Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 12, 2018

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:03 sáng

CHUC MUNG NAM MOI MAU TUAT

Advertisements

Phạm Quỳnh Nặng Lòng với Quốc Phục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

PHẠM QUỲNH

NẶNG LÒNG VỚI QUỐC PHỤC

Dã Thảo

“Sau phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược, những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX bước vào thế kỷ XX, thời kỳ Hoc tro chu Taybình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lòng yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước với các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế…

(…) Khi Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, thì bộ mặt xã hội đã biến đổi (…) Rồi trong thực tế, một lớp người mới đã xuất hiện làm thông ngôn, ký lục, bồi bếp hay lái xe cho quan Tây (…) tiếp thu nhanh chóng văn minh phương Tây: nói tiếng Tây, mặc đồ Tây và hớt tóc ngắn. (…) đã xuất hiện bóng dáng của cậu học trò “học chữ Tây” với chiếc bình mực lủng lẳng nơi ngón tay – thay thế cho cái nghiên ngày trước – và cái ô đen cắp trên nách”. (Trích bài Một vài hình ảnh của Hà Nội buổi giao thời đầu thế kỷ XX của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 22-24, tạp chí Xưa và Nay, số 418 tháng 12 năm 2012).

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, thời đi học trường tiểu học Pháp Việt, khi đi mít tinh đòi cho tiếp tục mở cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục phố Hàng Đào của cụ Cử Can chỉ mới 15 tuổi, nên bị Tây bắt giam một ngày một đêm rồi cũng thả vì còn vị thành niên. Hồi học trường Thông Ngôn ở Bờ Sông, và cả khi vào Trường Bưởi, rồi trở thành thủ khoa đầu tiên của trường Trung học Bảo hộ này, cũng vẫn đánh bộ quốc phục, áo dài khăn đóng. Cả khi là nhân viên trợ lý Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ, đồng sự của Nguyễn Văn Tố, tất nhiên cũng vẫn bộ quốc phục như Nguyễn Văn Tố. Ông chủ bút trẻ tạp chí Nam Phong chẳng những mặc quốc phục mà còn giữ cả búi tó củ hành nhỏ xíu như trong giấy căn cước làm năm 1918, sau khi Nam Phong ra đời một năm. Mãi đến năm 1922, trước khi đi Pháp dự khánh thành Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, “Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ.” (Trang 95 Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004). Và tất nhiên là cũng cắt đi cái búi tó củ hành. Sang Pháp, ông mới thường mặc Tây, chỉ vì: “Mình sang đây là để xem người, khônTruong Buoig phải cho người xem mình” (Sách đã dẫn, trang 95), chứ thực lòng ông vẫn thapham quynh_tre thiết với quốc phục, nặng lòng với quốc phục. Điều này thể hiện rõ nhất trong chuyến đi Pháp của ông năm ấy.

Thứ bảy 13 tháng 5 năm 1922 (ở khách sạn Terminus, Lyon), Phạm Quỳnh ghi: “những đồ quần áo trong hòm cũng không dùng đến, vì phần nhiều là quần áo An Nam cả, khi ở nhà đi, tưởng sang bên này cứ giữ quốc phục, sang đến đây mới biết rằng không tiện. Mình sang đây là để xem người, không phải cho người xem mình; như vậy mà cứ thướt tha như anh lễ sinh, đi nghênh ngang ngoài đường phố, thời khác nào như làm một cái vật “đấu xảo” giong đường cho người quý quốc xem, nghĩ nó cũng dơ dáng dạng hình quá! Bởi thế nênPham Quynh - Nguyen Van To từ ngày tới Pháp đến giờ, phải bận Âu phục luôn, trừ những khi dự các hội tiệc thời mặc quốc phục cho trọng thể. Còn nhớ mấy ngày đầu mới ăn mặc Tây, rõ phiền quá. Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ. Hôm xuống Tân Gia Ba là ngày mặc Âu phục lần thứ nhất: hôm ấy trời lại nóng nực, mình quen mặc rộng rãi thênh thang, bây giờ bó buộc như thằng hình nhân, lấy làm khổ quá; nào là quần trong, quần ngoài, nào là áo “sổ mi”, nào là “bờ-lơ-ten”(dây đeo quần – DT chú) ; khổ nhất là đeo cái “phô-côn” (cổ cồn, cổ giả – DT chú) cho ngay ngắn, thắt cái “cà-vạt” cho dễ coi. “Cà vạt” có thứ đã thắt sẵn, chỉ việc cài vào mà thôi; có thứ mình phải thắt lấy. Trước khi mua đã phải hỏi ý các ông sành mặc Tây, ông nào cũng bảo rằng thứ thắt sẵn chỉ để cho các ông già dùng, còn người trẻ phải thắt lấy mới là lịch sự. Nhưng khốn quá, mình tập thắt mãi mà nó vẫn cứ nghiêng vẹo, lệch lạc, xô xếch, răn reo, không thấy “lịch sự” một chút nào cả! Cực nhất là lúc tàu đã đến bến rồi, anh em đợi để lên ăn cơm ở cao lâu trên phố, mà mình ở trong buồng cứ loay hoay thắt với buộc mãi không xong, bấy giờ đỏ mặt tía tai lên, muốn quăng cả đi, nghĩ bụng rằng: “Thôi, chẳng Tây thì đừng Tây, mỗi lần thế này khổ quá”. Sau cũng phải nhờ có tay giúp mới buộc xong. Nhưng mà cho hay muôn sự tại thói quen cả, hôm đầu khó nhọc như thế, đến ngày thứ nhì thứ ba đã thấy dễ rồi; cách một tuần lễ thời buộc cái “cà-vạt”, thấy dung dị (dễ dàng – DT chú) như thường, và soi gương coi đã ra vẻ lắm rồi! Khi đến Marseille thời ngPham Quynh 1918hiễm nhiên như ông Tây “đặc”, tưởng hình như mình vẫn mặc Tây đã mấy mươi năm rồi; không những cách ăn mặc mà dáng bộ cũng hệt: tay bỏ túi quần, tay cầm gậy “can”, không còn ngượng ngập gì nữa. Nghĩ bụng giá bấy giờ cứ thế mà hiện hình về giữa phố Hàng Đào Hàng Ngang Hà Nội thời chắc ai cũng phải cho là một cậu “công tử bột” chân chủng! Lại nghĩ rằng nếu văn mình mà chỉ có thế thôi, thời cũng dễ quá: chỉ mất sáu trăm quan là được cái lốt văn minh như hệt, và theo “mốt” tối tân, các “công tử” nước nhà không sao theo kịp: áo thắt ngang lưng, quần nếp thẳng băng, cổ là bóng nhoáng, giầy sơn đen nháy, lại phủ một miếng da trắng ở trên cho khỏi bụi (thế mới hợp “mốt” năm nay)… Nhưng mà mình vẫn biết đã lâu rằng văn minh không phải ở cái lốt ngoài đó. Chẳng qua là đến đâu phải theo tục đó mà thôi. Nhưng mà có một điều nên biết, là người mình có tính mềm mại, uyển chuyển, không bắt chước người thì chớ đã bắt chước thì cũng chẳng kém gì ai, nhất là về cách ăn mặc, có khi người mình ăn mặc Tây lại còn óng ả riêm rúa hơn nhiều người quí quốc…

Vậy bao nhiêu hành lý để cả Marseille và chỉ đem hai cái vali đựng quần áo Tây với mấy bộ quần áo An Nam để phòng khi dùng đến; còn thiếu cái gì, lên Paris sẽ mua.” (Sách đã dẫn trang 94-97). Trong chuyến Pháp du ấy của Phạm Quỳnh, sự kiện nổi bật nhất là việc ông đăng đàn diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm Pháp. Một việc hoàn toàn do ông tự lo với sự giúp đỡ nhiệt tình, không vụ lợi của những người bạn Pháp mới quen mà đã quí trọPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhng ông. Một dịp may hiếm có để cho giới tinh hoa của nước Pháp là nước bảo hộ, “nước mẹ” hiểu rõ nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam và lòng dân ta quyết bảo vệ nền văn hóa và Tổ quốc ông cha để lại. Chính trong dịp trọng đại, nghìn năm có một đó, Phạm Quỳnh đã suy nghĩ nhiều về quốc phục để rồi hành động đúng đắn và còn có thể nói là dũng cảm nữa. Ông ghi: “Thứ bảy 22 tháng 7: “Sáng nay không đi chơi đâu, chỉ bữa ăn đi một lát, rồi về nghỉ ngơi để sửa soạn ra Hội Hàn lâm. Phân vân không biết mặc Tây phục hay mặc quốc phục. Đã có bộ jaquette, nếu mặc Tây thì cũng tùng tiệm được. Nhưng nghĩ lại, gặp những cơ hội như lúc này mà nỡ bỏ quốc phục đeo Tây phục, thì cũng tủi cái áo cái khăn anh đồ quá; thôi thì cứ mặc An Nam (DT nhấn mạnh), chỉ dẫu đi ngoài phố thiên hạ chỉ trỏ nữa cũng chẳng hề gì.” (Sách đã dẫn trang 330)

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh cu be ba Ngoanđược mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

“Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại nghe nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó (DT nhấn mạnh). Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng”  (Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004, trang 335).

Sự kiện một người dân thuộc địa lên diễn đàn Viện Hàn lâm mà được vỗ tay khiến các báo đổ xô đến xin bài diễn văn và xin cả ảnh để đăng cho nổi bật. Phạm Quỳnh hồi ấy đã diện đồ Tây xịn đi chơi nhiều nơi với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và chụp khá nhiều ảnh, vậy mà khi ấy, ông lại cho họ cái ảnh mặc áo dài bế con, vợ mới gửi sang: Trong ảnh, ông mặc áo gấm bế bé Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1921, người sau này làm luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và trở thành tiến sĩ của trường Sorbonne danh tiếng ở Paris. Tấm lòng Phạm Quỳnh với quốc phục thật sâu đậm. Pham Quynh 1930 - Truong Thang Long

Ở Hà Nội cũng như sau này về Huế, người ta vẫn thấy mỗi khi ông xuất hiện đều trong bộ quốc phục.

Ngày sinh nhật ngũ tuần của ông bà đồng tuổi nhâm thìn thì ông, bà, con trai, con gái, con dâu, con rể, cho đến các cháu mẹ còn bế trên tay, đều mặc quốc phục. Năm 2006 các bạn ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế) có đăng bài của Phạm Tôn nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà kèm ảnh đại gia đình mừng sinh nhật năm 1942 ấy, thì các bạn ở tạp chí vui mừng báo cho chúng tôi biết là cả toà soạn đều vui, vì năm ấy nước ta đăng cai hội nghị APEC, tất cả các nguyên thủ quốc gia đến dự đều mặc quốc phục Việt Nam, từ Tổng thống Pu-tin đến Bush… Chủ tịch Nguyễn Minh Triết của ta thì mặc quốc phục màu vàng. Thật là một cuộc biểu dương vẻ đẹp quốc phục ta. Sinh nhat 50 tuoi hai cu

Mùa hạ năm 1945 đặc biệt oi bức vậy mà Phạm Quỳnh, vẫn ngồi dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ, viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Tất nhiên là mặc quốc phục trang trọng theo lệ của riêng ông khi đọc sách hay viết lách.

Chúng ta may mắn có được bức ảnh năm cuối đời, khi ông tha thẩn ở khuôn viên biệt thự Hoa Đường những ngày ấy. Biet thu Hoa Duong

Thiếu tướng Phan Hàm sau này (1993) nhớ lại là trưa hôm 23/8/1945 ấy ông cùng một số bạn sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến đến đưa giấy “mời Phạm Quỳnh ra Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa làm việc” thì “ông ta thản nhiên đứng dậy, mặc áo (tất nhiên là quốc phục rồi) ra đi”.

Ngày nay, vẫn thấy còn nhiều bàn luận về việc mặc quốc phục , may quốc phục nam giới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của họa sĩ Thành Chương: “Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói, áo dài của phụ nữ và áo dài khăn đóng của nam giới luôn luôn là lễ phục gợi lên hình ảnh người Việt Nam. Đã gọi là quốc phục thì tinh thần cối lõi vẫn là hồn cốt dân tộc”. (DT nhấn mạnh) (báo Tuổi Trẻ ngày 22/12/2012)

Thành phố Hồ Chí Minh 26/12/2012.

D.T.

Nam Phong số Tết Mậu Ngọ – 1918

Filed under: Ý kiến,Báo — phamquynh @ 12:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2  tháng 2 năm 2018.

BÁO TẾT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA:

NAM PHONG SỐ TẾT MẬU NGỌ – 1918

Phạm Tôn

Đầu năm âm lịch, trời xuân mát mẻ, cây cối xanh tươi, hoa nở muôn màu, người Việt Nam ta khắp cả nước vui mừng ăn Tết cổ truyền. Nói là ăn, nhưng không chỉ có thịt mỡ, dưa hành, rượu ngon, trà thơm mà bao giờ cũng có câu đối đỏ và sau này là có báo Tết. Tết sắp đến là các báo đã đua nhau ra báo Tết, nở rộ như hoa mùa xuân, muôn màu, muôn vẻ, đáp ứng yêu cầu tinh thần của đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi. Mấy năm gần đây, cả nước có đến mấy trăm loại báo Xuân, đủ để đầu mỗi năm từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều tỉnh tổ chức ngày hội báo xuân, có bình bầu, phát thưởng hẳn hoi.

Nhớ lại những số báo Tết xưa vui tươi, nhẹ nhàng với văn Nhất Linh, Khái Hưng bay bướm, thơ Tú Mỡ dí dỏm và các tranh hài hước Lý Toét Xã Xệ châm biếm nhộn nhạo, không ít người cho rằng báo Tết có từ thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn tung ra năm 1932 với các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Nhưng, sự thật, còn xưa hơn nữa… Các tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí… chưa nghĩ đến việc này. Nam Phong tạp chí ra đời giữa năm 1917-Đinh Tỵ. Và ngay cái Tết đầu tiên của tờ báo mới hơn sáu tháng tuổi, chủ nhiệm kiêm chủ bút phần quốc văn đã nghĩ ngay đến việc cho ra một số báo đặc biệt ngày Tết. Bài Số Tết của báo “Nam Phong. Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết, nay ta có thể coi đó như tuyên ngôn mở màn, đặt nền móng cho lệ làm báo Xuân sau này của làng báo Việt Nam trong cả nước, thành một phong tục tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Ông đã viết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Đó là tạp chí Nam Phong số Tết Mậu Ngọ -1918. Ông là người đầu tiên đã gắn cái đặc điểm của ngày Tết vui khắp mọi nhà, vui khắp cả nước với cái nghề báo hằng ngày, gắn bó với đời sống người dân. Cũng vì ông là người yêu quí, trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một lòng tha thiết đem niềm vui đến cho đồng bào.

Cuối bài, ông còn khiêm tốn viết:

“Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít. (…) toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu vậy.

Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quà năm mới này. Có thức gì không vừa ý xin cũng rộng thứ cho: bản báo bước sang năm nay tính theo lối tổ quốc mới được là hai tuổi: nghề bánh trái đã khéo sao bằng các chị em!”.

Trong bài kế đó Mừng năm mới ký tên Nam Phong, ông viết: “Năm cũ Đinh Tỵ đã hầu qua, năm mới Mậu Ngọ đã sắp đến, đông tàn rồi lại sang xuân, ta chắc rằng cái ngày nguyên đán mới mẻ này, nhà nào nhà nấy, pháo đốt vang tai, đối hồng rực cửa, cơ đồ đổi mới, cảnh tượng khác xưa, kẻ lại người qua, không ai là không mừng rỡ mà chúc nhau rằng: “Năm cũ đã qua, năm mới đã đến, đinh tài lưỡng vượng, phúc lộc song toàn.” Nhưng hoa cát tường ở miệng người, như đua nhau phun nở trong ba ngày Tết.

Chúng ta đối với xã hội có cái trách nhiệm ngôn luận, trống sớm chuông khuya, tiếng vang khua động, đâu có nhẽ lại bỏ quá cái thì giờ quí báu ấy, mà im bặt không có một nhời nào để chúc mừng đồng bào ta hay sao? (…) vậy xin thắp hương rải hoa, hun bút mở giấy, mà mừng tuổi cho nước nhà.

Này, đồng bào ta ơi! Non cao núi nhớn, vòi vọi nghìn thu, sông cả nguồn sâu, thênh thênh một dải, dòng dõi thần minh, cùng nhau sum họp, vẫn còn đông đúc mãi mãi ở đây, dài dằng dặc không biết đâu là cùng, xa lăng lắc không biết bao giờ nghỉ, cái thế giới sau này chưa lại, ta tài nào mà biết được, ví cứ bắt chước nhời chúc của Phong Nhân đời xưa mà reo lên rằng: “Đại Nam vạn tuế! Vạn vạn tuế!” cũng chỉ là một câu thường sáo mà thôi. (…)

Đời thủa hồng hoang, ta không có thể xét được, ta chỉ cứ trong lịch sử ghi chép, mà sẽ kể bày ra như sau này.

Nghe rằng: Vua Hùng Vương dựng nước 18 đời trải 2222 năm, đến đời Thục An Dương Vương khởi lên được 50 năm; thuộc 3 đời vua nhà Triệu 59 năm; nội thuộc nước Tàu về nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, cả thảy 652 năm; vua Lý Nam Đế khởi tự năm Giáp Tí đến năm Mậu Thìn, cả thẩy 5 năm; vua Triệu Việt Vương khởi năm Kỷ Tỵ tới năm Canh Dần, cả thẩy 22 năm; ông Lý Phật tử khởi năm Tân Mão đến đăm Nhâm Tuất, cả thẩy 37 năm; lại nội thuộc về nước Tàu, nhà Tùy, nhà Đường, đời Ngũ Quí, nhà Tấn, khởi tự năm Đại Nghiệp Nguyên Niên nhà Tùy, đến năm Thiên Phúc Tam Niên nhà Tấn, cả thẩy 306 năm; ông Khúc Thừa Hiệu tự xưng Tiết độ sứ 16 năm; ông Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ 7 năm; Ngô vương Quyền 6 năm; Dương Tam Kha 6 năm; Ngô Nam Tấn vương 15 năm; Thập nhị sứ quân 2 năm; vua Đinh Tiên Hoàng đến Thiếu đế cả thẩy 13 năm; vua Lê Đại Hành đến vua Long Đĩnh, 3 đời cả thẩy 29 năm; nhà Lý khởi tự vua Thái Tổ đến bà Chiêu Hoàng, 8 đời, cả thẩy 360 năm; nhà Trần khởi tự vua Thái Tôn đến vua Thiếu đế, cả thẩy 12 đời, 174 năm; nhà Nhuận Hồ 7 năm; nhà Hậu Trần hai vua 7 năm; thuộc về nước Tàu đời Vĩnh Lạc nhà Minh 4 năm; nhà Lê độc lập khởi tự vua Thái Tổ đến vua Chiêu Tôn, 9 đời cả thảy 109 năm; nhà Mạc 3 năm; nhà Hậu Lê khởi tự vua Trang Tôn đến vua Chiêu Thống 16 đời, cả thẩy 257 năm; nhà Tây Sơn 15 năm; đến Bản Triều dựng nghiệp định đô ở Phú Xuân kinh, niên hiệu Gia Long 18 năm; Minh Mệnh 21 năm; Thiệu Trị 7 năm; Tự Đức 36 năm; Kiến Phúc 1 năm, Hàm Nghi 1 năm; Đồng Khánh 3 năm; Thành Thái 19 năm; Duy Tân 9 năm; đến đức Vạn tuế ta bây giờ kể là năm thứ 3.

Kể tóm cả lại, thời nước ta tự vua Hùng Vương dựng nước đến giờ, đã đầy 4490 năm linh. Lấy 30 năm kể làm một đời, thời người đời vua Hùng Vương, chính là ông Thủy tổ thứ 139 của chúng ta vậy.

Này các ngài ơi! Nước ta đã trải lâu ngày như vậy, mà năm năm tháng tháng ngày ngày ở trong 4400 năm linh ấy, đều là cái thì giờ của một trăm ba bốn mươi đời tổ tôn chúng ta khai sông mở núi, gây dựng nhọc nhằn, không biết bao nhiêu công trình, góp cái thái bình hạnh phúc, để cho hàng con cháu chúng ta hưởng thụ mãi đến giờ vậy.

Kể từ đời hỗn mang rồi mà thành ra bộ thuộc, thành ra quốc gia; tự thủa đóng cửa khóa ngòi, rồi mà mở mang, mà văn hóa; năm nay tiến một bước, sang năm tiến một bước, mà thành ra một cái nước hoàn toàn.

Nhưng cái tuổi nước từ trước, thì tự tay của tổ tiên chúng ta sửa sang lấy, mà làm cho dài ra. Còn như tuổi nước bây giờ về sau, thì lại là phận vị của anh em đồng bào chúng ta, phải cùng mó tay vào mà sửa sang bồi dưỡng để nối noi mới được. Gặp cái quang cảnh năm mới như thế này, chúng ta há nên dông dài lẩn thẩn mà bỏ hoài mất cái thì giờ quí báu hơn 360 ngày sắp đến này hay sao?

Này đồng bang ta ơi! Năm mới nên quí là vì cái gì? Là vì so với năm cũ có cái hiện tượng ngày rộng tháng dài vậy (…)

nước cố nhiên đã đến cái tuổi trưởng thành thật, thế nhưng mà nước không có thể tự nhiên mà trưởng thành được, sửa sang cái cơ nghiệp trưởng thành là trách nhiệm của người dân trong nước vậy.

Kìa! Lúc nào mà rậm rạp chông gai, rừng xanh nước độc, vẫn là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà mở mang sum họp, ruộng đất cấy cầy, cũng là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà đuổi giặc Nguyên, bắt tướng Hồ, đánh Chiêm Thành, lấy Chân Lạp, nhất thống sơn hà, gây dựng cơ nghiệp, cũng là một miếng đất ấy mà thôi. Dẫu trong khoảng dó, lúc trị lúc loạn, lúc phế, lúc hưng, vận hội đổi thay, vẻ này vẻ khác, mà non sông đất nước, y nguyên còn đó trơ trơ, không biết trải bao nhiêu tháng tháng năm năm, mà phía đất Nam giao vẫn tự nhiên là một nơi bất tiêu bất diệt. Rồi từ đó mà năm bảy nghìn năm, mà muôn năm, ức triệu năm, kinh cai vô số năm, cũ qua mới lại, không biết thế nào mà kể cho hết, không biết thế nào mà tính cho cùng vậy.

Chúng ta muốn mừng tuổi nước, nhưng nước vẫn sống lâu, lọ là phải mừng, chỉ nên mừng là mừng cho người ăn ở trong nước này.

Ngày tháng như thoi đưa, kiếp người không phải sắt đá. Phàm các người bẩm tinh anh của giời đất, trung tú khí của non sông, sinh ra ở trên đất nước này phỏng được bao nhiêu năm, dẫu sống lâu cho lắm, chẳng qua bảy tám chín mươi tuổi, trừ bỏ cái thời kỳ trẻ mỏ giả nua ra ngoài, thì cái thì giờ có ích với xã hội, chẳng qua chỉ ở trong khoảng độ hai ba mươi năm mà thôi.

Các ngài ơi! Kiếp trước chúng ta, chưa chắc chúng ta đã được làm người cổ nhân, kiếp sau chúng ta, chưa chắc chúng ta lại được làm người hậu tiến, chúng ta chính là một phần người trong đất nước ở kiếp này, tiêu thụ cái quang cảnh một năm (…). Bóng sáng thoáng qua, ngày sau còn rộng, phàm những sự nghiệp duy tân của nước ta, hoặc mọc mầm ở năm trước, hoặc nở trứng tự năm nay, học thuật nên làm thế nào cho cao thâm, sinh kế nên làm thế nào cho rộng rãi, chính trị nên làm thế nào cho hoàn toàn, không việc gì là không phải việc nghĩa vụ nên làm ở trong cái năm mới này cả. Vậy dám chúc già trẻ giai gái, sĩ nông công thương, cho chí hết thảy các người trong nước, nhân dịp bước lên, đua hơn ganh được, họa may ra dòng thần dõi thánh, rạng vẻ thêm hoa, đối với người xưa mà không hổ, đối với người sau mà có danh, rồi mà cái tuổi thọ của nước nhà ta, được hưởng một cái phúc lâu dài không có kỳ hạn, ấy là cũng bởi các bậc người ở trong năm mới này, không phí thì giờ, không bỏ nghề nghiệp, đồng lòng hiệp sức, tiếp ngọn nối ngành, để làm cho một ngày một dài ra vậy. Vậy nên chúng ta đương lúc thiều quang sắp đến, muốn mừng năm mới, mà lại rất mong cho 20 triệu đồng bào ta, chớ nên phụ cái năm mới này. (PT nhấn mạnh)

Nam Phong

Thật là những dòng tâm huyết, tha thiết với Tổ quốc, với đồng bào, nhất là với lớp trẻ, tràn đầy tình yêu nước thương nòi, mong cho ngày càng tiến bộ, theo kịp người.

Trên bìa số báo Tết ghi rõ Số Tết – 1918 và dưới đó là hai chữ Nam Phong to trên đầu bức tranh vẽ vị Hành Khiển Phán Quan Đinh Tỵ tay cầm cành đào trơ trụi, buồn bã chia tay với vị Hành Khiển Phán quan Mậu Ngọ tươi tỉnh, tay cầm cành đào rộ hoa. Dưới có in rõ: “In tại Đông Kinh ấn quán (Imprimerie Tonkinoise) 14 Rue du Coton (tức phố Hàng Bông – PT chú)”

Toàn số báo có tời 122 trang, với phần quốc ngữ 70 trang và phần chữ Hán 52 trang. Trong báo rải rác có đăng tới 36 bài thơ cổ, kim, có cả diễn Nôm bài Khuê oán của Tuy Lý Vương do Dương Tự Nhu dịch, kèm các bài là 43 tranh minh họa. Rồi các bài hát nói, phú như bài phú Giặc đến nhà đàn bà phải đánh của Vô Danh, với những câu Thương thay: những lúc ba đào, chút thân bèo bọt, nhà rách vách xiêu, con đau của sót. Nào phải bồ rìn chi đứng, ngoảnh mặt làm thinh, không bụt mọc chi ngồi, đến mình phải nhót (là rút mình, se mình – PT chú). Được thua, thua được chẳng kể, có người có ta. Hết còn còn hết cũng liều, rằng hai, rằng một (…) sức còn đương bẻ gãy sừng bò, sợ chi giặc cỏ, sống chết sao mình dám bỏ (…) Dẫu cơn hoạn nạn, còn lúc nghênh ngang. Chẳng sợ gì ai, chiêng không kêu cũng đấm, đành liều một chuyến, trống dẫu thủng còn tang” Những dòng đầy ẩn ý sâu xa.

Ngoài ra còn có nhiều câu đối. Có những câu như Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú/Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường, hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui. Hoặc Dán buồng học con: Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết/ Chăm chong đèn sách mới nên người của Tạ Quang Huy. Có cả Truyện Tàu Lý Khuê, Trịnh Xuân Nham dịch, Ngày xuân lữ thứ quê người của Hà Huy Sằn với câu kết buồn bã: “một tết thêm một tuổi, cảnh phù sinh chắc thọ được bao lâu, những hổ đem thân buộc vòng danh lợi” Rồi còn “tiểu thuyết mớiChén rượu năm mới, dài hơn tám trang do Nguyễn Bá Trác soạn, Nguyễn Bá Học dịch nôm. Và bài hát cô đầu, sẩm nhà trò, hành vân sang năm, hai bài tạp văn của Nguyễn Khắc Hiếu: Sợ vợ, Hai đồng xu. Và bài Hai con muỗi nói chuyện của Trần Văn Nguyên tóm dịch văn Tuyết Trang…Cuối số báo là Sách vàng những người An Nam giúp việc chiến tranh bên mẫu quốc gồm  các mục: Những bậc quan võ An Nam liệt đồng hàng với các quan Tây, kể tên ba người, Những bậc chiến sĩ tử trận, Những người bị thương và cuối cùng là Những bậc được tuyên công và được thưởng. Âu cũng là một việc không thể không làm ở một tạp chí do chính phủ Pháp tài trợ, song cũng là một cách “kể công”. Cũng như, ở ngay trang đầu, không thể không có mấy lời Kính chúc Hoàng-Thượng và quan Toàn-quyền, ký tên Nam Phong do Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết, kết thúc bằng một loạt khẩu hiệu “ Nay gặp hội Tân-xuân, xin tung hô Vạn-tuế”:

Đại-Nam Khải-định Hoàng-đế vạn tuế!

Toàn-quyền Xa-lộ đại-nhân vạn tuế! (Xa-lộ là Albert Sarraut – PT chú)

Đại-Nam cố quốc vạn vạn tuế!!

Đại-Pháp ân-quốc vạn vạn tuế!!”

Đáng chú ý là tập báo Tết này “là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới” như đã nói rõ trong bài Số Tết báo Nam Phong. Từ đó, thành một lệ tốt đẹp kéo dài hàng mấy chục năm cho toàn thể các báo nước ta là bạn đọc mua báo dài hạn thì hằng năm đều được tặng không một số báo Tết và không phải chịu trả thêm tiền “bù chênh lệch” khi báo tăng giá trong thời hạn mình đã đặt mua.

Nhân ngày Tết, nhắc lại một chút về lịch sử báo chí nước nhà, mong bạn đọc hiểu thêm một phần tấm lòng vì nước vì dân của nhà văn hóa Phạm Quỳnh chỉ qua một việc làm nhỏ của ông: mong làm cho ngày xuân của người dân thêm ý nghĩa và vui vẻ, nhưng không quên nhiệm vụ của mình với Tổ quốc.

24/12/2009

P.T.

 

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tư liệu Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (Ngày xuân, viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

NGÀY XUÂN, VIẾNG MỘ CỤ CHỦ BÁO NAM PHONG

­­­­­­­­­

Nguyễn Thụy Kha

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ-Nhạc sĩ-Nhà báo Nguyễn Thụy Kha sinh ngnguyen-thuy-kha-hinhày 7-10-1949, tại quê nhà Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Hiện nay, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1990, hiện sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nguyễn Thụy Kha tốt nghiệp đại học thông tin và Trường viết văn Nguyễn Du. Từng phụ vụ trong quân đội, từ 1972 đến 1982 là kỹ sư thông tin, từ 1982-1990 là cán bộ tuyên huấn. Sau đó, đến nay là nhà báo.

Tác phẩm đã xuất bản: Hương nắng tiếng chim (Thơ, in chung, 1982); Sóng nhà đêm biết tôi yêu (Thơ, in chung, 1986); Những giọt mưa đồng hàng (Thơ, in chung, 1987); Mắt thời gian (Thơ, 1988); Lúc ấy – biển (Thơ, 1989); Văn Cao – Người đi dọc biển (Tập truyện, 1992); Hàn Mặc Tử-Thi sĩ đồng trinh (Tập truyện, 1993); Không mùa (Thơ, 1994); Một lần thơ trẻ (Truyện ngắn, 1994); Văn Cao-Cuộc đời và tác phẩm (Biên soạn, in chung, 1995).


Vốn mến phục học giả Phạm Quỳnh, ông thường gần gũi gắn bó với nhạc sĩ Phạm Tuyên. Tháng 4 năm 2003, ông viết trên tạp chí Văn Hiến Việt Nam (Hà Nội) bài Ngày xuân viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong và gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng bản viết tay bài thơ Dưới hàng muối xanh viết ngày 2/3/2003.

—o0o—

Ở ngoại ô Huế. Một sớm se lạnh sau Nguyên Tiêu. Chúng tôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên tới chùa Vạn Phước. Nơi ấy, ở góc đồi xóm Bình An là nơi yên nghỉ đời đời của cụ Phạm Quỳnh-thân sinh nhạc sĩ và là chủ báo Nam Phong xưa kia.

Ở đấy, dưới một hàng cây muối xanh mướt là nấm mồ lặng lẽ của một nhà văn hóa từng hết lòng vì quốc ngữ. Trước cửa và mộ của cụ có đôi câu tri ngôn của cụ viết bằng chữ Nôm “Truyện Kiều còn, tiếng Ta còn- Tiếng Ta còn, nước ta còn”. Có lẽ, mọi éo le trong cuộc đời trắc ẩn của nhà báo lớn này đều khởi nguyên từ cái sự quá yêu tiếng Việt ở trong ông. Ông đã tự nhận mình là người “cúc cung tận tụy với nền quốc văn”, nhiệt liệt ca ngợi Truyện Kiều và đề xướng phong trào học Kiều. Viết về thơ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông cũng đắm đuối cùng tiếng Việt: “Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài gẩy cây đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng…”. Vì say mê với thư ngôn ngữ “độc huyền” này, sau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn (tiếng Pháp) và ra làm việc ở Viễn Đông Bác Cổ ít lâu, Phạm Quỳnh đã đứng ra chủ trì tạp chí Nam Phong từ 1/7/1917. Suốt 15 năm duy trì tạp chí (từ 1917 đến 1932)-bằng 15 năm lưu lạc nàng Kiều-Phạm Quỳnh lại dùng đúng tinh thần ngôn ngữ của Truyện Kiều để suy tôn và phát triển tiếng Việt với đầy nhiệt huyết. Bộ Nam Phong tùng thư Thượng Chi văn tập của ông là những công trình nghiên cứu đồ sộ mà ở đó, ông không ngớt ca tụng tiếng Việt. Trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Phạm Quỳnh đã được ngợi ca: “Cái công Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay thật là một công không nhỏ.” Vũ Ngọc Phan còn viết: “nói như vậy không có gì quá đáng, vì nếu đem so tạp chí Nam Phong với những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần đây (thời sau thế chiến I) như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Francaise, người ta đã thấy những tạp chí này đều thiên về một mặt văn học, thêm ít nhiều triết học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham khảo được cả học thuật tư tưởng Đông-Tây mà chuyên cả về khảo cứu cùng biên tập thơ văn cổ kim như Nam Phong tạp chí…”.

mo-pham-quynh


Phạm Quỳnh từng tuyên bố ở Pháp: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ nước ngoài in lấp dòng chữ cũ”. Có lẽ vì quá yêu tiếng Việt, lo lắng cho sự giáo dục tiếng Việt ở trong nước, ông đã nhận lời làm thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục thời Bảo Đại, mặc dù rất nhiều bạn bè đã can gián. Và cứ thế, cuộc đời của một quan đương triều buộc phải trôi theo thời cuộc.

Vị sư chủ trì chùa Vạn Phước, nơi còn lưu giữ bảng chữ “Thổ nạp Âu Á” và nơi ông ngồi đọc sách khi xưa tại Huế những lúc rảnh rang, nói về cái thế đặc biệt của ngôi chùa này với chúng tôi. Đó là vùng đồi giáp ranh giữa đồng bằng thành phố và núi nên nơi đây luôn là nơi đi lại của những người hoạt động bí mật. Thời ta thì bảo nơi đây là nơi lén lút của bọn phản cách mạng. Thời ngụy thì bảo nơi đây là nơi ẩn náu, chứa chấp bọn cộng sản. Chỉ có đến hôm nay “Vạn Phước” mới thực là vạn phước chứ không vô phước như những năm tháng trước. Có khi vì cái duyên ấy mà đất bình an trở thành nơi yên nghỉ của một nhà báo mà Tây thì bảo là thân Cộng, còn Ta thì bảo thích Tây”

Nhưng mọi bi kịch trong lịch sử đều sẽ được hóa giải ở hôm nay. Năm 2002, kỉ niệm 110 năm ngày sinh Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn Mười ngày ở Huế của ông. Những đóng góp và sai lạc của Phạm Quỳnh hẳn rồi sẽ được nhìn nhận công bằng. Niềm tin ấy dường như nằm trong đôi câu đối trên cổng con dốc vào mộ ông: “Vạn ức dòng sông nước chảy ra bốn biển biến nhơ thành sạch-Phước cho trăm họ nương về tam bảo bỏ dữ làm lành”…

nguyen-thuy-kha-tho

Chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

CHUYỆN KỂ CỦA MỘT CHIẾN SĨ XE TĂNG

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão 2011, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

–    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

–    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

–    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

–    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Điện Biên Phủ 60 năm, kỷ niệm sâu sắc trong lòng người cháu dâu Phạm Quỳnh: Xuân Trong Hầm Pháo Điện Biên Phủ – 1954

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

XUÂN TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN PHỦ – 1954

 

Xuan trong ham phaoTranh sơn dầu của họa sĩ Phạm Thanh Tâm

Kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ, trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam đã mở chương trình giao lưu đặc sắc, hùng tráng Điện Biên Phủ bản giao hưởng Hòa Bình với những nhân chứng từng tham gia trận đánh Điện Biên Phủ 1954 oai hùng. Bên cạnh những nhân vật lớn, cỡ tướng, tá, anh hùng kể lại những chiến công trời long đất lở… lại có một nhân vật kể lại câu chuyện “nhỏ” mình từng tham dự ở một “góc rất nhỏ”, nhưng đã khiến hàng triệu con tim Việt Nam và người nước ngoài ở cả trong và ngoài nước rung động khi nghe chính người trong cuộc, một nghệ sĩ múa 81 tuổi, kể tỉ mỉ, đầy xúc động về kỷ niệm thời mình là một cô gái 21 tuổi, được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ở đại đoàn pháo binh 351 và múa lượn tại hầm pháo số 2, ngay đêm đầu tiên pháo binh Việt Nam khai hỏa, trên trận địa Him Lam, mở đầu Đại thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, oanh liệt sau này. Các pháo thủ bắn một loạt thì văn công lại múa hát một bài cho đến khi có lệnh chuyển xuống phục vụ đơn vị pháo cao xạ phòng không

May thay, có họa sĩ Phạm Thanh Tâm người cùng đại đoàn, ký họa tại chỗ ngay, nên chúng ta đã có bức tranh sơn dầu quý báu này.

Sau chiến thắng, cô gái múa trở lại thăm những chàng lính trẻ nhớ mặt mà chưa biết tên của mình ở căn hầm số 2 thân thương, nhưng chỉ còn là tan hoang, đổ nát, máu rơi, thịt nát. Các chiến sĩ xem múa đêm ấy đều hy sinh khi đang đánh giặc bên cỗ pháo. Khi nghệ sĩ múa trẻ run rẩy không còn đứng vững được trước những đau thương quá sức chịu đựng như thế, cô tựa vào một bức vách hầm, thì có người mách nhỏ, “đừng bám vào, để các anh yên, trên vách còn dính nhiều máu, thịt của các anh để lại khi hầm pháo nổ tung…”

Tất cả chỉ còn là tan hoang, đổ nát, chan hòa nước mắt… Các cô gái xin đi thăm mộ các anh còn đắp sơ sài và cố tìm những đóa hoa mua tím còn sót lại sau những trận địch dội bom, đạn tơi bời, cố cắm mỗi mộ một, hai bông.

Cái giá trả cho chiến thắng vĩ đại thật là quá lớn, mà cũng rất giản dị…

Những người anh hùng ấy chỉ còn trong bức tranh của họa sĩ Phạm Thanh Tâm và trong trái tim cô gái trẻ, sáu mươi năm sau (khi đã là thiếu tá, chính trị viên phó Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) vẫn còn rung động trái tim lão cựu chiến binh hơn 80 tuổi…

Người múa họa sĩ vẽ trong tranh, trong hầm pháo số 2 đêm đó là chị Vũ Thị Lương, vợ của anh Phạm Vinh, người trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh. Và cũng chính chị đã kể cho hàng chục triệu khán giả truyền hình Việt Nam và quốc tế câu chuyện không thể quên ở Điện Biên Phủ năm 1954.

P.T.

 

Lịch sử một bức tranh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018.

LỊCH SỬ MỘT BỨC TRANH

Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Minh Tiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mùa sớm nắng chiều mưa Sài Gòn, chiều 22/9, giữa hai trận mưa, Họa sĩ , Nhà báo Phạm Thanh Tâm, một người Hà Nội, lại một lần nữa đi xe taxi, chống can inox bốn chân đến thăm một người bạn vong niên mới quen mà đã như thân thiết. Có lẽ vì cùng là người Hà Nội, lại cùng có chung những người thân thiết.

Xuan trong ham phaoSau mấy tuần trà ướp trong một bông sen do người Hà Nội tặng chủ nhà, và trò chuyện thân mật, tin cậy, chân thành về những chặng đường và những con người cả hai đều từng trải qua và quen biết, họa sĩ tặng chủ nhà một tập sách quí, bề thế của Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành nhân kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ nhan đề Trang sử vàng Điện Biên Phủ -Họa sĩ, Nhà báo Phạm Thanh Tâm- in song ngữ Việt Anh, khổ 33×26.5, do Richard di San Marzano thiết kế mỹ thuật.

Trong sách, chúng tôi may mắn thấy có hai điều mình muốn tìm hiểu lâu nay. Đó chính là bài Lịch sử một bức tranh (trang 76) viết về chính bức tranh chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ. (Tính đến ngày 5/10/2014 đã có 13.013 lượt người trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ truy cập.)

Trong bài có kể rõ trong đội văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy có cả vợ chồng đích tôn của Phạm Quỳnh là Phạm Vinh và Vũ Thị Lương “cô gái múa lượn” trong tranh, cả hai cùng chạc tuổi với họa sĩ mới 21, 22 tuổi.

Và một bài nữa viết về chính họa sĩ nhan đề Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa (trang 90).

60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi 60 năm Giải phóng Hà Nội, Blog PhamTon xin trân trọng giới thiệu với các bạn cả hai bài trên.

—o0o—

Nếu ai có dịp đến tham quan nhà Bảo tàng Quân đội, chắc chắn không thể nào bỏ qua gian phòng trưng bày những bảo vật về chiến dịch Điện Biên lịch sử.

Trong số những bảo vật lưu niệm về tranh và ảnh của gian phòng có một bức tranh của họa sĩ quân đội Phạm Thanh Tâm.

Không gian của bức tranh là một căn hầm pháo 105 ly. Nòng pháo vươn qua lỗ châu mai về phía Điện Biên. Hai càng pháo bám chắc hai bên vách hầm trong tư thế sẵn sàng nhả đạn – nổi lên giữa hai càng pháo là 4 cô gái mặc áo tứ thân đang uyển chuyển duyên dáng trong một điệu múa dân tộc. Chung quanh là những gương mặt các chiến sĩ pháo thủ đang say sưa thưởng thức điệu múa.

Năm 1954, năm thứ 9 của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp. Đội văn công Sư đoàn vừa ăn tết xong thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân đi Điện Biên. Lúc đó chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Sư đoàn gần cây số 14 trên đường Tuyên Quang đi Yên Bái. Đội đi Điện Biên gồm: Nguyễn Đức Phong đội trưởng, kiêm chính trị viên và các thành viên: Minh Tiến, Trọng Lanh, Hàn Đức Trọng, Xuân Sách, Phạm Vinh và các cô Vũ Thị Lương, cô Tý, cô Ngọc, cô Minh, tổ nhạc có: Nguyễn Bính (vi-ô-lông, ác-coóc-đê-ông), Ngọc Cương (nhạc sĩ kiêm đàn măng-đô-lin, Vương Cát Định (ghi-ta), Thịnh Đen (chẻo). Múa và nhạc kiêm ca hát và đóng kịch. Đoàn không có ca sĩ nổi danh như chị Kim Ngọc ở văn công Sư đoàn 312. Biết làm sao được, chiến sĩ thì nhiều nghệ sĩ thì hiếm phải tự lo lấy tất cả. Không có thầy, thầy cũng là trò, trò cũng là thầy. Múa xong là hát, hết hát thì sang đóng kịch. Kết thúc vai diễn, lại ngồi đốt những liều thuốc phụ (rơ-le) xin được của Pháo để có ánh sáng biểu diễn.

Đêm đầu tiên chúng tôi vượt bến Âu Lâu – Yên Bái. Ôi một đêm kỳ diệu! Cả đoạn sông Thao thượng nguồn vang lên bản Trang su vang Dien Bien Phutráng ca lịch sử. Quân ta như một con rồng khổng lồ bao gồm các sư đoàn chính quy, các đơn vị bộ đội địa phương, các đội dân công, nhân dân phục vụ thuyền bè. Tất cả đã theo lệnh của Bác Hồ và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiến vào Tây Bắc giải phóng Điện Biên. Dòng sông Thao sục sôi như nổi bão tố. Người qua sông, ngựa qua sông, xe đạp, xe thồ gồng gánh qua sông. Xe pháo rùng rùng chuyển động. Chân đất, chân giày, mũ lá, nón mê, đầu trần, thuyền nhỏ, thuyền to nhấp nhô chen nhau cắt ngang dòng sông lịch sử. Tất cả tiến vào Tây Bắc vượt “Núi vút ngàn trùng xa” trong nhịp bước “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ” mà vẫn tràn đầy lạc quan để đi đến ngày thắng lợi. Trong đoàn quân vĩ đại ấy có Đội văn công của Sư đoàn Côn, Pháo 351 với đội múa trẻ trung đang độ tuổi 18, đôi mươi.

Ban ngày chúng tôi tập lại các bài ca điệu múa. Khi mặt trời bắt đầu xuống núi, toàn bộ lại lên đường hòa vào dòng thác đại quân và dân công cùng chảy ra tiền tuyến. Chính trong lúc hành quân đêm, nhóm múa chúng tôi có thời gian để sáng tác điệu múa mới (chưa có ai học sáng tác bao giờ). Mỗi đêm hành quân là mỗi đêm có những sáng kiến mới để chuẩn bị cho ban ngày tập luyện. Những ngày gian khổ ấy sao mà thương nhau thế, vượt qua Pha Đin trong mây vờn đỉnh dốc, rét buốt thấu xương, vượt Lũng Lô trong lửa bom rừng cháy “Chân không giày rớm máu, thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành quân tới Điện Biên, tổ múa chúng tôi đã sáng tác xong điệu múa tạm đặt tên là Vui sản xuất. Ý nghĩa của điệu múa muốn động viên chiến sĩ yên tâm đánh giặc, vì đã có hậu phương yên vui sản xuất để tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Động tác múa chèo thì học ở cụ Năm Ngũ trước hết, nhạc cũng học truyền khẩu rồi về hát lại để Ngọc Cương ghi lại cho vi-ô-lông của Bính Kính và cho các nhạc cụ khác đệm theo. Biên soạn múa và lời ca thì làm tập thể, cuối cùng mọi người cũng vừa ý. Quần áo múa thì góp lại mỗi người một mảnh dù trắng (của chiến sĩ cho làm kỷ niệm) đem nhuộm xanh đỏ. Thợ may là bốn cô nữ chiến binh. Thế rồi điệu múa đã được diễn cho chiến sĩ xem đêm đầu tiên tại mặt trận Điện Biên như ở phần đầu chuyện kể.

Đội văn công Sư đoàn sau đêm diễn đã chuyển sang phục vụ đơn vị pháo cao xạ ở gần khu vực đồi Độc Lập. Ba ngày sau chúng tôi hành quân trở lại căn hầm pháo cũ để tiếp tục phục vụ đợt 2 của chiến dịch. Thật không ngờ, chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại các pháo thủ ở căn hầm số 2 đã bắn những viên đạn pháo đầu tiên vào Him Lam, mở đầu cho chiến thắng Điện Biên. Tất cả 7 chiến sĩ hy sinh. Máu của họ còn vương đầy vách hầm. Nơi biểu diễn điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” đầy những mảnh đạn.

Chúng tôi tìm đến những ngôi mộ còn đỏ màu đất như mới, viếng những người anh hùng và đặt lên nấm mồ một cành hoa sim tím của núi rừng Điện Biên giữa những tiếng khóc nức nở của 4 cô gái văn công Sư đoàn.

Những pháo thủ đang yên giấc ngàn thu và tất cả chúng tôi lúc bấy giờ không ai nghĩ rằng hình ảnh của họ và 4 cô gái văn công Sư đoàn trong điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” sẽ sống mãi trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ đại tá Phạm Thanh Tâm.

Hà Nội, tháng 5 năm 1998.

NSND Đ.M.T.

Chia sẻ cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 2 năm 2018

(Bài thơ kính tặng Anh Phạm Tuyên)

CHIA SẺ CÙNG NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Bằng Việt

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ Bằng Việt, tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất, Hà Nội. Cử nhân luật tại Liên Xô cũ. Đã công tác tại Viện Luật học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nguyên Tổng biên tập báo Người Hà Nội, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam.

  • Đã là Ủy viên thành ủy Hà Nội, phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố
  • Hiện là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội
  • Tác giả nhiều tập thơ được giải thưởng trong và ngoài nước

(Bài thơ này, tác giả đã đến tận nhà riêng nhạc sĩ Phạm Tuyên để tặng ông, nhân sinh nhật lần thứ 86 của Nhạc sĩ 1-2016)

—o0o—

Ra mắt tập tiểu luận cụ Thượng Chi (1)

Phạm Tuyên chỉ thốt đôi lời, làm người nghe gai mình sởn ốc:

Tôi nhớ mãi lúc A.Q. bị đưa đi xử bắn, (2)

Đám trẻ chỉ ồ lên: A.Q. đúng là phản động,

Cách mạng bắn chết mà, không phản động thì sao?

Hơn nửa thế kỷ rồi, điều đó đêm đêm khiến tôi dằn vặt”(3)

 

… “Ơi Cha Lo, hỡi Cha Lo, nơi rừng núi miền Tây Tổ quốc

Bừng sáng lung linh một vì sao” (4)

Người viết nên câu hát hào sảng đó

Nửa thế kỷ vẫn mang nguyên khối u uẩn ấy trong mình!

 

“Giết một học giả như vậy, nhân dân ta được gì,

Cách mạng được lợi ích gì?…” (5)

Bác Hồ thốt lên, lặng người khi nghe tin dữ,

Nhưng lịch sử là lịch sử

Ở đó không thể thêm gì, cũng không bớt được gì!(6)

“Ơi! Cha Lo, hỡi Cha Lo…”

Câu hát cứ ngân nga trong hồn, gần như vô thức

Tôi mãi thấy gai người trước nhạc điệu quá mênh mông

Trước câu hát vô tư đầy khí phách,

Với tâm hồn Phạm Tuyên, hun hút đỉnh Cha Lo…

… Có người bà con sống bên kia đại dương

Trách cứ Phạm Tuyên, viết làm chi những câu hào sảng thế

(Cái hào sảng ngỡ vô tâm, khi cha mình bức xúc chịu khổ hình!)

Nhưng, nén mình sống cao lên, có bao giờ là dễ?

Biết vượt qua đỉnh nỗi đau, đâu có thua phẩm cách anh hùng?

… “Khi xuất kích gian nan rừng sâu.

Tình yêu thương đồng đội có nhau,

Mỗi ngọn núi con sông Trường Sơn

Vẫn ấm áp tình dân (4)

Ơi Cha Lo! Hỡi Cha Lo…”

Tôi hiểu rồi, Phạm Tuyên! Xin anh đừng dằn vặt nữa,

Khi rất nhiều người đồng tình biết sẻ chia tâm sự cùng anh!

2015

  • Cụ Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, cha đẻ nhạc sĩ Phạm Tuyên, sinh năm 1892, nguyên là Thượng thư Triều đình Huế và chủ bút báo Nam Phong, bị mất tích ở Huế ngày 23/8/1945 trong một hoàn cảnh bí ẩn (có tài liệu nói là 6/9/1945)
  • Q. là nhân vật nổi tiếng của văn hào Lỗ Tấn, một con người ngơ ngác trước biến động thời cuộc, bị xử bắn trong Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc
  • Lời nhạc sĩ Phạm Tuyên tâm sự trong buổi ra mắt tập tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của cụ Phạm Quỳnh, lần đầu được dịch ra tiếng Việt (NXB Tri Thức, Hà Nội, 2007)
  • Lời bài hát nổi tiếng Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên
  • Câu Bác Hồ thốt lên khi ông Tôn Quang Phiệt ra Hà Nội thông báo với Bác rằng ông có nghe tin cụ Phạm Quỳnh đã bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ gần Huế (theo lời kể lại của các ông Đào Nhật Vinh và Vũ Đình Huỳnh). Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng.
  • Điệp khúc nổi tiếng của nhà thơ Nga A.Tvardovsky (trong trường ca Xa tiếp xa, nói về cuộc chiến tranh của nhân dân Liên Xô đã bị tổn thất quá lớn để chiến thắng phát xít Đức, cũng như đã trải qua một thời kỳ dài sùng bái Xtalin): “Ở đó không thêm gì, cũng chẳng hề bớt gì/ Vì mọi điều đã xảy ra như thế trên Trái đất!”

Tháng Một 31, 2018

KHÔNG THỂ TÙY TIỆN XUYÊN TẠC CÁC BỘ NGUYÊN TẮC BIÊN SOẠN BỘ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:27 chiều

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 2 năm 2018.

KHÔNG THỂ TÙY TIỆN XUYÊN TẠC CÁC BỘ NGUYÊN TẮC BIÊN SOẠN BỘ LỊCH SỬ VIỆT NAM

( Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 487 tháng 9 năm 2017, từ trang 12 đến trang 14)

Vũ Minh Giang(*)

Trúc đòi hỏi cấp bách của đông đảo quần chúng trong và ngoài nước, đồng thời cũng xuất phát từ nhu cầu sớm có một bộ lịch sử chính thức mang tầm cỡ quốc gia, góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sác, xử lý các vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc và giới thiệu lịch sử đất nước ra nước ngoài, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành chủ trương nghiên cứu, biên soạn một bộ Lịch sử Việt Nam với quy mô nhiều tập và giao cho Ban Cán sự Đảng bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các bước tiếp theo (1). Sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các Bộ liên quan thực hiện kết luận của Ban Bí thư (2).

Như vậy, nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện chủ trương này, một Đề án KHXH&NV cấp quốc gia đã được thành lập (3). Với quy mô 25 tập thông sử và 5 tập Biên niên sự kiện, Đề án đã tập hợp được một đội ngũ lên tới hơn 250 nhà sử học trong cả nước và một số cộng tác viên nước ngoài.

Trước một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt này, Ban Chủ nhiệm Đề án đã có quá trình chuẩn bị hết sức công phu với nhiều cuộc làm việc với các chuyên gia trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó đã hình thành một Hội đồng khoa học gồm 21 nhà khoa học có uy tín và chọn lọc được đội ngũ chuyên gia làm chủ biên các tập. Để thống nhất về quan điểm, phương pháp và thể thức biên soạn, Ban chủ nhiệm đã xây dựng một bộ tài liệu hướng dẫn cụ thể, hợp lại thành một cuốn cẩm nang gọi chung là Thể lệ biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (4), trong đó toàn thể, toàn diện là những quan điểm có tính nguyên tắc (5).

Công việc được tiến hành một cách cẩn trọng và khoa học và được các cấp lãnh đạo, quản lý tin tưởng, giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao như vậy, nhưng không hiểu nguyên do vì đâu mà từ cuối tháng 2 đến nay (trong vòng hơn 5 tháng) trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh liên tục đăng tới 19 bài (nghĩa là hầu như tuần nào cũng có bài) với nội dung đả kích GS. Phan Huy Lê và một số người có trách nhiệm trong Đề án bằng cách nêu lên một số nội dung liên quan đến Lịch sử Việt Nam mà họ cho là GS. Phan Huy Lê sai để phê phán.

Trong loạt 19 bài mà tôi thống kê được (6), các vấn đề nêu ra hầu hết đều đã được nói tới từ lâu, duy có điều không mấy người hiểu như tác giả các bài báo nêu trên. Không khó để nhận ra rằng cách viết của tác giả các bài báo này hoàn toàn không phải là thảo luận khoa học, và hơn thế, đầy rẫy những sai phạm ấu trĩ của những người không hiểu vì không làm trong lĩnh vực sử học. Vì vậy, trong bài viết của mình, tôi không bàn đến các nội dung học thuật mà chỉ tập trung nói về một số nguyên tắc nghiên cứu, biên soạn bộ lịch sử đã bị các tác giả những bài báo nói trên diễn đạt sai (do chưa hiểu hay cố tình xuyên tạc?) để giúp những người đã (hoặc sẽ) đọc những bài báo này tránh khỏi sự hiểu lầm đáng tiếc (nếu không nói là nguy hiểm). Nguyên tắc nghiên cứu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, thực hiện một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là một vấn đề hệ trọng, không thể nói thế nào cũng được và nhất là được đăng tải trên một tờ báo chính thức của một tổ chức.

Trước hết tôi bắt đầu từ bài viết Chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ Quốc sử như thế này sao? của tác giả Hoàng Phương đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP HCM số 451, ngày 25 tháng 5 năm 2017. Trong bài nà tác giả viết: “Không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Quan điểm đầy đủ, toàn diện… là quan điểm gì, thấy sao mơ hồ quá!”. Cách đặt câu hỏi như vậy có nghĩa là tác giả chưa/ không hiểu gì về quan điểm này. Lẽ tự nhiên là một khi chưa hoặc không hiểu về một điều / vấn đề gì đấy thì phải cầu thị tìm hiểu. Đằng này tác giả chẳng những không làm thế mà lại tự đưa ra kết luận rất hàm hồ rằng: “Dư luận hoàn toàn không yên tâm nếu giao cho một nhóm người của Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà,  Hội KHLS sẽ đứng trên lập trường, quan điểm như vừa nêu trên chắc chắn sẽ gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi công dân. Rõ ràng Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà là không chấp nhận được” (7)

Vậy quan điểm đầy đủ, toàn diện trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cần được hiểu như thế nào?

Lịch sử đầy đủ (Entire History) không phải mới trong việc trình bày các bộ thông sử. Đây là một quan điểm mà theo đó, giới sử gia của mỗi quốc gia phải có trách nhiệm nghiên cứu và trình bày đầy đủ các biến cố lịch sử quan trọng đã từng diễn ra trên lãnh thổ nước mình một cách khách quan khoa học.

Việt Nam là quốc gia có lịch sử lâu đời với những nội dung vô cùng phong phú. Trên lãnh thổ hiện tại của nước ta, từ xa xưa đã từng hình thành những trung tâm văn mình gắn với những quốc gia cổ đại có tầm ảnh hưởng lớn trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Đó là nền văn minh sông Hồng ở phía Bắc, văn minh ở ven biển miền Trung và văn minh ở vùng hạ lưu sông Mê Kông. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong suốt một thời gian dài trước đây, các bộ Lịch sử Việt Nam thường được trình bày theo hướng nhấn mạnh dòng chảy của lịch sử người Việt (Kinh), theo đó, các nền văn minh và các vương quốc cổ đại phía Nam được thể hiện mờ nhạt, thậm chí hoàn toàn thiếu vắng trong các bộ thông sử. Điều này đã dẫn tới tình trạng mà như nhận xét của một số sử gia nước ngoài thì “người Việt đi đến đâu, lịch sử Việt Nam tới đó”. Đây không chỉ là sự khiếm khuyết trong nhận thức khoa học mà nguy hại hơn còn làm ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của nhiều cộng đồng cư dân và là kẽ hở cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chia rẽ và chống phá.

Với ý nghĩa đó, việc đưa ra quan điểm toàn bộ như một nguyên tắc nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam sẽ triệt để khắc phục hạn chế này. Xuất phát từ lãnh thổ Việt Nam hiện tại, lịch sử các vương quốc Lâm Ấp, Champa, Phù Nam và sau đó là đất Thủy Chân Lạp trong tiến trình lịch sử dân tộc sẽ được trình bày một cách tương xứng trong bộ Lịch sử Việt Nam.

Đây là một quyết định đúng đắn hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Ban Bí thư TW và tinh thần đổi mới của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Hội vào sáng ngày 30/11/2015 (8).

Cùng với quan điểm toàn bộ, một trong những quan điểm khác của việc nghiên cứu biên soạn bộ Lịch sử Việt Namtoàn diện (Complete History). Thoạt nghe thì có vẻ đơn giản và không có tính nguyên tắc nhằm khắc phục một hạn chế đã từng tồn tại trong suốt một thời gian dài trong các bộ thông sử nước ta. Nói một cách đơn giản thì nguyên tắc toàn diện đòi hỏi việc nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam phải chú ý thể hiện đúng mức mọi chiều cạnh của lịch sử, trong đó kinh tế, xã hội và văn hóa là những lĩnh vực có tính nền tảng và bao trùm; chính trị, quân sự là những lĩnh vực có những tác động mạnh đến biến cố lịch sử. Có thể do đặc biểm lịch sử Việt Nam bị chi phối thường xuyên bởi yếu tố chiến tranh nên trong thực tế, các lĩnh vực chính trị, quân sự thường chiếm tỷ trọng cao trong các bộ sử, trong khi đó những mặt cơ bản của lịch sử như hoạt động kinh tế, đời sống xã hội – văn hóa của người dân lại thường ở những vị trí không tương xứng, thậm chí còn bị lãng quên.

Tình trạng này đã dẫn đến những hiểu biết lệch lạc về lịch sử và con người Việt Nam. Đã có thời chính chúng ta đã tưởng lầm rằng người Việt chỉ giỏi tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, còn người nước ngoài thì cho chúng ta là những kẻ hiếu chiến…Chính những nhận thức phiến diện này đã khiến nhiều người ngỡ ngàng không thể lý giải khi có người Việt Nam vượt lên trên tất cả các quốc gia châu Âu để đoạt giải nhất cuộc thi Piano mang tên Chopin danh giá, hay gần đây vươn lên giành giải Field, một giải thưởng tương đương với Nobel trong toán học…

Dẫn đến tình trạng trên có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng  cách viết sử thiên lệch nói nhiều về chiến tranh, ca ngợi một chiều chiến thắng quân sự và trình bày chưa đúng tầm mức về kinh tế, xã hội và văn hóa (thiếu toàn diện) đã ảnh hưởng không nhỏ đến những nhận thức sai lầm ấy.

Về một phương diện khác, vận dụng quan điểm toàn diện vào nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam còn giúp chúng ta nhìn nhận khách quan, khoa học hơn về đặc điểm của lịch sử dân tộc, hiểu đúng hơn về sở trường, sở đoàn của con người Việt Nam để có thể biến tất cả những gì mình có thành lợi thế cạnh tranh trong thời đại toàn cầu hóa. Chính vì vậy mà trước các nhà sử học toàn quốc Chủ tịch Trương Tấn Sang từng nói: “Lịch sử là một lĩnh vực khoa học giúp dân tộc tự nhận thức” (9)

Các nhà sử học tham gia đề án nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam đang cố gắng hết mình để thực hiện sứ mệnh được giao và nhận được sự quan tâm giúp dỡ của các cấp ủy, cơ quan, ban ngành. Và hơn lúc nào hết các nhà sử học cần tới sự ủng hộ, khích lệ của xã hội, của nhân dân.

Vậy mà không hiểu vì sao lại xuất hiện một vệt bài trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh liên tục công kích vào công việc nghiên cứu và biên soạn bộ lịch sử này? Nếu những bài viết này xuất phát từ nhận thức chưa tới (tức chưa thật hiểu rõ công việc) thì chỉ là cái hại nhỏ. Nhưng nếu đây là sự cố tình xuyên tạc để nhân danh khoa học gieo rắc sự hoài nghi thì phải cảnh giác với ý đồ xấu, rất có thể nhắm tới việc phá hoại một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

————————-

Chú thích:

* GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học & Đào tạo ĐHQGHN, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, UV Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia.

  1. Kết luận tại phiên họp Ban Bí thư ngày 15/1/2014, ghi tại văn bản số 82-KL/TW
  2. Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng được thể hiện tại văn bản số 1516/VPCP-KGVX, ngày 4/3/2015.
  3. Đề án này do GS. Phan Huy Lê làm chủ nhiệm và có 3 Phó chủ nhiệm là GS.TSKH Vũ Minh Giang, PGS.TS Trần Đức Cường và GS.TS Nguyễn Quang Ngọc cùng với 2 thư ký khoa học là PGS.TS Vũ Văn Quân và PGS.TS Đoàn Minh Huấn.
  4. Thể lệ biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, 2016.
  5. Thể lệ biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, đã dẫn, tr.26,27.
  6. Bài đầu tiên là “Những người vĩ đại” của Quan Văn Đàn đăng liên tục trên ba số báo Văn Nghệ số 438, 23/2/2017, Văn Nghệ số 439, 2/3/2017 và Văn Nghệ số 440, 9/3/2017. Bài mới nhất là của tác giả Cao Đức Trường với tựa đề “Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay” đăng trên Văn Nghệ số 458, 13/7/2017.
  7. Hoàng Phương, “Chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ Quốc sử như thế này sao?” Tuần báo Văn Nghệ TP HCM số 451, ngày 25/5/2017,tr. 16.
  8. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, “Nâng cao hiểu biết và niềm yêu thích của nhân dân đối với lịch sử dân tộc”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 30/11/2015.
  9. Trương Tấn Sang, Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, ngày 30/11/2015.

Phạm Quỳnh, Chủ bút báo Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 2 năm 2018.

PHẠM QUỲNH, CHỦ BÚT BÁO NAM PHONG

Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam

Lời dẫn của Phạm Tôn:Hình GS Van Tao

Ngày 27/8/1945, sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội vừa một tuần, đã có cuộc họp mặt hơn 100 thanh niên trí thức Hà Nội do Trần Quốc Hương triệu tập. Có người đã đứng trong tổ chức, có người mới chỉ cảm tình với Đảng. Tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay.

Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp chủ trì và nhà văn hóa Phạm Văn Đồng cùng tham dự. Mục đích là chuẩn bị mọi mặt để lancer (“tung”) tờ Cờ Giải Phóng ra công khai. Ngay giữa trận địa báo chí Hà Nội còn nguyên vẹn đủ màu sắc chính trị phức tạp lúc bấy giờ.

Chính trong cuộc gặp mặt quan trọng này của lịch sử báo chí Cách Mạng Việt Nam, Trường Chinh đã nói một câu đầy hoài bão:

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày nay; 1945, Cờ Giải Phóng.

Mà Phạm Quỳnh, chính là linh hồn của Tạp chí Nam Phong, ông từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút trong gần suốt thời gian Nam Phong tồn tại (1917-1934).

Bài chúng tôi đăng dưới đây là của Giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, đã từng gửi cho tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, sau đó, chỉ đăng ở một báo nhỏ, ít người biết, trong mục Ý kiến –Trao đổi (Khoa học và Ứng dụng, số 2, năm 2005, trên 2 trang 9 và 10). Rồi sau đó, đổi nhan đề thành Chủ bút báo Nam Phong-Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại, Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, một tạp chí có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 12, ngày 20/6/2006). Và ngày 10/7/2006 thì lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một tờ báo cũng có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 13 (278)).

Theo lệ thường thì người ta thường chọn bài đăng cuối cùng, vì cho là đã được tác giả xem xét và sửa chữa lại nên đầy đủ và chính xác hơn hết. Nhưng chúng tôi lại chọn bài đầu đầu tiên, vì bài đó có vai trò đặc biệt, đánh dấu một bước tiến trong việc nghiên cứu và đánh giá lại Phạm Quỳnh sau này.

Bốn tháng sau cái chết đột ngột và bí ẩn, mờ ám của Phạm Quỳnh, thì ở Thừa Thiên-Huế, có tờ nhật báo khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng Huế” tên là Quyết Chiến, số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945, đăng bản tin: “Ba tên Việt gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa Án Quân Sự tỉnh Thuận Hóa”. Sau đó, tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số 4 trang, là “Cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ”, số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”, không có ai đứng tên thay mặt tổ chức ký cả.

Kỳ lạ là sau cái bản án…tuyên sau khi hành quyết bốn tháng trời đó, mọi ý kiến phát biểu công khai ở tất cả mọi cấp, trong cả nước ta, đều theo cái cách không bình thường đó. Rồi vào cả lịch sử, cả văn học sử, cả sách giáo khoa… Ròng rã hơn 60 năm trời, người dân cả nước ta cứ phải nghe mãi một giọng ấy. Cho đến khi có bài báo nhỏ của giáo sư Văn Tạo, người dân mới được nghe một giọng khác, mở đầu cho hàng loạt bài ăm ắp tư liệu xác thực, giúp người đọc hiểu đúng chân tướng sự việc bị che giấu hơn nửa thế kỷ và dần dần hiểu rõ hơn Phạm Quỳnh là người như thế nào, đã bước đầu có những đánh giá sát sự thật hơn. Từ đó mới thấy các báo và tạp chí đăng các bài như Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005. Bài này Vương Trí Nhàn đã đưa tạp chí từ năm 1992, 13 năm sau mới đăng, với nhan đề khác, sau khi đã cắt đi hai đoạn quan trọng. Tiếp đó là loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Đến năm 2006 là các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, rồi Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Còn có bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Rồi bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12/6/2006. Và trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005 bài Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh của Vương Trí Nhàn và bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Van Tao

Chúng tôi khâm phục lòng dũng cảm của giáo sư Văn Tạo, vì sự công minh của lịch sử mà ông suốt đời theo đuổi, nhất là trong những năm tháng không còn nhiều của mình, cho nên cứ đúng nguyên văn bản của ông gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai học giả Phạm Quỳnh, ngày 16/5/2005 mà đăng. Mặc dù, chính ông cũng đã biết có sự việc nêu trong bài cơ bản là đúng, nhưng chi tiết lại có chỗ không sát sự thật, do nghe qua người này người khác kể chứ chưa được tiếp xúc tận gốc như gần đây đã có thêm nhiều tư liệu mới được công bố.

Chúng tôi quý bài đó vì tính lịch sử của nó ra đời trước Đại hội Đảng lần thứ X và đã mở đường cho một dòng chảy lành mạnh, chân thực trong nghiên cứu lịch sử.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết nhỏ mà rất lớn của giáo sư Văn Tạo và xin chúc ông luôn mạnh khỏe, minh mẫn, thanh thản ở tuổi ngoại bát tuần, để còn phấn đấu thực hiện cho được hoài bão của mình là thực hiện sự công minh lịch sử trên đất nước ta tươi đẹp có dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

—-o0o—-

Hồi còn nhỏ tôi học chữ Nho ông ngoại tôi. Một lần ông tôi nói: “Tỉnh Đông (tức tỉnh Hải Dương) ta là một trong những tỉnh có nhiều nhà khoa bảng nhất cả nước. Kể từ Tiến sĩ trở lên cũng đến dăm sáu trăm vị[1]. Còn riêng huyện Tứ Kỳ, như Phan Huy Chú viết, cũng có tới 47 vị, trong đó nổi bật nhất là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[2]. Nhưng nhiều nhất phải kể đến hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng (thực tế là Nam Sách). Riêng Bình Giang có làng Mộ Trạch được gọi là “cái tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào), có tới 36 vị từ Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Cạnh đó là làng Lương Đường, (xưa gọi là Hoa Đường, sau gọi là Lương Ngọc) cũng có nhiều Tiến sĩ, mà nổi danh nhất là Hoàng Giáp Hoa Đường Phạm Quý Thích[3]. Nay lại có Phạm Quỳnh đang làm quan tại triều”.

Ngừng một lát, ông tôi nói: Nhưng không hiểu mồ mả đất cát làm sao mà trong giới khoa bảng tỉnh Đông ta lại có câu tựa như sấm truyền, là:

“Lương Đường sỹ: Thiên hạ bĩ

Mộ Trạch quan: Thiên hạ an!”

Có lẽ là do phong thủy (tức “kiểu đất mồ mả”) gây nên chăng, như kiểu đất cha ông Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, Hà Đông là:

“Nhị Khê: mạch đoản. Họa thảm: chu di”?

(Tức mạch đất bị đứt đoạn nên chịu thảm họa “chu di tam tộc”)

Pham Quynh_deo bai ngaÔng tôi bình luận thêm:

“Đâu phải là ngẫu nhiên mà các Tiến sĩ Mộ Trạch thường ra làm quan trong thời thái bình, thịnh trị nên mới nói là “Mộ Trạch quan, thiên hạ an”. Còn ở Lương Đường, những kẻ sĩ ra đời thường gặp “thời bĩ” mà đã làm quan “thời bĩ” thì cái xấu xa của triều đình cũng tránh không khỏi dây dưa, ảnh hưởng tới thân phận mình là bề tôi.”

Cách đây gần 10 năm (khi còn là huyện Cẩm Bình: Cẩm Giàng, Bình Giang hợp lại) tôi được Huyện ủy mời về thăm và làm việc trong một tuần lễ. Sau khi đi thực tế về, Huyện ủy có hỏi tôi:

“Nay các xã trong huyện đang định quy hoạch lại cơ sở hạ tầng để nâng cao kinh tế, phát triển văn hóa, vậy đối với Lương Đường, các di tích họ Phạm, nhất là gia đình họ Phạm Quỳnh nên như thế nào?”

Tôi nói: Sử học chúng tôi trọng “Công minh lịch sử” vốn là thuộc tính của ngành khoa học, vì có “Công minh lịch sử” mới có “Công bằng xã hội”. Xét về nhà trí thức Phạm Quỳnh ở tỉnh ta, thì mọi di tích lịch sử vẫn nên bảo tồn. Thực tế ông ra làm quan vào “thời bĩ” thì dẫu chúng ta không mê tín vào phong thủy cũng khách quan thấy được rằng sinh thời của ông là lúc phong kiến đi xuống, đất nước bị thực dân nô dịch…khiến chính vua Bảo Đại, người dùng Phạm Quỳnh làm “Ngự tiền văn phòng” cũng đã thừa nhận mình chỉ là một ông vua bù nhìn. Khi thoái vị, Bảo Đại còn nói: “Làm dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ”. Phạm Quỳnh với danh nghĩa “văn phòng” thì tránh sao khỏi phải thực thi mệnh lệnh của triều đình. Còn xét về hành động, Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đầy các nhà yêu nước.

Điều đánh chê trách (?) nhất ở Phạm Quỳnh là đã ra làm chủ bút báo Nam Phong , do tên trùm mật thám Đông Dương là Lu-i Mác-ty (Louis Marty-Inspecteur des affaires politiques de l’ Indochine) chủ trì. Với chức danh đó, ông không thể không có sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc. Nhưng mặt khác, ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông-Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Nếu không xảy ra việc ông qua đời năm 1945, thì có thể ngày nay chúng ta dễ dàng đánh giá ông hơn.

Gần đây vẫn còn có người cho rằng: vì ông là phản động nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tư liệu mà tôi thu thập được thì thấy sự thực không hẳn là như thế: Năm 1945, sau khi Bảo Đại vừa thoái vị, trao ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời thì Pháp thả dù biệt kích và gián điệp xuống vùng ngoại vi thành phố Huế, mang theo chỉ thị mật của Chính phủ Đờ Gôn là phải tiếp xúc cho kỳ được với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. Lúc đó Bảo Đại đã được đưa ra Thanh Hóa, còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn ở Huế nên có lệnh cấp tốc phải di dời hai nhân vật này ra khỏi Huế. Chuyến di dời đó có bốn người là Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm), Phạm Quỳnh, con trai Ngô Đình Khôi và Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh. Nhưng phương tiện dời đi chỉ có chiếc ô tô cũ, ọc ạch đưa được ba người là Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi cùng du kích áp tải. Nguyễn Tiến Lãng phải ở lại đi bằng phương tiện khác. Chẳng may du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì xe bị hỏng, lại có tiếng ì ầm như có tiếng máy bay biệt kích Pháp thả dù. Các chiến sĩ du kích bí quá, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời, đã tự động thủ tiêu ba người, không chờ chỉ thị cấp trên.

Sự việc diễn ra như vậy là cái “ngẫu nhiên lịch sử”, tuy có phản ánh cái tất yếu, nhưng cái tất yếu chưa được nhận thức đầy đủ. Nó cũng để lại những dấu ấn tiêu cực trong các mối quan hệ nhân quả không lường trước được. Cụ thể như trong cuộc gặp gỡ với đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (một anh hùng tình báo của ta vừa qua đời) tại cuộc Hội thảo Khoa học do Viện Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức vào cuối năm 2001, tôi đã được nghe đồng chí Vũ Ngọc Nhạ cho biết “Có lần Ngô Đình Diệm đã bộc lộ lòng kính trọng Cụ Hồ, nhưng lại nói: Tôi không thể đi với Việt Minh được, vì nếu vậy thì biết nói gì với gia đình họ Ngô tôi về việc Việt Minh đã giết anh ruột tôi”

Thế đấy, một sự kiện lịch sử nếu được làm sáng tỏ cũng có thể có ích cho mối quan hệ giữa những người có liên quan, nhất là những nhân vật có trọng trách với quốc gia.

Cũng vậy, sự kiện về Phạm Quỳnh qua đời, nay vẫn còn chưa được làm rõ. Ngày 4/10/2002, nhân gặp đồng chí Cù Huy Cận (một trong ba người tước ấn kiếm của Bảo Đại sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945) ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, tôi hỏi về cái chết của Phạm Quỳnh, đồng chí Cù Huy Cận nói:

“Chính tôi đã được Bác Hồ giao cho ra đón bà Phạm Quỳnh cùng con gái xin vào gặp Bác Hồ để minh oan. Vừa tới nơi, Bác đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và nói ngay “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi”…Bác còn dặn dò bà Phạm là cố gắng dạy dỗ con cháu tích cực làm việc cho dân cho nước”. Các con cháu bà cho đến nay đã thực hiện được lời khuyên của Bác như Phạm Khuê, Phạm Tuyên…

Một tư liệu nữa lại chứng minh thêm ý kiến trên của Bác Hồ:

Năm 1945, khi Bác Hồ gặp đồng chí Chu Đình Xương, giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ để chỉ thị về việc “Thả Ngô Đình Diệm’, Bác còn nói thêm “Nếu Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) còn, thì nay chúng ta cũng mời Cụ ra giúp nước”. Không rõ tư liệu chính xác đến mức nào, nhưng qua mấy sự kiện trên ta có thể thấy cái “ngẫu nhiên lịch sử” nên vẫn còn cần được làm rõ.

Đối với quê hương Hải Dương chúng tôi, nếu làm rõ được sự kiện lịch sử này cũng có lợi cho việc thực hiện tính “Công minh lịch sử” nhằm bảo đảm tính “Công bằng xã hội” đúng với mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã đề ra là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


[1] Theo thống kê trong công trình “Tiến sĩ Nho học Hải Dương 1075-1919” của Hội đồng Chỉ đạo Biên soạn Địa chí tỉnh Hải Dương do Tăng Bá Hoành chủ biên, xuất bản năm 1999, trang 153, thì tính đến năm 1919, Hải Dương có tất cả là 637 Tiến sĩ (chưa kể biệt lục)

[2] Trong Lịch sử Hiến chương loại chí (tập 1, NXB Sử Học, 1960) mục Nhân Vật Chí (trang 102-103) viết: Phủ Hạ Hồng… về khoa mục thì huyện Gia Phúc, huyện Tứ Kỳ đỗ nhiều hơn (mỗi huyện 47 người). Những người học giỏi, những người bề tôi hiến phần quê ở trong hạt. Về thời Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Trung An, đỗ Trạng nguyên, có tài lưu tiếng nghìn đời. Như vậy trước kia quê hương Trạng Trình thuộc huyện Tứ Kỳ. Đến thời Nguyễn (1838) mới cắt 5 tổng của Tứ Kỳ, 3 tổng của Ninh Giang lập thành huyện Vĩnh Bảo nay thuộc Hải Phòng.

[3] Phạm Quý Thích đỗ Tiến sĩ năm 1779 thời Lê mạt nên không thi thố được tài năng đã về dạy học đào tạo được nhiều nhân tài

4 Về sai lầm của Phạm Quỳnh thì chí ít cũng như Phan Châu Trinh đương thời đã chê trách: “Còn như cái anh Phạm Quỳnh thì tôi thấy trong một, hai bài trong nhật trình không những là giả dối, vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều” (Tuyển tập Phan Châu Trinh của Nguyễn Văn Dương – Đà Nẵng 1995, trang 33). Về đóng góp thì cho đến nay không ít nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam đã ghi lại lời Phạm Quỳnh nhân kỉ niệm Nguyễn Du (Nam Phong 1919 kỷ niệm Nguyễn Du) là “Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn! Nước ta còn!” coi đó là lời nói có ý nghĩa tích cực, đáng ghi nhận.

5 Có một chi tiết nữa: Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.

Giáo sư Văn Tạo và luận thuyết “Công minh lịch sử và Công bằng xã hội”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 2 năm 2018

Giáo sư Văn Tạo

và luận thuyết “Công minh lịch sử và Công bằng xã hội”

Phạm Tuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 8 báo Nhân Dân số ra ngày 12/4/2017 đăng thông báo: TIN BUỒN Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và gia đình thương tiếc báo tin: Giáo sư VĂN TẠO (tức Nguyễn Xuân Đào) sinh năm 1926, quê quán: huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; trú quán P8 – 12A – 16 khu đô thị Times City, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, cán bộ lão thành cách mạng nguyên Viện trưởng Viện Sử học: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng ba; huân chương kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; một Giải thưởng Hồ Chí Minh, hai Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ; Huân chương Lao động hạng nhất: Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, đã từ trần hồi 12 giờ 35 phút ngày 10/4/2017. Lễ viếng từ 11 giờ 30 phút; lễ truy điệu và đưa tang lúc 12 giờ 30 phút ngày 13/4 tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, quận Hai Bà Trưng, tp Hà Nội, hỏa táng cùng ngày tại Đài hóa thân Hoàn Vũ, Văn Điển, Hà Nội.

—o0o—

Có lẽ không người dân nào ở một đất nước đầy biến động như nước ta lại không tán thành và mong ước việc thực thi luận thuyết đầy ý nghĩa này.

Giáo sư Văn Tạo, hơn nửa thế kỷ qua, bằng hàng trăm công trình và kiến nghị của mình viết về lịch sửVan tao 4 nước nhà đã được sự đồng tình và đánh giá cao của đông đảo giới Sử học trong và ngoài nước.

Thấm thoát đã qua mười lăm năm kể từ khi luận thuyết “Công minh lịch sử công bằng xã hội” của giáo sư được công bố rộng rãi trên báo Nhân Dân cuối tuần (5/5/1996), đã thu hút được sự quan tâm của giới trí thức và đặc biệt lớp trẻ. Nhiều nhà Sử học đã cảm thấy bụi thời gian đã che phủ không ít sự kiện và nhân vật góp phần làm nên lịch sử nước nhà, và cảm thấy đã đến lúc phải trả lại lịch sử như nó vốn xảy ra, gạt bỏ những nhận định sai lầm định kiến khi ở không ít quốc gia – trong đó có nước ta – có khi chính một số người tự nhận là viết sử, nhưng đã bóp méo lịch sử theo “lệnh” hoặc theo lợi ích của những nhà cầm quyền.

Tuy nhiên nhận thức đúng là một chuyện, nhưng cũng có những người, để cho an toàn, lại chỉ muốn dừng ở việc nghiên cứu nhưng sự kiện, nhân vật cách đây hàng mấy thế kỷ, mà vẫn còn đắn đo khi đề cập đến những vấn đề của lịch sử cận đại. Sự dè dặt đó khiến cho lớp bụi thời gian, tuy mới gần đây thôi, vẫn chưa được phủi sạch, để lại cho thế hệ trẻ ngày hôm nay không ít băn khoăn, lúng túng, hiểu lầm.

Điều đáng quý ở giáo sư Văn Tạo là ông không chỉ dừng ở việc nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan những dòng họ xưa kia bị quên lãng hoặc đánh giá không đúng (như họ Khúc, họ Trịnh, họ Hồ, v.v..) hay những nhân vật lịch sử như Trần Thủ Độ, Phan Thanh Giản, v.v… mà ông đã mạnh dạn, thẳng thắn đề cập đến những sự kiện, nhân vật lịch sử từ đầu thế kỷ 20 tới nay, trong đó không ít trường hợp bị quy kết, đánh giá không đúng, từ nhóm Tự lực văn đoàn, đến những chuyện manh động hồi đầu Cách Mạng Tháng Tám. Từ những sai lầm trong cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, từ không ít sự kiện “quan ta sát hại quân mình” đến vụ án “Nhân văn giai phẩm”, v.v… Giáo sư Văn Tạo đã thẳng thắn và dũng cảm bàn trực tiếp vào nhiều vấn đề và không ít trường hợp đã giải tỏa được những băn khoăn trăn trở của mọi người, được dư luận xã hội đồng tình.

Nhạc sĩ Văn Cao, người bạn vong niên của tôi, sau bao năm tháng lận đận nay đã được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhà thơ Lê Đạt, bạn học của tôi hồi học Pháp Lý ở chiến khu Việt Bắc, cuối đời sống trong cô độc và bị định kiến, thì nay cũng đã được tặng giải thưởng Nhà Nước. Tôi chợt nhớ tới hai câu thơ của anh, một tâm sự và cũng là một niềm tin:

“Lịch sử muôn đời duyệt lại

Không ai lừa được cuộc đời!”

Có công minh lịch sử thì mới có công bằng xã hội.

Riêng đối với thân phụ tôi – nhà văn hóa Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong – sau hơn nửa thế kỷ bị kết tội mà không có tòa án nào xét xử rồi bị sát hại, đã bị dìm trong quên lãng. Viện Văn học đã đôi lần đề nghị tổ chức hội thảo để có sự đánh giá thỏa đáng công tội của nhân vật lịch sử này nhưng bị cấp có thẩm quyền bảo thôi vì “chưa phải lúc”(!) Thậm chí có người trong giới văn hóa còn viết báo cho rằng không nên khui lại một vụ án đã có kết luận rồi (!). Thế nhưng đông đảo những nhà văn, nhà sử học của nước ta lại có một cách ứng đối tế nhị nhưng rất hiệu quả: Đó là từ hơn mười năm qua, hàng mấy ngàn trang viết của thân phụ tôi đã được biên tập, giới thiệu một cách khách quan và đúng đắn trên nhiều xuất bản phẩm của các nhà xuất bản uy tín trong cả nước (Nhà xuất bản Văn Học, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Nhà xuất bẳn Tri Thức, Nhà xuất bản Thế giới v.v…)

Tôi thực sự cảm ơn cách ứng xử của giới trí thức nước ta.

Đúng là “Không ai lừa được cuộc đời!

Riêng Giáo sư Văn Tạo thì ông đã viết hẳn một bài về “Phạm Quỳnh, chủ bút báo Nam Phong” (Tạp chí Khoa học và Ứng dựng, Hải Dương 2/2005), và được sự động viên của ông, nhà văn Khúc Hà Linh đã viết sách “Phạm Quỳnh – Con người và thời gian” (Nhà xuất bản Thanh Niên 6/2010).

Tôi thực sự xúc động khi dược dự một cuộc hội thảo trên Đài Phát thanh Truyền hình Hải Dương (6/2010) về Học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong được nghe 15 bản tham luận của các giáo sư Văn học và Sử học, mà người đề dẫn cho buổi hội thảo lại chính là Giáo sư Văn Tạo. Phải chăng khi tổ chức cuộc hội thảo này nhân ngày báo chí Việt Nam, Ban tổ chức đã chứng minh thêm sự đánh giá của đồng chí Trường Chinh khi báo Cờ Giải Phóng chuẩn bị ra số đầu tiên sau Cách Mạng Tháng Tám 1945 vói việc nhắc tới ba cột mốc của lịch sử báo chí nước ta là: “1917 – Nam Phong – 1932 Phong Hóa- Ngày Nay  và 1945 Cờ Giải Phóng” (Bài viết của nhà báo Thép Mới)

Sau hơn nửa thế kỷ vượt qua những định kiến của một thời “chủ nghĩa lý lịch”, tôi mới dần được chứng kiến sự giải tỏa bước đầu về thân phụ mình. Quê hương tôi (Hải Dương) từ tỉnh cho đến huyện, đến xã đã tự hào nhắc tới “Nhà văn hóa lớn Phạm Quỳnh”, mà người đồng hương quý mến của tôi là Giáo sư Văn Tạo đã góp phần cho sự “công bằng xã hội” đó.

Năm nay Giáo sư Văn Tạo bước sang tuổi 86.

Nhân ngày sinh của Giáo sư (29/4/2011) tôi chân thành chúc giáo sư luôn luôn mạnh khỏe, minh mẫn, tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa cho nền sử học của nước nhà, để lại cho thế hệ sau những công trình ngày càng có giá trị.

Hà Nội 21 tháng 4 năm 2011.

P.T.

Thu Pham Tuyen

Phần cuối bài viết của nhạc sĩ Phạm Tuyên gởi giáo sư Văn Tạo

Sứ mệnh của sử gia và chuyện công minh lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:19 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 2 năm 2018.

 

SỨ MỆNH CỦA SỬ GIA VÀ CHUYỆN CÔNG MINH LỊCH SỬ

Trả lời phỏng vấn của giáo sư Văn Tạo (Lê Ngọc Sơn thực hiện)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn bài giáo sư Văn Tạo trả lời phỏng vấn của báo Sinh Viên Việt Nam do Lê Ngọc Sơn thực hiện, đăng trên số báo (26/9-3/10/2011).

Giáo sư Văn Tạo là người đầu tiên sau Đại hội VI của Đảng (1986) đã nêu lên vấn đề cần đánh giá lại Thượng Chi – Phạm Quỳnh theo tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật qua bài viết Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong đăng trong mục Ý kiến trao đổi các trang 9 và 10 báo Khoa học và Ứng dụng Hải Dương số tháng 2/2005.

Giáo sư Văn Tạo đã hai lần được tặng Giải thưởng Nhà nước về nghiên cứu khoa học – kỹ thuật. Lần thứ nhất năm 2000 và lần thứ hai năm 2012 với công trình Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam đồng tác giả với giáo sư Nhật Bản Fugata Moto.

—o0o—

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam vừa tổ chức hội thảo khoa học đề tài Công minh lịch sử và công bằng xã hội, xuất phát từ bài báo cùng tên cách đây 15 năm trên báo Nhân Dân của G.S Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học (Viện  KHXH VN). Sinh Viên Việt Nam đã có dịp trở lại vấn đề này với ông.

Trải qua bao cuộc bể dâu…

Thưa GS Văn Tạo, ông đến với nghề sử như thế nào? Xuất phát từ điều gì mà cuộc đời làm công việc nghiên cứu lịch sử của ông lại xoay quanh chuyện “giải oan cho các nhân vật trong lịch sử”?

Tôi bắt đầu làm sử từ năm 1954, đến nay, đã gần 60 năm. Từ dạo ở Tân Trào-Việt Bắc đã làm, về tiếp quản Thủ đô thì chuyên làm cho đến tận bây giờ, không làm nghề gì khác cả. Say sưa với nghề, nhưng đồng thời cũng rất băn khoăn, vì lịch sử dân tộc ta rất hào hùng, có nhiều cái hay, nhưng uẩn khúc cũng lắm, oan khuất cũng nhiều. Có những bất công đem cái hoạ đến cho hàng vạn người chứ không phải chỉ một người. Như vậy để thấy rằng, tôi chọn lĩnh vực nghiên cứu này là xuất phát từ sự bức xúc của nghề nghiệp. Đồng thời, đó là cái tâm của mình đối với con người. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trước đây đã từng nói với tôi: “Tất cà là do con người và vì con người”.

 Riêng tình huống nghiên cứu về công tội của nhà Trịnh hay nhà Mạc cũng là điều gây tranh cãi bấy lâu nay trong giới nghiên cứu sử học, chưa nói đến dân gian. Dưới con mắt của ông, bức màn lịch sử này cần được nhìn nhận thế nào?

Ví dụ về “có công thành có tội” thì rất nhiều, điển hình là nhà Trịnh. Vua Lê được Chúa Trịnh giúp. Vua Lê (thời Lê mạt) ươn hèn, Chúa Trịnh giỏi nên có những cái lấn át là điều khó tránh khỏi. Người ta nói rằng: “Lê tồn, Trịnh tại-Lê bại, Trịnh vong”. Không có Trịnh thì không còn Lê. Nhà Mạc đã vùng lên để diệt Lê, diệt Trịnh làm vua (khi Lê-Trịnh suy vong), thì người đời quy cho là ngụy. Họ Trịnh giữ được vai trò phù Lê nên mới cai trị đất nước mấy trăm năm như thế. Nếu đất nước cứ bùng nhùng trong khủng hoảng, mà không dám làm như Hồ Quý Ly, như Mạc, hay như Tây Sơn, dám xoá bỏ cái lạc hậu đi thì không tiến lên được. Cố GS Trần Quốc Vượng và tôi cùng cho rằng: “Nếu nhà Mạc không bị cuối đời sai, con cháu yếu đi, thì đã có thể làm như Minh Trị ở Nhật Bản”. Tóm lại, lịch sử là cần phải nói rõ, ai có tội, ai có công, công-tội cụ thể như thế nào là phải công minh.

Đất nước trải bao “cuộc bể dâu”, vậy trong con mắt của người làm sử như ông, “những điều trông thấy” là gì?

Dưới con mắt người làm nghề nghiên cứu lịch sử, mọi thứ cần phải được minh định công tâm, và khi thấy có nhiều uẩn khúc thì phải minh tường nó. Thí dụ như trường hợp họ Mạc. Trong thực tế, đây là một dòng họ có cống hiến lớn cho đất nước, nhưng lịch sử bảo người ta là Nguỵ. Nhà Trịnh diệt nhà Mạc, đuổi lên Cao Bằng, nhà Trịnh thắng, nhà Mạc chạy, nhưng họ đã giết không biết bao nhiêu người và họ truy cho đến cùng. Nếu giữ họ Mạc thì ở đâu cũng chết, cho nên những người họ Mạc phải đổi họ. Và một họ Mạc phải đổi thành hơn 20 họ. Có bộ phận chạy vào Thanh Hoá đổi thành họ Phạm, lại sợ bị lộ nên chạy tiếp vào Nghệ An, đổi thành họ Phan. Một bộ phận chạy vào Quảng Nam, đổi thành họ Hoàng như cụ Hoàng Diệu; hay là họ Vũ nhà GS Vũ Đình Cự. Giờ có anh Vũ Bằng (làm Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán nhà nước), cũng chính là gốc gác họ Mạc. Tôi biết những điều này vì bố anh Vũ Bằng là ông Vũ Tiến Liễu, từng giữ cương vị Vụ trưởng ở Bộ Ngoại giao, khi còn sống, ông đã cùng tôi dự giỗ họ Mạc ở Nam Sách (Hải Dương)-quê hương Mạc Đĩnh Chi. Ông có kể tôi nghe về dòng họ nhà mình là họ Mạc, phải chuyển thành họ Vũ. Nhưng phải giấu thật kỹ, nên lúc làm nhà thờ, phải chôn một câu đối vào trong tường. Sau này xây lại nhà thờ, lấy ra được, mới biết đã từng là nhà Mạc. Đau khổ đến nỗi, đổi họ hai, ba lần…

Sứ mệnh của người làm nghề sử

Nhưng để minh oan được cho những điều oan khuất trong lịch sử chẳng phải là chuyện dễ dàng gì?

Đúng vậy. Để công minh lịch sử đòi hỏi phải xem xét lại lịch sử, mà để xem xét lại thực sự rất phức tạp. Ví dụ, bà Dương Vân Nga là người nổi tiếng của dòng họ Dương (hiện dòng họ này ở Bắc Ninh). Những người ủng hộ bà bảo bà không chịu ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến. Bà là vợ Đinh Tiên Hoàng, sau trở thành Hoàng hậu của vua Lê Đại Hành. Khi vua Đinh bị giết, con bà là Đinh Toàn còn nhỏ, Dương Vân Nga đã lấy long bào khoác lên vai Lê Hoàn, về sau trở thành vợ Lê Hoàn. Thế là về sau, sử sách phong kiến đã xoá công lao của bà. Sử phong kiến bảo bà là “bất trung” chồng chết lại bỏ con đi lấy người khác. Còn người đời bảo bà là “bất trinh”, vì lấy hai vua. Nhưng tôi và nhiều nhà sử học khác đều cho rằng, lúc bấy giờ, bà làm vậy là trung kiên và mưu trí. Nếu không nhà Tống sang xâm lược, chắc chắn sẽ đánh chiếm nước ta. Lúc bấy giờ Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn cầm quân. Vua Đinh bị giết. Có hai đại thần là Đinh Điền và Nguyễn Bặc kiên quyết chống Lê Hoàn và đòi đưa Đinh Toàn lên. Đinh Toàn lên làm vua khi mới 8-9 tuổi, đương lúc quân Tống xâm lược, triều đình rối ren. Trong khi đó, Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn có khả năng đuổi được giặc Tống. Dương Vân Nga ủng hộ Lê Hoàn, thì đất nước mới được yên.

Trong gia phả nhà họ Đỗ bây giờ, lên án bà Dương Vân Nga. Bởi vì nhà họ Đỗ có ông Đỗ Thích, với truyền thuyết dựa trên câu sấm rằng: “Đỗ Thích thí Đinh Đinh, Lê gia xuất thánh minh”, tức là Đỗ Thích giết hai cha con vua Đinh thì mới xuất hiện ông Lê Hoàn là “thánh minh”. Nên họ Đỗ bảo rằng: “Đỗ Thích chẳng làm gì cả, làm vua không được, làm quan chẳng xong, sao lại đi giết vua?”; “Chẳng có quyền thế, chẳng có tên tuổi lại đi giết những hai đời vua?”. Lịch sử nói rằng, khi hai vua bị giết, Đỗ Thích trèo lên mái ẩn nấp, nhưng bị bắt và đem ra băm vằm làm mắm. Họ Đỗ phủ nhận điều này. Nhưng lúc ấy giờ, nếu không đổ tội cho Đỗ Thích thì đổ cho ai? Họ Đỗ thì lại bảo chính Lê Hoàn và Dương Vân Nga âm mưu giết 2 vua Đinh. Đó, như vậy mới thấy lịch sử rắc rối. Thế cho nên, làm về “Công minh lịch sử” không dễ gì mà thuyết phục được. Đó chỉ là một ví dụ điển hình trong vô vàn thí dụ.

Theo ông, tại sao công minh lịch sử lại dính dáng đến “công bằng xã hội”?

Tôi nhận được sự ủng hộ không phải là dễ dàng hay ngẫu nhiên. Những người ủng hộ thấy rằng, điều này sẽ giúp dân tộc đoàn kết hơn, khôi phục danh dự cho những người bị oan khuất trong lịch sử, để cùng bắt tay nhau xây dựng một xã hội không còn những oan khuất như vậy. Nhiều học giả ủng hộ vì đây là việc có lợi cho dân, cho nước để cứu vớt hàng vạn người đau khổ như họ Mạc, buồn bã như họ Trịnh. Họ Trịnh cống hiến như vậy, nhưng cho đến giờ, từ Bắc chí Nam không có một đường phố nào mang tên họ Trịnh. Có người phản biện rằng có Trịnh Hoài Đức, tôi nói Trịnh Hoài Đức là người Hoa kiều. Nhà Mạc thì đã có phố Mạc Đĩnh Chi, Mạc Thị Bưởi, họ Khúc có Khúc Hạo, chứ tìm cả nước chưa có con đường nào đặt tên người họ Trịnh. Chỉ bởi vì họ Trịnh đã từng lấn át vua Lê. Sở dĩ họ Trịnh không được trọng vì họ Nguyễn lên, lật đổ họ Trịnh. Họ Nguyễn cai trị bao nhiêu năm chống họ Trịnh không thể lộ mặt ra được. Mặc dù đời con cháu ăn nên làm ra, nhiều người ra nước ngoài và thành công, họ gặp tôi và yêu cầu khôi phục danh dự dòng họ. Trước đây không hề có di tích lịch sử nào của họ Trịnh được xếp hạng cấp quốc gia. Sau khi tôi làm xong việc minh oan cho nhà Trịnh, di tích “Phủ Chúa” đã được xếp hạng.

Trong đời làm sử của mình, triết lý mà ông muốn theo đuổi là gì?

Đạo làm nghề sử của tôi chính là ở đây. Lịch sử có công minh thì xã hội mới công bằng. Muốn cho đoàn kết, cùng nhau xây dựng một xã hội đẹp đẽ thì phải có công bằng. Công là công, tội là tội. Những người có “thế” có thể biến “tội” thành “công”, có người công ít, tội nhiều lại biến thành công nhiều, tội ít. Tôi mong muốn làm cho lịch sử được công minh. Nói đúng thì xã hội mới công bằng. Người ta có công hoặc có tội thế nào, nói đúng như vậy, không nói quá.

Theo ông, điều gì là quan trọng nhất đối với một sử gia?

Đó chính là chữ Tâm. Tôi đã đến rất nhiều nước và nhận thấy, cái tâm của người làm sử là điều đáng quý nhất. Lịch sử dân tộc hào hùng như vậy, nhưng vẫn còn ẩn chứa nhiều oan khuất, uất ức, những cái giữa người với người mà không công bằng, nên vẫn trì trệ. Tấm lòng đem khoa học phụng sự xã hội là quan trọng nhất. Làm sử là phải vì dân tộc, vì con người. Tôi thương họ Mạc đến mức phải khóc lên. Có nhiều gia đình đã chia sẻ với tôi: “Tổ tiên tôi, cả đời chúng tôi…đều phải khóc, vì chúng tôi là con cháu họ Mạc. Con cháu chúng tôi ra đời bị người ta khinh”. Nếu không vì cái tâm, vì con người, không hy sinh mình chắc chắn sẽ không thể làm được đâu.

Ông có thấy rằng, khi làm những vấn đề khó khăn thế này, thì chẳng khác gì đang “cõng đá” không?

Đúng! Ông Nguyễn Khánh, nguyên Phó Thủ tướng rất ủng hộ tôi, và bảo tôi là nhà sử học khách quan, trung thực, chân chính. Phần thưởng của tôi là được mọi người ghi nhận cái tâm của mình. Với tôi, đấy là phần thưởng xứng đáng. Cá nhân tôi không màng đến bất cứ điều gì hay bất cứ sự ưu đãi nào. Đời làm sử của tôi rất nhiều gian truân, nhưng tôi yêu nó…

Để người trẻ thích học sử Việt

Dưới con mắt sử gia, ông có thể giải thích, vì sao người Việt anh hùng là như vậy nhưng vẫn chưa hề có sự bứt phá vươn lên. Ngoái nhìn lịch sử, so với các nước khác, thì người Việt mình còn thiếu điều gì?

Nếu nói về tính cách, con người nào, dân tộc nào cũng đều có mặt tốt, mặt xấu. Không có ai hết sức đẹp đẽ cả. Trong lịch sử, sử gia Trần Trọng Kim từng viết: Con người Việt Nam yêu nước, chống ngoại xâm, cần cù lao động. Nhưng mặt khác cũng có tính xấu như khôn lỏi, thù vặt…Bây giờ, tệ tham nhũng phổ biến, cũng là thói xấu của người Việt chứ trốn đi đâu được.

Thực tế là bây giờ, nhiều người trẻ không thích sử, đi theo nghiệp sử cũng chẳng mấy người mặn mà. Theo ông thì vì sao?

Nhiều người hỏi làm sao người trẻ hiện nay không thích sử, tôi nói vì sử của ta chưa nói lên được hết sự thật. Tại sao giới trẻ rất thích đọc Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, vì nó rất thật. Người trẻ không thích sử có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là chưa có cách dạy sử đúng sự thật và đủ cuốn hút.

Vậy theo ông, điều quan trọng nhất để giới trẻ thích học sử là gì?

 Thứ nhất, bản thân sử phải đáp ứng yêu cầu của giới trẻ. Học là phải vào đầu được, nhận thức được. Sử phải nói thật, thật mới hay.

Thứ hai, viết sử phải hấp dẫn, giảng phải lôi cuốn. Không nên dạy sinh viên những thứ mà giảng viên không tin những điều họ dạy là đúng, nói gì đến sinh viên tin và thích.

Thứ ba, phải dân chủ, không hiểu thì được hỏi, không đồng ý, được phản bác. Có thế mới là dạy và học tích cực được. Có thể hỏi sai. Hiểu sai, nhưng hỏi được thì mới hiểu đúng. Với lòng ham muốn được học điều hay, điều mới, thì con người chắc chắn sẽ có mong muốn và ham thích học sử.

Xin cảm ơn ông!

 

Tháng Một 14, 2018

Cuộc thảo luận xoay quanh quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 1 năm 2018

CUỘC THẢO LUẬN XOAY QUANH QUAN ĐIẾM
TI
P CẬN TOÀN B, TOÀN DIỆN V LỊCH SỬ VIỆT NAM

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 490 (tháng 12 năm 2017) từ trang 29 đến trang 33.

—o0o—

Sáng ngày 22 tháng 2 năm 2017 tại trụ sở Ban Tuyên giáo Trung ương ớ Hà Nội, dưới sự chủ trì của đồng chí Võ Văn Thưởng ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, GS Phan Huy Lê trình bày báo cáo Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sứ Việt Nam, trong đó tập trung khái quát những thành tựu nổi bật của Sử học Việt Nam từ Đổi mới cho đến nay làm cơ sở triển khai xây dựng bộ Lịch sử Việt Nam 30 tập và khẳng định quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện là quan điểm khoa học cơ bàn của bộ Quốc sử theo tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng và của Thủ tướng Chính phủ.

Quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện thật ra đã được vận dụng khá phố biến ở hầu hết các nước có nền sử học phát triển và cũng đã được đưa vào nghiên cứu và giảng dạy ở khá nhiều cơ sở sử học trong nước, nhưng đối với mặt bằng nhận thức chung thì cũng có thể được xem là đang còn mới mẻ. Trước những vấn đề mới của khoa học, nếu có đầy đủ tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, lãnh đạo Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh cần bình tĩnh lắng nghe, xem xét và tổ chức trao đồi học thuật trên tinh thần xây dựng, thì họ lại vội vàng cho đây là quan điểm đối lập, thậm chí là thù địch và phản động cần phải loại bỏ. Họ đã phát động cả một chiến dịch vu khống và phê phán vô căn cứ trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 23 tháng 2 năm 2017 cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Dưới đây chúng tôi xin bước đầu tập hợp hơn ba chục bài viết trên được triển khai theo tinh thần chủ đạo này.

Bảng I. Thống kê bài viết trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh:

TT

Tác giả

Tên bài Số báo, ngày
1 Quan Văn Đàn Những người “vĩ đại ” VN438, 23-2-2017 VN439, 2-3-2017 VN440 9-3-2017
2 Vũ Hạnh Vương triều Nguyễn dưới mắt người xưa VN439, 2-3-2017
Nguyền Văn Thịnh Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì VN439, 2-3-2017
3 Nguyền Minh Tâm Đừng mượn danh khoa học để đánh tráo lịch sử VN440, 9-3-2017
4 Quan Văn Dàn GS Phan Huy Lê ẩn chính dương phụ! VN441, 16-3-2017
5 Quan Văn Dàn Lịch sử “vươn lên “! VN442,23-3-2017
6 Nguyễn Văn Thịnh Không được xúc phạm vong linh liệt sỉ VN442, 23-3-2017
7 Nguyên Văn Toàn Lịch sử dân tộc không có chỗ cho kẻ “rước

voi giày mã tổ”

VN444, 6-4-2017
8 Thu Tứ Công-Tội nhà Nguyên VN444, 6-4-2017
9 Giá Khê Một lời biện minh cho Nguyễn Ánh VN447, 27-4-2017
10 Đặng Minh Phương Trở lại chuyện Phạm Quỳnh VN447, 27-4-2017
11 Cao Đức Trường Đâu là khoảng trống lịch sử? VN450, 18-5-2017
12 Tông biên lập tuần

báo Văn nghệ

Trả lời công văn Hội KHLSVN VN450, 18-5-2017
13 Nguyễn Văn Thịnh Sự thật lịch sư không thể tô hồng, không thể bôi đen

bôi đen

VN451,25-5-2017
14 Hoàng Phương Chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quôc sử như thế này sao? VN451,25-5-2017
15 Cao Đức Trường Lập lờ hay né tránh lịch sứ VN452, 1-6-2017
16 Chu Giang Vẫn còn gia trướng bao cấp VN452, 1-6-2017
17 Chu Giang Thần tình yêu trong tư duy sử học VN453, 18-6-2017
18 Nguyễn Ngọc

Quang

Tri thức và lương thức của sử học VN455, 22-6-2017 VN456, 29-6-2017 VN457, 6-7-2017
19 Cao Đức Trường Chuyện khôi hài trong giới sử học hiện nay VN458, 13-7-2017
20 Trương        Thanh

Hùng

Ngụy và Việt Nam Cộng hòa VN464, 7-9-2017
21 Vũ Hạnh, Dương Linh Đột phá hay chạy tội VN465, 14-9-2017
22 Hoàng Phương Thư ngõ gửi ông Trần Đức Cường — Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam VN465, 14-9-2017
23 Nguyễn Long Trảo Lịch sử và viết sử VN467, 5-10-2017
24 Nguyền Đức Huy Phái chăng là việc làm dối Đảng lừa dân? (Thư gửi BBT Tuần bảo VN TPHCM) VN467, 5-10-2017
25 Giá Khê Mấy vấn đề nhờ GS Phan Huy Lê giải thích… VN470, 26-10-2017
26 Cao Dức Trường Pháp lý hay phi lý? VN472, 9-11-2017
27 Hoàng Phương Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị VN474, 23-11-2017 VN475, 30-11-2017
28 Ban Biên tập VN TPHCM Ý kiến của Tuần báo Văn nghệ về vấn đề đối

thoại sử học

VN474, 23-11-2017
29 Nguyễn         Ngọc

Quang

Bình yên cho sử học! VN474, 23-11-2017 VN475, 30-11-2017 VN476, 7-12-2017 VN477, 14-12-2017
30 Đông La Cần phải xem xét Dương Trung Quốc “nhìn lại lịch sử” VN475, 17-11-2017
31 Quan Văn Dàn Thế là quy chụp và xuyên tạc VN477, 14-12-2017
32 Cao Đức Trường Lê Vản Tám không phải truyền thuyêt VN477, 14-12-2017 VN478, 21-12-2017
33 Nguyễn Văn Thịnh Đừng chơi với lửa VN477, 14-12-2017
34 Quan Văn Dàn Nhận thức chưa tới? VN478, 21-12-2017

Tuy nhiều tác giả chỉ dùng bút danh, nhưng cũng không khó để có thế nhận ra cả 17 tác giả của hơn ba chục bài viết được thống kê ở trên (người viết nhiều nhất có đến 5 bài), đều không phải là những người viết sử chuyên nghiệp, không có một chuyên gia nào có đủ năng lực để luận bàn những vấn đề hết sức khái quát, nhưng lại rất chuyên sâu của lịch sử Việt Nam. Họ chỉ dùng một miếng võ sở trường là giương cao “lập trường quan điểm”, quy kết chính trị cực đoan và mặc sức phán xử theo lối “Văn Nghệ”. Họ chỉ lấy những nhân vật, sự kiện lịch sử, vấn đề lịch sử để làm cái cớ luận bàn về lập trường chính trị và quan điểm sử học theo ý hiểu riêng của họ.

Họ khai thác triệt để quan điểm bảo thủ, giáo điều của thời kỳ bao cấp vẫn còn rơi rớt lại trong một số người, chọn lọc một vài ý kiến có tính định hướng của một số nhà lành đạo hay nhà khoa học có uy danh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chủ yếu tập trung vào lịch sử vương triều Nguyễn và một số vấn đề của lịch sử Cận – hiện đại Việt Nam để làm tiêu chí đánh giá. Phải nói đây là những vấn đề hết sức phức tạp và “nhạy cảm” nên dưới thời bao cấp không có cơ hội được trao đổi, thảo luận kỹ càng. Đến thời kỳ Đổi mới, Sử học Việt Nam đã đầu tư đi sâu vào nhiều những vấn đề khó khăn phức tạp trước đây và thu được nhiều thành tựu nổi bật. Thành tựu nghiên cứu mới có mặt làm sáng rõ hơn, và cùng có nhiều mặt bổ sung, nâng cao nhận thức, góp phần hiệu chình lại, thậm chí loại bỏ một số quan niệm đẫ trở nên bảo thủ, lạc hậu. Đây phải được coi là một bước tiến lớn của Sử học, niềm tự hào chính đáng của Sử học cách mạng Việt Nam, mà không một ai có thể phủ định được. Thế nhưng nhóm tác giả Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã không biết đến điều này. Trước sau họ chỉ một mực coi những quan điểm sử học và sách lịch sử xuất bản từ những năm 1950, 1960, cách ngày nay tròn một nửa thế kỷ là chân lý lịch sử, là khuôn vàng thước ngọc và kết tội những nghiên cứu mới của sử học ngày nay là “đi chệch chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học”, phủ định các bậc tiền bối, là “xét lại lịch sử”, “mượn danh khoa học để đánh tráo lịch sử” và “lật đổ lịch sử”. Họ tưởng tượng ra một thứ “Chủ nghĩa xét lại lịch sử, một thứ “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong khoa học lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” về chính trị. Đây là điều mà các thế lực thù địch và phản động mong muốn”. Đi xa hơn, họ tiên đoán “việc thừa nhận chính quyền ngụy Sài Gòn là hợp pháp; sẽ là phủ nhận toàn bộ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ đó dẫn đến việc phủ nhận chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lành đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”1.

Họ cảnh báo: “Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên mặt trận tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành sử học kể cả trên ba mặt: Về chính trị, về tư tương và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường”. Họ gieo rắc hoài nghi rằng nếu giao việc biên soạn bộ Quốc sử nước nhà cho nhóm Đề án và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam như hiện nay thì nhóm này sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận sử học của ai và “điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thât không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục cũng như trên địa hạt tư tưởng”. Họ hối thúc phải giải quyết ngay lập tức hàng loạt kiến nghị của Tuần báo Văn Nghệ vì “nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thức trong xã hội”, đe dọa đến cả sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và Chế độ Xã hội Chủ nghĩa của chúng ta.

Như thế mục tiêu lớn nhất của hơn ba chục bài báo trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh có thể được tóm gọn lại là kiên quyết giương cao ngọn cờ “quan điểm lập trường”, dứt khoát trở về với phương pháp sử học cổ điển, phủ định tuyệt đối quan điểm tiếp cận toàn bộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam và đình chỉ hay xóa bỏ Đề án Khoa học xã hội cấp Quốc gia Nghiên cứu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam mà Đảng và Nhà nước đang chỉ đạo triển khai.

Trước những bài báo đặt vấn đề chính trị hết sức nghiêm trọng như thế, ngày 8 tháng 5 năm 2017, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã gửi công văn đề nghị cùng Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật và tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức một cuộc đối thoại trên tinh thẩn dân chủ, thẳng thắn, khách quan, tôn trọng lẫn nhau vì sự thật lịch sử, vì trách nhiệm trước nhân dân và trước lịch sử. Hội thảo dự kiến sẽ được tổ chức ngay trong tháng 5 năm 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiếc rằng ngày 12 tháng 5 năm 2017, Tổng Biên tập Tuần báo Văn Nghệ đã có thư trả lời với những khó khăn không thể cùng tổ chức đối thoại trực tiếp được và mong tổ chức đối thoại bằng văn bản, qua các bài viết trên báo Văn Nghệ. Ông Tổng Biên tập còn khẳng định viết như thế sẽ chặt chẽ hơn, “trách nhiệm khoa học và nhân cách văn hóa đương nhiên cũng phải được đề cao. Không bạ đâu nói đấy, phát biểu tùy hứng”. Tiếc rằng ngay sau đó, Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, bất chấp lời hứa danh dự của ông Tổng biên tập, tiếp tục đăng những bài báo còn phi văn hóa, phản khoa học và quy chụp chính trị cực đoan hơn.

Tạp chí Xưa & Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch s là các cơ quan phát ngôn chính thức cua Hội Khoa học Lịch sứ và giới Sử học Việt Nam, tuy vẫn biết đây chỉ là mượn danh sử học, hoàn toàn không vì mục tiêu khoa học, nhưng vẫn sẵn sàng đứng ra tổ chức cho các chuyên gia trao đổi xoay quanh một số vấn đề về phương pháp tiếp cận, về cách thức nhìn nhận, đánh giá và cả một số sự kiện hay nhân vật lịch sử cụ thể mà Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh nêu ra. Một lần nữa chúng tôi hy vọng hai bên có thể cùng nhau làm sáng tỏ những vấn đề hết sức cơ bản đang được quan tâm (xin tham khảo những bài đã được giới thiệu trên tạp chí Xưa & Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử).

Bảng II. Thống kê bài viết trên tạp chí Xưa và Nay và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử.

TT Tác giả Tên bài Tạp chí
1 Phan Huy Lê Công cuộc khôi phục thông nhất quôc gia cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Xưa & Nay, 486,8-2017 NCLS,7(495)2017
2 Nguyễn      Quang

Ngọc

Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa –

Trường Sa trong thời kỳ nhà Nguyễn thế kỷ XIX

Xưa & Nay, 486,8-2017 NCLS. 7(495)2017
3 Phạm Hồng Tung Vấn đề quốc gia Việt Nam trong lịch sử Việt

Nam hiện đại & Tuyên bố của Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco năm 1951

Xưa & Nay, 487,9-2017
4 Vũ Minh Giang Không thê tùy tiện xuyên lạc các nguyên tắc biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam Xưa & Nay, 487,9-2017
5 Nguyền Văn Kim Ý nghĩa công pháp quốc tế của các bản hiệp ước mà triều Nguyễn ký với phương Tây Xưa & Nay, 487,9-2017 NCLS, 8(946)2017
6 Vũ Văn Quân Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam XưaNay, 488,10-2017
7 Nguyễn Văn Khánh Phan Chu Trinh trong lịch sử dân tộc Xưa & Nay, 488,10-2017 NCLS, 9(947)2017
8 Nguyễn Văn Nhật Thể chế “Việt Nam cộng hòa” trong lịch sử

Việt Nam

Xưa & Nay, 490 12-2017
9 Tống Văn Lợi Về nhân vật Nguyên Anh – Gia Long Xưa & Nay, 490.12-2017
10 Nguyễn Huy Mầy tư liệu mới vê Lê Văn Tám Xưa & Nay, 490,12-2017
11 Phạm Hồng Tung Giá trị pháp lý quốc tế của Hội nghị hòa hình San Francisco trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa Xưa & Nay, 490,12-2017
12 Tạp chí Xưa và Nay Cuộc tranh luận xoay quanh quan điểm tiếp cận toàn hộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam do Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh khởi xướng Xưa & Nay, 490,12-2017

Các bài báo này tập trung vào một số vấn đề cơ bản và chỉ ra được những sai lầm trong tư liệu và lập luận của những bài viết trên Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, khai thác và cập nhật các kết quả nghiên cứu mới trên tinh thần nhìn nhận và đánh giá lịch sử theo phương pháp tiếp cận toàn bộ, toàn diện lịch sử Việt Nam.

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tỏ ý hoan nghênh Hội Khoa học Lịch sử đã đáp đăng bài phản hồi công khai trên tạp chí Xưa & Nay số 487, tháng 9 năm 20172 và cho biết sẽ tiếp tục đăng bài phản hồi lại những bài phản hồi của giới Sử học trên tạp chí Xưa & Nay.

Gần đây, đọc những bài phản hồi lại của Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh như: Pháp lý hay phi lý? (Văn Nghệ, 472), Thế là quy chụp và xuyên tạc (Văn Nghệ, 477), Nhận thức chưa tới? (Văn Nghệ, 477), Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị (Văn Nghệ, 477),  Bình yên cho sử học (478)…, chúng tôi càng nhận thấy rõ hơn giữa chúng tôi và các vị không có cùng một nền tảng kiến thức, lại khác xa nhau về phương pháp tiếp cận, nên làm sao có thể cùng nhau đi đến ngọn nguồn của vấn đề.

Vì vậy sau một số bài tranh luận nhằm mục đích làm sáng rõ trước công luận một số vấn đề lịch sử cơ bản do Tuần báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh nêu lên, chúng tôi dừng cuộc tranh luận ở đây

X & N

———–

(1) Sự vu khống độc địa này chính là lý do làm bùng lên cơn bão mạng khi Viện Sử học Việt Nam tổ chức Lễ ra mắt bộ Lịch s Việt Nam 15 tập (do PGS Trần Đức Cường làm Tổng Chủ biên) vào ngày 18 tháng 8 năm 2017. Họ cố tình “nhầm” bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập là kết quả đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Sừ học dã được xuất bản với bộ Quốc sử do GS Phan Huy Lê làm Tồng Chủ biên mới dang dược triên khai, đòi thu hồi bộ sách và kỷ luật các tác giá. Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức một Hội đồng khoa học đánh giá một cách chính xác và công tâm, khẳng định những cố gắng và thành công của tập thể các nhà khoa học Viện Sử học, đề nghị cho bộ sách được phát hành bình thường.

(2) Thật ra tạp chí Xưa & Nay số 486 (tháng 8 năm 2017) và tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 7 (495) 2017 đã đăng bài các bài phản hồi từ trước đó rồi.

 

 

 

Năm mới, chúc nhà báo Đặng Minh Phương trường, trường thọ.

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 2 tháng 1 năm 2018.

Năm mới, chúc nhà báo Đặng Minh Phương trường, trường thọ.

Phạm Tôn

Nhà báo Đặng Minh Phương sinh năm 1928, tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, tức là đã đến tuổi đại thọ rồi. Nhưng, xem ra, ông vẫn còn trẻ lắm, luôn “tả xung hữu đột” trên mặt trận báo chí. Không những trẻ, mà nhiều khi còn rất ngây thơ nữa (Xin lỗi đã nói như vậy, và cũng hứa sẽ chứng minh sau đây).

Bài Trở lại chuyện Phạm Quỳnh đăng trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 447 viết vì có sự xuất hiện bài Một mối thân tinh của Anh hùng Lao động Sơn Tùng đăng trên tạp chí Tinh Hoa Việt số 47, giữa tháng 3/2017. Đến số 450 Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ra ngày 18/5/2017 thì ông nói toạc ra ý kiến của mình về bài đó trong bài có tên “Một mối thân tình” chuyện bịa đặt của ông Sơn Tùng.

Chủ yếu trong bài này ông phản bác hai việc là: 1/ Nguyễn Ái Quốc gặp Phạm Quỳnh ở Pháp năm 1922 và 2/ ông Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên báo cáo việc ông Phạm Quỳnh bị xử tội chết.

Ông Đặng Minh Phương viết:

“1. Chuyện Nguyễn Ái Quốc gặp Phạm Quỳnh ở Pháp năm 1922

Ông Sơn Tùng viết: Năm 1913, cụ Đào Nhật Vinh cùng làm việc trên tàu viễn dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành từ Le Havre, hải cảng ở Bắc Pháp quốc. Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất, ông Sơn Tùng vào miền Nam, nhờ có hướng dẫn, ông được gặp cụ Đào Nhật Vinh.

Ông Sơn Tùng được nghe cụ Đào Nhật Vinh kể nhiều chuyện về mối quan hệ giữa các cụ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Ông Sơn Tùng viết: “Tôi (cụ Vinh) được làm chân điếu đóm của các cụ…cho nên chúng tôi được đến gần các vị trong phái bộ tháp tùng Nhà vua (Khải Định) như quan tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định, ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh… Ông Vĩnh, ông Quỳnh quen biết nhau từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục…

Đầu tháng 7/1922, tôi (cụ Vinh) không nhớ chính xác là ngày nào tôi trong Hội chợ cùng anh bạn đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau, có lẽ đang nói thầm.. Tôi và anh bạn quay trở lại… chiều hôm ấy tôi về nhà ông Tạ Văn Cẩn, gặp cụ Phan và ông Nguyễn đang ở đây. Ông Nguyễn dặn nhỏ tôi: Ngày 13/7, Vinh đến cụ Nghè Đông Ngạc nhé, đến sớm sớm đó… Tức là tôi đến số 6 Villa des Gobelins, cụ Nghè Đông Ngạc là Tiến sĩ luật khoa Phan Văn Trường. Cách nói lóng này chỉ một số trong nhóm chúng tôi biết. Tôi đến sớm để làm “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc… Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợt ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng. Tôi đem tách trà lên phòng mời khách. Chỉ có ba vị trong phòng thôi. Và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa soạn xong bữa…”.

Những điều kể trên là hoàn toàn bịa đặt. Làm gì có chuyện “những ngày đầu tháng 7 (1922) ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau đi sóng bước… và hơn 8 giờ sáng 13/7, đàm đạo tới 11 giờ…”.

Xin mời đọc Pháp du hành trình nhật ký của chính ông Phạm Quỳnh viết (NXB Hội Nhà văn, 2004) có ghi nhật ký từng ngày:

Thứ 7 mồng 1 tháng 7: Hôm nay đi chơi Saint Cloul, cách Paris chừng 15 cây lô mét… Thứ 3 ngày mồng 4 tháng 7: Tối mai đây đã phải diễn thuyết ở Hội Đông Pháp Ái hữu. Mấy hôm nay nằm hầm ở nhà để soạn bài, không đi chơi đâu cả. Thứ 4 ngày mồng 5 tháng 7, … 8 giờ diễn thuyết ở Kinh tế Cục cho các hội viên Hội Đông phương Ái hữu nghe…”. Từ ngày 6-7 cho đến ngày 11/7, ông Quỳnh đi thăm chơi nhiều nơi ở Paris, nói chuyện ở nơi này nơi nọ, gặp gỡ nhiều người bạn Pháp, không hề thấy ông ghi là có gặp và “sóng bước” với ông Nguyễn Ái Quốc! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Về cuộc gặp Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… ở Paris, ông Phạm Quỳnh ghi: Thứ 5 ngày 13/7/1922. “Cụ V. hôm nay đưa đến chơi ông De Naléche, chủ nhà báo Journal des Débat ở đường Saint Germain…, không phải là “… Hơn 8 giờ sáng ông Quỳnh tới” nhà cụ Nghè Phan Văn Trường. Cũng không hề có chuyện “ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng” như ông Sơn Tùng ghi. Xin đọc tiếp nhật ký của ông Quỳnh:

“Chiều hôm nay (13/7) ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi, không khỏi có trinh tử do thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu nay không được ăn cơm ta ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ thỏa thích. Ăn no uống say, cười cười nói nói, không ngờ buồng bên cạnh có người đương hấp hối chết, đến lúc xuống thang mở cửa ra đi chơi mới thấy lão quản gia nói, các ông có ý trách sao lão không bảo trước để cho bọn mình khi ngòi bàn ăn biết mà tĩnh túc hơn một chút; lão giơ hai tay lên, tựa hồ như cho việc đó là không can hệ gì. Trong một nơi đô hội ba bốn triệu con người này, một người chết đi có lẽ cũng không quan hệ gì thật…”

Ngày 14/7, ông Quỳnh đi xem điểm binh ở trường đua ngựa… Ngày 15, đến thăm bác sĩ Lyon Caen là vĩnh viễn thư ký Hội Hàn lâm, Ban Chính trị luân lý học…

Đến ngày chủ nhật, 16/7, ông ghi:

“Hôm nay không đi chơi đâu, ngồi hầm trong buồng, viết mấy cái thư về nhà.

Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử đi theo, chắc bọn đó đứng đâu ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng phải là sự phi phạm gì. Và chính phủ Pháp vẫn có tiếng là khoan dung đại độ, xem như mấy ông ở đây bấy lâu vẫn được yên ổn ở dưới quyền bảo hộ của pháp luật, vẫn được tự do như người Pháp, thì đủ biết. Còn sự trinh sát là phận sự của các Chính phủ, dân nước nào cũng vậy, chẳng lấy gì làm lạ…” (Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, NXB Hội Nhà văn 2004).

Cả hai lần gặp gỡ (Chiều 13 và trưa 16/7), ông Phạm Quỳnh chỉ ghi gọn trong 30 dòng nhật ký. Ông cũng không ghi rõ “mấy tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi” này là ai, không kể nội dung các cuộc gặp ấy là gì, chỉ nói qua là “ăn cơm ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích… (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai cũng thế…”.

Ông dẫn chứng bằng những sự việc Phạm Quỳnh viết công khai trên báo Nam Phong và nhấn mạnh “Không hề thấy ông ghi là có gặp và “sóng bước” với ông Nguyễn Ái Quốc và “Cả hai lần gặp gỡ (chiều 13 và 16/7) ông Phạm Quỳnh chỉ ghi gọn trong 30 dòng nhật ký.” Và lại nhấn mạnh: “Ông cũng không ghi rõ “mấy tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi” này là ai, không kể nội dung các cuộc gặp ấy là gì, chỉ nói qua là “ăn cơm ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích… gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai cũng thế…”

Ở phần mở bài, tôi có nói là cụ đại thọ này… rất ngây thơ. Cụ thể hai điều ông nhấn mạnh trên, muốn một nhà báo Việt Nam trên đất Pháp phải nói rõ là mình đã gặp gỡ và bàn chuyện gì với những người đang bị cảnh sát Pháp theo dõi ngay trên mặt báo công khai! Đúng là quá ngây thơ, không thể tin được đó lại là yêu cầu của một nhà báo đã nhiều năm trong nghề.

Còn về việc thứ hai ông phản bác thì chúng tôi tin là chính ông Đặng Minh Phương cũng biết là nếu dẫn chứng ý kiến của ai thì cần phải đưa ra ý kiến cuối cùng của người đó, chứ không phải là ý kiến đó lợi cho mình. Các nhà nghiên cứu ai cũng biết lệ đó. Vì theo thời gian, kinh nghiệm từng trải, có thêm tư liệu mới… người ta có thể thay đổi ý kiến. Ví như ông dẫn chứng ý kiến giáo sư Nguyễn Văn Trung trong sách in năm 1975 mà không đưa ý kiến của ông ấy năm 1999, trên báo Đi tới  xuất bản ở Montréal, Canada:

“Trong bài du ký ông chỉ nhắc tới buổi gặp Phan Chu Trinh mà không nói tới những gặp gỡ khác đặc biệt với Nguyễn Ái Quốc. Chắc hẳn ông đã báo cáo với mật thám Pháp về những tiếp xúc này một cách nào đó cho khỏi bị nghi ngờ. Những ai đã có dịp gặp Nguyễn Ái Quốc bất kể là người Việt Nam hay người ngoại quốc đều thú nhận rất khó chống khả năng cảm hóa thuyết phục của Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh, một người thấm nhuần sách lược Lê-nin-nít. Có thể Nguyễn Ái Quốc, nhận thức được sự đóng góp đặc biệt của Phạm Quỳnh cho cách mạng Việt Nam ở cương vị một người cộng tác thân tín với giới lãnh đạo chính trị an ninh tình báo cấp cao nhất trong chính quyền thuộc địa, trao công tác cho Phạm Quỳnh mà bây giờ gọi là “ĐƠN TUYẾN” nghĩa là chỉ tiếp xúc nhận chỉ thị của một người khi cần đến, trong khi chờ đợi cứ nằm vùng 10 năm, 20 năm hoàn thành xuất sắc tất cả các việc người Pháp trao để không bị nghi ngờ bất chấp những đố kị kết án là phản quốc Việt gian. THỜI ĐIỂM 1945-46 PHẠM QUỲNH CÓ THỂ XUÁT HIỆN VỚI BỘ MẶT THẬT (thì) BỊ CẤP DƯỚI GIẾT CHẾT. Khả năng bị thủ tiêu ở thời điểm này lại rất dễ xảy ra ngay cả với những người được triệu ra Bắc làm bộ trưởng như Lê Văn Hiến nếu không nhờ có can thiệp kịp thời.

Dĩ nhiên, đây hoàn toàn là một giả thuyết có thể phải đợi bao giờ một cuốn sử về Nguyễn Ái Quốc trung thực được công bố có nói đến tiếp xúc giữa ông và Phạm Quỳnh hồi ở Paris hoặc không bao giờ được kiểm chứng.

 (…) Tình hình hiện nay có xu hướng tạm gác đánh giá Phạm Quỳnh về chính trị và lưu tâm tìm hiểu về sự nghiệp văn học của ông. Trong nước đã xuất bản những Truyện ngắn Nam Phong và chuẩn bị những trao đổi về mặt văn học (…) Việc nghiên cứu này không dựa vào những chứng từ như hồi ký, trả lời phỏng vấn… chỉ có giá trị tương đối nào đó, mà vào bút tích ghi trong hồ sơ hành chính lưu trữ ở văn khố Pháp, Nhật hay của bộ nội vụ ở Việt Nam. Hy vọng có thể phát hiện những sự kiện thuận lợi cho Phạm Quỳnh như xác nhận giả thuyết ông Nguyễn Ái Quốc móc nối Phạm Quỳnh và bức thư kết bằng những mẩu thuốc lá của những Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở trong tù gửi cho ông Phạm Quỳnh đề nghị can thiệp với Pháp thay án tử hình đối với nhóm Nguyễn Thái Học được xác minh ông Phạm Quỳnh có can thiệp… (những đoạn in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Montreal, đầu tháng 8/1999

N.V.T.

Ông dẫn lời ông Tôn Quang Phiệt năm 1945, nhưng chắc chắn ông có biết đoạn văn này trong bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 267 tháng 9 năm 2006 như sau:

“Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.”

Chúng tôi cũng báo để các bạn biết là bài này đăng lại trong sách mới của Đặng Minh Phương Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng. Trong sách này, bài Trở lại chuyện Phạm Quỳnh đã biến thành một bài “đại luận”, tên bài được lấy làm tên sách, bài dài đến 28 trang, do ông gom lại tất cả những gì đã sưu tầm và công bố trên Hồn Việt năm xưa, mà tháp vào đuôi bài cũ!

Đầu năm Tây, xin tặng ông một tục ngữ Tây Qui Vivra Verra (tạm dịch là Sống lâu biết nhiều chuyện lạ). Vì thế, xin chúc ông trường, trường thọ.

P.T.

Tháng Mười Hai 31, 2017

Chúc mừng năm mới

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:45 sáng

Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:30 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018.

PHẠM QUỲNH VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN

VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY  Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

Vương Trí Nhàn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Vương Trí Nhàn sinh ngày 15 tháng 11 năm 1942 tại Hà Nội. Quê ông là xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm vào năm 1964, sau đó đi bộ đội cho đến đầu năm 1979. Trong quân đội ông dạy học và về sau làm báo. Ông từng giáp mặt với thực tế các chiến trường B4, B5. Các bài viết của ông xuất hiện trên báo Văn Nghệ từ tháng 3 năm 1965. Sau đó ông viết đều đặn trên các báo Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội. Từ 198  5 còn trên cả Thể Thao & Văn Hóa, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Kiến Thức Ngày Nay v.v… cùng với các bài nghiên cứu dài trên Tạp chí Văn Học. Đầu 1968, ông về Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và năm 1979, thì sang nhà xuất bản Hội Nhà Văn, đều là những cơ quan người sáng tác đông hơn người nghiên cứu phê bình. Việc này ảnh hưởng quyết định đến những đề tài những tác giả mà ông quan tâm cũng như cách viết của ông. Năm 1977 ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông học tiếng Nga từ đầu thập niên 1970, có một số bài dịch từ tài liệu tiếng Nga về một số tác phẩm văn học, cũng như biên soạn một tập sách nhan đề Sổ tay truyện ngắn, dựa vào tài liệu tiếng Nga. Năm 1990, khi đang học tại trường viết văn Gooc-ki của Nga, dù chưa gặp nhưng qua các tác phẩm được đọc, ông đã có nhận xét nổi tiếng về  “khuôn mặt nhàu nát vì đau khổ“ của Nguyễn Huy Thiệp. Lúc đầu, ông chỉ tập trung về mảng văn học đương đại, cho đến đầu thập niên 1980, ông có ý thức dần dần trở lại với văn học sử, nhất là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX và đã viết một số bài nghiên cứu về các nhà văn tiền chiến. Tới đầu thập niên 1990, trước các hiện tượng văn học quen thuộc, ông lại muốn ngả sang cách tiếp cận văn hóa học. Ban đêm, ông tự học thêm về lịch sử, dân tộc học, xã hội học v.v…

Vuong Tri NhanMột số tác phẩm của Vương Trí Nhàn đã xuất bản là: Sổ tay truyện ngắn (sưu tầm, biên soạn, dịch NXB Tác Phẩm Mới, 1980, in lại năm 1998. NXB Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2001), Bước đầu đến với văn học (tiểu luận phê bình NXB Tác Phẩm Mới, 1986), Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (kể chuyện đời sống văn học, Hà Nội, 1986), Những kiếp hoa dại (chân dung và phiếm luận văn học, NXB Hội Nhà Văn, 1993, in lại 1994), Cánh bướm và đóa hướng dương (tiểu luận phê bình, Hải Phòng, 1999), Cây bút, đời người (chân dung văn học, NXB Trẻ, 2002), Ngoài trời lại có trời (viết về một số tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài, NXB Hội Nhà Văn, 2003)…

Cuối năm 1992, Vương Trí Nhà đã gửi bài tham gia hội thảo (không thành) do Viện Văn Học tổ chức tại Hà Nội cùng với hai mươi tham luận của các tên tuổi lớn trong văn hóa văn học Việt Nam như Hoàng Đạo Thúy, Vương Hồng Sển, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Xuân…

Sau này bài đó được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số tháng 7-2005 nhưng đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Chúng tôi mời các bạn đọc những trang sau đây do chính tác giả đưa lên mạng. Để tiện theo dõi, chúng tôi cho vào ngoặc vuông ( [ ] ) các đoạn bị lược bỏ đó.

—o0o—

I.

Từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch qua Phan Chu Trinh và các nhà nho hoạt động cho Ðông Kinh Nghĩa Thục, trong giới trí thức – thường gọi là các sĩ phu – của nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thấy nổi lên một loạt người có cách nhìn khác đi so với cách giải quyết thông thường các vấn đề xã hội. Họ cũng yêu nước; trước hoạ diệt vong, họ cũng muốn nhận lấy trách nhiệm với đất nước. Song, xem xét kỹ tình hình xã hội đương thời, họ cho rằng cứu nước trước tiên không phải là lập nên lực lượng vũ trang tổ chức kháng Pháp mà cần “cường dân hoá quốc”, đưa nước ta hưng thịnh theo mẫu hình xã hội phương Tây, sau đó thì công cuộc cứu nước cực kỳ quan trọng kia mới có cơ thực hiện.

Khi quan niệm như vậy, mỗi nhà nho của chúng ta – những người vốn được đào tạo từ nơi cửa Khổng sân Trình – quả đã trải qua một cuộc đột biến trong suy nghĩ. Song, trong trường hợp này, sự nhạy cảm đã mách bảo họ khá chính xác, trí tuệ của họ tìm ra một định hướng hợp lý khiến cho lòng yêu nước có được sức sống, lại mang sắc thái khá hiện đại. Nói gọn lại là họ đã đúng! Hãy thử nhìn vào sự chuyển biến của xã hội Việt Nam trong lịch sử: nếu đem xã hội đó cuối thế kỷ XIX và một vài năm đầu tiên của thế kỷ XX, so sánh với chính nó những năm 30-40 (và không quên quy định rõ với nhau rằng chỉ xét sự vật thuần tuý mà không đếm xỉa đến những nguyên nhân khách quan, chủ quan, các loại tác động bên trong và bên ngoài v.v…), người ta sẽ ngạc nhiên thấy giữa đôi bên có một khoảng cách xa thẳm. Một sự thay đổi ghê gớm đã đến với xã hội này, chẳng khác chi một con người đổi thịt thay da, hoặc một cỗ máy được tháo ra và lắp lại theo kiểu khác. Từ góc độ của kẻ đứng ngoài – trong trường hợp này là kẻ cầm đầu cơ quan cai trị – vào năm 1928, toàn quyền P. Pasquier đã khái quát bằng hình ảnh “Tôi từng biết nước Nam hồi còn đi võng, nay xem ra như đã muốn lên tàu bay rồi“ (Nam Phong. Số 127, 1928; tr. 216). Hơn chục năm sau, tức là qua năm 1942, trong bài mở đầu cho Thi nhân Việt Nam 1932 41 , với tư cách một người trong cuộc, Hoài Thanh sẽ viết về một nước Việt Nam kỳ lạ:

“Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp (…). Nhưng cuộc Âu hoá không phải chỉ có thế. Nó đã đi qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua một giai đoạn nữa. Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa (…) Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta“ (Hoài Thanh, tr. 18).[1]

Sự vận động như vậy đã rõ, phương hướng lại càng rõ. Trước khi nhà văn hoạt kê Vũ Trọng Phụng cho Xuân tóc đỏ mang hai chữ Âu hoá ra đùa giỡn, thì suốt một thời gian dài, nó đã là điều ám ảnh, tức yếu tố chi phối mọi hành động của bao người. Sở dĩ nó, cuộc Âu hoá ấy, có thể diễn ra, và bất chấp mọi giá (ngay trong máu và nước mắt, trong chán chường và uất hận), vẫn diễn ra, bởi lẽ rộng hơn suy nghĩ của một hai người có đầu óc sáng suốt, và rộng hơn một phong trào vận động (như phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục), nó là nhu cầu bức bách của cả xã hội. Chẳng phải bốc đồng mà Phan Chu Trinh, trong thư gửi toàn quyền Pháp từng kêu lên về tình trạng suy đồi của đời sống tinh thần trong dân ta lúc bấy giờ: “Giả phỏng chính phủ cho mượn dăm ngàn khẩu súng cấp đất vài tỉnh cho ở, không thèm hỏi đến, tha hồ muốn làm gì thì làm, chỉ độ dăm năm, thật là báo thù lẫn nhau cho chết hết mới thôi, quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự được ai nữa?“ (Dẫn theo Ðặng Thai Mai tr. 251). Ý Phan Chu Trinh muốn bảo, trong hoàn cảnh ấy, không canh tân đất nước đi, thì có độc lập cũng vô nghĩa. Theo lô – gích mà suy, rõ ràng giữa hai nhiệm vụ là đánh Phápmở mang dân trí, cái thứ hai nếu không cấp bách hơn thì cũng quan trọng ngang với cái thứ nhất. Có điều, cũng từ đây, khía cạnh bi đát của lịch sử bắt đầu bộc lộ. Biết bao người có tâm, có chí, có hiểu biết song bởi chỗ chỉ chăm chăm lo việc trước mắt, hoá ra manh động, trước sau không tránh được thất bại. Trong cuốn Sự phát triển  của tư tưởng  ở Việt nam  từ thế kỷ XIX  đến Cách mạng tháng  Tám tập II  với tiêu đề cụ thể Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Trần Văn Giàu xác nhận “Những tổ chức cách mạng yêu nước không hề đặt vấn đề điều hoà văn hoá Ðông phương và Tây phương, chỉ nghĩ rằng đi vào văn hoá là xa rời yêu nước” (Trần Văn Giàu, tr. 529). Chủ ý của ông là muốn đưa ra một lời khen ngợi, song chúng tôi tưởng, nếu đúng như thế, thì đây lại là lời cắt nghĩa đúng đắn bậc nhất về thất bại của những người yêu nước đương thời (xin lưu ý tôi nói những người yêu nước đương thời, tức là thời mà xã hội Việt Nam chưa được nhào nặn lại theo hướng Âu hoá, chứ không phải những người yêu nước nói chung). Trong khi ấy, có những kẻ lâu nay thường được lịch sử ta coi như bọn phản bội, đặt cược cả đời mình vào việc cộng tác với ngoại bang, tối thiểu cam chịu một bề, đầu hàng hoàn cảnh, cốt sống và tồn tại, song, suy cho cùng, họ rất gần gũi với cách hiểu của Phan Chu Trinh nói trên về tình trạng đất nước, cũng như cách vượt ra khỏi tình trạng tệ hại đó. Khách quan mà xét họ có đóng góp vào việc thúc đẩy cho sự nghiệp canh tân. Việc đánh giá các nhân vật lịch sử bao giờ cũng phải rất cụ thể. Giữa những người cùng làm một việc, động cơ chi phối chưa chắc đã giống nhau; giữa những người cùng ý nghĩ ,  có khi lịch trình hành trạng lại trái ngược và sẽ được thông cảm ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên nếu được phép quan niệm rằng với xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhu cầu canh tân – với tư cách là bước đầu tiên đi đến cứu nước – là một nhu cầu có thật, thì người ta sẽ dễ dàng độ lượng và có cái nhìn phải chăng hơn với nhiều người, trong đó có một nhân vật lịch sử mà lâu nay thường được quy là đầu sỏ tội trạng, song thực tế lại đã làm được khá nhiều việc có ích trong nghiên cứu, giới thiệu và dịch thuật văn hoá  phương Tây vào Việt Nam, cũng như trong việc hướng văn hoá Việt Nam hoà nhập vào văn hoá thế giới nói chung. Người đó là nhà văn Phạm Quỳnh (1892-1945).

II.

Theo nhà sử học Nhật Tsubôi thì một trong những đòi hỏi cấp bách nhất đặt ra với nhiều nước ở phương Ðông hồi cuối thế kỷ XIX là phải “tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một kiểu tư duy khả dĩ thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của phương Tây”. Và để đáp ứng đòi hỏi đó, ở Nhật Bản người ta đã đưa ra khẩu hiệu “Hoà hồn dương tài”, ở Triều Tiên có “Ðông đạo tây khí”, ở Trung Quốc có “Trung thể tây dụng”. Bằng cách diễn tả khác nhau, các khẩu hiệu đó có phần cốt lõi giống nhau: đó là những cố gắng của trí thức mỗi nước nhằm tìm cách hoà hợp văn hoá Ðông -Tây và tạo cho đất nước một sự thích ứng với hoàn cảnh (Tsubôi, tr. 184-185). Trong khi đó ở Việt Nam thì sao? Một mặt đúng như nhà sử học Nhật đã nhận xét “do chỗ Việt Nam (…) bảo thủ hơn các nước theo Nho giáo khác”, – ở Việt Nam đã không thấy có một khẩu hiệu tương tự. Và đây chính là một trong những lý do khiến đất nước ta rơi vào tay bọn xâm lược, còn xã hội thì trượt dài trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ. Mặt khác, nên nhớ rằng một trong những đặc điểm của văn hoá Việt Nam là thói quen dung hoà, tức là khả năng chấp nhận những ảnh hưởng xa lạ với mình, thích ứng với hoàn cảnh mới để tồn tại (Có người đã hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn “Có thể đó là một trong những lý do làm nên sự sống còn của Việt Nam?”, ông đã trả lời “Có thể lắm” – tư liệu do nhà sử học Trần Quốc Vượng cung cấp). Bởi vậy, tuy không có những khẩu hiệu rõ ràng tức là không được đưa lên phương diện ý thức, song sự tiếp nhận văn minh phương Tây vẫn cứ ngấm ngầm xảy ra, dần dà tự phát mà xảy ra, cái tinh thần thấy ở các khẩu hiệu nói trên ở Nhật Bản, ở Trung Hoa, vẫn là điều được thực hiện ở Việt Nam. Những nỗ lực “tuỳ tâm Âu hoá” khởi đi từ các nhà nho trong Ðông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, đến những năm sau, càng được nhiều người thấy là phải và thành tâm tin theo. Nói như Trần Văn Giàu “Tư tưởng về sự điều hoà đạo đức phương Ðông với khoa học phương Tây để tạo cho Việt Nam một lớp thượng lưu mới, tạo cho Việt Nam điều kiện đi tới phú cường – tư tưởng đó trong những năm 20 và 30 khá là phổ biến trong các báo chí chứ không riêng gì trên Nam Phong“ (Trần Văn Giàu, tr. 526).

Thế chỗ bắt đầu của tâm thức “kết hợp Ðông- Tây”, “thổ nạp Âu Á” này là gì?

Có một khái niệm cơ bản, một khi có được nhận thức mới về nó, người ta sẽ hiểu đúng hơn thực chất các vấn đề xã hội do đó có một phương hướng hành động đúng: Ðó là khái niệm văn hoá.

Những người có quan tâm đến lịch sử Việt Nam đều biết rằng ngay từ thế kỷ XV, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nói đến văn hoá:

Như nước Ðại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Sơn hà cương vực đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Cho đến cuối thế kỷ XIX, trong đầu óc các nhà nho, văn hoá vẫn được hiểu như vậy. Có cương vực bờ cõi riêng, phong tục tập quán riêng, tức chúng ta đã có văn hoá riêng. Chắc chắn không có gì đáng phải phàn nàn về nền văn hoá đó. Hơn nữa, nó – nền văn hoá ấy – đủ mạnh đến mức có thể là yếu tố cố kết mọi người lại, lôi cuốn họ vào cuộc chiến đấu cứu nước, cho đến khi lấy lại được đất nước.

Tiếc thay, điều đã đúng trong các thế kỷ trước, đến nay không đúng nữa.

Mặc dù vẫn nhân danh văn hoá (theo nghĩa rộng), nhân danh hùng khí đất nước để chiến đấu, song các cuộc khởi nghĩa Cần vương trước sau không tránh được thất bại.

Tại mệnh trời chăng? Lúc đầu nhiều người chỉ nghĩ có vậy. Song lẻ tẻ, bắt đầu có người ngờ rằng sở dĩ chúng ta thất bại, vì cuộc sống ở xã hội ta quá trì trệ, dân trí ta thấp, trong đó có sự hiểu biết của ta về thế giới quanh ta đơn giản nghèo nàn cũ kỹ dẫn đến tình trạng có sự tách rời giữa nước ta với thế giới. Vậy là tại văn hoá. Nếu cứ để như cũ, nền văn hoá đã là lý do của mất nước lại sẽ trở thành vật cản trong công cuộc cứu nước. Dù sâu cây bén rễ đến đâu, nền văn hoá đó cũng phải được làm lại. Phải nói rằng trước lớp trí thức Tây học khá lâu, các nhà nho đã có người nghĩ như vậy. Song với lớp trí thức trẻ hơn (sản phẩm của quá trình Âu hoá do sự áp đặt cưỡng bức của thực dân Pháp) thì các ý nghĩ đó mới được đẩy đến cùng. Ðến lượt mình, Phạm Quỳnh sẽ có dịp nhấn mạnh điều đó thật đầy đủ khi phác ra bức tranh toàn cảnh của cả khu vực phương Ðông lúc ấy:

“Cái nông nỗi mất nước của ta chính là một tấn kịch nhỏ trong tấn kịch Ðông – Tây xung đột nhau. Tây phương đem lại cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại những cơ khí tối tân mà tràn ngập sang Ðông phương trong khoảng một thế kỷ nay, làm cho các dân tộc Ðông phương thất điên bát đảo bảy nổi ba chìm đến nay hãy còn tê mê chưa tỉnh sự đời. Thành ra cái nông nỗi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi , lại kèm thêm một vấn đề văn hoá nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng.”

Pham Quynh_Tre

Phạm Quỳnh đã viết như vậy trong bài Văn hoá và chính trị in ở tạp chí Nam Phong số 107, năm 1926. Và Phạm Quỳnh còn trở đi trở lại với cái ý ấy trong nhiều bài viết lớn nhỏ khác nữa, bao gồm từ những bài quan trọng, trình bày chính kiến, hoặc kiểm điểm thành tựu của Nam Phong, cho tới các đoạn văn ngắn, nhân chuyện thời sự mà bàn thêm việc chung (ông gọi là mục Thời đàm ). Trong  những phát biểu như vậy, tác giả đã làm một cuộc đảo lộn trong quan niệm, bởi đã dám trao cho văn hoá một sứ mệnh lớn, trực tiếp liên quan đến sự sống còn của đất nước. Mối phản cảm đã đến rất nhanh với người đương thời. Làm sao mà việc mất nước lại do văn hoá được? Do quen sống trong một hệ giá trị khác, làm sao các nhà nho khỏi bị sốc khi phải nghe một kiểu ăn nói nghĩ ngợi khác hẳn mình như vậy?! Trong cảnh bất lực vì không làm cách gì để đuổi bọn cướp nước đi được, bấy lâu, điều làm cho họ cảm thấy được an ủi, là thực ra, bọn cướp nước kia là man di mọi rợ, ta cao hơn chúng, và mặc dù bị thua, song ta vẫn không thèm dùng đồ của chúng, đi xe của chúng… Nay thì tinh thần bài ngoại ấy – một thứ chủ nghĩa yêu nước thẳng tay từ chối mọi nền văn hoá khác lạ – hình như không có cơ đứng vững nữa, làm sao mà họ chịu nổi! Thế còn đối với các nhà Tây học, liệu có thể nói quan niệm đó của Phạm Quỳnh về văn hoá, là quan niệm có tính chất chính thống và phổ biến trong lớp trí thức trẻ đương thời? Cũng không hẳn. Trong số những người cộng tác với thực dân Pháp lúc ấy không thiếu gì kẻ bị ngợp trước nền văn minh mới, hoàn toàn chối bỏ nền văn hoá truyền thống của dân tộc. Có gì chung với đám người ấy thì chung, riêng chỗ này Phạm Quỳnh không chịu! Khi thuật lại chuyện du lịch ở Paris trước 1.500 người nghe, ông không khỏi tự hào “báo cáo” với thính giả rằng mình đã dám nói ngay ở Paris, trước Viện Hàn lâm Pháp:

“Nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một nền văn hoá cũ nhưng văn hoá cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải thâu thái lấy văn hoá mới đời nay mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ”.

Ông yêu cầu nhà nước bảo hộ phải có, trên phương diện văn hoá, mà cũng tức là trên phát triển của xã hội , một chính sách sáng suốt:

“Nếu dân Việt Nam là một dân tộc còn mộc mạc cổ lỗ, chưa có nền nếp chưa có lịch sử, thì quý quốc cứ việc hoá theo Tây cả (…) đồng hoá được đến đâu hay đến đó. Nhưng ngặt thay dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì vào cũng được; tức là một tập giấy đã có sẵn từ đời nào đến giờ rồi, nếu bây giờ viết đè một thứ chữ nữa lên trên, thì e thành giấy lộn mất.” (Thượng Chi văn tập, t.II , tr. 215)

Với một cách nhìn chi tiết và cẩn trọng, văn hoá dân tộc với Phạm Quỳnh hiện ra như một cái gì đa dạng. Nó là một thực thể có thật, không ai có thể gạt bỏ. Nó đã ăn vào máu thịt mỗi chúng ta, thậm chí là một gánh nặng, mãi mãi chúng ta phải mang. Song trong gánh nặng ấy, lại thấm thía bao nhiêu mồ hôi nước mắt của tiên tổ cha ông, lại in dấu bao vui buồn của mỗi kiếp người! Bởi vậy, tốt hơn hết là hãy đến với cái bản chất thứ hai ấy của ta với một thái độ hết sức thân tình, vừa tha thiết, vừa tỉnh táo, vừa vui với nó bằng lòng với nó, vừa biết rằng ở đó có những chỗ yếu, những khuyết tật. Tinh thần phê phán – vốn là đặc trưng của văn hoá phương Tây – có mặt trong từng nhận xét nhỏ nhất của Phạm Quỳnh để rồi giúp ông đi tới một tinh thần cởi mở và một thái độ chân thành trong tiếp nhận. Không chỉ mang lại cho sự tiếp nhận đó một ý nghĩa một lý do tồn tại, ông còn đề ra cho những bước đi và mang lại cho những người làm việc cụ thể một sự động viên, một niềm an ủi. Bằng con mắt của con người Việt Nam ở cuối thế kỷ XX, với mặc cảm tự tôn hình thành và tiếp nối trong nhiều thế hệ, ngày nay đọc lại Phạm Quỳnh, chúng ta dễ có cảm tưởng trước người nước ngoài và văn hoá nước ngoài, ông chủ bút Nam Phong có phần  học trò, quá đề cao và tôn sùng một chiều. Song, nếu nhớ lại rằng vào thời của Phạm Quỳnh, nền quốc văn mới – rộng hơn, cả nền văn hoá mới, những nếp sống mới – còn đang ở dạng sơ khai, thì chúng ta sẽ thông cảm với ông hơn. Hoặc hãy nhìn sang nước Nhật, cách người Nhật nhìn nhận và cách học của họ trước văn hoá nước ngoài, chúng ta sẽ thấy trong những gặp gỡ ban đầu, sự trân trọng là cần thiết đến như thế nào.

Tóm lại, trước khi tiếp nhận và đồng thời với việc tiếp nhận, Phạm Quỳnh đã giải quyết một số vấn đề giống như cơ sở lý thuyết.

1. Thế nào là văn hoá ?

2. Thực chất của văn hoá dân tộc .

3. Mối quan hệ giữa văn hoá và thực trạng đất nước, giữa việc mở mang văn hoá và công cuộc cứu nước.

4. Tính cấp bách và thái độ cần thiết khi tiếp nhận.

Ðây là những định hướng quan trọng mà thiếu đi, sự tiếp nhận văn hoá phương Tây không thể thực hiện một cách tương đối ổn thoả như nó đã được thực hiện. Trong sự bình tĩnh của con người sống ở cuối thế kỷ XX đầu XXI, chúng ta có dịp nhận thấy những thành tựu của giai đoạn văn hoá tiền chiến, là khá rực rỡ, có lẽ là thuộc loại rực rỡ bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Nhưng tất cả đã được gợi mở từ nhiều năm trước khi những người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Tản Ðà… mới đào móng xây nền.

III.

Chẳng những có phương hướng đúng đắn, có quan niệm khá chính xác về công việc, Phạm Quỳnh còn bắt tay vào làm, tức mang đến cho sự tiếp nhận văn hoá phương Tây những đóng góp cụ thể. Trong khi hô hào mọi người nên như thế nọ nên như thế kia, đồng thời Phạm Quỳnh không quên phần việc của mình. Với sự thông minh hiếm có và thói quen làm việc siêng năng, ông thật đã hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ mà người đương thời và các thế hệ sau phải kính phục.

Ðể có một ý niệm sơ bộ về công việc mà Phạm Quỳnh đã làm, người ta chỉ cần giở qua tạp chí Nam Phong, thậm chí một cuốn bản đồ thu nhỏ của nó, như cuốn Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 của L. M. Nguyễn Khắc Xuyên in ở Sài Gòn 1968.

– Ở mục Triết học Tây phương, trong vòng 17 năm, Nam Phong in 14 bài thì riêng Phạm Quỳnh đã viết 11 bài.

– Ở mục Xã hội ngoại quốc, hai con số đó là 13 và 9.

– Ở mục Chính trị ngoại quốc: 18 và 15.

– Ở mục Giới thiệu văn học các nước: 15 và 12.

– Ở mục Giới thiệu văn học Pháp: 39 và 34.

– Ở mục Truyện dịch Pháp: 26 và 15.

Với ba bút hiệu khác nhau (Phạm Quỳnh, Thượng Chi, Hồng Nhân), ông đã “thi công” ngòi bút ở đủ các thể loại: viết có, dịch có, lược thuật có, khảo cứu có. Chỉ trừ thơ là ông không dịch (hoặc không định dịch như một nhà thơ), ngoài ra, thấy cái gì hay, cái gì cần kíp với đời sống trong nước Phạm Quỳnh lập tức tìm cách chuyển nó sang tiếng Việt nghĩa là khoác cho nó bộ y phục dân tộc. Vừa bao quát lịch sử, ông vừa chú ý các vấn đề đương đại của văn học. Vừa làm các việc tương đối lâu dài theo hệ thống đã định, ông vừa có sự phản ứng linh hoạt, năng nổ thu vén nhặt nhạnh, không chịu bỏ rơi bỏ sót cái gì. Có thể là ngòi bút dịch thuật của Phạm Quỳnh không thật tài hoa, nhưng theo một người thạo tiếng Pháp và cũng hay bắt bẻ như Vũ Ngọc Phan, thì các đoản thiên tiểu thuyết được ông chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt một cách vừa có duyên vừa sát nghĩa, còn văn khảo cứu của ông chứng tỏ tác giả là “một người có cái học vừa sâu sắc vừa quảng bác”. Ngày từ 1933, trong Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh “Những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn” (Thiếu Sơn – tr. 19).

Pham Quynh _1922 tai Phap Hơn chục năm sau, nhóm Thanh Nghị còn đưa ra những nhận xét khái quát hơn. Trong bài viết mang tên Nay và mai in trên Thanh Nghị số Tết 1944, Ðinh Gia Trinh cho rằng trong sự kết hợp Ðông Tây, chính thái độ Nam Phong là ôn tồn và phải chăng hơn cả. Qua thời Tự lực, vẫn theo Ðinh Gia Trinh, người ta “đột ngột đi tới sự khinh miệt cái di sản tinh thần của nước nhà sự ca tụng quá đáng và thiết tha những cái gì Âu Tây mang lại (thời kỳ Phong hoá, Ngày nay)” . Về phần mình nhóm Thanh Nghị không giấu diếm ý đồ “ trở lại  sự tôn trọng những di sản của đất nước ,  những tinh tuý của văn minh Á Đông  trong khi tin tưởng  càng mạnh là ta phải  học nhiều ở Tây phương để đi tới sự thành công trong việc xây dựng một nền tư tưởng và một nền nghệ thuật Việt Nam xứng đáng” (  VTN gạch dưới  ) Có thể là Thanh Nghị vẫn không phục gì Phạm Quỳnh (nhất là lúc này Phạm Quỳnh đã vào triều làm quan); nhưng trong một mục tiêu như thế, họ đâu có ngờ là họ đã đến rất gần các mục tiêu của Nam Phong.

Ðấy là những cách đánh giá tích cực.

Về một phía khác, sự phủ nhận đóng góp của Nam Phong nói chung của Phạm Quỳnh nói riêng cũng rất quyết liệt. Và trong những năm mà cuộc chiến đấu cho độc lập dân tộc nổi lên hàng đầu, thì là cả một sự quyết liệt không khoan nhượng. Ðáng kể nhất là trường hợp Ngô Ðức Kế, như lịch sử văn học đã ghi nhận, và gần đây là Ðặng Thai Mai. Trong khi dựng lại bức tranh chung của đời sống văn học đầu thế kỷ, nhà nghiên cứu không dành cho Nam Phong một ý nghĩa tích cực nào, kể cả trên lĩnh vực thuần tuý học thuật. [Những nhận xét chính của Ðặng Thai Mai đối với vai trò của Phạm Quỳnh trong việc tiếp nhận văn hoá có thể tóm tắt:

1. Lập trường của Phạm Quỳnh đã hỏng, đã là dơ bẩn, thì “ý kiến của y cũng chỉ có thể có hại cho tinh thần”.

2. Thực ra Phạm Quỳnh không ghê gớm như chúng ta tưởng:

– “Cái mà Phạm Quỳnh giới thiệu trên tờ Nam Phong không hề có một mặt nào có thể nói là có hệ thống”. “Phạm Quỳnh đã đọc khá nhiều sách, đã viết rất nhiều vấn đề. Nhưng y chưa hề nghiên cứu về một vấn đề gì”.

– Về mọi mặt, chỗ “độc đáo” của y là điểm lạc hậu của bọn học giả phản động Pháp. Với tư cách “ông tham biện của toà Liêm phóng”, y đã “chiếu theo mặt hàng mà quảng cáo cho chính sách thực dân và truyền bá phần lạc hậu nhất (kể cả chính kiến của Charles Maurras) trong tư tưởng nước Pháp”  (Ðặng Thai Mai, tr. 126).]

Ở đây, chúng tôi không có tham vọng giải quyết đầy đủ vấn đề Phạm Quỳnh, cũng không dám đứng ra bàn lại mọi chuyện. Nhưng trước khi đi vào một điểm nhỏ thuần tuý học thuật, chỉ xin phép nói là ngay với định đề ban đầu (Phạm Quỳnh đã “chọn một chỗ đứng trong dơ bẩn”), chúng tôi đã thấy nên dè dặt. Bởi nếu cho rằng tình cảm yêu nước có thể được bộc lộ qua nhiều cách khác nhau và công nhận “hễ ai có đóng góp về vào việc phát triển ngôn ngữ, nói chung là làm lợi cho đất nước về mặt văn hoá, đều đã coi như có lòng với đất nước, có ý thức dân tộc”… thì mọi chuyện có thể được nghĩ khác đi một chút. Thậm chí, ngay cả khi đã kết luận hai năm rõ mười rằng một người hỏng về lập trường chính trị, và có cuộc sống tạm gọi là dơ bẩn thì cũng không có nghĩa rằng mọi thứ người đó viết ra đều là đổ xuống sông xuống bể cả. Thái độ của lớp trí thực hiện nay ở Pháp và Na-uy với di sản của L. F. Céline, K. Hamsun… chứng tỏ rằng ngày nay, hậu thế vẫn có thể rút ra nhiều điều bổ ích từ trước tác của những kẻ từng đã phản quốc và cộng tác với bọn phát-xít. Xử lý cho thích đáng sự không đồng nhất – tức cũng có nghĩa là sự độc lập tương đối và tách rời tương đối – giữa lập trường chính trị và học thuật là khó khăn, nhưng cũng là cần thiết, khi nghiên cứu, chúng tôi nghĩ vậy. Mà trong lịch sử Việt Nam – trước tiên là lịch sử tinh thần, lịch sử văn hoá – Phạm Quỳnh chính là một ví dụ tốt để thấy rằng muốn khỏi bỏ sót từng đóng góp nhỏ, một thái độ phân tích cận nhân tình và thấu đáo là cần thiết như thế nào.

[Sau hết, có thực về học thuật, Phạm Quỳnh cũng rất kém cỏi, một thứ con số không to tướng, như một số người (chứ không chỉ riêng Ðặng Thai Mai) đã nói chăng?]

Ở chỗ này tốt hơn hết, chúng tôi nghĩ là nên vận dụng triệt để quan điểm lịch sử – một điều giới nghiên cứu khoa học xã hội ở ta vẫn thường nói và sẵn sàng nói đi nói lại , nhưng trong lúc làm lại bị nhiều thành kiến vướng víu hạn chế, nên không mấy khi vận dụng được một cách hợp lý.

Ðúng là Phạm Quỳnh viết khá tạp. Ông không để lại những công trình dài hơi – chữ của Phạm Thế Ngũ – và thuần nhất như Trần Trọng Kim hoặc Phan Kế Bính. Nhưng nên nhớ về mặt học thuật căn bản Phạm Quỳnh là típ người thông tin, loại “thuật nhi bất tác”. Ðặt ông vào hoàn cảnh nước Việt Nam đầu thế kỷ, người ta thấy ông khá nhạy bén và thực sự là đã giới thiệu có phân tích có chọn lọc những tri thức phổ thông trong sách vở phương Tây đương thời và trong không ít trường hợp có liên hệ với thực tế Việt Nam, thế là được rồi, không nên do ghét ông mà đặt ra những yêu cầu quá cao như buộc ông đưa ra những luận thuyết, những triết lý lớn rồi chê là ông không làm nổi. Lại như bảo Phạm Quỳnh chỉ truyền bá phần lạc hậu nhất trong tư tưởng của nước Pháp thì cũng không hẳn. Chẳng nhẽ do đăng trên Nam Phong và do Phạm Quỳnh viết mà những bài lược thuật tổng thuật nghiêm túc giới thiệu về Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Baudelaire, Renan, A. France… đều là không đáng đọc, là có tội? Chúng tôi ngờ rằng ở đây, Ðặng Thai Mai  đã để ngòi bút của mình cho tình cảm nồng nhiệt chi phối nên có phần… quá tay. Nói riêng về trường hợp Charles Maurras (1868-1952). Ðúng là trên Nam Phong số 115 ở các trang 218-220 của năm 1927 có thấy trích đăng một ít suy tưởng của nhà văn này. Nhưng chúng tôi tưởng là Nam Phong đã sòng phẳng khi trong lời dẫn ghi rõ rằng Maurras là một kẻ đi ngược dòng trong đời sống tư tưởng ở Pháp, giữa thời cộng hoà mà lại đi đề cao quân chủ, chẳng qua là ông có lối văn rất hay, lập luận rất khúc chiết, nên cũng cần được biết tới. Còn như bảo Nam Phong đăng Maurras nghĩa là cùng tư tưởng với Maurras, như vậy chúng ta sẽ tính sao khi thấy trước đó năm 1926 ở số 109, Nam Phong cho in bản dịch bài viết của một học giả Nhật Bản viết về Chủ nghĩa xã hội, nói tới tính chất không thể tránh được – ngày nay ta gọi là tính tất yếu – của chủ nghĩa xã hội và có dẫn lời của cả Mã-khắc-tư (Marx) lẫn Ân-cách-nhĩ-thị (Engels)? Theo lôgích trên mà suy, chúng ta sẽ bảo như thế là Phạm Quỳnh  cũng góp phần vào việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, hoặc là một trong những người đầu tiên cho đăng trên tờ báo mình, những tài liệu về chủ nghĩa xã hội     chăng? Tôi sợ rằng, nếu được sống lại, Phạm Quỳnh cũng thấy cái mũ ấy to quá, không hợp! Tóm lại, nếu được để phần lập trường chính trị của Phạm Quỳnh sang một bên khi xét phần học thuật, và nếu chúng ta thực sự sáng mắt sáng lòng, thật sự thanh thoát, công bằng trong cảm nhận, chúng ta sẽ thấy phải ghi công cho ông nhiều hơn trước khi có sự định tội cần thiết. Nên nhớ rằng ngay từ 70 năm trước, chính vào lúc đi trên đất Pháp, Phạm Quỳnh đã nhận ra những chỗ yếu của văn hoá phương Tây. Ông bảo nó là cái gì ma quái, “làm vạ cho người đời khá nhiều”, và chính người phương Tây cũng chẳng sung sướng gì”. Theo ông chúng ta không nên ngộ hoặc về nó (Pháp du hành trình nhật ký, Nam Phong, số 91, tr.12). Ở một người mới 30 tuổi, một cách nhìn một tư thế như thế là đàng hoàng là chững chạc. Tinh thần phê phán có lẽ là một trong những nhân tố chính khiến cho ngay trên phương diện chất lượng các công trình tiếp nhận văn hoá của Phạm Quỳnh vẫn có ít nhiều giá trị. Còn như về mặt số lượng, ai cũng biết là vào khoảng những năm hai mươi, khi Phạm Quỳnh đang viết nhiều viết khoẻ, nền học thuật ở ta còn ở tình trạng rất phôi thai. Ðứng trước ngổn ngang công việc và mọi khó khăn bày ra phía trước, ông có vai trò thật sự của một người mở đường. Sự thao túng của ông đối với đời sống văn học công khai là điều ai cũng phải công nhận kể cả người cho là hay lẫn người cho là dở. Sở dĩ đây đó một hai người còn gọi ông là một thứ đạo sư của nền văn nghệ đương thời, là bởi lẽ đó.

IV.

Ðể diễn tả những cuộc gặp gỡ kỳ lạ mà cũng hứng thú giữa các nền văn hoá khác nhau, ở nhiều nước trên thế giới, các học giả thường viện dẫn đến khái niệm acculturation. Trong tiếng Việt, có người dịch thuật ngữ đó là thụ ứng, người dịch là hấp thụ, gần đây hơn lại thấy đưa ra những hỗn dung, tiếp biến, đan xen, giao thoa v.v…; mấy cách dịch ấy chữ nào cũng có lý của nó, nên hãy tạm để đấy, điều quan trọng hơn là cách hiểu về khái niệm. Bách khoa toàn thư Mỹ định nghĩa acculturation “là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hoá khác nhau, tiếp xúc trực tiếp và lâu dài với nhau, gây nên sự biến đổi trong dạng thức văn hoá ban đầu của một hay cả hai bên (Dẫn theo Hà Văn Tấn, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật 4-1981). Ðối chiếu với một định nghĩa nghiêm chỉnh như thế, người ta thấy cuộc tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây (trước tiên là văn hoá Pháp) trong một vài thế kỷ gần đây, nhất là cuối thế kỷ XIX đầu XX, đáng được coi là một hành động acculturation điển hình. Trong bài này, sở dĩ không dùng những giao thoa, đan xen, mà chỉ dùng một chữ khá phổ biến là chữ tiếp nhận, bởi lẽ, rõ ràng là trong quá trình tiếp xúc mà chúng ta đang quan sát, sự biến đổi chủ yếu xảy ra với một bên (phía Việt Nam), hơn là cả hai bên (cả phía Pháp). Hơn thế nữa, phải nhận đó là một sự biến đổi quá lớn, biến đổi hẳn trong dạng thức (pattern); sau khi tiếp xúc, văn hoá Việt Nam như nhào nặn lại, làm lại hoàn toàn. Nhưng có hề gì! Theo các nhà lịch sử văn hoá cho biết hoà nhập, vừa là đặc trưng, là tính nội tại, vừa là điều kiện sống còn của văn hoá. Lịch sử mỗi nền văn hoá không chỉ là sự phát triển tự thân của nó, mà còn là lịch sử của mối quan hệ giữa nó với các nền văn hoá khác. Riêng ở Việt Nam lịch sử đã hai lần biết tới một sự cấy ghép văn hoá ngoại lai như vậy, nhưng cả hai lần, văn hoá Việt Nam đều không mất đi, không bị đồng hoá, trong khi cải biến vẫn giữ được sắc thái của riêng mình. Nếu sau khi tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa, chúng ta vẫn có những thời kỳ phát triển độc đáo, như văn hoá Lý- Trần, văn hoá cuối Lê đầu Nguyễn, thì sau khi làm một cuộc thay máu hoàn toàn dưới ảnh hưởng văn hoá Pháp, nền văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ vẫn đẻ ra được những đứa con bụ bẫm, như nền tiểu thuyết hiện đại, phong trào Thơ Mới v.v. Ngày nay, mỗi chúng ta đều thấy hết sức tự nhiên khi khoác lên người những bộ âu phục với complet, cravate, chemise… Chúng ta tưởng từ lúc khai thiên lập địa, người Việt đã ăn mặc vậy. Nghe nói tới nỗi băn khoăn của lớp người đầu thế kỷ khi phải lần đầu cởi bộ khăn đóng áo dài, nhất là cắt cái búi tó sau gáy, chúng ta hơi ngạc nhiên. Nhưng quả thật là những bước đầu Âu hoá đã xảy ra với muôn vàn lúng túng. Và những điều ấy cũng đúng với công cuộc biến đổi trong văn hoá tinh thần, mà xã hội ta ở đầu thế kỷ thể nghiệm. Ở khu vực này, trong mỗi con người thường khi dồn tụ bao nhiêu mặc cảm, sự biến đổi xảy ra gián tiếp chậm chạp, có khi người này cấy trồng, người kia gặt hái, nhưng như người ta vẫn nói, “có những việc làm thì rất khổ, không làm lại còn khổ hơn” bởi vậy phải có người làm thì lịch sử mới tiến lên được.

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, Phạm Quỳnh đáng được coi là nhân vật tiêu biểu của quá trình tiếp nhận văn hoá vừa nói ở trên, ít ra là ở giai đoạn đầu của sự tiếp nhận ấy. Người ta thường chỉ nghĩ đến ông như một trong những người có cơ sở Tây học vững chắc, song sự thực là trong cái môi trường văn hoá Hán Việt rộng lớn lúc ấy, Hán học đã thấm vào ông , cả hai nền văn hoá Ðông Tây kết hợp ở ông khá nhuần nhị. Tiếp nối sự nghiệp của những Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… ông thuộc loại xây nền đắp móng cho nền văn hoá mới. Không hề có sự chuyển giao chính thức, song ông đã làm những việc cụ thể để biến ước mơ của các nhà nho đầu thế kỷ, như Phan Chu Trinh và các yếu nhân Ðông Kinh Nghĩa Thục, trở thành hiện thực. Khốn thay những điều tâm huyết ấy lại được Phạm Quỳnh thực hiện trong vòng tay của kẻ cướp nước, mối quan hệ của ông với nhà nước bảo hộ quá gần gũi nó là cái điều không thể chấp nhận với hầu hết các nhà trí thức thuộc thế hệ ông cũng như các thế hệ tiếp. Ở trên chúng tôi đã nói tới cách nhìn sổ tuột của một học giả đáng kính với mọi đóng góp học thuật của Phạm Quỳnh. Thật ra, thái độ đó của Ðặng Thai Mai được khởi đi từ Ngô Ðức Kế và còn tiếp nói với nhiều người khác, kể cả Thiếu Sơn, để rồi bao trùm trong giới nghiên cứu ở Hà Nội và kéo ra đến tận Nguyễn Văn Trung ở Sài Gòn trước 1975, tóm lại là hầu như suốt cả thế kỷ XX. Trong hoàn cảnh một nước luôn luôn có những chuyện không ổn trong quan hệ với các quốc gia bên ngoài, một thái độ như thế là dễ hiểu. Trong hàng ngũ trí thức Việt Nam, còn bao người khác, tuy không nói ra, nhưng sẵn sàng đứng chung tên với các lối lên án Phạm Quỳnh của Ngô Ðức Kế, và tuy vẫn đọc Nam Phong, nhưng không bao giờ tha tội cho chủ bút Nam Phong ! Có điều, đọc kỹ thì cũng thấy là Phạm Quỳnh chưa bao giờ hoàn toàn “mất hết” trong tâm trí giới nghiên cứu, và những ý đồ nhằm xác định vai trò của ông trong lịch sử, cũng như đánh giá đúng công lao của ông trong công cuộc xây dựng văn học vẫn thu hút cố gắng của nhiều người. Ở Sài Gòn trước 1975, Linh mục Thanh Lãng đã sớm đứng ra tranh cãi với Nguyễn Văn Trung, còn nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ thì dành cho ông rất nhiều cảm tình, trong số các tác gia được Phạm Thế Ngũ viết thành những chương riêng trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong được dành cho một số trang nhiều nhất để nghiên cứu kỹ càng nhất. Còn ở Hà Nội, chúng tôi chưa có dịp tìm hiểu đầy đủ về các công trình nghiên cứu từ 1960 về trước, song có điều chắc là từ 1961 trở đi, sau câu nói kiểu văn bia của Ðặng Thai Mai rằng Phạm Quỳnh, đó là một học giả có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây và cũng có đủ chữ Tây để loè người An Nam”, thì không thấy ai nói khác. Có điều có thể không nói ra, mà vẫn nghĩ khác, hoặc lờ mờ cảm thấy cần phải nghĩ khác. Mở đầu cuốn sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX có mấy trang mang tên Cùng các bạn đọc, trong đó, Ðặng Thai Mai trình bày ý hướng chính của mình trong từng chương sách. Ðiều kỳ lạ là với chương VI, chương dành để viết về văn học công khai, tác giả có một giọng điệu mềm mại khác hẳn, so với những gì ông viết trong sách: “Quyền lãnh đạo văn hoá đã vào tay bọn thống trị nước ngoài cho nên cái mà người ta gọi là văn học Việt Nam trên thị trường hồi này chỉ có thể phát triển theo đường lối của chủ nghĩa thực dân. Do đó mà cái thiện chí của những người muốn xây dựng văn học nước nhà bằng phương tiện công khai, cũng bị hạn chế”. Cố nhiên, trung thành với chính mình, Ðặng Thai Mai không gọi đích danh Phạm Quỳnh. Nhưng “những người muốn xây dựng văn học nước nhà bằng phương tiện công khai” là ai? Trong thời kỳ mà Ðặng Thai Mai đem ra phân tích, văn học Việt Nam còn rất phôi thai, bởi vậy khi đề cập tới những nhân tố đóng vai trò chủ đạo trong dư luận xã hội, người ta nhất thiết phải kể nhóm Nam Phong và những người chịu ảnh hưởng của Nam Phong. Biết đâu là nếu còn sống đến ngày nay, ở thời điểm hơn bốn chục năm sau khi cuốn Văn thơ Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX ra đời, Ðặng Thai Mai sẽ cho mang bản án ra phúc thẩm. Nhưng thôi, dự đoán vậy chỉ để cho thêm thấu đáo, sự thực là những ghi nhận tích cực với các đóng góp của Phạm Quỳnh còn là quá ít. Vậy nên dừng lại ở công thức nào bây giờ? Chúng tôi đã băn khoăn nhiều về vấn đề này, để rồi sau hết, trong phạm vi các tài liệu mà bản thân có dịp đọc, thấy trên nét lớn, nên đồng ý với cách đánh giá của Nguyễn Trần Huân trong Văn học Việt Nam dẫn luận (Introduction à la litérature Vietnamienne ,  P. 1969) mà Nguyễn Văn Trung đã dẫn lại trong cuốn Chủ đích Nam Phong (Nam Sơn, Sài gòn, 1975), đoạn dẫn sau đây liên quan chủ yếu đến tờ tạp chí, nhưng ai cũng biết, nói tới tờ tạp chí ấy là nói tới chủ nhân kiêm chủ bút của nó.

«Những người Việt Nam yêu nước đã có thể dùng tạp chí để bênh vực những quyền lợi của văn hoá Việt Nam và Á Ðông… và sự xoay sở tế nhị của Phạm Quỳnh để dung hoà đôi bên, rút cục có lợi cho Việt Nam.

… Sinh ra để ca tụng những ân huệ của nước Pháp và sự cao cả của nó trong thế giới, báo Nam Phong đã vượt mục đích đó, và tất cả hy vọng thầm kín của những cộng tác viên Việt Nam đã được thoả mãn. »

… Không phải là Nguyễn Trần Huân không biết việc Nam Phong ca tụng Pháp. Nhưng ông khẳng định dứt khoát: Ðó là một sự xấu xa cần thiết tương đối nhỏ bé, so với công lao to tát mà tạp chí đã làm cho tiếng Việt.

(Dẫn theo Nguyễn Văn Trung, tr. 37-38 , VTN gạch dưới )

Mấu chốt vấn đề ở đây, suy cho cùng, vẫn là cách hiểu của mỗi người nghiên cứu về bản chất của văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và công cuộc cứu nước. Phạm Quỳnh đã nhất quán với chính mình, hành động của ông là phù hợp với quan niệm của ông về văn hoá, mà ông đã tiếp nhận được của sách vở phương Tây. Còn chúng ta, chúng ta sẽ hiểu vấn đề như ông, như các nhà nho của phong trào Duy tân đầu thế kỷ, hay trở lại với cách hiểu của các nhà nho yêu nước như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền v.v…, đó là quyền của chúng ta.

Pham Quynh chu but Nam Phong

Trở lên, trong khi đáng lẽ phải nói riêng về Phạm Quỳnh, chúng tôi cố ý nhắc tới các sĩ phu tiên tiến đầu thế kỷ, trong đó có Phan Chu Trinh và các yếu nhân của Ðông Kinh Nghĩa Thục. Không phải người viết định nói vơ vào cho nhân vật mang ra bàn luận, và cố kiếm chác cho ông chút vốn liếng chính trị; chẳng qua, hiện tượng Phạm Quỳnh cũng như các hiện tượng xã hội khác, bao giờ cũng có tính cách liên tục về mặt lịch sử. Là người nhạy cảm với hoàn cảnh, Phạm Quỳnh chắc không thể bỏ qua không biết tới những kiến giải của các bậc tiền bối và những người đương thời về các vấn đề quan trọng của xã hội, rồi sau đó, mới tính chuyện đi tiếp. Cho nên, chúng tôi cho rằng nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung đã nói đúng sự thực khi viết trong các cuốn Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, huyền thoại và hiện thực và Chủ đích Nam Phong rằng, về mặt văn hoá không thể đi thẳng từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của tới Ðông Dương tạp chí, Nam Phong, mà nhất quyết là phải qua Ðông Kinh Nghĩa Thục, và nói giản lược thì Nam Phong đó là “một Ðông Kinh Nghĩa Thục do Pháp lập ra” (Nguyễn Văn Trung, tr. 169). Không khó khăn gì nếu muốn thấy giữa hai bên có những chỗ khác: trong khi Ðông Kinh Nghĩa Thục chỉ nói tới phương Tây, thì Phạm Quỳnh nói thẳng ra là Pháp, Ðại Pháp; trong khi Ðông Kinh Nghĩa Thục muốn đi tới một cái gì giống như chính thể  cộng hoà (“Vua là tượng gỗ dân là thân trâu” – Ðề tỉnh quốc dân ca), thì Phạm Quỳnh còn lấn bấn ở chủ nghĩa tôn quân, — khi Nam Phong mới khai trương đã nói tôn quân, mười lăm năm sau, bao nhiêu nước chảy qua cầu, song có lẽ là cần biện hộ cho việc vào kinh tham chính, lại nói tôn quân. Sẽ rất lý thú, nếu so sánh các tư tưởng của Phạm Quỳnh với tư tưởng Ðông Kinh Nghĩa Thục, song ngay từ giờ, nếu có một sự so sánh công bình, khoa học, cận nhân tình, thông cảm nữa, thì, hơn bù kém, sẽ có lợi cho Phạm Quỳnh. Thậm chí chúng tôi còn muốn nghĩ tới một cái gì mà thật là không quen thật là ngần ngại khi phải nói ra, nhưng trong thực tế đã vậy: Phạm Quỳnh có yêu nước, và đó là một kiểu yêu nước ở thời của ông, nó giúp cho ông thấy ý nghĩa của đời sống và thúc đẩy ông làm việc. Kết luận khái quát: Khi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hoá phương Tây và góp phần hình thành nền văn hoá mới của dân tộc trong thời hiện đại.

1992

——————-

Tài liệu tham khảo chính

1. Tạp chí Nam Phong

2. Phạm Quỳnh Thượng chi văn tập tái bản lần thứ nhất – Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962

3. Ðặng Thai Mai – Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX – bản in lần thứ ba, H. 1974

4. Trần Văn Giàu – Sự phát triển  của tư tưởng  ở Việt nam  từ thế kỷ XIX  đến Cách mạng tháng  Tám tập II  ,  Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, H. 1975

5. Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam 1932-1941 bản của nhà xuất bản Văn học, H. 1989

6. Nguyễn Văn Trung – Chủ đích Nam Phong , Sài Gòn, 1975

7. Phạm Thế Ngũ – Việt Nam văn học sử giản ước tân biên t.III, Sài Gòn, 1965

8. Thiếu Sơn – Phê bình và cảo luận, Hà Nội, 1933

9. Tsubôi – Nước Ðại Nam đối diện Pháp và Trung Hoa, TP. Hồ Chí Minh, 1990

Ghi chú về văn bản : Bài đã in trên tạp chí Nghiên cứu văn học Hà Nội , số ra tháng 7-2005 ,      dưới nhan đề „ Vai trò  của trí thức  trong  quá trình tiếp nhận  văn hoá  phương Tây  ở VN  đầu thế kỷ XX „. Bản in ở đây có khôi phục lại một số đoạn  mà Nghiên cứu văn  học lược bỏ và ghi rõ thời điểm bài viết hoàn thành, 1992


[1] Những tài liệu tham khảo chính dùng để viết bài này, chúng tôi sẽ nêu ở phần cuối với đầy đủ tên tác giả, tên sách, nơi và năm xuất bản. Sau các đoạn trích, chỉ xin nêu tóm tắt tên tác giả với số trang. Ví dụ ghi Hoài Thanh tr. 18 ở đây, tức là trích ở Thi Nhân Việt Nam 1932–41, bản in ở Hà Nội năm 1989, tr. 18. Các trích dẫn dưới đây, đều theo lệ đó.

In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín,kỳ 1 tháng 1 năm 2018

TRỞ LẠI VỚI KHU VỰC ĐẦU NGUỒN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

IN LẠI NHẬT KÝ ĐI PHÁP CỦA PHẠM QUỲNH

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Pháp du hành trình nhật ký là thiên du ký nổi tiếng của Phạm Quỳnh. Chúng tôi mời bạn đọc tiếp cận tác phẩm này qua bài phỏng vấn nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn, người biên soạn và chú giải tập du ký, do phóng viên Ngô Phan thực hiện, đăng trên trang 39 số 5, báo Thể thao và Văn hóa ra ngày 18/1/2005

—o0o—

Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20.

  • Vì sao ông lại đề xuất việc in lại và bắt tay và chú giải một cuốn nhật ký đã ra đời từ hơn tám mươi năm trước?

–          Trên con đường tìm hiểu về giao lưu văn hóa giữa người Việt và người nước ngoài, mấy năm nay, tự nhiên bọn tôi bảo nhau phải chú ý tới “đầu ra”, tức là hiện tượng người Việt qua khỏi biên giới nước mình để đối mặt với thế giới rộng lớn. Thể tài cần tập trung chú ý trước tiên là thể ký, bao gồm du ký, bút ký, nhật ký. Năm 2002, cuốn Đi Tàu đi Tây đã được biên soạn. Pháp du hành trình nhật ký tiếp tục cái mạch đó.

  • So với những cuốn đã in, nhật ký của Phạm Quỳnh có gì mới?

–          Xuất hiện sớm hơn, thứ nhất; dày dặn hơn, thứ hai; và thứ ba; bên trong nó là một nội dung văn hóa: tác phẩm cho thấy một phần đời sống tinh thần của người Việt đương thời.

  • Liệu có vì yêu mến tác phẩm mà ông nói quá lên so với mức độ nó vốn có?

–          Năm 1932, Phan Khôi từng có một bài viết in trên Phụ nữ tân văn, nói về thể nhật ký trong văn học, sự phát triển rất sớm của nhật ký ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng như các nước phương Tây và sự hiếm hoi của nhật ký ở nước ta. Kết luận bài viết, Phan Khôi cho rằng nhật ký là cái thước để đo trình độ văn minh của một dân tộc. Tôi cho rằng nói “một trong những cái thước” có lẽ phải hơn. Qua nhật ký, người ta có thể thấy mức độ trưởng thành của các nhân cách trong một giai đoạn của lịch sử xã hội.

  • Ông có thể cho đông đảo độc giả hiểu rõ hơn về nội dung cuốn sách của Phạm Quỳnh?

–          Năm 1922, tác giả có dịp đi Pháp. Trải qua hàng tháng lênh đênh trên biển, ông đến Marseille tham gia triển lãm, tiếp đó có ba tháng ở Paris, và ngoài những chuyến tham quan, còn có nhiều buổi tiếp xúc với một số trí thức, cũng như những buổi thuyết trình về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam…Qua Pháp du hành trình nhật ký, người ta nhận ra hình ảnh một người Việt Nam trước khi đi xa đã có những hiểu biết chắc chắn về xứ sở mình sẽ tới, nên có thể đi vào đó một cách đàng hoàng, nhất là con người ấy có lòng tự trọng, muốn giúp những người nước ngoài kia hiểu thêm về đất nước mình và nếu như đối tác có gì chưa hiểu thì kiên nhẫn thuyết phục…

  • Cuốn sách có vai trò thế nào đối với sự nghiệp tác giả?

–          Phạm Quỳnh thường chỉ được biết tới như một ngòi bút biên khảo. Luận giải văn học và triết học, cái tên của cuốn sách tập hợp các bài viết của ông được in ra gần đây, đã nói lên điều đó. Nhưng ông còn là một nhà văn. Theo Thanh Lãng, tác giả Bảng lược đồ của văn học Việt Nam hiện đại, “người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của Phạm Quỳnh chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút của ông (…) có đọc các tập hồi ký mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như người ta tưởng” (trích theo tạp chí Văn Học, in ở Sài Gòn, tháng 4/1963). Pháp du hành trình nhật ký là một minh chứng cho điều Thanh Lãng viết

  • Ông đã bắt tay vào việc chú giải cuốn sách như thế nào?

–          Lâu nay, sách tái bản thường chỉ cố in ra như nguyên văn đã có, trong khi đó, theo tôi, sau những biến thiên của hoàn cảnh, người đọc có nhiều điểm khó tiếp thụ, nhất là phần ngôn ngữ, nên nhất thiết các nhà chuyên môn phải phân công nhau vào cuộc. Công việc quá khó, tôi tự thấy chưa làm được bao nhiêu, chẳng qua đọc đến chữ nào thấy không hiểu thì giở từ điển tra lại và ghi ra để đỡ công cho bạn đọc. Tuy nhiên, cũng nhờ vào việc chú giải này mà tôi có dịp học hỏi thêm về tiếng Việt.

Phap Du Hanh Trinh Nhat Ky

  • Ông kỳ vọng gì ở cuốn sách?

–          Chung quanh ý niệm di sản văn học, nhiều người chỉ đơn thuần nghĩ tới phần văn chương Hán Nôm từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 19, trong khi đó theo tôi, phần văn chương quốc ngữ đầu thế kỷ 20 cũng là một bộ phận có ý nghĩa tích cực, bởi nó có nhiều liên hệ trực tiếp tới sự phát triển của văn chương hôm nay. Trước khi có được Thơ mới hay Tiểu thuyết tiền chiến – vốn là những giá trị chín đẹp bậc nhất trong lịch sử văn học dân tộc – văn học đã trải qua một giai đoạn mò mẫm tìm đường, nhưng chính bởi vậy, nó lại có sức hấp dẫn riêng . Chúng tôi muốn, một lần nữa, đánh động dư luận theo hướng đó.

  • Liệu các ông còn cho làm những cuốn tương tự?

–          Chúng ta đều biết nay là lúc giới xuất bản đang trải qua một giai đoạn khó khăn. Bên cạnh việc làm sách dịch theo đúng những chuẩn mực cần có, nên tính chuyện quay trở lại “thâm canh” vào văn học trong nước, kể cả khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại mà bấy lâu bị “bỏ hoang”. Có thể mới làm sẽ gặp nhiều khó khăn, không chỉ bạn đọc nhìn loại sách này đã ngại mà ngay cả giới biên khảo và nghiên cứu văn học cũng đánh bài lảng bởi việc quá xương xẩu, nói chung cầu dễ đã là một nếp quen trong cách sống của nhiều người chúng ta. Song nếu tận mắt nhìn thấy nhiều cuốn sách in ra từ tám mươi năm, chín mươi năm trước- những chứng tích của lịch sử dân tộc trên con đường hiện đại hóa, nay do không được bảo quản một cách khoa học, đã gần đến lúc tàn lụi, chúng ta mới thấy xót xa, và chỉ có thể nhủ thầm là phải bảo nhau mỗi người một tay, cứu lấy kho di sản đó càng nhanh càng tốt.

Ngô Phan (thực hiên)

 

Phần viết thêm cho bản in trên Talawas

Khi cuốn sách này đã được in ra ở Hà Nội thì người chú giải có tìm thêm được một tài liệu do Thanh Lãng viết trên Tạp chí Văn Học ra ở Sài Gòn số tháng 4/1963, có liên quan đến Pháp du hành trình nhật ký. Mặc dù đã chủ bụng không đi vào tìm hiểu và đánh giá tác phẩm, mà chỉ chú giải, song được một đoạn văn quý, chúng tôi xin được phá lệ mà chép ra sau đây để bạn đọc cùng biết:

“ Người ta có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể từ chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút trong đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris (tức bản tóm tắt của Pháp du hành trình nhật ký – VTN chú), thì ta phải nhận là những tập hồi ký giá trị, giá tị vì những nhận xét tỉ mỉ, những nét tả linh động, nhất là ở tình cảm say sưa của một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy. Phạm Quỳnh, là một nhà thơ viết văn xuôi. Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh không phải là xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như chúng ta tưởng…”

Vương Trí Nhàn

 

Hoàng đế Khải Định dưới con mắt của Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018

HOÀNG ĐẾ KHẢI ĐỊNH

DƯỚI CON MẮT CỦA THẦN DÂN PHẠM QUỲNH

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Hoàng đế Khải Định quả là một người xui xẻo.

Năm 1922, ngài được nước Đại Pháp mời sang dự triển lãm thuộc địa ở Marseille, thì đi cùng thời gian thần dân Phạm Quỳnh cũng được phái tới Marseille. Khi về lại về cùng một chuyến tàu thủy.

Đến Đại Pháp, hoàng thượng còn được hai thần dân của ngài, một già là Phan Châu Trinh, một trẻ là Nguyễn Ái Quốc đón tiếp “quá đỗi nhiệt tình”, đến nỗi gây nên mấy vụ tai tiếng lớn ở thủ đô Paris.

Phan-Chu-Trinh

Phan Châu Trinh “đón” ngài bằng cách dâng bức Thư Thất Điều nổi tiếng, đến nay lịch sử còn ghi, hài ra tới bảy tội lớn của nhà vua. Còn Nguyễn Ái Quốc thì viết truyện ngắn Vi Hành (Trích Những bức thư gửi cô em họ, do tác giả tự dịch từ tiếng Nam) đăng trên báo lớn Nhân Đạo c

ủa Đảng Cộng sản Pháp (ngày 19/2/1923) phát hành rộng, chế giễu nhà vua ăn mặc lố lăng lòe loẹt, cử chỉ kỳ quoặc, bị người dân Paris xem như một con rối đáng cười. “Tận tụy” hơn nữa, thần dân này còn viết hẳn một vở hài kịch một màn, nhan đề Con Rồng Tre đả kích sâu cay nhà vua và trò hề lừa bịp của bọn thực dân Pháp. Vở này được Câu lạc bộ Ngoại ô (Club Du Faubourg) Paris đem diễn tại ngày hội hằng năm của báo Nhân Đạo, tổ chức tại ngoại ô Paris.

Tiếc rằng, Thư Thất Điều tất nhiên Phan Châu Trinh viết bằng chữ Hán và truyện ngắn Vi Hành thì Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, còn Con Rồng Tre thì càng khó đến với đồng bào hơn, vì cho đến nay , vẫn chưa tìm được bản thảo. Vả lại,  khi ấy có diễn thì cũng diễn bằng tiếng Pháp, trên đất Pháp. Thành ra dân trong nước, chỉ được nghe tiếng mà không được thấy hình dạng các tác phẩm đó ra sao cả. Đến năm 1974, mới được đọc Vi Hành trên báo Nhân Dân, qua bản dịch của Phạm Huy Thông, rồi sau đó đọc trong tập Truyện và Ký của Nguyễn Ái Quốc do NXB Văn Học Hà Nội ấn hành cùng năm.

Nguyen Ai Quoc tai Phap 1921Nhưng, may mắn thay cho bạn đọc Việt Nam trong nước (và không may cho nhà vua!) là bà con đã được theo dõi ngay từng đường đi nước bước của nhà vua trong suốt chuyến Pháp du (mà báo chí thời ấy dùng chữ Nho, dịch là Hoàng Thượng Như Tây) qua một ngòi bút sắc sảo, hóm hỉnh nữa trong thiên kí sự Pháp Du Hành Trình Nhật Ký đăng không đều kỳ trên báo Nam Phong, phát hành rộng khắp cả nước từ số 58 tháng 4/1922 đến số 100, tháng 10+11/1925.

Chúng tôi xin trích đăng sau đây những đoạn Phạm Quỳnh viết về Hoàng Thượng Như Tây để các bạn cùng thưởng thức một lối viết ít thấy ở ngòi bút vốn trang nghiêm này.

Các đoạn trích đều từ Phạm Quỳnh – Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà Văn 2004, Vương Trí Nhàn chú giải)

—-o0o—-

Thứ sáu, 23 tháng 6 1922

(…) Sáng sớm mai Hoàng thượng đến Paris. Mình tuy không dự sự gì, nhưng cũng là người An Nam, tưởng nên cùng anh em ra đón ở ga cho phải phép. Song tự mình đã không đóng vai gì mà đánh cái áo gấm xúng xính, thời chỉ tổ cho thiên hạ chỉ trỏ vô ích, thà rằng làm hoàn toàn một anh khách quan còn hơn. Bởi thế nên mấy bữa nay phải đi cắt một bộ jaquette mấy trăm  quan, lối này là một lối lễ phục không trọng thể mà  cũng không tầm thường, trung bình, mặc vào dịp nào cũng được.(…)

Thứ bảy, 24 tháng 6 1922

10 giờ sáng, Hoàng thượng đến Paris, đi chuyến xe lửa riêng ở Lyon lên; đỗ ở ga Bois de Boulogne là nhà  ga để riêng đón các bậc vua chúa. Hoàng thượng đi cùng với quan Thượng thư Thuộc địa Sarraut; quan Giám quốc và quan Thủ tướng có phái đại biểu ra đón. Kèn, trống, cờ, quốc ca, lính  bồng súng, lính  kỵ mã, nghi vệ  cũng như  nghi  vệ thường, tưởng không có gì là đặc biệt. Có lẽ chỉ có lạ mắt cho người Paris là các sắc gấm sặc sỡ của các quan hộ giá. Mình không được biết thành Paris xưa nay đón các bậc đế vương các nước thế nào, nên không thể so sánh được lần này với các lần kia khác nhau thế nào. Nhưng nhận ra người đứng xem ít lắm. Nghe khách qua đường thấy đám lạ dừng lại xem, chỉ thấy nói: “Ồ! họ ăn mặc hay nhỉ! kỳ nhỉ!”; có người lại hỏi lẫn nhau: “Người nước nào vậy?”.

Pham Quynh _1922 tai Phap Anh em cất mũ cúi chào, thế là hết phận sự thần dân ở nơi khách địa, rồi vua quan trảy về dinh quan Thuộc địa, bọn mình cũng nhân mũ cao áo dài thuê xe hơi dạo quanh một vòng phường phố (…)

Thứ hai, 26 tháng 6 1922

Hôm nay Hoàng thượng cùng quan Sarraut đến thăm nghĩa sĩ từ ở Nogent sur Marne. Sẵn có ô tô, anh em cũng đánh bộ “gia két”, đội mũ “mơ lông” chạy xe về Nogent xem lễ. Quan nguyên học chính Gourdon làm hội trưởng hội “Đông Pháp Kỷ niệm” (Le Souvenir Indochinois), diễn thuyết chúc mừng, Hoàng thượng đáp lại mấy câu, chắc là những lời hùng biện cả, nhưng đứng xa chẳng nghe thấy chi hết. Xong rồi Hoàng thượng vào thắp hương trong đền, ra đặt vòng hoa sắt ở cái đài Kỷ niệm những chiến sĩ theo đạo Thiên Chúa  ở ngoài  vườn,  dạo  quanh  vườn  một  lượt,  rồi  lên  xe,  vua  quan  trẩy về Paris  hết.

(…) Trưa hôm nay được tiếp một thầy mật thám đến hỏi giấy thông hành. Chừng là nhân Hoàng thượng ở Paris nên sở cảnh sát cho dò xét những người An Nam ở bên này để phòng sự bất kỳ. Đó cũng là việc thường và là bổn phận của cảnh sát mỗi khi có các vua chúa qua lại, không lấy gì làm lạ.

Tối quan Giám quốc có đặt tiệc mừng Hoàng thượng ở cung Elysée. Tiệc xong có cuộc tiếp kiến ở trong cung, mời đông người lắm. (…)

Phap Du Hanh Trinh Nhat Ky

Thứ sáu, 14 tháng 7 1922

Sáng sớm đi xem điểm binh ở trường thi ngựa Longchamp. Hôm nay có Hoàng thượng ta cùng với quan Giám quốc đến dự cuộc. (…)

Thứ bảy, ngày 22 tháng 7 1922

(…) Về  trọ  nghỉ  một  lát,  thay  áo  ta  mặc  áo  tây,  rồi  ra  nhà  Hội  Association  Mutuelle  des Indochinois (Đông Pháp Hỗ trợ Hội), ở đường Sommerard. Hội này là của học sinh An Nam ta ở bên này lập ra đã mấy năm nay, bây giờ mới thuê được nhà, làm chỗ học tập cho người đồng bang, hôm nay khánh thành hội sở mới, có mời Hoàng thượng và quan Thượng thư Sarraut đến chủ lễ. Hội sở còn chật hẹp lắm, được có một phòng lớn và vài ba cái buồng nhỏ, tân khách đứng chật cả. Chủ Hội là ông Cao Văn Sen, người Lục tỉnh, sang bên này đã lâu, hiện làm kỹ sư và đã lấy vợ đầm ở đây. Khi vua quan đã đến đông đủ cả,  ông  Cao  đọc  một  bài  diễn  văn  chúc  mừng,  Hoàng  thượng  nói  mấy  câu  trả lời, nhưng nhỏ quá, không nghe thấy tiếng gì cả, rồi ông ngự tiền thông sự dịch ra tiếng Pháp. Đoạn tân chủ chuyện vãn ít lâu, rồi ông chủ Hội đem quyển “Kim thư” của Hội ra xin chữ ký Hoàng thượng và các quan khách. Lệ thường các ngài danh giá ký vào sách “Kim thư” (Sổ Vàng-VTN chú)  của các Hội hay phê mấy câu, hoặc để khen lao, hoặc để khuyến miễn (Khen công lao vất vả và khuyên gắng sức hơn-VTN chú), và cũng để lưu chút tự tích trong sách kỷ niệm của hội. Khi dâng Hoàng thượng ta ngự phê thì thấy ngài cầm quản bút ra dáng nghĩ ngợi, các quan Tây có ý chờ đợi ngóng trông, bọn mình thì tưởng rằng chắc ngài nghĩ một bài thơ nôm hay thơ chữ Đường luật hay tứ tuyệt  gì, nên mới lâu như thế.  Lúc bấy giờ cử hội im phăng phắc, ai cũng để mắt vào nhìn, có cái vẻ oai nghiêm vô cùng. Tưởng chừng đức Chí tôn ta, đương khi mấy trăm con mắt ném ánh sáng vào bàn tay ngọc đó, – ngọc thật, vì ngài thường đeo nhẫn kim cương quý giá lắm, – thời:

Tay tiên gió táp mưa sa,

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu

ngay tức thì.Nhưng mà không! Cứ thấy cái quản bút quằn quại trên tay, mà không thấy viết chữ gì. Năm phút, mười phút, mười lăm phút, người đứng chung quanh đã thấy thì thào động đậy, kẻ nói nhỏ, người đưa mắt, anh em đồng bang mình thì vừa nóng ruột, vừa động lòng. Sau mới thấy ngòi bút chuyển động; ai nấy thở dài! Hỏi ra thì không phải thơ ngũ ngôn tứ tuyệt  gì,  chỉ có  một câu chữ Hán  rằng:  năm ấy, tháng ấy, đức  Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội, thế mà thôi – Ấy đức Chí tôn ngài viết một chữ một câu cũng thận trọng như thế…

Thứ ba, mồng 8 tháng 8, 1922

(…) Hôm ở Paris sắp đi đã nghe mang máng rằng Hoàng thượng cũng sắp về, nhưng chưa lấy gì làm đích. Về đến đây mới rõ rằng ngài không phục thủy thổ, bị se mình, quan thầy thuốc khuyên phải về ngay, nên nay mai sẽ xuống Marseille để cùng đáp chuyến tầu Angers về nước. Được tin này ai cũng lấy làm lạ, vì trước vẫn định rằng Hoàng thượng đi Tây chuyến này là ở năm sáu tháng, du lịch khắp mọi nơi rồi mới về, không ngờ chưa được vài tháng đã về ngay, và về gấp như thế. Thế là bọn mình về chuyến này sẽ tình cờ được đi với Hoàng đế một chuyến tầu: vinh hạnh thay!

Thứ tư, mồng 9 tháng 8, 1922

3 giờ chiều hôm nay, Hoàng thượng đến Marseille, ở Lyon xuống. Chắc tự Paris đi làm hai chặng, có nghỉ ở Lyon một vài ngày. Đón vào dinh quan quận trưởng (préfecture) ở.

9 giờ sáng mai thì Hoàng thượng vào xem Đấu xảo. Sở Đông Pháp ở Đấu xảo có giấy đạt mời cả các phái  viên Trung Nam Bắc sớm mai  tựu tại khu Đông Pháp để đón. Tối hôm nay nghe đâu có ông P.C.T. đặt một cuộc diễn thuyết bằng tiếng ta cho người An Nam làm việc ở Đấu xảo đến nghe, nói về quân chủ và sự chính trị bên Đông Pháp; tiếc được tin muộn quá, không kịp đi. Nhưng sau có người thuật rằng cuộc diễn thuyết không thành, vì cảnh sát cấm và những người trong Đấu xảo cũng không được ra nghe.

Khai Dinh

Thứ năm, mồng 10 tháng 8

Hôm nay vào Đấu xảo đón vua.

Các phái viên đều mặc quốc phục hết cả, mình cũng đánh cái áo sa trơn. Hoàng thượng cùng với ông Toàn quyền Long đi xem khắp trong khu Đông Pháp. Các phái viên thời đứng chực sẵn ở trong đình “phố An Nam” (la rue annamite). Khi đi xem xong cả mọi nơi, Hoàng thượng vào đình để cho các phái viên yết chào. Ông Tây phần việc ở Đấu xảo xướng tên giới thiệu từng người, ra đứng trước mặt cúi đầu vái một cái.

Lễ xong, ra chơi bên ngoài, gặp ông Tây quen vỗ vai hỏi: “Thế nào, tôi tưởng ông là đảng dân chủ, sao cũng lạy vua lúc nãy thế?” – Mình trả lời: “Đảng gì thì đảng, chứ ở nơi đất khách cũng phải tỏ lòng cung kính ông quốc trưởng; cách lễ phép phải như thế.”  Rồi cùng cười.

Thứ sáu, 11 tháng 8, 1922

2 giờ 30, anh em đã xuống tầu cả.  (…)Gần bốn giờ thì Hoàng thượng xuống tàu, kèn trống thổi mừng, quân quan đứng tiễn. – Ngài đi Tây chuyến này sắm được vô số đồ, chở xuống tầu từ 2 giờ đến 4 giờ, hết kiện ấy đến kiện khác, cái cần máy trục cứ  giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt. (…)

Thứ ba, 15 tháng 8, 1922

(…) Ngày hôm nay thời suốt ngày được khá cả, vì tầu đã đi gần vào bờ, nghe đâu ngày mai thời rẽ vào Beyrouth, ở bờ bể Syrie, để Hoàng thượng tiếp ông nguyên soái Gouraud làm Tổng đốc đấy. Cái hành trình này có khác thường một chút, vì lệ thường tầu chạy Á Đông không đáp vào Syrie bao giờ.

Thứ tư, 16 tháng 8, 1922

(…) Tầu đến trước Beyrouth  rúc còi báo hiệu, trong nổi súng mừng. Nguyên soái Gouraud cùng với tham mưu bộ đi sà lúp ra, lên tầu yết kiến Hoàng thượng, chừng nửa giờ rồi về. Được một lát thời Hoàng thượng cùng quan Khâm sứ và các quan hộ giá cũng đi sà lúp vào thành đáp lễ lại nguyên soái (…)

Thứ năm, 17 tháng 8, 1922

11 giờ trưa đến Port Said.

Anh em đều xuống phố đi chơi.

Hoàng thượng cũng xuống phố, mời Lãnh sự Pháp thời (Ăn, xơi, (tiếng dùng trong hoàng tộc)-VTN chú) cơm ở khách sạn. Đoạn rồi ngài đi dạo các cửa hàng sắm đồ. Có thấy ngài mua một cái mũ tây. Ngài bận thường phục cũng thường đội mũ. (…)

Thứ ba, 22 tháng 8, 1922

10 giờ đến Djibouti. Đỗ đây lâu.

Cảnh đây là cảnh đốt cháy, người cháy. Xuống dạo chơi phố một tí, nhưng nóng quá, lại phải trở về tầu ngay. Cũng muốn ăn cơm dưới phố cho đổi bữa, nhưng có cái khách sạn lèo tèo, coi không hứng thú gì, nên anh em đều về tầu ăn cơm cả. Hoàng thượng cũng mời ông Thống đốc Pháp ở Djibouti thời cơm trưa ở tầu.

Thứ ba, 29 tháng 8, 1922

(…) Cửa Colombo này thật là một cửa bể to lớn, tàu bè các nước đậu san sát, thuyền thời ngổn ngang như lá tre.

Cùng anh em đi chơi phố, vào các cửa hàng bán ngọc thạch, xem được nhiều thứ ngọc xanh, biếc, đỏ, vàng, màu sắc rất đẹp mà giá tiền cũng rẻ. – Hoàng thượng cũng xuống bộ, thời cơm với Lãnh sự Pháp, nghe đâu ngài sắm được nhiều đồ chơi và ngọc thạch.

2 giờ đêm tầu mới chạy.

Thứ tư, mồng 6 tháng 9.

8 giờ sáng đến Vũng Tầu (Cap Saint Jacques), thế là đã vào đất nước nhà rồi, vui mừng khôn xiết kể, nhất là các ông bạn Nam kỳ, vì nội nhật hôm nay các ông đã về nhà.

Tầu đỗ ở Cap mãi đến 12 giờ trưa mới vào sông Sài Gòn.

4 giờ chiều đến Sài Gòn. Quan quân ra đón Hoàng thượng về ở phủ Toàn quyền, vì tầu còn đậu ở Sài Gòn hai đêm hai ngày nữa. (…)

Chủ nhật, mồng 10 tháng 9, 1922

11 giờ trưa đến Tourane. Tầu đỗ tận ngoài xa. Có sà lúp ở trong ra đón vua quan vào bến. Đậu đủ thì giờ cất hết các đồ của Hoàng thượng xuống thuyền, rồi đúng 2 giờ thì chạy ra Bắc. – Còn có một ngày nữa sẽ đến nhà rồi, trong bụng đã thấy nôn nao phấp phỏng. Ai nấy soạn lại hành lý, cho đem sẵn các hòm xưởng ở dưới kho lên. (…)

Lời bình của Phạm Tôn: Lẽ ra ở đây, Phạm Tôn tôi dám xin có đôi lời bàn vụn…Nhưng tự thấy mình còn kém xa một nhà nghiên cứu phê bình lão thành, từng rất quan tâm và viết nhiều bài về Phạm Quỳnh là giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, cho nên thấy tốt hơn hết là dành lời bình ấy cho giáo sư -viện trưởng. Bởi cũng thật hiếm khi giáo sư viết về Phạm Quỳnh lại … nhẹ nhàng như vậy. Và qua những lời bình này, ta cũng hiểu rõ hơn lâu nay giáo sư đã “hiểu” Phạm Quỳnh như thế nào. Đây là phần trích lời phát biểu của giáo sư ngày 23/3/2007 (In lại các bài du ký, một sáng kiến hay) nhân dịp nhà xuất bản Trẻ giới thiệu tại Hà Nội bộ Du ký Việt Nam mới phát hành. Giáo sư nói:

“Người đọc đã quen với nhà khảo cứu Phạm Quỳnh với giọng văn học giả, trịnh trọng, đạo mạo, nhiều khi nặng nề, khô khan, lại bắt gặp ở đây một Phạm Quỳnh, nhà văn viết du ký, tuy vẫn mang con mắt của nhà khảo cứu nhưng lời văn nhẹ nhàng thanh thoát hơn, thậm chí đây đó còn dám châm biếm “phạm thượng”, chẳng hạn kể chuyện “đức Hoàng thượng Khải Định” ghi lưu niệm vào “kim thư” của “Hội Hỗ Trợ Đông Pháp” ở Paris mọi người im phăng phắc, sốt ruột chờ đợi, năm phút, mười phút, mười lăm phút… mà chiếc bút lông của Hoàng thượng vẫn chưa động đậy, mãi cuối cùng rồi ngài cũng viết được một câu chữ Hán “Năm ấy, tháng ấy, Đức Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội…”. Nhà du ký mát mẻ bình luận: “Ấy Đức chí tôn ngài viết một câu cũng thận trọng như thế!”. Hoặc việc kể Đức Hoàng Thượng vung vinh đi mua sắm “nhiều đồ quý vật lạ” đến nỗi một người Pháp đã nức nở khen: “Vua anh giàu thật!Khi ra về “chở xuống tàu từ 2 giờ đến 4 giờ, hết kiện này đến kiện khác, các cần máy trục cứ giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt

Phạm Quỳnh, năm này (1922) là nhà báo trẻ tuổi, chưa làm quan thượng thư nên viết lách có vẻ còn tự do lắm. Có thể thấy trong số bảy bài du ký của Phạm Quỳnh in ở đây (tức Du Ký Việt Nam– PT chú) thì Pháp du hành trình nhật ký là đáng chú ý hơn cả.”

Phạm Quỳnh với Công Giáo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ chín, kỳ 1 tháng 1 năm 2018

PHẠM QUỲNH với CÔNG GIÁO

 Nguyễn Đình Đầu

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Nam Định, từng là bí thư Bộ Kinh tế của chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945, hiện là ủy viên ban chấp hành Hội Sử học Việt Nam, ủy viên Uy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Cụ là tác giả hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử xuất bản bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh; nổi bật là các công trình nghiên cứu về địa bạ, bản đồ, địa lý-lịch sử, đặc biệt vùng Nam bộ và Nam Trung bộ. Cụ cũng là người có bộ sưu tập hàng ngàn bản đồ, sách, đồ dùng cổ có hình bản đồ, nhất là bản đồ cổ về Việt Nam. Năm 2005 cụ nhận Giải thưởng Trần Văn Giàu (lần 2) về công trình Nghiên cứu địa bạ và ruộng đất triều Nguyễn thuộc Nam kỳ lục tỉnh. Cuối tháng 3/2009 lại nhận Giải thưởng Nghiên cứu-2008 của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu trọn đời nghiên cứu của mình. Cụ vừa hoàn thành việc tổng hợp chọn lựa và hệ thống hóa hàng trăm bản đồ về thềm lục địa và biển đảo Việt Nam có nhiều bản đồ do nước ngoài thực hiện rất tỉ mỉ về các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

 Năm 2006, cụ đọc bản thảo Người nặng lòng với nước viết về cái chết của Phạm Quỳnh của tác giả không tên tuổi, cũng chẳng quen biết, gửi nguyệt san Công giáo và Dân tộc, đã viết tay hẳn hai trang nhận xét, “bảo lãnh” để Công giáo và Dân tộc thêm vững lòng cho đăng bài đó vào số tháng 8 dưới tựa đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước. Rồi tháng 9 năm ấy, Xưa và Nay tạp chí của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng đăng bài Người nặng lòng với nước.

pham-tuyen_pham-ton_cu-dinh-dau

Đầu năm 2009, cụ khởi đăng bài Phạm Quỳnh và Công giáo liền bốn kỳ, mỗi kỳ hai trang, trên tuần báo Công giáo và Dân tộc các số từ 1693 đến 1696, từ 2/2 đến 5/3/2009. Ngoài phần mở đầu, còn lại là 15 đoạn trích Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh và hai đoạn trích từ Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập.

 Chúng tôi xin mời các bạn đọc phần mở đầu và hai phần cuối bài.

 —o0o—

Trong Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong, Nguyễn Khắc Xuyên viết nơi mục Tôn giáo: “Không kể Khổng giáo và Lão giáo mà chúng tôi đã xếp vào mục Triết học Đông Phương. Tôn giáo ở đây được quy tụ vào những tôn giáo cố hữu của dân tộc, nhất là Phật giáo… Tuy nhiên cũng có một bài giới thiệu Hồi giáo…, còn tuyệt nhiên không có ai, không có bài giới thiệu một tôn giáo rất phổ biến tại Au châu và trên thế giới: Cơ Đốc giáo hay Thiên Chúa giáo…Chúng tôi tự hỏi: phải chăng người ta đã làm việc sao nhãng lớn lao này vì cái tinh thần bài xích và phản đối Cơ Đốc giáo của Au châu, đúng hơn Pháp quốc thời đó”(1)

 Đúng là trong sưu tập trên 200 số tạp chí Nam Phong không có bài nào giới thiệu Cơ Đốc giáo, như đã có bài giới thiệu Phật giáo hay Hồi giáo. Sự thật viết một bài báo giới thiệu tổng quát đạo Công giáo, đâu phải chuyện dễ. Chúng ta tự hỏi ngay báo chí Công giáo xưa nay có bài báo nào giới thiệu được đầy đủ đạo Công giáo? Còn những thông tin hay nhận xét về hành đạo thì Nam Phong không hề “sao nhãng”, nếu đọc kỹ nội dung một số bài có liên quan dẫu không mang tiêu đề tôn giáo.

 Chúng tôi đã căn cứ và trích dẫn một số thông tin và biên khảo của mấy số báo có trong tay để viết bài Tạp chí Nam Phong rất trân trọng Công giáo (CGvDT số 1389 ra ngày 3/1/2003). Bài này gồm 3 mục: 1) Phạm Quỳnh: Công giáo là đạo của từ bi bác ái- 2) Nam Phong giới thiệu Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ– 3) Nam Phong giới thiệu sách Nguồn gốc tiếng Việt của cố Thi.

 Mới đây tôi được ký giả Phạm Tôn biếu cuốn Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh do NXB Hội Nhà văn ấn hành bằng cách thu gom những trang nhật ký đăng trong Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (11/1925). Sách dầy 392 trang(2). Khi đọc sách này tôi rất thích thú, đặc biệt những gì liên quan đến tôn giáo và các nhà thờ Công giáo. Sau đây tôi xin trích đăng những đoạn ấy với tâm tình tri ơn và xin lỗi Phạm Quỳnh vì tưởng nhầm ông đã “sao nhãng” vấn đề Cơ Đốc giáo đáng quan tâm của thời đại. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

 (1)Nguyễn Khắc Xuyên: Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong tái bản, NXB Thuận Hóa, 2002, trang 26.

(2) Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký NXB Hội Nhà văn, 2004

 (…)

Về Hà Nội được hơn một tháng, Phạm Quỳnh liền đăng đàn Thuật chuyện du lịch ở Paris tại nhà Nhạc hội Tây Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 1922. “Cuộc diễn thuyến do Hội Khai Trí Tiến Đức chủ trương, có tới ngàn rưỡi người đến nghe trong ngót 2 giờ đồng hồ, vừa hội viên hội Khai Trí, vừa thân sĩ trong thành phố và học sinh các trường” (16). Trong diễn văn quan trọng này, Phạm Quỳnh không quên tóm tắt lại các cuộc đi thăm và nhận xét về nhà thờ Công giáo như sau:

 Bốn năm bữa trước khi rời thành Paris tôi đi xem các nhà thờ. Nhà thờ ở Paris thời lớn nhỏ kể hàng trăm cái, có mấy cái thiệt to, thiệt đẹp, thật là những công trình vĩ đại của nghề kiến trúc đời xưa. Tôi có xem nhà thờ Notre Dame là nhà thờ lớn nhất ở Paris và có lẽ ở cả Au châu nữa, chắc các ngài cũng đã biết tiếng; nhà thờ Madeleine, làm theo kiểu các thần từ Hy Lạp đời xưa, trông có bề thế uy nghiêm lắm; nhà thờ Sainte Chapelle ở khuất vào trong sân toà án tuy nhỏ mà tương truyền là một nền kiệt tác trong kiểu kiến trúc “gô-tích” (gothique), trong có bộ tượng 12 ông thánh tông đồ và những kính ngũ sắc tuyệt đẹp về thế kỉ thứ 13; nhà thờ Saint-Sulpice, quy mô hoằng vĩ, làm ghé theo kiểu Hy Lạp, dựng từ thế kỷ thứ 16-17, có lẽ là nơi giáo đường to rộng nhất ở Paris; nhà thờ Sacré Coeur ở trên đống cao xóm Montmartre, dựng theo kiểu roman và kiểu byzantin tự năm 1878 kinh phí mất hơn 30 triệu quan, có một quả chuông nặng 2 vạn 6000 cân; – đó là mấy nơi nhà thờ lớn và có tiếng nhất, còn nhiều nơi khác nữa nhỏ hơn nhưng cổ lắm, các nhà sử học, nhà khảo cổ lại lấy làm quý và đẹp hơn các nơi kia, như nhà thờ Saint Germain des Prés, Saint Germain l’Auxerrois, Saint Séverin,… tôi đều đi xem gần hết cả. Đến những nơi nhà thờ cổ ấy cùng vào xem những cổ vật quán như Musée de Cluny mới biết rằng văn hóa cũ của Pháp đã sở đắc ở đạo Gia Tô nhiều lắm. Từ đời Đại Cách mệnh trở về trước, trong khoảng 1000 năm các nghệ thuật ở nước Pháp đều chịu ảnh hưởng ở tôn giáo, hình như thấm nhuần tinh thần tôn giáo cả; bao nhiêu những đồ vật cổ ở các viện bảo tàng toàn là những đồ tế tự ở nhà thờ cả, và bao nhiêu những công trình kiến trúc lớn về đời trước toàn là nhà thờ hết. Ngày nay phong trào tư tưởng tự do mỗi ngày một thịnh, song người Pháp cũng không quên công to của giáo hội đã giúp cho văn hóa trong nước bấy lâu nay (17)

 (16) Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập. Tập V. Tái bản lần thứ 1. Bộ QGGD-Sài Gòn, 1962, trang 161

(17) Như trên, trang 210-211

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.