Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 23, 2020

Huế trong tôi thuở ấu thơ

Filed under: Chuyện một người cháu ngoại — phamquynh @ 11:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ mười ba, kỳ 1 tháng 12 năm 2020.

CHUYỆN MỘT NGƯỜI CHÁU NGOẠI – HỒI KÝ – PHỤ LỤC

HUẾ TRONG TÔI THUỞ ẤU THƠ

Phạm Tôn

Tôi được về Huế sớm nhất chắc cũng năm hai tuổi (1942). Và xa Huế muộn nhất cũng năm bốn tuổi (1944). Rồi mãi tháng 9/1975 mới ghé Huế vài giờ trên đường vào Sài Gòn vừa giải phóng. Nhưng những ấn tượng Huế trong tôi vẫn khắc sâu trong tâm trí đến tận bây giờ, đã 80 tuổi, sắp về với ông nội, ông ngoại.

Hồi đầu, tôi được về Huế những dịp các chị và anh tôi được nghỉ hè. Một năm về vì có chiến tranh, ngay chợ Hàng Da gần nhà tôi đã bị máy bay quân đồng minh Mỹ ném bom, bố tôi đưa mẹ và các con về quê nội, còn ông vẫn làm việc ở Hà Nội. Tôi nhớ lần đó tàu hỏa phải tăng bo, mẹ tôi xách tôi đi xuống ta luy âm có đóng nhiều cọc, cứ bám vào mà xuống cho khỏi ngã.

Những lần về Huế hằng năm ấy thật vui vẻ. Ông ngoại cho xe hơi ra đón tận ga, đưa mẹ con tôi về biệt thự Hoa Đường bên sông An Cựu, ở lại một ngày cho lại sức sau chuyến đi dài, rồi cho xe đưa mẹ con tôi về nhà ông nội ở số 1 phố Chùa Bà, có tên tiếng Pháp rất lạ là Rue des États-Unies (tức đường Hiệp Chúng Quốc). Một con đường nhỏ, vắng vẻ.  Ở nhà ông nội nửa tháng, thì về nhà ông ngoại.

Tôi nhớ mãi là năm ấy tự tay mẹ may đem về biếu ông nội một bộ quần áo lụa, ké vào đó còn may cho tôi một bộ. Chiều chiều, cơm xong, ông nội dắt tôi đi sang nhà mấy cụ bạn già khoe cháu nội út vào thăm. Lại còn bảo cháu đọc bài thơ mẹ cháu mới dạy cho các cụ nghe. Tôi mắt đen lay láy đầu xiêu (thơ của cậu Phạm Khuê viết về tôi) đọc ngay bài tủ: Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên / Giang phong ngư hỏa đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại Hàn San tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Các cụ khen giỏi, ông nội vui vẻ vuốt râu bẹo má cháu. Tôi đọc trôi chảy, rõ ràng mà có hiểu gì đâu. Mãi năm bảy mươi tuổi, tra Tự điển Văn Học mới biết đó là bài thơ nổi tiếng của Trương Kế, nhà thơ tài hoa Trung Quốc.

Tôi có biết cụ bà sinh ra ông nội tôi. Lúc đó cụ đã già lắm rồi. Cụ sinh được ông tôi thì góa khi mới 22 tuổi, cạo đầu tu tại gia thờ chồng. Mỗi sáng tôi thấy cụ lấy tay vuốt sương trên rêu ở chậu cây cảnh, xoa vào hai mắt rồi thổi một niêu cơm bé tí, đơm một bát cơm úp đầy cúng chồng, bên cạnh đặt cái đĩa nhỏ đựng chút muối trắng và bên đối diện là mấy quả vả, ổi, khế hái ở vườn nhà. Ngày cụ chỉ ăn hai bữa, mỗi bữa một nửa chén cơm cúng. Thức ăn chỉ là quả vườn nhà, với chút muối. Cụ thường dạy chúng tôi Hạt muối nhỏ mà quí lắm đấy. Tụi tôi thường được cụ gọi lại cho kẹo. Cụ dùng dao con ăn trầu khơi kẹo mạch nha quấn vào que tre. Có lần chúng tôi mách mẹ: cụ cho ăn kẹo bẩn lắm – Mẹ tôi mắng rồi xem vì sao nói vậy, mới biết dao cụ khơi kẹo cắt vào tay chảy cả máu mà cụ không hay cứ quấn vào que tre cho các cháu. Cụ già quá rồi.

Sáng nào mẹ cũng gọi chị em tôi xuống bếp ăn cháo đặc. Trên mỗi bát có vài con cá bống nhà kho cứng queo. Mẹ xua tay vì tưởng có ruồi đậu; hóa ra là đậu đen, trên mỗi bát chỉ vài hạt thôi. Lạ miệng chúng tôi ăn rất ngon. Cháo do các cô nấu từ sớm để nguội.

Nhà ông nội thường ăn cá, tôm với rau vườn nhà. Tôi nhớ mãi món dưa muối bằng thân chuối non xắt mỏng, có riềng thơm ngon. Một hôm có tiếng rao qua ngõ ai mua khuyếc tươi không, ông bảo mẹ tôi gọi lại, mua một bát nhỏ tép con để chú nấu canh cho ăn ngon lắm. Ông lấy khế vườn nhà, nấu bát canh nêm nếm vừa vặn, mùi tép tươi thơm, ngọt cả nhà đều khen ngon.

Gia đình còn có các cô và chú Hoàng anh Lộc. Chú Hoàng làm thơ nay tôi còn nhớ mấy câu: Chiều chiều dạo trước vườn bông/ Một quang một gánh một nàng đậu xinh/ Đang gồng đang gánh lại gần/ Tấm thân bé nhỏ giáng hình cung trăng. Chú tả một cô bán tào phớ (đậu hũ) ở vườn hoa.

Các cô lo việc chợ búa cơm nước trong nhà. Đi chợ, tôi thường thấy chỉ đem một cái rổ nông. Thịt, cá đều để trong rổ, nước mắm gói lá chuối làm như cái phễu, dầu dừa cũng thế. Còn làm đẹp thì son quẹt vào mép lá, phấn nụ trắng cũng gói lá để trong rổ. Mùa mưa nhà mua nhiều cá khô, tôm tép khô. Các cô nấu cơm xong thì đặt siêu nước trên đám củi đang tàn dần đủ pha trà cả nhà uống sau ăn. Anh Khuê giúp ông tôi chăm sóc vườn, vì trùng tên với cậu Khuê bên nhà ông ngoại, ông nội đổi ngay tên thành Dê, cứ tên Dê mà gọi, chẳng để ý gì cả. Tính ông xuề xòa. Con gái có ai hỏi, ưng thì ông gả, ở với nhau không hợp thì lại về nhà.

Mẹ tôi kể: Ông nội về hưu năm mới 40 tuổi, vì nhất định không tuân lệnh công sứ buộc ông phải truy bắt dân lành mà chúng kết tội phản loạn còn ông thì lại cho họ là những người lương thiện. Ông viết thư báo cho bố tôi là: Nay chú hươu (hưu) rồi, việc nhà con lo. Năm ấy bố tôi mới 19 tuổi, dạy ở trường Gia Long, vừa dạy học kiếm sống vừa học thêm đến thi đỗ tú tài hai, mới cùng một số người bạn họp thành Hội giáo dục tư thục (tên tiếng Pháp viết tắt thành ADEL) rồi thành lập Trường Thăng Long (đóng tại Ngõ Trạm gần Hàng Da nơi ông ngoại tôi đặt trụ sở báo Nam Phong). Bố tôi còn tham gia lập Hội Nhà Ánh sáng, mong tạo điều kiện nhà ở nông thôn hợp vệ sinh, thông khí hơn. Về Huế, bố thuê thợ mở thật nhiều cửa sổ ở nhà ông nội. Bố tôi về Hà Nội, ông tôi thuê thợ bít kín lại hết, khỏi mất công đóng cửa lôi thôi, không cẩn thận còn bị trộm. Một góc khuất trong nhà có kê một cái tủ con, trên để đèn nến, cạnh đó tôi thấy có ba bức tượng đất nung tô màu. Một tượng đội xếp ai lỡ đánh vỡ mất cái đầu, ông tôi lấy cái bóng điện hỏng thay vào. Ông tôi theo đòi khoa cử đến được bổ làm tri huyện, nay ở nhà, ông viết câu đối, thơ văn chữ nho dán ở đầu giường và cả ở các cột nhà bếp. Lễ sinh nhật ông ngoại tôi là quan đầu triều, nhiều người biếu xén này nọ, ông bảo cắt buồng chuối ngon vườn nhà, đem biếu. Ông ngoại cho phủ khăn đỏ, còn cám ơn cụ cho nhiều quá. Không ai biết ông thông gia tặng quà gì. Ông là con một, nên giỗ chạp cũng không ít, nhưng ông không bỏ giỗ bao giờ, có điều nhà ngặt thường là cỗ mọn. Ai biết cũng quí. Tôi và anh Đại thích nhất là nhà ông nhiều cây, mà toàn cây thấp, thấp nhất là cây vả, cao thì có cây ổi không hạt và cây thanh trà ăn ngon hơn bưởi mà lại không the, cùi giòn, ăn được. Lại còn có lối đi bí mật là đi trong lòng dậu cây hai bên ngõ vào nhà. Anh em tôi còn bé chạy ở trong dậu cây cũng được, không ai biết.

Ở nhà ông nội, anh em tôi toàn ở trong vườn chứ ít khi vào nhà vì tối.

Hết nửa tháng, ông ngoại cho xe đến đón gia đình tôi về Hoa Đường.

Về đây, chúng tôi hay cùng các cô cậu ra chơi ở lăng Vạn Vạn, cứ tay phải cổng nhà mà đi là đến. Chơi ở đấy sạch sẽ, lại có nhiều bậc đá, cây cũng nhiều, tha hồ leo trèo, không ai cấm. Một lần, tôi theo các cô cậu ra đường, đi theo một đám tang tổ chức rất trọng thể. Tôi không biết tang ai, và có phải chôn ở lăng này không. Chỉ nhớ hôm đó trời mưa nhỏ, người đi đưa rất đông, có cả lính mang giáo. Tôi nhỏ nên len vào chỗ nào cũng được, cốt thỏa trí tò mò, cái gì cũng muốn thấy bằng được. Tới nay tôi còn nhớ rõ trước lăng mọi khi là một khoảnh đất rộng, hôm ấy được đào lên, dọn dẹp sạch sẽ lộ ra ba phía đều có bậc đá xanh, dẫn xuống một sân vuông vức. Xuống sân mới thấy phía trước là một cổng lớn bằng gỗ có đai sắt, cánh cửa đã kéo ra trên bánh xe sắt – Từ cổng, có đường ray chạy vào trong. Tôi nhỏ lại giỏi len nên vào được bên trong thấy như một cái hang to. Linh cữu được khiêng đặt trên xe goòng chạy trên đường ray, dẫn đến một huyệt đào sâu dưới đất. Tới đây, linh cữu được ròng rọc hạ xuống huyệt, trong một cái quách. Tiếp đó, tảng đá vuông treo trên miệng huyệt được hạ xuống. Việc chôn cất hoàn thành.

Tôi thường kể lại chuyện này, lần nào cũng bị mẹ mắng, cho là tôi bịa. Mãi đến sau này năm 1955, cô Bảy Tôn Nữ Thị Lợi ra sống ở nhà tôi, thì cô xác nhận tôi nói đúng. Vì cô có dự lễ tang đó, mà đúng là khi đưa tang, trời mưa nhỏ như tôi kể.

Về nhà ông ngoại, hai chị An, Mỹ vào hội với các cô học thêu, đan, làm bánh trái còn anh em tôi gia nhập ngay đội quân trẻ con đông đúc, đứng đầu là nhóm cậu Tuyên, cậu Xương (em họ cậu Tuyên) và anh Vinh (con trai bác cả Giao). Ngày nào cũng có trò chơi mới. Hôm thì bày trò Tắc Giăng bị mọi da đỏ bắt rồi trốn thoát. Cậu Xương mặc quần sịp dán giấy cắt hình tròn đen, vàng làm Tắc Giăng. Bọn tôi thắt dây đỏ, đen trên đầu, nhắt lông gà làm mọi da đỏ. Chúng tôi trói Tắc Giăng vào cột, cậu Xương đứt dây chuối thoát dễ dàng. Lần sau, cậu Tuyên đưa chúng tôi sợi dây điện. Cậu Xương không dứt được, vùng vẫy, đau, cáu cả bọn tôi sợ quá chạy đi gọi cậu Tuyên. Cậu cũng sợ, không biết làm sao. Mãi sau mới lén đến gần cột, gỡ khéo cái dây điện, cậu Xương thiu thiu ngủ, vùng dậy thoát chạy tìm bọn tôi, cả lũ chạy quanh vườn, cậu làm sao bắt được. Rồi dựng trại, tổ chức tiệc ăn toàn quả hái ở vườn, ai cũng cố tìm quả thật to, ngon. Anh Vinh đích tôn của ông tôi cố leo ra một cành thật cao, xa, với lấy một chùm gioi (mận) đỏ. Bỗng cành mảnh gẫy, anh bị ngã từ cao xuống, gẫy tay, phải bó bột. Cậu Tuyên còn tổ chức chiếu phim tự chế bằng giấy bóng kính. Chính cậu vẽ hình. Anh Vinh thì theo dõi tình tiết trên phim mà mở máy hát cho nhạc phù hợp. Hôm chiếu phim, ông Ngoại tiếp khách người Pháp, ông này muốn gặp con cháu vì nghe nói ông tôi đông con nhiều cháu. Ông mới dẫn xuống nhà gỗ đúng lúc chiếu phim. Về sau, ông khách gửi tặng cậu cháu tôi một máy chiếu phim Kodak 16 li.

Một chủ nhật, cậu Phạm Khuê, người bắn súng săn giỏi nhất nhà đưa tất cả chúng tôi đi săn lợn rừng, nghe nói dạo này xuất hiện phá hại hoa màu bà con vùng gần làng An Cựu. Cả đoàn đi thuyền, toàn con trai, con gái không ai muốn đi. Gần trưa thì cậu Khuê bắn được một con lợn lòi to. Khi khiêng nó xuống thuyền thì người chèo đò bảo không chở hết được đâu, nên cứ từng người xuống một, khi nào ông ta bảo thôi là không ai được xuống đò nữa. Cậu Khuê đã hoàn thành nhiệm vụ nên thong thả đi bộ cùng lũ chúng tôi, chỉ mấy người lớn, khỏe đi thuyền còn giúp đỡ người lái khi gặp trở ngại và có trách nhiệm khiêng lợn lên bờ. Con lợn được mổ, xẻ thịt ngay bến trước biệt thự Hoa Đường, máu đỏ cả một khúc sông.

Cậu Khuê còn trổ tài thiện xạ một lần nữa trong vụ xử lý con Chuýt. Nó là con khỉ to được cậu nuôi và rất cưng chiều. Nhưng gần đây nó giở chứng, quấy nhiễu mọi người, nhất là phá nhà bếp và chuồng gà vịt. Đêm đêm còn chạy lung tung trên mái nhà, kéo theo cái xích dài hai mét, kêu lục cục làm không ai ngủ được. Các chị bếp vào chuồng bắt gà vịt đều bị nó trêu ghẹo, nhảy lên đầu, kéo khăn, tóc. Đồ chuẩn bị nấu cũng thường bị nó làm đổ lung tung, khiến việc nấu ăn trong một gia đình đông người như nhà chúng tôi gặp trở ngại. Ai cũng bảo phải xử con Chuýt. Nhưng nó là con cưng của cậu Khuê xử thế nào, ai dám xử nó đây. Họ nói thật với cậu tất cả tội của con Chuýt, xin cậu giải quyết cho.

Mấy hôm cậu mất công ra trước cây me to ở góc sân, gọi nó xuống. Nhưng nó cứ xuống gần đến gốc, là nhe răng kêu chẹc chẹc rồi trèo vút lên ngọn cây. Cậu vốn người điềm tĩnh, vậy mà hôm đó, tôi thấy cậu đỏ cả mặt, chạy vào tủ súng săn, lấy khẩu hai nòng, nạp đạn rồi ra trước cây me, vừa cầm súng, vừa tha thiết gọi. Con Chuýt nhận ra chủ, leo ngay xuống, nhưng gần đến gốc cây lại vót lên. Cậu gọi lẫn nữa, nó vẫn trêu ngươi, không xuống mà cứ nhăn nhở kêu to. Tôi thấy cậu giương súng, nhắm lúc nó đã lên gần ngọn cây. Chỉ một phát, nó đã ngã từ trên cao xuống mặt đất. Cậu đến vuốt mắt cho nó, rồi nói người nhà thu dọn, chôn nó ở vườn. Cậu buồn bã cất súng.

Thỉnh thoảng chúng tôi được đi chơi xa với ông, bà. Như lần đi chơi núi Bạch Mã. Bữa trưa cả nhà ngồi ăn quanh một bàn dài. Đang ăn thì mây bay qua, không nhìn thấy người ngồi trước mặt. Còn vui nhất là lần đi điện Hòn Chén. Chúng tôi theo bà ngoại đi, ông không đi. Đi thuyền đến gần điện Hòn Chén đã thấy không khi lễ hội tưng bừng. Tôi thấy mấy chiếc thuyền kết lại với nhau làm thành một sân khấu, trên đó có người nhảy múa, vung kiếm, phun ra cả lửa. Càng gần điện, thuyền càng đông, cờ quạt nhiều màu sắc, người lên đồng cũng nhiều. Điện Hòn Chén nghi ngút khói hương như đang bốc cháy. Bà, mẹ và các cô lên lễ, còn chúng tôi chỉ ở trên thuyền xem các thuyền khác trang trí đẹp và lễ bái rất kỳ lạ, như diễn tuồng. Một lúc lâu thì bà, mẹ cùng các cô về, bổ bưởi đỏ mua ở trên điện về cho chúng tôi ăn. Bưởi to, ngọt, nhưng hơi the, không ngon như thanh trà nhà ông nội.

Về đến nhà mới biết mấy anh thợ khéo tay đã lấy hai chiếc răng lợn lòi cậu Khuê săn được hôm nào làm thành một món đồ tinh xảo, giống hệt hai ngà voi cắm vào cái bệ vẫn thường bày ở các nhà quan. Có điều là răng lợn nên bé xíu. Đây là món quà mỹ nghệ các anh làm theo ý cậu Tuyên vốn thích cái đẹp.

Nghỉ hè lâu, ông sợ con cháu lơ là việc học nên cho mời một thầy dạy kèm, tên là thầy Thành. Thầy hướng dẫn tất cả các trình độ ôn tập, cứ tuần hai tối đến nhà, dạy ở hội trường nhà gỗ, nơi sinh hoạt của giới trẻ. Những tối khác chúng tôi hay học hát, hoặc cùng nhau hát những bài đã học. Hồi ấy tôi đã học bài Lên Đàng. Thích nhất là đoạn Vai chen vai, chúng ta cùng nhau đi lên…

Bà Ngoại có một cách bồi dưỡng sức khỏe cho con cháu độc đáo. Bà đun cách thủy cao ban long với mật ong rồi cứ để nguyên cái liễn cách thủy ấy ở chỗ gần cầu thang, cắm vào đó một cái thìa dài. Ông đi qua bà đi lại, ai muốn ăn thì lấy thìa quẹt một cái, ăn xong lại cắm thìa vào liễn. Vậy mà ai cũng khỏe. Tôi nhớ hồi bé ở Hoa Đường có khi nào thấy trẻ con ốm đau đâu. Tất nhiên còn vì nhà có vườn rộng, tha hồ chạy nhảy,  mệt lại ghé liễn mật ong gần cầu thang.

Lũ trẻ Hoa Đường vui như hội mỗi khi Mụ Mệ gánh nồi chè đậu ván thơm phức, nóng hổi le te nhịp bước vào sân trước sảnh. Người giữ cửa thấy mụ đến là cho vào ngay, như người nhà. Lũ trẻ reo lên báo tin vui cho các dì các mợ xuống. Vì có vậy mới mua được chè. Mụ Mệ múc cho mỗi đứa một chén (bát) rồi đến người lớn. Chỉ một loáng, cả nồi chè cạn sạch. Mụ Mệ lại le te gánh cái gánh nhẹ tênh ra cổng. Thân đến nỗi, chúng tôi còn chơi với các cháu của mụ.

Tôi bé lại hay tò mò, có bạn cùng chơi thì quá vui. Lại như ở nhà ông nội, tôi cùng cả bọn lít nhít kéo nhau luồn qua các lỗ chó chui không cần ra đường, vì bị người lớn cấm, sợ tai nạn hoặc lạc. Cứ thế, chúng tôi từ nhà này chui sang nhà khác. Bên sông An Cựu có nhiều phủ, tức nhà riêng của các quan đương chức hoặc đã về hưu, nhưng nhà nào cũng có bình phong, sau bình phong là hòn non bộ. Non bộ dựng trong một bể có thả cá. Non bộ có trồng nhiều cây nhỏ xinh. Trên mặt nước, có thuyền và ngư phủ, tất nhiên là đồ giả bằng gốm sứ. Thú vị nhất là nhiều non bộ to còn có các hang sâu. Trong một hang tối om, có con hổ mắt thủy tinh. Chúng tôi cứ chui sâu vào từng nhà quan, đầu tiên là ngắm xem non bộ nhà nào đẹp hơn cả. Có đứa còn bạo dạn thò tay vào hang, vặt lấy cả con hổ. Mỗi khi lấy được vật gì thì vội lủi ngay. Mang về nhà cũng phải giấu giếm sợ người lớn biết. Cùng nhau xem lén. Rồi sợ lộ, đem đi chôn. Chuyện này hình như chúng tôi giữ bí mật đến cùng. Không thấy ai đả động đến cả. Bọn trộm nhỏ hồi ấy, có còn cũng trên 80 như tôi rồi.

Tôi nhớ mãi, chỉ một lần duy nhất tôi được cùng ông ngoại đi suốt từ Huế ra Hà Nội. Không nhớ vì sao chuyến đi ấy chỉ có mẹ và anh em tôi. Lần ấy, ông ngoại có việc ra Hà Nội, cho mẹ con tôi quá giang. Tôi nhớ là trời nóng bức. Tôi và anh Đại đều mặc quần soóc sơ mi cộc tay trắng. Hai anh em đều đi giầy cao su trắng có lỗ vậy mà chân vẫn ướt nhè mồ hôi, quyện với bụi đường đỏ mỗi khi xe ngừng xuống đi vệ sinh một lát, rất bẩn và khó chịu. Anh em tôi ngồi ghế cạnh tài xế, tha hồ ngắm cảnh. Tôi nhìn thấy xe đi trên đường đất đỏ, không hiểu sao con đường phía trước xe dưới nắng gió cứ cong lên rồi cuộn lại như trôn ốc. Tôi chỉ mong xe đi nhanh hơn chút nữa cho chóng tới chỗ cong lên xem lúc đó xe có lộn ngược không, như vậy sẽ rất thú. Nhưng đi mãi mà chẳng thấy chỗ nào xe lộn ngược cả. Cứ đến đâu thì đường lại phẳng ra đến đó. Có chỗ thấy đường loang loáng, nhưng không phải là mưa mà vẫn khô ráo, bụi mù. Xe chạy suốt đêm, trời mát chúng tôi lăn ra ngủ. Bỗng có người bắt xe dừng lại, khám giấy tờ, nhìn người ngồi trong xe, rồi cho đi. Đến Thanh Hóa, ông bảo dừng xe vào một bà bạn là nhà giáo. Nhà có bốn con gái, các chị khéo tay cùng mẹ làm bữa cơm thật ngon. Lần đầu tôi được ăn thịt đông giữa mùa hè, mà lại là thịt đông chưa ăn bao giờ. Do làm bằng thịt gà, còn có trứng và mộc nhĩ. Miếng ngon nhớ lâu, tôi ăn từ bấy mà đến sau này hơn bốn mươi tuổi, Tết tôi trổ tài làm món lạ, vợ phục lăn, ai ăn cũng thích. Nhất là mùa  đông nhắm rượu với thịt đông gà có trứng vàng và mộc nhĩ đen thái chỉ tuyệt đẹp, lại ngon. Ai cũng bảo chưa được ăn bao giờ.

Những điều tôi nhớ về Huế thời thơ ấu chỉ là mấy chuyện vụn vặt như thế thôi. Ông nội ông ngoại đều thương yêu con cháu, hiền từ, tính tình điềm đạm, không to tiếng bao giờ. Tôi thấy như hai cụ đều có trong chính con người tôi sau này. Tôi ham đọc sách, mê ngắm cổ vật, thích viết lách, họ hàng bảo giống ông ngoại. Tôi thích trồng cây, nấu ăn, tập viết chữ nho lại bảo giống ông nội.

Tôi nhớ mãi thời thơ ấu êm đềm, thảnh thơi của mình. Tôi không bao giờ quên ông nội, ông ngoại.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/11/2020, mùa bình thường mới Covid-19

P.T.

1 bình luận »

  1. Bài viết rất hay cảm ơn bạn

    Bình luận bởi Minh — Tháng Tư 25, 2021 @ 1:46 sáng | Trả lời


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d người thích bài này: