Pham Ton’s Blog

Tháng Một 17, 2017

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh – Vĩnh Ba

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ  2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vĩnh Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà giáo Vĩnh ba ở thành phố Huế đã viết bài Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay số 83 (9-10/2007). Chúng tôi trân trọng trích đăng sau đây, mời các bạn đọc bài viết giàu tâm huyết và trí tuệ này.

*

* *

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Đó là câu nói hàm súc rất hay khi đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật lớn lao của tác phẩm này từ một học giả Việt Nam. Câu nói này không những bao hàm một am hiểu sâu xa, một nhìn nhận nghệ thuật về Truyện Kiều – một áng văn chương tuyệt tác có một không hai của nền văn học nước ta – mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ và rất sâu sắc. Trong câu nói đó, ta còn thấy được người phát ngôn đã đánh giá cao và đúng vai trò của văn hoá, nhất là văn học trong sự sống còn của một tộc người sống trong nền văn hoá đó. Có thể rút ra nhiều điều bổ ích nữa từ quan điểm này trong thời kì hiện nay lúc mà đang có rất nhiều lời kêu gọi giữ gìn bản sắc dân tộc trước cao trào hội nhập và toàn cầu hoá. Vì sao truyện Kiều còn thì tiếng ta còn? Vì sao tiếng ta còn thì nước ta còn? Đó là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tác giả câu nói đó chính là nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

1. Sơ lược thân thế Phạm Quỳnh

(…) Ông sinh năm 1892 tại Hà Nội nhưng quê quán làng Thượg Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm thị Ngoạn[1]..

Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương tạp chí do Nguyễn văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn Lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương Tạp Chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút phần quốc ngữ: Tạp chí Nam Phong. Năm 1922 ông được chọn làm Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, nhưng qua đầu năm 1925 Phạm Quỳnh ly khai với Hội, không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa. Cũng trong năm 1922 ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức tham dự hội chợ triển lãm Marseille. Trong thời gian 3 tháng ở lại Paris ông đã diễn thuyết nhiều lần ở Nghị viện Pháp và Ban chính trị và luân lí của Viện Hàn lâm Pháp quốc. Tháng 11 năm 1932 ông vào Huế để tham chính, lãnh chức Đổng lí Ngự tiền văn phòng, Thượng thư bộ Học rồi thượng thư bộ Lại. Năm 1939, ông lại một lần nữa đi Pháp với Bảo Đại để điều đình với Chính phủ hầu mong lấy lại Bắc kỳ cho triều đình Huế. Kể từ khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời ông rút khỏi chính trường và có ý định trở lại nghiệp cũ.

Phạm Quỳnh để lại cho đời Thượng Chi văn tập, tuyển tập các bài viết rất có giá trị của một nhà báo được xếp vào lớp tiền phong của nền báo chí nước ta, và một số lượng các bài báo khác đã đăng tải trên Đông DươngNam Phong. Trong thời kì phôi thai của chữ quốc ngữ, không mấy ai có thể quên được sự đóng góp của ông và các học giả như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật,.. những người đồng thời với Phạm Quỳnh và cộng tác với ông trong tạp chí Nam Phong.

2. Phạm Quỳnh làm báo

Khi làm chủ bút báo Nam Phong từ 1917 – 1932, lúc vừa 25 tuổi, ông chủ trương thuyết lập hiến, tiếp thu văn hoá phương Tây để nâng cao dân trí và lần hồi dành lại chủ quyền tự trị đất nước dựa vào hiệp ước Patenôtre 1884 (tức là quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp).

Trong bài viết “Quốc học và Chính trị” trên báo Nam Phong số 165,1921 ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy…. Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.” Nay chúng ta có một nền quốc văn không thua kém gì ai thì xét trong buổi đầu mới manh nha của chữ quốc ngữ, của nền báo chí và của văn học viết, há không trân trọng sự đóng góp của Phạm tiên sinh sao?

Về điều này, Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã nhìn nhận: “Cái công của Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ….Trong 16 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến…… Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết Cổ La-Hy, chỉ đọc Nam Phong là có thể hiểu biết được…”.[2]

Tuy nhiên, ta cũng cần biết nền quốc học đó đã được xây dựng trên quan điểm nào? Trên hoành phi còn lại hiện nay ở chùa Vạn Phước, Huế, ta còn có thể thấy thủ bút 4 chữ吐 納 歐 亞 “Thổ nạp Âu Á” của chính Phạm tiên sinh. Thổ nạp Âu Á là nhả ra những cái lạc hậu cũ và thu nhập vào những tinh hoa của văn minh phương Tây và phương Đông. Bốn chữ này có thể xem là bao quát được quan điểm của tạp chí Nam Phong, chỉ ra phương hướng xây dựng nền quốc học theo ý đồ của Phạm Quỳnh.

(…)

Chính Phạm Quỳnh đã nói đến cái bản sắc dân tộc đó trong một bài diễn văn trước mặt thực dân Pháp tức Ban lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp: “Chúng tôi là một nước có một nền văn hoá cũ, chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng có thể viết gì lên cũng được. Tức là tờ giấy có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ thuở nhỏ cho đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay kết quả chỉ làm người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hoá được Tây, hẳn thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.”[3]

Lần khác ông đã dám đứng trước Nghị Viện Pháp đặt vấn đề người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hoá Việt Nam: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một cuốn sách dầy đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hằng mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của người Pháp kia. ”[4] Quả là những lời diễn thuyết hùng hồn và sâu sắc vô cùng của một người tràn trề tình yêu đất nước trên mặt trận văn hoá.

Truyện Kiều mà Phạm Quỳnh đề cập đến trong câu nói thời danh của ông chẳng qua là một biểu tượng của nền văn hiến mấy ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, là bản sắc dân tộc quý giá mà muôn đời trước cha ông ta để lại được thể hiện qua thành tựu văn học. Nó thể hiện đỉnh cao của nền thi ca dân tộc mà thông qua đó ngôn ngữ, cách diễn đạt, tầm hiểu biết, trình độ cảm nhận của một tộc người đã bộc lộ. Rất nhiều điển cố, hình tượng văn học, thi ca ngôn ngữ Trung quốc được Việt hoá thành một vốn liếng văn hoá cho ta bên cạnh bản sắc riêng của dân tộc ta. Ta giữ được vốn liếng văn hoá tập quán đáng quý của cha ông qua yêu thích, trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu truyện Kiều thì còn tiếng nói, còn dân tộc giống nòi, đó là một lẽ tất nhiên mà ai ai cũng nhận ra. Tiếc thay vì bất đồng quan điểm chính trị khiến cuộc bút chiến truyện Kiều đã xảy ra giữa các sĩ phu yêu nước thời đó. Bình tâm mà xét, ta thấy rằng Phạm tiên sinh rõ ràng muốn xây dựng và phát triển một nền quốc học dựa trên bản sắc tốt đẹp của dân tộc và có tiếp thu tiến bộ của cộng đồng nhân loại. Điều quan trọng hơn như ta đã thấy qua một số trích dẫn trên rằng cái mục tiêu cuối cùng Phạm Quỳnh muốn nhắm đến là một nền độc lập chính trị cho một quốc gia có dân trí.

3. Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí với hơn 210 số, mỗi số hơn 100 trang là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ. Tạp chí Nam Phong mỗi tháng xuất bản một kỳ, giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh Ấn Quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội.[5] Phạm Quỳnh đã nói rõ ý đồ của ông khi nhận làm Nam Phong như sau:

Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…”[6] (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Theo nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, tập III tr. 129 thì đối với Phạm Quỳnh, việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ từ ngày viết trên Đông Dương tạp chí, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa một nền học thuật mới thay thế cho Hán học suy tàn. Luôn thể Phạm Quỳnh muốn dần dà gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Ngày nay Thượng Chi văn tậpDu Ký Việt Nam, Luận giải Văn học Triết học,vv… đã được tái bản có thể giúp ta thấy được sự nghiệp to tát của Nam Phong tạp chí. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đã phần nào thực hiện được cái tôn chỉ mà tờ báo đã đề ra: xây dựng một nền quốc văn khá vững vàng mang bản sắc dân tộc. Trong Tự điển Văn Học Việt Nam (NXB Văn Hoá – Thông in, Hà Nội, 1993) Phạm Quỳnh lại có tên bên cạnh các tác giả khác. Điều đó cho thấy nay ông đã được công nhận trở lại là một nhà văn hoá Việt Nam.

Phạm Quỳnh cũng như bao nhà yêu nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 đều biết rằng dân trí của ta đương thời còn lạc hậu. Nền Hán học đã bộc lộ sự bất lực của mình trước nền văn minh kĩ thuật phương Tây ngày càng tiến bộ. Ngay cả ở Trung quốc các chí sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… đều từ bỏ chế độ phong kiến quân chủ để tìm đến các lí tưởng nhân quyền, dân chủ và tự do mà các triết gia phương tây như Montesquieu, Voltaire, J.Rousseau,… đề xướng. Nhưng để tiếp thu được các tư tưởng tiến bộ phương Tây và bảo thủ được cái quốc hồn quốc tuý thì không thể không xây dựng một vốn liếng ngôn ngữ Việt Nam nhằm diễn đạt các tư tưởng mới mẻ đó. Quả nhiên trong lãnh vực này Nam Phong đã đóng một vai trò quan trọng. Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đã nhận xét: “Ông là người đã chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hoá Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hoá được.”[7]

Có thể nói Phạm Quỳnh đã tiếp nối con đường được mở ra trước đó của Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông cùng quan điểm với cụ Phan Tây Hồ khi chọn con đường nâng cao dân trí, khai hoá cho đồng bào và đấu tranh bất bạo động. Trước khi rời Nhật Bản về nước, Phan Chu Trinh đã tâm sự với các đồng chí trong phong trào Duy Tân: “Tôi có định kiến rồi, công việc chúng ta làm ngày nay chỉ nên chú trọng vào việc khai hoá cho đồng bào mình, tiến được bước nào chắc bước ấy, mới mong có hi vọng về sau. Còn như chủ nghĩa muốn làm mau, muốn lấy võ lực mà bạo động trong nước hay là sức người để nối quân cách mệnh, việc ấy tất nhiên phải thất bại, tiếp đến dân bị khủng bố, nhuệ khí bị nhụt đi. Không có ích gì, tôi không tán thành cái chủ trương ấy[8]

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong VNVHSGƯTB đã tóm tắt sự nghiệp văn hoá của Phạm Thượng Chi tiên sinh như sau: (…)

– Ông đã đấu tranh cho câu văn quốc ngữ. (Học tiếng Việt, viết văn quốc ngữ, luyện văn xuôi, văn nghị luận, dùng Hán Việt âm,…)

– Ông đã khởi công xây dựng một nền học mới. (Học tập thâu thái Tây Phương, soạn Tự điển, phiên dịch sách vở nước ngoài,..)

– Ông đã cùng giúp cho văn nghệ tiến bộ. ( Mở ra các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… còn giá trị đến ngày nay,..)

– Ông đã lập được một tạp chí có giá trị: Nam Phong tạp chí. Theo nhà phê bình Thiếu Sơn “nhiều người không biết văn Tây văn Tàu có thể chỉ nhờ đọc Nam Phong mà có được cái trí thức phổ thông về văn chương và học thuật Đông Tây”. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong NVHĐ đó là một “bách khoa toàn thư” (Sđd tr.244-247).

Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, thế hệ 1932 đã viết “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 –1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hoá thế hệ 1913 –1932. Câu nói trên đây quả không phải là quá đáng. Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919- V.B) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đêm đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 –1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. Nói như vậy để các bạn ghi nhận thế giá và uy tín của Nam Phong nó to tát đến như thế nào.Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.” (Sđd tr.16-17). Dẫu đây là một ý kiến có phần chủ quan nhưng Thanh Lãng cũng đã cho ta thấy được sự đóng góp có một không hai trong thời kì đầu của công cuộc phát triển nền quốc văn nước ta.

Quả nhiên, Phạm Quỳnh đã thực hiện được ước nguyện của mình với Nam Phong tạp chí. Ông đã tập hợp được một số trí thức tân học và cựu học để xây dựng một nền quốc học, tạo được một cao trào nâng cao dân trí sôi nổi, gây được một thế lực dân tộc khá mạnh. Ta không nên hiểu những thành tựu của Nam Phong tạp chí là của riêng Phạm Quỳnh mà là dưới sự dẫn dắt lèo lái tài ba của ông. Một lớp thanh niên đông đảo đã hưởng được ơn ích từ sự mở mang từ kiến thức đến tinh thần qua đọc báo Nam Phong, làm cơ sở cho phát triển nền văn chương học thuật sau này. Để hiểu rõ hơn đóng góp của tạp chí Nam Phong trong thời kì văn học này đòi hỏi một công trình nghiên cứu nghiêm túc và dày công, điều đó ở ngoài nội dung của bài viết này.

4. Phạm Quỳnh tham chính

Khi Phạm Quỳnh được ra chấp chính với chức vụ Đổng lý Ngự Tiền Văn Phòng, rồi Thượng Thư bộ Học tháng 11 năm 1932, trong dân chúng truyền tụng câu vè: “Giấc Nam Kha khéo bất bình / Bừng con mắt dậy thấy mình Thượng Thư.” Quả là oái oăm cho một học giả rất nghiêm túc như ông. Có phải vì tham chức quyền mà ông rời bỏ sự nghiệp văn học của mình chăng?

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước. Vị vua Tây học này đã thực hiện ý đồ tân hoá và trẻ hoá đội ngũ bằng cách thay 6 vị lão thần thượng thư của Cơ Mật Viện bằng những người trẻ tuổi “Âu Á kiêm thông” trong đó có hai gương mặt sáng giá là Phạm Quỳnh (bộ Học) và Ngô Đình Diệm (bộ Lại). Dân gian nhắc nhở sự kiện này qua bài thơ châm biếm: Năm cụ khi không rớt cái ình / Đất bằng sấm dậy xứ Thần Kinh. Tuy nhiên sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh không phải là điều khiến ông được nhắc nhiều về sau.

Hiện nay đã có những đánh giá rất sâu sắc về những đóng góp của Phạm Quỳnh về mặt văn hoá. Còn về chính trị thì ta nên tham khảo ý kiến cách đây hơn 60 năm của Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn. Viên quan thầy người Pháp này đã không nhầm khi viết trong báo cáo ngày 08.01.1945 cho Toàn Quyền Decoux và Tổng đại diện Mordant về Phạm Quỳnh:

Viên Thượng Thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của mình.

Một lần nữa, vị Thượng Thư bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng Thư bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà Vua những biểu hiện của một chủ quyền trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh còn doạ sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với vua Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vụ chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam.

Tôi lưu ý Ngài một điều là dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyến nổi của nền độc lập Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho đến nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản.”(Chúng tôi nhấn mạnh – PT) [9]

Hoá ra việc viết văn làm báo rồi làm chính trị của Phạm Quỳnh đều phát xuất từ một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc vì một nền văn hoá nước nhà, vì một nền độc lập chính trị cho Tổ Quốc. Để hiểu hơn nữa việc Phạm Quỳnh tham gia chính trị thì có lẽ ta tin được một người đương thời với ông: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Trong Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học, Hà Nội, 1971) Nguyễn công Hoan đã viết:

Khi viết truyện Kép Tư Bền tôi liên tưởng tới bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm chính là trường hợp Phạm Quỳnh! … Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, ông được cấp 600 đồng mỗi tháng. Món tiền này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng, trái với ý mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm.

Bi kịch của Phạm Quỳnh là ở đây. Ông đã đem cái hồn nhiên của một người làm công tác văn học vào sân khấu chính trị, ôm cái ảo tưởng chân lí sẽ thắng cường quyền, tin vào việc đấu bằng nghị trường, bất bạo động sẽ giành được chủ quyền cho Tổ quốc Việt Nam mến yêu của ông. Ông đã quá thơ ngây khi trích dẫn ngay trên bìa báo Nam Phong lời của Roosevelt: Có ngang tầm với nhau mới có chuyện bình đẳng (Il n’y a que ceux qui sont des égeaux sont égeaux) và tuyên bố với Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà nội ngày 06.11.1931 dưới hình thức một bức thư ngõ rằng “chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu. Tổ quốc ấy, thưa Ngài Tổng trưởng, không thể nào là nước Pháp được”[10]. Chính trị không giản dị như thế. Phạm Quỳnh biết mình lầm, ông đã rất tiếc cho lòng tin của ông vào nước Pháp văn minh trí thức với lí tưởng công bằng, tự do và bác ái.

5. Phong cách Phạm Quỳnh

Sau khi đã hiểu được tâm tình của Phạm Quỳnh, ta nên tìm hiểu một chút về nhân cách của ông. Ông sống rất giản dị, không nặng nề phô trương hình thức và thế lực như Nguyễn Văn Vĩnh. Phạm Thế Ngũ trong sách đã dẫn có trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ Nữ Tân Văn ngày 18.06.1931 và ngày 16.07.1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, cho ta thấy rõ ràng sự tương phản nói trên. Về Phạm Quỳnh thì “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi toà soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh……. Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự cao mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”, còn về ông Nguyễn Văn Vĩnh thì “Tầng trên lầu là toà soạn báo Trung Bắc Tân Văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”[11]

Tương truyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trước một lò trầm và mặc khăn đen áo dài như đang cử hành một nghi lễ. Quốc phục khăn đen áo dài luôn luôn được ông mặc, nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc nước nhà của Phạm tiên sinh. Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làm cho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi. Có người cho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất là với một thanh niên Tây học ta mới thấy quí một nếp nhà còn được gìn giữ và tự hào. Điều nhắc nhở chúng ta là mới đây trong hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo lớn của thế giới như Nga, Mỹ , Trung Quốc, Pháp,.. đã hân hạnh được tặng và mặc bộ quốc phục như trên.

Khi mới hai mươi mấy tuổi đầu, ông đã tập hợp được những người lớn tuổi cùng cộng tác. Chính ông đồ Nguyễn bá Học đã công khai khâm phục tài năng của người trai trẻ này qua câu nói “Bách tuế lão ô bất như sơ sinh phượng hoàng” (Con quạ già 100 tuổi cũng không bằng con phượng hoàng mới sinh). Khi khăn đen áo dài diễn thuyết trước Quốc Hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hoá của Việt Nam, Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhưng đã làm trí thức Pháp kinh sợ với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nước nồng nàn hơn các trí thức Việt Nam Tây học khác tại Pháp có bằng cấp cao hơn nhiều. Giải thích việc tránh cuộc bút chiến về truyện Kiều với ông đồ Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh đã nói, “Bất luận tài học ông Nghè Ngô như thế nào, ông có điều hơn đứt tôi là ông đã vì nước mà phải tù tội… Nếu thành ra một cuộc cãi lộn thì tất phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ, ông mục cho tôi là văn sĩ lóp lép thì tôi nể gì ông mà không tặng ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá còn ra sự thể gì.”[12]

Không thích ông phải kể đến nhóm Phong Hoá. Họ đã làm vè như sau: Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai là sừ Uỳnh / Một sừ béo núng rung rinh / Một sừ lểu dểu như hình cò hương / Không vốn liếng chẳng ruộng nương / Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu… (Báo Phong Hoá số 14 ngày 22.07.1932). Phê bình một học giả từng diễn thuyết trước Nghị viện Pháp bằng thơ vè như thế chỉ làm tăng thêm thế giá của Phạm Quỳnh.

Một người nữa không mấy thích Phạm Quỳnh là Đổng lí Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hoè. Khi vua Bảo Đại sai ông soạn đạo dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách nói chung thì ông Hoè lại thảo tờ Chỉ (thấp thua 2 cấp: Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Lại bộ Thượng thư Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên. Phạm Khắc Hoè viết: “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14.03.1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua bộ Lại nói chuyện.”[13] Thâm nho như Phạm Quỳnh mà lại xử sự như thế thật là quá mã thượng.

Xét về hai mặt đức tài, Phạm Quỳnh đúng là một sĩ phu có thực học và công phu hàm dưỡng dẫu rằng ông thường tự khiêm tốn gọi mình là “một anh đồ nhà quê”. ( un lettré compagnard)

6. Nơi an nghỉ cuối cùng của Phạm Thượng Chi

Phạm Quỳnh mất năm 1945 khi mới 53 tuổi lúc đang mang trong lòng bao hoài vọng cống hiến cho nền văn hoá nước nhà sau khi rút khỏi vũ đài chính trị. Ông sống ở Huế khá lâu, 13 năm và cũng gởi nắm xương tàn trên đất Huế, chùa Vạn Phước.

Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) và bên hông phải của chùa Từ Đàm. Sinh tiền, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này lúc thư nhàn để đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hoà thượng trụ trì chùa lúc ấy. Chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông cũng rất thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn Phật giáo lược khảo. Âu cũng là một thiện duyên mà giờ đây giác linh Phạm Tiên sinh còn nghe được tiếng chuông và lời kinh của đấng Từ Phụ. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ biểu ở cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương câu nói lừng danh của ông “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Ở bình phong tiền có câu “Tiếng ta con, nước ta còn” viết bằng chữ Quốc ngữ. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (南 風 主 筆 范 瓊 尚 之 遺體 – Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi), bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật (乙 未 年 十 二 月 十 八 日 – Ngày 18.12. năm Ất Mùi, 1956) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa thiên-Huế vào Huế (có tư liệu nói ông được đem vào từ rừng Hắc Thú, Quảng Trị). Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (男 范 璧 仝 弟 妹 等 恭 誌 – Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi). Trong chùa Vạn Phước cũng còn nhiều di vật của ông. Ở nhà học của tăng sinh là hoành phi có câu Thổ nạp Âu Á, thủ bút của ông. Có tư liệu cho rằng hiện có một hoành phi tương tự tại nhà của người con trai ông là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong hiên của điện thờ chính chùa Vạn Phước về phía trái khi đi vào còn có bức ảnh lớn hình Phạm tiên sinh đang làm việc tại văn phòng.

Biệt thự Hoa Đường thuộc đường Hải Triều (xưa là đường Vạn Vạn) nhìn ra sông An Cựu. Ngày xưa đây là một ngôi nhà 2 tầng xây theo kiểu Tây mà bây giờ chỉ còn lại cái tháp nước bên hông nhà trơ gan cùng tuế nguyệt. Cả khuôn viên đã bị lấn chiếm bởi những người không bà con gì với Phạm Quỳnh. Tất cả là những căn nhà tôn lụp xụp hoặc nhà trệt thấp, nhỏ như một xóm lao động nghèo khó. Khó ai có thể tưởng tượng được đây từng là một biệt thự xinh đẹp của một quan đầu triều ngày nào.

Dâu bể đã đổi thay nhưng lòng ngưỡng mộ Phạm Thượng Chi tiên sinh vẫn còn mãi trong lòng bao nhân sĩ Việt Nam.

Tháng 05/2007.

V.B.


[1] Bà là con thứ 6 của Phạm Quỳnh và là vợ của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng. Ông Lãng là chủ bút Nam Phong ở giai đoạn cuối 1933-1934. Ông Lãng về sau đã theo tướng Nguyễn Sơn và tiếp tục các hoạt động văn hóa. Bà còn có bút hiệu là Liên Trang, đã từng viết một luận án tiến sĩ văn chương về những đóng góp của Nam Phong tạp chí trong buổi đầu của nền quốc học Việt Nam.

[2] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập 4, NXB Hội Nhà văn, trang: 134-136.

[3] Pháp du hành trình nhật ký, ngày thứ Tư, 19/7/1922.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư, tập III, trang 149.

[5] Theo nhà báo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 5/11/2005

[6] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 129.

[7] Vũ Ngọc Phan, sđd, trang 98

[8] Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1968.

[9] Theo Xuân Ba, Tuổi Trẻ Online ngày 12/11/2005.

[10] Báo Nam Phong số 166, Octobre 1931, phần phụ lục tiếng Pháp.

[11] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[12] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 127.

[13] Phạm Thế Ngũ, sđd, trang 154.

Tâm lý ngày Tết – Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917-1.7.2017)

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Phạm Quỳnh

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ sáu trong bốn năm qua, với số lượng, 16.075)

    —o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Tết năm ngoái Canh Dần (2010), chúng tôi đã mời các bạn đọc bài Tâm lý ngày Tết của Phạm Quỳnh viết năm 1930 bằng tiếng Pháp qua bản dịch của con gái ông là Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn. Năm nay, Tân Mão (2011), lại xin mời các bạn đọc bài ấy, nhưng qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, để thấy mỗi bản dịch lại có những đặc sắc riêng qua cảm nhận khi chuyển ngữ của mỗi người dịch, ở những thời đại khác nhau, trước những lớp bạn đọc khác nhau.

Trong dịp này, chúng tôi cũng đăng thêm một bài khác của cùng người dịch từ nguyên văn bằng tiếng Pháp cũng viết năm 1930 của Phạm Quỳnh nhan đề Tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta.

Hai bài này đều theo bản in trong Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản năm 2007 tại Hà Nội. Cả hai bài sẽ đưa đến các bạn niềm vui sâu xa trong những ngày Xuân mới

Đó cũng là lời chúc của chúng tôi với bạn đọc yêu quí, chỉ mong sao năm mới các bạn đều mạnh khỏe, minh mẫn và thanh thản sống những ngày mới tươi sáng trong đất nước ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và cũng nhanh chóng hơn một phần tư thế kỷ qua (1986-2011) trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

—o0o—

 

TÂM LÝ NGÀY TẾT

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già, vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, cũng tức là bỏ luôn cái Tết. Nhưng ta có thể đoán trước rằng tập tục rồi sẽ mạnh hơn luật pháp và kết quả của cuộc cải tổ này là người Trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái Tết: cái Tết nhà nước nó sẽ không phải Tết thật và cái Tết thật không còn là Tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái Tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với một truyền thống nhiều nghìn năm.

Nghĩa là cái Tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – điều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xoá bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp Tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thoả thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng Tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. Vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra theo đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông và bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến. Trong mấy ngày do truyền thống đã quy định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn, tẩy bỏ đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới, xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩ u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình, những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hoà của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bày tỏ, mọi cử chỉ không phải lối phạm phải trong những ngày Tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong cả năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang lại tai họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai hại đối với cả năm.

Vậy nên trong buổi sáng ngày mồng một Tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tuỳ theo chỗ tự anh ta là một người có may mắn hay mang vận xấu, tùy theo vị trí xã hội, thanh danh, gia sản của anh ta, con cháu anh ta đông vui hay hiếm mọn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may” của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc sẽ rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buổi sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó, e sẽ mang theo mình số đen. Để không phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khoẻ mạnh, con cháu đông đúc… và đề nghị họ đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó còn là điều khác nữa. Nó là sự thánh hoá, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đó nó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam. Chính trong ngày Tết toàn bộ gia đình cùng nhau sum họp và thực sự sống một cuộc sống chung, – gia đình nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh em, chị em, nhiều khi cả chú bác cô dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà các thành viên phân tán suốt năm trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bài vị được dở ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nén vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi Tết không chỉ là ngày lễ của người sống, nó còn là, chủ yếu là ngày lễ của những người chết. Chính trong ba ngày Tết những người đã chết thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó, bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự Tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày Tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết đến cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. Và nếu có điều hơi khó chịu ngày Tết đôi khi để lại cho một số người trong chúng ta, thì đấy là cái cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mỗi người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái diễn một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư là mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày Tết đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, Tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xoá bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

(1930)

*

*   *

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế.

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)


* Phạm Quỳnh đã phân giải, chiết tự từ Religion (tôn giáo) theo đó có gốc từ Latin religio bắt nguồn từ gốc relegere có nghĩa là thu lượm, tập hợp, và từ gốc nữa legere có nghĩa là gắn kết, nối kết sự vật lại với nhau (BT)

Tháng Một 16, 2017

Báo Nam Phong được mười tuổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 6:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 1 năm 2017.

Mừng Nam Phong tròn trăm tuổi

(1.7.1917 – 1.7.2017)

BÁO NAM PHONG ĐƯỢC MƯỜI TUỔI

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh mở đầu Tạp chí Nam Phong số 119, tháng 7/1927.

—o0o—

Số này ra là báo Nam Phong vừa được mười năm tròn.

Số thứ nhất là số tháng 7 năm 1917.

1917-1927, đối với cuộc đời thì mười năm thấm thoắt không là mấy, mà đối với một cái báo, kể cũng là một quãng đường dài.

Vậy cũng nên dừng chân ngoảnh lại mà nhìn xem bước đường đã qua thế nào.

Năm 1917 bên Âu châu chiến tranh đương dữ dội; bên này thì chính trị cẩn nghiêm, dư luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch mịch không có tăm tiếng gì. Báo quán thì ở Hà Nội ở Sài Gòn lơ thơ có một vài tờ báo quốc ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt nhiên chưa có cái nào. Báo quốc ngữ cũng là báo phổ thông mà thôi, chưa có nghị luận gì. Vả lại bàn đến chính trị, nói về việc nước bấy giờ coi như câu chuyện quái gở, không ai dám công nhiên đả động. Còn văn quốc ngữ thời hãy còn non nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn bạc những vấn đề quan trọng hay nghiên cứu những nghĩa lý cao xa. Tiếng “quốc văn” dùng để chỉ văn quốc ngữ cũng mới thông dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái “phong trào quốc văn”, về sau này tràn khắp cả xã hội, thì hồi ấy còn phẳng lặng êm đềm cả.

Giữa lúc ấy, báo Nam Phong ra đời.

Chủ nghĩa của báo Nam Phong thế nào?

Ba cuon tap chi Nam Phong

Ở một nước dân trí hãy còn chưa khai thông hẳn, quyền ngôn luận cũng còn chưa được hoàn toàn như nước ta, lấy chính trị làm tôn chỉ không bằng lấy văn hóa làm chủ nghĩa.

Chính trị là chuyện bấp bênh, tùy thời cơ mà thay đổi. Chính trị năm 1917 không giống chính trị năm 1927. Chính trị đương khi Âu châu hữu sự không giống chính trị giữa lúc thế giới hòa bình. Chính trị bất thường như thế, phức tạp như thế, người có kiến thức rộng về thời thế nhiều khi cũng còn phải khổ tâm chưa hiểu được, vậy mà đem bàn với một dân tộc về đường chính trị phần nhiều chưa thoát khỏi cái phạm vi chốn hương thôn, chưa có cái quan niệm gì xác đáng về quốc gia, về xã hội thời (…) một là không hiểu tý gì, hai là hiểu lầm lại càng tệ nữa, giá chí dĩ quyền ăn nói không được tự do, dẫu có muốn bàn giải cho vỡ vạc, lại còn phải e dè từng lời nói, thành ra nói không hết ý, chỉ đủ khiến người ta ngộ hội (Tức: hiểu lầm-PT chú) vậy.

Đến như văn hóa là phần cốt yếu, cái công hiệu nó sâu xa mà lâu dài. Chính trị như cơn giông tố, có mạnh mà không được bền; văn hóa như gió xuân phong, hòa khí vẫn thoang thoảng mãi. Dân tộc ta trí còn non, sức còn yếu, chưa chịu được những trận gió bão trên trường quốc tế; còn phải nhờ ngọn gió xuân hây hẩy để bồi dưỡng lấy tinh thần. Bởi vậy đem văn hóa mà truyền bá trong dân gian, ấy là cái cấp vụ của kẻ trí thức đương thời.

Các nhà sáng lập ra báo Nam Phong này thiết nghĩ như thế, nên ngay từ khi báo mới ra đời đã đặt cái tôn chỉ báo về đường văn hóa hơn là đường chính trị.

Tuy thời thế bắt buộc, không thể tuyệt nhiên không bàn đến việc thời chính, nhưng không hề coi chính trị là phần cốt yếu bao giờ. Đồng nhân (Tức: Mọi người – PT chú) trong báo quán, thủy chung vẫn cho văn hóa là trọng hơn.

Theo ý kiến của đồng nhân thì cái vấn đề văn hóa ở nước ta ngày nay là quan hệ hơn hết cả. Làm thế nào thâu thái được cái tinh hoa của văn hóa Đông Tây để gây lấy một cái tinh thần cốt cách mới cho dân tộc Việt Nam này, khiến cho không đến nỗi mất nền nếp cũ mà lại học được phương pháp mới: ấy trong mười năm nay chúng tôi chỉ băn khoăn về một câu hỏi đó.

Chúng tôi  không dám chắc rằng đã giải quyết được hoàn toàn, nhưng thật đã gia công chịu khó mà nghiên cứu.

Nhân nghiên cứu mới hiểu rằng vấn đề văn hóa ở nước ta thật có mật thiết quan hệ với vấn đề quốc văn. Muốn cho nước Nam có một nền văn hóa xứng đáng, trước hết phải có một  cái khí cụ tiện lợi để dung hòa và để truyền bá tư tưởng. Khí cụ ấy không thể là chữ Tây được, không thể là chữ Tàu được; phải là chữ quốc ngữ của ta vậy.

Vậy trước hết phải đem chữ quốc ngữ mà luyện tập cho thành quốc văn, để làm cái lợi khí cho văn hóa sau này.

Quốc văn đã tiệm thành, bấy giờ phải đem ra dùng để truyền bá các tư tưởng học thuật mới.

Đoàn luyện quốc văn, truyền bá học thuật, đó là hai cái mục đích thiết yếu của báo Nam Phong trong mười năm nay.

Hai cái mục đích đó chúng tôi đã đạt được chưa, xin để độc giả chư quân tử phán đoán. Nay chỉ xin phân trần qua mấy lời về cái phương pháp chúng tôi đã theo và xem ra cũng có hiệu nghiệm.

Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra vận văn của nước ta, nhờ các tiền nhân tập luyện, đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn, xưa nay hầu như chưa có. Mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay.

Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ mới để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, “phát hành” kể có hàng nghìn tiếng mới, chắc lúc đầu cũng lạ tai lạ mắt, nhưng chẳng bao lâu thành thông dụng. Ngày nay các bậc thức giả trong nước đều thừa nhận rằng báo Nam Phong thật đã có công “nhặt chữ” cho văn quốc ngữ được thêm giàu vậy.

Về việc truyền bá học thuật thời chúng tôi quả quyết đem văn quốc ngữ mà dịch thuật cả các sách văn chương nghĩa lý của Đông Tây, dù những văn rất khó, nghĩa rất lạ, cũng cố diễn ra tiếng ta cho kỳ được, không quản lời văn không được chải chuốt, chỉ cầu ý nghĩa cho được thông đạt. Trong mười năm nay chúng tôi thí nghiệm, thấy cái công dịch thuật ấy không phải là không có ích. Các bạn đọc báo có ông viết thư nói rằng chữ Pháp, chữ Nho vốn không được thông cho lắm, không dủ đọc được sách Tây, sách Tùa, chỉ nhờ chữ quốc ngữ, nhờ báo Nam Phong mà bổ thêm được sự học. Nếu quả như thế thì chúng tôi lại càng vui lòng mà theo đuổi cho tới mục đích, vì cái chí của chúng tôi vẫn là ước ao rằng sau này người Việt Nam ta không cần phải học chữ Tây, không cần phải học chữ Tàu, chỉ học bằng quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được các điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay. Nếu bao giờ có ngày được như thế thì báo Nam Phong này cũng có thể tự phụ là có công vào đấy một phần vậy.

Ấy công việc của báo Nam Phong trong mười năm nay như thế.

Nay nhìn lại chồng sách cao, trước sau được 120 quyển, 1 vạn 5 nghìn trang, chắc trong đó vàng thau lẫn lộn, có cái đáng giữ mà cũng có cái đáng bỏ, nhưng cũng là công phu huyết hãn của đồng nhân trong mười năm trời vậy. Nhìn đống sách mà không thể không có chút cảm tưởng. Nhân gặp ngày kỷ niệm thập chu niên, giải tỏ mấy lời, để ghi trên đầu sách.

Nam phong báo quán

đồng nhân cẩn chí

 

Chúc mừng năm mới Đinh Dậu

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 6:19 chiều

chuc-mung-nam-moi-dinh-dau

Tháng Một 1, 2017

Tọa đàm về Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong ở Hải Dương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

 Toạ đàm về

Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

ở Hải Dương

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi Blog PhamTon tuần 1 tháng 7/2010 đăng tin về cuộc tọa đàm về học giả Phạm Quỳnh tại Hải Dương theo bản tin trên báo Tiền Phong cuối tuần sô 25, bạn Khúc Hà Linh ở Hải Dương lại vừa gửi cho chúng tôi bài tường thuật tỉ mỉ về cuộc tọa đàm trên. Chúng tôi xin trích đăng để các bạn cùng đọc.

*

*  *

Quê Phạm Quỳnh là làng Hoa Đường( bây giờ là Lương Ngọc) xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, một vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Đây là đất đãi ngoại, chỉ thành đạt khi đi ra ngoài, thành ra đã có bao nhiêu những bậc văn nhân, trí thức tìm về Hà thành lập nghiệp. Cụ tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh cũng trong số đó. Cụ ra Hà Nội làm ăn rồi sinh Phạm Quỳnh tại nhà số 1 Hàng Trống. Chẳng ai ngờ mấy chục năm sau, người con trở thành chủ bút báo Nam Phong, một tạp chí đã gây dấu ấn trong làng báo làng văn nước Việt từ đầu thế kỷ trước.

Trải bao nhiêu biến cố thăng trầm, tháng 6 năm nay, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam 21-6-2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến tổ chức một cuộc tọa đàm về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”, như để tri ân người có công trong làng baó chí một thời…

Trong phòng họp trang trọng có tấm phông nổi lên các hàng chữ “Toạ đàm về Học giả Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong” với bức chân dung nhà báo Phạm Quỳnh, vận quốc phục, khăn đóng, phía sau là chữ Hiếu. Không gian cuộc tọa đàm đã tạo không khí nghiêm trang trước một nhân vật lich sử sống cách chúng ta chưa đến bẩy chục năm.

Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở trung ương và địa phương. Như: giáo sư Văn Tạo- nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư Huệ Chi; giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của 2 Nhà xuất bản Lao ĐộngThanh Niên ở Hà Nội về dự.

Ở địa phương, có các đồng chí lãnh đạo báo Hải Dương, Đài phát thanh truyền hình, Hội Nhà Báo,   Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hoá thể thao- Du lịch tỉnh và các nhà báo trong tỉnh.

Bí thư  huyện uỷ Bình Giang, Chủ tịch xã Thúc Kháng,  quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh,  và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc toạ đàm làm cho không khí càng thêm thân mật

Sau lời phát biểu khai mạc của bà Đặng Thị Bích Liên, uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giáo sư Văn Tạo phát biểu có tính cách đề dẫn.

Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú tiếp lời, ông rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông  có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nạp Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của (Âu) vào Việt Nam và phô bầy những giá trị tốt đẹp của (Á )với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hoá như bây giờ ta thường nói.

Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh sinh viên và xã hội …Nhạc sĩ Phạm Tuyên tỏ ra rất cảm động trước cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý.

Với 15 lượt phát biểu ý kiến của đại biểu các cơ quan trung ương và địa phương, của các vị giáo sư, nhà sử học, nhà báo nhà văn, nhà nghiên cứu và lời giới thiệu cuốn sách mới xuất bản Phạm Quỳnh, con người và thời gian của chính tác giả Khúc Hà Linh, cuộc tọa đàm đã toát lên một điều: Trong sự nghiệp báo chí nước nhà, những năm 1917 đến 1932, tạp chí Nam Phong xứng đáng được tôn vinh, và Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút đã rất có công trong việc chuyển tải văn hoá phương tây vào Việt Nam và tiếp thu những giá trị văn hoá để hội nhập làm cho ngôn ngữ nước nhà càng phong phú mà không làm mất đi vẻ đẹp của tiếng Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh yêu nước trong điều kiện của ông, với cách suy nghĩ của ông. Ông muốn tài bồi một nền quốc văn quốc học theo phương pháp lấy cái tốt đẹp của phương tây, để bổ sung vào cái tốt đẹp của phương đông, cụ thể là Việt Nam

Kết luận cuộc Toạ đàm, nhà báo Nguyễn Thanh Cải, tỉnh uỷ viên, giám đốc Đài Phát thanh truyền hình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Hải Dương, cho rằng qua bẩy chục năm, đủ để kiểm chứng, nhận định về một con người và sự nghiệp, với những trước tác khá đồ sộ để lại cho đời sau. Ông cũng cho rằng, tuy còn những ý kiến quan điểm khác nhau, nhưng tất thảy  các nhà khoa học, các nhà sử học nhà nghiên cứu đều trân trọng Phạm Quỳnh với những gì ông đã cống hiến cho đất nước. Đó là một văn sĩ tài danh, nhà báo có hạng, một con người có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tôn vinh tiếng mẹ đẻ, trân trọng Truyện Kiều, con người đã có công tích cực trong  canh tân văn hoá làm sống lại hồn nước. Nhà báo Nguyễn Thanh Cải  sẽ báo cáo với lãnh đạo tỉnh tiếp tục nghiên cứu và đề xuất có những hình thức kỉ niệm tương xứng với học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong, coi đó là sự tri ân của các thế hệ làm báo của tỉnh với học giả, nhà văn nhà báo Phạm Quỳnh- một người con của quê hương Hải Dương.

K.H.L

1913: Nam Phong; 1932: Phong Hoa, Ngày Nay; 1945: Cờ Giải Phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

1913: NAM PHONG ; 1932: PHONG HÓA, NGÀY NAY; 1945: CỜ GIẢI PHÓNG

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 5/8/2014 đưa tin:

Xét đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Bảo tàng Báo chí Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam quản lý, sẽ lưu giữ, phát huy giá trị của di sản báo chí Việt Nam; là nơi ghi nhận, tôn vinh sự đóng góp của báo chí và các nhà báo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Báo chí Việt Nam cũng là nơi để người dân, các nhà khoa học, các nhà báo trong nước và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ văn hóa, điểm tham quan, du lịch. Dự kiến, Bảo tàng Báo chí Việt Nam sẽ khánh thành vào năm 2015 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2015).”

Nhân dịp này, chúng tôi mời quí bạn đọc tư liệu sau mà ít người biết vì ít được nhắc tới: Đó là tư liệu được nhà báo nổi tiếng Thép Mới công bố trong hai ấn phẩm.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nthep-moi2hân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm 1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

  1. Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

Noi san Nhan Dan hoc anh truong chinh lam bao Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

(…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân VSong dong su nghiep bao chiiệt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí-P2: Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 2: NAM PHONG TẠP CHÍ

1.      Gốc gác và trường hợp ra đời

“Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy có tấm bảng đề hai chữ Nam Phong làm bằng Hán tự, đó tức là nơi toà soạn của báo Nam Phong, còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít tức là nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh. Nam Phong mỗi tháng có một kỳ, hèn chi trong toà soạn không có cái vẻ đông người nhộn nhịp như ở các báo khác. Qua lớp nhà dưới lên trên lầu mới là nơi làm việc của Phạm tiên sinh. Buổi chúng tôi lại thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện với chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài bốn chục, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Tiện đây để bổ túc chương trên và cũng để thấy rõ sự tương phản giữa hai người, biểu hiện cho hai khuynh hướng của thời đại, chúng tôi cống hiến bạn đọc một đoạn về Nguyễn Văn Vĩnh cũng dưới con mắt của phóng viên Đào Hùng trong một số báo Phụ Nữ Tân Văn kế sau (16/7/1931).

“Ở giữa thành phố Hà Nội, mặt tiền trông ra hồ Hoàn Kiếm, một toà nhà lầu đứng nghênh ngang như có ý phô bày trước con mắt muôn người qua lại cái vẻ lớn lao hùng vĩ. Trên các khung cửa đều có gắn những chữ bằng đồng chói lọi như Trung Bắc Tân Văn, Học báo, Âu Tây tư tưởng, Niên lịch thông thư v.v… Từng dưới là cửa hàng bán sách vở, liếc mắt ngó qua thì thấy nào là Ba người ngự lâm pháp thủ, Những kẻ khốn nạn, nào là Nho giáo, Kim Vân Kiều, và các sách dịch về Âu Tây tư tưởng.

“Tầng trên lầu là toà soạn Trung Bắc Tân Văn, Học báo L’Annam nouveau (Nước An Nam mới – PT chú) người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của ông Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người, khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm, vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ, và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường. “Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thơ từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh sáng suốt, cử chỉ tự nhiên nói cười vui vẻ…”)

Trên đây là những hàng mở đầu một bài của ông Đào Hùng trong báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn (18/6/1931), khi lần đầu ra Bắc tìm viếng báo Nam Phong. Bài phỏng vấn này đặc biệt cho ta hay gốc gác và trường hợp ra đời của tờ báo, qua lời của chính chủ nhân như sau:

“Tạp chí Nam Phong ra đời 1917 nhưng thật ra thì đã có lâu và không phải tôi đứng tên sáng lập. Lúc trước nó là một bộ Âu Châu chiến sử xuất bản hồi Âu chiến, viết bằng chữ Hán, chủ tâm chỉ viết cho người Tầu bên Trung Hoa đọc thôi. Nguyên hồi dó chính phủ Đông Pháp thấy ở bên Thanh Đảo người Đức làm báo chữ Tầu in hàng muôn số phát không cho dân chúng, chuyên nói về chiến tranh và tán dương nước Đức Chính phủ Đông Pháp cũng lo cái thế lực của người Đức ở bên Tầu mỗi ngày một lớn bèn vời tôi lên phủ Toàn quyền, bảo tôi cùng ông Nguyễn Bá Trác làm một tờ báo chữ Nho lấy các tin tức của sở điện tín Arip, nói rộng chuyện chiến tranh, viết bài kể từ nguyên nhân gốc rễ cuộc Âu chiến, tuyên bố hết những việc tàn khốc dã man của người Đức. Các bài thì ký tên người Tàu và báo cũng in ra hàng muôn số rồi đem sang Trung Quốc phát không, để làm cách chống lại cuộc tuyên truyền của bên địch và đánh đổ thế lực của Đức ở Viễn Đông. Vậy trong mấy năm, tờ Âu Châu chiến sử chỉ là một tờ báo chữ Hán và không có lưu hành trong xứ Đông Dương. Đến năm 1917 thì phủ Toàn quyền mới bàn với tôi rằng sẵn có các tin tức và bài vở đó thì nên mở ra một bản quốc văn để làm một cái cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện và cùng với bạn đồng nghiệp Đông Dương tạp chí là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc…”

Những lời thuật trên có thể coi như đã nói lên tất cả sự thật về mầm mống tờ Nam Phong, nếu ta thêm vào vai trò cốt yếu một nhân vật người Pháp, Louis Marty (Trưởng phòng Chính trị Đông Dương) người cầm đầu tất cả công việc nói trên tại phủ Toàn quyền.

2.      Mục đích

Vậy tờ báo do chính nhà cầm quyền Pháp lập ra với một mục đích chính trị rõ rệt, hơn nữa một mục đích chính trị cấp thời, phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận chiến bấy giờ. Do đó ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở trang đầu ngay trên hai chữ lớn NAM PHONG, mấy hàng chữ Pháp nhỏ “L’information Française: La France devant le monde –Son rôle dans la guerre des nations” (Thông tin Pháp: Nước Pháp trước thế giới – Vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh các nước – PT chú). Thấy ở bìa sau tờ báo một hình vẽ mà người ta đã giải thích là “Rồng Nam phun lửa (Theo chúng tôi là phun bạc – PT chú) diệt Đức tặc”. Thấy ở bên trong, những bài tin tức hoặc bình luận về chiến tranh rất dồi dào nhất là ở phần Hán văn. Thấy ngay ở vài bài quốc văn, một giọng tuyên truyền tán tụng quá hăng, như dưới ngòi bút của Tuyết Huy: “Vái trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc”. (Số 2)

Ngoài mục đích cấp thời ấy tất nhiên Marty cũng còn nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem những cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng và dưới khẩu hiệu “khai hoá”, gây một cơ sở vững chắc là cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ, tức cũng là cái mục đích của tờ Đông Dương tạp chí khi trước.

Còn về phía người Việt khi đứng ra biên tập tờ báo, phải chăng họ chỉ có biết phục vụ chủ trương ấy. Ở dây có lẽ cũng cần điểm qua các cá nhân. Ở mấy số đầu ta thường thấy một giọng tán tụng đôi khi quá trắng trợn dưới ngòi bút của Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác. Ta không nên quên, hai ông đó đều là những người “đới tội lập công”. Tuyết Huy thì sau vụ Duy Tân đi Côn Đảo dược ân xá trở về. Tiêu Đẩu thì xuất ngoại bất hợp pháp, lang thang bên Tàu bên Xiêm, trở về đem ngòi bút ký giả Hán văn đến đầu quân Marty. Riêng với Phạm Quỳnh, trở lại bài phỏng vấn của Đào Hùng, ông có tuyên bố chủ ý của ông khi làm tờ báo như sau: “Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chứ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan để bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” (Lời này trong ẩn ý Phạm Quỳnh phải hiểu rành rọt và nôm na ra là: “Tờ báo không phải tôi cầu cạnh, chạy chọt mà có –như lắm kẻ chạy chọt để được Tây cho một cái manchetle (Tên báo – PT chú) – chẳng qua Tây thấy tôi có tài, nên vời tôi, muốn DÙNG tôi cho mục đích của họ – mà tôi ưng nhận là vì thấy có thể LỢI DỤNG để làm việc cho cái mục đích của tôi”

Cái việc LỢI DỤNG nhau này, thật ra rất tế nhị. Ở ngoài không dễ nhìn ra. Mà bên trong cũng không luôn luôn suông sẻ. Nhất là đối với một đối phương tầm cỡ như Marty. Thanh Lãng cho rằng đem cái sứ mạng khai hoá nhân đạo của Đại Pháp – cũng như cái tiêu ngữ Tự do – Bình đẳng – Bác ái ra mà cực lực tán dương (ngay ở số đầu) chính là cách chửi xỏ, nói móc bọn thực dân ngồi đó – Chẳng biết có phải do đề xuất của Marty không mà về sau báo luôn luôn nêu ra bìa ngoài câu châm ngôn: “Có đồng đẳng mới bình đẳng” (Íl n’y a d’égaux qu’entre semblables). Nghĩa là phải đạt trình độ như người mới nên đòi hỏi bình đẳng với người. Nam Phong không phải không có những bài làm cho vài người Tây tức giận, cho là bài Pháp, lên tiếng đả kích trên báo L’avenir du Tonkin (Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú), sau đó Phạm Quỳnh đã phải hết sức biện bạch, vuốt ve.)

Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn. Điều đó ông có nói rõ trong “Nhời nói đầu” số Nam Phong ra mắt. Sau nữa cũng cần thêm vào một mục đích thầm kín khác mà mới đầu người chủ trương Nam Phong không dám nói lên nhưng dần dà ông đã hướng tới là gây lấy trong quốc dân một chủ nghĩa quốc gia ôn hoà dựa trên cơ sở văn hoá. Tất nhiên làm ba công việc trên là với sự công nhận, sự thoả hiệp hoặc sự trục lợi của người Pháp nữa – là điều ta sẽ có dịp xét sau – song cũng hiển nhiên đó là ba mục tiêu mà Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã đặt ra và để công thực hiện.

P.T.N.

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí: P1_ Lược thuật thân thế Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 1 năm 2017.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 1: LƯỢC THUẬT THÂN THẾ PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh bút hiệu Thượng Chi hoặc Hồng Nhân hoặc Hoa Đường nữa, nguyên quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1892, vào học trường Bảo Hộ (tức trường Thông ngôn cũ) Hà Nội. Năm 1908, ông thi ra đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học rồi vào làm tại Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ Học Viện (École Française d’Êxtrême-Orient). Thời gian này đã rất bổ ích cho ông để đọc sách và học thêm chữ Hán. Có thể nói cái căn bản học giả nơi ông về sau này là được định hướng và gây dựng trong thời kỳ ấy.

  • Tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh ra năm 1913, ông có trợ bút, viết những bài dịch thuật văn học và tư tưởng, đó là bước đầu trong nghề văn. Rồi năm 1917 với sự bảo trợ của Louis Marty, Trưởng phòng Chính trị tại phủ Toàn quyền, ông cho ra tờ Nam Phong. Ông là chủ bút, chuyên viết mục luận thuyết và dịch văn chương Pháp. Năm 1922, ông được cử sang Pháp với tư cách đại diện hội Khai Trí Tiến Đức, dự cuộc hội chợ triển lãm Marseille. Ông ghé Marseille rồi lên Paris, ở lại ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả trước ban chính trị và luân lý của Hàn Lâm viện. Giới thuộc địa và báo chí Pháp bắt đầu chú ý đến Phạm Quỳnh. Khi về nước, ông nghiễm nhiên trở thành nhân sĩ số một đất Bắc, nổi danh về cây bút ký giả và học giả. Làm chủ bút Nam Phong, lại làm Tổng thư ký hội Khai Trí Tiến Đức, ông cổ xuý cho việc gây dựng một nền văn học quốc gia, tranh đấu đòi người Pháp thiết lập bậc Tiểu học Việt Nam. Từ năm 1925, ông được cử làm giảng sư về khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao Đẳng Hà Nội. Năm 1929 ông được cử vào Đại hội nghị Kinh tài Đông Dương (cùng với Nguyễn Văn Vĩnh). Khoảng 1930, trước phong trào nổi dậy và đòi hỏi của dân Việt Nam ngày thêm gay gắt, người Pháp dự tính thay đổi chế độ cai trị của họ. Phạm Quỳnh xướng lên thuyết lập hiến chủ trương phải quy định rõ ràng bằng hiến pháp, quyền của dân, của vua quan và của Bảo hộ. Năm 1932, để thoả mãn phần nào những khát vọng của dân ta, người Pháp đem Bảo Đại 20 tuổi về nước, nói là để mở một kỷ nguyên quân chủ văn minh mới. Tháng 11 năm ấy Phạm Quỳnh được mời vào Huế lãnh chức Thượng thư sung Ngự Tiền văn phòng Đổng lý.
  • Bảo Đại lập nội các, cử Phạm Quỳnh làm Tổng lý kiêm Thượng thư Bộ Giáo Dục và toan thi hành những cải cách lớn. Nhưng công việc không đưa tới kết quả nào. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn làm quan ở Huế cho tới 1939 lại cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả Bắc kỳ lại cho triều đình Huế (theo đúng hiệp ước 1884). Cuộc vận động chưa xong thì đại chiến bùng nổ. Pháp thua Đức ở Âu châu nhường cho Nhật Bản đổ bộ vào Đông Dương. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại mời Trần Trọng Kim lập chính phủ thân Nhật.

Phạm Quỳnh mất sau ngày Cách mạng tháng 8

P.T.N.

Chúc mừng năm mới 2017

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 12:26 sáng

chuc-mung-nam-moi-2017

Tháng Mười Hai 18, 2016

Trên quê hương yêu dấu (kỳ 2 tháng 12 năm 2016)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Đô-nan Trăm

Ngày 14-12, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Đô-nan Trăm.

Thủ tướng Chính phủ đã chúc mừng ông Đ.Trăm được bầu là Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ.

Tổng thống đắc cử Đ.Trăm đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, những tiến triển tích cực trong quan hệ hai nước và khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ.

nguyen-xuan-phuc-goi-dien-donald-trumpHai nhà lãnh đạo đã trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian tới.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo

Ngày 9-12, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc trực tuyến, phổ biến, quán triệt Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị. Có 12 nghìn đại biểu tham dự.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo. Dự Hội nghị, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Trần Đại Quang; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Ủy viên T.Ư Đảng, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành, cơ quan T.Ư. Tại các điểm cầu ở 63 tỉnh, thành phố, có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở tỉnh, thành phố, bí thư, phó bí thư huyện ủy.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nghị quyết rất quan trọng, đề cập một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đặc biệt quan tâm và hoan nghênh. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở (Toàn văn bài phát biểu đăng số báo hôm nay).

nguyen-phu-trong-nghi-quyet-trung-uong-4Hội nghị nghe đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư phổ biến, quán triệt nghị quyết và Kế hoạch thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị. Đồng chí phân tích sâu năm nội dung: Vì sao Ban Chấp hành T.Ư phải tiếp tục ban hành nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Mục đích, yêu cầu, phạm vi, quan điểm chỉ đạo và quá trình chuẩn bị Nghị quyết; Những nội dung cơ bản của Nghị quyết; Dự báo một số khó khăn và hướng khắc phục trong quá trình thực hiện Nghị quyết; Một số vấn đề và Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Phát biểu ý kiến kết luận Hội nghị, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ, sau hội nghị này, các đại biểu cần tiếp tục nghiên cứu kỹ, nắm chắc, quán triệt sâu sắc nội dung của Nghị quyết, nhất là nhận diện cho được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhận thức rõ quan điểm chỉ đạo nêu trong Nghị quyết để từ đó quán triệt cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc, thấy được sự cần thiết phải kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khẩn trương xây dựng chương trình hành động của cấp mình, đồng thời kiểm tra việc xây dựng chương trình hành động của cấp dưới, đặc biệt là việc tổ chức thực hiện chương trình hành động, xác định rõ những việc cần làm, sát tình hình thực tế, đem lại hiệu quả thật sự. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm trước Đảng, trước dân, phát huy tinh thần đoàn kết, khẩn trương, tính cực tổ chức thực hiện Nghị quyết, nhưng không nóng vội, hoặc trông chờ, làm hình thức. Việc tổ chức học tập Nghị quyết phải hoàn thành trong tháng 1-2017.

Đồng chí Đinh Thế Huynh nhấn mạnh, trong quá trình thực hiện, cần nắm vững các nhiệm vụ, giải pháp, liên hệ chỉ ra những biểu hiện suy thoái trong đơn vị để có biện pháp khắc phục. Tập trung xử lý những vụ việc, vấn đề nổi cộm, bức xúc. Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình năm 2016 phải gắn với kiểm điểm thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để tự phê bình và phê bình có kết quả cao, cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, những biểu hiện suy thoái, từ đó có kế hoạch, biện pháp khắc phục. Nơi có vấn đề phức tạp, cần cử cán bộ theo dõi chỉ đạo, đôn đốc thực hiện nghiêm túc. Các cơ quan chức năng tập trung nghiên cứu, rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết, đúng tiến độ, bảo đảm cho việc thực hiện Nghị quyết có hiệu quả. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các tổ chức đảng phải tích cực tổ chức thực hiện đồng bộ các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, nhất là gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trước mắt tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2016, bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ năm 2017, tổ chức cho nhân dân đón Tết Nguyên đán vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm,…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Doanh nghiệp ASEAN đóng vai trò động lực liên kết kinh tế khu vực

Ngày 8-12, tại Hà Nội, diễn ra Hội nghị cấp cao Kinh doanh ASEAN 2016. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến. Đây là năm thứ ba được tổ chức, hội nghị năm nay lần đầu quy tụ các nhà lãnh đạo ASEAN trong lĩnh vực kinh doanh, tài chính nhằm phản ánh sự phát triển đã đạt được trong khu vực, thảo luận các biện pháp vượt qua những thách thức và xác định những cơ hội quan trọng cho tăng trưởng, hợp tác và phát triển.

nguyen-xuan-phuc-doanh-nghiep-aseanPhát biểu ý kiến tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Việt Nam đang cùng các nước ASEAN quyết tâm tiếp tục củng cố, làm sâu sắc hơn liên kết ASEAN, xây dựng Cộng đồng ASEAN vận hành theo luật lệ thật sự hướng tới người dân, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích cho người dân; có quan hệ rộng mở với các đối tác có vai trò và vị thế ngày càng quan trọng ở cả khu vực và toàn cầu. ASEAN không chỉ là thị trường rộng lớn với dân số hơn 600 triệu người, mà còn là khu vực kinh tế có quy mô GDP đạt gần 3.000 tỷ USD, đang phát triển mạnh mẽ với cộng đồng doanh nghiệp (DN) ASEAN năng động, sáng tạo.

Thủ tướng khẳng định, từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng ASEAN lớn mạnh, gắn kết. Việt Nam đánh giá cao sự ủng hộ của các quốc gia thành viên ASEAN và sự hợp tác hiệu quả của cộng đồng DN, của các nhà đầu tư ASEAN và các đối tác đối với tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập. Tại Việt Nam đang có 22 nghìn dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn 300 tỷ USD. Hiện Việt Nam có hơn 600 nghìn DN đang hoạt động, 3,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, hướng tới mục tiêu có hơn 1 triệu DN vào năm 2020. Bên cạnh là thành viên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam đã ký tham gia 12 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có độ mở tiêu chuẩn cao, mở ra không gian hợp tác và phát triển rộng lớn với 55 quốc gia, đối tác, trong đó có các nước G7; 15 trong số 20 nước thuộc nhóm G20.

Thủ tướng nêu rõ, thế giới và khu vực ASEAN đang phải đối mặt những thách thức to lớn trên nhiều lĩnh vực về an ninh, kinh tế, lương thực, tiền tệ, biến đổi khí hậu, chủ nghĩa bảo hộ đang có nguy cơ trở lại… Tuy nhiên, chúng ta cũng có nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc hình thành Cộng đồng ASEAN, các khối thương mại tự do quy mô lớn tiêu chuẩn cao… Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN đoàn kết đẩy mạnh kết nối kinh tế, phát triển hạ tầng giao thông và liên kết mềm nhằm tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng thương mại, đầu tư và dịch vụ qua biên giới, xây dựng thị trường ASEAN thống nhất, hiệu quả. Từng thành viên ASEAN không thể phát triển nếu chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn mà cần đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu sâu hơn và vươn lên các giá trị gia tăng cao hơn. Theo đó, cộng đồng DN ASEAN có vai trò là chủ thể, là động lực của tiến trình liên kết kinh tế và khởi xướng các ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp, tạo động lực mới trong phát triển thương mại và đầu tư.

Thủ tướng tin rằng, hội nghị này thảo luận và chia sẻ cởi mở về các định hướng, các cơ hội thúc đẩy hợp tác đầu tư, kinh doanh trong khu vực ASEAN; đồng thời bày tỏ mong muốn các DN, các nhà đầu tư ngoài khu vực sẽ tìm thấy cơ hội hợp tác cùng có lợi với các đối tác ASEAN. Chính phủ Việt Nam cũng đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và chào đón tất cả các DN ASEAN và quốc tế đã chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư tin cậy và hấp dẫn.

* Sau phiên khai mạc, hội nghị bước vào phiên thảo luận chính với phần diễn thuyết của các lãnh đạo DN hàng đầu khu vực, tập trung vào các chủ đề: đánh giá các chính sách trong AEC, chính sách trong khu vực hiện tại; giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam và ASEAN; thương mại, đầu tư xuyên biên giới trong khu vực… Các lĩnh vực tăng trưởng như: hàng tiêu dùng, phát triển cơ sở hạ tầng, hàng hóa, năng lượng, tài chính ngân hàng, các phương tiện truyền thông và công nghệ.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 6/12/2016:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Chính phủ nỗ lực hành động để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết, hợp tác, vươn tầm thế giới

Ngày 5-12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) phối hợp tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2016 (VBF 2016) với chủ đề: Nâng cao vai trò khu vực kinh tế tư nhân-Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài vì sự phát triển hài hòa của kinh tế Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Cùng dự có đông đảo đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư; Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam Ousmane Dione; các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp (DN) trong nước và nước ngoài.

VBF là cơ chế đối thoại liên tục, chặt chẽ giữa Chính phủ Việt Nam với cộng đồng các DN trong nước và quốc tế nhằm cải thiện các điều kiện kinh doanh cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của khối DN tư nhân (DNTN), thuận lợi hóa môi trường đầu tư, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam. Diễn đàn VBF 2016 có ý nghĩa quan trọng nhằm chỉ ra những rào cản trong kinh doanh, kiến nghị các giải pháp năng lực cho khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) Việt Nam; đồng thời thông qua đó góp phần giúp Chính phủ hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giúp DN tìm hướng đi đúng…

nguyen-xuan-phuc-chinh-phu-no-luc-hanh-dong-de-cong-dong-doanh-nghiep-viet-nam-gan-ketPhát biểu ý kiến tại diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, DN Việt Nam là bao gồm cả các DN FDI đã đăng ký cấp phép (có tư cách pháp nhân Việt Nam) và các DN trong nước. Đây là định hướng lớn của Chính phủ về hình thành cộng đồng DN Việt Nam gắn kết, hợp tác hiệu quả trong một nền kinh tế quốc gia thống nhất. Thủ tướng cũng chia sẻ với diễn đàn một số vấn đề quan trọng:

Trước hết, Chính phủ Việt Nam cam kết tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chính sách pháp luật, cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo mọi điều kiện để khu vực KTTN phát triển mạnh mẽ.

Thứ hai, Thủ tướng kêu gọi cộng đồng DN Việt Nam chủ động, tích cực tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế thông qua đa dạng hóa các hoạt động đầu tư, trong đó chú trọng hình thức hợp tác công-tư (PPP). Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; nâng cao khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Thứ ba, tăng cường hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển giữa khu vực KTTN trong nước và khu vực FDI trong nền kinh tế quốc gia. Chính phủ Việt Nam cam kết tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các DN FDI phát triển tại Việt Nam; bày tỏ hy vọng các DN FDI với thế mạnh về tài chính, năng lực quản trị, thị trường… có những cam kết và hành động cụ thể, thực chất để hỗ trợ, tăng cường liên kết, thúc đẩy các DN trong nước cùng phát triển trên cơ sở hài hòa giữa các bên.

Về phía DN FDI, Chính phủ mong muốn có sự kiên trì hợp tác đầu tư, đặt niềm tin vào các cải cách của Việt Nam, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến, đào tạo nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm quản trị, có trách nhiệm với xã hội, chung tay cùng với Việt Nam bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tính bền vững của môi trường và sự trong lành của môi trường sống cho Việt Nam.

Thủ tướng bày tỏ, các nhà đầu tư hãy đến với Việt Nam bằng khối óc, tức công nghệ hiện đại, quản lý tiên tiến và trái tim, tức đề cao chuẩn mực, đạo đức kinh doanh và văn hóa DN. Chính phủ Việt Nam sẽ không đón chào những nhà đầu tư coi Việt Nam là nơi chuyển giá, là nơi để trốn trách nhiệm môi trường, đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản và giá trị cốt lõi mà nhà đầu tư đã cam kết.

Thứ tư, mặc dù đánh giá cao vai trò của khu vực FDI nhưng Thủ tướng cho rằng, nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển vững mạnh không thể không có một khu vực KTTN trong nước tăng trưởng hiệu quả, lớn mạnh. Đây không phải là quan điểm mâu thuẫn mà ngược lại, bổ trợ và tương tác thuận chiều cho nhau, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo sức sống và sức phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Chính phủ khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho người dân phát triển kinh tế. Quan điểm xuyên suốt của Chính phủ là mọi DN, dù tư nhân hay FDI đều bình đẳng trước pháp luật, khuyến khích tinh thần hợp tác và liên kết chuỗi giá trị, cạnh tranh lành mạnh.

Thứ năm, về phía Chính phủ, Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành tiếp thu, nghiên cứu những đề xuất, kiến nghị phù hợp của diễn đàn này để sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật liên quan. Thủ tướng yêu cầu, Chính phủ, các bộ, ngành nghe phản hồi nhưng phải có biện pháp xử lý, giải quyết đúng mức, kịp thời, không phải nghe để biết, để đó. Chính phủ sẽ nỗ lực hành động để cộng đồng DN Việt Nam có thể gắn kết cùng nhau hợp tác, lớn mạnh trên sân nhà – trong nền kinh tế quốc gia Việt Nam và vươn ra thế giới thành công…

VBF 2016 bước vào phiên thảo luận chính với các chủ đề: Tăng cường liên kết giữa khu vực KTTN trong nước với đầu tư nước ngoài trong mọi lĩnh vực, ngành nghề; thu hút đầu tư của khu vực tư nhân theo hướng phát triển xanh và bền vững. Nội dung thảo luận tập trung vào: tăng cường năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi cung ứng, sản xuất toàn cầu cho các DN nhỏ và vừa; thúc đẩy công nghiệp phụ trợ; cải thiện cơ sở hạ tầng, cơ chế PPP, BOT; thị trường vốn; cải thiện môi trường kinh doanh; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Sau mỗi phiên thảo luận đều có phản hồi từ lãnh đạo các bộ, ngành của Việt Nam.

Cách tốt nhất để Chính phủ Việt Nam bảo đảm sự tăng trưởng là duy trì ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng tầm cỡ thế giới, nỗ lực nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động, cải thiện hoạt động kinh doanh. Hiệp hội DN Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) rất nỗ lực hỗ trợ sự thành công của các thành viên thông qua thúc đẩy một môi trường kinh doanh lành mạnh ở Việt Nam và củng cố quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Virginia B.Foote – Chủ tịch AmCham

Việt Nam đang tiếp tục trở thành tâm điểm của sản xuất thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam muốn đạt trình độ tăng trưởng mới thì phải tích cực tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu; thu hút FDI có giá trị gia tăng cao, thiết lập kết nối giữa nhà cung cấp nội địa và thế giới.

Kyle F.Kelhofer – Giám đốc quốc gia cấp cao IFC tại Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia

HÀ THANH GIANG – Ảnh: TRẦN HẢI

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho 230 mẹ

Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh vừa tổ chức lễ truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho 230 mẹ. Đồng chí Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy và đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND thành phố đến dự.

Ban Thường vụ Thành ủy đã trân trọng gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình các mẹ và chúc thân nhân các mẹ luôn mạnh khỏe, tiếp tục là điểm tựa tinh thần về lòng yêu nước cho các thế hệ con cháu. Đồng thời, bày tỏ niềm tự hào vì đất nước có những người con được sinh ra bởi những bà mẹ Việt Nam vĩ đại và anh hùng, không hành động cao cả nào có thể sánh được với việc hiến dâng những người con yêu quý nhất cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Việc truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự ghi nhận của Tổ quốc đối với công lao trời biển và sự hy sinh vô bờ bến của các mẹ. Hiện, TP Hồ Chí Minh có 5.127 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó có 294 mẹ còn sống.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Chủ tịch nước Trần Đại Quang:

Cần xây dựng đi đôi với bảo vệ Thương hiệu quốc gia

Ngày 30-11, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang gặp mặt Đoàn đại biểu 88 doanh nghiệp (DN) đạt Thương hiệu quốc gia năm 2016. Dự buổi gặp mặt có Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh, Chủ tịch Hội đồng Thương hiệu quốc gia.

Chương trình Thương hiệu quốc gia do Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương phối hợp các bộ, ngành, địa phương tổ chức hai năm một lần. Năm 2016 có 88 DN đạt Thương hiệu quốc gia. Dù còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các DN đạt Thương hiệu quốc gia đã nỗ lực vươn lên, phát huy tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, từng bước nâng cao uy tín, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu DN, tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa chất lượng cao, giá thành hợp lý, cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài; tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì tăng trưởng cả về doanh thu và lợi nhuận, giữ vững được thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2015, tổng doanh thu của các DN đạt Thương hiệu quốc gia là hơn 662 nghìn tỷ đồng, giá trị xuất khẩu hơn hai tỷ USD; tạo việc làm cho hơn 500 nghìn lao động; đóng góp gần 1.800 tỷ đồng cho công tác bảo đảm an sinh xã hội…

tran-dai-quang-can-xay-dung-di-doi-voi-bao-ve-thuong-hieu-quoc-giaPhát biểu ý kiến tại buổi gặp mặt, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Đại Quang ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương, chúc mừng những thành tích, đóng góp của các DN đạt Thương hiệu quốc gia cũng như của cộng đồng DN, doanh nhân cả nước; đánh giá cao Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương, các bộ, ngành, địa phương, Ban Thư ký Chương trình đã tích cực chỉ đạo triển khai và đạt được những kết quả quan trọng trong hoạt động xây dựng và quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua Chương trình Thương hiệu quốc gia.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, mỗi quốc gia trên thế giới đều mong muốn khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế, tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó thu hút tối đa các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững. Hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ở mức độ tự do hóa sâu rộng với các đối tác thương mại hàng đầu thế giới đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, các DN đạt Thương hiệu quốc gia cần tiếp tục tích cực triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, bám sát các mục tiêu và giá trị mà Chương trình Thương hiệu quốc gia đang hướng tới, đó là: Bảo đảm uy tín, chất lượng sản phẩm thông qua hệ thống sản xuất, kinh doanh tiên tiến và năng lực tài chính lành mạnh. Không ngừng đổi mới, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Nỗ lực nâng cao vị thế cạnh tranh của DN ở trong nước và ngoài nước.

Xây dựng Thương hiệu quốc gia cần đi đôi với việc bảo vệ Thương hiệu quốc gia, đấu tranh mạnh mẽ với việc làm hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Các DN có thương hiệu sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia năm nay cần tăng cường liên kết, hợp tác với các nhà khoa học cũng như liên kết trong sản xuất, kinh doanh, giữ vững Thương hiệu quốc gia, hình thành chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.

Ghi nhận và chia sẻ với những kiến nghị, đề xuất của các DN đạt Thương hiệu quốc gia, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đề nghị Hội đồng Thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương, các bộ, ngành liên quan nghiêm túc nghiên cứu các kiến nghị, đề xuất của các DN, chủ động tháo gỡ khó khăn, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh thuận lợi để hỗ trợ các DN nói chung và doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia nói riêng tiếp tục phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng hình ảnh Việt Nam với các giá trị “Chất lượng – Đổi mới – Sáng tạo – Năng lực tiên phong”.

Chủ tịch nước mong muốn và tin tưởng các DN đạt Thương hiệu quốc gia, cộng đồng DN, doanh nhân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong hội nhập kinh tế quốc tế, xứng đáng là động lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Hà Nội thành lập tổ công tác tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp

Sáng 28-11, UBND TP Hà Nội phối hợp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị “Gặp mặt, đối thoại với doanh nghiệp năm 2016” để lắng nghe, nắm bắt và giải quyết những khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

Tới dự có các đồng chí: Hoàng Trung Hải, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội; Nguyễn Đức Chung, Uỷ viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND TP Hà Nội và đại diện các đơn vị của thành phố, cùng đại diện hơn 400 doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp và các nhà đầu tư.

Năm 2016, Hà Nội đã quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.Thành phố đã triển khai đồng bộ tám nhóm giải pháp chính như ban hành các kế hoạch, đề án về hỗ trợ doanh nghiệp; ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử; tổ chức đối thoại, tháo gỡ khó khăn; triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ; tháo gỡ khó khăn trong các lĩnh vực tín dụng, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, đất đai…

Nhờ đó, năm 2016 Hà Nội đã thu hút được vốn đầu tư ngoài ngân sách đạt 424 nghìn tỷ đồng, thành lập mới gần 23 nghìn doanh nghiệp. Riêng số vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,6 lần, vốn đăng ký doanh nghiệp trong nước tăng 42%, vốn đầu tư xã hội tăng 10% so với năm 2015. Các thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kê khai – nộp thuế, thông quan… được đơn giản hoá, rút ngắn thời gian, ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Dư nợ cho vay của Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp đạt 225,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,69 lần so với cuối năm 2015… Thành phố và các sở ngành, hiệp hội đã liên tục tổ chức hơn 100 hội nghị đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận vốn, đất đai, thị trường tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ và thực thi chính sách… Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng, nghỉ hoạt động chưa giảm so với năm 2015. Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp đã nêu nhiều khó khăn, vướng mắc trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, việc nộp thuế, đầu tư hạ tầng…

Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội Đỗ Quang Hiển cho rằng, hiện nay vẫn chưa có hành lang pháp lý, chính sách đặc thù cho khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm, đầu tư gọi vốn cộng đồng và các chính sách ưu đãi thuế cho nhà đầu tư cá nhân, cơ chế đối ứng đầu tư từ Nhà nước cho các quỹ đầu tư tư nhân… Chúng ta đang hội nhập kinh tế thế giới, cho nên cách làm và phương thức hoạt động cũng phải hòa nhịp với thương trường quốc tế. Doanh nghiệp khởi nghiệp cần “cú huých” mạnh hơn để phát triển hiệu quả.

Đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ chia sẻ, thời gian qua thành phố chưa có cơ chế, chính sách để “níu chân” những doanh nghiệp lớn vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp sau khi di dời khỏi trung tâm Hà Nội thì thường chuyển hẳn sang các tỉnh, thành phố khác, làm mất nhiều cơ hội việc làm và phát triển công nghiệp của Thủ đô.

Các ý kiến này đều được lãnh đạo TP Hà Nội trả lời trực tiếp tại hội nghị, yêu cầu các sở ngành liên quan rà soát lại và trả lời doanh nghiệp. Từ tháng 1-2017, Thành phố sẽ thành lập tổ công tác đặc biệt tiếp nhận các kiến nghị và giải quyết cho doanh nghiệp. Hà Nội cũng sẽ thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm của thành phố, hình thành trung tâm khởi nghiệp sáng tạo và có cơ chế xã hội hóa để tăng hiệu quả.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Hải mong muốn các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục mạnh dạn đề xuất các ý kiến, nêu lên các khó khăn để thành phố kịp thời nắm bắt, đưa ra các giải pháp tháo gỡ. Trong thời gian tới, Hà Nội tiếp tục xác định cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đầu tư, sản xuất – kinh doanh là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ hội nhập. Thành phố sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp để tạo chuyển biển rõ nét trong nâng cao năng lực cạnh tranh, chỉ số PCI; tiếp tục dành nguồn lực thích đáng để hỗ trợ doanh nghiệp, chủ động nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, xoá bỏ rào cản bằng nhiều hình thức…, cam kết luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong phát triển, xây dựng Thủ đô, đất nước.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Hà Nội triển lãm “Mỗi làng một sản phẩm”

Tối 9-12, tại khu vực vườn hoa Lý Thái Tổ và phố Lê Thạch (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), UBND thành phố Hà Nội đã khai mạc triển lãm “Mỗi làng một sản phẩm” kết hợp trình diễn không gian ánh sáng. Các đồng chí: Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Đức Chung, Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tới dự.

Triển lãm gồm 40 gian hàng trưng bày, giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chất lượng cao với thiết kế đẹp đến từ các làng nghề truyền thống của Hà Nội. Tại triển lãm năm nay có màn trình diễn không gian ánh sáng với 35 loại đèn trang trí khác nhau. Chương trình kéo dài tới hết ngày 11-12.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 12/12/2016:

Đóng điện vận hành Đường dây 220kV Phan Thiết – Phú Mỹ 2

Ban Quản lý dự án các công trình điện miền Trung (CPMB) vừa đóng điện đưa vào vận hành Đường dây 220kV Phan Thiết – Phú Mỹ 2. Dự án do Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) làm chủ đầu tư, CPMB quản lý điều hành dự án với tổng mức đầu tư 1.195 kV từ Trạm biến áp 220kV Phan Thiết (Bình Thuận) đến Trạm biến áp 220kV Khu công nghiệp Phú Mỹ 2 (Bà Rịa – Vũng Tàu), tổng chiều dài 140,14km. Sự kiện này góp phần quan trọng truyền tải công suất từ các Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Sơn Mỹ vào hệ thống điện quốc gia, tăng cường công suất và giảm tổn thất cho hệ thống điện, tạo liên kết lưới điện 220kV khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 11/12/2016:

Trao Giải thưởng Sáng tạo xanh lần thứ nhất

Tối 10-12, tại Hà Nội, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp T.Ư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức Gala Chung kết và Trao Giải thưởng Sáng tạo xanh lần thứ nhất.

Mục tiêu của Giải thưởng, nhằm tìm kiếm, giới thiệu và phổ biến các ý tưởng, mô hình tiêu biểu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của các em học sinh, sinh viên, qua đó, tạo ra những thay đổi tích cực về nhận thức và hành động của cộng đồng, nhất là giới trẻ đối với môi trường. Đối tượng dự thi, là thanh niên, nhi đồng trong độ tuổi từ sáu đến 30 tuổi đang sinh sống và học tập tại Việt Nam.

Ban tổ chức đã nhận được gần 1.500 bài dự thi của các cá nhân, nhóm tác giả đến từ 50 tỉnh, thành phố, tập trung vào các lĩnh vực như: tiết kiệm năng lượng; bảo tồn đa dạng sinh học; tái chế, xử lý rác thải, nước thải, khí thải… Dựa trên tiêu chí, Ban tổ chức đã lựa chọn ra 30 tác phẩm để trao giải, trong đó có tám tác giả xuất sắc nhất sẽ trình bày trực tiếp với Hội đồng cố vấn tại đêm chung kết để chấm điểm và trao giải nhất, nhì: Kết quả, giải nhất (nhóm tiểu học và trung học cơ sở) thuộc về tác phẩm: Hệ thống hút và xử lý tràn dầu (nhóm tác giả học sinh Trường tiểu học Đăng Chấn, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang); giải nhất (nhóm trung học phổ thông) thuộc về tác phẩm Cột đo nước, tốc độ nước, tự động chiếu sáng ban đêm tích hợp bắt côn trùng gây hại, cảnh báo nguy hiểm đặt tại các ngầm – đập tràn (nhóm tác giả học sinh Trường THPT số 4 Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; giải nhất (nhóm sinh viên và thanh niên) thuộc về tác phẩm Nghiên cứu, thiết kế chế tạo dây chuyền sản xuất tấm lợp (trần, vách, sàn nhà) không sử dụng sợi a-mi-ăng (nhóm tác giả Xí nghiệp Liên hợp Z751, Tổng cục Kỹ thuật). Ngoài ra Ban tổ chức trao 27 giải nhì, ba, khuyến khích cho các tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm xuất sắc.

Bên lề Gala Chung kết và Trao giải, cũng đã diễn ra Triển lãm Ý tưởng “Sáng tạo xanh”, nhằm giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu của Giải thưởng Sáng tạo xanh, với các sản phẩm tái chế, sản phẩm thân thiện với môi trường của các tổ chức, câu lạc bộ, cá nhân yêu môi trường…

* Tối 10-12, tại TP Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc), diễn ra Lễ tuyên dương các công trình, đề tài, sản phẩm sáng tạo toàn quốc. Hoạt động nằm trong Festival “Sáng tạo trẻ” lần thứ chín năm 2016, do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức. Tại buổi lễ, Ban tổ chức đã tuyên dương, trao phần thưởng tặng các tác giả của 34 đề tài, giải pháp sáng tạo xuất sắc, được lựa chọn từ 219 hồ sơ đề cử do 44 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc… trên cả nước gửi dự thi.

  • Trang 2 báo Nhân Dân ngày 4/12/2016:

Đà Nẵng mở đường bay thẳng đến Đài Bắc

Ngày 2/12, tại TP Đà Nẵng, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp Hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc) bằng máy bay Airbus A320 với 180 ghế đồng hạng phổ thông. Lịch khai thác giữa Đà Nẵng – Đài Bắc được thực hiện ba chuyến khứ hồi mỗi tuần, vào các ngày thứ ba, sáu và chủ nhật. Chuyến bay từ Đà Nẵng đi Đài Bắc có số hiệu BL162, cất cánh tại sân bay quốc tế Đà Nẵng lúc 11 giờ. Chiều ngược lại từ Đài Bắc có số hiệu BL163, cất cánh tại sân bay quốc tế Đào Viên (Đài Bắc) lúc 15 giờ 40 phút. Tổng thời gian bay là 2 giờ 35 phút.

Đóng điện Trạm biến áp 110 kV Đồng Đăng

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa nghiệm thu, đóng điện đưa vào vận hành Trạm biến áp 110 kV Đồng Đăng. Công trình được xây dựng trên địa bàn xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, do EVNNPC làm chủ đầu tư, với tổng mức đầu tư hơn 66 tỷ đồng, công suất 2×40 MVA (trước mắt lắp một máy biến áp 40 MVA) và tuyến đường dây nhánh rẽ 110 kV mạch kép dài 0,125 km. Khi đi vào vận hành, công trình góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương; nâng cao độ ổn định, an toàn, tin cậy, giảm tổn thất điện năng

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 10/12/2016:

Lễ hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ

Ngày 9-12, tại Hà Nội, diễn ra lễ hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Tới dự, có đại diện Ban Giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích (VNOSMP), Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam T.Ô-xi-ớt, đại diện Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DPAA) và Văn phòng MIA Hoa Kỳ tại Hà Nội.

Đại diện phía Việt Nam đã bàn giao cho đại diện phía Hoa Kỳ bốn bộ hài cốt và các đội hỗn hợp khai quật được trong đợt tìm kiếm hỗn hợp lần thứ 125 từ tháng 10 đến 12-2016. Số hài cốt này đã được các chuyên gia pháp y hai nước giám định chung tại Hà Nội, kết luận có thể liên quan các trường hợp quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh Việt Nam và đề nghị chuyển về Ha-oai, Hoa Kỳ, để xác minh thêm. Đây là đợt trao trả hài cốt quân nhân Hoa Kỳ lần thứ 140 kể từ năm 1973.

Tại buổi lễ, đại diện Chính phủ Hoa Kỳ cảm ơn và đánh giá cao chính sách nhân đạo, thiện chí và sự hợp tác ngày càng hiệu quả của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong công tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ còn mất tích từ thời chiến tranh.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Không thể làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Ngày 12-12, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 8-12-2016, Hải quân Trung Quốc tổ chức kỷ niệm cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nêu rõ:

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cộng đồng quốc tế đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo này.

Hoạt động nói trên của Trung Quốc không thể làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đi ngược lại xu thế phát triển quan hệ hiện nay giữa hai nước, gây phức tạp tình hình. Việt Nam kiên quyết phản đối”.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Triển khai Quyết định đặc xá năm 2016

Sáng 1-12, hầu hết các trại giam trên cả nước tổ chức công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2016 cho những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù và những phạm nhân đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện được đặc xá năm 2016 theo quy định của pháp luật.

Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá năm 2016 dự lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước tại Trại giam Phú Sơn 4 (Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an). Trại giam Phú Sơn 4 có 97 phạm nhân được đặc xá lần này.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nhấn mạnh, kế thừa và phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam, tính riêng từ năm 2008 đến nay, thực hiện Luật Đặc xá, Nhà nước thực hiện sáu đợt đặc xá tha tù trước thời hạn cho 81.795 phạm nhân và 917 người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Qua kiểm tra và báo cáo của các địa phương, hầu hết những người được đặc xá trở về nhanh chóng được nhập lại hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, có công ăn việc làm, sớm ổn định cuộc sống.

Nhiều người tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, được chính quyền và nhân dân ghi nhận; tiếp tục học tập, tốt nghiệp đại học, nâng cao trình độ năng lực cống hiến cho xã hội, làm giàu chính đáng cho bản thân và gia đình; phát huy tay nghề được học tập trong quá trình chấp hành án, mở cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, cơ khí, làm kinh tế trang trại… có thu nhập cao, chính đáng, thu hút giải quyết nhiều lao động cho xã hội, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, các hoạt động xã hội từ thiện ở địa phương nơi cư trú.

Trao quyết định cho đại diện các phạm nhân được đặc xá, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình căn dặn: Đặc xá là bước đầu của con đường hướng thiện, trước mắt còn nhiều thử thách, cám dỗ, thậm chí đe dọa của người xấu, kẻ ác. Phó Thủ tướng tin tưởng những người được đặc xá sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tự tin, vững vàng trong cuộc sống. Đối với những phạm nhân chưa được hưởng đặc xá, Phó Thủ tướng mong rằng, các phạm nhân tiếp tục cố gắng học tập, cải tạo, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động, cải tạo để đủ điều kiện hưởng khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

* Sáng 1-12, tại Trại giam Thanh Xuân (Hà Nội), Bộ Công an tổ chức Lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2016 cho 109 phạm nhân. Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an dự.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thứ trưởng Nguyễn Văn Thành biểu dương cán bộ, chiến sĩ Trại giam Thanh Xuân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng thời chúc mừng những người được đặc xá trở về đoàn tụ với gia đình, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Thứ trưởng nhấn mạnh, đặc xá thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Quá trình xét đặc xá bảo đảm công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Thứ trưởng đề nghị chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp tạo điều kiện giúp đỡ cho người được đặc xá xóa bỏ mặc cảm, tạo công ăn việc làm để họ ổn định cuộc sống.

* Ngày 1-12, tại Trại tạm giam số 1 (Hà Nội), Công an TP Hà Nội tổ chức lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với các phạm nhân đang thụ án tại đây. Sau quy trình rà soát, xét duyệt công khai và minh bạch, 36 phạm nhân đủ điều kiện đã được trao quyết định đặc xá.

Dù thời gian làm việc năm nay gấp so với mọi năm, nhưng với tinh thần và trách nhiệm cao, Hội đồng đặc xá Trại tạm giam số 1 đã làm việc khẩn trương, công tâm, rà soát kỹ lưỡng không để sót lọt các đối tượng đủ điều kiện.

* Sáng 1-12, Trại giam Hồng Ca, trực thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an, đóng tại huyện Trấn Yên (Yên Bái) tổ chức lễ công bố đặc xá tha tù trước thời hạn cho 58 phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam.

Thời gian qua, Trại giam Hồng Ca đã làm tốt việc quản lý, giáo dục và tuyên truyền công tác đặc xá cho các phạm nhân. Với tinh thần công khai, dân chủ, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, đúng đối tượng và điều kiện quy định, năm nay số lượng đặc xá tha tù trước thời hạn tại Trại giam Hồng Ca chỉ bằng một phần tư số lượng hằng năm, nhưng 58 đối tượng này đều nỗ lực phấn đấu, ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo để được hưởng khoan hồng. Nhân dịp này, Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên tỉnh Yên Bái tiến hành tư vấn, giới thiệu việc làm cho các phạm nhân được đặc xá.

* Sáng 1-12, tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Phú Yên tổ chức lễ công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước cho sáu phạm nhân có đủ điều kiện được hưởng đặc xá năm 2016. Đây là chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta; thể hiện tính nhân văn truyền thống của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, phấn đấu rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

* Ngày 1-12, Công an tỉnh Cà Mau công bố quyết định đặc xá năm 2016, tha tù trước thời hạn cho bảy phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, nhà tạm giữ thuộc: Công an TP Cà Mau, huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Trần Hồng Quân cho biết: Các phạm nhân được tha tù trước thời hạn đều chấp hành tốt các nội quy, quy định trong quá trình cải tạo, thụ án. Sau khi hòa nhập cộng đồng, tuy phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng các phạm nhân phải dũng cảm vượt qua thử thách, không ngừng học hỏi điều hay, lẽ phải để từ bỏ con đường phạm tội, trở thành công dân tốt, giúp ích cho xã hội.

* Ngày 1-12, Trại giam Đác Tân và Đác Trung trên địa bàn tỉnh Đác Lắc đã làm thủ tục đặc xá cho 111 phạm nhân theo Quyết định của Chủ tịch nước. Trong đó, Trại giam Đác Trung đóng trên địa bàn huyện Cư M’gar có 60 phạm nhân được đặc xá tha tù trước hạn. Số phạm nhân được đặc xá còn lại thuộc Trại giam Đác Tân, trên địa bàn huyện M’Đrắc.

Sau phần công bố quyết định đặc xá, Ban tổ chức đã thực hiện các thủ tục để trả tự do cho phạm nhân. Các phạm nhân được cấp giấy chứng nhận đặc xá, được cấp quần áo mới và chi phí tàu xe về quê…

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Công bố đặc xá tha tù trước thời hạn năm 2016

Sáng 30-11, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước phối hợp Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, tổ chức họp báo quốc tế công bố Quyết định đặc xá cho những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù, những phạm nhân đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có điều kiện được đặc xá theo quy định của pháp luật.

Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, đồng chí Giang Sơn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chủ tịch nước công bố hai quyết định đặc xá. Trong đó: Quyết định đặc xá, tha tù trước thời hạn cho 4.180 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện được hưởng đặc xá và quyết định đặc xá cho 186 người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, 18 người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1-12-2016.

Đặc xá năm 2016 một lần nữa tiếp tục khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy định của phạm nhân.

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước khẳng định: Quá trình xét quyết định đặc xá được thực hiện chặt chẽ, công khai, công bằng, chính xác, bảo đảm dân chủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Quyết định đặc xá lần này đã có những quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được đề nghị đặc xá và các trường hợp không đề nghị đặc xá. Do đó, số phạm nhân được đặc xá lần này ít hơn so với các lần đặc xá trước.

Lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an cho biết: Trong số 4.180 phạm nhân được đặc xá có 14 người mang quốc tịch nước ngoài. Phạm nhân được đặc xá nhiều tuổi nhất là 84 tuổi, trẻ tuổi nhất là 16 tuổi; 144 phạm nhân phạm tội xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế được đặc xá, số tiền nộp phạt bổ sung là hơn 700 triệu đồng. Tổng số tiền thu về trong đợt đặc xá này là hơn tám tỷ đồng.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 1/12/2016:

Đồng bào công giáo chung tay xây dựng nông thôn mới

Ngày 30-11, tại tỉnh Phú Yên diễn ra Hội nghị giao ban Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam các tỉnh, thành miền trung – Tây Nguyên năm 2016.

Hội nghị đã đánh giá kết quả thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, sống “Tốt đời đẹp đạo” trong đồng bào công giáo; đề ra nhiệm vụ thi đua phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian qua, đồng bào công giáo các tỉnh khu vực miền trung – Tây Nguyên đã có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Tại Phú Yên, 14 giáo xứ, giáo họ cùng giáo dân đã góp kinh phí xây dựng nhà văn hóa thôn, xây dựng bảy tuyến đường giao thông nông thôn ở giáo họ Đồng Cháy, huyện Tuy An.

Đồng bào công giáo tỉnh Quảng Bình cũng đã đóng góp hàng trăm ngày công lao động, hàng chục nghìn mét vuông đất để bê-tông hóa đường giao thông nông thôn. Điển hình như ở huyện Tuyên Hóa, bà con giáo dân hiến hơn 8.000m2 đất, góp hơn 3.000 ngày công lao động, ước tổng trị giá hơn 2,5 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại tỉnh Lâm Đồng, nhiều khu dân cư có đồng bào công giáo sinh sống là những điểm sáng về phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy. Qua bình xét cuối năm 2016, có 98% hộ gia đình công giáo đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”.

Phát huy kết quả đạt được, Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam đã phát động phong trào thi đua năm 2017 với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững; giáo dân nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước, kính chúa.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/12/2016:

Trưng bày 64 bảo vật Hoàng cung triều Nguyễn

Ngày 6-12, tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế và Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp tổ chức triển lãm “Bảo vật Hoàng cung triều Nguyễn”, hưởng ứng Tuần lễ vàng kích cầu du lịch tại di sản Huế lần thứ ba năm 2016 (từ ngày 24 đến 30-12-2016).

64 bảo vật quý hiếm được giới thiệu đến công chúng là kim ấn, kim sách, bảo kiếm hoặc những đồ tự khí, những vật dụng phản ánh đời sống sinh hoạt, nghi lễ cung đình triều Nguyễn làm bằng các chất liệu quý hiếm như vàng, ngọc, đá quý, được lưu truyền qua nhiều đời.

Sau năm 1945, hầu hết các bảo vật của triều Nguyễn được đưa ra Hà Nội để bảo đảm an toàn trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt và được lưu giữ cẩn thận. Đây là lần đầu TP Huế đón nhận số lượng lớn bảo vật triều Nguyễn trở về đất cố đô. Triển lãm mở cửa từ ngày 6-12 đến 5-1-2017.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Khai mạc Tuần văn hóa In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam năm 2016

Tối 8-12, tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (TP Thái Nguyên) đã khai mạc Tuần văn hóa In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam năm 2016.

Đoàn In-đô-nê-xi-a do bà Ve-ni A.Alam-si-a, Giám đốc/Chuyên gia Batik dẫn đầu cùng các nghệ nhân vẽ batik truyền thống In-đô-nê-xi-a. Đoàn Ma-lai-xi-a do công chúa Bang Tê-reng-ga-nu dẫn đầu với 25 thành viên tham gia. Đoàn chủ nhà Việt Nam có 30 nghệ nhân dệt thuộc sáu dân tộc thiểu số (Mông, Dao, Thái, Chăm, Tày, Pà Thẻn) cùng với nhóm nghệ nhân khuyết tật Kym Việt và học sinh sinh viên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tuần Văn hóa diễn ra từ 6-12 đến 11-12. Trong khuôn khổ Tuần văn hóa sẽ diễn ra nhiều hoạt động như: Trưng bày đặc trưng văn hóa ba nước; mặt nạ truyền thống ASEAN; hướng dẫn vẽ, nhuộm Batik, thêu Việt Nam; trình diễn làm đồ mỹ nghệ; thi nấu món ăn Hồi giáo, cơm chay; quay phim, dựng phim, chiếu phim về văn hóa mỗi quốc gia; thi hái trà, sao trà, pha trà, thưởng trà…

Ra mắt tác phẩm “Gia tộc Tổng thống V.V.Pu-tin”

Ngày 8-12, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp Hội Hữu nghị Việt – Nga, Hội Hữu nghị Nga – Việt, Nhà xuất bản Công an nhân dân tổ chức lễ ra mắt tác phẩm “Gia tộc Tổng thống V.V.Pu-tin” của nhà văn người Nga A-lếch-xan-đrơ Pu-tin.

Tới dự, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật T.Ư, Tổng Giám đốc VOV. Tham gia buổi lễ có Tham tán Công sứ Đại sứ quán LB Nga tại Việt Nam V.Búp-li-cốp; Quyền Giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Việt Nam V.Na-ta-li-a; Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bu-i-a-nốp; đại diện các cơ quan hữu quan.

Tại buổi lễ, các đại biểu khẳng định, việc dịch cuốn sách sang tiếng Việt là một sự kiện ý nghĩa, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước Việt Nam và LB Nga, nhất là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Nhân dịp này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt V.Bu-i-a-nốp trao Huy chương tặng đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, vì những đóng góp cho sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – LB Nga.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Từ ngày 28/11 đến 3/12, tại thủ đô A-đi A-bê-ba của Ê-ti-ô-pi-a diễn ra Hội nghị lần thứ 11 của Ủy ban liên chính phủ Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Ngày 30/11, với sự thống nhất của toàn thể hội nghị, Ủy ban chính thức ra nghị quyết công nhận “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Việc Tín ngưỡng được UNESCO vinh danh là tin vui to lớn đối với tỉnh Nam Định (nơi được vinh dự thay mặt cả nước chủ trì xây dựng hồ sơ trình UNESCO) nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

  • Trang 12 báo Tuổi Trẻ ngày 11/12/2016:

Hơn 720 cặp đôi công nhân được hỗ trợ đám cưới

Chị Thái Thị Hoài Sơn, phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ thanh niên công nhân TP.HCM, cho biết trung tâm đã xây dựng văn phòng hỗ trợ đám cưới thanh niên công nhân, là nơi tư vấn, hỗ trợ trọn gói các dịch vụ cưới cho các bạn công nhân. Hằng năm, thông qua việc tổ chức đám cưới tập thể, đến nay trung tâm đã hỗ trợ miễn phí đám cưới cho hơn 720 cặp đôi.

Ngoài ra, các bạn công nhân tổ chức lễ cưới không trùng dịp lễ cưới tập thể vẫn có thể đến văn phòng để được hỗ trợ với giá ưu đãi. Trung tâm sẵn sang giúp các bạn để ngày hạnh phúc được trọn vẹn.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2016

Ngày 12-12, tại Hà Nội, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2016. Theo đánh giá của Ban tổ chức, số lượng và chất lượng các công trình tham dự năm nay cao hơn những năm trước. Trong số 103 công trình tham dự, Ban tổ chức đã chọn trao 77 giải thưởng và tặng phẩm cho 78 công trình (có hai công trình cùng một chủ đề nhận chung một giải thưởng). Hai giải nhất thuộc về hai công trình: “Phật viện Đồng Dương – Một phong cách của nghệ thuật Chăm Pa” (tác giả Ngô Văn Doanh) và “Nghệ thuật diễn xướng Mo Mường” (Chủ biên: PGS, TS Kiều Trung Sơn và các cộng sự Bùi Văn Thành, Nguyễn Tuệ Chi, Bùi Huy Vọng).

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 13/12/2016:

Học sinh Hà Nội đoạt sáu Huy chương Ô-lim-pích các môn khoa học trẻ quốc tế

Ngày 12-12, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết, cả sáu học sinh của Thủ đô (đại diện cho đoàn học sinh Việt Nam) tham dự Ô-lim-pích các môn khoa học trẻ quốc tế lần thứ 13 tại In-đô-nê-xi-a đều đoạt giải gồm: Hai Huy chương vàng, hai Huy chương bạc và hai Huy chương đồng. Hai Huy chương vàng và hai Huy chương bạc lần lượt thuộc về các học sinh: Nguyễn Ngọc Đức, Phan Minh Đức; Nguyễn Nga Nhi và Phạm Quốc Khánh (Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam). Hai Huy chương đồng thuộc về hai học sinh: Phan Hà Linh, Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam; Đặng Nguyễn Tiến Đạt, Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ. Năm nay, kỳ thi có 49 đoàn thuộc 48 nước tham dự với tổng số 276 học sinh dự thi. Kỳ thi dành cho học sinh lứa tuổi 15; mỗi học sinh đều trải qua các bài thi trắc nghiệm, lý thuyết và thực hành (thuộc ba lĩnh vực: Vật lý, Hóa học và Sinh học).

Phẫu thuật thành công khối u cổ nặng 1,2kg

Ngày 12-12, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng cho biết, vừa phẫu thuật thành công khối u cổ lớn cho một người bệnh là bà Y.B, 58 tuổi, quê ở tỉnh Kon Tum, người dân tộc Giẻ Triêng bị ung thư tuyến giáp. Khối u vùng cổ đã xuất hiện 18 năm, ngày một lớn khiến người bệnh ăn uống khó khăn, giọng nói nhỏ và khó thở khi nằm ngửa. Khi đến khám tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, các bác sĩ kết luận có khối u ở tuyến giáp rất lớn, chèn ép vào bó mạch cảnh bên trái và đẩy lệch khí quản hoàn toàn sang phải khiến người bệnh ăn uống khó, kèm khó thở khi nằm. Các kết quả xét nghiệm cho thấy, người bệnh bị ung thư tuyến giáp và chỉ định phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp. Ngày 6-12, các bác sĩ đã tiến hành mổ và tách bóc thành công khối u nặng 1,2 kg cho người bệnh. Hiện, sức khỏe người bệnh đang dần ổn định.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 11/12/2016:

Kết nối du lịch ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế

Từ ngày 6 đến 9/12, Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình tổ chức chương trình khảo sát điểm đến du lịch Quảng Bình và hội nghị kết nối du lịch ba tỉnh Quảng Bình – Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế. Để hình thành các sản phẩm du lịch chung trong thời gian tới, ba tỉnh ký kết biên bản liên kết đẩy mạnh khai thác tuyến du lịch “Con đường di sản miền trung”; “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại” và các tuyến du lịch hành lang kinh tế Đông – Tây.

Sáng 10/12, tại khu du lịch Mẫu Sơn, Lộc Bình (Lạng Sơn), Công ty Cổ phần núi tuyết Mẫu Sơn, tổ chức khởi công dự án xây dựng khu vui chơi giải trí và du lịch sinh thái núi tuyết Mẫu Sơn. Công trình đầu tiên là tuyến cáp treo từ xã Bằng Khánh đén khu vực Chân Mây trên đỉnh Mẫu Sơn, với tổng chiều dài 5.7 km, công suất vận chuyển 2.000 người/giờ tương đương 1,6 triệu người/năm với tổng vốn đầu tư hơn 3.500 tỷ đồng.

Áp dụng phẫu thuật bằng rô-bốt

Ngày 10-12, tại TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Bình Dân đưa kỹ thuật phẫu thuật bằng rô-bốt vào việc điều trị người bệnh là người lớn. Đây là nơi đầu tiên ở Việt Nam áp dụng kỹ thuật phẫu thuật bằng rô-bốt đối với người lớn, đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong việc áp dụng công nghệ cao vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Với phẫu thuật rô-bốt từ trạm điều khiển cách xa bàn mổ, các phẫu thuật viên có thể điều khiển cánh tay rô-bốt quay 540 độ, di chuyển tự do ở sáu góc độ và vận động tinh vi, điều mà bàn tay con người không thực hiện được. Nhờ đó rô-bốt có khả năng phẫu thuật ở những vị trí hẹp, sâu và khó tiếp cận.

Tiêu hủy 606 tấn hải sản đông lạnh không an toàn

Sáng 10-12, các ngành chức năng tỉnh Quảng Bình tổ chức kiểm kê và tiêu hủy 606,4 tấn hải sản đông lạnh thu mua trước ngày 30-8-2016 có hàm lượng Cadimi vượt ngưỡng. Các loại hải sản đông lạnh có hàm lượng Cadimi vượt ngưỡng gồm nhiều loại như: ghẹ xanh, ghẹ sao, cá ngừ trơn, ngừ bong, cá bống suôn, mực chan chu và một số loại cá nục. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình Lê Văn Lợi, các cơ sở có số hải sản nhiễm độc buộc phải tiêu hủy sẽ được đền bù 100% giá trị.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Đại hội đồng lần thứ ba Hội thánh Mennonite Việt Nam

Ngày 1/12, tại TP Hồ Chí Minh, Đại hội đồng lần thứ ba của Hội thánh Mennonite (Tin lành) Việt Nam đã khai mạc với sự tham dự của 280 đại biểu là các tín đồ đến từ 24 tỉnh, thành phố. Tại Đại hội đồng, Phó Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ Trần Tấn Hùng đánh giá cao việc các chức sắc, chức việc, tín hữu của Hội thánh đã cùng đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia nhiều phong trào lao động sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hóa mới, phong trào đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo… tuân thủ mục đích và đường hướng hoạt động của Hội thánh. Đại hội đồng lần thứ ba của Hội thánh Mennonite Việt Nam đã báo cáo công tác nhiệm kỳ 2012-2016, tổ chức bồi linh – thông công và tiến hành bầu Ban trị sự, thông qua kế hoạch nhiệm kỳ 2016-2020. Đại hội đồng sẽ kết thúc vào ngày hôm nay.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 3/12/2016:

Hội nghị Y học từ xa châu Á lần thứ 10

Trong các ngày từ 1 đến 3/12, tại Hà Nội, Hội Ngoại khoa Việt Nam và Hội Phẫu thuật nội soi – Nội soi Việt Nam phối hợp Bệnh viện hữu nghị Việt – Đức tổ chức Đại hội lần thứ 13 Hội Ngoại khoa Việt Nam; hội nghị Khoa học Ngoại khoa và Phẫu thuật nội soi – Nội soi toàn quốc năm 2016 và Hội nghị Y học từ xa châu Á lần thứ 10 (ATS 2016). Tại các hội nghị, có hơn 250 báo cáo khoa học được các giáo sư, bác sĩ, nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và ngoài nước trình bày.

Hội nghị ATS 2016 là một trong những hội nghị khoa học uy tín nhất của châu Á được tổ chức luân phiên hằng năm tại một quốc gia trong khu vực. Đây là sự kiện khoa học quan trọng lần đầu được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của hơn 450 đại biểu, đến từ 22 quốc gia và được kết nối các điểm cầu của 15 nước châu Á.

  • Trang 3 báo Nhân Dân ngày 3/12/2016:

Tưởng niệm 50 năm vụ thảm sát Bình Hòa (Quảng Ngãi)

Sáng 2/12, tại xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm 50 năm Ngày xảy ra vụ thảm sát Bình Hòa (3/12/1966 – 3/12/2016)

Trước đó, đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, một số sở, ngành và huyện Bình Sơn, xã Bình Hòa, Hội Nhà văn đảo JEJU Hàn Quốc… đã đặt hoa tại bia tưởng niệm Bình Hòa – nơi 430 thường dân bị sát hại. Vụ thảm sát Bình Hòa xảy ra từ ngày 1 đến ngày 3/12/1966, quân Nam Triều Tiên mà cụ thể là lữ đoàn Rồng Xanh đã tiến hành vụ thảm sát Bình Hòa ở năm địa điểm: Buồn đất nhà ông Trắp, hố bom Truông Đình, dốc Rừng, đồi Chồi Giữa và đám ruộng giếng xóm Cầu, giết hại tổng cộng 430 người dân xã Bình Hòa, trong đó có 269 phụ nữ; 174 trẻ em, trong đó có nhiều trẻ em sơ sinh.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 4/12/2016:

Tuyên dương học sinh đoạt giải Ô-lim-pích quốc tế và học sinh đạt điểm xuất sắc nhất kỳ thi THPT quốc gia năm 2016

Tối 3-12, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức Lễ tuyên dương học sinh đoạt giải Ô-lim-pích quốc tế và học sinh đạt điểm xuất sắc nhất kỳ thi THPT quốc gia năm 2016. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Năm 2016, Việt Nam cử bảy đoàn với 37 học sinh tham dự các kỳ Ô-lim-pích quốc tế. Kết quả, 35 trong tổng số 37 học sinh dự thi đoạt giải gồm: Tám Huy chương vàng, 14 Huy chương bạc, 11 Huy chương đồng và hai Bằng khen. Đáng chú ý, đây cũng là năm đầu tất cả các đoàn tham dự Ô-lim-pích quốc tế đều có học sinh đoạt Huy chương vàng, trong đó một Huy chương vàng ở môn Sinh học sau 15 năm chờ đợi. Tại kỳ thi khoa học, kỹ thuật quốc tế được tổ chức ở Mỹ, đoàn Việt Nam có sáu dự án dự thi (gồm tám học sinh) và đoạt được bốn giải ba.

Kỳ thi THPT quốc gia năm 2016 có hơn 900 nghìn thí sinh dự thi, trong đó có nhiều thí sinh đạt điểm cao. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn, tuyên dương năm thí sinh đạt điểm xuất sắc nhất đến từ các trường: Chuyên THPT Phan Bội Châu (Nghệ An), THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định), THPT chuyên Ngoại ngữ, Trường đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), THPT Phạm Văn Đồng (Đác Lắc), với tổng điểm thi từ 28,5 điểm trở lên. Tại lễ tuyên dương, có năm học sinh đoạt Huy chương vàng được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; ba học sinh đoạt Huy chương vàng (hai năm liên tiếp) được nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng những kết quả mà các em học sinh đã đạt được. Thủ tướng nhấn mạnh, để có được kết quả cao, các thầy giáo, cô giáo, phụ huynh, học sinh đã trải qua hành trình gian nan, nỗ lực vượt bậc trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Đằng sau những tấm huy chương, những bằng khen của các con, các cháu là biết bao công lao khó nhọc, những hy sinh thầm lặng của những bậc làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của ngành giáo dục và đào tạo trong công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, huấn luyện, góp phần nâng cao thành tích cho đội tuyển quốc gia Việt Nam tại các kỳ Ô-lim-pích quốc tế và tổ chức thành công kỳ thi THPT quốc gia năm 2016 phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Thủ tướng cho rằng, đất nước đang bước vào kỷ nguyên của một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một trong những yêu cầu tiên quyết đặt ra là sự sẵn sàng về nguồn nhân lực, đạt trình độ sánh ngang với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn. Vì vậy, muốn sánh vai các cường quốc năm châu thì việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mang tính chất quyết định và có như vậy, chúng ta mới xây dựng một Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn trong thế giới hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.

Để bảo đảm sẵn sàng chiến lược này, ngoài cố gắng của từng cá nhân, thế hệ trẻ Việt Nam, ngành giáo dục và đào tạo phải đổi mới toàn diện về lượng, về chất, không những đào tạo kiến thức, chuyên môn mà phải thật sự mang tinh thần kiến tạo phát triển. Hệ thống giáo dục các trường đại học phải là những mô hình tiên tiến về quản trị và tổ chức, về con người, chất lượng, mục tiêu, phương pháp giảng dạy, môi trường văn hóa và năng lực hội nhập quốc tế. Có như vậy, từ những kỳ Ô-lim-pích quốc tế, những cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế, những học sinh xuất sắc trong kỳ thi THPT quốc gia mới hy vọng về tương lai nước ta có được những nhà kỹ nghệ, nhà khoa học, nhà văn hóa, doanh nhân như Bin Ghết, Thô-mát Ê-đi-xơn, Giắc Ma… ở Việt Nam.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 15/12/2016:

Cộng đồng người Việt tại Pháp tổ chức hòa nhạc ra mắt đĩa CD Tổ quốc yêu thương

Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Pháp, tối 3-12, tại Nhà hát Ét-pa-xơ Nơn-ly ở thủ đô Pa-ri, đã diễn ra chương trình hòa nhạc ra mắt đĩa CD Tổ quốc yêu thương của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Chương trình do Dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện Ru-ăng biểu diễn dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Clốt Bren-đen, một người rất yêu mến Việt Nam và Dàn hợp xướng Hợp ca quê hương của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Tham dự, có Đại sứ – Trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh tổ chức UNESCO Lê Hồng Phấn cùng đại diện Hội người Việt Nam tại Pháp, Hội hữu nghị Pháp – Việt, Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp; các hội đoàn, các cơ quan ngoại giao cùng đông đảo bạn bè Pháp, Việt kiều ở Pháp và châu Âu.

CD Tổ quốc yêu thương có hai phần nội dung. Phần một, tập hợp những tác phẩm âm nhạc Việt Nam nổi tiếng, ca ngợi quê hương, đất nước như: Ca ngợi Tổ quốc của Hồ Bắc, Du kích sông Thao của Đỗ Nhuận, Hồi tưởng của Hoàng Vân, Việt Nam quê hương tôi của Đỗ Nhuận, Tổ quốc yêu thương của Hồ Bắc… Phần hai là các ca khúc ca ngợi biển, đảo của Tổ quốc và công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh hải như: Tình em biển cả của Nguyễn Đức Toàn, Tổ quốc gọi tên mình của Đinh Trung Cẩn, Đất nước bên bờ sóng của Thái Văn Hóa; Lướt sóng ra khơi của Thế Dương… Theo bà Ngân Hà, người chỉ huy Dàn hợp xướng Hợp ca Quê hương, CD được thực hiện và dành làm quà tặng, quảng bá, giới thiệu về đất nước, văn hóa và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

  • Trang 5 báo Nhân Dân ngày 5/12/2016:

Ba em bé ở Thái Nguyên chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm

Sáng 4-12, hai ca phẫu thuật đón ba em bé chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện thành công tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Đây là bệnh viện đầu tiên của các tỉnh trung du miền núi phía bắc thực hiện thành công kỹ thuật này. GS, TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế cùng lãnh đạo bệnh viện trực tiếp thực hiện ca mổ trên. Ba cháu bé là con của hai sản phụ: Chu Thị Huyền, trú xã Khôi Kỳ và Trần Thị Diện, trú xã Ký Phú, cùng huyện Đại Từ (Thái Nguyên). Sự kiện trên đã đưa Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện A Thái Nguyên trở thành một trong 22 trung tâm hỗ trợ sinh sản trên toàn quốc thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Phát hiện người nghiễm vi-rút Zika đầu tiên tại Đồng Nai

Tối 4/12, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đồng Nai Huỳnh Minh Hoàn xác nhận có ca nhiễm vi-rút Zika đầu tiên tại tỉnh. Trước đó, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh có thông báo về trường hợp nhiễm vi-rút Zika là một phụ nữ 24 tuổi, mang thai 29 tuần, ngụ tại khu phố 10, phường An Bình, TP Biên Hòa. Ngay trong chiều 4/12, Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Nai đã triển khai phun hóa chất diệt muỗi trên diện rộng tại khu phố 10, phường An Bình nhằm khống chế không để xảy ra người mắc mới trong khu vực.

Hôm nay (5/12), Sở Y tế Đồng Nai sẽ tổ chức cuộc họp khẩn để triển khai công tác chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh do vi-rút Zika gây ra tại phường An Bình.

  • Trang 15 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

Khi tình yêu đặt vào giọng hát

Giọng trầm ấm chất chứa bao nhiêu niềm thương yêu của NSƯT Quang Lý vang vọng khắp nhà tang lễ TP hôm qua. Ông đã ra đi nhẹ nhàng, trong một phút…Nhưng niềm tiếc thương của những người ở lại thì cứ dài mãi. Dài như tiếng hát… Ai cũng nhớ về nụ cười và ánh mắt hiền của Quang Lý.“Từ ngày còn là một ca sĩ ít người biết đến ở Đài phát thanh Giải phóng đến khi trở thành một nghệ sĩ danh tiếng, nụ cười, ánh mắt, cách ứng xử của anh chẳng hề thay đổi” NSƯT Ngọc Mai nhắc.Ai cũng xuýt xoa về thái độ nghiêm túc, tử tế, chỉn chu với nghề nghiệp của Quang Lý. “Cho đến những ngày gần đây, trước giờ lên sân khấu vẫn còn thấy anh complet caravate nghiêm chỉnh, đứng bên cánh gà luyện thanh. Các nghệ sĩ trẻ có khi lại đến trễ giờ, có lúc không kịp ráp nhạc…” nhạc sĩ Quỳnh Hợp kể. “Nhưng nói đến Quang Lý là nói về những gì dung chứa trong giọng hát…” nhạc sĩ Trần Xuân Tiến bình luận.

quang-lyĐánh giá khách quan nhất về giọng hát tất nhiên là khán giả. Ông Lương Văn Lý (Công ty luật Phước và các cộng sự) tâm sự: “Thế là tôi đã bỏ lỡ cơ hội được thật sự làm bạn với anh Quang Lý, anh là giọng ca mà tôi thích nhất trong các nam ca sĩ Việt Nam, mặc dù đã có vài lần gặp, chào hỏi anh trong một số buổi chiêu đãi. Chất giọng ấm tình cảm và âm vực rộng của anh rất thu hút với tôi, cho tôi những khoảnh khắc đắm chìm hay bay bổng với từng nốt nhạc, từng từ anh hát. Dù là những bài ca được sáng tác trong chiến tranh hay trong hòa bình, tôi cảm nhận được rõ nhất nỗi niềm, tình cảm, mong ước của người nhạc sĩ gửi gắm qua giọng ca Quang Lý. Và hơn nữa, tôi lại nghe như giọng hát của anh phân biệt được rõ ràng nỗi khao khát hòa bình thống nhất với mong ước dựng xây, yêu thương. Nỗi lòng ấy là của nhạc sĩ nhưng để người nghe cảm được, phải thông qua tài năng ca sĩ…”. Như để chứng minh, trên loa vừa nghe da diết: “Em ơi, tuy 
giờ đây hai miền còn cách xa/ Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta/ Nhưng không thể xóa được hình bóng em…”, thoắt đã chuyển giọng thiết tha, tự tin: “Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào…”.

Bà Nguyễn Thế Thanh kể như “được cởi tấm lòng”: “Ngoài giọng hát trời cho, lao động nghệ thuật cần mẫn, nghiêm cẩn, Quang Lý có điều đặc biệt là khi nghe ông hát, hình tượng âm nhạc của bài ca như hoàn toàn trở thành của ông. Tất cả tâm hồn, tình cảm của ông được đặt vào từng ca từ, khiến cho ca khúc như bay lên, tình cảm người nhạc sĩ khi sáng tác như sống dậy. Từng có nhiều thời gian làm việc với Quang Lý trong lĩnh vực văn hóa, tôi biết điều đó không phải đến một cách tự nhiên. Ngoài việc rèn luyện kỹ thuật âm nhạc, Quang Lý rất có ý thức trau dồi, học hỏi những cái bên ngoài âm nhạc để đưa vào âm nhạc. Ông chịu khó đi dự những buổi họp mặt nhạc sĩ, những buổi nói chuyện truyền thống của các nhóm, câu lạc bộ; ông lắng nghe những kinh nghiệm sống, ứng xử; ông hỏi cặn kẽ hoàn cảnh ra đời của những ca khúc, tích lũy những câu chuyện trong quá khứ cũng như thời sự… Tất cả những điều đó ông bồi dưỡng cho giọng ca của mình, nâng lên giá trị của âm nhạc”.

NSƯT Ngọc Mai quay trở lại với những dung chứa của giọng ca Quang Lý. Bà bảo: “Thời của chúng tôi, nghiệp cầm ca là cuộc đời, là đam mê, là tình yêu, không bị vướng víu bởi cuộc mưu sinh dù cuộc sống rất cơ cực, không bị chi phối bởi hình thức dù luôn phải giữ hình ảnh đẹp trong mắt khán giả. Tình yêu với con người, với quê hương, đất nước, khao khát chân – thiện – mỹ trong cuộc đời đều đặt vào giọng hát nếu là ca sĩ, đặt vào ca từ nếu là nhạc sĩ. Tất nhiên, Quang Lý là một nghệ sĩ tiêu biểu cho tinh thần ấy”. Nhạc sĩ Trần Xuân Tiến đồng tình, nói như kết luận: “Quang Lý là một giọng ca cách mạng, không chỉ với nghĩa ông hát nhạc cách mạng. Giọng hát của ông giúp người nghe bồi dưỡng tâm hồn mình, lớn thêm tình yêu với quê hương, đất nước, con người, cuộc đời. Nghe ông hát, thấy tình yêu đời trong từng hơi thở”.

Giọng Quang Lý đang hát: “Hội ngộ rồi chia ly, cuộc đời vẫn thế/ Dẫu là mặt trời nồng nàn khát khao, hay đêm mịt mù lấp lánh ngàn sao… Người yêu ơi dù mai này cách xa/ Mãi mãi diệu kỳ là tình yêu chúng ta…”.

Hôm nay chúng ta phải chia ly NSƯT Quang Lý, nhưng giọng ca mang tình yêu vào hồn thính giả ấy vẫn ở lại…

Phạm Vũ

“Chất giọng ấm tình cảm và âm vực rộng của anh rất thu hút với tôi, cho tôi những khoảnh khắc đắm chìm hay bay bổng với từng nốt nhạc, từng từ anh hát.

Thính giả LƯƠNG VĂN LÝ

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 13/12/2016:

Cứu tàu cá chở các nhà khoa học gặp nạn

Một đoàn gồm chín nhà khoa học thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội đi trên tàu cá của ngư dân ra vùng biển Cồn Cỏ (Quảng Trị) lấy mẫu nước biển nghiên cứu đã gặp nạn và được ứng cứu.

Chiều 12-12, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Trị cho biết, đến chiều cùng ngày đã cứu thành công tất cả 13 người trên tàu cá QT 21126 TS bị nạn trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ. Trong đó có 9 nhà khoa học thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội.

Hiện các nhà khoa học đã được đưa vào bờ trong tình trạng sức khỏe tốt. Tàu cá QT 21126 TS sau khi được lai dắt vào bờ gần phao số 0 đã bị sóng đánh chìm.

Danh tính các nhà khoa học thuộc ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) gồm: Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ (35 tuổi, trưởng đoàn), Trần Mạnh Tú (35 tuổi), Lưu Việt Dũng (29 tuổi), Nguyễn Thành Nam (34 tuổi), Nguyễn Mạnh Hà (35 tuổi), Lâm Tuấn Mạnh (24 tuổi), Đặng Minh Quân (23 tuổi), Đặng Ngọc Thăng (26 tuổi), Nguyễn Quốc Biên (22 tuổi). Ngoài ra, bốn thuyền viên trên tàu cá cũng được cứu nạn an toàn.

Theo Bộ chỉ huy biên phòng Quảng Trị, đơn vị này nhận được tín hiệu cấp cứu của tàu cá QT 21126 TS vào chiều 11-12. Vị trí bị nạn tại tọa độ 160 59’ vĩ bắc, 107022’ kinh đông (cách bờ biển Quảng Trị 10 hải lý).

Thời điểm này trên biển mưa to, gió lớn, biển động mạnh. Bộ chỉ huy biên phòng Quảng Trị ngay lập tức điều tàu cứu nạn cùng 13 cán bộ chiến sĩ ra tìm kiếm vị trí tàu bị nạn.

Sau ba giờ tìm kiếm, tàu cứu hộ phát hiện tàu cá bị nạn nhưng thời tiết quá xấu nên phải thả neo song song để đề phòng trường hợp xấu nhất. Tàu cá có khả năng bị gãy trục co nhớt, chết máy.

Đến 5g30 ngày 12-12, khi thời tiết đã ổn định, lực lượng cứu hộ đã tiếp cận được tàu cá và đưa toàn bộ 9 nhà khoa học sang tàu cứu hộ rồi lai dắt tàu cá vào bờ.

Tuy nhiên, do tàu cá đã bị mục, nên khi lai dắt vào bờ đã bị sóng đánh vỡ và chìm tại vị trí phao số 0. Bốn thuyền viên trên tàu cá sau đó cũng được đưa sang tàu cứu hộ vào bờ an toàn.

Đến khoảng 10g ngày 12-12, toàn bộ 13 người trên tàu cá QT 21126TS cập cảng Cửa Việt (H.Gio Linh, Quảng Trị).

Quốc Nam

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 2/12/2016:

Kỳ họp thứ 8 Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 28 đến 30-11-2016, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 8. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, xử lý và đề nghị thi hành kỷ luật một số đảng viên và tổ chức đảng như sau:

1- Đối với đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015

Trên cương vị là Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Huỳnh Minh Chắc đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy trình, quy định về công tác cán bộ và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong việc đề nghị, tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về tỉnh Hậu Giang để giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

2- Đối với đồng chí Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2015-2020

Trên cương vị là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015, đồng chí có phần trách nhiệm với các khuyết điểm, vi phạm trong việc đề nghị tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sai phạm trong việc chỉ đạo Công an tỉnh cấp biển số xe công cho xe tư nhân để Trịnh Xuân Thanh lưu thông trái quy định.

Là Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020, với trách nhiệm là người đứng đầu, đồng chí đã buông lỏng lãnh đạo, thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

3- Đối với đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương

Đồng chí Trần Lưu Hải đã thiếu trách nhiệm khi ký công văn của Ban Tổ chức Trung ương về việc cho tỉnh Hậu Giang được tăng thêm một Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có khuyết điểm trong việc ký văn bản trả lời Tỉnh ủy Hậu Giang về thực hiện quy trình nhân sự tăng thêm một cấp ủy viên nhiệm kỳ 2015-2020 đối với Trịnh Xuân Thanh.

4- Đối với đồng chí Bùi Cao Tỉnh, nguyên Vụ trưởng, nguyên Trợ lý đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương

Đồng chí Bùi Cao Tỉnh chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu nội dung công văn của Ban Tổ chức Trung ương về việc cho tỉnh Hậu Giang được tăng thêm một Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

5- Đối với đồng chí Trần Thị Hà, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương

Đồng chí Trần Thị Hà có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc thẩm định quy trình, thủ tục, điều kiện và tiêu chuẩn để trình cấp có thẩm quyền tặng thưởng Huân chương và danh hiệu Anh hùng Lao động cho Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC); tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Huân chương cho Trịnh Xuân Thanh.

6- Đối với đồng chí Trần Anh Tuấn, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Trần Anh Tuấn có vi phạm, khuyết điểm trong việc thẩm định, cho ý kiến về việc tiếp nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch và xếp lương công chức cho Trịnh Xuân Thanh; thiếu kiên quyết, không đề xuất, kiến nghị với Bộ Công thương để thu hồi, hủy bỏ các quyết định sai trái trong việc tiếp nhận, bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh.

7- Đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Nguyễn Duy Thăng có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc thẩm định, đề xuất cấp có thẩm quyền phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, nhiệm kỳ 2011-2016 đối với Trịnh Xuân Thanh.

Những vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí nêu trên đã ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, tạo dư luận xấu trong xã hội.

Xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật:

– Cảnh cáo đồng chí Bùi Cao Tỉnh, nguyên Vụ trưởng, nguyên Trợ lý đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

– Khiển trách đồng chí Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2015-2020.

– Khiển trách đồng chí Trần Thị Hà, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương.

– Các vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Trần Anh Tuấn, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ chưa đến mức phải thi hành kỷ luật. Yêu cầu Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, sâu sắc và có biện pháp khắc phục.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với hai đồng chí: đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010-2015 và đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

– Xem xét xử lý đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ theo Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

8- Đối với tập thể Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ 2011-2016 có các vi phạm, khuyết điểm sau:

– Không kịp thời sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của Ban cán sự đảng theo quy định của Bộ Chính trị; thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, dẫn đến vi phạm, khuyết điểm trong việc thẩm định, cho ý kiến về tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch, xếp lương công chức và đề nghị phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang cho Trịnh Xuân Thanh; thẩm định đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng cho Tổng công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) và Trịnh Xuân Thanh.

– Chưa kịp thời chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị trong Bộ tham mưu, đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định về công tác cán bộ và công tác thi đua, khen thưởng.

Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên đã ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự đảng và của Bộ Nội vụ. UBKT Trung ương yêu cầu Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, sâu sắc và có biện pháp khắc phục kịp thời.

  • Trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/12/2016:

Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ luật một số cán bộ liên quan đến vụ Trinh Xuân Thanh

Ngày 8-12-2016, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét thi hành kỷ luật một số cán bộ liên quan đến vụ Trịnh Xuân Thanh. Sau khi xem xét các báo cáo của Ủy ban Kiểm tra T.Ư (số 50-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016; số 51-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016 và số 52-BC/UBKTTW, ngày 05-12-2016), Ban Bí thư đã kết luận như sau:

1- Đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư

Đồng chí Trần Lưu Hải, với cương vị là Ủy viên T.Ư Đảng,Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư đã thiếu trách nhiệm khi ký ban hành công văn của Ban Tổ chức T.Ư về việc được tăng thêm chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011 – 2016 có nội dung trái với kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có khuyết điểm trong việc ký công văn trả lời Tỉnh ủy Hậu Giang về thực hiện quy trình nhân sự tăng thêm một cấp ủy viên nhiệm kỳ 2015 – 2020 đối với Trịnh Xuân Thanh.

2- Đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010 – 2015

Đồng chí Huỳnh Minh Chắc, với cương vị là Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy trình, quy định về công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong việc đề nghị, tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về tỉnh Hậu Giang để giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

3- Đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Đồng chí Nguyễn Duy Thăng có vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc thẩm định, đề xuất cấp có thẩm quyền phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011 – 2016 đối với Trịnh Xuân Thanh.

Những vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây bức xúc và tạo dư luận xấu trong xã hội.

Xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Bí thư thống nhất rất cao (100% bằng phiếu kín) đã quyết định:

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Trần Lưu Hải, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức T.Ư.

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Huỳnh Minh Chắc, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang nhiệm kỳ 2010 – 2015.

– Thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

  • Trang 4 báo Tuổi Trẻ ngày 10/12/2016:

Phá đường dây mua bán trái phép hóa đơn hơn 1.000 tỷ đồng

Ngày 9/12, Công an TP Hà Nội cho biết vừa triệt phá đường dây mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng với số lượng lớn,s ử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt tiền thuế VAT.

Cơ quan an ninh điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Hồng Yến (44 tuổi, TP Hà Nội), Đại Ngọc Hải (26 tuổi, tỉnh Quảng Ninh), Đại Khánh Hà (23 tuổi, tỉnh Quảng Ninh) để điều tra về tội “mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng”.

Kết quả điều tra ban đầu xác định bị can Yến có vai trò cầm đầu đã chỉ đạo bị can Hải và Hà mua lại pháp nhân của một số công ty hoạt động kém hiệu quả, bao gồm cả con dấu và hóa đơn với giá từ 30-40 triệu đồng để tổ chức xuất, bán hóa đơn giá trị gia tăng trái phép. Hình thức mua bán sẽ được tính mỗi hóa đơn có giá trị ghi trên đó dưới 20 triệu đồng, nhóm của Yến bán cho các doanh nghiệp với giá từ 200.000-300.000 đồng. Còn hóa đơn ghi trên 20 triệu đồng nhóm của Yến bán với giá bằng 2-3% tổng giá trị ghi trên hóa đơn. Các doanh nghiệp phải thanh toán cho nhóm của Yến bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Khách hàng phải tự hoàn thiện hợp đồng mua bán để Yến ký, sau đó chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng hợp thức, Yến sẽ chỉ đạo người của mình đi rút tiền và thanh toán với khách.

Từ các chứng cứ, tài liệu thu thập được, cơ quan an ninh điều tra xác định từ năm 2012 đến nay, nhóm của Yến đã xuất bán hóa đơn trái phép với số tiền ghi trên hóa đơn ước tính 1.000 tỉ đồng, gây thất thu cho Nhà nước hơn 100 tỉ đồng.

Khám xét nơi tổ chức mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng, cơ quan an ninh điều tra đã thu giữ tang vật gồm 49 bộ dấu công ty, nhà hàng; hơn 200 quyern hóa đơn cùng nhiều chứng từ, séc, sổ sách ghi chép…

Thân Hoàng

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 6/12/2016:

Phú Yên kỷ luật Đảng hai cán bộ lãnh đạo, quản lý

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên vừa công bố kết quả kỳ họp lần thứ 10, quyết định thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khiển trách đối với hai đồng chí là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo ngành cấp tỉnh và địa phương do vi phạm trong công tác quản lý, điều hành.

Theo đó, hai đồng chí phải thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khiển trách là Phạm Đình Phụng, Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa; Nguyễn Ngọc Linh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Phú Yên.

Những vi phạm của các đồng chí này gây hậu quả xấu, làm giảm uy tín bản thân và ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền ở địa phương; gây dư luận không tốt trong nội bộ và quần chúng.

Thu hồi thẻ nhà báo hai cán bộ lãnh đạo Báo Thanh Niên

Ngày 5-12, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn ký quyết định thu hồi Thẻ nhà báo số hiệu IBT01621 thời hạn 2016-2020 đối với ông Đặng Ngọc Hoa, Phó Tổng Biên tập Báo Thanh niên. Theo Quyết định số 2184/QĐ-BTTTT ngày 5-12, ông Đặng Ngọc Hoa bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Cùng ngày, tại Quyết định số 2185/QĐ-BTTTT, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký quyết định thu Thẻ nhà báo số hiệu IBT01627 thời hạn 2016-2020 của ông Võ Văn Khối, lý do ông Khối đã bị xử lý kỷ luật cách chức Ủy viên Ban Biên tập, Tổng Thư ký tòa soạn Báo in Báo Thanh niên tiếng Việt. Quyết định trên yêu cầu Báo Thanh niên có trách nhiệm thu hồi thẻ nhà báo của hai người nêu trên và gửi về Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) trước ngày 18-12 tới.

  • Trang 5 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

12 năm tù cho nguyên chủ tịch huyện Kỳ Anh

Chiều 2-12 TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Bổng – nguyên chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh – 12 năm tù giam về tội cố ý làm trái quy định Nhà nước trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng dự án Formosa.

Đồng thời tuyên phạt bị cáo Phạm Huy Tường (nguyên trưởng Phòng TN-MT huyện Kỳ Anh) 11 năm tù; bị cáo Lê Xuân Nghinh (nguyên bí thư Đảng ủy xã Kỳ Long), Lê Quang Hà (nguyên phó chủ tịch UBND xã Kỳ Long) 10 năm tù; bị cáo Lê Anh Đức (nguyên cán bộ Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng thị xã Kỳ Anh) 8 năm tù.

Ngoài ra, bị cáo Hồ Xuân Cường (nguyên cán bộ Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Kỳ Anh) và Lê Công Diếu (nguyên chủ tịch UBND xã Kỳ Phương) cũng lĩnh án 3 năm tù.

Tòa còn buộc bị cáo Bổng và Tường mỗi bị cáo phải bồi thường hơn 1,6 tỉ đồng. Bị cáo Nghinh, Hà và Đức mỗi bị cáo bồi thường hơn 1,5 tỉ đồng. Diếu và Cường mỗi bị cáo phải bồi thường hơn 142 triệu đồng.

Trước đó trong phiên tranh tụng, bị cáo Bổng kêu oan, cho rằng số tiền thất thoát trong quá trình hợp thức hóa đất công thành đất đền bù khoảng 400 triệu đồng, không phải 10 tỉ đồng.

Còn bị cáo Tường cho rằng phạm tội vì phải tuân lệnh của chủ tịch huyện là bị cáo Bổng. “Cấp trên bảo cứ ký đi nên tôi phải nhắm mắt ký” – bị cáo Tường thừa nhận.

Trong quá trình diễn ra phiên tòa, phía huyện Kỳ Anh đã có văn bản đề nghị tòa xem xét lại phần đất công ích và số tiền sai phạm để giảm tội cho các bị cáo. HĐXX cho rằng đây là đề nghị không thể chấp nhận nên đã giữ nguyên tội trạng của các bị cáo.

Trước khi tuyên án, HĐXX nhận định hành vi của các bị cáo rất nghiêm trọng, gây thiệt hại ngân sách nhà nước hơn 10 tỉ đồng, hiện số tiền này không thể thu hồi. Do đó cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa.

Văn Định

  • Trang 2 báo Tuổi Trẻ ngày 3/12/2016:

Hơn 1,1 triệu lao động thất nghiệp

Kết quả khảo sát thị trường lao động việc làm quý 3-2016 vừa được Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục Thống kê công bố chiều 2-12 cho thấy cả nước hiện có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp (tăng 29.000 người so với quý trước).

Trong đó có gần 420.000 người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ĐH trở lên hơn 200.000 người, CĐ chuyên nghiệp trên 122.000 người, còn lại là trung cấp chuyên nghiệp.

Theo ông Đào Quang Vinh – viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐ-TB&XH), thị trường lao động đang có sự mất cân đối ở một số nghề, khi rất nhiều người có trình độ chuyên môn là kế toán, kiểm toán, tài chính ngân hàng nhưng lại không có nhiều doanh nghiệp tuyển các vị trí này.

So với quý 2, thất nghiệp tăng cả về tỉ lệ và số lượng, tập trung nhiều nhất ở nhóm thanh niên và người có trình độ chuyên nghiệp, kỹ thuật. Số người thất nghiệp dài hạn (trên 12 tháng) chiếm gần 23% tổng số người thất nghiệp.

Đức Bình

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Đình chỉ hoạt động Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt

Ngày 28-11, UBND thành phố Đà Nẵng ra Quyết định đình chỉ hoạt động của Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt lý do đình chỉ bao gồm: Công tác quản lý, điều hành giữa Thời báo Làng nghề Việt và Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt thiếu sự thống nhất, làm trở ngại công tác quản lý nhà nước về báo chí tại TP Đà Nẵng.

Thời báo Làng nghề Việt không tuân thủ việc thông tin báo cáo về hoạt động của cơ quan đại diện tại Đà Nẵng theo Quyết định số 54/2008/QĐ-UBND ngày 12-12-2008 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc Ban hành Quy định về quản lý nhà nước đối với chi nhánh, văn phòng đại diện của các tổ chức thuộc Trung ương và địa phương khác đặt tại TP Đà Nẵng. Thời báo Làng nghề Việt và Cơ quan đại diện miền trung Thời báo Làng nghề Việt không chấp hành các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tại Đà Nẵng, không bảo đảm điều kiện thành lập và hoạt động cơ quan đại diện theo quy định tại Thông tư số 13/2008/TT-BTTTT ngày 31-12-2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Thời gian đình chỉ hoạt động ba tháng kể từ ngày ký văn bản. Hết thời gian đình chỉ mà Thời báo Làng nghề Việt không thực hiện các quy định tại Khoản 1, Điều 2 Quyết định này thì sẽ bị thu hồi Quyết định cho phép đặt cơ quan đại diện tại TP Đà Nẵng.

  • Trang 8 báo Nhân Dân ngày 29/11/2016:

Biểu dương Công an tỉnh Phú Thọ triệt phá thành công vụ mua bán, vận chuyển 300 bánh hê-rô-in

Chiều 28-11, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ gửi thư khen Công an tỉnh Phú Thọ về thành tích vừa triệt phá vụ mua bán, vận chuyển 300 bánh hê-rô-in.

Phó Thủ tướng bày tỏ vui mừng và biểu dương Công an tỉnh Phú Thọ đã điều tra, triệt phá thành công nhóm đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy với số lượng lớn, bắt giữ bốn đối tượng, thu 300 bánh hê-rô-in, đồng thời bảo đảm an toàn tính mạng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chuyên án và nhân dân địa phương.

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao thành tích xuất sắc của các cán bộ, chiến sĩ tham gia vào chiến công này, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Phó Thủ tướng tin tưởng trong thời gian tới, dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ, Công an tỉnh Phú Thọ sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Nhân dịp này, Phó Thủ tướng giao Bộ Công an đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân theo quy định, trích từ Quỹ phòng, chống tội phạm trung ương thưởng cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ.

Tháng Mười Hai 15, 2016

Lễ giỗ Nguyễn Du một sinh hoạt văn hóa của Hội Kiều học Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:39 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

Trang 125 tạp chí Nghiên cứu Văn học số 11.2016

(Viện Văn Học– Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

LỄ GIỖ NGUYỄN DU MỘT SINH HOẠT VĂN HÓA

CỦA HỘI KIỀU HỌC VIỆT NAM

Năm 2016, nhằm hướng tới kỷ niệm 200 năm mất của Đại thi hào (1820-2020), sáng kiến tổ chức ngày giỗ 10/8 Bính Thân (10.9.2016) tưởng nhớ Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du của Hội Kiều học Việt Nam được tỉnh Hà Tĩnh đồng thuận và nhiệt liệt ủng hộ. Có thể thấy, từ 1945 đến nay chưa có một Lễ giỗ nào với một Danh nhân văn hóa tầm thế giới lại được tổ chức một cách long trọng thành kính và hoành tráng như lễ giỗ này.

Lễ giỗ được tổ chức tại nhà thờ chính với bài văn tế Đại thi hào do nhà thơ Hoài Yên soạn và nhà giáo Vũ Ngọc Khôi đọc trong bầu không khí thiêng liên trầm mặc. Không gian Nghi Xuân hôm đó rất đẹp. Trời nắng nhẹ, gió mát dường như rất phù hợp với lời văn:

Mây Hồng Lĩnh khi tan khi hợp/thiết tha câu hữu cảm tất thông

Nước Lam giang lúc đục lúc trong/khẩn khoản chữ hữu cầu tất ứng.

Ông Đặng Quốc Vinh, Phó Chủ tịch tỉnh đọc lời tri ân với Nguyễn Du. Tiếp đó là bài phát biểu của giáo sư Phong Lê, Chủ tịch Hội Kiều học. Giáo sư Phong Lê một lần nữa khẳng định lại giá trị của Truyện Kiều khi dẫn ý của Mộng Liên đường chủ nhân về “con mắt trông sáu cõi và tấm lòng nghĩ tới ngàn đời” và ý của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” để đề cao con mắt và tấm lòng tác giả. Ông cũng khẳng định về giá trị mang tính nhân loại trong tác phẩm Nguyễn Du như khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, quyền con người, giá trị gia đình, yêu cầu bình đẳng giới và truyền thống văn hóa Việt Nam khi bình luận ý kiến của bà Katherinne Muleh – Marine, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du và nhắc lại những câu lẩy Kiều của các vị tổng thống, phó tổng thống Mỹ từng đọc để một lần nữa đề cao giá trị về của tin lòng tin như câu thơ Nguyễn Du: Của tin gọi một chút này làm ghi.

Nhà Kiều học Thế Anh thay mặt Hội tặng bức thư pháp do chính tay cụ viết bốn câu thơ Tố Hữu bằng chữ Nôm: Tiếng thơ ai động đất trời / Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du / Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày cho Bảo tàng Nguyễn Du. Những câu thơ ấy là một lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa kết thúc lễ giỗ 196 năm ngày mất của Đại thi hào.

Tổ chức ngày giỗ danh nhân văn hóa Nguyễn Du là một biểu hiện biết ơn của hậu sinh, cũng là một ngày thiêng trong tâm linh người Việt vốn coi trọng tình cảm uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là một sinh hoạt văn hóa rất đáng phát huy. Phải thế chăng mà trong suốt thời gian hành lễ, đất trời Nghi Xuân rất phong quang, giao hòa nhưng khi hóa văn thì lư hương bốc cháy và tối hôm đó, cả ngày hôm sau Hà Tĩnh có một trận mưa rất to – một trận mưa nhuần rửa núi sông (thơ Nguyễn Trãi)

Tấm lòng của hậu sinh đã được tiền nhân chứng giám?!

Thu Hương

Nhạc sĩ Phạm Tuyên làm đêm nhạc ở tuổi 88

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN LÀM ĐÊM NHẠC Ở TUỔI 88

(Báo Tuổi Trẻ trang 16 ngày 14/12/2016)

Được coi là “người chép sử bằng âm nhạc”, đến tuổi 88, nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức một đêm nhạc quy mô lớn có tên Nhớ và quên vào ngày 14-1-2017 tại Trung tâm hội nghị quốc gia (Hà Nội).

Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài hơn nửa thế kỷ, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác trên 700 ca khúc về nhiều chủ đề, hướng đến nhiều tầng lớp, trong đó có hơn 200 tác phẩm dem-nha-pham-tuyendành cho thiếu nhi. Với “kho tàng” âm nhạc đồ sộ như vậy, Nhớ và quên được xem như “đêm nhạc dành cho nhiều thế hệ”.

Có mặt tại buổi giới thiệu đêm nhạc chiều 13-12, dẫu đã ở tuổi “cổ lai hi” nhưng nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn cho thấy sự hoạt bát, hóm hỉnh. Ông nói đêm nhạc có tên Nhớ và quên vì ở đó “có những cái cần được quên và có những điều buộc phải nhớ”.

Với đông đảo khán giả, có nhiều bài hát của Phạm Tuyên mà chỉ cần nghe tên là nhiều người nhớ ngay ra giai điệu như Như có Bác trong ngày đại thắng, Chiếc gậy Trường Sơn, Những ngôi sao ca đêm, Gửi nắng cho em, Thành phố mười mùa hoa, Cánh én tuổi thơ, Mùa xuân tình bạn, Chiếc đèn ông sao, Chú voi con ở bản Đôn, Trường chúng cháu là trường mầm non…

Chính vì nhiều bài hát của Phạm Tuyên phổ biến từ Nam ra Bắc và gắn với ký ức của nhiều người nên đêm nhạc có sự tham gia của nhiều thế hệ ca sĩ nổi tiếng: NSND Trung Kiên, NSND Trần Hiếu, NSND Thanh Hoa; ca sĩ Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Lan Anh, Thanh Lam, Tùng Dương, Vũ Thắng Lợi…

Bên cạnh những ca khúc theo dòng lịch sử và những sáng tác về tình yêu, một mảng ca khúc không thể thiếu là những bản nhạc thiếu nhi sẽ do dàn hợp xướng với 100 em nhỏ và các giọng ca nhí là Nhật Minh (quán quân Giọng hát Việt nhí 2016) và Jayden Trịnh (top 4 Thần tượng âm nhạc nhí 2016) thể hiện.

Đêm nhạc do Phạm Hoàng Nam đạo diễn, nhạc sĩ Lưu Hà Anh hòa âm và biên tập âm nhạc, nhà báo Lại Văn Sâm dẫn chương trình.

“Với ba phần về tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu gia đình và tình yêu thế hệ tương lai, tôi muốn mang đến khán giả một đêm nhạc gắn với ký ức, hồi tưởng; vì thế yếu tố tinh giản, hài hòa được đặt lên hàng đầu, không cần những hiệu ứng sân khấu hay cũng không dùng múa minh họa” đạo diễn Phạm Hoàng Nam nói.

Danh Anh

ve-dem-nhac-pham-tuyenTHÔNG TIN LẤY TỪ FANPAGE CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

[THÔNG BÁO BÁN VÉ – ĐÊM NHẠC PHẠM TUYÊN] – NGÀY 14/01/2017

*Thời gian: 20h Thứ bảy, 14/01/2017

*Địa điểm: Trung tâm hội nghị Quốc Gia (Cổng số 1 Đại lộ Thăng Long, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội)

*Giá vé:
– 600.000 đ : Vị trí ghế hàng T, U, V, W, X, Y, Z (Tầng 2)
– 800.000 đ : Vị trí ghế hàng A đến hàng S (Tầng 2) và hàng UU đến ZZ (Tầng 1)
– 1.000.000 đ: Vị trí ghế hàng JJ đến TT (Tầng 1)
– 1.200.000 đ: Vị trí ghế hàng DD đến HH và hai cánh ngoài hàng L đến BB (Tầng 1)
– 1.500.000 đ: Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng T đến BB (Tầng 1)
– 2.000.000 đ (Vip): Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng K đến R và hai cánh từ C đến H (Tầng 1)
– 2.500.000 đ (SVip): Vị trí ghế 3 dãy giữa hàng hàng C đến H (Tầng 1)
ƯU ĐÃI KHI MUA VÉ THEO NHÓM
1. Nhóm mua từ 5 đến dưới 10 vé sẽ được giảm 2% trên tổng giá trị các vé.
1. Nhóm mua từ 10 đến dưới 50 vé sẽ được giảm 5% trên tổng giá trị các vé.
2. Nhóm mua từ 50 đến dưới 100 vé sẽ được giảm 10% trên tổng giá trị các vé.
3. Nhóm mua từ 100 vé trở lên sẽ được giảm 15% trên tổng giá trị các vé
HÌNH THỨC MUA VÉ+ Liên hệ qua inbox
=> page Nhạc sĩ Phạm Tuyên+ Gửi tin nhắn đăng kí nhận vé
=> Trên trang web: http://kidmediavn
=> Hòm thư: kidmediavn@gmail.com
+ Liên hệ trực tiếp số điện thoại : 043.8439.439 / ‪096.803.4200. NHẬN ĐĂNG KÝ MUA VÉ BẮT ĐẦU TỪ NGÀY 5/12/2016.
*Lưu ý: Sau khi các bạn đăng ký và thanh toán tiền vé chúng tôi sẽ gửi cho các bạn một tin nhắn xác nhận mua vé thành công. Vé chính thức sẽ được chuyển đến khách hàng từ ngày 20/12/2016.
Chân thành cảm ơn!

cho-ngoi-dem-nhac-pham-tuyen

Chúng tôi đã sống như thế: Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 12 năm 2016.

Chúng tôi đã sống như thế:

BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 46 đến trang 54)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Ba Tuyet sach chung toi da song nhu the*

*     *

Chúng tôi mời quí bạn đọc bài của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, người vợ hiền, người bạn đời của nhạc sĩ, viết về Bước khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Tuyên, để hiểuPham Tuyen_Nguyen Anh Tuyet rõ vì sao nhạc sĩ đã chọn, và kiên trì đi theo con đường mình đã chọn nửa thế kỷ nay.

Phó giáo sư tiến sĩ tâm lý học Nguyễn Anh Tuyết sinh năm 1936 tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một gia đình cách mạng. Cha thoát ly gia đình đi hoạt động, ít khi có nhà. Sau đó, mẹ cũng giác ngộ cách mạng và thoát ly luôn. Bé Nguyễn Anh Tuyết được gửi về quê sống với bà ngoại và dì. Sau đó mẹ gửi vào ăn học ở trại Thiếu Sinh Quân Quảng Trị đóng trên đất Hà Tĩnh, rồi sang học trường Phan Đình Phùng. Học dở dang thì có người đến đón lên Nghệ An để “sang Trung Quốc học theo tiêu chuẩn con em cách mạng”.

Từ đó, Nguyễn Anh Tuyết sống và học tập ở Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc), gặp, yêu thương rồi sau này thành vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên từ năm 1957. Nay ông bà đã có hai con gái, hai con rể, ba cháu ngoại, quá tuổi tổ chức Đám Cưới Vàng rồi mà vẫn sống hạnh phúc bên nhau: người này là điểm tựa cho người kia vươn lên trong sự nghiệp và cuộc sống vốn không ít sóng gió

Năm 2007 bà bắt đầu viết tại Hà Nội và năm 2008 thì hoàn thành bản thảo hồi ký chẵn 200 trang giấy A4 Chúng tôi đã sống như thế

Bà mất tại Hà Nội ngày 11 tháng 5 năm 2009 (tức ngày 17 tháng 4 Kỷ Sửu).

Chúng tôi trích đăng dưới đây một phần trong hồi ký của bà viết về ông “người bà yêu suốt đời mà cũng là người suốt đời yêu bà. Nhan đề bài viết là của chúng tôi.

—o00—

S

au khi có được tấm bằng tú tài, năm 1948 Phạm Tuyên liền ghi tên vào học tại trường Đại học Pháp lý do luật sư Đỗ Xuân Sảng làm hiệu trưởng, với nguyện vọng là được trang bị lý luận về pháp luật để sau này nếu có điều kiện, khi bản án Phạm Quỳnh được đưa ra phán xử (như Hồ Chủ tịch đã nói với hai người chị của anh trong lúc gia biến năm 1945: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này lịch sử sẽ đánh giá lại”) thì mình còn có đủ lý lẽ để lấy lại công lý cho cha mình. Nhiều tri thức mới về luật pháp lại được các giảng viên truyền đạt hay, Phạm Tuyên bị thu hút vào những bộ luật và điều đầu tiên được khắc họa và khẳng định là “Quyền tư hữu là quyền bất khả xâm phạm của con người” (lúc đó được coi là chuyện bình thường). Nhiều lý luận chính trị, kinh tế… đang làm thỏa mãn tính ham học, ham hiểu biết vốn đã có từ hồi còn thơ ấu của anh. Tài liệu trong sách báo, chủ yếu là bằng tiếng Pháp và qua những cuộc nói chuyện của các cán bộ chính trị cao cấp và các vị trí thức đi tham gia kháng chiến để bổ sung cho những gì học được trong trường. Bạn học ở trường Đại học Pháp lý lúc đó là những thanh niên trí thức tản cư lên chiến khu như: Trần Văn Tý, Lê Đạt, Đặng Hồng Miên, Lê Hồng Chi, Nguyễn Vịnh, Đặng Đình Hưng, Trương Đắc Vị...

Đang háo hức thâu nạp tri thức thì giặc Pháp đổ bộ lên Việt Bắc, trường phải giải thể. Thế là “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu!”, Phạm Tuyên cùng với một số sinh viên được cử đi học tại trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa 5- khóa chuẩn bị tổng phản công. Anh bắt đầu đời binh nghiệp. Cuộc sống gian khổ của bộ đội ta đầu kháng chiến chống Pháp cộng với một chế độ luyện tập quân sự hà khắc bởi người huấn luyện là một sĩ quan Nhật là hàng binh được nhà trường sử dụng, không làm cho anh bộ đội “thư sinh” này nao núng. Những bài tập đi, chạy, lăn lê bò toài không phải theo kiểu của bộ đội ta mà theo kiểu quân phiệt Nhật. Nhiều lần ông ta bắt học viên lăn từ trên đồi xuống rồi lại bò lên. Quần áo rách nát, da dẻ xoạc sờn, thế mà các anh lính trẻ trọc đầu vẫn ráng sức chịu đựng. Câu hát “Thuở thanh bình anh là thư sinh, Thời chinh chiến anh là chiến binh” mà đồng đội đã hát tặng anh lúc đó thật là phù hợp. Cuộc sống hết sức gian khổ nhưng các anh vẫn lạc quan và càng gắng công tập tành. Không khí hăng say luyện tập, sinh hoạt tập thể sôi nổi đã làm Phạm Tuyên quên đi những chuyện đau buồn riêng mà bắt đầu cảm thấy yêu đời, thúc giục anh sáng tác bài hát cho đồng đội để động viên lẫn nhau. Ca khúc đầu tiên là bài Vào lục quân trong đó có đoạn: “Góc trời lửa rực cháy hoang tàn. Căm hờn giặc Pháp uất hận chứa chan! Chàng thanh niên lòng căm uất! Dứt bao tình thương quyết lên đường! Vào lục quân tìm thấy ánh sáng! Vào lục quân tìm thấy chiến thắng! Hẹn ngày phá tan quân thù…” Sau những buổi tập tành nặng nhọc ở thao trường trở về trại, các anh lính trẻ hát vang bài Đường về trại (do Phạm Tuyên sáng tác): “Khi đoàn ta dồn bước tiến về! Kìa trông thoáng xa mái gianh thân yêu! Vui thao trường cố quên nhọc nhằn! Bước! Ta cùng nhau tiến bước!…”. Càng tích cực luyện tập càng mong cho đến ngày tổng phản công. Hướng về ngày tổng phản công, anh viết: “Đây! Khóa chuẩn bị tổng phản công! Náo nức bao chàng trai, từng đoàn tập hợp nuôi ý chí hùng! Mong chờ ngày tổng phản công! Giữa chốn rừng sâu, giữa hoa lá xanh gắng tập tành! Pham Tuyen_Si Quan Luc QuanKhông tiếc chi xương máu giành ngày toàn thắng!”. Những ca khúc đó ngày nay nhiều đồng đội của anh, có người đã đeo quân hàm tướng tá, hay cán bộ cốt cán trong các ngành của Đảng và Nhà nước, tuy đã về hưu nhưng vẫn thuộc, vẫn hát mỗi khi gặp nhau. Tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn năm 1950, ngay trong năm đó Phạm Tuyên được điều về làm đại đội trưởng trường Thiếu sinh quân Việt Nam, nơi học tập và rèn luyện của các em “thiếu nhi mặc áo lính”, do cấp trên nhận thấy anh có trình độ văn hóa và tính tình thích hợp với việc giảng dạy các em nhỏ.

Vào một buổi sáng đầu hè năm 1950, khi Phạm Tuyên vác ba lô đến nhận công tác tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Cao Vân, Đại Từ, Thái Nguyên, các em thiếu sinh quân ùa ra đón anh thật sôi nổi. Trường được thành lập từ năm 1949, lúc đó mới có hai đại đội, anh được giao ngay nhiệm vụ làm đại đội trưởng Đại đội Ba, là đại đội bé nhất. Học sinh của trường là các em liên lạc viên ở các đơn vị phía bắc gửi về và một số học sinh vùng tự do, các em ở độ tuổi từ 11 đến 15, đang tuổi ăn tuổi chơi.

Công việc đầu tiên là sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho các em vào những lán trại được dựng theo chiều dài, trong đó có hai hàng giường đan bằng tre nứa kéo dài theo chiều của nhà. Không có hội trường, cũng không có lớp học. Họp chung thì ra ngoài sân, còn sinh hoạt trung đội hay tiểu đội thì ngồi cả lên hai phía giường ngủ. Đời sống của các em thiếu thốn vô cùng.

Hằng ngày dạy các em học văn và học nhạc, anh cùng các “chiến sĩ tí hon” đào hầm, dựng nhà, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, đi lấy gạo… sinh hoạt cùng các em anh càng thấy gắn bó với bầy “thiếu nhi mặc áo lính” ấy...

Buổi sinh hoạt lửa trại đầu tiên quanh đống lửa nứa khô nổ lép bép anh đã được nghe các em hát. Một cảm giác yêu thương tha thiết tràn ngập lòng anh khi nhìn những gương mặt non tơ trong bộ quân phục xuềnh xoàng, đã sớm phải xa gia đình để lên học tập tận nơi núi rừng Việt Bắc xa xôi này. Trăn trở hơn là khi anh chỉ nghe các em hát những bài bộ đội người lớn và quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vài bài. Với vốn liếng âm nhạc đã có từ khi còn ở nhà, anh thấy không thể không viết ra cho các em những bài hát mới phục vụ cho sinh hoạt tập thể của đơn vị, hy vọng làm cho cuộc sống của các em nơi núi rừng được sôi nổi, vui tươi hơn. Và anh đã bắt tay vào sáng tác bài hát cho các em

Thế là chỉ trong một thời gian ngắn anh đã viết được một chùm ca khúc cho các em như các bài Em vào thiếu sinh quân để tặng các em mới nhập trường: Em vào Thiếu sinh quân vì em hằng ước ao sống bên bao bạn hiền/ Được dìu dắt em càng quyết tâm học hành! Cho chóng nên người hữu ích sau này, bài Lớp học rừng tả lại cảnh lớp học rất đặc biệt ở đây. Vì phải tránh máy bay giặc Pháp, nhà trường đã chọn cho mỗi lớp học một khu rừng nứa um tùm, cạnh bờ một con suối để dễ sơ tán khi có máy bay oanh tạc. Bàn ghế làm toàn bằng tre nứa và được chôn chặt ở dưới lùm cây. Học các môn văn hóa nhưng không có bảng đen, chỉ nói và cho các em ghi vào vở. Điều kiện học tập thì thiếu thốn và đơn sơ như vậy mà các em đều học tập rất nghiêm chỉnh và có kết quả tốt. Trong bài hát có đoạn: “Ngồi quanh đây bên cây bóng mát! Rừng xanh lá che bốn bề/ Nứa uốn quanh che rợp/ Gốc cây ta để sách/ Cùng ngồi bàn tre ghế nứa mới/ Ta hứng thú học quyết tâm/ Đắp xây ngày mai giữa rừng!”. Bài Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa! nói lên tâm trạng của các em nhỏ lúc đó, chúng không những tỏ ra khoái chí và rất bằng lòng với lớp học của mình mà còn có phần thích thú hơn vì được học trong lớp học đặc biệt do chính tay mình làm ra: “Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa/ Kề dòng suối trong, rừng nứa um tùm/ Lúc thi đua thật là thú vô cùng/ Vì tre nứa ngay bên rừng/ Giá ba lô và lợp mái chuồng gà/ Bàn lúc học, ghế lúc ngồi/ Cuốc “tăng xê” vừa đan liếp nhà/ Tay ta tự làm ra”. Những bài Em tăng gia, Của công là của nhân dân, Bài ca nhân ái, Năm yêu, Đố cờ… đều được viết ra để phục vụ cho sinh hoạt của các em lúc đó.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, thế hệ thiếu sinh quân từng hát những ca khúc này năm xưa đã thành ông nội, ông ngoại, nhiều người trở thành văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các nhân vật trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta như: Đặng Nhật Minh, Thúy Toàn, Phan Phúc, Chu Hảo, Lê Đức Phúc, Vũ Khoan, Vũ Mão, Vũ Mạnh Kha… Nhưng mỗi khi gặp nhau họ vẫn không quên vỗ tay hát vang nhưng bài hát ấy.

Có thể nói những bài hát đầu tiên của Phạm Tuyên dành cho đối tượng thiếu nhi được viết ra từ cái môi trường đặc biệt này. Từ đây trở đi duyên nợ của anh đối với lứa tuổi thiếu nhi cứ dần dần được bền chặt hơn, có ý thức hơn. Và anh đã trở thành Nhạc sĩ của tuổi thơ như những thế hệ thiếu nhi sau này gọi anh như thế.

Trong trường Thiếu sinh quân Việt Nam, anh là một đại đội trưởng trẻ đầy nhiệt huyết, không những giảng dạy tốt mà còn hăng hái tham gia công việc của trường. Anh cũng coi đây là một môi trường rèn luyện cho mình về tác phong sinh hoạt cũng như sức chịu đựng gian khổ, nên được đồng nghiệp nể trọng và các em yêu mến. Có thể nói một trong những công việc vất vả nhất thời ấy là đi lấy gạo trên kho về, vác nặng, đường rừng xa xôi lại phải trèo đèo lội suối. Nhiều lần vác gạo lội qua khe thì gặp nước lũ ập về. Nước khe dâng cao và chảy siết, các em thiếu sinh quân lớn thì tự bơi qua được, còn các em nhỏ, mà đại đội của anh hầu hết là các em nhỏ thì phải có người lớn giúp đỡ. Trong tình huống đó, anh phải ráng sức vừa vác gạo vừa cõng các em nhỏ vượt qua dòng nước đang chảy xiết. Và thế là việc lấy gạo thắng lợi. Với sự phấn đấu vượt bực, anh trở thành tấm gương để đồng đội và các em nhỏ học tập. Anh được đồng chí Lê Chiêu, hiệu trưởng của trường, giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Anh được công nhận là Đảng viên chính thức vào ngày 27 tháng 7 năm 1950, đúng ngày Thương binh Liệt sỹ, một thời điểm rất đặc biệt đối với anh. Hôm đó đang đứng trong lớp giảng bài thì máy bay giặc Pháp đến ném bom, cả lớp phải sơ tán. Anh hướng dẫn các em nhỏ xuống hầm ẩn nấp rồi mình sẽ xuống sau. Nhưng không kịp! Bom đã dội xuống và anh đã bị thương, mảnh đạn găm vào người, máu chảy lênh láng. Dứt đợt báo động, anh được đưa đi cứu chữa. Người lớn thì cáng còn các em nhỏ thì vừa chạy theo sau vừa khóc thút thít vì thương anh quá, sợ anh bị làm sao! Anh được chuyến một cái lán ở La Bằng để được cứu chữa, chăm sóc tử tế. May quá, mảnh đạn chỉ găm vào phần mềm phía bên trái người anh, đến nay mảnh đạn vẫn còn nằm ở đó. Bộ quân phục anh mặc lúc đó bị thủng nhiều lỗ. Sau này chúng tôi giữ lại như một kỷ vật thời chiến đấu của anh. Từ đó anh luôn xứng đáng là một Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Các con tôi không những tự hào về điều đó mà còn rất tự hào vì có bố là thương binh! Suốt cả thời kỳ bao cấp tấm thẻ thương binh có giá trị vô cùng. Có nó người ta sẽ được ưu tiên về nhiều mặt như không phải xếp hàng để mua hàng, đi tàu xe không mất tiền, con em thương binh liệt sĩ đi học được hưởng nhiều quyền lợi. Các con tôi rất ngạc nhiên không hiểu vì sao nhà mình lại không có thẻ thương binh để được ưu tiên? Đó là vì bố các cháu không chịu đi làm thẻ thương binh. Anh nghĩ đơn giản rằng việc anh bị trúng đạn xảy ra đã quá lâu và vết thương cũng đã lành rồi, hơn nữa thủ tục làm thẻ thương binh cũng rất rắc rối như bất cứ một loại giấy tờ nào trong thời bao cấp!

Sau này khi nước nhà đã thống nhất anh gặp lại đồng chí Lê Chiêu (lúc này đã mang quân hàm thiếu tướng) trong một cuộc họp mặt truyền thống của thiếu sinh quân, anh hỏi đồng chí Lê Chiêu: “Hồi đó anh giới thiệu tôi vào Đảng, bây giờ anh có ân hận gì không?”. Đồng chí Lê Chiêu không nói gì, chỉ đến bắt tay anh thật chặt và cười vui sướng đầy vẻ tự hào.

Năm 1951, sau chiến dịch Biên Giới, trường Thiếu sinh quân Việt Nam dời sang Quế Lâm (Trung Quốc) để có điều kiện ăn học tốt hơn do Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc dành cho. Trường Thiếu sinh quân Việt Nam lúc này trở thành trường Thiếu nhi Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và được bổ sung một số lượng đông đảo các em thiếu nhi từ trong nước sang, rồi sau đó lại sáp nhập vào Khu học xá trung ương đóng tại Nam Ninh (Trung Quốc).

(Phần này viết theo nhật ký của Phạm Tuyên hồi đó và theo lời kể của bạn bè và học trò của anh).

N.A.T.

Tháng Mười Hai 1, 2016

Những chuyện mà nhạc sĩ Phạm Tuyên không nói…

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 12 năm 2016,

NHỮNG CHUYỆN MÀ NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN KHÔNG NÓI…

(Bài trên trang 24 báo Công An Nhân Dân số Tết Bính Thân)

Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sắp đến Tết Đinh Dậu rồi, chúng tôi mời các bạn đọc một bài báo Tết Bính Thân của nhà báo quen thuộc Xuân Ba, người nặng lòng với Nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình học giả Phạm Quỳnh từ nhiều năm nay.

—o0o—

Chất giọng khàn trầm nhưng âm sắc khá vang và đanh của nhạc sĩ (NS) Phạm Tuyên trong máy khiến tôi thở phào và có ngay cảm giác an lành. Thoạt ngó số máy của NS trên màn hình điện thoại đã hơi hoảng nhỡ có mệnh hệ gì? Cái tuổi 85 của NS, ai dám chắc điều gì… May quá, NS nhắn qua nhà có việc.nhac-si-pham-tuyen-va-vo

Quen biết gia đình NS Phạm Tuyên cũng đã lâu, có lẽ từ dạo tôi viết loạt bài về nhà văn hóa Phạm Quỳnh, thân phụ NS. Căn hộ trên tầng 3 một khu tập thể xây theo kiểu của những năm bảy mươi đã xập xệ dành cho gia đình NS Phạm Tuyên cũng khiêm tốn…

Đã mấy bận qua lại nơi này chứng kiến bản sao bức hoành bốn chữ Thổ nạp Á Âu nói lên chí hướng của tờ Nam Phong một thuở cụ Phạm Quỳnh làm chủ bút… Mà nhà văn Vũ Ngọc Phan từng lý giải rốt ráo 4 chữ ấy như thế này Ông (Phạm Quỳnh) chủ trương cái thuyết đọc sách Tây để thâu thái lấy tư tưởng tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết để chọn lọc lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình… Và kia, chiếc đàn piano đen bóng lặng lẽ góc nhà, bộ bàn ghế tầm tầm… Tất cả như chưa, như không có gì thay đổi kể từ khi người vợ của NS biệt với dương thế đã sáu năm…

Thì ra NS nhắn tôi qua là có quà. Tôi khẽ khàng đỡ lấy cuốn sách bìa trắng mà NXB Tri thức vừa mới in. Cuốn Chúng tôi đã sống như thế của vợ NS, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết. Thoáng thêm chút rờn rợn lẫn bâng khuâng, vóc dáng, hình hài thanh thoát cùng chất giọng hơi thoảng chút miền Trung phu nhân của NS ngày nào bây giờ chỉ còn lại cuốn di cảo này?

NS Phạm Tuyên chất giọng như trầm khàn hơn nhiều người khuyên mình viết hồi ký. Nhưng mình thấy cũng không cần thiết phải viết. Điều gì cần nói thì mình cũng đã nói trong hơn 700 ca khúc rồi. Nhiều bài viết xong rồi quên. Thế mà bà ấy nhớ. Nhớ rồi ghi chép lại rất tỉ mỉ… Mình đọc cảm động quá…

Một cuốn sách, một hồi ký vợ viết về chồng. Cũng là chuyện thường. Nhưng cầm cuốn sách về nhà đã choán của tôi quá nửa phần đêm.

Cái thực lẫn cái tình bện quện với dung lượng vừa phải. Một tuổi thơ không mấy phẳng lặng. Những năm học tập ở khu học xá Nam Ninh cô sinh viên Ánh Tuyết và anh giáo sinh âm nhạc Phạm Tuyên đã đến với nhau… Rồi cả hai cùng vượt thoát sức nặng cùng nỗi ám ảnh lý lịch để giữ được giữ bền tình yêu và gây dựng sự nghiệp…

Nếu chỉ bình bình có vậy thì chỉ là sự râu ria chi tiết thêm của một thứ lý lịch trích ngang với mô típ đầu tiên là trục trặc và sau là may mắn nhan nhản của các cặp vợ chồng và những thân phận thành danh. Nhưng càng đọc càng thấp thoáng lời bộc bạch của NS Phạm Tuyên đại ý, vợ ông đã âm thầm làm cuốn hồi ký gần 10 năm trời mà ông không biết! Việc chỉ phát lộ khi nó đã hoàn tất. Không có gì cũ hơn và mới hơn gia đình?

Cũng tương tự như vậy, còn gì cũ hơn… vợ? Thế nhưng NS Phạm Tuyên thú nhận rằng ông đã rất ngạc nhiên khi đọc vợ. Ngạc nhiên không phải những chi tiết những việc, những ca khúc ông vô tình quên? Càng đọc càng vỡ vạc ra cái điều ngạc nhiên của NS, có vẻ như bà đã đọc được ông đã nhìn thấy ông ở nhiều chiều kích? Bà như đã vượt thoát được những sự kể lể và thứ mặc định như thiên kiến rằng vợ bao giờ chả nói tốt cho chồng? Và nữa, như ngạn ngữ nước ngoài chả có ai vĩ đại trong con mắt người hầu phòng, huống hồ gần gũi sát sạt bên mình, cùng mình là vợ!

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết ít hơn NS Phạm Tuyên 6 tuổi là chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Giáo dục mầm non Đại học SP Hà Nội, nguyên Chủ tịch Hội đồng giáo dục mầm non, người từng đào tạo hướng dẫn nhiều cử nhân thạc sĩ tiến sĩ về tâm lý học và giáo dục mầm non, là tác giả và đồng tác giả của 34 cuốn sách về tâm lý học, giáo dục mầm non, giáo dục cái đẹp trong gia đình của các nhà xuất bản Giáo dục, Phụ Nữ, Sự thật…

Phải vậy không mà đời sống sáng tác cùng những ca khúc của NS Phạm Tuyên bà dẫn ra trong cuốn hồi ký đã mang một sắc thái hiệu ứng bất ngờ? Không phải là nhạc sĩ và chuyên nghiên cứu âm nhạc, nhưng nhà sư phạm Nguyễn Ánh Tuyết, có lẽ bằng cảm quan của một người mẹ, người vợ, hơn thế là một phụ nữ đã rất tinh tường khi giải mã một NS Phạm Tuyên tài năng, tinh tế…

Nhờ có bà Ánh Tuyết mà chúng ta biết được NS Phạm Tuyên với vẻ ngoài lặng lẽ và dịu dàng, nho nhã là thế nhưng cương cường tiết tháo.

Chuyện dạo nọ người ta làm một tổng tập đại thành hoành tráng tập hợp những ca khúc quân hành có tên Những khúc quân hành vượt thời gian. Người ta không thể không nhắm đến bài Chiến đấu vì độc lập tự do của NS Phạm Tuyên viết ngay ngày 17-2 Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới gọi dân ta vào cuộc chiến đấu mới. Quân xâm lược bành trướng dã man đã giày xéo mảnh đất tiền phương lửa đã cháy và máu đã đổ… Ca khúc ấy tưởng như chắc khừ và tất yếu phải vào tập đại thành đồ sộ nọ!

Nhưng những người có trách nhiệm đã đến gặp NS Phạm Tuyên. Không phải một lần mà tới năm, bảy bận. Lần nào cũng với một nội dung thưa NS ông có thể thay cụm từ quân xâm lược bành trướng dã man bằng ca từ nào khác được không ạ. Nếu bài này không vào được tuyển thì tiếc lắm ạ!

Nhưng NS,  những tưởng nụ cười lặng lẽ thường trực ấy sẽ dễ dãi này khác nhưng đã đột ngột tắt cùng với động thái kiên quyết lắc đầu.

Tập tuyển đồ sộ ấy đã không có bài Chiến đấu vì độc lập tự do!

Dạo cả nước sôi lên vì phong trào thi quốc ca mới. Bao nhiêu là vận động khuyến khích này khác, trực tiếp có, gián tiếp có. Nhưng NS Phạm Tuyên vẫn lặng lẽ… Nhiều người muốn ông giúp đỡ để viết quốc ca. Người thì gửi thơ đến nhờ ông phổ nhạc người thì mang bản quốc ca mới viết để ông góp ý. Nhưng ông khéo léo chối từ rằng đây là việc làm quá sức mình.

Một trưa bà Tuyết về nhà thấy chồng đương có khách. Khách là một lão nông rinh theo bó mía và bịch sắn nói là để bồi dưỡng cho NS để NS hướng dẫn ông viết quốc ca dự thi. Ông chồng bà đã ôn tồn mà rằng thưa cụ viết quốc ca là việc quá sức với tôi và việc ấy cũng quá sức với cụ. Mãi rồi cụ già kia cũng nghe ra.

Rồi Trung tâm tiểu sử Quốc tế IBC (Internationnal Biographical Centre) của Anh và Viện Nghiên cứu tiểu sử của Mỹ ABI (Americal Biographical Institus) đã gửi đến NS Phạm Tuyên hơn 100 (xin nhắc lại là hơn một trăm) lá thư cái thì phong tặng Giải thưởng Hòa bình quốc tế, thứ thì phong tặng Giải thưởng vì sự nghiệp suốt đời hoặc phong là một trong 500 người nổi tiếng nhất thế giới!

Hoặc mời NS giữ chức vụ lãnh đạo của những tổ chức quốc tế hoặc khu vực. Lời mời mới nhất của IBC (16-8-2008) sẽ trao tặng NS mề đay Bắc đẩu bội tinh và mời đi dự hội thảo quốc tế vv… Không phải những tổ chức danh tiếng ấy là rởm này khác nhưng với bản tính khiêm nhường, NS đã lặng lẽ chối từ.

Nhưng NS Phạm Tuyên lại có lúc dễ tính đến không ngờ. Ấy là năm 1974, gia đình NS Phạm Tuyên chuyển về khu tập thể Khương Thượng, Đống Đa. Cô con gái NS đã lên lớp mẫu giáo lớn. Bà Tuyết tìm được Trường Mẫu giáo Mầm non Đống Đa gần nhà rất tiện để gửi con. Cô giáo Hiệu trưởng tên là Bắc cười, sẽ nhận cháu vào học với điều kiện bố cháu là NS Phạm Tuyên phải không ạ. Thế thì bố cháu phải viết cho trường một bài hát! NS Phạm Tuyên chấp thuận.

Và rồi ca từ Trường của cháu đây là trường mầm non như chất giọng reo vui của con trẻ làm câu kết cho ca khúc nổi tiếng. Để rồi hàng triệu, hàng triệu cô cùng trò cả nước hát câu ấy mãi tới hôm nay! Và có lẽ mai sau nữa?

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có lần đã nói về sức làm việc của NS Phạm Tuyên qua hình ảnh cái lưng rất thẳng của NS… Trần Đăng Khoa nói đó là cái lưng của người vượt núi.

Núi, tôi hiểu, có thể là những dấu mốc những ca khúc nổi tiếng mà ông phải vượt qua để không lặp lại cái cũ cái mòn, sáo? Núi có thể là một lần NS bộc bạch, việc chiêu tuyết cho nhà văn hóa Phạm Quỳnh hàng bao năm nay vẫn để ngỏ đấy mà sức ông, mà vị thế của một mình NS Phạm Tuyên khó làm nổi đòi hỏi sự xúm tay của văn hóa cùng lịch sử nước nhà?

Như là hậu thế phải có trách nhiệm thực thi, phải giải mã câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 khi nghe tin nhà văn hóa Phạm Quỳnh bị sát hại Cụ Phạm là người của lịch sử sau này lịch sử sẽ phải đánh giá lại. Còn bây giờ gia đình cứ yên tâm gắn bó với đất nước với cách mạng không phải lo lắng gì cả.

Có điều bâng khuâng, sáu năm nay, kể từ lúc bà vợ mất, NS Phạm Tuyên đang phải vượt núi một mình? Nhưng có lẽ không nhiều lắm những tài danh đất Việt có được người vợ đằm thắm  tinh tường cùng tinh tế về đức ông chồng lại hào phóng sẻ chia những tinh tế ấy cùng thiên hạ? Những sẻ chia ấy không còn là chuyện riêng mà là trữ lượng cho NS Phạm Tuyên tiếp thêm năng lượng để vượt thoát cái cõi vô thường này?

 

HỒI KÝ VỀ GIA ĐÌNH NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 12 năm 2016.

HỒI KÝ VỀ GIA ĐÌNH NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

(Bài tren trang 9 báo Nông Nghiệp Việt Nam số 220 ngày 3/11/2016)

“Chúng tôi đã sống như thế” là cuốn hồi ký vừa mạch lạc của khoa học, vừa tinh tế của nghệ thuật, lại lấp lánh ân tình của cuộc đời. Đây là hồi ký được PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, người vợ của nhạc sĩ Phạm Tuyên viết những năm cuối đời. Sách do NXB Tổng hợp TP. HCM in và phát hành.

hoi-ky-ve-gia-dinh-nhac-si-pham-tuyenCon gái gia đình cách mạng nòi

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết sinh trong một gia đình cách mạng nòi ở làng Quảng Xá, cạnh con sông Kiến Giang, cách tỉnh lỵ Đồng Hới (Quảng Bình) 15 cây số. Cha là Nguyễn Trung Thầm, một chiến sĩ cách mạng từng nhiều năm lâm chốn lao tù từ Đồng Hới tới Chí Hòa. Mẹ là Trần Thị Hồng Diệm, một phụ nữ tân tiến đến với cách mạng. Bà chia sẻ trong hồi ký, suốt bao nhiêu năm trời chỉ ăn cơm tập thể, khiến bà rất vụng về trong cuộc sống. Con người bà bao giờ cũng có một mâu thuẫn: một mặt rất tự hào là con của một gia đình cách mạng được đoàn thể, nhân dân nuôi, nhưng mặt khác lại thấy tủi thân vì thiếu thốn tình cảm gia đình. “Thời thơ ấu tôi đúng là một đứa trẻ lang thang, “không gia đình”. Những lúc vui đùa với bạn bè thì thôi, chứ lúc một mình tôi thường cảm thấy tủi thân vì ít khi được gặp những người thân yêu ruột thịt, được sống trong vòng tay của mẹ, nên mong ước đến một ngày nào đó mình sẽ có một người mẹ bên cạnh, nghèo khổ cũng được miễn là được thương yêu”. Người con gái của gia đình cách mạng ấy đã vươn lên trong cuộc sống và nghiên cứu khoa học. Tốt nghiệp khoa Toán trường ĐHSP Hà Nội, rồi học thêm một khóa về Tâm lý học và Giáo dục học, làm giảng viên Tâm lý giáo dục. Từ đây, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết nhiều năm liền làm công tác giảng dạy ở Trường ĐHSP Hà Nội. Bà trở thành chuyên gia đầu ngành về Tâm lý học giáo dục và Giáo dục mầm non.

Điểm tựa cuộc đời

Nhà khoa học ấy còn là người vợ hiền lặng lẽ phía sau nhạc sĩ Phạm Tuyên. Hồi ký không chỉ ghi lại con đường khoa học của bà mà còn ghi lại những chặng đường nghệ thuật của ông. Hoàn cảnh ra đời từng ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên, có lần ông chia sẻ với cá nhân người viết bài này rằng, ông cũng không nhớ, thì đều đã được bà ghi lại.

Đó là những ca khúc cho thiếu nhi như “Tiến lên đoàn viên” (1954), “Chiếc đèn ông sao” (1956), “Trường cháu là trường mầm non” (1973), “Cô và mẹ” (1975), “Chú voi con ở bản Đôn” (1983), “Cánh én tuổi thơ” (1987)… Những ca khúc cách mạng nổi tiếng như “Chiếc gậy Trường Sơn” (1967), “Như có Bác trong ngày đại thắng” (1975), và cả những khúc tình ca ít tai biết đến như “Gửi nắng cho em” (1976 – phổ thơ Bùi Văn Dung), “Bài hát xưa và Hồ Tây bình yên” (1991 – phổ thơ Nghiêm Thị Hằng)… Đúng như lời bà viết: ở đâu cũng có bước chân của anh theo đó là những bài hát ân tình để lại.

Qua hồi ký “Chúng tôi đã sống như thế”, bạn đọc biết thêm vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên đã phải vất vả vượt qua chủ nghĩa lý lịch thành phần như thế nào. Thêm biết để thêm hiểu. Thêm hiểu để thêm yêu. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con trai của học giả Phạm Quỳnh, người đã bị xử bắn sau Cách mạng tháng Tám. Chính vì thế “không đợt tăng lương nào lại không dính líu đến lý lịch của anh, cũng không có lần đề bạt nào mà gốc rễ gia đình anh lại không bị lôi ra. Cả những lần khen thưởng tuyên dương anh cũng gặp sự hẹp hòi, đố kỵ rất khó chịu và lại chịu thiệt thòi”…

Tất cả những truân chuyên đó ông bà đều vượt qua. Họ đã sống những năm tháng như thế. Để rồi những năm cuối đời nhạc sĩ Phạm Tuyên không viết hồi ký thì bà thay ông viết.

“Nếu tôi được coi là điểm tựa của nhạc sĩ Phạm Tuyên, thì chính anh ấy cũng là điểm tựa của tôi. Chúng tôi dựa vào nhau để sống và làm việc”.

Kiều Khải

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết (2/10/1936 -11/5/2009) nhiều năm liền làm công tác giảng dạy ở Trường ĐHSP Hà Nội. Chủ nhiệm đầu tiên Khoa Giáo dục mầm non – Trường ĐHSP Hà Nội (1985); Chủ tịch Hội đồng Giáo dục mầm non – Bộ GD-ĐT… Là tác giả và đồng tác giả 34 cuốn sách về Tâm lý giáo dục và Giáo dục mầm non.

MẤY LỜI MỞ SÁCH

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:06 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 12 năm 2016.

MẤY LỜI MỞ SÁCH

Trần Đăng Khoa

Ba Tuyet va Tran Dang KhoaQuý vị và các bạn đang có trên tay một cuốn sách đặc biệt. Cuốn sách của nhà giáo Nguyễn Ánh Tuyết: Chúng tôi đã sống như thế.

Đối với đông đảo bạn đọc, đặc biệt là những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, cái tên Nguyễn Ánh Tuyết không còn xa lạ. Bà là một nhà khoa học, một nhà giáo mẫu mực, tác giả của trên 30 đầu sách, với nhiều thể loại: sách Nghiên cứu, sách Phổ biến khoa học, sách Giáo trình Đại học. Trong đó có nhiều cuốn giá trị, đặc biệt là công trình nghiên cứu dày 600 trang: Giáo dục mầm non Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Cuốn sách đã tổng kết cả 30 năm lao động khoa học của bà, đặc biệt là những cống hiến của bà cho sự nghiệp giáo dục của đất nước. Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc đánh giá rất cao công trình này của bà: “Đúng là ở đây đã tìm thấy cả những vấn đề lý luận và thực tiễn của ngành Giáo dục Mầm non nước ta cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI… thật là một báu vật”.

Nguyễn Ánh Tuyết sinh ra trong một gia đình có truyền thống Cách mạng ở Quảng Bình. Bà là con liệt sĩ. Bố hy sinh khi bà mới có 9 tuổi. Cả bố và mẹ bà đều là cán bộ tiền khởi nghĩa. Bà còn là phu nhân của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con dâu của học giả Phạm Quỳnh. Đó là những tên tuổi lớn. Rất lớn.

Cuốn sách này là những trang ký ức của bà về những năm tháng vất vả gian nan, những ngọt bùi cay đắng mà bà đã trải. Hay nhất trong cuốn sách này vẫn là những mảng bà viết về học giả Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Cha chồng của bà, học giả Phạm Quỳnh là một tên tuổi lớn, có số phận vô cùng nghiệt ngã. Thời gian càng lùi xa, thì tên tuổi của cụ càng ngời sáng. Bác Hồ bảo: “Cụ Phạm là người của lịch sử, rồi sẽ được lịch sử đánh giá lại”. Nhà văn Nguyên Ngọc gọi cụ là “một trong những ông khổng lồ của thế kỷ XX”. Những năm gần đây, nhờ công cuộc đổi mới của Đảng, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản. Trong đó có không ít cuốn sách của cụ viết bằng tiếng Pháp cũng được chọn dịch. Ta có thêm tư liệu để hiểu cụ một cách thấu đáo mới hay cụ là một người yêu nước luôn đấu tranh cho độc lập dân tộc. Chính cụ đã nói với nhà cầm quyền Pháp: “Người An Nam chúng tôi chỉ thờ một vua chứ không có hai vua. Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc của mình, bởi người An Nam đã từng có một Tổ quốc”. Ngay từ năm 1924, trong dịp kỷ niệm Nguyễn Du, ngày 10 tháng 8, cụ cũng đã nói một câu bất hủ: “Truyện Kiều còn – Tiếng ta còn – Tiếng ta còn – Nước ta còn”. Ngay trong bản phúc trình “tối mật” đề ngày 1 tháng 8 năm 1945 của Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux, và Tư lệnh, Đại tướng Mordant: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ, tiến tới hình thành một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài tuy Phạm Quỳnh nhã nhặn, hòa hoãn, nhưng ông ta là phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù chúng ta đã dành cho ông ta một chức vị tối danh dự đã có”.

Một trong những đóng góp rất lớn của Phạm Quỳnh là mở mang dân trí, gây dựng nền quốc văn, quốc học và nền văn hóa mới theo phương châm “Thổ nạp Âu Á”. Nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng đã dành những lời trang trọng nhất ca ngợi cụ: “Tạp chí Nam phong được rực rỡ cũng vì có người chủ trương là một nhà văn học vấn uyên bác, lại có biệt tài, có lịch duyệt… Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong. Nó là cuốn Bách khoa toàn thư bằng quốc ngữ”.

Qua cuốn sách của Nguyễn Ánh Tuyết, ta cũng hiểu thêm cụ phần nào. Đặc biệt là những chuyện trong gia đình. Có thể xem đây là một mảng tư liệu khá mới mẻ.

Phần viết về nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng vậy. Nghĩa là rất thú vị. Nguyễn Ánh Tuyết cũng đưa ra những lý giải, giúp ta có tư liệu để hiểu thêm các ca khúc nổi tiếng của ông. Cuộc đời Phạm Tuyên là một pho tiểu thuyết bề bộn với rất nhiều cung bậc. Có thể tóm tắt bằng hai câu thơ xuất thần của Phạm Tiến Duật, một trong những thính giả rất yêu âm nhạc của ông:

Cây cúc đăng quên lòng mình đang đắng

Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay…

Cái khả năng không phải ai cũng có được của Phạm Tuyên là biến nỗi đắng đót trong cõi lòng mình thành sắc hoa vàng cho người đời chiêm ngưỡng. Ngắm sắc vàng lộng lẫy ấy, chẳng ai còn thấy vị đắng đâu nữa, lại ngỡ như không hề có nỗi cay đắng trong cõi đời này. Bởi thế, khi bàn về những chặng đường âm nhạc của Phạm Tuyên, một nhà báo trẻ cứ dồn đuổi ông rằng: Tại sao nhạc của ông vui thế, lúc nào cũng thấy phơi phới. Hình như trong ông không có cái “tôi” riêng. Đó là một cái nhìn nông cạn, có phần bồng bột và xốc nổi.

Trong thưởng thức âm nhạc, ta thường gặp trường hợp thế này: Có ca khúc nghe lần đầu thấy hay. Lần sau nghe lại, không còn thấy hay nữa. Ngược lại, có ca khúc thoạt rất khó nghe, thế rồi nghe mãi lại thấy thú vị. Nhưng cũng có những ca khúc thoạt nghe đã thấy thích rồi, nhiều lần sau nghe lại cũng không thấy nhạt.

Không ít tác phẩm của Phạm Tuyên thuộc trường hợp thứ ba này.

Có thể nói, Phạm Tuyên là một nhạc sĩ vạm vỡ. Ông có khả năng tung hoành trên nhiều đề tài, nhiều thể loại: ca khúc chính trị, ca khúc trữ tình, ca khúc thiếu nhi, rồi ca khúc về các ngành nghề. Ở mảng đề tài nào, Phạm Tuyên cũng có những bài hát “găm” được vào trí nhớ công chúng. Đặc biệt là những ca khúc chính trị. Đây là một đề tài rất khó viết, và nếu có viết được thì cũng rất khó hay. Vậy mà Phạm Tuyên có cả một loạt bài. Trong đó có không ít bài rất ấn tượng. Phạm Tuyên có khả năng biến những sự kiện chính trị thành tình cảm, xúc cảm với những giai điệu đẹp. Ở lĩnh vực này, có thể nói, Phạm Tuyên như một người chép sử bằng âm thanh. Trước mọi biến động của lịch sử đất nước, ta đều tìm thấy trong âm nhạc của Phạm Tuyên. Ông viết khỏe, viết nhanh mà không hề sống sít. Có thể dõi theo từng ca khúc của Phạm Tuyên mà tìm thấy từng bước đi của Cách mạng. Ngay buổi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Sài Gòn vừa được giải phóng, trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang lên ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng. Thật hào sảng, khi Phạm Tuyên đã thay mặt cho toàn thể nhân dân tuyên bố cho thế giới biết:

                        Ba mươi năm đấu tranh dành trọn vẹn non sông

                        Ba mươi năm Dân chủ Cộng hòa, kháng chiến đã thành công

Bài hát như một tiếng reo vui của tất cả mọi tầng lớp người ở mọi lứa tuổi. Giai điệu và lời ca đều rất giản dị. Hầu hết những ca khúc thành công của Phạm Tuyên đều như thế. Nghĩa là rất giản dị. Giản dị đến mức, nhiều người nhầm tưởng là nhạc bình dân, nghe có vẻ như là nôm na, cảm giác như ai cũng có thể viết được và rất dễ viết. Nhưng thực tình, nhạc Phạm Tuyên chỉ dễ viết khi ông đã viết ra rồi.

Phạm Tuyên đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2011 và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012 về Âm nhạc.

Những trang ghi chép của Nguyễn Ánh Tuyết về Phạm Tuyên rất sinh động. Qua ngòi bút của bà, ta hiểu được tấm lòng ông. Số phận ông. Ta còn biết hoàn cảnh ra đời từng bài hát cụ thể của ông. Chính Phạm Tuyên cũng ngạc nhiên. Có lần ông bảo tôi: “Cũng có người khuyên mình viết hồi ký. Nhưng mình thấy cũng không cần thiết phải viết. Điều gì cần nói thì mình cũng đã nói trong hơn 700 ca khúc rồi. Nhiều bài mình viết xong rồi quên. Thế mà bà ấy nhớ. Nhớ rồi ghi chép lại rất tỉ mỉ! Mình đọc cảm động quá”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên không viết hồi ký. Nhưng người vợ dịu hiền của ông đã lặng lẽ làm thay công việc đó cho ông. Bạn đọc yêu mến Phạm Tuyên, yêu mến Phạm Quỳnh có thể tìm được nhiều điều bổ ích và lý thú khi đọc cuốn sách này.

Và tôi tin, rất tin cuốn sách này sẽ làm bạn đọc yêu thích.

T.Đ.K.

 

Tháng Mười Một 15, 2016

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Lịch sử công bằng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 11 năm 2016.

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN:

LỊCH SỬ CÔNG BẰNG

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

(Bài đăng trang 4-5 trên báo Đại Đoàn Kết Tinh Hoa Việt số 15 từ ngày 10-25/11/2015)

Trở về từ bệnh viện, ông đã hẹn tôi ngay. Rồi gọi điện thêm một hai lần nữa. Mà tôi thì một phần vì quá bận, phần nữa định bụng để lúc nào nghĩ ra được ý gì hay thì đến thỉnh giáo ông luôn thể nên cứ lần lữa cả tháng sau mới tới được. Và khi tới nhà ông, nghe ông nói chuyện, tôi mới hiểu vì sao ông muốn gặp tôi đến thế… Hình như ông tìm thấy ở tôi có sự đồng cảm nào đó khá sâu sắc về những cảm xúc của ông về thành Huế, về thân phụ của ông, học giả Phạm Quỳnh

Trung tuần tháng 8 vừa rồi, một số văn nhân trí thức ở Huế đã tự đứng ra lặng lẽ làm đám giỗ cho học giả Phạm pham-tuyen-cam-sachQuỳnh. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, với tư cách con trai, cũng đã được nhắn tin vào dự. Và trở về Hà Nội, ông muốn được chia sẻ cùng tôi những cảm xúc và suy tư… Thế nhưng, cơn đổ bệnh đột ngột đã buộc ông phải vào viện. Thế là phải tới cuối tháng 10 này, tôi mới tới gặp ông được. Ở tuổi trên dưới 85 rồi, trông ông vẫn còn rất minh mẫn và yêu đời, mặc dù đã hơn 5 năm nay, kể từ khi vợ ông, PGS-TS Nguyễn Ánh Tuyết, ra đi vào cõi vĩnh hằng, ông chắc cũng đã phải trải qua rất nhiều đau đớn suy tư và sức khỏe có lẽ không còn được vững chãi như trước. Cũng chính vì yếu tố sức khỏe của ông nên tôi đã không dám để ông ngồi lâu dù ông và tôi đều rất muốn trò chuyện nhiều điều. May mắn là trước đây tôi đã từng được trò chuyện không chỉ một lần nên có không ít những tư liệu để xây dựng nên bài viết này.

  • Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Anh em ở trong Huế, những người kính trọng bố tôi, đã đứng ra làm đám giỗ. Họ gọi điện thoại ra mời tôi, nhờ mời cả những người thân khác của gia tộc ở Hà Nội vào cùng dự. Nói thực, mình đã xúc động lắm… Anh em trong đó cũng đã tặng mình tập sách mới xuất bản Phạm Quỳnh, Những góc nhìn từ Huế
  • Hồng Thanh Quang: Thưa nhạc sĩ, khi qua đời, học giả Phạm Quỳnh bao nhiêu tuổi ạ?
  • Ông cụ nhà tôi sinh năm 1892. Lúc mất, ông cụ 53 tuổi…
  • Tức là bây giờ nhạc sĩ đã hơn tuổi lúc đó của cha mình tới hơn ba mươi năm. Bây giờ nếu nhớ lại thì ông nhớ điều gì nhất ở cha mình?
  • Tôi nhớ đến sự nghiêm nghị của ông cụ. Nhưng cha tôi không bao giờ bắt ai, kể cả con cái, cứ nhất nhất phải làm theo ý của ông cụ cả. Ông cụ rất tôn trọng ý muốn của người khác. Thành ra trong gia đình tôi, sau này, ai thích nghề gì thì đi theo nghề ấy… Ông Phạm Khuê đấy, thì làm bác sĩ, sau này làm Viện trưởng Viện Lão khoa… Còn tôi thì viết nhạc..
  • Thế còn về tuổi thơ ở Huế, ông nhớ gì?
  • Tất nhiên bây giờ nhắc lại tuổi thơ thì nó cũng rất là hồn nhiên thôi. Về gia đình tôi, sau này một số nhà văn, một số nhà sử học cứ nói lung tung rằng ở đấy họ thấy vàng bạc, thấy đủ các thứ quý giá. Tôi chả nhớ gì về những thứ đó cả nhưng có một cái mà tôi đoán chắc rằng, tất cả các quan lại trong triều đình Huế không thể nào có được cái tủ sách lớn như nhà tôi đã có. Tuổi thơ tôi, những khi nào được nghỉ, không phải học ở trường thì bao giờ tôi cũng trốn vào trong buồng sách để đọc. Thói quen đọc sách về sau đã theo tôi suốt cả đời. Thói quen ấy được hình thành trong buồng sách của cha tôi… Sau này ra Hà Nội để ôn thi tú tài, mình cũng toàn tới thư viện để đọc sách, để tự học…
  • Đó là vào năm nào, thưa ông?
  • Năm 1945-1946.
  • Thế ra Hà Nội, trong hoàn cảnh của gia đình ông khi ấy, ông đã sống bằng gì?
  • Hồi ấy tôi có bà chị…
  • Chị cả?
  • Chị cả. Bà ấy là Phạm Thị Giá, vợ ông Tôn Thất Bình là Hiệu trưởng Trường Thăng Long trước đây. Lúc ấy chị tôi có nhà ở phố Hàng Da… Trong khi cả Hà Nội có bao chuyện sôi nổi, nhất là sau cách mạng, nhưng mình thì cứ cắm cúi đi học ở thư viện. Đến nỗi về sau, năm 17 tuổi thì không được học ở trường nào cả vì lúc ấy kháng chiến toàn quốc nên mình phải theo gia đình đi tản cư ở Nam Định. Nghe nói trong Ninh Bình có tổ chức thi chuyên khoa, tức là thi tú tài, thì mình xin phép khăn gói tới Ninh Bình để thi thử. Rất ngạc nhiên là về sau có mấy anh bác sĩ bảo, cả trăm người đăng ký thi, nhưng chỉ đỗ có 3 người thôi, trong đấy có Phạm Tuyên. Nội dung mà Phạm Tuyên làm thì rất hồn nhiên. Đáng lẽ thi ngoại ngữ dùng tiếng Pháp thì lại thi ngoại ngữ tiếng Anh, còn văn làm về Truyện Kiều. Toàn những cái tự nhiên, tự đến chứ không có sự mách bảo gì. Đúng khi biết đỗ rồi thì dứt khoát xin phép gia đình, bảo xin phép lên…
  • Chiến khu?
  • Lên chiến khu Việt Bắc. Tại vì trên ấy có hai loại trường, trong Kháng chiến chỉ có mỗi Trường Y và Trường Pháp lý. Luật sư Đỗ Xuân Sảng làm Hiệu trưởng Trường Pháp lý. Mình không có khiếu làm bác sĩ, nhưng mà…
  • Làm thầy cãi thì được? (cười)Sach Hoa Duong Tuy Bu
  • (Cũng cười) Học pháp lý nó có cái hay là, đến đấy học, người ta còn dạy thêm ngoại ngữ, tức là tiếng Trung Quốc. Thế là mình lên học pháp lý. Học được hai năm thì… Hồi đi học pháp lý 17 tuổi được sự giác ngộ về Đảng với các thứ sách đó các ông Lê Đạt, rồi Đặng Đình Hưng mang cho.
  • Ông cũng cùng lứa với nhà thơ Lê Đạt và nhạc sĩ Đặng Đinh Hưng?
  • Thì cùng học với nhau. Các ông ấy mang cho mình sách viết về chủ nghĩa Cộng sản in bằng tiếng Pháp. Cho nên mấy bài về Đảng mà sau này mình viết hoàn toàn là từ giác ngộ do đọc tiếng Pháp.
  • Đọc tiếng Pháp cả thơ Aragon: “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”…
  • Tôi cũng xin được nói thế này. Có một số anh em tới phỏng vấn, bảo, tại sao lại viết bài về Đảng như thế? Tôi mới nói rằng, ở đây không chỉ là vấn đề giác ngộ giai cấp đâu, mà là đất nước con người…
  • Đảng và đất nước?
  • Đảng và đất nước! Thơ Aragon có câu giật mình: Đảng cho tôi màu xanh nước non nhà. Hay câu của một triết gia:Chủ nghĩa Cộng sản là
  • Mùa xuân của nhân loại
  • Mùa xuân của nhân loại! Đó là những thứ mà tôi bị ảnh hưởng, hoàn toàn bị ảnh hưởng. Cho nên, có lần, có người hỏi tôi, tại sao anh viết như thế trong lúc có phải đảng viên nào cũng xứng danh của mình đâu thì tôi đã nghiêm mặt lại, nhưng lúc ấy tôi viết đúng như thế vì lúc ấy chỗ nào gian khổ nhất…
  • Là chỗ đấy có đảng viên…
  • Là chỗ đấy có đảng viên… Đó là những lời nhắn nhủ của một thời. Tôi cũng xin kể, vì sao tôi lại viết bài Màu cờ tôi yêu, phổ thơ của Diệp Minh Tuyền. Đó là vào những năm 80. Khi hai anh em ngồi với nhau, Diệp Minh Tuyền bảo, bây giờ viết về Đảng khó lắm anh ơi. Mình mới nói, đúng là khó nhưng bây giờ không thể không viết được, với bối cảnh hiện nay như thế này. Rồi sau lên ngồi trên máy bay, Diệp Minh Tuyền ghé tai mình bảo, em có bài thơ về Đảng đây. Mình đọc thấy bài này được . Trong đấy có những câu về sau Thanh Hoa và cả Lê Dung hát, tôi cứ nhấn lại cái ý của tác giả: Suốt đời lòng dặn giữ lời/ Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau… Trong giác ngộ của mình về Đảng là có tình yêu đối với quê hương, dù thế nào thì mình cũng phải gắn bó với quê hương…
  • Vâng, tình yêu đất nước, tình yêu quê hương, tình yêu gia đình… Tất cả đều rất quan trọng đối với tâm hồn chúng ta, đối với sáng tạo nghệ thuật…
  • Đúng thế…
  • Thưa nhạc sĩ, tôi muốn hỏi tiếp một điều, chúng ta đều hiểu rằng, trong đời thì đã làm con, ai cũng kính yêu cha mình, dù cha mình là ai đi chăng nữa. Học giả Phạm Quỳnh đã để lại trong ông những ký ức gì?
  • Cha tôi đối với gia đình thì vì ông ấy sợ liên lụy nên hoạt động rất đơn độc. Sau này tôi có được đọc những ghi chép của cha tôi, viết cho bản thân mình, thì tôi mới hiểu thêm về cha tôi. Thực sự, khi cha tôi còn sống, tôi còn bé nên tôi cũng không hiểu gì nhiều về cha tôi, có lẽ các bà chị của tôi biết rõ hơn…
  • Ông là con út trong nhà phải không?
  • Không, còn một cậu em nữa.
  • Em trai của ông cũng ở bên Pháp?
  • Bên Mỹ. Cậu này tốt nghiệp Khoa Văn, thời trước cũng bị ép đi lính. Sau này gặp lại, cậu ấy nói buồn cười lắm, bảo, “cây gậy Trường Sơn” của anh văng đến đâu là em phải chạy rời đi khỏi đấy… (cười)
  • (Cũng cười)…
  • Nhưng cậu ấy cũng rất gắn bó với gia đình nên sang bên kia hoàn toàn là chỉ nghĩ đến danh dự của gia đình thôi…
  • Tôi vẫn muốn hỏi, bây giờ thực ra ông nhớ gì về học giả Phạm Quỳnh trong tư cách một người cha? Tất nhiên, hồi đấy ông còn nhỏ, nhưng chắc ông cũng nhớ cách cha ông dạy dỗ con cái chứ? Chức Thượng thư trong triều đình Huế là rất oách rồi, nhưng cái oách ấy liệu có ảnh hưởng tới việc giáo dục con cái trong gia đình không và ảnh hưởng như thế nào?
  • Trong ký ức của mình, đồng thời cả những bà chị còn nhớ, cha tôi luôn giáo dục con cái trong gia đình phải sống cho nó trong sáng. Và cha tôi hay dặn dò con cái, chủ yếu là giữ đạo đức cho tốt. Nhưng cái quan trọng hơn là, cha tôi rất tôn trọng ý của các con, rất là hay ở chỗ đó; cho nên về sau người ta mới bảo, nhà này có mấy ông con giai thì mỗi ông một kiểu.
  • Tôi xin lỗi cắt ngang, gia đình học giả Phạm Quỳnh được mấy người con trai, mấy người con gái?
  • 5 con trai, 8 con gái.
  • Tức là 13 người?
  • 13 người. Ngày xưa tôi sáng tác bài “5 con voi và 8 nàng tiên”, là nói về các anh chị em tôi. Anh cả tôi, nay đã mất rồi, thì lãng mạn, thích vọng cổ, Sau ông ấy vào miền Nam lấy một bà người Huế, con thương gia. Có người bảo, sao con cụ Thượng thư lại lấy con một nhà buôn? Nhưng anh ấy cứ thích thế… Ông anh thứ hai thì học luật sau làm ở Liên hợp quốc nhưng cũng đã mất rồi, ông ấy lại thích nhạc cổ điển. Ông thứ ba là ông Phạm Khuê.
  • Tôi cũng có được hân hạnh biết Giáo sư Phạm Khuê và cả con giai của GS nữa, thỉnh thoảng cũng được ngồi uống rượu với anh ấy…
  • Ông Phạm Khuê thì thích nhiều thứ, vừa thích nhạc cổ điển, vừa thích nhạc mới.
  • Còn ông thứ tư ?
  • Ông thứ tư là ông Tuyên đây (cười)
  • (Cũng cười): Là nhạc sĩ rồi! Ông thứ năm là ông từng ở miền Nam và nay ở Mỹ mà ông vừa nhắc tới.
  • Đấy!
  • Đó là ông mà “gậy Trường Sơn” văng đến đâu thì chạy khỏi đấy (cười)
  • (Cười): Bây giờ anh chị em của tôi cũng mất gần hết rồi, cả chị Phạm Thị Hoàn nữa, cũng đã mất…
  • Tôi cũng có được biết gia đình bác Phạm Thị Hoàn và chồng của bác là bác Lương Ngọc Châu, cháu nội cụ Lương Văn Can. Bác Hoàn là ca sĩ, bác Châu là nhạc sĩ, cùng say mê sáng tác lắm, có bài “Anh cần em”khá nổi tiếng. Tôi từng đến nhà hai bác ấy ở Paris từ hơn chục năm trước. Một gia đình nghệ sĩ rất chân tình và hiếu khách…
  • Cả đại gia đình nhà tôi đều yêu nghệ thuật lắm. Và không có cái kiểu phản ứng như là chống đối với đất nước cả…
  • Người ta nói chuyện này nhưng tôi muốn được nghe từ chính ông nói. Có phải là Bác Hồ đã có lần gặp ông và có dặn dò một số thứ? Đó là những thứ gì vậy?
  • Tôi không được trực tiếp gặp Cụ Hồ nhưng nghe qua lời ông Huy Cận…
  • Ông Huy Cận nói thế nào với ông?
  • Nói là, cụ Phạm là người của lịch sử, hãy để cho lịch sử phán xét, các con cháu cứ yên tâm mà đi theo cách mạng. Lời dặn ấy về sau trở thành một lời phổ biến trong gia đình tôi. Hôm có mấy anh em phỏng vấn tôi, tôi bảo, mỗi người có một cách ứng xử, tôi không giống như một vài nhân vật khác, cũng gia đình quan lại nhưng được đối xử tốt như thế mà ra nước ngoài lại đổi giọng chửi đổng, chửi chả được cái gì cả.
  • Vâng, chả để làm gì cả!
  • Đối với đất nước thì lại thất thố.
  • Đúng là thất thố!
  • Thế thì cách của mình là vượt qua cái đó để mà có cái cách ứng xử đúng đắn…
  • Với đất nước, với thời đại của mình thôi…
  • Tôi có đọc được trêm một tờ lịch có ghi câu nói của Bill Gates, tỷ phú Mỹ, rằng “Cuộc sống vốn không công bằng, phải tìm cách thích nghi và vượt lên nó”. Đúng như thế, anh nào cũng đòi hỏi cuộc sống lúc nào cũng phải công bằng thì luôn luôn là bất mãn. Gần đây tôi đọc những bài của Bùi Tín thấy rất không được. Ai lại viết như thế về đất nước mình, nhân dân mình… Tôi nhớ ngày trước có lần tôi sang Campuchia khi đất nước Ăngco mới được giải phóng khỏi họa diệt chủng. Đại tá Bùi Tín còn dẫn tôi đi, hai anh em nói chuyện với nhau, hồi đấy tôi đi với tư cách nhạc sĩ thôi. Nghe Bùi Tín nói lúc đó tôi đã kinh ngạc, ai lại một Phó tổng biên tập một tờ báo lớn mà lại ăn nói như thể, rặt chửi đổng… Không biết gì cũng chửi… Tôi nghĩ, làm như thế thì nhân cách con người nó sẽ bị mất đi…
  • Làm người từ tế thì không nên ăn cháo đá bát!
  • Tôi đọc sách tôi thấy, trong quá trình diễn ra các cuộc đảo lộn xã hội, ở nước nào cũng khó tránh xảy ra những vụ việc manh động, cả ở Pháp, ở Nga hay ở đâu đâu cũng từng như thế. Và mình phải chấp nhận và khi đã chấp nhận được thực tế lịch sử như thế thì anh sẽ tìm được nguồn an ủi, động viên. Nói thật với Hồng Thanh Quang, mình mà không có được công chúng yêu âm nhạc người ta dành cho mình những tình cảm thì mình khó vượt qua được, công chúng đối với mình tốt quá.
  • Thực ra là vì ông cũng có tài, những bài hát của ông giúp ích rất lớn cho mọi người… Tôi muốn hỏi ông thêm chuyện này, không biết có ai đã từng hỏi ông không. Người ta bảo phúc đức tại mẫu. Ông nhớ gì nhất về mẹ của ông?
  • Mẹ tôi thì hiền vô cùng. Lúc mẹ tôi còn sống thì tôi là một trong những đứa con được chiều nhất.
  • Ông là gần út mà, giàu con út khó con út, đúng không ạ?
  • Sau chị tôi kể cho tôi biết chứ lúc bé tôi có biết đâu, bảo là, lúc sinh ra thì bà ấy đẻ tôi trong cái bọc, sau phải rạch ra. Nghe người ta bảo, đứa nào đẻ ra từ ở trong bọc là tốt lắm đấy nên mẹ tôi mới chiều. Thế nhưng ngược lại, ông cụ tôi lại bình đẳng, không phân biệt đứa nào với đứa nào.
  • Con cái như nhau hết!
  • Con cái đều được bố đối xử bình đẳng, còn mẹ tôi thì lại hơi ưu ái tôi một tí. Nhưng có đặc điểm mà về sau tôi mới biết được là, mẹ tôi không biết chữ mà thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ.
  • Vợ quan Thượng thư, vợ học giả mà không biết chữ?
  • Thế đấy, nhưng mẹ tôi có trí nhớ rất tuyệt vời. Khi cha tôi còn làm ở Hội Khai trí Tiến đức, người ta tới đóng tiền thì mẹ tôi nhớ hết, về sau đọc lại cho cha tôi ghi biên lai… Cuốn “Ca dao tục ngữ Việt Nam” mà cha tôi biên soạn là hoàn toàn dựa vào trí nhớ của mẹ tôi…
  • Cụ bà quê ở đâu, thưa ông?
  • Bắc Ninh.
  • Kỷ niệm cảm động về người mẹ mà ông còn nhớ đến bây giờ?
  • Tôi chỉ nhớ là mẹ tôi hiền lắm, không bao giờ gắt mắng con cái.
  • Bà cụ có hay bị chồng bắt nạt không? Vì quan Thượng thư rất là oai vệ, nghiêm khắc…
  • Không, ông ấy lại rất bình đẳng.
  • Tôi xin lỗi, tôi muốn hỏi là học giả Phạm Quỳnh có đa tình không? Tôi nghĩ văn nhân học giả thời xưa, quan lại thời xưa đều công khai đa tình, năm thê bảy thiếp. Vậy quan Thượng thư Phạm Quỳnh có lấy nhiều thê thiếp không ạ?
  • Tuyệt đối không có! Cha tôi có một công trình nghiên cứu về hát ca trù rất công phu…
  • Hát ca trù thì phải có đào nương…
  • Công trình này về sau Viện Âm nhạc Việt Nam cũng cho in lại. Mấy người mới bảo, ôi trời, chắc cụ gặp nhiều đào nương lắm. Nhưng ngày ấy, nếu có ai hỏi ông về chuyện này thì ông trả lời, tôi lấy vợ sớm…
  • Từ lúc bao nhiêu tuổi ạ?
  • Từ năm 20 tuổi. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều bằng tuổi nhau. Mỗi khi ai hỏi về chuyện ca trù thì cha tôi bảo, gặp đào nương như thế, không bao giờ tôi nghĩ chuyện gì khác vì tôi lấy vợ sớm nên nó chỉ bằng con mình thôi, nên tôi không bao giờ nghĩ gì với các đào nương ấy cả… Hồi xưa nó là thế.
  • Nói thật, hồi sang Paris cách đây gần hai chục năm, tôi có dịp được đọc bài ghi chép của học giả Phạm Quỳnh kể chuyện “Kinh đô ánh sáng”. Đọc xong tôi mới giật mình, nói mình hậu sinh bây giờ mà viết thì cũng không thể bao giờ hơn được. Muốn nói gì thì nói, đó là một học giả cự phách.
  • Về sau này có những nhà nghiên cứu về sử người ta mới nói, là qua cái đó mới thấy hóa ra đúng thật Phạm Quỳnh và Nguyễn Ái Quốc đã gặp nhau ở Paris, tâm sự với nhau rất nhiều. Cụ Hồ về sau có giao cho Huy Cận rằng nếu vào kịp thì mời cụ Phạm ra đây để trò chuyện…Nhưng…
  • Tôi hiểu… Tôi còn được biết rằng qua những ghi chép của nhà văn Sơn Tùng, Bác Hồ đã từng nói về học giả Phạm Quỳnh: “… Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải người xấu…”
  • Đúng thế. Anh Sơn Tùng trong thư gửi cho tôi có kể lại điều này…
  • Trong suốt quá trình hoạt động của ông, chắc chắn ông chịu nhiều mặc cảm, sức ép thì những khi đó, ông đã suy nghĩ như thế nào?
  • Lúc mà mình đến với Đảng là lúc rất hồn nhiên, hoàn toàn phù hợp với…
  • Khao khát, hướng thiện của mình…
  • Phù hợp với cái lý tưởng mình phấn đấu như thế. Trong cuộc đời gặp nhiều trắc trở nhưng lại được gặp nhiều người tốt.
  • Đó là những ai , thưa ông?
  • Khi mình ở bộ đội, tốt nghiệp Trường Lục quân về làm Đại đội trưởng Trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Lúc ấy, Hiệu trưởng là ông Lê Chiêu, Thiếu tướng, về sau là Giám đốc Bảo tàng Quân đội đấy.
  • Bác Lê Chiêu giúp gì cho ông?
  • Ông giới thiệu tôi vào Đảng. Lúc ấy mọi người hồn nhiên bảo anh này tốt thì vào Đảng được đấy… Sau này, gặp lại ông Lê Chiêu trên phố Lý Nam Đế, tôi có hỏi, việc anh giới thiệu một người có lý lịch như tôi vào Đảng thì có gây phiền phức gì cho anh không? Ông ấy bảo, cũng có chút ít thôi nhưng không sao; ai hỏi thì mình bảo Tuyên là người tốt, cần được kết nạp, mà nếu có là con quan Thượng thư thì chắc phải là con của bà ba, bà tư, tức là thuộc thành phần không bóc lột (cười).
  • Có ai biết đâu Phạm Tuyên lại là con của bà cả và quan Thượng thư Phạm Quỳnh chỉ có một vợ thôi.
  • Phải, một vợ thôi (cười)
  • Đôi khi chúng ta cũng dễ hiểu nhầm tiền nhân, cứ nghĩ tiền nhân cũng như chúng ta mơ ước, có thể năm thê bảy thiếp (cười)
  • (Cười) Đấy… Còn trường hợp thứ hai, khi mình được cử làm tổ trưởng một tổ giáo viên ở Trung tâm học vụ, trong tổ có cả Nguyễn Cảnh Toàn, rồi cả cụ Nguyễn Lân nữa… Mình thì trẻ quá mà vẫn được tín nhiệm. Có ý kiến bảo sao lại thế thì ông Võ Thuần Nho, em ruột ông Võ Nguyên Giáp, đứng lên nói, cậu ấy tốt lắm, không có vấn đề gì đâu…
  • Cuộc đời của ông xem ra cũng có không ít những thăng trầm…
  • Tôi luôn luôn ý thức được, trong cái rủi phải tìm cái may. Tôi nhớ, khi chúng ta mới lập ra Đài Truyền hình, bắt đầu làm đen trắng, tình hình cũng không đơn giản. Lúc đấy mình đang làm Trưởng ban Ca nhạc của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, một hôm ông Trần Lâm gặp tôi, vui vẻ bảo, chuẩn bị tinh thần nhé, trách nhiệm còn nặng nữa đấy. Ý sẽ đề cử làm…
  • Phó Tổng Giám đốc?
  • Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình. Ít lâu sau gặp tôi ông ấy bảo, xin lỗi nhé vì có ý kiến bảo để anh chuyên tâm sáng tác… Năm sáu mấy ấy, ở trên chủ trương cử 2 bán bộ trẻ ở Viện Âm nhạc sang bổ túc về âm nhạc ở bên Liên Xô. Viện Âm nhạc chọn mãi, cuối cùng chọn 2 người, Trọng Bằng và Phạm Tuyên. Hai thằng về bàn với nhau bảo mỗi thằng chuẩn bị một bộ nghiêm, một bộ nghỉ…
  • Để thay nhau…
  • Để thay nhau. Cái thứ hai là học ôn piano đi cho nó tốt, sang thì bổ túc thêm. Sát đến ngày đi thì ở trên bảo Phạm Tuyên ở nhà, Trọng Bằng đi,
  • Khi đó ông có cảm giác thế nào?
  • Hơi bị sốc vì mình đang chuẩn bị rồi mà. Nhưng về sau nghĩ bụng bảo trong cái rủi lại có cái may. Tại vì thế nào? Thứ nhất, ở ta sách Nga, sách Trung Quốc cũng có đầy, tôi tự học được. Cái thứ hai là, ở nhà thì tôi không bị thầy Trung Quốc với thầy Nga ám ảnh sau lưng tôi.
  • Tự mình làm việc của mình…
  • Tôi tự làm. Và nếu mà dân mình hiện nay đón tác phẩm của tôi là vì tôi tìm ra ngôn ngữ riêng của Phạm Tuyên. Bà vợ tôi vẫn thích đấy, bà bảo như thế hay hơn. Hiện nay có một số người làm âm nhạc trong khi chưa làm ra đâu vào đâu cả thì trước hết cứ khoe, tôi đã tốt nghiệp nhạc viện này nọ, rồi các thứ khác nữa.
  • Nhưng những thứ đó lại không hòa nhập với chất của mình được…
  • Không hòa nhập với chất của mình. Đấy là cách suy nghĩ của người ta, còn đối với mình rõ ràng đấy là cái buộc mình phải phát huy tinh thần tự chủ, tự trang bị cho mình mọi kiến thức. Cho nên về sau tất cả sách mình viết về lý luận âm nhạc toàn những cái mà mình tiêu hóa được từ sách của nước ngoài…
  • Thưa nhạc sĩ, tôi hiểu là cuộc đời chúng ta không ai có thể đi lại, làm lại được, cuộc đời này không có sự giả sử. Nhưng nếu nhìn lại đoạn đời đã qua, ông có điều gì ân hận không, hay có suy nghĩ gì khác không về cuộc sống đã qua của mình? Ở tuổi của ông, tôi nghĩ cũng có thể nói ra một vài điều gọi là đúc kết đi. Cái gì ông muốn để cho thế hệ hậu sinh như chúng tôi tiếp nhận được từ thế hệ của ông, từ cuộc đời của chính ông, một nhạc sĩ có nhiều thành tựu nhưng rất không đơn giản? Ông sẽ còn sống lâu, tôi hy vọng như thế nhưng đại khái ông có nói điều gì không để lớp hậu sinh nghe, hiểu để xử lý đời mình tốt hơn?
  • Khát vọng của mình thì còn nhiều. Một trong những điều cho đến giờ phút này cố gắng để làm thế nào vượt qua được. Đó là bây giờ quỹ thời gian cũng ít nên để mà có một cái gì mới thì rất khó nhưng phải làm thôi. Cái nữa là mình mong được chứng kiến một sự giải tỏa về gia đình. Cái đấy gần đây mình bắt đầu thấy…
  • Thấy chuyển động rồi…
  • Hàng nghìn trang sách của cha tôi đã được in lại rồi nhé. Tôi rất mong sẽ có ngày ấy, mình không ảo tưởng có sự đính chính gì đâu, nhưng chỉ cần có một…
  • Cái nhìn đầy đủ hơn và thỏa đáng hơn và nó hợp với sự phát triển hơn?
  • Đúng thế, Quan trọng nhất là có một chỗ đứng trong tình cảm của quần chúng.
  • Nó không phải là phủ nhận những điều đã có mà nó là sự bổ sung để những điều đã có trở nên hoàn chỉnh và công bằng hơn. Ông có công nhận thấy như thế không? Cuộc sống nó vốn là như thế vì chúng ta càng ngày càng có khoảng lùi thời gian, càng có vị thế để nhìn quá khứ một cách công bằng và thỏa đáng hơn. Bởi vì chúng ta càng phát triển, càng mạnh thì chúng ta càng có điều kiện để nhìn quá khứ và điều đó…
  • Độ lùi thời gian vô cùng quan trọng. Nói về cái băn khoăn, suy nghĩ nhiều nhất của mình hiện nay là, thôi cố gắng làm thế nào giữ cho nhân cách của mình sống chứng kiến được sự cởi mở, đánh giá lại… Tôi vẫn nghĩ, lịch sử công bằng lắm, lịch sử sẽ duyệt lại…
  • Vâng lịch sử công bằng, lịch sử sẽ phán xét… Tôi nghĩ, ông đã sống cả cuộc đời như thế, nên sẽ vẫn tiếp con đường ấy… Xin cảm ơn ông!
  • Xin cảm ơn Hồng Thanh Quang!

 

Ra mắt hồi ký của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 11 năm 2016.

Ra mắt hồi ký của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên

(Tin thu hồi 06:28 sáng ngày 02/11/2016 trên Thanh Niên)

chung-toi-da-song-nhu-the-bao-thanh-nien

Chúng tôi đã sống như thế là tựa cuốn hồi ký của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên – Nguyễn Ánh Tuyết (NXB Tổng hợp TP.HCM vừa ấn hành) do chính bà Tuyết chấp bút.

Tác phẩm dày gần 500 trang, chia thành 6 phần: Nơi hai điểm xuất phát, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Tổ ấm đầy biến động, Đường vào khoa học, Con đường âm nhạcVượt núi chặng cuối cùng. Với giọng văn nhẹ nhàng, hồi ký mang đến cho người đọc câu chuyện về cậu bé Tuyên những năm ba mươi thế kỷ trước; mối quan hệ của hai ông bà, từ “buổi ban đầu lưu luyến ấy” đến cuộc sống hôn nhân sau này.

Hồi ký còn “bật mí” chuyện hậu trường và sức sống mãnh liệt các ca khúc của Phạm Tuyên: Chiếc gậy Trường Sơn, Lớp học rừng, Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Cô và mẹ, Chú voi con ở Bản Đôn, Cánh én tuổi thơ… Đặc biệt, cuốn sách còn kể lại hoàn cảnh ra đời của hai bài hát Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng Đảng đã cho ta cả một mùa xuân được khán thính giả rất yêu thích, nằm trong 10 bài hát hay nhất về Đảng và đất nước do Đài tiếng nói VN bình chọn năm 2000.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Cuốn sách là trang ký ức của bà về những năm tháng vất vả gian nan, những ngọt bùi cay đắng mà bà từng trải. Hay nhất trong cuốn sách vẫn là những trang bà viết về học giả Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên… Và tôi tin, rất tin cuốn sách sẽ làm bạn đọc yêu thích”.

Lê Công Sơn

 

Thư của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan gửi Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:07 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 2 tháng 11 năm 2016.

Thư của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan gửi Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hà Nội ngày 3/3/2015

Kính gửi Giáo sư Tiến sĩ Phan Huy Lê

Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam,

Đồng kính gửi Ông Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết

Cơ quan của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Kính thưa,

Những năm gần đây, được sự đồng ý của cơ quan Đảng Nhà nước, thông tin truyền thông, báo chí, Hội Khoa học Lịch sử đã trả lại xã hội những hiểu biết mới, đúng đắn?????? về các nhân vật lịch sử như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Sơn, Phan Anh, Chu Văn Tấn, Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế, Nhà Nguyễn, Nhà Mạc, Nhà Hồ…

Còn có một con người lịch sử nữa mà dư luận đang chờ đợi. Đó là nhà báo, Chủ bút báo Nam Phong – Thượng Chi Phạm Quỳnh với một cái chết đầy oan khuất. Nhiều trước tác của Phạm Quỳnh đã được xuất bản. Nhiều luận án Khoa học đã tiếp cận Phạm Quỳnh – Báo Nam Phong. Nhiều sách nghiên cứu về Phạm Quỳnh đã được in, phổ biến rộng rãi. Ban Tuyên giáo tỉnh Hải Dương đã có một hội thảo về Phạm Quỳnh. Tôn vinh ông là nhà văn hóa lớn. Các nhà văn, nhà báo Huế, trong đó có ông Nguyễn Khoa Điềm – nguyên ủy viên Bộ Chính trị – đã coi Phạm Quỳnh là “người có công lớn với văn hóa Huế”. Một số các vị lãnh đạo cao cấp đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai Phạm Quỳnh thắp hương, nhận sách tặng viết về Phạm Quỳnh. Blog PhamTon – đã có hàng triệu người đọc đang chờ một kết luận: đúng, sai, công ở đâu, tội chỗ nào…

Bác Hồ có dặn lại rằng: “Cụ Phạm là một con người của lịch sử. Sau này lịch sử sẽ xem xét lại…” Lịch sử – như lời Bác dặn phải chăng là Đảng, Nhà Nước, các nhà sử? Nếu tất cả không làm, liệu ta có nhớ để thực hiện lời dặn của Bác?

Kính thưa;

70 năm đã qua, khi Phạm Quỳnh bị bắt ra đi không trở lại nhà, khi đã là “công dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị xử lý mà không có tòa án, không được báo trước! Mong rằng, năm nay, Hội ta có thể phối hợp với Mặt trận Tổ quốc… có một kết luận nào đó về Phạm Quỳnh.

Trân trọng cám ơn

 Thu Nguyen Van Khoan gui mat tran to quoc

Tháng Mười Một 1, 2016

Viết tiếp về học giả Phạm Quỳnh: Những nỗi niềm chưa thỏa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 9:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ tám, kỳ 1 tháng 11 năm 2016.

Tạp chí Đại Đoàn Kết-Tinh Hoa Việt số 33 từ 10.8 đến 25.8.2016

tua-de-noi-niem-chua-thoa

Đề cập quan điểm của một số người Tây học đương thời đòi thay tiếng Việt “nghèo nàn” và “thô thiển” về vốn từ bằng tiếng Pháp “cao thượng, “văn minh” để được “tiện lợi” cho con đường tiến thân, ông gọi đó là “tư tưởng kỳ khôi”, “râu ông nọ cắm cầm bà kia”, ông phản biện: “Các ông nói không nên lấy tình mà xét, phải lấy lợi mà xét mới được, lợi bao giờ vẫn mạnh hơn tình. Chúng tôi vẫn biết như vậy,  nhưng chúng tôi cũng biết rằng người ta có tình mới là người và phàm dân nào chỉ biết trọng lợi mà thôi là dân ấy sắp đến ngày suy đồi”, bởi lẽ “quốc âm (tiếng nói – VTK) tức là một biểu hiện tự nhiên của quốc hồn”. Rồi ông cảnh tỉnh: “Một giống người đến quốc âm cũng không giữ được là một giống can tâm tự diệt vậy” (Chữ Pháp có dùng làm quốc văn Việt Nam được không?Nam Phong, 1918). Phạm Quỳnh ước vọng: “có ngày người mình cũng “làm văn” được như người, nghĩa là làm văn bằng tiếng mình, không phải mượn tiếng người (tức hoàn toàn bằng tiếng Tầu hay tiếng Tây! – VTK)” (Nam Phong, số 67, tháng 1/1923). Làm thế nào để khắc phục hiện trạng nghèo nàn từ vựng và cách diễn đạt của tiếng Việt thời buổi ấy mới đang chập chững bước lên con đường hiện đại hóa? Trong bài báo viết bằng tiếng Pháp năm 1931, kí giả Phạm Quỳnh kể với độc giả Pháp ông  đã làm việc đó như thế nào: “Việc đầu tiên phải làm là hợp nhất hai ngôn ngữ của nhà Nho (“đồ theo văn phong Hán”) và của dân chúng, thông tục hóa ngôn ngữ nhà Nho bằng cách nhúng nó vào các nguồn mạch sâu xa của khẩu ngữ; nâng cao ngôn ngữ dân chúng bằng cách thêm vào nó một số ngữ điệu văn chương và bồi đắp cho nó tất cả vốn từ Hán – Nôm đã được công nhận và sử dụng. Nhưng…như vậy vẫn chưa đủ để nó làm được nhiệm vụ của một ngôn ngữ văn hóa. Nó vẫn còn thiếu vốn từ kỹ thuật và triết học để dịch và diễn đạt các tư tưởng và quan niệm hiện đại. Làm thế nào để lấp được chỗ trống đó? Có thể tiến hành vay mượn cả từ tiếng Hán lẫn tiếng Pháp…” 8. Vay mượn như thế nào – học giả Phạm Quỳnh trình bày khá rõ trong bài “Chữ nho với văn Quốc ngữ” viết năm 1918, có trong Thượng Chi văn tập và trên mạng, mời bạn đọc tự tham khảo.

Hơn 20.000 trang của 210 số Nam Phong tạp chí có thể dùng làm tư liệu sống cho những ai muốn nghiên cứu quá trình hình thành ngôn ngữ văn hóa Việt Nam hiện đại: ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ dân gian, truyện nôm được biên tập lại, vẫn giữ nguyên “cách nói độc đáo,… khéo léo và lí thú”, nhưng “bớt đi “sự thô thiển”; mặt khác, hàng mấy trăm tác phẩm của hơn trăm tác giả “Âu – Mỹ, Chi-na” và Việt viết bằng tiếng Pháp và Hán tự như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ v.v… được dịch giới thiệu trên Nam Phong đã bổ sung một lượng lớn từ ngữ, đặc biệt thuộc các lĩnh vực triết học, khoa học tự nhiên, được giải thích kỹ lưỡng ý nghĩa trong các bảng từ vựng kèm theo mỗi số. Khi đưa tác gia Phạm Quỳnh vào bộ “Việt Nam văn học sử yếu” của mình, Giáo sư Dương Quảng Hàm ghi nhận: “Ông Quỳnh có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới”.

Nhưng khác với Nguyễn Văn Vĩnh, trong sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ học giả Phạm Quỳnh không chỉ sử dụng hoạt động báo chí mà ông đã tiếp tục một chủ trương quan trọng hơn, sâu sắc hơn của Đông Kinh nghĩa thục, đó là – thông qua giáo dục, đặc chữ quốc ngữ làm căn bản cho nền quốc học nhằm “gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân”. Cũng trong bài diễn thuyết đã đề cập ở trên, kí giả học giả họ Phạm mới 30 tuổi đã tỏ ra có một tầm tư duy chiến lược khi ông phản đối cái nền giáo dục Pháp – Việt của Albert Sarraut dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ trong nhà trường và “chỉ dành cho tiếng Việt một vị trí hết sức nhỏ bé chẳng cso chút ý nghĩa gì ở đầu bậc tiểu học”. Ông yêu cầu chính quyền bảo hộ “đưa cho người Nam một nền giáo dục tiểu học bằng tiếng mẹ đẻ của họ để tạo cho họ một nền quốc học thực sự <…> Chúng tôi đòi hỏi nền giáo dục Pháp hãy đào luyện không phải những người Nam què quặt, mà là những người Nam thực sự, những người Nam toàn diện, vừa biết hấp thụ khoa học và văn minh Tây phương, vừa gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống lâu đời của chủng tộc mình” 9

Để thực hiện đường lối dùng giáo dục “gây lấy cái hồn độc lập”, học giả họ Phạm tất yếu mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang lĩnh vực giáo dục và xã hội. Năm 1919 ông tham gia sáng lập Hội Khai trí tiến đức (tức mở mang trí tuệ, tu dưỡng đạo đức), tổ chức những buổi diễn thuyết và thảo luận về học thuật và đạo lí Đông Tây. Năm 1922, với tư cách là đại diện cho Hội, Phạm Quỳnh được cử sang Pháp dự hội chợ triển lãm Marseille, được mời đến diễn thuyết về các vấn đề xã hội An Nam và chính sách cai trị thuộc địa của nước Pháp, trong đó có buổi đăng đàn tại Viện Hàn lâm, tiếng tăm dậy báo giới Paris. Về nước, ông được thỉnh giảng về các chuyên đề triết học, ngôn ngữ và văn chương tại các khoa Bác Ngữ học, Văn hóa, Ngữ Ngôn Hoa – Việt của Trường Cao đẳng Hà Nội

Năm 1924 diễn ra một sự kiện gây nên trên văn đàn một cuộc tranh cãi trong nhiều năm. Tại lễ kỷ niệm ngày Giỗ thi hào Nguyễn Du trong trục sở Hội Khai trí tiến đức ở phố Hàng Trống, trước một cử tọa đông đảo, có nhiều quan ta và quan Tây tham dự, ký giả Phạm Quỳnh đọc một bài diễn văn vừa thống thiết vừa hùng hồn ca ngợi Truyện Kiều, kết thúc bằng một câu nay đã trở nên bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…”. Ví thử ký giả họ Phạm không là công chức được Chánh mật thám Đông Dương “đỡ đầu”, được phủ Toàn Quyền Đông Dương trợ cấp làm báo, thì câu nói đó chắc gì đã làm nên vụ sóng gió trên văn đàn. Nếu đặt nó trong hệ quan điểm của học giả Phạm Quỳnh về quốc ngữ quốc văn quốc học quốc hồn và đặc biệt, không cố ý tách khỏi văn cảnh một lời thề trước hương án Tiên Điền quốc sĩ, thì không thể hiểu nó theo cái ý biện hộ cho nền Pháp thuộc đương thời. Thử cùng ngẫm mà xem:

“… nhân ngày Giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn Quốc sĩ”

Thác là thể phách, còn là tinh anh

Áng tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập chừng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây! (VTK nhấn)

Rõ ràng câu văn dậy ba đào đương thời và vẫn còn lưu dư ba đến ngày nay, chỉ thổ lộ ý tác giả nguyện sẽ quyết tâm gìn giữ tiếng mẹ đẻ, chữ Quốc ngữ, văn chương Quốc ngữ – cái nền tảng của quốc hồn; còn cái “quốc ngữ là hồn trong nước” ấy thì còn có cơ đòi lại độc lập tự chủ, đương nhiên, theo mộng tưởng về đường lối đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của ông, cũng là một trào lưu chung của nhân loại. Một thời người ta lên án thuyết “đấu tranh bất bạo động” của Mahatma Gandhy, gọi quan điểm “không chống cái ác bằng bạo lực” của Lev Tolstoi là “phản động”. Vậy mà nay, trong xu thế toàn nhân loại, sau khi đã trả giá đắt cho con đường đấu tranh bạo lực, đang chuyển từ thế kỷ đối đầu và bạo lực sang kỷ nguyên đối thoại và hòa bình, người ta cũng đang nhận thức lại giá trị vĩnh hằng của những học thuyết nhân bản, đưa luận đề không phản kháng cái ác bằng bạo lực lên tầm văn hóa xử thế – văn hóa không bạo lực. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lấy mười năm từ 2001 đến 2010, là năm kỷ niệm tròn 100 năm mất của Lev Tolstoi, làm “Thập kỷ hòa bình và không bạo lực vì lợi ích của trẻ em toàn hành tinh”. Tiếp theo, năm 2007 lại lấy ngày sinh của Mahatma Gandhi 2-10 làm “Ngày Thế giới Không bạo lực”10

Dưới ảnh hưởng của các trào lưu dân tộc dân chủ những năm 25-30 (dẫn đến thành lập Việt Nam Quốc dân đảng và một số tổ chức Cộng sản đầu tiên), năm 1930 Phạm Quỳnh bắt đầu tham gia diễn đàn chính trị: viết bài đăng báo bằng tiếng Pháp phản đối án tử hình Phan Bội Châu, khẳng định cụ Sào Nam “chỉ có một tội là yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm”, đề xướng chủ thuyết quân chủ lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải ban hành hiến pháp để quy định rõ ràng những quyền cơ bản của nhân dân, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, ông được giao chức phó hội trưởng Hội địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng thư ký Ủy ban cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Tháng 11 năm 1932, diễn ra bước ngoặt định mệnh trong cuộc đời ký giả học giả Phạm Quỳnh. Sau 6 năm du học ở Pháp, vua Bảo Đại trở về canh tân đất nước. Ngài bắt đầu bằng việc hạ chiếu chỉ thay một số lão thần Thượng Thư cựu học bằng những người trẻ tuổi Tây học: Tổng đốc Thanh Hóa Thái Văn Toản làm Thượng Thư bộ Công, Tổng đốc Hồ Đắc Khải – Thượng thự bộ Hộ, Tuần vũ Ngô Đình Diệm – Thượng thư bộ Lại, Tuần vũ Bùi Bằng Đoàn – Thượng thư bộ Hình, và kí giả Phạm Quỳnh – Thượng thư bộ Học.

Có thể thấy: trong 5 vị tân thượng thư chỉ có Phạm Quỳnh xuất thân hàn sĩ và từ “chân trắng” một bước lên đại thần! Năm 1942 ông còn được Bảo Đại bổ giữ chức Thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình. Điều này chứng tỏ lúc ấy uy tín học giả họ Phạm với tờ Nam Phong của ông đã lên đến tột đỉnh. Thực vậy: đánh giá về ảnh hưởng xã hội của Nam Phong, về vai trò hướng đạo tư tưởng của nó mà Chủ nhiệm Phạm Quỳnh mong ước, Giáo sư Thanh Lãng ở Đại học Văn khoa Sài Gòn viết năm 1972: “Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hóa thế hệ 1913 – 1932 <…> Thực vậy, trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người theo, chữ Nam Phong chế (tức tạo ra – VTK) mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bậc thày”11

Vậy hà cớ gì học giả Phạm Quỳnh bước lên hoạn lộ vốn thường đầy chông gai? Vì tham quyền? Vì hám lợi? – như báo chí đương thời cạnh khóe? Câu trả lời rõ ràng nhất, thật bất ngờ, lại chính từ trùm thực dân – Thống sẽ Trung Kỳ Healewyn trong Báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho đô đốc Decoux và cho tổng đại diện Mordant: “Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí, cho sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách mà Phạm Quỳnh đòi hỏi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không (gì) lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu đi tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hỹ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”12 (VTK nhấn)

Về non nửa sau trong đời hoạt động của học giả Phạm Quỳnh – hoạt động chính trị trên cương vị Thượng thư Nam triều, hiện còn rất ít tài liệu, có lẽ đã thất lạc sau cái chết bất ngờ bi thảm của ông. Hiện nay, mới chỉ có thể biết là riêng trong lĩnh vực giáo dục ông đã đòi được người Pháp trả lại cho bộ Học quyền quản trị cấp tiểu học, nhờ vậy điều quy định của Học chính tổng quy (Règlement général de l’instruction publique – có sửa đổi năm 1924 sau cái đòi hỏi và kiến nghị khẩn thiết trên Nam Phong), yêu cầu ở 3 năm đầu cấp tiểu học (gọi là sơ học yếu lược) cho dạy bằng tiếng Việt và phải thi lấy bằng quốc ngữ, từ năm 1933 mới bắt đầu thực thi nghiêm túc. Thiết nghĩ, vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biết ba chuc năm trước, nhân Lễ kỷ niệm 60 năm Hội Truyền bá quốc ngữ (1938-1998) tại hội trường viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, hoàn toàn công bằng khi đề nghị: “Thiết tưởng ta cũng nên ghi công cho ông Thượng thư này và ông Vua tân thời này (Bảo Đại – VTK) về chủ trương đặt cấp cơ sở của hệ thống giáo dục chính quy thành hẳn một cấp chuyên dạy bằng tiếng Việt, có thi hết cấp với văn bằng đàng hoàng mang tên Bằng sơ học yếu lược”13

Cũng nên ghi nhận điều báo Lao Động ngày 29/6/2009 đưa tin và ảnh vệc việc ngày 26/9/2009, tại Văn phòng Ủy ban Nhân dân Thừa Thiên Huế, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã trao cho bộ Ngaoij giao bản tấu của ông Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng Hoàng đế Bảo Đại về việc khen thưởng cho những người lính có công bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.

Một chi tiết nữa, không phải việc công mà là chuyện cá nhân, nhưng cho biết thêm về nhân cách vị Thượng thư bộ Học. Nhà nghiên cứu Khúc Hà Linh, chuyên sưu tầm về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh, viết trong công trình mới nhất của ông: “Nhận chức chỉ sau 2 tháng 7 ngày, với tư cách quan Ngự tiền văn phòng, Phạm Quỳnh đã làm một việc có thể coi là mạo hiểm đối với ông trên chốn quan trường. Sự việc như sau: Nguyễn Công Nghi 18 tuổi, em ruột Nguyễn Công Kính (chủ hãng thuốc lào Giang Ký nổi tiếng Hà thành bấy giờ)… là con rể làng Nhân Vực (quê vợ Phạm Quỳnh) bị Pháp coi là một chiến sĩ cộng sản, bắt giam tại nhà tù Hòa Lò – Hà Nội, chờ ngày đi đày viễn xứ. Phạm Quỳnh đã viết thư đề ngày 18/1/1933, gửi Louis Marty, Giám đốc Vụ chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương nhờ can thiệp xin khoan hồng giảm án cho anh <…> Không biết kết quả sự can gián của Phạm Quỳnh đến đâu…” 14

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Quan Ngự tiền Văn phòng Thượng thư bộ Lại Phạm Quỳnh là chứng nhân, còn kịp thuật lại diễn biến tại Huế trong bài viết nhan đề “Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945)”, đoạn kết như sau: “Sau cuộc tiếp kiến (đặc sứ Yokoyama và hai lãnh sự Watamata và Ishida – VTK), liền có cuộc hội đồng đặc biệt Viện Cơ mật trong phòng nhỏ Hoàng đế tại lầu Kiến Trung vào 7 giờ tối. Rồi 10 giờ đêm hôm ấy các cụ Cơ Mật lại họp ở bộ Lại để tiếp quan đặc sứ và thảo tờ Tuyên bố Độc Lập. Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp tường thuật.”15

Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim được thành lập. Phạm Quỳnh xin về hưu trí để trở lại với văn chương. Nhưng ông không bao giờ có cơ hội ấy nữa… 2 giờ chiều ngày 23/8/1945, ngay khi cuộc Việt Minh cướp chính quyền ở Huế thành công, ông Phạm quỳnh bị tiểu độ vũ trang của Thanh niên tiền tuyến Huế bắt rời biệt thự Hoa Đường trên bờ sông An Cựu ra xe “Phạm Quỳnh lên xe đi và không bao giờ trở lại”16

“Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9/12/1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23/8 và đã bị Ủy ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Cho đến nay chưa thấy một ai đưa ra được bất cứ một bằng chứng xác thực nào về những tội ác làm Việt gian bán nước của học giả Thượng thư Phạm Quỳnh. Còn nếu bảo  hễ đã làm việc trong chính quyền thực dân tức thị là làm tay sai bán nước thì phải đánh giá thế nào về Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Đoàn và Khâm sai đại thần Phan Kế Toại – hai thành viên quan trọng trong Chính phủ Hồ Chí Minh?!

Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan trong cuốn sách đã nhắc đến trên đây, viết: “Ngày 28, Hồ Chí Minh đến làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, dành thời gian soạn Tuyên ngôn Độc Lập. Được báo cáo là Trần Huy Liệu cùng phái đoàn đã vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại thoái vị, Bác nói với Hoàng Hữu Nam (Thứ trưởng Nội vụ – VTK): “Chú tìm một người thay chú vào Huế gặp Phạm Quỳnh, đưa thư tôi mời Cụ Phạm”18.

Nhà văn Sơn Tùng, nửa thế kỷ nay chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, cho biết hay tin dữ từ miệng ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thừa Thiên – Huế Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”19

Tiếp hai người con gái của ông Phạm Quỳnh ngay sau khi sự cố bi thảm xảy ra, Cụ Hồ nói: “Trong lúc Tổng khởi nghĩa bùng nổ, khó tránh được sự nhầm lẫn. Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. (tác giả NKK nhấn) Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng” 20

Đánh giá lại những nhầm lẫn đâu phải “đòi lật lại lịch sử”, như có kẻ vội lu loa!

Những người con của Cụ Phạm đã tuân theo lời căn dặn ấy. Người con trai thứ bảy Phạm Khuê trở thành giáo sư y khoa, Viện trưởng Viện Lão khoa, Nhà giáo Nhân Dân. Người con trai thứ chín Phạm Tuyên từng là học viên trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Đại đội trưởng Thiếu sinh quân, nay là nhạc sĩ Giải thưởng Hồ Chí Minh. Đấy là về họ, cũng là về không ít người chung cảnh ngộ bi thương ấy, nhà thơ Bằng Việt viết trong bài thơ tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên:

            Nhưng nén mình sỗng cao lên, có bao giờ là dễ?

            Biết vượt qua đỉnh nỗi đau, đâu có thua phẩm cách anh hùng!

*

*   *

Vì lí tưởng khai dân trí, chấp nhận cộng tác với chính quyền thực dân Pháp để được công khai làm báo, phát triển ngôn ngữ văn hóa Việt, dấn thân làm quan với chính quyền thực dân để có cơ hội xây nền quốc học nhằm chủ đích cứu nước bằng con đường ôn hòa, học giả Phạm Quỳnh ý thức rõ thế hiểm nghèo chí mạng của con đường ông lựa chọn: đi giữa hai làn đạn. Trong bức thư ngày 30/12/1933 gửi Chánh mật thám Marty, Phạm Quỳnh trần tình riêng với người “đỡ đầu”: “Tôi là người của buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông <…>. Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự họ!… Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp”21

Nỗi niềm uẩn khúc khó thanh minh của mình, ký giả kiêm đại thần họ Phạm một lòng trung quân ái quốc chỉ có một cơ hội gửi gắm trong bài thơ năm 1936 khóc Nguyễn Văn Vĩnh, bạn đồng môn thông ngôn và đồng nghiệp báo chí:

            Vừa mới nghe tin vội giật mình,

Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh!

Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng,

Bảy thước tang bồng nắm cỏ xanh.

Sống lại như tôi là sống nhục,

Chết đi như bác chết là vinh,

Suối vàng bác có dư dòng lệ,

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình!

lang-pham-quynh

Quê Cha đất Mẹ Hoa Đường mà Thượng Chi một đời đau đáu nhớ thương, nay là Làng Văn hóa Lương Ngọc Bình Giang – Hải Dương, đã từ lâu tin vào tấm lòng trong trắng của đứa con trung chính, hiếu thảo, nên đã giữ gìn nguyên vẹn qua bao biến thiên của đất nước lăng mộ thân phụ Tú Điển do nam tử Quỳnh xây năm 1933, gần đây, ngày 22/11/2014 lại cho dựng Bia tưởng niệm Nhà văn hóa Phạm Quỳnh, khắc trên hai cột mặt tiền câu nói bất hủ bằng chữ Nôm và Quốc ngữ:

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,

Tiếng ta còn, nước ta còn.

(Hà Nội, Xuân Bính Thân 2016)

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.