động và hội nghị của Năm APEC 2017 sẽ tập trung thảo luận việc thúc đẩy liên kết kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh trong kỷ nguyên số.

★ Ngày 19-1, bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có buổi đối thoại cởi mở và thẳng thắn với lãnh đạo nhiều doanh nghiệp lớn của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và một số lĩnh vực liên quan. Đây cũng là những doanh nghiệp thành viên của WEF.

Phát biểu ý kiến tại buổi đối thoại, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi diện mạo thế giới cũng như phương thức sống và làm việc của con người. Tại Việt Nam, lĩnh vực công nghệ thông tin đang phát triển bùng nổ và Việt Nam đang từng bước “thông minh hóa” nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, y tế, giáo dục… Trong 10 năm qua, Việt Nam là một trong những thị trường công nghệ thông tin, viễn thông tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.

Ngay sau phần phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giải đáp nhiều câu hỏi mà các lãnh đạo tập đoàn công nghệ thông tin đặt ra.

★ Ngày 19-1, trong khuôn khổ các hoạt động tại Hội nghị thường niên WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Gim Châng Kim.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao vai trò và đóng góp quan trọng của WB trong phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; cảm ơn WB tích cực ủng hộ Việt Nam hưởng cơ chế chuyển tiếp tốt nghiệp vốn vay ưu đãi phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Chủ tịch WB Gim Châng Kim bày tỏ ấn tượng với sự phát triển của Việt Nam trong những năm qua; khẳng định, WB tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển trong thời gian tới.

★ Cùng ngày, bên lề Hội nghị thường niên WEF, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) R.A-dê-vê-đô.

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam coi trọng vai trò của hệ thống thương mại đa phương với nòng cốt là WTO; thông báo, Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định về các khía cạnh liên quan thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Thủ tướng đề nghị WTO hỗ trợ Việt Nam đào tạo, nâng cao năng lực trong triển khai các hiệp định của WTO, đàm phán thương mại, xử lý tranh chấp.

★ Cùng ngày, tại buổi tiếp Chủ tịch Tập đoàn Alibaba (Trung Quốc) G.Ma bên lề Hội nghị thường niên WEF tại Đa-vốt, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc những năm gần đây tiếp tục phát triển tích cực; khẳng định, Chính phủ hai nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác kinh doanh, đầu tư trong những lĩnh vực hai nước cùng có lợi. Thủ tướng đánh giá cao Tập đoàn Alibaba và cá nhân Chủ tịch G.Ma là tấm gương sáng về khởi nghiệp cho các doanh nghiệp; đề nghị Chủ tịch G.Ma tìm hiểu cơ hội hợp tác đầu tư, chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp với các doanh nghiệp Việt Nam. Chủ tịch G.Ma đánh giá, Việt Nam là thị trường nhiều tiềm năng với dân số trẻ; đồng thời cho biết, Tập đoàn Alibaba đang xây dựng kế hoạch hợp tác với Việt Nam, trong đó có lĩnh vực công nghệ số.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/1/2017:

Hơn mười nghìn lượt người dâng hương Đền Hùng ngày đầu năm

Trong hai ngày 28, 29-1 (tức mồng 1, mồng 2 Tết Đinh Dậu 2017), Ban quản lý Khu Di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng (Phú Thọ) cho biết, đã có khoảng hơn mười nghìn lượt người đến dâng hương, tri ân công đức tổ tiên. Theo nhận định chung, năm nay, tình hình an ninh trật tự ổn định, ý thức người đi lễ tốt hơn, không có hiện tượng chen lấn, xô đẩy và việc giữ gìn vệ sinh chung được cải thiện.

Để tạo điều kiện cho nhân dân đi lễ được thuận lợi, Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng đã bố trí cán bộ, nhân viên làm việc bình thường. Đền Hùng nằm trên ngọn núi Hùng hay còn gọi là núi Nghĩa Lĩnh, thuộc xã Hy Cương, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền Hùng được xem là chốn linh thiêng bậc nhất của cả nước, thu hút đông đảo người dân từ khắp mọi miền và người Việt ở nước ngoài về đi lễ cầu phúc và thưởng ngoạn cảnh đẹp.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 31/1/2017:

Cảnh sát giao thông giúp nhiều người kịp về nhà đón Tết

Vào 20 giờ 40 phút ngày 27-1 (tức 30 Tết), khi đang triển khai nhiệm vụ bảo vệ giao thừa, Thượng tá Nguyễn Đức Chung, Đội Cảnh sát giao thông (CSGT) số 5 (Phòng CSGT Hà Nội) bắt gặp anh Phạm Văn Vụ (SN 1976, ở Đồng Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương) bị trộm mất hết tiền và toàn bộ giấy tờ tùy thân, không thể về quê đón Tết. Đội CSGT số 5 đã dùng xe chở anh Vụ về quê nhà, kịp đón giao thừa cùng gia đình.

* Cùng ngày, chị Nguyễn Thị Kim Anh (SN 1977, quê ở Bình Lục, Hà Nam) là lao động làm thuê ở Hà Nội, do hoàn cảnh công việc nên tối 30 Tết, chị Kim Anh mới ra bến xe phía nam bắt xe về quê. Do hết xe khách, không có đủ tiền đi ta-xi, chị đã vào chốt CSGT ở ngã 3 Pháp Vân – Giải Phóng xin giúp đỡ. Khi nghe Tổ công tác báo cáo, Trung tá Lê Văn Tiến, Đội trưởng Đội CSGT số 14 đã giao nhiệm vụ cho Thượng úy Hoàng Minh Trường, cán bộ của đội dùng xe cá nhân đưa chị Kim Anh về quê ăn Tết.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 21/1/2017:

Khai mạc Đường hoa “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”

Tối 25-1 (28 tháng Chạp), UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ khai mạc Đường hoa Tết Đinh Dậu 2017 với chủ đề “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”. Tới dự, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội; Trương Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa; Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh; Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong.

Trước khi cắt băng khánh thành Đường hoa, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu cùng dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tượng đài Người.

Đường hoa dài khoảng 720 m, được chia làm ba phân đoạn chính: “Mùa xuân trên thành phố mang tên Bác”, “Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình” và “Khát vọng ngời sáng”, do Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) thực hiện. Điểm nhấn của chủ đề “Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình” là những mô hình kiến trúc tiêu biểu mang tính lịch sử như Bến Nhà Rồng, tòa nhà UBND thành phố, chợ Bến Thành, cầu Phú Mỹ…; thể hiện hình ảnh một thành phố có bề dày lịch sử, trong xu thế hiện đại và phát triển.

Trước đó, chiều cùng ngày, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã khai mạc Lễ hội Đường sách Tết Đinh Dậu năm 2017 tại trục đường Mạc Thị Bưởi – Ngô Đức Kế – Nguyễn Huệ, với chủ đề “Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng”. Đồng chí Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy dự.

Lễ hội Đường sách diễn ra từ ngày 25-1 (28 tháng Chạp) đến ngày 31-1 (mồng 4 Tết); được chia làm ba chủ đề: “Tự hào thành phố mang tên Bác”; “Thành phố Hồ Chí Minh – Thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình” và “Khát vọng tỏa sáng”.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 20/1/2017:

Khai mạc chương trình Tết Việt tại khu phố cổ Hà Nội

Ngày 19-1, Ban Quản lý Phố cổ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã khai mạc chương trình Tết Việt với nhiều hoạt động hướng về cội nguồn nhân dịp Xuân Đinh Dậu 2017. Tại đình Kim Ngân, khách tham quan được xem các nghệ nhân trình diễn cách làm các dòng tranh dân gian : Hàng Trống, Kim Hoàng và Đông Hồ. Tại Ngôi nhà Di sản số 87 phố Mã Mây, Ban Quản lý Phố cổ tái hiện không gian đón Tết của gia đình Hà Nội xưa.

Trung tâm Giao lưu văn hóa Phố cổ số 50 phố Đào Duy Từ sẽ được sắp đặt trở thành một không gian đón Tết xưa trong ngôi nhà truyền thống đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, còn có các hoạt động trình diễn thư pháp, vẽ tranh Tết dân gian, trình diễn âm nhạc truyền thống… để phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán 2017.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 16/1/2017:

Tưng bừng đại nhạc hội Đại hỷ xuân 2017

Tối 15-1 tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội), Tập đoàn Vingroup tổ chức đại nhạc hội Đại hỷ xuân 2017.

Chương trình sôi động này đã thu hút sự tham dự của hơn 30.000 chủ thẻ VINID là khách hàng thân thiết của Vingroup.

Đêm đại nhạc hội do đạo diễn Việt Tú làm tổng đạo diễn dàn dựng, với chất lượng âm thanh và ánh sáng tiêu chuẩn quốc tế.

Ban tổ chức cho biết Đại hỷ xuân 2017 thiết lập nhiều kỷ lục Việt Nam như sân khấu biểu diễn ngoài trời dành cho chương trình ca nhạc có chiều ngang hơn 100m, được đầu tư hàng trăm tấn thiết bị, màn hình led lên hơn 1.000m2

Sân khấu Đại hỷ xuân 2017 cũng được xây dựng hoành tráng theo tiêu chuẩn cao nhất của các đại nhạc hội thế giới, có không gian đủ lớn trình diễn 50 xe Camry đời mới.

Đêm đại nhạc hội do nghệ sĩ Xuân Bắc dẫn chương trình, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng tham gia biểu diễn như Hồ Ngọc Hà, Lệ Quyên, Thu Minh, Noo Phước Thịnh, Sơn Tùng MTP, Đông Nhi, Hoàng Thùy Linh, Phương Vy, thần đồng trống Trọng Nhân, rapper Suboi, “GS Cù Trọng Xoay”…

Chương trình cũng trao các giải thưởng trị giá 100 tỉ đồng cho hơn 21.000 người may mắn bao gồm 50 xe Camry, 1.000 iPhone 7…

V.V.Tuân

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 19/1/2017:

Triễn lãm – hội chợ “Tết Việt 2017”

Từ ngày 18 đến 24/1, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp đơn vị liên quan tổ chức triển lãm – hội chợ “Tết Việt 2017” tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư, Hà Nội) mừng Xuân Đinh Dậu 2017. Triển lãm – hội chợ có nhiều hoạt động phong phú như: “Tết Việt với sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống”; “Tranh Tết Đinh Dậu 2017”; góc “Thư pháp ngày xuân”; sắp đặt hoa xuân theo chủ đề “Đại cát”; Ngày hội văn hóa vùng Kinh Bắc, trình diễn nghệ thuật chèo truyền thống…; giao lưu văn hóa nghệ thuật với nhiều tiết mục đặc sắc.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Đặt tên đường Nguyễn Cơ Thạch tại TP Hồ Chí Minh

Sáng 21-1, UBND quận 2, TP Hồ Chí Minh tổ chức Lễ đặt tên con đường mang tên đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao; Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh đến dự.

Đường Nguyễn Cơ Thạch nằm trên trục đường bắc – nam của khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2, TP Hồ Chí Minh. Con đường Nguyễn Cơ Thạch là trục chính, xuyên tâm, là công trình trọng điểm của khu đô thị mới Thủ Thiêm, có tổng chiều dài hơn 2,5 km, lộ giới gần 45 m, với điểm đầu là cầu Thủ Thiêm 1 và điểm cuối là cầu Thủ Thiêm 4. Đây sẽ là tuyến đường góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của toàn khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Phát biểu ý kiến tại lễ đặt tên đường, đồng chí Phạm Bình Minh khẳng định việc đặt tên con đường mang tên đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là sự ghi nhận, tri ân đối với những đóng góp của đồng chí Nguyễn Cơ Thạch cho sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, là niềm tự hào to lớn đối với gia đình đồng chí Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao.

Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch tên thật là Phạm Văn Cương (sinh ngày 15-5-1921, mất ngày 10-4-1998), quê ở xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đồng chí từng giữ cương vị, trọng trách, như Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao, đại biểu Quốc hội khóa VII (1981 – 1987), khóa VIII (1987 – 1992). Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là nhà lãnh đạo xuất sắc trên mặt trận ngoại giao, là người chiến sĩ cách mạng kiên trung suốt đời phấn đấu vì độc lập tự do cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân và lý tưởng cộng sản.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 24/1/2017:

Xuân Quê hương – xuân hòa hợp dân tộc!

Những năm gần đây, vào dịp cuối năm, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức Chương trình Xuân Quê hương để những người con xa xứ có cơ hội gặp mặt, đoàn tụ. Nhưng một số người lại không muốn những việc như vậy được tổ chức, vì qua những gì đã công bố, có thể thấy họ không bao giờ hướng tới hòa hợp dân tộc một cách lương thiện, phù hợp theo truyền thống dân tộc…

Ra đi trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chắc chắn trong lòng mỗi người Việt Nam xa xứ đều mang nỗi nhớ tổ tiên, nỗi nhớ cội nguồn. Có lẽ vì vậy mà nhiều năm nay, gần tới Tết Nguyên đán, các sân bay quốc tế của Việt Nam lại nhộn nhịp cảnh tay bắt mặt mừng giữa người trở về với người thân đi đón. Và khi Chương trình Xuân Quê hương phát sóng trên truyền hình thì Tết quê nhà, niềm vui đoàn tụ, tinh thần hòa hợp dân tộc lại dâng tràn trong tâm hồn mọi người Việt Nam xa xứ. Tuy nhiên, lại có một số người vì lòng thù hận mà không muốn chia sẻ với niềm vui ấy, cho nên cứ vào dịp cuối năm trên một số trang mạng xã hội lại xuất hiện bài viết của họ với thái độ hằn học. Điển hình gần đây là bài viết của Le Nguyen. Với sự cay cú, thủ đoạn đổi trắng thay đen, Le Nguyen viết bừa rằng hòa hợp là “thủ đoạn chính trị, là chiêu trò gian manh”, rồi thóa mạ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài…!

Hãy khoan bàn đến những nội dung khác của bài viết này, chỉ riêng việc muốn hòa hợp và hòa giải mà lại đòi đánh đổ Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng đã được Hiến định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì thử hỏi những người này hòa hợp với ai, hòa giải với ai? Trong bài viết này, Le Nguyen còn dẫn phát biểu của ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống chế độ Sài Gòn, để thóa mạ ông và những người Việt Nam ở nước ngoài đang nỗ lực cùng Đảng và Nhà nước Việt Nam đẩy nhanh hòa hợp, chỉ vì ông Nguyễn Cao Kỳ đã phát biểu mong muốn mọi công dân Việt Nam trên toàn thế giới đoàn kết nhau lại, hợp sức xây dựng đất nước.

Là một dân tộc đã trải qua quá nhiều đau thương, mất mát trong các cuộc chiến tranh, thế nhưng bản chất hòa hiếu đã ăn sâu vào tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử, sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, các triều đại phong kiến trước đây không những ban hành các chính sách để ổn định, cấu kết lòng dân, hòa hợp dân tộc mà còn thể hiện bao dung, hòa hiếu với cả kẻ thù. Hơn bảy thế kỷ trước, sau khi lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan cuộc xâm lăng lần thứ ba (năm 1288) của nhà Nguyên, bắt được hòm tờ biểu của một số người Việt gửi cho quân Nguyên để xin được làm quan (như ngày nay thường gọi đó là Việt gian phản quốc), nhưng Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Vua Trần Nhân Tông đã có hành động “vô tiền, khoáng hậu” là ra lệnh đốt hết các bức thư ấy và không truy cứu một ai. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng “Thượng hoàng sai đốt đi để yên lòng những kẻ phản trắc” (Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Thời Đại, TP HCM năm 2013, tr.318). Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ 15, Lê Lợi luôn chăm chút, chú ý tới tình đoàn kết quân dân. Ông tạo điều kiện để: “những người lầm đường theo giặc, nếu hối cải trở về với Tổ quốc thì tha thứ cho đái tội lập công” (Đào Duy Anh – Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB Văn hóa Thông tin, H.2002, tr.318). Sau khi đánh tan quân xâm lược, phẫn nộ trước những tội ác dã man mà quân xâm lược gây ra, nhiều người khuyên nhà vua hãy giết hết số quân Minh đã đầu hàng, Vua Lê Thái Tổ đã dụ những lời vô cùng nhân đức: “Việc phục thù trả oán là thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người là bản tính của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới muôn đời, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử xanh, tiếng thơm sẽ truyền mãi tới ngàn thu, há chẳng lớn ư!” (Lê Quý Đôn – Đại Việt Thông sử, NXB Khoa học xã hội, H.1978, tr.70). Tương tự, sau khi chiến thắng quân Thanh, Vua Quang Trung không những chiêu nạp và nuôi dưỡng tất cả tù binh, tàn binh quân Thanh, mà còn sai thu nhặt xác quân giặc trên các chiến trường chôn cất và lập đàn cúng tế,…

Trong hơn nửa thế kỷ của thời đại mới đấu tranh vì độc lập, chủ quyền dân tộc, và xây dựng, phát triển đất nước, hòa hợp dân tộc luôn là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mấy chục năm trước “Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền” (Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu) không chỉ chia đôi đất nước, mà còn chia cắt cả lòng người, len lỏi vào từng gia đình của người dân Việt Nam. Thấu hiểu nỗi đau mất mát do chiến tranh gây ra, nhận thức nghiêm túc về việc mọi người Việt Nam phải đoàn kết, đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm, ban hành các chủ trương, chính sách nhằm thực hiện hòa hợp dân tộc, được biểu hiện cụ thể qua Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị khẳng định: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp đó là Nghị quyết số 23-NQ/TW năm 2008 của BCH T.Ư Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Chỉ thị 45-CT/TW năm 2015 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 36 về chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài và tại Đại hội lần thứ XII Đảng ta khẳng định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”.

Cùng với những chủ trương, chính sách nhất quán về hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực để các chủ trương, chính sách này nhanh chóng đi vào cuộc sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Bên cạnh các chương trình hành động tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó hơn nữa với quê hương, đất nước; phát huy tiềm năng trong hợp tác kinh tế, đầu tư, kinh doanh,… là xây dựng các cơ chế luật pháp phù hợp về xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, đầu tư kinh doanh; quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam… Các hoạt động tập hợp, vận động, gắn kết người Việt Nam ở trong và ngoài nước ngày càng có nội dung phong phú và hình thức đa dạng hơn, như tổ chức các đoàn kiều bào tiêu biểu về thăm đất nước dịp Quốc khánh, Quốc giỗ Vua Hùng, trại hè cho thanh niên, sinh viên kiều bào… Nổi bật trong thời gian gần đây là các chương trình Xuân Quê hương; người Việt Nam ở nước ngoài với chủ quyền biển, đảo; tổ chức đại lễ cầu siêu;… Hằng năm gần 300 lượt chuyên gia, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tích cực đóng vai trò làm cầu nối quan trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế; cùng với đó là hàng nghìn doanh nghiệp của bà con đã và đang đầu tư với số vốn hàng tỷ USD. Không chỉ đóng góp kiều hối, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực đóng góp công sức, trí tuệ, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ đồng bào trong nước, vận động các cá nhân, tổ chức của nước sở tại hỗ trợ cho các dự án xã hội ở Việt Nam như xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục… Đây thật sự là nguồn lực quý báu góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Chủ trương, chính sách, những việc làm hữu ích chính là sự tiếp nối tinh thần hòa hiếu của dân tộc, cho thấy “dòng máu Lạc Hồng” vẫn chảy trong trái tim mọi người Việt Nam chân chính, yêu nước và nỗ lực để đất nước giàu mạnh. Trong hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, đã kể một câu chuyện xảy ra ở quê bà (Duy Xuyên, Quảng Nam) về đám tang một người nguyên là sĩ quan của chế độ “Việt Nam cộng hòa” đã đi định cư ở Mỹ 20 năm; theo nguyện vọng của ông, thi hài được đưa từ Mỹ về Việt Nam mai táng. Và theo bà kể thì “người đọc điếu văn là con trai một liệt sĩ cách mạng, cháu một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” (Nguyễn Thị Bình – Hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước, NXB Tri thức, H.2012, tr.212). Đó một trong vô vàn thí dụ chứng minh, với cái tâm đen tối, những kẻ như Le Nguyen không hướng tới sự hòa hợp chân chính.

Việt Phước

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 26/1/2017:

2.206 học sinh đoạt học sinh giỏi quốc gia lớp 12 THPT năm 2017

Đại diện Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) ngày 25-1 cho biết, đã hoàn thành chấm thi kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2017.

Theo đó, kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2017 đã diễn ra trong ba ngày (từ ngày 5 đến 7-1), gồm các bài thi viết, thực hành trong các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc và thi lập trình trên máy vi tính môn Tin học. Tổng số 2.206 học sinh lớp 12 của các tỉnh, thành phố và Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; các trường đại học: Sư phạm Hà Nội, Vinh, Sư phạm TP Hồ Chí Minh; phổ thông vùng cao Việt Bắc; THPT năng khiếu thuộc Trường đại học Tân Tạo được công nhận đoạt các giải nhất, nhì, ba, khuyến khích trong kỳ thi học sinh giỏi
năm nay.

Dẫn đầu về số lượng học sinh đoạt giải là Hà Nội (146 học sinh), Hải Phòng (92 học sinh), Nghệ An (88 học sinh), Hải Dương (82 học sinh), Nam Định (77 học sinh),…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 22/1/2017:

Hội chữ xuân Đinh Dậu 2017

Từ ngày 21-1 đến 11-2 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) diễn ra Hội chữ Xuân Đinh Dậu 2017 với nhiều hoạt động hấp dẫn, trong đó nổi bật là triển lãm thư pháp với chủ đề “Tôn sư trọng đạo” và hoạt động viết chữ đầu Xuân. Triển lãm thư pháp năm nay giới thiệu gần 30 tác phẩm thư pháp bằng chữ Hán – Nôm và chữ Quốc ngữ, được tuyển chọn từ hơn 70 tác phẩm thuộc hàng chục câu lạc bộ thư pháp ở Thủ đô. Trong khuôn khổ Hội chữ, ban tổ chức còn trưng bày các sản phẩm làng nghề Hà Nội như: gốm sứ, dệt, thêu, giấy, tranh dân gian, chạm khắc gỗ, đúc đồng…

  • Trang báo Nhân Dân ngày 23/1/2017:

Lưu giữ gần 27 nghìn nguồn gien cây trồng

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), đang bảo tồn, lưu giữ gần 27 nghìn nguồn gien cây trồng và 657 mẫu cây sinh sản vo otinsh; thu nhập 120 mẫu giống cây ăn quả bổ sung vào danh mục hơn 6.000 nguồn gien cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm; quản lý thống nhất và cập nhậ cơ sở dữ liệu cho 16 nghìn nguồn gien đang lưu giữ; cấp phát 800 lượt nguồn gien cùng các thông tin liên quan của 382 nguồn gien lúc và cây ngũ cốc, 57 nguồn gien rau các loại, 408 nguồn gien cây họ đậu…

Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân và bình ổn giá cả thị trường Tết Đinh Dậu 2017, Siêu thị Big C Thăng Long đã chuẩn bị hơn 500 mặt hàng bánh, mứt, kẹo; hơn 5.000 tấn rau, củ, quả các loại; hơn 1.000 tấn sản phẩm thịt gia súc, gia cầm (tăng từ 20% đến 30% so với Tết năm trước), 95% số sản phẩm này được cung cấp từ các doanh nghiệp uy tín trong nước, bảo đảm về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm…

Tin: Vũ Sinh (TTXVN)

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 25/1/2017:

Ngày Thơ Việt Nam “Đồng hành và Sáng tạo cùng đất nước”

Hội Nhà văn Việt Nam vừa cho biết: Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 15 năm 2017 diễn ra vào rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu (ngày 11/2) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, với chủ đề “Đồng hành và sáng tạo cùng đất nước”.

Ngày Thơ năm nay có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, sẽ có Không gian thơ thiếu nhi Việt Nam; Sân thơ truyền thống, Sân thơ trăm miền, Con đường thi nhân lần đầu tiên được mở, giới thiệu các nhà thơ Việt Nam tiêu biểu; Triển lãm 60 năm Hội Nhà văn Việt Nam. Các tỉnh: Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Ninh sẽ giới thiệu nghệ thuật truyền thống đặc sắc như làm gốm, văn hóa Mo Mường, cồng chiêng…

Ngày Thơ Việt Nam diễn ra ở nhiều địa phương. Riêng tại tỉnh Thái Nguyên, sẽ được tổ chức trang trọng tại An toàn khu Định Hóa, nơi 70 năm trước Bác Hồ viết bài thơ Nguyên Tiêu

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 16/1/2017:

Thương tiếc người thầy, người bạn lớn

May mắn được biết, được học và cùng làm việc với Giáo sư (GS) Võ Quý từ năm 1958 cho đến nay đã tròn 59 năm, đối với tôi, GS Võ Quý vừa là người thầy, người đồng chí, người anh vô cùng kính trọng và quý mến. Ông là tấm gương sáng cho các thế hệ học tập, noi theo về đạo đức trong sáng và thủy chung với nghề nghiệp của một nhà giáo.

Giáo sư Võ Quý sinh ngày 31-12-1929 tại huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông là một nhà giáo, nhà khoa học rất nổi tiếng ở trong nước và quốc tế. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, GS Võ Quý đã dạy ở các trường trung học ở Hà Tĩnh. Đến khi chiến thắng Điện Biên Phủ, GS Võ Quý ra bắc, có một thời gian ông được học bổ túc ở Nam Ninh, Trung Quốc. Sau khi về nước, ông tham gia giảng dạy ở Khoa Sinh, nghiên cứu chuyên sâu về chim tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTHHN), nay là Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Ông đã đảm nhiệm nhiều cương vị công tác khác nhau: giảng viên, Trưởng phòng Đào tạo (1975 – 1980), Chủ nhiệm Khoa Sinh học (1980 – 1990)… Năm 1985, ông là người sáng lập ra Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (thuộc Trường ĐHTHHN), nay là Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thuộc ĐHQGHN và giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm.

Là người sáng tạo, GS Võ Quý kết hợp hài hòa giữa việc giảng dạy đào tạo với vấn đề nghiên cứu khoa học. Ngoài nhiệm vụ là một nhà giáo ở Trường ĐHTHHN, GS Võ Quý đã thực hiện nhiều dự án nghiên cứu về chim, về các loài động vật quý hiếm, về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường và về hậu quả của chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Năm 1981-1990, GS Võ Quý là Phó Chủ nhiệm chương trình cấp Nhà nước nghiên cứu về vấn đề tài nguyên thiên nhiên và môi trường, khi đó tôi cũng là một thành viên trong ban chủ nhiệm đó. Ngoài ra, ông cũng giữ những chức vụ như: Ủy viên thường vụ Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Khoa học và Công nghệ về Chương trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; Ủy viên Ủy ban 10-80 Chủ tịch Hội Sinh thái học Việt Nam; Phó Chủ tịch Tổng hội các ngành sinh học Việt Nam. Đối với quốc tế, ông là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Hội đồng Vườn quốc gia và Khu bảo tồn quốc tế (WCPA/IUCN), Hội đồng quốc tế về Bảo vệ các loài nguy cấp (SSC/IUCN)…

Sự đóng góp của GS Võ Quý về lĩnh vực giáo dục và đào tạo là rất lớn. Dưới mái Trường ĐHTHHN, GS Võ Quý đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy sinh học cho đất nước. Học trò của ông, nhiều người đã thành danh và có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Ông không những đào tạo về nghiên cứu khoa học mà còn là người biết kết hợp chặt chẽ linh hoạt trong lý thuyết và thực tế, giúp người học nắm được kiến thức và thực tiễn. Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi học được từ GS Võ Quý kinh nghiệm là chỉ dựa vào giáo trình một phần, quan trọng là từ cơ sở lý thuyết đưa ra thực tế như thế nào. Nếu người dạy không cập nhật và tiếp cận với tình hình thực tế của từng địa phương thì sẽ không nắm được mỗi địa phương có đặc điểm hệ sinh thái và phát triển kinh tế – xã hội, tập quán khác nhau như thế nào. Học phải đi đôi với hành, lý thuyết vô cùng quan trọng, nhưng nếu không ứng dụng và áp dụng thì lý thuyết đó cũng không phục vụ được cho cuộc sống. Những người học tập được cái đó, thì quá trình truyền đạt kiến thức sẽ hấp dẫn sinh viên.

Khoảng năm 1980, GS Võ Quý được GS Tôn Thất Tùng giao phụ trách nghiên cứu về ảnh hưởng chất độc hóa học đến môi trường và sức khỏe con người Việt Nam. GS Võ Quý đã tổ chức một đoàn cán bộ khoa học, trong đó có tôi đi vào các tỉnh phía nam để nghiên cứu về chất độc hóa học. Ngoài ra, GS Võ Quý đã cùng các đồng nghiệp, các nhà khoa học tổ chức nhiều đợt khảo sát, điều tra về đa dạng sinh học, đặc biệt đối với khu hệ chim. Nhờ những đợt nghiên cứu đi sâu vào thực địa đã giúp ông có thêm nhiều tài liệu về sự phân bố của các loài chim. Cho đến nay, Việt Nam của chúng ta đã có hơn một nghìn loài chim, trong đó có rất nhiều đặc hữu và quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ. Trong quá trình nghiên cứu khoa học, ông đã công bố hơn 100 công trình trên các tạp chí trong nước và quốc tế. Đây là một tài liệu rất có giá trị trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nước nhà.

Với sự đóng góp to lớn đó, Đảng và Nhà nước tặng thưởng ông nhiều Huân chương, Huy chương cao quý như: Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Lao động hạng ba; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Thực vật trĩ, động vật trĩ năm 2012; Công trình Át Lát năm 2005… Ngoài ra, GS Võ Quý còn giành một số giải thưởng quốc tế như Huy chương vàng của tổ chức bảo vệ thế giới Hồng Kông; Bằng danh dự Global 500 của Liên hợp quốc; năm 2003, GS Võ Quý vinh dự là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên và là người châu Á thứ hai được nhận Giải thưởng Hành tinh xanh của Nhật Bản…

Sự đóng góp của GS Võ Quý về đào tạo và nghiên cứu khoa học là rất lớn với đất nước, với mục đích làm sao cho đất nước Việt Nam phát triển bền vững. Năm 2016, GS Võ Quý viết một cuốn sách tuyển chọn các công trình nghiên cứu của ông. Cuốn sách là một công trình khoa học có chất lượng cao, đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mang tính thời đại về môi trường và đa dạng sinh học. GS Võ Quý đã để lại cho đời những ấn tượng sâu sắc về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây là một tấm gương sáng cho các thế hệ học tập và noi theo về đạo đức trong sáng và thủy chung với nghề nghiệp của một nhà giáo. Chính vì thế, khi biết tin GS Võ Quý – người thầy, người bạn, người đồng chí đã qua đời, tôi vô cùng thương tiếc và xin gửi lời chia buồn với gia đình và cơ quan. Tôi nguyện với vong linh ông, sẽ cùng bạn bè và đồng nghiệp tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp giảng dạy và đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học của nước nhà.

GS, TSKH Đặng Huy Huỳnh

Nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật, Phó Chủ tịch Hội

Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam

 

Tháng Một 31, 2017

Dạ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Dạ…

Lời dẫn của Phạm Tôn: 11:37 sáng mồng 2 Tết Đinh Dậu (29/1/2017) nhà văn Trần Chiến gửi cho chúng tôi bài viết ngắn mà đặc sắc này, đăng trên báo Thừa Thiên – Huế Tết Đinh Dậu 2017

—o0o—

Tôi sống Hà Nội, lớn lên chỉ biết Huế qua sách vở, mấy bài hát. Ấn tượng sâu đầu tiên về cố đô lại có sắc thái hài hước. Anh bạn họa sĩ từ đây ra kể chuyện “cua” gái: thấy cô bán hàng dễ thương tớ buông lời tán “Em ơi sao em xinh thế?”. “Dạ”. “Đất trời này dễ em là hoa hậu rồi”. “Dạ”. “Tối nay đi chơi với anh nha, giờ ấy chỗ ấy được không?”. “Dạ”. Sáng hôm sau: “Em ơi sao tối qua không ra để anh đợi zdoài, bận hay sao?”. “Dạ”. “Tối nay nhé, vẫn chỗ cũ giờ cũ, không thì anh chết đấy”. “Dạ”. Cuối cùng họa sĩ cáu: “Em còn cái “dạ” nào dọn nốt cho anh xơi”.

Chuyện nửa đùa nửa thật, nhưng làm ta miên man nghĩ về một vùng đất có những con người kín đáo, hấp dẫn nhưng khó hiểu, không dễ gần. Tính cách Huế chăng? Sau này tôi đưa chi tiết này vào tiểu thuyết “Đèn vàng”. Rồi biết thêm “đặc điểm” nữa: trời mưa, ai trú lại thì không phải người Huế. Và câu thơ Thu Bồn “Con sông dùng dằng con sông không chảy, sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.

Một người nữa “giới thiệu” cho tôi khám phá Huế là Phạm Quỳnh. Trước đây nhắc đến học giả này còn nhiều úy kỵ, nguyen-khoa-diem-dang-hoa-truoc-tuong-pham-quynhgiờ khác dần: in sách, nhắc công lao văn hóa… Ngày đặt tượng ở mộ ông gần đây ông Nguyễn Khoa Điềm có dự. Du ký Mười ngày ở Huế đăng tạp chí Nam Phong năm 1918, Phạm Quỳnh cho biết ông thích lăng Gia Long chừng nào: “… giản dị hơn cả, nhưng có cái vẻ hùng tráng, thực là biểu được cái chí to tát một ông vua sáng nghiệp”, “… không ưa những sự hư văn vô ích”. Và cất lời chê: “Đại để từ lăng Thiên Thụ, qua Hiếu lăng, Xương lăng, đến Khiêm lăng, cái hư văn càng xuống càng thịnh, mà cái vẻ thuần phác hùng hồn lúc đầu càng mất dần đi vậy”. Đọc mấy câu trên, tôi có chuyến ngược dòng Hương ngoạn mục, (đâu như) qua ngã ba Tuần lên bờ cuốc bộ hơn cây số nữa tới lăng Gia Long. Một vùng trời xanh cao, bên dưới lơ thơ bóng thông, leo chầm chậm từng bậc cấp long lở, ngắm nghía hai trụ biểu đơn sơ, trước đây chắc hùng dũng lắm… “A, ta đang được tiếp cận với những gì rất mơ hồ trong lịch sử đây”. Sau này, tôi lại có được tâm thế ấy khi đến Văn Miếu, Võ Miếu, những nơi vắng vẻ. Chen chúc trong dòng du lịch đông đúc ở chỗ khác, dường như không hình dung quá khứ rõ bằng.

Với trải nghiệm này, tôi ưa sống chậm, một mình mỗi khi về Huế. Đi bộ dưới nắng lâu cũng quen, nhất là với cảm giác dưới mỗi bước chân mình là một bề dầy lịch sử. Đường Điện Biên Phủ bụi bậm lúc nào cũng như công trường, rẽ trái có chùa Từ Đàm, mộ Phan Bội Châu, rẽ phải là chùa Vạn Phước, mộ Phạm Quỳnh, quãng nữa là tư gia bạn mới “khánh thành” ngôi nhà sàn thơm mùi cá nướng. “Làng” Kim Long nhiều gái đẹp “dụ dỗ” cả vua, phố cổ Bao Vinh sầm uất một thời. Tôi ưa một cây cầu – đâu như Dã Viên – đến nỗi bất chấp luật lệ đi bộ ngược chiều, để ngắm dòng Hương, hòn đảo (cồn) và những con thuyền phía dưới, may không bị phạt. Rồi về bờ Nam ngồi, ngắm làn da đã đen hơn, nghĩ mình có thể trầm mặc thế này rất lâu được.

Huế, với tôi còn có những con người, đa phần vong niên. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhỏ nhẹ giảng giải về vị trí “cân phân” của kinh thành xưa. Và hai ông Phan. Thầy Nguyễn Hữu Châu Phan cho tôi xem thư viện rất đẹp, tặng bộ Nghiên cứu Huế đồ sộ dù mới gặp lần đầu. Từ chỗ ở, vài lần tôi đáp xe “căng hải” đến phố Cao Bá Quát, nhà Hồ Tấn Phan. Gầy yếu, mắt sâu hoắm, khẽ khàng, ngồi giữa đám đồ cổ, ông nói về trận lụt lớn thiệt hại cho cố đô nhưng nhờ đó mà ông khai quật được “văn hóa sông Hương”. Tôi chả hiểu mấy về đồ cổ, cử động dón dén chỉ sợ làm tổn hại đến chân đèn giá nến bình tích điếu ống “vứt” ngổn ngang xung quanh. Nhưng sợ nhất là để lọt những câu kiểu “Nói “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán – Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường” nó khiên cưỡng, Miên Thẩm Miên Trinh so thế nào với Siêu Quát được”; một nhận xét không “duy Huế”. Hồ Tấn Phan làm tôi tiếc vì chưa được gặp nhiều trí thức trẻ nơi đây, để nghe tâm tình, những phản biện của họ về vài sự kiện gây chút xáo động, như nhà nghiên cứu “chuyên pháp lam” nọ vượt Hải Vân vào Đà Nẵng… Dù gì thì gì, thật khó hình dung một Huế hiện đại.

van-nghe-si-truoc-tuong-pham-quynhLâu không vào rồi, chả phải để làm gì, có khi chỉ ngồi bên sông, chẳng nghĩ ngợi, nhìn đường xá không tắc tỵ, xe cộ không tranh hơn nhau một nửa của một phần tư phút. Biết đâu tiếng “dạ” rơi xuống…

                                                                                                                        Trần Chiến

                                                                                                Báo Thừa Thiên – Huế tết Đinh Dậu 2017

Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh đang được đặt ra – GS. Đinh Xuân Lâm

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

YÊU CẦU ĐÁNH GIÁ LẠI PHẠM QUỲNH ĐANG ĐƯỢC ĐẶT RA

GS. Đinh Xuân Lâm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày Quốc khanh năm nay, 2/9/2009, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm đã viết rất thẳng thắn là: “trước đây, khi lên lớp thời kỳ lịch sử Việt Nam trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do chưa nắm được các nguồn tư liệu cần thiết, lại thiếu một sự phân tích đánh giá thật sự khách quan, khoa học, tôi cũng đã đánh giá không đúng (…) tạp chí Nam Phong với cây bút chính là Phạm Quỳnh”. Và nay, ông đã viết Lời giới thiệu cho tập sách Nhà Văn Hóa Lớn Phạm Quỳnh là “một sưu tập công phu một số bài viết từng được công bố trên các báo chí, do tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan thực hiện (…) để góp phần vào việc đánh giá đúng đắn nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh” dự định sẽ xuất bản nay mai.

Chúng tôi xin phép được công bố bài viết đó, với nhan đề do chúng tôi chọn, lấy ý từ bài của giáo sư là Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh đang được đặt ra.

Xin mời các bạn cùng đọc bài viết quan trọng này.

—o0o—

Tôi được biết đến tác giả Phạm Quỳnh từ rất sớm, khi đang còn là học sinh cấp tiểu học trước năm 1945, nhờ ông thân sinh tôi là một công chức nhỏ có đặt mua Tạp chí Nam Phong hằng tháng. Nhưng do trình độ lúc đó còn thấp kém nên hầu như không hiểu gì. Phải đến khi lên các lớp nhì, lớp nhất trường Tiểu học Pháp-Việt (tương đương các lớp 4 và 5 cấp phổ thông cơ sở hiện nay) mới được học bài Cung chiêm các tôn lăng trong sách giáo khoa thời đó mà tôi rất thích, cho đến tận bây giờ hơn 70 năm đã trôi qua mà tôi còn có thể đọc thuộc lòng từng đoạn dài, phần do nhạc điệu của câu văn, phần do tính hiếu kỳ của tuổi trẻ bị hấp dẫn bởi các phong cảnh thiên nhiên mỹ lệ của xứ Thần kinh. Thế rồi khi lớn lên theo học bậc trung học cùng với việc mở rộng diện đọc sách báo tôi đã đọc các cuốn Người nông dân xứ Bắc Kỳ qua ngôn ngữ bình dân, Ba tháng ở Paris… Và ngày càng thấy hứng thú, để rồi đến lúc trực tiếp đọc qua tiếng Pháp các tập Tiểu luận Pháp-Việt (Essai Franco-Annamite) thì tác giả Phạm Quỳnh đã trở thành một tác giả lớn mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi dạy trung học tại Thanh Hóa, tuy là giáo viên ngành xã hội, chủ yếu là dạy Văn và Sử, nhưng tôi vốn có ham thích về lích sử từ trước nên sau năm 1954 được cử đi học đại học, tôi chọn ngành lịch sử rồi trở thành một cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Cận-Hiện đại Việt Nam tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội).

Được phân công giảng dạy Lịch sử Cận đại Việt Nam (1858-1945), trước đây khi lên lớp thời kỳ lịch sử Việt Nam trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do chưa nắm được các nguồn tư liệu cần thiết, lại thiếu một sự phân tích đánh giá thật sự khách quan, khoa học, tôi cũng đã đánh giá không đúng như cho rằng: “Tạp chí Nam Phong với cây bút chính là Phạm Quỳnh  – cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính sách của thực dân Pháp ở Việt Nam…với Tạp chí Nam Phong đã hình thành một hệ thống tư tưởng nô dịch, văn hóa duy tâm phản động, chống chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa Cộng Sản trên các lĩnh vực chính trị, triết học, văn học, sử học…” Cũng như nhận định về các nhóm Nam Phong của Phạm Quỳnh, Trung Bắc Tân Văn của Nguyễn Văn Vĩnh ở ngoài Bắc. “Nhóm Phạm Quỳnh nêu lên thuyết Quân chủ lập hiến, Quân Dân Cộng Trị, còn nhóm Nguyễn Văn Vĩnh lại đề cao tư tưởng Trực Trị như kiểu Canada trong đế quốc Anh, mơ ước thành lập một chính thể Cộng hòa Pháp-Việt, mà thực chất cả hai khuynh hướng đó đều là công nhận nền thống trị của đế quốc Pháp, cầu xin một vài điều cải lương vụn vặt…”

Rõ ràng là trong sự nhận định đánh giá đó, chúng tôi chưa thấy hết được sự biến đổi phức tạp của xã hội Việt Nam trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), cùng với sự du nhập phương thức bóc lột mới của chủ nghĩa tư bản và sự phân hóa xã hội ngày càng thêm sâu sắc, nên tôi đã có một số nhận định giản đơn như vậy mà chưa chú ý đúng mức đến nền tảng dân tộc của các thuyết đó trên cơ sở một tinh thần yêu nước truyền thống, chưa thấy được rằng trong những điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, các thuyết Quân Chủ Lập Hiến, Quân Dân Cộng Trị của Phạm Quỳnh cũng như thuyết Trực Trị của Nguyễn Văn Vĩnh cũng là sự biểu lộ tinh thần dân tộc ở một chừng mực nhất định, đành rằng là còn yếu!

Đến khi Cách Mạng Tháng Tám thành công năm 1945, tin Phạm Quỳnh bị sát hại đã làm cho tôi băn khoăn khó hiểu vì đối với tôi Ông vẫn là một nhà báo lớn, một học giả có tài đáng kính. Mãi tới gần đây mới thấy một số tác phẩm của Phạm Quỳnh được in lại và được độc giả đánh giá cao, tên tuổi Phạm Quỳnh được nhắc lại trên báo chí, trong các cuộc họp tuy chưa nhiều nhưng một cách đúng mức hơn, thấu tình đạt lý hơn. Yêu cầu đánh giá lại Phạm Quỳnh được đặt ra trong sự mong đợi được giải quyết thỏa đáng, không chỉ là hậu duệ của Ông mà còn của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Đó cũng là tính khoa học chặt chẽ kết hợp với tính nhân văn cao cả trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn lại gia đình Phạm Quỳnh vào mùa thu năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”.

Và sự thật thì con cháu Cụ Phạm, với truyền thống gia đình, nghe theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành những cán bộ trung thành với Đảng, với Tổ Quốc, với Nhân Dân, có những đóng góp to lớn vào khoa học, nghệ thuật, vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc trước kia và hiện nay.

Để góp vào việc đánh giá đúng đắn nhân vật lịch sử Phạm Quỳnh, công trình Nhà Văn Hóa Lớn Phạm Quỳnh là một sưu tập công phu một số bài viết từng được công bố trên các báo chí, do tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan thực hiện, sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều tư liệu, ý kiến từ nhiều phía, để bạn đọc suy ngẫm trước khi đi tới một “phán xét” cuối cùng có cơ sở vững chắc, khách quan và khoa học.

Ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 năm 2009.

GS. Đ.X.L.

Nhìn nhận Phạm Quỳnh dưới góc độc quan điểm Hồ Chí Minh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:23 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1-7-1917 – 1-7-2017)

NHÌN NHẬN PHẠM QUỲNH DƯỚI GÓC ĐỘ QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH

Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan

(Bài trong sách Thượng Chi – Phạm Quỳnh từ trang 83 đến trang 101)

Ngày 26 tháng 12 năm 1920, trong lần tham dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tán thành đi theo đường lối của Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế 3, Đệ tam quốc tế) và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Tán thành “đi” theo Quốc tế Cộng sản, có lẽ Nguyễn Ái Quốc nghĩ nhiều về đường lối ủng hộ các dân tộc, thuộc địa giành độc lập trong đó có Tổ quốc Việt Nam, về một điểm tựa, một hậuThuong Chi Pham Quynh phương lớn mạnh, duy nhất bấy giờ cho cách mạng Việt Nam.

Trước và sau năm 1920 cho đến 1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài về sự tàn bạo của các đế quốc, về nỗi khổ đau của các dân tộc thuộc địa nô lệ, đã ra báo Le Paria, thành lập “Hội Liên hiệp Thuộc địa”, trong khi Đảng Cộng sản Pháp và cả Quốc tế Cộng sản chưa làm gì được nhiều về vấn đề này.

Năm 1923, dự Đại hội Quốc tế Nông dân, được bầu vào Ban chấp hành quốc tế này, thuộc Quốc tế Cộng sản, đúng ra phải theo đúng chủ trương của Quốc tế Cộng sản về “giai cấp nông dân”, “đấu tranh giai cấp”, “tiêu diệt địa chủ”. Nhưng năm 1924, trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ”, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn bác bỏ luận điểm “đấu tranh giai cấp là hòn đá tảng để xem xét người đó có phải là đảng viên cộng sản hay không?” bằng một lập luận mới, chưa có ai trước. Nguyễn Ái Quốc nêu lên, rằng: “đấu tranh giai cấp ở Đông Dương không quyết liệt như ở phương Tây” và đề nghị: “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước”. Khẳng định ý kiến mình, Nguyễn Ái Quốc “yêu cầu” – như một dạng chỉ thị, phân công: “đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm”. (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 1), NXB, Chính trị Quốc gia, 1995)

Đến Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc còn dùng những danh từ nặng nề hơn về “các đồng chí Quốc tế Cộng sản chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng của Lênin về vấn đề thuộc địa, “cảnh cáo” rằng “tôi sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần, sẽ thức tỉnh các đồng chí”.

Năm 1930, với “Chính cương, Điều lệ tóm tắt” khi thống nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam “chia giai cấp địa chủ ra đại, trung, tiểu”, lôi kéo các tầng lớp trí thức vào hàng ngũ Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã bị “phê bình” là “quốc gia chủ nghĩa”. Và Đảng Cộng sản Việt nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã không được chính thức công nhận là một chi bộ của Quốc tế Cống sản.

Bất đồng ý kiến với Nguyễn Ái Quốc, lo lắng cho chặng đường tiếp sau, Quốc tế Cộng sản đã điều động Trần Phú đang học tập tại trường đại học của những người lao động Phương Đông (còn gọi là trường Stalin, mang tên Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản), quán triệt những chỉ thị mới của Quốc tế Cộng sản như “đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương”, “thủ tiêu Điều lệ, Chính cương cũ” (của Nguyễn Ái Quốc), lập Ban chấp hành mới.

Sau đó ít lâu, khi những chỉ thị này đã được căn bản thực hiện, Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản.

Có thể sự “bất đồng” này liên quan đến việc Nguyễn Ái Quốc, sau Đại hội V Quốc tế Cộng sản, đáng lẽ được nhận tiền và và về châu Á, Trung Quốc, Đông Dương nhưng Ban Phương Đông và Quốc tế Cộng sản trì hoãn mãi (để xem xét, cân nhắc?).

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc đã xin phép được rời Mátxcơva, không được phụ cấp tài chính, không có giấy giới thiệu với Đảng Cộng sản Trung Quốc, với tổ chức “Những người yêu nước tại địa phương sẽ đến…”

Để “văn kiện hóa” chỉ thị của mình, để giúp Trần Phú có cơ sở “pháp lý”, ngày 13 tháng 10 năm 1930, Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bấy giờ có trụ sở ở Thượng Hải – Trung Quốc đã có thư gửi Đảng Cộng sản Đông Dương khoanh vào những điểm trọng tâm như sau:

  1. Động lực cách mạng ở Đông Dương là giai cấp công nhân và nông dân. Đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc là địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp tri thức xét trong toàn bộ sẽ dao động…
  2. Cốt lõi của cách mạng điền địa là triệt để tiêu diệt bọn địa chủ. Đừng rơi vào sai lầm nguy hiểm là phân địa chủ thành loại “tốt” và “xấu” (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr.274-283)

Ngày 3 tháng 8 năm 1934, sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh (với khẩu hiệu mang đầy đủ quan điểm của Quốc tế Cộng sản “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” thông qua chỉ đạo trực tiếp của ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Phong Sắc tại Trung Kỳ), bị đàn áp, Nguyễn Ái Quốc bị “mất tích”, khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương “khẳng định lại tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương, chỉ rõ động lực chủ yếu cách mạng Đông Dương là giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng hiện nay là nhen lên và tổ chức ở khắp nơi đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất…” (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, 2004, tr.104)

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhiều lần yêu cầu và cũng đã được Quốc tế Cộng sản cung cấp tài chính “buộc” phải chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sớm thấy “có gì đó không đúng với thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam”. Về phần mình, qua nhìn nhận tình hình Đông Dương, trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sắp xảy ra do chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Đức khởi xướng, Quốc tế Cộng sản cuối cùng cũng đã thay đổi ý kiến, tức là chấp thuận quan điểm mới, chính xác của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề các dân tộc thuộc địa đấu tranh cách mạng giành giải phóng dân tộc.

Từ ngày 25 tháng 7 đến 20 tháng 8 năm 1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản đã đề ra và chủ trương “cần phải thành lập mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản để tập hợp các khuynh hướng chính trị, xã hội, tín ngưỡng khác nhau để chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh. Mặt trận thống nhất sẽ có những hình thức khác nhau ở các nước, những nét riêng của từng nước mà trình độ, đặc điểm kinh tế xã hội, quan hệ giai cấp và phong trào quần chúng khác nhau”. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr. 116)

Mặc dù trong bài tham luận của đồng chí Lê Hồng Phong đọc tại phiên họp lần thứ 9, chiều ngày 28 tháng 7 năm 1935, trong Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản còn nói: “Chính quyền Xô viết (Nghệ Tĩnh) mới chỉ tịch thu ruộng đất của những địa chủ có trên 100 mẫu (khoảng 30 ha). Giới hạn này đã làm giảm mất nhiều khí thế đấu tranh giành ruộng đất của nông dân, vì trong các tỉnh mà chính quyền Xô viết được thành lập, chỉ có rất ít đại địa chủ”. Lê Hồng Phong còn phát biểu rằng “đó là tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả PGS Trần Thành; Hoàng Tùng; PTS Nguyễn Văn Khoan; PTS Lê Văn Tích; PTS Trình Mưu; PGS, PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm; Lê Doãn Hợp (Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Nghệ An); Đồng chí Lê Hồng Phong, một lãnh tụ xuất sắc của Đảng, NXB CTQG, II, 1997, tr 85 và 91. Xin lưu ý rằng, theo một số tư liệu, Nguyễn Ái Quốc, bấy giờ đang ở Mátxcơva “có góp ý kiến” vào các bản tham luận của Hoàng Văn Nọn, Minh Khai). Cuối bản tham luận, đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương, chi bộ trực thuộc Quốc tế Cộng sản, đang giữ vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, kết luận: “Công nhân và nông dân (không có các tầng lớp khác – NVK) ở xứ thuộc địa xã hội này của Pháp, hướng về Mátxcơva, chưa chan hy vọng và tin tưởng. Và họ mang trong tâm trí và trên miệng họ tên tuổi Stalin vĩ đại, quen thuộc và thân yêu, cái tên vang dội như một lời hiệu triệu chiến đấu cho cuộc cách mạng, chống đế quốc và phong kiến”.

Cho dù Lê Hồng Phong tự ý hay buộc phải “lấy lòng” Quốc tế Cộng sản và Stalin, tình hình thực tiễn ở Việt Nam do phép kết luận rằng ngày 28 tháng 7 năm 1935 là ngày “khai tử, chấm hết cho quan điểm đấu tranh giai cấp kiểu phương Tây trong xã hội phương Đông, cụ thể là ở Việt Nam, trong một xứ thuộc địa đế quốc cai trị, đang tiến hành cuộc đấu tranh giành giải phóng dân tộc. (Năm 1950, trong bài “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử” đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ ở Việt Bắc, ký tên X.Y.Z, Bác Hồ viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc” (Nguyễn Văn Khoan, Đi tới mùa xuân –Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Công an Nhân dân, 2007)

Trong thời gian Mặt trận Bình dân thắng cử ở Pháp, tại Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư và ngày 30 tháng 10 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đã “thay đổi chiến sách” trên những điểm chủ yếu sau:

  1. “Hiện thời ở Đông Dương, đế quốc Pháp là kẻ thù áp bức dân tộc, bóc lột quần chúng lao động, là địch nhân chung (khác với chỉ thị Quốc tế Cộng sản đã coi “cách mạng thổ địa là hàng đầu”)
  2. Phải liên hợp các giai cấp trong toàn dân tộc… chống chế độ thuộc địa…
  3. Không những phải thâu phục đa số thợ thuyền mà còn cần phải thâu phục quảng đại quần chúng nông dân và tiểu tư sản thành thị. (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.155)

Tháng 9 năm 1937, Hội nghị mở rộng, Ban Trung ương Đảng “kiểm điểm, đánh giá sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào qua hai năm thực hiện Mặt trận dân chủ” đã phê bình “các đồng chí mắc phải bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết có đám người ấy thôi mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp khác (Văn kiện Đảng toàn tập (tập 6), NXB, Chính trị Quốc gia, 2000, tr.201-262)

Ngày 26 tháng 6 năm 1940, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, khóa này do Nguyễn Văn Cừ (Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương, họp khóa 6 vào tháng 3, năm 1938, bị thực dân Pháp bắt vào tháng 6 năm 1940, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sđd, tr.249) làm Tổng Bí thư (Trường Chinh dược cử vào Ban Chấp hành Trung ương tại hội nghị lần thứ 7, tháng 11 năm 1940) đã ra lời kêu gọi “toàn dân đứng dậy đấu tranh trong hàng ngũ mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương”. Lời kêu gọi – tuyên ngôn này ra đời sau khi đế quốc Pháp quy hàng Hitler. Trung ương Đảng coi đây là “cơ hội tốt có một không hai để đánh đổ đế quốc thuộc địa” và kêu gọi tinh thần đoàn kết rộng rãi từ các bậc thương lưu trí thức (chúng tôi nhấn mạnh vì Phạm Quỳnh là thành viên của các “bậc” này) đến các hàng viên chức, hội tề, cho đến các công, nông, binh các lớp dân chúng cần lao và các chị em phụ nữ và các giới, tất cả những ai yêu nước” (Chúng tôi nhấn mạnh vì theo lời Hồ Chí Minh: “Hễ là người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước và mỗi người yêu nước theo cách của họ chứ không phải chỉ có đảng viên cộng sản mới yêu nước hoặc cộng sản là người yêu nước hơn”)

Sau khi Nguyễn Ái Quốc về nước (đầu năm 1941), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Pác Bó (Cao Bằng) vào tháng 5 ngày 19 năm 1941 gồm có Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt… do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã bầu Trường Chinh làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định: “Cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc”. Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc (bao gồm cả sĩ, nông, công, thương, binh, các tôn giáo, dân tộc…-NVK) còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Do đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu cần có những thay đổi căn bản trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới và chỉ rõ: “Phải thống nhất lực lượng cách mạng toàn Đông Dương, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất thành mặt trận cách mạng chung”.

Để thực hiện đường lối đoàn kết rộng rãi ấy, đường lối đại đoàn kết, Hội nghị đã thành lập “Mặt trận Việt Minh” (Những sự kiện lịch sử Đảng (tập 1), NXB, Sự Thật 1975, tr.513-515). Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Nông dân phải vào Nông dân cứu quốc hội; phụ nữ vào Phụ nữ cứu quốc hội; trẻ em vào Nhi đồng cứu quốc hội; binh lính vào Binh lính cứu quốc hội; các bậc văn sĩ, phú hào vào Việt Nam cứu quốc hội (Báo Việt Nam độc lập, số 133, tháng 12 năm 1941 nguyên bản lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội).

Nhân dịp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng (Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB. Chính trị Quốc gia, 1996, tr.198)

Tháng 8 năm 1943, nhận định ràng sau thất bại nặng nề ở Stalingrát, phát xít Đức đang đứng trước nguy cơ thua trận cuối cùng, thời cơ khởi nghĩa sắp đến dần, cần phải tập trung, thống nhất lực lượng đông đảo hơn nữa, để một lần nữa nói rõ quan điểm của Việt Minh, báo Việt Nam Độc lập số 12 ra ngày 21 tháng 8 năm 1943, với khẩu hiệu “Tiến lên vũ trang khởi nghĩa” đã nhắc nhở: “Chúng ta phải nhớ rằng lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, bán buôn, người làm việc cho Tây (tức thực dân, đế quốc Pháp – NVK), người đi lính cho Tây (Bản gốc lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam) (Chúng tôi nhấn mạnh)

Như vậy là đã quá rõ ràng. Phạm Quỳnh, một nhà viết báo, viết văn, một người “vào bậc thượng lưu trí thức”, một người đã “làm việc cho Tây” cũng đã được Đảng Cộng sản Đông Dương và Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh cũng như Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1935 đưa vào diện đoàn kết – đoàn kết rộng rãi – đại đoàn kết, để cùng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai năm sau khi bài viết này công bố – bài viết mà nhiều nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử Đảng, nghiên cứu Hồ Chí Minh nghĩ rằng “chỉ có Bác, với tư cách của mình mới viết được rõ ràng như vậy”, cũng đúng vào tháng 8 – tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã tổng khởi nghĩa giành được chính quyền, giành thắng lợi to lớn, bước đầu rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất cuối cùng sẽ đến vào năm 1975.

Có thể cho phép chúng ta suy luận là khi ở khu căn cứ Việt Bắc, Khu Giải phóng, nơi đã thành lập Ủy ban nhân dân – Hồ Chí Minh đã nghĩ tới một chính phủ của nước Việt Nam mới trong tương lai gần. Và một trong những thành phần của chính phủ ấy là sự có mặt của các bậc “thượng lưu, trí thức, văn sĩ, phú hào”, cả những người “đã đi lính cho Tây, làm việc cho Tây”. Lịch sử sau này đã ghi lại một danh sách dài những vị trí đó, từ vua Bảo Đại, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, các Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, Phạm Phú Tiết… và các Bộ trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim như Phan Anh, Trịnh Đình Thảo… cùng rất nhiều trí thức tư sản khác: Lê Văn Hiến, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Phúc Thông, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, ngay cả những Tổng đốc đã một thời “đàn áp” cộng sản như Vi Văn Định…

Như vậy, công bằng mà xét, Phạm Quỳnh cũng được đứng vào hàng ngũ những người kể trên.

Nhưng không phải riêng Phạm Quỳnh mà nhiều người khác, trước tháng 8 năm 1945 đã bị quy tội là “theo Pháp”, “phản động”… “làm cho Pháp”. Đúng vậy, nhưng Phạm Quỳnh vẫn được xếp trong “danh sách” những người “làm việc cho Tây, đi lính cho Tây”, để thu hút vào Việt Minh, để đoàn kết với mọi “giai tầng” khác. Phạm Quỳnh “phản động” nhưng chưa có chứng cứ gì trực tiếp đàn áp phong trào cộng sản, làm chỉ điểm. Còn giữ chức Thương thư Bộ Lại, Bộ Học, như bài viết trước đã nói, cũng chỉ để làm vì, để lấy cớ làm việc khác mà mình ưa thích mà thôi.

Phạm Quỳnh yêu nước theo cái cách của ông làm “quân chủ lập hiến”. Ngoài ra ông viết báo, viết sách “mở tai, mở mắt” cho đồng bào, tài sản trí tuệ của ông để lại cho dân, cho nước không phải là nhỏ. Ý kiến của Phạm Quỳnh về mặt tư tưởng đã không thống nhất với các đảng viên cộng sản. Xin nhớ rằng trên báo Thanh niên, từ năm 1925, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) có căn dặn các hội viên thanh niên: “phải tôn trọng ý kiến người khác”, “phải biết hy sinh ý kiến”.

Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Phạm Quỳnh cần được làm rõ, vì tư thù cá nhân, vì “vô chính phủ”, vì e ngại khi bọn Pháp vào Thuận An hỏi về Phạm Quỳnh (trong khi chưa có chứng cứ gì là Phạm Quỳnh liên lạc với chúng (Tham khảo sách Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa, năm 1956 dạy học ở Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn: “Trường hợp Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương chức Thủ tướng) là một học giả yêu nước, nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hòa…”, tr56). Có một thực tế là những người con của Phạm Quỳnh cũng rất “ôn hòa”. 13 người con trai, gái, cô Giá thì là vợ Tôn Thất Bình, Hiệu trưởng Trường Thăng Long (nơi quy tụ những Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Quang Đạm…), cô Thức là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, chuyên gia ngành da liễu Chính phủ Cụ Hồ, cô Phạm Thị Hảo – vợ dược sĩ Phùng Ngọc Duy, cô Phạm Thị Ngoạn – vợ Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng từng là “trợ thủ” của tướng Nguyễn Sơn ở Liên khu 4 (bà Ngoạn đã đỗ tiến sĩ văn chương ở Pháp). Còn ông Phạm Khuê là Viện trưởng Viện Lão khoa, ông Phạm Tuyên là “Nhạc sĩ của nhân dân” với bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Còn phải kể đến cô Phạm Thị Hoàn, vợ nhạc sĩ Lương Ngọc Châu mà ông Châu là cháu nội cụ cử Lương Văn Can, tác giả bài hát mà các anh vệ quốc quân thường hát: “Một đi là không trở về…” Cũng có thể nghiêm khắc hay thông cảm mà nói rằng trong số hơn 10 người con của Phạm Quỳnh cũng có người vì nhiều lý do đã “hồi cư” ra nước ngoài… nhưng gia đình này đã không trực diện làm gì hại đến dân tộc, Tổ quốc. Họ đã ít nhiều nghe theo lời Hồ Chí Minh: “Nên nghĩ đến tương lai, chuyện giáo dục, chuyện cải thiện mức sống (vật chất, tinh thần) của nhân dân”. Họ đã thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng (Tư liệu của gia đình Phạm Quỳnh, trong buổi gặp với gia đình Phạm Quỳnh năm 1945). Cũng nên đối chiếu thêm trường hợp các con trai, con gái của Phạm Quỳnh mất cha, cùng chung một lần với Ngô Đình Diệm mất anh (Ngô Đình Khôi) và cháu (Ngô Đình Huân, con trai Ngô Đình Khôi). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Khi dân chúng bị ức hiếp nổi dậy, lỗi lầm không thể tránh khỏi và chuyện bị thảm đã xảy ra. Nhưng tôi vẫn luôn luôn tin rằng nhân dân sẽ vượt lên trên những lỗi lầm đó. Ông (Ngô Đình Diệm) có những điều oán hận chúng tôi, ta hãy nên quên đi”. (Stanley Karnow, Viet Nam: A History (Lịch sử Việt Nam), New York, 1991, bản dịch của Lê Xuân Khoa)

Khi được tin Phạm Quỳnh không còn nữa, có thông tin cho rằng Bác Hồ đã nói: “Các chú làm hỏng việc rồi”. “Việc” có thể là “việc” của Bác đã suy nghĩ về cách mời Phạm Quỳnh làm gì đó cho “việc” dân, “việc” nước chăng? Dù sao cũng đã lỡ rồi nhưng cũng rất cần “lịch sử đánh giá lại” Cụ Phạm như lời Hồ Chí Minh…

Tháng 5/2011

“Trả lại César những gì của César” – Đoàn Văn Cầu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 2 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1/7/1917 – 1/7/201)

“TRẢ LẠI CÉSAR NHỮNG GÌ CỦA CÉSAR”

Đoàn Văn Cầu

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là lời dẫn nhập cho tập Hành trình nhật ký gồm ba bài du ký của Phạm Quỳnh đã đăng trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, được con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn đưa in chung vào một tập, gồm các bài Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ Pháp du hành trình nhật ký, xuất bản thành sách lần đầu tại Paris, Pháp, năm 1997 (NXB Ý Việt) và in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ năm 2002 (NXB An Tiêm)

Chúng tôi cho đăng theo đúng bản in đầu, chỉ đổi đầu đề thành “Trả lại César những gì của César”, chữ mượn trong bài, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về học giả Phạm Quỳnh.

Thành thật xin lỗi tác giả vì chúng tôi chưa tìm được cách liên hệ với ông đã mạn phép đăng khi chưa được phép.

—o0o—

–          Một thời đại

–          Một cách nhìn

–          Một nỗi niềm

MƯỜI NGÀY Ở HUẾ

MỘT THÁNG Ở NAM KỲ

PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÝ

Tôi xin trân trọng giới thiệu 3 tập du ký dẫn thượng của Phạm Quỳnh tiên sinh, đã được lần lượt đăng tải trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918 đến năm 1922, nay để chung vào một ấn phẩm lấy tên là Hành trình nhật ký, do Ý Việt xuất bản tại Paris và Văn Nghệ tại Hoa Kỳ phát hành.

Thân thế và sự nghiệp của tiên sinh phổ cập từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến thôn quê, giới thức giả không ai không biết, hà tất phải rườm rà nhắc lại, mọi người đều công nhận tiên sinh là một nhà báo lỗi lạc, một học giả, văn hào, chính trị gia có tầm vóc lớn.

Tiên sinh ra đời 8 năm trước thế kỷ 20, đại thế vận hành đang chuyển mình trên mọi địa hạt, ở khắp nơi, trưởng thành trong một thời đại mang ấn dấu của nhiều biến cố phi thường:

–          Trên lãnh vực Quốc tế: cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa, cách mạng đỏ ở Nga, thế chiến thứ nhất, Nhật Bản canh tân, cao trào thực dân…

–          Trên lĩnh vực Quốc nội: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh…

Tiên sinh lìa đời trong cơn lốc của Cách Mạng Tháng Tám, khi chưa tới tuổi lão niên.

Mồ côi cha mẹ từ thửa ấu thơ, được bà nội nuôi nấng chăm sóc. Vốn bẩm sinh thông minh mẫn tiệp, lại có chí và nghị lực, mới 16 tuổi tiên sinh đã đỗ thủ khoa bằng Cao đẳng Tiểu học thời bấy giờ. Tuy vậy cái sở đắc thành đạt của tiên sinh không do trường ốc mà ở trường đời. Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, tài năng của tiên sinh được tôi luyện qua văn đàn và diễn đàn… Là người có cá tánh, có bản lãnh, giòng dõi sĩ phu, tâm tư bén nhạy, bản chất năng động, lại đứng giữa cơn xoáy của những luồng tư tưởng đối cực, nhưng nhiễu nhương thời cuộc, lẽ dĩ nhiên tiên sinh không chạy theo xu hướng thời thượng, – là an nhàn hưởng thụ, hay dùng đại ngôn hô hào cho có lệ, – mà đã tích cực dấn thân với tâm huyết và cái khí quy kết trong cái mà tôi mạo muội gọi lài “TINH THẦN PHẠM QUỲNH”.

Nói đến tinh thần là nói đến cái lòng, cái chí, cái trí, cái đức, cái dũng của một danh nhân có lý tưởng cao cả hay hành động xuất chúng. Lòng ấy là lòng yêu nước, chí ấy là trường kỳ đeo đuổi mục tiêu, trí ấy là học vấn cao thâm mà thực tiễn, đức ấy bao gồm đạo lý cá nhân và đức lý chính trị, dũng ấy là dám làm dám chịu, bất chấp nguy hiểm, thị phi.

Tinh thần ấy bàng bạc qua các trứ tác của tiên sinh, bằng Quốc văn hay Pháp ngữ, qua các buổi đăng đàn diễn thuyết, qua các cuộc mạn đàm, tiếp xúc, đối thoại, thậm chí qua những giòng văn miêu tả cảnh vật như sẽ thấy trong 3 tập du ký nói trên.

Công ơn của tiên sinh về bảo vệ Quốc ngữ, cổ xúy Quốc học, không ai có thể phủ nhận. Tiên sinh đã kịch liệt chống đối ý đồ của thực dân định lấy Pháp ngữ làm ngôn ngữ phổ thông như đã xảy ra ở một số thuộc địa khác. Tiên sinh cũng đã liên hồi đòi hỏi Việt ngữ phải có một chỗ đứng xứng đáng trong học trình…

Với quan niệm “văn dĩ tải đạo”, tiên sinh đã tuyển lựa phổ biến những giá trị Đông Tây kim cổ, kèm theo những lời khuyến cáo, kêu gọi, có khi như van lơn cầu khẩn. Luận thuyết của tiên sinh rất rõ ràng giản dị, nhưng cũng có những điều “ý tại ngôn ngoại”, phải tinh mới thấy được cái thâm ý của tiên sinh. Tiên sinh đề nghị, thúc giục, nhưng không bao giờ kích động. Điều đó, một phần do tính ôn hòa của tiên sinh, một phần do đường lối “hòa hoãn” của tiên sinh, một trong những cớ làm cho người đời có nghi vấn về thái độ và tư thế chính trị của tiên sinh.

Người ta không hiểu lập trường “bảo hoàng” của tiên sinh ở thời điểm cao trào dân chủ, không hiểu chủ trương “thỏa hiệp” trước sự lấn áp trắng trợn của đế quốc.

Phải chăng vì hư danh mà tiên sinh chấp nhận dấn thân vào hoạn lộ? – Người đời đã không hiểu lập trường chủ trương đó, đường lối xuất xử đó nằm trong “chính lược” tiên sinh đã tự vạch cho mình, sau khi đã trắc lượng thời cuộc chứ chẳng phải vị lợi, vị danh. Trong thâm tâm có lẽ tiên sinh nghĩ rằng thời đó thực dân còn quá mạnh, dân tâm còn khảng tảng, dân trí chưa cao, tình hình quốc tế chưa có gì thuận lợi cho một cuộc cách mạng bạo lực, thì đành phải chấp nhận một biện pháp “chiết trung”: dựa vào “chính thống” (nhà vua) để đòi hỏi chính quyền Bảo hộ giữ chữ TÍN, trao trả lại quyền uy công chính cho nước nhà. Muốn thể hiện điều đó thì phải có “thế” bằng cách giữ một vai trò chủ chốt trong triều đình. Đối với Pháp, nếu chưa có thời cơ để quyết liệt đối kháng thì đành ẩn nhận “đề huề”, nhưng không bao giờ sơ khoáng trong mục tiêu tối hậu là nền Độc Lập của nước nhà. “Gặp thời thế, thế thời phải thế”, tiên sinh chắc đã suy ngẫm nhiều đến chữ “thời” và chữ “tùy” của cổ nhân.

Hai tài liệu sau đây làm sáng tỏ luận cứ nói trên:

1. Bức thư riêng của tiên sinh, hồi đó là Ngự Tiền Văn Phòng Đại Nội, gửi ông Louis Marty, Giám đốc Chính Trị Vụ Phủ Toàn Quyền Đông Dương, thư đề ngày 30 tháng 12 năm 1933. (Tài liệu riêng của gia đình tiên sinh).

“…Người ta không ý thức và hiểu được rằng một người Pháp và một người Việt có thể có cảm tình với nhau, một tình thân hữu chân thành, mà không phản lại nước mình. Điều đó vượt qua tâm thức của họ.

“…Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, tất nhiên với căn bản xấu xa của nó, và một “trật tự” mới tôn trọng nhân phẩm hơn, nhưng không phải trong chốc lát mà tạo lập ra được; tôi đã sống giữa tất cả những mâu thuẫn đó, đã cố gắng hài hòa để đi đến một sự triển khai khôn ngoan, thực hiện được sự tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi đã vấp vào một bức tường “thiếu cảm thông”.

“Tôi vẫn tự an ủi bằng niềm tin chắc chắn vào nhiệm vụ cần thiết tôi đang đảm nhận. Hiện nay tôi chỉ cảm thấy “thân phận nô dịch”, nhưng rất có thể nó cũng sẽ có phần cao quý của nó.

“Đã hẳn rằng tôi có thể lánh mình trong tháp ngà, tự mãn trong đời sống yên hàn êm ấm của một đạt nhân văn gia theo nguyện vọng thiết tha của lòng tôi. Nhưng tôi nhận thấy có bổn phận phải rời bỏ tâm ý đó…Tôi trái ư? Tôi phải ư?

“Thành ra tôi đã lâm vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu như sau:

““Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tôi, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!

““Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!

“Và cái “trường hợp” của tôi làm thiên hạ khó chịu; họ tìm cách giải thích, thuyết minh đủ mọi lối, và họ vẫn không hiểu.

““Có lẽ họ chỉ có thể hiểu khi hoàn cảnh cho phép tạo dựng được một “thỏa hiệp án” giữa “chủ nghĩa quốc gia Việt Nam” và “chế độ thực dân Pháp”.

“Tôi tin rằng sự dung hòa có thể thành công được. Nhưng trong khi “thỏa hiệp án” ấy chưa được thực hiện, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương”…*

2. Bản báo cáo ngày mùng 8 tháng 1 năm 1945 của Khâm sứ Haelewyn gửi Toàn quyền Decoux (Tài liệu do thân hữu gia đình cung cấp).

““Một lần nữa, viên Thượng Thư Lại Bộ (Phạm Quỳnh) lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản… Ông (Phạm Quỳnh) đòi hỏi chúng ta, trong thời gian ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay chế độ Bảo Hộ bằng một thể chế “Thịnh Vượng Chung”, trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ. Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, Ông này là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của Ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm Ông vào một chức vị danh dự được hưởng nhiều bổng lộc. Cho đến nay, Ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài”.

Đọc qua hai tài liệu này mới rõ rằng, muốn triệt thấu “Tinh Thần Phạm Quỳnh” không thể chỉ căn cứ vào những sự kiện trước mắt, mà phải thấy được tiền ý của tiên sinh. “Thỏa hiệp, Đề huề” không phải là chiêu bài duy nhất trong sách lược của tiên sinh. Cái “bất biến” trong “Tinh Thần Phạm Quỳnh” là lòng yêu nước. Cái “vạn biến” là chủ trương đường lối tùy theo thời thế. “Anh hùng bất luận thắng bại”, tiên sinh có thể tính sai một nước cờ, nhưng tiên sinh nhất định không phải là một người phản dân hại nước.

Lý tưởng của tiên sinh là một lý tưởng cao cả. Những lời kêu gọi của tiên sinh là những lời cổ võ chính đáng.

Những truyền đạt của tiên sinh vẫn có giá trị cho đến ngày nay. Tiên sinh mất đi giữa lúc đang có hoài bão trở lại văn đàn. Sự vắng mặt của tiên sinh là một mất mát thiệt thòi lớn cho mọi người.

“Cái quan luận định”, đã đến lúc thấy rõ “nỗi niềm” của tiên sinh.

“Trả lại César những gì của César”

Đó là điều mong muốn và chờ đợi của giới thức giả chuộng Công Lý.

Viết tại Rockville, Maryland, Hoa Kỳ

Mùa xuân Đinh Sửu (1997)

Đ.V.C.

———–

(*) Trần Gia Phụng, trong Trường hợp Phạm Quỳnh, nhận xét về lá thư này như sau: “Chú ý: đây là thư của một người bạn gởi cho một người bạn, chứ không phải là báo cáo chính trị của một Thượng thư Nam Triều gởi cho viên Giám đốc Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương. Đặc biệt, bức thư này được lưu giữ trong gia đình Louis Marty, do bà quả phụ Marty gởi cho bà Phạm Thị Ngoạn (thứ nữ của Phạm Quỳnh) mượn để sao y năm 1960. Lúc đó bà Marty sống tại Cahors, Département du Lot (Vùng Massif Central)” (Chú thích số 44, trang 339 tập Giải oan lập một đàng tràng (Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, năm 2001).

Tháng Một 17, 2017

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh – Vĩnh Ba

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ  2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vĩnh Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo Vĩnh ba ở thành phố Huế đã viết bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007). Chúng tôi trân trọng trích đăng sau đây, mời các bạn đọc bài viết giàu tâm huyết và trí tuệ này.

*

* *

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Đó là câu nói hàm súc rất hay khi đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật lớn lao của tác phẩm này từ một học giả Việt Nam. Câu nói này không những bao hàm một am hiểu sâu xa, một nhìn nhận nghệ thuật về Truyện Kiều – một áng văn chương tuyệt tác có một không hai của nền văn học nước ta – mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ và rất sâu sắc. Trong câu nói đó, ta còn thấy được người phát ngôn đã đánh giá cao và đúng vai trò của văn hoá, nhất là văn học trong sự sống còn của một tộc người sống trong nền văn hoá đó. Có thể rút ra nhiều điều bổ ích nữa từ quan điểm này trong thời kì hiện nay lúc mà đang có rất nhiều lời kêu gọi giữ gìn bản sắc dân tộc trước cao trào hội nhập và toàn cầu hoá. Vì sao truyện Kiều còn thì tiếng ta còn? Vì sao tiếng ta còn thì nước ta còn? Đó là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tác giả câu nói đó chính là nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

1. Sơ lược thân thế Phạm Quỳnh

(…) Ông sinh năm 1892 tại Hà Nội nhưng quê quán làng Thượg Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm thị Ngoạn[1]..

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương tạp chí do Nguyễn văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn Lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương Tạp Chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút phần quốc ngữ: Tạp chí Nam Phong. Năm 1922 ông được chọn làm Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, nhưng qua đầu năm 1925 Phạm Quỳnh ly khai với Hội, không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa. Cũng trong năm 1922 ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức tham dự hội chợ triển lãm Marseille. Trong thời gian 3 tháng ở lại Paris ông đã diễn thuyết nhiều lần ở Nghị viện Pháp và Ban chính trị và luân lí của Viện Hàn lâm Pháp quốc. Tháng 11 năm 1932 ông vào Huế để tham chính, lãnh chức Đổng lí Ngự tiền văn phòng, Thượng thư bộ Học rồi thượng thư bộ Lại. Năm 1939, ông lại một lần nữa đi Pháp với Bảo Đại để điều đình với Chính phủ hầu mong lấy lại Bắc kỳ cho triều đình Huế. Kể từ khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời ông rút khỏi chính trường và có ý định trở lại nghiệp cũ.

Phạm Quỳnh để lại cho đời Thượng Chi văn tập, tuyển tập các bài viết rất có giá trị của một nhà báo được xếp vào lớp tiền phong của nền báo chí nước ta, và một số lượng các bài báo khác đã đăng tải trên Đông DươngNam Phong. Trong thời kì phôi thai của chữ quốc ngữ, không mấy ai có thể quên được sự đóng góp của ông và các học giả như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật,.. những người đồng thời với Phạm Quỳnh và cộng tác với ông trong tạp chí Nam Phong.

2. Phạm Quỳnh làm báo

Khi làm chủ bút báo Nam Phong từ 1917 – 1932, lúc vừa 25 tuổi, ông chủ trương thuyết lập hiến, tiếp thu văn hoá phương Tây để nâng cao dân trí và lần hồi dành lại chủ quyền tự trị đất nước dựa vào hiệp ước Patenôtre 1884 (tức là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp).

Trong bài viết “Quốc học và Chính trị” trên báo Nam Phong số 165,1921 ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy…. Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.” Nay chúng ta có một nền quốc văn không thua kém gì ai thì xét trong buổi đầu mới manh nha của chữ quốc ngữ, của nền báo chí và của văn học viết, há không trân trọng sự đóng góp của Phạm tiên sinh sao?

Về điều này, Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã nhìn nhận: “Cái công của Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ….Trong 16 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến…… Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết Cổ La-Hy, chỉ đọc Nam Phong là có thể hiểu biết được…”.[2]

Tuy nhiên, ta cũng cần biết nền quốc học đó đã được xây dựng trên quan điểm nào? Trên hoành phi còn lại hiện nay ở chùa Vạn Phước, Huế, ta còn có thể thấy thủ bút 4 chữ吐 納 歐 亞 “Thổ nạp Âu Á” của chính Phạm tiên sinh. Thổ nạp Âu Á là nhả ra những cái lạc hậu cũ và thu nhập vào những tinh hoa của văn minh phương Tây và phương Đông. Bốn chữ này có thể xem là bao quát được quan điểm của tạp chí Nam Phong, chỉ ra phương hướng xây dựng nền quốc học theo ý đồ của Phạm Quỳnh.

(…)

Chính Phạm Quỳnh đã nói đến cái bản sắc dân tộc đó trong một bài diễn văn trước mặt thực dân Pháp tức Ban lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp: “Chúng tôi là một nước có một nền văn hoá cũ, chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng có thể viết gì lên cũng được. Tức là tờ giấy có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ thuở nhỏ cho đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay kết quả chỉ làm người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hoá được Tây, hẳn thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.”[3]

Lần khác ông đã dám đứng trước Nghị Viện Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hoá Việt Nam: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một cuốn sách dầy đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hằng mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của người Pháp kia. ”[4] Quả là những lời diễn thuyết hùng hồn và sâu sắc vô cùng của một người tràn trề tình yêu đất nước trên mặt trận văn hoá.

Truyện Kiều mà Phạm Quỳnh đề cập đến trong câu nói thời danh của ông chẳng qua là một biểu tượng của nền văn hiến mấy ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, là bản sắc dân tộc quý giá mà muôn đời trước cha ông ta để lại được thể hiện qua thành tựu văn học. Nó thể hiện đỉnh cao của nền thi ca dân tộc mà thông qua đó ngôn ngữ, cách diễn đạt, tầm hiểu biết, trình độ cảm nhận của một tộc người đã bộc lộ. Rất nhiều điển cố, hình tượng văn học, thi ca ngôn ngữ Trung quốc được Việt hoá thành một vốn liếng văn hoá cho ta bên cạnh bản sắc riêng của dân tộc ta. Ta giữ được vốn liếng văn hoá tập quán đáng quý của cha ông qua yêu thích, trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu truyện Kiều thì còn tiếng nói, còn dân tộc giống nòi, đó là một lẽ tất nhiên mà ai ai cũng nhận ra. Tiếc thay vì bất đồng quan điểm chính trị khiến cuộc bút chiến truyện Kiều đã xảy ra giữa các sĩ phu yêu nước thời đó. Bình tâm mà xét, ta thấy rằng Phạm tiên sinh rõ ràng muốn xây dựng và phát triển một nền quốc học dựa trên bản sắc tốt đẹp của dân tộc và có tiếp thu tiến bộ của cộng đồng nhân loại. Điều quan trọng hơn như ta đã thấy qua một số trích dẫn trên rằng cái mục tiêu cuối cùng Phạm Quỳnh muốn nhắm đến là một nền độc lập chính trị cho một quốc gia có dân trí.

3. Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí với hơn 210 số, mỗi số hơn 100 trang là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ. Tạp chí Nam Phong mỗi tháng xuất bản một kỳ, giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh Ấn Quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội.[5] Phạm Quỳnh đã nói rõ ý đồ của ông khi nhận làm Nam Phong như sau:

Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…”[6] (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Theo nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, tập III tr. 129 thì đối với Phạm Quỳnh, việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ từ ngày viết trên Đông Dương tạp chí, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa một nền học thuật mới thay thế cho Hán học suy tàn. Luôn thể Phạm Quỳnh muốn dần dà gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Ngày nay Thượng Chi văn tậpDu Ký Việt Nam, Luận giải Văn học Triết học,vv… đã được tái bản có thể giúp ta thấy được sự nghiệp to tát của Nam Phong tạp chí. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đã phần nào thực hiện được cái tôn chỉ mà tờ báo đã đề ra: xây dựng một nền quốc văn khá vững vàng mang bản sắc dân tộc. Trong Tự điển Văn Học Việt Nam (NXB Văn Hoá – Thông in, Hà Nội, 1993) Phạm Quỳnh lại có tên bên cạnh các tác giả khác. Điều đó cho thấy nay ông đã được công nhận trở lại là một nhà văn hoá Việt Nam.

Phạm Quỳnh cũng như bao nhà yêu nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 đều biết rằng dân trí của ta đương thời còn lạc hậu. Nền Hán học đã bộc lộ sự bất lực của mình trước nền văn minh kĩ thuật phương Tây ngày càng tiến bộ. Ngay cả ở Trung quốc các chí sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… đều từ bỏ chế độ phong kiến quân chủ để tìm đến các lí tưởng nhân quyền, dân chủ và tự do mà các triết gia phương tây như Montesquieu, Voltaire, J.Rousseau,… đề xướng. Nhưng để tiếp thu được các tư tưởng tiến bộ phương Tây và bảo thủ được cái quốc hồn quốc tuý thì không thể không xây dựng một vốn liếng ngôn ngữ Việt Nam nhằm diễn đạt các tư tưởng mới mẻ đó. Quả nhiên trong lãnh vực này Nam Phong đã đóng một vai trò quan trọng. Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đã nhận xét: “Ông là người đã chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hoá Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hoá được.”[7]

Có thể nói Phạm Quỳnh đã tiếp nối con đường được mở ra trước đó của Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông cùng quan điểm với cụ Phan Tây Hồ khi chọn con đường nâng cao dân trí, khai hoá cho đồng bào và đấu tranh bất bạo động. Trước khi rời Nhật Bản về nước, Phan Chu Trinh đã tâm sự với các đồng chí trong phong trào Duy Tân: “Tôi có định kiến rồi, công việc chúng ta làm ngày nay chỉ nên chú trọng vào việc khai hoá cho đồng bào mình, tiến được bước nào chắc bước ấy, mới mong có hi vọng về sau. Còn như chủ nghĩa muốn làm mau, muốn lấy võ lực mà bạo động trong nước hay là sức người để nối quân cách mệnh, việc ấy tất nhiên phải thất bại, tiếp đến dân bị khủng bố, nhuệ khí bị nhụt đi. Không có ích gì, tôi không tán thành cái chủ trương ấy[8]

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong VNVHSGƯTB đã tóm tắt sự nghiệp văn hoá của Phạm Thượng Chi tiên sinh như sau: (…)

– Ông đã đấu tranh cho câu văn quốc ngữ. (Học tiếng Việt, viết văn quốc ngữ, luyện văn xuôi, văn nghị luận, dùng Hán Việt âm,…)

– Ông đã khởi công xây dựng một nền học mới. (Học tập thâu thái Tây Phương, soạn Tự điển, phiên dịch sách vở nước ngoài,..)

– Ông đã cùng giúp cho văn nghệ tiến bộ. ( Mở ra các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… còn giá trị đến ngày nay,..)

– Ông đã lập được một tạp chí có giá trị: Nam Phong tạp chí. Theo nhà phê bình Thiếu Sơn “nhiều người không biết văn Tây văn Tàu có thể chỉ nhờ đọc Nam Phong mà có được cái trí thức phổ thông về văn chương và học thuật Đông Tây”. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đó là một “bách khoa toàn thư” (Sđd tr.244-247).

Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, thế hệ 1932 đã viết “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 –1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hoá thế hệ 1913 –1932. Câu nói trên đây quả không phải là quá đáng. Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919- V.B) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đêm đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 –1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. Nói như vậy để các bạn ghi nhận thế giá và uy tín của Nam Phong nó to tát đến như thế nào.Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.” (Sđd tr.16-17). Dẫu đây là một ý kiến có phần chủ quan nhưng Thanh Lãng cũng đã cho ta thấy được sự đóng góp có một không hai trong thời kì đầu của công cuộc phát triển nền quốc văn nước ta.

Quả nhiên, Phạm Quỳnh đã thực hiện được ước nguyện của mình với Nam Phong tạp chí. Ông đã tập hợp được một số trí thức tân học và cựu học để xây dựng một nền quốc học, tạo được một cao trào nâng cao dân trí sôi nổi, gây được một thế lực dân tộc khá mạnh. Ta không nên hiểu những thành tựu của Nam Phong tạp chí là của riêng Phạm Quỳnh mà là dưới sự dẫn dắt lèo lái tài ba của ông. Một lớp thanh niên đông đảo đã hưởng được ơn ích từ sự mở mang từ kiến thức đến tinh thần qua đọc báo Nam Phong, làm cơ sở cho phát triển nền văn chương học thuật sau này. Để hiểu rõ hơn đóng góp của tạp chí Nam Phong trong thời kì văn học này đòi hỏi một công trình nghiên cứu nghiêm túc và dày công, điều đó ở ngoài nội dung của bài viết này.

4. Phạm Quỳnh tham chính

Khi Phạm Quỳnh được ra chấp chính với chức vụ Đổng lý Ngự Tiền Văn Phòng, rồi Thượng Thư bộ Học tháng 11 năm 1932, trong dân chúng truyền tụng câu vè: “Giấc Nam Kha khéo bất bình / Bừng con mắt dậy thấy mình Thượng Thư.” Quả là oái oăm cho một học giả rất nghiêm túc như ông. Có phải vì tham chức quyền mà ông rời bỏ sự nghiệp văn học của mình chăng?

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước. Vị vua Tây học này đã thực hiện ý đồ tân hoá và trẻ hoá đội ngũ bằng cách thay 6 vị lão thần thượng thư của Cơ Mật Viện bằng những người trẻ tuổi “Âu Á kiêm thông” trong đó có hai gương mặt sáng giá là Phạm Quỳnh (bộ Học) và Ngô Đình Diệm (bộ Lại). Dân gian nhắc nhở sự kiện này qua bài thơ châm biếm: Năm cụ khi không rớt cái ình / Đất bằng sấm dậy xứ Thần Kinh. Tuy nhiên sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh không phải là điều khiến ông được nhắc nhiều về sau.

Hiện nay đã có những đánh giá rất sâu sắc về những đóng góp của Phạm Quỳnh về mặt văn hoá. Còn về chính trị thì ta nên tham khảo ý kiến cách đây hơn 60 năm của Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn. Viên quan thầy người Pháp này đã không nhầm khi viết trong báo cáo ngày 08.01.1945 cho Toàn Quyền Decoux và Tổng đại diện Mordant về Phạm Quỳnh:

Viên Thượng Thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của mình.

Một lần nữa, vị Thượng Thư bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng Thư bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà Vua những biểu hiện của một chủ quyền trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh còn doạ sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với vua Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vụ chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.

Tôi lưu ý Ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyến nổi của nền độc lập Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho đến nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản.”(Chúng tôi nhấn mạnh – PT) [9]

Hoá ra việc viết văn làm báo rồi làm chính trị của Phạm Quỳnh đều phát xuất từ một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc vì một nền văn hoá nước nhà, vì một nền độc lập chính trị cho Tổ Quốc. Để hiểu hơn nữa việc Phạm Quỳnh tham gia chính trị thì có lẽ ta tin được một người đương thời với ông: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Trong Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học, Hà Nội, 1971) Nguyễn công Hoan đã viết:

Khi viết truyện Kép Tư Bền tôi liên tưởng tới bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm chính là trường hợp Phạm Quỳnh! … Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, ông được cấp 600 đồng mỗi tháng. Món tiền này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng, trái với ý mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm.

Bi kịch của Phạm Quỳnh là ở đây. Ông đã đem cái hồn nhiên của một người làm công tác văn học vào sân khấu chính trị, ôm cái ảo tưởng chân lí sẽ thắng cường quyền, tin vào việc đấu bằng nghị trường, bất bạo động sẽ giành được chủ quyền cho Tổ quốc Việt Nam mến yêu của ông. Ông đã quá thơ ngây khi trích dẫn ngay trên bìa báo Nam Phong lời của Roosevelt: Có ngang tầm với nhau mới có chuyện bình đẳng (Il n’y a que ceux qui sont des égeaux sont égeaux) và tuyên bố với Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà nội ngày 06.11.1931 dưới hình thức một bức thư ngõ rằng “chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu. Tổ quốc ấy, thưa Ngài Tổng trưởng, không thể nào là nước Pháp được”[10]. Chính trị không giản dị như thế. Phạm Quỳnh biết mình lầm, ông đã rất tiếc cho lòng tin của ông vào nước Pháp văn minh trí thức với lí tưởng công bằng, tự do và bác ái.

5. Phong cách Phạm Quỳnh

Sau khi đã hiểu được tâm tình của Phạm Quỳnh, ta nên tìm hiểu một chút về nhân cách của ông. Ông sống rất giản dị, không nặng nề phô trương hình thức và thế lực như Nguyễn Văn Vĩnh. Phạm Thế Ngũ trong sách đã dẫn có trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ Nữ Tân Văn ngày 18.06.1931 và ngày 16.07.1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, cho ta thấy rõ ràng sự tương phản nói trên. Về Phạm Quỳnh thì “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi toà soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh……. Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự cao mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”, còn về ông Nguyễn Văn Vĩnh thì “Tầng trên lầu là toà soạn báo Trung Bắc Tân Văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”[11]

Tương truyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trước một lò trầm và mặc khăn đen áo dài như đang cử hành một nghi lễ. Quốc phục khăn đen áo dài luôn luôn được ông mặc, nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc nước nhà của Phạm tiên sinh. Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làm cho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi. Có người cho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất là với một thanh niên Tây học ta mới thấy quí một nếp nhà còn được gìn giữ và tự hào. Điều nhắc nhở chúng ta là mới đây trong hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo lớn của thế giới như Nga, Mỹ , Trung Quốc, Pháp,.. đã hân hạnh được tặng và mặc bộ quốc phục như trên.

Khi mới hai mươi mấy tuổi đầu, ông đã tập hợp được những người lớn tuổi cùng cộng tác. Chính ông đồ Nguyễn bá Học đã công khai khâm phục tài năng của người trai trẻ này qua câu nói “Bách tuế lão ô bất như sơ sinh phượng hoàng” (Con quạ già 100 tuổi cũng không bằng con phượng hoàng mới sinh). Khi khăn đen áo dài diễn thuyết trước Quốc Hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hoá của Việt Nam, Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhưng đã làm trí thức Pháp kinh sợ với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nước nồng nàn hơn các trí thức Việt Nam Tây học khác tại Pháp có bằng cấp cao hơn nhiều. Giải thích việc tránh cuộc bút chiến về truyện Kiều với ông đồ Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh đã nói, “Bất luận tài học ông Nghè Ngô như thế nào, ông có điều hơn đứt tôi là ông đã vì nước mà phải tù tội… Nếu thành ra một cuộc cãi lộn thì tất phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ, ông mục cho tôi là văn sĩ lóp lép thì tôi nể gì ông mà không tặng ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá còn ra sự thể gì.”[12]

Không thích ông phải kể đến nhóm Phong Hoá. Họ đã làm vè như sau: Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai là sừ Uỳnh / Một sừ béo núng rung rinh / Một sừ lểu dểu như hình cò hương / Không vốn liếng chẳng ruộng nương / Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu… (Báo Phong Hoá số 14 ngày 22.07.1932). Phê bình một học giả từng diễn thuyết trước Nghị viện Pháp bằng thơ vè như thế chỉ làm tăng thêm thế giá của Phạm Quỳnh.

Một người nữa không mấy thích Phạm Quỳnh là Đổng lí Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hoè. Khi vua Bảo Đại sai ông soạn đạo dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách nói chung thì ông Hoè lại thảo tờ Chỉ (thấp thua 2 cấp: Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Lại bộ Thượng thư Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên. Phạm Khắc Hoè viết: “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14.03.1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua bộ Lại nói chuyện.”[13] Thâm nho như Phạm Quỳnh mà lại xử sự như thế thật là quá mã thượng.

Xét về hai mặt đức tài, Phạm Quỳnh đúng là một sĩ phu có thực học và công phu hàm dưỡng dẫu rằng ông thường tự khiêm tốn gọi mình là “một anh đồ nhà quê”. ( un lettré compagnard)

6. Nơi an nghỉ cuối cùng của Phạm Thượng Chi

Phạm Quỳnh mất năm 1945 khi mới 53 tuổi lúc đang mang trong lòng bao hoài vọng cống hiến cho nền văn hoá nước nhà sau khi rút khỏi vũ đài chính trị. Ông sống ở Huế khá lâu, 13 năm và cũng gởi nắm xương tàn trên đất Huế, chùa Vạn Phước.

Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) và bên hông phải của chùa Từ Đàm. Sinh tiền, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này lúc thư nhàn để đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hoà thượng trụ trì chùa lúc ấy. Chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông cũng rất thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn Phật giáo lược khảo. Âu cũng là một thiện duyên mà giờ đây giác linh Phạm Tiên sinh còn nghe được tiếng chuông và lời kinh của đấng Từ Phụ. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ biểu ở cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương câu nói lừng danh của ông “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Ở bình phong tiền có câu “Tiếng ta con, nước ta còn” viết bằng chữ Quốc ngữ. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (南 風 主 筆 范 瓊 尚 之 遺體 – Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi), bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật (乙 未 年 十 二 月 十 八 日 – Ngày 18.12. năm Ất Mùi, 1956) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa thiên-Huế vào Huế (có tư liệu nói ông được đem vào từ rừng Hắc Thú, Quảng Trị). Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (男 范 璧 仝 弟 妹 等 恭 誌 – Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi). Trong chùa Vạn Phước cũng còn nhiều di vật của ông. Ở nhà học của tăng sinh là hoành phi có câu Thổ nạp Âu Á, thủ bút của ông. Có tư liệu cho rằng hiện có một hoành phi tương tự tại nhà của người con trai ông là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong hiên của điện thờ chính chùa Vạn Phước về phía trái khi đi vào còn có bức ảnh lớn hình Phạm tiên sinh đang làm việc tại văn phòng.

Biệt thự Hoa Đường thuộc đường Hải Triều (xưa là đường Vạn Vạn) nhìn ra sông An Cựu. Ngày xưa đây là một ngôi nhà 2 tầng xây theo kiểu Tây mà bây giờ chỉ còn lại cái tháp nước bên hông nhà trơ gan cùng tuế nguyệt. Cả khuôn viên đã bị lấn chiếm bởi những người không bà con gì với Phạm Quỳnh. Tất cả là những căn nhà tôn lụp xụp hoặc nhà trệt thấp, nhỏ như một xóm lao động nghèo khó. Khó ai có thể tưởng tượng được đây từng là một biệt thự xinh đẹp của một quan đầu triều ngày nào.

Dâu bể đã đổi thay nhưng lòng ngưỡng mộ Phạm Thượng Chi tiên sinh vẫn còn mãi trong lòng bao nhân sĩ Việt Nam.

Tháng 05/2007.

V.B.


[1] Bà là con thứ 6 của Phạm Quỳnh và là vợ của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng là chủ bút Nam Phong ở giai đoạn cuối 1933-1934. Ông Lãng về sau đã theo tướng Nguyễn Sơn và tiếp tục các hoạt động văn hóa. Bà còn có bút hiệu là Liên Trang, đã từng viết một luận án tiến sĩ văn chương về những đóng góp của Nam Phong tạp chí trong buổi đầu của nền quốc học Việt Nam.

[2] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập 4, NXB Hội Nhà văn, trang: 134-136.

[3] Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ Tư, 19/7/1922.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư, tập III, trang 149.

[5] Theo nhà báo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 5/11/2005

[6] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 129.

[7] Vũ Ngọc Phan, sđd, trang 98

[8] Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1968.

[9] Theo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 12/11/2005.

[10] Báo Nam Phong số 166, Octobre 1931, phần phụ lục tiếng Pháp.

[11] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[12] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[13] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 154.

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917-1.7.2017)

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tháng Một 16, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Chúc mừng năm mới Đinh Dậu

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:19 chiều

chuc-mung-nam-moi-dinh-dau

Tháng Một 1, 2017

Tọa đàm về Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong ở Hải Dương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

 Toạ đàm về

Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

ở Hải Dương

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi Blog PhamTon tuần 1 tháng 7/2010 đăng tin về cuộc tọa đàm về học giả Phạm Quỳnh tại Hải Dương theo bản tin trên báo Tiền Phong cuối tuần sô 25, bạn Khúc Hà Linh ở Hải Dương lại vừa gửi cho chúng tôi bài tường thuật tỉ mỉ về cuộc tọa đàm trên. Chúng tôi xin trích đăng để các bạn cùng đọc.

*

*  *

Quê Phạm Quỳnh là làng Hoa Đường( bây giờ là Lương Ngọc) xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, một vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Đây là đất đãi ngoại, chỉ thành đạt khi đi ra ngoài, thành ra đã có bao nhiêu những bậc văn nhân, trí thức tìm về Hà thành lập nghiệp. Cụ tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh cũng trong số đó. Cụ ra Hà Nội làm ăn rồi sinh Phạm Quỳnh tại nhà số 1 Hàng Trống. Chẳng ai ngờ mấy chục năm sau, người con trở thành chủ bút báo Nam Phong, một tạp chí đã gây dấu ấn trong làng báo làng văn nước Việt từ đầu thế kỷ trước.

Trải bao nhiêu biến cố thăng trầm, tháng 6 năm nay, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam 21-6-2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến tổ chức một cuộc tọa đàm về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”, như để tri ân người có công trong làng baó chí một thời…

Trong phòng họp trang trọng có tấm phông nổi lên các hàng chữ “Toạ đàm về Học giả Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong” với bức chân dung nhà báo Phạm Quỳnh, vận quốc phục, khăn đóng, phía sau là chữ Hiếu. Không gian cuộc tọa đàm đã tạo không khí nghiêm trang trước một nhân vật lich sử sống cách chúng ta chưa đến bẩy chục năm.

Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở trung ương và địa phương. Như: giáo sư Văn Tạo- nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư Huệ Chi; giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của 2 Nhà xuất bản Lao ĐộngThanh Niên ở Hà Nội về dự.

Ở địa phương, có các đồng chí lãnh đạo báo Hải Dương, Đài phát thanh truyền hình, Hội Nhà Báo,   Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hoá thể thao- Du lịch tỉnh và các nhà báo trong tỉnh.

Bí thư  huyện uỷ Bình Giang, Chủ tịch xã Thúc Kháng,  quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh,  và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc toạ đàm làm cho không khí càng thêm thân mật

Sau lời phát biểu khai mạc của bà Đặng Thị Bích Liên, uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giáo sư Văn Tạo phát biểu có tính cách đề dẫn.

Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú tiếp lời, ông rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông  có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nạp Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của (Âu) vào Việt Nam và phô bầy những giá trị tốt đẹp của (Á )với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hoá như bây giờ ta thường nói.

Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh sinh viên và xã hội …Nhạc sĩ Phạm Tuyên tỏ ra rất cảm động trước cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý.

Với 15 lượt phát biểu ý kiến của đại biểu các cơ quan trung ương và địa phương, của các vị giáo sư, nhà sử học, nhà báo nhà văn, nhà nghiên cứu và lời giới thiệu cuốn sách mới xuất bản Phạm Quỳnh, con người và thời gian của chính tác giả Khúc Hà Linh, cuộc tọa đàm đã toát lên một điều: Trong sự nghiệp báo chí nước nhà, những năm 1917 đến 1932, tạp chí Nam Phong xứng đáng được tôn vinh, và Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút đã rất có công trong việc chuyển tải văn hoá phương tây vào Việt Nam và tiếp thu những giá trị văn hoá để hội nhập làm cho ngôn ngữ nước nhà càng phong phú mà không làm mất đi vẻ đẹp của tiếng Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh yêu nước trong điều kiện của ông, với cách suy nghĩ của ông. Ông muốn tài bồi một nền quốc văn quốc học theo phương pháp lấy cái tốt đẹp của phương tây, để bổ sung vào cái tốt đẹp của phương đông, cụ thể là Việt Nam

Kết luận cuộc Toạ đàm, nhà báo Nguyễn Thanh Cải, tỉnh uỷ viên, giám đốc Đài Phát thanh truyền hình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Hải Dương, cho rằng qua bẩy chục năm, đủ để kiểm chứng, nhận định về một con người và sự nghiệp, với những trước tác khá đồ sộ để lại cho đời sau. Ông cũng cho rằng, tuy còn những ý kiến quan điểm khác nhau, nhưng tất thảy  các nhà khoa học, các nhà sử học nhà nghiên cứu đều trân trọng Phạm Quỳnh với những gì ông đã cống hiến cho đất nước. Đó là một văn sĩ tài danh, nhà báo có hạng, một con người có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tôn vinh tiếng mẹ đẻ, trân trọng Truyện Kiều, con người đã có công tích cực trong  canh tân văn hoá làm sống lại hồn nước. Nhà báo Nguyễn Thanh Cải  sẽ báo cáo với lãnh đạo tỉnh tiếp tục nghiên cứu và đề xuất có những hình thức kỉ niệm tương xứng với học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong, coi đó là sự tri ân của các thế hệ làm báo của tỉnh với học giả, nhà văn nhà báo Phạm Quỳnh- một người con của quê hương Hải Dương.

K.H.L

1913: Nam Phong; 1932: Phong Hoa, Ngày Nay; 1945: Cờ Giải Phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

1913: NAM PHONG ; 1932: PHONG HÓA, NGÀY NAY; 1945: CỜ GIẢI PHÓNG

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 5/8/2014 đưa tin:

Xét đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Bảo tàng Báo chí Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam quản lý, sẽ lưu giữ, phát huy giá trị của di sản báo chí Việt Nam; là nơi ghi nhận, tôn vinh sự đóng góp của báo chí và các nhà báo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Báo chí Việt Nam cũng là nơi để người dân, các nhà khoa học, các nhà báo trong nước và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ văn hóa, điểm tham quan, du lịch. Dự kiến, Bảo tàng Báo chí Việt Nam sẽ khánh thành vào năm 2015 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2015).”

Nhân dịp này, chúng tôi mời quí bạn đọc tư liệu sau mà ít người biết vì ít được nhắc tới: Đó là tư liệu được nhà báo nổi tiếng Thép Mới công bố trong hai ấn phẩm.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nthep-moi2hân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm 1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

  1. Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

Noi san Nhan Dan hoc anh truong chinh lam bao Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

(…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân VSong dong su nghiep bao chiiệt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí-P2: Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 2: NAM PHONG TẠP CHÍ

1.      Gốc gác và trường hợp ra đời

“Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy có tấm bảng đề hai chữ Nam Phong làm bằng Hán tự, đó tức là nơi toà soạn của báo Nam Phong, còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức là nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh. Nam Phong mỗi tháng có một kỳ, hèn chi trong toà soạn không có cái vẻ đông người nhộn nhịp như ở các báo khác. Qua lớp nhà dưới lên trên lầu mới là nơi làm việc của Phạm tiên sinh. Buổi chúng tôi lại thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện với chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài bốn chục, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Tiện đây để bổ túc chương trên và cũng để thấy rõ sự tương phản giữa hai người, biểu hiện cho hai khuynh hướng của thời đại, chúng tôi cống hiến bạn đọc một đoạn về Nguyễn Văn Vĩnh cũng dưới con mắt của phóng viên Đào Hùng trong một số báo Phụ Nữ Tân Văn kế sau (16/7/1931).

“Ở giữa thành phố Hà Nội, mặt tiền trông ra hồ Hoàn Kiếm, một toà nhà lầu đứng nghênh ngang như có ý phô bày trước con mắt muôn người qua lại cái vẻ lớn lao hùng vĩ. Trên các khung cửa đều có gắn những chữ bằng đồng chói lọi như Trung Bắc Tân Văn, Học báo, Âu Tây tư tưởng, Niên lịch thông thư v.v… Từng dưới là cửa hàng bán sách vở, liếc mắt ngó qua thì thấy nào là Ba người ngự lâm pháp thủ, Những kẻ khốn nạn, nào là Nho giáo, Kim Vân Kiều, và các sách dịch về Âu Tây tư tưởng.

“Tầng trên lầu là toà soạn Trung Bắc Tân Văn, Học báo L’Annam nouveau (Nước An Nam mới – PT chú) người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người, khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm, vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ, và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường. “Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thơ từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh sáng suốt, cử chỉ tự nhiên nói cười vui vẻ…”)

Trên đây là những hàng mở đầu một bài của ông Đào Hùng trong báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn (18/6/1931), khi lần đầu ra Bắc tìm viếng báo Nam Phong. Bài phỏng vấn này đặc biệt cho ta hay gốc gác và trường hợp ra đời của tờ báo, qua lời của chính chủ nhân như sau:

“Tạp chí Nam Phong ra đời 1917 nhưng thật ra thì đã có lâu và không phải tôi đứng tên sáng lập. Lúc trước nó là một bộ Âu Châu chiến sử xuất bản hồi Âu chiến, viết bằng chữ Hán, chủ tâm chỉ viết cho người Tầu bên Trung Hoa đọc thôi. Nguyên hồi dó chính phủ Đông Pháp thấy ở bên Thanh Đảo người Đức làm báo chữ Tầu in hàng muôn số phát không cho dân chúng, chuyên nói về chiến tranh và tán dương nước Đức Chính phủ Đông Pháp cũng lo cái thế lực của người Đức ở bên Tầu mỗi ngày một lớn bèn vời tôi lên phủ Toàn quyền, bảo tôi cùng ông Nguyễn Bá Trác làm một tờ báo chữ Nho lấy các tin tức của sở điện tín Arip, nói rộng chuyện chiến tranh, viết bài kể từ nguyên nhân gốc rễ cuộc Âu chiến, tuyên bố hết những việc tàn khốc dã man của người Đức. Các bài thì ký tên người Tàu và báo cũng in ra hàng muôn số rồi đem sang Trung Quốc phát không, để làm cách chống lại cuộc tuyên truyền của bên địch và đánh đổ thế lực của Đức ở Viễn Đông. Vậy trong mấy năm, tờ Âu Châu chiến sử chỉ là một tờ báo chữ Hán và không có lưu hành trong xứ Đông Dương. Đến năm 1917 thì phủ Toàn quyền mới bàn với tôi rằng sẵn có các tin tức và bài vở đó thì nên mở ra một bản quốc văn để làm một cái cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện và cùng với bạn đồng nghiệp Đông Dương tạp chí là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc…”

Những lời thuật trên có thể coi như đã nói lên tất cả sự thật về mầm mống tờ Nam Phong, nếu ta thêm vào vai trò cốt yếu một nhân vật người Pháp, Louis Marty (Trưởng phòng Chính trị Đông Dương) người cầm đầu tất cả công việc nói trên tại phủ Toàn quyền.

2.      Mục đích

Vậy tờ báo do chính nhà cầm quyền Pháp lập ra với một mục đích chính trị rõ rệt, hơn nữa một mục đích chính trị cấp thời, phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận chiến bấy giờ. Do đó ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở trang đầu ngay trên hai chữ lớn NAM PHONG, mấy hàng chữ Pháp nhỏ “L’information Française: La France devant le monde –Son rôle dans la guerre des nations” (Thông tin Pháp: Nước Pháp trước thế giới – Vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh các nước – PT chú). Thấy ở bìa sau tờ báo một hình vẽ mà người ta đã giải thích là “Rồng Nam phun lửa (Theo chúng tôi là phun bạc – PT chú) diệt Đức tặc”. Thấy ở bên trong, những bài tin tức hoặc bình luận về chiến tranh rất dồi dào nhất là ở phần Hán văn. Thấy ngay ở vài bài quốc văn, một giọng tuyên truyền tán tụng quá hăng, như dưới ngòi bút của Tuyết Huy: “Vái trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc”. (Số 2)

Ngoài mục đích cấp thời ấy tất nhiên Marty cũng còn nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem những cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng và dưới khẩu hiệu “khai hoá”, gây một cơ sở vững chắc là cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ, tức cũng là cái mục đích của tờ Đông Dương tạp chí khi trước.

Còn về phía người Việt khi đứng ra biên tập tờ báo, phải chăng họ chỉ có biết phục vụ chủ trương ấy. Ở dây có lẽ cũng cần điểm qua các cá nhân. Ở mấy số đầu ta thường thấy một giọng tán tụng đôi khi quá trắng trợn dưới ngòi bút của Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác. Ta không nên quên, hai ông đó đều là những người “đới tội lập công”. Tuyết Huy thì sau vụ Duy Tân đi Côn Đảo dược ân xá trở về. Tiêu Đẩu thì xuất ngoại bất hợp pháp, lang thang bên Tàu bên Xiêm, trở về đem ngòi bút ký giả Hán văn đến đầu quân Marty. Riêng với Phạm Quỳnh, trở lại bài phỏng vấn của Đào Hùng, ông có tuyên bố chủ ý của ông khi làm tờ báo như sau: “Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chứ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan để bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” (Lời này trong ẩn ý Phạm Quỳnh phải hiểu rành rọt và nôm na ra là: “Tờ báo không phải tôi cầu cạnh, chạy chọt mà có –như lắm kẻ chạy chọt để được Tây cho một cái manchetle (Tên báo – PT chú) – chẳng qua Tây thấy tôi có tài, nên vời tôi, muốn DÙNG tôi cho mục đích của họ – mà tôi ưng nhận là vì thấy có thể LỢI DỤNG để làm việc cho cái mục đích của tôi”

Cái việc LỢI DỤNG nhau này, thật ra rất tế nhị. Ở ngoài không dễ nhìn ra. Mà bên trong cũng không luôn luôn suông sẻ. Nhất là đối với một đối phương tầm cỡ như Marty. Thanh Lãng cho rằng đem cái sứ mạng khai hoá nhân đạo của Đại Pháp – cũng như cái tiêu ngữ Tự do – Bình đẳng – Bác ái ra mà cực lực tán dương (ngay ở số đầu) chính là cách chửi xỏ, nói móc bọn thực dân ngồi đó – Chẳng biết có phải do đề xuất của Marty không mà về sau báo luôn luôn nêu ra bìa ngoài câu châm ngôn: “Có đồng đẳng mới bình đẳng” (Íl n’y a d’égaux qu’entre semblables). Nghĩa là phải đạt trình độ như người mới nên đòi hỏi bình đẳng với người. Nam Phong không phải không có những bài làm cho vài người Tây tức giận, cho là bài Pháp, lên tiếng đả kích trên báo L’avenir du Tonkin (Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú), sau đó Phạm Quỳnh đã phải hết sức biện bạch, vuốt ve.)

Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn. Điều đó ông có nói rõ trong “Nhời nói đầu” số Nam Phong ra mắt. Sau nữa cũng cần thêm vào một mục đích thầm kín khác mà mới đầu người chủ trương Nam Phong không dám nói lên nhưng dần dà ông đã hướng tới là gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Tất nhiên làm ba công việc trên là với sự công nhận, sự thoả hiệp hoặc sự trục lợi của người Pháp nữa – là điều ta sẽ có dịp xét sau – song cũng hiển nhiên đó là ba mục tiêu mà Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã đặt ra và để công thực hiện.

P.T.N.

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí: P1_ Lược thuật thân thế Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 1: LƯỢC THUẬT THÂN THẾ PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh bút hiệu Thượng Chi hoặc Hồng Nhân hoặc Hoa Đường nữa, nguyên quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1892, vào học trường Bảo Hộ (tức trường Thông ngôn cũ) Hà Nội. Năm 1908, ông thi ra đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học rồi vào làm tại Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Học Viện (École Française d’Êxtrême-Orient). Thời gian này đã rất bổ ích cho ông để đọc sách và học thêm chữ Hán. Có thể nói cái căn bản học giả nơi ông về sau này là được định hướng và gây dựng trong thời kỳ ấy.

  • Tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh ra năm 1913, ông có trợ bút, viết những bài dịch thuật văn học và tư tưởng, đó là bước đầu trong nghề văn. Rồi năm 1917 với sự bảo trợ của Louis Marty, Trưởng phòng Chính trị tại phủ Toàn quyền, ông cho ra tờ Nam Phong. Ông là chủ bút, chuyên viết mục luận thuyết và dịch văn chương Pháp. Năm 1922, ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện hội Khai Trí Tiến Đức, dự cuộc hội chợ triển lãm Marseille. Ông ghé Marseille rồi lên Paris, ở lại ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả trước ban chính trị và luân lý của Hàn Lâm viện. Giới thuộc địa và báo chí Pháp bắt đầu chú ý đến Phạm Quỳnh. Khi về nước, ông nghiễm nhiên trở thành nhân sĩ số một đất Bắc, nổi danh về cây bút ký giả và học giả. Làm chủ bút Nam Phong, lại làm Tổng thư ký hội Khai Trí Tiến Đức, ông cổ xuý cho việc gây dựng một nền văn học quốc gia, tranh đấu đòi người Pháp thiết lập bậc Tiểu học Việt Nam. Từ năm 1925, ông được cử làm giảng sư về khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao Đẳng Hà Nội. Năm 1929 ông được cử vào Đại hội nghị Kinh tài Đông Dương (cùng với Nguyễn Văn Vĩnh). Khoảng 1930, trước phong trào nổi dậy và đòi hỏi của dân Việt Nam ngày thêm gay gắt, người Pháp dự tính thay đổi chế độ cai trị của họ. Phạm Quỳnh xướng lên thuyết lập hiến chủ trương phải quy định rõ ràng bằng hiến pháp, quyền của dân, của vua quan và của Bảo hộ. Năm 1932, để thoả mãn phần nào những khát vọng của dân ta, người Pháp đem Bảo Đại 20 tuổi về nước, nói là để mở một kỷ nguyên quân chủ văn minh mới. Tháng 11 năm ấy Phạm Quỳnh được mời vào Huế lãnh chức Thượng thư sung Ngự Tiền văn phòng Đổng lý.
  • Bảo Đại lập nội các, cử Phạm Quỳnh làm Tổng lý kiêm Thượng thư Bộ Giáo Dục và toan thi hành những cải cách lớn. Nhưng công việc không đưa tới kết quả nào. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn làm quan ở Huế cho tới 1939 lại cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả Bắc kỳ lại cho triều đình Huế (theo đúng hiệp ước 1884). Cuộc vận động chưa xong thì đại chiến bùng nổ. Pháp thua Đức ở Âu châu nhường cho Nhật Bản đổ bộ vào Đông Dương. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại mời Trần Trọng Kim lập chính phủ thân Nhật.

Phạm Quỳnh mất sau ngày Cách mạng tháng 8

P.T.N.

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.